TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA VẬT LÝ
-------------------------------------------
LÊ THỊ NGỌC LÂM
VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC A-NỐT CHO PIN LI-ION
Chuyên ngành: Vật lí chất rắn
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Lê Đình Trọng
Hà Nội – 2018
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Vật Lý, các thầy cô giáo trong
khoa Vật Lý đã tạo điều kiện cho em hoàn thành bản khóa luận này. Và đặc biệt em
xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS, TS Lê Đình Trọng đã trực tiếp hướng dẫn,
giúp đỡ em với những chỉ dẫn khoa học quý giá trong quá trình nghiên cứu hoàn
thành bản khóa luận tốt nghiệp này. Mặc dù có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một
cách hoàn chỉnh song do lần đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học,
tiếp cận thực tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh
khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được.
Em rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy Cô giáo và các bạn để khóa
luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018 Sinh viên Lê Thị Ngọc Lâm
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan:
Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion” được
hoàn thành với sự cố gắng của bản thân cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo,
PGS. TS Lê Đình Trọng, em xin cam đoan khóa luận này là thành quả của quá trình
làm việc nghiêm túc của bản thân và nội dung của khóa luận không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu của các tác giả trước đã công bố.
Hà Nội, tháng 5 năm 2018 Sinh viên Lê Thị Ngọc Lâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................................................. 2
5. Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 2
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................ 2
7. Bố cục của khóa luận: ............................................................................................. 2
NỘI DUNG ................................................................................................................. 4
Chương 1: PIN LI-ION ............................................................................................... 4
1.1. Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo của pin Li-ion.................................................. 4
1.1.1. Pin liti ................................................................................................................ 4
1.1.2. Pin ion liti (Li-ion) ............................................................................................ 5
1.1.2.1. Đặc điểm, cấu tạo pin ion liti ......................................................................... 5
1.1.2.2. Nguyên lý hoạt động của pin ion liti .............................................................. 7
1.2. Chất điện ly .......................................................................................................... 8
1.3. Vật liệu tích trữ ion .............................................................................................. 8
Chương 2: VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC ANÔT CHO PIN Li-ION ................................ 10
2.1. Phân loại vật liệu a-nốt cho pin Li-ion ............................................................... 10
2.2. Đặc trưng cấu trúc, tính chất điện hóa của vật liệu điện cực a-nốt .................... 10
2.2.1. Vật liệu chèn/thoát .......................................................................................... 10
2.2.1.1. Cacbon cứng ................................................................................................. 10
2.2.1.3. Graphene ...................................................................................................... 13
2.2.2. Họ vật liệu a-nốt dựa trên titanium oxide ....................................................... 15
2.2.2.2. Titanium dioxide (TiO2) ............................................................................... 17
2.2.3.1. Silicon (Si) ................................................................................................... 21
2.2.3.2. Silicon monoxit (SiO) .................................................................................. 22
2.2.3.3. Germanium (Ge) .......................................................................................... 23
2.2.3.4. Oxit thiếc (SnO2) .......................................................................................... 26
2.2.4. Vật liệu chuyển đổi ......................................................................................... 29
2.2.4.1. Sắt ô-xít ........................................................................................................ 29
2.2.4.2. Coban oxit .................................................................................................... 32
2.2.4.3. Kim loại (MPx) ............................................................................................. 34
2.2.4.4. Sunfua kim loại (MSx) và nitrua (MNx) ....................................................... 37
Chương 3: TRIỂN VỌNG CỦA VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC A-NỐT .......................... 42
3.1. Những thách thức trong công nghệ pin Li-ion ................................................... 42
3.2. Xu hướng phát triển vật liệu điện cực a-nốt ..................................................... 44
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 46
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ngày nay, khi nền kinh tế toàn cầu đang trên đà phát triển, chất lượng cuộc sống
của con người ngày càng tăng cao. Bên cạnh đó việc cải thiện, nâng cao chất lượng
môi trường sống cũng như sử dụng có hiệu quả các nguồn năng lượng đã và đang là
những vấn đề được quan tâm đặc biệt. Các nguồn năng lượng hoá thạch như than,
dầu mỏ, khí đốt,… và năng lượng hạt nhân được sử dụng hiện nay đang đứng trước
nguy cơ cạn kiệt trong thời gian không xa. Hơn nữa, rác thải hạt nhân gây ra những
tác hại to lớn, việc đốt các nhiên liệu hóa thạch thải ra khí cacbon đioxit (CO2) là
nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng lên. Do đó các yêu cầu đặt
ra hiện nay là cần phải tạo ra các nguồn năng lượng sạch, không gây ra các tác hại
với môi trường. Có nhiều biện pháp được đưa ra như sử dụng các nguồn năng lượng
gió, năng lượng mặt trời,… Bên cạnh đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn
năng lượng đóng vai trò không kém phần quan trọng. Một trong các biện pháp đó là
tích trữ năng lượng dưới dạng điện năng nhờ các loại pin hoặc acquy.
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công
nghệ điện tử dẫn đến sự ra đời hàng loạt các thiết bị điện tử không dây (máy tính xách
tay, điện thoại di động, thiết bị y tế vi điện tử,…). Để đảm bảo các thiết bị hoạt động
được tốt cần phải có những nguồn năng lượng phù hợp, có dung lượng lớn, hiệu suất
cao, có thể dùng lại nhiều lần và đặc biệt là gọn nhẹ và an toàn. Pin là nguồn năng
lượng đáp ứng được tất cả những yêu cầu đó. Trong các loại pin đã được nghiên cứu
và chế tạo thì pin Li-ion có nhiều đặc tính tốt hơn các loại pin cùng chủng loại như
NiCd, NiMH,…
Trong những năm vừa qua, nhu cầu về pin Li-ion trên thị trường là rất lớn. Mặc
dù đã được thương mại hóa rộng rãi trên thị trường nhưng những công trình khoa học
nghiên cứu về pin Li-ion vẫn được tiếp tục tiến hành để đổi mới liên tục nhằm có thể
chế tạo các pin mật độ năng lượng cao, chất lượng tốt hơn, tuổi thọ dài hơn, kích
thước nhỏ hơn, trọng lượng nhẹ hơn, giá thành rẻ và an toàn hơn. Đóng vai trò quan
1
trọng để đáp ứng các yêu cầu trên, việc cải thiện, tìm ra các vật liệu mới nhằm thay
thế các vật liệu điện cực truyền thống hiện đang được sử dụng là cần thiết. Trong
bước đầu làm công tác nghiên cứu, em chọn “Vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion”
làm đề tài khóa luận tốt nghiệp mình.
2. Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về pin Li-ion
- Nắm được quá trình điện hóa và các phản ứng xảy ra trên điện cực a-nốt
- Nắm được hiện trạng và triển vọng của các họ vật liệu điện cực a-nốt cho pin
Li-ion từ đó có định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan về Pin Li-ion.
- Đặc trưng cấu trúc, tính chất điện hóa của vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-
ion.
- Hiện trạng và triển vọng của vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết đặc trưng cấu trúc của vật liệu tích trữ ion Li+.
- Tổng hợp các thành tựu đạt được trong công nghệ chế tạo vật liệu điện cực
a-nốt.
- Trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm đánh giá triển vọng của vật liệu điện cực
a-nốt trong tương lai.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết
- Tổng hợp, phân tích tài liệu các kết quả đạt được về vật liệu điện cực a-nốt.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Có những hiểu biết cơ bản về pin Li-ion, đặc biệt là vật liệu làm điện cực a-nốt
và những triển vọng phát triển của nó trong tương lai.
7. Bố cục của khóa luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của khóa luận
được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết về pin Li-ion
2
Chương 2: Vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion
3
Chương 3: Vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion trong tương lai
NỘI DUNG
Chương 1: PIN LI-ION
1.1. Nguyên tắc hoạt động và cấu tạo của pin Li-ion
1.1.1. Pin liti
Pin liti (Li-Metal) được phát triển gần đây, có mật độ năng lượng là 140 Wh/kg
và có mật độ thể tích là 300 Wh/lit. Các loại pin này thường có cấu trúc nhiều lớp
(Hình 1.1a) như:
CC1 │ Li │ IC │ IS │ CC2
Trong đó:
- CC1, CC2 là các tiếp điện bằng kim loại,
- IC là lớp điện ly ( dẫn ion Li+) thường là muối LiClO4 pha trong dung dịch
PC ( Propylen Carbonat),
- IS là lớp tích trữ ion đóng vai trò điện cực dương (ca-tốt)
-
- Li là lớp liti kim loại đóng vai trò điện cực âm (a-nốt)
Hình 1.1: Pin liti: a) Cấu hình tổng quát; b) Khi pin phóng điện
Trong quá trình phóng điện, các ion Li+ dịch chuyển xuyên qua lớp dẫn ion Li+
và tiêm vào ca-tốt. Lớp này thường được chế tạo từ các chất chứa Li như LiCoO2,
LiMn2O4 LiNiO2 hoặc V2O5. Đồng thời, các điện tử dịch chuyển trong mạch ngoài
thông qua điện trở tải (Hình 1.1b). Sức điện động được xác định bởi sự khác nhau
4
của thế hoá học giữa liti trong a-nốt và liti trong ca-tốt. Khi nạp điện cho pin, điện
thế dương đặt trên ca-tốt làm cho ion Li+ thoát khỏi điện cực này. Nếu quá trình tiêm/
thoát tích trữ là thuận nghịch, các pin liti có chu kỳ phóng nạp cao.
Vấn đề lớn trong loại pin này đó là việc lựa chọn vật liệu ca-tốt. Hiện tại các vật
liệu ca-tốt hầu như chỉ giới hạn trong ba đối tượng đó là: LiCoO2, LiNiO2 và
LiMn2O4. Vì các vật liệu này có khả năng giải phóng ion Li+ tại điện thế cao.
Với loại pin liti kim loại này có những ưu điểm sau: Liti là kim loại kiềm có trữ
+= -3,01 V) và
lượng lớn trong tự nhiên, có mật độ tích trữ năng lượng lớn nhất so với các kim loại
khác(3860 Ah/kg), có hoạt tính điện cực đứng đầu dãy điện thế(∆ФLi/Li
là một kim loại nhẹ ( D= 0,5 g/cm3). Nguồn điện liti có điện thế hở mạch từ 3 V đến
5V, chưa từng có trong các nguồn điện hóa trước nó.
Bên cạnh những ưu điểm trên thì pin Liti kim loại cũng có nhiều nhược điểm là
quá trình nạp điện sinh ra liti kim loại kết tủa trên nền a-nốt liti thụ động hóa khiến
nó không còn được bằng phẳng mà phát triển gồ ghề tạo ra tinh thể dạng cây
(dendrite). Quá trình như vậy dẫn đến đoản mạch, sinh nhiệt, bốc cháy và phá hủy
pin. Hơn nữa, do liti kim loại có tính hoạt hóa mạnh, bốc cháy khi gặp nước, không
đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Vì kim loại Li dễ bốc cháy trong môi trường có
độ ẩm > 0,05% cho nên công nghệ chế tạo rất phức tạp, độ an toàn không cao trong
quá trình làm việc.
1.1.2. Pin ion liti (Li-ion)
1.1.2.1. Đặc điểm, cấu tạo pin ion liti
Trong quá trình sản xuất pin liti kim loại còn gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm.
Vì yếu tố đó con người đang tập trung nghiên cứu để tìm ra phương hướng giải quyết
mới nhằm cải thiện dung lượng pin, trong sản xuất thì gặp ít khó khăn hơn. Có nhiều
phương án được đưa ra nhằm thay thế a-nốt liti kim loại tinh khiết, có hoạt tính hóa
học mạnh, bằng các vật liệu có khả năng tích trữ ion Li+ hoặc sử dụng các vật liệu
dẫn ion mới tương thích hơn với liti. Khi đó, pin có cấu hình như sau:
CC1 │ IS1 │ IC │ IS2 │ CC2
Trong đó: IS1 và IS2 là hai lớp tích trữ ion có tác dụng tăng cường khả năng xâm nhập
5
của các ion Li+. Trong các chu kì lặp lại, Li+ tiêm/thoát vào/ra khỏi các lớp tích trữ
ion. Các pin có cấu hình như vậy được gọi là pin “ ghế xích đu” (rocking chair) hay
pin ion liti.
Pin ion liti (LIBs) là nguồn tích trữ năng lượng có thể nạp lại nhiều lần và có
điện áp tương đối cao đạt 3,6V. Mật độ năng lượng cao hơn acquy NiMH khoảng
50%, số lần phóng nạp trên 1400 chu kỳ. Với những thành tựu này, pin ion liti đã
chiếm lĩnh thị trường thiết bị điện tử.
Ứng dụng của pin ion liti được dùng cho các linh kiện, thiết bị điện tử từ nhỏ
đến lớn. Thí dụ, các sensor khí, các mạnh tổ hợp cũng như các xe điện hoặc các thiết
bị điện tử dân dụng, trong các thiết bị sách tay, đặc biệt là máy tính loại nhỏ và điện
thoại di động.
Vật liệu ca-tốt điển hình là các oxit kim loại với cấu trúc lớp, chẳng hạn như liti
coban oxit (LiCoO2), hoặc vật liệu với cấu trúc tunnel, chẳng hạn như liti mangann
oxit (LiMn2O4). Vật liệu điện cực âm điển hình là cacbon graphit, cũng là vật liệu có
cấu trúc lớp. Các vật liệu dùng làm điện cực thường được quét (hoặc phết) lên những
góp dòng bằng đồng (với vật liệu a-nốt) hoặc bằng nhôm (với vật liệu ca-tốt) tạo
thành các điện cực cho pin ion liti. Các điện cực này được đặt cách điện để đảm bảo
an toàn, tránh bị tiếp xúc gây ra hiện tượng đoản mạch. Trong quá trình nạp/phóng
điện, các ion Li+ được tiêm hoặc tách từ khoảng trống giữa các lớp nguyên tử trong
các vật liệu hoạt động.
