N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
277
KNOWLEDGE, PRACTICE ON DENGUE FEVER PREVENTION OF
MOTHERS WITH CHILDREN UNDER 5 YEARS OLD IN VI THANH CITY,
HAU GIANG PROVINCE, 2024
Nguyen Thanh Binh1, Nguyen Van Lanh2*, Nguyen Kim Khanh Tien3, Pham My Linh4
1Nga Bay city Medical Center - 228, 30/4 road, Nga Bay city, Hau Giang province, Vietnam
2Can Tho University of Medicine and Pharmacy - 179 Nguyen Van Cu, Ninh Kieu district, Can Tho city, Vietnam
3Vo Truong Toan University - National Highway 1A, Tan Phu Thanh commune, Chau Thanh A district,
Hau Giang province, Vietnam
4Vi Thanh city Medical Center - 176, 1/5 road, Vi Thanh city, Hau Giang province, Vietnam
Received: 21/4/2025
Reviced: 03/5/2025; Accepted: 17/5/2025
ABSTRACT
Objective: To determine the proportion of proper dengue fever prevention practices and related
factors among mothers with children under 15 years of age in Vi Thanh city, Hau Giang province in
2024.
Method: A cross-sectional study was conducted from April 2024 to October 2024 among 400
mothers with children under 15 residing in Vi Thanh city, Hau Giang province, using structured
questionnaires and observational checklists.
Results: The proportion of mothers with good dengue fever prevention practices was 81.5%; most
mothers (90.7%) reported performing larvae elimination measures and checking water containers
weekly, with covering water containers being the most common method (31.5%). When suspecting
illness, 74.2% chose to seek care at health facilities.
Conclusion: The dengue prevention practices of mothers in Vi Thanh are generally quite good
overall, but limitations remain in the application of some specific control measures and the mothers
initial management approach for their children.
Keywords: Dengue fever, prevention practices, Vi Thanh city.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
*Corresponding author
Email: nvlanh@ctump.edu.vn Phone: (+84) 939539996 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD8.2593
N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
278 www.tapchiyhcd.vn
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT
DENGUE CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 15 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH,
TỈNH HẬU GIANG, NĂM 2024
Nguyn Thanh Bình1, Nguyễn Văn Lành2*, Nguyn Kim Khánh Tiên3, Phm M Linh4
1Trung tâm Y tế thành ph Ngã By - 228, đường 30/4, thành ph Ngã By, tnh Hu Giang, Vit Nam
2Trường Đại học Y Dược Cần Thơ - 179 Nguyễn Văn Cừ, qun Ninh Kiu, thành ph Cần Thơ, Việt Nam
3Trường Đại học Võ Trường Ton - Quc l 1A, xã Tân Phú Thnh, huyn Châu Thành A, tnh Hu Giang, Vit Nam
4Trung Tâm Y tế thành ph V Thanh - 176, đường 1/5, thành ph V Thanh, tnh Hu Giang, Vit Nam
Ngày nhận bài: 21/4/2025
Ngày chỉnh sửa: 03/5/2025; Ngày duyệt đăng: 17/5/2025
TÓM TT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue và các yếu tố liên quan của
bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang năm 2024.
Phương pháp: Nghiên cứu tả cắt ngang được thực hiện trên 400 bà mẹ có con dưới 15 tuổi đang
sinh sống tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024, thông qua
phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc và quan sát bằng bảng kiểm.
Kết quả: Tỉ lệ bà mẹ có thực hành tốt về phòng chống sốt xuất huyết Dengue là 81,5%; đa số bà m
(90,7%) cho biết thực hiện các biện pháp diệt loăng quăng và kiểm tra dụng cụ chứa nước hàng
tuần, trong đó đậy kín dụng cụ chứa nước biện pháp phổ biến nhất (31,5%). Khi nghi ngờ mắc
bệnh, 74,2% bà mẹ chọn đưa người thân đến cơ sở y tế.
Kết luận: Thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ tại Vị Thanh ở mức khá tốt về
tổng thể, nhưng còn tồn tại những hạn chế trong việc áp dụng một số biện pháp phòng chống dịch cụ
thể và cách xử trí ban đầu cho trẻ của các bà mẹ.
Từ khóa: Sốt xuất huyết, thực hành phòng chống sốt xuất huyết, thành phố Vị Thanh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue bệnh truyền nhiễm do virus
Dengue gây ra và lây truyền chủ yếu qua vật chủ trung
gian là muỗi Aedes aegypti [1]. Tổ chức Y tế Thế giới
nhấn mạnh mối quan tâm lớn về sức khỏe cộng đồng
trên phạm vi toàn cầu khi sự gia tăng đáng kể về số ca
mắc tử vong sốt xuất huyết (SXH) Dengue gây
ra cho nhiều quốc gia trên toàn thế giới nói chung
Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ qua [2].
