intTypePromotion=1

II .Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào

Chia sẻ: Nguyen Huu Huu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:126

1
526
lượt xem
222
download

II .Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc, liên quân Việt - Lào xuất trận, nhân dân Lào mít tinh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam... là những hình ảnh lịch sử về mối quan hệ Việt Nam - Lào. Sáng 17/7, tại Nhà hát thành phố, UBND TP HCM đã tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962 - 5/9/2012) .Chủ tịch

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: II .Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào

  1. II. Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc, liên quân Việt - Lào xuất trận, nhân dân Lào mít tinh phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam... là những hình ảnh lịch sử về mối quan hệ Việt Nam - Lào. Sáng 17/7, tại Nhà hát thành phố, UBND TP HCM đã tổ chức lễ kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962 - 5/9/2012) và 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị hợp tác giữa Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2012). Ngoài lễ kỷ niệm, UBND TP HCM cũng phối hợp với các sở ngành tổ chức triển lãm ảnh về "Tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào". Triển lãm diễn ra từ nay đến ngày 23/7 tại 3 địa điểm: Nhà văn hóa Thanh niên, Công viên Chi Lăng và trên đường Đồng Khởi (quận 1).
  2. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Souphanouvong tại chiến khu Việt Bắc năm 1951. Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi với Chủ tịch Kaysone Phomvihane tại Hà Nội năm 1966.
  3. Liên quân Việt - Lào trước giờ xuất trận năm 1946.
  4. Liên quân Việt - Lào phối hợp chiến đấu tại Lao Bảo (Quảng Trị) năm 1946.
  5. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (người thứ 3 từ trái sang) và Hoàng thân Souphanuovong (người thứ tư từ trái sang) cùng các cán bộ quân đội Việt - Lào bàn kế hoạch mở chiến dịch Thượng Lào năm 1953. Bệnh viện Hồng Thập Tự của Việt Nam tại Xiêng Khoảng (Lào) được xây dựng theo hiệp định ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Lào năm 1960.
  6. Tổng bí thư Kaysone Phomvihane thăm một đơn vị quân tình nguyện Việt Nam ở Lào năm 1970. Tư lệnh Đồng Sĩ Nguyên báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch tác chiến chuẩn bị cho chiến dịch đường 9 Nam Lào, năm 1971.
  7. Bộ đội Việt Nam tiến công trên mặt trận đường 9 Nam Lào, đập tan hoàn toàn âm mưu của Mỹ ngụy chặt đứt đường mòn Hồ Chí Minh. Nhân dân Khăng Khay (tỉnh Xiêng Khoảng, Lào) mít tinh phản đối đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, ngày 23/5/1965.
  8. Chuyên gia quân sự Việt Nam huấn luyện kỹ thuật sử dụng pháo 12 nòng cho đơn vị nữ pháo binh của bộ đội Phathet (Lào) chống Mỹ, năm 1972. III. 'Tình hữu nghị Việt - Lào là vô giá' Theo Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai dân tộc Việt Nam và Lào đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, xây đắp mối tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc. > Những hình ảnh lịch sử mối quan hệ Việt - Lào Sáng 18/7, Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Lào và thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức trọng thể Lễ míttinh kỷ niệm 50 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao và 35 năm ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam-Lào, tại Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội. Tham dự buổi lễ có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; các lão thành cách mạng; lãnh đạo nhiều bộ, ban, ngành, đoàn thể, đại diện các tầng lớp nhân dân thủ đô. Ông Bounnhang Vorachith, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trung ương, Phó Chủ tịch nước, dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào dự lễ míttinh.