Pin ion liti cấu tạo từ các lớp chất rắn được gọi là pin ion liti rắn. Nhờ việc sử
dụng các vật liệu tích trữ ion và các chất điện ly rắn, pin ion liti rắn ra đời được coi
là bước ngoặt của nguồn điện nhỏ có mật độ năng lượng lớn. Bằng các kỹ thuật khác
nhau lớp này được phủ lên lớp kia. Thí dụ, sử dụng kỹ thuật chế tạo màng, các lớp
này lần lượt được lắng đọng để tạo thành pin siêu mỏng dạng rắn có độ dày chỉ vào
khoảng vài micro-met. Các pin ion liti rắn có nhiều ưu điểm như độ an toàn cao,
không độc hại, dải nhiệt độ làm việc rộng, và đặc biệt có thể chịu được xử lý ở nhiệt
độ cao (trên 250oC). Tuy nhiên, việc sử dụng các pin này còn nhiều hạn chế, trước
hết là do chu kỳ phóng nạp thấp, giá thành cao. Nguyên nhân chính làm cho số chu
kỳ phóng nạp thấp là do quá trình phân cực tại ca-tốt tăng nhanh theo chu kỳ phóng
6
nạp. Quá trình giảm phẩm chất của chất điện ly theo chu trình làm việc và sự hình
thành các tinh thể nhánh cây bên trong hệ: trên bề mặt a-nốt, ca-tốt và trong chất điện
ly. Để khắc phục các yếu tố ảnh hưởng trên cần phải tiến hành nghiên cứu sâu hơn về
các vật liệu mới sử dụng làm điện cực tích trữ và chất dẫn ion phù hợp hơn.
1.1.2.2. Nguyên lý hoạt động của pin ion liti
Nguyên lý hoạt động của pin ion liti dựa vào khả năng tiêm/thoát thuận nghịch
các ion liti (Li+) của các vật liệu điện cực. Trong quá trình nạp/phóng điện, các ion
Li+ được tiêm/thoát thuận nghịch vào/ra vật liệu chủ mà không làm thay đổi đáng kể
cấu trúc vật liệu chủ. Vật liệu làm điện cực thường được quét lên một bộ góp điện
bằng đồng ở điện cực âm và bằng nhôm với điện cực dương. Các điện cực được đặt
cách điện để đảm bảo an toàn và tránh tiếp xúc với nhau dẫn đến hiện tượng đoản
mạch.
Hình 2.1: Mô hình điện hóa của pin Liti ion
Trong quá trình nạp điện, vật liệu điện cực dương đóng vai trò là chất oxi hoá
và vật liệu điện cực âm đóng vai trò là chất khử. Trong quá trình này các ion Li+ được
rút ra từ vật liệu điện cực dương và tiêm vào vật liệu điện cực âm, như mô tả bởi các
7
phương trình. Khi Li kim loại không có mặt trong pin, các pin ion liti ít phản ứng hóa
học hơn, an toàn và cho tuổi thọ chu kỳ dài hơn so với các pin liti nạp lại sử dụng kim
loại Li làm vật liệu điện cực âm. Quá trình nạp/phóng trong pin ion liti được biểu
diễn chi tiết hơn bằng biểu đồ trong hình 2.1.
Điện cực dương:
Điện cực âm:
Tổng thể:
Trong các phương trình này, LiMO2 ký hiệu vật liệu điện cực dương oxit kim
loại, thí dụ LiCoO2. Còn C là vật liệu điện cực âm cacbon, thí dụ graphit. Quá trình
ngược lại xảy ra trong khi pin phóng điện: các ion liti tách ra từ âm cực, dịch chuyển
qua chất điện ly và tiêm vào giữa các lớp trong điện cực dương. Các quá trình phóng
và nạp của pin ion liti không làm thay đổi cấu trúc tinh thể của vật liệu điện cực.
1.2. Chất điện ly
Có bốn loại chất điện ly được sử dụng trong pin Li-ion: chất điện ly dạng lỏng,
các chất điện ly dạng gel, chất điện ly cao phân tử (polime) và chất điện ly dạng gốm.
Chất điện ly dạng lỏng: cấu tạo pin liti ion là những muối chứa ion Li+ (LiPF6,
LiClO4) được hòa tan và các dung môi hữu cơ có gốc carbonate (EC, EMC)
Chất điện ly dạng gel: là loại vật liệu dẫn ion được tạo ra bằng cách hòa tan
muối và dung môi trong polime với khối lượng phân tử lớn tạo thành gel.
Chất điện ly dạng polime: là dung dịch dạng lỏng với pha dẫn ion được hình
thành thông qua sự hòa tan muối Liti trong vật liệu polime có khối lượng
phân tử lớn
Chất điện ly dạng gốm: là vật liệu vô cơ ở trong trạng thái rắn có khả năng
dẫn ion Li+
8
1.3. Vật liệu tích trữ ion
Họ vật liệu tích trữ ion được hình thành bằng phương pháp tổng hợp pha rắn
hoặc các phương pháp đặc biệt khác trên cơ sở thâm nhập các tiểu phần tử (ion, phân
tử) “khách” do có kích thước nhỏ đi vào một hợp chất rắn “chủ” mà cấu trúc dạng
lưới tồn tại những vị trí trống. Có thể minh họa sự hình thành hợp chất chủ - khách
bằng mô hình sau:
Chỉ chiều vào/ra (chiều tích/thoát) của ion hình thành hợp chất chủ - khách bằng
Chủ
mô hình sau:
Kí hiệu: Chỉ tiểu phân là ion hoặc phân tử khách
Chỉ vị trí trống trong cấu trúc chủ
Chỉ chiều vào/ra (chiều tích/thoát) của ion
Về nguyên tắc sự vào/ra của các tiểu phân khách trong cấu trúc chủ là không tự
xảy ra. Thật vậy, ngay cả khi tiểu phân là ion cũng có kích thước đáng kể, hơn nữa
lại mang điện tích nên khi có mặt trong ô trống (vị trí trống, đường hầm, kênh, xen
lớp…) có thể dẫn đến tương tác hóa trị, thay đổi liên kết mạng lưới ở mức độ nhiễu
loạn. Tuy nhiên, đặc thù của hợp chất đan xen li là dưới tác dụng của gradient thế hóa
học, thế điện hóa, quá trình tích/thoát ion vào mạng rắn (cũng có thể gọi là khuếch
tán) diễn ra chậm nên không có sự phá vỡ cấu trúc. Do đó quá trình cài/khử cài có
9
thể xem như đi qua một loạt các trạng thái cân bằng.
Chương 2: VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC A-NỐT CHO PIN Li-ION
2.1. Phân loại vật liệu a-nốt cho pin Li-ion
Tùy thuộc vào cơ chế tiêm/thoát ion Li+, vật liệu điện cực a-nốt có thể được
phân loại thành bốn nhóm chính như sau:
- Vật liệu chèn/thoát, chẳng hạn như vật liệu cacbon, cacbon xốp, ống nano
cacbon, graphene,
- Họ vật liệu a-nốt dựa trên titanium oxide
- Vật liệu hợp kim/phân kim
- Vật liệu chuyển đổi như oxit của các kim loại chuyển tiếp (MnxOy, NiO,
FexOy, CuO, Cu2O,…) kim loại sunphua, photphua kim loại và nitrua kim
loại (MxXy; ở đây X= S, P, N)
2.2. Đặc trưng cấu trúc, tính chất điện hóa của vật liệu điện cực a-nốt
2.2.1. Vật liệu chèn/thoát
2.2.1.1. Cacbon cứng
Mặc dù cacbon mềm thể hiện trạng thái của vật liệu a-nốt trong LIBs, một số
hạn chế chẳng hạn như dung lượng thấp và độ trễ điện áp cao trong quá trình
delithiation, có thể cản trở việc sử dụng chúng như vật liệu a-nốt cho thế hệ tiếp theo
của LIBs. Mặt khác, các nguyên tử cacbon cứng có khả năng đảo ngược cao (hơn 500
mAh.g-1) trong phạm vi tiềm năng 0–1,5 V so với Li/Li+, do đó chúng đại diện cho
một thay thế hợp lệ cho cacbon mềm. Các nguyên tử cacbon cứng được phát triển
vào năm 1991 bởi Tập đoàn Kureha (Nhật Bản) và được sử dụng làm vật liệu điện
cực âm trong pin thứ cấp Li-ion đầu tiên, nhưng sau đó được loại bỏ khỏi ngành công
nghiệp điện tử. Cacbon cứng có sự liên kết ngẫu nhiên của các tấm graphene cung
cấp nhiều khoảng trống để chứa liti, tuy nhiên cách thức mà sự khuếch tán liti xảy ra
bên trong các nguyên tử cabon làm cho khuếch tán liti rất chậm, cụ thể là khả năng
tỷ lệ rất kém. Tuy nhiên, một số nhà sản xuất ô tô và pin đã tập trung vào việc phát
triển cacbon cứng để sử dụng trong xe điện, chủ yếu được thúc đẩy bởi khả năng đảo
ngược cao của nó. Gần đây, dung lượng a-nốt từ 200 đến 600 mAh.g−1 đã được báo
10
cáo. Dung lượng cao này liên quan đến tính chất xốp của vật liệu, số lượng tấm
graphene và diện tích bề mặt. Tuy nhiên, các nguyên tử cacbon cứng có hai nhược
điểm chính, đó là hiệu suất coulombic ban đầu thấp. Để khắc phục những vấn đề này,
một số chiến lược đã được theo đuổi, ví dụ bằng phương tiện oxy hóa bề mặt, florua
hóa hoặc bằng cách sử dụng lớp phủ kim loại hoặc một lớp mỏng cacbon mềm. Đặc
biệt, sau này dẫn đến hiệu suất pin liti tốt hơn bằng cách cải thiện cả hiệu suất
coulombic và dung lượng lưu trữ liti. Tiến bộ hơn nữa theo hướng này đã đạt được
thông qua một cuộc điều tra có hệ thống về tác động của nhiệt độ trong quá trình phủ
cacbon. Tuy nhiên, cả dung lượng và tuổi thọ chu trình của các nguyên tử cacbon
cứng vẫn cần được cải thiện. Haung et al. đã tổng hợp cấu trúc xốp của các nguyên
tử cacbon cứng và quan sát được khả năng được cải thiện, tức là hơn 400 mAh.g-1
[1]. Kết quả thú vị đã được quan sát thấy với kích thước micron cacbon cứng tổng
hợp từ tinh bột khoai tây.
Hình 2.1: Ảnh SEM lỗ xốp cacbon cứng -1(a, c) và ảnh TEM lỗ xốp cacbon cứng
-2(b, d); (e) Giản đồ tiêu biểu về khả năng xả của chúng theo số chu kỳ ở tốc độ
dòng khác nhau [2].
Trên thực tế, kết quả cho thấy khả năng đảo ngược gần 530 mAh.g−1 với khả
năng sống và tốc độ chu trình tốt. Tương tự, các nguyên tử cacbon cứng nano được
tổng hợp bằng nhiệt phân và hiệu suất điện hóa của chúng cho các LIBs được đánh
giá (xem Hình 2.1). Những vật liệu nano này thể hiện khả năng vượt trội gần 500
11
mAh.g−1 cùng với tuổi thọ và tốc độ chu trình tốt. Khả năng tốc độ cao đã được chứng
minh là có liên quan đến sự khuếch tán liti nhanh ∼4,11×10−5cm2s−1 đối với cacbon
cứng phân tầng nano.
2.2.1.2. Ống nano cacbon
Các ống nano cacbon (CNTs) thường được sử dụng với các phần tử a-nốt hoạt
tính khác để cải thiện hiệu suất điện hóa bằng cách tận dụng ưu thế dẫn điện cao, ổn
định cơ học và nhiệt. Các CNTs được chia thành các ống nano cacbon đơn lớp
(SWCNTs) và đa lớp (MWCNTs) phụ thuộc vào độ dày và số lượng các lớp đồng
trục của chúng. Kể từ khi chúng được phát hiện năm 1991, cả SWCNT và MWCNT
đều được nghiên cứu rộng rãi dưới dạng vật liệu a-nốt và như vật liệu tổng hợp. Giá
trị lý thuyết tối đa thu được cho dung lượng đảo chiều của CNTs ước tính là 1116
mAh.g-1 đối với SWCNTs trong phép đo độ chuẩn hóa LiC2. Dự đoán lý thuyết này
được xác nhận bởi các thí nghiệm, vì các SWCNT tinh chế được tạo ra bằng phương
pháp bốc hơi bằng tia laze, cho dung lượng lớn hơn 1050 mAh.g-1, dung lượng lớn
nhất có được với a-nốt SWCNT. Tuy nhiên, việc đạt được hiệu suất coulombic cao
với CNTs vẫn còn nhiều thách thức do sự hiện diện của các khuyết tật cấu trúc lớn
và độ trễ điện áp cao. Để khắc phục những vấn đề này, các nghiên cứu đã tập trung
vào các đặc điểm hình thái của CNTs, như độ dày lớp, đường kính ống, độ xốp và
hình dạng (dạng thanh, hình chữ nhật…). Đặc biệt là cách tiếp cận mà Oktaviano et
al. đã báo cáo. Trong công trình này, MWCNTs được khoan hóa học đã được tổng
hợp bằng phản ứng trạng thái rắn [3]. Quá trình được tóm tắt trong hình 2.2. Các hạt
nano oxit Coban đã được nối vào bề mặt CNTs và một quá trình oxy hóa đã được
thực hiện. Cuối cùng, việc loại bỏ các hạt oxit dẫn tới các lỗ kích thước 4 nm trên bề
mặt MWCNTs. Hiệu suất pin liti của các cấu trúc này được đánh giá và chúng cho
thấy dung lượng cao hơn, tuổi thọ xe đạp tốt hơn và hiệu suất coulombic cao hơn so
với MWCNTs nguyên sơ.
