
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ LIÊN HUYỆN TÂN PHÚ-ĐỊNH QUÁN
Mã số: ………………..
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“GIÚP HỌC SINH LỚP 9 PHÁT HIỆN
VÀ TRÁNH SAI LẦM TRONG KHI GIẢI TOÁN
VỀ CĂN BẬC HAI”
Người thực hiện: Bùi Thị Thủy
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Toán
- Phương pháp giáo dục
- Lĩnh vực khác: …………
Có đính kèm
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2011-2012

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ LIÊN HUYỆN TÂN PHÚ-ĐỊNH QUÁN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Bùi Thị Thủy
2. Ngày tháng năm sinh: 20/9/1976
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Tổ - Khu 6 - Tân Phú - Đồng Nai.
5. Điện thoại: 0613856483 (cơ quan), ĐTDĐ : 01652793569
6. Fax: ………….. E-mail: buithuydt@yahoo.com.vn
7. Chức vụ: Giáo viên
8. Đơn vị công tác: Trường phổ thông Dân Tộc Nội Trú liên huyện Tân
Phú – Định Quán.
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân Đại
học sư phạm.
- Năm nhận bằng: 2005
- Chuyên ngành đào tạo: Toán
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Toán THCS.
- Số năm có kinh nghiệm: 12 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ Những biện pháp giúp học sinh giải bài tập hình học 8.
+ Làm thế nào để dạy tốt được một định lý hình học 8 đạt hiệu quả
+ Giúp học sinh lớp 7 hình thành và phát triển một số kĩ năng cơ bản
trong quá trình học hình học.

GIÚP HỌC SINH LỚP 9 PHÁT HIỆN VÀ TRÁNH SAI LẦM
TRONG KHI GIẢI TOÁN VỀ CĂN BẬC HAI
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Muốn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì phải nhanh chóng tiếp thu
khoa học và kỹ thuật hiện đại của thế giới. Do sự phát triển như vũ bão của khoa
học và kỹ thuật, kho tàng kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng. Cái mà
hôm nay còn là mới ngày mai đã trở thành lạc hậu. Nhà trường không thể nào luôn
luôn cung cấp cho học sinh những hiểu biết cập nhật được. Điều quan trọng là phải
trang bị cho các em năng lực tự học để có thể tự mình tìm kiếm những kiến thức
khi cần thiết trong tương lai.
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện nền kinh tế tri thức trong
tương lai đòi hỏi người lao động phải thực sự năng động, sáng tạo và có những
phẩm chất thích hợp để bươn chải vươn lên trong cuộc cạnh tranh khốc liệt này.
Việc thu thập thông tin, dữ liệu cần thiết ngày càng trở lên dễ dàng nhờ các phương
tiện truyền thông tuyên truyền, máy tính, mạng internet .v.v. Do đó, vấn đề quan
trọng đối với con người hay một cộng đồng không chỉ là tiếp thu thông tin, mà còn
là xử lý thông tin để tìm ra giải pháp tốt nhất cho những vấn đề đặt ra trong cuộc
sống của bản thân cũng như của xã hội.
Như vậy yêu cầu của xã hội đối với việc dạy học trước đây nặng về việc truyền
thụ kiến thức thì nay đã thiên về việc hình thành những năng lực hoạt động cho học
sinh (HS). Để đáp ứng yêu cầu mới này cần phải thay đổi đồng bộ các thành tố của
quá trình dạy học về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương
tiện, cách kiểm tra đánh giá..
- Hiện nay mục tiêu giáo dục cấp THCS đã được mở rộng, các kiến thức và kỹ
năng được hình thành và củng cố để tạo ra 4 năng lực chủ yếu :
+ Năng lực hành động
+ Năng lực thích ứng
+ Năng lực cùng chung sống và làm việc
+ Năng lực tự khẳng định mình.
Trong đề tài này tôi quan tâm để đi khai thác đến 2 nhóm năng lực chính là
"Năng lực cùng chung sống và làm việc" và "Năng lực tự khẳng định mình" vì kiến
thức và kỹ năng là một trong những thành tố của năng lực HS.
Trong quá trình giảng dạy thực tế một số năm học, tôi đã phát hiện ra còn rất
nhiều học sinh thực hành kỹ năng giải toán còn kém trong đó có rất nhiều học sinh
(47%) chưa thực sự hiểu kỹ về căn bậc hai và trong khi thực hiện các phép toán về
căn bậc hai hay có sự nhầm lẫn hiểu sai đầu bài, thực hiện sai mục đích… Việc
giúp học sinh nhận ra sự nhầm lẫn, giúp các em tránh được sự nhầm lẫn đó là một