  9. Tổng bí thư phát biểu. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, Việt Nam-Lào là hai nước láng giềng thân thiết, núi liền núi, sông liền sông, nhân dân hai nước vốn có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, gắn bó từ lâu đời và ngày càng phát triển. Hai dân tộc Việt Nam và Lào đã cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi, xây đắp mối tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện, trở thành tài sản chung vô giá của hai dân tộc và là nhân tố cực kỳ quan trọng bảo đảm cho sự thành công của cách mạng mỗi nước. Nhìn lại chặng đường cách mạng đã qua của hai dân tộc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bày tỏ vui mừng và tự hào về những thắng lợi vẻ vang mà nhân dân hai nước đã giành được, về mối quan hệ mẫu mực, thủy chung trong sáng giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào. Tổng Bí thư nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của sự kiện lịch sử trọng đại cách đây 50 năm - ngày 5/9/1962 khi Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và việc hai nước ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác ngày 18/7/1977; đồng thời nêu rõ: Đó là mối quan hệ không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại, được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức, mồ hôi, xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch sử. Tổng Bí thư chỉ rõ, hiện nay, Việt Nam và Lào đang bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nhân dân hai nước đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội của mỗi Đảng và cùng nhau phấn đấu xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam, đất nước Lào giàu mạnh...
  10. Phó Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào Bounnhang Vorachith. Thay mặt Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào, Phó Chủ tịch Bounnhang Vorachith trân trọng gửi tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam lòng biết ơn sâu sắc và tình cảm hữu nghị, tình đồng chí anh em thắm thiết; bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cayson Phomvihan và Chủ tịch Souphanouvong, người đã gây dựng và nêu gương trong việc gìn giữ, nâng niu, vun đắp tình hữu nghị và quan hệ đặc biệt Lào-Việt Nam. Vị Phó Chủ tịch nước khẳng định: Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào sẽ làm hết sức mình để gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt Lào-Việt Nam. IV. Tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững Bài phát biểu của Đồng chí Lê Công Tuyến – TUV, Hiệu trưởng trường Chính trị Lê Duẩn tại lễ kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975 - 02/12/2010) do lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khoá II của 2 tỉnh Savannakhet
  11. và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tổ chức tại trường Chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị. Kính thưa các đồng chí đại biểu; Thưa các thầy cô giáo; các học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính khoá II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; đạ i diện học viên các lớp đang học tại trường. Hôm nay, tôi rất vui mừng cùng các đồng chí trong Đảng ủy, Ban giám hiệu, Ban chấp hành Công đoàn, các thầy cô giáo, đại diện học viên các lớp đang học tại trường chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị về dự Tọa đàm kỷ niệm 35 năm Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975 - 02/12/2010) do lớp Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính khoá II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào tổ chức tại Trường chính trị Lê Duẩn tỉnh Quảng Trị. Thay mặt lãnh đạo Trường tôi xin chúc mừng kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào; chúc tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước Việt – Lào nói chung và tỉnh Quảng Trị với Savannakhet và Salavan mãi mãi xanh tươi, đời đờ i bền vững; chúc các đồng chí và toàn thể học viên về dự buổi toạ đàm thân mật này dồi dào sức khỏe, học tập, rèn luyện tốt để góp phần xây đắp tình hữu nghị hai nước ngày càng tốt đẹp hơn. Thưa các đồng chí ! Trong không khí hân hoan chào mừng ngày quốc khánh nước CHDCND Lào và đặc biệt chào mừng sự thành công Đại hội Đảng các cấp của nước bạn Lào, chúng ta cùng ôn lại một số điểm cơ bản trong chặng đường đấu tranh và xây dựng nước Lào cùng mối quan hệ bền vững thắm thiết giữa hai nước Việt- Lào chúng ta. Lịch sử nước Lào trước thế kỷ XIV gắn liền với sự thống trị của Vương quốc Nam Chiếu. Vào thế kỷ thứ XIV, vua Phà Ngừm lên ngôi đổi tên nước thành Lạn Xạng (Vạn Tượng). Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, Lào nhiều lần phải chống các cuộc xâm lược của Miến Đ iện và Xiêm. Đến thế kỷ XVIII, Thái Lan giành quyền kiểm soát trên một số tiểu vương quốc còn lại. Các lãnh thổ này nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Pháp trong thế kỷ XIX và bị sáp nhập vào Liên bang Đông Dương năm 1893. Trong thế chiến thứ 2, Pháp bị Nhật thay chân ở Đông Dương. Sau khi Nhật đầu hàng quân Đồng minh ngày 12 tháng 10 năm 1945, Lào tuyên bố độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay trở lại xâm lược Lào. Năm 1949, quốc gia này nằm dưới sự lãnh đạo của Vua SisavangVong và mang tên Vương quốc Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký hiệp định Giơnevơ công nhận nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Từ năm 1955 đến năm 1975, Vương quốc Lào lệ thuộc mạnh mẽ vào Hoa Kỳ trong cuộc chiến chống Cộng sản tại Đông Dương, tình hình đó đã lôi kéo Lào vào cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, là yếu tố dẫn đến nội chiến Lào và một vài cuộc đảo chính. Thi hành Nghị Quyết Đại hội II của Đảng Cộng sản Đông Dương (02/1951), ngày 22/3/1955, Đại hội thành lập Đảng Nhân Dân Lào khai mạc tại một khu rừng thuộc tỉnh Hưa phen (Sầm Nưa). Đảng Nhân Dân Lào lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam cho hành động, xác định kẻ thù của cách mạng Lào là đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phá hoại hiệp định đình chiến và bè lũ tay sai của chúng. Đảng đề ra nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn mới là: “đoàn kết, lãnh đạo toàn dân, phấn đấu hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thực hiện một nước Lào hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng”. Từ năm 1968, được sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã hỗ trợ các đơn vị tham
  12. chiến cùng quân Pathét chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng Lào trong khối liên minh đoàn kết chiến đấu với các nước Đông Dương đã dồn đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào vào thế bị động, khốn quẩn chưa từng thấy. Mỹ thấy không thể thắn g được Pathét Lào bằng sức mạnh quân sự do đó phải chấp nhận phương sách “hòa hoãn” với các lực lượng cách mạng Lào. Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân các bộ tộc Lào đang ở giai đoạn bước ngoặt, Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Nhân Dân Lào lần thứ II được khai mạc từ ngày 03/02/1972 - 06/02/1972 tại ViêngXay (Sầm Nưa) với 125 đại biểu, thay mặt cho hàng vạn đảng viên của Đảng đến dự Đại hội. Sau khi phân tích sâu sắc tình hình quốc tế và trong nước, Đại hội đã đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Lào: “Hoàn thành cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân trong cả nước, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến thẳng lên CNXH không qua con đường phát triển TBCN, làm cho nước Lào thành một nước hòa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng”. Đại hội cũng chỉ rõ nhiệm vụ, mục tiêu và phương thức đấu tranh với vùng giải phóng và vùng địch tạm chiếm. Vấn đề xây dựng Đảng cũng được Đại hội chú trọng đặc biệt nhằm làm cho “Đảng là nhân tố cơ bản quyết định nhất, bảo đảm mọi thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng”. Đại hội thông qua bản sửa đổi Điều lệ Đảng và đổi tên Đảng nhân dân Lào thành Đảng nhân dân cách mạng Lào. Đại hội bầu Ban chấp hành Trung ương gồm 23 ủy viên chính thức và 6 ủy viên dự khuyết (1 nữ) trong đó, Bộ Chính trị có 7 đồng chí, Ban Bí thư 4 đồng chí, Đồng chí Cayxỏnphômvihẳn được bầu làm Tổng Bí thư Đảng nhân dân cách mạng Lào. Năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, phong trào cộng sản Pathét Lào đã lật đổ chính quyền hoàng tộc. Ngày 29/11/1975, nhà vua Lào phải tuyên bố thoái vị, chấm dứt chế độ quân chủ Lào và nắm quyền lãnh đạo đất nước. Ngày 02/12/1975, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Lào quyết định xóa bỏ chế độ quân chủ, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Đồng chí Suphanuvong Chủ tịc h Neo Lào hắc xạt được cử giữ chức Chủ tịch Nước, đồng chí Cayxỏnphômvihẳn Tổng Bí Thư được cử làm Thủ tướng. Từ đó, ngày 02 tháng 12 được lấy làm ngày Quốc khánh của nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Với thắng lợi vĩ đại đó, Đảng Nhân dân cách mạng Là o trở thành đảng cầm quyền. Sau hơn 30 năm ròng rã đấu tranh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào đã kết thúc thắng lợi trọn vẹn. Việc khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (02/12/1975) đã kết