Để cải thiện dung lượng lưu trữ liti và tuổi thọ xe đạp trong pin, CNTs kết hợp
với một loạt các vật liệu cấu trúc nano (Si, Ge, Sn, Sn-Sb) hoặc các oxit kim loại
(MxOy, M = Fe, Mn, Ni, Mo, Cu, Cr) đã được tổng hợp. Những hệ thống hybrid này
dẫn đến CNT với tăng độ dẫn điện và giảm sự thay đổi thể tích trong quá trình sạc và
12
xả.
Hình 2.2. a) Sơ đồ đại diện của giao thức tổng hợp để khoan các ống nano cacbon
đa lớp b) Giản đồ tích/thoát của MWCNTs, MWCNTs tinh chế và MWCNTs
nano ở chu kỳ 20 và mật độ dòng 25mAhg-1 [3].
2.2.1.3. Graphene
Graphene là một dạng nguyên tử của graphite. Độ dẫn điện tốt, độ bền cơ học
thích hợp và diện tích bề mặt lớn làm cho nó hấp dẫn đối với vật liệu a-nốt. Tuy nhiên,
các nghiên cứu lưu trữ liti lý thuyết của graphene khá gây tranh cãi. Trong thực tế,
1), khi một số tấm graphene được xem xét cùng nhau, giá trị này vượt qua hiệu suất
mặc dù lượng liti hấp thụ bởi một lớp graphene là rất thấp so với graphite (372 mAh.g-
graphite dẫn đến 780 mAh.g−1 hoặc đến 1116 mAh.g−1. Hai giá trị này được liên kết
với hai mô tả khác nhau về sự tương tác giữa liti và graphene. Đặc biệt, trước đây giả
sử hấp thụ các ion Li trên cả hai mặt của graphene (Li2C6 stoichiometry), trong khi
sau đó giả định Li bị mắc kẹt tại vòng benzen trong một liên kết cộng hóa trị LiC2
stoichiometry). Các thí ghiệm đã khẳng định rằng dung lượng ban đầu của graphene
lớn hơn than graphite.
Điều thú vị là, hoạt động nghiên cứu thực nghiệm về graphene làm vật liệu a-
nốt cho LIBs khá phong phú. Pan et al. cho rằng các tấm graphene bị rối loạn khi
được chế tạo theo các phương pháp khác nhau: quá trình khử hydrazin, nhiệt phân
nhiệt độ thấp và chiếu xạ chùm electron [4]. Các phép đo điện hóa đã chứng minh
rằng các tấm graphene thể hiện dung lượng riêng cao trong khoảng 790–1050
mAh.g−1 do sự hiện diện của các vị trí hoạt động bổ sung cho việc lưu trữ liti như các
13
cạnh và các khuyết tật khác. Tuy nhiên nhược điểm của cấu trúc rối loạn này là độ
dẫn điện tử kém. Tương tự, để đạt được dung lượng cao từ a-nốt graphene trong LIBs,
Lian et al. graphit chất lượng cao được đề xuất với vài lớp graphene (∼4) và có diện
tích bề mặt trên 490 m2.g−1. Các nghiên
cứu điện hóa đã cho thấy khả năng đảo
ngược lớn gần 1200 mAh.g-1 tại các chu
kỳ ban đầu, với giá trị khoảng 848
mAh.g-1 thậm chí ở chu kỳ 40 [5]. Gần
đây, Wang et al. đã báo cáo chế tạo tại
chỗ các điện cực graphene (DHPG) có
pha tạp phân tầng cho các LIB với khả
năng chu trình cực nhanh và dài [6].
Như thể hiện trong hình 2.3, ảnh SEM
Hình 2.3 . (a, b) SEM, (c) TEM và (d)
và TEM phóng đại cao và thấp cho thấy
hình ảnh HRTEM của các điện cực
rằng các cụm graphene rỗng có thể
graphene (DHPG) phân tầng phức tạp
chứa các lỗ nhỏ cỡ nano. Hiệu suất điện
[6]
hóa của điện cực DHPG thể hiện lưu trữ
liti cao với khả năng chu trình dài, khoảng 3000 chu kỳ, với mật độ dòng 5 A.g−1.
Những kết quả đầy
hứa hẹn này là do tác
động mạnh mẽ của
cấu trúc xốp phân
cấp, mạng dẫn điện
tốt và doping dị
nguyên tử, tạo thuận
lợi cho việc vận
chuyển hàng loạt và
tăng tốc các phản
ứng điện hóa. Trong
số các lớp graphene
Hình 2.3: Hiệu suất điện hóa của điện cực DHPG [10]
14
của vật liệu, các
băng nano được tổng hợp từ MWCNT giữ tiềm năng đầy hứa hẹn trong khả năng lưu
trữ liti. Đặc biệt, nhóm nghiên cứu của Fahlman thu được cả hai băng nano graphene
giảm và oxit, sau đó với sự hấp thu liti tăng lên và dung lượng ổn định 800 mAh.g-1
[7].
2.2.2. Họ vật liệu a-nốt dựa trên titanium oxide
Các oxit Titan đã thu hút sự chú ý đáng kể trong cộng đồng pin liti vì chúng cho
phép thiết kế các thiết bị hoạt động với những mối quan ngại về an toàn. Hơn nữa,
loại vật liệu hoạt tính này còn cho thấy các tính năng thú vị khác như không đắt tiền,
độc tính thấp, thay đổi thể tích thấp (2-3%) trên cả chèn liti và khử, cùng với tuổi thọ
chu trình tuyệt vời. Tuy nhiên nó cho thấy dung lượng lý thuyết thấp, trong khoảng
175 – 330 mAh.g-1 và độ dẫn điện thấp.
Hiệu suất điện hóa và khả năng chèn/chiết liti của các oxit titan dựa chủ yếu phụ
thuộc vào cấu trúc, hình thái và kích thước của chúng. Cụ thể, người ta phát hiện ra
rằng các oxit titan cấu trúc nano tạo ra dung lượng tốt hơn, khả năng vận chuyển cao
hơn các vật liệu rời. Do đó, rất nhiều nỗ lực đã được tập trung cho việc phát triển các
vật liệu điện cực a-nốt dựa trên oxit titanium cấu trúc nano. Đến nay, titan dioxit với
các dạng đẳng hướng khác nhau và spinel Li4Ti5O12 đã được nghiên cứu rộng rãi cho
mục đích a-nốt.
2.2.2.1. Spinel Li4Ti5O12
Spinel Li4Ti5O12 (LTO) được coi là loại oxit titanium thích hợp nhất để sử dụng
làm cực a-nốt trong pin Li-ion và thực sự được coi là a-nốt khả thi đối với pin Li-ion.
Nó thể hiện khả năng đảo ngược Li-ion tuyệt vời với năng lượng hoạt động cao
ở 1,55 V so với Li/Li+. Sự chèn/chiết liti trong LTO xảy ra bởi liti hóa của spinel
Li4Ti5O12 tạo thành Li7Ti5O12. Trong suốt quá trình chèn, sự đối xứng spinel và cấu
trúc của nó hầu như không thay đổi. Khả năng hoạt động cao đảm bảo các điều kiện
an toàn, trong thực tế sự hình thành giao diện điện phân rắn (SEI) được giảm nhẹ
nhưng không tránh khỏi sự phát triển rễ cây, vấn đề điển hình trong các a-nốt gốc
cacbon. Tuy nhiên, dung lượng lý thuyết thấp 175 mAh.g-1 và độ dẫn điện tử thấp
~10-13 S.cm-1 giới hạn dung lượng ở mức phóng điện cao và giảm sự khuếch tán Li-
15
ion. Để khắc phục vấn đề này, hai cách tiếp cận đã được tuân thủ: thứ nhất là tăng
cường độ dẫn điện tử của LTO bằng biện pháp xử lý bề mặt, thứ hai bao gồm việc
tăng cường khuếch tán Li-ion bằng cách giảm quy mô LTO xuống mức nano. LTO
nano, với kích thước hạt từ 20 đến 50 nm, được tổng hợp bằng phương pháp đốt đơn
1, rất gần với giá trị lý thuyết tối đa, được đo ở tốc độ 0,5C, trong khi dung lượng ổn
giản trong thời gian ngắn (dưới 1 phút). Dung tích xả thử nghiệm, tức là 170 mAh.g-
định là 140 và 70 mAh.g-1 được quan sát thấy ở tốc độ xả cao hơn 10C và 100C, tương
ứng. Các doping của vật liệu dẫn điện thấp, chẳng hạn như LTO, là một trong những
kỹ thuật nổi bật để nâng cao độ dẫn điện của chúng. Về vấn đề này, Shen et al. đã
thực hiện một phương pháp để phát triển trực tiếp các dây nano LTO trên lá titan và
chúng tiếp tục cho thấy sự cải thiện độ dẫn điện của các dây nano LTO bằng cách
giới thiệu các ion Ti+3 thông qua quá trình hydro hóa. Kết quả được xác nhận thông
qua kỹ thuật XPS [8]. Những dây nano này có chứa Ti được sử dụng trực tiếp như
điện cực không có chất phụ gia dẫn điện và chất kết dính, và chúng thể hiện hiệu suất
tốc độ tuyệt vời bằng cách đạt giá trị dung lượng gần với giá trị lý thuyết, ví dụ 173
mAh.g-1 ở mức 0,2C với tuổi thọ chu kỳ tốt. Hơn nữa, giá trị này đã trở thành 121
16
mAh.g-1 tại 30C (xem Hình 2.4).
Hình 2.4: a) Biểu diễn sơ đồ của chế tạo hydro hóa-LTO (H-LTO);
b) Hiệu suất điện hóa của dây nano H-LTO và LTO .
Những kết quả cao này có liên quan đến việc tăng cường độ dẫn điện tử trong
LTO hydro hóa đối với độ nguyên thủy. Hơn nữa, nhóm nghiên cứu của Xia báo cáo
các nanocomposites nhị phân của Li4Ti5O12–Li2Ti3O7 để khắc phục sự sụt giảm điện
áp đột ngột của LTO khi kết thúc quá trình nạp điện. Những vật liệu tổng hợp này,
có kích thước vài trăm nanomet, cho thấy hình thái giống như lớp mỏng được hình
thành bởi các nanograin nối với nhau có kích thước ∼20 nm. Các vật liệu tổng hợp
thể hiện hiệu suất điện hóa tuyệt vời, về năng lực và tuổi thọ chu trình. Cuối cùng,
đường điện áp của chúng có thể được thay đổi bằng cách theo dõi tỷ lệ hỗn hợp, do
đó đáp ứng yêu cầu của một đầu ra điện áp trơn tru để ngăn chặn quá tải.
2.2.2.2. Titanium dioxide (TiO2)
Titanium dioxide (titania) là một vật liệu rất hứa hẹn cho các ứng dụng a-nốt
trong lĩnh vực LIBs, trên thực tế nó phù hợp cho sản xuất hàng loạt và nó cũng có
hiệu quả về chi phí. Ngoài ra, titania cho thấy đặc tính an toàn và ổn định tuyệt vời
với dung lượng ở 1,5 V so với Li/Li+. Hơn thế nữa, TiO2 có những ưu điểm như hoạt
động điệc cực cao, khả năng oxy hóa mạnh, tính ổn định hóa học tốt, độ phong phú
cao và sự đa dạng về cấu trúc. Những tính năng này làm cho titania trở thành một ứng
viên tốt làm vật liệu a-nốt trong LIBs. Titania có thể lưu trữ 1 mol liti trên 1 mol của
TiO2 với dung lượng tối đa lý thuyết là 330 mAh.g-1 và LiTiO2 stoichiometry (gần
gấp đôi so với LTO). Tuy nhiên, việc khai thác toàn bộ dung lượng là một thách thức
lớn trong thực nghiệm. Quá trình chèn/chiết liti trong titania thường phụ thuộc vào
độ tinh thể, kích thước hạt, cấu trúc và diện tích bề mặt của nó.
TiO2 tồn tại trong các cấu trúc đa hình khác nhau: anatase, rutile, brookite, TiO2-
B (đồng), TiO2-R (ramsdellite) TiO2-H (hollandite), TiO2-II (colum-cite), TiO2-III
17
(baddeyte).
Hình 2.5 (a) Rutile, (b) anatase, (c) brookite, và (d) đồng (B) của TiO2.