Tại Việt Nam, SXH Dengue một vấn đề sức khỏe lớn
nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện lên tới
1.000.866 ca mắc được báo cáo từ năm 1991-2004, cao
nhất khu vực Tây Thái Bình Dương (UC & Rachna,
2008). Trong suốt những năm qua, phòng chống dịch
SXH một trong những vấn đề sức khỏe ưu tiên. Hiện
nay, tỉ lệ mắc SXH cao nhất khu vực phía Nam chiếm
51,2%, khu vực miền Bắc chiếm 31,3%, khu vực miền
Trung chiếm 14,3% khu vực Tây Nguyên chiếm
3,2% [3]. SXH đã gây ra một gánh nặng kinh tế lớn đối
với Việt Nam nói chung và người dân nói riêng.
Tại Việt Nam, SXH Dengue một trong những bệnh
truyền nhiễm xu hướng tăng cao từ tháng 5 đến
tháng 11 hàng năm, vì vậy công tác chủ động triển khai
các bin pháp phòng chống trước mùa dịch được coi
quan trọng hàng đầu [3]. Tình hình dịch bệnh sự
khác biệt giữa các quốc gia các vùng miền, điều này
không chỉ gây áp lực lên hệ thống y tế mà còn ảnh
hưởng đến kinh tế - xã hội [2-3].
Khu vực phía Nam, trong đó đồng bằng sông Cửu
Long nơi xuất hiện dịch bệnh SXH Dengue quanh
năm. Tại 20 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, theo
báo cáo của Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, tính
đến ngày 29/5/2022 ghi nhận 33.423 ca mắc, tăng 55%
so cùng kỳ 2021 (21.656 ca).
Công tác phòng chống SXH Dengue để đạt được hiệu
quả tại cộng đồng luôn đòi hỏi sự hiểu biết và việc thực
hành đúng của người dân. Nhiều nghiên cứu về kiến
thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống SXH
Dengue đã được thực hiện tại các địa phương khác nhau
ở Việt Nam. Một nghiên cứu tại phường Đông Xuyên,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2021 cho
thấy tỉ lệ kiến thức đúng chỉ đạt 46,6% thực hành
*Tác giả liên hệ
Email: nvlanh@ctump.edu.vn Điện thoại: (+84) 939539996 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD8.2593
N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
279
đúng là 57,1% [4]; bên cạnh đó, nghiên cứu tại xã Giai
Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần T năm
2021 lại cho tỉ lệ kiến thức đúng là 65,2% và thực hành
đúng 71,2% [5]; khảo sát trên công nhân tại thành
phố An, tỉnh Bình Dương năm 2023 cho thấy tỉ lệ
kiến thức đúng 74,65% và thực hành đúng 79,72% [6];
nghiên cứu tại phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền,
Hải Phòng năm 2019 ghi nhận chỉ 54% người dân
kiến thức đạt 57,5% thực hành đạt về phòng
chống bệnh, tỉ lệ cao đồng thuận với việc thu dọn
(87,7%) đậy kín dụng cchứa nước (89,5%), kiến
thức về các khía cạnh cụ thể như đường lây truyền hay
thời gian muỗi hoạt động vẫn còn thấp một bộ phận
không nhỏ người dân [7]. Ngoài ra, các yếu tố như trình
độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn thông tin cũng được
xác định là có liên quan đến KAP của người dân trong
nhiều nghiên cứu [5], [7-9].
Các bà mẹ là người đóng vai trò chính trong việc chăm
sóc và phòng bệnh cho trẻ em. Việc các bà mẹ hiểu rõ
KAP về phòng chống SXH Dengue rất quan trọng để
có can thiệp phù hợp [8], [10]. Tuy nhiên, sự khác biệt
về KAP giữa các vùng miền cho thấy sự cần thiết phải
dữ liệu tại chỗ. Hiện chưa nghiên cứu nào được
công bố về KAP phòng chống SXH Dengue của bà mẹ
con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu
Giang. vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu kiến
thức, thực hành về phòng chống bệnh SXH Dengue của
bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh
Hậu Giang năm 2024 nhằm xác định tỉ lệ bà mẹ có con
dưới 15 tuổi thực hành đúng về phòng, chống bệnh
SXH Dengue tại địa bàn nghiên cứu.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cu
Nghiên cứu cắt ngang.
