intTypePromotion=1

Lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng

Chia sẻ: Le Thi Thuy Nga | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:36

0
159
lượt xem
51
download

Lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây,... Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng

  1. LUẬN ÁN TỐT NGHIỆP Lễ hội Quan Thế Âm Đà Nẵng
  2. MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................ ................................ ................................ .......................... 3 NỘI DUNG ................................ ................................ ................................ ...................... 4 I. Khái quát về lễ hội ....................................................................................................... 4 II. Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng................................................................................... 7 2.1. Khái quát về Quán Thế Âm bồ tát và Chùa Quán Thế Âm Đà Nẵng .................... 7 2.1.1. Quán Thế Âm bồ tát................................................................................................ 7 2.1.2. Chùa Quán Thế Âm Đà Nẵng .............................................................................. 11 2.2. Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng ................................ ................................ ............... 13 2.2.1. Xuất xứ của lễ hội................................ ................................................................. 13 2.2.2. Diễn biến lễ hội ..................................................................................................... 15 a. Phần lễ................................ ................................ ................................ ........................ 15 Hình ảnh phần lễ ................................................................ ................................ ........... 19 Hình ảnh phần hội ......................................................................................................... 25 2.2.3. Ý nghĩa của lễ hội Quán Thế Âm ......................................................................... 26 a. Những mặt đạt được................................................................................................... 28 b. Những mặt tồn tại....................................................................................................... 29 III. Lễ hội Quán Thế Âm ở Đà Nẵng trong không gian lễ hội Phật giáo Việt Nam ... 30 KẾT LUẬN ................................ ................................ ................................ .................... 33
  3. MỞ ĐẦU Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn vật, cỏ cây,... Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội, hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con người hạnh phúc. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế,... Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đ ặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, đ ịa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân. Lễ hội Quán Thế Âm - Đ à Nẵng là lễ hội mang sắc thái tôn giáo kết hợp với văn hoá dân tộc, là một trong 15 lễ hội lớn cấp quốc gia, được tổ chức khá quy mô và thu hút đông đảo lượng tín đồ phật tử hành hương và du khách tới tham quan. Chúng ta sẽ tìm hiểu đôi nét về lễ hội Quán Thế Âm - Đà Nẵng qua bài viết này.
  4. NỘI DUNG I. Khái quát về lễ hội Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: Thi bắn nỏ, đấu vật (hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Đ ịnh), thi bắn nỏ, ném còn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc),... ở các lễ hội của bà con dân tộc Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu được coi như tiêu biểu nhất. Trong lễ hội này, ngoài nghi lễ đâm trâu hiến tế hấp dẫn, ly kỳ còn có trò múa khiên, ném lao, đấu gậy. Các trò vui chơi giải trí ở lễ hội còn bao gồm những hoạt động văn hoá, xã hội khác như thi hát Quan họ, thi thổi cơm, chọi gà, dệt vải, đấu vật, đánh đu,... và đặc biệt nhất là thi đánh đu. Đánh đu không chỉ xuất hiện trong dịp lễ hội lớn mà còn là một trò vui chơi dân dã trong những ngày Tết ở khắp các làng xã. N gày xuân, người ta thường đi chơi đông hơn bình thường. Kẻ đi xa, người đi gần, trang phục lộng lẫy, hân hoan phấn khởi làm cho không khí đầu xuân càng thêm rạo rực. Có lẽ ai cũng muốn dành ít thời gian để vãn cảnh thiên nhiên đất trời, tận hưởng bầu không khí trong lành với m ùa xuân tươi đẹp. Họ đến với các di tích lịch sử, danh thắng, đền, chùa để tham dự các lễ hội truyền thống. Chỉ tính riêng tháng Giêng cũng đã có biết bao nhiêu lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc, những người có công chống giặc ngoại xâm như: Hội Đống Đa, kỷ niệm chiến thắng của vị anh hùng dân tộc Nguyễn H uệ và tưởng niệm các chiến sĩ vong trận trong đại chiến thắng Đống Đa vào
