BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA VẬT LÝ

------------------------------------------- -------------------------------------------

ĐINH THỊ THU HIỀN

ĐINH THỊ THU HIỀN

ĐỀ CƢƠNG KHÓA LUẬN

VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT CHO PIN LI-ION

Đề tài

VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT CHO PIN LI-ION

Chuyên ngành: Vật lí chất rắn

Chuyên ngành: Vật lí chất rắn

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. LÊ ĐÌNH TRỌNG

Hà Nội – 2018

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA VẬT LÝ

-------------------------------------------

ĐINH THỊ THU HIỀN

VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT CHO PIN LI-ION

Chuyên ngành: Vật lí chất rắn

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học

PGS.TS. LÊ ĐÌNH TRỌNG

Hà Nội – 2018

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm và thầy cô khoa Vật lý

trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt

thời gian học tập và làm đề tài chuyên ngành.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Đình Trọng đã tận

tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và

hoàn thành đề tài chuyên ngành.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người

thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và làm khóa luận.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

i

Đinh Thị Thu Hiền

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

trong báo cáo này là trung thực và chưa có trong bài báo cáo nào khác.

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các

thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

ii

Đinh Thị Thu HIền

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Đặc trưng của các vật liệu điện cực dương ...................................... 9

iii

Bảng 2.1: Đặc trưng điện hóa của một số loại vật liệu điện cực ca-tốt. ......... 24

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1. Cấu trúc tinh thể và đồ thị xả của ca-tốt của một số vật liệu ca-

tốt đan xen điển hình: cấu trúc lớp của (a) LiCoO2, (b)

LiMn2O4, (c) olivine (LiFePO4), (d) tavorite (LiFeSO4F), (e)

đồ thị xả của các cực âm xen kẽ điển hình. .................................... 11

Hình 2.1. a) Cấu trúc lớp ở α- MoO3 cho thấy lớp xen kẽ van der Waals;

b) Chi tiết về sự phối hợp của Mo. ................................................. 16

Hình 2.2. Các mẫu XRD của các tinh thể α- MoO3 và β-MoO3 đươc lập

chỉ mục đơn dòng tương ứng. ......................................................... 17

Hình 2.3. a) Chiếu cấu trúc phân lớp của V2O5 trên (001). Các nguyên tử

oxy chồng chất được phân bố đối xứng; b) Kim tự tháp biến

dạng của cấu trúc V2O5 cho thấy vị trí của các nguyên tử V,

O1, O21, O23, O3, các đường liền nét và đứt nét biểu diễn các

liên kết hóa học, giá trị số cho biết chiều dài liên kết (Å) giữa

các nguyên tử. Nguyên tử O1΄ là nguyên tử loại O1 lân cận kim

tự tháp theo hướng ngược lại. ......................................................... 18

Hình 2.4: Sơ đồ biểu diễn (a) α-LixV2O5; (b) γ-LixV2O5; (c) và giản đồ

pha Li-V2O5 ..................................................................................... 19

Hình 2.5: Đường cong xả của bình điện hóa Li/LixV2O5. .............................. 20

Hình 2.6: (a) Biểu thị hướng [010] quan sát cấu trúc lớp của LiV3O8

(P21/m S.G.). Vòng tròn biểu thị vị trí bát diện Li(1) và vị trí

tứ diện Li(2) giữa các lớp, (b) [010] Quan sát cấu trúc của

Li4V3O8, trục c nằm ngang trong lớp V3O8. ................................... 21

Hình 2.7: Đường cong điện thế phụ thuộc thành phần x(Li) đối với pin

Li//LiV3O8 ....................................................................................... 22

Hình 2.8: Đặc trưng thể và dung lượng của một số vật liệu điện cực

dương .............................................................................................. 23

Hình 3.1. Vật liệu thủy tinh borat vanađat mới này có thể gần như tăng

iv

gấp đôi công suất của pin lithi-ion. ................................................. 28

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1

1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1

2. Mục đích nhiệm, vụ nghiên cứu .................................................................... 2

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................... 2

4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2

5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 2

6. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 2

NỘI DUNG ....................................................................................................... 3

Chương 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ VẬT LIỆU TIÊM/THOÁT ION Li+ .............................................................................................................. 3

1.1. Pin Li-ion.................................................................................................... 3

1.1.1. Cấu tạo và nguyên lí hoạt động của pin Li–ion ...................................... 3

1.1.2. Nguyên lí hoạt động của pin Li-ion ........................................................ 5

1.2. Chất điện ly ................................................................................................ 6 1.3. Vật liệu tích trữ ion Li+ .............................................................................. 7 1.4. Cơ chế tiêm/thoát ion Li+ ........................................................................... 8

Chương 2. VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT CHO PIN LI-ION .................. 10

2.1. Phân loại vật liệu điện cực ca-tốt ............................................................. 10

2.2. Đặc trưng cấu trúc của các vật liệu làm điện cực ca-tốt .......................... 10

2.2.1. Họ vật liệu Ôxít kim loại chuyển tiếp .................................................... 10

2.2.2. Hợp chất polyanion ............................................................................... 14

2.2.3. Vật liệu ca-tốt chuyển đổi ..................................................................... 15

2.3. Đặc trưng điện hóa của các họ vật liệu điện cưc ca-tốt thông dụng ........ 23

Chương 3. TRIỂN VỌNG CỦA VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT .............. 25

3.1. Pin Lithium không khí ............................................................................. 25

v

3.2. Xu hướng phát triển trong công nghệ chế tạo vật liệu điện cực ca-tốt .... 27

3.2.1. Sử dụng thủy tinh làm điện cực cho pin ................................................ 27

3.2.2. Phương pháp sản xuất đơn giản với giá thành thấp ............................. 29

3.2.3. Tăng gấp đôi công suất ......................................................................... 30

KẾT LUẬN ..................................................................................................... 31

vi

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 32

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Cộng đồng nghiên cứu hiện đang tham gia và nỗ lực rất nhiều để đạt

được những chiếng lược lưu giữ năng lượng hiệu quả, là chìa khóa cho việc

khai thác năng lượng thay thế, do đó thay thế nhiên liệu hóa thạch và các

ngồn năng lượng truyền thống. Về vấn đề này pin Li-ion (viết tắt là LIBs) có

thể sạc lại đóng vai trò quan trọng do dung lượng riêng và dung lượng thể tích

của chúng lớn. Mật độ công suất cao, tuổi thọ dài và tính tự xả thấp. Hơn nữa,

chúng đã chứng minh là chiến lược lưu trữ năng lượng hiệu quả nhất cho một

loạt các thiết bị di động, máy tính xách tay và thiết bị điện tử kỹ thuật số. Tuy

nhiên, việc sử dụng pin Li-ion trong xe điện hybrid (HEV), và xe điện tinh

khiết (PEV) cần năng lượng gấp 2 đến 5 lần so với công nghệ pin lithium.

Hiện tại, có thể cung cấp 150 Wh/kg, sự gia tăng mật độ năng lượng của pin

lithium có thể đạt được bằng cách sử dụng các vật liệu hoạt tính điện hóa cao

làm điện cực dương (ca-tốt). Các điện cực là một trong những chướng ngại

chính để thiết kế ca-tốt điện áp cao trong các LIBs được biểu diễn bởi sự phân hủy điện phân xảy ra ở khoảng giữa 4,2V so với Li/Li+. Vật liệu hoạt tính để

được coi là ứng viên thích hợp cho LIBs, cần đáp ứng các yêu cầu về công

suất đảo chiều, dẫn ion, dẫn điện tốt, tuổi thọ dài, tốc độ lan truyền lithium

cao thành vật liệu hoạt động và chi phí thấp, tương thích. Các vật liệu ca-tốt

hiện đang được thương mại hóa mạnh nhất bao gồm: LiCoO2,LiMn2O4 và

LiFePO4. Việc tìm ra một nguồn năng lượng có đủ các yếu tố phù hợp với yêu

cầu của khoa học công nghệ và cuộc sống hiện đại ngày nay là một việc rất

cần thiết, nguồn năng lượng hiện đang được sử dụng rộng trong đời sống là

pin Li-ion. Mỗi ngày có rất nhiều đề tài nghiên cứu và chế tạo nhằm nâng cao

hiệu suất của pin và giảm giá thành sản phẩm.

Thành phần đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao dung lượng, mật độ

1

năng lượng, công suất của các nguồn điện hóa nói chung cũng như trong pin

Li-ion nói riêng đó chính là vật liệu làm điện cực. Chính vì những lý do nói

trên, tôi chọn đề tài “Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion” làm đề tài nghiên

cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nhiệm, vụ nghiên cứu

- Đưa ra được cái nhìn tổng quan về điện cực ca-tốt.

- Hiểu rõ quá trình hoạt động của điện cực ca-tốt của pin Li-ion.

