intTypePromotion=1
ADSENSE

Làm thế nào để tránh sai sót khi đo sinh học siêu âm

Chia sẻ: Nguyễn Văn H | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

50
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài báo này sẽ trình bày các bước đo sinh học bằng siêu âm và các cách làm giảm thiểu những sai sót này, dựa trên những thông tin phản hồi từ những nhân viên nhãn khoa của những cơ sở đông BN. Công suất khúc xạ của mắt người phụ thuộc vào 3 yếu tố: Công suất của giác mạc, công suất của thể thủy tinh (TTT), và chiều dài trục nhãn cầu. Sau phẫu thuật lấy TTT đục, chỉ còn 2 yếu tố liên quan là công suất của giác mạc và chiều dài trục nhãn cầu. Nếu biết cả 2 thông số này thì có thể tính được công suất nào của thể thủy tinh nhân tạo (IOL) sẽ cho sự chỉnh quang tốt nhất...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Làm thế nào để tránh sai sót khi đo sinh học siêu âm

3. Bài dịch<br /> <br /> LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH SAI SÓT KHI ĐO SINH HỌC<br /> SIÊU ÂM<br /> How to avoid mistakes in biometry<br /> NICK ASTBURY: Bệnh viện ĐH Tổng hợp Norfolk và Norwich, Colney Lane Norwich<br /> NR4 7UY, UK<br /> Balasubramanya Ramamurthy: Viện Mắt LV Prasad, Hyderabad 500 034, India.<br /> Tạp chí Community Eye Health, Tập 19, số 60, 12/2006)<br /> Người dịch: NGUYỄN CHÍ DŨNG<br /> Bệnh viện Mắt Trung ương<br /> Ngày 8/2/1950, Harold Ridley đã<br /> đặt IOL đầu tiên sau phẫu thuật lấy TTT<br /> ngoài bao. Sau phẫu thuật, công suất<br /> khúc xạ của mắt BN này là 24.0D/+6.0D x 300. Mặc dù sự chọn lựa<br /> của Ridley là rất sáng tạo nhưng BN<br /> không thoả mãn với lợi ích của việc đo<br /> sinh học thời đó.<br /> Hơn 50 năm sau, mặc dù có kỹ<br /> thuật tinh xảo và các phần mềm thông<br /> minh, nhưng ta thường gặp phải những<br /> sai số khi đo sinh học. Hầu hết những sai<br /> số này là có thể tránh được và hầu hết là<br /> do sai sót của con người. Bài báo này sẽ<br /> trình bày các bước đo sinh học bằng siêu<br /> âm và các cách làm giảm thiểu những sai<br /> sót này, dựa trên những thông tin phản<br /> hồi từ những nhân viên nhãn khoa của<br /> những cơ sở đông BN.<br /> <br /> Lời giới thiệu:<br /> Công suất khúc xạ của mắt người<br /> phụ thuộc vào 3 yếu tố: Công suất của<br /> giác mạc, công suất của thể thủy tinh<br /> (TTT), và chiều dài trục nhãn cầu. Sau<br /> phẫu thuật lấy TTT đục, chỉ còn 2 yếu tố<br /> liên quan là công suất của giác mạc và<br /> chiều dài trục nhãn cầu. Nếu biết cả 2<br /> thông số này thì có thể tính được công<br /> suất nào của thể thủy tinh nhân tạo (IOL)<br /> sẽ cho sự chỉnh quang tốt nhất. Đo sinh<br /> học bằng siêu âm là quy trình đo công<br /> suất của giác mạc (keratometry) và chiều<br /> dài trục nhãn cầu và sử dụng những số<br /> liệu này để xác định công suất lý tưởng<br /> của IOL. Nếu không thực hiện việc tính<br /> toán này, hoặc nếu tính không chính xác<br /> thì bệnh nhân (BN) có thể ra về với một<br /> tật khúc xạ đáng kể.<br /> <br /> 96<br /> <br /> Mặc dù việc đo sinh học chính xác<br /> là lý tưởng nhưng không phải lúc nào<br /> cũng có thể làm được. Tại cộng đồng nơi<br /> có tỷ lệ thấp về bất thường chiều dài trục<br /> nhãn cầu, đặt IOL có công suất chuẩn<br /> (trung bình) sẽ cho kết quả tốt cho ít nhất<br /> là 50% quần thể.