  5. ngày 5/1. Hội đền An Dương Vương (Cổ Loa Hà Nội) ngày 6/1 tưởng niệm Thục Phán người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; Hội đền Cửa Suốt (Quảng Ninh) tưởng niệm Trần Quốc Toản có công đánh đuổi giặc N guyên, hội đền Hạ Lôi (Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội “Cơm hòm” ở Phổ Y ên, Thái Nguyên ngày 6 tháng Giêng kỷ niệm người đàn bà vô danh thời Hậu Lê có công bày mưu đánh giặc Minh,... Cũng vào thời điểm này, du khách bốn phương về hội Hoa Vị Khê (Nam Đ ịnh) từ ngày 20 đ ến ngày 30 tháng Giêng để chiêm ngưỡng hoa, cây cảnh của làng nghề truyền thống Vị Khê, hội du xuân lễ bái cầu mong một năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh). Đặc biệt vào mùa này, du khách đổ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh hùng vĩ của đất nước và thử thách lòng thành của mình. Đến Hòa Bình để được xem hội Chơi hang, hội X ên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn La cùng thả hồn vào những cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban, đi chơi núi, du thuyền độc mộc trên thắng cảnh hồ Ba Bể. Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội Lồng Tồng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi núi chơi xuân, người K hơ me Nam Bộ có hội mừng năm mới,... Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. N ằm trong xu thế chung của cả nước, Đà Nẵng - thành phố xinh đẹp bên sông Hàn cũng là vùng đất có nhiều lễ hội đ ược diễn ra hàng năm. Du khách đến đây rất thích tham gia các lễ hội truyền thống, và là dịp để mỗi người gặp gỡ, gần gũi nhau, cùng cầu mong mưa thuận gió hoà, tổ tiên phù hộ và mong ước người thân gặp nhiều may mắn. Lễ hội ở Đ à Nẵng có nhiều điểm giống các vùng duyên hải Miền Trung, song cũng mang rất nhiều nét đặc trưng tạo nên vẻ đẹp rất riêng của miền đất này. Trong những ngày lễ hội, cả một vùng rực rỡ màu sắc, và rộn
  6. ràng những khúc hát cầu an, nhịp điệu bài chòi tha thiết. Các lễ hội của Đà N ẵng có từ rất xưa, được lưu truyền từ đời này sang đ ời khác, như Lễ hội Cầu N gư, Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội đình làng Hoà Mỹ, Lễ hội đình làng An H ải,... Qua thời gian, cũng có những lễ hội không còn nữa như Lễ rước Mục đồng, là lễ hội rất đặc biệt dành riêng cho trẻ chăn trâu, những đứa trẻ chân lấm đầu trần tinh nghịch. Không chỉ giữ gìn những lễ hội truyền thống, người Đ à N ẵng đã tạo cho mình một lễ hội mới dựa trên nền truyền thống là Lễ hội đua thuyền. Lễ hội này được tổ chức nào ngày quốc khánh 2/9 hằng năm trên dòng sông Hàn với hàng chục đội đua của các địa phương trong và ngoài thành phố. Đó thật sự là những ngày hội của non sông và cũng là ngày hội của lòng người. Lễ hội đã hiện diện trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân loại từ bao đời nay, lễ hội đã ăn sâu trong tâm thức người dân Việt Nam nói chung, người dân Đà Nẵng nói riêng. Lễ hội ở Đà Nẵng có thể được phân chia theo các d ạng thức sau: Lễ hội liên quan đến cuộc sống trong mối quan hệ với tự nhiên, lễ hội liên quan đ ến cuộc sống trong mối quan hệ với môi trường xã hội, lễ hội tôn giáo và văn hóa. Đ ặc biệt, Lễ hội tôn giáo là hệ thống lễ kỷ niệm ngày sinh của các đấng giáo chủ sáng lập ra tôn giáo như đ ức Chúa Jesus với lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh; đức Phật Thích Ca với lễ Phật Đản, đức Bồ Tát với lễ hội Quán Thế Âm,... ngày tưởng nhớ mẹ với lễ Vu Lan,... những lễ này được diễn ra hết sức long trọng, phần lễ được chú trọng hơn phần hội với những nghi thức truyền thống nghiêm túc. H iện nay, các hoạt động trong quá trình diễn ra lễ hội ngày càng được tổ chức phong phú hơn, đối tượng tham dự rộng rãi hơn, không chỉ hạn hẹp trong phạm vi những người có đạo mà còn dành cho cả những người ngoại đạo, nhất là lễ hội mang tính quốc gia như Lễ hội Quán Thế Âm (được ghi vào danh mục những ngày lễ hội lớn của cả nước, gắn với khu di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng). Trong những năm gần đây, lễ hội Quán Thế Âm đã