thúc vẻ va ng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào kéo dài suốt 197 năm kể từ khi phong kiến Xiêm đặt ách thống trị Lào vào năm 1778. Đây là một thắng lợi oanh liệt nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của nhân dân các bộ tộc Lào. Với thắng lợi này, nhân dân các bộ tộc Lào bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, hòa bình và tiến bộ. Thưa các đồng chí ! Nhân tố cơ bản quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân Lào là sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào mà tiền thân là Đảng Cộng Sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân Dân cách mạng Lào, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đã có mối quan hệ hữu nghị đặc biệt với Việt N am. Mối quan hệ đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Việt - Lào hai nước chúng ta, tình sâu hơn nước Hồng Hà Cửu Long” . Với đường lối đối ngoại đúng đắn của hai Đảng, hai Nhà nước, đến nay quan hệ hữu nghị giữa hai nước đã được nâng lên ở tầm cao mớ i toàn diện trên nhiều lĩnh vực. Trong quan hệ hữu nghị ở tầm quốc gia đó cùng với bề dày lịch sử, tỉnh Quảng Trị và tỉnh Savannakhet;
  13. Salavan là những người bạn thủy chung son sắt từ trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung cho đến nay. Ngày nay, Quảng Trị đã có mối quan hệ hợp tác với hai tỉnh trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác đào tạo cán bộ. Trường chính trị Lê Duẩn Quảng Trị vinh dự được Thường vụ Tỉnh ủy giao nhiệm vụ đào tạo Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính cho hai tỉnh bạn. Dù chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo học viên quốc tế nhưng Nhà trường đã quyết tâm hoàn thành tốt đẹp khóa đào tạo thứ nhất cho 30 học viên của hai tỉnh và đang đào tạo khoá thứ hai với 30 học viên. Đây là trách nhiệm và cũng là vinh dự lớn góp phần cùng với cả tỉnh, cả nước vun đắp cho tình hữu nghị giữa hai dân tộc ngày càng tốt đẹp và bền vững hơn. Nhân kỷ niệm 35 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, là dịp để chúng ta tìm hiểu, ôn lại những nét cơ bản về lịch sử khai sinh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và truyền thống đoàn kết thủy chung giữa hai nước Việt – Lào nói chung, Quảng Trị và 2 tỉnh Savannakhet và Salavan nói riêng. Chúc các đồng chí học viên khóa II của hai tỉnh Savannakhet và Salavan nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Là o dồi dào sức khoẻ, học tập và rèn luyện tốt để khoá học thành công tốt đẹp. Chúc tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững. Chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc. Xin chân thành cám ơn ! V. Tình hữu nghị Việt-Lào – Tài sản vĩnh hằng của hai dân tộc QĐND - Thứ Tư, 22/06/2011, 21:22 (GMT+7) (Ghi chép của phóng viên Báo Quân đội nhân dân gửi từ Xa-văn-na-khệt) Thân thiện, nồng ấm, tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau và đạt hiệu quả thiết thực là những điều chúng tôi rất dễ nhận thấy trong các cuộc hội đàm, hội kiến, gặp gỡ giữa Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước Lào; lãnh đạo các tổ chức chính trị-xã hội của Lào trong khuôn khổ chuyến thăm hữu nghị chính thức lần nà y của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam theo lời mời của Tổng bí thư, Chủ tịch nước CHDCND Lào, Chum -ma-ly Xay-nha- xỏn và phu nhân. Chuyến thăm hữu nghị chính thức nước CHDCND Lào của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lần này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Chuyến thăm nhằm tăng cường đối thoại chính trị cấp cao giữa Việt Nam và Lào; tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc t ế của Việt Nam, trong đó đặc biệt coi trọng và ưu tiên hàng đầu trong quan hệ với Lào. Chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng diễn ra vào thời điểm Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tổ chức thành công Đại hội lần thứ XI và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào cũng gặt hái được những kết quả tốt đẹp, có ý nghĩa lịch sử từ Đại hội lần thứ IX của mình; đồng thời tổ chức tốt cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội của mỗi nước. Đây chính là điều kiện, là cơ hội thuận lợi
