
LUẬN VĂN:
Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện
pháp luật về thủ tục bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ tại Tòa án nhân dân Việt Nam
hiện nay

mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu và hội nhập quốc tế, vấn đề bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ (QSHTT) trở nên đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của
các quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Trên thực tế, ở Việt Nam chưa bao giờ vấn
đề bảo hộ QSHTT lại được coi trọng như hiện nay. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa (CNH, HĐH) đất nước với rất nhiều cơ hội và thách thức đòi hỏi chúng ta phải có
cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động sáng tạo và bảo hộ QSHTT. Việc thể chế hoá các
quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về sở hữu trí tuệ (SHTT), xây
dựng cơ chế bảo hộ QSHTT hữu hiệu là những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định
đến sự thành công của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam là
thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Theo tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính
trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", thì việc hoàn thiện
pháp luật bảo hộ QSHTT, hình thành và phát triển thị trường khoa học - công nghệ theo
hướng mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ QSHTT phù hợp yêu cầu của WTO
và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên là việc làm cấp bách. Báo cáo của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày 10-4-2006 về phương hướng, nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xó hội 5 năm 2006-2010 cũng khẳng định:
Thực hiện tốt Luật sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ, đổi
mới quản lý nhà nước đối với thị trường khoa học, công nghệ; khuyến khích,
hỗ trợ các hoạt động khoa học và công nghệ theo cơ chế thị trường; bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ đối với các công trỡnh khoa học và hoạt động sáng tạo
[33].
Việc ban hành đồng bộ những văn bản quy phạm pháp luật về SHTT như Bộ
luật dân sự (BLDS), Luật SHTT, Luật chuyển giao công nghệ và các luật có liên quan

như Luật khoa học và công nghệ, Luật hải quan, Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Bộ
luật tố tụng dân sự (BLTTDS)… để tham gia các điều ước quốc tế, thực hiện các yêu
cầu gia nhập WTO là những nỗ lực lớn lao của Chính phủ Việt Nam nhằm tạo hành
lang pháp lý cho việc bảo hộ QSHTT. Có thể nói rằng, chúng ta đã ban hành được một
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nội dung điều chỉnh về lĩnh vực SHTT. Tuy
nhiên, pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT cũng như thực tiễn giải quyết các xâm phạm về
QSHTT tại Tòa án nhân dân (TAND) còn nhiều bất cập. Trờn thực tế, tỡnh hỡnh vi phạm
về QSHTT diễn ra ngày càng phổ biến, trờn khắp đất nước, nhưng trái ngược với thực tiễn
đó, các xâm phạm về QSHTT lại ít được giải quyết bằng một phán quyết của Toà án.
Theo thống kê của Tũa án nhân dân tối cao (TANDTC) thỡ từ năm 2000 đến năm 2005,
toàn ngành Toà án thụ lý để giải quyết 93 vụ tranh chấp về QSHTT theo thủ tục tố tụng
dân sự (bao gồm 32 vụ về quyền tác giả (QTG), 18 vụ về quyền liên quan đến QTG, 43
vụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN), trong đó: 11 vụ về QTG, 22 vụ về
QSHCN, đây là điều bất hợp lý, cần sớm tỡm ra nguyờn nhõn và lý giải nguyờn nhõn
đó.
Trong thời gian qua đó cú một số cụng trỡnh nghiờn cứu liờn quan về QSHTT.
Tuy nhiờn, cỏc cụng trỡnh đó mới chỉ nghiên cứu ở cấp độ lý luận về nội dung QSHTT,
về hoạt động xét xử nói chung của TAND hoặc nghiờn cứu về nõng cao vai trũ và năng
lực của TAND trong việc thực thi QSHTT, các công trỡnh nghiờn cứu đó chưa chuyên
sâu vào hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND. Trước tình hình đó,
tác giả đó chọn đề tài: " Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện phỏp luật về thủ tục bảo
vệ quyền sở hữu trớ tuệ tại Tũa ỏn nhõn dõn Việt Nam hiện nay " để làm luận văn tốt
nghiệp cao học luật, chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, vấn đề bảo hộ QSHTT nói chung và thủ tục bảo hộ QSHTT tại
TAND nói riêng đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn
đề này còn khá mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vì vậy, việc nghiên cứu về QSHTT đã
và đang được giới luật gia hết sức quan tâm. Trong những năm gần đây, đã có một số
công trình tiêu biểu như sau: "Những vấn đề pháp lý cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế"
do Tiến sĩ Đặng Quang Phương biên soạn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; "Đổi mới và

hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ" do Tiến sĩ, Luật sư Lê Xuân Thảo biên soạn,
Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; "Nâng cao vai trò và năng lực của Toà án trong việc thực
thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn", Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp bộ, Viện Khoa học xét xử, TANDTC chủ trì, 1999; "Đổi mới và hoàn
thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ luật học của Lê Xuân Thảo, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 1996...
Bên cạnh đó còn có một số tài liệu hội thảo khoa học có liên quan như: Tài liệu
hội thảo về đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp quốc gia về "Cơ chế thực thi
pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt
Nam" (mã số QGTĐ.03.05) do Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện; Tài liệu hội thảo về
thực thi Luật SHTT do Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Dự án Hỗ trợ thúc
đẩy thương mại (STAR VIETNAM) và TANDTC tổ chức, tháng 8-2006…
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đề cập đến việc đổi mới và hoàn thiện cơ
chế điều chỉnh pháp luật về SHTT trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong đó có đề
cập đến việc nghiên cứu cơ chế quản lý và thực thi SHTT, nội dung quản lý nhà nước về
SHTT bằng pháp luật; về vị trí, vai trò của Toà án trong việc bảo vệ QSHTT… Các công
trình nghiên cứu khoa học nêu trên là cơ sở khoa học để tác giả kế thừa và phát triển
trong đề tài nghiên cứu của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề về bảo hộ và thực thi QSHTT có đối tượng và phạm vi nghiên cứu rất
rộng, nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như dân sự, thương mại,
hành chính, hình sự...; do đó, nếu muốn nghiên cứu một cách toàn diện thì đòi hỏi phải
có sự đầu tư nghiên cứu kiến thức liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau. Tuy nhiên,
với một luận văn tốt nghiệp cao học luật, tác giả chỉ giới hạn đối tượng và phạm vi
nghiên cứu ở cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT
tại TAND Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung làm rõ thực trạng và vai trò giải quyết
tranh chấp QSHTT của TAND theo thủ tục tố tụng dân sự, đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND.

4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Vấn đề bảo hộ, thực thi QSHTT có thể được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, với
nhiều mục đích nhằm giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ pháp luật giữa các cơ
quan quản lý nhà nước và cơ quan tư pháp về bảo hộ QSHTT. Bằng việc đề xuất những
giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND, luận văn góp phần
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT tại
TAND Việt Nam hiện nay.
* Nhiệm vụ:
Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận chung và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về thủ
tục bảo vệ QSHTT tại TAND;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thủ tục bảo vệ QSHTT và vai trò giải quyết
tranh chấp QSHTT tại TAND;
- Đề xuất một số giải pháp có cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về
thủ tục bảo vệ QSHTT tại TAND.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, trên cơ sở lý luận của khoa học chuyên ngành
về SHTT, đồng thời vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta về
phát triển khoa học - công nghệ và SHTT trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung của triết học duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử như: phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp kết hợp giữa lý
luận với thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp và sử dụng số liệu thống kê,
phương pháp so sánh luật, trên cơ sở xem xét tính phổ biến của pháp luật trong khu vực
cũng như pháp luật trên thế giới về bảo vệ QSHTT tại hệ thống Toà án.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Trong lĩnh vực bảo hộ QSHTT, việc bảo vệ QSHTT tại TAND bằng các hình