  7. thu hút hàng vạn người từ các vùng miền v ề tham dự. Hội trong các lễ hội tôn giáo có các hình thức sinh hoạt cộng đồng sinh động như các trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật, tái hiện các sự tích - truyền thuyết tôn giáo, rước cộ, xe hoa, thuyền hoa, phóng sinh, hoa đăng, thả diều, triển lãm thư pháp, trưng bày tranh ảnh nghệ thuật, cắm trại, ẩm thực dân gian,... Đ ặc biệt, được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố, các lễ hội tôn giáo khởi sắc hơn, phong phú đa dạng hơn, thu hút rất đông đảo du khách nội địa và nước ngo ài. II. Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng 2.1. Khái quát về Quán Thế Âm bồ tát và Chùa Quán Thế Âm Đà Nẵng 2.1.1. Quán Thế Âm bồ tát Q uán Thế Âm, tiếng Phạn là Avalokitesvara. Đó là vị bồ tát trong Phật giáo Bắc tông, mang hạnh nguyện cao cả: Đại từ đại bi, linh cảm ứng, tầm thinh cứu khổ . Do đại nguyện lớn lao này mà khi phiên âm tên Ngài là Quán Thế Âm, hàm nghĩa “lắng nghe âm thanh kêu cứu khổ nạn mà giúp đỡ”. Ngài còn được gọi dưới danh hiệu bồ tát Quán tự tại. Thế nào là Quán tự tại? Là ở nơi không hai lập cái thế. Không hai, tức không có ta và vật, không đây và đó, không khoảng cách, không chướng ngại, hoàn toàn tự do nên không gì là không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến được, đó là tự tại. Sự hóa hiện mầu nhiệm cùng với những đức năng được nhiều bản kinh Bắc truyền mô tả, Ngài được biểu trưng bằng những hình ảnh khác nhau như: Cửu diện Quán Âm, Thập nhất diện Quán Âm, Tống tử Quán Âm, Quán Âm thiên thủ thiên nhãn, N am Hải Quán Âm, Bạch y Quán Âm… N gày nay, Quán Thế Âm bồ tát được thờ phụng tại nhiều quốc gia dưới nhiều tên gọi khác nhau như Kannon, Kanzeon (Nhật Bản), Guan Yin, Guan Shiyin (Trung Quốc), Spyanrasgzigs (Tây Tạng), Nidubarusheckchi (Mông Cổ), Quan Âm (Việt Nam). Người Champa và Khmer gọi là Lokesvara. Quán Thế Âm bồ tát thể hiện tính “Bi” nên còn đ ược gọi là Phật Quan Âm, là bậc
  8. Đ ại Bi, cùng với Bát Nhã là hai dạng của Phật tính. Quán Thế Âm bồ tát cũng thể hiện nguyện lực của Phật A Di Đà và với lòng từ bi vô lượng, thể hiện sức mạnh huyền diệu, cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến người khi gặp hiểm nguy. Theo các nhà nghiên cứu, tín ngưỡng Quán Thế Âm phổ biến ở các nước theo Phật giáo Bắc tông. Người đầu tiên dịch kinh điển về tín ngưỡng Q uán Thế Âm là Chi Cương Lương Tiếp đã dịch kinh Pháp Hoa tam muội (6 quyển) năm 255 tại Giao Châu (Bắc Việt Nam) cùng với nhà sư Thích Đạo Thanh. Ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch Quán Thế Âm Phổ môn trong kinh Chính Pháp Hoa năm 286. Ngài Đàm Vô Kiệt dịch kinh Quán Thế Âm bồ tát thọ ký. Ngoài ra, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm, kinh Thập nhất diện Quán Thế Â m thần chú,… cũng đề cập đến Quán Thế Âm. Chính nhờ các bản kinh này đã làm cho tín ngưỡng Quán Thế Âm ngày càng phát triển rộng rãi. Theo kinh điển và truyền thuyết của Phật giáo Đại Thừa thì trong vô số các vị bồ tát được ngưỡng vọng và thờ tự phổ biến nhất có 4 vị là Văn Thù (Manjusri), Phổ Hiền (Samantabhadra), Địa Tạng (Ksitigarbha) và Quan Âm (Avalokitesvara). Bốn vị này có liên hệ sâu xa với chúng sinh ở cõi Ta Bà và khi truyền vào Trung Quốc, bốn vị bồ tát này cư ngụ nơi bốn đại danh sơn là N gũ Đ ài, Nga Mi, Phổ Đ à và Cửu Hoa. Đạo trường của Văn Thù bồ tát là núi N gũ Đ ài ở tỉnh Sơn Tây; đạo trường của Phổ Hiền bồ tát là núi Nga Mi ở tỉnh Tứ Xuyên; đạo trường của Địa Tạng Vương bồ tát là núi Cửu Hoa, thuộc tỉnh An Huy; còn đạo trường của Quan Thế Âm bồ tát là núi Nam H ải Phổ Đ à của tỉnh Triết Giang. Quán Thế Âm có bản nguyện và năng lực là quan sát và lắng nghe những âm thanh kêu gọi cứu khổ của chúng sinh mà mở lòng cứu độ chúng sinh trong mọi hoàn cảnh, tình huống khổ đau, hoạn nạn, hiểm nguy,… và nhiều sự nhiệm mầu khác. Cũng vì đó mà hàng Phật tử tôn kính, thờ tự, ngưỡng nguyện Ngài mọi lúc, mọi nơi trong sự độ trì của Ngài.