<br /> CÁC BƯỚC CHỌN IOL ĐÚNG<br /> CÔNG SUẤT<br /> 1.<br /> Xác định nhu cầu về khúc xạ của<br /> BN<br /> Chính thị là mục tiêu đối với hầu<br /> hết BN, nhưng 1 số người có thể có lợi<br /> hơn để mắt thành cận thị nhẹ sau mổ<br /> (hoặc hiếm hơn là viễn thị) tuỳ thuộc vào<br /> ý thích của họ và khúc xạ của mắt kia.<br /> Lệch khúc xạ 2 mắt nên giữ ở mức dưới<br /> 3 Dioptry. Cần giải thích cho BN rõ về<br /> nhu cầu kính đọc sách và cho họ các lựa<br /> chọn thích hợp.<br /> 2.<br /> Đo chiều dài trục nhãn cầu<br /> Đo chiều dài trục nhãn cầu có khả<br /> năng lớn nhất gây sai số cho việc tính<br /> toán công suất IOL. Sử dụng siêu âm tiếp<br /> xúc A- scan là phương pháp kinh điển.<br /> Nó đo thời gian để siêu âm đi qua chiều<br /> dài nhãn cầu và chuyển đổi nó thành 1<br /> đường thẳng trên màn hình. Một phần<br /> của chùm sóng siêu âm phản hồi lại từ<br /> mỗi bề mặt của nhãn cầu: giác mạc, bao<br /> trước TTT, bao sau TTT và võng mạc.<br /> Sóng siêu âm phản hồi được chuyển<br /> thành hình ảnh cho thấy những đường<br /> thẳng nhọn (tín hiệu) phản ánh mỗi bề<br /> mặt. Khoảng cách từ tín hiệu âm của giác<br /> mạc tới tín hiệu âm của võng mạc trên<br /> màn hình cho biết chiều dài trục nhãn<br /> cầu.<br /> Mới đây, phương pháp đo giao<br /> thoa Laser không tiếp xúc được giới<br /> <br /> thiệu. Phương pháp này chính xác hơn<br /> khi phối hợp đo chiều dài trục nhãn cầu<br /> với đo độ cong giác mạc và cho phép sử<br /> dụng những công thức khác nhau, nhưng<br /> nó có thể không chính xác đối với những<br /> BN có đục TTT cực hoặc đục TTT đậm<br /> đặc hoặc loạn thị chéo. Nó cũng khá đắt.<br /> Tuy nhiên, phương pháp này rất thích<br /> hợp đối với 1 số trường hợp đặc biệt. Đó<br /> là những mắt quá ngắn, mắt quá dài với<br /> phình dãn cực sau nhãn cầu, những mắt<br /> có chứa dầu silicone và những mắt có<br /> IOL.<br /> Theo nguyên tắc, thực hiện đo sinh<br /> học bằng sử dụng đầu dò siêu âm tiếp<br /> xúc với giác mạc, nhưng cũng có thể sử<br /> dụng phương pháp đo không tiếp xúc.<br /> Với phương pháp này, người ta đặt 1 vỏ<br /> củng mạc giữa các mi mắt và phần trung<br /> tâm giác mạc của BN đang nằm ngửa.<br /> Phương pháp này tránh được bất cứ sự<br /> đè ép nào lên giác mạc (không làm chiều<br /> dài trục nhãn cầu ngắn đi) và cho ta<br /> những tín hiệu âm chất lượng cao, không<br /> bị biến đổi.<br /> Sự biểu thị của các tín hiệu sóng<br /> âm trong phương pháp đo bằng siêu âm<br /> A là rất quan trọng. Nếu các tín hiệu<br /> sóng âm không chính xác, chiều dài trục<br /> nhãn cầu sẽ bị đo ngắn đi. Hầu hết các<br /> máy đều dựa vào sự cố định nhãn cầu<br /> của BN vào 1 điểm- thường là đèn trên<br /> đầu dò. BN có thị lực kém, bất kể là do<br /> đục TTT hoặc do 1 bệnh lý nào khác<br /> thường cố định nhãn cầu kém chính xác<br /> hơn, và dễ cho những kết quả đo sai số<br /> hơn.