Về dạng rutil của TiO2, nó đã cho thấy rằng việc giảm kích thước hạt của nó
xuống 15 nm cho phép dung lượng lớn hơn 378 mAh.g-1 tại lần xả đầu tiên và dung
lượng ổn định tiếp theo là 200 mAh.g-1 (0,6 Li cho mỗi phân tử rutil TiO2) trên 20
chu kỳ, mật độ dòng 0,05 A.g-1. Với kích thước hạt 300 nm, năng suất chu kỳ ban
đầu và 20 của 110 và 50 mAh.g-1 đã được quan sát. Sự cải thiện dung lượng và sự
hấp thụ Li+ có liên quan đến đặc tính nano và diện tích bề mặt cao. Tương tự như vậy,
nó đã được báo cáo rằng kích thước hạt 6 nm của TiO2 anatase duy trì dung lượng
cao ở hơn 200 mAh.g−1 trên 20 chu kỳ với mật độ dòng là 0,1 Ag-1. Hơn nữa, với tốc
độ dòng là 10 A.g-1, dung lượng 125 mAh.g-1 đã đạt được. Khi di chuyển đến kích
thước hạt cao hơn của TiO2, chẳng hạn như 15 nm và 30 nm, dung lượng thấp hơn
của 80 và 71 mAh.g−1 đã được tìm thấy. Đặc biệt, việc giảm kích thước hạt tạo điều
kiện cho sự chèn/chiết liti và thu thập electron tại a-nốt bằng cách tăng cường khuếch
tán Li+ và rút ngắn chiều dài đường truyền điện tích. Về vấn đề này, nhóm nghiên
cứu của Lee tổng hợp anatase TiO2 microspheres bởi quá trình solvothermal. Những
hạt nano TiO2 này được hình thành bởi sự kết hợp của các tinh thể nano TiO2 cực
nhỏ 6-8 nm với các vi cấu trúc kích thước lỗ nhỏ cỡ 4-6 nm. Các màn trình diễn tối
ưu của các kính hiển vi TiO2, chẳng hạn như khả năng lưu trữ liti cao, số chu kỳ xả-
nạp cao được giải thích bằng hình thái hình cầu. Đặc điểm cuối cùng này đã được
điều chỉnh để cải thiện hiệu suất, tốc độ cũng như tuổi thọ chu trình của các cực a-nốt
dựa trên titania. Ví dụ, Gentili et al. tổng hợp, bằng phương pháp thủy nhiệt, ống nano
anatase TiO2 với độ dày thành 2-3 nm, đường kính ngoài 8-10 nm và chiều dài trong
18
khoảng 100-300 nm [9]. Những ống nano này thể hiện dung lượng tối đa vào khoảng
300 mAh.g-1 với sự hấp thụ liti khoảng 0,98 Li cho công thức đơn vị của titania. Cùng
với dung lượng cao, các ống nano titania này cho thấy khả năng tốc độ cao và tuổi
thọ xe đạp tốt với dung lượng khoảng 250 mAh.g-1 trên 100 chu kỳ nạp/xả. Tương
tự, Brown et al. đã tổng hợp các TiO2–B mesoporous, với kích thước lỗ xốp 12 nm.
Titania xốp này đã được chứng minh là một chất liệu a-nốt tốt ở mật độ hiện tại khác
nhau. Điều thú vị là dung lượng lưu trữ liti là ∼120 mAh.g-1 đã đạt được ở tốc độ
dòng cao là 60C. Hiệu suất tốc độ được cải thiện này liên quan đến động học nhanh
từ hành vi điện hóa giả điện dung của các hình cầu micro TiO2–B.
Phát triển thêm TiO2 về mật độ dung lượng và tuổi thọ chu trình có thể đạt
được bằng cách kết hợp các cấu trúc nano titania với các ma trận dẫn điện như carbon,
CNT và graphene . Ví dụ, như trong hình 2.7, Wang et al. chế tạo một hỗn hợp lai
của titania và graphene bằng phương pháp thủy nhiệt. Cấu trúc thu được bao gồm ống
nano TiO2 có đường kính 10 nm, có chiều dài từ vài trăm đến hàng nghìn nanomet,
được xây dựng trên một lớp graphene [10]. Khả năng cụ thể thu được của hỗn hợp
này là hơn 300 mAh.g-1 trong phạm vi điện thế từ 1,0 đến 3,0 V so với Li/Li+. Sự ổn
định của các vật liệu tổng hợp lai này đã được chứng minh qua vài nghìn chu kỳ xả
điện, từ dòng điện thấp đến cao, cụ thể là từ 10 - 1000 mA.g−1, cùng với hiệu quả
columbic tốt. Kết quả đầy hứa hẹn này có thể là do sự kết tinh nano và tương tác điện
19
tử giữa các thành phần lai.
Hình 2.7: Sơ đồ minh họa (a) Hỗn hợp ống nano TiO2/graphene (TG); (b) vận chuyển
electron thông qua graphene và khuếch tán ion trong TiO2 hình ống; (c) Dung lượng
xả ban đầu của điện cực tổng hợp TG ở các mật độ dòng khác nhau từ 10 đến 8000
mA.g−1; (d) Độ ổn định chu trình của composite TG ở mật độ dòng từ 100 đến 4000
mA.g−1 (dải điện áp: 1,0–3.0 V ) [10].
2.2.3. Vật liệu hợp kim/phân kim
Thế hệ tiếp theo của LIBs dự kiến sẽ đáp ứng nhu cầu điện năng của các thiết
bị tiêu thụ năng lượng cao, để cấp nguồn cho xe điện và HEV và được sử dụng trong
các ứng dụng cố định. Do dó, dung lượng riêng là thông số cơ bản được xem xét đối
với các vật liệu hoạt động a-nốt mới lạ. Vật liệu có thể đáp ứng các yêu cầu về dung
lượng cao, chẳng hạn như silicon, germanium, silicon monoxide và oxit thiếc phản
ứng với liti theo cơ chế hợp kim/de-hợp kim. Dung lượng lý thuyết riêng của họ dao
động từ 783 mAh.g-1 cho oxit thiếc lên tới 4211 mAh.g-1 cho silic. Mặc dù các vật
liệu dựa trên hợp kim này có thể cung cấp dung lượng riêng lớn hơn than chì (372
mAh.g-1) và LTO (175 mAh.g-1), những hạn chế hớn nhất là tuổi thọ chu trình kém
do thay đổi khối lượng lớn và khả năng không thể đảo ngược lớn ở các chu kỳ ban
đầu. Để khắc phục những vẫn đề này, các phương pháp tiêp cận khác nhau đã được
thực hiện: sự giảm kích thước từ hạt vi mô đến hạt nano và chế tạo vật liệu tổng hợp
20
với cả vật liệu hoạt động và không hoạt động liti là những hứa hẹn nhất. Trong trường
hợp sau, vật liệu hoạt động/không hoạt động như một ma trận đệm dẫn điện giữa các
vật liệu hợp kim và nguồn liti. Vật liệu hợp kim cấu trúc nano với hình thái khác nhau
như dây nano và ống nano đã được coi là một con đường có thể thực hiện để đạt dung
lượng cao với khả năng tốc độ tốt và tuổi thọ chu trình dài.
2.2.3.1. Silicon (Si)
Silicon có dung lượng riêng cao nhất (4200 mAh.g-1, Li22Si5) và dung lượng thể
tích (9786 mAh.cm-3) trong số các ứng viên vật liệu a-nốt. Ngoài ra, điện thế phóng
điện của silic gần với than chì tức là 0,4 V so với Li/Li+. Cuối cùng, Si là nguyên tố
phổ biến thứ hai trên Trái Đất, do đó không tốn kém và thân thiệt với môi trường. Sự
điện hóa của điện cực Si đã được nhiều nhóm nghiên cứu sâu. Nó đã được làm rõ
ràng giá trị dung lượng cao cụ thể do sự hình thành của các hợp chất nhị phân Li-Si
như Li12Si7, Li7Si3, Li13Si4, Li22Si5. Tuy nhiên, một số vấn đề ngăn cản việc sử dụng
Si làm a-nốt trong LIBs. Đầu tiên, sự thay đổi thể tích lớn (~400%) trong quá trình
sạc/xả gây ra tuổi thọ chu trình kém và dung lượng không thể đảo ngược. Thứ hai, sự
hình thành các hợp chất Si tại giao diện điện phân rắn ức chế quá trình hợp kim/phân
kim. Để hiểu lý do chính xác của sự ổn định chu trình kém của Si như a-nốt trong
LIBs, nhiều khảo sát in-situ với các kỹ thuật thực nghiệm khác nhau như XRD, NMR,
TEM đã được thực hiện. Những nghiên cứu này chứng minh rằng tiếp xúc điện giữa
vật liệu hoạt động và cả carbon dẫn điện và bộ tiếp dòng điện đều giảm do sự thay
đổi thể tích lớn của a-nốt Si, dẫn đến việc không thể đảo ngược chèn/chiết liti. Cuối
cùng, những thay đổi thể tích này dẫn đến tuổi thọ chu trình ngắn hơn và dung lượng
giảm dần.
Để khắc phục những vấn đề này, rất nhiều nỗ lực tập trung vào Si cấu trúc nano,
đặc biệt là về khía cạnh hình thái học của chúng. Ví dụ các dây nano, ống nano và
nano cầu được xem xét do khả năng cung cấp thể tích tự do cần thiết để có thể mở
rộng Si trong quá trình hợp kim/khử hợp kim. Đặc biệt, các dây nano Si (SiNMs) và
ống nano đã cho thấy dung lượng đảo chiều trên 2000 mAh.g-1 với độ ổn định chu
trình tốt. Các kết quả tốt nhất thu được bằng sự tăng trưởng trực tiếp Si NM trên các
bộ tiếp dòng kim loại, theo phương pháp tiếp cận hơi-lỏng-rắn. Kỹ thuật này cung
21
cấp chỗ ở tốt hơn cho những thay đổi thể tích lớn và tất cả các dây nano tham gia vào
quá trình hợp kim liti vì tiếp xúc trực tiếp với bộ tiếp dòng. Phương pháp chế tạo a-
nốt này đã dẫn đến những màn trình diễn điện hóa đáng chú ý. Trên thực tế, dung
lượng xả điện quan sát được là 3500 mAh.g-1 trên 20 chu kỳ ở tốc độ 0.2C, trong khi
ở tốc độ cao hơn 1C, giá trị dung lượng được đặt ở 2100 mAh.g-1. Kết quả lưu trữ liti
ấn tượng này có thể là do tiếp xúc điện tử tốt giữa bộ thu dòng hiện tại và SiNW, với
cơ chế vận chuyển có hiệu quả và đường kính nhỏ SiNWs, cho phép chỗ ở tốt hơn
của sự thay đổi dung lượng.
2.2.3.2. Silicon monoxit (SiO)
SiO được coi là một sự lựa chọn thay thế cho silicon, như là ứng cử viên a-nốt,
do khả năng lý thuyết cao của nó (>1600 mAh.g-1). Ngoài ra, sự phối hợp oxy đồng
nghĩa với sự thay đổi khối lượng tối thiểu và đồng thời năng lượng kích hoạt thấp
hơn. Các phản ứng điện hóa xảy ra trong quá trình nạp-xả xác định chuyển đổi SiO
thành Si và các oxit liti và có thể sự hình thành Si-Li hoặc, một cách khác sự hình
thành trực tiếp hợp kim Si-Li và các silic liti. Cơ chế này có thể được phân loại như
sau:
SiO + xLi ↔ Si + LixO
xLi + Si ↔ LixSi
hoặc là:
xLi + SiO ↔ Lix-y Siz + LixSiOz.
SiO rắn không ổn định nhiệt động ở mọi nhiệt độ. Do đó, nó có thể được biến
đổi thành Si và SiO2 ở nhiệt độ kích hoạt phản ứng không cân xứng. Như đã chỉ ra
trước đây về silic, SiO cũng trải qua những thay đổi nhất quán về thể tích trong quá
trình ion hóa và khử. Hơn nữa, cả độ dẫn điện và tỷ lệ chèn/khử ion đều khá kém. Để
giải quyết những vấn đề này và để cải thiện khả năng đảo ngược cũng như duy trì chu
trình, các phương pháp tiếp cận khác nhau đã được thử nghiệm. Sự hứa hẹn nhất là
lớp phủ carbon, giảm điện hóa của SiO với liti và cuối cùng là giảm kích thước SiO.
Trong số các giải pháp này, giảm kích thước hạt kết hợp với lớp phủ carbon là một
cách hiệu quả để khắc phục các vấn đề trên bằng cách rút ngắn khoảng cách khuếch
22
tán của các ion Li và do đó tăng cường ion và độ dẫn điện.
Vào năm 2002, nó đã được chứng minh hiệu quả của cả nồng độ oxy và kích
thước hạt trong chu trình và khả năng đảo ngược của SiOx. Hiệu suất phân tích ion
liti được thực hiện bằng cách thay đổi nồng độ oxy của SiO, chẳng hạn như SiO0.8,
SiO và SiO1.1, cùng với kích thước hạt chẳng hạn như 30 và 50 nm. Nó đã được quan
1 tại các chu kỳ ban đầu kèm theo dung lượng lớn mờ dần theo chu trình. Tuy nhiên,
sát thấy rằng SiO0.8 với kích thước hạt 50 nm cho thấy dung lượng cao 1700 mAh.g-
khi đã xem xét đến việc sử dụng SiO1.1, dung lượng ổn định trên xe đạp 750 mAh.g−1
đã được tìm thấy. Kết luận là hàm lượng oxy thấp hơn trong SiOx cho phép dung
lượng riêng cao hơn liên quan đến tuổi thọ chu trình kém hơn. Ngoài ra, kích thước
hạt cũng ảnh hưởng đến dung lượng a-nốt. Đặc biệt, kích thước hạt SiOx 30 nm cho
thấy khả năng lưu trữ tốt hơn với dung lượng đảo ngược cao so với các hạt lớn hơn.