- Nắm được hiện trạng và triển vọng trong tương lai của của vật liệu điện

cực ca-tốt cho pin Li-in.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Pin Li-ion: cấu tạo pin Li-ion

- Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion: các phương pháp tổng hợp, đặc

trưng cấu trúc, tính chất điện hóa của vật liệu làm điện cực ca-tốt.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết đặc trưng cấu trúc của vật liệu tích trữ ion Li+.

- Tổng hợp các thành tựu đạt được trong công nghệ chế tạo vật liệu điện

cực ca-tốt.

- Trên cơ sở lý thuyết và thực nghiệm đánh giá triển vọng của vật liệu

điện cực ca-tốt trong tương lai.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu lý thuyết.

- Tổng hợp, phân tích những kết quả đạt được trong khoa học kỹ thuật

nhằm nâng cao tính chất đặc trưng của vật liệu điện cực ca-tốt.

6. Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung của

khóa luận được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Tổng quan lý thuyết về vật liệu tiêm/thoát ion Li+

Chương 2: Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion.

2

Chương 3: Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion trong tương lai

NỘI DUNG

Chƣơng 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ VẬT LIỆU TIÊM/THOÁT ION Li+

1.1. Pin Li-ion

1.1.1. Cấu tạo và nguyên lí hoạt động của pin Li–ion

* Cấu tạo của pin Li–ion

Pin liti bao gồm các pin sử dụng các hợp chất có thể tiêm liti vào vật liệu

làm điện cực dương (ca-tốt) và điện cực âm (a-nốt) được làm bằng liti kim

loại. Khi pin hoạt động (phóng/nạp) các ion liti tiêm/thoát (vào/ra) khỏi các

điện cực ca-tốt và a-nốt một các thuận nghịch. Các pin liti thường có cấu trúc

dạng nhiều lớp như:

CC1 │ Li │ IC │ IS │ CC2

Trong đó: CC1 và CC2 là những tiếp xúc kim loại; IC là lớp dẫn ion; IS là

lớp tích trữ ion, đóng vai trò điện ca-tốt; Li là lớp liti kim loại đóng vai trò

điện cực âm (a-nốt).

Trong quá trình phóng điện, các ion Li+ dịch chuyển xuyên qua lớp dẫn

ion và tiêm vào ca-tốt. Lớp này thường được chế tạo từ các chất chứa Li như

LiCoO2, LiMn2O4, LiNiO2 hoặc V2O5. Đồng thời, các điện tử dịch chuyển

trong mạch ngoài thông qua điện trở tải. Sức điện động được xác định bởi sự

khác nhau của thế hóa học giữa liti trong a-nốt và liti trong ca-tốt. khi nạp điện cho pin, điện thế dương đặt trên ca-tốt làm cho ion Li+ thoát khỏi điện

cực này. Nếu quá trình tích trữ là thuận nghịch, các pin liti rắn có chu kì

phóng nạp cao.

Về ưu điểm của pin:

- Pin có độ tự xả thấp,

3

- Pin có suất điện động cao do sử dụng liti có thế điện hóa thấp làm a-

nốt, do vậy pin có mật độ năng lượng cao.

Về hạn chế của pin là trong quá trình nạp điện sinh ra liti kim loại kết tủa

trên nền a-nốt liti thụ động hóa khiến nó không còn được bằng phẳng mà phát

triển gồ ghề hình thành tinh thể dạng cây nên để bảo đảm an toàn khuyến cáo

chỉ sử dụng một lần là bỏ. Hơn nữa, liti kim loại có tính hoạt hóa mạnh, bốc

cháy khi gặp nước không đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Sau nhiều chu

kì nạp, có thể dẫn tới đoản mạch hệ. Vì vậy, vấn đề này đã và đang tiến hành

nghiên cứu giải quyết bởi sự thay thế a-nốt kim loại tinh khiết bằng các vật liệu có khả năng tích trữ ion Li+. Một trong các hướng giải quyết vấn đề là

thay thế a-nốt liti kim loại bằng hợp phần tích trữ có điện thế dương cao hơn

tích trữ, hoặc bằng sự sử dụng các vật liệu ion mới tương thích hơn với liti.

Khi đó, pin có cấu hình như sau:

CC1 │ IS1 │ IC │ IS2 │ CC2

Trong đó IS1 và IS2 là 2 lớp tích trữ ion có tác dụng tăng cường khả năng thâm nhập của các ion Li+ dịch chuyển đến hoặc ra khỏi giữa các lớp tích trữ ion. trong các chu kì lặp lại, Li+ tiêm/thoát vào/ra khỏi các lớp tích trữ ion.

Các pin có cấu hình như vậy được gọi là pin “ghế xích đu” (rocking chair)

hay pin Li-ion[1].

Vật liệu điện cực dương điển hình là các ô-xit kim loại với cấu trúc lớp,

chẳng hạn như liti coban oxit (LiCoO2), hoặc vật liệu cấu trúc tunnel, chẳng

hạn liti mangan oxit (LiMn2O4), trên tiếp dòng bằng lá nhôm kim loại. Vật

liệu điện cực âm điển hình là cacbon graphit, cũng là vật liệu có cấu trúc lớp.

Các vật liệu dùng làm điện cực thường được quét (hoặc phết) lên những góp

dòng bằng đồng (với vật liệu a-nốt) hoặc bằng nhôm (với vật liệu ca-tốt) tạo

thành các điện cực cho pin liti. Các điện cực này được đặt cách điện để đảm

bảo an toàn, tránh bị tiếp xúc gây ra hiện tượng đoản mạch. Trong quá trình nạp/phóng điện, các ion Li+ được tiêm hoặc tách từ khoảng trống giữa các lớp

4

nguyên tử trong các vật liệu hoạt động.

Pin Li-ion là nguồn tích trữ năng lượng có thể nạp lại nhiều lần, hiện

đang được quan tâm nghiên cứu, ứng dụng trong hầu hết các hệ sử dụng

nguồn năng lượng tiên tiến, cho các linh kiện, thiết bị điện tử từ nhỏ đến lớn.

Thí dụ các senson khí, các mạch tổ hợp cũng như các xe điện hoặc các thiết bị

điện tử dân dụng, trong các thiết sách tay, đặc biệt là máy tính loại nhỏ và

điện thoại di động.

Pin Li-ion có điện áp tương đối cao, đạt 3,6 V. Vì vậy loại này chỉ cần

dùng với số lượng ít là có thể đạt được điện áp cần thiết. Mật độ năng lượng

cao hơn ắc-qui NiMH khoảng 50%, số lần phóng nạp trên 1400 chu kỳ. Với

thành tựu đầy ấn tượng này, pin Li-ion đã chiếm lĩnh thị trường thiết bị điện tử.

Pin Li-ion cấu tạo từ các lớp chất rắn được gọi là pin Li-ion rắn. Nhờ

việc sử dụng các vật liệu tích trữ ion và các chất điện li rắn, pin ion liti rắn ra

đời được coi là bước ngoặt của nguồn điện nhỏ và có mật độ năng lượng lớn.

Bằng các kỹ thuật khác nhau lớp này được phủ lên lớp kia. Thí dụ sử dụng kỹ

thuật chế tạo màng, các lớp này lần lượt được lắng đọng để tạo thành pin siêu

mỏng dạng rắn có độ dày chỉ vào khoảng vài micro-met. Các pin ion liti rắn

có nhiều ưu điểm như độ an toàn cao, không độc hại, dải nhiệt độ làm việc rộng, và đặc biệt có thể chịu được xử lí ở nhiệt độ cao (trên 250oC). Tuy

nhiên, việc sử dụng các loại pin này còn nhiều hạn chế, trước hết là do chu kỳ

phóng nạp thấp, giá thành cao.

1.1.2. Nguyên lí hoạt động của pin Li-ion

Nguyên tắc hoạt động của pin Li-ion dựa vào sự tách các ion liti (Li+) từ

vật liệu điện cực dương điền kẽ vào các “khoảng trống” ở vật liệu điện cực

âm trong quá trình nạp điện và có chiều ngược lại trong quá trình phóng điện.

Vật liệu điện cực dương thường là các ô-xit kim loại liti (LiCoO2, LiNiO2,…)

có dạng cấu trúc lớp hoặc cấu trúc spinel (LiMn2O4). Vật liệu điện cực âm là

5

graphit carbon cũng có dạng cấu trúc lớp.

Khi pin ion liti được nạp điện, vật liệu điện cực dương bị oxi hóa và vật

liệu điện cực âm bị khử. Trong quá trình này, các ion liti thoát ra khỏi điện

cực dương, dịch chuyển qua chất điện li và tiêm vào vật liệu điện cực âm.

Trong quá trình phóng thì hiện tượng xảy ra ngược lạ, ion Liti tách ra từ âm

cực và điền kẽ vào khoảng trống giữa các lớp ô xi trong vật liệu điện cực

dương[2]. Quá trình xảy ra ở các điện cực khi pin nạp phóng được mô tả bởi

các phương trình sau:

Điện cực dương:

Điện cực âm:

.

Tổng thể:

Các quá trình phóng và nạp của pin ion liti không làm thay đổi cấu trúc

tinh thể của các vật liệu điện cực.