<br /> Lời khuyên để đo được chính xác trục<br /> nhãn cầu sử dụng phương pháp tiếp xúc như<br /> sau:<br /> <br /> 97<br /> <br /> <br /> Đảm bảo rằng máy đo đã sẵn sàng<br /> và được đặt ở đúng chế độ vận tốc âm<br /> (có nghĩa là mắt đục TTT, mắt không có<br /> TTT hoặc mắt có IOL)<br /> <br /> Những tín hiệu sóng âm của giác<br /> mạc, bao trước và bao sau TTT, võng<br /> mạc cần được biểu hiện trên màn hình<br /> với biên độ tốt.<br /> <br /> Những biểu thị sai dọc theo dây<br /> thần kinh thị giác sẽ được nhận ra do<br /> không thấy tín hiệu âm của củng mạc.<br /> <br /> Kết quả đo cần được đặt ở mức<br /> thấp nhất để có thể đọc được kết quả rõ<br /> ràng.<br /> <br /> Cẩn thận khi đo chiều dài trục<br /> nhãn cầu, đặc biệt khi đo bằng đầu dò<br /> cầm tay và với BN không nằm yên.<br /> <br /> Không đè mạnh lên giác mạc vì<br /> thường gây ra sai số.<br /> <br /> <br /> Trung bình cứ 5-10 kết quả ổn<br /> định nhất sẽ cho độ lệch chuẩn thấp nhất<br /> (lý tưởng là 24,5 mm – 26 mm<br /> Holladay I<br /> > 26 mm<br /> SRK/T<br /> trục nhãn cầu mà thường làm nghiêng<br /> hoàng điểm khiến cho chùm sóng siêu<br /> âm bị phản hồi sai. Trong những trường<br /> hợp này, có thể cần phải đo thêm độ sâu<br /> của tiền phòng bằng siêu âm A cùng với<br /> đo độ sâu của dịch kính bằng siêu âm B .<br /> <br /> 5.<br /> <br /> Những mắt khó đo<br /> Đục TTT đậm đặc gây khó khăn vì<br /> chúng hấp thụ siêu âm khi nó đi qua. Đặt<br /> chế độ âm cao hơn có thể là cần thiết để<br /> đạt được tín hiệu âm đầy đủ trên màn<br /> hình. Phình dãn cực sau nhãn cầu ở<br /> những mắt cận thị không chỉ gây kéo dài<br /> <br /> 99<br /> <br /> a<br /> <br /> b<br /> <br /> d<br /> <br /> e<br /> <br /> f<br /> <br /> c<br /> <br /> Hình 2: Hình ảnh đo siêu âm A của mắt có thể thủy tinh<br /> <br /> Chú ý 5 tín hiệu âm có biên độ lớn<br /> và tín hiệu âm cao của võng mạc tách<br /> biệt khỏi tín hiệu âm của củng mạc.<br /> a)<br /> Tín hiệu âm của đầu dò và giác<br /> mạc<br /> b)<br /> Bao trước thể thủy tinh<br /> c)<br /> Bao sau thể thủy tinh<br /> d)<br /> Võng mạc<br /> e)<br /> Củng mạc<br /> f)<br /> Mỡ tổ chức hốc mắt<br /> <br /> Một số sai sót thường gặp (thu<br /> thập thông tin từ Vương quốc Anh và các<br /> Khoa Mắt ở nước ngoài):<br /> <br /> Chọn hằng số A sai<br /> <br /> Sử dụng sai công thức<br /> <br /> Nạp bằng tay số đo công suất giác<br /> mạc K sai<br /> <br /> Máy in kẹt và in sai kết quả đo<br /> <br /> Dán mác IOL sai<br /> <br /> Mổ nhầm BN ở phòng mổ<br /> <br /> Đặt phần quang học (optic) của<br /> IOL ngược<br /> <br /> Đặt nhầm số IOL (đặt số IOL<br /> +25,5D thay vì phải đặt số +22,5D hoặc<br /> đặt số IOL +30,0D thay vì phải đặt số +<br /> 3,0D)<br /> Một vài lỗi do thiếu trách nhiệm:<br /> <br /> Không đo sinh học bằng siêu âm<br /> <br /> Không có đơn kính hoặc không có<br /> máy đo tiêu cự của kính<br /> <br /> Không có đủ số công suất của IOL<br /> trong ngày<br /> <br /> 6.<br /> <br /> Tại sao lại có sai sót<br /> Dù cho máy móc có tốt đến đâu thì<br /> con người vẫn sẽ có những sai sót. Một<br /> số lý do như sau:<br /> <br /> Vội vàng<br /> <br /> Thiếu đào tạo hoặc không được<br /> hướng dẫn thích hợp<br /> <br /> Nhờ người khác đo<br /> <br /> Lỗi kỹ thuật (hiếm gặp)<br /> <br /> Sai sót của con người (thường gặp)<br /> <br /> 100<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2