  9. Tiểu sử Quan Thế Âm bồ tát có nhiều, trong chính sử cũng có mà dã sử cũng có, tuy nhiên ở mỗi nơi một khác và được tạo dựng theo từng khung cảnh và tập quán của từng khu vực. Mỗi quốc gia lại có những truyền thuyết riêng, nhưng đ ều nhấn mạnh đến đức hy sinh và sự nhẫn nhục của Ngài trước khi thành đạo. Có chuyện cho rằng, bồ tát nguyên là con trưởng của một vị vua tại Ấn Độ, tên là Bất Tuân, cùng với cha và em theo Phật Thích Ca tu hành, sau được cải danh, vua cha thành Phật A Di Đ à, còn hai người con là hai vị bồ tát, một người là Quán Thế Âm, một người là Đ ại Thế Chí, ba cha con gọi là Tây Phương Tam Thánh. Ở Ấn Độ, nơi xuất phát đ ạo Phật, Quán Thế Âm đ ược biểu tượng qua hình ảnh một người nam. Về sau, khi du nhập vào Trung Quốc và một số quốc gia ở Đông Nam Á, Quán Thế Âm bồ tát lại mang hình tướng người nữ. Do đâu và vào thời kỳ nào mà Quán Thế Âm bồ tát từ hình tượng một người nam biến thành người nữ? Có nhiều ý kiến cho rằng, từ thế kỷ thứ V trở về trước, bồ tát được miêu tả như một người đàn ông với hình dáng rất thanh tú. N hưng từ thế kỷ thứ VIII trở đi thì Quan Thế Âm bồ tát được miêu tả như một người đ àn bà. Theo nhà sử học Trung Hoa Lý Bách D ược chuyên nghiên cứu về thời kỳ nhà Đường, viết trong Bắc Tề thư thì vào thời Nam Bắc Triều, vua Tề Võ Thành b ị bệnh, nằm mơ thấy Quán Thế Âm trong hình dáng một người đ àn bà đẹp. Việc nhà vua nằm m ơ đó không biết thực hư thế nào nhưng trước đời Đ ường, trong những bức họa của dân gian thì Quán Thế Âm bồ tát đã được vẽ thành hình một người đàn bà rồi. Từ giữa đến cuối thế kỷ thứ IX trở về sau, tại Trung Quốc, Quán Thế Âm bồ tát hoàn toàn được miêu tả dưới hình dáng một người phụ nữ cho tới ngày nay. Lý giải điều này, có người cho rằng, đạo Phật truyền vào Trung Quốc đã bị biến dạng, không còn như nguyên thủy, và ít nhiều pha trộn với những hình tượng tôn giáo bản xứ, trong đó lý thuyết âm dương được thêm vào, và bên cạnh chư Phật trong nam
  10. thân, có một vị Phật trong nữ thân đứng song song, nên Quán Thế Âm là nam nhân ở Ấn Độ khi truyền sang Trung Quốc đã thành nữ giới. Ở Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực châu Á như Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc là những quốc gia lấy nông nghiệp làm trọng, vì vậy cư dân nông nghiệp lúa nước có khuynh hướng trọng yếu tố phồn thực, sự sinh sôi, nảy nở, phát triển, và chỉ có người phụ nữ mới có khả năng làm được việc này. Vì vậy, xu hướng thờ thần nữ và trọng yếu tố âm đã trở nên phổ biến. Một nhà văn hóa học nổi tiếng đã cho rằng: Tính chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn các nữ thần. Và vì cái đ ích mà người Việt Nam h ướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các Bà Mẹ, các Mẫu. Q uán Thế Âm là biểu trưng cho vị bồ tát hóa độ xuyên suốt thời gian và không gian kể từ khi Đức Phật Thích Ca thị hiện ở cõi Ta Bà cho đến lúc Phật Di Lặc đản sinh và hơn thế nữa. Chí nguyện đó trở thành cơ sở cho niềm tin bất diệt trong tâm thức người Phật tử, vì vậy Đức Quán Âm có ý nghĩa như là toàn bộ giá trị thăng chứng trí tuệ, giác ngộ giải thoát, sự chứng đắc quả vị Phật, luôn hiện hữu trong mọi chúng sinh. Trong những khổ đau, hoạn nạn của cuộc sống, người ta thường cầu xin sự giúp đỡ và chở che nhiệm mầu của Đức Quán Âm, bởi họ cảm nhận Ngài luôn dõi mắt và lắng nghe từng nhịp đập con tim của họ chẳng khác người mẹ trông con. Vì thế mà Ngài trở thành mẹ hiền Quán Thế Âm, dân gian còn gọi là Phật Bà. Từ đó, nói đến “Quán Âm” là nói đ ến hiện thân của lòng từ bi cao cả, tột cùng của chư Phật và Bồ tát nhiều đời. Thậm chí, bất kỳ sự linh nghiệm nào mà người ta đón nhận đ ược từ trong khó khăn, nguy hiểm hay an vui, thuận lợi đều được xem là có sự cứu độ của Ngài. Và đó là vị bồ tát cứu giúp cho người sống cũng
  11. như cả cho người chết, nhưng trì niệm danh hiệu Ngài trong việc cầu an vẫn là phổ biến hơn cả. N iệm hồng danh của Ngài, tham gia vào việc tổ chức lễ hội nhân ngày vía Quán Thế Âm đ ã trở thành một lễ hội lớn, mang tính khu vực, vùng, chứ không còn nằm trong khuôn khổ của một ngôi chùa hay của một đạo Phật ở V iệt Nam nữa. Tính chất rộng mở của lễ hội cho thấy vị trí và tầm quan trọng của vị bồ tát này trong đời sống tâm linh của từng cá nhân và của cả cộng đồng. 2.1.2. Chùa Quán Thế Âm Đà Nẵng Chùa Quán Thế Âm được thành lập vào năm 1957, tọa lạc tại chân núi K im Sơn, một trong năm ngọn Ngũ Hành Sơn - TP. Đà Nẵng, là nơi danh lam thắng cảnh của đất nước. Đặc biệt, nơi đây được gọi là Thánh Địa Phật Giáo, vì hầu hết trên năm ngọn N gũ H ành Sơn đều có chùa chiền cổ kính hoặc tân tạo. Hệ thống hang động thiên nhiên kỳ vĩ, biển rộng sông dài, mái chùa hoặc ẩn mình trong hang cốc hoặc cheo leo trên sườn vai của núi hoặc uy nghiêm tọa lạc bên núi vững vàng, sương giáng mây vờn, tàng cây tươi mát, chim hót lừng vang. Phía Đ ông biển xa vời vợi, b ãi cát trải dài, phía Tây Trường Giang lượn khúc, sông sen thơm lừng, đồng quê yên ả. Chùa do cố H òa thượng Thích Pháp Nhãn trong một giấc thần mộng về N gài Quán Thế Âm ứng hiện nơi động thiêng, pháp đàn của Ngài. Theo đó, Hòa thượng đ ã tìm thấy ngôi thạch động có tôn tượng Quan Âm hoàn toàn do thiên nhiên tạo nên thật là ứng nghiệm, từ đó Hòa thượng đ ã thành lập ngôi chùa Quán Thế Âm, vì có sự nhiệm mầu của Phật Pháp như vậy khiến lòng người phải ngưỡng mộ kính tin. Chùa nằm nép m ình dưới ngọn núi Kim Sơn, soi bóng bên dòng sông Cổ Cò, một nhánh của sông Trường giang. K im Sơn có dáng hình quả chuông nên còn có tên dân dã là ngọn núi Chuông Úp. V ào năm 1956, cố hoà thượng
  12. Thích Pháp Nhãn có cơ duyên phát hiện ra một hang động nằm sâu trong lòng núi hướng ra dòng sông. Đường vào động là những bậc đá tự nhiên. Động có chiều d ài hơn năm chục mét, chiều ngang gần mười mét và trần động nhấp nhô cao thấp khoảng mười đến mười lăm mét, thuộc vào dạng hang động lớn của Ngũ Hành Sơn. Điều đặc biệt độc đáo trong hang động này là vô số các thạch nhũ đầy màu sắc, hình thể phong phú da dạng, trong đó có những tượng hình rất giống hình dáng thật, do thiên nhiên khắc hoạ với những hình khối đường nét rõ ràng sắc sảo, chẳng khác nào do những nghệ nhân tài hoa chạm trổ công phu. Bước vào động phía trước mặt ngước nhìn trên vách đá, nổi bật lên pho tượng Quan Thế Âm, là một vị Thánh trong Phật giáo. Pho tượng cao bằng hình người (1,75m), cân phân, thanh tú, một giải kim tuyến lấp lánh, rực sáng, bề ngang hơn gang tay phủ từ bờ vai chảy dài đến hết thân tượng, làm cho bức tượng hết sức sống động huyền ảo, bàn tay phải b ưng bình nước cam lồ, chân tượng đứng trên lưng rồng đang cuộn mình giữa tầng sóng gợn. Phía sau, hình một đứa bé tượng trưng Thiện Tài đồng tử. Phía trên, bên trái, hình con chim khổng tước hai cánh toả rộng trần động, bên phải là khóm trúc, sau lưng là m ột dải mây đ á ngũ sắc lung linh. Nhìn tổng thể, đây là một bức tượng phù điêu kết hợp hài hoà rất tài tình, gồm ba sự tích về Quán Thế Âm là Q uan Âm Nam Hải tức Quan Âm ở biển phương Nam, Quan Âm Tống Tử là Q uan Âm Thị Kính, Quan Âm hàng phục độc long (tức con rồng dữ) gây sóng gió ngoài biển khơi trong kinh Pháp Hoa. Đ iều đáng kinh ngạc và thán phục là chỉ với sự xâm thực nước gió cộng với thời tiết thiên nhiên đã tạo thành một tác phẩm phù điêu hoàn hảo, tuyệt mỹ đến từng chi tiết như đã mô tả. Đó là cái kỳ diệu vô giá của hang đ ộng Q uan Âm. Ở giữa tiếng như chuông ngân, đây là cái chuông đá lớn hiếm có và duy nhất tại di tích này, các chỗ trong hang động động từ trên vòm động, một khối thạch nhũ bằng cây cột lớn, dài hơn năm mét thòng xuống sát đất,
  13. gõ vào phát ra còn có trống, mõ, khánh âm thanh khá chuẩn, tạo thành một bộ nhạc khí trong nghi lễ của chùa Phật giáo, tất cả cũng chỉ từ đá sinh ra. Ở gần cuối hang động, là một hang động nhỏ, hơi cúi thấp người để đi qua một đ ường hang hơi hẹp sẽ gặp một hồ nước mát, trong vắt quanh năm gọi là nước Cam lồ. Hồ nước này có một khoảng không gian riêng, như một cái động nhỏ kế tiếp hang động chính vậy. Một điều khác nữa của hang động này, là không khí hang động vừa linh thiêng vừa huyền bí vừa trang nghiêm vừa thân thuộc, vừa như cái bên ngoài đời và cái bên trong cõi lòng. Một không khí của đạo, của đời hoà lẫn trong hơi thở, trong cảm xúc sống của con người. Là nhân tố hình thành nên ngôi chùa Quán Thế Âm và một Lễ hội văn hoá. Chùa Quán Thế Âm tọa lạc tại địa chỉ 48 Sư Vạn Hạnh, quận Ngũ H ành Sơn, thành phố Đ à Nẵng, trụ trì chùa hiện nay là Đ ại đức Thích Huệ V inh, cảnh quan chùa rộng rãi, nhiều công trình đ ược xây dựng như tượng đồng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm rất đặc sắc, hội trường, tăng xá,... thuận lợi cho việc tu tập và sinh hoạt, số tăng chúng tu học tại chùa gồm 40 vị, có các đạo tràng tu học - tương tế - từ thiện - văn nghệ, thư họa,... Ngôi chùa hiền hoà cổ kính, hang động thâm sâu huyền bí, là sự hổ tương cộng hưởng, tạo cho Ngũ Hành Sơn một sắc thái thiêng liêng sâu lắng, thanh thoát cao thượng cho tâm hồn, đó cũng là một bản sắc văn hoá đặc trưng. Sự thẩm thấu toả rộng theo dòng thời gian và hội tụ lòng ngưỡng mộ của con người trong tinh thần cộng đồng truyền thống dân tộc, từ đó hình thành nên một lễ hội văn hóa kết hợp giữa đời và đ ạo, là nhịp cầu giao ho à cảm thông giữa con người và thiên nhiên một quan hệ mật thiết muôn thuở. 2.2. Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng 2.2.1. Xuất xứ của lễ hội
  14. Chùa Quán Thế Âm có một phúc duyên lành lớn, diệu kỳ, đó là Đ ức Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện tôn tượng của Ngài m ột cách rất thiêng liêng mầu nhiệm tại thạch động chùa Quán Thế Âm, tượng hoàn toàn do thiên tạo ứng linh, vì lẽ đó, người có tín tâm thường đến nơi đây để cầu nguyện, nhất là ngày Đản sanh của Ngài 19/2 âm lịch hằng năm có đến hàng ngàn thập phương - thiện tín về đây chiêm bái, nguyện cầu. Chư tôn túc trong thành phố và chùa Quán Thế Âm đ ã tổ chức thành ngày Lễ hội Quán Thế Âm 19/2 hàng năm nhằm mục đích làm cho sự sinh họat này có ý nghĩa và thăng hoa hơn, để ho ằng dương Phật Pháp. Đây thật sự là lễ hội mang tính đ ặc thù của Phật giáo - dân tộc, tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật, thể hiện văn hóa Phật giáo hòa quyện với văn hóa dân tộc tự nghìn x ưa văn hiến, làm cho tính cách hữu ích thiện lợi của Phật giáo được thể hiện rõ nét trong xã hội, trong lòng người. Lễ hội này còn là dịp đ ể thiện tín tỏ lòng kính ngưỡng tri ân Đức Từ Bi cứu độ vô lượng của Ngài đối với chúng sanh, với tất cả chúng ta, học theo hạnh nguyện của Ngài làm những việc từ thiện, công đức. Lễ hội Quán Thế Âm trải qua nhiều giai đoạn, hoàn cảnh thăng trầm của đất nước, cũng như hội tụ đầy đủ những nhân tố phù hợp và có ý nghĩa về văn hoá lễ hội. Tại ngọn núi Thuỷ Sơn, có ngôi chùa Tam Thai - Linh ứng, nơi động Hoa Nghiêm vào năm 1957, tôn trí pho tượng bồ tát Quán Thế Âm bằng vật liệu xi măng. Năm 1960, nơi đây được giáo hội tổ chức lễ hội Quan Âm với nghi lễ thuần tuý tôn giáo và chỉ tổ chức một lần đó mà thôi. Lễ hội Quán Thế Âm đã đi vào lòng người, sự ngưỡng mộ của phật tử, người dân đối với đức Quán Thế Âm rất sâu rộng. Vào thập kỷ 90, cố Thượng toạ Thích Huệ H ướng, vị kế tục ngôi chùa Quán Thế Âm có ý nguyện khôi phục lại lễ hội. Vào thời điểm mà Unesco phát động thập kỷ văn hoá về nguồn, khuyến khích các dân tộc trên thế giới bảo vệ và phát huy gia tài văn hoá cổ truyền, để khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, xu thế toàn cầu hoá sẽ
  15. không mai một hay mất đi cái giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc mình. Cùng lúc trong nước các lễ hội đang phục hồi và phát triển mạnh mẽ rộng khắp. V ào năm 1991, chùa Quán Thế Âm quyết định phục hồi và tổ chức lễ hội tại địa điểm ngọn núi Kim Sơn của danh lam thắng cảnh Ngũ Hành Sơn, Một lễ hội thể hiện đúng tiêu chuẩn của lễ hội văn hoá, đó là phần Lễ và phần Hội. Đ ến năm 2000, Lễ hội Quán Thế Âm là một trong 15 Lễ hội của chương trình “Chào đón và điểm đến Thiên niên kỷ mới của Quốc gia”. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của Lễ hội ngày càng đông đảo Thập phương thiện tín về hành hương tham dự và tương xứng với tầm vóc của một Lễ hội tầm cỡ Q uốc gia, chùa Quán Thế Âm phát nguyện kiến tạo xây dựng công trình công viên thánh tích Lễ hội Quán Thế Âm 19/2 Ngũ H ành Sơn - TP. Đà N ẵng. Đặc biệt, sẽ kiến tạo một tôn tượng Quán Thế Âm lộ thiên được thực hiện theo công nghệ bằng chất liệu pha lê có chiều cao từ 12m đến 25m. 2.2.2. Diễn biến lễ hội Lễ hội Q uán Thế Âm diễn ra trong 3 ngày từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 2 âm lịch hàng năm. Cũng như bao lễ hội khác, lễ hội gồm có hai phần: Lễ và Hội. Phần lễ mang đậm màu sắc lễ nghi Phật giáo hoà quyện với phần hội là những sinh hoạt văn hoá cổ truyền đậm tính nhân văn và bản sắc văn hoá dân tộc. a. Phần lễ
  16. Trong các ngày lễ hội, phần nghi lễ tín ngưỡng được chư tăng, phật tử, tổ chức những khoá lễ nguyện cầu cho sự an lành đ ến với mọi người, nghi lễ thuần tuý trong sáng về tâm linh, hài hoà với phần văn hoá hội, thể hiện sự kết hợp nhịp nhàng giữa Lễ và Hội, một nét đẹp văn hoá đặc trưng của lễ hội Q uán Thế Âm. N gày 19/2 âm lịch, là ngày lễ chính thức Lễ Hội Quán Thế Âm, Từ sáng tinh mơ từng đo àn người từ khắp ngả đường đổ dồn về Ngũ Hành Sơn, mọi người hân hoan, náo nức về dự hội. Suốt một năm đợi chờ, vào mùa xuân lễ hội, là dịp về tham quan danh lam thắng cảnh, chiêm bái thánh tích, ngưỡng mộ Bồ Tát Quán Thế Âm, một không khí rộn rã nhộn nhịp, dâng tràn niềm tin và sâu lắng thiêng liêng, ngày hội Quán Thế Âm có một sức thu hút kỳ lạ, một nhu cầu tinh thần cần thiết đối với bà con Đà Nẵng cũng như có tín ngưỡng hướng về Đức Từ Bi Quán Thế Âm, một tình cảm như bà mẹ hiền bảo hộ chúng sanh. Trước lễ đài cờ hoa rực rỡ, tràn ngập người về dự lễ hội, nghiêm trang tề chỉnh, thành kính hướng về lễ đ ài, nơi tôn trí tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, Chư vị giáo phẩm Phật giáo, trong lễ phục màu vàng trang nghiêm, cùng quý vị đại biểu quan khách, theo sau đội lễ nhạc rước kiệu tiến lên lễ đài để trang trọng cử hành trọng thể nghi lễ chính thức lễ hội, tiếng kinh cầu nguyện của hàng vạn người, tưởng niệm ân đức của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, nguyện cầu quốc thái dân an, chúng sanh an lạc. Tiếng kinh cầu trầm bổng hoà âm vào khung cảnh thiên nhiên hùng v ĩ của sông núi, một nguồn cảm xúc vô biên tạo nên một giai điệu cộng hưởng của hàng vạn tâm hồn cùng nhau chan hoà vào không gian ngày hội và như thấm vào các ngọn núi của chất vị thiêng liêng, những ngọn núi này có chùa, có phật và có cả hồn thiêng sông núi.
  17. Chương trình đ ược tiếp nối với hoá trang Phúc Lộc Thọ hát chúc mừng lễ hội, chúc mừng chư vị Tăng Ni, quan khách, đồng bào, bà con phật tử về dự hội. Từng đoàn hoá trang các chủ đề văn hoá của các đo àn thể, đơn vị diễn qua lễ đ ài trong đ iệu nhạc và bài hát của lễ hội ca. Rồi từng đoàn người lần lượt lên lễ đài chiêm bái hình ảnh đức Quán Thế Âm, một điều mong ước tốt đẹp, hạnh phúc cho mình, trong giờ khắc linh thiêng nhiệm m àu của không khí ngày lễ hội. N hìn chung, phần lễ mang màu sắc lễ nghi Phật Giáo với các nội dung cụ thể như sau: - Lễ Khai kinh, Thượng kỳ, Thượng phan : Tổ chức vào sáng ngày 17/2 âm lịch, do chùa Quán Thế Âm và trại sinh trên địa b àn quận Ngũ Hành Sơn thực hiện. - Lễ tế xuân, cúng Sơn thần, Thổ thần: Lễ này cầu cho quốc thái dân an, được tổ chức vào lúc 17h30 ngày 17/2 âm lịch, do Hội Người cao tuổi phường Hòa H ải thực hiện. Trong ngày lễ, các bô lão khăn áo chỉnh tề, tay cầm cờ lọng, đuốc, lồng đèn, có đội nhạc cổ và chiêng trống đi theo. Sau khi làm lễ và đ ọc văn tế, đo àn bô lão sẽ dẫn đầu đoàn rước cộ xuống bờ sông Cầu Biện, một nhánh của sông Cổ Cò, đ ể mở hội Hoa đăng, rồi từ chùa Quán Thế Âm đi quanh các khu phố, qua các làng đá mỹ nghệ Non Nước, xuống khu du lịch Non N ước và trở về lại lễ đài, với lộ trình dài hơn 2km. - Lễ rước ánh sáng: Nghi lễ rước ánh sáng thường tổ chức vào tối ngày 18/2 âm lịch. Ánh sáng tượng trưng cho trí tuệ. Theo đạo phật, từ bi tức là tình thương, từ bi m à không được trí tuệ soi sáng thì từ bi sẽ lầm lạc, mê mờ. V ì thế, lễ hội Quán Thế Âm có chương trình rước ánh sáng: Từng đoàn, từng đơn vị rước kiệu, trống chiêng, múa lân. Ánh đuốc bập bùng diễn hành qua các con đường hướng về ngọn núi Thuỷ Sơn, hàng hàng lớp lớp người hoà
  18. nhập cùng đoàn rước kiệu, ánh đuốc lung linh, tiếng trông rền vang như làm chuyển động cảnh vật núi non ý nghĩa đem rước ánh sáng hết sức tuyệt vời. Sau phần nghi lễ là các hoạt động: Rước đuốc, rước kiệu, múa lân - sư - rồng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, mà trong phật giáo ánh sáng đồng nghĩa với trí tuệ, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện. - Lễ trai đàn chẩn tế: Được tổ chức vào sáng ngày 19 /2 để cầu siêu, cúng thập loại chúng sinh, thường trước đó đồng bào phật tử gởi danh sách những người thân của mình đã mất đ ến chùa để làm lễ cầu siêu. Trong lễ này phải mời người có giới phẩm đứng ra làm lễ. - Lễ thuyết giảng về Đức bồ tát Quán Thế Âm và dân tộc: Lễ này cũng được tổ chức vào sáng ngày 19/2, nhằm ngợi ca lòng từ bi bác ái của bồ tát Q uán Thế Âm và cầu nguyện cho dân tộc an bình, thịnh vượng. - Lễ rước Tôn tượng bồ tát Quán Thế Âm: Lễ này tổ chức vào khoảng 10 giờ sáng ngày 19/2 Âm lịch. Sau các nghi lễ trên, bốn người khiêng kiệu, trên có tượng Phật Bà, đi trước, và đồng bào Phật tử đi sau. Kiệu được khiêng từ trên chùa và đi xuống chiếc thuyền đậu trên sông Cầu Biện, sau đó cho thuyền chạy vòng quanh sông Cổ Cò. Lễ này nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh làm nghề đi biển, làm ăn trên sông nước được thuận lợi bình an. - Lễ vía Đức bồ tát Quán Thế Âm : Đây là lễ chính của lễ hội. Lễ vía được tổ chức vào ngày 19/2 âm lịch do Ban tổ chức lễ hội, Ban Trị sự Phật giáo thành phố Đ à Nẵng và Ban đại diện Phật giáo quận Ngũ Hành Sơn tổ chức.
  19. Hình ảnh phần lễ Quang cảnh lễ cầu nguyện thế giới Hoa tương và kiệu rước rất long trọng hòa bình tại Lễ hội Quán Thế Âm Đức pháp vương thuyết giảng Lễ cầu quốc thái dân an Lễ rước Quán Thế Âm Hoá trang Quán Thế Âm
  20. b. Phần hội Phần hội d iễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hoá - thể thao mang đậm bản sắc dân tộc xen lẫn với hiện đại như hội hoá trang, hát bội (tuồng), thi các môn: Thi pháp, tranh thuỷ mặc, thả đèn trên sông Cổ Cò (hoa đăng), đua thuyền, lắc thúng chai, kéo co, bơi chải, thi nấu ăn chay, trang trí cổng trại, hát b ài chòi, thiền trà, triển lãm tượng đá và hội thi điêu khắc đá của làng đá mỹ nghệ Non Nước,… kéo dài trong suốt 3 ngày, 3 đêm trong khuôn viên chùa Quán Thế Âm, núi Kim Sơn và bên bờ sông Cổ Cò. Đối với hoạt động du lịch, lễ hội Quán Thế Âm nằm trong chương trình hành đ ộng quốc gia về du lịch và các sự kiện du lịch. Lễ hội đã được Bộ Văn - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá - Thể Thao và Du lịch) đưa vào danh mục 15 lễ hội lớn của cả nước là cơ hội để quảng bá về khu di tích danh thắng Ngũ H ành Sơn một cách sâu rộng, góp phần thu hút khách du lịch đến với Ngũ hành Sơn nói riêng, thành phố Đà Nẵng nói chung ngày càng đông hơn. - Lễ Khai Hội: Tiếng chuông trống khai hội hùng tráng vang d ội lan xa báo hiệu cho mọi người biết ngày hội lại về. Hàng đoàn người nhộn nhịp, các đơn vị, đoàn thể rước kiệu về dự lễ khai hội. Kiệu rước “Bằng Di Tích Lịch Sử văn hoá Ngũ Hành Sơn” cấp quốc gia đ ược nhà nước công nhận, do ban quản lý khu thắng cảnh du lịch Ngũ Hành Sơn rước, kiệu rước bài vị và tượng ông Tổ nghề đá Non N ước, do các nghệ nhân phụ trách, và các kiệu rước với các chủ đề văn hoá nhiều mầu sắc đa dạng phong phú của nhiều đoàn thể, phật tử cùng tham gia. Hàng trăm các vị bô lão tại địa phương trang trọng trong bộ lễ phục cổ truyền, trang nghiêm thành kính hướng về giờ phút thiêng liêng của sông núi. Từng lời, từng lời văn tế đ ược xướng lên đ ể bố cáo trời đất, thần hoàng bổn xứ, nguyện cầu quốc thái dân an. một bầu không khí hết sức tín thành lắng đọng, lung linh huyền ảo giữa khói hương trầm nghi ngút, lan toả vào tâm hồn của mọi người về dự khai hội. Hát mừng khai hội, đo àn
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2