1.2. Chất điện ly

Dung dịch điện ly hay chất điện ly là môi trường truyền ion liti giữa các

điện cực trong quá trình sạc và xả pin. Chính vì thế, nguyên tắc cơ bản của

dung dịch điện ly cho pin Li-ion là phải có độ dẫn ion tốt, cụ thể là độ dẫn ion liti ở mức 10−2 S/cm ở nhiệt độ phòng, tăng tầm 30-40% khi lên 40oC và giảm nhẹ khi nhiệt độ xuống 0oC. Trong quá trình sạc và xả pin, khi ion liti di

chuyển trong lòng pin, dẫn đến chênh lệch điện thế, pin sinh ra dòng điện ở

mạch ngoài nơi electron truyền từ cực âm sang dương (luôn cùng chiều với

ion liti), để đảm bảo phản ứng xảy ra trong pin và pin không bị đoản mạch,

6

dung dịch điện ly cần thiết là chất cách điện tốt, nghĩa là độ dẫn electron của dung dịch này phải bằng hoặc dưới mức 10−8 S/cm. Dung dịch điện ly lỏng

dùng trong pin Li-ion chứa muối liti, như LiPF6, LiBF4 hay LiClO4 trong

dung môi hữu cơ như etylen cacbonat, dimetyl cacbonat, và dietyl cacbonat.

Do các dung môi hữu cơ thường dễ phân hủy ở cực âm trong quá trình sạc,

nên trong lần sạc đầu tiên, thường ở cực âm sẽ hình thành lớp điện ly rắn giao

pha (solid electrolyte interphase, SEI), có thể giảm độ dẫn của âm cực. Lớp

giao pha này có thể ngăn chặn sự phân hủy của dung dịch điện ly, và từ đó

hình thành một lớp giao diện bền.

Dung dịch điện ly composit dựa trên nền polymer hữu cơ POE

(poly(oxyethylene)) cũng có thể là một lớp giao diện bền. Nó có thể dùng để

phủ lên bề mặt điện cực để bảo vệ trong pin Li-polyme, hay trong những pin

li-ion bình thường khác.

Để hạn chế sự rò rỉ của dung dịch điện ly với dung môi hữu cơ, và tăng

tính an toàn cũng như giảm thiểu khả năng bắt cháy khi dung môi này gặp

không khí, dung môi gel, polymer, hay các chất điện ly dạng rắn từ ceramic

đang được chú trọng phát triển.

Khi sử dụng chất điện ly dạng rắn (solid electrolyte), ta thu được một pin

li-ion dạng rắn, khi đó, có thể loại bỏ lớp màng ngăn, đơn giản hóa quá trình

lắp ráp, tăng tín an toàn cho pin. 1.3. Vật liệu tích trữ ion Li+

Họ vật liệu được hình thành bằng phương pháp tổng hợp pha rắn hoặc

các phương pháp đặc biệt khác trên cơ sở thâm nhập các tiểu phần tử( ion,

phân tử) “khách” do có kích thước nhỏ đi vào một hợp chất rắn “chủ” mà

trong cấu trúc mạng lưới tồn tại những vị trí trống. Có thể minh họa sự hình

7

thành hợp chất chủ-khách bằng mô hình sau:

Ký hiệu: chỉ tiểu phần tử là ion hoặc phân tử khách.

Chỉ vị trí trống trong cấu trúc chủ.

Chỉ chiều vào/ra(chiều tích/thoát) của ion.

Về nguyên tắc, sự vào/ra của các tiểu phần tử khách trong cấu trúc chủ là

không tự xảy ra. Thật vậy, ngay cả khi tiểu phân tử là ion cũng có kích thước

đáng kể, hơn nữa lại mang điện tích nên khi có mặt trong ô trống (vị trí trống,

đường hầm, kênh, xen lớp,…) có thể dẫn đến tương tác hóa trị, thay đổi liên

kết mạng lưới ở mức độ nhiễu loạn. Tuy nhiên, đặc thù của hợp chất cài là

dưới tác dụng của gradien thế hóa học, thế điện hóa, quá trình tích/thoát ion

vào mạng rắn (cũng có thể gọi là khuyếch tán) diễn ra chậm nên không có sự

phá vỡ cấu trúc. Do đó, quá trình cài/khử cài có thể xem như đi qua một loạt

các trạng thái cân bằng.

Hợp chất khách chủ được biết đến từ những năm 1841, nhưng lần đầu

tiên được đề xuất sử dụng cho nguồn điện liti bởi B. Steele và M.Armnd vào

những năm 1973. Ngày nay các vật liệu cài đã trở thành một họ vật liệu điện

cực quan trọng trong xu thế thay điện cực Liti kim loại để chế tạo nguồn điện

mới Li-ion. 1.4. Cơ chế tiêm/thoát ion Li+

Quá trình tiêm thoát ion đối với vật liệu điện cực là quan trọng nhất, nó

phản ánh tính chất điện hóa của vật liệu từ đó người ta sẽ chọn lựa vật liệu thích hợp. Quá trình trao đổi ion Li+ được mô tả theo các phương trình phản

8

ứng:

LiMO2 ⟺ Li1-xMO2 + xLi+ + xe- Li1-xMO2 ⟺ λ-MO2 + xe- + xLi+

M là kim loại Co, Ni, Mn…

Từ phản ứng điện cực trên cho thấy vật liệu LiMO2 có khả năng phân ly để giải phóng ra các ion Li+ và điện tử. Vì vậy nó có thể được sử dụng làm điện cực cung cấp các ion Li+ trong các linh kiện điện sắc hay pin ion rắn liti.

Tính chất điện hóa của vật liệu được nghiên cứu thông qua việc khảo sát

phổ C-V của điện cực hay thông qua đường đặc trưng phóng nạp của điện

cực. Dựa trên việc khảo sát này ta có bảng số liệu sau:

Bảng 1.1: Đặc trƣng của các vật liệu điện cực dƣơng

Dung lượng Vật liệu Điện áp đỉnh (V) riêng(mAh/g)

155 3,88 LiCoO2

200 3,55 LiNiO2

120 4,00 LiMn2O4

Xét về dung lượng và điện áp thì vật liệu LiNiO2, LiCoO2 cao hơn so với

LiMn2O4. Tuy nhiên, trong nhiều nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng các vật liệu

LiNiO2, LiCoO2 thường nhả khí khi nạp đầy, điều này dẫn đến việc phá hỏng

các điện cực làm giảm tuổi thọ của pin. Tuy nhiên khả năng tiêm/thoát ion

của LiMn2O4 lại thấp hơn so với LiNiO2, LiCoO2.

Tính chất điện hóa của vật liệu được nghiên cứu thông qua việc khảo sát

phổ C-V của điện cực hay thông qua đường đặc trưng phóng nạp của điện

9

cực.

Chƣơng 2

VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT CHO PIN LI-ION

2.1. Phân loại vật liệu điện cực ca-tốt

Trong lĩnh vực pin (ắc-qui) thì pin liti có một số lợi thế so với các loại

pin khác. Thứ nhất, Li có điện thế giảm thấp nhất so với bất kì nguyên tố hóa

học nào khác. Ngoài ra, Li là nguyên tố nhẹ thứ ba và có bán kính ion nhỏ

nhất của bất kì ion điện tích nào. Những yếu tố này cho phép pin liti có mật

độ công suất trọng lượng lớn. Vì vậy, pin liti là nguồn điện được lựa chọn đầu

tiên của lưu trữ năng lượng điện hóa di động, việc cải thiện chi phí và hiệu

suất của chúng có thể cho phép phát triển các công nghệ mới phụ thuộc vào

lưu trữ năng lượng. Một lượng lớn các công trình nghiên cứu về pin liti cho

đến nay đã và đang tập trung vào các vật liệu điện cực. Các điện cực có khả

năng tốc độ cao hơn, khả năng sạc cao hơn và đối với ca-tốt có điện áp cao đủ

có thể cải thiện năng lượng và mật độ năng lượng của pin Li và làm cho

chúng nhỏ hơn và rẻ hơn. Hầu hết các vật liệu ca-tốt là hợp chất và ta có các

vật liệu liên hợp như: lithium cobalt oxide (LCO), lithium mangan oxit

(LMO), nickel cobalt mangainese oxide (NCM), oxide nhôm cobalt niken

(NCA), lithium cobalt phosphate (LCP), lithium iron phosphate (LFP),

lithium iron fluorosulfate (LFSF) và lithium titanium sulfide (LTS).

2.2. Đặc trƣng cấu trúc của các vật liệu làm điện cực ca-tốt

2.2.1. Họ vật liệu Ôxít kim loại chuyển tiếp

Oxide kim loại chuyển tiếp là hình thức thương mại thành công nhất của

lớp ca-tốt oxide kim loại. Các cation Co và Li nằm ở các vị trí bát diện chiếm

các lớp thay đổi và tạo thành một đối xứng lục giác. Lithium cobalt oxide

(LCO) là một vật liệu ca-tốt rất hấp dẫn vì dung lượng lý thuyết tương đối cao 274 mAh.g-1, dung lượng riêng lí thuyết cao 1363 mAh cm3, điện áp xả, điện

10

áp sạc cao và hiệu suất chu trình tốt. Hạn chế lớn là chi phí cao, ổn định nhiệt

thấp và dung lượng mờ dần ở mức dòng cao hoặc trong quá trình sạc/xả sâu.