2.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cu
Các bà mẹ có con dưới 15 tuổi hiện đang sinh sống tại
thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: bà mẹ có con dưới 15 tuổi (tính
tuổi dương lịch), thường trú tại thành phố Vị Thanh ít
nhất 6 tháng trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: bà mkhông thể trả lời phỏng vấn
(bị câm, điếc, tâm thần), vng mặt 2 lần khi đến phỏng
vấn, những bà mẹ không trực tiếp nuôi con.
2.2.2. Thời gian và địa đim nghiên cu
- Thời gian: từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024.
- Địa điểm: các phường, trên địa bàn thành phố Vị
Thanh.
2.3. C mẫu và phương pháp chọn mu
2.3.1. C mu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo ước lượng một tỉ
lệ của một quần thể:
n = Z21-α/2 × p × (1 - p)/d2
Trong đó: n cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu; α xác
suất sai lầm loại I = 0,05); Z trị số tphân phối
chuẩn (Z21-α/2 = 1,96 với khoảng tin cậy 95%); p là tỉ l
ước ng biến kết cuc trong dân s; d độ chính xác
(sai s cho php), d = 0,05.
Chúng tôi chọn p = 0,333 dựa theo nghiên cứu của
Rong Trung Tuyến về kiến thức, thái độ thực hành
của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Bình Phước năm 2018,
kết quả 33,3% mẹ con dưới 5 tuổi thực hành
đúng về phòng chống sốt xuất huyết [11].
Thay các tham số vào công thc, tính được n = 342.
Dtrù mất mẫu 10%, sẽ cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu
là 380.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập được 400
mẹ có con dưới 15 tuổi trên địa bàn.
2.3.2. Phương pháp chọn mu
- Tiến hành chọn mẫu theo từng giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Lập danh sách 4 xã và 5 phường của
thành phố Vị Thanh, chọn ngẫu nhiên 1 (Tân
Tiến) 1 phường (phường V) để tiến hành nghiên cứu.
+ Giai đoạn 2: Tại mỗi đơn vị , phường được
chọn, lập danh sách mẹ con dưới 15 tuổi trong
từng ấp của Tân Tiến kèm theo số bà mẹ con dưới
15 tuổi cộng dồn của(tổng số bà mẹ có con dưới 15
tuổi Tân Tiến là 1629); danh sách số bà mẹ
con dưới 15 tuổi từng khu vực của phường V, kèm theo
số mẹ con dưới 15 tuổi cộng dồn của phường
(tổng bà mẹ có con dưới 15 tuổi phường V là 1510).
- Phân bổ cỡ mẫu: chọn 200 mẹ từ Tân Tiến
200 bà mẹ từ phường V.
2.4. Thu thp s liu
- Công cụ thu thập: bộ câu hỏi cấu trúc soạn sẵn về kiến
thức và thực hành phòng chống SXH Dengue đã được
hiệu chỉnh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, bng
kiểm quan sát vệ sinh môi trường và các dụng cụ chứa
nước tại hộ gia đình.
- Phương pháp thu thập: phỏng vấn trực tiếp các bà m
bằng bộ câu hỏi. Điều tra viên (k sinh trùng/y tế
công cộng) quan sát và ghi nhận tình trạng vệ sinh môi
trường, dụng cụ chứa nước bằng bảng kiểm.
2.5. Phân tích s liu
- Quản lý số liệu: sliệu được nhập bằng phần mềm
Epidata 4.6.0.6 và phân tích bằng phần mềm Stata 17.
- Phân tích thống kê mô tả: tính tần số, tỉ lệ phần trăm
(%) cho các biến định tính.
2.6. Đạo đức trong nghiên cu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích
mục đích, quy trình nghiên cứu vào phiếu chấp
thuận tham gia tự nguyện. Thông tin cá nhân được
hóa và bảo mật.