2.2.3.3. Germanium (Ge)
Germanium là một vật liệu a-nốt hoạt động được nghiên cứu rộng rãi nhờ khả
năng lưu trữ liti cao (1623 mAh.g-1) tương ứng với phản ứng hợp kim/phân kim đảo
ngược hình thành hợp thức Li22Ge5. Mặc dù Ge là đắt hơn đáng kể và cho thấy dung
lượng thấp hơn silicon, nó có những ưu điểm mong muốn như độ dẫn điện cao bên
trong (104 lần cao hơn silicon), dung lượng cao hơn so với than chì và khoảng cách
dải hẹp (0,67 eV). Hơn nữa, nó đã được báo cáo rằng sự khuếch tán liti vào Ge là 15
và 400 lần nhanh hơn so với Si ở 360°C và ở nhiệt độ phòng. Điều này đảm bảo khả
năng tốc độ cao hơn và vận chuyển phí hiệu quả hơn so với silicon và graphite. Dung
lượng dung lượng cao do đó, Ge cực kỳ quan trọng trong các ứng dụng mật độ dung
lượng cao tiên tiến như xe điện. Tuy nhiên, như đã thảo luận cho silicon, việc sử dụng
thực tế của Ge như điện cực hoạt động trong LIBs bị cản trở bởi sự thay đổi dung
lượng ấn tượng (∼300%) trong quá trình chèn/chiết ion liti. Các cấu trúc nano của
Ge, chẳng hạn như các hạt nano, các dây nano và ống nano có hiệu quả có thể duy trì
sự thay đổi thể tích với hiệu quả tốt hơn so với cấu trúc khối. Đáng chú ý là các cải
tiến đã được quan sát với hỗn hợp lai của các hạt nano Ge sử dụng các ma trận dẫn
điện, thu được thông qua các tuyến chuẩn bị đơn giản, ví dụ như nhiệt phân trạng thái
23
rắn .
Ví dụ, các hạt nano Ge, có đường kính từ 5 nm đến 20 nm, được bao bọc bên
trong các nanospheres cacbon với đường kính trong khoảng từ 50 đến 70 nm. Vai trò
của các nano cầu cacbon là hoạt động như bộ đệm cấu trúc và vật liệu điện hoạt động
trong quá trình chèn liti và quá trình khử và tránh tiếp xúc trực tiếp với chất điện
phân. Khía cạnh cuối cùng này ngăn cản Ge từ sự hình thành SEI. Các vật liệu tổng
hợp thu được này trưng bày lưu trữ liti có khả năng đảo ngược cao cùng với khả năng
tốc độ cao.
Hành vi tương tự đã được quan sát thấy trong các hạt nano Ge đặt trên SWCNTs
bởi CVD. Các hạt nano Ge tinh thể, với kích thước trung bình 60 nm, được lắng đọng
trên các SWCNT và được phủ một lớp titan mỏng để có khả năng tốc độ tốt hơn. Ưu
điểm chính của việc sử dụng CNT là sự gia tăng độ dẫn điện giữa Ge và tiếp dòng
cùng với sự gia tăng khuếch tán liti, từ đó, có nghĩa là chỗ ở của việc mở rộng khối
lượng Ge trong chu trình. Hỗn hợp Ge nano lai này cho thấy dung lượng điện cực a-
nốt khoảng 980 mAh.g−1 so với kim loại liti và 800 mAh.g−1 với LiFePO4 làm ca-
tốt. Tương tự như vậy, khả năng đảo ngược cao có thể so sánh, cùng với tuổi thọ chu
trình tuyệt vời và khả năng tốc độ cao, đạt được bằng cách kết hợp các hạt nano Ge
với MWCNT và giảm graphene oxide.
Các dây nano và ống nano germanium cấu trúc nano cũng đã được nghiên cứu.
Thứ nhất, Ge NWs được tổng hợp thông qua quá trình tăng trưởng hạt giống vàng.
Thứ hai, giải pháp HF đã được sử dụng để đạt được H-chấm Ge NWs, do đó, đã trải
qua passivation bề mặt của thiol bằng cách sử dụng dodecanthiol. Các màn trình diễn
điện hóa của Ge NWs thiol-passivated cho thấy kết quả đáng ghi nhận như dung
lượng đảo ngược cao bằng 1130 mAh.g-1 cùng với tuổi thọ chu trình tốt ở 0.1C.
Những cấu trúc này cũng được chứng minh là có dung lượng dung lượng cao với
dung lượng đảo ngược 550 mAh.g−1với tốc độ cao hơn là 11C. Để hiểu rõ hơn về
hiệu ứng thụ động của Ge NWs trong LIBs, các thí nghiệm so sánh với các hạt nano
Ge và Ge NWs không được thụ động cũng được thực hiện. Cả hai kỹ thuật điện hóa
và kính hiển vi đã xác nhận rằng sự thụ động bề mặt của Ge NWs dẫn đến tính toàn
24
vẹn cấu trúc tốt hơn.
Tương tự, cấu trúc nano kim loại/Ge lai cũng đã được chế tạo và thử nghiệm.
Ví dụ, Wang et al. tổng hợp các dây nano lõi vỏ Cu-Ge ba chiều bằng cách phun trực
tiếp RF lớp Ge trên các dây nano Cu đã được chuẩn bị trước đó [11]. Những dây nano
này mang lại khả năng đảo ngược lớn là 1419 mAh.g−1 ngay cả sau 40 chu kỳ. Họ
cũng đạt được một khả năng tốc độ rực rỡ với dung lượng 850 và 734 mAh.g-1 ở mức
giá hiện tại là 40C và 60C. Những kết quả thú vị này có thể được hợp lý hóa bằng
cách xem xét rằng các dây nano Cu hoạt động như tiếp xúc điện tốt giữa chất nền và
Ge, do đó tạo điều kiện cho việc truyền electron và điện tích bằng cách rút ngắn chiều
dài khuếch tán liti.
Cuối cùng, các oxit germanium kích thước nano cũng được nghiên cứu làm vật
liệu a-nốt mới cho LIBs. Rất gần đây, Seng et al. cải thiện hiệu suất điện hóa
germanium dioxide (GeO2) bằng cách sử dụng Ge với lớp phủ cacbon dẫn điện [12].
GeO2/Ge/C đã được chuẩn bị trong quy trình ba bước, bắt đầu với quá trình tổng hợp
GeO2 từ thủy phân GeCl4 và tiếp theo là lớp phủ cacbon với khí axetylen, dẫn đến
GeO2/C. Bước cuối cùng là giảm GeO2/C thành GeO2/Ge/C qua nhiệt độ cao ∼650°C.
Phân tích hiệu suất pin liti được thực hiện cho các vật liệu như GeO2/Ge/C, GeO2/C,
nano GeO2 và bulk GeO2. Hợp chất GeO2/Ge/C cho thấy dung lượng cao 1860 và
1680 mAh.g−1, với độ ổn định đi xe đạp tốt, với tốc độ hiện tại là 1C và 10C, tương
ứng (xem Hình 2.8). Một hiệu suất pin Li đáng chú ý có liên quan đến lớp phủ cacbon
của Ge, đặc biệt nó đã được tìm thấy rằng carbon tăng cường khả năng đảo ngược
25
của phản ứng chuyển đổi của GeO2 với liti.
Hình 2.8: a) Sơ đồ biểu diễn cơ chế phản ứng liti trong Ge, GeO2–C và
GeO2/Ge/C; b) Dung lượng chu trình của tất cả các mẫu cho 50 chu kỳ với tốc độ
1C; c) Dung lượng của tất cả các mẫu với tốc độ nạp từ 0,1 đến 10C [12].
2.2.3.4. Oxit thiếc (SnO2)
Oxit thiếc đang nhận được sự chú ý đáng kể như a-nốt trong pin Li-ion do nó
có khả năng lý thuyết cao và điện thế làm việc thấp, tức là 0,6 V so với Li/Li+. Các
phản ứng điện hóa hợp kim liti có thể được tóm tắt trong bước không thể đảo ngược
đầu tiên, trong đó SnO2 được khử thành Sn và liti oxit (SnO2 + 4Li ↔ Sn + 2Li2O),
tiếp theo là hợp kim/phân kim Sn-Li đảo ngược (Sn + 4.4Li ↔ Li4.4Sn). Quá trình
điện hóa tổng thể này liên quan đến 8.4Li cho một SnO2 đơn vị công thức. Khả năng
lý thuyết tương ứng là 1491 mAh.g-1 nhưng nó giảm xuống 783 mAh.g-1 trong bước
thứ hai có thể đảo ngược cao. Do đó, 783 mAh.g-1 thường được coi là dung lượng lý
thuyết thực tế. Hơn nữa, sự suy thoái điện cực trầm trọng được quan sát vì sự thay
26
đổi thể tích (> 200%) khi chu trình. Do đó, có rất nhiều cố gắng để cải thiện độ ổn
định chu trình của SnO2 và để giảm khả năng không thể đảo ngược do thay đổi thể
tích.
Cấu trúc nano xốp, nanocomposites, và cấu trúc rỗng của SnO2 đã được đề xuất
để khắc phục các vấn đề nêu trên. Đặc biệt, nó đã được chứng minh rằng độ xốp trong
SnO2 cấu trúc nano có khả năng cân bằng các thay đổi thể tích trong quá trình
chèn/khử liti. Trong thực tế, các lỗ xốp hoạt động như bộ đệm cho những thay đổi thể
tích lớn. Về vấn đề này, Yin et al. đã chế tạo SnO2 quả cầu trong phạm vi 100-300
nm từ thiếc sulphate, bằng phương pháp giải pháp hiệu quả và dễ dàng [13]. Các quả
cầu SnO2 đã chế tạo cho thấy hiệu suất pin liti đáng chú ý với dung lượng 761 và 480
mAh.g−1 sau 50 chu kỳ nạp-xả ở mật độ dòng điện 200 mA.g−1 và 2000 mA.g−1. Kết
quả tương tự đã được quan sát với mesoporous sử dụng silica làm mẫu và, khi so sánh
với các dây nano SnO2, nó đã được tìm thấy trước đây cung cấp phản ứng điện hóa
tốt hơn so với sau này. Đặc biệt, các SnO2 mesoporous trưng bày một khả năng đảo
ngược 800 mAh.g-1, với dung lượng duy trì 98%, ngay cả sau 50 chu kỳ ở tốc độ dòng
0.2C. Chịu trách nhiệm về hiệu suất được cải thiện này là độ xốp của SnO2, cho phép
sự ngập nước của chất điện phân giữa các hạt cùng với vai trò đệm để thay đổi thể
tích trong các chu kỳ xả điện.
Do tầm quan trọng đáng kể của cacbon trong lĩnh vực pin liti, các phát triển
hơn nữa thu được bằng cách sử dụng các vật liệu cacbon tổng hợp như: SnO2,
SnO2/nanofibers, SnO2/cacbon nanoparticles, SnO2/CNTs và SnO2/graphene. Về vấn
đề này, các lỗ rỗng không chứa cacbon và cacbon tráng phủ của SnO2, được chuẩn bị
thông qua tuyến đường thủy nhiệt hiệu quả mà glucose được sử dụng làm nguồn
cacbon, được đề xuất. Kết quả cho thấy hiệu suất tốt hơn cho SnO2 phủ cacbon, về
dung lượng lưu trữ, hiệu suất columbic và tuổi thọ chu trình. Thành tựu này đã được
giải thích về quá trình oxy hóa điện hóa của Sn, dẫn đến SnO trong SnO2 phủ cacbon.
Trong thực tế, quá trình oxy hóa điện hóa của Sn không được quan sát thấy trong
SnO2 không chứa cacbon. Tương tự, Jiang et al. đề xuất sử dụng graphene, như hỗ
trợ cho SnO2 xốp, để tăng cường khả năng lưu trữ liti và tuổi thọ chu trình. Hỗn hợp
lai này được chuẩn bị bằng cách sử dụng kỹ thuật lắng đọng phun tĩnh điện và nó
27
được tìm thấy có đặc điểm rất tốt cho các mục đích pin liti [14]. Việc lắp ráp hợp lý
SnO2 trên graphene được coi là có lợi cho hiệu suất pin liti vì nó tăng cường độ dẫn
điện và đồng thời, nó có thể cung cấp hỗ trợ cơ học của các hạt nano hoạt động (tức
là SnO2) trong quá trình sạc và xả. Kết quả điện hóa của hệ
Hình 2.9: a, b) SEM và c, d) hình ảnh TEM của các ống nano SnO2 ngắn và dài,
tương ứng; e) đồ thị của chu kỳ nạp/xả đầu tiên của các điện cực ống nano SNO2
ngắn; f) Hiệu suất đi chu trình của các mẫu SnO2 khác nhau ở mật độ dòng 100
mA.g−1 [15].
thống hybrid này có dung lượng ổn định lớn là 551 và 507 mAh.g−1, lên đến chu kỳ
100, ở mật độ dòng 200 và 800 mA.g-1 tương ứng. Các kết quả tương tự đã được quan
sát với cacbon phân cấp đóng gói trong thiếc nhúng trong vật liệu tổng hợp tấn nano
28
graphene. Giao thức tổng hợp của hỗn hợp lai này trải qua ba bước chính: i) lắp ráp
SnO2 trên graphene, ii) giảm SnO2 vào các hạt nano Sn, iii) lớp phủ cacbon của hỗn
hợp thông qua quy trình CVD. Cấu trúc cuối cùng được sử dụng trực tiếp như a-nốt
trong LIBs.