LCO là đắt tiền vì chi phí cao của Co. Độ ổn định nhiệt độ thấp dẫn đến giải

phóng oxy khi các ca-tốt oxide kim loại lithium được làm nóng trên một nhiệt

độ nhất định, kết quả gây ra phản ứng cháy, vỡ nổ pin. LCO có độ ổn định

nhiệt thấp nhất trong bất kì vật liệu thương mại nào mặc dù ổn định nhiệt

cũng phụ thuộc lớn vào các yếu tố thiết kế pin và kích thước pin khi trải qua nhiệt độ 200oC do phản ứng tỏa nhiệt giữa oxy thải ra và vật liệu hữu cơ.

Hình 2.1. Cấu trúc tinh thể và đồ thị xả của ca-tốt của một số vật liệu ca-

tốt đan xen điển hình: cấu trúc lớp của (a) LiCoO2, (b) LiMn2O4, (c)

olivine (LiFePO4), (d) tavorite (LiFeSO4F), (e) đồ thị xả của các cực âm

xen kẽ điển hình.

11

Nhiều kim loại khác nhau như Mn, Al, Fe, Cr được nghiên cứu thay

thế cho Co và có triển vọng nhưng hiệu suất hạn chế. Lớp phủ của các kim

loại khác nhau LCO là một oxide (Al2O3, B2O3, TiO2, ZnO2) hiệu quả hơn

trong tăng cường độ ổn định và đặc tính hiệu suất của LCO cao ngay cả khi

nạp/xả sâu.

LiNiO2 (LNO) có cấu trúc tinh thể giống với LiCoO2 và độ bền, mật độ

công suất lí thuyết tương tự. Mật độ năng lượng tương đối cao và chi phí thấp

hơn so với LiCoO2 là động lực nghiên cứu chính. Tuy nhiên, các cực âm LNO

rất thuận lợi cho xu hướng các ion Ni thay thế các vị trí Li trong quá trình

tổng hợp gây ra sự phân tách, ngăn chặn các đường dẫn khuyếch tán của Li.

LNO thậm chí còn không ổn định nhiệt hơn LCO vì Ni dễ khử hơn Co. Thay

thế một phần Ni bằng Co đã được thực hiện cho thấy hiệu quả có thể giảm rối

loạn cation, độ ổn định nhiệt có thể được cải thiện. Khi thay thế một phần Ni

bằng Mg và thêm một lượng nhỏ Al có thể cải thiện cả tính ổn định nhiệt và

hiệu suất điện hóa.

Kết quả, ca-tốt NCA được sử dụng trong thương mại rộng rãi, NCA có dung lượng xả cao (~200 mAhg-1) và tuổi thọ lưu trữ cao hơn so với cực ca-

tốt cobalt oxide. Tuy nhiên, nó đã được báo cáo rằng sự mờ dần dung lượng có thể nghiêm trọng ở nhiệt độ cao (40 – 70 oC) do làm tăng chất điện li rắn (SEI) và tăng cường vi nứt tại các biên hạt [3].

LiMnO2 (LMO) cũng có thể hứa hẹn vì Mn rẻ hơn và ít độc hơn so với

Co hoặc Ni. Tuy nhiên hiệu suất chu trình của LMO không cao vì cấu trúc

phân lớp có khuynh hương biến đổi thành cấu trúc spinel trong quá trình

nạp/xả.

Nhiều nỗ lực nghiên cứu tập trung vào phát triển vật liệu ca-tốt ít tốn

kém hơn so với LCO dẫn đến việc hình thành ca-tốt Li(Ni0,5Mn0,5)O2 (NMO).

NMO có thể là một vật liệu hấp dẫn bởi vì nó có thể duy trì mật độ năng

12

lượng tương tự với LCO trong khi chi phí giảm bằng cách sử dụng kim loại

chuyển tiếp chi phí thấp hơn. Sự hiện diện của Ni cho phép đạt được dung

lượng khai thác Li cao hơn. Tuy nhiên, trộn cation có thể gây ra sự khuyếch

tán Li thấp và có thể dẫn đến tốc độ dung lượng không hấp dẫn.

Thêm Co vào Li(Ni0,5Mn0,5)O2 đã cho thấy hiệu quả trong việc tăng cường

sự ổn định cấu trúc hơn nữa. LiNixCoyMnzO2 (NCM hay còn gọi là NMC) có

công suất riêng tương đương hoặc cao hơn có thể đạt được so với LCO và điện

áp hoạt động tương tự trong khi có chi phí thấp hơn do hàm lượng Co giảm.

LiNi0,33Co0,33Mn0,33O2 là dạng phổ biến của NMC và được sử dụng rộng rãi

trên thị trường pin. Một số những nỗ lực gần đây là sự hình thành của NMC macroporous, cho thấy dung lượng đảo ngược cao tới 234 mAhg-1 và chu kì ổn định tốt ngay cả ở 50 oC. LiMnO3 ổn định LiMO2 (trong đó M = Mn, Ni, Co) cũng có thể đạt công suất cao (>200 mAhg-1) trong hoạt động điện áp cao.

LiMnO3 còn lại cũng có thể tạo điều kiện cho Ni khuyếch tán và cũng hoạt

động như một hồ chứa Li. Nhóm vật liệu này được gọi là hợp chất oxide phân

lớp giàu lithium do có thêm ion Li so với cấu trúc phân lớp phổ biến. Gần đây

hơn, vật liệu ca-tốt mới với thành phần trung bình của LiNi0,68Co0,18Mn0,18O2,

trong đó mỗi hạt bao gồm vật liệu khối bao quanh bởi lớp ngoài biến đổi[4].

Vật liệu rời là một lớp oxide giàu niken cho mật độ năng lượng, công suất cao

hơn, trong khi lớp ngoài là Mn và Co thay thế NMC cho rằng sự ổn định của vật liệu này có thể bắt nguồn từ Mn4+ ổn định ở lớp bề mặt, do đó sự phát sinh

khí do phản ứng giữa ion Ni và chất điện phân được hạn chế.

Spin LiMn2O4 (LMO) được chú ý do ởng lợi từ sự phong phú chi phí và

than thiện với môi trường của Mn. Li chiếm các vị trí tứ diện và Mn chiếm vị trí 16 bát diện trong một mảng CCP của các anion oxy. Li+ có thể khuyếch tán

thông qua các vị trí xen kẽ tứ diện và tám mặt trống trong cấu trúc ba chiều. Khả năng di chuyển không lâu dài của Li+ được cho là do phản ứng phụ

không thể đảo ngược với chất điện phân, mất oxy từ LiMn2O4 đã khử, giải

13

phóng Mn và hình thành Li2Mn2O4 tứ giác ở bề mặt, đặc biệt ở tốc độ nhanh.

Bằng cách sử dụng các hạt nano, hiệu suất tốc độ có thể được cải thiện rất

nhiều do độ dài khuyếch tán Li và vận chuyển điện tử ngắn hơn.

2.2.2. Hợp chất polyanion

Trong việc khám phá vật liệu ca-tốt mới, các nhà nghiên cứu đã phát triển một loại hợp chất mới gọi là polyanion. Các polyanion lớn (XO4)3- (với

X = S, P, Si, As, Mo, W) chiếm vị trí mạng và tăng điện thế oxi hoá khử và

nó cũng ổn định cấu trúc[5]. LiFePO4 (LFP) là vật liệu đại diện cho cấu trúc

olivine, được biết đến với tính ổn định nhiệt và công suất cao. Trong LFP, Li

và Fe chiếm các vị trí bát diện, trong khi P nằm ở vị trí tứ diện trong một dãy

ô-xide lục giác xếp chặt biến dạng nhẹ. Các điểm yếu chính của ca-tốt

LiFePO4 bao gồm điện thế trung bình tương đối thấp, độ dẫn điện và ion thấp.

Các nghiên cứu sâu trong thập kỉ qua đã cải thiện đáng kể trong cả hiệu suất

và cơ tính của LFP. Giảm kích thước hạt kết hợp với lớp phủ carbon và cation

có hiệu quả trong việc tăng hiệu suất tốc độ. Tuy nhiên, mật độ thấp của các

điện cực LFP được cấu trúc nano và tiềm năng trung bình thấp của chúng làm

hạn chế mật độ năng lượng của các pin LFP. Gần đây, một LFP allaudite

không phải olivine mới được bác cáo và cho thấy đặc tính điện hóa khác biệt

cơ bản so với LFP olivine[6].

