ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ QUANG TRƯỜNG

GIA ĐỊNH TAM GIA THI

TRONG TIẾN TRÌNH

VĂN HỌC HÁN NÔM NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ QUANG TRƯỜNG

GIA ĐỊNH TAM GIA THI

TRONG TIẾN TRÌNH

VĂN HỌC HÁN NÔM NAM BỘ

CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ: 62.22.34.01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. TS. ĐOÀN ÁNH LOAN

2. PGS.TS. LÊ GIANG

PHẢN BIỆN KHOA HỌC:

1. PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ

2. PGS.TS. HỒ SĨ HIỆP

3. PGS.TS. LÊ THU YẾN

PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1. PGS.TS. TRẦN HỮU TÁ

2. PGS.TS. LẠI VĂN HÙNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2012

1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên

cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, cũng

như các kết quả nghiên cứu trong luận án là

trung thực và chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nào khác.

Tác giả luận án

2

MỤC LỤC

DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................5

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...............................................................................7

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................13

4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................15

5. Đóng góp của luận án.....................................................................................15

6. Bố cục luận án ............................................................................................... 16

CHƯƠNG 1 GIA ĐỊNH TAM GIA, TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM ...........................................17

KỶ 19.................................................................................................................17

1.1. BỐI CẢNH VĂN HỌC HÁN NÔM NAM BỘ TỪ THẾ KỶ 18 ĐẾN CUỐI THẾ

1.1.1. Bối cảnh thời đại ......................................................................................17

1.1.2. Diện mạo văn học Hán Nôm ở Nam Bộ ...................................................20

1.2. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA ............................... 25

1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức..............................................26

1.2.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Nhân Tĩnh ..............................................35

1.2.3. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quang Định ..............................................40

1.3. VĂN BẢN TÁC PHẨM THƠ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA .............................. 44

1.3.1. Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức........................................................44

1.3.2. Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh .......................................................47

1.3.3. Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định .................................................49

1.4. VẤN ĐỀ PHIÊN DỊCH, GIỚI THIỆU THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA ...................50

1.5. QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG.................................................................61

TIỂU KẾT..........................................................................................................73

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA .......................75

2.1. TÌNH CẢM TRUNG QUÂN ÁI QUỐC VÀ TỰ HÀO DÂN TỘC.....................75

2.2. PHONG THÁI NHÀN DẬT VÀ HƯỞNG LẠC ..............................................92

3

NAM BỘ ...................................................................................................103

2.3. TRỊNH HOÀI ĐỨC, NGƯỜI NẶNG TÌNH VỚI QUÊ HƯƠNG VÀ CON NGƯỜI

MỘT NHO THẦN ......................................................................................113

2.4. NGÔ NHÂN TĨNH, TÍNH CÁCH ĐẠM BẠC CAO THƯỢNG VÀ TÂM SỰ

ĐỜI ...........................................................................................................123

2.5. LÊ QUANG ĐỊNH, CON NGƯỜI TÀI HOA VÀ NHỮNG SUY TƯ VỀ CUỘC

NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA ............... 131

TIỂU KẾT........................................................................................................131

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA ...............134

3.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ THỂ LOẠI........................134

3.1.1. Thể loại..................................................................................................134

3.1.2. Ngôn ngữ ............................................................................................... 146

3.1.2.1. Ngôn ngữ thơ chữ Hán ........................................................................146

3.1.2.2. Ngôn ngữ thơ chữ Nôm....................................................................... 162

3.1.2.3. Thủ pháp sử dụng điển cố....................................................................165

3.1.2.4. Hình ảnh.............................................................................................. 174

3.2. GIỌNG ĐIỆU VÀ PHONG CÁCH............................................................... 182

3.2.1. Trịnh Hoài Đức – trang nhã và hào sảng ................................................ 184

3.2.2. Ngô Nhân Tĩnh – thâm trầm và chiêm nghiệm ....................................... 188

3.2.3. Lê Quang Định – khoan thai và đôn hậu.................................................192

TIỂU KẾT........................................................................................................197

NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA.......... 197 KẾT LUẬN ........................................................................................................201 DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ......... 207 THƯ MỤC THAM KHẢO................................................................................ 208 PHỤ LỤC ......................................................................................................... 221

PHỤ LỤC 1: NIÊN BIỂU GIA ĐỊNH TAM GIA ................................................ 221

PHỤ LỤC 2: CÁC BÀI TỰ BẠT TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA.................232

PHỤ LỤC 3: TRÍCH DỊCH THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA......................................255

PHỤ LỤC 4: HÌNH ẢNH TƯ LIỆU ...................................................................389

4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

1. ĐH: Đại học

2. Gia Định tam gia: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê Quang Định, Gia

3. H. : Hà Nội

4. Hợp tuyển: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam

5. KHXH: Khoa học Xã hội

6. KHXH&NV: Khoa học Xã hội và Nhân văn

7. Liệt truyện: Đại Nam chính biên liệt truyện

8. Nxb.: Nhà xuất bản

9. q. : quyển

10. S.: Sài Gòn

11. Sđd: Sách đã dẫn

12. Tam gia: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định

13. TP.: Thành phố

14. TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

15. Thực lục: Đại Nam thực lục chính biên

16. Tổng tập: Tổng tập văn học Việt Nam

17. tr.: trang

18. [2]: tài liệu số 2 trong Thư mục tham khảo

19. [2, tr.45, 50-51]: tài liệu số 2 trong Thư mục tham khảo, các trang 45, 50 đến

Định tam gia

51.

5

DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Gia Định tam gia là danh xưng đương thời gọi ba nhà thơ nổi tiếng đất

Gia Định: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định. Cả ba là học trò của

Xử sĩ Sùng Đức Võ Trường Toản, đều phong nhã, hay thơ và cùng làm quan cao

trong triều, đồng thời từng là những sứ thần đầu tiên của triều Nguyễn Gia Long.

Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh (Ngô Nhơn Tịnh) còn là những người lập ra thi

xã Bình Dương (theo Liệt truyện), hay Gia Định Sơn Hội (theo lời của Trịnh Hoài

Đức trong bài Tự tự (tự đề tựa) cho tập thơ Cấn Trai thi tập).

Không nói đến những trước tác địa chí, văn hoá, thơ của Tam gia để lại quả

thật không đồ sộ, nhưng danh tiếng của ba tác giả này khiến chúng tôi chú ý. Hơn

nữa, vị trí của Tam gia trong văn học sử nước nhà, đến nay vẫn chưa có vị trí xứng

đáng. Những công trình nghiên cứu về thơ Tam gia còn ít và rời rạc, đến nay vẫn

mang nhiều hạn chế. Trước hết là hạn chế ở công tác phiên dịch và giới thiệu thơ

Gia Định tam gia.

Năm 1903, Lê Quang Chiểu sưu tầm được 18 bài thơ Nôm của Trịnh Hoài

Đức sáng tác trên đường đi sứ và công bố trong công trình Quốc âm thi hiệp tuyển;

năm 1963, giáo sư Huỳnh Lý chủ biên công trình nhiều tập Hợp tuyển thơ văn Việt

Nam, lần đầu tiên tuyển dịch giới thiệu thơ của Tam gia trong dòng chảy văn học

trung đại Việt Nam. Một thời gian dài, mãi đến năm 2005, Hoài Anh cho ra mắt độc

giả cuốn Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định - Gia Định tam gia, giới

thiệu được khá nhiều sáng tác thơ của Tam gia.

Những nghiên cứu về thơ ca miền Nam, trong đó có Gia Định tam gia, cũng

được chú ý từ trước năm 1975 với Đông Hồ, Nguyễn Văn Sâm… Sau năm 1975,

những bài viết công phu hơn về văn học Đàng Trong, văn học Hán Nôm ở Gia Định

của Cao Tự Thanh gây được sự chú ý của giới nghiên cứu văn học.

Điều đó cho thấy sự nỗ lực của các nhà nghiên cứu trong việc sưu tầm, nghiên

cứu, giới thiệu những sáng tác văn chương của Tam gia. Tuy nhiên, mới chỉ dừng

lại ở những bài viết có tính chất nghiên cứu tổng quát của một giai đoạn, một thời

kỳ văn học.

6

1.2. Văn học Hán Nôm Nam Bộ là một bộ phận trong di sản văn học Hán

Nôm cả nước. Do vậy, tìm hiểu văn học Hán Nôm Nam Bộ được xác định như một

bước quan trọng trong công tác nghiên cứu nền văn học Hán Nôm cả nước.

Lịch sử hình thành và phát triển văn học không thể tách rời khỏi lịch sử phát

triển kinh tế, xã hội của nó. Do đó, cùng với việc xác định ranh giới Đàng Trong và

Đàng Ngoài vào những năm đầu thế kỷ 17, văn học Đàng Trong cũng hình thành

khá muộn so với văn học Đàng Ngoài. Những công trình nghiên cứu về tác giả tác

phẩm ở từng vùng miền vì thế cũng có sự chênh lệch khá lớn. Những tác giả Đàng

Ngoài được chú ý khai thác nghiên cứu sớm hơn và nhiều hơn những tác giả Đàng

Trong.

Diện mạo văn học Hán Nôm ở Đàng Trong sẽ không hoàn chỉnh nếu không kể

đến sự đóng góp của những người Hoa Nam di dân đến Đàng Trong và trở thành

những con dân của Nam triều. Sự đóng góp của họ về mặt kinh tế, chính trị hẳn

nhiên là không thể phủ nhận, bên cạnh đó, những đóng góp về mặt nghệ thuật cũng

đáng được ghi nhận. Sự xuất hiện đầu tiên của nhóm thơ Chiêu Anh Các ở Hà Tiên

đã làm nên tiếng vang trong lịch sử văn học nước nhà, sau đó là nhóm thơ Sơn Hội

do Trịnh Hoài Đức cùng những người bạn ông thành lập ở Bình Dương, Gia Định.

Đáng tiếc là, với tình hình tư liệu hiện nay chưa cho phép chúng ta nghiên cứu cụ

thể hơn về thơ của nhóm Sơn Hội. Ngay cả trong Tam gia, nếu không có nhân

duyên gặp gỡ những người con của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định tại kinh

thành vào năm Canh Thìn (1820) để Trịnh Hoài Đức khắc in lưu hành thơ của Tam

gia vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), chúng ta hẳn cũng khó có thể đọc được

những sáng tác thơ của hai người họ.

Nhận thức được tình hình chung, nhiều nhà nghiên cứu đã nỗ lực nghiên cứu

các tác giả tác phẩm Đàng Trong, đặc biệt là ở vùng đất Gia Định, Nam Bộ. Những

công trình nghiên cứu tác giả tác phẩm Hán Nôm Nam Bộ như Nguyễn Đình Chiểu

(1822-1888), Nguyễn Thông (1827-1884), Nguyễn Hữu Huân (1816-1875), Trần

Thiện Chánh (1822-1874), Phạm Phú Thứ (1821-1882), Phan Thanh Giản (1796-

1867)… đã lần lượt xuất hiện.

1.3. Thơ của Gia Định tam gia, đến nay mặc dù đã được nhiều người quan tâm

tìm hiểu, nhưng tình hình nghiên cứu dịch thuật thơ Tam gia vẫn đang trong tình

trạng đòi hỏi những nỗ lực từ phía các nhà nghiên cứu.

7

Việc sưu tầm, chỉnh lý và dịch thuật tư liệu thơ Tam gia một cách có hệ thống

và hoàn chỉnh để chuẩn bị xuất bản công trình thơ Gia Định tam gia là việc làm có ý

nghĩa thiết thực, nhằm cung cấp tư liệu khả tín cho những ai muốn tìm hiểu về ba

nhà thơ này từ nhiều phương diện khác nhau.

Trước tình hình đó, chúng tôi đã mạnh dạn bắt tay vào nghiên cứu tìm hiểu thơ

Gia Định tam gia. Một mặt, luận án đi vào tìm hiểu những giá trị về nội dung, nghệ

thuật thơ Tam gia trong giai đoạn hậu kỳ trung đại, đặc biệt là văn học Hán Nôm ở

vùng Nam Bộ. Mặt khác, công trình này còn dịch thuật chú giải thơ của Tam gia

góp thêm nguồn tư liệu quý cho các nhà nghiên cứu và những độc giả quan tâm.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1. Trước năm 1975, do nhiều nguyên nhân, thơ Gia Định tam gia chưa

được chú ý khai thác giới thiệu. Năm 1903, Lê Quang Chiểu, một nhà thơ thời cận

đại, bắt đầu công bố 18 bài thơ Nôm liên hoàn được cho là của Trịnh Hoài Đức làm

trong thời gian đi sứ trong công trình Quốc âm thi hiệp tuyển [10, tr.12-18]. Tuy

nhiên, theo Cao Tự Thanh, 18 bài thơ này chỉ mới có liên nhưng chưa hoàn. Trong

đợt điền dã ở Long An, tình cờ ông có được bản chép tay chùm thơ liên hoàn này

gồm 20 bài [36, tr.80]. Sau đó, trên báo Tân văn, số 8-1935, có giới thiệu một bài

thơ Nôm Từ giã mẹ đi sứ của Trịnh Hoài Đức [113, tr.90].

Trong công trình Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, có nhắc

đến Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh là những nhà thơ, danh

thần triều Lê Mạt - Nguyễn Sơ với thông tin sơ giản [38, tr.345].

Vương Hồng Sển trong Sài Gòn năm xưa, xuất bản năm 1957, có nhận xét về

Gia Định tam gia là “những bậc công thần có công xây dựng cõi Nam, đua nhau

nâng cao nền văn hiến Việt Nam” [98, tr.34].

Sách Võ Trường Toản, phụ Gia Định tam gia của Nam Xuân Thọ, Tân Việt

xuất bản ở Sài Gòn năm 1957 cũng có giới thiệu đôi nét về Gia Định tam gia [118].

Việt Nam đại quan của Lý Văn Hùng xuất bản năm 1963 tại Sài Gòn, bằng

tiếng Hoa, có giới thiệu về tiểu sử hành trạng của Trịnh Hoài Đức theo dạng niên

biểu [163, tr.56].

Tác giả Huỳnh Minh trong sách Gia Định xưa, cũng dành một phần giới thiệu

về Gia Định tam gia, Gia Định Sơn Hội, đồng thời trích dẫn vài bài thơ Nôm của

Trịnh Hoài Đức [74, tr.119-124, 311]…

8

Trong những công trình này, chủ yếu vẫn bước đầu giới thiệu khái quát về tác

giả và tác phẩm thơ của Gia Định tam gia. Hẳn nhiên với tình hình như vậy, chúng

ta chưa thể tiến hành nghiên cứu thơ của các ông bởi các tư liệu vẫn chưa được

công bố giới thiệu và chuyển dịch sang chữ quốc ngữ một cách đầy đủ.

Năm 1963, giáo sư Huỳnh Lý (chủ biên) biên soạn công trình Hợp tuyển thơ

văn Việt Nam nhằm mang lại cho người đọc cái nhìn toàn cảnh văn học Việt Nam.

Công trình này được Nxb. Văn học tái bản lần đầu vào năm 1978. Trong Hợp tuyển

thơ văn Việt Nam, tập 3, Gia Định tam gia được xem như một đại biểu trong dòng

thơ chữ Hán ở Nam Bộ với lời nhận xét:

“Với triều Nguyễn, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, và

sau một ít, Lý Văn Phức không có tư tưởng phản kháng thực tại; trái lại họ

thừa nhận đạo đức phong kiến một cách êm thấm, nhiều khi họ biểu dương

cuộc sống trước mắt…. Giá trị tác phẩm của họ là ở chỗ khác: có người có ý

thức phát huy cảnh giàu đẹp của đất nước, tài hay của đồng bào, tóm lại biểu

dương dân tộc; có người ghi chép sự việc lịch sử một cách sinh động với tất cả

lòng thiết tha của mình;…” [72, tr.29-30].

Văn đàn bảo giám (trọn bộ 4 tập) do Trần Trung Viên sưu tập, Hư Chu hiệu

chú, Mặc Lâm xuất bản năm 1968 có dẫn hai bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức ở

tập 4: Qua đèo Hải Vân, Tạ mẹ đi sứ. [140, q.4, tr. 36, 37]

Năm 1970, khi nghiên cứu đến văn học miền Nam, văn học Hà Tiên, nhà

nghiên cứu Đông Hồ trong công trình Văn học miền Nam, Văn học Hà Tiên cũng có

nhắc đến Trịnh Hoài Đức nhưng trên cơ sở làm cứ liệu để nghiên cứu về nhóm thơ

Tao đàn Chiêu Anh Các [45].

Khi biên soạn lược sử về Biên Hoà, Lương Văn Lựu cũng dành một phần nói

về tiểu sử và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức trong Biên Hoà sử lược toàn biên.

Đồng thời ông cũng thêm phần nhận xét về giá trị văn học và sử học các tác phẩm

của Trịnh Hoài Đức [67].

Nguyễn Văn Sâm trong Văn học Nam Hà có nhận xét về Trịnh Hoài Đức như

sau: “… đối với triều Nguyễn là bậc danh thần hạng nhất, về phần lập ngôn với

những sáng tác kể trên, thì lại là một người của thiên hạ hậu thế vậy” [97]. Cũng

trong công trình này, ông dành nhiều trang viết về Trịnh Hoài Đức, trong đó còn

bình luận và giới thiệu được 13 bài thơ chữ Hán trong Thoái thực truy biên và phiên

9

âm 18 bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức, nhưng vẫn chưa thể giới thiệu thơ của Ngô

Nhân Tĩnh và Lê Quang Định.

2.2. Sau năm 1975, những công trình nghiên cứu có liên quan đến Gia Định

tam gia đã xuất hiện nhiều hơn. Đã có những công trình giới thiệu và nghiên cứu về

thơ của Gia Định tam gia riêng biệt, bên cạnh những công trình, bài viết mang tính

chất tổng quan.

Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê với mục đích tái hiện Sài

Gòn – Gia Định xưa thông qua thơ văn, trong công trình Sài Gòn – Gia Định qua

thơ văn xưa, xuất bản năm 1987, giới thiệu 07 bài thơ của Trịnh Hoài Đức ở phần

Thơ văn chữ Hán, phần hai của tập sách [149, tr.87-104].

Công trình nghiên cứu Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, do Giáo sư

Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên với sự tham gia của các nhà nghiên cứu

uy tín, xuất bản từ năm 1987-1990, là một công trình nghiên cứu toàn diện về lịch

sử, xã hội, tư tưởng, tôn giáo, văn học nghệ thuật… ở Gia Định. Trong tập II, có bài

“Văn học Hán Nôm ở Gia Định” của Cao Tự Thanh [36, tr.55-129], tác giả đã khái

quát diện mạo văn học Hán Nôm trong tiến trình văn hóa ở Gia Định, đồng thời

trích dẫn thơ của Tam gia Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định.

Năm 1990, Những danh sĩ miền Nam của Hồ Sĩ Hiệp và Hoài Anh cũng dành

nhiều trang viết về tác giả và điểm qua tác phẩm của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang

Định và Ngô Nhân Tĩnh với những nhận xét xác đáng [43, tr.43-53, 54-60, 61-68].

Nhưng trong công trình này, chủ yếu giới thiệu thân thế sự nghiệp các tác giả, vẫn

chưa giới thiệu gì thêm thơ của Tam gia.

Nguyễn Q. Thắng trong Tiến trình văn nghệ miền Nam xuất bản năm 1990

[113] cũng có giới thiệu về tác giả, tác phẩm Gia Định tam gia với ý nghĩa dựng lại

chân dung của nhà văn nhà thơ ở Gia Định.

Năm 1993, Đỗ Văn Hỷ cho xuất bản tập sách Người xưa bàn về văn chương

[47] như một sự tiếp nối công việc mà các tác giả đã làm trong cuốn sách Từ trong

di sản xuất bản năm 1981 trước đó [105]. Với tinh thần sưu tầm giới thiệu những

phát biểu bàn luận văn chương của người xưa, tác giả có trích dịch bài tựa của Bùi

Dương Lịch viết cho tập thơ Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh, với tựa “Tựa

Ngô Hiệp Trấn Tĩnh Viễn hầu thi tập” rút từ Tồn Trai ốc lậu thoại thi văn của Bùi

Dương Lịch (ký hiệu VHv.89) [47, tr.32.33], và bài bạt của Ngô Thì Vị viết cho tập

10

thơ Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức với tên “Bài bạt Cấn Trai thi tập” [47,

tr.108-111].

Năm 1997, công trình Tổng tập văn học Việt Nam, tập 16, cũng có giới thiệu

tiểu sử tác giả, tác phẩm của Tam gia [99, 15-34]. Số bài thơ của Tam gia trong

Tổng tập này trích lại từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam nói trên. Mặc dù công trình là

tổng tập văn học Việt Nam, nhưng số lượng thơ của Tam gia được trích dịch in

trong này lại quá ít so với số lượng sáng tác thơ của Tam gia. Điều đó cho thấy việc

biên dịch các tác phẩm văn học Hán Nôm, đặc biệt Hán Nôm ở Nam Bộ vẫn còn

hạn chế. Vả lại còn cho thấy, vị trí của Tam gia trong văn học sử Việt Nam là chưa

được đánh giá thoả đáng.

Biên Hoà-Đồng Nai, 300 năm hình thành và phát triển, Lâm Hiếu Trung chủ

biên, Nxb. Đồng Nai, 1998, trong bài phát biểu của Nguyễn Văn Linh “Biên Hoà

Đồng Nai, vùng đất giàu truyền thống và tiềm năng” [125, tr.6c-6f], và bài “Phát

huy truyền thống 300 năm, Biên Hoà bước vào thế kỷ 21” của Nguyễn Thị Minh

Hoàng, [125, tr.6g-6n], đều có nhắc đến Trịnh Hoài Đức như một nhà văn hoá, văn

học lớn tiêu biểu của vùng Nam Bộ. Cũng trong công trình này, các tác giả dành

một phần biên khảo tiểu sử của Trịnh Hoài Đức [125, tr.413-415].

Năm 2004, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia cho ra đời bộ

sách Tinh tuyển văn học Việt Nam (gồm 8 tập, 11 quyển), trong đó, tập 6 do PGS.

Hoàng Hữu Yên chủ biên có tuyển thơ của Gia Định tam gia, tuy nhiên một số tư

liệu về Tam gia trong tập sách này vẫn sử dụng lại tư liệu trong Hợp tuyển thơ văn

Việt Nam, thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX nên cũng không có gì mới. [131, tr.76-

99].

Cũng trong năm này, Từ điển văn học (bộ mới) do nhóm Đỗ Đức Hiểu,

Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên xuất bản năm 2004, có

mục từ về Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh và Trịnh Hoài Đức với những nhận xét

về sự nghiệp và thơ ca của các ông khá thoả đáng [44, tr.829-830, 1072-1073, 1823].

Năm 2005, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Gia Định tam

gia của tác giả Hoài Anh [8], xuất bản nhân dịp trùng tu và tôn tạo di tích lịch sử

văn hóa văn miếu Trấn Biên, Đồng Nai, cũng đóng góp đáng kể vào công việc

nghiên cứu thơ của ba nhà Trịnh, Ngô, Lê. Có thể nói, đây là công trình biên khảo

về thơ Gia Định tam gia nhiều nhất từ trước đến nay.

11

Năm 2007, Nguyễn Q. Thắng tiếp tục công trình Tiến trình văn nghệ miền

Nam xuất bản trước đây biên soạn bộ Văn học Việt Nam, nơi miền đất mới. Trong

tập 1 của công trình này, ông lại giới thiệu và bổ sung thêm tư liệu về tác giả tác

phẩm của Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định [114].

Trong 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX) 3

tập, Nxb. Giáo dục xuất bản năm 2007, nhóm tác giả Phan Trọng Thưởng lại sưu

tập tuyển chọn những tác phẩm bàn luận về văn chương của cha ông trong mười thế

kỷ qua, trong đó trích lại bài Bài bạt Cấn Trai thi tập của Ngô Thì Vị, đồng thời dẫn

thêm bài tựa của Quỳ Giang Nguyễn Địch Cát viết cho tập thơ Thập Anh đường thi

tập của Ngô Nhân Tĩnh [121, tr.152-154, 226].

Cũng trong năm 2007, công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX, những vấn

đề lý luận và lịch sử, có bài viết “Văn học Đàng Trong” của Cao Tự Thanh, thêm

một lần nữa đề cập đến Gia Định tam gia trong dòng chảy văn học Đàng Trong. Bài

viết đi sâu phân tích tình hình lịch sử, tình hình văn học Hán Nôm từ phương diện

nội dung, đồng thời phác hoạ những nét nghệ thuật của văn học Hán Nôm Đàng

Trong [148, tr.270-346].

2.3. Những bài viết đăng trên các báo và tạp chí liên quan đến việc nghiên cứu

tác giả tác phẩm Gia Định tam gia cũng chưa nhiều.

Trên báo Tân văn tuần báo năm 1935 có giới thiệu bài thơ Từ giã mẹ đi sứ của

Trịnh Hoài Đức, báo Đại Việt tập chí năm 1941 đã bắt đầu trích đăng giới thiệu thơ

của Trịnh Hoài Đức. Nguyễn Triệu với bài “Công thần triều Nguyễn: Ngô Nhân

Tĩnh” đăng trên tuần báo Tri Tân, số 6, ngày 8-7-1941, trong bài viết này chủ yếu là

ông phát hiện nơi toạ lạc phần mộ của Ngô Nhân Tĩnh [124].

Biểu Chánh Hồ Văn Trung trong bài viết Gia Long khai quốc văn thần, đăng

trên Đại Việt tập chí, số 47, năm 1944, khảo về lược sử của các văn thần triều

Nguyễn Gia Long trong đó có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh

[12, tr.19-27, tr.28-31, tr. 32-35].

Nguyễn Khuê với bài Trịnh Hoài Đức và Cấn Trai thi tập đăng trên tập san

Lửa Thiêng, số 2, tháng 2 năm 1975, được in lại trong Ba mươi năm cầm bút, giới

thiệu về tiểu sử, hành trạng của Trịnh Hoài Đức và tập thơ Cấn Trai thi tập một

cách tỉ mỉ và công phu [53, tr.332-354].

12

Nguyễn Khuê với bài “Mai Sơn tự và Mai Khâu tự” đăng trên Tập văn số 20,

Ban Văn hoá Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam xuất bản năm 1991, trong

bài viết tác giả đề cập đến vấn đề vị trí của hai ngôi chùa, đồng thời giới thiệu một

số bài thơ về chùa gò Cây Mai của Trịnh Hoài Đức để làm cứ liệu cho nhận định

của mình [53, tr.9-17].

Cao Tự Thanh với bài “Về bài thơ của Trịnh Hoài Đức tặng hoà thượng Viên

Quang” đăng trên Tập văn Phật đản, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, số 23, tháng 4-

1992 [107] trong bài viết đã giới thiệu lại và dịch toàn bộ bài thơ này của Trịnh

Hoài Đức thấy chép trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên

Phong [82].

Trên Tạp chí Văn, số 20, năm 1992 có bài viết “Bình Dương thi xã” của Vân

Đằng Trần Văn Rạng với nội dung giới thiệu về Bình Dương thi xã và những thành

viên trong nhóm thơ này, trong đó có Gia Định tam gia [96]. Sau đó, Cao Tự Thanh

với bài viết “Mấy ý kiến trao đổi lại về bài Bình Dương thi xã” đăng trên Tạp chí

Văn, số 21, 8-1992, đã đính chính những lầm lẫn của tác giả Vân Đằng, đồng thời

đưa ra những tư liệu về nhóm Sơn Hội của Trịnh Hoài Đức là xác đáng, thuyết phục

[106].

Nguyễn Đăng Na trong bài viết “Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa

Nguyên thi thảo” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 03 (397), 2005, với mục

đích giới thiệu về những lời bình của Nguyễn Du về thơ của Lê Quang Định, để từ

đó cho rằng Nguyễn Du không những là nhà thơ lớn của dân tộc mà còn là nhà phê

bình thơ ca, đồng thời có đưa ra vài nhận xét về bản khắc in tập thơ này [75].

Mấy năm sau, Nguyễn Đình Phức có bài “Về bài viết Lời bình của thi hào

Nguyễn Du trong Hoa Nguyên thi thảo của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na”, đăng trên

Tạp chí Hán Nôm số 1 (86), 2008, đã đính chính những sai lầm mà Nguyễn Đăng

Na đã nêu trong bài viết của ông, đồng thời tác giả bài viết đã đưa ra những khảo sát

của mình về văn bản khắc in Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định một cách xác

đáng [93].

Nối tiếp những người nghiên cứu trước, chúng tôi cũng có viết hai bài về Ngô

Nhân Tĩnh và Trịnh Hoài Đức: “Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Trịnh Hoài Đức”

đăng trên Thông báo Hán Nôm học năm 2007 và bài “Ngô Nhân Tĩnh và tâm sự

một nho thần” đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6-2009. Trong hai bài viết

13

này, một là chúng tôi tìm hiểu một vài nội dung chính trong dòng thơ đi sứ của

Trịnh Hoài Đức, một là tìm hiểu vài khía cạnh tâm sự của Ngô Nhân Tĩnh thông

qua thơ của các ông. Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn công bố một vài tư

liệu có liên quan đến thơ Gia Định tam gia trong các kỷ yếu hội thảo, các tạp chí

chuyên ngành…

Việc tìm hiểu thơ Trịnh Hoài Đức cũng được sinh viên đại học và học viên

cao học quan tâm. Tiêu biểu có Tìm hiểu Cấn Trai thi tập của Đoàn Khắc Kiên

Cường, luận văn tốt nghiệp đại học [18], và gần đây là luận văn thạc sĩ Tìm hiểu sự

nghiệp văn học của Trịnh Hoài Đức của Nguyễn Thị Thu Thuỷ trình tại trường ĐH

KHXH&NV TP.HCM [120]. Các tác giả luận văn đã phác hoạ được sự nghiệp văn

học của Trịnh Hoài Đức, từ Gia Định thành thông chí đến Cấn Trai thi tập. Riêng

về phần Cấn Trai thi tập tác giả luận văn đã bước đầu khảo sát nội dung ở phương

diện con người, tình yêu quê hương, và một vài đặc điểm nghệ thuật về phương

diện ngôn ngữ, thể loại…

Từ tình hình đó cho thấy thơ Gia Định tam gia vẫn là đề tài còn mới, chưa có

nhiều thành tựu nghiên cứu. Những bài viết cùng những công trình nói trên, hoặc là

do tính chất của công trình, hoặc là do giới hạn khuôn khổ của đề tài, chỉ mới dừng

ở mức độ khái quát chưa đi sâu vào nghiên cứu tác giả tác phẩm một cách toàn diện

và cụ thể. Tuy nhiên, những bước khai phá đầu tiên của các bậc nghiên cứu tiền bối

đã khai mở cho chúng tôi những con đường tiếp cận nghiên cứu về Gia Định tam

gia thi, đặc biệt là những người làm công tác văn bản, văn học Hán Nôm ở Gia Định

nói chung và Tam gia nói riêng như Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Khuê, Cao Tự

Thanh, Hoài Anh…

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Sự nghiệp sáng tác của Tam gia hẳn nhiên không chỉ có mỗi thơ, mà các

ông còn viết văn và địa chí. Như tên của đề tài luận án, chúng tôi xác định, đối

tượng nghiên cứu chính là thơ Gia Định tam gia qua ba tập Cấn Trai thi tập của

Trịnh Hoài Đức, Thập Anh đường thi tập của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa Nguyên thi

thảo của Lê Quang Định. Do đó, chúng tôi không đi vào các thể loại biên khảo về

địa chí, bài văn, bài minh của Tam gia trong công trình này. Ngoài ra, riêng với

Trịnh Hoài Đức, ông còn sáng tác thơ bằng chữ Nôm, mặc dù không thấy khắc in

trong các thi tập của ông, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng tìm hiểu thông qua các bản

14

phiên âm do Lê Quang Chiểu, Nguyễn Văn Sâm, Cao Tự Thanh, Hoài Anh công bố

trong công trình của họ.

Không giống các tác giả khác như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn

Du, Ngô Thì Nhậm, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Nguyễn

Thông, Phan Thanh Giản,… vấn đề công bố văn bản tác phẩm hầu như đã hoàn

chỉnh; ngược lại, tác phẩm thơ của Gia Định tam gia vẫn chưa được các nhà nghiên

cứu văn học Hán Nôm công bố hoàn chỉnh, như chúng tôi đã trình bày ở phần lịch

sử vấn đề trên đây. Thành thử với ba tập thơ của Tam gia (hơn 580 bài thơ), chúng

tôi đã tiến hành công việc chỉnh lý tư liệu, đến công tác dịch thuật thơ của Tam gia.

Do đó, đây là công việc khó khăn nhất và tốn nhiều thời gian nhất mà chúng tôi

đảm đương khi bước vào nghiên cứu thơ Gia Định tam gia.

3.2. Song song với việc nghiên cứu thơ Tam gia ở phương diện nội dung tư

tưởng và nội dung nghệ thuật, chúng tôi còn phải đặt thơ của Tam gia trong bối

cảnh văn học Hán Nôm ở Nam Bộ trong giai đoạn này để thấy được những đặc

điểm chung và riêng của chúng. Từ đó có thể xác định giá trị cũng như những đóng

góp của Tam gia đối với nền văn học Hán Nôm ở Nam Bộ nói riêng, cả nước nói

chung.

Do đó, ngoài những kết quả mà chúng tôi có được từ sự khảo sát riêng, chúng

tôi vẫn có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trong các công trình của những nhà

nghiên cứu đi trước về văn học Hán Nôm Nam Bộ, đặc biệt là những công trình

nghiên cứu về văn học Hán Nôm ở Gia Định và ở Đàng Trong của Cao Tự Thanh.

3.3. Văn học Hán Nôm Nam Bộ, chính là nói nền văn học viết bằng chữ Hán

Nôm thuộc khu vực từ Biên Hoà Đồng Nai trở vào Nam, mà trung tâm chính của nó

là Sài Gòn – Gia Định. Bởi Nam Bộ là vùng đất mới so với các vùng khác trong

nước ta, do đó nền văn học Hán Nôm tại đây vừa mang tính chất kế thừa những

thành tựu cũ của nền văn học Hán Nôm cả nước nhưng cũng vừa mang tính chất

mới mẻ non trẻ do những tác động từ lịch sử kinh tế xã hội tại địa bàn. Xem xét thơ

Gia Định tam gia trong nền văn học Hán Nôm Gia Định để thấy sự giao thoa thơ

của các ông với thơ đương thời cũng như những giai đoạn sau và trước đó, để đi đến

việc xác lập những đóng góp của Gia Định tam gia trong nền văn học Hán Nôm

Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung.

15

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Công tác văn bản học: Tiếp nhận thành quả của những công trình nghiên

cứu trước đây, chúng tôi tiếp tục khảo sát, chỉnh lý văn bản thơ Tam gia hiện đang

lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Đối với tác phẩm Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa Nguyên thi

thảo của Lê Quang Định vì chỉ có một truyền bản duy nhất nên công tác xử lý văn

bản không có gì đáng nói; nhưng với Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức bởi có

nhiều bản khác nhau, do đó chúng tôi dựa vào bản khắc in có ký hiệu A.780 làm

bản trục, đồng thời tham chiếu với bản khắc in mang ký hiệu A.1392 để bổ sung,

sắp xếp và tái hiện lại diện mạo của thi tập Gia Định tam gia thi của ba tác giả, bản

khắc in năm 1822. Trong quá trình xử lý tư liệu, chúng tôi còn tham khảo thêm bản

in Cấn Trai thi tập do Trần Kinh Hoà cho in vào năm 1963 tại Hong Kong. Đồng

thời, chúng tôi vận dụng phương pháp phiên dịch tiến hành dịch thuật thơ Gia Định

tam gia và công bố văn bản trong phần Phụ lục của luận án để làm tư liệu trích dẫn,

nghiên cứu trong luận án.

4.2. Xuất phát từ yêu cầu mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài,

chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp tiểu sử, phương pháp thực chứng lịch sử, phương pháp giải thích

học: cùng được vận dụng để tìm hiểu tác phẩm thông qua tiểu sử tác giả và ngược

lại, đồng thời muốn hiểu đúng tác phẩm không thể không bắt đầu từ những sự kiện

lịch sử, cũng như việc nắm rõ ngữ nghĩa ngôn ngữ bởi thơ Gia Định tam gia được

viết bằng chữ Hán. Bên cạnh đó, để tránh cứng nhắc giáo điều chúng tôi còn vận

dụng phương pháp trực giác để có những đánh giá sinh động về đối tượng.

Ngoài ra chúng tôi còn vận dụng các phương pháp và thao tác khác như

phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, hệ thống để đưa ra những nhận định có

giá trị và ý nghĩa khi nghiên cứu về Gia Định tam gia trong toàn cảnh nền văn học

Hán Nôm Nam Bộ.

5. Đóng góp của luận án

5.1. Về mặt tư liệu: Chúng tôi đã xử lý và phiên dịch hầu như hoàn chỉnh tư

liệu thơ Gia Định tam gia một cách có hệ thống từ nguồn tư liệu gốc Hán Nôm.

Những bài tự, bạt trong các tập thơ Tam gia, đến cả những lời bình của Ngô Thì Vị

và Nguyễn Du bình thơ Lê Quang Định cũng được dịch đầy đủ, góp thêm một

16

nguồn tư liệu quý cho mảng thơ, lý luận phê bình văn học trung đại của nước nhà.

Thông qua những tư liệu này, người đọc có thể hình dung về nội dung, nghệ thuật

thơ, cùng với quan niệm thơ của Gia Định tam gia.

Đồng thời, thơ của Lê Quang Định và của Ngô Nhân Tĩnh được giới thiệu gần

như trọn vẹn (tập Thập Anh thi tập mà chúng tôi có từ thư viện Hán Nôm bị mất tờ

nên có một số bài chưa thể khảo được). Riêng với thơ Trịnh Hoài Đức, chúng tôi đã

dịch trọn vẹn hai tập thơ chính, phản ánh nội dung và nghệ thuật thơ của ông là

Thoái thực truy biên và Quan quang tập, cùng một số bài trong Khả dĩ tập để làm

tư liệu trong khi viết luận án.

5.2. Từ công tác xử lý văn bản thơ, chúng tôi tiến hành làm rõ và xác định lại

năm sinh năm mất của các tác giả Gia Định tam gia, thông qua nhiều nguồn tư liệu,

khắc phục được những thiếu sót, những băn khoăn về năm sinh năm mất của Tam

gia trong các công trình cũng như các bài viết trước đây. Từ đó, chúng tôi biên soạn

niên biểu Gia Định tam gia làm cơ sở cho những nghiên cứu khác về sau.

5.3. Luận án nghiên cứu chuyên biệt về thơ Gia Định tam gia ở phương diện

nội dung và nghệ thuật, đồng thời đặt nó trong bối cảnh văn học Hán Nôm Nam Bộ

đương thời để thấy những giá trị về nội dung và nghệ thuật thơ của các tác giả.

5.4. Từ những kết quả thu được khi nghiên cứu thơ Gia Định tam gia trong

công trình này, chúng tôi xác định trong tương lai gần sẽ sửa chữa hoàn chỉnh và

giới thiệu toàn bộ thơ Gia Định tam gia nhằm cung cấp cho giới nghiên cứu và

người đọc nói chung những tư liệu cần thiết và khả tín.

6. Bố cục luận án

Không kể phần Dẫn nhập, Kết luận, luận án được chia thành 3 chương:

Chương 1: Gia Định tam gia, tác giả và tác phẩm

Chương 2: Đặc điểm nội dung trong thơ Gia Định tam gia

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật trong thơ Gia Định tam gia

Ngoài ra, phần Phụ lục gồm:

- Niên biểu Gia Định tam gia

- Các bài tự bạt trong ba tập thơ của Gia Định tam gia

- Trích dịch thơ Gia Định tam gia

- Hình ảnh tư liệu có liên quan đến Gia Định tam gia

17

CHƯƠNG 1

GIA ĐỊNH TAM GIA TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1.1. BỐI CẢNH VĂN HỌC HÁN NÔM NAM BỘ TỪ THẾ KỶ 18 ĐẾN

CUỐI THẾ KỶ 19

Tình hình văn học Hán Nôm Nam Bộ mà trung tâm chính là khu vực Sài Gòn

– Gia Định đã giải quyết một cách thấu đáo trong chuyên khảo Văn học Hán Nôm ở

Gia Định của Cao Tự Thanh, công bố trong Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí

Minh, tập 2, Văn học, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1988.

Tuy nhiên, việc trình bày khái quát bối cảnh văn học Hán Nôm Nam Bộ để từ đó soi

chiếu sáng tác của Gia Định tam gia nhằm xác lập vị trí của Gia Định tam gia trong

văn học sử Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung là việc cần thiết, vì vậy trong

mức độ cho phép, chúng tôi trình bày ngắn gọn bối cảnh thời đại và văn học Hán

Nôm Nam Bộ trong giai đoạn này.

1.1.1. Bối cảnh thời đại

Năm 1658, đời Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, vua Cao Miên là Nặc Ong Chân

xâm phạm biên giới, chúa bèn sai người tiến đánh đến Mô Xoài và Đồng Nai. Sau

cuộc chiến này, những lưu dân người Việt càng có điều kiện di cư vào vùng đất này

để làm ăn mở mang đất đai. Theo Trịnh Hoài Đức, bấy giờ “địa đầu của Gia Định là

Mô Xoài và Đồng Nai, tại hai xứ ấy đã có dân của nước ta đến cùng với dân Cao

Miên khai khẩn ruộng đất” [29, tr.109].

Sau đó, cuộc di dân với quy mô lớn của người Hoa Nam Trung Quốc như

Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch năm 1679, được chúa Nguyễn cho vào

Nam ở Nông Nại và Mỹ Tho nhằm giúp chúa Nguyễn khai phá vùng đất mới mà

triều đình chưa kinh lý được. Tại đây, nhưng lưu dân Hoa Nam cùng với những

người dân Việt đã vỡ đất phá rừng, lập phố chợ, từ đó các thương thuyền các nước

Trung Hoa, Nhật Bản, cả các châu Âu, Java qua lại buôn bán tấp nập [51, tr.314-

316].

Năm Mậu Dần, 1698, đời Quốc Chúa Nguyễn Phúc Chu, Thống suất Chưởng

cơ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1650-1700) kinh lược đất Cao Miên lấy đất

18

Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng

dinh Trấn Biên, lấy xứ Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên

Trấn [29, tr.111-112], thì bấy giờ “ngàn dặm đất đai, dân hơn 4 vạn hộ, chiêu mộ

lưu dân từ châu Bố Chính đến lập nghiệp, lập ra thôn xã phường ấp, phân định địa

giới, ruộng đất, lập ra tô thuế, xây dựng dinh điền bạ tịch. Con cháu người Hoa nếu

ở Trấn Biên được quy lập thành xã Thanh Hà, còn ở Phiên Trấn thì lập thành xã

Minh Hương rồi cho phép vào hộ tịch” [29, tr.112].

Sau đó, vào cuối thế kỷ 17, cuộc di dân của Mạc Cửu từ Hoa Nam đã đi thẳng

xuống vùng cực nam vịnh Thái Lan, quy tụ nhân dân, khẩn hoang, lập ấp, mở hải

khẩu, chiêu thương, mậu dịch, đến cuối thế kỷ 18 thì họ chiếm lĩnh gần hết dải

duyên hải miền tây nam, thành lập một tiểu quốc. Năm 1708, họ Mạc đem tất cả đất

đai mà mình đã khai mở quy thuận triều đình chúa Nguyễn để làm thế ỷ dốc, bảo hộ

về mặt ngoại giao, còn về văn hoá, xã hội, kinh tế họ Mạc đều tự chủ lấy. Triều đình

cho Mạc Cửu làm Thống binh Hà Tiên, sau đó phân chia đất này lập châu Định

Viễn và dinh Long Hồ (1732). Đất Hà Tiên bấy giờ ngày càng đông đúc trở thành

nơi phồn thịnh, nhiều thương thuyền Trung Quốc, Chân Lạp, Xiêm, Java đến buôn

bán…

Năm 1771, cuộc khởi nghĩa của anh em nhà Tây Sơn nổ ra, quy tụ được một

lực lượng tham gia khởi nghĩa khá đông đảo. Bấy giờ, lực lượng của chúa Nguyễn

bị suy yếu do sự chia cắt ranh giới bởi một bên là quân khởi nghĩa Tây Sơn, và một

bên là chúa Trịnh. Nắm lấy thời cơ này, chúa Trịnh đem quân tiến đánh nhà Nguyễn,

buộc chúa Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) phải bỏ Phú Xuân, cùng cháu là

Nguyễn Phúc Ánh chạy vào Nam vào năm 1775. Hai năm sau, trong đợt tấn công

của Tây Sơn vào Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị Nguyễn Huệ giết ở Long

Xuyên (An Giang) năm 1777. Nguyễn Ánh thoát chết trong trận này, lui quân về

vùng đất miền Tây Nam Bộ, sau đó chống trả với Tây Sơn bằng việc đánh chiếm lại

Vĩnh Long và tiến đánh Sài Gòn xây dựng thành căn cứ để chống trả với Tây Sơn.

Cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh kéo dài từ năm 1777 đến đầu năm

1802, trong khoảng thời gian 25 năm trên vùng đất Nam Bộ mà chủ yếu ở vùng Gia

Định.

Năm 1802, Nguyễn Ánh khôi phục lại sự thống trị của dòng họ sau khi đánh

bại nhà Tây Sơn, lãnh thổ cũng được mở rộng đến cả Bắc Hà. Tình hình chính trị

19

của triều Nguyễn tạm bình ổn trong thời gian đầu, mặc dù nhiều cuộc khởi nghĩa nổ

ra khắp cả nước.

Năm 1820, vua Minh Mệnh lên ngôi, tiếp tục thực hiện công cuộc thống nhất

đất nước về mặt hành chính, trong đó có việc bãi bỏ cơ chế quản lý Bắc Thành (năm

1831) và Gia Định Thành (năm 1832) dưới đời Gia Long, chia định lại các tỉnh.

Việc phân định lại các tỉnh kéo theo việc đặt lại các quan chức cho mỗi tỉnh gồm

tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát và lãnh binh. Nam Bộ bấy giờ chia thành sáu

tỉnh: Biên Hoà, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Sau đó tỉnh

Phiên An được đổi lại thành tỉnh Gia Định (năm 1833).

Sau cái chết của Lê Văn Duyệt, những quân binh dưới trướng của Lê Văn

Duyệt đã ra mặt chống đối triều đình nhà Nguyễn. Ngày 18 tháng 5 năm Quý Tỵ

(1833), Lê Văn Khôi khởi nghĩa ở thành Phiên An chống lại triều đình Nguyễn, thu

hút được một số tầng lớp thương nhân người Hoa. Cuộc khởi binh này lúc đầu địa

bàn rộng cả sáu tỉnh nhưng sau thu dần ở Gia Định và cuối cùng bị bao vây trong

thành Bát quái. Tuy nhiên cuộc khởi nghĩa này chỉ mang tính chất một cuộc binh

biến chứ chưa phải là cuộc khởi nghĩa mang tính nhân dân như ở các địa phương

khác. Cuộc binh biến do Lê Văn Khôi cầm đầu tại thành Gia Định nổ ra và kéo dài

hai năm (1833-1835), khiến cho triều đình phải tốn nhiều công sức trong việc bình

loạn.

Năm 1841, Thiệu Trị lên ngôi, nhưng chỉ ở ngôi được 6 năm, đến năm 1847

thì mất. Tự Đức kế vị thực hiện nhiều chính sách khá bảo thủ, lạc hậu làm kìm hãm

sự phát triển của đất nước. Với những chính sách trọng nông ức thương, bế quan toả

cảng của triều đình Nguyễn đã khiến cho xã hội ở Nam Bộ vốn linh hoạt đã nảy

sinh mâu thuẫn giữa tầng lớp thương nhân và địa chủ với triều đình. Tuy nhiên

những mâu thuẫn này vẫn được điều hoà chưa thể phát triển thành những cuộc khởi

nghĩa do các nhà nho lãnh đạo như cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương ở miền Bắc do Cao

Bá Quát cầm đầu. Trong khi đó, các cuộc khởi nghĩa nông dân vẫn nổ ra ở các vùng

Bắc Trung Bộ khiến triều đình Nguyễn nhiều phen đưa quân đi dẹp loạn. Ở Nam Bộ

tình hình này có vẻ lắng dịu hơn. Nhưng sau khi Tự Đức lên ngôi, với chính sách

cấm đạo Thiên Chúa, chính sách ngăn sông cấm chợ bởi sự yếu kém về kiến thức

khoa học xã hội đã dần tạo tiền đề cho sự xâm lược của nước ngoài, đặc biệt nước

Pháp.

20

Từ thời vua Minh Mệnh đến Thiệu Trị, các nước Anh, Pháp đã ngấp nghé

muốn đặt chân vào nước ta nhưng vẫn chưa có dịp. Nay nhân việc cấm đạo của Tự

Đức càng gắt gao hơn, đồng thời lấy cớ việc vua Tự Đức không tiếp quốc thư của

Pháp vào năm 1856, lính Pháp đã nổ súng bắn phá đồn luỹ ở khu vực Sơn Trà – Đà

Nẵng và đổ bộ lên bờ. Năm 1857, vua Pháp là Napoleon III đã thông qua quyết định

dùng vũ trang can thiệp và xâm lược Việt Nam. Đến tháng 9 năm 1858, thực dân

Pháp chính thức đưa quân vào cửa biển Đà Nẵng, đến ngày 17-2-1859 quân Pháp

đánh chiếm thành Gia Định. Sự chống trả yếu ớt và từng bước nhượng bộ những

đòi hỏi của thực dân Pháp từ triều đình Nguyễn đã khiến nhiều tầng lớp nhân dân

bất bình đứng lên khởi nghĩa.

Hoà ước Nhâm Tuất 1862 cắt nhượng ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm Biên

Hoà, Gia Định, Định Tường và năm 1867, quân Pháp tiến đánh ba tỉnh miền Tây,

bấy giờ Phan Thanh Giản đang làm Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ thấy

tình hình lực lượng của hai bên đã ra lệnh dâng ba thành còn lại là Vĩnh Long, An

Giang và Hà Tiên, sau đó ông uống thuốc độc tự tử. Từ đây, các cuộc khởi nghĩa

chống Pháp của nhân dân cả nước đặc biệt là khu vực Nam Bộ lắng dần bởi mất đi

địa bàn hậu cứ. Tình hình này tác động đến tư tưởng của các nhà nho Nam Bộ khiến

cho những sáng tác văn học Hán Nôm ở Nam Bộ bấy giờ có nội dung yêu nước với

âm hưởng bi hùng, khác với nội dung yêu nước được thể hiện trong thơ Gia Định

tam gia ở giai đoạn trước.

1.1.2. Diện mạo văn học Hán Nôm ở Nam Bộ

Ở Đàng Trong cũng như ở Gia Định nói riêng, các chúa Nguyễn tuy không mở

trường học, nhưng trong dân gian có nhiều trường học kiểu tư thục của những nhà

nho. Những người thầy thường là những nhà nho ở miền Bắc miền Trung vào, được

các bậc cha anh mời dạy. Mục đích của việc học là để con em biết chữ làm người

chứ không phải học tập theo kiểu khoa cử. Chính vì vậy mà cái học ở Nam Bộ có

tính thực dụng và phóng khoáng hơn so với các vùng miền khác, điều này sẽ ảnh

hưởng đến học phong của cả vùng đất Nam Bộ về sau.

Ở Bình Dương, phủ Gia Định, bên cạnh trường học của Võ Trường Toản (mất

năm 1792), còn có trường học của Đặng Đức Thuật (mất năm 1796). Chính các ông

là người đào tạo trực tiếp ra các nhân tài tham gia trực tiếp vào chính quyền Nguyễn

Ánh sau này.

21

Với tư liệu thiếu thốn hiện nay, chưa cho phép chúng ta tìm hiểu kỹ về việc

học hành thi cử ở Nam Bộ trong giai đoạn này. Tuy nhiên có thể thông qua những

ghi chép của Trịnh Hoài Đức ít nhiều cho thấy tình hình học hành ở vùng đất mới

Nam Bộ như sau:

慈幃攜余再往藩安鎮流寓于新隆縣,全賴和丸斷織,嚴督從師。然而村

學童生坐欠春風,止知背讀講義而已 “Từ vi huề dư tái vãng Phiên An trấn lưu

ngụ vu Tân Long huyện, toàn lại hoà hoàn đoạn chức, nghiêm đốc tòng sư. Nhiên

nhi thôn học đồng sinh toạ khiếm xuân phong, chỉ tri bối độc, giảng nghĩa nhi dĩ.”

(Mẹ tôi dắt tôi trở lại trấn Phiên An, lưu ngụ ở huyện Tân Long, toàn nhờ cậy vào

sự dạy dỗ của mẹ, mà kính cẩn dốc lòng theo thầy học tập. Nhưng đám trẻ đi học

trong làng lúc ấy thiếu thầy giỏi, chỉ biết đọc thuộc lòng, giảng nghĩa chữ mà thôi.)

(Cấn Trai thi tập, Tự tự).

Trong bài thơ viết khi ông ở làng Long Tịch, cảnh sinh hoạt học tập của trẻ

con, cảnh làm ăn sinh sống của người dân được ông ghi lại vừa khái quát vừa sinh

động:

學童霜履虹橋去 Học đồng sương lý hồng kiều khứ,

釣叟煙凌水滸歌 Điếu tẩu yên lăng thuỷ hử ca.

邨落生涯勤少婦 Thôn lạc sinh nhai cần thiếu phụ,

簷前邀月揀棉花 Diêm tiền yêu nguyệt giản miên hoa.

(Trịnh Hoài Đức, Long Tịch thôn cư tạp vịnh)1

(Học trò nhỏ đi trên chiếc cầu cong cong trong màn sương,

Ông già câu cá hát vang bên bờ nước mờ khói.

Trong xóm thôn, người thiếu phụ cần cù làm việc kiếm sống, Trước mái nhà, chờ trăng lên để nhặt hoa gòn.)2

Cảnh sinh hoạt bàn luận thơ ca thời bấy giờ trên vùng đất Nam Bộ mà đặc biệt

ở Gia Định cũng khá sôi nổi:

自是時名先輩,樂與交遊,許以忘年拉登論文鏖筆之壇範,我馳驅從容

取勝,而安靜之名已並播於文人之口矣“Tự thị thời danh tiên bối, lạc dữ giao du,

1 Các bản trích dẫn thơ của Trịnh Hoài Đức đều được trích từ Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.780, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ. 2 Tất cả những bản dịch thơ Gia Định tam gia được sử dụng trong đây đều là của chúng tôi, các bản dịch của người khác chúng tôi đều có ghi chú.

hứa dĩ vong niên lạp đăng luận văn ao bút chi đàn phạm. Ngã trì khu thung dung thủ

22

thắng, nhi An Tĩnh chi danh dĩ tịnh bá ư văn nhân chi khẩu hĩ” (Từ đó, các bậc tiên

bối nổi danh thời bấy giờ, vui vẻ cùng kết giao, xem là bạn vong niên, cho tham dự

các cuộc bàn văn luận bút, chúng tôi nhanh chóng thong dong giành thắng, nên cái

tên An (Trịnh Hoài Đức), Tĩnh (Ngô Nhân Tĩnh) đều được truyền rộng qua miệng

các văn nhân vậy.)

Chi tiết này cho thấy đội ngũ trí thức trên vùng Nam Bộ, khoảng nửa cuối thế

kỷ 18, đặc biệt là ở Gia Định đã khá phát triển. Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê

Quang Định, Ngô Tòng Châu, Nguyễn Hương… là những học trò của Võ Trường

Toản và Đặng Đức Thuật. Đặc biệt là từ khi gặp Đặng Đức Thuật, Trịnh Hoài Đức,

Ngô Nhân Tĩnh đã tập hợp các bạn yêu thơ và thành lập thi xã có tên là Sơn Hội,

tập trung nhiều nhà thơ gốc người Minh Hương như Hối Sơn Huỳnh Ngọc Uẩn, Kỳ

Sơn Diệp Minh Phụng, Phục Sơn Vương Kế Sinh, Nhân Sơn là em họ của Trịnh

Hoài Đức…

Những chính sách trong thời chiến của Gia Long đã thúc đẩy Gia Định trở

thành trung tâm kinh tế-văn hoá của cả vùng Nam Bộ. Đồng thời, để đủ lực lượng

chống lại Tây Sơn, Gia Long cần có một đội ngũ quan lại trí thức làm việc cho

mình, bằng việc tổ chức các kỳ thi tuyển chọn nhân tài.

Năm 1788, có đợt ứng thí ra làm quan, trong đợt này, Trịnh Hoài Đức, Lê

Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh, Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh… đều ra ứng

thí. Trong Thực lục cho biết, năm 1791, mở khoa thi, lấy trúng cách 12 người (phép

thi, kỳ đệ nhất, chế nghĩa thì kinh truyện đều một đạo, thơ thì dùng sử dùng cảnh

đều một bài; kỳ đệ nhị, chiếu chế biểu dùng sử dùng cảnh đều ba đạo), vua thấy số

thi hỏng nhiều, lại sai khảo hạch lại [92, tr.274]. Tháng chạp năm 1795, ra quy chế

về thi cử, thi hội vào tháng 3, theo đúng quy định tiền triều [92, tr.331]. Tháng 3

năm 1796, mở khoa thi lấy đỗ 273 người, trong đó trúng tam trường 14 người, trúng

nhị trường 54 người, trúng nhất trường 205 người [92, tr.334].

Sau khi giành lại chính quyền từ Tây Sơn, việc tổ chức học hành thi cử có quy

củ hơn khiến cho con số những người học hành đỗ đạt ở khu vực Nam Bộ tăng lên

đáng kể. Năm 1802, số người thi lấy đỗ giảm xuống mà số người đỗ cao tăng lên:

41 người tam trường, 46 người nhị trường, 92 người nhất trường. Từ 1813 đến 1864

triều Nguyễn đã tổ chức 20 khoa thi hương ở trường Gia Định lấy đỗ 269 người Cử

23

nhân, Hương cống. Cảnh học hành nhộn nhịp này được ghi lại trong bài Cổ Gia

Định phong cảnh vịnh:

Chốn thí trường lẩy lẩy nho sinh,

Đều nhắm cánh hộc hồng, một thuở bảng vàng lăm chiếm.

Nhà quốc học dẫy đầy sĩ tử,

Gắng gia công đăng hoả, mười năm đèn sách đợi mây [37, tr.246]

Với tình hình học hành thi cử như vậy, những người trong đội ngũ trí thức đó

sẽ đứng vào hàng ngũ của lực lượng sáng tác văn học Hán Nôm ở Nam Bộ và hoà

nhập với đội ngũ sáng tác của cả nước.

Các tác giả tác phẩm tiêu biểu của văn học Hán Nôm Nam Bộ trong thời kỳ

này, trước tiên có thể kể đến tác phẩm của nhóm thơ Chiêu Anh Các ở Hà Tiên do

Mạc Thiên Tích làm chủ soái (thành lập vào năm 1736), như Hà Tiên thập cảnh

vịnh, Minh bột di ngư thi thảo, Hà Tiên quốc âm thập cảnh ngâm khúc… Trong đó,

Hà Tiên thập cảnh vịnh ngoài việc được các nhân sĩ Trung Quốc hoạ vần, những

nhà thơ ở Nam Bộ như Trịnh Liên San cũng có vịnh hoạ…

Võ Trường Toản với Hoài cổ phú, Đặng Đức Thuật với bài sớ Thập sách và

Quy sơn thập vịnh (tác phẩm này hiện chưa tìm thấy, nhưng theo Trịnh Hoài Đức

trong bài thơ Khốc Đặng Cửu Tư tiên sinh phần chú thích có chép tên hai tác phẩm

này). Ngoài Võ Trường Toản và Đặng Đức Thuật, còn có Lâm Tấn và Trần Nam

Lai. Lâm Tấn với bài Đề Lễ công từ chép trong Gia Định thành thông chí của Trịnh

Hoài Đức và trong Đại Nam nhất thống chí… Trần Nam Lai người xứ Hà Tiên sau

về ngụ ở Trấn Biên cũng là một nhà thơ có tiếng thời bấy giờ, tuy nhiên tác phẩm

của ông cho đến nay vẫn chưa tìm thấy. Trong bài Khốc Trần Nam Lai của Trịnh

Hoài Đức viết năm 1786 khi Trần Nam Lai mất cho thấy tài thơ và tài viết chữ của

ông qua hai câu thơ:

嘉定至今師字法 Gia Định chí kim sư tự pháp,

河僊自昔祖詩才 Hà Tiên tự tích tổ thi tài.

(Trịnh Hoài Đức, Khốc Trần Nam Lai)

(Đến nay ở đất Gia Định, ông vẫn là bậc thầy viết chữ,

Thuở trước ở Hà Tiên, ông là bậc tổ về tài thơ.)

Tiếp theo là Gia Định tam gia: Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân

Tĩnh với số lượng sáng tác khá nhiều mà chúng tôi sẽ nói ở sau.

24

Sau Gia Định tam gia, có Trương Hảo Hiệp (1795 – 1851) với tác phẩm

Mộng Mai đình thi thảo; Phan Thanh Giản (1796 - 1867) với Lương Khê thi thảo,

Lương Khê văn thảo; Huỳnh Mẫn Đạt (1807 - 1883) với một số bài thơ Nôm vịnh

cảnh vịnh vật; Bùi Hữu Nghĩa (1807-1872) với Kim Thạch kỳ duyên và một số sáng

tác thơ văn Hán Nôm; Nguyễn Hữu Huân (1816-1875) với một số bài thơ chữ Hán

và chữ Nôm; Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) với Lục Vân Tiên, Dương Từ Hà

Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp, và một số thơ, văn tế…; Trần Thiện Chánh (1822-

1874) với Trừng Giang thi văn tập, Nam hành thi thảo và Bắc chinh thi thảo;

Nguyễn Thông (1827-1884) với Ngoạ du sào thi văn tập, Kỳ Xuyên thi văn sao, Kỳ

Xuyên công độc…; Phan Văn Trị (1830-1910) với nhiều bài thơ Nôm vịnh vật và

đặc biệt là cuộc bút chiến giữa ông với Tôn Thọ Tường với nội dung đả kích bọn

bán nước đồng thời bày tỏ ý chí và tinh thần yêu nước của ông; Học Lạc (1842-

1905) và Nhiêu Tâm (?-?), hai nhà thơ trào phúng nổi tiếng ở Nam Bộ...

Về đại thể có thể thấy tình hình văn học Hán Nôm ở Nam Bộ có mấy nét sau:

Lực lượng sáng tác văn học Hán Nôm ở Nam Bộ rất đa dạng. Ngoài những

người xuất thân từ nhà nho (tuy nhiên các nhà nho ở Nam Bộ hoàn toàn không nổi

tiếng giống kiểu họ Nguyễn ở Tiên Điền hay dòng họ Ngô Thì ở miền Bắc), vẫn có

những người xuất thân từ tầng lớp thương nhân; bên cạnh những người dân Việt

vẫn có những người là Minh Hương, Thanh Hương; bên cạnh số ít hợp tác với Pháp

vẫn có đa số những nhà nho bất hợp tác với quân thù…

Nội dung thơ ca của văn học Hán Nôm Gia Định từ cuối thế kỷ 18 cho đến

những năm cuối thế kỷ 19 có những chuyển biến rất dễ nhận thấy. Ở giai đoạn đầu,

khoảng trước năm 1802, thơ thường ca ngợi những con người quân tử với những

phẩm chất đạo đức tốt đẹp theo quan niệm của Nho gia, ngợi ca cảnh đẹp quê

hương, miêu tả cảnh sinh hoạt lao động của nhân dân trên miền đất mới vừa khai

hoang khai khẩn, bày tỏ tình cảm yêu nước, yêu quê hương qua niềm trung quân…

bởi giai đoạn này, triều đình nhà Nguyễn vừa giành lại quyền thống trị của mình

trên toàn vẹn lãnh thổ, nên vẫn còn thi hành nhiều chính sách tiến bộ. Nhưng đến

đời Minh Mệnh trở về sau, nhất là đời Tự Đức, với sự cấm đạo gay gắt, chính sách

bế quan toả cảng đã tạo bàn đạp cho kẻ xâm lược có cớ đưa quân vào nước ta.

Trong đội ngũ nhà nho thời bấy giờ đã có sự phân liệt thành hai nhóm: một nhóm

dùng ngòi bút của mình để cổ vũ cho những phong trào đấu tranh chống Pháp, nêu

25

cao tinh thần yêu nước; một nhóm lại hợp tác với thực dân Pháp một cách vô liêm sỉ.

Do đó, nội dung thơ trong giai đoạn này khá phong phú và phức tạp. Nổi bật trong

nền văn học Hán Nôm Nam Bộ lúc bấy giờ vẫn là dòng thơ yêu nước của những

nhà thơ lớn như Nguyễn Đình Chiểu, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông,

Trần Thiện Chánh… Họ nhiệt tình cổ vũ cho những phong trào khởi nghĩa chống

Pháp, họ yêu nước, yêu quê hương, nhưng dần dần không còn gắn vua với nước nữa.

Những quan niệm về đạo đức, lý tưởng nhà Nho, lòng trung quân, ái quốc sẽ được

nhìn nhận và khẳng định lại theo một cách hơi khác trước. Chính vì thế mà nội dung

tư tưởng của văn học Hán Nôm Nam Bộ ở giai đoạn này đã thật sự hoà mình vào

dòng chảy văn học chung của toàn dân tộc.

Trên phương diện hình thức nghệ thuật, sáng tác thơ không còn khuôn khổ

trong phạm vi thơ Đường luật như Gia Định tam gia, mà ở giai đoạn sau, các tác giả

đã bắt đầu dùng nhiều thể loại để sáng tác. Sự xuất hiện khá nhiều thể loại bi, ký,

truyện thơ… khắc phục được tình trạng mất cân xứng giữa các thể loại. Dễ thấy, ở

giai đoạn đầu sáng tác bằng chữ Hán chiếm đa số nhưng dần dần sau đó sáng tác

bằng thơ Nôm và tiếp theo là quốc ngữ phát triển theo sự suy tàn của chữ Hán Nôm.

[36, 55-129]

1.2. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA

Tiểu sử và hành trạng của Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định

có chép trong Liệt truyện và rải rác trong Thực lục. Bên cạnh đó, qua thơ và những

ghi chép của Gia Định tam gia, cũng cho thấy một phần hành trạng của các ông. Vì

vậy, chúng tôi đã dựa vào sử truyện và thơ để tái hiện cuộc đời hành trạng của các

ông trong bối cảnh lịch sử đương thời.

Trong phần này, chúng tôi đi vào các khía cạnh sau:

Trước tiên, chúng tôi khẳng định lại năm sinh năm mất của các ông, để thống

nhất những số liệu mà lâu nay các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa thống nhất. Hai là,

tiểu sử hành trạng của Gia Định tam gia.

Ba là, văn nghiệp hay những tác phẩm của Gia Định tam gia.

26

1.2.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Trịnh Hoài Đức

1.2.1.1. Xác định năm sinh năm mất của Trịnh Hoài Đức

Năm mất của Trịnh Hoài Đức, khá thống nhất là năm 1825; nhưng về năm

sinh thì có hai số liệu. Một, cho rằng Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765, như các công

trình Việt Nam văn học sử yếu [38, tr.345], Ba mươi năm cầm bút [53, tr.333], Hợp

tuyển thơ văn Việt Nam, thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX [72, tr.562], Tiến trình văn

nghệ miền Nam [113, tr.87-88], Tổng tập văn học Việt Nam [99, tr.15], Địa chí văn

hoá thành phố Hồ Chí Minh [36, tr.60], Những danh sĩ miền Nam [43, tr.43], Từ

điển văn học [44, tr.829], Gia Định tam gia thi [8, tr.20]… ; Hai là cho rằng, ông

sinh năm 1764, như Việt Nam đại quan [163, tr.56], Gia Định tam gia [8, tr.249].

Sách Liệt truyện và Thực lục đều chép Trịnh Hoài Đức mất vào năm Minh

Mệnh thứ 6 (1825), riêng Liệt truyện còn chép thêm ông thọ 61 tuổi [93, tr.402] [94,

tr.214], do đó, nếu tính theo tuổi âm lịch thì Trịnh Hoài Đức sinh năm 1765. Như

vậy, các thuyết cho rằng Trịnh Hoài Đức sinh vào năm 1765 là căn cứ theo Liệt

truyện.

Khi tìm hiểu về thơ của Trịnh Hoài Đức, chúng tôi thấy có vài tư liệu có thể

tính được năm sinh của ông.

 Một là, theo bài Tự tự của Trịnh Hoài Đức (tự đề tựa tập thơ Cấn Trai thi

tập), có viết:

及先考少事詩書,長通六藝,大字象棋爲時稱首差與紈袴子弟

伍,以張釋之以貲補郎,黃霸入粟沈黎郡補左馮翊卒吏,遂爵富春京

納銀,拜受六品,冠蓋就職于新平府倉塲,挈家遊宦.癸巳年不祿,

時余方十歲.“Cập tiên khảo thiếu sự thi thư, trưởng thông lục nghệ, đại

tự tượng kỳ vi thời xứng thủ, tu dữ hoàn khố tử đệ ngũ, dĩ Trương Thích

Chi dĩ ty bổ lang, Hoàng Bá nhập túc Trầm Lê quận bổ tả phùng dực tốt lại,

toại tước Phú Xuân kinh nạp ngân, bái thụ lục phẩm, quan cái tựu chức vu

Tân Bình phủ thương trường, khiết gia du hoạn. Quý Tỵ niên bất lộc, thời

dư phương thập tuế” (Đến đời cha tôi, thuở nhỏ theo học thi thư, lớn lên

thông cả lục nghệ, tài viết đại tự, đánh cờ (của cha) cũng được thời bấy giờ

khen ngợi là đứng đầu. Thấy thẹn với đám con em trẻ nhỏ, nên bắt chước

theo Trương Thích Chi nhờ nộp tiền mà được bổ chức Lang, như Hoàng Bá

nộp thóc ở Trầm Lê quận được bổ chức tốt lại Tả phùng dực, bèn đến kinh

27

Phú Xuân nạp bạc, bái nhận mão lọng chức hàng lục phẩm, nhận chức ở

kho phủ Tân Bình, mang cả gia quyến theo. Năm Quý Tỵ, (cha tôi) không

may qua đời, bấy giờ tôi vừa 10 tuổi…) [Cấn Trai thi tập, Tự tự]

Năm Quý Tỵ mà Trịnh Hoài Đức nói đến chính là năm 1773, bấy giờ Trịnh

Hoài Đức lên 10 tuổi, suy ra tuổi âm lịch, ông sinh năm 1764.

 Hai là, trong bài thơ Lữ thứ hoa triêu trong Cấn Trai thi tập, làm vào thời

gian khi ông đi sứ sang Trung Quốc, có câu: 倏 忽 行 庚 四 十 年 , 花 朝 適 值

桂 江 邊 “Thúc hốt hành canh tứ thập niên, Hoa triêu thích trị Quế Giang biên”

(Thấm thoắt tuổi tác đà bốn mươi, Trong tiết hoa triêu (tức mồng 2 tháng 2) ta vừa

đến bờ Quế Giang).

Bài thơ này chính tác giả xếp vào mùa xuân năm Quý Hợi (1803), và theo như

lời tác giả nói, ông vừa đến tuổi 40, nên cũng có thể tính được ông sinh vào năm

1764 (Giáp Thân).

Từ hai dữ liệu này chúng tôi xác định rằng Trịnh Hoài Đức sinh năm 1764,

bởi hai số liệu chính tác giả đưa ra là đáng tin hơn.

Như vậy, từ hai cứ liệu trên ta có thể xác định năm sinh, năm mất của Trịnh

Hoài Đức là 1764 và 1825.

1.2.1.2. Cuộc đời Trịnh Hoài Đức

Trịnh Hoài Đức (1764-1825) tên An, tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai, sau được

phong An Toàn hầu, thuỵ Văn Khác. Năm 1764, cất tiếng khóc chào đời ở xã Thanh

Hà, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên Hòa trong gia đình có truyền

thống đời đời làm quan ở Trung Quốc. Tổ tiên của Trịnh Hoài Đức ở làng Phúc Hồ,

huyện Trường Lạc, tỉnh Phúc Kiến. Cuối đời Minh đầu đời Thanh, ông nội ông là

Trịnh Hội, hiệu Sư Khổng di cư sang Việt Nam (vì không chịu cắt tóc theo lệnh nhà

Thanh), ngụ cư tại xã Thanh Hà, thuộc huyện Bình An, phủ Phước Long, trấn Biên

Hòa, làm nghề buôn bán trở nên giàu có. Cha của Trịnh Hoài Đức là Trịnh Khánh,

thuở nhỏ chăm học, viết đại tự rất đẹp và nổi tiếng cao cờ. Bấy giờ Trịnh Khánh

nhờ đến Phú Xuân nạp bạc, nên được trao chức lục phẩm, cho nhận chức ở kho lúa

phủ Tân Bình. Thế nên, cả nhà Trịnh Hoài Đức theo cha ở phủ Tân Bình. Đến năm

1773, cha ông mất, bấy giờ ông lên 10 tuổi, đành theo mẹ cùng anh chị trở về quê

cũ. [theo Tự tự]

28

Ba năm sau, vào năm 1776, Nguyễn Lữ đưa quân vào đánh Gia Định, chiếm

thành Sài Gòn và 3 dinh Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ, khiến chúa Nguyễn

Phúc Thuần phải chạy thoát về Bà Rịa (Đồng Nai). Năm 1777, Nguyễn Huệ lại đem

quân thuỷ bộ tiến đánh Gia Định, đưa quân tiến xuống Vĩnh Long, Long Xuyên giết

chết Nguyễn Phúc Thuần. Nguyễn Phúc Ánh may mắn thoát chết trong trận này, bắt

đầu chiêu tập binh mã phản công. Chính trong tình hình chiến loạn như thế, năm

1776 Trịnh Hoài Đức chuyển nhà đến trấn Phiên An, được sự dạy dỗ của mẹ, ông

theo thầy học tập. [Tự tự]

Tại đây, ông hội ngộ cùng Ngô Nhân Tĩnh, kết làm anh em, dùi mài kinh sử

nơi trường của thầy Võ Trường Toản, người được chúa Nguyễn phong là Gia Định

Xử sĩ Sùng Đức tiên sinh. Cũng tại ngôi trường này, hai ông đã gặp gỡ nhiều người,

trong đó có Ngô Tòng Châu, Lê Quang Định, Phạm Ngọc Uẩn, Lê Bá Phẩm…

Cuộc gặp gỡ này đã gắn kết số phận của ba người họ Trịnh, Lê, Ngô, làm nên danh

tiếng trong cả văn trường và quan trường sau này. Sau đó, Trịnh Hoài Đức và Ngô

Nhân Tĩnh còn tham gia thành lập thi xã mang tên Gia Định Sơn Hội, nhằm trau dồi

việc thi thơ. Những người tham gia thi xã này đều lấy tên hiệu có chữ Sơn, như: Chỉ

Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhữ Sơn Ngô Nhân Tĩnh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, Hối Sơn

Huỳnh Ngọc Uẩn… Hai ông cũng bắt đầu nổi danh từ đấy. Những người chơi thơ

bốn phương tụ hội giao du, nhưng theo Liệt truyện, sự học làm thơ ở Gia Định bắt

đầu thịnh lên là từ khi các ông theo học với thầy Đặng Đức Thuật. [94, tr.221-222]

Bấy giờ, quân Tây Sơn liên tiếp tấn công vào Gia Định, địa bàn dàn trận trải

từ Bình Thuận đến vùng đất Gia Định, khiến đời sống nhân dân gặp không ít khó

khăn. Tình cảnh loạn lạc này được ghi lại trong bài Thương loạn, Loạn hậu cửu

nhật đăng Mai Khâu… của Trịnh Hoài Đức. Lại gặp phải những năm mất mùa đói

kém, Trịnh Hoài Đức đành phải học theo Tử Cống đi buôn kiếm sống. Đến năm

1780, Trịnh Hoài Đức được 17 tuổi, vào ở rể nhà họ Lê. Tại đây ông đã gặp một

người thầy tính tình cương nghị Đặng Đức Thuật, người nổi tiếng với danh xưng

“Đặng gia sử phái”, đã chỉ dẫn cho ông về thi học và bỏ đi những lỗi lầm tỳ vết của

tục học. Cũng chính nhờ những chỉ dẫn và sự truyền dạy của người thầy này mà

29

trong thơ ca của Trịnh Hoài Đức dường như mang tính ký sự nhiều hơn hai người bạn ông1.

Cuối năm 1783, Trịnh Hoài Đức rời quê hương Gia Định sang ngụ ở thành

Nam Vang, Chân Lạp, ông đã viết nên những bài thơ mang nội dung nhớ quê hương,

nhớ người thân sâu sắc.

Năm 1788, sau khi Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định, mở phủ Nguyên soái,

tuyển dụng nhân tài, ông cùng Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu… ra ứng thí và

được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo. [92, tr.237]

Năm sau, 1789, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định cùng 10 người nữa lãnh

chức Điền tuấn, đi khuyên bảo nông dân làm ruộng ở các dinh Phiên Trấn, Trấn

Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định. [92, tr.248]. Khoảng thời gian công tác này, Trịnh

Hoài Đức để lại dấu ấn của chuyến đi công tác vào nông dân, khuyên bảo người dân

làm ruộng. Trong thơ, nhiều bài chứng tỏ ông rất am hiểu cuộc sống người dân

ruộng đồng như bài Điền gia thu vũ, Giang thôn hiểu thị…

Năm 1793, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định được chọn làm Đông cung thị

giảng cho Hoàng tử Cảnh vừa trở về từ nước Pháp. [92, tr.291]

Trong hai năm 1793, 1794, Trịnh Hoài Đức cũng có tham dự việc quân trong

trận tiến quân giải vây thành Diên Khánh được phản ánh trong thơ của ông viết vào

thời gian này. Sau đó, ông được điều về kinh và chuyển làm Ký lục Trấn Định vào

năm 1794 [92, tr.314]. Chính trong thời gian làm chức Ký lục Trấn Định, Trịnh

Hoài Đức mới có dịp làm thơ ca ngợi cảnh đẹp và cuộc sống của người miền Nam

với chùm thơ ba mươi bài (Gia Định tam thập cảnh…).