  14. để lãnh đạo cấp cao hai nước trao đổi các biện pháp thúc đẩy những thỏa thuận đã ký, xác định những phương hướng lớn nhằm ngày càng tăng cường, củng cố vững chắc quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, trên cơ sở phát huy tinh thần độc lập, tự chủ; ý chí tự lực, tự cường, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi; kết hợp thỏa đáng tính chất đặc biệt của quan hệ Việt -Lào với thông lệ quốc tế; không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả trong hợp tác, vì sự phát triển phồn vinh của mỗi nước; vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng thăm gia đình bà Xỉ-đa Phum- xa-vẳn ở Xa-văn-na-khệt. Ảnh: TTXVN Chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lần này còn nhằm tăng cường và thống nhất các giải pháp hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; giữ gìn trật tự an toàn xã hội; ngăn chặn các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng của mỗi nước; phòng, chống các loại tội phạm qua biên giới; tiếp tục hợp tác và tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào; hoàn thành dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới vào năm 2014, đồng thời, tiếp tục xây dựng tuyến biên giới Việt Nam-Lào hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển toàn diện, bền vững, lâu dài. Đặc biệt, tại cuộc hội đàm giữa Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với Tổng bí thư, Chủ tịch nước Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn; hội kiến với Chủ tịch Quốc hội Lào, Pa-ny Da-tho-tu; Thủ tướng Lào, Thoong-xỉnh Thăm-ma-vông và Phó chủ tịch thường trực Mặt trận Lào xây dựng đất nước, Tông-dơ-tho, các nhà lãnh đạo hai nước đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt -Lào. Các nhà lãnh đạo cấp cao của hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam-Lào đều khẳng định: Mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt-Lào là tài sản vô giá, là nhiệm vụ chiến lược, là quy luật phát triển và là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng của mỗi Đảng, mỗi nước, mỗi dân tộc. Lãnh đạo cấp cao hai nước Việt Nam -Lào cũng nhất trí xác định năm 2012 làm “Năm đoàn kết Hữu nghị Việt-Lào”. Do vậy, các thế hệ người Việt Nam và Lào đều phải có trách nhiệm củng cố, xây đắp, gì n giữ và phát triển mối quan hệ truyền thống có một không hai trong lịch sử quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới từ trước tới nay. Lý giải sự đặc biệt về mối quan hệ của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt-Lào, nguyên Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước CHDCND Lào, Khăm-tày Xi-phăn-đon, nói: “Hai dân tộc cùng hướng tới một mục đích: Xây dựng đất
  15. nước giàu mạnh, dân tộc hạnh phúc và cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó chính là con đường duy nhất, mang lại hạnh phúc nhiều nhất cho mỗi quốc gia, mà cả hai nước, hai dân tộc đang đi…”. Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và các nhà lãnh đạo cấp cao của Lào đánh giá cao kết quả kỳ họp lần thứ 33 Ủy ban Liên hiệp Chính phủ Việt -Lào. Hai bên khẳng định, phối hợp chặt chẽ để thực hiện thắng lợi thỏa thuận Chiến lược về hợp tác kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học-kỹ thuật giữa hai nước giai đoạn 2011-2020; Hiệp định Hợp tác giai đoạn 2011-2015 và Hiệp định hợp tác năm 2011. Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Lào thống nhất phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt 2 tỷ USD vào năm 2015; đồng thời, tăng cường hợp tác xây dựng một số công trình kinh tế có vai trò kết nối nền kinh tế hai nước, kết nối với khu vực và thế giới; tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng hợp tác trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt, Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Việt Nam hoàn toàn ủng hộ và làm hết sức mình để hỗ trợ Lào sớm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và đăng cai tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh Á-Âu (ASEM) vào năm 2012, cũng như tổ chức các sự kiện quốc tế khác tại Lào. Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thông báo với các nhà lãnh đạo Lào: Việt Nam sẽ trao tặng tỉnh Xa-văn-na-khệt, quê hương của Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản một công trình hữu nghị là nhà văn hóa phục vụ sinh hoạt và phát triển văn hóa của nhân dân địa phương. Đây không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam, mà còn là tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Lào anh em nói chung và cá nhân Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản nói riêng - Người đã cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đặt nền móng xây đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt-Lào. Những tín hiệu tốt lành từ chuyến thăm hữu nghị chính thức của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng và phu nhân, cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không