Các cấu trúc olivine khác bao gồm LiMnPO4 (LMP) cung cấp điện áp

trung bình cao hơn 0,4 V so với olivine LFP dẫn đến năng lượng riêng cao

hơn nhưng làm độ dẫn điện thấp hơn[7]. LiCoPO4, LiNi0,5Co0,5PO4, và

LiMn0,33Fe0,33Co0,33PO4 (LCP, NCP, MFCP) cũng đã được phát triển và cho thấy

kết quả đầy hứa hẹn nhưng cần phải cải thiện thêm về năng lượng, mật độ năng

lượng và độ ổn định. Mới lạ, Li3V2(PO4)3 (LVP) có điện áp hoạt động tương đối

cao (4V) và dung lượng tốt. Vật liệu nano LVP/C thể hiện 95% công suất lý

thuyết ở tốc độ cao 5C mặc dù độ dẫn điện tử thấp của LVP (tương tự LFP).

14

LiFeSO4F (LFSF) là vật liệu ca-tốt thú vị vì điện áp pin cao và công suất riêng 151 mAhg-1 [8]. May mắn thay, LiFeSO4F có độ dẫn ion, điện tử tốt

hơn nên nó không cần lớp phủ carbon và hạt nano. LiFeSO4F cũng có thể

kinh tế vì nó có trữ lượng dồi dào. LiFeSO4F được cấu thành từ hai bát diện Fe2+O4F2 hơi bị biến dạng được kết nối từ các đỉnh F ở vị trí bên kia, tạo

thành các chuỗi dọc theo trục c và Li được đặt theo hướng (1,0,0), (0,1,0) và

(0,0,1). Vật liệu ca-tốt có cấu trúc tavorite được đánh giá qua mô phỏng và

báo cáo rằng họ fluorosulfate và fluorphosphate là hứa hẹn nhất, và họ

oxysulfate là ít nhất. Các vật liệu có cấu trúc tavorit với các kênh khuyếch tán

1D được đề suất để thể hiện năng lượng hoạt hóa thấp, cho phép nạp và xả

của Fe(SO4)F và V(PO4)F ở tốc độ cao, so sánh với các olivine hạt nhỏ

Fe(PO4). Vật liệu chứa vanadi, LiV-PO4F có chu kỳ tốt, có điện áp và công

suất cao nhưng làm tăng mối quan tâm về độc tính và tác động môi trường.

Thật thú vị, Li có thể được xen vào ~1,8V do đó vật liệu này có thể được sử

dụng đồng thời làm điện cực a-nốt (Li1+xVPO4 trong đó x = 0-1) và điện cực

ca-tốt (Li1-xVPO4 trong đó x = 0-1).

2.2.3. Vật liệu ca-tốt chuyển đổi

Các điện cực chuyển đổi trải qua một phản ứng oxy hóa khử trạng thái

rắn trong quá trình liti hóa/khử liti, trong đó có sự thay đổi trong cấu trúc tinh

thể, kèm theo các phá vỡ liên kết và tái kết hợp hóa học. Phản ứng điện hóa

đảo ngược hoàn toàn đối với vật liệu điện cực chuyển đổi thường như sau:

Dạng A: MXZ + yLi ⟺ M + zLi(y/z)X,

Dạng B: yLi + X ⟺ LiyX

Đối với các cực âm, dạng A bao gồm các halogen kim loại, kim loại hóa

trị cao để cung cấp dung lượng lí thuyết cao hơn.

2.2.4. Vật liệu ca-tốt với cấu trúc hai chiều

2.2.4.1. Các ô-xít phân lớp nhị phân

a) MoO3

Các oxide và oxide hydrat của Mo ở trạng thái oxy hóa cao nhất của nó

15

biểu thị nhiều loại cấu trúc khác nhau liên kết các hình bát giác MoO6. MoO3

là cấu trúc đơn vị. MoO3 khan, dạng trực giao (α-MoO3) là dạng ổn định trong

điều kiện bình thường và có cấu trúc lớp như cho thấy trong hình 2.1.

Hình 2.1. a) Cấu trúc lớp ở α- MoO3 cho thấy lớp xen kẽ van der Waals;

b) Chi tiết về sự phối hợp của Mo.

Ba pha siêu bền: pha β-MoO3 thông qua cấu trúc liên quan ReO3, MoO3-

II hoặc ɛ-MoO3 (P21/m S.G.) pha áp suất cao và MoO3 lục giác dạng (h-

MoO3). Trong ba hợp thức rắn hydrat của MoO3 hoặc axit molybdic,

MoO3.H2O trắng có cấu trúc tương đối gần với α-MoO3[9], bao gồm các

chuỗi kép phân lập hai cạnh MoO6 bát diện tách biệt với mỗi nguyên tử Mo

mang phân tử nước đồng vị.

Hình 2.2 cho thấy các mẫu XRD của các mẫu tinh thể α-MoO3 và β-

MoO3 với các đặc điểm chính của các mẫu XRD được chỉ ra trong hệ trực

giao (Pbnm S.G.) với các thông số mạng a = 3,9621Å, b = 13,858 Å, c =

3,972 Å và trong hệ đơn tà (P21/n S.G.) với các thông số mạng a = 7,118Å, b

= 5,379Å, c = 5,566Å, β = 91,87ᵒ. Tinh thể của α- MoO3 có hình dạng các

16

tiểu cầu dài với trục (0,1,0) vuông góc với mặt phẳng cơ sở và trục (0,0,1) dọc

theo cạnh dài nhất. Cấu trúc trực giao được hình thành trên 500 ᵒC, sự sắp xếp

phân lớp gây ra sự tương tác giữa các lớp song song được tạo bởi MoO6 bát

diện theo hướng (0,0,1) và được kết nối bằng các góc theo hướng (1,0,0).

Chất này có cấu trúc phân lớp và được sắp xếp theo hướng của trục b. MoO3

lục giác thường được tổng hợp bằng phương pháp kết tủa và kết tinh với các

thông số mạng a = 10,55Å và c = 14,89Å.

Hình 2.2. Các mẫu XRD của các tinh thể α- MoO3 và β-MoO3 đƣơc lập

chỉ mục đơn dòng tƣơng ứng.

Oxide Mo hiển thị nhiều loại cấu trúc liên quan đến các hình bát giác có

liên quan với nhau, có sắp xếp thuận lợi cho quá trình xem kẽ. Sự quan tâm

của α-MoO3 phát sinh từ cấu trúc phân lớp của nó thể hiện các kênh mở cho sự khuyếch tán Li-ion nhanh, hoạt tính điện hóa cao hơn so với Li/Li+ so với

chalcogenides và tính ổn định hóa học cao nhất trong số oxit lưới.

b) V2O5

Vanadium pentoxide V2O5 là một trong những oxide kim loại chuyển

17

tiếp được nghiên cứu sớm nhất có thể biểu hiện một số pha khác nhau khi xen

kẽ 3Li cho mỗi công thức. V2O5 kết tinh với cấu trúc ô đơn vị cơ sở trực giao

và thuộc nhóm không gian Pmnm với các thông số mạng là a = 11,510Å,

b = 3,563Å, c = 4,369Å[10]. Cấu trúc tinh thể của V2O5 trực giao thường

được mô tả như được tạo thành từ các chuỗi kim tự tháp vuông V2O5 cạnh

nhau (hình 2.3a), các chuỗi này liên kết với nhau thông qua chia sẻ góc. Các

đa diện méo có một liên kết vanadyl ngắn (1,54Å) và bốn nguyên tử oxy nằm

trong mặt phẳng cơ bản khoảng cách từ 1,78 đến 2,02Å (hình 2.3b). Ở đây

các nguyên tử ô-xy xung quanh nguyên tử vanadi kí hiệu là O1, O21, O23, O23΄,

O3, tương ứng. Các bát diện biến dạng có các góc chung theo hướng b được

liên kết bởi các cạnh chung, tạo ra các chuỗi theo một hướng.

Hình 2.3. a) Chiếu cấu trúc phân lớp của V2O5 trên (001). Các nguyên

tử oxy chồng chất đƣợc phân bố đối xứng; b) Kim tự tháp biến dạng

của cấu trúc V2O5 cho thấy vị trí của các nguyên tử V, O1, O21, O23, O3,

các đƣờng liền nét và đứt nét biểu diễn các liên kết hóa học, giá trị số

cho biết chiều dài liên kết (Å) giữa các nguyên tử. Nguyên tử O1΄ là

nguyên tử loại O1 lân cận kim tự tháp theo hƣớng ngƣợc lại.

Hình 2.4 cho thấy biểu diễn sơ đồ cấu trúc γ-LixV2O5 và sơ đồ pha Li-

V2O5, đường cong của một ô Li// LixV2O5 trong phạm vi 0

diễn trong hình 2.5. Thấy rằng chèn lên đến 1 Li cho mỗi đơn vị công thức

18

tiến hành trong hai riêng biệt của từng kế toán một nửa phí.