Vào năm 1798, Trịnh Hoài Đức thôi giữ chức Ký lục Trấn Định, được chuyển

làm Tham tri Hộ bộ [92, tr.371]. Năm 1799, Nguyễn Ánh đưa quân ra cửa biển Cần

Giờ, ông cùng với Cai cơ Nguyễn Văn Thịnh phụ trách việc chuyển quân lương

theo [92, tr.383]. Tháng 6, quân Nguyễn Ánh tiến đánh và lấy được thành Quy

1 Sự ảnh hưởng của Đặng Đức Thuật đối với ông có thể thấy qua sự kiện ông làm thơ khóc thầy khi Đặng Đức Thuật mất. Đối với thầy Võ Trường Toản, ông mất năm nào, Liệt truyện không chép, nhưng theo Gia Định xưa, tác giả Huỳnh Minh cho rằng Võ Trường Toản mất ngày 9-6 năm Nhâm Tý, tức 1792 [74, tr.150], nhưng lạ là ngay cả các học trò danh tiếng của ông như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định thảy đều không thấy nhắc đến dầu chỉ qua thơ. Nhưng khi Đặng Đức Thuật mất (Liệt truyện không chép năm mất, căn cứ vào bài thơ Trịnh Hoài Đức làm vào năm Bính Thìn, 1796, chúng tôi cho rằng Đặng Đức Thuật có thể mất năm này), Trịnh Hoài Đức làm thơ khóc thầy mình Khốc Đặng Cửu Tư tiên sinh.

Nhơn, tháng 7 trú ở thành Bình Định, sai Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Kỳ Kế chở

30

lương từ kho Đại La về chứa ở kho Cự Tích ở trong thành Bình Định [92, tr.389].

Cuối năm 1799, Nguyễn Ánh sai chưởng Hậu quân Võ Tánh thống lãnh bản dinh,

hiệp cùng Lễ bộ Ngô Tòng Châu lưu trấn thành Bình Định. Tham tri Hộ bộ Trịnh

Hoài Đức cùng với Tham tri Lễ bộ Nguyễn Cửu Hanh… đều theo lưu trấn thần,

trông coi việc binh dân, tiền thóc và kiện tụng [92, tr.396]. Cuối năm ông được triệu

về Gia Định [92, tr.404].

Năm 1800, Trịnh Hoài Đức được giao nhiệm vụ đốc chở thuyền lương ở Cù

Huân (Cù Mông) đến cửa biển Xuân Đài để tiếp tế cho quân. [92, tr.413]

Giữa năm 1802, sau khi Quang Toản bỏ chạy ra Bắc Thành, Nguyễn Ánh

chiếm lại được Phú Xuân, lên ngôi lấy hiệu Gia Long. Nhà Nguyễn cử đoàn sang sứ

Trung Quốc đầu tiên, bèn phong Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư Hộ bộ, sung làm

chánh sứ, cùng Ngô Nhân Tĩnh và Huỳnh Ngọc Uẩn làm phó sứ sang sứ Trung

Quốc [92, tr.491, 495]. Thời gian đi sứ kéo dài từ năm 1802 đến đầu năm 1804 mới

về đến Thăng Long. Nhân có đoàn sứ Trung Quốc do Tề Bố Sâm sang tuyên phong

quốc hiệu, ông cùng Ngô Nhân Tĩnh được vua cho hầu giá trong lễ sách phong.

Xong việc, ông vẫn giữ chức Thượng thư Hộ bộ. [92, tr.580] [94, tr. 209].

Năm 1805, nhận thấy Gia Định là nơi hiểm yếu, Nguyễn Ánh cử Chưởng

trung quân Nguyễn Văn Trương làm Lưu trấn Gia Định, và Trịnh Hoài Đức làm

Hiệp lưu trấn Gia Định. [92, tr.627]

Thời gian làm việc tại trấn Gia Định, thuộc hạ của Nguyễn Văn Trương là

Hoàng Văn Nghiêm giả thư của Trương gởi cho Nguyễn Văn Nhân nói xấu Trịnh

Hoài Đức. Văn Nhân bắt được thư đêm dâng lên, Nguyễn Ánh bèn hạ lệnh cho Văn

Trương về tâu sự tình, Văn Nghiêm hoảng sợ bỏ trốn. Văn Trương đem việc trình tạ

và nói: “Thần cùng Hoài Đức không có nghi kỵ gì nhau”. Vua xem xong tờ tâu thì

bỏ đi. [92, tr.697]

Năm 1808, triều đình bắt đầu đặt chức Tổng trấn thành Gia Định, lấy Nguyễn

Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định thay cho Nguyễn Văn Trương, Trịnh Hoài Đức

vẫn giữ chức Hiệp tổng trấn Gia Định [92, tr.739]. Chứng tỏ, vua vẫn rất tin tưởng

Trịnh Hoài Đức. Trong thời gian ở thành Gia Định, ông đã có những đóng góp

trong việc trị an ở đây.

Năm 1811, Trịnh Hoài Đức được mệnh hồi kinh viếng tang Hoàng thái hậu

[92, tr.823], rồi ở lại Kinh. Tháng 6 tháng 7 năm 1812, Nguyễn Ánh phong ông làm

31

Thượng thư Hình bộ nhưng ông cố từ, vì vậy chuyển ông làm Thượng thư Lễ bộ

kiêm quản lý công việc Khâm thiên giám. [92, tr.840, 842]

Tháng 5 năm 1813, nhà vua đi tuần giá ở Quảng Nam, Trịnh Hoài Đức được

giao nhiệm vụ ở lại giữ kinh thành [92, tr.862]. Cuối năm này, ông được chuyển

làm Thượng thư Lại bộ [92, tr.871]. Sau đó lại một lần nữa phong ông làm Hiệp

tổng trấn thành Gia Định để giúp việc cho Tổng trấn thành Gia Định Nguyễn Huỳnh

Đức vào năm 1816 [92, tr.938], và đến năm 1820, ông quyền lĩnh chức Tổng trấn

Gia Định thay cho Nguyễn Văn Nhân. [93, tr.45]

Tháng 6 năm 1820, Trịnh Hoài Đức được vua Minh Mệnh triệu về kinh cho

lĩnh chức Thượng thư Lại bộ như cũ [93, tr.69]. Tại đây, ông hội ngộ hai người con

của cố tri Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định và có ý định cho san khắc tập thơ của

ba người. [theo Gia Định tam gia thi tự]

Năm 1821, ông được sung chức Phó tổng tài Quốc sử quán tham gia soạn sách

tại Quốc sử quán [93, tr.133]. Tháng 8 năm này, ông vinh hạnh được phong Hiệp

biện đại học sĩ, lĩnh chức Thượng thư Lại bộ kiêm lĩnh Thượng thư Binh bộ và ban

hàm nhất phẩm [93, tr.148-149]. Năm sau, 1822, ông lại làm Chủ khảo trường thi

Hội đầu tiên, sung độc quyển ở kỳ thi Cống sĩ trong điện Cần Chánh [93, tr.197,

208]. Cuối năm này, ông lại vừa lĩnh chức Thượng thư Lại bộ vừa lĩnh chức

Thượng thư Lễ bộ [93, tr.244]. Cũng trong năm ấy, ông cho san khắc xong tập thơ

Gia Định tam gia thi.

Những năm cuối đời, Trịnh Hoài Đức vẫn giữ nhiều chức vụ quan trọng trong

triều Minh Mệnh và được nhiều ân sủng từ triều đình.

Năm 1823, ông bị bệnh, dâng biểu xin về Nam thăm gia đình, vua Minh Mệnh

có ý không muốn ông đi, sai Phạm Đăng Hưng đến uỷ lạo, ban nhân sâm… [93,

tr.297-298] nhưng rồi cũng chiều ý cho về Gia Định ba tháng [93, tr.308]. Sau đó

được triệu về kinh giữ chức như cũ. Mặc dù sức khoẻ yếu, nhưng Minh Mệnh vẫn

giao ông giữ chức Tổng tài Quốc sử quán để biên soạn Ngọc điệp tôn phả, đồng

thời còn giao ông trông coi công việc Thương bạc (1824). [92, tr.368, 390]

Tháng 2 năm 1825, Trịnh Hoài Đức mất. Vua cho bãi triều ba ngày và truy

tặng chức Thiếu bảo Cần Chánh điện Đại học sĩ (trật Chánh nhất phẩm), ban tên

thuỵ là Văn Khác. Linh cữu ông được đưa về Gia Định chôn cất. Ngày đưa tang,

vua cho Hoàng thân Miên Hoành đến nhà riêng vâng mệnh cho rượu, lại phái 400

32

quân Thần sách đưa đến bến đò sông Hương [93, tr.402]. Linh cữu đưa về đến Gia

Định, Tổng trấn Lê Văn Duyệt thân hành đến viếng. [94, tr.214].

Cuộc đời Trịnh Hoài Đức dẫu làm quan đạt đến đỉnh cao của danh vọng

nhưng ông sống cuộc sống thanh liêm, giản dị. Những năm về già, ông mới được

vua Nguyễn cho xây Quỳ viên ở cửa Đông thành để làm nhà riêng của ông tại Kinh.

Phần mộ của ông hiện toạ lạc ở phường Trung Dũng, thành phố Biên Hoà,

cùng với phần mộ của vợ ông, được xây theo hình lân phục. Phía trước có câu đối:

“Sơn thuỷ hữu tình thành quyến thuộc, Càn khôn vô vực thị gia hương” (Non nước

hữu tình thành quyến thuộc, Đất trời đâu chẳng là quê hương).

Phu nhân Trịnh Hoài Đức là bà họ Lê, có hai người con là Như và Cận. [164,

tr.1139]. Nhưng qua thơ của Trịnh Hoài Đức, người viết nhiều và ghi chép khá kỹ

về gia đình, chúng ta có thể thấy ông có mấy người con trai: Thiên Tính, Thiên

Nhiên, Thiên Hoá. Trong đó, Thiên Nhiên Tình Xuyên làm đến chức Hàn Lâm viện

biên tu, là người kiểm hiệu tập thơ Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức.

Con trai trưởng của Trịnh Hoài Đức là Thiên Tính, mất năm 1801, bấy giờ

Trịnh Hoài Đức đang ở binh trường, nên ông làm bài thơ rất thống thiết: Binh

trường đắc trưởng tử Thiên Tính vong tín trong Cấn Trai Thoái thực truy biên.

Còn con thứ ba của ông là Thiên Hoá thì mất vào ngày 24-7 năm Mậu Dần

(1818) được tác giả có bài thơ viết về sự kiện này với tựa Thương đệ tam tử Thiên

Hoá trong Cấn Trai Khả dĩ tập.

Ngoài ra, qua bia mộ của Trịnh Hoài Đức dựng vào tháng 11 năm Ất Dậu,

chúng tôi thấy có tên Tình Xuyên Trịnh Thiên Nhiên dựng bia. Bên cạnh mộ của

Trịnh Hoài Đức là mộ của phu nhân họ Lê, trong bia này chúng tôi thấy có ba người

con lập bia là: Trịnh Thiên Phúc, Trịnh Thiên Nhiên và Trịnh Thiên Bảo.

Như vậy, Trịnh Hoài Đức có ít nhất là năm người con trai: Thiên Tính, Thiên

Hoá, Thiên Nhiên, Thiên Phúc, Thiên Bảo. Còn tên Như và tên Cận mà Liệt truyện

chép, chúng tôi chưa rõ là ai trong số họ.

1.2.1.3. Sự nghiệp văn chương

德爲人謹慎風度沉整學問博洽議論常持大體德業文章爲世推重所著有嘉

定通志艮齋詩集北使詩集嘉定三家詩集行世 “Đức vi nhân cẩn thận, phong độ

trầm chỉnh, học vấn bác hợp, nghị luận thường trì đại thể, đức nghiệp văn chương

vi thế suy trọng. Sở trứ hữu Gia Định thông chí, Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập, Gia

33

Định tam gia thi tập hành thế” (Đức làm người cẩn thận, phong độ trầm tĩnh,

nghiêm chỉnh, học vấn uyên bác, nghị luận bàn bạc thường giữ gìn đại thể, đức độ,

công tích, văn chương đều được đời nể trọng. Trứ tác của ông (Trịnh Hoài Đức –

LQT chú) có Gia Định thông chí, Cấn Trai thi tập, Bắc sứ thi tập, Gia Định tam gia

thi tập lưu hành ở đời). [164, tr.1138-1139]

Năm 1820, vua Minh Mệnh lại xuống chiếu tìm sách cũ. Lần này, Trịnh Hoài

Đức có dâng sách Gia Định thông chí và Minh bột di ngư văn thảo [93, tr.63]. Năm

1822, Trịnh Hoài Đức lại dâng sách Khang tế lục và Lịch đại kỷ nguyên [93, tr.231].

Căn cứ vào ghi chép của Thực lục, Liệt truyện trên, và căn cứ vào bài Tự tự (tự

đề tựa Cấn Trai thi tập) của Trịnh Hoài Đức, mà có người cho rằng tác phẩm của

Trịnh Hoài Đức có Gia Định thông chí, Khang tế lục, Lịch đại kỷ nguyên, Cấn Trai

thi tập, Bắc sứ thi tập, Hoa trình lục, Gia Định tam gia thi tập, Minh bột di ngư văn

thảo.

Nhưng tác phẩm Minh bột di ngư văn thảo không phải là của Trịnh Hoài Đức,

mà ông chỉ là người viết tựa và tập hợp thơ của Mạc Thiên Tích từ lâu bị mai một

như Ngạc Xuyên đã làm rõ trong bài viết “Minh bột di ngư, một cuốn sách hai thi

xã”.

Bắc sứ thi tập chính là Quan quang tập sau này Trịnh Hoài Đức đưa vào Cấn

Trai thi tập của ông. Vấn đề là liệu những tác phẩm như Khang tế lục, Lịch đại kỷ

nguyên và Hoa trình lục có phải là của Trịnh Hoài Đức hay không? Với tình hình tư

liệu hiện nay chưa cho phép chúng ta đoán định nó có phải là của ông không, hay

như trường hợp của Minh bột di ngư văn thảo, bởi chúng ta chưa tìm thấy các tác

phẩm này.

Còn Gia Định tam gia thi tập chỉ là tập thơ chung của ông và Lê Quang Định,

Ngô Nhân Tĩnh. Tập thơ này gồm Cấn Trai thi tập của ông đã cho khắc bản trước

đây, đồng thời cho khắc thêm Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định và Thập

Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh vào phía sau, đặt tựa chung là Gia Định tam gia thi

như lời ông nói trong bài tựa Gia Định tam gia thi tự mà chúng tôi đã có dịp trình

bày.

Từ những trình bày trên, chúng tôi cho rằng tác phẩm còn lại của Trịnh Hoài

Đức gồm:

Địa dư:

34

- Gia Định (thành) thông chí quyển sách địa chí có giá trị về Nam Bộ,

gồm 6 quyển: quyển 1- Tinh dã chí, quyển 2- Sơn xuyên chí, quyển 3- Cương

vực chí, quyển 4- Phong tục chí, quyển 5- Sản vật chí, quyển 6- Thành trì chí.

Đây là tài liệu cần thiết để triều Nguyễn biên soạn các bộ sử như Thực lục

(tiền biên, chính biên đệ nhất kỷ và đệ nhị kỷ), Liệt truyện (tiền biên, chính

biên sơ tập), và Đại Nam nhất thống chí. Tác phẩm này được người Pháp là G.

Aubaret dịch ra Pháp văn và xuất bản ở Paris vào năm 1863.

Thơ văn chữ Hán:

- Một số bài văn bia chép trong Đại Nam anh nhã tiền biên, bài tựa Minh

bột di ngư văn thảo, bài tự đề tựa cho tập thơ của ông tức Tự tự, bài đề tựa cho

tập Gia Định tam gia thi tức Gia Định tam gia thi tự.

- Cấn Trai thi tập gồm 3 phần: Cấn Trai Thoái thực truy biên, Cấn Trai

Quan quang tập, Cấn Trai Khả dĩ tập (chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở dưới).

- Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn có bài thơ chữ Hán viết tặng hoà thượng

Viên Quang theo thể ngũ ngôn cổ phong thấy chép trong Nam Kỳ phong tục

nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong [82, tr.27-28,], bài thơ này đã được

Cao Tự Thanh dịch giới thiệu trên Tập văn Phật đản, Giáo hội Phật giáo Việt

Nam, số 23, tháng 4-1992. Trong Gia Định thành thông chí, bản dịch của Lý

Việt Dũng, cũng có chép bài này tên là Ngũ ngôn cổ điệu thi vân [29, tr.328-

330].

Thơ chữ Nôm:

- Thơ Nôm làm lúc đi sứ gồm 20 bài thất ngôn bát cú liên hoàn. (Lê

Quang Chiểu sưu tầm được 18 bài liên hoàn và 01 bài Từ giã mẹ đi sứ in trong

Quốc âm thi hiệp tuyển. Sau đó Cao Tự Thanh trong đợt điền dã tại Long An

đã sưu tầm đủ 20 bài thơ Nôm liên hoàn của Trịnh Hoài Đức).

- Trong Văn đàn bảo giám xuất bản năm 1968, Trần Trung Viên sưu tập,

có sưu tầm được hai bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức là Tạ mẹ đi sứ (cũng

chính là bài Từ giã mẹ đi sứ, hoặc còn có tên là Từ mẹ đi sứ Tàu) và bài Qua

đèo Hải Vân.

Như vậy số thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức tổng cộng có 22 bài.

35

1.2.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Ngô Nhân Tĩnh

1.2.2.1. Xác định năm sinh năm mất của Ngô Nhân Tĩnh

Về năm sinh năm mất của Ngô Nhân Tĩnh, nhiều công trình để trống như Hợp

tuyển thơ văn Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam [72, tr.583], [99, tr.26]…

Những công trình khác thì chỉ ghi năm mất là 1813 như Những danh sĩ miền Nam,

Từ điển văn học, Tiến trình văn nghệ miền Nam, Văn học Việt Nam nơi miền đất

mới [43, tr.61], [44, tr.1072], [113, tr.88], [114, tr.169], hoặc ghi năm sinh của ông

là 1761, năm mất là 1813 như Địa chí văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh [36, tr.65],

[124]… Vẫn có những trường hợp ghi năm mất của Ngô Nhân Tĩnh là năm 1816

[114, tr.167] và năm sinh của ông là 1760 nhưng chưa đi đến xác quyết [8, tr.249].

Theo sách Liệt truyện, vào năm Gia Long thứ 12 (1813), “ông cùng với Lê

Văn Duyệt đi hộ tống quốc vương Chân Lạp là Nặc Chân về nước. Đến khi trở về

hoặc có người nói là Tĩnh nhận của cho riêng, Duyệt tin thực đem việc ấy tấu lên,

vua cho là không có sự thực, bỏ đi. (…) Mùa đông năm ấy, ốm chết. Trịnh Hoài

Đức tâu giúp xin truy tặng, vua không cho.” [94, tr.216]

Sách Thực lục, chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 97 (XLVII) thì chép: “Hiệp tổng

trấn Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh chết” [92, tr.868] cũng vào năm Gia Long thứ 12

(Quý Dậu, 1813).

Cả hai sách trên đều chép Ngô Nhân Tĩnh mất vào mùa đông năm Quý Dậu,

Gia Long thứ 12 tức năm 1813. Như vậy, năm mất của Ngô Nhân Tĩnh, ta có thể

xác định được là năm 1813.

Còn về năm sinh của ông, cả hai sách đều không thấy chép. Vì thế, để xác

định năm sinh của Ngô Nhân Tĩnh, ngoài việc tìm kiếm những ghi chép trong Liệt

truyện và Thực lục, chúng tôi còn khảo sát qua những ghi chép của Trịnh Hoài Đức,

một người vừa cùng thời, vừa như là người em, vừa là người bạn đồng hương, đồng

liêu.

Trong lời bài Tự tự của Trịnh Hoài Đức có câu: “… dư dĩ Nhân Tĩnh thả

trưởng tứ tuế toại dĩ thế huynh xưng chi 余 以 仁 靜 且 長 四 歲 遂 以 世 兄 稱

之” (… tôi, vì Nhân Tĩnh lớn hơn chừng 4 tuổi nên bèn gọi là anh). Nếu chấp nhận

Trịnh Hoài Đức sinh năm 1764 như cách suy luận mà chúng tôi trình bày trên, thì

Ngô Nhân Tĩnh sinh năm Canh Thìn 1760.

36

Vậy chúng ta có thể xác định rằng Ngô Nhân Tĩnh sinh năm Canh Thìn,

1760, mất năm Quý dậu, 1813.

1.2.2.2. Cuộc đời Ngô Nhân Tĩnh

Ngô Nhân Tĩnh (1760-1813), tự Nhữ Sơn, hiệu Thập Anh, sau được phong

tước Tĩnh Viễn hầu, thuỵ Túc Giản - người sau này sẽ cùng Trịnh Hoài Đức và Lê

Quang Định kết làm bạn đồng môn, đồng liêu và gắn bó nhau - được sinh trên đất

Gia Định, trong gia đình người Minh Hương. Tổ tiên của ông ở Quảng Đông, Trung

Quốc, cuối đời Minh di cư đến đất này.

Thuở nhỏ, ông cùng với Trịnh Hoài Đức theo học trường của Xử sĩ Võ

Trường Toản, theo đòi bút nghiên, thi phú, rồi cùng Trịnh Hoài Đức tập hợp các

bạn yêu thơ văn lập nên thi xã Bình Dương [94, tr.205], hay còn gọi là Gia Định Sơn Hội [theo Tự tự]1.

Từ năm 1782-1784, trong 3 năm, Tây Sơn lại ba lần liên tiếp đánh vào Gia

Định. Nguyễn Ánh có khi phải trốn ra đảo Phú Quốc, rồi phải sang Xiêm cầu

viện… Trong cuộc chiến loạn giữa quân Tây Sơn và quân chúa Nguyễn, sự kiện

quân Hoà Nghĩa giết chết tướng Tây Sơn là Phạm Ngạn ở cầu Tham Lương, đã dẫn

đến việc Nguyễn Nhạc tấn công vào Vườn Trầu (Hóc Môn) tàn sát lính Hoà Nghĩa

và thương nhân Hoa kiều. Chính sự kiện này hẳn đã ảnh hưởng đến chuyến đi tránh

loạn sang Quảng Đông của Ngô Nhân Tĩnh năm 1782, được phản ánh trong bài thơ

Tống Ngô Nhữ Sơn chi Quảng Đông của Trịnh Hoài Đức.

Năm 1788, sau khi Nguyễn Ánh lấy lại được Gia Định, mở phủ Nguyên soái,

tuyển dụng nhân tài, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu… ra ứng thí

và được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo. Không thấy sử chép tên Ngô Nhân Tĩnh

trong đợt ra ứng thí lần này, nhưng theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức trong bài tựa

cho tập thơ Gia Định tam gia thi, thì các ông cùng ra ứng thí, được bổ chức Hàn

lâm thị học.

Năm Mậu Ngọ (1798), Lưu trấn Diên Khánh Nguyễn Văn Thành và Đặng

Trần Thường dâng sớ xin cho người đi sứ Trung Quốc một mặt nói rõ tình hình của

Tây Sơn, một mặt ngầm dò tìm tin tức vua Lê, đề cử Ngô Nhân Tĩnh và Phạm Thận.

1 Theo Trịnh Hoài Đức, Tự tự trong Cấn Trai thi tập, bản chữ Hán, ký hiệu A.1392, thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, lưu trữ, tờ 4a.

Ngô Nhân Tĩnh đang giữ chức Hàn lâm viện thị học được thăng làm Tham tri Binh

37

bộ, phụng mệnh mang quốc thư theo thuyền buôn người Thanh sang Quảng Đông,

để hỏi thăm tin tức vua Lê, nhưng giữa đường nghe tin vua Lê băng bèn trở về. [92,

tr.367-368, 370]. Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức (Tống Binh bộ Tham tri Tĩnh

Viễn hầu Ngô Nhữ sơn phụng sứ tự dẫn), thì giữa đường đi sứ, Ngô Nhân Tĩnh gặp

quân phiến loạn Bạch Liên giáo nổi loạn ở Tứ Xuyên nên đường bị tắc đành nấn ná

thời gian, lại được tin vua Lê đã mất bèn quay về.

Trên chặng đường đầy gian khổ này, Ngô Nhân Tĩnh đã sáng tác nhiều thơ với

những người bạn ở Trung Quốc, nhưng kín đáo bày tỏ nỗi niềm của người bầy tôi

xa chiến tuyến, mong chúa biết đến tấm lòng của mình và giãi bày tâm trạng phải

lưu lạc nơi xứ người như một cái tội khi bạn bè ông đang ở chiến trận giữa quê nhà.

Năm Kỷ Mùi (1799), ông được đề cử sang Lưỡng Quảng, Trung Quốc để bàn

về việc nạp cống và tạ ơn vua quan triều Thanh đã chu cấp lương thực cho quan

quân của nhà Nguyễn bị bão trôi giạt vào năm 1798. Bấy giờ Trịnh Hoài Đức đang

lo việc quân lương ở vịnh biển trấn Bình Hoà, ông đã đón đoàn sứ giả và tặng ba

bài thơ cho Ngô Nhân Tĩnh với ý chúc công việc thành tựu.

Năm sau, Canh Thân (1800), Tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh được sai lãnh

đem các thức chè Tàu, thuốc lá Xiêm, cá khô tôm khô chia cấp cho các tướng sĩ ở

Thị Dã. [92, tr.419]

Giữa năm Nhâm Tuất, Gia Long thứ 1 (1802), Nguyễn Ánh chiếm được Phú

Xuân, lên ngôi vua. Bấy giờ, lấy Trịnh Hoài Đức làm Thượng thư Hộ bộ, sung

chánh sứ sang nước Thanh, Ngô Nhân Tĩnh làm Hữu tham tri Binh bộ, Huỳnh Ngọc

Uẩn làm Hữu tham tri Hình bộ sung chức phó sứ, đem quốc thư và phẩm vật, lại

đem cả ấn sách đã bắt được do người Thanh phong cho Tây Sơn, cùng bọn giặc

biển Tề Ngôi là Mạc Quang Phù, Lương Văn Canh, Phàn Văn Tài, đi hai thuyền

Bạch yến và Huyền hạc vượt biển đến cửa Hổ Môn tỉnh Quảng Đông để nộp. [92,

tr.495-496]. Chính trên chặng đường hơn hai năm này, ông cùng các bạn Trịnh Hoài

Đức, Lê Quang Định, Huỳnh Ngọc Uẩn… sáng tác khá nhiều thơ.

Năm 1804 sứ đoàn về đến Thăng Long, chuẩn bị tiếp đón đoàn sứ Trung Quốc.

Ông và Trịnh Hoài Đức được nhận mệnh tham dự.

Năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807), Ngô Nhân Tĩnh được sung làm Chánh

sứ cùng với Phó sứ Trần Công Đàn mang sắc ấn đến thành La Bích ban phong cho

Nặc Chân làm quốc vương nước Chân Lạp [94, tr.215]. Tháng 3 năm Kỷ Tỵ, Gia

38

Long thứ 8 (1809), đặt ba trường diễn bắn súng, họp các quân Thị trung và Thần

sách diễn thi. Phó tướng quân Thần võ Trần Quang Thái và Tham tri Binh bộ Ngô

Nhân Tĩnh cùng Thiêm sự Bùi Công Kim làm giám khảo Hữu trường Thị trung. [92,

tr.748]

Năm Tân Mùi, Gia Long thứ 10 (1811), Hữu tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh

lãnh chức Hiệp trấn Nghệ An. [92, tr.807]. Trên đường ra Nghệ An nhậm chức, ông

được Nguyễn Du làm thơ tặng ca ngợi tài thơ của Ngô Nhân Tĩnh đồng thời mong

ông giúp đỡ nhân dân. Trong thời gian làm quan, ông sống cuộc sống thanh liêm,

giản dị, đuổi kẻ sâu mọt, dân được yên. Nhìn thấy nỗi khổ của nhân dân, ông dâng

sớ tâu nỗi khổ của dân, xin giảm thuế, được vua y cho. Không những thế, ông còn

đóng góp cho văn hoá địa phương với việc sai Đốc học Bùi Dương Lịch làm tập

Nghệ An phong thổ ký [94, tr.215-216] và chính ông là người hiệu đính sách này.

Năm Nhâm Thân, Gia Long thứ 11 (1812), Ngô Nhân Tĩnh ốm nặng, dâng biểu xin

về nam. Mùa hạ tháng tư năm ấy, Ngô Nhân Tĩnh được phong làm Thượng thư

Công bộ Hành hiệp Tổng trấn Gia Định. Trong thời gian này ông kiểm tra lệ thuế

tiền thóc sản vật ở các trấn đạo thuộc thành và giúp Lê Văn Duyệt ổn định tình hình

ở Gia Định. [92, tr.833,835,843]

Năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813), triều Nguyễn chiếu cho Tổng trấn

thành Gia Định Lê Văn Duyệt và Hiệp Tổng trấn Ngô Nhân Tĩnh đại phát thuỷ binh

hơn 13.000 người đem quốc vương Chân Lạp là Nặc Chân về nước [92, tr.860]. Sau

khi xong việc trở về, có người vu oan ông ăn của lót riêng nên Nguyễn Gia Long

lạnh nhạt với ông, mặc dù sự việc không được điều tra vì Nguyễn Gia Long cho

rằng chuyện không có chứng cứ. Nhưng chính vì thế, khiến ông không yên lòng,

buồn bã, nhuốm bệnh và mất tại Gia Định vào tháng mùa đông năm 1813. [92,

tr.868]

Sách sử không ghi chép về đám tang của ông, có lẽ do lòng lạnh nhạt của vua

Gia Long đối với Nhân Tĩnh. Khi ông mất, Trịnh Hoài Đức xin truy tặng, nhưng

vua không cho. Về cái chết của Ngô Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức đã có bài thơ khóc

bạn rất thống thiết (Văn Gia Định thành Hiệp Tổng trấn Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhữ

Sơn Công bộ Thượng thư phó âm ai tác).

39

Năm Canh thìn, Minh Mệnh thứ 1 (1820), được truy cấp cho phu coi mộ. Năm

Tự Đức thứ 3 (1850) được thờ phụ vào miếu Trung hưng công thần.1

Mộ của Ngô Nhân Tĩnh hiện ở trong khuôn viên của chùa Giác Lâm, trên

đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Trên bia mộ của

ông hiện nay có dòng chữ: Khâm sai Công bộ Thượng thư Hiệp hành Gia Định

thành Tổng trấn thuỵ Túc Giản Ngô hầu chi mộ (Mộ của Ngô hầu, quan Khâm sai,

Thượng thư Công bộ, Hiệp Tổng trấn thành Gia Định, thuỵ Túc Giản).

Liệt truyện chép Ngô Nhân Tĩnh có người con tên là Quốc Thuỵ [164, tr.1139].

Nhưng qua bài tựa tập Gia Định tam gia thi của Trịnh Hoài Đức soạn vào năm

Minh Mệnh thứ 3, tức 1822, có câu: 適 亡 友 黎 户 部 次 子 光 瑶, 吳 工 部 弎

子 國 珪 偕 來 叅 見 “Thích vong hữu Lê Hộ bộ thứ tử Quang Dao, Ngô Công bộ

tam tử Quốc Khuê, giai lai tham kiến” (Vừa lúc ấy con thứ của người bạn đã mất Lê

Hộ bộ (Lê Quang Định) là Quang Dao, con thứ ba của Ngô Công bộ (Ngô Nhân

Tĩnh) là Quốc Khuê đều đến tham kiến…), từ đó thấy Ngô Nhân Tĩnh có người con

tên là Quốc Khuê làm quan với triều Nguyễn. Như vậy, Ngô Nhân Tĩnh ít nhất là có

2 người con trai là Quốc Thuỵ và Quốc Khuê.

1.2.2.3. Sự nghiệp văn chương

Năm Mậu Ngọ, 1798, Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường dâng biểu

tiến cử người đi sứ sang Trung Quốc để dò la tin tức vua Lê, có câu: 靜操守端正學

問優長可當斯選 “Tĩnh tháo thủ đoan chính, học vấn ưu trường, khả đương tư

tuyển” (Tĩnh phẩm hạnh tiết tháo ngay thẳng, học vấn giỏi giang, có thể gánh vác

được chức tuyển ấy). Và đánh giá về văn nghiệp ông, có viết:

靜文學該博好吟詠常與鄭懷德黎光定相唱和有嘉定三家詩集行世 “Tĩnh

văn học cai bác, hiếu ngâm vịnh, thường dữ Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định tương

xướng hoạ. Hữu Gia Định tam gia thi tập hành thế.” (Tĩnh, văn học uyên bác, thích

ngâm vịnh, thường cùng Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định xướng hoạ với nhau. Có

tập thơ Gia Định tam gia thi tập lưu hành ở đời) [164, tr.1139].

Theo lời Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh sáng tác khá nhiều thơ, tuy nhiên bị

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, mục Tỉnh Gia Định, phần Nhân vật, truyện Ngô Nhân Tịnh, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn hoá phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, 1973, tr.99 và bản chữ Hán in kèm, tờ 37a,b. Nhưng theo Liệt truyện, sđd., tr.216, cho rằng ông được thờ vào miếu Trung hưng công thần vào năm Tự Đức thứ 5 (tức 1852).

thất lạc, chỉ còn chừng một phần trăm, mười phần ngàn, tập hợp thành tập Thập Anh

40

thi tập (theo Gia Định tam gia thi tự), gồm 187 bài (nhưng hiện còn 182 bài) (xem

phần khảo về văn bản ở dưới).

Ngoài ra, ông còn có Thập Anh văn tập, 81 bài mẫu dành cho học trò tập để thi

cử, chủ yếu lấy đề tài từ Kinh, Sử, Tử, Tập. Trong thời gian ra trấn nhậm chức Hiệp

Tổng trấn Nghệ An, ông sai Bùi Dương Lịch biên soạn Nghệ An phong thổ ký và

ông viết tựa.

1.2.3. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quang Định

1.2.3.1. Xác định năm sinh năm mất của Lê Quang Định

Năm sinh năm mất của Lê Quang Định qua các công trình nghiên cứu có ghi

ông sinh năm 1760 mất năm 1813 như các tài liệu [38, tr.345], [43, tr.54], [72,

tr.577], [99, tr.20]…; thuyết khác cho rằng ông sinh năm 1759, mất năm 1813 như

các tài liệu [8, tr.9], [44, tr.829], [113, tr.87]… Cũng có trường hợp ghi năm sinh

của ông là 1767 như các tài liệu [8, tr.515], [36, tr.65]...

Sách Thực lục chép Lê Quang Định mất vào tháng 2 năm 1813 (Quý Dậu) [92,

tr.858]; Sách Liệt truyện chép Lê Quang Định mất vào tháng 2 mùa xuân năm Gia

Long thứ 12 tức năm Quý Dậu 1813, tuổi 54 [94, tr.207]. Từ hai cứ liệu này chúng

ta có thể tính được năm sinh âm lịch của Lê Quang Định là năm Canh Thìn 1760.

Còn những số liệu cho rằng ông sinh năm 1759 là cách tính theo dương lịch, và năm

1767 là do nhầm lẫn.

Vậy Lê Quang Định sinh năm 1760 và mất năm 1813.

1.2.3.2. Cuộc đời Lê Quang Định

Vào năm Canh Thìn, 1760, đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, Lê

Quang Định (1760-1813), tự Tri Chỉ, hiệu Tấn Trai, sau được ban tước Mẫn Chính

hầu, ra đời tại huyện Phú Vang, phủ Thừa Thiên trong gia đình nhà quan sa sút. Cha

ông là Sách, làm Thủ ngự nguyên Đà Bồng. Nhưng mấy năm sau cha ông chết tại

nơi làm quan. Gia đình lâm vào cảnh nghèo túng, lại mồ côi cha, ông cùng anh

mình là Hiến vào sinh sống ở đất Gia Định, ngụ tại Bình Dương. Thuở nhỏ ông đã

thông minh, ham học, nên được y sinh Huỳnh Đức Thành quý trọng, có ý gả con gái

cho. Quang Định càng cố chí học hành, thờ Võ Trường Toản làm thầy và cùng kết

bạn với Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh, lập thi xã Bình Dương. Bấy giờ các văn

nhân ở khắp nơi theo đến kết giao [94, tr.205].

41

Năm 1786, Tây Sơn tiến quân ra bắc, đánh chiếm Thăng Long. Tháng 7, vua

Lê Hiển Tông (1740-1786) mất, Nguyễn Huệ bèn lập cháu Lê Hiển Tông là Lê Duy

Kỳ lên ngôi, lấy hiệu Chiêu Thống. Tháng 8 năm ấy, ba anh em Nguyễn Nhạc cắt

đất phong vương. Tình hình nội bộ của nhà Tây Sơn bắt đầu lục đục. Lợi dụng thời

cơ này, Nguyễn Ánh bí mật đưa quân về nước, Nguyễn Lữ hoảng sợ bỏ Gia Định,

kéo về Quy Nhơn rồi ốm chết. Nguyễn Huệ lại tiến quân ra bắc giết Vũ Văn Nhậm,

vì Nhậm có ý mưu phản, ủng họ nhà Lê. Vua Lê Chiêu Thống cho người ngầm sang

Trung Quốc cầu viện.

Cuối năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy hiệu Quang Trung, chuẩn bị

cho cuộc chống trả với quân binh nhà Thanh. Cuối năm ấy, quân Thanh tiến vào bờ

cõi nước ta, binh hùng tướng mạnh những tưởng có thể đè bẹp được nghĩa quân Tây

Sơn, nhưng chỉ trong những ngày đầu năm sau, Quang Trung đã đưa quân thần tốc

ra bắc đánh đuổi quân Thanh. Lê Chiêu Thống hoảng sợ bỏ trốn sang Trung Quốc

chờ dịp phục hưng nhà Lê.

Chúa Nguyễn rảnh sức ở Đàng Trong, đánh chiếm lại Gia Định, mở phủ

Nguyên soái. Bấy giờ, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu… ra ứng

thí được bổ chức Hàn lâm viện chế cáo. [92, tr. 237].

Năm 1789, Lê Quang Định được bổ chức Điền tuấn cùng với Trịnh Hoài Đức,

Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh… gồm 12 người chia đi bốn dinh Phiên Trấn,

Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định để khuyên bảo nông dân gắng sức làm ruộng. [92,

tr. 248]

Tháng 3 năm 1793, lập Hoàng tử cả là Cảnh làm Đông cung, ban cho ấn Đông

cung. Bởi Đông cung tuổi còn trẻ nên muốn được thái phó, thái bảo tốt để giúp, bèn

dựng nhà Thái học, đặt một Đông cung phụ đạo, hai thị giảng, tám Hàn lâm thị học,

sáu Quốc tử giám thị học. Lê Quang Định cùng Trịnh Hoài Đức được chọn làm

Đông cung thị giảng cho Hoàng tử Cảnh [92, tr. 291]. Cuối năm này, ông lại được

phong chức Hữu tham tri Binh bộ [92, tr. 302].

Mùa thu năm 1799, khi Tham tri Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế và Trịnh Hoài Đức chở

gạo lương ở kho Đại La (Nước Mặn) về chứa ở kho Cự Tích (trong thành Bình

Định) thì Lê Quang Định cùng với Tả tham tri Lễ bộ Nguyễn Cửu Hanh, Tả tham

tri Hình bộ Phạm Như Đăng được giao việc thu gạo thị nạp của dân Bình Định, Phú

Yên [92, tr. 389]. Bấy giờ, Nguyễn Ánh sắp rút khỏi thành Bình Định, để Võ Tánh

42

và Ngô Tòng Châu ở lại giữ thành. Tháng 10, Nguyễn Ánh về Gia Định, cho quân

các dinh nghỉ ngơi. Sai Hữu tham tri Binh bộ Lê Quang Định kiểm tra các thứ quan

vật ở nhà đồ nội, từ năm Kỷ Dậu đến nay, xuất nhập và còn lại bao nhiêu rồi làm sổ

dâng lên. [92, tr. 398]

Theo Liệt truyện, năm 1802, được triệu về thăng Hiệp trấn Thanh Hoa [94, tr.

206], nhưng trong Thực lục vào năm này không thấy chép sự kiện trên.

Tháng 11 năm 1802, Lê Quang Định đang giữ chức Tham tri Binh bộ được

phong làm Thượng thư Binh bộ sung làm Chánh sứ, cùng với Thiêm sự Lại bộ Lê

Chính Lộ và Đông các học sĩ Nguyễn Gia (Địch) Cát làm Giáp Ất phó sứ sang

Trung Quốc xin phong và đổi quốc hiệu là Nam Việt [92, tr.535]. Đây là đoàn sứ

thỉnh phong đi tiếp theo sau đoàn sứ của Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh. Trên

chặng đường đi sứ, đoàn sứ thỉnh phong do Lê Quang Định dẫn đầu đã đến Bắc

Thành được Tiền quân Nguyễn Văn Thành tiếp đón long trọng. Lê Quang Định làm

mấy bài thơ tả lại cuộc gặp gỡ này chép trong đầu tập Hoa Nguyên thi thảo.

Năm 1803, cả hai đoàn sứ một do Trịnh Hoài Đức dẫn đầu và một do Lê Quang

Định dẫn đầu đến được Yên Kinh (Bắc Kinh). Nhà Thanh không chịu đổi quốc hiệu

Nam Việt, mấy tháng thư từ qua lại, sau cùng đổi thành quốc hiệu Việt Nam. Sự

kiện này có chép trong bài Tự tự của Trịnh Hoài Đức và trong bài thơ thứ 23 trong

chùm bài ba mươi bài Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận của Ngô Nhân

Tĩnh.

Sau khi xong việc sứ về nước ông vẫn giữ chức cũ. Ông từng cùng Lê Văn

Duyệt biên binh và dân Quảng Ngãi làm mười kiên cơ [92, tr. 601].

Năm 1806 Lê Quang Định dâng sách Nhất thống dư địa chí, gồm 10 quyển, với

bài biểu dâng sách do trước đây vua từng sai ông kê cứu các sách vở bản đồ cả nước,

các thành dinh trấn đạo trong cả nước để làm cuốn địa dư. [92, tr.684]

Đến tháng 11 năm 1809, triều Nguyễn bắt đầu đặt lại chức thượng thư ở 6 bộ. Lê

Quang Định đổi từ Thượng thư Binh bộ sang làm Thượng thư Hộ bộ, Đặng Trần

Thường làm Thượng thư Binh bộ [92, tr. 768].

Năm sau, 1810, ông vẫn giữ chức Thượng thư Hộ bộ kiêm việc trông coi Khâm

thiên giám [92, tr.783]. Đồng thời ông phụng sắc khâm định chương trình kiến canh

điền bạ [94, tr.206].

43

Năm 1811, Hoàng Thái hậu băng, Lê Quang Định cùng Tống Phước Lương

được giao việc chọn đất xây lăng, và ông trực tiếp trông coi việc xây lăng ở Định

Môn [92, tr. 826, 832]

Mùa xuân năm Quý Dậu, 1813, ông bị bệnh nặng, vua sai Hoàng tử Kiến An

công đến thăm hỏi, lại sai Trung sứ mang cho sâm quế [94, tr.207]. Tháng 2 năm

này, ông mất, được truy tặng Tham chính, còn được cấp quan tài, ba cây gấm Tống,

500 quan tiền, 3 người mộ phu [92, tr.858]. Mộ của Lê Quang Định hiện nay vẫn

chưa rõ toạ lạc ở đâu.

Ông có hai người con là Dao và Dần, cả hai đều làm quan trong triều Nguyễn

[94, tr.207] [164, tr.1134 ].

Cuộc đời làm quan của Lê Quang Định có thể nói rất suôn sẻ. Mặc dù có lần ông

từng bị Nguyễn Ánh quở trách nhưng không đến nỗi như Ngô Nhân Tĩnh hàm oan

và mất trong nỗi lạnh nhạt của vua.

1.2.3.3. Sự nghiệp văn chương

Văn nghiệp của Lê Quang Định, theo sử sách ghi chép gồm có:

- Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, 10 quyển, ghi chép lộ trình, đường trạm,

cương giới, phong tục của các dinh trấn trong cả nước. Cuốn sách này được ông

biên soạn và dâng lên năm 1806, sau khi triều đình ban lệnh tìm các sách cũ lưu

chứa ở trong dân gian vào năm 1804 [92, tr.648]. Trong cuốn sách này, Quỳ Giang

Nguyễn Gia (Địch) Cát viết tựa, Ngô Nhân Tĩnh hiệu chính, Lê Lương Thận khảo

chính.

- Tập thơ Hoa Nguyên thi thảo sáng tác trong thời gian đi sứ Trung Quốc, gồm

77 bài (nhưng theo khảo sát của chúng tôi từ bản khắc của tập thơ này lưu trữ tại

Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội, hiện chỉ còn 75 bài). Tập thơ này

được Trịnh Hoài Đức cho khắc in chung với thơ của mình và Ngô Nhân Tĩnh, gọi

chung là Gia Định tam gia thi lưu hành ở đời (xem phần khảo về văn bản ở dưới).

Như vậy, cùng với sự nghiệp quan trường khá hiển hách, văn nghiệp của các

ông để lại tuy không quá đồ sộ, nhưng cũng có thể sánh với những nhân vật đương

thời ở Bắc Hà như Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…

Đánh giá văn nghiệp của Gia Định tam gia, sách Đại Nam chính biên liệt

truyện sơ tập chép:

44

定才識通敏練達政體性慎密寡嗜慾善偕法工詩畫尤長於水墨蘭竹輶

軒一路墨跡詩篇爲清人所稱賞鄭懷德曾集其詩與光定吳仁靜所作付梓名

嘉定三家詩行世 “Định tài thức thông mẫn, luyện đạt chính thể, tính thận mật,

quả thị dục, thiện giai pháp, công thi hoạ, vưu trường ư thuỷ mặc lan trúc, du

hiên nhất lộ, mặc tích thi thiên vi Thanh nhân sở xưng thưởng. Trịnh Hoài

Đức tằng tập kỳ thi dữ Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh sở tác phó tử, danh Gia

Định tam gia thi hành thế” (Định, tài thức tinh thông, minh mẫn, am hiểu

chính thể, tính cẩn thận kín đáo, ít sự ham muốn, chữ viết tốt, thơ hay, vẽ khéo,

đặc biệt vẽ tranh thuỷ mặc lan trúc rất giỏi, trên chặng đường đi sứ, nét vẽ bài

thơ của ông được người nước Thanh phải khen ngợi tán thưởng. Trịnh Hoài

Đức từng tập hợp thơ của mình cùng các sáng tác của Quang Định, Ngô Nhân

Tĩnh cho khắc in, đặt tên là Gia Định tam gia thi, lưu hành ở đời.) [164,

tr.1134].

1.3. VĂN BẢN TÁC PHẨM THƠ CỦA GIA ĐỊNH TAM GIA

1.3.1. Cấn Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức

Hiện thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ các bản in và

chép tay thơ của Trịnh Hoài Đức như sau:

- Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.780, bản khắc in. Dòng trên cùng

tờ bìa ghi: “Gia Long thập bát niên trọng xuân tuyên” (khắc in vào

tháng 2 năm Gia Long thứ 18, tức năm 1819); ở giữa chữ lớn: “Cấn Trai

thi tập”; bên phải ở dưới: “Trịnh”; bên trái phía dưới: “Bản trai tàng

bản”, bên trong có ba bài tự, bạt của Nguyễn Địch Cát, Ngô Thì Vị, Cao

Huy Diệu, nhưng không có Tự tự.

- Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.3139, bản chép tay, có đủ các bài

tự, bạt, nhưng cũng không có Tự tự. Có lẽ được chép theo bản A.780.

- Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.1392, bản khắc in. Tờ bìa giống hệt

với bản có ký hiệu A.780, bên trong có bài Tự tự ở đầu. Sau Tự tự lại là

Cấn Trai Quan quang tập, rồi đến Cấn Trai Khả dĩ tập, tiếp theo chúng

tôi lại thấy trang bìa của tập thơ Thập Anh đường thi tập được khắc in là

Thập Anh thi tập (ở trên ghi Minh Mệnh tam niên mạnh xuân tuyên

(khắc in vào tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 3, tức1822), bên phải ghi:

45

Ngô; bên phải ghi: Cấn Trai tàng bản), tiếp theo là trang bìa của Gia

Định tam gia thi được khắc theo lối chữ chân phương nét tròn mềm mại

hơn, ở trên ghi: Minh Mệnh tam niên mạnh xuân cát nhật (Ngày lành

tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 3); bên phải ghi: Trịnh Lê Ngô tam gia

hợp tuyên (bản khắc chung của ba nhà Trịnh, Lê, Ngô); bên trái ghi:

Cấn Trai tàng bản. Tiếp theo là mục lục ba tập thơ của ba tác giả. Sau

phần mục lục là Cấn Trai thi tập tự của Nguyễn Địch Cát, Cấn Trai thi

tập bạt của Ngô Thì Vị, Độc Cấn Trai thi tập bạt của Cao Huy Diệu, và

Gia Định tam gia thi tập tự của Trịnh Hoài Đức (riêng bài này được

khắc theo lối chữ lệ, phần tên của Trịnh Hoài Đức thì chữ Hoài Đức lại

được thay bằng dạng chữ khải, có lẽ do người đời sau thêm vào, rồi đến

Cấn Trai Thoái thực truy biên.

Ngoài ra, tôi được nhà nghiên cứu Nguyễn Khuê cung cấp thêm bản Cấn Trai

thi tập do giáo sư Trần Kinh Hoà biên tập, in tại Hồng Kông năm 1962, trước đây

được lưu trữ tại thư viện Đại học Văn khoa Sài Gòn. Trong tập này, Trần Kinh Hòa

đã dựa vào các bản trên để hiệu đính và sắp xếp khá đầy đủ, tuy nhiên cũng có

những sai sót trong việc xếp chữ và in ấn khiến cho câu thơ bị mờ nghĩa hoặc không

đúng tinh thần của nguyên tác.

Như vậy về thơ, Trịnh Hoài Đức chỉ có tập Cấn Trai thi tập mà thôi. Còn về

tác phẩm Gia Định tam gia thi tập, khắc in năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) chính là

Cấn Trai thi tập đã khắc in trước đây vào năm Gia Long thứ 18 (1819) được in lại

chung với tập thơ Thập Anh thi tập (tức Thập Anh đường thi tập) của Ngô Nhân

Tĩnh và Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định, có lời tựa chung Gia Định tam

gia thi tập tự của Trịnh Hoài Đức, nên không thể kể đấy là một tác phẩm mới riêng

biệt được, để tránh việc hiểu nhầm thơ của Trịnh Hoài Đức in trong Gia Định tam

gia thi tập là một tác phẩm hoàn toàn khác với Cấn Trai thi tập.

Về tập thơ Bắc sứ thi tập của Trịnh Hoài Đức mà Liệt truyện nói đến thì thế

nào?

Vào năm Nhâm Tuất (1802), Trịnh Hoài Đức được cử làm chánh sứ sang

Trung Quốc tiến cống cùng với hai phó sứ là Hối Sơn Huỳnh Ngọc Uẩn và Nhữ

Sơn Ngô Nhân Tĩnh. Theo bài tựa tự viết cho tập thơ Cấn Trai thi tập của ông,

trong thời gian đi sứ, Trịnh Hoài Đức làm rất nhiều thơ, xong việc, ông về nước,

46

mới đóng thành tập đặt tên là Sứ hành quan quang. Cũng trong thời gian này, ông

đã sưu tập những bài thơ trước đây, đóng thành tập đặt tên là Thoái thực truy biên

xếp thứ tự theo thời gian sáng tác. Đến năm Bính Tý (1816), vì thấy tập thơ của

mình bị sâu mọt gặm nát, ông mới biên tập lại các tập thơ, tập đầu đặt tên là Thoái

thực truy biên, tập tiếp theo lấy tên là Quan quang tập và thu thập những bài thơ

ứng chế, tống tặng, ai vãn từ năm Giáp Tý (1804) trở về sau, đến cuối năm Bính Tý (1816)1 đặt tên là Khả dĩ tập. Rồi đóng chung thành một quyển, lấy tên hiệu đặt cho

tập thơ là Cấn Trai thi tập.

Nhiều người lâu nay căn cứ vào Liệt truyện cho rằng thơ của Trịnh Hoài Đức

có Gia Định tam gia thi tập, Cấn Trai thi tập và Bắc sứ thi tập… là chưa chính xác,

dễ gây nhầm lẫn cho những người hậu học.

Gia Định tam gia thi tập là tên gọi chung của ba tập thơ Cấn Trai thi tập của

Trịnh Hoài Đức, Thập Anh (đường) thi tập của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa Nguyên thi

thảo của Lê Quang Định được Trịnh Hoài Đức cho khắc chung vào năm Minh

Mệnh thứ 3 (1822). Chúng tôi đã đối chiếu hai bản khắc in ký hiệu A.780 và

A.1392 thì thấy các trang khắc in đều giống nhau. Tuy nhiên, trong tập tài liệu mà

chúng tôi có được từ Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thì thứ tự trang có bị

đảo lộn và thiếu khuyết đôi chút, nhưng vẫn giữ nguyên các đề mục.

Bắc sứ thi tập chỉ là tên gọi khác của tập Sứ hành quan quang, mà sau này

chính ông lấy tên lại là Quan quang tập nằm trong tập Cấn Trai thi tập của ông.

Như vậy, Cấn Trai thi tập gồm có ba phần là: Thoái thực truy biên tập, Quan

quang tập và Khả dĩ tập, theo đề mục khắc in, tổng cộng có 327 bài, với các bài tựa,

bạt:

Cấn Trai thi tập tự của Nguyễn Địch Cát, đề năm Gia Long thứ 4

(1805);

Cấn Trai thi tập bạt của Ngô Thì Vị, đề năm Gia Long thứ 4 (1805);

Độc Cấn Trai thi tập bạt của Cao Huy Diệu, đề năm Gia Long thứ 17

(1818);

1 Tuy nhiên, chúng tôi thấy có những bài Trịnh Hoài Đức làm vào năm Mậu Dần (1818) chứ không phải

chỉ đến năm Bính Tý (1816) như ông nói.

Tự tự của Trịnh Hoài Đức đề năm Gia Long thứ 18 (1819).

47

 Thoái thực truy biên tập với ý nghĩa là lúc rảnh rỗi việc công lui về

nhà sắp xếp thơ lại, gồm có 127 bài thơ được sáng tác từ những năm Nhâm

Dần (1782) đến năm Tân Dậu (1801), trong đó: Thể ngũ ngôn tuyệt cú: 3 bài;

Ngũ ngôn luật: 15; bài; Thất ngôn tuyệt cú: 10 bài; Thất ngôn luật: 99 bài.

 Quan quang tập với ý nghĩa là “quan quốc chi quang” (xem xét cảnh

quan đất nước) được ông sáng tác từ năm Nhâm Tuất (1802) đến Quý Hợi

(1803), khoảng thời gian đi sứ Trung Quốc, gồm 152 bài, trong đó: Ngũ

ngôn tuyệt cú: 7 bài; Ngũ ngôn luật thi: 12 bài; Lục ngôn tuyệt cú: 8 bài;

Thất ngôn tuyệt cú: 3 bài; Thất ngôn luật: 122 bài.

 Khả dĩ tập với ý nghĩa là có thể bày tỏ nỗi niềm, xuất ý từ câu “Thi

khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán” (xem Thi, nghĩa là có thể

phấn khởi được ý chí, có thể xem xét phong tục, có thể hoà hợp được với

mọi người, có thể bày tỏ nỗi sầu oán), tập hợp những bài thơ điếu vãn, thù

tạc, ngâm vịnh… gồm 48 bài, trong đó: Ngũ ngôn cổ phong: 1 bài; Ngũ ngôn

tuyệt cú: 10 bài; Thất ngôn luật: 37 bài, được sáng tác khoảng thời gian từ

năm Giáp Tý (1804) đến năm Bính Tý (1816) như lời ông nói trong bài tự đề

tựa của mình, nhưng theo chúng tôi thì, ít nhất cũng là năm Mậu Dần (1818).

Về việc này, chúng tôi tìm thấy bài Thương đệ tam tử Thiên Hoá, phần

nguyên chú có ghi: Mậu Dần niên mạnh thu chấp tứ nhật vong (mất ngày 24

tháng bảy năm Mậu Dần), mà năm Mậu Dần tức là 1818.

Về thể thơ được dùng trong Cấn Trai thi tập như sau:

Thể ngũ ngôn tuyệt cú: 20 bài;

Ngũ ngôn luật: 27 bài;

Thất ngôn tuyệt cú: 13 bài;

Thất ngôn luật: 258 bài;

Lục ngôn tuyệt cú: 8 bài;

Ngũ ngôn cổ phong: 1 bài.

Mỗi mặt giấy có 9 cột, mỗi cột 20 chữ, nếu đài hàng thì là 21 chữ.

1.3.2. Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh

Thập Anh thi tập (hay Thập Anh đường thi tập) của Ngô Nhân Tĩnh được

Trịnh Hoài Đức cho khắc in lần đầu tiên vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) chung

với tập Cấn Trai thi tập của ông và Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định với

48

tên gọi chung là Gia Định tam gia thi. Thế nhưng, với tình hình tư liệu hiện nay,

chúng tôi vẫn chưa tìm thấy bản in thật sự của Gia Định tam gia mà chỉ tìm thấy

trang bìa Gia Định tam gia cùng với mục lục các thi tập của ba nhà trong Cấn Trai

thi tập, được lưu trữ tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, với ký hiệu

A.1392 như chúng tôi đã mô tả ở trên.

Theo mục lục Gia Định tam gia thi tập tìm thấy trong Cấn Trai thi tập ký hiệu

A.1392, thì Thập Anh thi tập có 187 bài:

Thể ngũ ngôn luật: 44 bài

Thất ngôn tuyệt cú: 27 bài

Thất ngôn luật: 116 bài

Toàn bộ văn bản thơ chữ Hán Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh và Hoa

Nguyên thi thảo của Lê Quang Định lại được đóng chung thành quyển riêng, ký

hiệu A.779bis, lưu tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội. Theo chúng

tôi suy đoán, thì hai tập thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định, có lẽ đã bị

những người sưu tầm nộp cho Viện Viễn Đông bác cổ trước đây tách ra từ tác phẩm

Gia Định tam gia thi vì mục đích kiếm lợi.

Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh gồm 187 bài thơ và 3 bài tựa:

Thập Anh đường thi tập tự của Trần Tuấn Viễn người Quảng Đông Trung

Quốc, viết vào năm Bính Dần, Gia Long năm thứ 5 (1806);

Thập Anh đường thi tự của Nguyễn Địch Cát viết vào năm Đinh Mão, Gia

Long thứ 6 (1807);

Thập Anh đường thi tự của Bùi Dương Lịch viết vào năm Tân Mùi, Gia Long

thứ 10 (1811).

Theo bài tựa của Trần Tuấn Viễn, thì Thập Anh thi tập có hai phần: một phần

viết trong thời gian ông phụng mệnh đi hỏi thăm tin tức vua Lê, và một phần được

viết trong thời gian đi sứ năm Nhâm Tuất: “Tháng ba năm Bính Dần, tôi đến Việt

Nam ngụ ở nhà người bạn cũ là (mất chữ) Binh (mất chữ) hầu gia. Hầu gia liền

mang ra hai tập bản thảo thơ đưa tôi xem và nói tôi rằng, (mất chữ) vì tôi mà đề

tựa. Tôi xem những bài thơ của ông, một tập được làm khi phụng mệnh tìm thăm tin

tức của vua Lê, một tập được làm khi bắt bọn trộm cướp sang nộp cống” [2].

Nhưng với tình hình hiện nay, vẫn chưa thể xác quyết hết thời gian sáng tác của

49

từng bài cụ thể, ngoại trừ một số bài có ghi rõ, còn lại chỉ có thể đoán định để tìm

hiểu tâm sự của ông một cách tương đối chính xác.

Tuy nhiên, văn bản chụp lại Thập Anh thi tập mà chúng tôi có được từ Thư

viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội, có một số bài bị thiếu khuyết mất chữ, nên

không thể dịch được, đành chịu tồn nghi, chờ dịp thẩm sát lại. Ngoài ra, trong tập

thơ còn bị mất tờ 11. Theo thống kê của chúng tôi, chỉ còn lại 182 bài, và từ mục

lục khắc in của tập thơ (gồm có 187 bài) cho thấy, tập thơ bị thiếu mất 5 bài. Ở tờ

10b, bài Áo Môn lữ ngụ Xuân Hoà đường thư hoài, nhưng từ bài thứ ba, bị thiếu.

Tiếp theo chúng tôi thấy có hai bài Thi và Hoạ.

Theo một vài tư liệu mà Cao Tự Thanh đưa ra trong bài viết “Văn học Hán

Nôm ở Gia Định” của ông, thì bài Thi, Hoạ kia chính là nằm trong tựa Ức hữu đắc

cầm kỳ thi hoạ tứ vịnh. Từ đó ta có thể biết, bản này bị thiếu mất 2 bài là Cầm và Kỳ.

Như vậy, bản Thập Anh thi tập mà chúng tôi hiện có, mất tờ 11, trong đó có

khắc những bài sau: nửa bài Áo Môn lữ ngụ Xuân Hoà đường thư hoài 3; nguyên

bài Áo Môn lữ ngụ Xuân Hoà đường thư hoài 4, 5 và 6; và 2 bài Cầm và Kỳ trong

bộ tứ bài Ức hữu đắc cầm kỳ thi hoạ tứ vịnh.

Sở dĩ chúng tôi nói thế là căn cứ vào số cột và số chữ khắc in của tập thơ. Mỗi

mặt có 9 cột, mỗi cột có 20 chữ. Dựa vào tờ 10, chúng ta dễ dàng suy ra được, tờ 11

bị thiếu những bài thơ như chúng tôi đã trình bày trên.

1.3.3. Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định

Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định được ông sáng tác trong thời gian đi

sứ Trung Quốc. Trịnh Hoài Đức cho khắc in cùng với thơ ông và Ngô Nhân Tĩnh,

gọi chung là Gia Định tam gia thi vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). Như trên đã

trình bày, văn bản tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của ông (bản chúng tôi có) được

ghép chung với Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh, ký hiệu A.779bis, Thư viện

Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội lưu trữ.

Nếu không kể bài tựa khắc in chung trong Gia Định tam gia của Trịnh Hoài

Đức thì tập thơ Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định chỉ có bài Hoa Nguyên thi

thảo tự của Ngọc Sơn Lê Lương Thận.

Từ mục lục khắc in Gia Định tam gia thi tập, thì Hoa Nguyên thi thảo có 77

bài, gồm:

Thơ ngũ ngôn luật: 7 bài

50

Thể thất ngôn tuyệt cú: 9 bài

Thể thất ngôn luật (bát cú): 61 bài

Theo chúng tôi thống kê, Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định, gồm 75

bài, thiếu mất 2 bài so với mục lục khắc in thời ấy. Trong đó, nhiều bài thơ được

Ngô Thì Vị và Nguyễn Du điểm bình. Lễ Khê Ngô Thì Vị điểm bình 32 bài, Tố

Như Nguyễn Du điểm bình 33 bài. Số lượng bài thơ mà Ngô Thì Vị và Nguyễn Du

bình trùng nhau là 16 bài. Số cột trong mỗi tờ có 9 cột, mỗi cột 20 chữ như Cấn

Trai thi tập và Thập Anh thi tập.

1.4. VẤN ĐỀ PHIÊN DỊCH, GIỚI THIỆU THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

Thơ Gia Định tam gia, như trong phần lịch sử vấn đề chúng tôi đã trình bày

trên, đã được từng bước giới thiệu đến với bạn đọc.

Việc giới thiệu thơ Gia Định tam gia khởi đầu sớm nhất có lẽ là Lê Quang

Chiểu với Quốc âm thi hiệp tuyển, xuất bản tại Sài Gòn năm 1903, trong đó giới

thiệu 18 bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức. Tuần báo Tân văn phát hành tại Sài Gòn,

số 8-1935 có đăng bài thơ Nôm Từ giã mẹ đi sứ được cho là của Trịnh Hoài Đức.

Sách Võ Trường Toản, phụ Gia Định tam gia của Nam Xuân Thọ, Tân Việt xuất

bản ở Sài Gòn năm 1957 cũng có giới thiệu về Gia Định tam gia. Văn đàn bảo giám

có giới thiệu hai bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức.

Nguyễn Văn Sâm trong Văn học Nam Hà giới thiệu được 13 bài thơ chữ Hán

trong Thoái thực truy biên và phiên âm 18 bài thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức, nhưng

vẫn chưa thể giới thiệu thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định [97, tr.397-429].

Trong sách Gia Định xưa, tác giả Huỳnh Minh có giới thiệu về Gia Định tam gia và

dẫn vài bài thơ nôm của Trịnh Hoài Đức [74, tr.119-124, 311].

Năm 1978, Nxb. Văn học tái bản cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam do Huỳnh

Lý chủ biên, tập 3 có nhắc đến Gia Định tam gia như đại biểu trong dòng thơ chữ

Hán ở Nam Bộ. Trong công trình này, tuyển dịch thơ Trịnh Hoài Đức: 11 bài, Lê

Quang Định: 5 bài, Ngô Nhân Tĩnh: 9 bài [72, tr.562-591]

Nguyễn Thị Thanh Xuân, Nguyễn Khuê, Trần Khuê trong công trình Sài Gòn

– Gia Định qua thơ văn xưa, Nxb. TP.HCM xuất bản năm 1987, có giới thiệu 7 bài

của Trịnh Hoài Đức, vẫn không có thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định [149,

tr.87-104].

51

Tổng tập văn học Việt Nam, tập 16, cũng có giới thiệu tiểu sử tác giả, tác

phẩm của Tam gia. Trong đó, thơ Trịnh Hoài Đức 4 bài, Lê Quang Định 5 bài, Ngô

Nhân Tĩnh 9 bài [99, tr.15-34]. Số bài thơ của Tam gia trong Tổng tập này tiếc là

được trích lại từ Hợp tuyển thơ văn Việt Nam nói trên. Đây là công trình lớn, lại là

tổng tập văn học Việt Nam, nhưng số lượng thơ của Tam gia được trích dịch in

trong này lại quá ít so với số lượng sáng tác thơ của Tam gia. Điều đó cho thấy còn

rất nhiều bất cập trong việc biên dịch các tác phẩm văn học Hán Nôm, đặc biệt Hán

Nôm ở Nam Bộ. Vả lại còn cho thấy, vị trí của Tam gia trong văn học sử Việt Nam

chưa được đánh giá thoả đáng.

Nguyễn Q Thắng trong Tiến trình văn nghệ miền Nam xuất bản năm 1990, và

gần đây là trong công trình Văn học Việt Nam, nơi miền đất mới, Nxb. Văn học xuất

bản năm 2007 cũng có giới thiệu về tác giả tác phẩm Gia Định tam gia với ý nghĩa

dựng lại chân dung của nhà văn nhà thơ ở Gia Định. Trong đó, ông có nhắc đến

mục lục gồm 74 bài thơ của Lê Quang Định; về Ngô Nhân Tĩnh thì ông chỉ giới

thiệu qua trong gần 1 trang; Trịnh Hoài Đức gần 7 trang, có trích dẫn ba bài thơ chữ

Hán và một bài thơ Nôm [113, tr.86-95] [114, tr.162-167].

Việc tìm hiểu thơ Tam gia, trước đây thường cũng chỉ dừng lại ở Trịnh Hoài

Đức với Cấn Trai thi tập, mà chưa có điều kiện đi vào hai tác giả còn lại.

Gần đây, cũng có các nhà nghiên cứu nỗ lực nghiên cứu và phiên dịch thơ của

Trịnh Hoài Đức một cách nghiêm túc như Nguyễn Khuê, Cao Tự Thanh, nhưng tiếc

là cho đến nay công trình ấy vẫn chưa có dịp ra mắt độc giả.

Công trình nghiên cứu đồ sộ, có quy mô lớn và toàn diện về Gia Định, có thể

kể bộ Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, do Giáo sư Trần Văn Giàu và Trần

Bạch Đằng chủ biên với sự tham gia của các nhà nghiên cứu uy tín, xuất bản từ năm

1987, có bài Văn học Hán Nôm ở Gia Định của Cao Tự Thanh [36, tr.55-129].

Trong đó, tác giả đã khái quát diện mạo văn học Hán Nôm trong tiến trình văn hóa

ở Gia Định, đồng thời giới thiệu sơ lược nội dung thơ của Tam gia Trịnh Hoài Đức,

Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định.

Năm 2005, Gia Định tam gia của tác giả Hoài Anh [8], cũng được xuất bản

nhân dịp trùng tu và tôn tạo di tích lịch sử văn hóa Văn miếu Trấn Biên, Đồng Nai,

cũng đóng góp đáng kể vào công việc nghiên cứu thơ của ba nhà Trịnh, Ngô, Lê.

Trong công trình này, tác giả Hoài Anh thừa kế những công trình dịch thuật, khảo

52

cứu của những người đi trước, ông giới thiệu một số lượng đáng kể về thơ của Tam

gia, cung cấp cho người đọc cái nhìn khái quát về Tam gia.

Tuy nhiên, khuyết điểm của công trình này là còn quá nhiều sai sót trong

phiên âm, dịch nghĩa, lại không có đính kèm nguyên bản Hán văn, nên việc tiếp

nhận tác phẩm chưa thật tốt. Tuy nhiên phải nói rằng, công trình này đã góp phần

quan trọng trong việc giới thiệu khái quát thơ của Gia Định tam gia.

Về thơ Trịnh Hoài Đức, trong công trình Gia Định tam gia, Hoài Anh đã dịch

được 167 bài trong tổng số 327 bài thơ chữ Hán, trích lại 18 bài thơ Nôm; thơ Ngô

Nhân Tĩnh 94 bài trong tổng số 182 hiện còn (187 bài theo mục lục); thơ Lê Quang

Định 62 bài trong tổng số 75 hiện còn (77 bài theo mục lục).

Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX, những vấn đề lý luận và lịch

sử, Nxb. Giáo dục, 2007, có bài viết Văn học Đàng Trong của Cao Tự Thanh, cũng

có nhắc đến Gia Định tam gia qua một vài bài thơ mang tính minh hoạ [148, tr.270-

346].

Ngoài ra, những bài viết đăng trên các báo và tạp chí liên quan đến việc

nghiên cứu tác giả tác phẩm Gia Định tam gia như Cao Tự Thanh với bài Về bài thơ

của Trịnh Hoài Đức tặng hoà thượng Viên Quang đăng trên Tập văn Phật đản,

Giáo hội Phật giáo Việt Nam, số 23, tháng 4-1992 có dịch giới thiệu bài thơ ngũ

ngôn cổ phong của Trịnh Hoài Đức tặng hoà thượng Viên Quang; Nguyễn Khuê với

bài Mai Sơn tự và Mai Khâu tự đăng trên Tập văn số 20…

Từ tình hình giới thiệu và phiên dịch thơ Gia Định tam gia chúng tôi thuật lại

trên có thể có vài nhận xét sơ bộ sau:

Các bản dịch thơ của Gia Định tam gia in trong các bộ Hợp tuyển, Tổng tập,

Văn học Nam Hà, Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn xưa… tuy số lượng không nhiều

nhưng bản dịch tốt, sát ý, có chất thơ (mặc dù trong Hợp tuyển và Tổng tập không

có bản dịch thơ, chỉ có bản dịch nghĩa). Bản dịch thơ của Tam gia mà Cao Tự

Thanh công bố trong hai bài viết Văn học Hán Nôm ở Gia Định và Văn học Đàng

Trong kể trên, tuy không có phần dịch nghĩa, chỉ có phần dịch thơ, nhưng rất sát

nghĩa và lột tả được ý tứ của nguyên tác. Nhưng vì hạn chế trong khuôn khổ nội

dung bài viết nên số thơ của Tam gia kể không nhiều.

Trong Gia Định tam gia, một mặt, ông Hoài Anh đã kế thừa những thành tựu

của người đi trước, một mặt ông đã cố gắng dịch thêm thơ của ba nhà nâng số lượng

53

thơ dịch lên con số rất đáng kể, tuy nhiên số lượng nhiều nhưng cũng không ít hạn

chế. Ở đây chúng tôi xin nêu ra vài trường hợp trong Gia Định tam gia của Hoài

Anh, vì đây là công trình biên soạn thơ Tam gia nhiều nhất, có thể nói là tiêu biểu

nhất từ trước đến nay, để thấy công tác dịch thuật không phải là không cần thiết khi

tiếp nhận và nghiên cứu tác giả, tác phẩm.

Mắc lỗi về phiên âm: Bài 步艮齋望晉齋原韻 Bộ Cấn Trai vọng Tấn Trai nguyên vận 1 (Làm theo

vần bài thơ Cấn Trai mong đợi Tấn Trai) của Ngô Nhân Tĩnh, Hoài Anh phiên

nhầm Tấn Trai (là hiệu của Lê Quang Định), thành Tấn Tề, vì vậy ông đã dịch:

“Làm theo vần bài thơ Vọng đất Tấn Tề của Cấn Trai” [8, tr.446]

Trong bài Chiêu Thái tình yên của Trịnh Hoài Đức có câu: 麓寺惰童扉未啓

“Lộc tự noạ đồng phi vị khải” (Ngôi chùa dưới chân núi, tiểu đồng lười chưa mở

cửa), Hoài Anh phiên thành: “Ly tự tuỳ đồng phi vị khải” dẫn đến việc dịch sai

nghĩa nguyên tác thành: theo tiểu đồng đến chùa chân núi, cửa chưa mở.

Trong bài Dạ toạ của Trịnh Hoài Đức có câu: 學易將梅卜 ,敲詩對雪吟

“Học Dịch tương mai bốc / Xao thi đối tuyết ngâm”, Hoài Anh đã phiên thành “Học

dị …” và dịch là “Học dễ đem cành mai ra bói, sửa thơ ngâm trước tuyết” [8, tr.244]

đều dẫn đến việc dịch sai ý thơ.

Ngoài ra, việc phiên âm cũng sai rất nhiều, như 澧溪吳時位 Lễ Khê Ngô Thì

Vị thì ông lại phiên là Phong Khê Ngô Thì Vị; 陳濬遠 Trần Tuấn Viễn thì phiên là

Trần Duệ Viễn; 賣花聲 Mại hoa thanh (tiếng rao bán hoa) thì phiên là Mãi hoa

thanh (tiếng mua hoa)… Nói chung, về kiểu sai này thì rất nhiều.

Có những trường hợp một chữ đọc nhiều âm, một là do âm đó quy định nghĩa

của câu như trường hợp “dịch” đọc thành “dị” nói trên, một là do nó nằm ở vị trí

đặc biệt trong câu thơ, vì để đúng niêm luật của thơ Đường, mà ta phải đọc âm khác

đi như bài Đề khắc Ngô Khê kính thạch:

地毓浯溪秀 Địa dục Ngô Khê tú,

山開鏡石名 Sơn khai kính thạch danh.

1 Bài thơ Cấn Trai vọng Tấn Trai của Trịnh Hoài Đức mà Ngô Nhân Tĩnh làm theo nguyên vận, đúng ra có tên là: Quế Lâm đông nhật vọng Thỉnh phong chánh sứ Lê Quang Định binh bộ Thượng thư nằm trong Quan quang tập.

莫教塵蘚汚 Mạc giao trần tiên ố,

54

畱照往來情 Lưu chiếu vãng lai tình.

thì ông Hoài Anh đã phiên câu 3 thành: Mạc giao trần tiên ô, làm mất đi thanh luật

của thơ.

Mắc lỗi trong dịch nghĩa:

Phần dịch nghĩa, do không chú ý đến câu chữ ngữ pháp tiếng Việt, nên ý nghĩa

của câu thơ có bài thật khó hiểu rối rắm, hoặc hiểu sai ý dẫn đến việc không sát ý,

thiếu chất thơ, từ đó, cũng làm giảm đi việc cảm nhận thơ Tam gia.

Bài Khách Cao Miên quốc ký hoài Diệp Minh Phụng Kỳ Sơn của Trịnh Hoài

Đức:

新洲解纜繫藩城 Tân châu giải lãm hệ Phiên thành,

越客相思觸處生 Việt khách tương tư xúc xứ sinh.

帝釋寺前胡偈調 Đế Thích tự tiền Hồ kệ điệu,

南榮江上貊歌聲 Nam Vinh giang thượng Mạch ca thanh.

同吟顏色孤篷月 Đồng ngâm nhan sắc cô bồng nguyệt,

故國音書萬里程 Cố quốc âm thư vạn lý trình,

極目風濤行不得 Cực mục phong đào hành bất đắc,

撩人時復鷓鴣鳴 Liêu nhân thời phục giá cô minh.

Bản dịch nghĩa của Hoài Anh trong Gia Định tam gia:

Tân Châu cởi dây neo thuyền buộc ở thành Phiên,

Bỗng dưng khách Việt động mối tương tư.

Trước chùa Đế Thích tiếng đọc kệ điệu Hồ,

Trên sông Nam Vang tiếng hát mạch vẳng lên.

Người cùng ngâm thơ dáng vẻ nay ở con thuyền lẻ dưới trăng,

Nước cũ tin thư dặm ngàn xa xôi.

Nhìn hút tầm mắt sóng to không đi được,

Trêu ngươi dắng dỏi tiếng chim đa đa kêu. [8, tr.97]

Rõ ràng là có những câu khó hiểu. Một phần do dịch giả Hoài Anh không ngắt

câu, nhưng một phần cũng là do chưa rõ ý.

Chúng tôi dịch:

Vừa cởi dây neo ở Tân Châu, nay lại buộc thuyền ở thành Phiên,

Nỗi thương nhớ của khách Việt chợt tràn khắp nơi.

Trước chùa Đế Thích, vang tiếng đọc kệ theo điệu người Hồ,

55

Trên sông Nam Vang, vọng tiếng hát người Mạch (chỉ người Cao

Miên).

Dung mạo người bạn thơ, như vầng trăng mái thuyền lẻ,

Tin tức nơi quê hương, giờ xa xôi cách vạn dặm.

Hút tầm mắt gió sóng mịt mùng, không đi được,

Trêu người, thường vọng mãi tiếng chim đa đa.

Có những câu chưa thật hiểu ý nên dẫn đến việc dịch không thoát ý. Ví như

hai câu trong bài Hổ Môn quan dạ bạc của Trịnh Hoài Đức:

墨水抹山雲暮閉 Mặc thuỷ mạt sơn vân mộ bế,

白花粘樹鷺宵眠 Bạch hoa niêm thụ lộ tiêu miên.