chỉ là cảm nhận riêng của chúng tôi, mà còn được người dân Lào hết sức phấn khởi. Anh Kong -kham Đuông-kẹo, một người dân sinh sống tại thủ đô Viêng Chăn tâm sự: “Tôi đã có thời gian du học tại Việt Nam. Vì thế, đối với tôi, Việt Nam cũng như nước Lào của mình vậy. Qua theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng, chúng tôi hết sức phấn khởi từ những kết quả đạt được trong các buổi làm việc của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng với các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Lào mấy ngày qua. Đặc biệt, những bài phát biểu của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, cũng như của lãnh đạo nước Lào tại lễ chiêu đãi và kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VII của Lào đều báo hiệu những tín hiệu mới hết sức tốt lành trong quan hệ hai nước thời gian tới”. Những ngày trên đất nước hoa chăm-pa tươi đẹp, cùng với sự thân thiện, gần gũi và nhiều nét tương đồng trong sinh hoạt và văn hóa truyền thống tạo cho tôi những cảm xúc thật đặc biệt. Cùng với kết quả đạt được trong khuôn khổ chuyến thăm của Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng, phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam; những tình cảm mà người dân Lào dành cho Đoàn cấp cao Đảng ta; những đánh giá tốt đẹp của các nhà lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước Lào đối với quan hệ hợp tác giữa hai nước thực sự đang mở ra một triển vọng mới, một bước phát triển mới trong quan hệ của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước. Lê Ngọc Long
  16. VI.Những chặng đường nổi bật trong hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, hiếm có. Chúc phúc các nhà sư - nét đẹp văn hóa của người Lào. Quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam là một điển hình, hiếm có. Trải qua nhiều chặng đường l ịch sử, quan hệ hai nước Việt Nam - Lào là bài học và sức mạnh đưa tới những thắng lợi vĩ đại của mỗi nước trong đấu tranh giải phóng dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ đất nước, cùng phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam và Lào bước sang một trang mới: Từ liên minh chiến đấu chung một chiến hào sang hợp tác toàn diện giữa hai quốc gia độc lập, láng giềng. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến cứu nước, hai nước Việt Nam và Lào đều phải ra sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh kéo dài 30 năm. Dưới sự lãnh
  17. đạo của Ðảng CS Việt Nam và Ðảng NDCM Lào, hai nước càng có điều kiện phát huy truyền thống tốt đẹp, gắn bó keo sơn trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, xây dựng và tăng cường quan hệ liên minh, liên kết và h ợp tác toàn diện về chính trị, quốc phòng - an ninh, kinh tế, văn hóa, giáo dục... Ðây chính là đặc điểm quan trọng nhất, dẫn tới sự thay đổi về chất lượng nội dung, phương thức và các nguyên tắc quan hệ giữa hai quốc gia, nâng quan hệ hữu nghị truyền thống, tính đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai nước lên tầm cao mới. Từ khi hai nước tiến hành sự nghiệp đổi mới vào năm 1986, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam tiếp tục được củng cố, tăng cường và đạt những thành tựu to lớn. Về hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại: Từ năm 1988, cuộc gặp hằng năm giữa hai Bộ Chính trị đã trở thành một cơ chế hoạt động chính thức giữa hai Ðảng và hai Nhà nước. Một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam là chuyến thăm hữu nghị chính thức nước CHDCND Lào của Ðoàn đại biểu cấp cao Ðảng CS Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh dẫn đầu từ ngày 2 đến ngày 4 -7- 1989. Ðây là chuyến thăm Lào chính thức đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Ðảng CS Vi ệt Nam từ sau Ðại hội IV Ðảng NDCM Lào. Hai bên thống nhất với nhau nhiều vấn đề quan trọng trong việc đổi mới phương thức hợp tác giữa hai nước và bàn thảo các vấn đề khu vực và quốc tế. Tháng 10 -1991, đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tổng Bí thư Ðảng NDCM Lào và Ðoàn đại biểu cấp cao Ðảng NDCM Lào thăm chính thức Việt Nam. Hai bên khẳng định quyết tâm nâng cao quan hệ đoàn kết đặc biệt Lào - Việt Nam, đẩy mạnh hợp tác kinh tế, phối hợp chặt chẽ các hoạt động ngoại giao trên các diễn đàn quốc tế. Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Lào xác định, hợp tác về quốc phòng, an ninh là một nhiệm vụ cấp bách và quan trọng hàng đầu. Từ cuối thập niên 80 và những năm đầu thập niên 90 thế kỷ 20, Chính phủ, hai bộ chức năng là Nội vụ và Quốc phòng của hai nước đã ký những hiệp đ ịnh, nghị định về hợp tác, hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ an ninh và củng cố quốc phòng. Bước sang giai đoạn 1996 -2007, Bộ Quốc phòng Việt Nam và Lào tiếp tục tiến hành các cuộc gặp trao đổi, phối hợp giúp đỡ lẫn nhau về xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và chuyên môn. Về hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật: Trong quan hệ đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, hợp tác kinh tế trong thời kỳ đổi mới luôn chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, với mong muốn là động lực thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ hợp tác khác. Ngày 15 -2-1992, tại Viêng Chăn, Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật thời kỳ 1992-1995 và năm 1992. Ðể thực hiện hóa Hiệp định khung này, Chính phủ hai nước đã tiến thêm một bước trong việc thống nhất cơ chế chung về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Ngày 15-3-1995, tại Hà Nội, Thỏa thuận chiến lược hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật giữa hai nước đến năm 2000 được ký. Sau đó, hai bên ký Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật giai đoạn 1996-2000. Trong giai đoạn này, Việt Nam và Lào còn ký hàng loạt hiệp định và nghị định thư quan trọng nhằm thúc đẩy việc triển khai quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo luôn được hai Ðảng, hai Nhà nước xác định là một nhiệm vụ quan trọng, là lĩnh vực hợp tác chiến lược và là biểu hiện của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Việt Nam coi việc đào tạo giúp Lào một nguồn nhân lực có trình độ cao là nhu cầu có tính chiến lược lâu dài, không những đáp ứng yêu cầu của Lào mà còn phục vụ quá trình nâng cao hợp tác của Việt Nam với Lào. Về lĩnh vực giao thông vận tải, trong giai đoạn 1996-2000, hai bên đã cùng nhau tìm nguồn đầu tư nâng cấp hệ thống đường thông thương nối liền hai nước, tạo điều kiện cho Lào thông thương qua lãnh thổ và cảng biển Việt Nam ra các nước. Hai bên đã đầu tư xây dựng quốc lộ: 43, 6B, 42, cửa khẩu Chiềng Khương. Cải tạo nâng cấp quốc lộ 9A, cửa khẩu Lao Bảo, quốc lộ 8, quốc lộ 7, quốc lộ 217 và 6A, quốc lộ 12A, cảng Ðà Nẵng, cảng Xuân Hải và hoàn thành bến I cảng Vũng Áng... Hợp tác về thương mại, đầu tư, năng lượng và chuyên gia không ngừng được củng cố, đ ổi mới và hoàn thiện cả về cơ chế và hình thức hợp tác, đã thu được những bước phát triển quan trọng. Hợp tác giữa các địa phương và hợp tác biên giới được duy trì và đẩy mạnh. Công tác đối ngoại nhân dân được chú trọng đã tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, cùng vun đắp mối quan hệ đoàn kết đặc biệt thêm bền chặt. Hai bên luôn quan tâm và tạo điều kiện cho thế hệ trẻ, học
  18. sinh, sinh viên được tham gia các hoạt động giao lưu, trao đổi để giữ gìn, bảo vệ và phát triển tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam. Hai bên phối hợp nghiên cứu, biên soạn công trình Lịch sử quan hệ đặc biệt và liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam từ năm 1930-2007, tổng kết quá trình liên minh chiến đấu và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, đúc kết những bài học kinh nghiệm phục vụ việc tiếp tục xây dựng và phát triển quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam lên một tầm cao mới. Trong giai đoạn 2011 -2020, hai nước đề ra định hướng cơ bản của chiến lược hợp tác là: "Phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào trở thành động lực tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập của mỗi nước", trong đó, không ngừng nâng cao nhận thức và làm sâu sắc thêm qu an hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và tinh thần quan hệ đặc biệt theo luật pháp của mỗi nước. Theo Báo Nhân dân 7. Nửa thế kỷ quan hệ Việt - Lào - Coi việc giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào như giữ gìn và bảo vệ "con ngươi của mắt", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho hay, tiếp tục củng cố tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước, coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển. Sáng nay, 18/7, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cùng các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, MTTQ Việt Nam, các vị nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, quân đội, lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương và thành phố Hà Nội đã tham dự lễ kỷ niệm 35 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam - Lào (18-7-1977/18-7-2012) và 50 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước (5-9-1962/5-9-2012).