Hình 2.4: Sơ đồ biểu diễn (a) α-LixV2O5; (b) γ-LixV2O5;

(c) và giản đồ pha Li-V2O5

Khi hàm lượng liti xen kẽ lên tới x = 3 trong LixV2O5, chuỗi sắp xếp lại

cấu trúc (α-, ε-, δ-, và γ-LixV2O5) tương ứng với dung lượng lí thuyết 442 mAh g-1. Khi hàm lượng liti vượt quá x = 1, đường cong xả thể hiện sự giảm

mạnh điện thế theo sau đoạn bằng phẳng đặc trưng của miền hai pha. Khi

lượng liti chèn vào bị giới hạn ở x < 2, độ nghịch đảo trong phạm vi thành

phần 0 < x < 1 không ảnh hưởng nhiều[11]. Tại x ≈ 3, giai đoạn ω-V2O5 mới

xuất hiện. Giai đoạn này có cấu trúc giống NaCl với số lượng nút khuyết cao. Trong oxit vanadi biến dạng, V2O5, O2- dọc theo mặt cắt cắt được liên kết với

ba cation và giá trị cao của hệ số khuyếch tán hóa học đã được đo. Gần đây,

Li et al báo cáo trong việc chèm liti trong các pha β-LixV2O5 khoảng (0 < x <

3) cho bột được tổng hợp bằng phương pháp thủy nhiệt của α–V2O5 ở 220 ᵒC

trong 24 giờ, sau đó gia nhiệt ở 650 ᵒC trong 3 giờ[12]. Mạng chủ 3D của β-

LixV2O5 giống như đường hầm cho thấy có thể chèn/thoát 3Li trên mỗi đơn vị công thức và dung lượng xả vượt 330 mAh.g-1 ở mật độ dòng 10 mA.g-1 trong

19

dải điện thế 4,0 – 1,8 V.

Hình 2.5: Đƣờng cong xả của bình điện hóa Li/LixV2O5.

Tại x = 3, hệ đạt đến pha ω-LixV2O5 giống NaCl (đƣờng cong màu đen).

c) LiV3O8

Lithium trivanadate, LiV3O8 là một ô xít hỗn hợp hóa trị. Lần đầu tiên

được báo cáo bởi Wadsley [13], LiV3O8 là một chất bán theo lớp, có thể coi là

hợp chất V2O5. Nó kết tinh trong một đối xứng đơn tà (P21/m S.G.) và bao

gồm bát diện (VO6) và cá băng (VO5) hai kim tự tháp. Trong cấu trúc này, các

hình bát giác bị bóp méo (VO6) được kết nối bởi các cạnh và đỉnh được chia

sẻ để tạo thành các mẫu (V3O8) xếp chồng lên nhau để tạo thành hình bán

nguyệt (hình 2.6). Khoảng cách giữa các phiến là đủ linh hoạt để chứa các ion

khách trên các vị trí trung gian bát diện và tứ diện.

Khi Li+ xen vào khung LiV3O8 vẫn còn nguyên vẹn và các thông số ô

đơn vị cơ sở đơn tà khác nhau đẳng hướng với các thay đổi pha. Theo báo cáo

của một số nhà nghiên cứu[14], mạng tinh thể V3O8 rất ổn định khi chèn liti

đến thành phần Li3.8V3O8 do sự sẵn có của không gian 2D cho việc vận chuyển ion Li+. Tính năng này làm cho LiV3O8 trở thành một ứng cử viên cực hấp dẫn cho pin liti thứ cấp với dung lượng cao hơn 300 mAh.g-1. Cơ chế xen

20

kẽ điện hóa đã đươc nghiên cứu bao gồm chu trình dài và độ linh động của ion Li+. LiV3O8 có hệ số khuyếch tán Li ion thấp hơn (~10-13 cm2.s-1) so với

LixV2O5 (~ 10-10 cm2s-1)[15]. Jouanneau et al. báo cáo rằng sự tan rã của một số lượng VIII trong chất điện phân xảy ra trong quá trình khử ở 2,3V phụ

thuộc vào hình thái của bột[16].

Hình 2.6: (a) Biểu thị hƣớng [010] quan sát cấu trúc lớp của LiV3O8

(P21/m S.G.). Vòng tròn biểu thị vị trí bát diện Li(1) và vị trí tứ diện Li(2)

giữa các lớp, (b) [010] Quan sát cấu trúc của Li4V3O8, trục c nằm ngang

trong lớp V3O8.

Hình 2.7 đường cong biểu diễn sự phụ thuộc điện áp vào thành phần x(Li) đối với pin Li//Li1,2+xV3O8. Dung lượng phóng lần đầu bằng 308 mAh.g- 1 ở 20 mA.g-1 ứng với đạt tới x = 3,8Li. Đường cong phóng điện cho thấy quá

trình phức tạp hơn, ban đầu điện thế hở mạch của Li1,2+xV3O8 giảm mạnh tới

2,85 V đối với hợp phần x ≤ 0,8, ở đây liti được tiêm vào các vị trí xen giữa

Li(2). Sau đó, điện áp giảm nhẹ từ 2,85 đến 2,7 V trong miền 0,8 < x < 1,7,

trong đó lithium được tiêm vào không gian trung gian của cấu trúc Li2V3O8.

Tại x > 1,7, đường cong điện áp cho thấy một vùng bằng phẳng tại 2,5 V đặc

trưng của hệ hai pha, với sự tồn tại của hợp chất Li2,9V3O8 và cấu trúc muối

mỏ khuyết tật của thành phần danh định Li4V3O8. Li1+δV3O8 là chất bán dẫn

21

thể hiện sự dẫn điện phân cực.

Hình 2.7: Đƣờng cong điện thế phụ thuộc thành phần x(Li) đối với pin

Li//LiV3O8

Đối với tất cả các ô-xít kim loại chuyển tiếp, phương pháp chế tạo

LiV3O8 có vẻ quan trọng đối với các tính năng của nó. Kỹ thuật tổng hợp bao

gồm: phản ứng trạng thái rắn truyền thống sử dụng Li2VO3 và V2O5 ở nhiệt

độ cao (680ᵒC). Phương pháp gel soi kĩ thuật kết tủa, phương pháp thủy nhiệt,

công nghệ sấy khô, quá trình đốt cháy tổng hợp, phun nhiệt phân và phương

pháp hỗ trợ polymer. Vật liệu ca-tốt LiV3O8 cấu trúc nano được đồng bộ hóa

dưới nhiều dạng bao gồm các tinh thể nano, dây nano, nanorods và

nanoflakes. Cải tiến của quá trình xen kẽ cũng đạt được bằng cách pha tạp.

Tấm nano với độ dày 15-30 nm chiều rộng được tổng hợp bằng phương pháp

thủy nhiệt kết hợp với quá trình trạng thái rắn sử dụng tấm nano (NH4)0.5V2O5 đồng nhất như tiền chất. Độ ổn định chu kì tốt 149 mAh g-1 tại 5C đã được

chứng minh bằng độ ổn định 85%[17]. Sửa đổi bề mặt bằng vật liệu dẫn điện

có hiệu quả để tăng cường tính chất điện hóa của LiV3O8 thông qua triệt tiêu

22

vật liệu hoạt động và thay đổi pha tổng thể.

2.3. Đặc trƣng điện hóa của các họ vật liệu điện cƣc ca-tốt thông dụng

Những nghiên cứu về đặc trưng điện thế và dung lượng của các vật liệu

điện cực dương cho thấy: Mặc dù LiCoO2 là hợp chất có dung lượng tốt 155

mAh/g và có điện thế cao 3,9 V nhưng Côban là kim loại có giá thành cao, do

đó, phải tìm các chất khác có thể thay thế Co có giá rẻ hơn nhưng vẫn đảm

bảo được các yêu cầu về điện thế, dung lượng,... đồng thời nâng cao chất

lượng của sản phẩm. Các chất đã và vẫn đang được áp dụng là Ni, Fe, Mn,...

có thể thay thế cho một phần Co hay thay thế hoàn toàn Co bởi các chất trên.

Các hợp chất LiCo1-xNxO2 (N = Ni, Fe, Mn,...) đạt dung lượng tương đối cao nhưng lại có điện thế trung bình 220 mAh.g-1 so với 150 mAh.g-1 của LiCoO2

thấp hơn (3,75 V). Hợp chất LiMn2O4 cũng được nghiên cứu do có giá thành

rẻ, thế trung bình cao, có thể hoạt động ở nhiệt độ cao so với các hợp chất

khác (xem bảng 2.1), tuy nhiên hợp chất này lại có dung lượng thấp chỉ khoảng 120 mAh.g-1. Thế đặc trưng và dung lượng của một số hợp chất

LiCoO2, LiMn2O4 và LiNi0.8Co0.2O2 được đưa ra trên hình 2.8.

Như vậy, mỗi hợp chất đều có các ưu và nhược điểm khác nhau. Các hợp

chất LiCo1-xNixO2 (x = 0.1, 0.2, 0.3, 0.5) được nghiên cứu và ứng dụng nhiều

hơn cả do các hợp chất này thay thế được một phần Co mà vẫn đảm bảo được

chất lượng và các yêu cầu đối với các vật liệu sử dụng làm điện cực dương.