Ngoài những ví dụ này, các cấu trúc hình thái khác nhau của SnO2 đã được
nghiên cứu rộng rãi như các dây nano, ống nano, nanorod, hộp nano và nanosheets,
chỉ để đặt tên một vài. Ví dụ, Ye et al. báo cáo ảnh hưởng của kích thước của các ống
nano SnO2 lên hiệu suất a-nốt [15]. Các độ dài khác nhau của SnO2 được tổng hợp
thông qua quá trình thủy nhiệt bằng cách sử dụng các sợi silica cấu trúc được cấu tạo
sẵn như là mẫu hy sinh. Các ống nano SnO2 kích thước ngắn cho thấy hành vi điện
hóa tốt hơn về năng lực và tuổi thọ chu trình. Dung lượng xả được đo là 468 mAh.g−1
sau 30 chu kỳ (Hình 2.9) .Kết quả nổi bật này được cho là có liên quan đến đặc tính
rỗng của các ống nano, làm giảm sự thay đổi thể tích và ứng suất cơ học trong quá
trình đi chu trình.
2.2.4. Vật liệu chuyển đổi
Phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về các hợp chất kim loại chuyển
tiếp như oxit, photphua, sunfua và nitrit (MxNy ; M = Fe, Co, Cu, Mn, Ni và N = O,
P, S và N) khi được sử dụng làm cực a-nốt trong LIBs. Cơ chế phản ứng điện hóa
liên quan đến các hợp chất này với liti, hàm ý sự khử (quá trình oxy hóa) của kim loại
chuyển tiếp cùng với sự hình thành (phân hủy) của hợp chất liti (LixNy; ở đây N = O,
P, S và N). Cực a-nốt dựa trên các hợp chất này thể hiện khả năng đảo ngược cao
(500–1000 mAh.g−1) do sự tham gia của một số lượng lớn các electron trong các phản
ứng chuyển đổi. Các phản ứng chuyển đổi điện hóa có thể được mô tả như sau:
MxNy + zLi+ + ze- ↔ LizNy + xM
Ở đây, M = Fe, Co, Cu, Mn, Ni và N = O, P, S và N.
2.2.4.1. Sắt ô-xít
Sắt dựa trên oxit đã được nghiên cứu rộng rãi cho pin liti có thể sạc lại vì chi
phí thấp, không độc tính và sự phong phú tự nhiên cao. Sắt oxit, cả haematit (α-Fe2O3)
và magnetite (Fe3O4), có khả năng tham gia vào phản ứng chuyển đổi đảo ngược với
29
liti, cung cấp dung lượng lý thuyết là 1007 và 926 mAh.g-1. Tuy nhiên, các oxit sắt
có xu hướng thể hiện hiệu suất chu trình kém do độ dẫn điện thấp, khuếch tán thấp
các ion Li+, mở rộng thể tích lớn và tích tụ sắt trong quá trình sạc và xả. Do đó, để
khắc phục các giới hạn đã xác định ở trên, nhiều nghiên cứu gần đây đã tập trung vào
việc phát triển các phương pháp mới để chế tạo vật liệu nano oxit sắt cũng như thay
đổi kích thước, hình dạng và độ xốp. Các nghiên cứu khác đã tập trung vào các
phương pháp để ổn định cấu trúc và cải thiện động học điện và dung lượng, chủ yếu
bằng cách phủ cacbon hoặc bằng vật liệu tổng hợp cacbon α-Fe2O3 và Fe3O4.
Ví dụ, Wang et al. đã báo cáo các quả cầu rỗng α-Fe2O3 làm a-nốt trong LIBs
[16]. Các quả cầu rỗng α-Fe2O3 được tổng hợp bằng phương pháp bán nhũ tương
(quasiemulsion) dễ uốn. Đặc biệt, nước và glycerol được sử dụng cho mục đích này,
trong thực tế, sự pha trộn của chúng dẫn đến sự hình thành các giọt quesiemulsion,
được dùng làm mẫu mềm cho sự hình thành các quả cầu rỗng α-Fe2O3. Phản ứng điện
hóa của các quả cầu rỗng α-Fe2O3 với liti được nghiên cứu trong cửa sổ điện áp 0,005–
3V so với Li/Li+. Kết quả cho thấy khả năng đảo ngược liti cao đi kèm với dung lượng
lưu trữ cao hơn 700 mAh.g-1 cho khoảng 100 chu trình xả điện tích. Những nghiên
cứu trên các quả cầu rỗng α-Fe2O3 cho thấy hình thái của Fe2O3 nano hóa đóng một
vai trò quan trọng trong phản ứng với liti. Tương tự, Wu et al. đã nghiên cứu ảnh
hưởng kích thước và hình thái của các hạt nano α-Fe2O3 trong phạm vi chiều dài từ
300 đến 500 nm có và không có độ xốp [17]. Liu et al. đã chế tạo haematit α-Fe2O3
các ống nano có đường kính ngoài từ 200 đến 300 nm bằng cách sử dụng ZnO làm
mẫu hy sinh. Tiếp theo, họ tiến hành với lớp phủ cacbon bằng cách sử dụng glucose
như nguồn cacbon [18]. Các ống nano α-Fe2O3 đã được chế tạo cho thấy dung lượng
đảo ngược tốt với dung lượng gần 750 mAh.g-1 trên 150 chu kỳ sạc/xả. Tốc độ dòng
được thiết lập là 0.2C trong phạm vi điện thế 0,005–3V so với Li/Li+. Tương tự, tinh
thể được phủ bằng cacbon Fe3O4 các dây nano được tổng hợp bởi Muraliganth et al.
thông qua phương pháp thủy nhiệt hỗ trợ vi sóng, sử dụng PEG-400 làm mẫu mềm
và polysaccharide làm nguồn cacbon [19]. Các kết quả dây nano Fe3O4 phủ cacbon,
với đường kính từ 20 nm đến 50 nm và chiều dài một vài micromet, cho thấy sự ổn
định điện hóa tuyệt vời với khả năng đảo ngược tốt 830 mAh.g-1 mà không có bất kỳ
30
thiệt hại dung lượng trên 50 chu kỳ. Những kết quả này là do vai trò tích cực của
cacbon trong việc thực hiện phản ứng chuyển đổi nhanh và có khả năng đảo ngược
cao của oxit sắt với liti, cung cấp độ dẫn điện tử tốt, tăng tính thấm lithi và độ ổn định
điện hóa. Gần đây, Xu et al. chế tạo xốp α-Fe2O3 xốp dạng trục chính từ cấu trúc hữu
cơ kim loại gốc sắt, được tạo thành bởi các hạt nano có kích thước khoảng 20 nm
[20]. Những cấu trúc α-Fe2O3 mới này cho thấy sự tăng cường tuyệt vời của khả năng
lưu trữ liti với dung lượng đảo ngược 911 mAh.g−1 ở tốc độ dòng 0.2C trong hơn 50
chu trình xả điện. Ngoài ra, dung lượng 424 mAh.g−1 đạt được ở tốc độ cao hơn 10C.
Những kết quả đầy hứa hẹn này cho thấy cả kích thước và hình thái đều ảnh hưởng
mạnh đến khả năng lưu trữ của cả hai loại ôxít sắt.
Sohn et al. thông qua một quá trình hỗ trợ aerosol, tiếp theo là lớp phủ hơi, tổng
hợp các nanocomposites của các lõi Fe3O4 và các lớp silicat-cacbon xốp. Cacbon đã
được chọn cho đặc tính của nó làm tăng độ dẫn điện, do đó để giảm thiểu sự kết tụ
của các hạt oxit sắt và để giảm ứng suất cơ học trong quá trình chu trình [21]. Những
nanocomposites cho thấy khả năng khá ổn định khoảng 900 mAh.g-1 với một hiệu
quả coulombic gần 100% hơn 50 chu kỳ sạc/xả. Gần đây, các ống Fe2O3 được tạo ra
từ các ống nano hữu cơ vi mô (MONT) được sử dụng làm mẫu. Chuẩn bị xốp Fe2 các
ống nano O3 (FNT, xem hình 2.10 ) đã thể hiện các hoạt động điện hóa tuyệt vời với
dung lượng lớn như 918 và 882 mAh.g-1 tại mật độ dòng 500 và 1000 mA.g-1 tương
ứng. Những kết quả này chỉ ra rằng các oxit sắt có chi phí thấp với vật liệu tổng hợp
31
carbon dẫn điện cao có thể là một lựa chọn hợp lý cho các cực a-nốt graphite.
Hình 2.10: a, b) Ảnh TEM của các ống nano Fe2O3 (FNTs) từ mẫu MONT; c) Dung
lượng xả của các hạt nano FNT (màu đỏ) và các hạt nano Fe2O3 thương mại (màu đen),
hiệu suất coulombic của FNT (màu tím); d) Đường cong tích - phóng điện; e) Hiệu suất
chu trình của FNT ở các tốc độ dòng khác nhau [22].
2.2.4.2. Coban oxit
Trong phần này sẽ xem xét những tiến bộ gần đây về các nghiên cứu liên quan
32
đến vật liệu oxit coban (Co3O4 và CoO) được sử dụng làm a-nốt cho LIBs. Co3O4 và
CoO cho thấy khả năng lý thuyết của 890 và 715 mAh.g-1 tương ứng. Tương tự như
các loại vật liệu khác, một số dạng oxit coban khác nhau đã được nghiên cứu. Cấu
trúc nano xốp, nanosheets, nanocubes, dây nano và ống nano đã được chuẩn bị bởi
các tuyến đường tổng hợp khác nhau như hóa chất ướt, trạng thái rắn, thủy nhiệt và
vi sóng, do đó cho phép điều chỉnh hiệu suất điện hóa .Ví dụ, Guan et al. đã phát triển
một phương pháp mẫu miễn phí để chế tạo các pha nano hình bát giác CoO tinh khiết
bằng cách sử dụng NH3 như một tác nhân phối hợp [23]. Trong đó, kích thước đồng
đều của hốc nano bát diện, với độ dài cạnh 100-200 nm, thu được. Trong thử nghiệm
làm vật liệu a-nốt, chúng thể hiện hiệu suất chu trình tuyệt vời cùng với khả năng tốc
độ tốt và khả năng lưu trữ liti tăng cường, như được thấy trong hình 2.11. Ngay cả ở
tốc độ dòng cao bằng 5C, những hốc nano bát diện đã có thể cung cấp một khả năng
đảo ngược của 474 mAh.g-1. Dung lượng lớn và khả năng tốc độ cao có thể do sự có
mặt các khoảng trống lớn có thể chứa những thay đổi lớn về khối lượng.
Hình 2.11: a) Đường cong xả điện đầu tiên và b) hiệu suất đi chu trình cho ba
mẫu CoO ở tốc độ dòng 0,2C [23].
Gần đây, Wang et al. báo cáo cấu trúc khối Co3O4 nano được tổng hợp bằng
cách tái tạo tinh thể rắn từ Co(OH)2 nanosheets [24]. Các hạt nano Co3O4 thu được
cho thấy hiệu suất điện hóa cao với dung lượng không thể đảo ngược ban đầu thấp
cùng với hiệu suất chu trình ổn định. Khả năng xả 1015 mAh.g−1 đã được quan sát
33
ngay cả sau 30 chu kỳ với tốc độ dòng là 0,2C. Sản lượng tuyệt vời này được quy cho
bản chất hai chiều của các mặt nano cùng với độ rỗng của chúng tạo điều kiện cho
chỗ ở của việc mở rộng thể tích trong quá trình sạc/xả.
Các vật liệu tổng hợp của các oxit coban đã được nghiên cứu để hạn chế sự thay
đổi thể tích và ngăn chặn sự tách rời và tích tụ các oxit coban trong quá trình
chèn/chiết liti. Như đã mô tả trước đây, đặc biệt là các vật liệu tổng hợp cacbon được
nghiên cứu kỹ lưỡng do tính chất mong muốn của chúng. Ví dụ, các hạt nano CoO
cực mịn có kích thước ∼5 nm, được neo chặt trên các ống nano graphene, được chế
tạo bởi Haung et al. [25]. Kết quả là vật liệu tổng hợp CoO/graphene kết quả cho
thấy lưu trữ liti tuyệt vời cho một chu trình xả điện dài với hiệu suất coulombic 100%.
Dung lượng ổn định 1015 mAh.g-1 được duy trì cho 520 chu kỳ nạp-xả. Trên thực tế,
phân tích hiển vi điện tử truyền qua cho thấy hình thái ban đầu của các vật liệu
nanocomposites CoO đã được bảo tồn trong số chu kỳ như vậy. Kết quả ấn tượng này
cho thấy rằng vật liệu tổng hợp của CoO, với một mạng dẫn điện, có thể dẫn đến sự
ổn định cấu trúc cao và cho phép tuổi thọ chu trình dài. Một hình thái khác đã được
giới thiệu bởi Peng et al. người đã báo cáo về các chấm lượng tử của vật liệu tổng
hợp CoO/graphene và dung lượng lưu trữ liti cao. Tương tự, Wu et al. đã chuẩn bị
10–20 nm Co3O4 kích thước hạt được neo trên các ống nano graphene trong dung
dịch nước cơ bản bắt đầu từ Co+2 muối vô cơ và graphene. Co3O4/graphene
nanocomposites hiển thị hiệu suất điện hóa cao với khả năng đảo ngược cao, tuổi thọ
chu trình tốt và khả năng tốc độ tốt.
Nhiều oxit kim loại khác, cho thấy cơ chế phản ứng chuyển đổi với liti, cũng đã
được nghiên cứu. Ví dụ NiO, MnOx, CuOx, MoOx, CrOx được nghiên cứu rộng rãi
như là vật liệu a-nốt cho LIBs và chúng cho thấy các tính chất hóa lý linh hoạt và khả
năng đảo ngược lớn khoảng 500 mAh.g−1.