  19. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại buổi lễ. Ảnh: Minh Thăng Tham dự buổi lễ phía bạn Lào có ông Buonnhang Vorachith, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó Chủ tịch nước Lào, Trưởng đoàn đại biểu cấp cao Lào thăm Việt Nam; Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Giáo dục và Thể thao Phankham Viphavanh, Chủ tịch Mặt trận Lào xây dựng đất nước Phanduangchith Vongsa. Dù gian nguy, không lay chuyển Trong diễn văn tại buổi lễ, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, "đây là sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân hai nước". Ông nhấn mạnh quan hệ Việt - Lào là mối quan hệ "không giống bất cứ mối quan hệ nào trong lịch sử thế giới đương đại", được xây đắp và nuôi dưỡng bằng công sức và xương máu của nhiều thế hệ cách mạng Việt Nam và Lào trong suốt chiều dài lịch sử. Mối quan hệ tốt đẹp toàn diện của hai nước Việt - Lào góp phần tích cực vào giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở Đông Nam Á và trên thế giới. “Hơn bao giờ hết, chúng ta cần tiếp tục củng cố tăng cường và phát triển hơn nữa mối quan hệ đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt – Lào, coi đây là lẽ sống, là nghĩa tình trước sau như một, dù gian nguy đến đâu cũng không hề lay chuyển. Chúng ta nguyện giữ gìn và bảo vệ mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào như giữ gìn và bảo vệ con ngươi của mắt mình, quyết tâm cùng với Đảng và Nhà nước Lào anh em, phát triển, làm phong phú và sâu sắc thêm và thúc đẩy mạnh mẽ và ngày càng đi vào chiều sâu, coi đây là tài sản thiêng liêng vô giá được trao truyền lại mãi cho các thế hệ mai sau”, Tổng Bí thư nhấn mạnh.
  20. Thay mặt đoàn đại biểu cấp cao của Lào, ông Buonnhang Vorachith nhấn mạnh, Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào luôn gìn giữ và bảo vệ mối quan hệ truyền thống đặc biệt giữa hai nước, được trải qua biết bao thử thách, được vun đắp bằng mồ hôi, xương máu của những anh hùng, chiến sỹ và nhân dân hai nước nhiều thế hệ, trở thành mối quan hệ thuỷ chung, trong sáng để lại cho con cháu mai sau. “Tình hữu nghị anh em và tình chiến đấu Lào – Việt là viên ngọc quý, là tài sản vô giá của hai nước. Đảng và Nhà nước Lào sẽ làm hết sức mình, chủ động và nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện các Hiệp ước, Hiệp định, thoả thuận cấp cao giữa hai Đảng, hai Nhà nước"- ông nói. Ông cũng nhấn mạnh việc đồng thời quan tâm thúc đẩy và chỉ đạo sát sao các Bộ, ngành Trung ương và địa phương với ưu tiên hàng đầu là tiếp tục tăng cường quan hệ chính trị gắn liền với việc trao đổi kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn giữa hai Đảng, hai Nhà nước và tăng cường hợp tác, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ trên các lĩnh vực. Đồng thời, nỗ lực phối hợp với phía Việt Nam trong việc tổ chức thực hiện thắng lợi Chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật giữa hai nước đến năm 2020... 8. Một số sự kiện lịch sử về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào năm 1950
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2