Hình 2.8: Đặc trƣng thể và dung lƣợng của một số vật liệu điện cực dƣơng

23

Bảng 2.1: Đặc trƣng điện hóa của một số loại vật liệu điện cực ca-tốt

Dung lượng Thế trung Ưu - nhược điểm Loại vật liệu riêng (mAh/g) bình (V)

3,88 Thông dụng, nhưng giá Co đắt 155 LiCoO2

3,70 Giá thành trung bình 190 LiNi0.7Co0.3O2

3,73 Giá thành trung bình 205 LiNi0.8Co0.2O2

3,76 Có dung lượng riêng cao nhất 220 LiNi0.9Co0.1O2

3,55 Phân ly mạnh nhất 200 LiNiO2

24

4,00 Mn rẻ, không độc, ít phân ly 120 LiMn2O4

Chƣơng 3

TRIỂN VỌNG CỦA VẬT LIỆU ĐIỆN CỰC CA-TỐT

3.1. Pin Lithium không khí

Ngày nay pin Lithium không khí (Li-air) được các nhà khoa học tập

trung nghiên cứu vì Lithium là kim loại nhẹ nhất, khi tăng mức năng lượng

cho pin cũng không làm tăng trọng lượng đáng kể. Trong khi đó, với loại pin

xe điện có thành phần từ chì như hiện nay, nếu tăng mức năng lượng lên

tương đương 50 lít xăng thì khối lượng của nó sẽ tăng lên 1,5 đến 2 tấn.

Thế mạnh của pin Lithium đã được chứng minh bởi pin Li-ion được

dùng phổ biến trong các thiết bị điện tử cầm tay. Thị trường của nó đang tăng

theo cấp số nhân trong những năm gần đây.

Các nhà khoa học tin rằng với pin Li-air, ô tô điện sẽ không còn vướng

phải trở ngại lâu nay: mau cạn năng lượng. Như vậy, nó hoàn toàn có thể sánh

được với xe chạy xăng, đồng thời cứu vãn sự khủng hoảng xăng dầu.

Pin Li-không khí (Li-air) được thiết kế với điện cực a-nốt là Li và điện

cực ca-tốt là carbon xốp thu hút không khí khi pin hoạt động. Lúc xả pin, oxy

trong không khí sẽ phản ứng với Li tạo thành Lithium peroxide (Li2O2) còn

lúc sạc pin, quá trình đảo ngược để nhả oxy. Cả hai phản ứng đều xảy ra tại

điện cực carbon xốp.

Tuy nhiên các loại pin kim loại - không khí thường hiện này chỉ được sử

dụng một lần đối với thiết bị yêu cầu năng lượng lớn như thiết bị quân đội.

Pin kẽm - không khí được dùng như pin sử dụng một lần trong máy trợ thính.

Thực tế để pin kim loại - không khí, cụ thể là Li-air trở thành pin năng lượng

cao có thể sạc đi sạc lại nhiều lần là một thách thức rất lớn.

Bên cạnh những ưu điểm trên, để pin Li-air có thể thương mại hóa và

đưa vào sử dụng trong thực tiễn cần trải qua các thách thức không nhỏ. Sự

25

tương tác với không khí đòi hỏi điện cực phải có bề mặt rất lớn. Pin Li-air

nguyên mẫu có mật độ khoảng 1mA mỗi cm2 bề mặt. Tuy nhiên con số này

phải tăng lên trước khi ứng dụng pin Li - air vào thực tế.

Sự thật rằng khi pin hấp thụ các nguyên tử oxy từ không khí, trọng lượng

pin có thể tăng gấp đôi. Thêm vào đó, oxy được hấp thụ phản ứng với Li tạo

thành Li2O2 có thể gây tắc nghẽn việc cung cấp thêm Oxy - giống như viên

pin bị "đứt thở" vậy. Độ ẩm không khí cũng là một vấn đề bởi vì Lithium

phản ứng và ăn mòn rất nhanh với nước.

Một vấn đề nan giải khác đó chính là pin Li-air rất khó sạc lại. Điện áp

cân bằng của pin Li-air là 3V. Khi pin phóng điện, điện áp giảm xuống 2,6 -

2,7V nhưng khi sạc điện áp phải tăng lên 4,5V. Trong khi đó, với pin Li-ion

trong các thiết bị điện tử cầm tay, điện áp lúc sạc chỉ cao hơn 10% so với

trạng thái cân bằng.

Poul Norby, nhà khoa học cao cấp tại Riso DTU cho biết quá trình xả

pin Li-air rất tốt nhưng đảo ngược quá trình này lại thất thoát đến 40% năng

lượng. Thách thức hiện nay là giảm con số này xuống 10% - giống với pin Li-

ion. Điện áp quá cao lúc sạc pin cũng không tốt cho các thành phần của pin

dẫn đến làm giảm tuổi thọ chu trình pin.

Nếu một chiếc xe chạy được 250.000 km trong "quãng đời" của nó và pin

có thể giúp xe chạy 800 km mỗi lần sạc thì pin phải có dung lượng xả và sạc lại

ít nhất 300 lần. Pin Li-air nguyên mẫu hiện nay chỉ có thể sạc được 50 lần như

vậy. Không những vậy, mỗi lần sạc năng lượng lại tốn khá nhiều thời gian, trong

khi với xe chạy xăng, chỉ cần ghé vào trạm xăng vài phút, bạn đã có thể chạy

thêm 800 – 1000 km. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với pin Li-air.

Một câu hỏi khác được đặt ra khi chúng ta quan tâm pin Li như một ứng

dụng cho ô tô điện: Liệu sản lượng liti có đủ để cung cấp cho xe điện toàn thế

giới hay không?

Li tồn tại khoảng 65g trên mỗi tấn đất và khoảng 0,1g mỗi tấn nước. Do

26

vậy, việc tách suất Li như vậy rất tốn kém.

3.2. Xu hƣớng phát triển trong công nghệ chế tạo vật liệu điện cực ca-tốt

3.2.1. Sử dụng thủy tinh làm điện cực cho pin

Pin lithi-ion hiện rất tốt, nhưng không đủ tốt nếu hệ thống năng lượng

trong tương lai của chúng ta dựa vào năng lượng điện. Các nhà hóa học và các

nhà khoa học vật liệu tại ETH Zurich đã phát triển một loại thủy tinh có thể

được sử dụng làm vật liệu điện cực cho pin Li-ion, có khả năng đưa đến một

cải tiến đáng kể công suất và mật độ năng lượng của loại pin này.

Gần đây, các chuyên gia năng lượng đã khẳng định rằng chúng ta sẽ cần

nhiều năng lượng sạch hơn trong tương lai nếu chúng ta muốn thay thế các

nguồn nhiên liệu hóa thạch và giảm phát thải CO2, ví dụ, xe ô tô điện sẽ thay

thế cho những chiếc xe chạy bằng xăng. Tuy nhiên, để xe ô-tô điện vận hành

ở các khoảng cách lớn hơn hay pin điện thoại di động dùng được lâu hơn,

chúng ta cần các loại pin tốt hơn. Trong quá trình chuyển đổi sang các nguồn

năng lượng tái tạo, pin cũng đóng một vai trò quan trọng trong lưu trữ năng

lượng dư thừa từ các tuabin gió hay các nhà máy điện mặt trời và bù cho các

biến động trong việc cung cấp năng lượng.

Để giải quyết vấn đề này, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm các loại vật

liệu mới có mật độ năng lượng và công suất sạc cao hơn, nhưng không nặng

hơn hay lớn hơn những vật liệu đang được sử dụng trong pin Li-ion hiện nay.

Các loại pin hiện nay cung cấp một nguồn năng lượng đáng tin cậy cho điện

thoại thông minh, ô-tô điện và máy tính xách tay, nhưng không thể bắt kịp

được những yêu cầu ngày càng tăng đối với chúng. TS. Semih Afyon, một

nhà khoa học tại Viện Vật liệu điện hóa, tổng hợp ý tưởng cơ bản đó để

nghiên cứu pin: “Những gì chúng ta cần là ngành hóa học và các hợp chất

mới để có được loại pin an toàn, tuổi thọ dài hơn và tốt hơn”.

Các nhà nghiên cứu ETH do Afyon và Reinhard Nesper, Giáo sư hóa

học dẫn dắt, mới đây đã có một khám phá mới. Trong suốt nhiều năm nghiên

27

cứu, họ đã tìm ra một loại vật liệu có thể có tiềm năng tăng gấp đôi công suất

của pin đó là thủy tinh vanađat-borat. Các nhà nghiên cứu sử dụng thủy tinh

này làm vật liệu catôt, như báo cáo gần đây trên tạp chí Scientific Reports.