công việc vô cùng cần thiết, giúp các em có mọi sự am hiểu vững chắc về lượng
kiến thức căn bậc hai
Qua sáng kiến này tôi muốn đưa ra một số lỗi mà học sinh hay mắc phải trong
quá trình lĩnh hội kiến thức ở chương căn bậc hai để từ đó có thể giúp học sinh
khắc phục các lỗi mà các em hay mắc phải trong quá trình giải bài tập hoặc trong
thi cử, kiểm tra ... Cũng qua sáng kiến này tôi muốn giúp GV toán 9 có thêm cái
nhìn mới sâu sắc hơn, chú ý đến việc rèn luyện kỹ năng thực hành giải toán về căn
bậc hai cho học sinh để từ đó khai thác hiệu quả và đào sâu suy nghĩ tư duy lôgic
của học sinh giúp học sinh phát triển khả năng tiềm tàng trong con người học sinh.
Qua sáng kiến này tôi cũng tự đúc rút cho bản thân mình những kinh nghiệm để
làm luận cứ cho phương pháp dạy học mới của tôi những năm tiếp theo.
Trong sáng kiến này tôi chỉ nêu ra một số “Nhóm sai lầm” mà học sinh thường
mắc phải trong quá trình làm bài tập về căn bậc hai trong chương I - Đại số 9.
Phân tích sai lầm trong một số bài toán cụ thể để học sinh thấy được những lập
luận sai hoặc thiếu chặt chẽ dẫn tới bài giải không chính xác.
Từ đó định hướng cho học sinh phương pháp giải bài toán về căn bậc hai.
Dựa vào kinh nghiệm giảng dạy bộ môn toán của các giáo viên có kinh nghiệm
của trường trong những năm học trước và vốn kinh nghiệm của bản thân đã rút ra
được một số vấn đề có liên quan đến nội dung của sáng kiến.
Trong những năm học vừa qua chúng tôi đã quan tâm đến những vấn đề mà học
sinh mắc phải. Qua những giờ học sinh làm bài tập tại lớp, qua các bài kiểm tra
dưới các hình thức khác nhau, bước đầu tôi đã nắm được các sai lầm mà học sinh
thường mắc phải khi giải bài tập. Sau đó tôi tổng hợp lại, phân loại thành hai nhóm
cơ bản.
Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã sử dụng những
phương pháp sau :
- Quan sát trực tiếp các đối tượng học sinh để phát hiện ra những vấn đề mà học
sinh thấy lúng túng, khó khăn khi giáo viên yêu cầu giải quyết vấn đề đó.
- Điều tra toàn diện các đối tượng học sinh trong 2 lớp 9 của khối 9 với tổng số
72 học sinh để thống kê học lực của học sinh. Tìm hiểu tâm lý của các em khi học
môn toán, quan điểm của các em khi tìm hiểu những vấn đề về giải toán có liên
quan đến căn bậc hai (bằng hệ thống các phiếu câu hỏi trắc nghiệm ).
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của GV và HS để phát hiện trình độ nhận
thức, phương pháp và chất lượng hoạt động nhằm tìm giải pháp nâng cao chất
lượng giáo dục.
- Thực nghiệm giảng dạy trong khi giải bài mới, trong các tiết luyện tập, tiết trả
bài kiểm tra. . . tôi đã đưa vấn đề này ra hướng dẫn học sinh cùng trao đổi, thảo
luận bằng nhiều hình thức khác nhau như hoạt động nhóm, giảng giải, vấn đáp gợi
mở để học sinh khắc sâu kiến thức, tránh được những sai lầm trong khi giải bài tập.
Yêu cầu học sinh giải một số bài tập theo nội dung trong sách giáo khoa rồi đưa

thêm vào đó những yếu tố mới, những điều kiện khác để xem xét mức độ nhận thức
và suy luận của học sinh.
- Phân tích và tổng kết kinh nghiệm giáo dục khi áp dụng nội dung đang nghiên
cứu vào thực tiễn giảng dạy nhằm tìm ra nguyên nhân những sai lầm mà học sinh
thường mắc phải khi giải toán. Từ đó tổ chức có hiệu quả hơn trong các giờ dạy
tiếp theo.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1.Cơ sở lý luận
Quan điểm về đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực:
a. Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học :
Luật Giáo dục 2005 (Điều 5) quy định : "Phương pháp giáo dục phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho
người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn
lên".
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là "giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc";
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ-
BGD ĐT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu : "Phải
phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc
trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng đối tượng học
sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả
năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến
tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS".
- Quan điểm dạy học : là những định hướng tổng thể cho các hành động phương
pháp, trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ
sở lý thuyết của lý luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như
những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Quan điểm
dạy học là những định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lý
thuyết của PPDH. Những quan điểm dạy học cơ bản : dạy học giải thích minh hoạ,
dạy học gắn với kinh nghiệm, dạy học kế thừa, dạy học định hướng HS, dạy học
định hướng hành động, giao tiếp; dạy học nghiên cứu, dạy học khám phá, dạy học
mở.
b. Phương pháp dạy học tích cực:
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới
đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học đến cách thức
đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH.
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học
truyền thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích cực nhằm giúp học sinh phát