2.2.4.3.Phosphua kim loại (MPx)
Phosphua kim loại cũng đã được nghiên cứu kỹ làm các a-nốt cho pin liti có thể
sạc lại. Chúng có thể phản ứng với liti, cả trong một lược đồ phản ứng chuyển đổi và
trong một phản ứng chèn/chiết, tùy thuộc vào bản chất của kim loại chuyển tiếp và
sự ổn định liên kết phốt-pho trong môi trường điện hóa. Có thể chia MPx thành hai
34
nhóm. Đầu tiên liên quan đến việc chèn/chiết liti mà không phá vỡ liên kết kim loại
- phốt-pho, được gọi là cơ chế chèn/khử chèn:
MxPy + zLi+ + ze- ↔ LizMx - zPy
Nhóm thứ hai liên quan đến cơ chế phản ứng chuyển đổi. Trong các phản ứng
điện hóa như vậy, các liên kết giữa kim loại và phốt pho bị phá vỡ, dẫn đến các hạt
kim loại nano và Li-phốt-pho:
MxPy + zLi+ + ze- ↔ LizPy + xM
Đồng, coban, sắt, niken và thiếc dựa trên phốt-pho thường được coi là thuộc
nhóm thứ hai, tức là cơ chế chuyển đổi. Tuy nhiên, một số báo cáo cho thấy MPx có
thể tham gia vào việc chèn cũng như cơ chế chuyển đổi tương ứng với điện thế so với
Li/Li+. Phốt-pho kim loại có thể mang lại dung lượng cao từ 500 đến 1800 mAh.g−1.
Ngoài ra, MPx như a-nốt cho thấy mức độ cao của các electron bị mất tập trung, dẫn
đến trạng thái ôxi hóa thấp và liên kết cộng hóa trị mạnh của M-Phosphorous. Một
ưu điểm khác là tiềm năng chèn thấp hơn MPx so với các đối tác oxit của chúng. Tuy
nhiên, MPx thường có độ dẫn điện thấp và thay đổi thể tích cao trong chu trình xả
điện tích. Việc sử dụng MPx làm cực a-nốt xứng đáng để khám phá thêm để vượt qua
những hạn chế này. Ví dụ, tinh thể khối Ni2P và tinh thể NiP2 được tạo thành qua quá
trình nghiền hỗn hợp bột niken và phốt-pho đỏ. Hơn nữa, vật liệu tổng hợp hoạt tính
của Li–Ni–P cũng được tổng hợp. Cả hai Ni2P và Li–Ni–P cho thấy phản ứng liti đảo
ngược trong môi trường điện hóa. Đặc biệt là vật liệu tổng hợp bậc ba thể hiện khả
năng đảo ngược cao 600 mAh.g-1 theo quy trình chuyển đổi. Một phương pháp khác
được tiếp nối bởi Lu et al. người đã chuẩn bị các cấu trúc nano phân cấp được trang
trí bằng cacbon của các quả cầu NiP2 với kích thước đồng đều 5-10 nm. Bằng cách
phủ cacbon vào Ni2P, có thể tăng cường khả năng giữ liti và cải thiện độ ổn định của
cấu trúc bằng cách triệt tiêu sự kết tụ và sự nghiền thành hạt Ni2P. Hiệu suất điện hóa
của những quả cầu cỡ nhỏ Ni2P này mang lại dung lượng 365 mAh.g−1 với tốc độ
0.5C hiện tại với khả năng xạc/xả có thể đảo ngược tốt. Để cải thiện khả năng lưu trữ
liti với độ ổn định chu trình cao, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp các hợp chất cacbon
của pha mono Ni5P4 bằng lượng pháp hóa học. Trong thực tế, sự gia tăng nồng độ
phốt-pho trong niken dẫn đến dung lượng lý thuyết cao trong khi lớp phủ cacbon
35
được đưa vào để tăng cường hiệu suất. Vỏ cacbon trên bề mặt của Ni5P4 đã đạt được
bằng cách nung nhiệt ở nhiệt độ cao. Các phép đo điện tích phóng điện của Ni5P4/C
như a-nốt cho thấy một dung lượng riêng 644 mAh.g−1 sau 50 chu kỳ với tốc độ dòng
0.1C. Ngay cả ở tốc độ dòng cao hơn 3C, nó đã thể hiển dung lượng đáng chú ý 357
mAh.g-1. Sự cải thiện này là do sự kết tinh cao của Ni5P4 kết hợp với vỏ cacbon vô
định hình.
Dung lượng liti tương tự đã được báo cáo với đồng và coban phosphide là tốt.
Yang et al. các hạt CoxP đã được chuẩn bị với lớp phủ lớp cacbon của các hình thái
khác nhau như thanh nano, hình cầu và cấu trúc rỗng trong pha dung dịch với
oleylamine (xem Hình 2.12 và 2.13) [27].
Hình 2.12: Hình ảnh TEM và HRTEM của cấu trúc nano Cox P, (a, d) Co2P; (b,
e) Hình cầu rỗng CoP; (c, f) các hạt nano CoP mịn [27].
Đặc biệt, các khảo sát điện hóa của các hạt nano rỗng CoP, được phủ một lớp
cacbon, cho thấy dung lượng giữ lại cao hơn cùng với dung lượng đảo ngược ổn định
và khả năng tốc độ tốt hơn Co2P thanh nano và hình cầu. Tính đặc thù rỗng của chúng
cho phép thực sự là một phản ứng chuyển đổi liti hiệu quả và đồng thời nó có thể thay
đổi thể tích trong quá trình nạp điện, do đó dẫn đến tăng cường và độ ổn định dung
lượng. Tương tự, Trizio và cộng sự, đã báo cáo hình thái giống hình lục giác được
36
kiểm soát kích thước của cấu trúc nano Cu3P cho LIBs. Hơn nữa, Villevielle et al.
chuẩn bị thanh nano Cu3P từ phốtpho bay hơi và đồng nano. Điện cực hoạt động mới
này, tức là Cu3P được cấu trúc nano, cũng được thử nghiệm cho các ứng dụng LIBs
[28].
Hình 2.13: (a) Biểu đồ điện tử tuần hoàn của ba chu kỳ đầu tiên của các hạt rỗng
CoP trong cửa sổ điện thế 0,005–3,0 V so với Li/Li+ ở tốc độ quét 0,5 mVs-1; (b) Đồ
thị nạp/xả điện cho các hạt nano CoP rỗng ở mật độ dòng 0,2C; (c, d) so sánh các
hoạt động chu trình của CoP rỗng và các hạt rắn ở 0.2C và ở tốc độ dòng khác nhau
[42].
2.2.4.4. Sunfua kim loại (MSx) và nitrua (MNx)
Các loại vật liệu khác, đã được nghiên cứu kỹ lưỡng cho các ứng dụng a-nốt
trong lĩnh vực LIBs, là các kim loại sunphua chuyển tiếp (MSx) và nitrit (MNx). Sắt,
molypden, thiếc, antimon, niken, coban và vonfram đã thu hút được sự quan tâm lớn
do khả năng lưu trữ liti cao và lợi thế về cấu trúc của chúng trong quá trình chèn/chiết
liti. Như đã dự đoán trong các phần trước, cơ chế phản ứng MSx và MNx với liti liên
37
quan đến việc giảm kim loại và, tương ứng, sự hình thành liti-sulfur và liti-nitride,
thông qua phản ứng chuyển đổi. Ví dụ, Wang et al. báo cáo kiểm soát pha đa diện
CoSx được chuẩn bị bởi phản ứng trạng thái rắn. Quy trình tổng hợp dựa trên phản
ứng bột Co-sulfur nhiệt độ cao khi có mặt của halogenua kali (KX). Trong đó, KX
phục vụ như là tác nhân phản ứng. Đặc biệt, CoS2 và CoS là những vật liệu tổng hợp
hứa hẹn nhất thể hiện phản ứng chèn và phản ứng chiết xuất đảo ngược cao cấp, do
đó dẫn đến năng suất tương ứng là 929 và 835 mAh.g−1. Trong một cách tiếp cận
khác, Paolella et al. đã chuẩn bị các tấm nano Fe3S4 sử dụng lưu huỳnh và thiosulfate,
octadecylamin, muối sắt và catechol 3-metyl [29]. Trong đó, 3-methyl catechol đóng
vai trò là tác nhân kiểm soát pha và chất điều hòa tăng trưởng. Hơn nữa, biểu đồ điện
tử tuần hoàn của Fe3S4 điện cực cho thấy tốt có thể đảo ngược quá trình liti hóa/khử
liti. Tương tự, các vật liệu tổng hợp của các ma trận dẫn điện cacbon và graphene
cũng được báo cáo. Ví dụ, các tấm nano tráng cacbon siêu mỏng chứa các hạt FeS
(C@FeS) được điều chế bằng phương pháp dung dịch hỗ trợ bề mặt. Đây là lớp phủ
cacbon được sử dụng để tránh việc hòa tan liti sulphua (LixS), sản phẩm trung gian
của sự hình thành sunphua kim loại trong quá trình chu trình, thành chất điện phân
hữu cơ bên trong các LIBs. Do lợi thế này được cung cấp bởi lớp phủ carbon, cấu
trúc nano C@FeS hai chiều thể hiện hiệu suất LIBs rất thú vị (xem hình 2.14), với
chu kỳ ổn định 100 chu kỳ 615 mAh.g−1 với tốc độ dòng là 0,16C và điện áp giữa
0,01 và 3,0 V so với Li/Li+. Điều thú vị là, ngay cả ở tốc độ dòng 10C, nó dẫn đến
khả năng đảo ngược 235 mAh.g-1. Một hành vi điện hóa tương tự cũng được quan sát
cho graphene bọc các hạt nano CoS. Những kết quả ấn tượng này chỉ ra rằng sunfua
kim loại có thể là một lựa chọn hợp lý làm nguyên liệu a-nốt trong các LIBs trong
38
tương lai.
Hình 2.14: (a) Các điện thế tuần hoàn của điện cực nanô C@FeS từ cửa sổ điện thế 0
đến 3 V so với Li/Li+ với tốc độ quét 0,5 mVs-1; (b) đường cong tích/xả điện của điện
cực nanô C@FeS ở mật độ dòng 0,1 Ag-1 cho chu kỳ 1 và 2; (c, d) hiệu suất chu trình
của các nanosheets C@FeS, nano tấm và các hạt nano với mật độ dòng điện khác nhau.
Ngoài sulphua kim loại, nitri kim loại cũng nổi lên như là môt a-nốt đầy hứa
hẹn cho LIBs. Trong số đó, Cu3N, VN, Co3N, CrN, Fe3N, Mn4N và Ni3N đã đặc biệt
được nghiên cứu. Gillot et al. chuẩn bị Ni3N bằng các tuyến tổng hợp khác nhau,
chẳng hạn như ammonolysis muối niken, hoặc các hạt niken, và sự phân hủy nhiệt
của nikenamit khi có mặt amoniac [45]. Đặc biệt, Ni3N từ nickelamide cho thấy các
hoạt động điện hóa tốt nhất, với dung lượng lớn nhất (1200 mAh.g-1). Hơn nữa, Ni3N
cũng có khả năng tốc độ tốt, với dung lượng đảo ngược 500 mAh.g−1 được duy trì
trong 10 chu kỳ với tốc độ dòng là 1Li mỗi giờ (xem Hình 2.15). Tương tự, dung
lượng xả lớn (1200 mAh.g-1) đã đạt được với màng mỏng Cr3N bởi Sun et al [30].
Nanopowder của Cu3N đã được báo cáo trong một phản ứng chuyển đổi với các hạt
39
Li3N và Cu, và dung lượng xả chu kỳ đầu tiên thu được là 675 mAh.g-1. Das et al.
chuẩn bị các màng nano CoN bằng phún xạ magnetron RF. Các phép đo điện tích
phóng điện bằng kim loại liti trong khoảng 0.005–3 V so với Li/Li+ cho thấy dung
lượng ban đầu gần 760 mAh.g-1, tuy nhiên dung lượng không thể đảo ngược rất lớn
trong chu kỳ đầu tiên do sự hình thành SEI. Thật thú vị, khi chu trình, dung lượng
tăng lên tới 960 mAh.g-1, giá trị quan sát được sau 80 chu kỳ. Từ kết quả này đã được
suy luận rằng điện cực CoN có một số chu kỳ nhất định để đạt được một cấu hình ổn
định.
Hình 2.15: Đường cong tho thấy sự phụ thuộc điện thế vào dung lượng khi tích/phóng
điện của Ni3N được điều chế bằng (a) ammonolysis Ni(NH3)6Br2; (b) từ hạt nano niken
có amoniac ở 260oC; (c) từ sự phân hủy nickelamide ở 150°C trong 70 giờ. Tốc độ C/20.
Các phần bên mô tả sự tiến hóa dung lượng cho mỗi chu kỳ [29].
40
Cùng với các cấu trúc nano a-nốt nêu trên, một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng
liên quan đến việc sử dụng các vật liệu dựa trên hợp kim chuyển đổi, có đặc tính phản
ứng chuyển đổi đảo ngược tiếp theo phản ứng hợp kim đảo ngược với liti. Nó đã được
báo cáo rằng liti có thể hình thành hợp kim với một số kim loại như Al, Si, Sn, Sb,
Trong, Zn, Pb, Bi, Ag, Pt, Au, Cd, As, Ga và Ge. Tuy nhiên, một vài trong số chúng,
cùng với các hợp chất tương ứng của chúng như intermetallic, oxit hoặc photphua, đã
được nghiên cứu trong quan điểm a-nốt cho pin liti. Những cực dương này có thể
phản ứng với liti, đầu tiên thông qua chuyển đổi, sau đó thông qua các phản ứng hợp
kim ở một tiềm năng phụ thuộc vào vật liệu được chọn. Đặc biệt, các oxit kim loại
như SiO, SnO, GeOx đã được thảo luận. Các hợp chất intermetallic dựa trên Sn, Sb,
Bi, Si, chẳng hạn như ZnxSb, SnSb, InSb, MnSb, AgxSb và AlSb, đã được nghiên cứu
rộng rãi. Ưu điểm chính của các hợp chất intermetallic là khả năng phản ứng với liti
được cung cấp bởi các nguyên tố kim loại, dẫn đến khả năng đảo ngược cao. Tuy
nhiên, một số báo cáo cho thấy rằng các hợp chất intermetallic này có thể kích hoạt
phản ứng xen kẽ với liti (Li + MSb → LiMSb, trong đó M = Mn, Cu, vv), do đó thu
41
được dung lượng thấp hơn so với hợp kim chuyển tiếp.