N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
280 www.tapchiyhcd.vn
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm cá nhân ca các bà m có con dưi 15 tui
Bng 1. Đặc điểm cá nhân ca các bà m có con dưới 15 tui (n = 400)
Đặc điểm
Tần số
Số con hiện tại của các bà m
1 con
181
2 con
219
Nhóm tuổi
< 35 truổi
187
35 tuổi
213
Trình độ học vấn
Tiểu học
170
Trung học cơ sở
141
Trung học phổ thông
72
Đại học, trên đại học
17
Nghề nghiệp
Nông nghiệp
97
Buôn bán
85
Công nhân
48
Cán bộ, công nhân viên
37
Lao động tự do
133
Sổ hộ nghèo, cận nghèo
26
Không
374
Tỉ lệ bà mẹ 2 con là 54,7%, có 1 con là 45,3%. Về học vấn, tỉ lệ bà mẹ có trình độ học vấn tiểu học là 42,5%,
trung học sở 35,2%, tỉ lệ thấp nhất đại học và sau đại học chỉ chiếm 4,3%. Về nghề nghiệp, chiếm tỉ lệ
cao nhấtlao động tự do với 33,2%, làm nông nghiệp là 24,2%, làm công nhân là 12% và thấp nhất là đối tượng
cán bộ, công nhân viên chức là 9,3%. Tỉ lệ bà mẹ không có sổ hộ nghèo là 93,5% và có sổ hộ nghèo 6,5%.
3.2. Đánh giá thc hành phòng chng SXH Dengue ca bà m con dưới 15 tui
Bng 2. Bin pháp s dng thc hành phòng chng SXH Dengue (n = 400)
Thực hành phòng chống SXH Dengue
Tần số
Tỉ lệ (%)
Hỗ trợ gia đình hoạt động thực
hành phòng chống SXH Dengue
Chưa từng
37
9,3
Đã từng
363
90,7
Những biện pháp thực hiện
phòng, chống SXH Dengue
Vợt muỗi
37
9,3
Đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước
29
7,3
Nhang xua muỗi
98
24,5
Ngủ màn
274
68,5
Các bà mẹ đã từng giúp gia đình thực hành phòng chống SXH chiếm tỉ lệ 90,7%. Phương pháp phổ biến nhất là
ngủ màn (68,5%), sử dụng nhang xua muỗi (24,5%) và biện pháp đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước (7,3%).
Bng 3. S dng bin pháp thc hành dit loăng quăng (n = 400)
Biện pháp thực hành diệt loăng quăng
Tần số
Tỉ lệ (%)
Thực hiện diệt loăng quăng
363
90,7
Không
37
9,3
Biện pháp diệt loăng quăng
Thả cá
8
2,0
Dọn cây cối quanh n
26
6,5
Dọn dẹp vật phế thải quanh nhà
42
10,5
Không chứa nước mưa
8
2,0
Phát quang bụi rậm
26
6,5
Súc rửa dụng cụ chứa nước
17
4,3
Vệ sinh môi trường xung quanh
51
12,8
Úp dụng cụ chứa nưc
59
14,8
Đậy kín dụng cụ chứa nước
126
31,5
N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
281
Những bà mẹ có thực hiện biện pháp diệt loăng quăng
để phòng chống SXH có tỉ lệ 90,7%. Những biện pháp
diệt loăng quăng phổ biến nhất là đậy kín dụng cụ chứa
nước (31,5%), kế đến là biện pháp úp dụng cụ chứa
nước khi không dùng (14,8%), vsinh môi trường xung
quanh (12,8%), dọn dẹp vật phế thải quanh nhà
(10,5%), không chứa nước mưa thả các biện
pháp ít phổ biến nhất với tỉ lệ 2% mỗi biện pháp.
Bng 4. Mc thi gian kim tra dng c chứa nước
và diệt loăng quăng (n = 400)
Thời gian kiểm tra
và diệt loăng quăng
Tần số
Tỉ lệ (%)
Khoảng 1 tuần/lần
363
90,7
Hơn 2 tuần/lần
37
9,3
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng 1 lần/tuần đa số
các mẹ kiểm tra dụng cụ chứa nước diệt loăng
quăng 1 lần với tỉ lệ 90,7%.
Bng 5. Cách x trí khi nghi ng người thân mc
SXH Dengue (n = 400)
Cách xử trí
Tần số
Tỉ lệ (%)
Đưa đến cơ sở y tế gần nhất
297
74,2
Tự mua thuốc uống
85
21,3
Cạo gió
8
2,0
Không làm gì cả
8
2,0
Cách khác
2
0,5
Đa số các mẹ đều đưa người thân nghi ngờ mắc bệnh
SXH Dengue đến cơ sở y tế gần nhất (74,2%), các biện
pháp cạo gió và không làm gì đều có tỉ lệ 2%.
Bng 6. Thc hành ca m con dưới 15 tui
trong phòng chng SXH Dengue (n = 400)
Đặc điểm
Tần số
Tỉ lệ (%)
Thực hành tốt
326
81,5
Thực hành không tốt
74
18,5
Những mẹ con dưới 15 tuổi thực hành tốt về
phòng chống SXH Dengue tỉ lệ khá cao (81,5%), tỉ
lệ thực hành về phòng chống SXH Dengue không
đạt là 18,5%.
4. BÀN LUN
4.1. Thc hành phòng, chng SXH Dengue ca
m có con dưới 15 tui
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực
hành phòng chống SXH Dengue của các bà mẹ có con
dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
năm 2024. Kết quả nổi bật là tỉ lệ mẹ có thực hành
chung được đánh giá tốt đạt 81,5%. Tỉ lệ này cao hơn
đáng kể so với nhiều nghiên cứu khác trên người dân
tại các địa phương như Long Xuyên, An Giang (57,1%)
[4], Giai Xuân, Cần T(71,2%) [5], hay phường
Đằng Giang, Hải Phòng (57,5%) [7]. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với tỉ lệ thực hành
đúng 33,3% trong nghiên cứu của Rong Trung Tuyến
tại Bình Phước năm 2018 [11]. Tuy nhiên, tỉ lệ thực
hành tốt tại thành phố VThanh lại khá tương đồng với
kết quả nghiên cứu trên công nhân tại thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dương (79,72%) [6]. Sự khác biệt về kết quả
thể do đặc thù của đối tượng nghiên cứu các
mẹ nên thể ý thức phòng bệnh cho con cao hơn.
Do đó để đạt hiệu quả trong xây dựng chương trình y
tế từng địa phương, các yếu tố kinh tế - hội văn
hóa khác cũng cần được tìm hiểu sâu hơn để kết quả về
KAP cao hơn.
4.2. Thc hành các bin pháp phòng chng muỗi đốt
và dit loăng quăng
Phân tích các biện pháp cụ thể cho thấy, ngủ màn là
biện pháp phòng muỗi đốt phổ biến nhất (68,5%),
nhưng tlệ này vẫn thấp hơn ghi nhận 92,2% tại Hải
Phòng [8]; và nhang muỗi được sử dụng khá nhiều
(24,5%) do các bà mẹ đã sẵn có nhang muỗi trong nhà
với giá cả hợp lý.
Về diệt loăng quăng, hầu hết mẹ (90,7%) đều thực
hiện được tần suất kiểm tra, diệt loăng quăng hàng
tuần đạt tỉ lệ cao (90,7%), điều này thể hiện nhận thức
tốt về vai trò của việc diệt loăng quăng. Đậy kín dụng
cụ chứa nước là phương pháp được áp dụng nhiều nhất
(31,5%), cùng với việc úp dụng cụ không dùng (14,8%)
vệ sinh môi trường (12,8%). Các biện pháp này hoàn
toàn phù hợp theo hướng dẫn của Bộ Y tế [1]. Tuy
nhiên, các biện pháp rất ít được áp dụng như thả
(2%) hay không trữ nước mưa (2%), điều này cho thấy
mẹ thực hành còn hạn chế một phần nào do chưa
hiểu hết về con đường sinh sản của muỗi Aedes aegypti.
4.3 Thc hành x trí khi nghi ng mc bnh
Việc đa số bà mẹ (74,2%) chọn đưa người thân đến cơ
sở y tế khi nghi ngờ mắc SXH Dengue phù hợp với
khuyến cáo. Tuy nhiên, với tỉ lệ 21,3% chọn cách tự
mua thuốc đáng lo ngại, hành vi này có thể dẫn đến
chậm trễ trong chẩn đoán điều trị đúng cách, tiềm ẩn
nguy biến chứng nặng góp phần vào nh trạng
kháng thuốc [1], [3]. vậy cần nhấn mạnh hơn nữa
trong truyền thông để người dân nhận biết dấu hiệu
bệnh; còn phải đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc không tý dùng thuốc, mà phải đến ngay
sở y tế để được khám, chẩn đoán và tư vấn điều trị đúng
cách khi nghi ngờ mắc SXH Dengue.
5. KT LUN
Thực hành phòng chống SXH Dengue của mẹ tại
thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang ở mức khá tốt về
tổng thể, nhưng còn tồn tại những hạn chế trong việc
áp dụng một số biện pháp phòng chống dịch cụ thể
cách xử trí ban đầu cho trẻ của các bà mẹ. Tỉ lệ bà mẹ
con dưới 15 tuổi đạt thực hành tốt về phòng chống
SXH Dengue 81,5%; đa số mẹ (90,7%) thực
hiện các biện pháp diệt loăng quăng, trong đó phổ biến
nhất đậy kín các dụng cụ chứa nước (31,5%). Tuy
nhiên, c biện pháp như thả hoặc không trữ nước
mưa lại rất ít được áp dụng (chỉ 2%).