Hoài Anh dịch là: “Nước như mực bôi núi, mây tối khép/ Hoa trắng dán cây,

cò ngủ đêm” [8, tr.219].

Thoạt nhìn tưởng như không có gì sai, nhưng nếu tinh ý sẽ thấy, câu thơ trên

của Trịnh Hoài Đức làm theo lối đảo trang. Ta có thể sắp xếp hai câu thơ ấy thành

kiểu câu văn xuôi: “Vân mộ bế (như) mặc thuỷ mạt sơn / Lộ tiêu miên (tự) bạch hoa

niêm thụ”, hoặc có thể trình bày như sau: “Mặc thuỷ mạt sơn: vân mộ bế / Bạch hoa

niêm thụ: lộ tiêu miên”, từ đó có thể dịch là: “Chiều tối, mây đen giăng phủ ngọn

núi, giống như nước mực tàu bôi lên núi non / Đêm tối, cò ngủ trên cây, như hoa

trắng dán trên cây”. Dịch như vậy, vừa đúng với cảnh thật, vừa đúng với ý thơ mà

tác giả muốn tả cảnh Hổ Môn khi trời tối chiều, đồng thời bộc lộ chất nghệ sĩ của

Trịnh Hoài Đức.

Hoặc như bài Đối kiếm của Ngô Nhân Tĩnh:

倚看天外劍 Ki khan thiên ngoại kiếm,

贈憶意中人 Tặng ức ý trung nhân.

勇負凌雲氣 Dũng phụ lăng vân khí,

雄懷報國身 Hùng hoài báo quốc thân.

射星知有分 Xạ tinh tri hữu phận,

彈鋏笑無因 Đàn giáp tiếu vô nhân.

試向山中過 Thí hướng sơn trung quá,

時聞泣鬼神 Thời văn khấp quỷ thần.

Bản dịch trong Gia Định tam gia:

Dựa nhìn kiếm ngoài trời,

56

Nhớ ý trung nhân đã tặng cho.

Nghĩ mình về cái dũng có thể là phụ cái khí vút lên mây,

Nhưng vẫn mang hùng tâm đem thân đền ơn nước.

Bắn ra tia sáng như sao biết có thể được,

Nhưng có tính chất đàn hồi cuộn vào rồi lại bật ra, tự cười không

đạt nổi.

Thử đi vào trong núi,

Thỉnh thoảng nghe thấy tiếng quỷ thần khóc [8, tr.486]

Sở dĩ Hoài Anh dịch như thế vì quên đây là bài thơ nói về thanh bảo kiếm của

Nguyễn Quận công tặng cho Ngô Nhân Tĩnh nhân dịp đi sứ Trung Quốc. Mà nói

đến kiếm phải dùng những điển cố liên quan đến kiếm, trong đó có điển “xạ tinh”

và “đàn giáp”. Xạ tinh: kiếm khí chiếu lên sao. Xuất từ điển Trương Hoa sai Lôi

Hoán tìm thấy kiếm Long tuyền và Thái a trong sách Hán thư. Ở đây có ý nói thanh

kiếm của Nguyễn Văn Thành tặng cho cũng thuộc bảo kiếm. Đàn giáp: gõ kiếm,

xuất từ điển Phùng Huyên trong Sử ký. Phùng Huyên làm khách nhà Mạnh Thường

Quân, từng ba lần gõ kiếm hát, mong Thường Quân xem mình là khách và đãi ngộ

tốt cho mình. Sau Phùng Huyên thu nợ ở đất Tiết, mua tiếng nghĩa cho Mạnh

Thường Quân. Ở đây Ngô Nhân Tĩnh cũng gõ kiếm nhưng không có ý đòi hỏi sự

đãi ngộ, nên mới nói là “gõ kiếm hát mà không có lý do gì”.

Ngoài ra, chúng tôi phiên âm là “ki khan” chứ không phiên “ỷ khan” như ta

vẫn quen đọc trước đây. Vì “ki khan” có nghĩa là “một mình nhìn” có lẽ hợp lý hơn.

Từ những lỗi dịch như trên, nên Hoài Anh đã diễn giải “đàn giáp” là đàn hồi

rồi bật ra, là tính khí của Ngô Nhân Tĩnh. Hẳn nhiên, Ngô Nhân Tĩnh không mềm

dẻo khéo léo như Trịnh Hoài Đức, nhưng ở đây tác giả không hề có ý đó, mà chỉ

mượn điển Phùng Huyên để nói về mình. Phùng Huyên thì đòi hỏi được đãi ngộ

mới phục vụ cho Mạnh Thường Quân, còn Ngô Nhân Tĩnh thì không đòi hỏi nhưng

vẫn hết lòng vì chúa vì nước. Từ đó, bản dịch của chúng tôi là:

Một mình nhìn núi ngoài xa1,

1 Dịch từ “thiên ngoại kiếm”, ở đây núi nhô lên trời như kiếm, vì vậy gợi cho tác giả nhớ đến thanh kiếm của Tiền quân Nguyễn Văn Thành tặng mình. Sở dĩ chúng tôi có ý dịch như vậy bởi xuất từ câu: 方地为车,圆 天为盖,长剑耿耿倚天外 (đất vuông làm xe, trời tròn làm lọng, (núi như) trường kiếm cao vút dựa ngoài trời xa) trong bài Đại ngôn phú của Tống Ngọc thời Chiến Quốc.

Nhớ người đem kiếm tặng cho mình.

57

Đành luống phụ chí khí chọc trời mây,

Chỉ ôm lòng xả thân đền ơn nước.

Khí kiếm xông trời đêm biết là có phận,

Gõ kiếm cười vang không duyên cớ.

Thử mang kiếm qua non núi,

Thường nghe tiếng gào khóc của quỷ thần.

Bài Tự trào của Trịnh Hoài Đức:

天若於予鬨笑端 Thiên nhược ư dư hống tiếu đoan,

生逢亂世彊名安 Sinh phùng loạn thế cưỡng danh An.

因仍忙歲偷閒日 Nhân nhưng mang tuế thâu nhàn nhật,

慚愧微才博好官 Tàm quý vi tài bác hảo quan.

泥醉一杯驕酒伯 Nê tuý nhất bôi kiêu tửu bá,

鴉塗五韻傲詩壇 Nha đồ ngũ vận ngạo thi đàn.

近來儌倖乾坤量 Cận lai kiểu hãnh càn khôn lượng,

水秀山奇足我歡 Thuỷ tú sơn kỳ túc ngã hoan.

Hoài Anh dịch là:

Trời dường như trêu cợt ta,

Sinh gặp đời loạn mà vẫn gượng giữ vẹn được danh.

Bởi vẫn năm bận rộn trộm rút lấy ngày nhàn,

Thẹn mình tài nhỏ mà lại được chức quan kha khá.

Say nhà một chén kiêu căng với tửu bá,

Bôi lem nhem năm vận mà ngạo với đàn thơ.

Gần đây đánh cuộc may rủi đo lường trời đất,

Nước đẹp núi lạ đủ cho ta vui [8, tr.328].

Không kể lỗi đánh máy sai chữ “say nhè” thành “say nhà”, trong bản dịch trên,

có chỗ ông chưa dịch ra ý của tác giả. Trường hợp câu thứ hai là một minh chứng.

Trịnh Hoài Đức thuở nhỏ tên An (như ông tự viết trong bài tự đề tựa cho tập thơ

Cấn Trai của ông), vì vậy, câu hai nên hiểu là: Sinh gặp đời loạn mà vẫn gượng đặt

tên là An. Từ đây mới thấy được chất trào lộng của tác giả. Ngoài ra, bản dịch cũng

không thoát ý khiến người đọc khó hiểu, khó cảm.

Bản dịch của chúng tôi là:

Trời dường như đùa cợt ta chăng?

58

Sinh gặp thời loạn, mà ta vẫn gượng đặt tên là An.

Vì suốt năm bận rộn nên trộm lấy vài ngày nhàn rỗi,

Thẹn mình tài hèn, vẫn có được chức quan tốt.

Uống một chén rượu đã say nhè, mà vẫn khoe mình là bậc bá

trong làng rượu,

Bài thơ năm vần lem luốc như quạ bôi, vẫn ngạo nghễ với làng

thơ.

Gần đây may mà được đất trời rộng lượng,

Non nước đẹp đẽ kỳ lạ, đủ làm vui lòng ta.

Không chú ý đến điển tích nên dẫn đến việc dịch sai:

Về phần chú thích, mặc dù Hoài Anh đã cố gắng chú giải các điển cố, điển

tích, từ ngữ khó hiểu, nhưng cũng có nhiều bài ông bỏ qua không chú, hoặc có lẽ

ông thấy đã có nghĩa, hoặc có thể bỏ sót, do đó, cũng có nhiều câu mù mờ về nghĩa

như trường hợp bài Đối kiếm đã dẫn ở trên.

Bài Tế phong đài của Trịnh Hoài Đức:

搖橹輕舟掠水來 Dao lỗ khinh chu lược thuỷ lai,

南屏山下見遺臺 Nam Bình sơn hạ kiến di đài.

蘆花倚阜禳旗展 Lô hoa ỷ phụ nhương kỳ triển,

鴉翅翻樷羽扇開 Nha sí phiên tùng vũ phiến khai.

學究也知風可借 Học cứu dã tri phong khả tá,

運移無柰力難囘 Vận di vô nại lực nan hồi.

江山愛護忠純跡 Giang sơn ái hộ trung thuần tích,

銅雀當年已綠苔 Đồng Tước đương niên dĩ lục đài.

Hoài Anh dịch nghĩa:

Khua chèo thuyền nhẹ lướt dòng nước tới,

Dưới núi Nam Bình thấy đài còn sót lại.

Hoa lau nép bến thuyền đậu cờ phất phới,

Cánh quạ trở trong lùm cây, lông xoà ra.

Lối học kiểu thầy đồ cũng biết có thể giúp cho phong hoá,

Thời vận chuyển dời biết làm sao, sức khó vãn hồi.

Non sông yêu dấu che chở dấu tích trung thuần,

Đài Đồng Tước năm xưa nay đã phủ rêu xanh. [8, tr.274]

59

Chưa nói đến phần dịch bài thơ, ngay tựa đề dịch đã khó hiểu. Đài tế phong thì

ta cứ dịch là Đài cầu gió, như vậy sẽ dễ hiểu hơn nhiều. Hai câu thơ đầu, tạm thời

ổn, hai câu thực thì đã có vấn đề. Hai câu thực này, Trịnh Hoài Đức vừa tả cảnh

thực ở Nam Bình, đồng thời chính nó gợi liên tưởng để tác giả nhớ đến chuyện cầu

gió của Gia Cát Lượng năm xưa. Ở hai câu luận, dịch giả Hoài Anh đã đi quá xa

nghĩa của nguyên tác để dịch thành “Lối học kiểu thầy đồ cũng biết có thể giúp cho

phong hoá”. Chúng tôi thiết nghĩ nên dịch lại bài Tế phong đài (Đài cầu gió) như

sau:

Mái chèo lay nhẹ, thuyền rẽ nước đi,

Dưới núi Nam Bình còn thấy ngôi đài sót lại ở đó.

Hoa lau mọc dựa vào gò đất như lá cờ cầu gió giương lên,

Cánh quạ bay đậu ở bờ rậm tựa chiếc quạt lông mở ra.

Học mà suy xét sâu xa thì biết rằng gió cũng có thể mượn được,

Vận mệnh đã thay đổi thì đành vậy, sức người khó cứu vãn.

Sông núi thích bảo vệ vết tích của người trung trinh,

Còn lầu Đồng Tước, ngay năm ấy đã phủ ngập rêu xanh.

Vấn đề dịch thơ:

Phần dịch thơ, Hoài Anh chủ yếu vẫn là dùng thể thơ lục bát để chuyển dịch.

Như vậy cũng không tránh khỏi việc làm giảm ý vị của thơ Đường. Không những

thế, thể lục bát mà Hoài Anh dùng lại được ngắt câu, ngắt nhịp không đều, thanh

luật thơ lục bát nhiều khi trúc trắc khó đọc. Có bài ông dịch theo thể lục bát 12 dòng,

so với nguyên tác thì hơn cả 4 dòng như bài Thuỳ vân quất phố.

Những bài dịch theo nguyên thể cũng có chỗ thất niêm luật so với nguyên tác,

chúng tôi chỉ dẫn ra một, hai bài để ví dụ:

為愛清新調 Vị ái thanh tân điệu,

都忘遲暮論 Đô vong trì mộ luân (luận).

岐多分大道 Kỳ đa phân đại đạo,

地僻失孤邨 Địa tịch thất cô thôn.

北極星晨隱 Bắc cực tinh thần ẩn,

南郊霧露繁 Nam giao vụ lộ phồn.

忽聞吟苦響 Hốt văn ngâm khổ hưởng,

知是裴遯門 Tri thị Bùi Độn môn.

60

(Trịnh Hoài Đức, Phỏng Bùi Độn Am tịch thiên mê lộ khẩu chiếm)

Hoài Anh dịch thơ:

Điệu thanh tân riêng thích,

Chuyện tối muộn không bàn.

Đường lớn nhiều ngã rẽ,

Xóm lẻ sương ngập tràn.

Sao Bắc Cực chìm lặn,

Nẻo Nam mù móc lan.

Tiếng ngâm thơ nghe vẳng,

Biết là nhà Độn Am. [8, tr.94]

Bài thơ này của Trịnh Hoài Đức được làm theo thể ngũ ngôn luật, vì vậy, nếu

đã dịch thơ theo nguyên thể thì nên giữ đúng niêm luật của nó.

Hoặc bài:

久作他鄉客 Cửu tác tha hương khách

那堪折柳聲 Na kham chiết liễu thanh,

愁同江九曲 Sầu đồng giang cửu khúc,

江曲遶江城 Giang khúc nhiễu giang thành.

(Trịnh Hoài Đức, Tương hành tạp vịnh, Văn địch)

Hoài Anh dịch:

Làm khách tha hương mãi,

Nghe “Chiết liễu” động lòng.

Sầu như sông chín khúc,

Khúc sông quanh thành sông.

Cũng như bài trên, bài sau làm theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, do đó, dịch như

trên cũng làm mất đi niêm luật của thể thơ này.

… Dẫn vài trường hợp để thấy rằng, công tác văn bản vô cùng quan trọng.

Nếu không làm kỹ thao tác này, việc tìm hiểu ý thơ, tư tưởng, tình cảm của tác giả

cũng theo đó mà lệch lạc. Sở dĩ chúng tôi phải dẫn ra những trường hợp đáng tiếc

trên trong công trình Gia Định tam gia của Hoài Anh vì bởi đây là công trình tuyển

dịch nhiều thơ của Tam gia nhất từ trước đến nay. Thường những bài thơ tác giả

Hoài Anh dẫn lại bản của những tác giả khác thì lại không mắc những lỗi chúng tôi

vừa nêu. Do đó, việc khảo sát điểm qua tình hình dịch thuật giới thiệu thơ Tam gia

61

là công việc chúng tôi phải làm, chứ hoàn toàn không có ý bới lông tìm vết, hay

thiếu tôn trọng đối với tiền bối.

Thơ của Gia Định tam gia không phải là không hay, không đặc sắc. Chỉ vì

trước đây chưa được phiên dịch, công bố một cách có hệ thống nên việc tìm hiểu về

thơ của Gia Định tam gia cũng bị hạn chế. Công trình của Hoài Anh khắc phục

được tình trạng tư liệu thiếu thốn nói trên, nhưng bản thân nó lại mang một số hạn

chế trong công tác dịch thuật, do vậy làm ảnh hưởng đến nguyên ý gây hiểu sai

trong việc tiếp nhận tác phẩm.

Chúng tôi vì vậy vẫn phải tiếp tục con đường khảo sát văn bản, phiên dịch và

chú thích những phần còn thiếu sót, diễn giải, dịch nghĩa lại những chỗ lạc ý, kể cả

việc dịch thơ theo đúng thể Đường luật ngõ hầu cung cấp cho người đọc bản dịch

sáng nghĩa để có thể cảm nhận hết ý thơ của Tam gia. Không những thế, chúng tôi

còn dịch thêm các bài tựa bạt, những lời bình của thi hào Nguyễn Du và Ngô Thì Vị

bình phẩm thơ Lê Quang Định trong Hoa Nguyên thi thảo. Việc làm này của chúng

tôi không ngoài mục đích là góp phần giới thiệu thêm tác phẩm của Tam gia và từ

đó tìm hiểu thơ Tam gia một cách toàn diện hơn.

1.5. QUAN NIỆM VỀ VĂN CHƯƠNG

Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh được danh xưng là Gia

Định tam gia, ắt hẳn trong phong cách thơ của các ông có những điểm tương đồng,

và vì thế, sẽ có chung những quan niệm về văn chương. Tìm hiểu quan niệm văn

chương của Gia Định tam gia cho phép chúng ta nhìn thấy những yếu tố tích cực

hay tiêu cực trong quan niệm sáng tác, quan điểm thẩm mỹ, quan niệm về văn

chương của họ trong mạch nguồn văn chương dân tộc.

Quan niệm văn chương là những quan điểm, suy nghĩ, phát biểu, kể cả ý thức

của tác giả đối với văn chương nghệ thuật ở phương diện thẩm mỹ, hoạt động sáng

tác văn chương, thưởng thức văn chương… Sự thật, ông cha ta bàn về văn chương

không nhiều, nhưng từ tình hình thực tiễn sáng tác và những ý kiến phát biểu thông

qua các bài tựa bạt hay trong sáng tác thơ, có thể thiết lập quan niệm văn chương

của họ một cách khá chính xác. Do đó, khi tìm hiểu về quan niệm văn chương của

Gia Định tam gia, chúng tôi tiến hành tìm hiểu trực tiếp trên những phát biểu mang

tính chất lý luận được thể hiện trong thơ, trong các bài tựa bạt, đồng thời thông qua

thực tiễn sáng tác của họ.

62

Quan niệm văn chương của tác giả bao giờ cũng chịu sự ảnh hưởng từ ý thức

hệ và tình hình sáng tác thơ ca đương thời. Bối cảnh lịch sử xã hội thời đại của Gia

Định tam gia hết sức phức tạp và rối ren, với sự đảo lộn các giá trị xã hội bởi thiết

chế chính trị một vua hai chúa.

Dưới quyền cai quản của các chúa Nguyễn, bấy giờ ở Gia Định, tuy không thể

sánh cùng vùng đất Đàng Ngoài vốn có cội rễ văn hoá lâu đời, với lực lượng sáng

tác phong phú, nhưng ở Đàng Trong cũng bắt đầu hình thành lực lượng sáng tác mà

chủ yếu là các nhà nho di cư từ Đàng Ngoài vào, hay từ vùng Hoa Nam Trung Quốc

đến. Dẫu số nho gia này không thật sự hùng hậu nhưng lại có ảnh hưởng lớn đến sự

hình thành và phát triển văn hoá ở Gia Định. Nho giáo ở Gia Định cũng đã được

định hình theo bước chân mở cõi và ổn định vương quyền của các chúa Nguyễn.

Chịu ảnh hưởng từ những tư tưởng Nho giáo, sáng tác của đội ngũ trí thức đa

số là nho thần trong đó có Gia Định tam gia, hiển nhiên cũng mang những quan

điểm văn chương của tư tưởng Nho giáo: “thi ngôn chí” (thơ phải nói chí), “văn dĩ

tải đạo” (văn là để chở đạo), phải “ôn nhu đôn hậu” (phải hài hoà, mềm mại, đôn

hậu), tức không đả kích không làm rung chuyển chế độ xã hội. Nhưng, thông qua

tình hình thực tiễn sáng tác của Gia Định tam gia, “chí” hay “đạo” chính là những

tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của các ông đối với hiện thực đương thời.

Khi các ông vịnh ngọn lửa và chén rượu của Võ Tánh và Ngô Tòng Châu

trong thành Bình Định lúc bị Trần Quang Diệu vây thành, vẫn thấy trong thơ niềm

xúc động mến phục, cảm thông chân thành của những người bạn cùng chiến tuyến,

hoàn toàn không phải thuần dùng thơ chở đạo lý thánh hiền một cách khô khan.

Trước bài thơ, Trịnh Hoài Đức còn ghi lại sự kiện lịch sử này và bày tỏ quan điểm: 訃音至廣義屯舉皆哀慟,余因哭之以詩並誌其名臣大節云耳非以詩鳴也 “Phó

âm chí Quảng Nghĩa đồn, cử giai ai đỗng, dư nhân khốc chi dĩ thi, tịnh chí kỳ danh

thần đại tiết vân nhĩ, phi dĩ thi minh dã”. (Tin buồn đến đồn Quảng Nghĩa, ai cũng

thương xót, tôi nhân khóc các ông mà làm thơ để ghi nhớ cái tiết cả của người bầy tôi danh tiếng, chứ nào phải mượn thơ để cầu cái tiếng ở đời1.)

Từ đó, có thể thấy, quan niệm “chí”, “đạo” ít nhiều mở rộng biên độ trong

1 Chỗ này chúng tôi dịch khác với cách hiểu của Hoài Anh [8, tr.215] và Cao Tự Thanh [36, tr.70].

quan niệm văn chương của Tam gia. Thơ không phải chỉ để truyền đạt giáo lý, lý

63

thuyết, tư tưởng Nho gia, mà quan trọng hơn là dùng thơ để bộc lộ tư tưởng, tình

cảm, những suy nghĩ, cảm xúc của tác giả, của chủ thể trữ tình.

Những bài thơ Trịnh Hoài Đức làm trong thời gian cuộc chiến xảy ra trên

vùng đất Nam Bộ vốn khá thanh bình này ghi lại cảm xúc của ông và ghi lại sự kiện

loạn lạc bấy giờ:

囘首京華淚暗垂 Hồi thủ kinh hoa lệ ám thuỳ,

生民荼毒巿朝移… Sinh dân đồ độc thị triều di…

…飽食鵶鴉郊噪喜 … Bão thực nha nha giao táo hỉ,

無依燐鬼夜嗁悲 Vô y lân quỷ dạ đề bi.

江流半是英雄血 Giang lưu bán thị anh hùng huyết,

真宰冥冥知不知 Chân tể minh minh tri bất tri?

(Trịnh Hoài Đức, Thương loạn)

(Ngoảnh đầu nhìn kinh đô, lệ chảy thầm,

Dân chúng lầm than, triều chợ đổi dời.

… Lũ kền kền no mừng kêu ồn ã ngoài ven thành,

Ma trơi chẳng nơi nương tựa, kêu khóc thảm thiết trong đêm.)

Dòng sông một nửa là máu của bao anh hùng,

Cõi trời cao xa có biết chăng?)

Nếu ngòi bút các tác giả không hướng vào hiện thực xã hội, không quan sát

hiện thực xã hội, hẳn không thể có những lời thơ ghi lại cảnh loạn lạc trong vùng

đất mới vốn khá bình yên này.

Cuộc chiến nơi thành Đồ Bàn năm 1800, có thể nói, hiện lên đầy đủ tính thê

lương, chất rùng rợn của nó chỉ với hai câu thơ, mà chính tác giả từng nói “nhắc đến

sa trường, cả trong mơ vẫn kinh hoàng”:

木末經秋粘戰血 Mộc mạt kinh thu niêm chiến huyết,

禾根入夜宿奇兵 Hoà căn nhập dạ túc kỳ binh.

(Trịnh Hoài Đức, Thu nhật Cầu Mông sơn đồn thư sự)

(Ngọn cây trải qua mùa thu còn dính vết máu nơi chiến trận,

Gốc lúa vào đêm lại chứa thêm kỳ binh)

Cảnh tượng nơi đồn lính giữa núi non cũng được tái hiện khá sinh động dưới

ngòi bút của tác giả, chứng tỏ khả năng miêu tả của Trịnh Hoài Đức vừa chân thực

vừa mang tính khái quát cao:

64

淋漓砦壁滑如酥 Lâm ly trại bích hoạt như tô,

壑漲溪漫雨載途 Hác trướng khê mạn vũ tái đồ.

卒掛簑衣傳將令 Tốt quải xoa y truyền tướng lệnh,

濠關木馬洗觚殳 Hào quan mộc mã tẩy cô thù.

鼓鳴帥幕聲猶濕 Cổ minh soái mạc thanh do thấp,

檄發詞言墨尚濡 Hịch phát từ ngôn mặc thượng nhu.

(Trịnh Hoài Đức, Sơn đồn thu vũ)

(Vách trại ướt nhèm, trơn như váng sữa,

Suối khe tràn nước, mưa ngập đường.

Lính mang áo tơi, truyền lệnh của tướng,

Dưới hào đóng cọc ngang, rửa khí giới.

Tiếng trống vang nơi trướng soái, tiếng nghe như ướt,

Hịch đưa ra từ người thảo hịch, mực còn đẫm.)

Những ghi chép mang tính hiện thực không hiếm trong thơ Trịnh Hoài Đức,

nhưng ghi lại cảnh chiến tranh loạn lạc như thế thì quả là không nhiều. Nhưng quan

niệm văn chương ghi lại hiện thực đó sẽ có dịp phát huy với những nhà thơ Nam Bộ

trong giai đoạn sau, đặc biệt là khi điểm nhìn của họ đứng về phía nhân dân.

Một loạt sáng tác thiên về tả cảnh trữ tình được làm trong thời gian đầu của

Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh và trên đường đi sứ Trung Quốc của cả ba nhà thơ,

phần nào đó nói lên việc dùng thơ trước hết là để ghi chép sự việc, miêu tả cảnh vật,

bày tỏ quan điểm, ghi lại cảm xúc của mình như ông từng nói:

因其境多艱苦,跡遍華夷,即故即景題情,篇什幾已盈尺 “Nhân kỳ cảnh

đa gian khổ, tích biến Hoa Di, tức cố tức cảnh đề tình…” (Bởi tình cảnh của tôi

nhiều gian khổ, vết tích in khắp trong và ngoài nước, nên chi gặp cảnh sinh tình mà

đề thơ…) (Trịnh Hoài Đức, Tự tự).

Lê Quang Định khi có mối tình muốn bày tỏ, thì:

呼童供筆墨 Hô đồng cung bút mặc,

索韻賦騷情 Sách vận phú tao tình.

1 Các trích dẫn thơ của Lê Quang Định trong đây đều trích dẫn từ Hoa Nguyên thi thảo, ký hiệu A.779 (phần sau, đóng chung với Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh), Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội lưu trữ.

(Lê Quang Định, Vãn thi hứng)1

65

(Gọi trẻ nhỏ đem bút mực ra,

Tìm vần tả mối tình tao nhã.)

Có thơ là do xúc cảm ở lòng:

百感有詩皆去國 Bách cảm hữu thi giai khứ quốc,

寸心無愧是登高 Thốn tâm vô quý thị đăng cao.

(Lê Quang Định, Lữ trung trùng cửu)

(Trăm nỗi niềm, có thơ, vì xa quê hương,

Một tấc lòng không thẹn, nên cứ lên cao.)

Và cả khi viếng mộ cha mẹ, Lê Quang Định cũng dùng thơ để bày tỏ lòng

thành:

幸逢今祭掃 Hạnh phùng kim tế tảo,

命筆記心誠 Mệnh bút ký tâm thành.

(Lê Quang Định, Khốc tiên phần)

(May gặp ngày tảo mộ cúng tế,

Lấy bút ghi lại tấm lòng thành.)

Trong ba nhà thơ, Trịnh Hoài Đức là người thể hiện quan niệm này rõ nhất.

Những bài thơ ông làm đều ghi lại tình cảnh thực tại của ông với nhiều ghi chú bổ ích để người đọc có thể biết rõ về tác phẩm tác giả: 彙次紀年以表其時屬正僞,運

際窮通,并自註事蹟名號庶備。他時采風之一助可也。 “… vựng thứ kỷ niên dĩ

biểu kỳ thời thuộc chính nguỵ, vận tế cùng thông, tịnh tự chú sự tích danh hiệu thứ

bị. Tha thời thái phong chi nhất trợ khả dã.” (… rồi sắp xếp theo thứ tự thời gian

sáng tác để cho rõ chính nguỵ, vận cùng hay thông, đồng thời tự chú sự tích, danh

hiệu đầy đủ. Ngày sau có góp nhặt phong tục thì cũng giúp ích được vậy.) (Trịnh

Hoài Đức, Cấn Trai thi tập, Tự tự)

Hơn nữa, việc làm thơ của ông ban đầu với mục đích để lại cho con cháu biết

được việc làm bình sinh của cha ông mà thôi: 留與子孫,使知余平生履歷有如此

之磳磴以蓋保其後云耳,非著作之謂也 “lưu dữ tử tôn, sử tri dư bình sinh lý lịch

hữu như thử chi tằng đặng dĩ cái bảo kỳ hậu vân nhĩ, phi trứ tác chi vị dã” (… để

lưu con cháu, cho chúng biết lý lịch bình sinh của tôi từng có những khi vất vả gập

ghềnh như thế, mà giữ gìn nó về sau, chứ không phải gọi là sáng tác gì cả.) (Trịnh

Hoài Đức, Tự tự).

66

Tuy việc học hành của các ông xuất phát từ ý nghĩ làm rạng rỡ nếp tổ tiên,

chấn chỉnh gia phong, nhưng ý thức của việc học làm thơ của Gia Định tam gia,

trước hết là sự tự thoả mãn nhu cầu giải trí, một kiểu chơi văn nghệ, ghi lại cảm xúc,

cảnh ngộ của chính mình, hoàn toàn không phải là học để thi cử, làm quan.

Chính Trịnh Hoài Đức ghi lại cảnh học làm thơ của ông và Ngô Nhân Tĩnh:

余以仁靜且長四歲,遂以世兄稱之,攜手文塲,刮摩淬礪其於經史子

集,三教九流,凡遇同文之書必求竟讀,不辤駁雜鹵莽之笑 “Dư dĩ Nhân Tĩnh

thả trưởng tứ tuế, toại dĩ thế huynh xưng chi, huề thủ văn trường, quát ma thối lệ,

kỳ ư Kinh Sử Tử Tập, tam giáo cửu lưu, phàm ngộ đồng văn chi thư tất cầu cánh

độc, bất từ bác tạp lỗ mãng chi tiếu” (Trịnh Hoài Đức, Tự tự Cấn Trai thi tập) (Tôi

vì Nhân Tĩnh lớn hơn 4 tuổi, nên gọi bằng anh (thế huynh), cùng dắt tay vào trường văn, trau dồi rèn luyện. Đối với các sách Kinh, Sử, Tử, Tập, tam giáo cửu lưu1, hễ

gặp được sách cùng chung văn tự chữ viết thì ắt tìm mà đọc, chẳng từ những thứ bị

chê là tạp nham sơ sài.)

Cho nên vài năm sau, tuy các ông tức cảnh sinh tình, hạ bút thành thơ, nhưng

thấy nhạt nhẽo, chưa đạt được cái thần tình và phong cách của kinh Thi:

然亦時或着力更費推敲,欲入古學之藩籬,終落時文之圈套,不有勦襲

陳腐則鄙俗浮媚。雖筆下成篇而味同嚼蠟,求其風雅神情,三百篇之軌轍,

終不能得 “Nhiên diệc thời hoặc trước lực cánh phí thôi xao, dục nhập cổ học chi

phiên ly, chung lạc thời văn chi quyển sáo, bất hữu tiễu tập trần hủ tắc bỉ tục phù

mị. Tuy bút hạ thành thiên nhi vị đồng tước lạp, cầu kỳ phong nhã thần tình, tam

bách thiên chi quỹ triệt, chung bất năng đắc” (Trịnh Hoài Đức, Tự tự Cấn Trai thi

tập) (Nhưng cũng có khi dốc sức phí công tìm lời chọn chữ, muốn vào phên giậu

của cổ học, rốt cuộc rơi vào sáo rỗng của văn chương thời nay, nếu không bắt chước

theo lời xưa cũ thì lại quê mùa phù phiếm. Dẫu hạ bút thành thơ nhưng mùi vị nhạt

nhẽo, muốn tìm vào khuôn phép của kinh Thi, thần tình của Phong, Nhã, mà rốt

cuộc vẫn không thể được).

Kinh Thi là tiếng hát lời ca trong sinh hoạt của người dân Trung Quốc thời cổ

1 Kinh sử tử tập: Các nhà thư tịch học của Trung Quốc chia sách vở thành 4 loại là kinh, sử, tử, tập. Ở đây chỉ sách vở nói chung; Tam giáo: ba đạo Nho, Phật và Lão; Cửu lưu: chín học phái của Trung Quốc là Nho gia, Đạo gia, Âm dương gia, Pháp gia, Danh gia, Mặc gia, Tung hoành gia, Tạp gia và Nông gia.

đại, được Khổng Tử biên tập lại. Do vậy tinh thần của kinh Thi chính là sự phản ánh

67

cuộc sống bằng chính lời ăn tiếng nói của dân chúng, và cũng vì thế, phong cách

của kinh Thi là hồn nhiên, chất phác. Thế nhưng chất phác thôi chưa đủ, mà phải

đẹp. Vẻ đẹp một bài thơ thường được người ta đánh giá “tự nhiên thiên thành” sinh

động mà không thấy tỳ vết. Để làm được điều đó, nhà thơ phải thông qua sự rèn

luyện, trau dồi, kinh lịch từ sách vở đến thực tế. Khi đó mới có thể có thơ hay. Thơ

hay, chưa nói đến có thể truyền được lâu dài, hay có thể có ích cho phong hoá, mà

trước hết, có thể chữa được bệnh người ta, căn bệnh về tinh thần thẩm mỹ, nó làm

sướng khoái tinh thần như người xưa từng quan niệm.

Một bài thơ hay có thể làm cho cảnh vật cuộc đời, thế giới tự nhiên thêm rạng

rỡ:

錦綉新題光水閣 Cẩm tú tân đề, quang thuỷ các,

管絃逸韻遶江城 Quản huyền dật vận, nhiễu giang thành.

(Lê Quang Định, Hựu)

(Đề thơ mới như gấm vóc, sáng rực đài gác trên sông,

Vần thơ cao vời tựa tiếng sáo đàn, vương vấn thành sông.)

Trịnh Hoài Đức thì cho rằng thơ hay, vần điệu phải thanh thoát trong ngần như

tiếng hạc và vẻ đẹp phải như uyên ương: 黃鶴新奇調 Hoàng hạc tân kỳ điệu,

鴛鴦俊逸篇 Uyên ương tuấn dật thiên.

(Trịnh Hoài Đức, Bệnh đình Hà Nam tỉnh thành công quán…)

(Vần điệu mới lạ như tiếng hoàng hạc,

Thơ cao nhã như dáng uyên ương.)

Ngô Nhân Tĩnh thấy sảng khoái khi làm xong một bài thơ, có thể ngủ đến xế

trưa:

吟成詩一首 Ngâm thành thi nhất thủ,

睡已日三竿 Thụy dĩ nhật tam can.

多得忘憂物 Đa đắc vong ưu vật,

托身處處安 Thác thân xứ xứ an.

1 Các trích dẫn thơ của Ngô Nhân Tĩnh trong đây đều trích dẫn từ Thập Anh thi tập, ký hiệu A.779 (phần đầu, đóng chung với Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định), Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội lưu trữ.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung ngẫu thành)1

68

(Ngâm thành một bài thơ,

Ngủ đến khi nắng lên ba cây sào.

Thường quên đi mọi lo nghĩ,

Thì mình ở nơi nào cũng được yên.)

Trịnh Hoài Đức thì dường như nói đến tác dụng làm thanh sạch tâm hồn của

độc giả, mà ông gọi là có thể dùng thơ để chữa bệnh:

不覺驚人句 Bất giác kinh nhân cú,

能操已病權 Năng thao dĩ bệnh quyền.

(Trịnh Hoài Đức, Bệnh đình Hà Nam tỉnh thành công quán, Khâm mệnh Đề

đốc toàn tỉnh học chính Ngô Phương Bồi dĩ tân khắc bản tập Vân Tiều thi tiên huệ

tống, thuyên kỳ khởi hành dĩ thi đạo tạ)

(Bất chợt được câu thơ hay,

Có thể dùng để chữa bệnh.)

Những bài thơ hay bao giờ cũng là những tác phẩm toàn bích về mặt nghệ

thuật cũng như nội dung. Nhưng để đạt được điều đó, nhà thơ phải điều phối kỹ

thuật làm thơ của mình sao cho tự nhiên mà không tỳ vết. Vì vậy, có lúc Trịnh Hoài

Đức đã rất khổ nhọc trong cấu tứ làm thơ: “Xao thi đối tuyết ngâm” (làm thơ ngâm

trước tuyết) (Dạ toạ), tức đề cao cảnh vật gợi hứng thơ. Khổ nhọc trong việc cấu tứ

làm thơ, nhưng Trịnh Hoài Đức chưa bao giờ lấy đó làm cứu cánh, mà quan trọng

hơn hết là phải có tình, có cảnh, có việc mới có thơ. Trong một sáng tác khác, ông

bày tỏ kiểu làm thơ vất vả sẽ ảnh hưởng đến tinh thần:

酒多戒蕩性 Tửu đa giới đãng tính,

詩苦警勞神 Thi khổ cảnh lao thần.

(Trịnh Hoài Đức, Cấn Trai đề bích)

(Uống rượu thường răn tính buông thả,

Làm thơ vất vả, coi chừng nhọc thần.)

Cái kiểu khổ ngâm cũng được ông tán thưởng nếu sự khổ ngâm đó mang lại

cho thơ vẻ tân kỳ như một người bạn của ông là Bùi Độn Am:

爲愛清新調 Vị ái thanh tân điệu,

都忘遲暮論 Đô vong trì mộ luân.

… 忽聞吟苦響 … Hốt văn ngâm khổ hưởng,

知是裴遯門 Tri thị Bùi Độn môn.

69

(Trịnh Hoài Đức, Phỏng Bùi Độn Am tịch thiên mê lộ khẩu chiếm)

(Vì yêu điệu mới mẻ trong trẻo,

Nên quên nghĩ đến trời đã chiều tối.

… Chợt nghe tiếng ngâm thơ vất vả,

Biết là đến cửa nhà của Bùi Độn.)

Và với ông, tự nhiên mới là đẹp toàn vẹn, cái gì ngược lại với tự nhiên hẳn

không tươi mới:

庭花開不折 Đình hoa khai bất chiết,

留賞自然春 Lưu thưởng tự nhiên xuân.

(Trịnh Hoài Đức, Cấn Trai đề bích)

(Hoa ngoài thềm nở, đừng hái đi,

Để lại thưởng thức mùa xuân tự nhiên.)

Vì thế mà, ông cũng rất xem trọng hứng thơ đến tự nhiên:

起視夜何其 Khởi thị dạ hà kỳ?

橫窗月半規 Hoành song nguyệt bán quy.

忙挑眠後燭 Mang khiêu miên hậu chúc,

快寫夢中詩 Khoái tả mộng trung thi.

(Trịnh Hoài Đức, Dạ khởi)

(Thức dậy nhìn đêm nó thế nào,

Ngang song cửa sổ, nửa vành trăng.

Vội khêu đèn sau giấc ngủ,

Viết nhanh bài thơ trong mộng.)

Trong sáng tác khác, Trịnh Hoài Đức cũng nhắc lại: 詩興無勞踏雪來 “Thi

hứng vô lao đạp tuyết lai” (Hứng thơ đến tự nhiên, không cần nhọc công đi dẫm

tuyết) (Đề Trường Sa Triệu tri huyện phiến diện Lý Hàn lâm hoạ mai) cũng là đề

cao hứng thơ xuất thần trong sáng tác.

酒 躋 稱 聖 斯 無 量 Tửu tê xưng thánh tư vô lượng,

詩 到 驚 神 即 脫 胎 Thi đáo kinh thần tức thoát thai.

(Trịnh Hoài Đức, Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình

vãng Quảng Tây tỉnh…, 10)

(Rượu lên đến mức xưng thánh, thì là vô lượng,

Thơ đến chỗ kinh cả thần linh, ấy là thơ thánh)

70

Ngô Nhân Tĩnh từng yêu thích những câu thơ hay, nên thường tìm những câu

thơ hay để ngâm như kiểu Viên Mai:

詩索隨園尋好句 Thi sách Tuỳ Viên tầm hảo cú,

舟臨倒水望迴潮 Chu lâm đáo thuỷ vọng hồi triều.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông, sứ hành do Quảng Đông thuỷ

trình vãng Quảng Tây, hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 17)

(Thơ học Tuỳ Viên, thích tìm câu hay,

Thuyền vào nước ngược, ưa nhìn sóng trào.)

Nếu Trịnh Hoài Đức trong đêm trở dậy chép nhanh bài thơ trong mộng, thì

Ngô Nhân Tĩnh trong đêm dậy sửa lại những vần thơ trong ngày:

作客不成睡 Tác khách bất thành thuỵ,

三更起坐時 Tam canh khởi toạ thì.

寒磨燈下墨 Hàn ma đăng hạ mặc,

閒改日中詩 Nhàn cải nhật trung thi.

(Ngô Nhân Tĩnh, Dạ khởi)

(Thân làm khách, chẳng ngủ được,

Canh ba, lại ngồi dậy.

Cái rét như mài người, người mài mực dưới ánh đèn,

Nhàn rỗi sửa thơ làm trong ngày.)

Cái kiểu làm thơ này của Ngô thật cũng đầy dụng công, có phải vì thế mà ta

thấy từ ngữ trong thơ của Ngô Nhân Tĩnh trôi chảy nhẹ nhàng như chưa hề qua sự

gọt dũa? Nhưng ông cũng tâm sự thật lòng rằng, thơ chỉ cần tỏ bày tâm sự với tri

âm, mà chẳng dám khoe lời tuyệt diệu. Ông tự đùa cho việc làm thơ khó hơn việc

rót rượu:

昔日詩多欠 Tích nhật thi đa khiếm,

今朝句苟完 Kim triêu cú tạm hoàn.

敢求文絕妙 Cảm cầu văn tuyệt diệu,

但願格平安 Đãn nguyện cách bình an.

斟酌樽中易 Châm chước tôn trung dị,

推敲字上難 Thôi xao tự thượng nan.

可同知己和 Khả đồng tri kỷ họa,

不許別人看 Bất hứa biệt nhân khan.

71

(Ngô Nhân Tĩnh, Thi thành trình cố nhân)

(Ngày trước thơ thường thiếu,

Sáng nay câu cú tạm xong.

Chẳng dám mong lời thơ tuyệt diệu,

Chỉ cần thể cách êm thuận.

Rót rượu vào chén còn dễ dàng,

Chọn lựa trên chữ thật khó khăn.

Chỉ muốn hoạ cùng người tri kỷ,

Chẳng muốn cho người khác thấy thơ.)

Thơ là để giãi bày tâm sự, nhưng đôi lúc dường như khó có thể giãi hết được

niềm riêng. Đôi lúc văn chương cũng bế tắc với nỗi lòng của người muốn giãi bày.

Với Nguyễn Du, tâm sự sâu kín như dòng nước sông Quế dưới chân núi Hồng “Ngã

hữu thốn tâm vô dữ ngữ, Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm” đã khó nói, thì với Ngô

Nhân Tĩnh cũng vậy:

半盞孤燈客夢殘 Bán trản cô đăng khách mộng tàn,

百年心事話尤難 Bách niên tâm sự thoại vưu nan.

老天不與人方便 Lão thiên bất dữ nhân phương tiện,

漠漠溟溟一太寬 Mạc mạc minh minh nhất thái khoan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Tiên Thành lữ thứ)

(Chén đèn lẻ loi tàn hết nửa, giấc mơ khách cũng tàn,

Tâm sự một đời, nói thật khó.

Trời già không cho người được dễ dàng,

Một bầu vũ trụ mênh mông mịt mờ.)

Lê Quang Định có lần cũng tự thấy văn chương nhiều khi khó có thể ghi lại

hình ảnh thiên nhiên:

詩句自慚當物色 Thi cú tự tàm đương vật sắc,

尋常聊紀日程書 Tầm thường liêu ký nhật trình thư.

(Lê Quang Định, Nam Hương Đường ký kiến)

(Câu thơ tự thẹn với cảnh sắc khi ấy,

Bình thường gượng chép nhật ký đi đường.)

Thế nhưng ngàn năm sau còn lại chính là văn chương, văn chương có sức sống

lâu dài cùng đất trời:

72

漢傅文章遺古樹 Hán phó văn chương di cổ thụ,

楚臣忠憤逐蒼浪 Sở thần trung phẫn trục thương lang.

(Lê Quang Định, Đăng Củng Cực lâu)

(Văn chương Thái phó nhà Hán, còn lưu với cây xưa,

Nỗi trung phẫn của bầy tôi nước Sở, vẫn trôi với sóng xanh.)

Trên quan niệm ấy, các ông đã có ý thức thơ phải là tiếng lòng, là sự hồi ánh

hiện thực chứ không phải chỉ trau chuốt ngôn ngữ một cách gượng ép gò bó. Ở

phương diện nào đó, quan niệm văn chương của Gia Định tam gia cũng gần như

chủ trương của Lê Quý Đôn khi ông phát biểu việc làm thơ cần phải có ba điểm:

“một là tình, hai là cảnh, ba là sự”.

Quan niệm này của các ông được chính Trịnh Hoài Đức phát biểu trong bài

tựa tập thơ của các ông. Theo Trịnh Hoài Đức, văn chương đối với ông không phải

là để làm vang danh trong đời như có lần ông từng nói, mà văn chương là sự thể

hiện tính tình, là tinh hoa của tâm hồn, tấm lòng: “… 在 顧 不 假 乎 詩 文 以 炫 耀

于 世 也 。然 文 者 心 之 華, 其 性 情 之 正 偏, 士 學 之 醕 疵, 須 此 以 見 其

梗 槩 焉 ”… tại cố bất giả hồ thi văn dĩ huyễn diệu vu thế dã. Nhiên văn giả tâm chi

hoa, kỳ tính tình chi chính thiên, sĩ học chi thuần tỳ, tu thử dĩ kiến kỳ ngạnh khái

yên (… vốn không mượn thơ văn để huênh hoang với đời. Nhưng thơ văn là tinh

hoa của lòng, là sự thẳng ngay hay tà vạy của tính tình, là vết tích tốt xấu của bậc sĩ

học, cũng nhờ đó mà thấy được đại khái.) (Trịnh Hoài Đức, Gia Định tam gia thi

tự).

Ngoài ra, việc đặt tựa cho các tập thơ của Trịnh Hoài Đức cũng bộc lộ quan

niệm về văn chương, về sáng tác của mình. Với thơ đi sứ Quan quang tập có ý

nghĩa là xem xét cảnh quan đất nước, Khả dĩ tập thì lại mang ý nghĩa của hưng,

quan, quần, oán, một tinh thần tiến bộ của Nho giáo trong Luận ngữ. Tuy chịu ảnh

hưởng của ý thức hệ Nho giáo, nhưng những quan niệm văn chương của Gia Định

tam gia vẫn biểu hiện những yếu tố khá tiến bộ chứ không phải cực đoan như một

số tác giả khác quan niệm ở thời kỳ trước và sau ông một chút. Được thế, có lẽ nhờ

các ông hấp thu và học hỏi từ nhiều phong cách thơ, trong đó có Đặng Đức Thuật,

người đã ảnh hưởng rất lớn khiến cho thơ các ông có những chuyển biến tích cực.

Đó cũng là kết quả của việc tiếp nối mạch nguồn văn học của dân tộc, đặc biệt là

văn mạch Nam Bộ.

73

TIỂU KẾT

Trong bối cảnh văn học Hán Nôm Nam Bộ từ giữa thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ

19, Gia Định tam gia là những tác giả mang tính chất bản lề, vừa thừa kế những

thành tựu thơ ca trực tiếp của Đàng Trong, vừa khơi nguồn cho dòng mạch văn học

Hán Nôm Nam Bộ. Gia Định tam gia tiếp nối dòng thơ của Tao đàn Chiêu Anh Các,

Võ Trường Toản, Đặng Đức Thuật… kể cả trong sáng tác lẫn sinh hoạt văn chương.

Sau Chiêu Anh Các, các ông đã thành lập nhóm Sơn Hội Gia Định tập trung những

người yêu thơ, chủ yếu con em người Hoa để ngâm thơ xướng hoạ học tập lẫn nhau.

Việc thành lập nhóm thơ này, sau đó lại mở đường cho những thi xã khác trong đó

có Bạch Mai Thi xã ở Nam Bộ được nhiều nhà trí thức nổi tiếng đương thời tham

gia như Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Trần Thiện Chánh,

Nguyễn Thông…

Văn học Hán Nôm Nam Bộ được hình thành và kết thúc chỉ trong vòng hơn

một thế kỷ, nhưng vẫn thể hiện rõ tính chất đa dạng và phức tạp của nó. Về nội

dung tư tưởng, văn học Hán Nôm Nam Bộ có nội dung phản ánh cuộc sống Nam

Bộ khá phong phú, trong đó có bộ phận mang nội dung phò Nguyễn chống Tây Sơn.

Thơ Gia Định tam gia, đặc biệt thơ của Trịnh Hoài Đức có một ít bài mang nội dung

chống Tây Sơn rất rõ, còn lại phần nhiều là ca ngợi cảnh sắc và con người Nam Bộ.

Bước sang thế kỷ 19, sau khi Nguyễn Ánh thống nhất bờ cõi, các đời vua tiếp theo

tiếp tục việc thống nhất hành chính trên cả nước. Đặc biệt là biến cố xâm lược của

thực dân Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19, đã khiến cho thơ ca Hán Nôm Nam Bộ ngoài

những nội dung ca ngợi quê hương, đất nước, còn mang thêm nội dung chống Pháp,

đả kích bè lũ tay sai bán nước khá đặc sắc bên cạnh bộ phận văn học phản ánh các

mặt của đời sống Nam Bộ đặc biệt là ở Gia Định thời bấy giờ.

Về cuộc đời và sự nghiệp của Gia Định tam gia, trong chương này, chúng tôi

đã xác định năm sinh năm mất của các tác giả Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định,

Ngô Nhân Tĩnh mà lâu nay có nhiều số liệu chưa thống nhất. Qua sự khảo sát của

chúng tôi có thể đi đến xác định năm sinh năm mất của các ông như sau: Trịnh Hoài

Đức (1764-1825), Lê Quang Định (1760-1813) và Ngô Nhân Tĩnh (1760-1813).

Đồng thời chúng tôi trình bày tiểu sử hành trạng của các ông từ các nguồn tài liệu

của quốc sử như Thực lục và Liệt truyện và qua thơ của các ông.

74

Vấn đề văn bản tác phẩm và việc giới thiệu phiên dịch thơ của Gia Định tam

gia: Công trình giới thiệu được nhiều thơ của Gia Định tam gia nhất chính là công

trình của tác giả Hoài Anh. Thơ Trịnh Hoài Đức, Hoài Anh đã dịch 167 bài trong

tổng số 327 bài thơ; thơ Ngô Nhân Tĩnh đã dịch được 94 bài trong tổng số 187 bài

(hiện còn 182 bài); thơ Lê Quang Định đã dịch được 62 bài trong tổng số 77 bài

(hiện còn 75 bài). Tiếp tục công tác chỉnh lý tư liệu, dịch thuật và công bố văn bản,

chúng tôi đã dịch thơ Trịnh Hoài Đức được 287 bài/327 bài, thơ Ngô Nhân Tĩnh

182 bài/187 bài và thơ Lê Quang Định 75 bài/77 bài. Như vậy tổng số thơ chúng tôi

dịch được là 544 bài so với Hoài Anh là 323 bài, chúng tôi dịch thêm được 221 bài.

Ngoài ra chúng tôi còn dịch tất cả các bài tự bạt trong ba thi tập của Gia Định tam

gia và lời bình của thi hào Nguyễn Du và Ngô Thì Vị trong tập Hoa Nguyên thi

thảo của Lê Quang Định để thấy toàn cảnh thơ Gia Định tam gia.

Từ thực tiễn sáng tác có thể thấy quan niệm văn chương của Gia Định tam gia

có mấy đặc điểm sau: thơ là để bày tỏ tư tưởng, giãi bày tình cảm, cảm xúc, để ghi

lại sự việc hay hồi ánh hiện thực mà mình thấy, mình cảm; Văn chương cũng là thứ

nghệ thuật tiêu khiển, giải trí, có tác dụng làm sảng khoái tinh thần, nhưng nó lại là

một hoạt động gian khổ, khó nhọc; Văn chương có thể truyền đời để con cháu biết

bình sinh của tổ tiên; Văn chương cũng có thể giúp cho mọi người xem xét hành

trạng và sự nghiệp của một người…

75

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

2.1. TÌNH CẢM TRUNG QUÂN ÁI QUỐC VÀ TỰ HÀO DÂN TỘC

Theo quan niệm của người xưa, vua là đại diện cho một nước, trung với vua

tức là trung với nước. Mang ơn tri ngộ của vua cũng có nghĩa là mang nợ của đất

nước. Điều này rất dễ nhận thấy trong thi ca, lịch sử Trung Quốc, Việt Nam nói

riêng, ở các nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo nói chung. Mặc dù trong hoàn cảnh

chính trị xã hội thời bấy giờ, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn mang ý nghĩa tích cực bởi

đây là một phong trào đấu tranh giữa nhân dân lao động và giai cấp phong kiến,

nhưng trong quan điểm chính thống của giai cấp phong kiến thống trị, thì đó là một

cuộc nổi loạn của nhân dân chống lại triều đình, là phi chính thống. Điều ấy khiến

những nhà Nho, trong đó có Gia Định tam gia, nhìn cuộc khởi nghĩa này mang

những nét sai lạc. Nhưng con người do những hoàn cảnh xã hội cụ thể quy định, dù

muốn dù không vẫn phải sống và phục vụ trong hoàn cảnh xã hội đó. Nếu được

nhìn nhận như những hạn chế khó tránh khỏi ở bất kỳ một thời đại nào, vẫn có thể

thấy được những tấm lòng mà ngay trong thời khắc lịch sử ấy có nhiều điều đáng

quý. Với tinh thần xem xét vấn đề trong quan điểm lịch sử, chúng ta dễ dàng cảm

thông với những suy nghĩ, những cảm xúc của những nhân vật lịch sử trong thời đại

rất khác với chúng ta. Thế nên chẳng có gì lạ khi những Nho thần trên vùng đất Gia

Định tự xem mình đã chịu ơn mưa móc, tri ngộ của chúa Nguyễn, sẽ luôn nói đến

nỗi nhớ vua, nhớ nước và ơn tri ngộ, tự hứa đem thân đền ơn nước.

Cả ba nhà thơ của đất Gia Định đều có chung một tình cảm yêu nước, trung

quân, nhưng ở mỗi tác giả sứ thần, chúng ta vẫn tìm thấy những cung bậc cảm xúc

riêng. Đã là nhà Nho thì hành xử theo kiểu của nhà Nho: hết lòng tận trung phò vua,

giúp nước; ưu tư, lo lắng làm tròn bổn phận của một bầy tôi. Chịu ơn chúa Nguyễn

ngay từ buổi đầu tiên của công cuộc Nam tiến mở đất, cho đến khi vua Gia Long

giành chính quyền từ Tây Sơn, cả ba nhà thơ đất Gia Định Trịnh Hoài Đức, Lê

76

Quang Định, Ngô Nhân Tĩnh bao giờ cũng mang ý thức trách nhiệm của một Nho

thần mong được thờ phụng đấng quân vương, báo đền đất nước. Cho đến năm 1788,

khi Nguyễn Ánh mở phủ nguyên soái ở Gia Định, các ông ứng thí được bổ chức

Hàn lâm viện, chính thức đứng vào hàng ngũ của triều Nguyễn Gia Long, thì việc

này được xem như cuộc tri ngộ giữa những người tài với minh quân. Do vậy, tuy tổ

tịch của Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh là người Minh hương (gốc Trung Quốc),

nhưng đã ba đời cư trú trên vùng đất phương Nam nước Việt, vì thế các ông coi đất

nước này là đất nước mình, quê hương này là quê hương mình, và việc phụng sự

quê hương, đất nước là trách nhiệm của mỗi thần dân trên mảnh đất mới này.

Chịu ảnh hưởng trực tiếp từ tư tưởng Nho gia, nên trung quân được xem như

là tiêu chuẩn hàng đầu để đi đến việc ái quốc. Trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ,

cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh kể từ khi vua Quang Trung mất (1792)

đã chuyển sang tính chất của một cuộc tranh giành quyền lực giữa hai thế lực phong

kiến, một bên là khôi phục sự thống trị của dòng họ gần hai trăm năm và một bên là

duy trì bảo vệ sự trị vì của nền phong kiến mới vừa xác lập. Những nhà Nho dầu

đứng ở hàng ngũ nào cũng có đủ những lý lẽ để bảo vệ cho hành động của họ.

Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định là những người cư trú trên

vùng đất của chúa Nguyễn, do đó, sẵn sàng phục vụ nhà Chúa như bổn phận của

người bầy tôi trung.

Trịnh Hoài Đức trong cơn bệnh vẫn đau đáu nỗi niềm đau đời nhưng đành bất

lực vì chưa có điều kiện để cứu đời:

病身誰惠君臣藥 Bệnh thân thuỳ huệ quân thần dược,

債主時增母子錢 Trái chủ thời tăng mẫu tử tiền.

(Trịnh Hoài Đức, Bệnh trung đắc

Huỳnh Hối Sơn bệnh tín đề ký)

(Tấm thân bệnh, ai cho ta thuốc quân thần,

Nợ nần, thường tăng thêm lãi mẹ lãi con.)

Ngô Nhân Tĩnh thì dằn vặt tự cho mình bất tài khi chưa được báo đền ơn nước:

撫劍未酬邦國恨 Phủ kiếm vị thù bang quốc hận,

不才每悞友朋憐 Bất tài mỗi ngộ hữu bằng lân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Trần Tuấn, Hà Bình,

Xích Hạ chu trung tạp vịnh, 1)

77

(Vỗ kiếm hận vì chưa đền trả ơn nước,

Bất tài nên thường được bạn bè thương xót).

Năm 1798, Ngô Nhân Tĩnh được phong chức Binh bộ Tham tri, lên thuyền

buôn người Thanh sang Trung Quốc hỏi thăm tin tức vua Lê. Đây là lần đi sứ không

chính thức của Ngô Nhân Tĩnh khi đất nước vẫn còn trong tình hình chiến loạn. Với

tâm thế như vậy, Nhân Tĩnh mang tâm trạng của người như buộc rời khỏi chiến trận

khi các bạn ông vẫn đang bận rộn việc quân. Vì vậy, những bài thơ được làm trong

giai đoạn này mang nỗi niềm phức tạp, vừa như được ơn tri ngộ của vua, vừa như tự

dằn vặt bản thân đã thoát khỏi trận tuyến, nhất là khi nhiệm vụ chuyến đi sứ này coi

như không trọn vẹn:

飄蓬斷梗共悠悠 Phiêu bồng đoạn ngạnh cộng du du,

空戴南冠萬里愁 Không đới nam quan vạn lý sầu.

壯士自能酬國債 Tráng sĩ tự năng thù quốc trái,

丈夫誰肯爲身謀 Trượng phu thuỳ khẳng vị thân mưu.

片心未達門重鎖 Phiến tâm vị đạt môn trùng toả.

一事無成淚暗流 Nhất sự vô thành lệ ám lưu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Trần Tuấn,

Hà Bình Xích Hạ chu trung tạp vịnh, 2)

(Cỏ bồng bay, cành đào gãy, cả hai cùng buồn man mác,

Đội mũ quê hương ở nơi đất khách xa xôi thêm buồn.

Tráng sĩ tự biết mình có thể báo nợ nước,

Kẻ trượng phu ai chịu mưu cầu cho thân mình.

Tấm lòng của ta chưa thấu đến vua, cửa cửu trùng còn khoá,

Một việc không thành, nước mắt chảy thầm.)

Từ lòng trung quân muốn được báo đáp, Ngô Nhân Tĩnh trăn trở mãi ơn tri

ngộ của vua, thấy hổ thẹn dường như mình là kẻ ăn không ngồi rồi:

愧我素餐何日報 Quý ngã tố xan hà nhật báo,

每懷一粒一珠璣 Mỗi hoài nhất lạp nhất châu ki.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hoạ Lưu Tam ca lưu biệt nguyên vận)

(Thẹn cho ta ngồi không nhận lộc, biết bao giờ mới báo đáp được,

Thường nghĩ mỗi hạt cơm là một hạt ngọc.)

經綸袖手恨年年 Kinh luân tụ thủ hận niên niên,

78

舉目關河每愴然 Cử mục quan hà mỗi sảng nhiên.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Trần Tuấn, Hà Bình

Xích Hạ chu trung tạp vịnh, 3)

(Bao năm hận có tài kinh luân nhưng phải bó tay,

Ngước mắt nhìn sông núi thường rơi lệ buồn.)

Tinh thần hết lòng vì việc nước lại xuất hiện trong tâm trí của ông khi đi sứ

Trung Quốc lần thứ 2. Tháng 5 năm Nhâm Tuất, 1802, Nguyễn Gia Long phái

Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Huỳnh Ngọc Uẩn đi sứ Trung Quốc để nạp ấn

sách của Tây Sơn và áp giải bọn giặc biển Tề Ngôi về nước. Sứ bộ Việt Nam lần đầu tiên chính thức ra đi1:

三洲晴晚使帆行 Tam Châu tình vãn sứ phàm hành,

昏黑何來颶母精 Hôn hắc hà lai cụ mẫu tinh.

粵海波濤臨壑漲 Việt Hải ba đào lâm hác trướng,

上川風雨地天盲 Thượng Xuyên phong vũ địa thiên manh.

(Trịnh Hoài Đức, Phụng sứ Đại Thanh, kinh Quảng Đông

dương phận Tam Châu đường, ngộ cụ phong)

(Trời chiều Tam Châu quang tạnh, thuyền sứ căng buồm đi,

Bỗng nhiên trời tối sầm, gió bão nổi lên.

Bờ biển Quảng Đông sóng trào lên cả hang núi,

Nơi bãi Thượng Xuyên gió mưa tối cả đất trời…)

Đoàn sứ gặp bão dường như tín hiệu báo trước những trở ngại trong chuyến sứ

trình. Quả vậy, sứ đoàn đã phải trì trệ nơi Quảng Đông, Quảng Tây gần mấy tháng

trời, lại phải chờ sứ đoàn thỉnh phong của Lê Quang Định đến rồi tiến kinh. Trong

thời gian đi sứ gần ba năm này (1802-1804), Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh

làm rất nhiều thơ để tỏ nỗi lòng, nói lên tình cảnh lưu trệ nơi đất khách.

星軺粵地軏猶懸 Tinh thiều Việt địa ngột do huyền,

程路艱難歲自遷 Trình lộ gian nan tuế tự thiên.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ hành thứ Quảng Đông thư hoài)

1 Theo ghi chép của Trịnh Hoài Đức, đây là sứ bộ chính thức đầu tiên do triều Nguyễn cử đi. Sau đó vài tháng, sứ bộ thỉnh phong do Lê Quang Định dẫn đầu sang Trung Quốc xin phong quốc hiệu Nam Việt, nhưng nhà Thanh ngại, mới đổi là nước Việt Nam, từ đó trên cờ sứ đề là nước Việt Nam.

(Xe sứ đến đất Quảng phải ở lại đây (trục xe treo ngược lên),

79

Lộ trình nhiều khó khăn, năm tháng cứ tự trôi qua.)

Cũng chính cảnh lưu trệ nơi đất khách lúc bấy giờ là tiền đề để các tác giả bày

tỏ tình cảm với chúa, bày tỏ lòng trung muốn đền ơn chúa:

輕肥我遇深於赤 Khinh phì ngã ngộ thâm ư xích,

報補心雄貫彼蒼 Báo bổ tâm hùng quán bỉ thương.

(Trịnh Hoài Đức, Đông nguyệt do Quảng Đông

thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 22)

(Ta được ơn tri ngộ đối đãi sâu đậm hơn son đỏ,

Lòng muốn báo đáp thấu suốt đến trời xanh.)

Ngô Nhân Tĩnh thì dẫu thấy mình tài hèn nhưng cũng dốc lòng báo đáp ơn vua:

才微安敢說將兵 Tài vi an cảm thuyết tương binh,

航海梯山答聖明 Hàng hải thê sơn đáp thánh minh.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 23)

(Tài hèn nào dám nói chuyện điều binh khiển tướng,

Chỉ biết vượt biển cả trèo núi non (đi sứ), mong đền đáp ơn vua.)

Và với ông dốc hết lòng son báo đáp ơn vua, đất nước là ý nguyện lớn nhất

trong đời:

報國丹心盡 Báo quốc đan tâm tận,

(Ngô Nhân Tĩnh, Đối kính)

(Báo đền đất nước, lòng son dốc)

Khi nghe tin chiến tranh kết thúc, lại thêm việc thỉnh phong đã thành, trên

đường giong bè trở về nước, Nhân Tĩnh vui sướng được đền đáp thánh ân:

局罷征誅勝負分 Cục bãi chinh tru thắng phụ phân,

乘槎萬里答明君 Thừa tra vạn lý đáp minh quân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 12)

(Cuộc chiến chinh đã dứt, thắng thua đã định,

Cỡi thuyền đi muôn dặm (đi sứ), đền đáp ơn vua.)

Cùng cách nghĩ như Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định gián tiếp gởi gắm ý

muốn báo đền ơn vua qua bài thơ lưu biệt cùng Tổng trấn Bắc Thành Tiền quân

Nguyễn Văn Thành:

80

創國正關公鎖鑰 Sáng quốc chính quan công toả dược,

泛槎莫說我風塵 Phiếm tra mạc thuyết ngã phong trần.

(Lê Quang Định, Lưu biệt Bắc Thành Nguyễn Tổng trấn)

(Việc dựng nước, chính nhờ một phần ông mở mang,

Chuyện đi sứ, đừng kể rằng tôi xông pha nơi gió bụi.)

Trên đường đi sứ và có lẽ trong suốt cuộc đời, các ông luôn nghĩ đến vua đến

nước. Trịnh Hoài Đức ví tấm lòng ấy như hoa quỳ hoắc luôn hướng về ánh mặt trời:

葵藿惟知向日忱 Quỳ hoắc duy tri hướng nhật thầm,

週遭覺已一年深 Chu tao giác dĩ nhất niên thâm.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ đình Hán Dương Thiên Đô Am lưu đề)

(Một tấm lòng như hoa quỳ lá dâu hướng về mặt trời,

Giáp lại đây, mới hay đã một năm hơn.)

Ngô Nhân Tĩnh tuy thân ở bắc mà lòng vẫn dõi theo tin tức quê hương:

客地幽懷隨臘去 Khách địa u hoài tuỳ lạp khứ,

故鄉喜信共春來 Cố hương hỷ tín cộng xuân lai.

間關萬里逢元日 Gian quan vạn lý phùng nguyên nhật,

遙望南山獻壽杯 Dao vọng Nam sơn hiến thọ bôi.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nguyên nhật ngẫu thành)

(Nỗi u hoài nơi đất khách theo mùa đông trôi đi,

Tin mừng ở quê hương đến cùng mùa xuân.

Cách trở núi non muôn dặm, gặp ngày tết,

Xa trông về núi Nam dâng chén rượu chúc thọ.)

Ở Trịnh Hoài Đức, trì trệ mãi nơi đất khách, việc sứ chưa thành, vẫn không

dằn vặt như ở Ngô Nhân Tĩnh, mà chỉ là tiếng than thở xen lẫn trong niềm nhớ bè

bạn quê hương:

明 日 椒 花 難 遠 獻 Minh nhật tiêu hoa nan viễn hiến,

旅 亭 臣 子 歎 磋 砣 Lữ đình thần tử thán tha đà.

(Trịnh Hoài Đức, Quế Lâm trừ dạ)

(Ngày mai hoa hồ tiêu khó dâng lên vì ở xa xôi,

Nơi đình trọ đất khách, kẻ bầy tôi than nỗi ngày tháng dần dà.)

Hay:

王事靡遑稽地遠 Vương sự mỹ hoàng kê địa viễn,

81

客愁無那值長年 Khách sầu vô ná trị trường niên.

(Trịnh Hoài Đức, Việt Tây sứ quán

nhuận nhị nguyệt khẩu chiếm)

(Việc vua chưa thành, còn ở mãi nơi xa,

Khách buồn chẳng biết thế nào, năm tháng dài đằng đẵng.)

Còn lại là sự hào hứng từ đáy lòng của Trịnh Hoài Đức với việc nhận mệnh đi

sứ quyết làm tròn phận sự một bầy tôi coi như đó là sự báo đền ơn vua. Thế nên dù

ở nơi cứ người vẫn cứ xem như là quê hương:

致身從許國 Trí thân tòng hứa quốc,

到處便成家 Đáo xứ tiện thành gia.

(Trịnh Hoài Đức, Hành quán khiển hứng)

(Đem thân đền ơn nước,

Nơi đâu cũng có thể là nhà.)

Thì với Ngô Nhân Tĩnh, cuộc trì hoãn lưu trệ nơi đất khách được cảm nhận ở

mức cao hơn, rằng đó không còn là nỗi niềm mà là cái tội:

君恩多寵錫 Quân ân đa sủng tứ,

臣罪在流連 Thần tội tại lưu liên.

百憂何處結 Bách ưu hà xứ kết,

五夜不成眠 Ngũ dạ bất thành miên.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 7)

(Ơn vua ban cho nhiều sủng ái,

Tội của thần cứ phải chần chừ nơi đất khách.

Trăm mối lo nơi nào kết lại,

Suốt năm canh giấc ngủ không thành.)

Bởi Lê Quang Định làm chánh sứ sứ đoàn thỉnh phong khởi hành sau sứ đoàn

của Trịnh Hoài Đức nên ông hoàn toàn không có những cảm xúc như Trịnh Hoài

Đức và Ngô Nhân Tĩnh. Nếu có nhớ chúa nhớ quê thì mượn rượu giải nỗi lòng:

黃巵半酌瘳鄉思 Hoàng chi bán chước sưu hương tứ,

白扇頻開憶主恩 Bạch phiến tần khai ức chủ ân.

(Lê Quang Định, Toàn Châu khách trung đoan ngọ)

(Chén vàng rót lưng, làm vơi nỗi nhớ quê hương,

Quạt trắng thường mở ra, lòng nhớ đến ơn chúa.)

82

Không nề hà mệt nhọc chỉ dốc lòng làm trọn phận sự của người bầy tôi, như

thế là tỏ lòng trung quân, mới báo đáp được ơn vua ơn nước. Trịnh Hoài Đức từng

đặt mình vào vị trí như Tô Tần, Trương Nghi khi du thuyết, nhưng chỗ khác nhau

giữa ông với họ là, kẻ kia thì cầu phú quý, còn ông thì vì vua vì nước:

江山莫比蘓張笑 Giang sơn mạc tỷ Tô Trương tiếu,

爲國何妨暮敂燕 Vị quốc hà phương mộ khấu Yên.

(Trịnh Hoài Đức, Linh Xuyên huyện ký hứng)

(Sông núi chớ cười so ta với Tô Tần, Trương Nghi,

Vì nước, nào ngại phải cúi lạy giữa xứ người.)

Ngô Nhân Tĩnh dẫu cúi mình nhưng nếu vì nghĩa lớn, vì việc nước cũng cam:

也知有命當微服 Dã tri hữu mệnh đương vi phục,

只爲求仁且屈身 Chỉ vị cầu nhân thả khuất thân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Trần Tuấn, Hà Bình,

Xích Hạ chu trung tạp vịnh, 1)

(Cũng biết có mệnh, nên ta phải giấu thân phận,

Chỉ vì mong cầu điều nhân, mới chịu cúi mình.)

Năm 1801, bị vây trong thành Bình Định bởi lực lượng hùng hậu của tướng

Tây Sơn Trần Quang Diệu, Võ Tánh và Ngô Tòng Châu bèn lấy cái chết để bảo

toàn tính mạng cho quân sĩ trong thành cũng là một trong kế sách giúp Nguyễn Ánh

lấy thành Phú Xuân. Cái chết đó được Tam gia nhìn dưới quan điểm của Nho gia:

hy sinh vì điều nhân, vì chúa, vì đại nghiệp:

突圍不忍人爲席 Đột vi bất nhẫn nhân vi tịch,

報國惟知我匪躬 Báo quốc duy tri ngã phỉ cung.

(Trịnh Hoài Đức, Kỷ mùi niên tứ nguyệt…, 1)

(Nếu đột phá vòng vây, chẳng nỡ đem mạng người làm chiếu lót,

Đền ơn nước, chỉ cần biết ta không phải chịu bó mình.)

一死歸仁酬帝眷 Nhất tử Quy Nhơn thù đế quyến,

千秋南越振文風 Thiên thu Nam Việt chấn văn phong.

(Trịnh Hoài Đức, Kỷ mùi niên tứ nguyệt…, 2)

(Thà chịu chết ở Quy Nhơn báo đền ơn vua,

Mà ngàn năm cõi Nam Việt chấn hưng văn phong.)

83

Lê Quang Định xem ngọn lửa của Võ Tánh và ly rượu của Ngô Tòng Châu trở

thành biểu tượng về cái chết oanh liệt của trung thần:

古來兵火屬英雄 Cổ lai binh hoả thuộc anh hùng,

許國鎔成一點忠 Hứa quốc dung thành nhất điểm trung.

(Lê Quang Định, Võ Hậu quân hoả)

(Xưa nay binh lửa thuộc về anh hùng,

Báo đền ơn nước đúc thành một điểm trung.)

一生事業杯中洌 Nhất sinh sự nghiệp bôi trung liệt,

千載功名醉後完 Thiên tải công danh tuý hậu hoàn.

(Lê Quang Định, Ngô Lễ bộ tửu)

(Sự nghiệp một đời thanh trong trong chén rượu,

Công danh ngàn năm vẹn toàn sau cơn say.)

Gia Định tam gia là những văn thần theo bước Nguyễn Ánh ngay từ khi khởi

nghiệp, cùng chịu ơn tri ngộ của Nguyễn Ánh, do đó cùng mang một lòng trung

quân. Bản thân lòng trung quân ấy của các ông không mang yếu tố tiêu cực nếu xét

trong bối cảnh lịch sử thời ấy, do đó, vẫn có thể xem là một phẩm chất tốt đẹp của

một bầy tôi mang tinh thần Nho gia.

Nhưng không chỉ có lòng trung quân là ái quốc, lòng yêu nước của các ông

còn được thể hiện ở tình yêu thương quê hương, gắn kết với mảnh đất Nam Bộ.

Trong giấc mơ của người xa xứ, quê hương là tổ quốc, đất nước:

曉風淡蕩吹塵慮 Hiểu phong đạm đãng xuy trần lự,

故國分明續夢魂 Cố quốc phân minh tục mộng hồn.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hà bắc đạo trung hiểu hành)

(Gió sớm hây hây thổi tan nỗi phiền nơi cõi trần,

Quê hương rành rành mãi hiện trong giấc mơ.)

Ngô Nhân Tĩnh từng khẳng định tấm lòng của ông luôn dành cho quê hương

Việt Nam như định luật của tự nhiên:

心在南邦身在北 Tâm tại Nam bang thân tại Bắc,

水歸東海月歸西 Thuỷ quy Đông hải nguyệt quy Tây.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông

sứ hành do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 8)

84

(Lòng ở nước Nam, thân dù ở phương Bắc,

Sông trôi về biển Đông, trăng lặn về Tây.)

Trịnh Hoài Đức cũng từng ví lòng mình như sóng nước đêm ngày xuôi về quê

hương, từ những ngày chạy loạn sang Cao Miên:

囘看物換星年改 Hồi khan vật hoán tinh niên cải,

不捨初心獨汝潮 Bất xả sơ tâm độc nhữ triều.

(Trịnh Hoài Đức, Nguyên nhật khách Cao Miên quốc)

(Ngoảnh nhìn, chỉ thấy vật đổi sao dời,

Mà riêng ta, vẫn không bỏ tấm lòng ban đầu như dòng nước kia chảy

về đông!)

đến khi đi sứ Trung Quốc, tấm lòng ấy của ông vẫn không hề thay đổi. Niềm

thương nhớ quê hương luôn cháy bỏng và nồng nàn trong những trang thơ sau

những bận rộn trên đường đi sứ:

久作他鄉客 Cửu tác tha hương khách,

那堪折柳聲 Na kham chiết liễu thanh.

愁同江九曲 Sầu đồng giang cửu khúc,

江曲遶江城 Giang khúc nhiễu giang thành.

(Trịnh Hoài Đức, Văn địch)

(Đã lâu làm khách nơi quê người,

Đâu chịu nổi tiếng sáo thổi điệu chiết liễu.

Nỗi sầu như chín khúc sông,

Sông uốn cong bao lấy thành sông.)

Lê Quang Định với nỗi nhớ quê pha lẫn nỗi nhớ nhà:

塵夢未醒青草畔 Trần mộng vị tinh thanh thảo bạn,

鄉心每寄白雲端 Hương tâm mỗi ký bạch vân đoan.

(Lê Quang Định, Đăng Hoàng Hạc lâu tác)

(Giấc mộng trần chưa tỉnh, bên bờ cỏ xanh xanh,

Lòng quê hương thường gởi theo làn mây trắng.)

Nói như Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh thì nỗi nhớ quê và niềm hoài cổ là

hai thứ khiến người ta dễ bạc đầu.

懷古思鄉行客事 Hoài cổ tư hương hành khách sự,

驚人華髩落芳樽 Kinh nhân hoa mấn lạc phương tôn.

85

(Trịnh Hoài Đức, Hoạ Thỉnh phong sứ Lê Binh bộ Tấn Trai

Toàn Châu đoan ngọ)

(Ôn chuyện xưa, nhớ quê nhà, là chuyện của khách đi xa,

Giật mình thấy mái tóc hoa rơi vào trong chén rượu thơm.)

思鄉白髮新 Tư hương bạch phát tân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đối kính)

(Thương nhớ quê hương, tóc trắng bạc thêm.)

Cùng một nỗi nhớ quê hương, nhưng nỗi nhớ của Lê Quang Định dường như

mang tính khái quát mà không cụ thể bằng Ngô Nhân Tĩnh và Trịnh Hoài Đức. Nhớ

quê khi thì gọi trẻ rót rượu, khi thì gởi tình vào mây trắng, cũng có khi nhờ mộng để

trở về…

佳節恐牽離別況 Giai tiết khủng khiên li biệt huống,

且憑欹枕夢中歸 Thả bằng khi chẩm mộng trung quy.

(Lê Quang Định, Nghi Câu khách trung thất tịch)

(Gặp thời tiết tốt, sợ rằng vương thêm nỗi chia cách,

Nên dựa gối nằm để được về trong mơ.)

Đến Ngô Nhân Tĩnh đã có chút cụ thể hơn:

遙望故園千萬里 Dao vọng cố viên thiên vạn lý,

最關情處是南山 Tối quan tình xứ thị Nam san.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 28)

(Xa ngóng vườn xưa cách xa ngàn vạn dặm,

Nơi hữu tình nhất, chính là ngọn núi phương Nam.)

Còn Trịnh Hoài Đức thì gọi thẳng tên quê hương Gia Định:

制陵山水饒煙瘴 Chế Lăng sơn thuỷ nhiêu yên chướng,

嘉定鄉關入夢魂 Gia Định hương quan nhập mộng hồn.

(Trịnh Hoài Đức, Hoài nội)

(Núi sông Chế Lăng mịt mù khói chướng,

Quê hương Gia Định luôn vào hồn mộng.)

Nỗi nhớ quê còn được cụ thể hoá bằng món ăn:

86

Thiệu Hưng khả tá xung sầu tửu,

紹興可借冲愁酒 嘉定常思煿食獾1 Gia Định thường tư bác thực hoan.

(Trịnh Hoài Đức, Khiển muộn hý trình sứ bộ liệt vị)

(Ở Thiệu Hưng, có thể mượn rượu tiêu sầu,

Còn ở Gia Định, thường nhớ món thịt lửng nướng.)

So với hai bạn ông, Trịnh Hoài Đức là người viết nhiều về mảnh đất quê

hương Nam Bộ, mảnh đất gắn liền với cuộc sống tuổi thơ và những năm tháng ông

giữ chức vụ khuyến nông trong chính quyền Gia Long, với hơn ba mươi bài thơ tả

cảnh và cuộc sống người dân Nam Bộ (Gia Định tam thập cảnh phân Bội văn vận

phủ vận). Điều đó khiến Trịnh Hoài Đức quay quắt nhớ quê hương, xúc chạm vào

đâu cũng gợi cho ông nỗi nhớ. Nhìn bóng trăng ông cũng nghĩ đến quê hương:

語言人客相左 Ngữ ngôn nhân khách tương tả,

明月猶如故鄉 Minh nguyệt do như cố hương.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 5)

(Ngôn ngữ ta với người trái nhau,

Vầng trăng sáng vẫn như ở quê hương.)

Ở nhiều phương diện, lòng trung quân ái quốc được biểu hiện với những sắc

thái đậm nhạt khác nhau. Lúc trong trận tuyến: trọn chức phận hiến kế bày mưu; khi

ra làm quan cai trị: dốc sức giúp dân, giữ vững xã tắc; lúc xuất sứ bang giao: không

làm nhục quốc thể; ứng đối với khách: biết giữ đại thể dân tộc và dẫu khi bận rộn

hay nhàn rảnh, tình cảm các ông dành cho quê hương Việt Nam vẫn rất đậm đà...

Tất cả đều là những biểu hiện của lòng trung quân ái quốc. Trung quân ái quốc

không cứ phải khăng khăng theo lời phán xử của bề trên kiểu “quân xử thần tử thần

bất tử bất trung” của Tống Nho.

Đã yêu quý quê hương đất nước, người ta có quyền tự hào về quê hương tổ

quốc của mình, tự hào về những con người sinh sống trên vùng đất ấy. Niềm tự hào

ấy, là tự hào về tài năng cá nhân, tự hào dân tộc của một vùng đất được người Trung

1 Chữ 獾 dùng thông với chữ 貛 có nghĩa là một giống thú có hình xác nhỏ mà béo, mõm nhọn chân ngắn, đuôi ngắn, thường ở hang, hay đào thủng đê điều. Một số tự điển cho nghĩa là con lửng (không biết có phải là giống chuột đồng hay không?). Chữ này còn cho nghĩa là một giống lợn lông vàng, gọi là trư hoan. Không rõ tác giả muốn nói món nào.

Quốc thời ấy đánh giá là “y quan văn hiến”.

87

Khi đối đáp với các nhân sĩ Thanh triều, các ông luôn tỏ ra nhún nhường,

nhưng trong sự nhún nhường ấy, chúng ta vẫn có thể nhận ra trong lòng sứ thần

Việt Nam luôn dạt dào niềm tự hào dân tộc được ông viết lại giữa đường đi:

士夫刮目看旁道 Sĩ phu quát mục khan bàng đạo,

草木傾心拜下風 Thảo mộc khuynh tâm bái hạ phong.

(Trịnh Hoài Đức, Đồ trung thư sự)

(Sĩ phu trố mắt nhìn, đứng hai bên đường,

Cây cỏ nghiêng lòng vái lạy dưới gió.)

Trong Sứ hành tự thuật, Trịnh Hoài Đức còn nói những chặng đường ông đã

trải qua, những ứng biến của ông khi nói tiếng Quảng, khi nói tiếng Bắc Kinh,

chuyện ông phải để râu để giữ gìn quốc thể… Phần ghi chú có chép sứ đoàn của

ông không giống như những sứ đoàn trước, ăn mặc triều phục đẹp đẽ, ứng đối

nhanh nhẹn, nên các bậc sĩ phu, quan chức, cả những người dân Trung Quốc đều

xem trọng sứ đoàn Việt Nam: 嶺海窮人跡 Lĩnh hải cùng nhân tích,

乘車復駕舟 Thừa xa phục giá chu.

手逢巡撫展 Thủ phùng tuần phủ triển,

鬚奉帝王留 Tu phụng đế vương lưu.

南北隨聲應 Nam bắc tùy thanh ứng,

江山有句酬 Giang sơn hữu cú thù.

歸來妻子問 Quy lai thê tử vấn,

幸免笑虛遊 Hạnh miễn tiếu hư du.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ hành tự thuật)

(Vùng biển núi Lĩnh chẳng thấy bóng người,

Đi xe rồi lại đi thuyền.

Tay này, gặp tuần phủ thì dang ra,

Râu này, vì phụng mệnh vua mà để dài.

Ở Nam hay ở Bắc đều tùy tiếng nói mà đối đáp,

Cảnh đẹp non sông, thì dùng thơ thù họa.

Khi trở về nhà, vợ con có hỏi,

Rằng may mắn không uổng một chuyến đi.)

88

Chẳng riêng Trịnh Hoài Đức, trong thơ Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định vẫn

tìm thấy những tiết điệu tự hào về nền văn hiến của dân tộc. Dân tộc ta vốn xem văn

hiến là bảo vật của đất nước, vì thế sứ đoàn Việt Nam đến đâu cũng được người

Trung Quốc tiếp đón thân tình. Đó cũng là một kiểu tự hào dân tộc.

文獻也知吾國寶 Văn hiến dã tri ngô quốc bảo,

將從何處不逢迎 Tương tùng hà xứ bất phùng nghênh.

(Lê Quang Định, Nam Ninh ký thắng, hựu)

(Văn hiến cũng biết là báu vật nước ta,

Nên ở nơi nào cũng được nghênh đón.)

Thuyền sứ đến thành Vĩnh Thuần, Trung Quốc, nhân dân thành ấy cùng nhau

chào đón đoàn sứ giả Việt Nam. Tác giả có dịp ghi lại quang cảnh người dân tranh

nhau gặp đoàn sứ: những người già cả thì nghiêng lọng chào đón, trẻ con thì lên

thuyền xem áo gấm người phương Nam:

丈夫傾蓋迎王使 Trượng phu khuynh cái nghênh vương sứ,

稚子登舟看錦衣 Trĩ tử đăng chu khán cẩm y.

通夜淹畱清旅夢 Thông dạ yêm lưu thanh lữ mộng,

燠逢天氣刧寒威 Úc phùng thiên khí khước hàn uy.

(Lê Quang Định, Vĩnh Thuần thành ký kiến)

(Người lớn thì che lọng đón sứ đoàn nhà vua,

Trẻ con thì lên thuyền xem áo gấm.

Suốt đêm giấc mộng khách bồng bềnh,

Cuộc gặp gỡ ấm áp xua tan thời tiết lạnh.)

Cái cảnh náo nhiệt đã xua tan hơi lạnh làm ấm lòng tác giả không thể không

buộc người ta suy nghĩ: phải chăng niềm tự hào về văn hoá dân tộc ẩn sâu trong

lòng vị sứ thần nay được hun lên giữa cảnh xứ người? Lần khác ông nói:

山僧不識南人服 Sơn tăng bất thức Nam nhân phục,

笑認蓬萊羽客飛 Tiếu nhận Bồng Lai vũ khách phi.

(Lê Quang Định, Hựu bộ Trịnh Cấn Trai nguyên vận)

(Nhà sư không quen với y phục người nước Nam,

Cười tưởng khách là tiên ở Bồng Lai.)

89

Câu thơ nhẹ nhàng trào lộng nhưng mang âm hưởng tự hào của vùng đất “văn

hiến chi bang”: Sứ đoàn được đón tiếp nồng nhiệt, ông cảm thấy mình đã làm vẻ

vang cho triều đình nước Việt Nam:

斾影日光新國號 Bái ảnh nhật quang tân quốc hiệu,

遙分仙寵耀南朝 Dao phân tiên sủng diệu Nam triều.

(Lê Quang Định, Quế Lâm giải lãm thứ vận)

(Dưới ánh nắng bóng cờ bay mang quốc hiệu mới,

Nơi xa được sủng như tiên, làm rạng rỡ triều Nam.)

Ngô Nhân Tĩnh thì cho rằng, dẫu ở nơi xa nhưng tất cả đều là bạn bè văn

chương cũ:

謾道今年鄉域異 Mạn đạo kim niên hương vực dị,

文章四海舊知交 Văn chương tứ hải cựu tri giao.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 18)

(Chớ nói năm này ở quê người đất lạ,

Văn chương bốn biển đều là bạn cũ.)

Tự đưa mình và thơ ca nước mình vào ngang tầm với các nước khác, là biểu

hiện lòng tự hào dân tộc, tự hào văn hiến Việt Nam. Như có lần sứ thần Trung Quốc

phát biểu về văn chương đất Việt:

安南雖小文章在 An Nam tuy tiểu văn chương tại,

謂可輕談井底蛙 Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.

(An Nam tuy nhỏ, văn chương thịnh,

Ếch giếng, khuyên đừng chế giễu ngoa) [104, tr.263]

Niềm tự hào dân tộc trong thơ Gia Định tam gia trên chặng đường đi sứ cũng

nằm trong nguồn mạch chung của dân tộc. Mặc dầu các ông là người Minh hương,

nhưng các ông luôn xem mình là con dân đất Việt, đặc biệt họ còn là người đại diện

cho quốc gia đi làm nhiệm vụ bang giao. Chính vì thế, lòng tự hào dân tộc của các

ông thể hiện khá rõ qua những trang sáng tác. Thật hiếm khi người ta thấy cái cảnh

sứ thần Việt Nam tặng thơ, đề thơ lên quạt lên tranh cho nhân sĩ Trung Quốc và

được mọi người mến mộ, đồng thời người ta tranh nhau chờ xem sứ đoàn nhiều đến

vậy.

90

Riêng Trịnh Hoài Đức, mạch nguồn yêu quê hương và tự hào dân tộc Việt

Nam của ông thật vững chắc. Toàn tập thơ Cấn Trai hoàn toàn không thấy nhắc đến

tổ tịch của ông như Ngô Nhân Tĩnh có lần từng tâm sự:

Trực dĩ quân vương sự,

直以君王事 難來父母邦1 Nan lai phụ mẫu bang.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 2)

(Mải vì việc vua việc nước,

Khó đến được quê cha mẹ.)

mà trong sâu thẳm lòng ông, Đồng Nai Gia Định là quê hương đất nước, mặc dù

điều đó không có nghĩa là ông quên tổ tịch của mình. Chính với tấm lòng như thế,

Trịnh Hoài Đức khi ứng đối, khi thù hoạ thơ với nhân sĩ Thanh triều, ông đều là

người mực thước và giữ đại thể quốc gia. Điều khác nữa với hai người bạn ông là,

trong dòng thơ vịnh sử, ngoài việc nêu suy nghĩ của mình về những nhân vật trung

thần lương tướng như Trương Lương, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, Mã Viện hay bậc

quốc sĩ như Dự Nhượng… trong lịch sử Trung Quốc để gián tiếp bày tỏ lòng trung

quân ái quốc của ông đối với triều Nguyễn, có bài còn ẩn trong đó niềm tự hào dân

tộc:

萬家雞犬夜相聞 Vạn gia kê khuyển dạ tương văn,

帶楚襟閩九郡分 Đới Sở khâm Mân cửu quận phân.

牝馬禁前南自帝 Tẫn mã cấm tiền Nam tự đế,

褚衣賜後北尊君 Trử y tứ hậu Bắc tôn quân.

黃昏祠冷龍川月 Hoàng hôn từ lãnh Long Xuyên nguyệt,

Bạch trú quan trầm Hổ Chướng vân.

Triều Hán thượng lưu đương nhật khí,

白晝關沈虎嶂雲 朝漢2尚畱當日氣 嵐煙晨夕散香薰 Lam yên thần tịch tán hương huân.

(Trịnh Hoài Đức, Việt trung hoài cổ)

(Vạn nhà trong đêm nghe thấy tiếng gà chó của nhau,

Đất Sở đất Mân (Quảng Đông) liền một vạt, chia chín quận.

Trước khi ra lệnh cấm ngựa, (đất Nam Việt) phương nam đã tự xưng

1 Nguyên chú: 祖籍浙江陰縣 (Quê cha đất tổ của ông ở huyện Âm, tỉnh Triết Giang.) 2 Nguyên chú: 臺名 (Triều Hán là tên ngôi đài). Tức đài chầu nhà Hán của Triệu Đà.

đế,

91

Sau khi ban áo bông, (nhà Hán) phía bắc mới phong làm quân

(vương).

Chiều tà, ngôi đền lạnh lẽo dưới bóng trăng Long Xuyên,

Ban ngày cửa ải chìm trong mây mịt mù núi Hổ.

Nơi đài chầu triều Hán (tuy chầu triều Hán), vẫn giữ hơi (khí khái)

của ngày xưa,

Khói núi đêm ngày làm tan khói hương thơm.)

Hai câu thực của bài thơ trên như vừa thực vừa luận. Chuyện của Triệu Đà

nhưng cũng là chuyện của nước ta: bao đời xưa nay tự lập một cõi, xưng đế một

phương trước khi được thiên triều thừa nhận. Ngay cả hai câu kết cũng ngụ cái khí

khái của bậc đế vương: dẫu chầu nhà Hán nhưng không chịu theo nhà Hán, giống

như khí núi non lam chướng tuôn trào át cả khói hương bình thường kia được tác

giả coi như một ẩn dụ về khí khái của người phương Nam.

Trên đường đi sứ về nước, Hoài Đức vẫn không quên nhắc nhở đối phương về

chủ quyền đất nước, dân tộc. Đến ải Nam Quan, thấy cảnh hai nước thái bình ông

viết:

南關無事樂情多 Nam quan vô sự lạc tình đa,

中外民夷擊壤歌 Trung ngoại dân di kích nhưỡng ca…

(Trịnh Hoài Đức, Sứ bộ xuất Nam Quan hồi quốc khẩu chiếm)

(Nam Quan thảnh thơi vô sự, vui vẻ vô cùng,

Nhân dân hai nước ca hát mừng cảnh thái bình…)

Nỗi niềm tự hào dân tộc trong ông lại được dịp trỗi dậy, vì vậy, hai câu kết của

bài thơ, tác giả đã cảnh cáo những kẻ có ý xâm lược:

寄語瘴嵐今似昔 … Ký ngữ chướng lam kim tự tích,

飛鳶跕跕墜洪波 Phi diên thiếp thiếp trụy hồng ba.

(… Nhắn gửi rằng lam chướng nay vẫn như xưa,

Chim diều hâu bay lượn thường bị rơi xuống làn sóng lớn)

Điều ấy chứng tỏ, một mặt, khi Trịnh Hoài Đức đi sứ để bang giao thì những

bài thơ ông viết đều mang tính chất thù tạc, còn khi đã hoàn thành nhiệm vụ thì vẫn

không quên nhắc nhở những kẻ có ý đồ xâm lược đừng nuôi ý xâm chiếm nước ta.

Với Lê Quang Định tình yêu quê hương đất nước hẳn nhiên không cần phải

bàn cãi, nhưng Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh, tuy gốc người Minh hương,

92

nhưng họ vẫn xem đất nước Việt Nam là quốc thổ, quê hương của mình, là mảnh

đất tâm hồn đã nuôi dưỡng, vun bồi cuộc đời nên các ông chịu ơn mảnh đất và con

người nơi đây… Tình cảm ấy và những biểu hiện của nó đối với quê hương Việt

Nam sẽ khiến cho thơ của các ông có thể hoà chung với dòng chảy của thơ ca dân

tộc đồng thời nối dài nguồn mạch văn chương nơi miền đất vừa mới sơ khai…

2.2. PHONG THÁI NHÀN DẬT VÀ HƯỞNG LẠC

Chịu ảnh hưởng tư tưởng tích cực nhập thế trị chính của Nho gia, Gia Định

tam gia rõ ràng là những nhà Nho nhập thế tích cực. Các ông xuất thân từ quan văn,

nhưng cũng trải qua nhiều chức vụ, làm nhiều việc, đóng góp lớn cho triều Nguyễn

trong buổi đầu giành chính quyền từ triều Tây Sơn. Từ Hàn lâm viện, các ông ra giữ

chức khuyến nông, sau lại giữ nhiều chức vụ trong các bộ của triều đình, tham gia

chính trị, kể cả quân sự. Dù ở cương vị nào, các ông đều làm tròn chức trách, được

vua Gia Long và sau đó là vua Minh Mệnh trọng vọng. Thế nhưng, bên cạnh tư

tưởng nhập thế trị chính tích cực của Nho gia ấy, không phải không có những tư

tưởng nhàn dật, tư tưởng quy ẩn, hay những cảm thức về cuộc đời về kiếp người vô

thường của Lão giáo và Phật giáo.

Trong bối cảnh văn hoá tư tưởng ở Gia Định thời bấy giờ, tuy Nho giáo đã

bám rễ khá sâu trong đời sống tư tưởng của các tầng lớp trí thức, nhưng bên cạnh đó,

những tư tưởng khác Nho cũng nảy mầm khá sớm. Có thể thấy một Võ Trường

Toản với tư tưởng rất Nho nhưng suốt một đời ông chỉ ở ẩn dạy học, đào tạo khá

nhiều nhân tài tham gia vào chính quyền Nguyễn Ánh; một Đặng Đức Thuật tính

khí rắn rỏi tích cực tham gia việc chính nhưng khẳng khái từ quan bỏ về quy ẩn.

Hay trước đó, một Hoàng Quang tuy đỗ đạt từng làm thơ ca ngợi đạo lý chính thống

của Nho gia nhưng không chịu ra làm quan, và sau đó lại có một Nguyễn Hương tài

hoa nhưng thoái ẩn… Mặc dù đó là cách ứng xử của nhà Nho trong buổi loạn lạc

nhưng nếu nói hoàn toàn không có mầm mống của những tư tưởng phi Nho thì lại

không đúng.

Sự chung sống của nhiều thành phần dân tộc trên vùng đất Gia Định với nền

kinh tế xã hội đã có mầm mống của một nền kinh tế nông – thương thời bấy giờ dẫn

đến hệ quả tạo nên một nền văn hoá hội tụ nhiều sắc thái văn hoá khác nhau một

cách khá tự do. Do đó, trong đời sống tư tưởng của các nhà Nho ở Gia Định, bản

93

thân nó cũng đã mang tính không thuần nhất. Sự giao lưu tư tưởng giữa Nho gia và

Phật, Lão đã tạo nên khí chất vừa cứng rắn vừa phóng khoáng trong phong cách các

nhà Nho ở Gia Định, trong đó có Gia Định tam gia. Nhà Nho khi không xuất thế

hành đạo thì nhàn ẩn, cũng có khi bất đắc chí hay đạt được danh vọng cao cũng

thoái ẩn vui với ruộng vườn, hỏi đạo tu học. Nét tư tưởng phi Nho này từng xuất

hiện trong tư tưởng của Gia Định tam gia, góp phần làm nên tính đa dạng trong thơ

và chất phóng khoáng tài tử trong phong cách của các ông.

Trịnh Hoài Đức dẫu một đời tích cực nhập thế nhưng phong thái nhàn dật

cũng có khi trỗi dậy, ông từng muốn được như Hứa Hoa Phong:

處亂卷懷謨聖訓 Xử loạn quyển hoài mô thánh huấn,

居家完美範賢規 Cư gia hoàn mỹ phạm hiền quy.

有香花圃能醫俗 Hữu hương hoa phố năng y tục,

無稅書園足養兒 Vô thuế thư viên túc dưỡng nhi.

閒興半酣賓友散 Nhàn hứng bán hàm tân hữu tán,

臥雲邀月洞簫吹 Ngoạ vân yêu nguyệt động tiêu xuy.

(Trịnh Hoài Đức, Đề đồng hương Hứa Hoa Phong tiên bối

lữ địa tân trạch thành nhưng khai giáo quán)

(Giữa đời loạn ẩn thân theo lời dạy của thánh nhân,

Ở nhà vẫn theo nếp của bậc thánh hiền.

Vườn cây ngát hoa thơm, có thể cứu được sự phàm tục,

Vườn sách chẳng phải chịu thuế, đủ để nuôi con.

Nhân hứng rượu ngà ngà say, bạn bè tan hết,

Nằm giữa mây mời trăng bằng tiếng sáo vang.)

Trong một lần nói chuyện cùng bạn, Trịnh Hoài Đức bày tỏ lòng mình muốn

được nhàn nhã, khỏi bị bó buộc bởi cái danh nhà Nho:

抱膝羨誰能遯世 Bão tất tiện thuỳ năng độn thế,

虛名慚我誤驚人 Hư danh tàm ngã ngộ kinh nhân.

(Trịnh Hoài Đức, Thu dạ đồng cố nhân thoại cựu bộ cổ vận)

(Ôm gối mến mộ người biết lánh đời,

Theo hư danh nghĩ thẹn cho mình, tưởng làm kinh người đời.)

Và cũng từng 撫衾長恨爲名纒 “Phủ khâm trường hận vị danh triền” (Vỗ

chăn luôn hận cho ta bị cái danh ràng buộc) (Bệnh trung đắc Huỳnh Hối Sơn bệnh

94

ký). Có lần Trịnh Hoài Đức còn khẩn khoản xin bậc tiền bối Hứa Hoa Phong chỉ

cách hành xử ứng biến trong đời:

入世似翁能出世 Nhập thế tự ông năng xuất thế,

此中何道可相賙 Thử trung hà đạo khả tương chu.

(Trịnh Hoài Đức, Chân Lạp ký hoài Hứa Hoa Phong)

(Người nhập thế như ông cũng có thể xuất thế,

Trong đó có đạo lý gì, xin giúp cùng nhau.)

Ngô Nhân Tĩnh trên chặng đường đi sứ vẫn ước được như cánh hạc nhàn nhã

bay khắp trời, nghỉ đỗ ở chân mây, thoát hết mọi ràng buộc cuộc đời:

羨爾山居分外佳 Tiện nhĩ sơn cư phân ngoại giai,

春風秋月滿衿懷 Xuân phong thu nguyệt mãn khâm hoài.

慣從天際栖雲鶴 Quán tùng thiên tế thê vân hạc,

不見人間當道豺 Bất kiến nhân gian đáng đạo sài.

四壁未曾留耳聽 Tứ bích vị tằng lưu nhĩ thính,

十年今始得心齋 Thập niên kim thuỷ đắc tâm trai.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 9)

(Muốn được ở trong núi non tách biệt ngoài trần thế,

Gió xuân, trăng thu đầy ngực áo.

Cánh hạc bay suốt cả vùng trời, rồi đỗ ở chân mây,

Chẳng thấy loài lang sói cản đường giữa nhân gian.

Bốn vách chưa từng để tai nghe,

Mười năm nay mới được lòng thanh tịnh.)

Ý tưởng ấy hoàn toàn không giống của một nhà nho nhập thế hành đạo. Ngô

Nhân Tĩnh luôn thích lắng lòng mình như kiểu ngồi thiền trong Phật giáo hay kiểu

thoát đời của Lão Trang.

Ông ước mong nhàn dật nhưng trong lòng ông vẫn luôn khắc ghi ơn đãi ngộ

của vua tận xương cốt:

朝朝飛去暮飛還 Triêu triêu phi khứ mộ phi hoàn,

語語雙雙雲水間 Ngứ ngứ sang sang vân thuỷ gian.

卻笑塵中人役役 Khước tiếu trần trung nhân dịch dịch,

不如洲上鳥關關 Bất như châu thượng điểu quan quan.

欲酬雨露恩銘骨 Dục thù vũ lộ ân minh cốt,

95

安得神仙藥駐顏 An đắc thần tiên dược trú nhan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 15)

(Mỗi sớm bay đi, chiều tối bay về,

Hót líu lo giữa cõi nước mây.

Lại cười cho người trong cõi trần luôn tất bật,

Chẳng bằng con chim trên bờ bãi kêu quan quan.

Muốn đáp đền ơn mưa móc, ghi khắc tận tủy xương,

Làm sao được thuốc tiên để giữ mãi vẻ trẻ trung.)

Ngô Nhân Tĩnh người đau đáu một niềm báo đền quân quốc, nhưng cũng là

người ảnh hưởng nhiều tư tưởng nhàn dật của Lão Trang. Một loạt sáng tác của ông

trong thời gian đầu khi nói về những điều mình ưa thích bộc lộ rõ điều ấy: Ông

muốn làm người nhàn rỗi nhưng chưa bao giờ làm được (Thuyết tình ái, 1), thích

đọc Nam Hoa kinh với tư tưởng tiêu dao của Trang Tử (Thuyết tình ái, 3), thích đọc

kinh Phật (Thuyết tình ái, 2), thích lặng im để đi qua cuộc đời đầy phiền nhiễu

(Thuyết tình ái, 4) bên cạnh sở thích đọc Ly tao và Chu Dịch (Thuyết tình ái, 5-6),

và ông ước bốn mùa được nhàn nhã uống rượu say nằm như người thời cổ (Thuyết

tình ái, 7-8-9-10 ).

Tư tưởng phóng khoáng hưởng nhàn ở Ngô đến cuối đời vẫn là một ước mơ

còn dang dở chưa thực hiện được. Khi đã không thể nhàn dật như ước nguyện thì

chí ít ông cũng muốn quên đi mọi tâm cơ để tìm chút thanh thản trong tâm hồn,

nhưng dường như sự ấy rất khó với một người luôn hết lòng nghĩ về đất nước, quốc

quân:

夢有丈人來問我 Mộng hữu trượng nhân lai vấn ngã,

如何爾不息心機 Như hà nhĩ bất tức tâm ki?

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 5)

(Trong mơ thấy có người đàn ông đến hỏi ta:

Sao ngươi chẳng chịu ngừng tâm cơ lại?)

Và ông đã tự hỏi nhưng lại là một cách thừa nhận:

那能物我兩忘形 Na năng vật ngã lưỡng vong hình?

百感心頭未肯寧 Bách cảm tâm đầu vị khẳng ninh.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 24)

(Sao có thể quên đi bản ngã và ngoại vật?

96

Trăm niềm tâm sự vẫn chưa chịu lắng im.)

Thế nên ông vẫn là người nổi trôi trong lưới bủa bao la của cuộc đời:

江流不盡古今愁 Giang lưu bất tận cổ kim sầu,

總爲浮生世網留 Tổng vị phù sinh thế võng lưu.

脫俗未酣莊子夢 Thoát tục vị hàm Trang tử mộng,

謀身何用杞人憂 Mưu thân hà dụng Kỷ nhân ưu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 26)

(Dòng sông trôi mãi nỗi sầu xưa nay,

Chỉ còn kiếp sống trôi nổi trong cái lưới cuộc đời.

Thoát tục, nhưng chưa say mộng Trang Tử,

Lo cho thân mình, đâu cần nỗi lo của người nước Kỷ.)

Mặc dầu vậy, Ngô Nhân Tĩnh vẫn có giây phút hưởng nhàn như một người tài

tử khi cùng với bạn bè uống rượu ngâm thơ:

何處思君切 Hà xứ tư quân thiết,

清凉寺昔時 Thanh Lương tự tích thì.

衣冠相潦倒 Y quan tương lạo đảo,

杯酒更淋漓 Bôi tửu cánh lâm li.

不管人言俗 Bất quản nhân ngôn tục,

寧從我作癡 Ninh tùng ngã tác si.

(Ngô Nhân Tĩnh, Ức hữu đắc cầm kỳ thi hoạ tứ vịnh, Thi)

(Nhớ anh ở nơi nào?

Ngày xưa nơi chùa Thanh Lương.

Áo mão cùng trễ tràng,

Chén rượu thêm lâm li.

Mặc kệ người đời cho là tục,

Cứ theo mình, làm kẻ ngu si…)

Nếu trong tư tưởng của Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh có sự hoà hợp các

dòng tư tưởng của Nho Phật Lão thì điều này lại khó tìm thấy trong thơ của Lê

Quang Định. Trên đường đi sứ thảng hoặc các ông vẫn có dịp lên dạo chơi chùa,

nhưng trong thơ của Lê Quang Định, tâm thái của ông vẫn là tâm thái của một nhà

Nho:

97

Thanh tuỳ Sấu Ngọc trường lưu thuỷ,

Bạch vọng Lưu Vân vạn lý gia.

清隨漱玉1長流水 白望畱雲2萬里家 洒落無羈弧矢志 Sái lạc vô ki hồ thỉ chí,

此山何必恨天涯 Thử sơn hà tất hận thiên nhai.

(Lê Quang Định, Du Thê Hà Sơn tự)

(Theo dòng suối Sấu Ngọc nguồn nước trong chảy dài,

Lên đình Lưu Vân nhìn mây trắng, nhà xa vạn dặm.

Lòng thanh thoát không bị ràng buộc chí làm trai,

Ở núi này hà tất hận cách chân trời.)

Với Lê, Phật giáo cũng được ông nhìn dưới quan niệm hiếu trung của nhà Nho:

佛教原來何異諦 Phật giáo nguyên lai hà dị đế?

亦將忠孝渡迷津 Diệc tương trung hiếu độ mê tân.

(Lê Quang Định, Đề Tương Sơn tự)

(Chân lý của đạo Phật vốn có khác gì,

Cũng đem hiếu trung độ người khỏi bến mê.)

Còn ở Trịnh Hoài Đức lại mang tâm thái của một người mộ Phật:

忙中偶爾臨禪室 Mang trung ngẫu nhĩ lâm thiền thất,

淨裡翻然豁道心 Tịnh lý phiên nhiên khoát đạo tâm.

Vũ toái kệ thanh hoà địa bảo,

雨碎偈聲和地寶 月沈塔影滿江金3 Nguyệt trầm tháp ảnh mãn giang kim.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ đình Hán Dương Thiên Đô am lưu đề)

(Trong bận rộn thỉnh thoảng vào cửa Phật,

Giữa cõi thanh tịnh bất chợt khơi mở lòng đạo.

Mưa rơi, tiếng kệ, chan hoà vùng đất báu,

Trăng chìm, bóng tháp, tràn cả dòng sông vàng.)

Mặc dù chưa đi đến tận cùng của sự ngộ đạo, nhưng chỉ cần một sát na đốn

ngộ tâm đạo như Trịnh cũng là quá đủ. Đến chùa Tướng Quốc, ông lại được thiền

sư Đạt Bản khai ngộ:

1Nguyên chú: 漱玉山中泉名 Sấu Ngọc là tên dòng suối trong núi. 2 Nguyên chú: 畱雲寺中亭名 Lưu Vân là tên ngôi đình nằm trong chùa. 3 Nguyên chú: 庵後臨江 (phía sau am giáp với con sông)

蓮瓣茶餘忘彼我 Liên biện trà dư vong bỉ ngã,

98

菩提樹下是津梁 Bồ đề thụ hạ thị tân lương.

… 時向檀那開覺路 … Thời hướng đàn na khai giác lộ,

紅塵之外是西方 Hồng trần chi ngoại thị tây phương.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ đình Hà Nam du Tướng Quốc tự,

Đạt Bản thiền sư dĩ Tịnh Độ tân lương kinh kiến thị, nhân sách đề tặng)

(Uống trà cánh sen, quên mất chủ khách,

Dưới cội bồ đề là bến tân lương.

… Ngài thường mở ra con đường giác ngộ cho người mộ Phật,

Ngoài cõi hồng trần chính là Tây phương.)

Tây phương cực lạc, bến bờ tân lương không phải đâu xa, mà chính ngay

trong đời sống hiện tại của con người. Khi lòng ta vượt thoát những vướng bận của

cuộc đời, xả bỏ những chấp nhất thì đó chính là cõi tịnh. Phút giây ngộ đạo ấy sẽ lại

thấy khi Trịnh Hoài Đức làm bài thơ tặng người bạn của ông là Viên Quang hoà

thượng khi tình cờ hai ông gặp lại ở Gia Định. Nếu trước đây ông nhìn cuộc nội

chiến bằng con mắt của người vừa là nhân chứng vừa là người tham dự với sự tàn

khốc và hãi hùng của nó, nhưng chưa hề thức nhận về số phận của những con người

trong cuộc chiến bằng con mắt của người hiểu đạo, thì giờ đây khi đất nước đã tạm

đi vào bình ổn, ông mới có dịp nhìn lại với nhãn quan của một nhà Nho hiểu đạo:

我爲燒香僮 … Ngã vi thiêu hương đồng,

師作持戒士 Sư tác trì giới sĩ.

雖外分青黄 Tuy ngoại phân thanh hoàng,

若默契心志 Nhược mặc khế tâm chí.

風塵識良朋 Phong trần thức lương bằng,

世界入餓鬼 Thế giới nhập ngạ quỷ.

萍梗任浮沈 Bình ngạnh nhậm phù trầm,

泡影等生死 Bào ảnh đẳng sinh tử.

奄四十餘年 Yểm tứ thập dư niên,

恍瞬息間事 Hoảng thuấn tức gian sự…

(… Ta là đứa trẻ đi dâng hương,

Sư là người giữ giới.

Tuy bề ngoài chia thành người áo xanh, người áo vàng,

Mà trong lòng tâm chí khế hợp.

99

Trong cõi gió bụi phong trần, quen biết bạn giỏi,

Cả cõi đời sa vào quỷ đói.

Cuộc sống như bèo củi nổi trôi,

Sống chết tựa bọt nước bóng chớp.

Bốn chục năm dài dằng dặc,

Tưởng như chuyện trong nháy mắt…)

Giữa đời và đạo, giữa nhà Nho và tu sĩ đều có cùng chung một lý tưởng cứu

đời, với tinh thần “tuy ngoại phân thanh hoàng, nhược mặc khế tâm chí”, như một

sự phá chấp về hình tướng. Và khi nhớ lại khoảng thời gian qua, trong cảnh gió bụi

mới biết bạn hiền, thế giới chìm trong bọn quỷ đói, thân như cánh bèo cành củi cứ

mặc nổi chìm theo dòng nước, sống chết trên đời tựa như bọt nước bóng chớp mà

thôi, chuyện của hơn bốn mươi năm trước mà ngỡ như trong nháy mắt… thì tác giả

đã hướng đến cảm hứng vô thường của cuộc đời.

Những câu cuối cùng của bài thơ dường như lại tiến thêm một bước nữa trong

tư tưởng thiền của tác giả. Cuộc gặp gỡ nghẹn ngào đến không lời:

執手擬夢魂 Chấp thủ nghĩ mộng hồn,

談心雜驚悸 Đàm tâm tạp kinh quý.

往事何足論 Vãng sự hà túc luân (luận),

大道合如是 Đại đạo hợp như thị.

(Cầm tay mà tưởng hồn đang mơ,

Bày tỏ nỗi lòng pha lẫn nỗi kinh sợ e ngại.

Chuyện thuở xưa nào có gì đáng nói,

Đạo lớn vốn hợp như vậy.)

Phong cách phóng khoáng của Lê Quang Định lại là ở chỗ khác. Ông là người

tài hoa, thơ hay, vẽ giỏi, có khi tự nhận mình là nhà Nho lười nhác, nhưng trong ông

vẫn ấp ủ phẩm chất tốt đẹp cao quý của nhà Nho, rất thèm sự nhàn nhã thong dong:

星車萬里歷名區 Tinh xa vạn lý lịch danh khu,

自覺疏狂愧謂儒 Tự giác sơ cuồng quý vị nho.

晉帖但能臨八法 Tấn thiếp đãn năng lâm bát pháp,

漢文猶未賦三都 Hán văn do vị phú Tam đô.

.. 關塞尚醋羇旅夢 … Quan tái thượng hàm ki lữ mộng,

羨誰高臥獨懷瑜 Tiện thuỳ cao ngoạ độc hoài du.

100

(Lê Quang Định, Đáp tặng Vương Thiết Nhai thứ vận)

(Xe sứ vượt muôn dặm đường gập ghềnh,

Tự thấy mình lười biếng cuồng ngông, thẹn được gọi là nhà nho.

Thiếp chữ Lan đình đời Tấn, tôi chỉ võ vẽ được tám cách,

Văn Hán còn chưa làm được như phú Tam đô.

… Nơi quan ải còn mơ giấc mơ khách trọ,

Thèm như ai nằm khểnh riêng ôm ngọc du!)

Suốt tập thơ Hoa nguyên thi thảo, dường như có một lần Lê Quang Định chịu

đổi chức quan để làm một người nhàn dật trong cửa từ bi:

今朝若了平生事 Kim triêu nhược liễu bình sinh sự,

應假慈航換玉鞭 Ưng giả Từ Hàng hoán ngọc tiên.

(Lê Quang Định, Du Từ Hàng tự)

(Sáng nay chợt hiểu được chuyện trong cuộc đời,

Cũng nên mượn thuyền từ đổi roi ngọc.)

Khác với Lê, Trịnh Hoài Đức sẵn sàng hưởng nhàn hưởng lạc nếu có dịp, bởi

ông hiểu, theo lợi danh chỉ thêm bó buộc, cái kiểu khom lưng bó gối sao bằng một

chung rượu thơm, do đó ông sẵn sàng hưởng ứng thái độ của Đào Tiềm:

春思無涯隨處樂 Xuân tứ vô nhai tuỳ xứ lạc,

人生適意幾時逢 Nhân sinh thích ý kỷ thời phùng.

解闌爲問纓塵客 Giải lan vị vấn anh trần khách,

五斗如何酒一鍾 Ngũ đấu như hà tửu nhất chung?

(Trịnh Hoài Đức, Tửu điếm xuân du)

(Ý chơi xuân vô bờ, cứ vui chơi mọi lúc,

Đời người thoả ý được bao lâu?

Cuộc tàn xin hỏi khách danh lợi,

Năm đấu gạo sao bằng một li rượu?)

Trong thơ Trịnh Hoài Đức nói nhiều đến sự nhàn nhã như một khát vọng lớn

của ông trong cuộc đời làm quan nhiều bận rộn (Khách chí bộ cổ vận, Vũ Xương

chu trung khẩu tặng sở kiến…). Ngô Nhân Tĩnh cũng đôi lần chán ngán cảnh quan

trường bon chen danh lợi:

宦海波濤真苦況 Hoạn hải ba đào chân khổ huống,

侯門車馬有爭端 Hầu môn xa mã hữu tranh đoan.

101

高燒紅燭閒看爾 Cao thiêu hồng chúc nhàn khan nhĩ,

心未成灰夜未闌 Tâm vị thành hôi dạ vị lan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng

Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 14)

(Nơi bể hoạn (quan trường) nhiều sóng gió, thật khổ sở,

Cửa công hầu, xe ngựa tranh xếp lên hàng đầu.

Thắp cao đuốc lên nhàn xem vậy,

Lòng chưa thành tro (mất hy vọng), đêm chưa tàn.)

Muốn được uống rượu hưởng nhàn như những người quy ẩn, muốn được đóng

cửa suốt ngày thoát tục, thoát khỏi những đua chen:

笑我風霜千萬里 Tiếu ngã phong sương thiên vạn lý,

何如終日掩柴門 Hà như chung nhật yểm sài môn.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng

Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 13)

(Cười ta ở xa ngàn vạn dặm, dầm sương gió,

Sao bằng suốt ngày đóng kín cửa sài.)

Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh đều có những bài thơ viết về đề tài người

đẹp, tuy có bài người đẹp được tượng trưng cho người quân tử (Kính trung mỹ nhân,

Mỹ nhân lý tranh, Mỹ nhân hiểu khởi, Mỹ nhân bệnh khởi, …), nhưng cũng có bài

bộc lộ tình cảm riêng tư của người khách đa tình:

攤書檢得舊紈巾 Than thư kiểm đắc cựu hoàn cân,

知是情留拭病身 Tri thị tình lưu thức bệnh thân.

香夢欲投蘇帳謝 Hương mộng dục đầu tô trướng tạ,

奈卿家是少眠人 Nại khanh gia thị thiểu miên nhân.

(Trịnh Hoài Đức, Bệnh hậu sở ký)

(Lật xem sách trong hàng sách chợt được chiếc khăn lụa cũ,

Biết là lưu lại chút tình để lau tấm thân bệnh.

Trong giấc mộng thơm muốn vào phòng nàng để cảm ơn,

Chỉ ngại nàng là người ít ngủ.)

Và cũng không ai đùa bỡn như Trịnh khi ở trên bến sông đầy du thuyền ca kỹ:

密室遑知行路難 Mật thất hoàng tri hành lộ nan,

桂城春雨襲人寒 Quế thành xuân vũ tập nhân hàn.

102

(Trịnh Hoài Đức, Khiển muộn hý trình sứ bộ liệt vị)

(Phòng kín rõ hay đường đi khó,

Mưa xuân ở Quế Lâm, rét xói người.)

Hoặc:

浮萍幸有朱顏顧 Phù bình hạnh hữu chu nhan cố,

流水慚無白雪題 Lưu thuỷ tàm vô bạch tuyết đề.

照影若憐梅骨瘦 Chiếu ảnh nhược liên mai cốt sấu,

颦眉如妬月銀低 Tần my như đố nguyệt ngân đê.

狂疎空作東隣羡 Cuồng sơ không tác đông lân tiện,

咫尺樓船瀛海齊 Chỉ xích lâu thuyền doanh hải tề.

(Trịnh Hoài Đức, Vũ Xương chu trung khẩu tặng sở kiến)

(Bèo nổi may có má hồng đoái thương,

Khúc đàn Lưu thuỷ, thẹn không có bài thơ Bạch tuyết để hoạ.

Soi bóng thương mình như cành mai gầy,

Nhíu mày như ganh với móc trăng sà thấp. Nghĩ thèm cái tính phóng khoáng của người bên giường đông, 1

Khoang thuyền chật hẹp mà như biển nước bao la.)

Còn Ngô Nhân Tĩnh thì nói đến chuyện hai năm đi sứ mịt mờ chuyện gối chăn,

càng nghĩ càng khổ lòng:

無復巫山降女神 Vô phục Vu sơn giáng nữ thần,

襄王悞我兩年身 Tương vương ngộ ngã lưỡng niên thân.

三更淋雨凄凉夜 Tam canh lâm vũ thê lương dạ,

萬里浮雲惱恨人 Vạn lý phù vân não hận nhân...

(Ngô Nhân Tĩnh, Vô đề tứ thủ, 1)

(Nữ thần núi Vu chẳng xuống lại nữa,

Thân ta hai năm nay cứ ngỡ là Tương vương.

Ba canh mưa dầm, đêm thêm lạnh lẽo,

Mây trôi vạn dặm, người càng buồn hận…)

1 Dịch từ chữ “đông lân”. Ở đây ý chỉ Vương Hy Chi, người đời Tấn, nổi tiếng viết chữ đẹp, tính tình cuồng phóng. Sách Tấn thư chép: Thái uý nhà Tấn là Khước Giám cho người đến nhà Vương Đạo để kén rể cho con gái. Nhà họ Vương nghe tin, ai nấy đều ra vẻ đứng đắn, nghiêm chỉnh; chỉ có một người nằm ưỡn bụng trên giường nhà đông ăn uống tự nhiên, như không biết gì. Khước Giám bèn gả con gái cho người ấy.

雨雲何處夜茫茫 Vũ vân hà xứ dạ mang mang,

103

空對巫山枉斷腸 Không đối Vu sơn uổng đoạn trường…

(Ngô Nhân Tĩnh, Hý thuật)

(Đêm mịt mờ, mây mưa từ đâu đến?

Nói hão chuyện Vu Sơn, đau như đứt từng khúc ruột.)

Những suy nghĩ mang yếu tố phi Nho trong tư tưởng của Tam gia khiến cho

các ông không hành động một cách cứng nhắc, mà mềm mại phóng khoáng linh

hoạt hơn. Ngô Nhân Tĩnh cũng từng nói:

想到世情皆板著 Tưởng đáo thế tình giai bản trước,

何如一度一番新 Hà như nhất độ nhất phiên tân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do

Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 11)

(Nghĩ đến sự tình đời đều cứng nhắc,

Sao bằng trời đất mỗi ngày mỗi mới thêm.)

Và cũng chính vì vậy tiếng thơ của các ông không thuần là tiếng thơ của một

nhà Nho mà pha lẫn tiếng thơ của một người phi Nho. Bên cạnh những cái nhìn

mang màu sắc của tư tưởng chính đạo Nho gia vẫn có những cách nhìn cách cảm

của một người “cư Nho mộ Thích”, sẽ dẫn các ông đến cảm thức về cuộc đời mà ở

đó mọi thứ không hoàn toàn trật tự ngăn nắp đứng im, ngược lại biến đổi khôn

lường. Nhìn thế giới trong sự biến đổi vô thường nhưng các ông chưa bao giờ là

người bi quan chạy trốn cuộc đời, mà ngược lại để hiểu rõ hơn những chân giá trị

của cuộc sống.

2.3. TRỊNH HOÀI ĐỨC, NGƯỜI NẶNG TÌNH VỚI QUÊ HƯƠNG VÀ

CON NGƯỜI NAM BỘ

Đất Gia Định thời Trịnh Hoài Đức cùng hai bạn ông sinh trưởng đã không còn

là vùng đất hoang vu, lầy lội, đầy lau lách, mà đã là vùng “đất đai màu mỡ, địa lợi

có đủ ruộng đồng, đầm phá, sông biển; muối, lúa, đậu rất nhiều” [29, 108]. Để được

như vậy, không thể không kể đến sự tham gia vào hoạt động cải tạo thiên nhiên, cải

tạo môi trường sống của những người dân bản địa cũng như những lưu dân đã đến

đây chung sống. Chính vì thế, thơ ca cũng sẽ ghi dấu cảnh trạng của những con

người cần cù lao động với khung cảnh thiên nhiên mà họ đã góp phần sáng tạo ra.

104

Nối tiếp mạch văn miêu tả cảnh sắc thiên nhiên ở vùng cực Nam của Tổ quốc

do nhóm Tao đàn Chiêu Anh Các mà Mạc Thiên Tích dẫn đầu, các tác giả trong Gia

Định tam gia, đặc biệt là Trịnh Hoài Đức đã làm bộ sưu tập về thắng cảnh vùng đất

Gia Định. Tuy nhiên, trong thơ Trịnh Hoài Đức, thiên nhiên hoàn toàn không biệt

lập với sinh hoạt con người mà nó đồng thời tái hiện.

Trong Gia Định tam gia, Trịnh Hoài Đức là người viết nhiều về quê hương

Nam Bộ. Từ hai tập thơ Cấn Trai Thoái thực truy biên và Cấn Trai Khả dĩ tập, hình

ảnh quê hương Nam Bộ hiện lên với tất cả sự mới mẻ và đầy nhựa sống của một

vùng đất vừa trải qua cuộc khai hoang khai khẩn.

Cảnh sắc thiên nhiên trong những bài thơ ông viết vào thời gian đầu năm 1782

(khi Tây Sơn đánh vào Gia Định lần thứ tư) tuy có những hình ảnh dân dã trong

trẻo, bình yên, nhưng đã mang chút màu sắc tâm trạng ưu tư thời cuộc của tác giả:

村舍枕溪煙樹外 Thôn xá chẩm khê yên thụ ngoại,

牧童橫笛草原中 Mục đồng hoành địch thảo nguyên trung.

牛將解軏歸高壟 Ngưu tương giải ngột quy cao lũng,

鴉已辭郊入茂叢 Nha dĩ từ giao nhập mậu tùng.

惆悵瞑雲天渺渺 Trù trướng minh vân thiên diểu diểu,

蹰踟無語倚梧桐 Trù trì vô ngữ ỷ ngô đồng.

(Trịnh Hoài Đức, Mai Khâu vãn diểu)

(Thôn quê gối lên dòng suối, cây cối khói quyện,

Trẻ chăn trâu thổi sáo tiếng vang trong đồng cỏ.

Trâu sắp cởi ách về giồng cao,

Quạ đã rời bãi về lùm cây um tùm.

Mây chiều ảm đạm giăng ngoài trời xa thẳm,

Lặng lẽ không nói gì, đứng dựa cây ngô đồng.)

Năm 1789, sau khi các ông ra ứng thí được Nguyễn Phúc Ánh thu nạp làm

Hàn lâm viện chế cáo được gần một năm, Trịnh Hoài Đức cùng hơn mười người

nữa lãnh chức Điền tuấn đi khuyến nông để có lương thực cung ứng cho quân binh.

Thời gian này ông có dịp đi vào đời sống của người dân, nhưng với tinh thần khá

lạc quan trên quan điểm của một viên quan đang công cán vì lợi ích của triều đình

và một phần lợi ích của những người dân gần hai trăm năm dưới quyền cai quản của

dòng họ Nguyễn, nên điểm nhìn của ông về sinh hoạt của người dân có phần phiến

105

diện: chỉ thấy được tranh sáng mà chưa thấy và chưa nói được tranh tối của cuộc

sống của dân chúng. Dù vậy, những dòng thơ viết về thiên nhiên và cảnh sinh hoạt

ở Nam Bộ trong thơ Trịnh Hoài Đức tự nó vẫn mang những sắc thái nhân văn, ca

ngợi cuộc sống mới đang lên trên vùng đất mới đầy tiềm năng.

Phiên chợ sớm ở ngôi làng bên sông, tác giả cho ta thấy cảnh sinh hoạt khá

nhộn nhịp của người dân Nam Bộ trong cuộc sống thường ngày:

村叟撒錢披雪笠 Thôn tẩu tát tiền phi tuyết lạp,

屠兒宰肉鼓霜刀 Đồ nhi tể nhục cổ sương đao.

凌煙漁趁迷新渡 Lăng yên ngư sấn mê tân độ,

帶霧樵來濕縕袍 Đới vụ tiều lai thấp uẩn bào.

有客居然登壟斷 Hữu khách cư nhiên đăng lũng đoạn,

冲寒不必飲醇醪 Xung hàn bất tất ẩm thuần lao.

(Trịnh Hoài Đức, Giang thôn hiểu thị)

(Ông già quê vung tiền, khoác tơi tuyết,

Người bán thịt chặt thịt khua dao sương.

Người chài cá đi trong khói mây, chẳng biết bến đò mới,

Bác tiều phu đội móc sương về thấm ướt cả chiếc áo khoác.

Có người thản nhiên đi lên đồi cao khúc khuỷu,

Xông pha trong rét mà chẳng cần uống rượu.)

Cuộc sống và sinh hoạt lao động của nông dân, tuy khổ nhọc nhưng vẫn đầy tự

tin với niềm vui được mùa:

禾稻離離草樹秋 Hoà đạo ly ly thảo thụ thu,

田家三五曲江流 Điền gia tam ngũ khúc giang lưu.

… 携壼擬慶豐年澤 … Huề hồ nghĩ khánh phong niên trạch,

簑笠農夫訪酒舟 Xoa lạp nông phu phỏng tửu chu.

(Trịnh Hoài Đức, Điền gia thu vũ)

(Lúa xanh mơn mởn, cây cỏ mùa thu,

Dăm ba nhà nông ở quanh dòng sông uốn cong.

… Đeo bầu rượu, mừng cảnh năm nay mùa màng bội thu,

Lão nông khoác áo tơi, hỏi thăm thuyền chở rượu.)

106

Cảnh sinh hoạt văn hoá học hành, lao động của con người Nam Bộ thời bấy

giờ dưới ngòi bút của Trịnh Hoài Đức khi ông về ở ẩn làng Long Tịch, hiện ra

thanh bình mà rộn rịp:

學童霜履虹橋去 Học đồng sương lý hồng kiều khứ,

釣叟煙凌水滸歌 Điếu tẩu yên lăng thuỷ hử ca.

邨落生涯勤少婦 Thôn lạc sinh nhai cần thiếu phụ,

簷前邀月揀棉花 Diêm tiền yêu nguyệt giản miên hoa.

(Trịnh Hoài Đức, Long Tịch thôn cư tạp vịnh,1)

(Học trò nhỏ đi trên chiếc cầu cong cong trong màn sương,

Ông già câu cá hát vang bên bờ nước mờ khói.

Trong xóm thôn, người thiếu phụ cần cù làm việc kiếm sống,

Trước mái nhà, mời trăng lên để nhặt hoa gòn.)

Đặc biệt chùm 30 bài thơ vịnh thắng cảnh Nam Bộ (trấn thành Gia Định) của

Trịnh Hoài Đức đưa người đọc đến với cảnh sắc vừa hùng vĩ, tráng lệ, vừa hoang sơ,

tươi tắn bởi có sự góp sức chung tay của người dân Nam Bộ trong đời sống vốn

không thể không lao động một cách tích cực. Thiên nhiên Nam Bộ trước đây đã

được tái hiện phần nào qua thơ của nhóm Tao đàn Chiêu Anh Các do Mạc Thiên

Tích ở Hà Tiên chủ xướng, giờ đây lại được Trịnh Hoài Đức bổ sung tiếp tục với

quy mô rộng hơn và phong phú hơn.

Mở đầu cho chùm 30 bài thơ vịnh cảnh thiên nhiên Nam Bộ là thành Gia Định.

Đây là một trong những cảnh thiên nhiên mà con người đã để lại dấu ấn của mình

trong công cuộc khai khẩn và bảo vệ vùng đất phương Nam của chúa Nguyễn. Theo

Trịnh Hoài Đức, vào ngày 4-2-Canh Tuất (1790) tại chỗ gò cao thôn Tân Khai

thuộc đất Bình Dương, ông cho đắp thành bát quái như hình hoa sen, mở ra tám cửa,

có tám con đường ngang dọc, từ đông đến tây là 131 trượng 2 thước ta, từ nam đến

bắc cũng như thế, cao 13 thước ta, chân dày 7 trượng 5 thước ta, đắp làm ba cấp, toạ

ngôi Càn, trông hướng Tốn. Trong thành phía trước bên tả dựng Thái miếu, giữa

làm sở hành tại, bên tả là kho chức, bên hữu là cục chế tạo, xung quanh là các dãy

nhà cho quân túc vệ ở. Trước sân dựng cột cờ 3 tầng, cao 12 trượng 5 thước ta, trên

có làm chòi canh vọng đẩu bát giác toà, ở bên treo cái thang dây để thường xuyên

lên xuống. Trên ấy có quân ngồi canh giữ, có điều cảnh báo thì ban ngày treo cờ

hiệu, ban đêm treo đèn hiệu, các quân trông vào hiệu đó mà theo sự điều động. Hào

107

rộng 10 trượng 5 thước, sâu 14 thước ta, có cầu treo thả ngang qua, bên ngoài đắp

luỹ đất, chu vi 794 trượng, vừa hiểm trở, vừa kiên cố tráng lệ [29, tr.216-217].

嘉定金城壓寇氛 Gia Định kim thành áp khấu phân,

門開八卦麗天文 Môn khai bát quái lệ thiên văn.

險驚西賊回江塹 Hiểm kinh Tây tặc hồi giang tiệm,

勢壯南邊峙砦垠 Thế tráng Nam biên trĩ trại ngân.

(Trịnh Hoài Đức, Gia Định kim thành)

(Thành vàng Gia Định trấn áp khí thế của giặc,

Cửa mở theo hình bát quái, làm rạng rỡ thiên văn.

Địa thế hiểm trở làm kinh giặc Tây, hào sông vây quanh thành,

Khí thế hùng tráng cả cõi Nam, vòng đai chắn bằng gỗ núi.)

Ngợi ca thành Gia Định là ngợi ca công tích của chúa Nguyễn, nhưng vẫn có

một phần công đóng góp của binh lính và nhân dân. Cùng tâm thức như vậy, cảnh

luỹ cổ Hoa Phong do Chưởng cơ Nguyễn Lễ cho người đắp nhằm ngăn chặn quân

giặc sau khi bình loạn Cao Miên cũng được ông ca ngợi với lòng vui sướng nhìn

cảnh đất nước thanh bình, đêm ngủ chẳng cần đóng cửa (Hoa Phong cổ luỹ).

Bên cạnh những thắng cảnh oai hùng ấy là những cảnh sông nước, ao đầm hay

chùa chiền đầy vẻ thơ mộng ở Nam Bộ cũng được Trịnh Hoài Đức ghi lại bằng thơ

như Mai Khâu túc hạc, Mỹ Tho dạ vũ, Chiêu Thái tình yên… Cuộc sống lao động ở

xứ Nam Bộ bấy giờ hiện ra đầy đủ mọi ngành nghề. Từ nghề nông, nghề dệt, đến

nghề chăn nuôi, đánh bắt thuỷ hải sản… đủ cả ngư, tiều, canh, mục.

Cảnh vỡ đất cày bừa, khai phá đất hoang, trồng trọt, chăn trâu, tháo nước… tất

bật từ sáng đến tối để biến vùng đất hoang vu thành nơi trù phú của người dân lao

động đã khiến ông xúc động viết nên những lời thơ sinh động, chân thành:

赤縣昏霾犁殆盡 Xích huyện hôn mai lê đãi tận,

黑壚蕪穢闢將周 Hắc lư vu uế tịch tương chu.

雨饒山澗晨開堰 Vũ nhiêu sơn giản thần khai yển,

草裕春堤晚放牛 Thảo dụ xuân đê vãn phóng ngưu.

萬頃煙霞收拾足 Vạn khoảnh yên hà thu thập túc,

歸來初月荷肩頭 Quy lai sơ nguyệt hạ kiên đầu.

(Trịnh Hoài Đức, Chu Thổ sừ vân)

(Vùng đất khô hạn nên bụi bốc mù, đã cày gần hết,

108

Gò đất xấu đầy cỏ hoang, khai hoang sắp xong.

Mưa tràn khe núi, buổi sáng ra mở đập,

Cỏ xanh rờn cả đê xuân, buổi chiều thả trâu.

Vạn khoảnh trong mây khói, thu hoạch đủ,

Trở về, vác trăng non trên vai.)

Đó là cảnh cày bừa khai hoang ở vùng đất đỏ Trấn Biên, còn đây là cảnh lao

động cày bừa, trồng dâu chăn tằm dệt cửi ở Trấn Định, một biểu hiện của cuộc sống

thanh bình trên quê hương Nam Bộ:

灌通弧矢田中洫 Quán thông hồ thỉ điền trung hức,

犁破桃花雨後荄 Lê phá đào hoa vũ hậu cai.

牧笛背橫牛濯濯 Mục địch bối hoành ngưu trạc trạc,

樵歌聲和鳥喈喈 Tiều ca thanh hoạ điểu giai giai.

當家老大供耕織 Đương gia lão đại cung canh chức,

餽餉桑陰出小娃 Quỹ hưởng tang âm xuất tiểu oa.

(Trịnh Hoài Đức, Trấn Định xuân canh)

(Gàu sòng tát nước thông mương máng trong ruộng,

Mùa xuân bừa hết những mầm cỏ mọc sau cơn mưa.

Mục đồng cầm ngang sáo thổi, trâu béo trùng trục,

Tiếng hát người đốn củi hoà cùng tiếng chim hót du dương.

Người lớn tuổi thì lo việc đồng áng, canh cửi,

Trẻ nhỏ mang cơm ra đồng, trong bóng dâu xanh.)

Cảnh trồng dâu nuôi tằm ở làng Quýt cũng được phản ánh vào thơ của ông.

Những cô gái chăm nghề nông tang, nuôi tằm, dệt lụa hiện lên sống động chân thật:

橘社人家事織紝 Quất xã nhân gia sự chức nhâm,

繅絲婦女各加心 Sào ty phụ nữ các gia tâm.

三盆出緒翻香繭 Tam bồn xuất tự phiên hương kiển,

雙筯頻淹振縷金 Song trợ tần yêm chấn lũ kim.

裊裊煙霞炊火色 Niểu niểu yên hà xuy hoả sắc,

嘈嘈風雨轉車音 Tào tào phong vũ chuyển xa âm.

(Trịnh Hoài Đức, Quất xã sào ty)

(Mọi người trong làng Quýt đều theo nghề dệt lụa,

Những phụ nữ ươm tơ, ai ai cũng cố gắng hết lòng.

109

Ba bồn ươm tơ lần ra mối, trở kén thơm,

Đôi đũa luôn nhúng, kéo từng sợi tơ vàng.

Màu lửa bốc lên, tựa khói mây ngùn ngụt,

Tiếng xe quay tơ, như mưa gió rào rào…)

Cảnh người tiều phu đốn củi ở Hố Nai cho thấy cuộc sống lao động vất vả

nhưng tâm thái an nhàn:

風披樵髮白皤皤 Phong phi tiều phát bạch bà bà,

鹿洞山中率性歌 Lộc Động sơn trung suất tính ca.

(Trịnh Hoài Đức, Lộc Động tiều ca)

(Gió thổi mái tóc của lão tiều trắng phơ phơ,

Lời ca hồn nhiên vọng trong núi Hố Nai.)

Cảnh câu cá trên Nhà Bè:

周流水國結浮巢 Chu lưu thuỷ quốc kết phù sào,

閑把寒針帶月敲 Nhàn bả hàn châm đới nguyệt xao.

(Trịnh Hoài Đức, Phù Gia điếu nguyệt)

(Khắp vùng sông nước người ta đều kết bè nổi để ở,

Nhàn nhã đem lưỡi câu lạnh khua dưới trăng.)

Hay cảnh sống của người dân nơi vùng sông nước chuyên nghề đánh bắt cá

đêm cũng được Trịnh Hoài Đức tái hiện trong thơ ông qua ánh đèn chài:

截流罾網結邨墟 Tiệt lưu tăng võng kết thôn khư,

江巿寒燈夜業漁 Giang thị hàn đăng dạ nghiệp ngư.

(Trịnh Hoài Đức, Võng thị ngư đăng)

(Lưới đó chặn ngang dòng sông, kết thành làng xóm,

Bến chợ chong ngọn đèn lạnh, đêm đêm theo nghề đánh cá....)

Cảnh chợ búa xôn xao đông đúc với những món đồng quê, rừng núi cũng được

ông đưa vào thơ:

翠靄山屏障水鄕 Thuý ái sơn bình chướng thuỷ hương,

榕陰蔽芾巿廛涼 Dung âm tế phất thị triền lương.

田禽獵獸充松肆 Điền cầm liệp thú sung tùng tứ,

蓖蜆罟魚滿竹坊 Tỳ hiện cổ ngư mãn trúc phường.

(Trịnh Hoài Đức, Ngư Tân sơn thị)

(Quả núi xanh tựa bình phong chắn ngang vùng nước,

110

Bóng đa che rợp, chợ búa mát mẻ,

Cầm thú săn bắt được nơi ruộng đồng, đều đưa vào quán này,

Cò hến đăng đó bắt được nơi ao đầm, đầy cả hàng kia.)

Cảnh chăn trâu trên dòng Kênh Mới với đồng ruộng tươi tốt màu xanh, bóng

dâu bạt ngàn, cò vạc nhàn nhã… Nhất là hình ảnh người nằm say ngủ bên cội hoa

không cởi áo tơi thể hiện một cuộc sống yên bình trên miền đất phương Nam:

笛吹蘆管侵煙際 Địch xuy lư quản xâm yên tế,

牛踏雲根入水隈 Ngưu đạp vân căn nhập thuỷ ôi.

草裕平田狐可獵 Thảo dụ bình điền hồ khả liệp,

桑陰綠野鷺堪莓 Tang âm lục dã lộ kham môi.

豐年笑傲羲皇世 Phong niên tiếu ngạo Hy Hoàng thế,

醉臥花叢不脫簑 Tuý ngoạ hoa tùng bất thoát xoa.

(Trịnh Hoài Đức, Tân Kinh thần mục)

(Thổi sáo bằng ống sậy, tiếng vút lên trời mây,

Trâu dẫm trên bờ đá vào khuỷu sông.

Cỏ xanh tốt, ruộng đồng bằng phẳng, có thể săn bắt cáo,

Dâu tốt toả bóng, đồng nội xanh ngắt, cò hãy ngơi.

Năm được mùa, cười vui như đời Hy Hoàng,

Say nằm dưới khóm hoa chẳng cởi áo tơi.)

Ngoài cảnh làm ăn sinh sống của người dân Nam Bộ trên vùng đất thiên nhiên

khá ưu đãi này, ta còn thấy ở họ một tinh thần lạc quan trước cuộc sống, được tái

hiện trong thơ Trịnh Hoài Đức. Cảnh làm việc, buôn bán của người dân ngập tràn

tiếng hát thơ mộng và hồn nhiên. Lúc thì tiếng sáo của người chài cá vang trên dòng

Bến Nghé giữa trời thu:

漏滴譙樓玉露團 Lậu trích tiều lâu ngọc lộ đoàn,

悠颺漁笛遶雲端 Du dương ngư địch nhiễu vân đoan.

(Trịnh Hoài Đức, Ngưu Tân ngư địch)

(Sương như giọt ngọc rơi từng giọt trên tháp canh,

Tiếng sáo chài du dương vút lên tầng mây.)

Hình ảnh người tiều phu già với mái tóc bạc ca hát khi lao động cho thấy

phong thái ung dung, sống hoà mình cùng thiên nhiên của con người trên đất Trấn

111

Biên. Tiếng hát hoà cùng mây suối, hoà theo tiếng đẵn củi nhịp nhàng xua tan nỗi

mệt nhọc của cuộc sống lao động.

野調聲從斫樹震 Dã điệu thanh tòng chước thụ chấn,

村腔韻與流泉和 Thôn xoang vận dữ lưu tuyền hoà.

(Trịnh Hoài Đức, Lộc Động tiều ca)

(Điệu hát dân dã, tiếng ca lồng theo tiếng đẵn củi,

Giọng quê mùa, tiếng hát hoà cùng dòng suối trôi.)

Người Nam Bộ dường như rất thích ca hát, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào

họ cũng có thể diễn xướng, tạo nên nét phong cách ca xướng dân gian trong đời

sống văn hoá phương Nam.

Tiếng hát trong đêm mưa ở Mỹ Tho, tiếng hát hồn nhiên của người tiều phu ở

Hố Nai, tiếng ca dào dạt của người tiều phu ở Trấn Định, hay tiếng sáo chăn trâu ở

Tân Kinh, tiếng địch của ông chài ở Ngưu Tân… đều là tiếng hát yêu đời của những

con người lạc quan. Đêm mưa ở Mỹ Tho làm tràn sông nước, ông nhìn thấy ở đấy

sự sống trào dâng, bởi cơn mưa này sẽ mang lại phù sa cho đồng ruộng:

濯纓唱罷月沉西 Trạc anh xướng bãi nguyệt trầm tê (tây),

瀟淅湫江雨正凄 Tiêu tích Tho Giang vũ chính thê.

(Trịnh Hoài Đức, Mỹ Tho dạ vũ)

(Hát xong khúc giặt giải mũ, trăng đã lặn về tây,

Sông Mỹ Tho rì rào, mưa rơi lạnh lẽo.)

Dễ thấy thiên nhiên trong thơ Trịnh Hoài Đức vừa hoang sơ nhưng cũng vừa

mang dấu ấn của hoạt động cải tạo môi trường của những cư dân trên vùng Nam Bộ.

Hầu như cảnh sắc thiên nhiên vùng Nam Bộ trong thơ Trịnh Hoài Đức đều mang

một luồng sinh khí mới mẻ. Điều đó, có thể hiểu, bởi tác giả làm những bài thơ này

khi ông giữ chức Điền tuấn khuyến nông ở trấn Định Tường. Qua cái nhìn khá lạc

quan của tác giả, cuộc sống của những người nông dân lao động trên vùng đất ít

chịu ảnh hưởng bởi cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và Gia Long là một cuộc sống

no đủ, an ổn.

Hiếm thấy tác giả phản ánh cảnh đói kém cực khổ của người dân. Nếu có

chăng thì chỉ là vào thời Tây Sơn tấn công Gia Định trong gần mười năm đầu của

cuộc nội chiến được ông tả trong cảnh chạy loạn:

三五東鄰叟 Tam ngũ đông lân tẩu,

112

行挑菜代糧 Hành khiêu thái đại lương.

(Trịnh Hoài Đức, Loạn hậu quy)

(Năm ba ông già bên nhà đông,

Gánh rau thay gạo lương.)

飽食鵶鴉郊噪喜 Bão thực nha nha giao táo hỉ,

無依燐鬼夜嗁悲 Vô y lân quỷ dạ đề bi.

(Trịnh Hoài Đức, Thương loạn)

(Lũ kền kền no mừng kêu ồn ã ngoài ven thành,

Ma trơi chẳng có nơi nương tựa, kêu khóc thảm thiết trong đêm.)

Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn say sưa viết về những sản vật miền Nam với tất

cả tấm lòng thân thiết. Từ con cò cái vạc, con le le (Liên Chiểu miên âu), con khỉ

(Hầu), sò huyết (Huyết ngao), tôm càng xanh (Thanh hà)… đến các loài cây nam

mai (Nam mai), cây bần (Thuỷ liễu), cây khế (Dương đào), quả ổi (Dã thạch lựu),

quả dứa (Phụng lê), quả xoài (Mông quả)… như một biểu trưng của xứ miền Nam

nhiều đặc sản:

花綻小條紅簇簇 Hoa trán tiểu điều hồng thốc thốc,

果垂柔杪綠離離 Quả thuỳ nhu diểu lục ly ly.

樷燃火樹藏螢夜 Tùng nhiên hoả thụ tàng huỳnh dạ,

根布針鋒出筍時 Căn bố châm phong xuất duẩn thì.

半畝凉陰魚作窟 Bán mẫu lương âm ngư tác quật,

日高猶見釣船維 Nhật cao do kiến điếu thuyền duy.

(Trịnh Hoài Đức, Thuỷ liễu)

(Hoa nở thành từng sợi dài rủ xuống, từng chùm màu đỏ chói,

Trái rủ trên cành mềm, màu xanh xanh.

Đêm đến đom đóm tụ họp trên cành cây rậm, sáng như cây lửa,

Khi đến mùa mọc mầm, gốc rễ mọc ngược lên như mũi nhọn.

Bóng mát toả rộng nửa mẫu ao, cá có thể làm hang để ở,

Ngày lên đã trưa vẫn thấy thuyền câu buộc ở đó.)

Với quả xoài thơm ngon ông sánh với quả vải miền Bắc:

不讓荔支專進幸 Bất nhượng lệ chi chuyên tiến hạnh

太和今擬獻端陽 Thái hoà kim nghĩ hiến đoan dương

(Trịnh Hoài Đức, Mông quả)

113

(Chẳng chịu thua trái vải thường được dâng lên,

Điện Thái Hoà nay lại hiến lên trong tiết mồng năm tháng năm)

Nếu không có những vần thơ chân thật, giản dị đó của ông, bức tranh làng quê

miền Nam hẳn kém phần tươi tắn, sinh động. Điều ấy khiến chúng ta nhớ đến

Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó, hay Nguyễn Khuyến ở thời kỳ sau đã

viết nhiều về những hình ảnh dân dã của miền Bắc Trung Bộ.

Trịnh Hoài Đức đã tái hiện vừa cụ thể vừa khái quát tất cả những sinh hoạt

tinh thần và vật chất của người dân Nam Bộ. Một cuộc sống no đủ, an lành dưới cái

nhìn lạc quan và thi vị của tác giả. Nếu không phải là người nặng tình yêu quý quê

hương Nam Bộ chắc không thể làm được những bài thơ như thế.

2.4. NGÔ NHÂN TĨNH, TÍNH CÁCH ĐẠM BẠC, CAO THƯỢNG VÀ

TÂM SỰ MỘT NHO THẦN

Thơ là tiếng nói của lòng, do vậy, xem thơ có thể biết được tính cách và tâm

hồn nhà thơ. Đọc thơ của Ngô Nhân Tĩnh, mới biết ông là người có tâm hồn nhạy

cảm và cao thượng, một tâm hồn rộng mở với thiên nhiên với cuộc đời.

Ngô Nhân Tĩnh là người tính tình giản dị, trong sáng, tự nhiên, bởi thế tiếng

thơ của ông như tiếng sáo trời tự nhiên ngân vang, như lời của Nguyễn Địch Cát nói

trong bài đề tựa tập thơ Thập Anh thi tập của Ngô Nhân Tĩnh.

Trong lần đi sứ Trung Quốc hỏi thăm tin tức vua Lê, đến thôn Thuỷ Biện,

trong nỗi sầu xa xứ, Ngô Nhân Tĩnh suy nghĩ về cuộc đời và vẫn giữ mình không để

mất bản tâm:

龍愁池淺局 Long sầu trì thiển cục,

人愛樹濃陰 Nhân ái thụ nùng âm.

已解烟霞趣 Dĩ giải yên hà thú,

何勞夢寐尋 Hà lao mộng mị tầm.

縱教閒散步 Túng giao nhàn tản bộ,

不失本初心 Bất thất bản sơ tâm.

(Ngô Nhân Tĩnh, Chí Thuỷ Biện thôn)

(Rồng buồn vì cuộc ao nông cạn,

Người thì thích bóng cây râm mát.

Đã hiểu được thú dạo chơi nơi cảnh núi rừng,

114

Sao phải nhọc lòng tìm kiếm những chuyện mộng mị.

Dù đi dạo nhàn nhã, cũng không mất cái tâm ban đầu.)

10 bài Thuyết tình ái của Ngô Nhân Tĩnh có thể nói là thâu tóm được tính cách

và tâm hồn ông:

是非可否為誰陳 Thị phi khả phủ vị thuỳ trần,

黃柏年年苦入唇 Hoàng bách niên niên khổ nhập thần.

計得生平余所愛 Kế đắc sinh bình dư sở ái,

何時歸作個閒人 Hà thời quy tác cá nhàn nhân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Thuyết tình ái, 1)

(Phải trái nào biết nói cùng ai,

Nên bao năm miệng môi cứ nhấm hoàng bách đắng lòng.

Kể hết những sở thích sinh bình của ta,

Chẳng biết bao giờ mới được làm một người nhàn hạ?)

Bài Thuyết tình ái, 1, dường như là lời giãi bày tâm sự, phơi mở tâm can, hoàn

toàn không phải vô cớ. Trong những bài tiếp theo, Ngô Nhân Tĩnh bày tỏ sở thích

của mình, mỗi sở thích của ông đều là những thú thanh tao, chứng tỏ, thi nhân có

một tâm hồn cao thượng và một tính cách trong sạch. Ông thích đọc kinh Kim

cương (Thuyết tình ái, 2), Nam hoa kinh (Thuyết tình ái, 3) Hoàng Đình kinh

(Thuyết tình ái, 4), Li tao (Thuyết tình ái, 5), Chu Dịch (Thuyết tình ái, 6). Mùa

xuân, thích nằm khềnh nơi nhà cỏ (Thuyết tình ái, 7), mùa hạ thích tránh nắng nơi

nhà tre (Thuyết tình ái, 8), mùa thu thích ngắm trăng nơi sân quế (Thuyết tình ái, 9),

mùa đông ngắm tuyết uống rượu ở sân mai (Thuyết tình ái, 10). Tính cách và tâm

hồn như thế, khó có thể nói ông đã nhận “của cho riêng” khi đi sứ sang Chân Lạp.

Trên đường đi sứ lần thứ hai (1802-1803), ông cùng Trịnh Hoài Đức hoạ vận

làm thơ 30 bài. Mỗi bài đều mang phong cách của người nghệ sĩ nhưng lại trĩu nặng

tâm sự: nỗi xa xứ nhớ quê, niềm ưu ái của một nho thần phụng mệnh đi sứ, nỗi ưu

hoài giữa đất trời kim cổ… Những cảm xúc ấy, lúc bấy giờ thoát ra thật dào dạt.

Với Trịnh Hoài Đức, cũng có khi nỗi nhớ quê hương như chín khúc sông:

愁同江九曲 Sầu đồng giang cửu khúc,

江曲遶江城 Giang khúc nhiễu giang thành.

(Trịnh Hoài Đức, Văn địch)

(Nỗi sầu như chín khúc sông,

115

Sông uốn cong bao lấy thành sông.)

Ở Ngô Nhân Tĩnh, tình quê hương vương vít trong lòng, cũng cuồn cuộn như

dòng sông:

九轉迴腸似曲江 Cửu chuyển hồi trường tự khúc giang,

關山迢遞別南邦 Quan sơn điều đệ biệt Nam bang.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 3)

(Ruột quặn đau chín khúc tựa dòng sông uốn cong,

Non núi trùng trùng, giã biệt nước Nam.)

Nếu Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định thưởng lãm cảnh đẹp trên đường đi sứ

trong tư thái ung dung của một sứ thần thì ở Ngô Nhân Tĩnh, người ta thấy, trong

cách thưởng lãm cảnh đẹp của ông, tuy có ung dung đấy, nhưng “vui là vui gượng

kẻo là…”, vẫn ẩn chứa nỗi niềm tâm sự: 多愁去日匆匆過 Đa sầu khứ nhật thông thông quá,

無事歸時仔細看 Vô sự quy thời tử tế khan.

日暮停船親友問 Nhật mộ đình thuyền thân hữu vấn,

繡衾玉枕不禁寒 Tú khâm ngọc chẩm bất câm hàn.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 14 )

(Ngày ra đi nhiều ưu sầu, nên đi qua vội vàng,

Lúc trở về không còn việc gì, mới được nhìn kỹ càng.

Chiều tối dừng thuyền, bạn bè người thân thăm hỏi,

Rằng chăn thêu gối ngọc, chẳng ngăn nổi rét.)

Ngô Nhân Tĩnh hay nói đến dưỡng tính chân, dưỡng sự vụng về, và cũng

thường nói đến vong cơ, vô ngã:

“Thuỷ vô ngưng trệ trường hoài trí, Sơn bất thiên di tĩnh dưỡng nhân” 水 無

凝 滯 長 懷 智 , 山 不 遷 移 靜 養 仁 (Nước chẳng ngừng trôi, luôn mong trí, Núi

chẳng đổi dời, lặng dưỡng nhân) (Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 11)

116

“Nhân nguyện học Nhan Tử, Tâm tam nguyệt bất vi” 仁 願 學 顏 子 心 三 月

不 違 (Lòng nhân nguyện học theo Nhan Uyên, ba tháng lòng chẳng dời) (Lưu biệt

Trần Tuấn Viễn)

“Sự mỗi vong cơ duyên tố chuyết, Nhân năng vô ngã tức phi phàm” 事 每 忘

機 緣 素 拙 , 人 能 無 我 即 非 凡 (Làm việc thường vứt bỏ tâm cơ, nương theo

tính vụng về, Người hay vô ngã, là bậc phi phàm.) (Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ

hành do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông

tam thập vận, 30);

“Nguyệt phi hữu ý đoàn viên cửu, Vân thị vô tâm xuất một đa” 月 非 有 意 團

圓 久 , 雲 是 無 心 出 沒 多 (Trăng chẳng có ý lâu tròn mà thường tròn, Mây vô

tâm nên ra khỏi núi miên man) (Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng

Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận,

20)…;

Ngợi ca cuộc sống an nhàn thoát tục: “Vân hà tiều ngoạ sơn gian ốc, Phong nguyệt ngư miên liễu ngoại sang” 雲 霞

樵 臥 山 間 屋 , 風 月 漁 眠 柳 外 艭 (Tiều nằm nhà cỏ, non mây quyện, Ngư ngủ

thuyền chài, trăng gió vương) (Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 3);

“Sự tại thiên nhiên đa khúc chiết, Đáo đầu danh vọng thuộc phi thường” 事 在

天 然 多 曲 折 , 到 頭 名 望 屬 非 常 (Muôn việc ở trời thường nhiều ngoắt ngoéo,

Rốt cuộc danh vọng là chuyện vô thường.) (Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành do

Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập

vận, 22).

“Dục hiệu tái ông kỳ thất mã, Khẳng đồng Trang Tử thoại vong cơ” 欲 效 塞

翁 期 失 馬 , 肯 同 莊 子 話 亡 機 (Muốn học theo lão già biên ải chờ mất ngựa,

chịu giống như Trang Tử nói chuyện bỏ tâm cơ) (Áo Môn lữ ngụ Xuân hoà đường

thư hoài, 2).

Cũng có khi mượn người xưa để ngụ ý mình, ông chê Hàn Tín không chịu

nghe theo lời Khoái Thông để chuốc hoạ: “Tri đáo cửu tuyền do ẩm hận, Đương

niên hối bất thính Nho sinh” 知 到 九 泉 猶 飲 恨 , 當 年 悔 不 聽 儒 生 (Biết

xuống suối vàng còn uống hận, Hối lòng năm trước chẳng nghe lời khuyên của nhà

Nho) (Hàn Tín).

117

Hiểu rõ lẽ vô thường, công danh phù phiếm, mong ước một cuộc sống an nhàn

tự tại… hẳn nhiên không thể là của một người đầy tham vọng, mà nó phải là niềm

mong ước của một người có tâm hồn thanh cao:

時已清平年欲暮 Thời dĩ thanh bình niên dục mộ,

功成之後早回頭 Công thành chi hậu tảo hồi đầu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây

hoạ Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận, 26)

(Đời đã thanh bình, năm sắp hết,

Sau khi công thành, hãy sớm quay đầu.)

Cũng có khi, nhà thơ tự cười cho việc “chẳng quay đầu” của mình, nhưng điều

ấy không đồng nghĩa là ông mải miết trong bã công danh, mà qua bài thơ càng thấy

tâm hồn thanh khiết của ông:

… 幽人應笑我 U nhân ưng tiếu ngã,

笑我未回頭 Tiếu ngã vị hồi đầu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 6)

(Khách nhàn chắc hẳn cười ta,

Cười ta chưa biết quay đầu.)

Cái kiểu “vị hồi đầu” mà Ngô Nhân Tĩnh nói ở đây lại càng minh chứng cho

tấm lòng luôn nghĩ đến vua và đất nước.

Trong một bài thơ khác, trên đường trở về nước, nhà thơ tự cật vấn mình khi

hiểu thấu lẽ huyền vi của đất trời:

此日動知他日靜 Thử nhật động tri tha nhật tĩnh,

今年是覺昔年非 Kim niên thị giác tích niên phi…

… 夢有丈人來問我 … Mộng hữu trượng nhân lai vấn ngã,

如何爾不息心機 Như hà nhĩ bất tức tâm ki (cơ)?

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 5)

(Hôm nay là động, biết đâu ngày kia lại là tĩnh,

Năm nay cho là phải mà năm trước lại là sai…

… Mộng thấy có ông lão đến hỏi ta:

“Sao ngươi còn không chịu ngừng tâm cơ?”).

118

Xưa nay, rất nhiều nhà thơ lên lầu Nhạc Dương, bất luận là thi nhân Trung

Quốc hay Việt Nam, đều để bày tỏ chí mình. Ngô Nhân Tĩnh cũng không ngoại lệ,

nhưng lạ là, ông chỉ giãi bày tấm lòng thanh đạm của mình cùng trời đất, rằng Ngũ

hồ biết lòng ta trong như dòng nước, như tiếng sáo không lời, và sông vẫn cứ trôi:

五湖知我心同淡 Ngũ hồ tri ngã tâm đồng đạm,

鉄笛無聲水自流 Thiết địch vô thanh thuỷ tự lưu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đăng Nhạc Dương lâu vọng Động Đình hồ)

(Ngũ hồ hẳn biết lòng ta cùng đạm bạc,

Sáo sắt không tiếng, nước vẫn trôi.)

Hoặc như lời ông tự nhận: “Thập niên kim thuỷ đắc tâm trai” 十 年 今 始 得

心 齊 (Mười năm nay mới được tâm thanh nhàn) (Hồ Quảng quy chu đồ trung tác

tam thập vận, 9).

Bài Thính vũ (Nghe tiếng mưa), càng bộc lộ tâm hồn trong sáng và chất nghệ

sĩ: nằm nghe tiếng mưa như tiếng khóc của người con gái sông Tương buồn vua

Thuấn, tựa như thần nữ oán hận Sở vương. Trong tiếng mưa lạnh lẽo ấy, người

nghệ sĩ sứ thần còn muốn mở lòng che chở cho cành hoa và cánh bướm mong manh:

萬點聲何細 Vạn điểm thanh hà tế,

一聞爾思長 Nhất văn nhĩ tứ trường.

洞庭悲舜帝 Động Đình bi Thuấn đế,

巫峽怨襄王 Vu Giáp oán Tương vương.

欲護花心冷 Dục hộ hoa tâm lãnh,

還憐蝶翅涼 Hoàn liên điệp sí lương.

蕭蕭天外雨 Tiêu tiêu thiên ngoại vũ,

獨臥客中床 Độc ngoạ khách trung sàng.

(Vạn giọt mưa tiếng nhẹ sao,

Vừa nghe ý mưa miên man.

Động Đình buồn thương vua Thuấn,

Non Vu oán trách Sở Tương vương.

Muốn che chở lòng hoa khỏi rét,

Vẫn thương cánh bướm lạnh lùng.

Xao xác cơn mưa ngoài trời thẳm,

Một mình nằm trên giường giữa đất khách.)

119

Một tâm hồn nghệ sĩ cao thượng như thế hẳn không phải là người “ăn của

riêng” như có kẻ đã vu cho ông. Thế nhưng, tâm hồn ấy, vẫn không thể yên bình để

đi vào cõi xa. Một tâm sự khó giãi bày lồng trong nỗi niềm ưu ái của một Nho thần

hết lòng phục vụ quốc quân, xã tắc. Ngô Nhữ Sơn dẫu chết trong nỗi oan khiên, vẫn

giữ lòng mình không nhiễm bụi trần ai, một tấc lòng thanh bạch thờ vua, đền nước

vẫn còn tràn ngập trong những trang thơ…

Sách Thực lục có chép: Năm Quý Dậu, Gia Long thứ 12 (1813), chiếu cho

Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt và Hiệp tổng trấn Ngô Nhân Tĩnh đại phát

thuỷ binh hơn 13.000 người đem quốc vương Chân Lạp là Nặc Chân về nước. Sau

lần đi sứ ấy, ông về và mất. Cũng trong Thực lục có chép rằng: “… Nhân Tĩnh

trước sang Chân Lạp, có người nói Tĩnh nhận riêng của nước Phiên. Văn Duyệt

đem việc tâu, Vua nói: “Việc không có chứng cứ, hãy để đó”. Nhân Tĩnh nghĩ

không yên lòng, thường tự than rằng: “Vẽ rắn thêm chân ai khiến ta mang cái oan

không bày tỏ được”. Đến nay ốm chết. Trịnh Hoài Đức tâu xin truy tặng. Vua

không cho.” [92, tr.868]

Còn trong Liệt truyện thì chép: “… Đến khi trở về hoặc có người nói là Tĩnh

nhận của cho riêng, Duyệt tin thực đem việc ấy tấu lên, vua cho là không có sự thực,

bỏ đi. Tĩnh, lòng không tự yên; nhưng rút cục không làm thế nào để giãi tỏ lòng của

mình được. Thường than rằng: Vẽ rắn thêm chân, ai khiến cho ta mang cái oan

không giãi tỏ được ư? (…) Mùa đông năm ấy, ốm chết. Trịnh Hoài Đức tâu giúp xin

truy tặng, vua không cho.” [94, tr.216]

Nỗi oan ức ấy của Ngô Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức có nhắc đến trong bài thơ

làm khi ông nghe tin Ngô Nhân Tĩnh mất:

紆青有力生能博 … Hu thanh hữu lực sinh năng bác,

不白之言死可哀 Bất bạch chi ngôn tử khả ai.

半世雄心空復爾 Bán thế hùng tâm không phục nhĩ,

二年大體謂何哉 Nhị niên đại thể vị hà tai.

憐卿曠達翻成癖 Liên khanh khoáng đạt phiên thành tích,

埋怨莊生入夜臺 Mai oán Trang Sinh nhập dạ đài.

(Trịnh Hoài Đức, Văn Gia Định thành Hiệp Tổng trấn

Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhữ Sơn Công bộ thượng thư phó âm ai tác)

(… Khi làm quan có đủ tài sức, sống có thể thi thố rộng rãi,

120

Mà vì lời nói chẳng rõ ràng, chết thật đáng đau xót.

Hùng tâm nửa đời, đành phí uổng,

Đại thể hai năm, biết nói gì?

Thương anh tính tình khoáng đạt, lại trở thành tội,

Như Trang Sinh ôm hận xuống suối vàng.)

Nỗi oan tình và khối tâm sự khó nói thành lời ấy có lẽ đã theo ông xuống

tuyền đài chôn giấu. Những trang thơ cuối của tập bản thảo Thập Anh thi tập có bài

làm vào năm Ất Mão khi ông phụng mệnh ban phong cho vua nước Cao Miên, và

bài thơ cuối cùng khép lại thi tập là Đáp chư hữu tặng biệt nguyên vận. Dường như

trong năm Quý Dậu, sau khi ông đi sứ sang Chân Lạp cùng Lê Văn Duyệt, không

thấy có thơ.

Phải chăng nỗi oan tình của Ngô Nhân Tĩnh không phải đơn giản chỉ là việc

nhận của riêng của người Cao Miên? Liệu có còn lý do nào khác khiến ông phải

chịu nỗi oan ức đến không thể giãi bày được chăng?

Trước lúc đi sứ Trung Quốc năm Nhâm Tuất (1802), Tiền quân Nguyễn quận

công có tặng cho ông thanh kiếm, như lời chú ông viết trong tập thơ bài Đối kiếm:

“Thời vãng sứ Trung Quốc, Tiền quân Nguyễn quận công tặng tống bảo kiếm 時 往

使 中 國 前 軍 阮 郡 公 贈 送 寶 劍”. Do vậy, Hoài Anh cho rằng ông có quan hệ

với Nguyễn Văn Thành, mà dẫn đến cái chết: “… thì có thể thấy Ngô Nhân Tĩnh bị

vua Gia Long nghi ngờ, lo buồn thành bệnh mà chết. Biết đâu chẳng phải do Gia

Long nghi ngờ Ngô Nhân Tĩnh là đồng chí của Nguyễn Văn Thành, trong khi

trước đó Nguyễn Văn Thành cũng bị nghi ngờ là mưu phản loạn, sợ tội uống

thuốc độc mà chết” [8, tr.379]. Nhưng, điều ấy chưa chính xác. Việc Nguyễn Văn

Thành bàn lập ngôi vua diễn ra vào năm Gia Long thứ 14 (1815), bấy giờ có cả

Trịnh Hoài Đức dự tiệc [92, tr.912-913], và Nguyễn Văn Thành uống thuốc độc

chết vào năm Gia Long thứ 16 (1817) [92, tr.948-949]. Như vậy sự việc diễn ra sau

khi Ngô Nhân Tĩnh mất (1813) đã được 2 đến 4 năm, chứ không hề như ông Hoài

Anh nói. Vậy, Ngô Nhân Tĩnh khó có thể là mất vì sợ vua Gia Long nghi kỵ mình

là đồng chí của Nguyễn Văn Thành.

Từ lời lẽ trong bài Đối kiếm, có thể thấy tâm sự của Ngô Nhân Tĩnh vẫn là

một lòng trung quân ái quốc, tuyệt không có ý gì là đồng chí của Nguyễn Văn

Thành, mà chỉ là tình cảm bạn đồng liêu:

121

倚看天外劍 Ki khan thiên ngoại kiếm,

贈憶意中人 Tặng ức ý trung nhân.

勇負凌雲氣 Dũng phụ lăng vân khí,

雄懷報國身 Hùng hoài báo quốc thân.

射星知有分 Xạ tinh tri hữu phận,

彈鋏笑無因 Đàn giáp tiếu vô nhân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đối kiếm)

(Một mình nhìn núi ngoài xa1,

Nhớ người đem kiếm tặng cho mình.

Đành luống phụ chí khí chọc trời mây,

Chỉ ôm lòng xả thân đền ơn nước.

Khí kiếm xông trời đêm biết là có phận,

Gõ kiếm cười vang không duyên cớ.)

Tấm lòng luôn hướng về quê hương đất nước ở Ngô Nhân Tĩnh hẳn cao hơn

tất cả. Tấm lòng ấy của ông luôn mong thấu đến cửu trùng mà trong rất nhiều bài

thơ ông giãi bày, thổ lộ:

萬里江湖遠 Vạn lý giang hồ viễn,

君臣一念高 Quân thần nhất niệm cao.

去國憂天問 Khứ quốc ưu thiên vấn,

謀身愧啜糟 Mưu thân quý chuyết tao.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 10)

(Sông hồ xa muôn dặm,

Vua tôi một niệm cao. Rời nước, lòng luôn lo lắng về lời thăm hỏi của vua,2

Chuyện lo cho thân mình, hổ thẹn chỉ húp bã cặn mà lòng vui.)

Ở đây, Ngô Nhân Tĩnh rất rạch ròi giữa việc nước với tình nhà. Ông luôn đặt

việc nước lên trên, việc nhà và bản thân ông xuống hàng dưới, nhiều khi chẳng sá gì.

1 Dịch từ “thiên ngoại kiếm”, ở đây núi nhô lên trời như kiếm, vì vậy gợi cho tác giả nhớ đến thanh kiếm của Tiền quân Nguyễn Văn Thành tặng mình. 2 Dịch từ chữ “thiên vấn”, xuất từ truyện Phó Hàm trong Tấn thư: “每见圣詔以百姓饥饉为虑,无能云 补,伏用慙恧,敢不自竭,以对天问。” (Mỗi khi thấy vua chiếu rằng vì trăm dân đói khát mà lo nghĩ, không biết đền đáp thế nào, tự lấy làm xấu hổ, dám không biết tự mình hết sức để đáp lời thăm hỏi của vua).

Đọc bài thơ trên, ta dễ dàng nhận thấy, Ngô Nhân Tĩnh có nỗi lòng tựa Khuất

122

Nguyên lo toan việc nước, và có cái tình hiếu thảo với gia đình một cách chân tình

mộc mạc.

Thời gian đi sứ chính là thời gian Ngô Nhân Tĩnh có dịp để nhìn nhận lại

những giá trị cuộc đời. Chính vì thế mà, ông hiểu rõ hơn những trường thị phi, nhận

ra chân lý: cuộc đời danh vọng là huyễn ảo, phù vân. Ông viết về Hàn Tín:

英雄自古愛成名 Anh hùng tự cổ ái thành danh,

一自成名百忌萌 Nhất tự thành danh bách kỵ manh.

禍兆不關來請印 Hoạ triệu bất quan lai thỉnh ấn,

危機多在善將兵 Nguy cơ đa tại thiện tương binh…

(Ngô Nhân Tĩnh, Hàn Tín)

(Anh hùng tự cổ thích thành danh,

Vừa thành danh thì trăm mối ngờ cũng nảy sinh.

Mầm hoạ chẳng phải đến khi xin ấn tước,

Mà nguy cơ thường ở việc giỏi dùng binh…).

Không biết số phận của ông có vận vào mấy vần thơ ấy không, nhưng tấm

lòng trong sáng của Ngô Nhữ Sơn khi ngộ ra bon chen danh lợi chẳng được gì,

được chuyển vào mấy vần thơ: 十 年 前 笑 謀 身 拙 Thập niên tiền tiếu mưu thân chuyết,

何 事 多 端 畫 足 蛇 Hà sự đa đoan hoạ túc xà.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 22)

(Tự cợt mười năm trước việc mưu thân vụng về,

Việc gì lắm chuyện vẽ rắn thêm chân?)

Ẩn sau bức màn bí mật về cái chết đầy oan tình của Ngô Nhân Tĩnh, chưa hẳn

là chuyện ông kết thân với Nguyễn Văn Thành, mà có thể đúng như lời chép trong

các sách sử Thực lục và Liệt truyện. Như chúng tôi đã nói, bởi trong năm cuối đời,

dường như Ngô Nhân Tĩnh không làm thơ để giãi bày nỗi oan tình mà ông gánh

phải. Nguyễn Văn Thành tự sát vẫn có di biểu trần tình [92, tr.949] còn Ngô Nhân

Tĩnh không, do vậy, chúng ta chưa đủ chứng cứ để phân giải sự tình. Có thể nỗi oan

của Ngô Nhân Tĩnh không đáng để trình bày, cũng có thể ông quả có lời khó nói,

mà cũng có thể ông buồn bã trầm uất vì bề trên chưa hiểu thấu lòng ông. Tấm lòng

của ông đành phó mặc cho trời đất, cho sắc xuân non nước, như lời ông đáp lại các

bạn đồng liêu trong buổi tiễn biệt cuối cùng được ghi lại:

123

滿城春色送征鞍 Mãn thành xuân sắc tống chinh an,

半句心頭欲話難 Bán cú tâm đầu dục thoại nan.

未信臨民師子產 Vị tín lâm dân sư Tử Sản,

敢將市義效馮驩 Cảm tương thị nghĩa hiệu Phùng Hoan…

… 此去已期梅月會 … Thử khứ dĩ kỳ mai nguyệt hội,

休將杯酒唱陽關 Hưu tương bôi tửu xướng Dương Quan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đáp chư hữu tặng biệt nguyên vận)

(Cảnh xuân đầy thành, tiễn người lên ngựa,

Nửa lời tâm sự, muốn nói nhưng khó nói.

Chưa tin ta thương dân như con, còn học theo Tử Sản,

Nhưng dám mua nghĩa, bắt chước theo Phùng Hoan…

Từ đây, hẹn hội ngộ vào mùa mai,

Chớ nâng chén rượu hát khúc Dương Quan).

Thế nhưng, ngày trở về cũng là lúc ông bị người ta phủ vào thân màn sương

mờ oan khuất. Màn sương oan ức ấy, đến ngay Trịnh Hoài Đức, người được vua vô

cùng quý mến vẫn không thể xua tan đi được. Ngô Nhân Tĩnh đành mang theo

những nỗi lòng khó thổ lộ đi vào lòng đất sâu trong sự hờ hững của người mà ông

hết lòng phụng sự. Không thấy sử chép về đám tang của ông, có lẽ vì nỗi oan mà

ông không được dùng lễ như một công thần. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, thời gian đã

trả lại sự minh bạch cho ông. Năm Tự Đức thứ 3 (1850), ông được đưa vào thờ phụ

trong miếu Trung hưng công thần, cùng với Trịnh Hoài Đức, người bạn đã lên tiếng

minh oan cho ông.

2.5. LÊ QUANG ĐỊNH, CON NGƯỜI TÀI HOA VÀ NHỮNG SUY TƯ

VỀ CUỘC ĐỜI

Trong Gia Định tam gia, sáng tác thơ của Lê Quang Định còn lại ít nhất. Tập

thơ Hoa Nguyên thi thảo chủ yếu được làm trong thời gian ông nhận nhiệm vụ đi sứ

Trung Quốc. Nhưng chất nghệ sĩ của một người tài hoa vừa giỏi thơ ca vừa hay hội

hoạ bộc lộ khá rõ trong thơ.

Sau khi sứ đoàn của Trịnh Hoài Đức rời nước vào giữa năm Nhâm Tuất

(1802), thì cuối năm ấy, Lê Quang Định lại phụng mệnh làm chánh sứ dẫn đầu đoàn

sứ thỉnh phong kế tiếp lên đường sang Trung Hoa. Trên chặng đường đi sứ gần

124

mười bốn tháng, Lê Quang Định dường như mới có dịp làm thơ. Những bài thơ

trong tập Hoa Nguyên thi thảo phần nhiều là thơ đề vịnh, đối đáp với các nhân sĩ

Thanh triều, nhưng qua những vần thơ đó, ông gởi gắm những suy tư về cuộc đời,

những tâm sự về phận làm người, đồng thời bộc lộ nét tài hoa của một nhà nho đa

tài.

Nét tài hoa của nhà Nho Lê Quang Định trước tiên bộc lộ qua việc đề thơ lên

tranh, lên quạt tặng cho các nhân sĩ Thanh triều: Đề mỹ nhân dao lỗ đồ (Đề tranh

người đẹp bơi thuyền), Đề phiến tặng Từ sư gia (Đề thơ lên quạt tặng sư gia họ Từ),

Đề phiến tặng Tương Đàm Lục Dự Tri huyện (Đề thơ lên quạt tặng Tri huyện

Tương Đàm Lục Dự), Đề phiến tặng Thông thủ Trường Sa phủ Đường Cảnh (Đề

thơ lên quạt tặng Thông thủ phủ Trường Sa Đường Cảnh)… Không phải Trịnh Hoài

Đức không có trường hợp đề tranh, đề quạt tặng thơ cho các nhân sĩ Thanh triều,

nhưng Trịnh Hoài Đức không có kiểu nhận xét về nghệ thuật vẽ tranh.

Trong bài thơ đề bức tranh Người đẹp bơi thuyền, Lê Quang Định nhận xét nét

vẽ của người hoạ sĩ tuy khá tinh tế về đường nét, phong cảnh thiên nhiên sinh động,

nhưng vẻ mặt của người đẹp chưa thật trọn vẹn:

天然秀媚已堪餐 Thiên nhiên tú mỵ dĩ kham xan,

搖櫓佳人更可觀 Dao lỗ giai nhân cánh khả quan.

… 刧恨丹青偏著筆 … Khước hận đan thanh thiên trứ bút,

不將璜珮畫紅顏 Bất tương hoàng bội hoạ hồng nhan.

(Lê Quang Định, Đề mỹ nhân dao lỗ đồ)

(Thiên nhiên xinh đẹp đã có thể ăn được,

Người đẹp bơi thuyền càng thích xem.

… Lại hận cho người hoạ sĩ vẽ chưa trọn vẹn,

Không đem ngọc hoàng bội để vẽ nét mặt hồng.)

Lê Quang Định nhận xét bức tranh bởi vì ông cũng là người ham thích hội hoạ

và bản thân ông thể nghiệm hội hoạ thuỷ mặc. Cũng vì vậy, điểm nhìn của ông đối

với cảnh sắc thiên nhiên mang ảnh hưởng của phong cách vẽ tranh thuỷ mặc:

扁舟月暗蛾眉影 Biên chu nguyệt ám nga mi ảnh,

叢竹煙凝玉淚枝 Tùng trúc yên ngưng ngọc lệ chi.

(Lê Quang Định, Quá Động Đình hồ)

(Thuyền nhỏ, trăng mờ, bóng mày ngài,

125

Khóm trúc, sương ngưng, cành lệ ngọc.)

Vài nét chấm phá đã gợi cho người đọc những liên tưởng về khuôn mặt người

đẹp: con thuyền – mặt trăng – mày ngài, cành trúc – khói sương – lệ ngọc. Chùm

thơ ông viết trên sông Tiêu Tương càng bộc lộ nét nghệ sĩ của ông. Mỗi bài là một

tâm tình, mỗi tâm tình ông lại chọn một kiểu thức giải khuây. Tối uống rượu khuây

nỗi sầu quê (Dạ tửu hứng), sáng vẽ tranh trước cảnh trời trong trẻo, trước cuộc sống

lao động yên bình (Triêu hoạ hứng), trưa uống trà giải cơn nóng nực (Ngọ trà hứng),

chiều ngâm thơ giữa cảnh làng yên ả (Vãn thi hứng)…

閒雲歸古峒 Nhàn vân quy cổ động,

新月弔孤村 Tân nguyệt điếu cô thôn.

回首鄉關異 Hồi thủ hương quan dị,

呼童且滿樽 Hô đồng thả mãn tôn.

(Lê Quang Định, Dạ tửu hứng)

(Mây thong dong bay về động cũ,

Bóng trăng non treo trên xóm thôn lẻ loi.

Quay đầu nhìn, quê hương xa lạ,

Gọi trẻ rót rượu thật đầy.)

Tác giả từ trong thuyền nhìn cảnh sắc buổi sớm mai, trông cảnh đẹp mà khởi

hứng vẽ tranh. Cảnh đẹp vào tranh mà tranh cũng thơ:

村姑粧地面 Thôn cô trang địa diện,

野叟剃山頭 Dã tẩu thế sơn đầu.

渺渺白雲捲 Diểu diểu bạch vân quyển,

滔滔碧水流 Thao thao bích thuỷ lưu.

(Lê Quang Định, Triêu hoạ hứng)

(Cô gái thôn quê (trồng trọt) làm đẹp mặt đất,

Lão già quê (cày bừa) cạo đầu non.

Xa xa mây trắng cuốn,

Ào ào nước xanh chảy.)

Cảnh xóm làng quyện khói chiều hôm, đàn trâu về trên bãi cỏ xanh xanh, tiếng

hát người chài cá thoáng trong làn gió, núi sông hữu tình… gợi cho lòng tác giả

những cảm xúc về một miền quê thanh bình:

村落煙初聚 Thôn lạc yên sơ tụ,

126

晴江暑漸清 Tình giang thự tạm thanh.

牛歸芳草潤 Ngưu quy phương thảo nhuận,

漁唱晚風輕 Ngư xướng vãn phong khinh.

釜覆山頭峡 Phủ phúc sơn đầu giáp,

練鋪水面平 Luyện phô thuỷ diện bình.

(Lê Quang Định, Vãn thi hứng)

(Xóm làng khói chiều vừa tụ lại,

Sông quang tạnh, bóng nắng nhạt dần.

Trâu về chuồng, bờ cỏ thơm ướt đẫm,

Tiếng hát của người đánh cá, làn gió chiều hây hây.

Ngọn núi như chiếc nồi úp xuống,

Mặt nước bằng lặng như dòng lụa phơi.)

Cả bốn bài thơ đều đạt đến bút pháp tài tình. Cảnh vào thơ, thơ thành hoạ, có

hồn và sống động. Đó cũng là nét đặc sắc trong thơ của Lê Quang Định. Thơ Lê

Quang Định, mặc dầu nói nhiều về cảnh sắc thiên nhiên, nhưng hoàn toàn không

phải những phong hoa tuyết nguyệt sáo rỗng mà tất cả đều xuất phát từ cuộc sống,

từ những hình ảnh sinh hoạt đời thường chân thật, tự nhiên:

溪毛冷落朝烟罩 Khê mao lãnh lạc triêu yên trác,

嶺樹朦朧宿霧深 Lĩnh thụ mông lung túc vụ thâm.

喚渡行人侵雪徑 Hoán độ hành nhân xâm tuyết kính,

去巢鳥鵲噪雲林 Khứ sào ô thước táo vân lâm.

(Lê Quang Định, Lư Giang tảo phiếm)

(Cỏ bên suối tiêu điều khói sớm mờ phủ,

Cây trên ngàn mờ mịt lẫn trong sương móc.

Người đi đường gọi đò, dẫm trên đường tuyết,

Quạ rời tổ bay, náo loạn cả rừng mây.)

Hình ảnh sinh hoạt an nhàn của người dân ở Minh Giang được tác giả ghi lại

dưới cái nhìn khá thơ mộng:

山市閒雲歸鳥道 Sơn thị nhàn vân quy điểu đạo,

江村微雨浴漁翁 Giang thôn vi vũ dục ngư ông.

女粧荊布搖長櫓 Nữ trang kinh bố dao trường lỗ,

兒繫瓢瓜戲短篷 Nhi hệ biều qua hí đoản bồng…

127

(Lê Quang Định, Minh Giang ký kiến)

(Mây nhàn bay giữa phố núi, trên đường một cánh chim trở về,

Mưa lâm thâm ở ngôi làng bên sông tắm ướt ông chài.

Cô gái mặc áo vải gai khua mái chèo,

Đứa bé buộc tã đang đùa giỡn trước mui thuyền…)

Trong cái nhàn nhã của đất trời ánh lên sự bận rộn của con người lao động nơi

làng quê, nhưng trong sự bộn bề mưu sinh của người lớn vẫn hiển hiện cái nhàn của

chính họ và hình ảnh đứa trẻ. Cảnh sắc và con người ở Minh Giang vì thế hiện lên

vừa sinh động vừa nên thơ.

Trên đường đi sứ, Lê Quang Định lại có dịp nhìn nhận lại những giá trị của

cuộc đời. Có khi chỉ là một hình ảnh chim cốc ở đầm Cốc cũng khiến cho tác giả

liên tưởng đến cách làm người:

能言鸚鵡古來珍 Năng ngôn anh vũ cổ lai trân,

誰愛鸕鷀事主人 Thuỳ ái lô tư sự chủ nhân.

日爲漁家生計足 Nhật vị ngư gia sinh kế túc,

時驚水族業寃頻 Thời kinh thuỷ tộc nghiệp oan tần.

(Lê Quang Định, Lô tư)

(Chim vẹt có thể nói chuyện, xưa nay quý,

Có ai thích loài chim cốc biết phụng sự chủ nhân?

Mỗi ngày làm việc giúp nhà chài, nên sinh kế cũng đủ ăn,

Thường thường làm loài cá nước hoảng sợ, oan nghiệp kết thêm.)

Tác giả nói chuyện chim cốc nhưng ta vẫn tìm thấy ý nghĩa ẩn dụ về những

con người có cảnh ngộ tương tự trong đời sống. Từ hình ảnh chim cốc biết phụng sự

chủ nhân tác giả tạo cho độc giả sự liên tưởng đến những con người chỉ biết làm

theo bổn phận, hết lòng trong công việc, nhưng cũng chính vì thế mà kết oan nghiệp

với những kẻ khác.

Trên đường đi sứ Trung Quốc, Lê Quang Định có thời gian viếng chùa dạo

cảnh, tham quan những nơi danh thắng và ngẫm lại chuyện xưa. Bằng tư tưởng của

một nhà nho, Phật giáo cũng được ông nhìn dưới phạm trù hiếu và trung:

佛教原來何異諦 Phật giáo nguyên lai hà dị đế?

亦將忠孝渡迷津 Diệc tương trung hiếu độ mê tân.

(Lê Quang Định, Đề Tương Sơn tự)

128

(Chân lý của đạo Phật vốn có khác gì,

Cũng đem hiếu trung độ người khỏi bến mê.)

Những chuyến dạo chơi bất đắc dĩ này lại khiến thi nhân để lại cho đời những

vần thơ vừa đẹp đẽ vừa đượm chất suy tư. Ít nhất có một lần Lê Quang Định muốn

cởi bỏ tất cả danh lợi để bước lên con thuyền từ bi, đến với bến bờ thanh lương:

今朝若了平生事 Kim triêu nhược liễu bình sinh sự,

應假慈航換玉鞭 Ưng giả Từ Hàng hoán ngọc tiên.

(Lê Quang Định, Du Từ Hàng tự)

(Sáng nay chợt hiểu được chuyện trong cuộc đời,

Cũng nên đổi roi ngọc để được bước lên thuyền từ bi.)

Nhưng dường như Lê Quang Định vẫn chưa đến với đạo một cách thật sự.

Giữa thi nhân và đạo vẫn còn một khoảng cách lớn: những trăn trở của một nhà nho.

Thế nên ông suy tư nhiều đến những nhân vật trung trinh với vua với nước, suy

ngẫm nhiều đến lẽ tồn vong trong cuộc đời. Với thi nhân những gì còn lại với thời

gian không phải là cái hữu hình mà chính là giá trị vô hình thông qua vật hữu hình:

碑誌仍題賢姓字 Bi chí nhưng đề hiền tính tự,

草花猶帶古芬芳 Thảo hoa do đới cổ phân phương.

(Lê Quang Định, Đề Thạch Cổ Sơn thư viện)

(Bia đá vẫn còn ghi tên họ của người hiền đức,

Hoa cỏ còn mang hương thơm của ngày xưa.)

Qua núi Nam Bình, nhớ đến Khổng Minh, ông viết:

煙波乍散吞吳恨 Yên ba sạ tán thôn Ngô hận,

臺榭猶留輔漢功 Đài tạ do lưu phụ Hán công.

(Lê Quang Định, Quá Nam Bình sơn hoài cổ)

(Khói sóng chợt tan như cơn hận thôn tính nước Ngô,

Đền đài vẫn còn như công phò nhà Hán.)

Đền đài còn đó, nhưng sở dĩ còn là do công phò Hán của Khổng Minh, chứ

không phải bởi sự kiên cố, sa hoa của đền đài. Trịnh Hoài Đức cũng cùng cảm thức

ấy khi viết về đài cầu gió của Khổng Minh:

江山愛護忠純跡 Giang sơn ái hộ trung thuần tích,

銅雀當年已綠苔 Đồng Tước đương niên dĩ lục đài.

(Trịnh Hoài Đức, Tế phong đài)

129

(Sông núi thích bảo vệ vết tích người trung trinh,

Còn lầu Đồng Tước, ngay năm ấy, đã phủ ngập rêu xanh.)

Lên lầu Củng Cực, Lê Quang Định và các bạn ông vẫn thấy còn đó nỗi buồn

của Khuất Nguyên trôi theo dòng sông xanh vô tận, vẫn còn đó văn chương của Giả

Nghị trong màu xanh của cây đời:

漢傅文章遺古樹 Hán phó văn chương di cổ thụ,

楚臣忠憤逐蒼浪 Sở thần trung phẫn trục thương lang.

(Lê Quang Định, Đăng Củng Cực lâu)

(Văn chương Thái phó nhà Hán, còn lưu với cây xưa,

Nỗi trung phẫn của bầy tôi nước Sở, vẫn trôi với sóng xanh.)

Qua cầu Dự Nhượng, tác giả nhớ đến người trung nghĩa năm xưa từng nằm

phục trên cầu để báo thù cho chủ. Chiếc cầu ván nay đặt tên là Dự Nhượng vẫn còn

bởi tiết nghĩa của Dự Nhượng, mà cơ đồ của Triệu Mạnh mất sạch theo dòng nước

chảy (Quá Dự Nhượng kiều); hoặc khi qua đất Dữu Lý, nơi Chu Văn Vương Cơ

Xương bị giam ngày trước, Lê Quang Định cũng từng suy nghĩ “Chu dịch trứ quy

thiên cổ tại, Ân đài kim ngọc phiến thời không” (Kinh dịch nhà Chu, bói rùa, ngàn

năm vẫn còn truyền, mà vàng ngọc lâu đài của nhà Ân thoắt chốc đã hoá thành

không) (Quá Dữu Lý bi)…

Xen lẫn những nỗi niềm suy tư về kiếp người về tình đời là những suy tư chân

thành về ơn dưỡng dục của cha mẹ và phận làm trai, làm con:

夢入杯棬芳澤在 Mộng nhập bôi quyền phương trạch tại,

望迴枌梓白雲馳 Vọng hồi phần tử bạch vân trì.

關山有路牽離恨 Quan san hữu lộ khiên li hận,

湖海無階達孝思 Hồ hải vô giai đạt hiếu tư.

難假桑蓬供爼豆 Nan giả tang bồng cung trở đậu,

也應悔作好男兒 Dã ưng hối tác hảo nam nhi.

(Lê Quang Định, Đồ trung từ thân huý nhật hoài cảm)

(Mơ về chén bát gỗ (nhớ mẹ), hương thơm vẫn còn,

Ngoảnh đầu nhìn quê hương, mây trắng bay nhanh.

Núi non có đường dắt nỗi hận xa cách,

Biển hồ không thềm để thấu đạt lòng hiếu.

Nếu thoả chí tang bồng, lại khó bày đồ để tế mẹ,

130

Cũng nên hối hận dù là một đấng nam nhi giỏi giang.)

Lê Quang Định có lần nói về chí làm trai nào ngại xông pha “tang bồng tối thị

bình sinh ý” (xông pha bốn phương là ý của cả cuộc đời), nhưng càng nói càng cho

thấy suy tư của ông về phận làm trai, về bổn phận làm con. Chí trai ngang dọc giữa

cõi trời, với Lê Quang Định, điều ấy còn dễ, nhưng một nén hương để tế mẹ cha

trên đường đi sứ quả là khó:

桑蓬易足平生志 Tang bồng dị túc bình sinh chí,

香火難供一寸誠 Hương hoả nan cung nhất thốn thành.

揮淚自羞豺獺念 Huy lệ tự tu sài lãn niệm,

低頭空聽鷓鴣聲 Đê đầu không thính giá cô thanh.

(Lê Quang Định, Khách trung ngộ huý nhật cảm tác)

(Bình sinh chí tang bồng dễ thành,

Một tấc lòng thành, nhưng khó việc khói hương.

Gạt lệ tự thẹn cho lòng hiếu của mình thua loài sói,

Cúi đầu buồn nghe vẳng tiếng đa đa.)

Lê Quang Định là người viết về cha mẹ nhiều hơn hai người bạn của ông. Ba

bài thơ viết về cha mẹ thì có hai bài làm khi ông đi sứ, còn một bài làm khi ông về

nước đến thăm mộ của song thân ở phủ Quảng Ngãi năm 1804. Cùng một cách nghĩ

như hai bài trên, ông luôn nghĩ làm con khó báo ơn sinh thành của cha mẹ. Mạnh

Giao từng nói một cách hình tượng rằng: “Thuỳ ngôn thốn thảo tâm, báo đắc tam

xuân huy” (Du tử ngâm) (Ai nói rằng lòng của tấc cỏ, mà báo đền được ơn nắng

mùa xuân), Lê Quang Định thì phát biểu thẳng thắn nhưng chân tình:

有天乘福履 Hữu thiên thừa phúc lý,

無日答生成 Vô nhật đáp sinh thành.

草洒歸來淚 Thảo sái quy lai lệ,

花含去別情 Hoa hàm khứ biệt tình.

幸逢今祭掃 Hạnh phùng kim tế tảo,

命筆記心誠 Mệnh bút ký tâm thành.

(Lê Quang Định, Khốc tiên phần)

(Có ngày nối được gót cha,

Mà không ngày đền đáp ơn sinh thành.

Cỏ rưới lệ ngày trở về,

131

Hoa còn ngậm tình biệt li.

May gặp ngày tảo mộ cúng tế,

Lấy bút ghi lại tấm lòng thành.)

Hai câu cuối bộc lộ cái ý khó báo đáp ơn sinh thành của cha mẹ khi trên

đường làm việc nước bằng một chữ “hạnh” (may mà) thật xót xa. Lê Quang Định

hiếu kính thật đúng theo tinh thần “dĩ lễ tế chi” của Nho gia.

Nét tài hoa ở Lê Quang Định dường như vẫn không thoát ra khỏi bản chất nhà

nho quân tử. Nếu so với người bạn của ông, Lê Quang Định không đạt đến phong

thái tài tử phóng khoáng như Trịnh Hoài Đức, lại không đến mức thâm trầm nhiều u

uất như Ngô Nhân Tĩnh. Ông là sự hoà điệu của hai người bạn ông: tài hoa nhã

nhặn và ôn hoà. Trong thơ của Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh ta thấy những bài

thơ mang ý trào lộng, có khi tặng thơ cho một cô gái bán lê bên đường (Trịnh Hoài

Đức, Thời thiên khí cốc thử kinh Tín Dương Châu sơn lộ trị mại lê nữ, dư thụ dĩ chỉ

khát, nữ tiếu nhi tặng chi, nhân khẩu chiếm kỷ ngộ và trên đường về Trịnh Hoài

Đức lại muốn tìm gặp cô gái ngày trước Tín Dương Châu quy trình sở phỏng bất

ngộ), có khi làm thơ tự vịnh (Trịnh Hoài Đức, Tự trào), có khi làm thơ đùa cảnh

ngộ cô đơn trên đường đi sứ (Ngô Nhân Tĩnh, Hý thuật, Đáp hý thuật…), nhưng

ngược lại, Lê Quang Định không hề có những bài thơ như thế. Có thể nói ông là

một nhà thơ tài hoa trong một nhà nho nghiêm túc, điềm đạm.

TIỂU KẾT NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NỘI DUNG CỦA THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

Cho đến nay, tình hình tư liệu văn học Hán Nôm Nam Bộ của những tác giả

đồng thời với Gia Định tam gia hầu như bị thất lạc, điều đó khiến cho ta khó nói

chính xác về văn học Hán Nôm giai đoạn đầu ở Nam Bộ. Những sáng tác của các

nhà thơ trong Gia Định Sơn Hội không còn, thậm chí, chúng ta sẽ không thể tiếp

cận những tác phẩm của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh nếu

Trịnh Hoài Đức không biên soạn chép nhặt lại từ bạn bè và cho lưu hành.

Trước Gia Định tam gia, ở Nam Bộ có Hà Tiên thập cảnh vịnh của Tao đàn

Chiêu Anh các, Hoài cổ phú của Võ Trường Toản, Quy sơn thập vịnh của Đặng

132

Đức Thuật... Với tình hình tác phẩm ít ỏi như thế, thơ của Gia Định tam gia góp

một phần làm dày thêm lượng tác phẩm Hán Nôm trong nền văn học Hán Nôm ở

giai đoạn đầu.

Những đóng góp của Gia Định tam gia về mặt nội dung, nổi bật ở cảm hứng tự

hào, yêu mến quê hương, đất nước, về con người cần lao, những người đã kiến tạo

nên đời sống mới trên mảnh đất hoang sơ tràn ngập lau lách này. Với nội dung này,

thơ Gia Định tam gia nối tiếp mạch nguồn từ Tao đàn Chiêu Anh Các ở Nam Bộ,

đồng thời nối tiếp dòng chung của dân tộc từ thơ ca thời Lý Trần.

Từ Tao đàn Chiêu Anh các vịnh mười cảnh đẹp ở Hà Tiên, mà theo Đông Hồ,

mục đích chính của Mạc Thiên Tích là để truyền bá, giới thiệu văn hoá của một

vùng đất nước tươi đẹp Hà Tiên, đến Gia Định tam gia đặc biệt là Trịnh Hoài Đức

với chùm thơ viết về phong cảnh và con người Gia Định thì con người và cảnh sắc

của vùng đất mới của đất nước hiện lên một cách sinh động và phong phú hơn.

Trịnh Hoài Đức tuy người Minh Hương, nhưng những tình cảm, tâm sự, suy

nghĩ của ông thể hiện qua thơ đều khởi từ tâm hồn Việt Nam. Chùm thơ ông làm

trước năm 1802 tại quê nhà ca ngợi cảnh sắc và con người Nam Bộ đều mang cảm

hứng vui buồn trước hiện thực cuộc sống. Ông buồn khi quê hương bị chiến tranh

tàn phá (Thương loạn, Loạn hậu quy…), vui khi thấy người nông dân cần cù làm ăn

được mùa, cần cù khai hoang khai khẩn biến vùng đất vốn hoang vu cằn cỗi thành

những vườn ruộng xanh màu và mừng cả khi thấy cơn mưa đắp bồi phù sa… (Điền

gia thu vũ, Trấn Định xuân canh, Chu thổ sừ vân, Mỹ Tho dạ vũ…). Trên mảnh đất

Nam Bộ vừa khai hoang ấy, một cuộc sống đang lên, tiềm ẩn những nguồn lực dồi

dào, những cảnh sinh hoạt văn hoá, lao động của người dân sông nước…, nếu

không có thơ của Tam gia e sẽ thiếu cái nhìn về toàn cảnh cuộc sống ở Nam Bộ.

Ý thức về bổn phận nhà Nho, về đạo đức, tinh thần trách nhiệm đối với vua,

Tổ quốc được thể hiện trong sáng tác của Gia Định tam gia sẽ tiếp tục được thấy

trong sáng tác của những nhà Nho yêu nước giai đoạn sau như Huỳnh Mẫn Đạt,

Phan Văn Trị, Trần Thiện Chánh, Nguyễn Thông, Nguyễn Đình Chiểu… Trong thơ

Gia Định tam gia, con người trách nhiệm, phận vị, hay có thể nói con người cộng

đồng thể hiện khá nổi bật, vì thế có những nét tương đồng với Nguyễn Trãi. Bởi

trong hoàn cảnh lịch sử, tuy khác nhau về tính chất cuộc chiến tranh, nhưng có cùng

ý thức khuông phò chủ công từ những ngày đầu tiên xây dựng chính quyền quân

133

chủ phong kiến, nên trong thơ Gia Định tam gia rất nhiều nỗi băn khoăn về lòng

trung quân, về ơn tri ngộ, về lý tưởng cứu đời… mà các ông đành gác lại chuyện

nhàn ẩn rong chơi nơi sông hồ.

Như đã nói, tinh thần vì vua vì nước của các ông rất gần với Nguyễn Trãi, rất

gần với bất kỳ nhà nho chính thống nào. Đó là những quan điểm tích cực của những

bầy tôi mong chủ mình xây dựng một đất nước thăng bình như thời vua Nghiêu,

Thuấn.

Những đóng góp từ thơ Gia Định tam gia về mặt nội dung tuy không nhiều

nhưng cũng đã làm nên diện mạo nền văn học Hán Nôm Nam Bộ ở giai đoạn đầu.

Lòng yêu mến quê hương đất nước và tự hào dân tộc của Tam gia nối dài thêm

truyền thống dân tộc, mặc dù Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh gốc người Minh

Hương, nhưng trong dòng máu của các ông, sớm đã thấm đượm tinh thần Việt Nam.

Thơ Gia Định tam gia góp thêm tiếng nói ca ngợi cảnh đẹp quê hương, bên

cạnh nội dung chủ đạo bày tỏ lòng trung quân gắn với những nỗi niềm tâm sự riêng

chung để cùng hoà vào nguồn thơ của Nam Bộ và cả nước. Nhưng trong nguồn

chảy chung ấy, sẽ thấy một Trịnh Hoài Đức hào sảng mà tha thiết nặng tình với quê

hương Nam Bộ qua các sáng tác ngợi ca cảnh đẹp và đời sống mới đang lên; một

Ngô Nhân Tĩnh chất chứa nhiều tâm sự, ưu tư trong tính cách thâm trầm đạm bạc và

một Lê Quang Định đau đáu về trách nhiệm bầy tôi, về phận làm trai, làm con qua

những dòng thơ tài hoa.

134

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

3.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VÀ THỂ LOẠI

3.1.1. Thể loại

Từ việc xác định đề tài, nhà thơ bao giờ cũng lựa chọn thể loại để biểu đạt tư

tưởng tình cảm của mình một cách hiệu quả. Với mảng thơ thiên về vịnh vật, vịnh

sử, vịnh thiên nhiên… Gia Định tam gia đã chọn lối thơ sở trường để biểu đạt mảng

đề tài này đó là thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Với những ưu điểm vốn có của

nó thể thơ thất ngôn bát cú rất thích hợp trong việc miêu tả, trữ tình, tự sự hơn là

các thể thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt (dĩ nhiên là không thể

sánh với thể ngũ ngôn cổ phong trường thiên vốn nhiều ưu điểm trong việc miêu tả,

tự sự).

So với Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định, thì Trịnh Hoài Đức dùng nhiều thể

thơ để sáng tác hơn. Nếu xét 327 bài thơ chữ Hán trong Cấn Trai thi tập được Trịnh

Hoài Đức sáng tác theo thể ngũ ngôn tuyệt cú (20 bài, chiếm 6.1%), ngũ ngôn luật

(27 bài, chiếm 8.2%), thất ngôn tuyệt cú (13 bài, chiếm 4%), lục ngôn tuyệt cú (8

bài, chiếm 2.4%), ngũ ngôn cổ phong (1 bài, chiếm 0.3%) và chiếm đa số là thể thất

ngôn luật (258 bài, chiếm 79%), với Hoa Nguyên thi thảo của Lê Quang Định (có 7

bài thơ sáng tác theo thể ngũ ngôn luật trong tổng số 77 bài, chiếm 9.1%; 9 bài thất

ngôn tuyệt cú, chiếm 11.7%; và 61 bài thất ngôn luật, chiếm 79,2%) và Thập Anh

đường thi tập của Ngô Nhân Tĩnh (có 44 bài ngũ ngôn luật, chiếm 23.5%; 27 bài

thất ngôn tuyệt cú, chiếm 14.5% và 116 bài thất ngôn luật, chiếm 62%), ta thấy cả

ba tác giả đều dùng thể thất ngôn luật nhiều hơn các thể khác, hơn nữa lại chọn thể

thơ thất ngôn bát cú luật bằng để sáng tác. Điều này cho thấy, sự khuôn mẫu quy

phạm của thơ thất ngôn bát cú Đường luật hợp với phong cách của Tam gia.

135

3.1.1.1. Thể thơ Đường luật

Về thể thơ Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn bát cú,

ngũ ngôn tuyệt cú, lục ngôn tuyệt cú) chúng tôi thấy các ông thường dùng vần bằng,

rất ít bài được dùng vần trắc. Bài thơ làm theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt luật trắc vần

trắc, kiểu “cô nhạn xuất quần” của Trịnh Hoài Đức:

鬬雪委梅先 Đấu tuyết uỷ mai tiên,

擎霜留菊後 Kình sương lưu cúc hậu.

自行乎夏時 Tự hành hồ hạ thời,

長養千年藕 Trưởng dưỡng thiên niên ngẫu.

(Trịnh Hoài Đức, Liên)

(Trước nhờ mai đấu với tuyết,

Sau để cúc chống với sương.

Tự toả hương trong mùa hè,

Phải nuôi lớn ngó sen nghìn năm.)

Bài thứ hai:

重陽逢亂後 Trùng dương phùng loạn hậu,

茶當茱萸酒 Trà đáng thù du tửu.

雲棧返雞僊 Vân sạn phản kê tiên,

泉琴來鹿友 Tuyền cầm lai lộc hữu.

荷稍長白蛩 Hà sao trưởng bạch cùng,

菊瘦肥黃狗 Cúc sấu phì hoàng cẩu.

不負舊風光 Bất phụ cựu phong quang,

青山意太厚 Thanh sơn ý thái hậu.

(Trịnh Hoài Đức, Loạn hậu cửu nhật đăng Mai Khâu)

(Tiết trùng dương sau cơn loạn,

Đem trà thay chén rượu thù du.

Núi chập chùng, cánh hạc bay trở về,

Tiếng suối như đàn réo rắt, hươu nai đến làm bạn.

Sen lơ thơ, côn trùng sinh trưởng,

Cúc gầy héo, chó vàng béo tốt.

Chẳng nỡ phụ cảnh sắc xưa,

Ý của núi xanh quá sâu dày.)

136

Bài thơ này lại biểu hiện tâm trạng xót xa trước cảnh loạn lạc của đất nước.

Những hình ảnh thơ mang tính biểu tượng được tác giả đặt trong thế đối lập, đồng

thời gieo vần trắc khiến cho những uất nghẹn của thi nhân khắc hoạ sâu đậm hơn.

Nhìn thế giới trong sự đối nghịch, tác giả cảm nhận được những nghịch lý của cuộc

đời. Và sau này, chính điều ấy lại khiến giọng thơ của ông trở nên hào sảng và cởi

mở hơn, như trong bài thơ Tự trào viết sau khi đi sứ Trung Quốc về.

Ngoài hai trường hợp trên, những sáng tác thơ còn lại được làm theo vần bằng.

Đấy cũng là điểm chung đối với các nhà thơ trung đại. Thể thơ thất ngôn vần bằng

thích hợp trong việc miêu tả vịnh hoạ, giãi bày những tâm sự nhẹ nhàng, đồng thời

còn thích hợp với kiểu chơi thơ xướng hoạ. Trong thơ thiền thời Lý, rất nhiều bài

thơ làm theo vần trắc, mục đích là để “khơi gợi sự trực giác nơi đối tượng” “kích

thích óc suy nghĩ và sự trăn trở”, còn thơ thiền thời Trần lại dùng vần bằng nhiều

hơn vì “thiên về chất trữ tình” [138, tr.108-111]. Do vậy, thơ Tam gia theo cách thứ

hai, tức là dùng nhiều thể thơ vần bằng để “trữ tình thông qua vịnh cảnh vật”.

Ở Trịnh Hoài Đức, ta có thể thấy sự phóng khoáng cởi mở hơn hai người bạn

thơ trong Tam gia khi chọn thêm thể ngũ ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn cổ phong và lục

ngôn tuyệt cú để sáng tác. Mặc dù số lượng không nhiều, nhưng cũng cho thấy tinh

thần thể nghiệm trong sáng tác của Cấn Trai, đặc biệt là thể lục ngôn tuyệt cú, được

thể hiện lần đầu trong tập Quan quang với chùm thơ tạp vịnh khi đi thuyền trên

sông Hồ Nam. Ở đây, chúng tôi dành nhiều thời gian cho một thể thơ rất ít gặp: lục

ngôn tuyệt cú.

Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam rất ít tác giả dùng thể lục ngôn sáng tác thơ.

Nghiêm Vũ đời Tống, trong Thương Lang thi thoại có nói, 六言起於漢司農谷永

(Lục ngôn khởi ư Hán tư nông Cốc Vĩnh = Thể lục ngôn khởi nguồn từ Tư nông

Cốc Vĩnh thời Hán) [165]. Lý Thiện cho rằng thể lục ngôn đã có vào thời Tây Hán,

Đông Phương Sóc có làm theo thể này. Khổng Dung (153-208), Tào Phi thời Tam

Quốc cũng có làm thơ theo thể này [44, tr.884].

Thể thơ lục ngôn tuyệt cú, xuất hiện khá nhiều vào thời Đường. Theo Toàn

Đường tuyệt cú tuyển thích của Lý Trường Lộ, chúng tôi thấy Trương Thuyết (667-

730) có Vũ mã từ chùm 6 bài, theo thể lục ngôn tuyệt cú; Vương Duy (701-761) có

Điền viên lạc (còn gọi là Võng Xuyên lục ngôn) chùm 7 bài, theo thể lục ngôn tuyệt

cú; Hoàng Phủ Nhiễm (716-770) có 3 bài lục ngôn, Trương Kế cũng có một bài thơ

137

lục ngôn gửi cho Hoàng Phủ Nhiễm; Chu Phóng (?-?) có 1 bài, Cố Huống (726?-

805) 2 bài, Tiết Đào (768-831) 1 bài, Vương Kiến (766-830) cũng có 6 bài (Giang

Nam tam thai từ, chùm 4 bài và Cung trung tam thai, chùm 2 bài) viết theo thể lục

ngôn tuyệt cú khá đặc sắc [155, tr.93-98, 191-199, 301-304, 367, 369, 470, 476-

477]…

Chúng tôi đã khảo sát loại thơ lục ngôn tuyệt cú qua sáng tác của những nhà

thơ thời Đường, kết quả cho thấy, cách gieo vần, niêm luật của thơ lục ngôn cũng

tương tự như các thể thơ Đường luật khác. Tuy nhiên trong giai đoạn đầu, hình thức

thể loại này vẫn chưa thật ổn định. Trương Thuyết là tác giả có thơ lục ngôn tuyệt

cú vào hàng sớm nhất, còn Vương Duy là nhà thơ góp phần trong việc định hình thể

lục ngôn tuyệt cú.

Đào hồng phục hàm túc vũ,

Liễu lục cánh đới triêu yên.

Hoa lạc gia đồng vị tảo,

Oanh đề sơn khách do miên.

(Vương Duy, Điền viên lạc, 5)

(Đào đỏ ngậm thêm mưa tối,

Liễu xanh pha khói ban mai.

Hoa rơi trẻ nhà chưa quét,

Oanh hót khách còn ngủ say.)

Theo Lý Trường Lộ, từ sau Vương Duy, thể thơ lục ngôn đã dần đến chỗ ổn

định và hoàn thiện, thời Trung Đường là giai đoạn cao trào của thơ lục ngôn, và sau

đó chính thể thơ này lại khai mở cho thể loại từ phát triển ở đời Tống. Thế nhưng so

với các thể thơ Đường luật khác, thể lục ngôn tuyệt cú dường như ít phổ biến hơn.

Cũng trong tình trạng như vậy, ở Việt Nam, thể lục ngôn cũng xuất hiện trong thơ

thời Trần, Lê nhưng không nhiều. Xin đơn cử bài thơ của Phạm Tông Mại (Phạm

Mại):

Hồng thụ nhất khê lưu thuỷ,

Thanh sơn thiên lý tà dương.

Dục hoán biên chu quy khứ,

Thử sinh vị bốc hành tàng.

(Đề thuỷ mặc trướng tử tiểu cảnh)

138

(Cây đỏ một khe nước chảy,

Non xanh nghìn dặm bóng chênh.

Muốn gọi thuyền con trở lại,

Thân này xuất xử chưa rành.)

(Bùi Văn Nguyên dịch) [44, tr.884]

Trong thơ Nôm Hồng Đức quốc âm thi tập cũng có xuất hiện dạng thơ lục

ngôn:

Nơi gọi Bồng, nơi gọi Nhược,

Hai bên góp làm Non Nước.

Đá chồng hòn thấp hòn cao,

Sóng trục lớp sau lớp trước.

Phật hư vô, cảnh thiếu thừa,

Khách danh lợi, buồm xuôi ngược.

(Chùa Non Nước) [44, tr.885]

Nhưng Trịnh Hoài Đức có đến 8 bài lục ngôn tuyệt cú cũng là một chuyện lạ

khi mà thể thơ này ít phổ biến trong văn học Hán Nôm ở Nam Bộ.

隨風回粵商艇 Tùy phong hồi Việt / thương đĩnh,

逐水上燕使舟 Trục thủy thướng Yên / sứ chu.

迎送行人困倦 Nghênh tống / hành nhân khốn quyện,

年來雲白山頭 Niên lai / vân bạch sơn đầu.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 1)

(Xuôi theo gió, ghe người buôn về đất Lưỡng Quảng,

Ngược dòng nước, thuyền sứ lên đất Yên Kinh (Bắc Kinh).

Đưa tiễn người đi đường (vị sứ thần) mệt mỏi này,

Chỉ có mây trắng phủ đầu núi khi năm mới sang.)

Vì có sự ngắt nhịp này, các hình ảnh, ý tượng cũng được đặt liền kề nhau, tạo

sự liên tưởng đầy nhạc tính và chất thơ:

夜來舷泊煙樹 Dạ lai / huyền bạc / yên thụ,

杳渺如浮漢槎 Diểu diểu/ như phù Hán tra.

睡起濕雲風捲 Thuỵ khởi / thấp vân / phong quyển,

半天擲出山家 Bán thiên/ trịch xuất / sơn gia.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 3)

139

(Đêm xuống, thuyền đỗ, cây vương khói,

Xa xa trông như bè Hán bồng bềnh.

Ngủ dậy, đám mây ướt bị gió cuốn lên,

Lưng chừng trời, thoáng hiện nhà xóm núi.)

Rõ ràng là những hình ảnh thơ đang được bày ra trước mắt người đọc: màn

đêm buông xuống (dạ lai), thuyền ghé vào đỗ (huyền bạc), cây cối mờ khói (yên

thụ), cảnh vật mờ mờ (diểu diểu) như đi bè nơi sông trời (như phù Hán tra), thức

dậy (thuỵ khởi), chòm mây ướt (thấp vân), gió thổi đi (phong quyển), nhà ai hé lộ

(trịch xuất sơn gia) giữa lưng trời (bán thiên)… Thơ đi từng nhịp như con thuyền

đang từ từ lướt trên dòng sông và tác giả cũng được dịp quan sát mọi thứ. Quả nhiên,

Trịnh Hoài Đức chọn dùng thể thơ này khi lướt thuyền là rất hợp lý. Những bài thơ

ngắn đi từng nhịp thế này, không thích hợp cho giọng thơ triết lý, mà thích hợp cho

giọng thơ tự sự, tả cảnh. Những bài thơ còn lại chúng ta cũng thấy chung một đặc

điểm như thế, tuy tiết tấu có biến đổi chút ít:

人聚山腰成邑 Nhân tụ sơn yêu thành ấp,

客來巖麓艤航 Khách lai nham lộc nghĩ hàng.

語言人客相左 Ngữ ngôn nhân khách tương tả,

明月猶如故鄉 Minh nguyệt do như cố hương.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 5)

(Người họp ở chân núi thành làng ấp,

Khách đến đỗ thuyền ở chân đồi.

Ngôn ngữ ta với người trái nhau,

Vầng trăng sáng vẫn như ở quê hương.)

Và:

篋重近添詩草 Khiếp trọng cận thiêm thi thảo,

壺輕頻覆酒盃 Hồ khinh tần phúc tửu bôi.

江花何必問主 Giang hoa hà tất vấn chủ,

且看及時花開 Thả khán cập thời hoa khai.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 8)

1 Câu này nhắc đến ý Lý Hạ làm thơ thường cưỡi lừa đi, mang theo túi gấm, hễ làm được câu nào hay thì bỏ vào đấy, đến khi về thì soạn lại.

(Tráp nặng thêm vì gần đây thêm thơ mới, 1

140

Bầu rượu nhẹ dần vì thường rót rượu uống.

Hoa bên bờ sông chẳng cần hỏi chủ nhân,

Hoa cũng nở kịp lúc để ta xem.)

Có thể nói, Trịnh Hoài Đức như vừa tiếp tục thử nghiệm một thể thơ ít người

dùng đến: lục ngôn tuyệt cú, đồng thời như vừa góp thêm những viên gạch chắc

chắn vào nền móng của thể thơ này. Qua những sáng tác của các tác giả từ thời Hán,

Đường ở Trung Quốc đến sáng tác của các tác giả thời Trần, và Trịnh Hoài Đức

thời Nguyễn ở Việt Nam, chúng tôi thấy, với hình thức bố cục của nó, thể lục ngôn

mạnh về miêu tả cảnh vật và trữ tình, dường như tiết tấu không đủ mạnh để nghị

luận như thể thất ngôn, do đó mà cũng ít người sử dụng thể này. Tuy nhiên, nói vậy

không có ý bác bỏ những tư tưởng của tác giả thông qua việc miêu tả cảnh vật, bởi

làm thơ, ít nhiều cũng để tả cảnh ngụ tình.

3.1.1.2. Thể liên hoàn thất ngôn bát cú

Ngoài thể thơ lục ngôn tứ tuyệt, Trịnh Hoài Đức sáng tác 20 bài thơ Nôm liên

hoàn thất ngôn bát cú, tức là lấy hai, ba chữ cuối của bài này làm chữ mở đầu cho

bài thơ tiếp theo:

Vuông tròn trời đất nói không cùng,

… Chừ gặp cố nhân bày khoản khúc,

Kẻo đây thương đó, đó ngùi trông.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, 1)

Ngùi trông nên phải gắng chịu lòn,

Tháng tý ngày dần đến Úc Môn…

… Chẳng sau chẳng trước, chẳng đen mòn.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, 2)

Đen mòn sao đặng nghĩ cùng ta…

(Gặp bạn trên đường đi sứ, 3)

… Mừng thấy nước nhà nay thịnh trị,

Quân thần Nam Việt nghĩa vuông tròn.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, 20)

Về thể thơ liên hoàn, có thể nói khởi nguồn từ bài Tặng Bạch Mã vương Bưu

(gồm 7 bài ngũ ngôn cổ phong liên hoàn, diễn tả tâm trạng thương nhớ các anh em

và nỗi phẫn hận khi biết Tào Phi nghi kỵ, sát hại anh em, kể cả em ruột của Phi) của

141

Tào Tử Kiến (Tào Thực, con của Tào Tháo, một trong nhóm Kiến An thất tử) đời

Hán [157, tr.67-78]. Ở Việt Nam, Nguyễn Trãi cũng có làm theo thể thơ này, dù

mới chỉ là liên chứ chưa hoàn và theo kiểu bắc cầu, cũng được xếp vào thể liên

hoàn:

… Lâm tuyền ai rặng già làm khách,

Tài đống lương cao ắt cả dùng.

(Tùng, 1)

Đống lương tài có mấy bằng mày,

… Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày.

(Tùng, 2)

Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,

… Dành, còn để trợ dân này.

(Tùng, 3) [theo 69, tr.458].

Từ thể thơ liên hoàn ngũ ngôn cổ phong của Tào Tử Kiến ở Trung Quốc đến

lối thơ liên hoàn thất ngôn Đường luật của Nguyễn Trãi ở Việt Nam, chứng tỏ Trịnh

Hoài Đức luôn học hỏi người xưa, kế thừa và sáng tạo một lối thơ mới để diễn đạt

những cảm tình mới của riêng mình. Trịnh Hoài Đức không viết bằng chữ Hán mà

viết bằng chữ Nôm cũng là một kiểu thử nghiệm và kế thừa của riêng tác giả (bởi

ông là người Việt gốc Minh Hương).

Với lối thơ liên hoàn, mạch cảm xúc của tác giả được nối dài và tuôn chảy, tạo

cho người đọc trường cảm xúc khi dõi theo những vần thơ vừa chất chứa tâm sự của

một nhà nho, vừa mang chất giọng hào sảng của một người nghệ sĩ đa tình ở Nam

Bộ.

Thể thơ này sau đó cũng thấy Nguyễn Đình Chiểu sử dụng khi ông làm thơ

điếu Phan Tòng, người anh hùng tham gia phong trào chống Pháp (Điếu Phan Tòng)1, Phan Văn Trị, Lê Quang Chiểu cũng dùng thể thơ này để bút chiến với Tôn

Thọ Tường... [30, tr.68-70] [34, tr.77-96]. Phải chăng là sự tiếp nối một cách chơi

1 Xét, mười bài thơ điếu Phan Tòng theo thể thất ngôn bát cú liên hoàn của Nguyễn Đình Chiểu, chúng tôi thấy, câu cuối của bài thứ 10 chưa hoàn với câu đầu tiên của bài 1.

thơ xưa đồng thời lại là một thể thức chơi thơ kiểu tài tử của những nhà thơ Nam Bộ?

142

3.1.1.3. Thể ngũ ngôn cổ phong

Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh chỉ sáng tác theo các thể thơ luật, riêng

Trịnh Hoài Đức còn sáng tác theo thể ngũ ngôn cổ phong. Tuy số lượng không

nhiều nhưng từ đó cho thấy khả năng làm chủ nhiều thể loại trong sáng tác thơ của

Trịnh Hoài Đức so với hai người bạn của ông. Trong Cấn Trai thi tập chỉ có một

bài xếp ở cuối tập là Đắc báo Binh bộ thượng thư Trinh nguyên hầu Nguyễn Đăng

Hựu trí sĩ… Ngoài ra, Trịnh Hoài Đức còn một bài thơ viết tặng Hoà thượng Viên

Quang trong thời gian ông làm Hiệp tổng trấn thành Gia Định. Bài thơ này không

thấy trong Cấn Trai thi tập nhưng thấy chép trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn

ca của Nguyễn Liên Phong.

So sánh chất tự sự trong thơ của Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định ở các thể thơ

Đường luật, thì Trịnh Hoài Đức vốn đậm chất hơn. Đến thể thơ ngũ ngôn cổ phong

thì chất tự sự càng đậm hơn nữa:

世間好男兒 Thế gian hảo nam nhi

忠孝急先務 Trung hiếu cấp tiên vụ

名成即引身 Danh thành tức dẫn thân

知足辱不汙 Tri túc nhục bất ô

憶昔國中微 Ức tích quốc trung vi

西山亂南土 Tây Sơn loạn Nam thổ

四海沸如羮 Tứ hải phí như canh

三星塞其霧 Tam tinh tắc kỳ vụ

弱冠卿從戎 Nhược quán khanh tòng nhung

勤王奮貔虎 Cần vương phấn tỳ hổ…

(Trịnh Hoài Đức, Đắc đáo Binh bộ Thượng thư

Trinh nguyên hầu Nguyễn Đăng Hựu trí sĩ)

(Người nam nhi giỏi ở đời,

Lấy trung hiếu làm trước hết.

Danh thành thì liền thoái thân về ẩn,

Biết đủ thì nhục chẳng dấy vào mình.

Nhớ xưa khi nước đang cơn suy yếu,

Tây Sơn vào quấy vùng đất phương Nam.

Bốn biển loạn lạc như nước canh sôi,

143

Ba sao lớn chìm trong màn sương mù ấy.

Tuổi hai mươi anh theo việc quân,

Phò giúp vua cố ra sức hùng mạnh…)

Toàn bài thơ kể lại hành trạng của Nguyễn Đăng Hựu ở từng thời kỳ, qua đó

tái hiện bối cảnh lịch sử bấy giờ, cuối bài mới biểu lộ tình cảm luyến tiếc của mình

với Nguyễn Đăng Hựu.

Bài thơ cổ phong khác được làm khi ông gặp lại nhà sư Viên Quang sau nhiều

năm xa cách cũng nhiều chất tự sự như vậy:

我爲燒香僮 … Ngã vi thiêu hương đồng,

師作持戒士 Sư tác trì giới sĩ.

雖外分青黄 Tuy ngoại phân thanh hoàng,

若默契心志 Nhược mặc khế tâm chí.

風塵識良朋 Phong trần thức lương bằng,

世界入餓鬼 Thế giới nhập ngạ quỷ.

萍梗任浮沈 Bình ngạnh nhậm phù trầm,

泡影等生死 Bào ảnh đẳng sinh tử.

奄四十餘年 Yểm tứ thập dư niên,

恍瞬息間事 Hoảng thuấn tức gian sự…

(Trịnh Hoài Đức, Ngũ ngôn cổ điệu thi vân)

(… Ta là đứa trẻ đi dâng hương,

Sư là người giữ giới.

Tuy bề ngoài chia thành người áo xanh, người áo vàng,

Mà trong lòng tâm chí khế hợp.

Trong cõi gió bụi phong trần, quen biết bạn giỏi,

Cả cõi đời sa vào quỷ đói.

Cuộc sống như bèo củi nổi trôi,

Sống chết tựa bọt nước bóng chớp.

Bốn chục năm dài dằng dặc,

Tưởng như chuyện trong nháy mắt…)

Trịnh Hoài Đức dùng thể ngũ ngôn cổ phong sáng tác ít hơn so với các tác giả

khác cùng thời như Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm… ở Đàng Ngoài và những nhà thơ

Nam Bộ sau đó như Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông… Nhưng từ đó có thể suy

144

luận, ngoài phong cách phóng khoáng còn cho thấy khả năng sử dụng nhiều thể loại

trong sáng tác văn chương so với hai bạn ông.

3.1.1.4. Lối chơi thơ theo kiểu “hạn vận”, “bộ vận”, “thứ vận”, “nguyên

vận” và “đề vịnh liên hoàn”

Trong Cấn Trai thi tập, Hoa Nguyên thi thảo và Thập Anh thi tập, chúng tôi

thấy có nhiều bài làm theo vần (kiểu vịnh hoạ thơ người khác cũng có), có khi là kiểu “hạn vận”, có khi là “thứ vận”, “bộ vận”, “nguyên vận”1… Rõ ràng, đó cũng là

một kiểu chơi thơ của Gia Định tam gia nói riêng và khu vực Nam Bộ nói chung.

Việc làm thơ theo vần hẳn nhiên có sự hạn chế vì gò ép vần điệu, khiến tứ thơ bị

hạn chế, nhưng cũng chính vì vậy mà đôi lúc các tác giả bộc lộ được sự tài hoa, nếu

bài thơ vịnh có nhiều tứ lạ so với nguyên tác bài xướng.

Trên đường đi sứ, Trịnh Hoài Đức cùng với Ngô Nhân Tĩnh, Huỳnh Ngọc

Uẩn, Lê Quang Định, Nguyễn Địch Cát có thù đáp, hoạ thơ với nhau. Như Trịnh

Hoài Đức có bài Hoạ Phó sứ Nguyễn Địch Cát Tương Giang vãn phiếm nguyên vận,

Hoạ Thỉnh phong sứ Lê Binh bộ Tấn Trai Toàn Châu đoan ngọ, Hoạ Lê Tấn Trai

Binh bộ Thạch Cổ Sơn thư viện nguyên vận… Ngô Nhân Tĩnh với loạt bài thơ

xướng hoạ cùng với Lưu Chiếu, Trương Nẫm Khê, Hương Sơn thi xã…: Hoạ Lưu

Chiếu Bán biên cúc nguyên vận, Hoạ Trương Nẫm Khê Điếu lan nguyên vận, Hoạ

Hương Sơn thi xã Tuyết thanh nguyên vận, và hoạ thơ với Trịnh Hoài Đức: Nhâm

Tuất niên mạnh đông sứ hành do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây hoạ

Trịnh Cấn Trai thứ Lạp Ông tam thập vận (30 bài), Bộ Cấn Trai Tịnh đầu cúc

nguyên vận… Lê Quang Định cũng làm theo thể thức trên, bộ vận theo thơ của

Nguyễn Địch Cát, của Trịnh Hoài Đức và cả nhân sĩ Trung Quốc…: Lưu biệt Bắc

Thành chư liêu hữu bộ Quỳ Giang hầu nguyên vận, Hựu thứ Cấn Trai vận, Hựu bộ

Trịnh Cấn Trai nguyên vận, Đáp tặng Vương Thiết Nhai thứ vận… Chính sự tài hoa

của các sứ thần Việt Nam đã khiến cho các nhân sĩ ở Trung Quốc mến mộ.

Tính chất thù tạc xướng hoạ thơ này có thể nói bắt nguồn ảnh hưởng nhiều từ

1 Hạn vận: sau thời Đường, trong thi cử để khảo hạch năng lực của thí sinh, quan khảo thí thường quy định dùng một bộ vần hoặc vài chữ trong bộ vần nào đó để làm thơ, gọi là hạn vận. Các nhà thơ thường dùng kiểu này để bộc lộ tài sức của mình. Thứ vận, bộ vận hay nguyên vận: kiểu làm thơ dùng vần thơ của người khác, dựa theo vần mà hoạ, đúng theo thứ tự các vần trong bài xướng.

việc thành lập các thi xã và trở thành một nét riêng của văn học Hán Nôm Nam Bộ

145

thời bấy giờ. Đồng thời còn cho thấy tính chất tài tử trong phong cách thơ của Gia

Định tam gia nói riêng và của Nam Bộ nói chung.

Không những vậy, Trịnh Hoài Đức còn làm thơ theo kiểu đề vịnh liên hoàn.

Việc làm thơ đề vịnh liên hoàn không ngoại trừ khả năng chịu ảnh hưởng của kiểu

chơi thơ ở Trung Quốc như Tiêu Tương bát cảnh của Tống Địch, rồi sang đến Hà

Tiên thập cảnh vịnh của Tao đàn Chiêu Anh Các, Quảng Ngãi thập vịnh của

Nguyễn Cư Trinh…

Nếu Hà Tiên thập cảnh vịnh của nhóm Tao đàn Chiêu Anh Các có các cặp đối

nhau như Kim dự lan đào, Bình san điệp thuý; Đông hồ ấn nguyệt, Nam phố trừng

ba… thì Gia Định tam thập cảnh phân Bội văn vận phủ vận - ca ngợi ba mươi cảnh

đẹp ở đất Gia Định theo vần trong sách Bội văn vận phủ được soạn vào đời Thanh -

của Trịnh Hoài Đức cũng có từng cặp đối nhau Gia Định kim thành, Hoa Phong cổ

luỹ; Ngưu Tân ngư địch, Lộc Động tiều ca; Mai Khâu túc hạc, Liên Chiểu miên

âu… Theo Cao Tự Thanh, Huỳnh Ngọc Uẩn - một thành viên trong Sơn hội Gia

Định - cũng chịu ảnh hưởng của thể thức đề vịnh liên hoàn này, nên vào khoảng

năm 1812, ông khởi xướng đề tài Thăng Long tam thập vịnh như Mai Dịch tuý ông,

Hoè Nhai ca nữ; La Thành trúc ổ, Võng Thị hoa điền; Trấn Quốc quy tăng, Giám

môn khoá sĩ… [36, tr.78].

Đặc biệt, mùa đông năm 1802, trên đường đi sứ, từ Quảng Đông sang Quảng

Tây (Trung Quốc) chờ gặp sứ đoàn thỉnh phong do Lê Quang Định làm chánh sứ để

cùng tiến kinh, Trịnh Hoài Đức có làm ba mươi bài thơ theo vần Lạp Ông (Đông

nguyệt do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây tỉnh, hội thỉnh phong sứ thủ lệ

tiến kinh, đạo trung ngâm đồng Ngô, Huỳnh lưỡng phó sứ thứ Lạp Ông tam thập

vận). Ba mươi bài thơ này được Ngô Nhân Tĩnh và Huỳnh Ngọc Uẩn hoạ vần (vì

điều kiện chưa cho phép chúng tôi tìm hiểu ba mươi bài thơ hoạ vận của Huỳnh

Ngọc Uẩn như thế nào, tuy nhiên vẫn có thể khẳng định Ngọc Uẩn chịu ảnh hưởng

thể thức này như Cao Tự Thanh đã nói trên). Ngô Nhân Tĩnh không những hoạ cả

ba mươi bài của Trịnh Hoài Đức, mà trên đường về Hồ Nam, ông còn theo vận làm

tiếp ba mươi bài nữa, tổng cộng có đến sáu mươi bài (Hồ Quảng quy chu đồ trung

tác tam thập vận). Kiểu làm thơ đề vịnh dài hơi này hiếm thấy ở các tác giả ở Đàng

Ngoài nhưng lại dễ tìm thấy ở Đàng Trong.

146

Trong Gia Định tam gia, Hoài Đức tính tình hào sảng phóng khoáng hơn hai

người bạn của ông, điều này được thể hiện không những ở nội dung thơ mà còn ở

sự lựa chọn thể thơ trong sáng tác. Nếu so với các nhà thơ khác cùng thời như

Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm… cũng thấy có sự khác biệt. Nguyễn Du và Ngô Thì

Nhậm (những nhà thơ đương thời) dùng nhiều thể để sáng tác, có cả phú, có nhiều

bài đoản ca, trường ca, trong khi đó Gia Định tam gia không thấy có trường hợp này.

Giữa họ còn khác biệt thêm ở chỗ: không thấy trường hợp Nguyễn Du hay Ngô Thì

Nhậm vịnh hoạ kiểu dài hơi (hoạ vần ba mươi bài) như Gia Định tam gia. Nhưng

sau Trịnh Hoài Đức, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Thông, Phạm

Phú Thứ, Nguyễn Thuật… đã bắt đầu dùng nhiều thể loại khác nhau để sáng tác.

3.1.2. Ngôn ngữ

Sáng tác của Gia Định tam gia chủ yếu vẫn là tiếng Hán, chỉ riêng Trịnh Hoài

Đức là người sáng tác thơ bằng cả hai ngôn ngữ là tiếng Hán và tiếng Nôm. Có

người ngờ rằng, Ngô Nhân Tĩnh cũng sáng tác bằng chữ Nôm, ông là tác giả bài Cổ

Gia Định phong cảnh vịnh [35, tr.244], nhưng trong bài thơ này có một số việc xảy

ra sau khi Ngô Nhân Tĩnh mất, nên khó có thể nói đây là tác phẩm của ông. Vì vậy,

không thể đưa bài Cổ Gia Định phong cảnh vịnh vào đây để bàn. Riêng với Trịnh

Hoài Đức sáng tác bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, do đó chúng tôi sẽ khảo sát thành

hai mảng: ngôn ngữ chữ Hán và ngôn ngữ chữ Nôm.

3.1.2.1. Ngôn ngữ thơ chữ Hán

Thơ Gia Định tam gia nói chung, vẫn nằm trong khuôn sáo của thơ chữ Hán

thời trung đại. Nhưng phải nhìn nhận rằng, trong Gia Định tam gia, ngôn ngữ thơ

của Trịnh Hoài Đức mang những nét riêng, khá độc đáo, bởi có sự kết hợp giữa

những từ ngữ mang tính ước lệ với từ ngữ tả thực, từ ngữ bác học với từ ngữ bình

dân. Ngôn ngữ thơ Gia Định tam gia nói chung có ba kiểu chính là: lớp từ ngữ

mang tính ước lệ, tượng trưng; lớp từ ngữ diễn đạt sự vật trực tiếp, giản dị nhưng lại

tạo ra nhiều hình ảnh khá sinh động; những từ ngữ mang yếu tố ngữ pháp hiện đại

và sự kết hợp từ ngữ khá mới mẻ. Có thể suy luận đó là kết quả của kiểu thức hội tụ

văn hoá ở Nam Bộ, đặc biệt là của những người Minh hương như Trịnh Hoài Đức

và Ngô Nhân Tĩnh, bởi đối với họ, chữ Hán vừa là một cổ ngữ vừa là một sinh ngữ.

147

3.1.2.1.1. Ngôn ngữ mang tính ước lệ, tượng trưng

Ngôn ngữ mang tính ước lệ, tượng trưng là đặc điểm thường thấy trong thơ

chữ Hán thời trung đại. Trong thơ Gia Định tam gia, lớp từ ngữ này xuất hiện khá

nhiều. Ngoài những từ mang tính thuật ngữ, khái niệm Nho giáo được các tác giả sử

dụng để chuyển tải tư tưởng, đạo đức Nho giáo như: quân thần, trung hiếu, quân tử,

trung thần, nhân, trí, tự tại… còn có những từ ngữ miêu tả thiên nhiên như: cúc,

mai, lan, trúc, tùng, vân, nguyệt, sơn, thuỷ… ít nhiều mang tính ước lệ, biểu tượng

của người quân tử, bậc trí nhân. Chúng tôi chỉ cử vài trường hợp:

Chu xa điều đệ hảo phùng quân,

舟車迢遞好逢君 香近芝闌1久不聞 Hương cận chi lan cửu bất văn.

(Lê Quang Định, Biệt Nam Ninh phân phủ)

(Thuyền xe từ xa xôi đến, may gặp được anh,

Gần với cỏ chi lan, đã lâu chẳng ngửi thấy.)

Cỏ chi cỏ lan được xem như biểu tượng của người quân tử, bởi mùi thơm của

nó thanh đạm u nhã. Ngô Nhân Tĩnh xem mai là biểu tượng của người quân tử đồng

thời ngụ ý bản thân mình. Đây là kiểu hoán dụ thường thấy trong thơ cổ:

憂天應骨瘦 Ưu thiên ưng cốt sấu,

覺世定心酸 Giác thế định tâm toan.

潔白畱人愛 Khiết bạch lưu nhân ái,

幽情欲話難 U tình dục thoại nan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hoạ Hương Sơn thi xã đối mai nguyên vận)

(Buồn lo đất trời, nên xương xẩu gầy guộc,

Biết chuyện cuộc đời, nên lòng mai chua.

Tính trong sạch, được người yêu quý,

Tấm lòng sâu kín muốn nói nhưng khó tỏ bày.)

Ngoài hoa mai hoa cúc, Trịnh Hoài Đức còn ví mình như cội tùng:

廊廟棟樑長九計 Lang miếu đống lương trường cửu kế,

良工捨我更何庸 Lương công xả ngã cánh hà dung?

(Trịnh Hoài Đức, Đông tùng)

1 Nguyên văn khắc 闌, chúng tôi cho rằng chữ 蘭 mới đúng.

(Lương đống của nước nhà, là kế lâu dài,

148

Người thợ lành nghề bỏ ta, càng ngu sao)

Núi sông, trong thơ Gia Định tam gia, ngoài tư cách là phong cảnh thiên nhiên,

còn là biểu tượng của đức nhân và trí, theo tinh thần Nho gia:

水無凝滯長懷智 Thuỷ vô ngưng trệ trường hoài trí,

山不遷移靜養仁 Sơn bất thiên di tĩnh dưỡng nhân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 11)

(Nước chẳng ngừng trôi, luôn mong trí,

Núi chẳng đổi dời, lặng dưỡng nhân.)

Còn với Trịnh Hoài Đức, bậc nhân hay bậc trí vui với núi hay với sông cũng

đều giống nhau:

順逆好風牛異馬

智仁樂處水如山 Thuận nghịch hảo phong ngưu dị mã, Trí nhân nhạo xứ thuỷ như sơn.1

(Trịnh Hoài Đức, Sơn đồn đáp Binh bộ Hữu tham tri

Lê Quang Định kiêm Thuỷ tào ký uỷ)

(Gió mát thổi xuôi hay ngược, trâu khác với ngựa,

Chỗ vui của bậc nhân và trí, sông nước cũng như núi non)

Những nhà Nho sáng tác thơ chủ yếu bằng Hán văn, hẳn nhiên không thể tránh

khỏi việc sử dụng những từ ngữ mang tính ước lệ, biểu tượng. Ngoài ra, hệ thống

điển cố, thi liệu Hán học được sử dụng trong thơ Gia Định tam gia cũng tạo nên lớp

từ ngữ đầy tính ước lệ, tượng trưng.

Điển cố, thi liệu Hán học, về cơ bản nó vẫn là hình thái ngôn ngữ gián tiếp,

bởi nó không thông báo nội dung một cách trực tiếp mà phải thông qua một sự giải

mã. Để giải mã những điển cố, thi liệu Hán học, người đọc phải có một vốn liếng

kiến thức nhất định để phát hiện và giải mã. Thông qua việc giải các mã văn hoá

này, người đọc nhận được nội dung mà tác giả cần thông báo. Vì vậy, việc sử dụng

điển cố trong thơ khiến cho thơ mang tính hàm súc, trang nhã và thể hiện trình độ

1 Câu này xuất từ ý câu trong Luận ngữ: “nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thuỷ” (người nhân vui cảnh núi, người trí vui cảnh nước), ở đây Trịnh Hoài Đức muốn nói chỗ vui vẻ của người nhân hay người trí đều giống nhau không khác.

uyên thâm của tác giả. Tuy nhiên, quá lạm dụng sử dụng điển cố có khi dẫn đến kết

149

quả thơ trở nên khó hiểu, mà quan trọng là ít mang sắc thái tình cảm riêng của tác

giả.

Trong thơ Gia Định tam gia sử dụng khá nhiều điển cố và thi liệu Hán học.

Chúng tôi đơn cử vài trường hợp được sử dụng từ hai lần trở lên: tam khúc kính,

Đào hoa… :chỉ hoa cúc của Đào Tiềm người đời Tấn; Phùng Sinh giáp, đàn giáp:

chỉ chuyện Phùng Huyên làm khách ở nhà Mạnh Thường Quân; Trang điệp, Trang

mộng: chỉ giấc mơ hoá bướm của Trang Tử; Đào Chu, Phạm Tử chu: chỉ chuyện

Phạm Lãi rong chơi Ngũ hồ hoặc làm nghề buôn bán; Vu Sơn: chỉ chuyện Vu Sơn

thần nữ hầu chăn gối cho Sở Vương; bán diện tương phùng: chỉ câu chuyện Ứng

Phụng đi thăm Viên Hạ gặp người đóng xe trong nhà Viên Hạ… Sự kết hợp lớp từ

ngữ mang tính thuật ngữ, khái niệm của Nho gia với lớp từ ngữ dưới dạng điển cố,

thi liệu Hán học trong thơ khiến thơ Gia Định tam gia hàm súc, nghiêm túc, bác

học.

Chỉ riêng trong hai phần đầu Thoái thực truy biên và Quan quang trong Cấn

Trai thi tập của Trịnh Hoài Đức đã có gần 300 điển cố trong 279 bài, khoảng 93%,

còn trong Hoa Nguyên thi thảo số điển cố được dùng khoảng 25 bài, chiếm 33,3%

(25/75), và trong Thập Anh thi tập là 52 bài, chiếm 28,5% (52/182) (chúng tôi tính

luôn những điển cố trùng lắp, nhưng được gọi tên khác nhau). Từ số liệu này cho

thấy thơ Trịnh Hoài Đức hàm súc khó hiểu hơn thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê

Quang Định. Thơ của Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh vì ít dùng điển cố nên

ngôn ngữ giản dị hơn, do vậy cũng dễ hiểu hơn thơ Trịnh Hoài Đức đối với độc giả

ngày nay.

Bên cạnh những bài thơ chính thống được viết bằng chữ Hán (khắc in trong

Cấn Trai thi tập), Trịnh Hoài Đức còn có một bộ phận thơ viết bằng chữ Nôm lưu

truyền ngoài dân gian lại chứng minh tính bình dân và tính dân tộc, đồng thời thể

hiện lòng yêu mến tiếng Việt của Trịnh Hoài Đức.

3.1.2.1.2. Ngôn ngữ diễn đạt sự vật trực tiếp

Viết nhiều về thiên nhiên, về cuộc sống của người dân vốn rất đa dạng và

phong phú, ngôn ngữ thơ của Gia Định tam gia trong chừng mực nào đó cũng mang

nhiều hình ảnh, màu sắc và âm thanh. Bên cạnh lớp từ ngữ mang nhiều yếu tố ước

lệ tượng trưng để có thể trong một số chữ nhất định (theo những quy luật của thể

thơ Đường luật) vẫn nói được nhiều tầng ý nghĩa nhằm biểu đạt tư tưởng tình cảm,

150

các tác giả Gia Định tam gia vẫn có những cố gắng vận dụng linh hoạt lớp từ ngữ

diễn đạt sự vật trực tiếp, tạo nên nét sống động và tươi tắn cho thơ.

Ở thơ Trịnh Hoài Đức, lớp từ ngữ này thể hiện rõ nhất trong những bài viết về

quê hương Nam Bộ, ca ngợi cảnh sắc và con người cần lao trên vùng đất mới đang

vươn mình trở dậy.

Một số bài thơ của Trịnh Hoài Đức đã được trích dẫn ở trên phần nào minh

chứng cho những điều chúng tôi đề cập ở đây. Có thể dẫn thêm vài bài để thấy rõ

hơn. Bài Ngưu Tân ngư địch (Tiếng sáo chài trên Bến Nghé) chủ yếu diễn tả về

tiếng sáo của người chài cá giữa khung cảnh yên bình trên dòng Bến Nghé, làm

khách nghe bồi hồi:

漏滴譙樓玉露團 Lậu trích tiều lâu ngọc lộ đoàn,

悠颺漁笛遶雲端 Du dương ngư địch nhiễu vân đoan.

風吹楊柳三江靜 Phong xuy dương liễu Tam Giang tĩnh,

月逬梅花五夜寒 Nguyệt bính mai hoa ngũ dạ hàn.

調急宦情增慷慨 Điệu cấp hoạn tình tăng khảng khái,

聲淒侶夢幾盤桓 Thanh thê lữ mộng kỷ bàn hoàn.

煙波淡蕩龍吟歇 Yên ba đạm đãng long ngâm yết,

長占秋宵下釣竿 Trường chiếm thu tiêu há điếu can.

(Trịnh Hoài Đức, Ngưu Tân ngư địch)

(Sương như giọt ngọc rơi từng giọt trên tháp canh,

Tiếng sáo chài du dương vút lên tầng mây.

Gió thổi rặng liễu, dòng Tam Giang vắng lặng,

Trăng chiếu hoa mai, năm canh lạnh lùng.

Điệu sáo gấp gáp khiến nỗi niềm người làm quan thêm khảng khái,

Tiếng thê lương làm giấc mộng khách mấy phen bồi hồi.

Khói sóng quyện toả, khúc sáo ngưng bặt,

Đêm thu dằng dặc, buông cần câu.)

Bài thơ đủ hình ảnh, sắc màu, âm thanh và cảm giác. Bờ liễu xa xa, chỉ thấy

gió lay là đà. Trong đêm, dòng sông cũng yên vắng, ngoài tiếng sáo còn có tiếng

sương rơi, tiếng giọt nước đồng hồ - âm thanh của thời gian. Tiếng sáo kia chính là

một dạng khác của bài ca lao động, là tiếng vọng của cuộc sống bình yên (ngư địch

= sáo chài).

151

Hoặc khi nói đến Vũng Gấm ở vùng đất Biên Hoà, nơi được mệnh danh là “dữ

như cá sấu Vũng Gấm”, Trịnh Hoài Đức với từ ngữ giản dị đã tái hiện đầy đủ dáng

vẻ của một dòng nước bằng phẳng nhưng đầy hiểm nguy:

迴瀾萬頃濁如泔 Hồi lan vạn khoảnh trọc như cam,

演派分支自錦潭 Diễn phái phân chi tự Cẩm Đàm.

小瀆蟹行流別七 Tiểu độc giải hành lưu biệt thất,

長江鰐引水叉三 Trường giang ngạc dẫn thuỷ xoa tam.

潮平易誤舟來往 Triều bình dị ngộ chu lai vãng,

樹翳頻封路北南 Thụ ế tần phong lộ bắc nam.

過客戒途瞻日昃 Quá khách giới đồ chiêm nhật trắc,

卸帆戍寨睡初酣 Tá phàm thú trại thuỵ sơ hàm.

(Trịnh Hoài Đức, Cẩm Đàm phân phái)

(Sóng xoáy vòng, vạn khoảnh đục như nước vo gạo,

Từ Vũng Gấm các dòng nhánh chia ra khắp nơi.

Mương nhỏ, cua bò ra bảy nhánh,

Sông dài, sấu lội giữa dòng nước chia ba.

Nước triều lên, mặt sông phẳng, thuyền qua lại dễ lầm là yên ổn,

Cây cối rậm rạp che kín cả lối bắc nam.

Người khách qua đường cẩn thận dò đường, đoán bóng mặt trời mà đi,

Bỏ buồm qua trại lính, giấc mới say.)

Hay khi tả cảnh Bãi Ngao (Cồn Ngao):

鰲洲際海接侯圻 Ngao Châu tế hải tiếp hầu kỳ,

瀲灩江邨入翠微 Liễm diễm giang thôn nhập thuý vi.

網晒柳隄漁晼晚 Võng sái liễu đê ngư uyển vãn,

竿收葦岸釣斜暉 Can thu vi ngạn điếu tà huy.

(Trịnh Hoài Đức, Ngao Châu mộ cảnh)

(Bãi Ngao giáp biển, tiếp nối với vùng đất đẹp,

Làng bên bờ sông nước rạt rào, hút vào bầu trời xanh.

Mẻ lưới phơi trên bờ liễu, chài bóng chiều,

Cần câu dựng ở bờ lau, câu mặt trời tà.)

152

Ngôn ngữ thơ Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh mặc dù giản dị nhưng giàu

hình ảnh, vì thế Nguyễn Du từng điểm bình rất tốt về thơ Lê Quang Định và khen

tài thơ Ngô Nhân Tĩnh.

Với Lê Quang Định, bài thơ được dẫn sau đây, Nguyễn Du đã hạ bút bình: 隨

筆直寫勁健無匹 “Tuỳ bút trực tả, kính kiện vô sất” (ý tứ cứ theo bút mà tuôn ra,

cứng cáp mà không rơi vào chỗ tầm thường):

岸掛殘紅隱約明 Ngạn quải tàn hồng ẩn ước minh,

沿流十里水波平 Diên lưu thập lý thuỷ ba bình.

桅分樹影歸鴉散 Chi phân thụ ảnh quy nha tán,

燈照沙堆宿鷺驚 Đăng chiếu sa đôi túc lộ kinh.

燠氣漸開光使節 Úc khí tạm khai quang sứ tiết,

時煙半合遶州城 Tình yên bán hợp nhiễu châu thành.

一聲號砲千岩寂 Nhất thanh hiệu pháo thiên nham tịch,

驚入豬山塘口兵 Kinh nhập Trư Sơn đường khẩu binh.

(Lê Quang Định, Trư Sơn Đường vãn bạc)

(Bờ núi treo mặt trời đỏ le lói những tia nắng cuối ngày,

Dòng nước trôi suốt mười dặm không có sóng trào.

Chèo rẽ bóng cây, bầy quạ bay về tán loạn,

Ánh đèn chiếu bãi cát, bầy cò trú đêm kinh sợ.

Hơi nóng dần tan, quang rạng cờ sứ,

Khói mây nửa hợp, vương vít trên thành quách.

Một tiếng pháo hiệu, ngàn núi thêm yên ắng,

Làm kinh động đoàn quân vào giữa gò Trư Sơn.)

Khung cảnh gò bến Trư Sơn về chiều được Lê Quang Định miêu tả hết sức

sinh động và chân thật. Tiếng pháo báo hiệu nơi gò bến Trư Sơn ở cuối bài thơ

khiến đoàn quân vào bến giật mình tưởng sẽ làm bài thơ mất đi thi vị, nhưng ngược

lại, nó khiến bài thơ sống hơn. Không chỉ có bầy quạ tán loạn, đàn cò lố nhố kinh

hoảng vì mái chèo, vì ánh đèn của con người; mà cả con người cũng giật mình khi

nghe tiếng pháo hiệu của con người. Thế nên Nguyễn Du mới nói là “ý tứ cứ theo

bút mà tuôn ra, cứng cáp mà không rơi vào chỗ tầm thường”.

Qua bến Ngũ Hiểm, ông đã ghi lại sự nguy hiểm của bến nước:

狂瀾烟逐鮫宮散 Cuồng lan yên trục giao cung tán,

153

雪浪花分鴈影迷 Tuyết lãng hoa phân nhạn ảnh mê.

廵檢新臺風陣陣 Tuần kiểm tân đài phong trận trận,

伏波古廟草萋萋 Phục Ba cổ miếu thảo thê thê.

(Lê Quang Định, Quá Ngũ Hiểm than)

(Sóng cuồng khói xua tan cung giao,

Hoa sóng hoa tuyết mờ mịt, bóng nhạn lạc đường.

Trên đài kiểm tra gió lùa từng trận,

Trước miếu Phục Ba cỏ mọc xanh rờn.)

Nguyễn Du đọc xong bài thơ phải hạ bút bình rằng: 眼前真景不在搜索

“Nhãn tiền chân cảnh, bất tại sưu sách” (Cảnh thật như bày trước mắt, chẳng cần

phải tìm đâu), đủ thấy ngôn ngữ trong thơ Lê Quang Định rất giản dị mà sinh động.

Khi qua sông Hô Đà ở Trung Quốc, Lê Quang Định đã ghi lại cảnh tình khi ấy:

晴望恆山灝氣凝 Tình vọng Hằng sơn hạo khí ngưng,

滹沱晚過碧波澄 Hô Đà vãn quá bích ba trừng.

平沙鴈去秋聲落 Bình sa nhạn khứ thu thanh lạc,

古渡人歸翠影凌

岸口煙餘然漢火 Cổ độ nhân quy thuý ảnh lăng. Ngạn khẩu yên dư nhiên Hán hoả,1

江心澌解濟師冰 Giang tâm tư giải tế sư băng.

經過此地將誰訪 Kinh qua thử địa tương thuỳ phỏng,

泛泛漁舟月一泓 Phiếm phiếm ngư chu nguyệt nhất hoằng.

(Lê Quang Định, Độ Hô Đà hà tác)

(Trời quang nhìn núi Hằng sơn sương trắng ngưng đọng,

Chiều qua sông Hô Đà, sóng xanh lặng lẽ.

Bãi cát bằng, chim nhạn bay đi, tiếng thu rơi,

Bến cũ người về, bóng xanh hắt lên.

Nơi cửa bờ khói thừa bay lên, như khói báo hiệu ở vùng biên giới,

Lòng sông đang tiết băng tan, như quân tiếp viện.

Ngang qua vùng đất này muốn hỏi thăm ai đó,

1 Hán hoả: lửa báo hiệu, đời Hán, có đốt lửa báo hiệu ở vùng biên giới. Về sau mượn dùng để chỉ vùng biên cương.

Thuyền chài trôi trong dòng trăng.)

154

Rất nhiều bài thơ trong sáng tác của Ngô Nhân Tĩnh viết theo phong cách giản

dị của thơ Đường:

冬愛梅庭對雪天 Đông ái mai đình đối tuyết thiên,

漫漫世界玉山川 Man man thế giới ngọc sơn xuyên.

呼童酌酒十分滿 Hô đồng chước tửu thập phân mãn,

六出花飛慶瑞年 Lục xuất hoa phi khánh thuỵ niên.

(Ngô Nhân Tĩnh, Thuyết ái tình)

(Mùa đông thích giữa sân mai trước trời tuyết,

Thế giới bao la, sông núi như ngọc.

Gọi trẻ rót rượu cho thật đầy,

Hoa nở sáu cánh bay, mừng năm thái bình.)

Ngôn từ giản dị, hình ảnh sống động. Tuy cảnh sắc có chút ước lệ nhưng hình

ảnh trong thơ của Ngô cũng đẹp như “thế giới đông nên ngọc một bầu” trong thơ

Nguyễn Trãi.

綺窻夜掩朔風嚴 Ỷ song dạ yểm sóc phong nghiêm,

天外寒雲細雨添 Thiên ngoại hàn vân tế vũ thiêm.

滾滾江流千里遠 Cổn cổn giang lưu thiên lý viễn,

蕭蕭木落萬情兼 Tiêu tiêu mộc lạc vạn tình kiêm.

幾回夢裡鄉關近 Kỷ hồi mộng lý hương quan cận,

依舊舟中日月淹 Y cựu chu trung ngật nguyệt yêm…

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông…, 29)

(Song lụa trời đêm che gió bấc lạnh,

Ngoài trời xa mây lạnh, thêm mưa phùn.

Sông chảy cuồn cuộn trôi xa ngàn dặm,

Lá rơi xào xạc, vạn mối tình nhân đôi.

Mấy lần trong mộng thấy đã đến gần quê hương,

Nhưng ta vẫn ở trong thuyền như cũ, ngày tháng mịt mù… )

Thơ Ngô Nhân Tĩnh có sự kết hợp khá hài hoà giữa lớp từ ước lệ, tượng trưng

với lớp từ diễn đạt sự vật trực tiếp, nên thơ ông vừa điển nhã vừa mộc mạc.

Ngôn ngữ thơ Ngô Nhân Tĩnh tự nhiên điêu luyện, đúng như lời của Nguyễn

Du khi nói về tài năng thơ văn của Ngô Nhân Tĩnh: “Bát đại kỳ văn hoa lưỡng quốc,

155

Nhất xa cao vũ nhuận toàn Hoan” (Tám bậc văn tài đẹp hai nước, một xe mưa móc

nhuần châu Hoan) (Nguyễn Du, Tống Ngô Nhữ Sơn công xuất trấn Nghệ An)…

Rất nhiều bài thơ Ngô Nhân Tĩnh viết với phong cách ngôn ngữ này, do đó,

thơ Ngô Nhân Tĩnh với bạn đọc ngày nay dễ tiếp cận hơn thơ của Trịnh Hoài Đức.

吾人渾若鴈 Ngô nhân hồn nhược nhạn,

南北共飛鳴 Nam bắc cộng phi minh.

先後分賓主 Tiên hậu phân tân chủ,

栖遲憶弟兄 Thê trì ức đệ huynh.

溶溶明月院 Dung dung minh nguyệt viện,

漠漠暮雲城 Mạc mạc mộ vân thành.

萬里同爲客 Vạn lý đồng vi khách,

天涯一片情 Thiên nhai nhất phiến tình.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 9)

(Bọn ta như cánh nhạn,

Cùng bay từ nam lên bắc, cất tiếng kêu vang.

Kẻ đi trước người đi sau chia thành chủ, khách, Kẻ trì trệ nơi đất khách thì nhớ anh em.1

Bóng trăng vành vạnh sáng đầy sân,

Mây chiều mờ mịt phủ trên thành.

Vạn dặm cùng làm khách,

Nơi chân trời một tấm chân tình.)

Nếu Nguyễn Khuyến được Xuân Diệu gọi là nhà thơ của làng cảnh nông thôn

miền Bắc, thì Trịnh Hoài Đức cũng có thể gọi là nhà thơ của cảnh sắc phương Nam

trong thời kỳ đầu (sau nhóm Tao đàn Chiêu Anh các). Giáo sư Huỳnh Lý cũng từng

nhận xét thơ Trịnh Hoài Đức nói riêng và thơ Tam gia nói chung đặc biệt dòng thơ

miêu tả cảnh sắc thiên nhiên và cảnh sinh hoạt của người dân Nam Bộ bấy giờ là

những đóng góp có giá trị của các ông trong nguồn thơ chung dân tộc [72, tr.29-30].

Với lớp từ ngữ giản dị, diễn tả sự vật trực tiếp, không thông qua hình ảnh biểu

1 Ở đây, Ngô Nhân Tĩnh muốn nói đến việc sứ đoàn của ông cùng Trịnh Hoài Đức đi sứ sang Trung Quốc trước, sứ đoàn thỉnh phong do Lê Quang Định dẫn đầu đi sau; sứ đoàn của ông phải dừng lại mấy tháng chờ sứ đoàn của Lê Quang Định đến rồi mới cùng tiến kinh, vì vậy mới nói kẻ đến trước thì làm chủ đón người đến sau.

tượng ước lệ, cảnh sắc và tâm tình hiện lên chân thật, rõ nét hơn. Dường như những

156

bài thơ hay, rộn ràng âm thanh và hình ảnh của các ông đều là những bài thơ được

làm với từ ngữ chất phác, nhưng giàu sức gợi tả.

Một loạt bài thơ vịnh cảnh vật sông nước miền Nam của Trịnh Hoài Đức,

không những chứng tỏ ông là người gắn bó và yêu mến quê hương, mà về mặt nghệ

thuật, còn cho thấy sự vận dụng ngôn ngữ chữ Hán để vịnh những sự vật rất đỗi

thân thuộc với người dân Nam Bộ như cây nam mai, cây bần, cây cau, cây xoài, cây

mít, trái thơm, mãng cầu, trái khế, cây me… một cách nhuần nhuyễn.

Thơ Trịnh Hoài Đức đầy hình ảnh và âm thanh, tràn ngập những hoạt động

của thiên nhiên và con người; thơ Ngô Nhân Tĩnh tuy cũng giàu hình ảnh, có chút

phóng dật nhưng thâm trầm; thơ Lê Quang Định hài hoà giữa tình và cảnh, giữa thi

và hoạ, đặc biệt là chùm thơ tả cảnh của ông.

Chúng tôi thử khảo sát tần số xuất hiện của một số tính từ và động từ trong

279 bài thơ (hai phần đầu của Cấn Trai thi tập) của Trịnh Hoài Đức, 182 bài thơ

của Ngô Nhân Tĩnh và trong 75 bài thơ của Lê Quang Định, kết quả như sau:

Từ ngữ Thơ Ngô Nhân Tĩnh Thơ Lê Quang Thơ Trịnh Hoài

(số lần xuất hiện và Định Đức

tỷ lệ %) (số lần xuất hiện (số lần xuất hiện và

và tỷ lệ %) tỷ lệ %)

Sầu 愁 30 (16.48%) 0 (0%) 16 (5.7%)

Tư 思 28 (15.38%) 8 (10.66%) 23 (8.3%)

Ức 憶 18 (9.89%) 2 (2.66%) 6 (2.16%)

Mộng 夢 37 (20.32%) 19 (25.33%) 43 (15.41%)

Hoan 歡 4 (2.1%) 1 (1.33%) 8 (2.86%)

Quy 歸 35 (19.23%) 15 (20.00%) 39 (13.97%)

Qua tần số và tỷ lệ % xuất hiện của những từ sầu, tư, ức, mộng, hoan, quy…

trong thơ của mỗi tác giả, có thể suy đoán: thơ Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định

mang sắc thái lạc quan, hướng ngoại nhiều hơn hướng nội, còn thơ Ngô Nhân Tĩnh

lại mang sắc thái lo âu hướng nội có lẽ xuất phát từ một người sống khá nội tâm. Do

đó, thơ Ngô Nhân Tĩnh tĩnh lặng, thâm trầm mà thơ Trịnh Hoài Đức thì vận động,

sôi nổi, thơ Lê Quang Định là sự kết hợp dung hoà giữa hai người bạn ông: bình

đạm, thanh nhã.

157

3.1.2.1.3. Ngôn ngữ mang tính bạch thoại

Khảo sát trong thơ của Gia Định tam gia, chúng tôi thấy, dù chưa nhiều nhưng

cũng đã xuất hiện những từ ngữ bạch thoại như “dã” thay cho “diệc”, “đô” thay

cho “giai”, và đặc biệt là “thúc” thay cho “bãi” hoặc “tận”, chữ “na” “ná” (đó, ấy,

nào) thay cho “đương” “hà”…

Ở Trung Quốc, đời Đường, thơ bắt đầu mang sắc thái khẩu ngữ, bạch thoại từ

ngữ trong sáng dễ hiểu. Thế nhưng, chủ yếu vẫn là “na” (nghĩa là nào, ấy), còn chữ

“dã” chúng tôi chưa tìm thấy sự xuất hiện của nó với nghĩa “cũng” như ngôn ngữ

bạch thoại (Hán hiện đại) khi khảo sát thơ Đường.

Thơ thời Trần, đã xuất hiện một số từ mang tính khẩu ngữ như Phạm Văn

Khoái từng chỉ ra trong bài viết của ông [148, tr.869-904], điều đó cho thấy xu

hướng hỗn dung ngôn ngữ bạch thoại và ngôn ngữ văn ngôn vào trong ngôn ngữ

thơ đã có từ trước.

Thơ của Gia Định tam gia cũng nằm trong nguồn mạch ấy, ngoài lớp từ biểu

đạt khái niệm thuật ngữ, ước lệ tượng trưng và lớp từ ngữ diễn đạt sự vật trực tiếp,

ta cũng thấy có sự xuất hiện của những từ ngữ bạch thoại xuất hiện vào thời kỳ sau:

耆英也識天垂眷 Kỳ anh dã thức thiên thuỳ quyến,

爲報今宵應夢熊 Vị báo kim tiêu ứng mộng hùng.

(Trịnh Hoài Đức, Hạ Lễ bộ Nguyễn Hồng Đô tái thú)

(Bậc lão tài cũng biết trời rủ lòng thương xót,

Hẳn vì ông, báo điềm sinh con trai trong đêm nay.)

Những câu sau chúng tôi đã trích ở trên nên không dịch nghĩa tránh rườm rà:

學究也知風可借 Học cứu dã tri phong khả tá,

運移無柰力難囘 Vận di vô nại lực nan hồi.

(Trịnh Hoài Đức, Tế phong đài)

也知有命當微服 Dã tri hữu mệnh đương vi phục,

只爲求仁且屈身 Chỉ vị cầu nhân thả khuất thân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Trần Tuấn, Hà Bình Xích Hạ chu trung tạp vịnh)

也愛芳心吐未全 Dã ái phương tâm thổ vị toàn.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hoạ Lưu Chiếu bán biên cúc nguyên vận)

文獻也知吾國寶 Văn hiến dã tri ngô quốc bảo,

將從何處不逢迎 Tương tùng hà xứ bất phùng nghênh?

158

(Lê Quang Định, Nam Ninh ký thắng, Hựu)

難假桑蓬供爼豆 Nan giả tang bồng cung trở đậu,

也應悔作好男兒 Dã ưng hối tác hảo nam nhi.

(Lê Quang Định, Đồ trung từ thân huý nhật cảm hoài)

寧靜也知僊不遠 Ninh tĩnh dã tri tiên bất viễn,

何須借枕臥盧生 Hà tu tá chẩm ngoạ Lư sinh.

(Lê Quang Định, Quá Hàm Đan Lữ tiên ông từ)

Trường hợp chữ “đô”, chỉ thấy xuất hiện một lần với nghĩa đều trong thơ

Trịnh Hoài Đức:

爲愛清新調 Vị ái thanh tân điệu,

都忘遲暮論 Đô vong trì mộ luân (luận).

(Trịnh Hoài Đức, Phỏng Bùi Độn Am tịch thiên mê lộ khẩu chiếm)

Với trường hợp chữ “thúc” nghĩa là xong, hết, cũng thấy xuất hiện trong thơ

Trịnh Hoài Đức, không thấy trong thơ của các tác giả khác, kể cả thơ thời Đường:

美人妝束耀星文 “Mỹ nhân trang thúc diệu tinh văn” (Người đẹp trang điểm

xong, vẻ đẹp như sao sáng) (Bách giản quần); 粧束佳人向鏡臺 “Trang thúc giai

nhân hướng kính đài” (Trang điểm xong người đẹp soi mình trước gương) (Mại hoa thanh); 粧束佳人趁綠陰 “Trang thúc giai nhân sấn lục âm” (Trang điểm xong,

người đẹp đến bên bóng cây xanh) (Hán Dương phủ huyện nhị mạc tân Nguỵ Kim

nhị ký thất các tương hoạ phiến khẩn dư đề vịnh…, 2)…

Cả ba trường hợp đều dùng trong ngữ cảnh người đẹp trang điểm xong, đây là

một cách dùng chữ khá lạ khá riêng của Trịnh Hoài Đức, ông không dùng “trang

bãi” hay “độc bãi” thường thấy trong thơ Đường:

妝 罷 低 聲 問 夫 婿 Trang bãi đê thanh vấn phu tế,

畫 眉 深 淺 入 時 無 Hoạ my thâm thiển nhập thời vô?

(Chu Khánh Dư, Cận thí thướng Trương Thuỷ bộ)

(Điểm trang xong hỏi nhỏ chồng:

Nét mày đậm nhạt hợp không, hả chàng?)

羊 公 碑 字 在 Dương công bi tự tại,

讀 罷 淚 沾 襟 Độc bãi lệ triêm khâm.

(Mạnh Hạo Nhiên, Dữ chư tử đăng Hiện Sơn)

(Dương công chữ vẫn in bia,

159

Đọc xong lệ ướt đầm đìa áo ai.)

Với trường hợp chữ 那 “na”, cũng được tác giả sử dụng khá nhiều với nghĩa:

đó, ấy, nào… thay vì trong văn ngôn cổ phải dùng chữ tư, kỳ, bỉ, đương, hà…

“Na” là ấy, kia, đó… dùng thay cho tư, kỳ, bỉ, đương:

煉石那時氣得真 “Luyện thạch na thời khí đắc chân” (Lúc thời luyện đá vá

trời (hỗn mang), mới được cái gọi là chân khí) (Thu dạ đồng cố nhân thoại cựu bộ

cổ vận).

此身未醒風流夢 Thử thân vị tỉnh phong lưu mộng,

那日終諧火棗緣 Na nhật chung hài hoả táo duyên.

(Trịnh Hoài Đức, Lặc thạch đề Hàm Đan Lữ tiên từ

hoàng lương chân tích)

(Kiếp này chưa tỉnh giấc mộng phong lưu,

Ngày ấy cái duyên ăn quả tiên rốt cuộc vẫn không xong.)

“Vô ná” chính là “vô nại hà”: 客 愁 無 那 值 長 年 “Khách sầu vô ná trị trường niên” (Khách buồn chẳng

biết thế nào, năm tháng đằng đẵng) (Việt Tây sứ quán nhuận nhị nguyệt khẩu

chiếm).

“Na” còn có nghĩa là nào, đâu thay cho “hà”:

久作他鄉客 Cửu tác tha hương khách,

那堪折柳聲 Na kham chiết liễu thanh.

(Trịnh Hoài Đức, Văn địch)

(Đã lâu ngày làm khách nơi quê người,

Đâu chịu nổi tiếng sáo thổi điệu chiết liễu.)

國香只許騷人賞 Quốc hương chỉ hứa tao nhân thưởng,

玉珮那容粉蝶汙 Ngọc bội na dung phấn điệp ô.

(Trịnh Hoài Đức, Hán Dương phủ huyện nhị mạc tân Nguỵ

Kim nhị ký thất các tương hoạ phiến khẩn dư đề vịnh,…)

(Người quốc sắc thiên hương chỉ dành cho bậc tao nhân thưởng thức,

Ngọc bội nào chịu để lũ ong bướm làm hoen ố.)

Trong thơ Ngô Nhân Tĩnh có đến sáu trường hợp dùng chữ “na”, tất cả sáu

trường hợp đều có với nghĩa là nào, đâu như “na kham” (3 lần), “na năng” (2 lần),

“na đắc” (1 lần):

160

那堪遠塞雁啼聲 Na kham viễn tái nhạn đề thanh.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đồng Hà Bình đề hoài Thi Thế Lộc)

(Nào chịu nổi tiếng nhạn kêu ở miền ải xa xa.)

端溪不有名千古 Đoan khê bất hữu danh thiên cổ,

片石那能值萬金 Phiến thạch na năng trị vạn câm (kim).

(Ngô Nhân Tĩnh, Mãi thạch nghiên)

(Nếu Đoan Khê không có tiếng tăm ngàn thuở nay,

Thì phiến đá này đâu trị giá ngàn vàng.)

Khảo sát trong 400 bài thơ Đường (Lê Anh Minh sưu tuyển, tài liệu điện tử cá

nhân) của các tác giả lớn thời Đường, chúng tôi thấy có 8 trường hợp dùng chữ “na”,

trong đó, “na kham” (nào chịu nổi, đâu chịu nổi) 3 lần, “na”, “vô na” (không biết

làm thế nào), “na văn” (nào nghe, đâu nghe) 2 lần, “na tùng” (nào phải từ, từ đâu), dễ thấy rằng cả 8 lần xuất hiện đều có nghĩa là “nào, đâu”.1

Những từ ngữ mang yếu tố tiếng Hán hiện đại này cho thấy sự ảnh hưởng của

văn hoá người Hoa từ những cuộc di dân đến Việt Nam, đồng thời là kết quả của sự

giao lưu văn hoá và ngôn ngữ với những nhân sĩ Trung Quốc.

Đặc biệt là trong thơ Trịnh Hoài Đức ta còn thấy sự kết hợp giữa các từ ngữ

tạo nên những từ mới mà trước đây rất hiếm gặp.

Trong rất nhiều bài thơ, Trịnh Hoài Đức thường sử dụng kiểu ngôn ngữ này

như “thuỵ ma” (ma ngủ), “tửu quỷ” (quỷ rượu), “du nang” (túi giấy dầu)… mặc dù

viết chữ bằng chữ Hán nhưng tạm gọi là chữ Hán của dân tộc Việt Nam:

睡魔可却堪持贈 Thuỵ ma khả khước kham trì tặng,

酒鬼能驅已試嘗 Tửu quỷ năng khu dĩ thí thường.

珍重須尋甘苦味 Trân trọng tu tầm cam khổ vị,

莫教餘瀝入油囊 Mạc giao dư lịch nhập du nang.

(Trịnh Hoài Đức, Dĩ Vũ Di trà tặng Ngô Nhữ Sơn)

(Ma ngủ có thể đẩy lùi, nên giữ để tặng anh,

1邊庭飄颻那可度。絕域蒼茫更何有。(Cao Thích, Yên ca hành tự);但見新人笑。那聞舊人哭 (Đỗ Phủ, Giai nhân); 繼周八代爭戰罷。無人收拾理則那 (Hàn Dũ, Thạch Cổ ca); 那堪把剪刀 (Lý Bạch, Tý dạ tứ thời Đông ca); 人情已厭南中苦。鴻鴈那從北地來 (Vương Bột, Thục trung cửu nhật); 強欲從君無那老 (Vương Duy, Thù Quách cấp sự); 那堪玄鬢影。來對白頭吟 (Lạc Tân Vương, Tại ngục vịnh thiền); 那堪正 飄泊 (Thôi Đồ, Ba sơn đạo trung trừ dạ hữu hoài).

Quỷ rượu (cơn say) có thể trừ, tôi cũng từng thử.

161

Quý trọng nhau nên tìm chút vị ngọt vị đắng,

Đừng để một giọt thừa nào rơi vào túi giấy dầu.)

Trong thơ Đường, thông thường khi nói đến khuôn mặt, vẻ mặt thì dùng

“nhan”, “nhan sắc”. Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định đều dùng “nhan phạm”:

三年顏範雲千里 Tam niên nhan phạm vân thiên lý,

五夜神情月一梁 Ngũ dạ thần tình nguyệt nhất lương.

(Trịnh Hoài Đức, Quế Lâm đông nhật vọng Thỉnh phong

chánh sứ Lê Quang Định Binh bộ Thượng thư)

(Gần ba năm chỉ thấy vẻ mặt anh trong màn mây xa ngàn dặm,

Suốt năm canh, tâm tình tôi bồi hồi như ánh trăng chiếu vào xà nhà.)

顏範三年始一親 Nhan phạm tam niên thuỷ nhất thân,

驚催冠劍作陪臣 Kinh thôi quan kiếm tác bồi thần.

(Lê Quang Định, Lưu biệt Bắc thành Nguyễn Tổng trấn)

(Ba năm mới được gặp mặt một lần,

Mão kiếm mang vội vàng làm bầy tôi bồi tiếp.)

Mua rượu để uống say hay mua cơn say thì dùng “mãi tuý”:

情多不倦看花眼 Tình đa bất quyện khan hoa nhãn,

興逸頻拌買醉錢 Hứng dật tần phan mãi tuý tiền.

(Trịnh Hoài Đức, Hành Giang hiểu phiếm)

(Vốn đa tình, nên mắt mải xem hoa chẳng thấy mệt,

Hứng bay bổng, thường lục tiền để mua cơn say.)

Hoặc khi nói “khác nhau, trái nhau” thì ông lại dùng chữ “tương tả”: “Ngữ

ngôn nhân khách tương tả” (ngôn ngữ của ta và người khác nhau) (Hồ Nam đạo

trung chu hành tạp vịnh, 5), hoặc “cố gắng, gắng sức” thì dùng “gia tâm”: “Sào ty

phụ nữ các gia tâm” (những phụ nữ ươm tơ ai cũng cố gắng làm việc) (Quất xã sào

ty), ngưu đao (dao mổ trâu) (Tặng Thánh Duệ thất thập nhị đại tôn, bạt cống thí

nhậm Tân Trịnh huyện tri huyện kế bính)….

Những kiểu nói này ít thấy trong thơ của Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh.

Rõ ràng, Trịnh Hoài Đức rất linh hoạt trong việc vận dụng và kết hợp từ ngữ Hán

văn với lời ăn tiếng nói thường ngày của dân tộc tạo nên một loạt từ rất riêng và rất

sinh động. Chính điều này góp thêm một phần nhỏ khiến cho ngôn ngữ thơ Trịnh

Hoài Đức có thêm những sắc thái mới và mang yếu tố thời đại.

162

3.1.2.2. Ngôn ngữ thơ chữ Nôm

Kế thừa truyền thống sáng tác thơ Nôm đã có ở Nam Bộ từ thơ của Đào Duy

Từ, của Nguyễn Hữu Hào, của Võ Trường Toản, của Tao đàn Chiêu Anh các, Trịnh

Hoài Đức cũng sáng tác thơ bằng chữ Nôm. Tuy không nhiều, chỉ là bộ phận rất

nhỏ và phụ (không được khắc in trong Cấn Trai thi tập) trong toàn bộ sáng tác của

ông, nhưng về mặt nghệ thuật ngôn ngữ trong thơ Nôm Trịnh Hoài Đức cũng khá

đặc biệt. Trịnh Hoài Đức làm thơ Nôm là một cố gắng vượt ra những thói quen

mang tính hàn lâm, làm dịu bớt những ảnh hưởng bác học của văn tự Hán đồng thời

cũng là một kiểu yêu quý và tự thưởng thức tiếng nói dân tộc. Nhưng so với những

nhà thơ Nôm ở các miền khác cùng thời đại với Trịnh Hoài Đức thì ngôn ngữ thơ

Nôm của Trịnh Hoài Đức mang yếu tố và đặc điểm của một miền đất mới.

Thơ Nôm Trịnh Hoài Đức, ngoài các bản đã công bố chưa đầy đủ của Lê

Quang Chiểu, Nguyễn Văn Sâm, Hoài Anh… chúng tôi được nhà nghiên cứu Cao

Tự Thanh cung cấp bản phiên âm đầy đủ hơn với 20 bài thơ Nôm của Trịnh Hoài

Đức với tựa đề Gặp bạn trên đường đi sứ. Bản thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức mà

Cao Tự Thanh sưu tầm đã được ông phiên âm và chú thích kỹ càng, so với các bản

trước đây sáng nghĩa hơn rất nhiều. Vì vậy trong phần khảo sát này, chúng tôi theo

bản phiên âm chú thích của Cao Tự Thanh.

Lớp từ thuần Việt được tác giả sử dụng trong thơ Nôm với tỷ lệ cao, mang lại

cho người đọc cảm giác gần gũi dễ hiểu. Ngoài những danh từ riêng (nhân danh, địa

danh) có âm tiết Hán Việt như: Quảng Đông (bài 1), Úc Môn (bài 2), Đỗ Phủ,

Vương Duy (bài 8), Hán, Hồ, Ngọc Quan, Ban Siêu (bài 9,10), Võ, Thang (bài 11),

Sở, Tần (bài 15), Lưu Linh, Lý Bạch (bài 17), Yên, Việt, Ngu (bài 18), số âm tiết

Hán Việt cũng xuất hiện rất ít: cố nhân (bài 1), vô dụng, bất tài (bài 4), thức kiến,

quân tử (bài 5), tri kỷ, chính sư (bài 8), tỳ bà, oán hận (bài 9), quân thân, anh hùng,

tác biệt, trung nghĩa, vi thần (bài 12), còn lại phần lớn vẫn là âm tiết thuần Việt.

Nhiều bài không thấy có từ Hán Việt xuất hiện:

Đo lường lại giận sự con cua,

Tưởng đến càng thêm nỗi đắng chua.

Mây mịt mù bay trời nhớ bạn,

Nước minh mang chảy bể trông vua.

Đi cờ thấy đó tay không thấp,

163

Đếm đất lo đây cuộc chẳng thu.

Cho biết làm người thời phải vậy,

Dễ đâu chẳng đáp một bàn ru?

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 6)

Theo Phan Ngọc, những từ có gốc Hán, nhưng khi đọc lên nghe dễ hiểu tức

cũng được xem là âm tiết tiếng Việt. Do vậy, ngoài những từ ngữ Hán Việt như:

thức kiến (hiểu biết), chính sư (theo chánh đạo), tác biệt (từ biệt, chia cách), vi thần

(bầy tôi) phải giải nghĩa mới hiểu, những từ còn lại vẫn có thể hiểu được nên xem

như là âm tiết tiếng Việt. Từ liệt kê trên cho thấy, Trịnh Hoài Đức ý thức lựa chọn

những âm tiết thuần Việt đưa vào thơ, hạn chế dùng lớp từ Hán Việt. Điều này

chứng tỏ, ông có tinh thần dùng tiếng nói dân tộc Việt để sáng tác thơ Đường mà ở

Nam Bộ trong giai đoạn này hầu như ít người viết.

Cảm tác đi sứ Trung Quốc lại viết bằng thơ Nôm đã là một điều đặc biệt, đặc

biệt hơn là với một nhà thơ gốc Hoa như ông. Nếu nói đó là lòng yêu quý tiếng nói

dân tộc Việt của nhà thơ như Nguyễn Q. Thắng nhận định cũng không sai. Nhưng,

nếu nói đó là tinh thần có ý thức dùng ngôn ngữ nói của dân tộc để diễn tả tâm sự

của một sứ thần cũng không phải không đúng.

Cũng giống như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đây, Trịnh Hoài Đức

cũng có ý thức dịch những từ ngữ Hán, điển cố, điển tích ra tiếng Việt để sử dụng

trong sáng tác thơ Nôm của ông:

Ít sống xưa nay người bảy chục,

Nhiều lo lui tới đạo năm ba.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 3)

Câu đầu ông chuyển dịch câu thơ của Đỗ Phủ: “nhân sinh thất thập cổ lai hy”,

hoặc câu sau “đạo năm ba” tức là tam cương, ngũ thường.

Riêng trách chẳng vàng người vẽ tượng,

Tây than không bạc nịnh mua yêu.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 9)

“Người vẽ tượng” và “nịnh mua yêu” là chuyển ý từ chuyện Vương Chiêu

Quân cống Hồ. Đời Hán Nguyên đế, trong cung có nhiều cung nữ, vua phải sai các

thợ vẽ vẽ hình dâng lên xem ai đẹp mới cho vào hầu. Các cung nữ vì vậy đều đút

tiền cho thợ vẽ Mao Diên Thọ để vẽ mình cho đẹp, riêng có Vương Tường (Chiêu

164

Quân) không chịu đút tiền nên bị Mao Diên Thọ vẽ xấu đi. Sau Vương Tường bị

chọn gả cho Thiền Vu của Hung Nô, đến lúc ra mắt Hán Nguyên Đế mới biết nàng

có nhan sắc, hối tiếc thì đã muộn.

Trong bài số 12, Trịnh Hoài Đức lấy ý từ chuyện Lưu Linh, Lý Bạch:

Lưu Linh vợ lạy không thôi chén,

Lý Bạch vua kêu chẳng xuống thuyền.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 12)

Lưu Linh là một trong bảy người ở ẩn ở Trúc Lâm (Trúc Lâm thất hiền) đời

Tấn, tính ưa uống rượu. Có lần vợ năn nỉ xin bỏ rượu, ông bảo phải làm một mâm

rượu thịt cúng thần mới được phép bỏ. Vợ tưởng thật, sắm sửa đủ lễ vật, Lưu Linh

vào lạy lục khấn khứa rồi lại ngã mâm bát ra ăn uống say mềm (theo chú thích của

Cao Tự Thanh). Lý Bạch vua kêu chẳng xuống thuyền: lấy ý hai câu thơ của Đỗ

Phủ viết về Lý Bạch “Thiên tử hô lai bất thướng thuyền, Tự xưng thần thị tửu trung

tiên” (Vua gọi lên thuyền, chẳng lên thuyền, Tự xưng tôi là tiên trong làng rượu).

Còn nhiều từ khác Trịnh Hoài Đức chuyển dịch sang tiếng Việt như: năm đấu

(ngũ đấu, tức chuyện Đào Tiềm không vì năm đấu gạo mà khom lưng), bách thiên

(trăm bài, tức chuyện Lý Bạch từ câu “Lý Bạch nhất đấu thi bách thiên” của Đỗ

Phủ), nguồn Đào (đào nguyên), chín trùng (cửu trùng), khoẻ gối (an chẩm)…

Chính lớp từ thuần Việt và ý thức chuyển dịch từ ngữ Hán sang tiếng Việt này

làm cho thơ Trịnh Hoài Đức mang chất dân dã mặc dù ông làm theo thể thất ngôn

bát cú Đường luật. Lớp từ thuần Việt mà Trịnh Hoài Đức dùng, âm hưởng và sắc

thái cũng khác với lớp từ trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm hay

Nguyễn Du, và khác cả với thơ Đồ Chiểu sau này. Điều này một mặt là do hình

thức thể loại quy định, mặt khác là do phong cách ngôn ngữ nói của tác giả từng

khu vực.

Trong thơ Nôm Trịnh Hoài Đức chúng ta thấy khá nhiều những từ ngữ mang

sắc thái địa phương Nam Bộ:

Kẹo kéo lằng nhằng nhai đã đứt,

Tơ vò rối rắm gỡ hầu xong.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 1)

Dường nọ phải chăng còn nhộn nhộn,

Sự này khôn dại hãy ương ương.

165

Linh chinh bởi đó sao lăng líu,

Mắc mỏ vì ai khéo vấn vương…

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 5)

Con ve mấy chặp hơi kêu hạ,

Cái võ năm canh tiếng khóc xuân.

Gió thảm mưa sầu đang dập dã,

Bút hoa mượn ráp sự cùng căn.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 12)

Trời đất bốn phương non nước đó

Làm chi nên nỗi sự băn khoăn

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 15)

Băn khoăn bữa diếp sự hoang đàng,

Tiệc ngọc thuyền hoa bạn đãi đằng.

Than phận linh đinh đào thớ lợ,

Cười duyên lỏng lẻo liễu xây quàng.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 16)

Việc dùng chữ Nôm để sáng tác thơ của Trịnh Hoài Đức cho ta thấy tinh thần

dân tộc của Trịnh Hoài Đức và sự đồng quy nhiều dòng văn hoá khác nhau trên đất

Nam Bộ vào văn hoá Việt Nam. Mặc dù ngôn ngữ thơ Nôm của Trịnh Hoài Đức

không trôi chảy, tươi sáng như thơ của Mạc Thiên Tứ; không có chất cứng rắn hào

mại của Võ Trường Toản; không có chất lưu loát vừa bình dân vừa bác học như Đồ

Chiểu; càng chưa thể có chất trào lộng thông minh nhuần nhuyễn như Hồ Xuân

Hương hay uyển chuyển, tài hoa như Nguyễn Du… nhưng với sự tiếp thu ảnh

hưởng từ dòng thơ Nôm của dân tộc và tinh thần thử nghiệm sáng tác bằng tiếng nói

địa phương, Trịnh Hoài Đức đã góp thêm tiếng nói đậm chất Nam Bộ và văn hoá

Hoa Nam vào mạch nguồn sáng tác thơ Nôm của cả nước bên cạnh Tao đàn Chiêu

Anh Các ở Nam Bộ, và xa hơn là của Nguyễn Trãi, hội Tao đàn của Lê Thánh Tông,

Nguyễn Bỉnh Khiêm…

3.1.2.3. Thủ pháp sử dụng điển cố

Điển cố, điển tích và những thi liệu Hán học được xem là ngôn ngữ gián tiếp

để chuyển tải nội dung tư tưởng của tác giả đến với người đọc. Người tiếp nhận

thông qua sự hiểu biết của mình để giãi mã nội dung điển cố, điển tích và thi liệu

166

Hán học được tác giả sử dụng trong sáng tác của họ, từ đó có thể cảm thụ nội dung

mà tác giả thông báo tốt hơn và sâu hơn.

Chịu ảnh hưởng nghệ thuật thơ trung đại, thơ Gia Định tam gia không thể

không sử dụng điển cố điển tích như một chất liệu nghệ thuật làm nên tính hàm súc

và thẩm mỹ trong thơ của họ. Qua khảo sát điển cố điển tích trong thơ Gia Định tam

gia, chúng tôi thấy về nguồn gốc các điển cố, các tác giả đã sử dụng từ nhiều nguồn

như Kinh, Sử, Tử, Tập mà Trịnh Hoài Đức đã nói hộ trong bài Tự tự tập thơ Cấn

Trai, đồng thời được các tác giả dùng khá linh hoạt, khi thì dùng chính điển, khi thì

chỉ gọi tên, khi chỉ gợi việc, khi dùng tên riêng, địa danh… để khơi gợi người đọc

tìm hiểu và cảm nhận.

Về cách dùng điển, căn cứ vào tình hình văn học Trung Quốc, Chúc Đỉnh Dân

đã chia thành 8 loại, gồm: 1. Chính dụng và phản dụng (điển cố dùng trực tiếp trong

thơ văn đúng như ý nghĩa của nguyên điển và dùng điển cố với ý nghĩa ngược lại

với nguyên điển); 2. Minh dụng và ám dụng (dùng điển cố bộc lộ rõ nguồn gốc và

dùng ý, lời của câu chuyện mà không để rõ dấu tích); 3. Tá dụng (giữa điển cố và ý

nghĩa biểu đạt không hoàn toàn giống nhau); 4. Hoá dụng (dùng điển gián tiếp và

linh hoạt); 5. Tân dụng (dùng điển với một nghĩa mới); Thiết dụng (sáng tạo những

điển cố giả thiết); 7. Hợp dụng (dùng hai ba điển trong một câu); 8. Đối dụng (dùng

điển cố làm phép đối ngẫu). [dẫn theo 64, tr.105]

Dựa vào cách phân loại trên, tuy không rập khuôn theo sự phân loại của Chúc

Đỉnh Dân do tình hình đặc thù thơ ca của mỗi nước, nhưng chúng tôi thấy có thể

chọn tham khảo vài ý kiến của Chúc Đỉnh Dân để áp dụng vào trường hợp thơ của

Gia Định tam gia.

Khảo sát trong thơ Gia Định tam gia, ngoài cách chính dụng thường thấy,

trong thơ của Tam gia còn sử dụng cách ám dụng, phản dụng, tân dụng rất hữu hiệu.

Nếu cách chính dụng khiến người đọc có sự liên tưởng nối kết giữa tác giả, nhân vật

trữ tình với nhân vật được nhắc đến trong điển cố, thì cách ám dụng, phản dụng và

tân dụng lại khiến cho người đọc liên tưởng ngược hay tiến thêm một tầng nghĩa với

điển cố điển tích được nhắc đến. Do đó, sức gợi liên tưởng và sự cảm nhận ở độc

giả sẽ mạnh hơn, sâu sắc hơn một bậc so với việc dùng điển chính dụng. Cách chính

dụng là cách thường thấy trong thơ, do đó, chúng tôi chỉ chú trọng khai thác những

cách dùng điển cố khác xuất hiện trong thơ Gia Định tam gia, để thấy thủ pháp nghệ

167

thuật của các ông. Cách chính dụng dễ khiến cho thơ trở nên cứng nhắc, đôi khi khô

khan nhạt nhẽo, mất cảm xúc. Thơ của Gia Định tam gia, đặc biệt là Trịnh Hoài

Đức tuy dùng điển khá nhiều nhưng không vì thế làm mất đi sức sống vốn có của

thơ. Điển cố vào thơ theo cảnh tình mà thành, lời lẽ cũng tự nhiên, có phong cách

của nhà thơ lớn.

3.1.2.3.1. Cách dùng điển cố theo kiểu “ám dụng” và “phản dụng”, “tân

dụng”, “tá dụng”

Trong cách phân loại phương thức dụng điển của Chúc Đĩnh Dân có những

kiểu gần như trùng nhau, do đó chúng tôi xin được trình bày chung trong một mục

mà không chia ra. Vì ranh giới của ba phương thức dụng điển sau khá nhỏ, trong

cách dùng điển phản dụng có cả cách tân dụng và tá dụng.

Các tác giả Gia Định tam gia từng làm thơ theo vần trong sách Bội văn vận

phủ (sách này vừa kê các bộ vần, vừa kê các điển cố điển tích, rất tiện cho người

làm thơ) do vậy việc dụng điển trong thơ là điều tất yếu. Nhiều điển cố đi vào thơ

hết sức tự nhiên, ý vị:

春思無涯隨處樂 Xuân tứ vô nhai tuỳ xứ lạc,

人生適意幾時逢 Nhân sinh thích ý kỷ thời phùng?

解闌爲問纓塵客 Giải lan vị vấn anh trần khách:

五斗如何酒一鍾 Ngũ đấu như hà tửu nhất chung?

(Trịnh Hoài Đức, Tửu điếm xuân du)

(Ý chơi xuân vô bờ, cứ vui chơi mọi lúc,

Đời người thoả ý được bao lâu?

Cuộc tàn xin hỏi khách danh lợi,

Năm đấu gạo sao bằng một li rượu?)

Câu chuyện Huyện lệnh Bành Trạch Đào Tiềm từ quan về ẩn đi vào thơ Trịnh

Hoài Đức bằng một lời nói của Đào Tiềm. Cả bài thơ là bức tranh chơi xuân, độc

đáo hơn là chơi xuân nơi quán rượu. Hình ảnh tươi mới, lời lẽ thanh tân, dùng điển

tự nhiên như không. Nếu người thưởng thức không biết câu chuyện này cũng không

ảnh hưởng gì đến việc tiếp nhận bài thơ, nhưng nếu biết câu chuyện này, thì việc

tiếp nhận càng sâu sắc và thú vị hơn.

Lên gò Cây Mai thưởng thức nam mai cùng Võ Trường Ôn người Quảng

Đông, ông lại vận dụng câu trong bài Lậu thất minh của Lưu Vũ Tích: “Sơn bất tại

168

cao, hữu tiên tắc danh” (Núi chẳng cần cao, có tiên ở thì nổi tiếng) vào thơ của

mình:

名山何必在高求 Danh sơn hà tất tại cao cầu,

雅致豪情稱遠遊 Nhã trí hào tình xứng viễn du.

(Trịnh Hoài Đức, Đồng Quảng Đông Võ Trường Ôn

đăng Mai Khâu thưởng nam mai)

(Núi nổi tiếng đâu cần phải cao,

Cảnh sắc u nhã, tình phóng khoáng, xứng với cuộc chơi xa.)

Những bài thơ tứ tuyệt Trịnh Hoài Đức làm trong thời gian tránh loạn ở Chân

Lạp cũng được ông lồng ghép ý thơ của người xưa. Từ thơ thời Tấn, đến thơ thời

Đường và cả điển hoá bướm của Trang Tử vào thơ ông cũng hết sức nhẹ nhàng,

khiến nỗi nhớ quê hương của tác giả thêm nồng nàn, đồng thời bộc lộ sự vận dụng

thi liệu cổ một cách thành thục:

春歸尚作他鄉客 Xuân quy thượng tác tha hương khách,

香信憑誰寄驛梅 Hương tín bằng thuỳ ký dịch mai.

(Trịnh Hoài Đức, Cửu khách Chân Lạp, 1)

(Mùa xuân về, ta vẫn làm khách nơi tha hương,

Tin thơm biết nhờ ai gởi một cành mai nơi dịch trạm?)

Câu cuối được tác giả vận dụng từ ý bài thơ của Lục Khải gửi mai cho một

người bạn ở Trường An: “Chiết mai phùng dịch sứ, Ký dữ Lũng Đầu nhân, Giang

Nam vô sở hữu, Liêu tặng nhất chi xuân” (Bẻ nhành mai gặp người chạy ngựa trạm,

gửi cho người đang ở Lũng Đầu, Giang Nam không có gì, xin tặng bạn một cành

xuân). Dùng ý thơ người xưa để làm chất liệu cho thơ của mình, nhưng Trịnh Hoài

Đức không dùng nguyên vẹn mà lại dùng với một ý nghĩa mới, ngược với ý xưa.

Trong thơ xưa, Lục Khải may mắn gặp người chạy trạm để gửi một nhành mai cho

bạn, còn Trịnh Hoài Đức thì muốn gửi cành mai nhưng không biết nhờ ai. Đây phải

chăng là cách dùng điển vừa “ám dụng” lại vừa “phản dụng” mà Chúc Đỉnh Dân

nói đến trong cách phân loại trên?

陶朱慣逐五湖遊 Đào Chu quán trục Ngũ hồ du,

薤簟涼囘不覺秋 Giới điệm lương hồi bất giác thu.

(Trịnh Hoài Đức, Thu nhật khách trung tác)

(Đào Chu quen rong thuyền chơi suốt Ngũ hồ,

169

Nằm chiếu trúc mát, nên chẳng biết thu sang.)

Với câu chuyện Phạm Lãi dạo chơi Ngũ hồ, độc giả ngỡ rằng tác giả cũng

thanh thản như Phạm Lãi, thế nhưng ngược lại, tác giả đang ở đất khách trong tình

trạng lánh nạn bất đắc dĩ và không ngoại trừ trường hợp tác giả đi buôn như trong

bài Tự tự nhắc đến, từ đó bộc lộ tình cảm nhớ quê. Đây là cách phản dụng (dụng

điển nhưng mang ý nghĩa ngược với ý nghĩa ban đầu) mà Chúc Đỉnh Dân đã nói,

khiến câu thơ trong bài thơ trên mang ý nghĩa mới, sắc thái mới.

Lê Quang Định là người ít dùng điển trong Tam gia, nếu có dùng thì thường

dùng theo lối chính dụng. Tuy nhiên cũng có những bài ám dụng điển tài tình:

雲送鄉心纔出岫 Vân tống hương tâm tài xuất tụ,

椏迎行輅半開晴 Liễu nghênh hành lược bán khai tình.

(Lê Quang Định, Tín Dương hiểu hành)

(Mây tiễn lòng quê vừa khỏi núi,

Liễu mời xe sứ hé trời quang.)

Thơ Trịnh Hoài Đức cũng có ý tương tự:

雲飛有意留連久 Vân phi hữu ý lưu liên cửu,

鶴是知音眷戀多 Hạc thị tri âm quyến luyến đa.

(Trịnh Hoài Đức, Lộc Động tiều ca)

(Mây bay có ý, luyến lưu mãi,

Hạc là tri âm, quyến luyến hoài.)

Cả hai ông đều sử dụng câu “vân vô tâm nhi xuất tụ” (mây vô tâm bay ra khỏi

núi) trong bài Quy khứ lai từ của Đào Tiềm, nhưng đều khác hẳn so với nguyên ý.

Với Ngô Nhân Tĩnh, mây ra khỏi núi như đưa tiễn nỗi nhớ của ông về quê hương,

còn mây trong thơ Trịnh Hoài Đức thì có ý lưu luyến bởi tiếng hát của người chài.

Đám mây trong thơ của hai ông đã không còn vô tâm, tức mất đi biểu trưng của

người quân tử, mà trở thành những đám mây thực thể có hồn.

Cùng viết về chân tích Lữ (Lã) Động Tân, tương truyền ông tu tiên đắc đạo,

nhưng Trịnh Hoài Đức có ý muốn mượn gối để được như chàng họ Lư, bởi cám

cảnh bản thân:

廿年烽火歷艱屯 Chấp niên phong hoả lịch gian truân,

我亦廬生夢後身 Ngã diệc Lư sinh mộng hậu thân.

(Trịnh Hoài Đức, Lặc thạch đề Hàm Đan

170

Lữ Tiên từ hoàng lương chân tích, 2)

(Hai chục năm khói lửa chiến tranh, trải nhiều gian truân,

Ta cũng như chàng họ Lư sau giấc mộng.)

欲向真人前借枕 Dục hướng chân nhân tiền tá chẩm,

盧生今尚抱頭眠 Lư sinh kim thượng bão đầu miên.

(Trịnh Hoài Đức, Lặc thạch đề Hàm Đan Lữ Tiên từ

hoàng lương chân tích, 1)

(Muốn mượn chân nhân chiếc gối trước,

Nhưng chàng Lư vẫn còn ôm đầu ngủ say.)

Ngô Nhân Tĩnh mặc dầu thừa nhận mình cũng giống gã Lư sinh, nhưng ông

chưa muốn mượn gối ngủ: 我亦盧生未欲睡 Ngã diệc Lư sinh vị dục thuỵ,

(Ngô Nhân Tĩnh, Yết Lữ Tiên từ)

(Ta cũng là Lư sinh, nhưng chưa muốn ngủ)

Ngược lại, Lê Quang Định tuy dùng điển nhưng phản điển:

岳陽醉後話歸程 Nhạc Dương tuý hậu thoại quy trình,

路入邯鄲草樹晴 Lộ nhập Hàm Đan thảo thụ tình.

…寧靜也知僊不遠 … Ninh tĩnh dã tri tiên bất viễn,

何須借枕臥盧生 Hà tu tá chẩm ngoạ Lư sinh.

(Lê Quang Định, Quá Hàm Đan Lữ Tiên ông từ)

(Sau cơn say ở Nhạc Dương, lại nói chuyện ngày về,

Đường vào Hàm Đan, cỏ cây quang tạnh.

… Yên lặng cũng đã biết tiên không còn xa,

Cần gì như Lư sinh mượn gối để nằm mơ.)

Lê Quang Định vừa phản ý chuyện xưa, vừa phản ý với thơ của Trịnh Hoài

Đức. Do đó, Nguyễn Du mới hạ bút khen 意見超邁 (ý tứ siêu thoát cao vời) cũng

không phải không thoả đáng.

Nếu cách dụng điển kiểu “ám dụng” khiến người đọc cảm thấy thơ tự nhiên,

thì cách “tân dụng” “phản dụng” hay “tá dụng” khiến ý thơ được nâng thêm một

tầng. Vì vậy, tuy dụng điển khá nhiều, nhưng thơ của Gia Định tam gia vẫn có

những ý tứ mới mẻ, linh hoạt.

171

3.1.2.3.2. Cách dùng điển theo kiểu “đối dụng”

Dùng điển theo kiểu đối dụng tức là dùng điển cố để tạo phép đối ngẫu. Với

cách dùng này, điển cố thường xuất hiện ở hai cặp luận và thực trong thơ thất ngôn

bát cú Đường luật.

Trong Cấn Trai thi tập, chúng tôi thấy, có những bài thơ Trịnh Hoài Đức sử

dụng đến 4, 5 điển cố như Chân Lạp ký hoài Hứa Hoa Phong, Thu nhật khách trung

tác, Hoài nội, Ký hoài Huỳnh Ngọc Uẩn Hối Sơn Chân Lạp hành,… nhưng cũng có

những bài ông không dùng điển như Mỹ nhân lý tranh, Mỹ nhân hiểu khởi, Mỹ nhân

bệnh khởi, Giang thôn hiểu thị, Điền gia thu vũ, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp

vịnh… Việc dùng điển nhiều trong một bài rất ít thấy trong thơ của Lê Quang Định

và Ngô Nhân Tĩnh. Một điểm đáng chú ý là, với những bài thơ tả cảnh, hầu như các

tác giả không dùng điển cố, cứ theo cảnh tình mà viết, lời lẽ phóng khoáng; còn

những bài thơ vịnh cổ tích, hoài cổ, chất chứa tâm sự thì dùng điển khá phong phú.

Tuy nhiên không phải vì thế mà làm giảm chất thanh tân mới mẻ vốn được xem

trọng trong thơ, như:

… 將蕪松菊空來月 … Tương vu tùng cúc không lai nguyệt,

正美蓴鱸尚繫舟 Chính mỹ thuần lư thượng hệ chu.

虛負家庄重九約 Hư phụ gia trang trùng cửu ước,

棉花狂絮亂撩愁 Miên hoa cuồng nhứ loạn liêu sầu.

(Trịnh Hoài Đức, Thu nhật khách trung tác)

(... Tùng cúc sắp hoang vu, chỉ có trăng soi bóng,

Canh rau thuần cá lư đang mùa ngon, thuyền còn buộc.

Đành lỗi hẹn cùng gia đình trong ngày mồng chín tháng chín,

Hoa gòn bay tung làm rối nỗi sầu.)

Khóm cúc Đào Tiềm, canh thuần cá vược của Trương Hàn, hẹn ước trùng cửu

của Vương Duy… đều bộc lộ lòng sầu nhớ quê hương của tác giả, khiến người đọc

đi từ cảm xúc này đến cảm xúc khác. Câu cuối, không dụng điển nhưng bằng hình

ảnh vô cùng sinh động làm người đọc hình dung mối sầu thương nhớ quê hương của

tác giả: hoa gòn bay tứ phía làm rối thêm nỗi sầu của chủ thể trữ tình. Hoa gòn, cây

gòn còn là hình ảnh, một biểu tượng quê hương miền Nam. Dụng điển như thế có

thể nói là tự nhiên và hữu hiệu.

172

Trong bài thơ khác, tác giả lại trải lòng nhớ quê da diết khi ông “đối dụng”,

nhưng người đọc không hề thấy có sự khiên cưỡng:

三徑陶花開午夜 Tam kính Đào hoa khai ngọ dạ,

五更莊蝶逐東風 Ngũ canh Trang điệp trục đông phong.

(Trịnh Hoài Đức, Cửu khách Chân Lạp, 2)

(Ba luống hoa Đào Tiềm (cúc), hôm đêm nở,

Năm canh, bướm Trang Chu đuổi theo gió xuân.)

Nhớ quê nhà có khi ông dùng từ cố viên, cố quốc, hương quan, hương lư,

hương lý… cũng có khi chỉ cần nói “tương vu tùng cúc” hay “tam kính Đào hoa”,

người đọc cũng cảm nhận được tâm trạng nhớ quê nhà của tác giả. Nhớ quê, không

về được trong đời thật thì về trong mơ, thế nên, tác giả năm canh vùi trong giấc

mộng, mơ hoá bướm để được rong ruổi cùng gió xuân.

Hoặc trong bài thơ nhớ vợ của ông được dùng điển theo lối đối dụng:

非是白蘋投楚客 Phi thị bạch tần đầu Sở khách,

何當青草怨王孫 Hà đương thanh thảo oán Vương tôn.

揚州騎鶴成虛望 Dương Châu kỵ hạc thành hư vọng,

悔不陳卿樂灌園 Hối bất Trần Khanh lạc quán viên.

(Trịnh Hoài Đức, Hoài nội)

(Ta chẳng phải là người khách đất Sở trôi dạt vào bãi tần trắng,

Mà nàng từ bao giờ trở thành người oán Vương tôn khi nhìn thấy

cỏ xanh?

Giấc mộng cỡi hạc ở Dương Châu nay thành ước hão,

Hối tiếc mình không bằng Trần Khanh vui việc tưới vườn.)

Bốn câu đầu tả cảnh và nói lên lòng nhớ quê hương của tác giả, bốn câu thơ

sau, mỗi câu tác giả dùng mỗi điển để nói đến lòng nhớ thương vợ. Dùng điển tích

về Khuất Nguyên nhưng tác giả hoàn toàn không phải bị vua ruồng bỏ như Khuất

Nguyên, mà mình chỉ đi tránh loạn, do đó mới viết là “phi thị… Sở khách”. Câu

tiếp theo lấy ý từ câu trong bài Chiêu ẩn sĩ: “Vương tôn du hề bất quy, xuân thảo

sinh hề thê thê” (Kẻ vương tôn đi chơi chừ chưa về, cỏ xuân mọc chừ tươi tốt), câu

thơ có ý nói người mãi bôn ba nơi đất xa, cỏ xuân tốt rờn rờn đẹp thế kia, sao chưa

chịu về ở ẩn? Ở đây, Trịnh Hoài Đức cũng dùng với nghĩa đó, nhưng hoàn cảnh của

ông không phải là đi chơi như gã vương tôn trong thơ cổ Trung Hoa.

173

Câu tiếp theo lại dùng điển “kỵ hạc thướng Dương Châu” xuất từ Thương Vân

tiểu thuyết: “Có mấy người cùng dắt nhau đi chơi, mỗi người đều tự nói chí nguyện

của mình. Có người nói muốn được làm thứ sử Dương Châu, có người nói muốn có

nhiều tiền, có kẻ nói muốn được cưỡi hạc thành tiên. Trong đó có một người nói

rằng, “ước lưng đeo mười vạn quan tiền, cưỡi hạc lên thành Dương Châu”, tức

muốn cả ba điều ước của ba người trước”. Chính những mơ ước không thực hiện

được như vậy, nên câu cuối tác giả dụng điển Trần Trọng Tử, người thời Chiến

Quốc, được mời ra làm quan nhưng ông bàn với vợ cùng nhau bỏ trốn đi nơi khác,

vui việc trồng vườn.

Trong bài thơ này, Trịnh Hoài Đức ý nói đến mơ ước cuộc đời giàu có, công

danh thành tựu đều trở thành ước hão. Việc dùng điển trong bài thơ này, rõ ràng

làm tăng thêm sắc thái của lòng nhớ thương vợ của Trịnh Hoài Đức, đồng thời, bộc

lộ sự suy tư về cuộc đời.

Ngoài ra, cũng có những lần, tác giả dụng điển khá hiểm.

盈罍有酒卿逾畢 Doanh lôi hữu tửu khanh du Tất,

彈鋏無魚我類馮 Đàn giáp vô ngư ngã loại Phùng.

(Trịnh Hoài Đức, Đông nhật Quảng Nghĩa chiến trường ký Phú

Xuân kinh Lại bộ tham tri Phạm Ngọc Uẩn)

Từ câu sau “đàn giáp vô ngư ngã loại Phùng” (Gõ kiếm hát ca rằng cơm

không cá, tôi thật giống Phùng Hoan) ta dễ dàng biết câu chuyện Phùng Hoan làm

thực khách của Mạnh Thường Quân. Mượn điển cố Phùng Hoan, nhưng tác giả

hoàn toàn không dùng nguyên vẹn ý nghĩa của điển cố đó, mà ở đây ông chỉ nói đến

sự gian nan nơi chiến trường, không có rượu thịt, gõ kiếm hát ca, có điều tác giả gõ

kiếm ca không phải vì mong đãi ngộ, trong cảnh huống ấy ông vẫn một lòng ra sức

phò vua giúp nước.

Nhưng câu trước, “doanh lôi hữu tửu khanh du Tất” (có rượu đầy chung, anh

hơn ông Tất) thì mượn chuyện Tất Trác, người vùng Đồng Dương, đời Tấn, lúc trẻ

tính tình phóng khoáng, làm quan đến chức Lại bộ lang, thường uống rượu đến

quên cả chức vị, nhà bên cạnh của ông nấu rượu, ông thường lén vào để uống,

người canh gác bắt được trói lại, sáng mai nhìn lại mới thấy là Tất Trác, liền cởi trói

cho ông. Ở đây, Trịnh Hoài Đức muốn mượn hình ảnh Tất Trác để ví von với Phạm

Ngọc Uẩn, nhưng cũng không hoàn toàn chỉ Phạm Ngọc Uẩn ham rượu đến độ bỏ

174

bê việc quan, mà chỉ muốn nói đến tình cảnh ẩm thực ở kinh đô đầy đủ so với tác

giả ở chiến trường. Cách dụng điển vừa tá dụng vừa hợp dụng như vậy quả thật là

thú vị vô cùng.

Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định cũng có cách dùng điển đối dụng này:

萬點聲何細 Vạn điểm thanh hà tế,

一聞爾思長 Nhất văn nhĩ tứ trường.

洞庭悲舜帝 Động Đình bi Thuấn Đế,

巫峽怨襄王 Vu Giáp oán Tương Vương.

(Ngô Nhân Tĩnh, Thính vũ)

(Vạn giọt mưa tiếng nhẹ sao,

Vừa nghe ý mưa miên man.

Động Đình buồn thương vua Thuấn,

Non Vu oán trách Sở Tương vương.

漢傅文章遺古樹 Hán phó văn chương di cổ thụ,

楚臣忠憤逐蒼浪 Sở thần trung phẫn trục thương lang.

(Lê Quang Định, Đăng Củng Cực lâu)

(Văn chương của Thái phó nhà Hán, còn lưu với ngàn cây,

Nỗi trung phẫn của bầy tôi nước Sở, còn trôi với sóng xanh.)

Chúng tôi khảo sát trong hai tập đầu của Cấn Trai thi tập thấy có 58 trường

hợp (trong 158 bài có dùng điển), được tác giả dùng theo cách “đối dụng” chiếm

khoảng 36,7%. Trong khi đó, thơ Ngô Nhân Tĩnh có 52 bài dùng điển cố thì có 17

trường hợp theo kiểu đối dụng, chiếm khoảng 32,6%; và thơ Lê Quang Định có 6

trường hợp dùng theo kiểu đối dụng trong 25 bài có dùng điển, chiếm 24% . Cách

đối dụng thường nằm ở vị trí hai câu thực, và hai câu luận mục đích làm tăng tính tự

sự và suy ngẫm của tác phẩm. Kiểu đối dụng này mặc dù hiệu quả không bằng lối tá

dụng, phản dụng hay tân dụng nhưng nhờ cách đối dụng điển cố, ý thơ được hàm

súc và sâu sắc hơn.

3.1.2.4. Hình ảnh

Chịu ảnh hưởng nghệ thuật thơ trung đại, trong thơ của Gia Định tam gia

nhiều hình ảnh mang tính ước lệ nghệ thuật. Những hình ảnh này “thường biểu đạt

những quan niệm Nho giáo về đạo đức xã hội, về lý tưởng, phẩm chất người quân

175

tử… hoặc phản ánh, giải thích, chứng minh những triết lý tự nhiên, xã hội, những

quy luật của cuộc sống” [148, tr.573].

Bên cạnh những hình ảnh hoa sen, hoa mai, cội tùng… tượng trưng cho người

quân tử với phẩm chất tốt đẹp, sự tu dưỡng thâm hậu, tấm lòng chân thành, son

sắt… còn có những hình ảnh tôm càng xanh (Thanh hà), cá rô (Quá sơn ngư), cá

vàng (Kim ngân ngư), chiếc kính mắt (Mục kính), cây ráy tai (Nhĩ bả)… cũng đều là

những ẩn dụ về kẻ sĩ. Hình ảnh con tôm càng xanh với tài nhảy sóng cao, càng lớn,

râu dài, áo giáp đỏ (vỏ) là biểu trưng cho người anh hùng kẻ sĩ:

占斷江湖起大家 Chiếm đoạn giang hồ khởi đại gia,

才高躍浪羨青蝦 Tài cao dược lãng tiện thanh hà.

恩加內相清綃印 Ân gia nội tướng thanh tiêu ấn,

俸食長鬚綠稻花 Bổng thực trường tu lục đạo hoa.

鉗刺薔薇兵可衛 Kiềm thích tường vi binh khả vệ,

甲裝琬琰富堪誇 Giáp trang uyển diễm phú kham khoa.

(Trịnh Hoài Đức, Thanh hà)

(Chiếm lấy một khúc sông hồ, làm bậc đại gia,

Tài cao vượt sóng, ngưỡng mộ thay tôm càng xanh.

Được ban ơn, tướng mạo như dải lụa sống trong suốt,

Được bổng, râu dài như lá lúa xanh.

Hai càng trông như gai hồng, có thể phòng vệ,

Vỏ giáp như ngọc, thật là kẻ giàu có.)

Cá kim ngân (cá vàng) với hình ảnh đuôi lớn, thân như vàng ngọc, miệng có

màu thư hoàng (chỉ tài biện luận) cũng là những ẩn dụ về kẻ sĩ có tài biện luận:

Thư hoàng toàn tại khẩu,

雌黄1全在口 金玉重於身 Kim ngọc trọng ư thân.

… 物情憎尾大 … Vật tình tăng vĩ đại,

尾大世憐君 Vĩ đại thế liên quân.

1 Thư hoàng: là loại khoáng vật, dạng tinh thể, có màu vàng chanh, có thể chế làm màu. Ngày xưa, người ta thường dùng nó để xoá sửa chữ nghĩa, vì thế người ta gọi việc thay đổi chữ nghĩa, bàn tán xôn xao, bất chấp sự thật, cưỡng từ đoạt lý là “tín khẩu thư hoàng”. Miễn học thiên trong sách Nhan thị gia huấn có câu: “Quan thiên hạ thư vị biến, bất đắc vọng hạ thư hoàng” (xem chưa hết sách trong thiên hạ, không được mở miệng nói càn).

(Trịnh Hoài Đức, Kim ngân ngư)

176

(Sắc vàng (nói năng nghị bàn) toàn ở miệng,

Vàng ngọc khắp ở thân hình.

… Loài vật thường ghét có đuôi lớn,

Có đuôi lớn thì đời thương xót ngươi.)

Hay hình ảnh cá rô là ẩn dụ về những phẩm chất của người quân tử, của kẻ sĩ

gánh vác việc nước:

江湖浪跡逐鯸鮐 Giang hồ lãng tích trục hầu thai,

雨澤偏多興致催

越嶺爲逃頳尾政

食田既慰逆鱗才 Vũ trạch thiên đa hứng trí thôi. Việt lĩnh vi đào trinh vĩ chính,1 Thực điền ký uỷ nghịch lân tài.2

漦遺不産王家孼 Ly di bất sản vương gia nghiệt,

骨鯁長爲水國推 Cốt ngạnh trường vi thuỷ quốc suy.

似爾山川經苦節 Tự nhĩ sơn xuyên kinh khổ tiết,

天門何日化龍囘 Thiên môn hà nhật hoá long hồi.

(Trịnh Hoài Đức, Quá sơn ngư)

(Nơi sóng nước sông hồ đuổi theo cá nược,

Thường được ơn mưa, nên hứng trí thường thúc giục.

Trốn nơi núi Việt, đuôi đỏ vì gánh vác nền chính,

Được ban ruộng làm thực điền để an ủi tài can ngăn thẳng thắn.

Nước dãi không sản sinh, nỗi nghiệt của nhà vua,

Xương cứng thẳng (người ngay thẳng) dài, được suy tôn nơi thuỷ

quốc.

Ta cũng như ngươi có nỗi khổ vượt sông núi,

Chốn cửa trời biết bao giờ mới hoá rồng quay trở về.)

Hình ảnh chim cốc (lô tư) là ẩn dụ của những người lao động cần cù và trung

thành với chủ:

1 Trinh vĩ: đuôi đỏ, xuất xứ từ thơ Nhữ phần, chương Thiệu Nam, trong kinh Thi: Phương hầu trinh vĩ, vương thất như huỷ” “魴魚頳尾,王室如燬。” (Cá phương đỏ đuôi, vương thất sắp cháy) (Chu Hy chú: đuôi cá phương vốn màu trắng nay chuyển sang đỏ, tức lao khổ lắm vậy). Về sau dùng điển này để nói về người vì mệt nhọc lao khổ quá độ vì gánh vác nhiều trọng vụ). 2 Nghịch lân: vảy ngược dưới cổ rồng. Nghịch lân tài: ý nói người có tài can ngăn thẳng thắn, không sợ chạm vào cái vảy ngược của con rồng (tức chỉ nhà vua).

能言鸚鵡古來珍 Năng ngôn anh vũ cổ lai trân,

177

誰愛鸕鷀事主人 Thuỳ ái lô tư sự chủ nhân.

日爲漁家生計足 Nhật vị ngư gia sinh kế túc,

時驚水族業寃頻 Thời kinh thuỷ tộc nghiệp oan tần.

(Lê Quang Định, Lô tư)

(Chim vẹt có thể nói chuyện, xưa nay quý,

Có ai thích loài chim cốc biết phụng sự chủ nhân?

Mỗi ngày làm việc giúp nhà chài, nên sinh kế đủ ăn,

Thường thường làm loài cá nước hoảng sợ, oan nghiệp kết thêm.)

Hình ảnh hoa mai với thân gầy dáng gộc, hương thoảng thanh tao, vị chua là

những ẩn dụ về nhà Nho quân tử hết lòng lo đời:

月下俱憐影 Nguyệt hạ câu liên ảnh,

山中近耐寒 Sơn trung cộng nại hàn.

憂天應骨瘦 Ưu thiên ưng cốt sấu,

覺世定心酸 Giác thế định tâm toan.

潔白畱人愛 Khiết bạch lưu nhân ái,

幽情欲話難 U tình dục thoại nan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hoạ Hương Sơn thi xã đối mai nguyên vận)

(Dưới trăng cùng thương bóng,

Trong núi non cùng chịu cảnh giá rét.

Buồn lo đất trời, xương xẩu gầy guộc,

Biết chuyện cuộc đời, lòng mai chua.

Tính trong sạch, được người yêu quý,

Mối tình sâu muốn nói nhưng khó tỏ bày.)

Không những thế, hình ảnh thanh kiếm xưa nay vẫn là ẩn dụ của hùng tâm

dũng khí trong con người kẻ sĩ phương xa:

勇負凌雲氣 Dũng phụ lăng vân khí,

雄懷報國身 Hùng hoài báo quốc thân.

射星知有分 Xạ tinh tri hữu phận,

彈鋏笑無因 Đàn giáp tiếu vô nhân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đối kiếm)

(Lòng mang dũng khí ngút trời,

Thân ôm ấp hùng tâm đền ơn nước.

178

Khí kiếm chiếu lên sao trời, biết có duyên phận,

Gõ kiếm cười, mà chẳng có lý do.)

Hình ảnh con thuyền, cánh buồm, mái chèo trong thơ Gia Định tam gia đã

vượt qua những ẩn dụ của cuộc sống thôn dã thanh nhàn như trong thơ xưa thường

thấy để mang biểu tượng của sự xông pha, xê dịch và lưu lạc đúng với bản chất của

nó:

湖海三生客 Hồ hải tam sinh khách,

乾坤一葉舟 Càn khôn nhất diệp chu.

(Trịnh Hoài Đức, Giang nguyệt đồng Ngô Nhữ Sơn thư hoài)

(Khách ba đời trong hồ biển,

Một chiếc thuyền nhỏ giữa đất trời.)

Với Lê Quang Định, con thuyền hay cánh buồm giúp ông xông pha mau

chóng hoàn thành việc sứ đáp đền ơn chúa:

錦帆高挂挹清飊 Cẩm phàm cao quải ấp thanh tiêu,

晚趂平灘聽水潮 Vãn nhĩ bình than thính thuỷ triều.

(Lê Quang Định, Quế Lâm giải lãm thứ vận)

(Buồm gấm giương cao lộng gió mát,

Bến lặng chiều tà, nghe thuỷ triều lên.)

Con thuyền trong thơ Gia Định tam gia được gọi theo nhiều kiểu: tiên tra, tinh

tra, chu, thuyền, tiểu đĩnh… đều ám chỉ thuyền sứ, nhưng khi thì diễn tả những vất

vả, gian khổ trên đường đi, khi thì chỉ sự lưu lạc nơi đất khách. Khi con thuyền đỗ

lại thì nó tượng trưng cho sự tạm lắng, những bôn ba gian nan tạm nhường chỗ cho

sự nhàn nhã, yên bình.

Ánh trăng cũng là hình ảnh thường xuất hiện trong thơ Gia Định tam gia cũng

như trong thơ ca. Ngoài ý nghĩa chỉ thời gian, hay chỉ sự tiêu trưởng của vũ trụ,

trăng còn là biểu tượng cho sự thuần khiết, hay có khi là hình ảnh gợi nhớ đến bè

bạn:

同吟顏色孤篷月 Đồng ngâm nhan sắc cô bồng nguyệt,

故國音書萬里程 Cố quốc âm thư vạn lý trình.

(Trịnh Hoài Đức, Khách Cao Miên quốc ký hoài Diệp Minh Phụng Kỳ Sơn)

(Dung mạo bạn thơ như vầng trăng trên mái thuyền lẻ loi,

Tin tức quê hương, xa xôi vạn dặm.)

179

Ánh trăng giãi sáng cả sân cũng khiến Ngô Nhân Tĩnh nhớ anh em bè bạn, ánh

trăng là mối chân tình trọn vẹn:

溶溶明月院 Dung dung minh nguyệt viện,

漠漠暮雲城 Mạc mạc mộ vân thành.

萬里同爲客 Vạn lý đồng vi khách,

天涯一片情 Thiên nhai nhất phiến tình.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 9)

(Bóng trăng vành vạnh sáng đầy sân,

Mây chiều mờ mịt phủ trên thành.

Vạn dặm cùng làm khách,

Nơi chân trời một tấm chân tình.)

Ánh trăng còn là biểu tượng quê hương. Nếu Lý Bạch từng ngẩng đầu nhìn

trăng sáng, cúi đầu nhớ quê hương thì Trịnh Hoài Đức:

語言人客相左 Ngữ ngôn nhân khách tương tả,

明月猶如故鄉 Minh nguyệt do như cố hương.

(Trịnh Hoài Đức, Hồ Nam đạo trung chu hành tạp vịnh, 5)

(Ngôn ngữ ta với người trái nhau,

Vầng trăng sáng vẫn như ở quê hương.)

Hình ảnh núi sông rất thường thấy trong thơ xưa cũng tràn đầy trong thơ Gia

Định tam gia. Trần Bích San từng nói rất chí lý “文 非 山 水 無 奇 氣 , 人 不 風 霜

未 老 材 Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí, Nhân bất phong sương vị lão tài” (Trong văn

chương, không có cảnh núi sông thì không có khí kỳ lạ, người không dãi dầu sương

gió, thì chưa phải có tài già dặn). Do vậy, hình ảnh núi sông không những khiến thơ

mở rộng độ kỳ vĩ của không gian thơ, mà còn biểu hiện khí độ của nhân vật trữ tình.

Đỗ Phủ từng dùng hình ảnh núi non để bày tỏ tài năng, còn với Ngô Nhân Tĩnh núi

là biểu tượng của đức nhân:

水無凝滯長懷智 Thuỷ vô ngưng trệ trường hoài trí,

山不遷移靜養仁 Sơn bất thiên di tĩnh dưỡng nhân.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 11)

(Nước chẳng ngừng trôi, luôn mong trí,

Núi chẳng đổi dời, lặng dưỡng nhân.)

180

Núi là biểu tượng của đức nhân, sông là biểu tượng của trí, cái kiểu “nhân giả

nhạo sơn, trí giả nhạo thuỷ” (bậc nhân vui với cảnh núi non, bậc trí vui với cảnh

sông nước) của nhà nho hẳn chưa có gì đặc biệt, nhưng núi sông là đối tượng để so

sánh với tình cảm nhớ người thân thì đã có chút biến hoá:

水長親友念 Thuỷ trường thân hữu niệm,

山重故鄉愁 Sơn trọng cố hương sầu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Khách trung tạp cảm, 9)

(Sông dài như nỗi nhớ bè bạn,

Núi nặng tựa nỗi sầu nhớ quê.)

Trong cách nhìn của một hoạ sĩ thuỷ mặc, Lê Quang Định thấy ở núi sông

những hình ảnh của giá bút lô nhô, thấy dòng nước lăn tăn như những con chữ cuộn

trào:

筆架高低山八畫 Bút giá cao đê sơn nhập hoạ,

文瀾蕩漾水催詩 Văn lan đãng dạng thuỷ thôi thi.

(Lê Quang Định, Hoa Sơn đường ký kiến)

(Giá bút cao thấp lô nhô, núi non vào tranh vẽ,

Làn sóng lăn tăn, con nước giục làm thơ.)

Hình ảnh người đẹp (mỹ nhân) xuất hiện trong Sở từ với biểu tượng người

quân tử cũng đã xuất hiện trong thơ Gia Định tam gia. Trịnh Hoài Đức dùng hình

ảnh người đẹp để tự dụ tài năng và phẩm chất của người quân tử (Kính trung mỹ

nhân, Mỹ nhân lý tranh, Mỹ nhân hiểu khởi, Mỹ nhân bệnh khởi, …), Ngô Nhân

Tĩnh trong bài Hữu sở hoài, Kính trung mỹ nhân… cũng vậy:

玉瓶閒插一枝梅 Ngọc bình nhàn sáp nhất chi mai,

分付芳心莫盡開 Phân phó phương tâm mạc tận khai.

無限先天春色好 Vô hạn tiên thiên xuân sắc hảo,

含情且待美人來 Hàm tình thả đãi mỹ nhân lai.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hữu sở hoài)

(Bình ngọc nhàn cắm một nhành mai,

Dặn dò lòng hoa thơm đừng nở hết.

Trời đất bao la đẹp vô hạn,

Ngậm tình để chờ người đẹp đến.)

181

Trong thơ của Ngô Nhân Tĩnh và Lê Quang Định những hình ảnh sự vật dân

dã ít xuất hiện hơn trong thơ Trịnh Hoài Đức. Khoan nói đến thơ Nôm, chỉ trong

thơ chữ Hán Trịnh Hoài Đức, những hình ảnh, sự vật dân dã hiếm thấy trong thơ

chữ Hán của ta trước đây, nay đã xuất hiện khá nhiều như chúng tôi đã có dịp đề

cập ở trên: mắt kính, cây ráy tai, tôm càng xanh, cá rô, ổi, lê, thơm, xoài… trong

loạt bài vịnh vật ở phần Thoái thực truy biên và Khả dĩ tập. Thông thường những

hình ảnh dân dã bình dân chỉ xuất hiện trong thơ chữ Nôm. Thơ Nôm Trịnh Hoài

Đức hẳn nhiên không nằm ngoài điểm chung ấy.

Hình ảnh con cua chỉ việc ngang ngược, như người ta vẫn thường nói “ngang

như cua”, “ngang như ghẹ”, chỉ sự ngang trái, cách nói ví von của người bình dân,

mà sau này hình ảnh con cua sẽ đi vào thơ của Phan Văn Trị trở thành biểu tượng

của những kẻ vô tâm, vô sỉ cũng vào thơ:

Đo lường lại giận sự con cua,

Tưởng đến càng thêm nỗi đắng chua.

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 6)

Thơ Đường luật, kể cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, hầu như chưa hề thấy “kẹo”

xuất hiện, chỉ có Trịnh Hoài Đức là đưa hình ảnh kẹo (kẹo kéo, một sản phẩm xuất

hiện từ khi người Hoa đến cư trú) vào thơ: Kẹo kéo lăng nhăng nhai chẳng đứt

(Gặp bạn trên đường đi sứ, bài 1) để ẩn dụ một sự việc dằng dai chẳng xong…

Việc đưa ngôn ngữ đời thường và hình ảnh dân dã vào tác phẩm thơ chữ Nôm

của Trịnh Hoài Đức là bước đi thừa tiếp những nhà thơ dân tộc trước như Nguyễn

Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhưng là bước đi mới mẻ ở khu vực Nam Bộ. Hầu như

những tác giả đương thời ở Nam Bộ hiếm khi sáng tác thơ bằng chữ Nôm. Hai bạn

của ông Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh là một minh chứng.

Để trình bày hết những hình ảnh thơ trong thơ Gia Định tam gia hẳn phải làm

một chuyên đề riêng. Chúng tôi không tham vọng liệt kê hết những hình ảnh nghệ

thuật trong thơ của Gia Định tam gia mà chỉ nêu lên một vài hình ảnh tiêu biểu để

thấy, không những các tác giả tìm kiếm xây dựng những hình ảnh mới (trong thơ

chữ Hán) mà còn cho thấy cách sử dụng hình ảnh nghệ thuật dân dã để ẩn dụ những

vấn đề khá nghiêm túc như phẩm chất của quân tử, kẻ sĩ… Cách làm này của các

ông mặc dù còn những hạn chế nhưng cũng đã bắt đầu tiếp cận mạch nguồn văn học

chung của dân tộc, đồng thời khơi mở văn mạch miền Nam và sẽ hoà mình trong

182

dòng chảy thơ ca của cả nước. Hình ảnh dân dã đời thường này sẽ được các nhà thơ

Hán Nôm ở Gia Định trong giai đoạn tiếp theo khai thác và tạo nên hình ảnh đặc sắc

trào lộng trong thơ Nôm.

3.2. GIỌNG ĐIỆU VÀ PHONG CÁCH

Kể về nguồn gốc xuất thân của Gia Định tam gia nói riêng của đội ngũ sáng

tác ở Nam Bộ nói chung, dường như không có ai xuất thân từ truyền thống đỗ đạt

nhiều đời như dòng họ Nguyễn Tiên Điền, họ Ngô Thì ở Bắc Hà.

Do tính chất đặc thù của vùng đất mới, vùng đất còn hoang sơ đầy lau lách,

đầm lầy, những người lưu dân Việt và những di thần Hoa Nam Trung Quốc đến

vùng đất này đem theo tinh thần vỡ đất khai hoang hơn là tinh thần ca ngâm xướng

hoạ. Tính chất thực dụng hiện rõ trong tinh thần của họ ngay từ buổi đầu này chi

phối đến đời sống tinh thần của họ. Ca ngâm xướng hoạ ban đầu chỉ nảy sinh từ

việc muốn giải toả những cực nhọc gian khổ trong đời sống lao động của họ, hoàn

toàn chưa xuất phát từ sự thưởng thức nghệ thuật như một món ăn tinh thần. Bởi

phải khởi đầu cuộc sống với nhiều khó khăn, phải luôn chống trả với thiên nhiên

đầy thử thách như ở vùng Nam Bộ nhiều đầm lầy, cọp sấu hung dữ này, họ phải dựa

vào nhau để tồn tại. Sau thời gian khai hoang cải tạo thiên nhiên theo đời sống của

mình, họ mới bắt đầu chú ý đến đời sống tinh thần như ghi lại những kỷ niệm trên

mảnh đất đã gắn kết nhiều thành phần dân tộc, đa văn hoá này.

Ngay cả việc vào Nam của Lê Quang Định, ban đầu cũng do hoàn cảnh gia

đình rơi vào chỗ túng khó từ khi cha ông mất, ông theo chân anh vào Nam mưu sinh.

Tại mảnh đất mới này ông đã gặp Trịnh Hoài Đức và Ngô Nhân Tĩnh, cùng dùi mài

kinh sử. Việc các ông ra ứng thí vào năm 1788 hẳn mang tính chất đầy thực dụng,

khi mà Gia Long đang cần những người trí thức để làm đầy đặn lực lượng quan văn

giúp việc văn thư, cũng như cần một đội ngũ để xây dựng thiết chế thống trị.

Do vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi các ông được giao nhiều việc, từ việc

khuyến nông, tham gia việc quân, điều tiếp quân lương, cho đến việc dạy dỗ hoàng

tử, bang giao nước ngoài… Thế nhưng, các ông đều làm tròn nhiệm vụ được giao,

cho thấy tính linh hoạt thích ứng với mọi hoàn cảnh vốn có của người Nam Bộ. Với

bản chất như vậy, sự học của các ông, theo như lời ông nói hoàn toàn không phải là

kiểu từ chương. Tuy vẫn học kinh sử tử tập, nhưng chú trọng về nghĩa lý hơn là câu

183

chữ. Đồng thời, cái học thực dụng này giúp các ông tiếp cận với nhiều bộ môn nghệ

thuật, những tài khác như cầm, kỳ, thư, hoạ… Điều đó cũng lý giải, thơ của Gia

Định tam gia ít chú trọng đến hình thức nghệ thuật, như việc làm thơ chỉ chủ yếu

dùng thể Đường luật, mà không mở rộng đến các thể khác.

Thêm nữa, thơ thời trung đại, với những khuôn mẫu vốn có, từ nội dung đề tài

đến hình thức thể loại, cũng như những thủ pháp nghệ thuật, thơ Gia Định tam gia

vẫn nằm trong dòng chung của thơ ca toàn dân tộc. Để tìm ra một phong cách thơ là

vấn đề khó khăn. Tuy nhiên, qua những nội dung và nghệ thuật chúng tôi đã trình

bày trên, có thể đưa ra những nét về phong cách nghệ thuật thơ của các ông.

Từ hệ thống đề tài thể loại thể hiện qua sáng tác của Gia Định tam gia, có thể

cho thấy phong cách ổn định, nghiêm chỉnh, trang nhã dù đang viết về những đề tài

rất đời thường trong cuộc sống. Cái nhìn nhã hoá những sự vật hiện tượng trong đời

sống chứng tỏ một tâm hồn thanh tao, tấm lòng trân quý cuộc sống, và những kỳ

vọng về tương lai.

Bên cạnh phong cách ca ngâm hoạ vịnh bắt nguồn từ nghệ thuật diễn xướng

dân gian rất phổ biến trong đời sống ở Nam Bộ, trong thơ của Gia Định tam gia,

cũng đầy những tiếng ca, tiếng đàn. Bên cạnh đó, các ông cũng đã bắt đầu chú ý đến

việc ghi lại hiện thực sinh động bằng thơ. Chất tự sự đan xen trong chất trữ tình như

một đặc điểm nghệ thuật trong thơ Tam gia. Từ những bài thơ của Trịnh Hoài Đức

về cảnh vật và đời sống sinh hoạt của người dân Nam Bộ trong Thoái thực truy biên

và trong Khả dĩ tập, đến những bài thơ ghi lại những cảm nhận trên đường đi sứ của

Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh trong Quan quang tập, Hoa

Nguyên thi thảo và Thập Anh thi tập có thể cho ta hình dung về cuộc sống của hai

nước, tuy chưa toàn diện, nhưng ít ra cũng ở bình diện tốt đẹp, yên bình qua lăng

kính chủ quan của các tác giả, đồng thời cũng cho ta thấy cuộc sống của các ông

trong quãng thời gian đi sứ Trung Quốc. Nhưng trong thơ Gia Định tam gia, so với

hai người bạn của ông, Trịnh Hoài Đức nổi bật hơn với chất tự sự.

Với việc dùng nhiều điển cố, điển tích, thi liệu Hán học đồng thời với nhiều

hình ảnh nghệ thuật khắc hoạ từ những hình ảnh dân dã đời thường trong thơ nhiều

hơn so với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh, ngôn ngữ thơ Trịnh Hoài Đức vì thế

vừa mang tính bác học cũng vừa mang tính bình dân, trong khi thơ của Lê Quang

Định ôn hoà khoan thai, mà thơ Ngô Nhân Tĩnh thâm trầm nhiều suy tư.

184

Ở giai đoạn sau các ông một chút, chúng ta sẽ chứng kiến một sự thay đổi khá

toàn diện về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật với những tác phẩm Nôm dài hơi

như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Đình Chiểu; Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị với thơ

Đường luật Nôm sắc sảo, hay Nguyễn Thông, Trần Thiện Chánh với những dòng

thơ chữ Hán đa dạng và bay bổng…

3.2.1. Trịnh Hoài Đức – trang nhã và hào sảng

Nhận xét về thơ Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Địch Cát có nói:

夫 言 者 心 之 聲 也,而 詩 又 其 言 之 英 華 而 有 節 奏 者 也 。 爲 詩

不 過 數 則, 曰 格 曰 氣 曰 字 句 曰 典 故 。 凡 人 格 勝 者 爲 詩 多 莊 雅,

氣 勝 者 爲 詩 多 雄 渾, 字 句 勝 者 其 詩 多 秀 麗, 典 故 勝 者 其 詩 多 質

贍 “Phù ngôn giả, tâm chi thanh dã, nhi thi hựu kỳ ngôn chi anh hoa nhi hữu tiết

tấu giả dã. Vi thi bất quá sổ tắc, viết cách, viết khí, viết tự cú, viết điển cố. Phàm

nhân cách thắng giả vi thi đa trang nhã, khí thắng giả vi thi đa hùng hồn, tự cú

thắng giả kỳ thi đa tú lệ, điển cố thắng kỳ thi đa chất thiệm” (Lời nói là tiếng của

lòng, mà thơ là anh hoa của lời nói nhưng có tiết tấu mà thôi. Làm thơ chẳng qua

mấy điều cách, khí, tự cú, điển cố. Thường nhân cách trội thì thơ nhiều trang nhã;

khí trội thì thơ hùng hồn; câu chữ trội thì thơ đẹp đẽ tú lệ; điển cố trội thì thơ phong

phú).

Trong bốn điều mà Nguyễn Địch Cát nêu thì thơ Trịnh Hoài Đức đã có đến ba:

nhân cách, khí, điển cố. Do vậy thơ của Trịnh Hoài Đức vừa trang nhã, hùng hồn và

phong phú.

Đọc thơ Trịnh Hoài Đức, âm vang chủ đạo trong thơ là giọng điệu hào sảng,

trang nhã. Trên chặng đường đi sứ Trung Quốc, chỉ những khi việc sứ trì hoãn ông

mới cất tiếng thở than, tâm sự, còn trong suốt hành trình, lúc nào thơ ông cũng đầy

chất hào sảng, khí khái, dẫu khi tâm tình với vợ, dẫu khi bày tỏ lòng nhớ quê…

Chúng tôi thử khảo sát thơ ông, thấy hơn 2/3 số sáng tác của ông mang giọng điệu

này. Giọng điệu trong thơ không chỉ thể hiện qua từ ngữ, câu thơ mà còn ẩn trong ý

tứ của bài thơ.

Trịnh Hoài Đức không giống như Nguyễn Du sau này thường ghi nhiều cảnh

ngộ nghịch lý đau lòng của người dân trên đường đi sứ, mà ông chỉ ghi lại những

cảnh vật trên chặng đường đi sứ Trung Quốc nhằm gửi gắm chút tâm sự, chút suy tư

về thời cuộc. Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Du là những nhà thơ sống cùng thời đại,

185

nhưng hoàn cảnh mỗi người mỗi khác. Nguyễn Du chịu ơn nhà Lê, Trịnh Hoài Đức

chịu ơn chúa Nguyễn; cả hai đều mất cha năm lên mười, đều tự cố gắng học tập

trong cảnh loạn lạc. Nguyễn Du từng mười năm gió bụi trốn loạn về quê người,

Trịnh Hoài Đức cũng bôn ba nơi đất lạ gần mười năm. Chỉ có điều, Trịnh Hoài Đức

buổi đầu đã được ơn tri ngộ của Gia Long, bôn ba từ những ngày chiến tranh lao

khổ; còn Nguyễn Du đến những năm sau này, mới ra làm việc cho triều Gia Long.

Nguyễn Du dẫu về với Gia Long nhưng vẫn mang tâm sự hoài Lê; Trịnh Hoài Đức

thì một lòng thờ chúa… Trịnh Hoài Đức là công thần lập quốc, thế nên được nhiều

ưu ái, còn Nguyễn Du là người “bó thân về với triều đình” như kiểu Từ Hải…

Chính vì tâm trạng của Hoài Đức khác với Nguyễn Du, nên thơ hai ông cũng có

nhiều điểm khác. Tiếng thơ của Trịnh Hoài Đức luôn mở ra chất hào sảng, khảng

khái, khoẻ khoắn, hùng hồn… còn tiếng thơ của Nguyễn Du như khép lại, thâm

trầm, sâu sắc, suy tư hơn, chiêm nghiệm hơn. Chất giọng trong thơ Ngô Nhân Tĩnh

lại có nhiều nét giống với Nguyễn Du. Thơ Ngô Nhân Tĩnh có giọng thâm trầm,

chút u uất đầy tâm sự của một nhà Nho muốn hành đạo. Trong khi đó, giọng thơ của

Lê Quang Định lại khoan thai, nhẹ nhàng, tự nhiên.

Trịnh Hoài Đức là người đi sứ sang Trung Quốc với chức vị chánh sứ chính

thức đầu tiên của triều Gia Long, thế nên tâm tình hứng khởi. Quan quang tập của

Trịnh Hoài Đức hầu như cùng một giọng trữ tình hào sảng. Mở đầu tập thơ đi sứ, ta

đã thấy chất hào hùng, dẫu khi thuyền sứ bị bão đánh dạt vào bãi cát Thượng Xuyên:

止將忠義持舟楫 Chỉ tương trung nghĩa trì chu tiếp,

奚有顛危畏鱷鯨 Hề hữu điên nguy úy ngạc kình.

(Trịnh Hoài Đức, Phụng sứ Đại Thanh quốc, kinh Quảng Đông

dương phận Tam Châu đường, ngộ cụ phong)

(Chỉ đem lòng trung nghĩa gìn giữ lèo lái,

Nào vì nguy nan sợ lũ ngạc kình!)

Giọng điệu hào sảng này có được bởi tác giả có một niềm tin khá vững chắc

về cuộc đời, cũng như cách hành xử trong cuộc sống thường nhật và trong quan

trường. Trịnh Hoài Đức là học trò của Võ Trường Toản và Đặng Cửu Tư (Đức

Thuật), do đó chịu ảnh hưởng của hai vị thầy danh tiếng này. Nhưng ông biết dung

hoà thái độ của hai vị thầy để xác lập thái độ làm quan cho bản thân. Ông không

lánh đời như thầy Võ Trường Toản, lại không can ngăn cứng rắn kiểu Đặng Đức

186

Thuật. Trong những ngày đầu của buổi thiết lập triều đại nhà Nguyễn, những ý kiến

vừa xác đáng vừa ôn hoà khiến vua phải chấp thuận và tỏ ra rất tôn trọng ông.

Những khi tiếp chuyện cùng các quan viên nhà Thanh tại công đường hay khi

gặp cô gái bán lê giữa đường, khi đề quạt, làm thơ, đề tranh cho những viên lại ở

Quế Lâm hay khi ngâm vịnh trên sông nước, khi dạo chùa hay cả khi bị bệnh…

giọng thơ ông đều lộ chất khảng khải, hào sảng:

轎似飛雲客似鴻 Kiệu tự phi vân khách tự hồng,

夜而繼日北而東 Dạ nhi kế nhật bắc nhi đông.

士夫刮目看旁道 Sĩ phu quát mục khan bàng đạo,

草木傾心拜下風 Thảo mộc khuynh tâm bái hạ phong.

(Trịnh Hoài Đức, Đồ trung thư sự)

(Kiệu tựa mây bay, khách như chim hồng,

Đêm rồi lại ngày, đi hết bắc lại sang đông.

Sĩ phu trố mắt, đứng hai bên đường nhìn,

Cây cỏ nghiêng lòng lạy dưới làn gió.)

Tả sự cực khổ trên đường đi sứ mà vẫn xen lẫn những ý thơ trào lộng để thấy

tâm hồn phóng khoáng của nhà thơ. Khi nhớ quê cũng pha chút giọng hào sảng:

致身從許國 Trí thân tòng hứa quốc,

到處便成家 Đáo xứ tiện thành gia.

孤影天陪月 Cô ảnh thiên bồi nguyệt,

寒愁雪送花 Hàn sầu tuyết tống hoa.

(Trịnh Hoài Đức, Hành quán khiển hứng)

(Đem thân đền ơn nước,

Nơi đâu cũng có thể là nhà.

Lẻ bóng, trời đưa trăng đến làm bạn,

Nỗi sầu lạnh lẽo, tuyết tặng hoa.)

Chất giọng khoẻ khoắn, hơi thơ tươi tắn ấy còn bộc lộ rõ hơn khi việc sứ đã

xong, việc nước đã vẹn. Trên đường về, ông khẩu chiếm một bài thơ:

1 Nguyên chú: 南關北昭德臺南仰德臺關北二十里有幕府關南十里同登大庯爲南北互巿所又南行十里 至諒山鎮城前梅坡驛 (Phía bắc ải Nam Quan là đài Chiêu Đức, phía nam là đài Ngưỡng Đức, cách về phía bắc ải hai mươi dặm có một mạc phủ, cách về phía nam ải mười dặm có chợ Đồng Đăng, là nơi họp chợ của

南關無事樂情多 Nam quan vô sự lạc tình đa,

187

中外民夷撃壤歌 Trung ngoại dân di Kích nhưỡng ca.

昭德風清閒幕府 Chiêu Đức phong thanh nhàn mạc phủ,

同登塵怗靜梅坡 Đồng Đăng trần thiếp tĩnh mai pha.

儂人夜發通行輦 Nùng nhân dạ phát thông hành liễn,

粵客朝乘互巿騾 Việt khách triêu thừa hỗ thị la.

Ký ngữ chướng lam kim tự tích,

寄語瘴嵐今似昔 飛鳶跕跕墜洪波1 Phi diên thiếp thiếp truỵ hồng ba.

(Trịnh Hoài Đức, Sứ bộ xuất Nam Quan hồi quốc khẩu chiếm)

(Ải Nam Quan thảnh thơi vô sự, vô cùng vui vẻ,

Nhân dân hai nước hát mừng cảnh thái bình.

Chiêu Đức gió mát, quan lại nhàn nhã,

Đồng Đăng bụi lắng, đồi hoa mai yên ắng.

Xe cộ người Nùng đi lại trong đêm,

Người Quảng cỡi lừa sớm đến chợ.

Gửi lời lam chướng đất này nay vẫn như xưa,

Chim diều hâu bay lượn thường bị rơi xuống làn sóng lớn.)

Tiết điệu tự hào dân tộc và giọng điệu hào sảng của Trịnh Hoài Đức lộ rõ

trong hai câu cuối của bài thơ ứng khẩu. Nó hoàn toàn không cường điệu mà nhẹ

nhàng, uyển chuyển như bản tính thuần hậu của ông.

Cùng viết về đề tài người ca kỹ, nhưng Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du

lại cho ta một cảm xúc nuối tiếc, đau xót, và những chiêm nghiệm về kiếp người

của một người mang nhiều nỗi đau, nhiều biến cố; còn Trịnh Hoài Đức lại nhìn cô

ca kỹ mù ở góc độ cảm thương cho một người đẹp bị mù, tức tình cảm thương xót

bình thường của một tài tử đối với một cô gái bất hạnh, mà chưa nâng lên tầm khái

quát của kiếp người, cuộc đời. Giọng điệu trong bài thơ chỉ pha chút cảm thương,

cảm khái. Tuy vậy, bài thơ hay ở chỗ tác giả đã nói được vẻ đẹp tâm hồn trong

trắng của người ca kỹ:

遶梁歌罷漫凝神 Nhiễu lương ca bãi mạn ngưng thần,

春去春來不管春 Xuân khứ xuân lai bất quản xuân.

người dân phương nam và phương bắc, lại đi về phía nam mười dặm thì đến dịch trạm Mai Pha (gò mai) trước trấn thành Lạng Sơn.)

白璧面前傷有玷 Bạch bích diện tiền thương hữu điếm,

188

紅顏目下看無人 Hồng nhan mục hạ khán vô nhân…

… 閒散欄庭嬌立月 … Nhàn tản lan đình kiều lập nguyệt,

一枝花睡露香新 Nhất chi hoa thuỵ lộ hương tân.

(Trịnh Hoài Đức, Manh kỹ)

(Tiếng ca vương vấn xà nhà vừa dứt, cô gái lắng thần,

Nàng cứ mặc cho mùa xuân đến, rồi xuân trôi qua.

Trước vẻ mặt trắng như ngọc, xót thương có tỳ vết,

Đôi má hồng, nhưng trong mắt nàng chẳng có ai.

… Hàng hiên dạo bước, đứng dưới trăng,

Một cành hoa ngủ, hương móc thoảng.)

Nguyễn Du tả cô ca kỹ đất Thăng Long với một xúc động lạ thường: từ gặp gỡ,

nhớ kỷ niệm xưa, đến khi người ca kỹ gảy đàn, Nguyễn Du tả tiếng đàn, hình dung

người ca kỹ, và sau cùng là sự cảm khái của tác giả. Trịnh Hoài Đức với bài thơ luật,

hẳn nhiên không thể nói được nhiều điều như Nguyễn Du, nên ông chỉ tả lời ca của

cô ca kỹ mù trong một câu “nhiễu lương ca bãi, mạn ngưng thần”. Phần còn lại của

bài thơ là luận về hình dung và tâm hồn của nàng. Trong bài thơ này, có đôi chỗ

mang giọng điệu cảm thương khi nói đến hình dung người ca kỹ, nhưng hai câu

cuối vẫn là giọng điệu của một tấm lòng bao dung, khảng khái. Tác giả nhìn người

ca kỹ với vẻ đẹp thanh tân của tâm hồn, trang nhã như ý thơ của Basho:

Chung quán bên đường

Các du nữ ngủ

Trăng và đinh hương

(Nhật Chiêu dịch)

3.2.2. Ngô Nhân Tĩnh – thâm trầm và chiêm nghiệm

Nếu giọng điệu chủ đạo của Trịnh Hoài Đức là hào sảng, hùng hồn, thì giọng

điệu trong thơ của Ngô Nhân Tĩnh là giọng điệu tâm tình, vừa phóng dật thâm trầm

lại vừa có chất chiêm nghiệm suy tư.

Ngô Nhân Tĩnh có ít nhất năm lần đi sứ: hai lần đi sang Chân Lạp, ba lần đi

Trung Quốc, nhưng chuyến đi sứ Trung Quốc chính thức là năm 1802 cùng với

Trịnh Hoài Đức và Huỳnh Ngọc Uẩn. Lần đi sứ đầu tiên của ông năm 1789, coi như

chưa trọn vẹn, nên tâm sự trong những dòng thơ sáng tác vào khoảng thời gian này

189

phảng phất nỗi mặc cảm và mong tìm sự cảm thông. Chính mang tâm sự như thế,

giọng điệu trong thơ của Ngô trở nên thâm trầm:

蕭蕭古木山川落 Tiêu tiêu cổ mộc sơn xuyên lạc,

滾滾長江盡夜流 Cổn cổn trường giang tận dạ lưu.

未卜他年如願否 Vị bốc tha niên như nguyện phủ,

幾囘惆悵獨登樓 Kỷ hồi trù trướng độc đăng lâu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Áo Môn lữ ngụ Xuân Hoà đường thư hoài)

(Cây cối xác xơ rụng rơi trong sông núi,

Sông dài cuồn cuộn trôi chảy suốt đêm.

Chưa biết năm nào được như ước nguyện,

Bao lần buồn bã một mình lên lầu.)

Chặng đường thơ khi Ngô đi sứ Trung Quốc năm 1802 cùng các bạn, khiến

thơ ông có bài tươi tắn hơn, có tiếng cười trào lộng khi đi đường nhưng sau tiếng

cười lại là sự chiêm nghiệm về lòng người:

志堅若鉄馳驅際 Chí kiên nhược thiết trì khu tế,

身軟如綿坐臥時 Thân nhuyễn như miên toạ ngoạ thì.

輪轉英雄成就處 Luân chuyển anh hùng thành tựu xứ,

轔轔不息是心機 Lân lân bất tức thị tâm ki.

(Ngô Nhân Tĩnh, Trực Lệ đạo trung xa trung vịnh)

(Chí cứng như sắt, trên đường rong ruổi,

Thân mềm như bông, lúc nằm ngồi.

Xoay chuyển là chỗ thành tựu của bậc anh hùng,

Máy động rần rần không ngừng là tâm cơ.)

Xen lẫn những vần thơ có vẻ tươi tắn là những nỗi niềm tâm sự về cuộc đời,

than thở cho những giấc mộng xưa nay:

一片高懷雲遠外 Nhất phiến cao hoài vân viễn ngoại,

三更明對月當中 Tam canh minh đối nguyệt đương trung.

… 今古夢殘還獨嘆 … Kim cổ mộng tàn hoàn độc thán,

芙蓉江上釣漁翁 Phù Dung giang thượng điếu ngư ông.

(Ngô Nhân Tĩnh, Nhâm Tuất niên mạnh đông sứ hành

do Quảng Đông thuỷ trình vãng Quảng Tây…, 1)

(Một tấm lòng cao thượng như mây ngoài xa,

190

Ba canh tâm sáng tựa vầng trăng giữa trời.

… Giấc mộng xưa nay đã tàn, một mình than thở,

Trên sông Phù Dung, có một lão ngư ngồi câu.)

Tấm lòng nhiều tâm sự của Ngô sẽ được bày tỏ cùng sông hồ:

五湖知我心同淡 Ngũ hồ tri ngã tâm đồng đạm,

鉄笛無聲水自流 Thiết địch vô thanh thuỷ tự lưu.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đăng Nhạc Dương lâu vọng Động Đình hồ)

(Ngũ hồ hẳn biết lòng ta cùng đạm bạc,

Sáo sắt không tiếng, nước vẫn trôi.)

Hoàn thành nhiệm vụ đi sứ, có chung niềm vui với Trịnh Hoài Đức, nhưng

Ngô Nhân Tĩnh còn có những suy tư riêng khi đi trên sông Tương, nơi Khuất

Nguyên đã trầm mình vì đau buồn cho đất nước:

雲橫囘鴈夕陽遲 Vân hoành hồi nhạn tịch dương trì,

石岸船頭樹影移

二載一聞新國號 Thạch ngạn thuyền đầu thụ ảnh di. Nhị tải nhất văn tân quốc hiệu,1

五湖兩度故鄉思 Ngũ hồ lưỡng độ cố hương ti (tư).

孤蓬短棹滄江臥 Cô bồng đoản trạo thương giang ngoạ,

細雨殘風畫角吹 Tế vũ tàn phong hoạ giốc xuy.

過客莫從漁父問 Quá khách mạc tùng ngư phủ vấn,

汨羅自古楚人悲 Mịch La tự cổ Sở nhân bi.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 4)

(Mây giăng ngang, chim nhạn bay về, ánh tịch dương chầm chậm,

Bờ đá, mũi thuyền, bóng cây đều chuyển dời.

Hai năm giờ mới được nghe tên nước mới,

Hai lần dạo Ngũ hồ với nỗi nhớ quê hương.

Mái thuyền lẻ, thanh chèo ngắn, nằm trên sông xanh,

Mưa phùn, gió hắt, tiếng tù và trổi.

Khách qua đường chớ theo hỏi lão chài,

1 Câu này nhắc chuyện nước ta, sau khi Gia Long lên ngôi, lấy hiệu nước là Nam Việt, sai Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong, nhưng nhà Thanh e ngại, phải thư từ qua lại nhiều lần, sau mới đổi hiệu nước lại thành Việt Nam.

Sông Mịch La xưa nay đắm nỗi buồn của người nước Sở.)

191

Vẫn là giọng điệu tâm tình sâu lắng, rất khác với giọng thơ của Trịnh Hoài

Đức. Nâng chén rượu giải buồn mà lại là “gượng” (cưỡng) nâng:

十年湖海萍蓬跡 Thập niên hồ hải bình bồng tích,

一片山河楚越踪 Nhất phiến sơn hà Sở Việt tung.

客况無聊詩思苦 Khách huống vô liêu thi tứ khổ,

强將杯酒豁心胸 Cưỡng tương bôi tửu khoát tâm hung.

(Ngô Nhân Tĩnh, Hồ Quảng quy chu đồ trung tác tam thập vận, 2)

(Mười năm như cánh bèo trôi trên sông biển,

Một mảng non sông là dấu vết của nước Sở và nước Việt.

Tình cảnh của khách buồn bã, làm tứ thơ khó nhọc,

Gượng đem chén rượu giải nỗi lòng.)

Sau chuyến đi sứ Trung Quốc, cuối năm Đinh Mão 1807, Ngô Nhân Tĩnh

nhận mệnh làm chánh sứ sang Chân Lạp ban phong cho vua Nặc Chân, cùng đi

trong chuyến này có phó sứ Trần Công Đàn. Trên đường đi, gặp lũ lớn ở sông Trà

Khúc, Quảng Ngãi, ông viết thơ bày tỏ nỗi sốt ruột, trễ nải trong việc sứ, mặc dù

ông đã tự an ủi mình rằng “dục tốc tùng lai đa bất đạt” (xưa nay muốn nhanh chóng

thường không đạt). Bài thơ tuy bày tỏ sốt sắng lo lắng việc sứ chậm trễ nhưng cũng

đượm chất chiêm nghiệm về đạo trị nước khi nhìn cơn lũ.

Và bài thơ lưu biệt các bạn đồng liêu để đưa Nặc Chân về Chân Lạp lần cuối

cùng với Tả quân Lê Văn Duyệt – người đã khiến cho Ngô Nhân Tĩnh phải ngậm

oan mà ra đi – đặt cuối tập thơ cũng mang chất giọng trầm hùng:

滿城春色送征鞍 Mãn thành xuân sắc tống chinh an,

半句心頭欲話難 Bán cú tâm đầu dục thoại nan.

未信臨民師子產 Vị tín lâm dân sư Tử Sản,

敢將市義效馮驩 Cảm tương thị nghĩa hiệu Phùng Hoan.

江山有意雲相浄 Giang sơn hữu ý vân tương tịnh,

天地無心物自閒 Thiên địa vô tâm vật tự nhàn.

此去已期梅月會 Thử khứ dĩ kỳ mai nguyệt hội,

休將杯酒唱陽關 Hưu tương bôi tửu xướng Dương Quan.

(Ngô Nhân Tĩnh, Đáp chư hữu tặng biệt nguyên vận)

(Cảnh xuân đầy thành đưa tiễn người đi xa,

Nửa lời tâm sự, muốn nói nhưng khó nói.

192

Chưa tin ta thương dân như con, còn học Tử Sản,

Nhưng dám mua nghĩa, bắt chước theo Phùng Hoan

Sông núi có ý, mây sạch làu,

Trời đất vô tâm, vạn vật tự thành.

Từ đây, hẹn hội ngộ vào mùa mai,

Chớ nâng chén rượu hát khúc Dương Quan).

Khi viết lời tựa cho tập thơ Ngô Nhân Tĩnh, Bùi Dương Lịch cảm nhận:

忠 愛 之 情 發 之 詩, 隨 感 隨 發, 筆 與 情 到 而 其 一 般 宕 佚 之

致, 飄 乎 旁 日 月 而 挾 宇 宙, 隱 隱 乎 情 之 外, 非 一 篇 一 句 所 可 指

摘 。殆 蒙 莊 所 謂 若 有 真 宰 而 不 得 其 朕 者 斯 非 神 之 全 歟 ? “Trung ái

chi tình phát chi thi, tuỳ cảm tuỳ phát, bút dữ tình đáo nhi kỳ nhất ban đãng dật chi

trí phiêu hồ. Bạng nhật nguyệt nhi hiệp vũ trụ, ẩn ẩn hồ tình chi ngoại, phi nhất

thiên nhất cú sở khả chỉ trích. Đãi Mông Trang sở vị “nhược hữu chân tể nhi bất đắc kỳ trẫm”1 giả, tư phi thần chi toàn dư?” (Cái tình trung quân ái quốc phát lộ

vào thơ, theo cảm xúc mà phát ra, câu chữ ý tình đều thấu đáo mà thơ thường phóng

dật vô cùng, nương tựa nhật nguyệt, ôm cả vũ trụ, tình cảm chan chứa, nào phải chỉ

một bài một câu mà có thể trích được, quả giống như lời Trang Tử nói, “giống như

có đấng chân tể nhưng mà không thấy được dấu vết đó”, ấy không phải là sự toàn

vẹn của thần chăng?)

Với tính cách đạm bạc, phong thái nhàn dật, những dòng thơ của Ngô Nhân

Tĩnh dường như phóng dật thanh thoát. Tình cảm mà Ngô Nhân Tĩnh dành cho quê

hương đất nước, cho bè bạn sâu đậm và nồng hậu khiến thơ ông mang chất giọng

tâm tình, chiêm nghiệm và thâm trầm. Chất phóng dật trong thơ Ngô Nhân Tĩnh

khác với Trịnh Hoài Đức và kiểu thâm trầm cũng không giống với nét suy tư của

người bạn ông Lê Quang Định, có lẽ vì thế mà thơ của Ngô Nhân Tĩnh được đánh

giá rất cao bởi các nhân sĩ Bắc Hà.

3.2.3. Lê Quang Định – khoan thai và đôn hậu

Lê Lương Thận trong bài tựa tập Hoa Nguyên thi thảo nhận xét về thơ Lê

1 Câu này lấy từ sách Trang tử, Tề vật luận: 若 有 真 宰, 而 特 不 得 其 眹 (giống như có đấng chân tể (trời) mà không thể thấy được dấu vết của trời)

Quang Định có viết:

193

今 讀 其 詩 雍 容 不 迫, 一 本 之 以 溫 柔 敦 厚 之 意, 形 於 咨 嗟 嘆

詠 之 間, 不 假 雕 琢 而 其 氣 自 充, 直 可 繼 前 徽 而 光 國 體 “Kim độc kỳ

thi, ung dung bất bách, nhất bản chi dĩ ôn nhu đôn hậu chi ý, hình ư tư ta thán vịnh

chi gian, bất giả điêu trác nhi kỳ khí tự sung, trực khả kế tiền huy nhi hậu quang

quốc thể” (Nay đọc thơ ông, ung dung thong thả, suốt tập đều lấy ý ôn, nhu, đôn,

hậu bày tỏ vào trong lời ca ngâm than thở, không cần chạm trổ câu chữ mà khí thơ

tự đầy tràn, thật có thể kế thừa tiền nhân để làm rạng rỡ quốc thể).

Quả thật, thơ của Lê Quang Định có cái thong dong, nhàn nhã của một người

tính tình cẩn thận nhưng mang tố chất một tài tử. Toàn tập thơ của Lê Quang Định

cùng một giọng điệu khoan thai, nhàn nhã, đôn hậu.

言語羞將品使才 Ngôn ngữ tu tương phẩm sứ tài,

直敎寸念得叨陪 Trực giao thốn niệm đắc đao bồi.

龍城雲樹描離思 Long thành vân thụ miêu li tứ,

燕地梯航逐遠來 Yên địa thê hàng trục viễn lai.

征眼翠連關上椏 Chinh nhãn thuý liên quan thượng liễu,

皇華香送隴頭梅 Hoàng hoa hương tống lũng đầu mai.

今朝非以尋常醉 Kim triêu phi dĩ tầm thường tuý,

擕手相將莫厭杯 Huề thủ tương tương mạc yếm bôi.

(Lê Quang Định, Lưu biệt Bắc thành chư liêu hữu,

bộ Quỳ Giang hầu nguyên vận)

(Thẹn đem lời nói bình phẩm tài năng của sứ giả,

Tấc lòng luôn nghĩ mình may mắn được chọn đi sứ.

Mây và cây ở thành Thăng Long tô vẽ nỗi sầu xa cách,

Thuyền sứ lên đất Bắc (Trung Quốc) như đẩy người xa thêm.

Trông xa liễu trên quan ải một màu xanh biếc nối liền,

Trên đường đi sứ, hoa mai đầu truông núi đưa hương.

Sáng nay chẳng phải say vì những việc tầm thường,

Tay nắm tay, xin chớ từ li.)

Phong thái ung dung của Lê Quang Định hiện rõ ngay trong những bài thơ từ

đầu tập đến cuối tập. Giọng điệu trong thơ Lê Quang Định không gay gắt, không

quá trầm buồn mà thong dong. Cả nỗi nhớ mẹ nhớ cha của ông trên chặng đường đi

sứ khi gặp ngày giỗ hay trong nỗi buồn suy tư cũng mang giọng khoan thai, tâm sự:

194

桑蓬易足平生志 Tang bồng dị túc bình sinh chí,

香火難供一寸誠 Hương hoả nan cung nhất thốn thành.

揮淚自羞豺獺念 Huy lệ tự tu sài lãn niệm,

低頭空聽鷓鴣聲 Đê đầu không thính giá cô thanh.

整容參望虛靈鑒 Chỉnh dung tham vọng hư linh giám,

霜鬂愁催鏡裡盈 Sương mấn sầu thôi kính lý doanh.

(Lê Quang Định, Khách trung ngộ huý nhật cảm tác)

(Bình sinh chí tang bồng dễ thành,

Hương lửa khó cúng, chỉ một tấc lòng thành.

Gạt lệ tự thẹn cho lòng hiếu thua loài sói,

Cúi đầu nghe mãi tiếng đa đa.

Sửa áo mão bái lạy nơi xa, mong hương linh chứng giám,

Mái tóc sương pha bởi sầu giục đầy cả trong gương.)

Những bài thơ ông viết tặng cho những nhân sĩ Thanh triều càng bộc lộ phong

cách tự tại thong dong của nhà thơ, của một chánh sứ cầu phong:

江關歷歷泛星槎 Giang quan lịch lịch phiếm tinh tra,

偶向湘潭覩物華 Ngẫu hướng Tương Đàm đổ vật hoa.

風惹琹聲堂上曲 Phong nhạ cầm thanh đường thượng khúc,

園留春色縣中花 Viên lưu xuân sắc huyện trung hoa.

北南分土雖千里 Bắc nam phân thổ tuy thiên lý,

今古斯文亦一家 Kim cổ tư văn diệc nhất gia.

半面莫嫌相識淺 Bán diện mạc hiềm tương thức thiển,

時牽清夢到天涯 Thời khiên thanh mộng đáo thiên nha.

(Lê Quang Định, Đề phiến tặng Tương Đàm Lục Dự Tri huyện)

(Lướt thuyền trải khắp non sông,

Chợt vào Tương Đàm xem cảnh sắc phồn hoa.

Gió lộng tiếng đàn cầm trên công đường,

Vườn nhà giữ sắc xuân, hoa trong huyện.

Đất đai chia nam bắc tuy cách ngàn dặm,

Nhưng văn hoá xưa nay cũng chỉ coi là một nhà.

Gặp gỡ vội vàng, biết nhau cũng chẳng mấy,

Thường dắt giấc mơ thanh tao đến chân trời.)

195

Cái vẻ khoan thai ung dung, cẩn thận từ bản tính tác giả đã truyền hơi vào thơ,

biến thành giọng điệu khoan thai hoà nhã. Lê Quang Định là chánh sứ phái đoàn

thỉnh phong đầu tiên khi Gia Long thống nhất đất nước, do đó không thể không nói

đến tâm thái sảng khoái, ung dung của một sứ thần Việt Nam đối với các nhân sĩ

Thanh triều. Tâm thái đã thanh nhàn thì thơ đâu thể xúc bách, nên lời lẽ vào thơ

cũng tự tại khoan thai.

Bài thơ ngẫu hứng làm trên đường tuy có sự chiêm nghiệm về thời cuộc nhưng

người đọc vẫn thấy tiết điệu khoan dung hoà nhã:

幾度桑田幾度滄 Kỷ độ tang điền kỷ độ thương,

堪輿一塊正茫茫 Kham dư nhất khối chính mang mang.

山河著落枰中久 Sơn hà trứ lạc bình trung cửu,

王伯盈輸局裡忙 Vương bá doanh du cục lý mang.

天若無文機不造 Thiên nhược vô văn cơ bất tạo,

地因有理險能藏 Địa nhân hữu lý hiểm năng tàng.

桑蓬最是平生意 Tang bồng tối thị bình sinh ý,

莫厭間關道路長 Mạc yếm gian quan đạo lộ trường.

(Lê Quang Định, Ngẫu tác)

(Mấy độ nương dâu hoá thành biển cả,

Một mảnh dư đồ còn mịt mờ.

Non sông được hay mất, trong cờ đã có từ lâu,

Vương bá thắng hay thua, trong cuộc còn bận.

Trời nếu không có văn, cơ xảo không tạo được,

Đất vì có lý, hiểm hung có thể ẩn tàng.

Thoả chí tang bồng là ý cả cuộc đời,

Nên chẳng chán đường dài cách trở núi non.)

Bốn câu đầu là chiêm nghiệm về thời cuộc, bốn câu sau là ngộ lẽ trời đất, vì

thế tác giả dẫu rong ruổi trên đường xa hiểm trở mà chẳng ngại. Phong thái an nhàn

ấy sở dĩ có được cũng là do bản tính cẩn trọng thuần phác của một nhà Nho vui với

đạo.

Có thể nói phong cách và giọng điệu thơ của Gia Định tam gia được hình

thành không chỉ bởi những yếu tố nghệ thuật nội tại của thơ ca, mà không thể không

tính đến những yếu tố khách quan từ xã hội, văn hoá kinh tế chính trị thời bấy giờ

196

đã góp phần làm nên chất giọng và phong cách thơ của các ông. Trịnh Hoài Đức có

phong cách phóng khoáng hào sảng của một nhà nho hành đạo pha chất tài tử từ

việc hấp thu văn hoá đa dạng ở Nam Bộ; Ngô Nhân Tĩnh ý thơ phóng dật ẩn ức

thâm trầm bởi tính cách và những cảnh ngộ oan tình; và Lê Quang Định tài hoa

nhưng ít đa tình lại nhiều suy tư của người gốc miền Trung vào Nam Bộ kiếm sống.

Những yếu tố ấy góp lại sẽ làm nên tiếng nói, làm nên chất giọng khá riêng trong

thơ mỗi tác giả.

Từ phong thái đến giọng điệu là một ranh giới khá gần. Do vậy xác định giọng

điệu ngoài việc dựa vào hình thức nghệ thuật thơ còn phải chú ý đến phong thái tính

tình của tác giả. Tuy nhiên, với thể thơ Đường luật, chúng ta khó mà xác định giọng

điệu từ hình thức câu thơ, vì kết cấu thơ luật đã trở thành khuôn mẫu chung. Người

xưa bàn thơ, đọc lên và cảm nhận bằng sự tinh nhạy từng trải, hơn là ngồi soi từng

câu từng chữ. Tình cảm thế nào sẽ phát lộ vào thơ thế ấy. Cho nên đọc thơ, người

đọc cũng tự nhiên cảm nhận được tình cảm của nhà thơ.

Hẳn nhiên một tác giả không bao giờ chỉ một giọng điệu mà có khi đa giọng.

Những giọng khác nhau làm nên tính đa dạng của tác giả, nhưng để khu biệt giữa

các tác giả, giọng điệu chủ đạo là vấn đề quan trọng. Nếu Nguyễn Du với giọng

điệu tâm tình, chiêm nghiệm về cuộc đời là giọng điệu chính, thì giọng điệu chủ đạo

của Trịnh Hoài Đức là giọng điệu khảng khái và hào sảng của một vị quan hiển đạt

thanh bạch. Ngô Nhân Tĩnh với giọng thâm trầm, tâm tình và Lê Quang Định với

giọng hoà nhã, khoan thai.

Như đã nói, để đưa ra đặc điểm phong cách nghệ thuật của một tác giả là việc

làm không dễ dàng, nhất là những tác giả thời trung đại sáng tác bằng chữ Hán, thứ

chữ rất lạ đối với những người hậu học bằng quốc ngữ La-tinh như chúng ta. Do

vậy, việc đề ra đặc điểm phong cách nghệ thuật trong luận án này vẫn mang ý kiến

vừa chủ quan vừa khách quan. Hy vọng vấn đề sẽ được tiếp tục trong một chuyên

luận khác chỉ riêng về nghệ thuật thơ của Gia Định tam gia khi có điều kiện nghiên

cứu tiếp.

197

TIỂU KẾT NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ NGHỆ THUẬT CỦA THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

Nhìn chung, thơ Gia Định tam gia dù hạn chế về đề tài và thể loại, nhưng đã

kế thừa và phát huy được những khai phá của tiền nhân. Những sự vật, hình ảnh

thường thấy trong đời sống có từ thơ Nguyễn Trãi, Hồng Đức quốc âm thi tập, hay

thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm… đã được Gia Định tam gia, đặc biệt là Trịnh Hoài Đức

thừa kế và đưa vào thơ chữ Hán của mình, tạo nên những hình ảnh nghệ thuật thú vị,

tự nhiên như ở thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Tao đàn của Lê Thánh Tông và Nguyễn

Bỉnh Khiêm,… Tiếng Hán, đối với những người Minh Hương vừa là một cổ ngữ,

nhưng đồng thời cũng là một loại sinh ngữ. Do đó, việc dùng ngôn ngữ Hán để diễn

đạt những sự vật đời thường cũng là hợp lý. Đồng thời, có thể lý giải từ góc độ ý

thức nghệ thuật của Trịnh Hoài Đức. Phải chăng Trịnh Hoài Đức muốn đưa những

hình ảnh đời thường vào thơ với mục đích dân dã hoá thể loại thơ vốn rất bác học?

Thơ Trịnh Hoài Đức có đóng góp lớn đối với phương diện này. Một loạt

những hình ảnh, sự vật như tua quạt (Hổ phách lân phiến truỵ), cây móc tai (Nhĩ

bả), chiếc kính mắt (Mục kính), tôm càng xanh (Thanh hà), cá rô (Quá sơn ngư)…

cho đến những loại cây quả Miền Nam như: cây bần (Thuỷ liễu), cây khế (Dương

đào), cây mãng cầu (Phật đầu lê), cây ổi (Dã thạch lựu)… khi vào thơ, được tác giả

cấp thêm biểu tượng mới: biểu tượng quân tử. Việc làm này dường như lại ngược

với điều vừa nói trên, tức là ông đang tạo cho những hình ảnh bình thường ấy một

nội dung bác học.

Hình ảnh con tôm trong thơ Trịnh Hoài Đức là biểu tượng kẻ sĩ, thì đến thời

của Học Lạc, một nhà thơ trào phúng xuất sắc trong nền văn học Hán Nôm Gia

Định, con tôm đã trở thành biểu tượng kẻ vô đức, vô tài. Từ đó cho thấy, việc thay

đổi nhân sinh quan trước những rạn nứt của thể chế chính trị đương thời, hệ quả là

xảy ra một cuộc thay đổi quan niệm thẩm mỹ. Thơ thời Gia Định tam gia mang tính

giáo hoá theo kiểu Nho gia, nên ôn nhu đôn hậu; còn thơ giai đoạn sau, đặc biệt khi

những người cầm bút ý thức được mỗi ngọn bút, mỗi bài thơ là vũ khí chiến đấu sắc

bén, công kích những thói hư tật xấu, những kẻ xu nịnh, tự nhiên bản thân thơ ca

cũng sẽ mang tính chiến đấu. Trong thơ Nôm của Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt,

198

Nguyễn Hữu Huân… ta sẽ thấy đề tài viết về những sự vật dân dã đời thường này,

nhiều khi có vẻ như dung tục nhưng tính đả kích chiến đấu cao (Phan Văn Trị với

thơ Con muỗi, Cái cối xay, Con cua, Hột lúa… ; Huỳnh Mẫn Đạt với Chó già, Đĩ

già đi tu… ).

Việc dùng các thể thơ Đường luật trong sáng tác, một mặt cho thấy sở trường

của các ông, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự hạn chế trong lựa chọn thể thơ để

biểu đạt tư tưởng tình cảm. Trong Gia Định tam gia, Trịnh Hoài Đức là người sáng

tác nhiều thể loại hơn so với Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh, cho phép chúng ta

suy luận ông là người linh hoạt, thừa kế và làm chủ được nhiều thể loại trong sáng

tác. Ngoài ra, thể thất ngôn bát cú liên hoàn trước đây rất ít người sử dụng đã xuất

hiện trong sáng tác của Trịnh Hoài Đức. Nguyễn Trãi trước đó có dùng thể thất

ngôn tứ tuyệt liên hoàn này nhưng không thấy phổ biến. Đến giai đoạn sau, thể thơ

này được các nhà thơ Nam Bộ sử dụng nhiều hơn. Trịnh Hoài Đức có 20 bài thơ

Nôm viết theo thể thất ngôn bát cú liên hoàn, sau đó, lại thấy Nguyễn Đình Chiểu

dùng để viết thơ viếng Trương Định (12 bài), điếu Phan Tòng (10 bài), ngoài ra Tôn

Thọ Tường, Phan Văn Trị (Tôn Thọ Tường có Tự thuật làm theo thể liên hoàn (gồm

10 bài), Phan Văn Trị hoạ lại thơ của Tôn Thọ Tường để đả kích, gây nên một cuộc

bút chiến; Phan Văn Trị còn có thơ Hoài cảm cũng gồm 10 bài) và Lê Quang Chiểu

cũng có thơ theo thể này…

Về ngôn ngữ, các ông vẫn sử dụng ngôn ngữ chính là tiếng Hán, tuy nhiên

được dùng khá linh hoạt. Đó là sự kết hợp giữa văn ngôn và bạch thoại, giữa ngôn

ngữ ước lệ với ngôn ngữ đời thường, cùng với việc sử dụng điển cố điển tích và

những thi liệu Hán học, khiến thơ của các ông có những hình ảnh, kiến giải khá đặc

biệt. Thơ của Gia Định tam gia nhìn chung rất giống với thơ thời Trần từ phương

diện sử dụng ngôn ngữ. Điều đó có thể khiến thơ của Tam gia dễ dàng hoà nhập vào

trong ngôi nhà thơ của toàn dân tộc.

Việc dùng chữ Nôm để sáng tác thơ, đối với Trịnh Hoài Đức cũng mang ý

nghĩa lớn. Ông sáng tác thơ Nôm trên đường đi sứ là điều ít thấy trong lịch sử thơ

ca dân tộc. Sự đóng góp của Trịnh Hoài Đức về mặt ngôn ngữ Nôm cũng phải được

nói đến như sự truyền thừa và phát triển từ tiền nhân, đồng thời làm nhịp cầu cho

những nhà thơ Nam Bộ ở giai đoạn sau phát huy tính linh hoạt, khả năng diễn đạt

của tiếng Nôm trong sáng tác.

199

Xác định giọng điệu là tương đối khó đối với những nhà thơ trung đại, do đó,

tuy không thể nói nhiều về các giọng khác nhau của Gia Định tam gia, nhưng chúng

tôi đã cố gắng xác định giọng điệu chủ đạo từ thực tiễn nội dung thơ của các ông

thông qua tâm sự, phong cách và hoàn cảnh, cảnh ngộ của từng tác giả. Trong Gia

Định tam gia, thơ của Trịnh Hoài Đức nổi bật không những vì số lượng, mà còn vì

sự phong phú đa giọng. Mặc dù mỗi tác giả có thể có nhiều giọng đan xen, nhưng

trong đó vẫn nổi lên giọng điệu chủ đạo: Trịnh Hoài Đức với giọng hào sảng, Ngô

Nhân Tĩnh với giọng thâm trầm và Lê Quang Định với giọng khoan thai… sẽ góp

tiếng nói riêng của mình vào dàn đồng ca toàn dân tộc.

Với dung lượng hạn hẹp, luận án chưa thể phân tích hết nghệ thuật thơ của Gia

Định tam gia từ nhiều phương diện. Để tìm hiểu nghệ thuật thơ Gia Định tam gia,

hẳn sẽ cần một chuyên luận riêng, khảo sát đầy đủ từ nhiều góc độ. Nhưng từ những

điều trình bày trên, có thể cho ta hình dung về nghệ thuật thơ của các tác giả Hán

Nôm trong buổi đầu của nền văn học Hán Nôm Nam Bộ đã có sự thuần thục và

được ấn chứng qua sự giao lưu với những nhân sĩ đất Bắc cũng như ở nước ngoài.

Thơ Gia Định tam gia, trong bối cảnh phát triển của văn học Hán Nôm Nam

Bộ, tuy chưa có những thành tựu lớn, nhưng đã tạo bản lề cho văn học Hán Nôm

Nam Bộ ở giai đoạn đầu được liền mạch với giai đoạn sau. Đồng thời những thi

phẩm này khơi nguồn cho văn mạch Miền Nam chảy rộng hơn sâu hơn vào trong

dòng chảy văn học chung.

Nhìn chung, phong cách nghệ thuật thơ Gia Định tam gia trong buổi đầu của

văn học Hán Nôm Nam Bộ mang những đặc điểm sau: ổn định, nghiêm chỉnh, trang

nhã dù đang viết về những đề tài rất đời thường trong cuộc sống; cái nhìn nhã hoá

những sự vật hiện tượng trong đời sống với ngôn ngữ vừa bác học vừa giản dị trang

nhã; phong cách ca ngâm hoạ vịnh bắt nguồn từ nghệ thuật diễn xướng dân gian rất

phổ biến trong đời sống ở Nam Bộ; chú ý đến việc ghi lại hiện thực sinh động bằng

thơ, do đó mang tính chất tự sự rõ nét đan xen trong chất trữ tình.

Xuất hiện trên thi đàn trong buổi đầu văn học Hán Nôm Nam Bộ giữa bối

cảnh lịch sử đang có nhiều chuyển động, thơ Gia Định tam gia vừa mang nội dung

và hình thức có vẻ như cũ so với nền văn học toàn dân, nhưng lại vừa có tính chất

mới mẻ đối với vùng đất Nam Bộ - một vùng đất đang đi lên từ buổi đầu khai hoang

đến buổi xây dựng thiết chế thống trị trong toàn quốc của triều đình Nguyễn. Do

200

vậy, thơ của Gia Định tam gia đối với tiến trình văn học Hán Nôm Nam Bộ có

những đóng góp nhất định về nội dung cũng như về hình thức nghệ thuật: đó là

cuộc sống đang ươm mầm trên mảnh đất Nam Bộ đã được ánh phản trong thơ của

các ông và sự định hình về thể loại. Chính vì thế, thơ Gia Định tam gia mang tính

chất “dấu nối” giữa thơ ca truyền thống của cả dân tộc với thơ ca Hán Nôm đang

hình thành và phát triển ở Nam Bộ, để rồi sau đó, đội ngũ sáng tác trên vùng đất

mới này sẽ tiếp tục ghi dấu ấn của mình trong nền văn học Việt Nam.

201

KẾT LUẬN

Gia Định tam gia là những nhà thơ lớn ở buổi đầu của nền văn học Hán Nôm

Gia Định Nam Bộ. Thế nhưng thơ của các ông cho đến nay vẫn chưa được nghiên

cứu và tìm hiểu một cách thấu đáo mà chỉ mang tính chất giới thiệu khái quát. Luận

án của chúng tôi đã nghiên cứu tìm hiểu ở các phương diện tiêu biểu và bước đầu

đạt được những kết quả sau:

1. Về công bố văn bản tác phẩm thơ của Gia Định tam gia. Công trình dịch và

giới thiệu thơ của các ông nhiều nhất cho đến nay là công trình Gia Định tam gia

của tác giả Hoài Anh. Tuy có những đóng góp nhất định về việc giới thiệu thơ của

Tam gia nhưng trong công trình này vẫn bộc lộ nhiều khuyết điểm.

Nhận thấy công tác văn bản là yếu tố quan trọng đầu tiên để tìm hiểu một cách

chính xác tư tưởng tình cảm của Gia Định tam gia, chúng tôi, một mặt thừa kế

những thành quả của người đi trước, mặt khác cố gắng khảo sát dịch thuật gần như

toàn bộ thơ của Gia Định tam gia (Trịnh Hoài Đức 287/327 bài; Ngô Nhân Tĩnh

182/187 bài do thiếu mất 5 bài; Lê Quang Định 75/77 bài do thiếu mất 2 bài. Tổng

cộng đã dịch 544 bài) nhằm bổ sung và cung cấp cho người đọc những tư liệu khả

tín. Ngoài ra, chúng tôi dịch và công bố tất cả 9 bài tựa, bạt trong các thi tập của Gia

Định tam gia nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu quan niệm sáng tác cũng như hiểu

thêm những khía cạnh khác về cuộc đời và thơ Tam gia.

2. Nội dung tư tưởng thơ Gia Định tam gia được chúng tôi làm rõ trong

chương 2. Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh là những danh thần

triều Nguyễn sơ, với một vương triều vừa được thiết lập lại hẳn nhiên vẫn còn mang

những yếu tố tiến bộ tích cực, do đó, trong tư tưởng và tình cảm của các ông vẫn

xem vua là đại diện của nước, trung với vua là trung với nước và đôi lúc còn mang

nhiều yếu tố tư tưởng Nho giáo chính thống khi nhìn về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn.

Cái nhìn lầm lạc và ngộ nhận về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn xuất phát từ những hạn

chế mang tính lịch sử, do đó không phải chỉ riêng Gia Định tam gia, mà ta còn thấy

ở những tác giả khác trong nền văn học Hán Nôm Nam Bộ giai đoạn đầu bởi tất cả

được nhìn trên quan điểm và tư tưởng chính thống. Vì thế, khi tìm hiểu về Gia Định

tam gia, không thể tách rời hoàn cảnh lịch sử, xã hội chính trị, tư tưởng văn hoá đã

chi phối đến đời sống tinh thần của họ, mà phải nhìn nhận nó trong mối quan hệ

202

biện chứng, từ đó mới thấy được những giá trị nhân văn trong tư tưởng tình cảm của

nhà thơ thông qua tác phẩm.