Chương 3
TRIỂN VỌNG CỦA VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC A-NỐT
3.1. Những thách thức trong công nghệ pin Li-ion
Hầu hết mọi loại pin đều gồm hai lớp hoạt tính điện hóa rắn gọi là điện cực được
ngăn cách bởi một màng polyme thấm chất điện phân lỏng hoặc dạng gel. Nhưng
nghiên cứu gần đây đã khám phá ra triển vọng của tất cả các loại pin rắn, trong đó
chất điện phân lỏng ( và có thể dễ bị cháy) sẽ được thay thế bằng chất điện phân rắn,
có thể tăng mật độ năng lượng và độ an toàn của pin.
Điểm khác nhau cơ bản giữa các viên pin liti-ion phổ biến hiện nay với pin thể
rắn là một bên sử dụng dung dịch điện phân dạng lỏng để điều hòa dòng điện, trong
khi những viên pin thể rắn lựa chọn chất điện phân thể rắn.
Pin Li-ion toàn rắn, màng mỏng
Pin ion liti màng mỏng sử dụng điện cực âm gốm, chất điện ly rắn và các vật
liệu điện cực dương. Pin có thể chịu được nhiệt độ cao (250oC). Các pin loại này có
thể rất nhỏ (0,4mm × 0,4mm × 2,0μm) có thể sử dụng trong các thiết bị mỏng. Đối
với các ứng dụng vi điện tử, tất cả các thành phần phải trải qua các điều kiện hàn lặp
lại, thông thường 250oC trong không khí hoặc nitơ trong 10 phút. Các pin với các
chất điện ly lỏng hoặc polymer không thể chịu được các điều kiện đó vì tính dễ bay
hơi hoặc độ bền nhiệt của các thành phần hữu cơ. Hơn nữa, các pin sử dụng kim loại
liti cũng hỏng vì nhiệt độ hàn
vượt quá điểm nóng chảy của liti
(180,5oC).
Trong hình 3.1 là giản đồ
pin Li-ion màng mỏng. Các pin
này được chế tạo bới sự lắng
đọng liên tiếp các lớp thành phần
của pin bằng phún xạ magneton,
Hình 3.1
42
lắng động chùm laser. Đối với
các thành phần tiếp điện kim loại chúng được lắng đọng bởi phún xạ magnetron DC
hoặc bốc bay nhiệt. các pin chế tạo trên đế nhôm đặc biệt, thạch anh, kính hydroxit
natri-canxi, hoặc silic.
Cấu tạo Vật liệu Độ dày
- Đế Thạch anh, hoặc silic
- Tiếp điện dương Nhôm, vàng, platin 0,1μm - 0,3μm
- Lớp phủ Coban 0,01μm - 0,05μm
- Điện cực dương LiCoO2, LiMn2O4 0,05μm - 5μm
- Điện cực âm 0,0035μm – 0.035μm
Graphit muối chứa ion Li+ - Điện li 0,7μm - 2μm.
- Tiếp dòng âm Đồng, titan 0,1μm tới 0,3μm
Một sự lựa chọn khác, các vật liệu điện cực âm có thể được bỏ qua. Giản đồ kiểu pin
này trước và sau nạp lần đầu được mô tả trong hình 3.2. Trong các pin này. Khi nạp
điện cho pin, kim loại liti được mạ lên các tiếp điện âm, quá trình tẩy lớp mạ liti được
thực hiện khi pin phóng điện. Như vậy các pin với vật liệu điện cực âm được tạo ra
một cách đặc biệt để bão hòa vật liệu điện cực âm, hoặc vật liệu điện cực âm bị bỏ
qua hoàn toàn.
Hình 3.2: Sơ đồ của pin toàn rắn “không liti” màng mỏng trước và sau sự nạp
điện đầu tiên.
43
Lợi ích đầu tiên của việc chuyển đổi từ chất điện phân dạng lỏng sang dạng rắn
là giúp gia tăng mật độ điện tích trong viên pin.
Thay vì phải có lớp ngăn cách dầy giữa các dung dịch hóa chất lỏng trong pin
thông thương, những viên pin thể rắn chỉ cần một lớp màng ngăn rất mỏng để ngăn
chặn hiện tượng đoản mạch.
Lớp ngăn cách trong các viên pin Lithium Ion thông thường dày từ 20 đến 30
micromet. Công nghệ pin thể rắn có thể làm giảm độ dày màng ngăn đó xuống chỉ
còn 3-4 micro-met. Như vậy, chỉ cần đổi vật liệu mới, có thể tiết kiệm không gian
gấp gần 7 lần so với trước.
3.2. Xu hướng phát triển vật liệu điện cực a-nốt
Nhiều nỗ lực đã được thực hiện trong việc điều tra cả cacbon và vật liệu không
phải cacbon cho hiệu suất cao và a-nốt công suất cao trong LIBs.
Danh sách vật liệu nghiên cứu gồm:ống nano cacbon (1100 mAh.g-1),
graphene (960 mAh.g-1), cacbon xốp (800–1100 mAh.g−1), SiO (1600 mAh.g−1),
silicon (4200 mAh.g-1), germanium (1600 mAh.g-1), thiếc (994 mAh.g−1) và các oxit
kim loại chuyển tiếp (500–1000 mAh.g-1). Hơn nữa, photphua và nitrua cũng có thể
được xem xét cho mục đích a-nốt, trên thực tế chúng có công suất đặc biệt cao hơn
500 mAh.g-1. Tuy nhiên vận chuyển điện tử kém, khả năng mờ dần và hiệu suất
coulombic thấp là những hạn chế chính phải được vượt qua trước khi chúng có thể
được sử dụng như các cực âm hiệu quả. Theo nghĩa này, kết quả đầy hứa hẹn và
một viễn cảnh tươi sáng được cung cấp bởi cấu trúc nano. Hình thái nano là hình
thái phù hợp đại diện cho tính năng chính có khả năng dẫn đầu các vật liệu sáng tạo
44
này từ việc liên quan đến mặt lý thuyết đến một đột phá công nghệ hiệu quả.
KẾT LUẬN
Đề tài đã tìm hiểu về pin Li- ion, cấu tạo và nguyên lý hoạt động của pin. Phân
loại các vật liệu điện cực a-nốt cho pin Li-ion theo từng nhóm vật liệu và tìm hiểu về
đặc trưng cấu trúc cũng như tính chất của các vật liệu a-nốt thông dụng . Các nhóm
vật liệu cấu thành điện cực a-nốt đang thu hút sự tập trung nghiên cứu của các nhà
khoa học để có thể ứng dụng trong thực tiễn. Việc thay thế a-nốt liti kim loại bằng
các vật liệu khác cho phép đạt dung lượng cao hơn, tính an toàn cao hơn nhằm cải
thiện những tính năng của pin. Xu hướng phát triển vật liệu điện cực a-nốt hiện nay
đang chú trọng vào các vật liệu cấu trúc nano cho phép cải thiện tốt năng lượng riêng,
mật độ năng lượng, dung lượng và tuổi thọ của pin Li-ion.
Em hi vọng đề tài này sẽ giúp bạn đọc hiểu thêm về vật liệu điện cực a-nốt của
pin Li-ion, biết được các đặc trưng cấu trúc cơ bản của vật liệu điện cực a-nốt. Đồng
thời em mong nhận được sự góp ý, phê bình của qúy thầy cô và các bạn để đề tài hoàn
45
thiện hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. J. Hu , H. Li , X. Huang Ion hóa trạng thái rắn, 176 (2005), pp. 1151-1159
[2]. J. Yang , X.-y. Zhou , J. Li , Y.-l. Zou , J.-j. Tang Mater. Chem. Phys, 135
(2012), pp. 445-450
[3]. HS Oktaviano , K. Yamada , K. Waki J. Mater. Chem, 22(2012), pp. 25167-
25173
[4]. D. Pan , S. Wang , B. Zhao , M. Wu , H. Zhang , Y. Wang , Z. Jiao Chem.
Mater. , 21 ( 2009 ), pp. 3136 – 3142
[5]. P. Lian , X. Zhu , S. Liang , Z. Li , W. Yang , H. Wang Electrochim. Acta , 55 (
2010 ), pp. 3909 – 3914
[6]. Z.-L. Wang , D. Xu , H.-G. Wang , Z. Wu , X.-B. Zhang ACS Nano , 7 (2013),
pp.2422 – 2430
[7]. T. Bhardwaj , A. Antic , B. Pavan , V. Barone , BD Fahlman M. Chem. Soc. ,
132 ( 2010 ), pp.12556 – 12558
[8]. L. Shen , E. Uchaker , X. Zhang , G. Cao Adv. Mater. , 24 ( 2012 ) , pp.6502 –
6506
[9]. V. Gentili , S. Brutti , LJ Hardwick , AR Armstrong , S. Panero , PG Bruce
Chem. Mater. , 24 ( 2012 ) , pp. 4468 - 4476
[10]. J. Wang , Y. Chu , B. Xiong , Y. Zhao , X. Huang , Z. Shao Electrochim. Acta
, 88 ( 2013 ) , pp. 847 – 857
[11]. J. Wang , N. Du , H. Zhang , J. Yu , D. Yang J. Mater. Chem. , 22 ( 2012 ) ,
pp.1511 – 1515
[12]. KH Seng , M.-h. Park , ZP Guo , HK Liu , J. Cho Nano Lett. , 13 ( 2013 ) ,
pp.1230 – 1236
[13]. X. Yin , L. Chen , C. Li , Q. Hao , S. Liu , Q. Li , E. Zhang , T. Wang
Electrochim. Acta , 56 ( 2011 ) , pp. 2358 – 2363
[14]. Y. Jiang , T. Yuan , W. Sun , M. Yan ACS Appl. Mater, 4 ( 2012 ) , pp. 6216
– 6220
46
[15]. J. Ye , H. Zhang , R. Yang , X. Li , L. Qi Nh , 6 ( 2010 ) , pp. 296 – 306
[16]. B. Wang , JS Chen , HB Wu , Z. Wang , XW Lou Met. Chem. Soc. , 133 (
2011 ) , pp. 17146 – 17148
[17]. C. Wu , P. Yin , X. Zhu , C. OuYang , Y. Xie J. Phys. Chem. B , 110 (2006 ) ,
pp. 17806 – 17812
[18]. J. Liu , Y. Li , H. Fan , Z. Zhu , J. Jiang , R. Ding , Y. Hu , X. Huang Chem.
Mater., 22 (2009), pp. 212 – 217
[19]. T. Muraliganth , A. Vadivel Murugan , A. Manthiram Chem. Commun. (2009)
, pp.7360 – 7362
[20]. X. Xu , R. Cao , S. Jeong , J. Cho Nano Lett. , 12 ( 2012 ) , pp. 4988 – 4991
[21]. H. Sohn , Z. Chen , YS Jung , Q. Xiao , M. Cai , H. Wang , Y. Lu J. Mater.
Chem. A , 1 ( 2013 ) , pp. 4539 – 4545
[22]. N. Kang , JH , J. Choi , J. Jin , J. Chun , IG Jung , J. Jeong , J.-G. Park , SM
Lee , HJ Kim , SU Son Angew. Chem. Int. Ed. , 51 ( 2012 ) , pp. 6626 – 6630
[23]. H. Guan , X. Wang , H. Li , C. Zhi , T. Zhai , Y. Bando , D. Golberg Chem.
Commun. , 48 ( 2012 ) , pp. 4878 – 4880
[24]. CNTT Kim , A. Magasinski , K. Jacob , G. Yushin , R. Tannenbaum Cacbon ,
52 ( 2013 ) , pp. 56 – 64
[25]. Y. Sun , X. Hu , W. Luo , Y. Huang J. Phys. Chem. C , 116 ( 2012 ) ,
pp.20794 – 20799
[26]. Y. Lu, J.P. Tu, J.Y. Xiang, X.L. Wang, J. Zhang, Y.J. Ma, S.X. Mao J. Phys.
Chem. C, 115 (2011), pp. 23760-23767
[27]. D. Yang, J. Zhu, X. Rui, H. Tan, R. Cai, H.E. Hoster, D.Y.W. Yu, H.H. Hng,
Q. Yan ACS Appl. Mater. Interfaces, 5 (2013), pp. 1093-1099
[28]. C. Villevieille, F. Robert, P.L. Taberna, L. Bazin, P. Simon, L. Monconduit J.
Mater. Chem., 18 (2008), pp. 5956-5960
[29]. A. Paolella, C. George, M. Povia, Y. Zhang, R. Krahne, M. Gich, A.
Genovese, A. Falqui, M. Longobardi, P. Guardia, T.Pellegrino, L.Manna
Chem. Mater., 23 (2011), pp.3762-3768
47
[30]. Q. Sun, Z.-W. Fu Electrochem. Solid-State Lett., 10 (2007), pp.189-193