Vật liệu này được làm bằng các tiền chất lithi-borat (LiBO2) và oxit

vanađi (V2O5) và được phủ bằng graphit oxit đã được khử (RGO) để tăng

cường các tính chất điện cực của vật liệu. Các nhà nghiên cứu sử dụng một

hợp chất dựa trên vanađi vì vanađi là một kim loại chuyển tiếp có các trạng

thái oxy hóa khác nhau, có thể được khai thác để đạt được các công suất cao

hơn. Ở dạng tinh thể, vanađi pentoxit có thể lấy ba ion lithi tích điện dương -

gấp ba lần so với các vật liệu hiện nay được sử dụng trong catôt, như photphat

sắt lithi.

Hình 3.1. Vật liệu thủy tinh borat vanađat mới này có thể gần nhƣ

tăng gấp đôi công suất của pin lithi-ion.

Tuy nhiên, pentôxit vanađi tinh thể không thể giải phóng tất cả các ion

lithi được chèn vào và chỉ cho phép một vài chu kỳ sạc/xả ổn định. Điều này

là vì khi các ion lithi thâm nhập vào mạng tinh thể trong suốt quá trình tải,

mạng này giãn ra. Kết quả là, một hạt điện cực phồng lên, tức là nó tăng khối

28

lượng chỉ để thu nhỏ lại khi các điện cực rời bỏ hạt này. Quá trình này có thể

dẫn đến những bất ổn định trong vật liệu điện cực về những thay đổi cấu trúc

và mất tiếp xúc.

Do đó các nhà nghiên cứu phải tìm một cách để giữ lại cấu trúc của vật

liệu ban đầu trong khi tối đa hóa công suất và đồng thời duy trì dung lượng

của nó để “lấy” các điện cực, đó là cách họ nghĩ ra ý tưởng sử dụng vanadi

dưới dạng thủy tinh chứ không phải dưới dạng tinh thể. Trong thủy tinh, một

loại vật liệu được gọi là “vô định hình”, các nguyên tử không tự sắp xếp trong

một mạng đều đặn như khi chúng ở trong trạng thái tinh thể. Thay vào đó, các

nguyên tử tồn tại trong trạng thái hỗn loạn.

3.2.2. Phương pháp sản xuất đơn giản với giá thành thấp

Để sản xuất vật liệu ca-tốt, Afyon và các đồng nghiệp của ông trộn bột

vanađi pentoxit với các hợp chất borat. “Borat là chất tạo thủy tinh; đó là lý

do tại sao các hợp chất borat được sử dụng và các hợp chất thủy tinh thu được

là một loại vật liệu mới, không phải V2O5 hay LiBO2”, các nhà nghiên cứu cho biết. Nhóm nghiên cứu làm tan chảy bột này ở nhiệt độ 900 oC và nhanh

chóng làm mát chất tan để tạo thành thủy tinh. Các tấm mỏng như tờ giấy thu

được sau đó được nghiền thành bột trước khi sử dụng, do đó làm tăng diện

tích bề mặt của chúng và tạo ra khoảng trống. “Một lợi thế lớn của thủy tinh

vanađa-borat là việc sản xuất loại thủy tinh này rất đơn giản và không tốn

kém”, Afyon nói. Điều này được kỳ vọng sẽ tăng cơ hội cho một ứng dụng

công nghiệp.

Để sản xuất một điện cực hiệu quả, các nhà nghiên cứu đã phủ lên bột

vanađa-borat bằng RGO. Điều này làm tăng độ dẫn điện, trong khi đồng thời

bảo vệ các hạt điện cực nhưng không cản trở các điện cực và các ion lithi khi

chúng được vận chuyển qua các điện cực này.

Afyon sử dụng bột thủy tinh vanađa-borat để làm ca-tôt cho pin, sau đó

ông đưa vào các nguyên mẫu pin hình đồng xu để thực hiện nhiều chu kỳ

29

sạc/xả.

3.2.3. Tăng gấp đôi công suất

Trong các thử nghiệm ban đầu với các điện cực vanađa-borat không

được làm bằng vật liệu phủ RGO, công suất xả giảm mạnh sau 30 chu kỳ sạc/xả, khi tốc độ dòng tăng lên đến 400 mA.g-1. Ngược lại, khi các lớp phủ

RGO được sử dụng, công suất này khá ổn định ở các mức cao và nó vẫn duy

trì nhất quán ở mức độ cao sau hơn 100 chu kỳ sạc/xả.

Pin có điện cực thủy tinh vanađa-borat phủ RGO có mật độ năng lượng khoảng 1000 Wh/kg. Nó đạt được công suất xả vượt hơn 300 mAh.g-1. Ban đầu, con số này thậm chí còn đạt 400 mAh.g-1, nhưng chu kỳ sạc/xả thấp.

Afyon ước tính: “Pin này có thể cấp điện cho một chiếc điện thoại di động lâu

hơn từ 1,5 đến 2 lần so với pin Li-ion hiện nay”. Điều này cũng có thể làm

tăng phạm vi của ô tô chạy điện lên 1,5 lần phạm vi tiêu chuẩn. Tuy nhiên,

30

những con số này vẫn còn là lý thuyết.

KẾT LUẬN

Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion là một trong các nghiên cứu đã và

đang được các nhóm nghiên cứu trên thế giới và trong nước tập trung nghiên

cứu. Đề tài “Vật liệu điện cực ca-tốt cho pin Li-ion” đã đạt được một số kết

quả chính sau:

1- Đề tài đã tổng quan lý thyết về vật liệu tiêm/thoát ion Li+. Tổng quan về nguyên lí hoạt động và cấu tạo, chất điện ly, vật liệu tích trữ ion Li+, cơ chế tiêm/thoát ion Li+.

2- Phân loại được các vật liệu điện cực ca-tốt, đặc trưng cấu trúc và đặc

trưng điện hóa của các họ vật liệu điện cực ca-tốt thông dụng.

3- Nêu được những thánh thức trong công nghệ pin Li-ion. Xu hướng phát

triển trong công nghệ chết tạo vật liệu điện cực ca-tốt trong pin.

Do quá trình nghiên cứu đề tài trong thời gian ngắn và lần đần đầu làm

quen với đề tài nghiên cứu mới nên kết quả vẫn còn khiêm nhường. Để có một

kết quả tốt hơn cần phải nghiên cứu chi tiết hơn. Em rất mong được sự đóng góp

31

quý giá của thầy cô và các bạn để đề tài của em có thể hoàn thiện hơn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

[1]. Lê Đình Trọng, Nguyễn Năng Định, Phạm Duy Long (2009) “Pin liti

ion: cấu tạo, đặc trưng hoạt động và tính chất”

[2]. Ngô Quốc Quyền “ Điện Hóa Học”

Tiếng nƣớc ngoài:

[3]. I.Bloom,et al. J.Power Sources 128 (2) (2004) 278.

[4]. Y.-K.Sun, et al. Nat. Mater.8 (4) (2009) 320.

[5]. K.S. Nanjundaswamy, et al. Solid Stale Ionics 92 (1-2) (1996) 1.

[6]. J. Kim, et al. Energy Environ. Sci. 6 (3) (2013) 830.

[7]. C. Delacourt, et al. J. Electrochem. Soc. 152 (5) (2005) A193.

[8]. N.Recham, et al. Nat. Mater . 9 (1) (2010) 68.

[9]. Crouch-Baker S, Dickens PG (1989) Qualitative bonding models for

some molybdenum oxide phases. Solid State Ionics 32–33:219–227.

[10]. Bystrom A, Wilhelmi KA, Brotzen O (1950) Vanadium pentoxide a

compound with fivecoordinated vanadium atoms. Acta Chem Scand

4:1119–1130.

[11]. West K, Zachau-Christiansen B, Jacobsen T, Skaarup S (1991)

Vanadium oxides as host materials for lithium and sodium intercalation.

Mater Res Soc Symp Proc 210:449–460.

[12]. Li WD, Xu CX, Du Y, Fang HT, Feng YJ, Zhen L (2014)

Electrochemical lithium insertion behavior of β-LixV2O5 phases (0

as cathode material for secondary lithium batteries. J Electrochem Soc

161:A75–A83.

[13]. Wadsley AD (1957) Crystal chemistry of non-stoichiometric pentavalent

vanadium oxides: crystal structure of Li1+xV3O8. Acta Crystallogr

10:261–267.

32

[14]. Pistoia G, Pasquali M, Tocci M, Moshtev RV, Manev V (1985)

Li/Li1+xV3O8 secondary batteries. III. Further characterization of the

mechanism of Li+ insertion and of the cycling behavior. J Electrochem

Soc 132:281–284.

[15]. Jouanneau S, Verbaere A, Lascaud S, Guyomard D (2006) Improvement

of the lithium insertion properties of Li1.1V3O8. Solid State Ionics

177:311–315.

[16]. Jouanneau S, Le Gal La Salle A, Verbaere A, Guyomard D (2005) The

origin of capacity fading upon lithium cycling in Li1.1V3O8. J

Electrochem Soc 152:A1660–A1667.

[17]. Wang H, Ren Y, Wang Y, Wang W, Liu S (2012) Synthesis of LiV3O8

nanosheets as a highrate cathode material for rechargeable lithium

33

batteries. Cryst Eng Comm 14:2831–2836