Những quan niệm về văn chương của Gia Định tam gia phần nào cho thấy yếu

tố tiến bộ tích cực của các ông. Thơ đối với các ông hoàn toàn không phải phục vụ

thi cử, không phải để nổi danh ở đời như một số nhà thơ quan niệm, mà xuất phát từ

nhu cầu tâm hồn cần được giãi bày, nhu cầu giải trí, thưởng thức thẩm mỹ nghệ

thuật để nâng cao chân, thiện, mỹ và với mục đích hết sức đơn giản: ghi lại sự việc

thông qua lăng kính tình cảm của nhà thơ để truyền lại cho con cháu đời sau. Chính

quan niệm như thế, các ông đến với thơ cũng hết sức nhẹ nhàng, tự nhiên, và lạ hơn

là nhiều khi các ông chỉ cần bạn bè truyền đọc mà ít quan tâm đến việc cho khắc in

lưu hành.

Tư tưởng trung quân yêu nước gắn liền với lòng tự hào dân tộc là nội dung

thường thấy trong thơ của các ông. Tinh thần luôn hướng về vua về nước của một

nhà Nho tích cực nhập thế hành đạo, bản thân nó hoàn toàn không có lỗi, đồng thời

xét trong hoàn cảnh lịch sử bấy giờ, đó là tinh thần đáng quý, bởi các ông đã tiếp

nhận và nuôi dưỡng truyền thống tốt đẹp của dân tộc từ những người thầy danh

tiếng.

Bên cạnh tư tưởng Nho giáo chính thống nhưng chưa đến mức phản động như

ở thời Tự Đức về sau, những yếu tố phi Nho cũng tồn tại trong tư tưởng của Gia

Định tam gia mặc dù vẫn còn ở mức độ nhạt. Những yếu tố phi Nho này trong giai

đoạn sau sẽ được dịp phát triển khi cuộc sống biến động đổi thay đến chóng vánh,

sự có mặt của nhiều dòng tư tưởng, nhiều thành phần dân cư, nhiều thể thức văn

hoá, và đặc biệt khi triều đình phong kiến đi ngược lại với nguyện vọng của nhân

dân, đã làm bùng nổ sự tự bứt phá và giải phóng tư tưởng khỏi những ràng buộc vô

lý của tư tưởng Nho giáo ở tầng lớp trí thức Nam Bộ. Trong giai đoạn đầu của triều

Nguyễn, vì trải qua nhiều gian nan mới giành được chính quyền, nên Gia Long thi

hành các chính sách có ích cho nhân dân. Trong buổi đầu ấy, Gia Định tam gia cũng

hết sức phò vua giúp nước, nhưng bản thân các ông vẫn muốn thực hiện kiểu hành

xử của người thức thời thoái ẩn. Ước mơ thoái ẩn vui cảnh điền viên, du sơn ngoạn

thuỷ là ước mơ gần như quá xa xỉ đối với các ông. Thế nên, chúng ta không lấy làm

lạ khi những tư tưởng phi Nho muốn hưởng lạc nhàn dật, hay muốn lên tiên, tu đạo

học Phật vẫn xuất hiện trong thơ như một ám ảnh trong cuộc đời.

203

Mảng thơ viết về thiên nhiên của Gia Định tam gia đặc biệt của Trịnh Hoài

Đức vừa phản ánh những nét hoang sơ nhưng dồi dào tiềm năng và đầy sức sống

của Nam Bộ, vừa phản ánh sinh hoạt lao động của con người đã in dấu lên thiên

nhiên ấy. Miêu tả thiên nhiên nhưng các nhà thơ hoàn toàn cởi bỏ những sáo ngữ

thường thấy trong thơ Đường, thay vào đó dùng những từ ngữ vừa sinh động vừa cụ

thể hoá được đối tượng mà các ông hướng đến. Điều đó cho thấy tình cảm sâu sắc

của các ông đối với quê hương Nam Bộ cũng như đối với dân tộc.

3. Luận án cũng đi vào tìm hiểu các phương diện nghệ thuật trong thơ Gia

Định tam gia tập trung ở chương 3, như vấn đề về thể loại, ngôn ngữ, thủ pháp sử

dụng điển cố… Đồng thời, chúng tôi thử xác định giọng điệu của từng tác giả để

hướng đến việc tìm hiểu phong cách của mỗi nhà thơ.

Với mảng đề tài khá hẹp, chủ yếu về thiên nhiên, vịnh vật, vịnh sử, các ông

còn làm thơ theo lối vịnh hoạ (một lối chơi thơ trước đó ít thấy xuất hiện ở những

nơi khác như Đàng Ngoài) khá đặc thù của phong cách vừa phóng khoáng vừa cứng

rắn của người Nam Bộ. Với mảng đề tài và lối chơi thơ này, việc Gia Định tam gia

dùng nhiều thể thơ thất ngôn bát cú cũng là hợp lẽ. Riêng Trịnh Hoài Đức có sáng

tác hai bài thơ ngũ ngôn cổ phong (một trong Cấn Trai thi tập, và một bài thơ do

Nguyễn Liên Phong chép trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca), lời lẽ phóng

khoáng thoả mái, thể hiện phong cách thơ của Trịnh Hoài Đức. So với những nhà

thơ khác như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Chú, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn

Thông, Phan Thanh Giản… thì con số 2 bài thơ cổ phong của Trịnh Hoài Đức quá ít

ỏi. Việc sáng tác bằng nhiều thể thơ cũng nói lên phong cách từng nhà thơ, đồng

thời cho thấy nội dung tư tưởng tình cảm cũng như mức độ biểu đạt rộng lớn hơn,

mang tính tự sự nhiều hơn.

Về ngôn ngữ thơ, đáng chú ý là sự kết hợp từ ngữ khá sáng tạo theo nếp nghĩ

dân tộc, đồng thời đã thấy ít đi những sáo ngữ. Trịnh Hoài Đức còn sử dụng chữ

Nôm để sáng tác thơ. Điều này sẽ không lạ đối với trường hợp như Nguyễn Trãi,

Nguyễn Bỉnh Khiêm hay Nguyễn Du… nhưng lại rất lạ đối với Trịnh Hoài Đức.

Ông là người Minh Hương, nhưng mang tinh thần dân tộc Việt khá đậm. Điều đó

cho thấy sức ảnh hưởng của văn hoá Việt trên vùng đất này rất lớn. Ngôn ngữ thơ

Nôm Trịnh Hoài Đức vừa mang tính dân tộc cũng vừa mang tính đặc thù của địa

phương Nam Bộ, do đó cũng là những tư liệu quý khi khảo sát về chữ Nôm Nam

204

Bộ. Việc sử dụng các biện pháp tu từ, điển cố điển tích như phương tiện nghệ thuật

cũng xuất hiện khá thường xuyên trong thơ Gia Định tam gia. Cách dùng điển trong

thơ đôi lúc hiểm quái mà không quá lạm dụng, điều đó cho thấy phong cách phóng

khoáng của văn hoá Nam Bộ và văn hoá Hoa Nam ít nhiều ảnh hưởng đến sáng tác.

Ngoài ra các ông còn thường xuyên sử dụng các biện pháp tu từ chủ yếu như nhân

hoá, ẩn dụ, so sánh… biến thiên nhiên thành những thực thể sống động và xây dựng

được những hình tượng nghệ thuật khá đặc biệt.

Thơ là tiếng nói, là tinh hoa của tâm hồn như Trịnh Hoài Đức từng phát biểu,

nó gắn liền với hoàn cảnh lịch sử và cuộc đời mỗi thi nhân, do vậy, mỗi nhà thơ là

một tiếng nói riêng, một giọng điệu riêng. Thơ Trịnh Hoài Đức tràn đầy âm vang

tiết điệu tự hào, chất hào sảng là giọng điệu chủ đạo; thơ Lê Quang Định mang

giọng điệu ôn nhu của một tài tử tài hoa, nhã nhặn; còn Ngô Nhân Tĩnh lại mang

giọng điệu thâm trầm, chiêm nghiệm. Hẳn nhiên ngoài giọng chủ đạo ấy vẫn có

những giọng điệu khác đan xen hoà lẫn làm nên chất đa dạng trong thơ của các ông.

Nhưng chính giọng điệu chủ đạo trong thơ đã làm nên phong cách thơ của mỗi tác

giả.

4. Xét trong tiến trình văn học Hán Nôm Nam Bộ, Gia Định tam gia thi vừa kế

thừa tinh hoa của thơ ca cổ điển Trung Quốc và dân tộc ở phương diện đề tài, thể

loại, vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ở phương diện nội dung

phản ánh, đặc biệt là tình cảm yêu quê hương, đất nước, tình cảm chân thành với gia

đình, bè bạn…

Có thể nói, trong nền văn học Hán Nôm Nam Bộ, Gia Định tam gia là những

người có đóng góp lớn cho văn hoá, văn học Nam Bộ. Các ông là lớp người sau hội

Tao đàn Chiêu Anh Các, nhưng trước nhóm Bạch Mai thi xã – thành lập nên nhóm

thơ Gia Định Sơn Hội. Việc thành lập thi xã là kiểu chơi thơ đặc thù của khu vực

Nam Bộ và là một kiểu trau dồi ấn chứng thơ ca với nhau. Nếu xét trong tiến trình

văn học Hán Nôm Nam Bộ, bản thân nó cũng đã đóng góp trong việc hình thành đội

ngũ trí thức miền Nam. Những nội dung tư tưởng trung quân ái quốc được thể hiện

trong thơ Gia Định tam gia, sẽ có sự biến chuyển theo xu hướng khác trong lớp nhà

Nho tiếp theo ở Nam Bộ khi triều đình nhà Nguyễn bắt đầu có những chính sách,

hành động ngược lại với nguyện vọng của nhân dân, dẫn đến sự phân hoá tư tưởng

thành hai cực rõ rệt trong tầng lớp trí thức. Một bộ phận các nhà Nho đứng về phía

205

nhân dân mặc dù vẫn hoạt động chính trị trong triều Nguyễn và những chí sĩ yêu

nước đứng về phía nhân dân chống lại triều đình, đánh giặc ngoại xâm với một bộ

phận trung thành với triều đình nhà Nguyễn phản động và thực dân Pháp. Dầu là

thơ chữ Hán hay chữ Nôm, từ thơ của Gia Định tam gia đến thơ của Nguyễn Đình

Chiểu, Trần Thiện Chánh, Nguyễn Thông… đều mang tư tưởng, tình cảm, phong

cách và tâm lý của người dân Việt trên mảnh đất Nam Bộ mà tổ tiên vừa khai hoang.

Gia Định tam gia đã tạo sức ảnh hưởng của mình không chỉ ở khu vực Nam

Bộ mà còn với khu vực Bắc Bộ. Việc Huỳnh Ngọc Uẩn đề xướng thơ xướng hoạ

cảnh Thăng Long ba mươi vần được các sĩ phu Bắc Hà hưởng ứng chính là kiểu

vịnh hoạ theo thể thức của Tao đàn Chiêu Anh các và Gia Định tam gia… Thể thơ

liên hoàn mà Trịnh Hoài Đức sử dụng trong sáng tác thơ Nôm của mình đã được

những nhà thơ sau ở Nam Bộ thừa kế tiếp tục như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn

Trị, Tôn Thọ Tường... Việc các nhà thơ danh tiếng ở Bắc Hà phê bình thơ viết tựa

bạt cho thơ của Gia Định tam gia cũng cho thấy văn học Hán Nôm Nam Bộ tuy

mang những đặc điểm, tính chất của địa phương nhưng cũng đã bắt đầu hội nhập

vào mạch nguồn văn học Hán Nôm chung của toàn dân tộc.

Trên tinh thần đó, vị trí của Gia Định tam gia trong việc xây dựng nền văn học

văn hoá của dân tộc cần được nhìn nhận và đánh giá lại. Các ông là những nhà thơ

lớn tiêu biểu của nền văn học Hán Nôm Nam Bộ, là những người vừa thừa tiếp

truyền thống của dân tộc vừa khơi nguồn cho văn mạch ở miền Nam. Các ông xứng

đáng được đứng vào hàng ngũ các nhà thơ lớn của dân tộc bởi những đóng góp trên

phương diện văn hoá nghệ thuật và cả phương diện địa dư lịch sử. Với tinh thần đó,

chúng tôi mong rằng, sau luận án này sẽ có thêm những hội thảo khoa học về văn

học Hán Nôm Nam Bộ, về Gia Định tam gia cũng như xuất bản toàn bộ thơ Gia

Định tam gia, đồng thời có thể hoàn thành bộ tuyển tập văn học Hán Nôm Nam Bộ

với quy mô rộng lớn hơn. Ngoài ra có thể giảng dạy thơ ca Gia Định tam gia trong

chuyên đề về văn học Hán Nôm Nam Bộ cho sinh viên, học viên cao học chuyên

ngành văn học. Hy vọng từ nay khi nói đến văn học Hán Nôm Nam Bộ, Gia Định

tam gia sẽ được nhắc đến như những tác giả tiêu biểu của một vùng văn học cùng

với những nhà thơ Nam Bộ khác như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan

Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông…

206

5. Mặc dù đã cố gắng với tinh thần làm việc hết lòng, chắc chắn luận án không

tránh khỏi những thiển cận, sơ suất và có thể còn những vấn đề chưa đề cập. Nghiên

cứu thơ Gia Định tam gia trong tiến trình văn học Hán Nôm Nam Bộ là một bước

tiếp cận đúng đắn để hiểu rõ hơn về thơ Tam gia trong quá trình phát sinh phát triển

văn học Nam Bộ theo quan điểm duy vật lịch sử. Vấn đề này có thể mở rộng hoặc

thu hẹp phạm vi từng tác giả để có dịp tìm hiểu sâu và kỹ hơn về tư tưởng tình cảm

và phong cách nghệ thuật. Từ việc nghiên cứu thơ văn Hán Nôm từng tác giả tiến

đến nghiên cứu dòng văn học của những di dân, di thần người Hoa khi họ chọn Việt

Nam làm quê hương để thấy tình cảm, tư tưởng của họ đối với Việt Nam, đồng thời

hiểu được ảnh hưởng văn hoá Việt đi vào đời sống tinh thần của họ. Hẳn nhiên việc

làm này cần nhiều thời gian và công sức, chúng tôi mong rằng có thể tiếp tục nghiên

cứu giới thiệu thêm những tác giả văn học Hán Nôm ở Nam Bộ một cách toàn diện

hơn để từ đó có cái nhìn toàn cảnh về văn học Nam Bộ nói riêng và cả nước nói

chung.

207

DANH MỤC BÀI VIẾT ĐÃ CÔNG BỐ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1. Lê Quang Trường (2008), “Bước đầu tìm hiểu thơ đi sứ của Trịnh Hoài

Đức”, Thông báo Hán Nôm học 2007, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà

Nội, tr.835-859.

2. Lê Quang Trường (2009), “Giới thiệu ba bài tựa trong Thập Anh thi tập

của Ngô Nhân Tĩnh”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Nghiên cứu Hán Nôm và

Văn hoá Việt Nam, Khoa Văn học và Ngôn ngữ, Trường Đại học

KHXH&NV.

3. Lê Quang Trường (2009), “Ngô Nhân Tĩnh và tâm sự của một Nho thần,

Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 6(448), ISSN 1859-2856, tr.57-73.

4. Lê Quang Trường (2010), “Khảo sát tình hình tư liệu văn bản và quá

trình nghiên cứu về Gia Định tam gia thi”, in trong Bình luận văn học

niên giám 2009, Hội Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP.HCM, Nxb.

Văn hoá Sài Gòn, tr.239-269.

5. Lê Quang Trường (2011), “Quan niệm văn chương của Gia Định tam

gia”, Tạp chí Đại học Sài Gòn, số chuyên đề Bình luận Văn học, niên

giám 2010, ISSN 1859-3208, tr.126-136.

6. Lê Quang Trường (2011), “Giới thiệu bài Tựa tập “Gia Định tam gia

thi” và diện mạo bản khắc tập thơ, Tạp chí Hán Nôm, số 3 (106), ISSN

8066-8639, tr.73-82.

7. Lê Quang Trường (2011), “Trịnh Hoài Đức và tâm sự nho thần triều

Nguyễn trên đường đi sứ Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt

Nam và Trung Quốc: những quan hệ văn hoá văn học trong lịch sử, ĐH

KHXH&NV-TP.HCM và ĐH Hồ Nam Trung Quốc tổ chức tại TP.HCM,

tr. 307-314.

208

THƯ MỤC THAM KHẢO

TÀI LIỆU HÁN NÔM (tác phẩm của Tam gia) 1. 黎光定 (1822),華原詩草,艮齋藏版,明命三年孟春鎸, Thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu A.779.

2. 吴仁静 (1822),拾英堂詩集,艮齋藏版,明命三年孟春鎸, Thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu A.779.

3. 鄭懷德 (1819),艮齋詩集,本齋藏板,嘉隆十八年仲春鎸, Thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu A.3139.

4. 鄭懷德 (1819),艮齋詩集,本齋藏板,嘉隆十八年仲春鎸,Thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu A.780.

5. 鄭懷德 (1819),艮齋詩集,本齋藏板,嘉隆十八年仲春鎸,Thư viện

Viện nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ, ký hiệu A.1392.

6. 鄭懷德 (1962),艮齋詩集,陳京和介绍,東南亞研究所編東南亞研

究所編选,新亞研究所出版,香港

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

7. Aristote (1999), Nghệ thuật thơ ca, Lê Đăng Bảng và nhiều người khác

dịch – Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Phan Ngọc dịch, Nxb. Văn học,

H..

8. Hoài Anh biên dịch, chú giải (2005), Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhơn Tĩnh, Lê

Quang Định, Gia Định tam gia, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai.

9. Bùi Huy Bích (2007), Hoàng Việt thi tuyển, Trung tâm Nghiên cứu Quốc

học, NXB. Văn học.

10. Lê Quang Chiểu (1903), Quốc âm thi hiệp tuyển, Claude & Cie,

Imprimeurs - Éditteurs.

11. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường,

Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch, Nxb. Văn học.

12. Biểu Chánh Hồ Văn Trung soạn, Gia Long khai quốc văn thần, đăng trên

Đại Việt tập chí, số 47, năm 1944, tr. 19-35)

13. Nguyễn Khoa Chiêm (2003), Nam triều công nghiệp diễn chí, Ngô Đức

Thọ, Nguyễn Thuý Nga dịch, chú và giới thiệu, Nxb. Hội nhà văn.

209

14. Mai Cao Chương, Đoàn Lê Giang (1995), Nguyễn Lộ Trạch, điều trần và

thơ văn, Nxb. Khoa học xã hội.

15. Thiều Chửu (1993), Tự điển Hán Việt, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

16. Đoàn Trung Còn (1997), Phật học từ điển, 3 tập, Nxb. Thành phố Hồ Chí

Minh.

17. Cristophoro Borri (1998), Xứ Đàng Trong năm 1621, Nxb. TP. Hồ Chí

Minh.

18. Đoàn Khắc Kiên Cường (2003), Tìm hiểu Cấn Trai thi tập, Tiểu luận tốt

nghiệp Đại học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

TP.HCM.

19. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng, Nxb.

Giáo dục.

20. Nguyễn Văn Dân (2004), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb.

Khoa học xã hội, H..

21. Xuân Diệu (1982), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Nxb. Văn học, H..

22. Phạm Văn Đang (1973), Văn học Tây Sơn, Lửa Thiêng xuất bản.

23. Lê Quang Định (2005), Hoàng Lê nhất thống dư địa chí, Phan Đăng dịch,

giới thiệu và chú giải, in kèm bản Hán văn, Nxb. Thuận Hoá, Trung

tâm Văn hoá ngôn ngữ Đông Tây hợp tác xuất bản.

24. Lê Quý Đôn (1963), Kiến văn tiểu lục, Trúc Viên Lê Mạnh Liêu dịch, Bộ

Quốc gia giáo dục xuất bản.

25. Lê Quý Đôn (1972), Vân đài loại ngữ, tập I, Tạ Quang Phát dịch, Phủ

quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản.

26. Lê Quý Đôn (1972), Vân đài loại ngữ, tập II, Tạ Quang Phát dịch, Phủ

quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản.

27. Lê Quý Đôn (1973), Vân đài loại ngữ, tập III, Tạ Quang Phát dịch, Phủ

quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản.

28. Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học Xã hội.

29. Trịnh Hoài Đức (2005), Gia Định thành thông chí, Lý Việt Dũng biên

dịch, Nxb. Đồng Nai.

30. Bảo Định Giang biên soạn, Ca Văn Thỉnh giới thiệu (1976), Thơ văn yêu

nước Nam Bộ, Nxb. Văn học giải phóng, TP.HCM.

210

31. Bảo Định Giang (1988), Bùi Hữu Nghĩa, con người và tác phẩm, Nxb.

TP.HCM.

32. Bảo Định Giang (2002), Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam

Bộ nửa sau thế kỷXIX, Nxb. Trẻ.

33. Đoàn Lê Giang (2001), Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam, Luận án

tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM.

34. Trần Văn Giàu giới thiệu, Chu Thiên, Đặng Huy Vận, Nguyễn Bỉnh Khôi

biên soạn (1976), Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1858-1900),

Nxb. Văn học, H.

35. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên (1987), Địa chí văn hóa Thành

phố Hồ Chí Minh, tập I, Lịch sử, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

36. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên (1988), Địa chí văn hóa Thành

phố Hồ Chí Minh, tập II, Văn học, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

37. Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng chủ biên (1990), Địa chí văn hóa Thành

phố Hồ Chí Minh, tập III, Nghệ thuật, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

38. Dương Quảng Hàm (1996), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb. Hội nhà văn.

39. Dương Quảng Hàm (2001), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Nxb. Hội nhà

văn.

40. Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, Nxb. Thuận Hóa.

41. Nguyễn Tuyết Hạnh (1996), Vấn đề dịch thơ Đường ở Việt Nam, Nxb.

Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, H..

42. Nguyễn Văn Hầu (1974), “Bước đầu của văn học Hán Nôm trên đất

Đồng Nai”, tạp chí Bách Khoa, Sài Gòn, số 412.

43. Hồ Sĩ Hiệp, Hoài Anh (1990), Những danh sĩ miền Nam, Nxb. Tiền

Giang.

44. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá chủ biên

(2004), Từ điển văn học, bộ mới, Nxb. Thế giới.

45. Đông Hồ (1970), Văn học miền Nam, Văn học Hà Tiên, Xuất bản Quình

Lâm.

46. Nguyễn Phạm Hùng (2001), Văn học Việt Nam (từ thế kỷ X đến thế kỷ

XX), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

211

47. Đỗ Văn Hỷ (1993), Người xưa bàn về văn chương, Nxb. Khoa học xã hội,

H.

48. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân, Mai Cao Chương (2004), Văn

học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb. Giáo dục.

49. Đinh Gia Khánh chủ biên (1977), Điển cố văn học, Nxb. Khoa học xã hội.

50. Vũ Khiêu chủ biên (1986), Thơ Ngô Thì Nhậm (tuyển dịch), Nxb. Văn

học.

51. Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb. Văn học.

52. Nguyễn Khuê (1997), Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập, Nxb.

TP. Hồ Chí Minh.

53. Nguyễn Khuê (2004), Ba mươi năm cầm bút, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

54. Nguyễn Khuê (2005), Tâm trạng Tương An quận vương qua thi ca của

ông, Nxb. Văn Nghệ.

55. Trần Trọng Kim (1958), Việt Nam sử lược, in lần thứ 6, S., Nxb. Tân Việt.

56. Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu biên soạn (2005), Thơ văn Phan Thanh

Giản, (phụ đính nguyên tác Hán văn), Nxb. Hội nhà văn.

57. Litana, Nguyễn Cẩm Thuý chủ biên (1999), Bia chữ Hán trong hội quán

người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, H.

58. Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc biên soạn (1996),

Nguyễn Du toàn tập, tập 1, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu

Quốc học.

59. Mai Quốc Liên, Nguyễn Quảng Tuân, Ngô Linh Ngọc biên soạn (1996),

Nguyễn Du toàn tập, tập 2, Nxb. Văn học, Trung tâm Nghiên cứu

Quốc học.

60. Mai Quốc Liên chủ biên… (2004), Cao Bá Quát toàn tập, tập 1, Nxb.

Văn học, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.

61. Mai Quốc Liên chủ biên (1999), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 1,

Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nxb. Văn học.

62. Mai Quốc Liên chủ biên (2000), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập 2,

Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, Nxb. Văn học.

63. Mai Quốc Liên chủ biên (2000), Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, Trung

tâm Nghiên cứu Quốc học, tập 3, Nxb. Văn học.

212

64. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb. Đại

học Quốc gia, TP.HCM.

65. Nguyễn Lộc (2005), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – hết thế kỷ

XIX, Nxb. Giáo dục.

66. Lê Nguyễn Lưu (1997), Đường thi tuyển dịch, (2 tập), Nxb. Thuận Hoá,

Huế.

67. Lương Văn Lựu (1971), Biên Hoà sử lược toàn biên, Biên Hoà, 1971.

68. Phương Lựu (1985), Về quan niệm văn chương cổ Việt Nam, Nxb. Giáo

dục.

69. Phương Lựu (chủ biên) (1997), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục.

70. Phương Lựu (2002), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học trung

đại Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, H..

71. Phương Lựu (2002), Từ văn học so sánh đến thi học so sánh, Nxb. Văn

học, Trung tâm Ngôn ngữ Đông Tây.

72. Huỳnh Lý chủ biên (1978), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, (tập 3), (bản in

lần thứ hai theo bản lần đầu của Nxb. Văn hoá, 1963), Nxb. Văn học.

73. Viên Mai (2002), Tùy Viên thi thoại, Trương Đình Chi dịch, Nxb. Văn

nghệ TP.HCM.

74. Huỳnh Minh (2006), Gia Định xưa, Nxb. Văn hoá thông tin.

75. Nguyễn Đăng Na (2005), “Lời bình của thi hào Nguyễn Du trong Hoa

Nguyên thi thảo”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học số 03 (397).

76. Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn (2000), Văn xuôi tự sự Việt

Nam thời trung đại, Tiểu thuyết chương hồi, Nxb. Giáo dục.

77. N.I. Niculin (2007), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hoá Thông

tin.

78. Phan Ngọc (2003), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều,

Nxb. Thanh niên.

79. Nguyễn Tôn Nhan (1999), Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc, Nxb.

Văn nghệ TP.HCM.

80. Lãng Nhân (2001), Giai thoại làng Nho, Nxb. Văn học.

81. Nguyễn Duy Oanh (1974), Chân dung Phan Thanh Giản, Tủ sách Sử học,

Bộ Văn hoá giáo dục và thanh niên, S..

213

82. Nguyễn Liên Phong (1909), Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, Phát

Toán xuất bản, S..

83. Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá (1968), Khâm định Đại Nam hội

điển sự lệ, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản.

84. Nguyễn Đình Phức (2008), “Về bài viết Lời bình của thi hào Nguyễn Du

trong Hoa Nguyên thi thảo của PGS.TS. Nguyễn Đăng Na”, Tạp chí

Hán Nôm số 1 (86).

85. Nguyễn Đình Phức, Lê Quang Trường tuyển dịch (2008), Thi phẩm tập

bình, Nxb. Văn Nghệ.

86. Nguyễn Phan Quang (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), Nxb. TP.

Hồ Chí Minh.

87. Nguyễn Tử Quang (1995), Điển hay tích lạ, Nxb. Trẻ, TP.HCM.

88. Nguyễn Ngọc Quận (2005), Sáng tác của Cao Bá Quát trong tiến trình

văn học dân tộc, Luận án tiến sĩ, Trường ĐH KHXH&NV-TP.Hồ Chí

Minh.

89. Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai

Nguyễn Tạo dịch, tập thượng, Nha Văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc

trách văn hoá xuất bản, tái bản lần 2.

90. Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai

Nguyễn Tạo dịch, tập trung, Nha Văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc

trách văn hoá xuất bản, tái bản lần 2.

91. Quốc sử quán triều Nguyễn (1973), Đại Nam nhất thống chí, Tu Trai

Nguyễn Tạo dịch, tập hạ, Nha Văn hoá Phủ Quốc vụ khanh đặc trách

văn hoá xuất bản, tái bản lần 2.

92. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 1,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên

dịch, Nxb. Giáo dục.

93. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục chính biên, tập 2,

Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên

dịch, Nxb. Giáo dục.

214

94. Quốc sử quán triều Nguyễn (2005), Đại Nam liệt truyện chính biên sơ

tập, tập 2, Ngô Hữu Tạo, Đỗ Mộng Khương dịch, Cao Huy Giu hiệu

đính, Viện Sử học Việt Nam và Nxb. Thuận Hoá, Huế.

95. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Quốc triều chính biên toát yếu, bản

dịch tiếng Việt của Quốc sử quán, Nxb. Thuận Hoá, Huế.

96. Vân Đằng Trần Văn Rạng (1992), “Bình Dương thi xã”, Tạp chí Văn, số

20.

97. Nguyễn Văn Sâm (1972), Văn học Nam Hà, Nxb. Kỷ Nguyên, S..

98. Vương Hồng Sển (1957), Sài Gòn năm xưa, Cơ sở Báo chí và xuất bản

Tự do, S..

99. Đặng Đức Siêu chủ biên (1997), Tổng tập văn học Việt Nam, tập 16, Nxb.

Khoa học xã hội, H.

100. Lưu Lục Sinh (2002), Từ điển điển cố Trung Hoa, Nguyễn Văn Thiệu,

Đào Duy Đạt biên dịch, NXB. Văn hoá Thông tin.

101. Nguyễn Hữu Sơn (2005), Văn học trung đại Việt Nam, quan niệm con

người và tiến trình phát triển, Nxb. Khoa học xã hội.

102. Trần Đình Sử (2003), Lý luận và phê bình văn học,Nxb. Giáo dục.

103. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Đại

học Quốc gia Hà Nội.

104. Lê Tắc (1964), An Nam chí lược, Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt Nam,

Viện Đại học Huế, quyển 1.

105. Nguyễn Minh Tấn chủ biên (1981), Từ trong di sản, Nxb. Tác phẩm mới.

106. Cao Tự Thanh (1992), “Mấy ý kiến trao đổi lại về bài Bình Dương thi

xã” Tạp chí Văn, số 21.

107. Cao Tự Thanh (1992), “Về bài thơ của Trịnh Hoài Đức tặng hoà thượng

Viên Quang”, Tập văn Phật đản, Giáo hội Phật giáo Việt Nam, số 23.

108. Cao Tự Thanh dịch và giới thiệu (1995), Thơ Trần Thiện Chánh, Nxb.

Khoa học xã hội.

109. Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang trích dịch và giới thiệu (1984), Tác phẩm

Nguyễn Thông, Sở Văn hoá và Thông tin Long An xuất bản.

110. Cao Tự Thanh (2009), Nho giáo Gia Định, Nxb. Văn hoá Sài Gòn.

215

111. Khâu Chấn Thanh (2001), Lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, Mai

Xuân Hải dịch, Nxb. Văn học.

112. Trịnh Vân Thanh (1965), Thành ngữ điển tích danh nhân tự điển, Nhà

sách Khai Trí, S..

113. Nguyễn Q. Thắng (1990), Tiến trình văn nghệ miền Nam, Nxb. An Giang.

114. Nguyễn Q. Thắng (2007), Văn học Việt Nam, nơi miền đất mới, tập 1,

Nxb. Văn học.

115. GS. Phạm Thiều, Cao Tự Thanh, Lê Minh Đức (2001), Nguyễn Hữu

Huân, nhà yêu nước kiên cường, nhà thơ bất khuất, Nxb. Trẻ.

116. Ca Văn Thỉnh (1983), Hào khí Đồng Nai, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

117. Ca Văn Thỉnh, Bảo Định Giang (1984), Nguyễn Thông, con người và tác

phẩm, Nxb. TP.HCM.

118. Nam Xuân Thọ (1957), Võ Trường Toản, Tân Việt, S..

119. Nguyễn Khắc Thuần (2003), Thế thứ các triều vua Việt Nam, Nxb. Giáo

dục.

120. Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2009), Tìm hiểu sự nghiệp văn học của Trịnh

Hoài Đức, Luận văn Thạc sĩ, Trường ĐH KHXH&NV-TP.HCM.

121. Phan Trọng Thưởng, Nguyễn Cừ, Vũ Thanh, Trần Nho Thìn sưu tầm,

tuyển chọn và giới thiệu (2007), 10 thế kỷ bàn luận về văn chương (từ

thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX), (gồm 3 tập), tập 1, Nxb. Giáo dục.

122. Nguyễn Trãi (1972), Ức Trai tập, Hoàng Khôi dịch, Phủ Quốc vụ khanh

đặc trách văn hoá xuất bản.

123. Lê Ngọc Trà (2005), Lý luận và phê bình văn học, Nxb. Trẻ.

124. Nguyễn Triệu (1941), “Công thần triều Nguyễn: Ngô Nhân Tĩnh”, Tuần

báo Tri Tân, số 6.

125. Lâm Hiếu Trung chủ biên (1998), Biên Hoà - Đồng Nai, 300 năm hình

thành và phát triển, Nxb. Đồng Nai.

126. Phạm Quang Trung (2011), Quan niệm văn chương cổ Việt Nam từ một

góc nhìn, NXB. Khoa học xã hội.

127. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, PGS.TS. Nguyễn

Đăng Na chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 3, Văn

học thế kỷ X-XIV, Nxb. Khoa học xã hội.

216

128. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, PGS.TS. Trần Thị

Băng Thanh chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 4, Văn

học thế kỷ XV-XVII, Nxb. Khoa học xã hội.

129. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, PGS. Nguyễn Thạch

Giang chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 5, Văn học

thế kỷ XVIII, quyển 1, Nxb. Khoa học xã hội.

130. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, PGS. Nguyễn Thạch

Giang chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 5, Văn học

thế kỷ XVIII, quyển 2, Nxb. Khoa học xã hội.

131. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, PGS. Hoàng Hữu Yên

chủ biên (2004), Tinh tuyển văn học Việt Nam, tập 6, Văn học thế kỷ

XIX, Nxb. Khoa học xã hội.

132. Lê Quang Trường (2009), Lý Thương Ẩn, lan trong rừng vắng, Nxb. Văn

nghệ.

133. Khổng Tử (2004), Kinh Thi, Tạ Quang Phát dịch, Nxb. Văn học.

134. Trang Tử (1963), Nam hoa kinh, Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch, Nxb.

Tiền Giang.

135. Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (1971), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb.

Khoa học xã hội, H..

136. Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam (1980), Lịch sử văn học Việt Nam, tập

1, Nxb. Khoa học xã hội, H..

137. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Sử học (1987), Biên niên lịch

sử cổ trung đại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, H.

138. Đoàn Thị Thu Vân (1996), Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền

Việt Nam thế kỷ XI-XIV, Nxb. Văn học.

139. Đoàn Thị Thu Vân (1998), Thơ thiền Lý Trần, Nxb. Văn nghệ, Hội

Nghiên cứu và Giảng dạy văn học TP.HCM.

140. Trần Trung Viên sưu tập – Hư Chu hiệu chú (1968), Văn đàn bảo giám,

(gồm 4 tập), Mặc Lâm xuất bản.

141. Lê Trí Viễn (2001), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Văn

nghệ TP.HCM.

217

142. Viện nghiên cứu Hán Nôm (1982), Dịch từ Hán sang Việt, một khoa học,

một nghệ thuật, Nxb. Khoa học xã hội, H.

143. Viện Văn học (1964), Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa

cuối thế kỷ XIX, Nxb. Văn học.

144. Viện văn học (1999), Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học, 1960-1999, tập

2, Văn học cổ - cận đại Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

145. Viện văn học (1980), Nguyễn Trãi, khí phách và tinh hoa của dân tộc,

Nxb. Khoa học xã hội, H.

146. Trần Ngọc Vương (1995), Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Nxb.

Giáo dục.

147. Trần Ngọc Vương (1999), Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn

chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.

148. Trần Ngọc Vương chủ biên (2007), Văn học Việt Nam thế kỷ X-XIX,

những vấn đề lý luận và lịch sử, Nxb. Giáo dục.

149. Nguyễn Thị Thanh Xuân (chủ biên) (1987), Sài Gòn-Gia Định qua thơ

văn xưa, Nxb. TP. Hồ Chí Minh.

150. Ngạc Xuyên (1943), “Minh Bột di ngư, một quyển sách, hai thi xã”, Đại

Việt tập chí, số 12.

151. Lê Thu Yến (1999), Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du, Nxb.

Thanh niên.

152. Lê Thu Yến chủ biên (2003), Văn học Việt Nam, văn học trung đại,

những công trình nghiên cứu, Nxb. Giáo dục.

TÀI LIỆU HÁN VĂN 153. 陈复华主编 (2006),古代汉语词典,商务印书馆出版,北京

154. 李文雄 (1963),越南大觀,西貢

155. 李长路 (1995),全唐绝句选释,北京出版社,第三印版

156. 漢語大詞典出版社(2005),漢語大詞典 (上中下),漢語大詞典出版

社,上海

157. 黄莭,曹子建詩注,台北藝文書局印制 .

158. 將門文物出版編輯部 (1996) , 成語典,將門文物出版 .

159. 張其昀 (1967),中文大辭典,中國文化研究所印行

160. 中華書局 (1984),辭海,中華書局永寧印刷廠

218

161. 上海書店出版社 (1998),康熙字典,上海書店出版社,第 13 印版

162. 上海辭書出版社 (2007) , 辭海,上海辭書出版社,上海 .

163. 上海辞书出版社 (1989),新编实用汉语词典,上海辞书出版社

164. 阮朝国使馆 (1962),大南實錄,四,大南正編列傳初集,有隣堂出

版,東京

165. 郭紹虞校釋 (1962) ,嚴羽,滄浪詩話,人民文學出版社

166. 司馬遷 (2002),史記,京華出版社

167. 台灣商務印書館 (1963) , 辭源,台灣商務印書館出版

168. 藏麗龢主編 (1933),中国古今地名大辞典,商務印書館出版

169. 楊伯峻 (1962),論語譯注,中華書局出版 .

221

PHỤ LỤC PHỤ LỤC 1

NIÊN BIỂU GIA ĐỊNH TAM GIA

Năm

1760, Canh Thìn

Sự kiện Lê Quang Định sinh ở Phú Vang, Thừa Thiên. Ngô Nhân Tĩnh sinh ở Gia

Định.

1764, Giáp Thân

Trịnh Hoài Đức sinh tại xã Thanh Hà, huyện Bình An, phủ Phƣớc Long,

trấn Biên Hoà.

1765, Ất Dậu 1771, Tân Mão

Tháng giêng, Chúa Nguyễn Phúc Khoát mất, con là Phúc Thuần lên thay. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ,

Nguyễn Lữ ở Tây Sơn thƣợng (Gia Lai, Kontum) và Tây Sơn hạ (Nghĩa Bình).

1773, Quý Tỳ

Hoài Đức lên 10, cha ông là Trịnh Khánh mất, bèn theo mẹ cùng anh chị

trở về sống ở Thanh Hà với bà nội.

1776, Bính Thân

Tháng 2, Nguyễn Lữ đem quân đánh vào Gia Định, chiếm thành Sài Gòn và ba dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Nguyễn Phúc Thuần bỏ thành chạy về Bà Rịa (Đồng Nai). Nguyễn Lữ rút về Quy Nhơn.

Gặp lúc khởi nghĩa Tây Sơn, Trịnh Hoài Đức cùng mẹ chuyển đến trấn

Phiên An, huyện Tân Long (tức Chợ Lớn).1

Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh theo học với Xử sĩ Võ Trƣờng Toản, tập

thi thƣ, kết giao cùng các bậc tiên bối, lập thi xã Gia Định Sơn hội.

1777, Đinh Dậu

Tháng 3, Nguyễn Huệ đem quân thuỵ bộ đánh vào Gia Định. Tháng 8, tiến đến Vĩnh Long, tháng 9 đến Long Xuyên và giết Nguyễn Phúc Thuần. Sau chiến thắng, Nguyễn Huệ về Quy Nhơn.

Tháng 10, quân chúa Nguyễn đánh Sa Đéc, tháng 11, chiếm lại Vĩnh Long,

tháng 11 chiếm lại Sài Gòn.

1778, Mậu Tuất

Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, niên hiệu Thái Đức, đổi tên thành Đồ Bàn thành thành Hoàng Đế. Phong Nguyễn Lữ làm tiết chế, Nguyễn Huệ làm Long Nhƣơng tƣớng quân. Lại cho quân đánh vào Biên Hoà, Gia Định nhƣng không thắng lợi. Tây Sơn mất Gia Định và Bình Thuận.

Tháng 3, Nguyễn Ánh cho đắp luỷ ở phía tây sông Bến Nghé, đóng hơn 50

chiến hạm hiệu Long Lân.

1779, Kỵ Hợi 1780, Canh Tý

Nhà Nguyễn phân chia địa giới ba tỉnh Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ. Nguyễn Ánh xƣng vƣơng, vẫn theo niên hiệu nhà Lê. Hoài Đức đƣợc 17 tuổi, theo học với Đặng Cửu Tƣ (Đặng Đức Thuật).

Hoài Đức lấy vợ, vào ở rể nhà họ Lê.

1781, Tân Sửu

Nguyễn Ánh đem quân thuỵ bộ đánh quân Tây Sơn ở Nha Trang, đại bại,

rút về Gia Định.

1782, Nhâm Dần

Nguyễn Huệ cùng Nguyễn Nhạc đánh vào cửa biển Cần Giờ (Gia Định), thu

lại thành Gia Định. Quân nhà Nguyễn thua trận rút về Ba Giồng (Tiền Giang).

Quân Hoà Nghĩa (tức quân Hoa kiều theo Nguyễn Ánh) phục kích giết

1 Theo Trịnh Hoài Đức, Tự tự, trong Cấn Trai thi tập.

222

tƣớng Tây Sơn là Phạm Ngạn ở cầu Tham Lƣơng. Nguyễn Nhạc tức giận tấn công vào vƣờn Trầu, giết nhiều lính Hoà Nghĩa và thƣơng nhân Hoa kiều.

Nguyễn Ánh chạy trốn ra đảo Phú Quốc. Tháng 8, Nguyễn Ánh quay về Gia

Định.

Ngô Nhân Tĩnh tránh loạn đi sang Quảng Đông, Trung Quốc. Trịnh Hoài Đức có thơ: Liên, Xuân nhật yến khởi, Giang nguyệt đồng Ngô Nhữ Sơn thƣ hoài (hai bài), Loạn hậu quy, Loạn hậu cửu nhật đăng Mai khâu, Dĩ Vũ di trà tặng Ngô Nhữ Sơn, Mai khâu vãn diểu, Tửu điếm xuân du, Tống Ngô Nhữ Sơn chi Quảng Đông.

1783, Quý Mão

Quân Tây Sơn lại tiến đánh thành Gia Định. Nguyễn Ánh lại rút về Ba

Giồng.

Tháng 7, Nguyễn Ánh trao con cả của mình là Hoàng tử Cảnh 4 tuổi cho Bá

Đa Lộc làm con tin, nhờ Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện.

Cuối năm này, Hoài Đức sang ngụ cƣ ở thành Nam Vang, Chân Lạp. Trịnh Hoài Đức có thơ: Đề Ngô Tùng Châu u cƣ, Phỏng Bùi Độn Am tịch thiên mê lộ khẩu chiếm, Nguyên nhật khách Cao Miên quốc, Khách Cao Miên quốc ký hoài Diệp Minh Phụng Kỳ Sơn, Đề Trần tƣớng quân miếu, Thƣơng loạn, Đề đồng hƣơng Hứa Hoa Phong tiên bối lữ địa tân trạch thành nhƣng khai giáo quán.

1784, Giáp Thìn

Tháng 2, Nguyễn Ánh sang Xiêm cầu viện. Tháng 6, Nguyễn Ánh và quân

Xiêm đánh vào Gia Định.

Quân Tây Sơn tiến vào Gia Định đánh quân Xiêm, chiến thắng ở trận Rạch

Gầm, Xoài Mút, lấy lại Gia Định. Trịnh Hoài Đức có thơ: Cửu khách Chân lạp, Kỳ nhị, Thu dạ đồng cố nhân thoại cựu bộ cổ vận, Đồng Quảng Đông Vũ Trƣờng Ôn đăng Mai khâu thƣởng nam mai, Chân Lạp ký hoài Hứa Hoa Phong, Khách chí bộ cổ vận, Điếu nữ.

1785, Ất Tỳ

Nguyễn Ánh sang Xiêm. Nguyễn Ánh cho ngƣời ở lại chăm lo việc đồn

điền để tích luỷ lƣơng thực và mộ quân khởi nghĩa.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Kim ngân ngƣ (hai bài), Hý tặng Vƣơng Kế Sinh Phục Sơn tái thú, Thu nhật

khách trung tác, Hoài nội

Tây Sơn tiến quân ra Bắc, đánh chiếm Thăng Long. Nguyễn Huệ lấy công

1786, Bính Ngọ

chúa Ngọc Hân.

Tháng 7, vua Lê Hiến Tông mất, Nguyễn Huệ lập cháu vua Lê Hiến Tông là

Duy Kỳ lên kế ngôi, tức Lê Chiêu Thống.

Tháng 8, Nguyễn Nhạc cắt đất từ đèo Hải Vân ra Nghệ An phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình vƣơng, cắt đất Gia Định phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Định vƣơng, Nguyễn Nhạc tự xƣng Trung ƣơng Hoàng đế đóng đô Quy Nhơn. Nội bộ anh em Nhạc và Huệ bắt đầu có mâu thuẫn.

Thời gian này Trịnh Hoài Đức trở lại quê hƣơng Nam Bộ. Trịnh Hoài Đức có thơ: Ký hoài Huỳnh Ngọc Uẩn Hối Sơn Chân Lạp hành, Phạm Nhƣ Đăng đăng đệ hậu tái thú đồng chƣ hữu tức tịch thƣ tặng, Khốc Trần Nam Lai, Thƣơng nhân phụ, Manh kỹ.

1787, Đinh Mùi

Sứ giả Bồ Đào Nha đến Xiêm gặp Nguyễn Ánh báo tin đáp lời cầu viện của

Nguyễn Ánh. Từ năm này, đổi niên hiệu là Chiêu Thống.

Nguyễn Ánh bí mật từ Xiêm đƣa quân về vùng ven biển Gia Định. Đến cửa biển Cần Giờ, quân các nơi đều hƣởng ứng. Nguyễn Lữ sợ hãi bỏ Gia Định, kéo quân về Quy Nhơn rồi ốm chết.

Ngày 28-11, thay mặt Nguyễn Ánh, giáo sĩ Alescandre Rhodes đã ký với

triều đình Pháp bản hiệp ƣớc Versailes.

Trịnh Hoài Đức về ở thôn Long Tịch.

223

Trịnh Hoài Đức có thơ: Long tịch thôn cƣ tạp vịnh, Đông tùng, Linh nhi thảo, Bệnh trung đắc

Hoàng Hối Sơn bệnh tín đề ký.

1788, Mậu Thân

Nguyễn Hữu Chỉnh lộng quyền bị giết, Vũ Văn Nhậm mƣu phản, Nguyễn Huệ đƣa quân ra bắc giết đi. Các quan thần nhà Lê nhiều ngƣời theo về với Tây Sơn, nhƣ Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích…

Lê Chiêu Thống cho ngƣời sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Tháng 12, quân Thanh vào Thăng Long đặt bản doanh ở cung Tây Long. Nguyễn Huệ lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy hiệu Quang Trung, tiến đánh

Thăng Long.

Chúa Nguyễn lấy lại Gia Định, mở phủ Nguyên soái, Trịnh Hoài Đức ra ứng thí đƣợc bổ chức Hàn lâm viện chế cáo cùng với Lê Quang Định và Ngô Tòng Châu…

Trịnh Hoài Đức có thơ: Tống Lƣơng Xán Triều quy Quảng Đông, Hồ Đạo Sinh hành dịch quá phụ

mộ bất đắc bái tảo thác dƣ đại tác, Sơn vân, Tàn tuyết.

1789, Kỵ Dậu

Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc nƣơng nhờ. Triều Nguyễn và triều Tây Sơn ra lệnh về khuyến nông, chiêu mộ dân phiêu

tán về quê quán.

Nguyễn Ánh lấy Hàn lâm viện chế cáo Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định cùng 10 ngƣời nữa lãnh chức Điền tuấn, chia đi bốn dinh Phiên Trấn, Trấn Biên, Vĩnh Trấn, Trấn Định khuyên bảo nông dân làm ruộng.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Kính trung mỹ nhân, Mỹ nhân lý tranh, Mỹ nhân hiểu khởi, Mỹ nhân bệnh khởi, Giang thôn hiểu thị, Điền gia thu vũ, Thƣ tặng Trần Công Đàn, Tái phỏng Nguyễn Ngân Sinh bất ngộ đề ký.

1790, Canh Tuất

Nhà Nguyễn xây thành Gia Định theo kiểu bát giác, bên trong có điện Kiến Phƣơng, Kim Ấn, Kim Hoa và gác Triều Dƣơng. Đổi thành Gia Định thành kinh Gia Định.

Nguyễn Ánh ban hành lệnh khuyến nông, đóng thuyền lớn. Lập đền Hiển trung thờ những ngƣời có công theo hầu Nguyễn Ánh đã mất. Tháng chạp, quân Tây Sơn đánh vào Phan Rí, Nguyễn Ánh rút quân về Bà

Rịa, đắp thành luỷ cố thủ, sửa thành Gia Định, lập xƣởng thuỵ sƣ.

1791, Tân Hợi

Trịnh Hoài Đức có thơ: Nghĩ Tứ Hạo từ Trƣơng Lƣơng quy Thƣơng Sơn, Tăng Điểm sắt. Quân Nguyễn đóng ở Bà Rịa, Đồng Nai, lập đồn điền cày cấy. Tháng 4 âm lịch, tổ chức khoa thi chia hai kỳ đệ nhất và đệ nhị, lấy đỗ 12

ngƣời.

Đàng Ngoài đƣợc mùa, Gia Định đại hạn. Trịnh Hoài Đức có thơ: Tống tiên phong tƣớng quân Nguyễn Văn Thành tiến chinh Bình Thuận

trấn, Bách giản quần, Thập cẩm thang.

1792, Nhâm Tý

Nguyễn Ánh thi hành lệnh khuyến nông. Quang Trung chuẩn bị tiến đánh Gia Định. Nhƣng ngày 29-7 âm lịch, vua

Quang Trung mất. Quang Toản 10 tuổi nối ngôi, lấy niên hiệu Cảnh Thịnh.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Hữu sở tƣ, Bệnh hậu sở ký, Hồng mai, Lạp mai, Thính vũ, Mại hoa thanh Lấy Hàn lâm viện chế cáo Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định làm Đông

1793, Quý Sửu

cung thị giảng.

Quân Nguyễn đánh chiếm đƣợc Phú Yên. Nguyễn Ánh rút quân về Gia Định, để Nguyễn Văn Nhân giữ Phú Yên, để Nguyễn Văn Thành giữ thành Diên Khánh, Nguyễn Huỳnh Đức giữ Bình Thuận.

224

Mùa thu, Trịnh Hoài Đức cùng Bá Đa Lộc và mấy ngƣời trong Hàn lâm thị học theo Hoàng tử Cảnh xuất trấn thành Diên Khánh (Phan Rang) thay cho Nguyễn Văn Thành.

Tháng 11, Đông cung thị giảng Lê Quang Định chuyển làm Hữu tham tri

Binh bộ.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Hạ lễ bộ Nguyễn Hồng Đô tái thú, Lục nguyệt hỷ vũ đề ký chiến trƣờng thị tùng hàn lâm chƣ hữu, Sơn đồn đáp Binh bộ hữu tham tri Lê Quang Định kiêm thủy tào ký ủy

1794, Giáp Dần

Lê Quang Định theo hầu giá Nguyễn Ánh thân dẫn đại quân ra cứu viện, giải vây, tiến đến trấn Phú An, giáp công cửa biển Thị Nại và cửa khẩu Quy Nhơn.

Hoài Đức tham dự việc quân, sau đƣợc triệu về kinh. Tháng 8, vua cho Đông cung đem tƣớng sĩ dinh Tả quân về Gia Định trƣớc. Tháng 9, Nguyễn Ánh rút về Gia Định, để Võ Tánh giữ thành Diên Khánh. Trần Quang Diệu vây thành, quyết hạ thành Diên Khánh. Trịnh Hoài Đức chuyển làm Ký lục Trấn Định. Trịnh Hoài Đức có thơ: Họa Bắc hà Đặng Trần Thƣờng đầu nam tự tự nguyên vận, Quy Nhơn phủ binh trƣờng đồng Binh bộ hữu tham tri Lê Quang Định phân lƣợc hồi Gia Định thành, Đề Binh bộ hữu tham tri Mẫn Chính hầu Lê Quang Định Quy Nhơn phủ địa đồ, Tây Thi cúc.

1795, Ất Mão

Nguyễn Ánh mang quân cứu viện thành Diên Khánh. Tháng 5, nội bộ triều Tây Sơn lục đục. Nguyễn Ánh phá liên tiếp 12 đồn

của Tây Sơn.

1796, Bính Thìn

Nguyễn Ánh về Gia Định, ra quy chế về thi cử. Trịnh Hoài Đức có thơ: Cấn Trai đề bích, Đảo quái điểu, Quá sơn ngƣ, Thất tịch vũ Nhà Nguyễn đóng 15 chiến thuyền lớn hiệu “Gia”. làm sổ hộ tịch ở 4 dinh Gia Định. Ban hành lệnh khuyến nông. Cho ngƣời sang Trung Quốc mua sách và hàng hoá. Đúc tiền “Gia Hƣng thông bảo”.

Thầy Trịnh Hoài Đức là Đặng Cửu Tƣ tiên sinh mất. Trịnh Hoài Đức có thơ: Khốc Đặng Cửu Tƣ tiên sinh, Bạch mi hầu, Tịnh đầu cúc, Tƣơng phi trúc,

Khuê tình.

1797, Đinh Tỳ

Nguyễn Ánh cùng Đông cung Cảnh, Nguyễn Văn Trƣơng, Nguyễn Huỳnh Đức đánh Quy Nhơn lần thứ hai, nhƣng thấy thành Quy Nhơn phòng thủ kiên cố, Nguyễn Ánh đem quân đánh ra cửa biển Đà Nẵng, Quảng Nam.

Quân Tây Sơn thua trận. Nguyễn Ánh rút về Gia Định để Nguyễn Văn

Thành và Đặng Trần Thƣờng giữ thành Diên Khánh.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Gia Định tam thập cảnh phân bội văn vận phủ vận Gia Định kim thành: Hoa phong cổ lũy, Ngƣu tân ngƣ địch, Lộc động tiều ca, Mai khâu túc hạc, Liên chiểu miên âu, Phù gia điếu nguyệt, Châu thổ sừ vân, Lũ viên giảo liệp, Quất xã tuyến ti, Cẩm đàm phân phái, Thạch hỏa lƣu quang, Tân triều đãi độ, Bình thủy quy phàm, Ngƣ tân sơn thị, Tiên phố giang thôn, Tân kinh thần mục, Trấn định xuân canh, Thùy vân quất phố, Tái khái qua điền, Ngao châu mộ cảnh, Quy dữ vãn hà, Long hồ ấn nguyệt, Thác áo quan lan, Mỹ Tho dạ vũ, Chiêu thái (Châu Thới) tình yên, Long Xuyên tửu đĩnh, Võng thị ngƣ đăng, Tân Châu thú cổ, Quang Hóa hồ già.

1798, Mậu Ngọ

Quân Nguyễn đóng thuyền lớn theo kiểu phƣơng Tây. Đặt đài phong hoả ở cửa biển Bình Thuận và Bình Khang. Nguyễn Văn Bảo chiếm thành Quy Nhơn, định theo hàng Nguyễn Ánh, nhƣng chƣa kịp hàng đã bị quân Nguyễn Quang Toản đánh bắt giết đi, rồi giao Đại tổng quân Lê Văn Thanh giữ thành.

225

Hàn lâm viện thị học Ngô Nhân Tĩnh làm Tham tri Binh bộ đem quốc thƣ theo thuyền buôn ngƣời Thanh sang Trung Quốc hỏi thăm tin tức vua Lê, nhƣng đƣợc tin vua Lê chết, bèn trở về.

1799, Kỵ Mùi

Chuyển Ký lục Trấn Định Trịnh Hoài Đức làm Hữu tham tri Hộ bộ. Trịnh Hoài Đức có thơ: Trƣơng Lƣơng (hai bài), Hàn Tín (hai bài), Vịnh sử (hai bài) Đại quân nhà Nguyễn đi đánh Quy Nhơn, vua Nguyễn thân đốc binh ra đến

cửa biển Cần Giờ, Tham tri Hộ bộ Trịnh Hoài Đức chở quân lƣơng đi theo.

Ngô Nhân Tĩnh phụng mệnh sang đất Lƣỡng Quảng, Trung Quốc để tạ ơn

và bàn việc nạp cống.

Mùa thu tháng 7, vua Nguyễn trú ở thành Bình Định. Tham tri Hộ bộ Nguyễn Kỳ Kế và Trịnh Hoài Đức phụng mệnh chở gạo lƣơng ở kho Đại La (ở Nƣớc Mặn) về chứa tại kho Cự Tích (trong thành Bình Định).

Bấy giờ quan quân theo về ngày một đông thêm, liền sai Tả tham tri Lễ bộ Nguyễn Cửu Hanh, Tả tham tri Hình bộ Phạm Nhƣ Đăng, Hữu tham tri Binh bộ Lê Quang Định thu gạo thị nạp của dân Bình Định, Phú Yên.

Nguyễn Ánh rút khỏi thành Bình Định, để Võ Tánh và Ngô Tòng Chu ở lại

giữ thành Bình Định.

Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định cùng trông coi việc binh dân, tiền thóc, kiện tụng ở trấn Bình Hoà. Tháng 12, Hữu Tham tri Hộ bộ Trịnh Hoài Đức cùng các Thiêm sự đƣợc triệu về Gia Định.

1800, Canh Thân

Trịnh Hoài Đức có thơ: Hổ phách lân phiến trụy, Mục kính, Nhĩ bả, Thanh hà. Tƣớng Tây Sơn là Trần Quang Diệu vây đánh thành Bình Định. Trịnh Hoài Đức đốc chở thuyền lƣơng tiếp tế cho quân binh. Tháng 9, vua sai Tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh mang các thức chè Tàu,

thuốc lá Xiêm, lƣơng thực chia cấp cho các tƣớng sĩ ở Thị Dã.

Quân Tây Sơn vẫn vây chặt thành Bình Định. Võ Tánh cố thủ trong thành.

Diệu cho đắp luỷ quanh thành và chia quân vây bốn mặt.

Triều Tây Sơn cho khắc in bộ Đại Việt sử ký tiền biên. Trịnh Hoài Đức có thơ: Tống Binh bộ tham tri Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhữ Sơn phụng sứ hành tự dẫn…

(ba bài), Thu nhật Cù Mông sơn đồn thƣ sự, Sơn đồn thu vũ.

1801, Tân Dậu

Nguyễn Ánh ra lệnh bãi bỏ thuế sƣu ruộng đất ở Phú Yên để thu phục lòng dân. Tập trung lực lƣợng tấn công thuỵ quân Tây Sơn ở cửa biển Thị Nại (Nghĩa Bình). Quân Tây Sơn tan vỡ.

Đông cung Cảnh chết ở Gia Định (năm 22 tuổi). Ngày 27-5, Ngô Tòng Châu uống thuốc độc chết, ngày hôm sau, Võ Tánh

tự thiêu, thành Quy Nhơn mất.

Tháng 5, quân Nguyễn hạ thành Phú Xuân, Nguyễn Quang Toản rút quân ra

bắc.

Con trai trƣởng của Trịnh Hoài Đức là Thiên Tính mất. Trịnh Hoài Đức có thơ: Kỷ mùi niên tứ nguyệt… (hai bài), Đông nhật Quảng Ngãi chiến trƣờng ký Phú Xuân kinh lại bộ tham tri Phạm Ngọc Uẩn, Binh trƣờng đắc trƣởng tử Thiên Tính vong tín.

Tháng 5, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân,

1802, Nhâm Tuất Gia Long thứ 1

Thuận Hoá,

Lấy Trịnh Hoài Đức làm Thƣợng thƣ Hộ bộ sung chánh sứ sang nƣớc Thanh, Ngô Nhân Tĩnh làm Hữu tham tri Binh bộ, Huỳnh Ngọc Uẩn làm Hữu tham tri Hình bộ sung Giáp ất phó sứ, đem quốc thƣ và phẩm vật, ấn sách của Tây Sơn, cùng giải giặc biển Tề Ngôi sang Quảng Đông để nộp.

Tháng 6, quân Nguyễn hạ thành Thăng Long. Lê Quang Định làm Hiệp trấn Thanh Hoa (Liệt truyện chép, nhƣng Thực

226

lục không thấy chép, chỉ thấy phong Võ Danh Trung làm Hiệp trấn Thanh Hoa). Tháng 8, tham khảo luật Hồng Đức, đặt điều lệ kiện tụng gồm 15 điều. Tháng 11, giết Nguyễn Quang Toản và các tƣớng Tây Sơn bị bắt. Tháng 11, lấy Tham tri Binh bộ Lê Quang Định làm Thƣợng thƣ Binh bộ sung chánh sứ sang nhà Thanh, Thiêm sự Lại bộ Lê Chính Lộ và Đông các học sĩ Nguyễn Gia (Địch) Cát làm Giáp Ất phó sứ sang Trung Quốc xin phong và đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhƣng nhà Thanh có ý ngại bèn đổi thành Việt Nam. Trong thời gian trên đƣờng đi sứ nhà Thanh, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân

Tĩnh và Lê Quang Định sáng tác rất nhiều thơ.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Phụng sứ Đại Thanh quốc kinh Quảng Đông dƣơng phận Tam Châu đƣờng ngộ cụ phong, Quá Linh Đinh dƣơng hữu cảm, Hổ Môn quan dạ bạc, Tặng Hổ Môn tả dực tổng binh Hoàng Tiêu, Tặng Đông Hoán chính đƣờng Phạm Văn An, Tặng Việt thành bạn sứ Thái Thế Cao ngoại ủy, Bà Châu cổ tháp, Sứ hành thứ Quảng Đông thƣ hoài, Châu giang hoa đĩnh, Hoa điền hoán tẩu, Lƣu đề thập tam hành chủ Phan Đồng văn hoa viên, Du Hải Tràng tự tặng Tuệ Chân thƣợng nhân, Túc Bạch Vân Sơn tự, Việt trung hoài cổ, Họa Vân Gian Diêu Kiến tú tài kiến tặng nguyên vận, Triết Giang giám sinh Lục Phụng Ngô cái đề trúc bạch phiến tam chi kiêm sách tặng (ba bài), Đông nguyệt do Quảng Đông thủy trình vãng Quảng Tây tỉnh hội thỉnh phong sứ thủ lộ tiến kinh đạo trung ngâm đồng Ngô Hoàng lƣỡng phó sứ thứ lạp ông tam thập vận (30 bài), Linh Dƣơng hiệp vọng phu thạch, Tặng Quảng Tây tỉnh tu chức lang Bành Tung Linh bạn sứ, Quế Lâm đông nhật vọng thỉnh phong chính sứ Lê Quang Định binh bộ thƣợng thƣ, Sứ quán dạ ngâm, Hành quán khiển hứng, Dạ khởi, Dạ tọa, Quế Lâm trừ dạ.

1803, Quý Hợi Gia Long thứ 2

Tháng giêng, nhà Nguyễn đúc 9 khẩu đại bác bằng đồng. Tháng 2, các quan Tây Sơn bị đóng gông đƣa ra Bắc Hà xử tội, trong đó có

Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích… Ngô Thì Nhậm bị đánh chết.

Nguyễn Ánh bàn việc bắc tuần nhân có thƣ do sứ nhà Thanh đƣa sang báo sứ đoàn của Lê Quang Định và Trịnh Hoài Đức đã đến Yên Kinh, vua Thanh sai Án sát sứ Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang tuyên phong.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Đăng Thê Hà sơn tự (2 bài), Lâm Quế huyện chính đƣờng Phạm Lai Bái …, Việt Tây sứ quán nhuận nhị nguyệt khẩu chiếm, Sứ quán thanh minh đồng thỉnh phong phó sứ Nguyễn Địch Cát đề hoài, Mộ xuân đăng Lão quân tung họa Quảng Tây Triệu Trúc quân đề bích nguyên vận, Lữ thứ hoa triêu, Dịch xá mộng cố biểu đệ Nhân Sơn, Khiển muộn hý trình sứ bộ liệt vị, Quế Lâm giải lãm, Lô tƣ đƣờng dạ bạc, Linh Xuyên huyện ký hứng, Họa phó sứ Nguyễn Địch Cát Tƣơng giang vãn phiếm nguyên vận, Chu trung đoan dƣơng, Tƣơng hành tạp vịnh - Nghịch lƣu, Khốc thử, Văn địch, Quan lô tƣ, Họa thỉnh phong sứ Lê Binh bộ Tấn Trai Toàn châu đoan ngọ, Đề hộ tống Lục thụ phong tri châu mạc tân từ thể trai tiểu chiếu nhị thủ, Du Tƣơng sơn Quang Hiếu tự, Đề khắc Ngô Khê kính thạch, Hồ nam đạo trung chu hành tạp vịnh (8 bài), Hoành giang hiểu phiếm, Vị đề Tƣơng Âm Lục tri huyện mai cúc phiến diện (2 bài), Sở trung, Thạch Cổ sơn nạp lƣơng, Họa Lê Tấn Trai Binh bộ Thạch Cổ sơn thƣ viện nguyên vận, Đề Trƣờng Sa Triệu tri huyện phiến diện Lý hàn lâm họa mai, Đăng Trƣờng Sa củng chửng lâu lƣu đề, Củng chửng lâu đối vũ, Quá Động Đình hồ hữu cảm, Đề Nhạc Dƣơng lâu, Tế phong đài, Chu đình Xích Bích ngẫu ngâm, Sở giang hạ phiếm thƣ sự (2 bài), Vũ Xƣơng chu trung khẩu tặng sở kiến, Đề Hoàng hạc lâu, Anh Vũ châu, Đề Hán Dƣơng tri phủ kỷ hƣơng tùng hạ ngƣ ông đồ, Hựu đề dƣơng liễu hạ nhị mỹ nhân ỷ thạch đồ, Hán Dƣơng phủ huyện nhị mạc… (4 bài), Sứ đình Hán Dƣơng Thiên Đô am lƣu đề, Thƣ tặng Thiên Đô am Minh Viễn lão thiền sƣ, Hoàng pha lộ trung vãn hành, Thời thiên khí cốc thử kinh Tín Dƣơng Châu sơn lộ …, Lục nguyệt ký vọng dạ độ Trƣờng đài quan,

227

Xác Sơn dạ phát, Nghiệp trung, Đồ kinh Tân Trịnh khất thủy ƣ sơn gia lão phố nhân dĩ thi tạ, Đồ trung thƣ sự, Lạc trung, Hà Nam lộ trung lập thu, Khai Phong phủ hành quán lập thu bệnh trung ngâm, Trịnh Châu ngọa bệnh đắc đồng bộ sao lục vƣu đồng đề tụng Lữ tiên từ … (2 bài), Bệnh đình Hà Nam định tỉnh thành công quán…, Độc Vân Tiều thi tiên nhân hứng đề bích, Sứ đình Hà Nam du tƣớng quốc tự Đạt Bổn thiền sƣ…, Hà Nam công quán bệnh khởi tựu đạo dạ hành ngâm, Độ Hoàng Hà, Cấp huyện giao hành, Đề nghi cấu dịch, Nghi cấu dịch thất tịch, Họa An Dƣơng huyện cử nhân Vƣơng thiết Nhai kiến tăng nguyên vận, Đề ngô hạ nhị mỹ nhân đồ, Lặc Thạch đề Hàm Đan Lữ tiên từ hoàng lƣơng chân tích (2 bài), Dự Nhƣợng kiều, Quá Khƣ Đà hà, Sứ đình Long Hƣng tự mạn đề, Tặng Long Hƣng tự Dƣỡng Tuyền lão hòa thƣợng, Trực lệ đạo trung thƣ sự, Trắc Quảng Nhân lĩnh, Cổ bắc khẩu kỷ kiến, Tái độ Hoàng hà, Tặng Thánh duệ thất thập nhị đại tôn kỹ cống thành nhậm Tân Trịnh tri huyện kế bính, Tín Dƣơng Châu quy trình sở phỏng bất ngộ, Ngũ hiểm than, Sứ bộ xuất Nam quan hồi quốc khẩu chiếm, Tự trào, Sứ hành tự thuật, Đề Hoa trình đồ.

Sứ nhà Thanh là Tề Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn sang phong, làm lễ tuyên phong, quốc hiệu Việt Nam. Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh cùng đi hầu xa giá nhà vua.

1804, Giáp Tý Gia Long thứ 3

Xong việc Trịnh Hoài Đức vẫn giữ chức Thƣợng thƣ Hộ bộ nhƣ cũ. Tháng 4, xây cung thành và hoàng thành. Thu thập sách quý, tìm những

sách chứa riêng ở nhà dân.

Lê Văn Duyệt và Lê Quang Định đƣợc vua sai biên binh và dân Quảng

Ngãi làm mƣời kiên cơ.

Trịnh Hoài Đức biên soạn lại những bài thơ làm trong thời gian đi sứ đóng thành tập gọi là Sứ hành quan quang đồng thời biên chép lại những sáng tác thơ làm trƣớc đây qua ký ức và qua lời truyền đọc của bạn bè thành tập Thoái thực truy biên.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Nghiêu hoa (2 bài), Dã mẫu đơn, Giới hoa (2 bài), Quan Âm trúc (2 bài), Phú đắc cúc thủy nguyệt tại thủ (2 bài), Thụy oanh (2 bài), Nguyệt cung, Nam mai, Họa vân đồ, Tùng đào, Điệp phách, Thôn nữ lâm trang.1

Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân nổ ra khắp nơi, nhà Nguyễn cho quân

1805, Ất Sửu Gia Long thứ 4

đánh dẹp.

Tháng 10, sai Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Duyệt, Lê Quang Định, Nguyễn Quang Diệu chia nhau đi kén lính ở các dinh Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình và Quảng Nam.

Chƣởng trung quân Nguyễn Văn Trƣơng là Lƣu trấn Gia Định, Thƣợng thƣ

Hộ bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp lƣu trấn Gia Định.

1806, Bính Dần Gia Long thứ 5

Tháng 5, Gia Long lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hoà. Thƣợng thƣ Binh bộ Lê Quang Định dâng sách Nhất thống dƣ địa chí, gồm

10 quyển.

Những cuộc khởi nghĩa nhỏ nổ ra ở Thái Nguyên, Bình Định nhƣng đều bị

đánh dẹp.

1807, Đinh Mão Gia Long thứ 6

Lấy 3000 ngƣời ở Thanh Hoá, Nghệ An, 5500 ngƣời ở Bắc Thành vào kinh sửa sang xây dựng lại cung điện. Khởi nghĩa nổ ra ở Thanh Hoá, Sơn Tây, Kinh Bắc, Nghệ An.

Khởi nghĩa ở Gia Định, khởi nghĩa ở Phú Yên nhƣng đều bị dập tắt. Tháng 9, vua Chân Lạp là Nặc Chân, sai sứ sang cầu phong. Sai Tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh làm Chánh sứ cùng với Ký lục Vĩnh Thanh là Trần Công Đàn làm Phó sứ, mang sắc ấn đến thành La Bích ban phong cho Nặc Chân làm quốc vƣơng nƣớc Chân Lạp.

1 Vì không rõ những bài này đƣợc làm vào năm nào, nhƣng theo Cấn Trai thi tập, đƣợc xếp vào năm Giáp tý, tạm thời chúng tôi xếp vào đây.

228

1808, Mậu Thìn Gia Long thứ 7

Trịnh Hoài Đức có thơ: Điệu Phạm Chung cơ Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra ở khắp nơi: Sơn Nam hạ, Khoái Châu (Sơn Nam thƣợng), Thuận An (Kinh Bắc), Mỷ Lƣơng (Sơn Tây)… bị nhà Nguyễn đƣa quân đánh dẹp.

Bắt đầu đặt chức Tổng trấn thành Gia Định. Triệu Nguyễn Văn Trƣơng về, lấy Nguyễn Văn Nhân làm Tổng trấn Gia Định, Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn. Ban ấn Tổng trấn thành Gia Định.

1809, Kỵ Tỳ Gia Long thứ 8

Dân nổi dậy ở khắp nơi Hải Dƣơng, Hà Bắc, Thái Nguyên… Ngô Nhân Tĩnh làm Giám khảo hữu trƣờng diễn bắn súng. Tổng trấn thành Gia Định Nguyễn Văn Nhân và Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức phụng mệnh xây toà vọng cung ở trƣớc sân trong thành để các quan trong thành và trấn Phiên An đến làm lễ vào những ngày lễ lớn.

Tháng 11, đặt lại chức thƣợng thƣ ở 6 bộ. Lê Quang Định đổi từ Thƣợng

1810, Canh Ngọ Gia Long thứ 9

thƣ Binh bộ sang làm Thƣợng thƣ Hộ bộ. Dựng miếu Trung hƣng công thần. Thƣợng thƣ Hộ bộ Lê Quang Định kiêm việc trông coi Khâm thiên giám. Lê Quang Định phụng sắc khâm định chƣơng trình kiến canh điền bạ, chia

ruộng làm năm bậc, thuế thu làm bốn lần.

1811, Tân Mùi Gia Long thứ 10

Dân các huyện Bình Lục, Ý Yên, Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm trấn Nam Sơn bị đói, họp nhau nổi dậy. Đặng Đức Siêu và Võ Đình Lục phối hợp khởi nghĩa ở Mỷ Lƣơng, nghĩa quân đông tới nghìn ngƣời.

Tháng 6, triều Nguyễn cho biên soạn bộ Quốc triều thực lục. Hữu tham tri Binh bộ Ngô Nhân Tĩnh làm Hiệp trấn Nghệ An, ông bảo Đốc học Bùi Dƣơng Lịch làm cuốn Nghệ An ký (Nghệ An phong thổ ký). Hiệp trấn Ngô Nhân Tĩnh về kinh tâu rõ tình cảnh khổ sở của nhân dân Nghệ An và xin hoãn thuế… Vua đều y cho.

Tháng 8, Hoàng thái hậu băng, thọ 74 tuổi. Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Văn Nhân cùng các trấn thần dâng sớ xin vào viếng tang, nhƣng vua chỉ y cho Trịnh Hoài Đức về kinh viếng.

Tháng 11, lấy Tống Phƣớc Lƣơng và Lê Quang Định sung Sơn lăng sứ, sai

cùng Trịnh Hiến và Lê Duy Thanh chọn kiểu đất đẹp cho sơn lăng.

1812, Nhâm Thân Gia Long thứ 11

Khởi nghĩa ở Nghệ An nhƣng đều thất bại. Tháng 7, soạn xong sách luật Gia Long. Ở vùng núi Sơn Nam nhiều cuộc nổi dậy đánh phá các huyện Tống Sơn,

Phụng Hoá, Gia Viễn…

Lê Quang Định trông coi việc xây lăng ở Định Môn. Hiệp trấn Nghệ An Ngô Nhân Tĩnh ốm, dâng biểu xin về nam. Tháng 4, phong Ngô Nhân Tĩnh làm Thƣợng thƣ Công bộ hành Hiệp tổng

trấn Gia Định giúp Nguyễn Văn Nhân.

Lấy Thƣợng thƣ Hộ bộ Trịnh Hoài Đức làm Thƣợng thƣ Hình bộ, nhƣng

ông cố từ, bèn lấy Phạm Nhƣ Đăng cho làm.

Tháng 7, lấy Trịnh Hoài Đức làm Thƣợng thƣ Lễ bộ, kiêm quản lý công

việc Khâm thiên giám.

Hiệp tổng trấn thành Gia Định Ngô Nhân Tĩnh và Tả tham tri Hộ bộ Lê

Viết Nghĩa kiểm tra lệ thuế tiền thóc sản vật ở các trấn đạo thuộc thành.

Triệu Nguyễn Văn Nhân về kinh, lấy Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn thành

Gia Định, Trƣơng Tấn Bửu làm Phó tổng trấn.

Các huyện Quỳnh Lƣu, Đông Thành, Nam Đƣờng, Lê Sơn, Thanh

Chƣơng… ở Nghệ An, ở Hải Dƣơng, Hƣng Hoá đều có khởi nghĩa.

1813, Quý Dậu Gia Long thứ 12

Tháng 2, Thƣợng thƣ Hộ bộ Lê Quang Định mất; tặng Tham chính, đƣợc

cấp quan tài, ba cây gấm Tống, 500 quan tiền, 3 ngƣời mộ phu.

Tháng 3, nƣớc Chân Lạp sai sứ sang dâng sản vật và xin đƣa Nặc Chân về

nƣớc.

229

Tháng 4, chiếu cho Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt và Hiệp tổng trấn Ngô Nhân Tĩnh đại phát thuỵ binh hơn 13000 quân đƣa quốc vƣơng Chân Lạp là Nặc Chân về nƣớc.

Tháng 5, vua xa giá đi tuần Quảng Nam, Trịnh Hoài Đức ở lại giữ kinh

thành.

Tháng 6, mở khoa thi hƣơng từ Quảng Bình trở vào Nam. Tháng 10, Hiệp tổng trấn Gia Định là Ngô Nhân Tĩnh mất. Trịnh Hoài Đức xin truy tặng, vua không cho, vì có ngƣời báo với Lê Văn Duyệt rằng trƣớc đây Tĩnh sang Chân Lạp có nhận riêng của nƣớc Phiên. Duyệt đem báo vua, vua nói “việc không có chứng cứ, hãy để đó”.

Tháng 12, lấy Thƣợng thƣ Lễ bộ Trịnh Hoài Đức làm Thƣợng thƣ Lại bộ. Trịnh Hoài Đức có thơ: Khốc Hộ bộ thƣợng thƣ Mẫn Chính hầu Lê Quang Định, Văn Gia Định thành Hiệp trấn Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhữ Sơn Công bộ thƣợng thƣ phó âm ai tác Mùa xuân, tháng giêng năm này, Trịnh Hoài Đức chuyển làm Thƣợng thƣ

1814, Giáp Tuất Gia Long thứ 13

Lại bộ.

1816, Bính Tý Gia Long thứ 15

Các huyện Vĩnh Lộc, Yên Định (Thanh Hoá) đều có khởi nghĩa. Lấy Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Huỳnh Đức làm Tổng trấn Gia Định. Triệu Thