Lớp Ngọc lan - Magnoliopsida (Lp Hai lá mầm -
Dicotyledoneae)
8.6.1.1. Đặc điểm chung
Như đã nêu trên, tuy nhiên cn lưu ý rằng: có một
số đại diện mang đặc
điểm trung gian giữa 2 lớp.
Ví dụ: Ranunculus ficaria là cây 2 lá mầm nhưng
trong phôi chỉ có một lá
mầm, còn một lá trong quá trình phát triển bị tiêu
diệt.
- Pasris quadrifolia thuộc họ Hành nhưng có hoa
mẫu 4 còn hNa (2 lá mầm) có
hoa mẫu 3. Nên khi xét cn tập hợp đặc điểm để xét
tránh nhm lẫn.
8.6.1.2. Hệ thống của Lớp Ngọc lan
Trong một số hệ thống như của Engler, Wettstein, lớp
Ngọc lan được chia
thành 2 nm ln:
a. Nguyên hoa bì (Archichlamydeae): phân thành 2
nhóm:
- Bao hoa đơn (Monochlamydeae).
- Cánh phân (Dialypetaleae).
b. Hậu hoa bì (Metachlamydeae): gm những hoa có
cánh dính nhau.
Lối phân chia này mang tính nhân tạo và hình thức.
Theo Takhtajan (1975),
Lớp Ngọc lan gồm khoảng 120.000 loài, thuộc 373
họ, 73 bộ và 15 liên bộ. Trong
hệ thống của mình, ông đã chia lp Ngọc lan thành 8
phân lớp:
- Phân lớp Ngọc lan Magnoliidae
- Phân lớp Mao lương Ranunculidae
- Phân lớp Sau sau Hamamelididae
- Phân lớp Cẩm chướng Cariophyllidae
- Phân lớp Sổ Dilleniidae
- Phân lớp Hoa hồng Rosidae
- Phân lớp Hoa môi Lamiidae
- Phân lớp Cúc Asteridae