
N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
277
KNOWLEDGE, PRACTICE ON DENGUE FEVER PREVENTION OF
MOTHERS WITH CHILDREN UNDER 5 YEARS OLD IN VI THANH CITY,
HAU GIANG PROVINCE, 2024
Nguyen Thanh Binh1, Nguyen Van Lanh2*, Nguyen Kim Khanh Tien3, Pham My Linh4
1Nga Bay city Medical Center - 228, 30/4 road, Nga Bay city, Hau Giang province, Vietnam
2Can Tho University of Medicine and Pharmacy - 179 Nguyen Van Cu, Ninh Kieu district, Can Tho city, Vietnam
3Vo Truong Toan University - National Highway 1A, Tan Phu Thanh commune, Chau Thanh A district,
Hau Giang province, Vietnam
4Vi Thanh city Medical Center - 176, 1/5 road, Vi Thanh city, Hau Giang province, Vietnam
Received: 21/4/2025
Reviced: 03/5/2025; Accepted: 17/5/2025
ABSTRACT
Objective: To determine the proportion of proper dengue fever prevention practices and related
factors among mothers with children under 15 years of age in Vi Thanh city, Hau Giang province in
2024.
Method: A cross-sectional study was conducted from April 2024 to October 2024 among 400
mothers with children under 15 residing in Vi Thanh city, Hau Giang province, using structured
questionnaires and observational checklists.
Results: The proportion of mothers with good dengue fever prevention practices was 81.5%; most
mothers (90.7%) reported performing larvae elimination measures and checking water containers
weekly, with covering water containers being the most common method (31.5%). When suspecting
illness, 74.2% chose to seek care at health facilities.
Conclusion: The dengue prevention practices of mothers in Vi Thanh are generally quite good
overall, but limitations remain in the application of some specific control measures and the mothers’
initial management approach for their children.
Keywords: Dengue fever, prevention practices, Vi Thanh city.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
*Corresponding author
Email: nvlanh@ctump.edu.vn Phone: (+84) 939539996 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD8.2593

N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
278 www.tapchiyhcd.vn
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT
DENGUE CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 15 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VỊ THANH,
TỈNH HẬU GIANG, NĂM 2024
Nguyễn Thanh Bình1, Nguyễn Văn Lành2*, Nguyễn Kim Khánh Tiên3, Phạm Mỹ Linh4
1Trung tâm Y tế thành phố Ngã Bảy - 228, đường 30/4, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, Việt Nam
2Trường Đại học Y Dược Cần Thơ - 179 Nguyễn Văn Cừ, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, Việt Nam
3Trường Đại học Võ Trường Toản - Quốc lộ 1A, xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, Việt Nam
4Trung Tâm Y tế thành phố Vị Thanh - 176, đường 1/5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang, Việt Nam
Ngày nhận bài: 21/4/2025
Ngày chỉnh sửa: 03/5/2025; Ngày duyệt đăng: 17/5/2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue và các yếu tố liên quan của
bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang năm 2024.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 400 bà mẹ có con dưới 15 tuổi đang
sinh sống tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024, thông qua
phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc và quan sát bằng bảng kiểm.
Kết quả: Tỉ lệ bà mẹ có thực hành tốt về phòng chống sốt xuất huyết Dengue là 81,5%; đa số bà mẹ
(90,7%) cho biết có thực hiện các biện pháp diệt loăng quăng và kiểm tra dụng cụ chứa nước hàng
tuần, trong đó đậy kín dụng cụ chứa nước là biện pháp phổ biến nhất (31,5%). Khi nghi ngờ mắc
bệnh, 74,2% bà mẹ chọn đưa người thân đến cơ sở y tế.
Kết luận: Thực hành phòng chống sốt xuất huyết Dengue của bà mẹ tại Vị Thanh ở mức khá tốt về
tổng thể, nhưng còn tồn tại những hạn chế trong việc áp dụng một số biện pháp phòng chống dịch cụ
thể và cách xử trí ban đầu cho trẻ của các bà mẹ.
Từ khóa: Sốt xuất huyết, thực hành phòng chống sốt xuất huyết, thành phố Vị Thanh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm do virus
Dengue gây ra và lây truyền chủ yếu qua vật chủ trung
gian là muỗi Aedes aegypti [1]. Tổ chức Y tế Thế giới
nhấn mạnh mối quan tâm lớn về sức khỏe cộng đồng
trên phạm vi toàn cầu khi sự gia tăng đáng kể về số ca
mắc và tử vong mà sốt xuất huyết (SXH) Dengue gây
ra cho nhiều quốc gia trên toàn thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng trong những thập kỷ qua [2].
Tại Việt Nam, SXH Dengue là một vấn đề sức khỏe lớn
và là nguyên nhân hàng đầu gây nhập viện lên tới
1.000.866 ca mắc được báo cáo từ năm 1991-2004, cao
nhất khu vực Tây Thái Bình Dương (UC & Rachna,
2008). Trong suốt những năm qua, phòng chống dịch
SXH là một trong những vấn đề sức khỏe ưu tiên. Hiện
nay, tỉ lệ mắc SXH cao nhất là khu vực phía Nam chiếm
51,2%, khu vực miền Bắc chiếm 31,3%, khu vực miền
Trung chiếm 14,3% và khu vực Tây Nguyên chiếm
3,2% [3]. SXH đã gây ra một gánh nặng kinh tế lớn đối
với Việt Nam nói chung và người dân nói riêng.
Tại Việt Nam, SXH Dengue là một trong những bệnh
truyền nhiễm có xu hướng tăng cao từ tháng 5 đến
tháng 11 hàng năm, vì vậy công tác chủ động triển khai
các biện pháp phòng chống trước mùa dịch được coi là
quan trọng hàng đầu [3]. Tình hình dịch bệnh có sự
khác biệt giữa các quốc gia và các vùng miền, điều này
không chỉ gây áp lực lên hệ thống y tế mà còn ảnh
hưởng đến kinh tế - xã hội [2-3].
Khu vực phía Nam, trong đó có đồng bằng sông Cửu
Long là nơi xuất hiện dịch bệnh SXH Dengue quanh
năm. Tại 20 tỉnh, thành phố khu vực phía Nam, theo
báo cáo của Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, tính
đến ngày 29/5/2022 ghi nhận 33.423 ca mắc, tăng 55%
so cùng kỳ 2021 (21.656 ca).
Công tác phòng chống SXH Dengue để đạt được hiệu
quả tại cộng đồng luôn đòi hỏi sự hiểu biết và việc thực
hành đúng của người dân. Nhiều nghiên cứu về kiến
thức, thái độ, thực hành (KAP) phòng chống SXH
Dengue đã được thực hiện tại các địa phương khác nhau
ở Việt Nam. Một nghiên cứu tại phường Đông Xuyên,
thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang năm 2021 cho
thấy tỉ lệ kiến thức đúng chỉ đạt 46,6% và thực hành
*Tác giả liên hệ
Email: nvlanh@ctump.edu.vn Điện thoại: (+84) 939539996 Https://doi.org/10.52163/yhc.v66iCD8.2593

N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
279
đúng là 57,1% [4]; bên cạnh đó, nghiên cứu tại xã Giai
Xuân, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ năm
2021 lại cho tỉ lệ kiến thức đúng là 65,2% và thực hành
đúng là 71,2% [5]; khảo sát trên công nhân tại thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương năm 2023 cho thấy tỉ lệ
kiến thức đúng 74,65% và thực hành đúng 79,72% [6];
nghiên cứu tại phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền,
Hải Phòng năm 2019 ghi nhận chỉ 54% người dân có
kiến thức đạt và 57,5% có thực hành đạt về phòng
chống bệnh, tỉ lệ cao đồng thuận với việc thu dọn
(87,7%) và đậy kín dụng cụ chứa nước (89,5%), kiến
thức về các khía cạnh cụ thể như đường lây truyền hay
thời gian muỗi hoạt động vẫn còn thấp ở một bộ phận
không nhỏ người dân [7]. Ngoài ra, các yếu tố như trình
độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn thông tin cũng được
xác định là có liên quan đến KAP của người dân trong
nhiều nghiên cứu [5], [7-9].
Các bà mẹ là người đóng vai trò chính trong việc chăm
sóc và phòng bệnh cho trẻ em. Việc các bà mẹ hiểu rõ
KAP về phòng chống SXH Dengue là rất quan trọng để
có can thiệp phù hợp [8], [10]. Tuy nhiên, sự khác biệt
về KAP giữa các vùng miền cho thấy sự cần thiết phải
có dữ liệu tại chỗ. Hiện chưa có nghiên cứu nào được
công bố về KAP phòng chống SXH Dengue của bà mẹ
có con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu
Giang. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu kiến
thức, thực hành về phòng chống bệnh SXH Dengue của
bà mẹ có con dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh
Hậu Giang năm 2024 nhằm xác định tỉ lệ bà mẹ có con
dưới 15 tuổi thực hành đúng về phòng, chống bệnh
SXH Dengue tại địa bàn nghiên cứu.
2. ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang.
2.2. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ có con dưới 15 tuổi hiện đang sinh sống tại
thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: bà mẹ có con dưới 15 tuổi (tính
tuổi dương lịch), thường trú tại thành phố Vị Thanh ít
nhất 6 tháng trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ: bà mẹ không thể trả lời phỏng vấn
(bị câm, điếc, tâm thần), vắng mặt 2 lần khi đến phỏng
vấn, những bà mẹ không trực tiếp nuôi con.
2.2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 4/2024 đến tháng 10/2024.
- Địa điểm: các phường, xã trên địa bàn thành phố Vị
Thanh.
2.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.1. Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu theo ước lượng một tỉ
lệ của một quần thể:
n = Z21-α/2 × p × (1 - p)/d2
Trong đó: n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu; α là xác
suất sai lầm loại I (α = 0,05); Z là trị số từ phân phối
chuẩn (Z21-α/2 = 1,96 với khoảng tin cậy 95%); p là tỉ lệ
ước lượng biến kết cuộc trong dân số; d là độ chính xác
(sai số cho php), d = 0,05.
Chúng tôi chọn p = 0,333 dựa theo nghiên cứu của
Rong Trung Tuyến về kiến thức, thái độ và thực hành
của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Bình Phước năm 2018,
kết quả có 33,3% bà mẹ có con dưới 5 tuổi thực hành
đúng về phòng chống sốt xuất huyết [11].
Thay các tham số vào công thức, tính được n = 342.
Dự trù mất mẫu 10%, sẽ có cỡ mẫu tối thiểu nghiên cứu
là 380.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập được 400 bà
mẹ có con dưới 15 tuổi trên địa bàn.
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu
- Tiến hành chọn mẫu theo từng giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Lập danh sách 4 xã và 5 phường của
thành phố Vị Thanh, chọn ngẫu nhiên 1 xã (xã Tân
Tiến) và 1 phường (phường V) để tiến hành nghiên cứu.
+ Giai đoạn 2: Tại mỗi đơn vị xã, phường được
chọn, lập danh sách bà mẹ có con dưới 15 tuổi trong
từng ấp của xã Tân Tiến kèm theo số bà mẹ có con dưới
15 tuổi cộng dồn của xã (tổng số bà mẹ có con dưới 15
tuổi ở xã Tân Tiến là 1629); và danh sách số bà mẹ có
con dưới 15 tuổi từng khu vực của phường V, kèm theo
số bà mẹ có con dưới 15 tuổi cộng dồn của phường
(tổng bà mẹ có con dưới 15 tuổi ở phường V là 1510).
- Phân bổ cỡ mẫu: chọn 200 bà mẹ từ xã Tân Tiến và
200 bà mẹ từ phường V.
2.4. Thu thập số liệu
- Công cụ thu thập: bộ câu hỏi cấu trúc soạn sẵn về kiến
thức và thực hành phòng chống SXH Dengue đã được
hiệu chỉnh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu, bảng
kiểm quan sát vệ sinh môi trường và các dụng cụ chứa
nước tại hộ gia đình.
- Phương pháp thu thập: phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ
bằng bộ câu hỏi. Điều tra viên (kỹ sư ký sinh trùng/y tế
công cộng) quan sát và ghi nhận tình trạng vệ sinh môi
trường, dụng cụ chứa nước bằng bảng kiểm.
2.5. Phân tích số liệu
- Quản lý số liệu: số liệu được nhập bằng phần mềm
Epidata 4.6.0.6 và phân tích bằng phần mềm Stata 17.
- Phân tích thống kê mô tả: tính tần số, tỉ lệ phần trăm
(%) cho các biến định tính.
2.6. Đạo đức trong nghiên cứu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích
rõ mục đích, quy trình nghiên cứu và ký vào phiếu chấp
thuận tham gia tự nguyện. Thông tin cá nhân được mã
hóa và bảo mật.

N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
280 www.tapchiyhcd.vn
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm cá nhân của các bà mẹ có con dưới 15 tuổi
Bảng 1. Đặc điểm cá nhân của các bà mẹ có con dưới 15 tuổi (n = 400)
Đặc điểm
Tần số
Tỉ lệ (%)
Số con hiện tại của các bà mẹ
1 con
181
45,3
≥ 2 con
219
54,7
Nhóm tuổi
< 35 truổi
187
46,7
≥ 35 tuổi
213
53,3
Trình độ học vấn
Tiểu học
170
42,5
Trung học cơ sở
141
35,2
Trung học phổ thông
72
18,0
Đại học, trên đại học
17
4,3
Nghề nghiệp
Nông nghiệp
97
24,2
Buôn bán
85
21,3
Công nhân
48
12,0
Cán bộ, công nhân viên
37
9,3
Lao động tự do
133
33,2
Sổ hộ nghèo, cận nghèo
Có
26
6,5
Không
374
93,5
Tỉ lệ bà mẹ có ≥ 2 con là 54,7%, có 1 con là 45,3%. Về học vấn, tỉ lệ bà mẹ có trình độ học vấn tiểu học là 42,5%,
trung học cơ sở là 35,2%, tỉ lệ thấp nhất là đại học và sau đại học chỉ chiếm 4,3%. Về nghề nghiệp, chiếm tỉ lệ
cao nhất là lao động tự do với 33,2%, làm nông nghiệp là 24,2%, làm công nhân là 12% và thấp nhất là đối tượng
cán bộ, công nhân viên chức là 9,3%. Tỉ lệ bà mẹ không có sổ hộ nghèo là 93,5% và có sổ hộ nghèo là 6,5%.
3.2. Đánh giá thực hành phòng chống SXH Dengue của bà mẹ có con dưới 15 tuổi
Bảng 2. Biện pháp sử dụng thực hành phòng chống SXH Dengue (n = 400)
Thực hành phòng chống SXH Dengue
Tần số
Tỉ lệ (%)
Hỗ trợ gia đình hoạt động thực
hành phòng chống SXH Dengue
Chưa từng
37
9,3
Đã từng
363
90,7
Những biện pháp thực hiện
phòng, chống SXH Dengue
Vợt muỗi
37
9,3
Đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước
29
7,3
Nhang xua muỗi
98
24,5
Ngủ màn
274
68,5
Các bà mẹ đã từng giúp gia đình thực hành phòng chống SXH chiếm tỉ lệ 90,7%. Phương pháp phổ biến nhất là
ngủ màn (68,5%), sử dụng nhang xua muỗi (24,5%) và biện pháp đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước (7,3%).
Bảng 3. Sử dụng biện pháp thực hành diệt loăng quăng (n = 400)
Biện pháp thực hành diệt loăng quăng
Tần số
Tỉ lệ (%)
Thực hiện diệt loăng quăng
Có
363
90,7
Không
37
9,3
Biện pháp diệt loăng quăng
Thả cá
8
2,0
Dọn cây cối quanh nhà
26
6,5
Dọn dẹp vật phế thải quanh nhà
42
10,5
Không chứa nước mưa
8
2,0
Phát quang bụi rậm
26
6,5
Súc rửa dụng cụ chứa nước
17
4,3
Vệ sinh môi trường xung quanh
51
12,8
Úp dụng cụ chứa nước
59
14,8
Đậy kín dụng cụ chứa nước
126
31,5

N.V. Lanh et al / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, Special Issue 8, 277-282
281
Những bà mẹ có thực hiện biện pháp diệt loăng quăng
để phòng chống SXH có tỉ lệ 90,7%. Những biện pháp
diệt loăng quăng phổ biến nhất là đậy kín dụng cụ chứa
nước (31,5%), kế đến là biện pháp úp dụng cụ chứa
nước khi không dùng (14,8%), vệ sinh môi trường xung
quanh (12,8%), dọn dẹp vật phế thải quanh nhà
(10,5%), không chứa nước mưa và thả cá là các biện
pháp ít phổ biến nhất với tỉ lệ 2% mỗi biện pháp.
Bảng 4. Mốc thời gian kiểm tra dụng cụ chứa nước
và diệt loăng quăng (n = 400)
Thời gian kiểm tra
và diệt loăng quăng
Tần số
Tỉ lệ (%)
Khoảng 1 tuần/lần
363
90,7
Hơn 2 tuần/lần
37
9,3
Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoảng 1 lần/tuần đa số
các bà mẹ kiểm tra dụng cụ chứa nước và diệt loăng
quăng 1 lần với tỉ lệ 90,7%.
Bảng 5. Cách xử trí khi nghi ngờ người thân mắc
SXH Dengue (n = 400)
Cách xử trí
Tần số
Tỉ lệ (%)
Đưa đến cơ sở y tế gần nhất
297
74,2
Tự mua thuốc uống
85
21,3
Cạo gió
8
2,0
Không làm gì cả
8
2,0
Cách khác
2
0,5
Đa số các bà mẹ đều đưa người thân nghi ngờ mắc bệnh
SXH Dengue đến cơ sở y tế gần nhất (74,2%), các biện
pháp cạo gió và không làm gì đều có tỉ lệ 2%.
Bảng 6. Thực hành của bà mẹ có con dưới 15 tuổi
trong phòng chống SXH Dengue (n = 400)
Đặc điểm
Tần số
Tỉ lệ (%)
Thực hành tốt
326
81,5
Thực hành không tốt
74
18,5
Những bà mẹ có con dưới 15 tuổi có thực hành tốt về
phòng chống SXH Dengue có tỉ lệ khá cao (81,5%), tỉ
lệ có thực hành về phòng chống SXH Dengue không
đạt là 18,5%.
4. BÀN LUẬN
4.1. Thực hành phòng, chống SXH Dengue của bà
mẹ có con dưới 15 tuổi
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực
hành phòng chống SXH Dengue của các bà mẹ có con
dưới 15 tuổi tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang
năm 2024. Kết quả nổi bật là tỉ lệ bà mẹ có thực hành
chung được đánh giá là tốt đạt 81,5%. Tỉ lệ này cao hơn
đáng kể so với nhiều nghiên cứu khác trên người dân
tại các địa phương như Long Xuyên, An Giang (57,1%)
[4], xã Giai Xuân, Cần Thơ (71,2%) [5], hay phường
Đằng Giang, Hải Phòng (57,5%) [7]. Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với tỉ lệ thực hành
đúng 33,3% trong nghiên cứu của Rong Trung Tuyến
tại Bình Phước năm 2018 [11]. Tuy nhiên, tỉ lệ thực
hành tốt tại thành phố Vị Thanh lại khá tương đồng với
kết quả nghiên cứu trên công nhân tại thành phố Dĩ An,
tỉnh Bình Dương (79,72%) [6]. Sự khác biệt về kết quả
có thể do đặc thù của đối tượng nghiên cứu là các bà
mẹ nên có thể có ý thức phòng bệnh cho con cao hơn.
Do đó để đạt hiệu quả trong xây dựng chương trình y
tế từng địa phương, các yếu tố kinh tế - xã hội và văn
hóa khác cũng cần được tìm hiểu sâu hơn để kết quả về
KAP cao hơn.
4.2. Thực hành các biện pháp phòng chống muỗi đốt
và diệt loăng quăng
Phân tích các biện pháp cụ thể cho thấy, ngủ màn là
biện pháp phòng muỗi đốt phổ biến nhất (68,5%),
nhưng tỉ lệ này vẫn thấp hơn ghi nhận 92,2% tại Hải
Phòng [8]; và nhang muỗi được sử dụng khá nhiều
(24,5%) do các bà mẹ đã sẵn có nhang muỗi trong nhà
với giá cả hợp lý.
Về diệt loăng quăng, hầu hết bà mẹ (90,7%) đều thực
hiện được và tần suất kiểm tra, diệt loăng quăng hàng
tuần đạt tỉ lệ cao (90,7%), điều này thể hiện nhận thức
tốt về vai trò của việc diệt loăng quăng. Đậy kín dụng
cụ chứa nước là phương pháp được áp dụng nhiều nhất
(31,5%), cùng với việc úp dụng cụ không dùng (14,8%)
và vệ sinh môi trường (12,8%). Các biện pháp này hoàn
toàn phù hợp theo hướng dẫn của Bộ Y tế [1]. Tuy
nhiên, các biện pháp rất ít được áp dụng như thả cá
(2%) hay không trữ nước mưa (2%), điều này cho thấy
bà mẹ thực hành còn hạn chế một phần nào do chưa
hiểu hết về con đường sinh sản của muỗi Aedes aegypti.
4.3 Thực hành xử trí khi nghi ngờ mắc bệnh
Việc đa số bà mẹ (74,2%) chọn đưa người thân đến cơ
sở y tế khi nghi ngờ mắc SXH Dengue là phù hợp với
khuyến cáo. Tuy nhiên, với tỉ lệ 21,3% chọn cách tự
mua thuốc là đáng lo ngại, hành vi này có thể dẫn đến
chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị đúng cách, tiềm ẩn
nguy cơ biến chứng nặng và góp phần vào tình trạng
kháng thuốc [1], [3]. Vì vậy cần nhấn mạnh hơn nữa
trong truyền thông để người dân nhận biết dấu hiệu
bệnh; và còn phải đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng
của việc không tự ý dùng thuốc, mà phải đến ngay cơ
sở y tế để được khám, chẩn đoán và tư vấn điều trị đúng
cách khi nghi ngờ mắc SXH Dengue.
5. KẾT LUẬN
Thực hành phòng chống SXH Dengue của bà mẹ tại
thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang ở mức khá tốt về
tổng thể, nhưng còn tồn tại những hạn chế trong việc
áp dụng một số biện pháp phòng chống dịch cụ thể và
cách xử trí ban đầu cho trẻ của các bà mẹ. Tỉ lệ bà mẹ
có con dưới 15 tuổi đạt thực hành tốt về phòng chống
SXH Dengue là 81,5%; đa số bà mẹ (90,7%) có thực
hiện các biện pháp diệt loăng quăng, trong đó phổ biến
nhất là đậy kín các dụng cụ chứa nước (31,5%). Tuy
nhiên, các biện pháp như thả cá hoặc không trữ nước
mưa lại rất ít được áp dụng (chỉ 2%).

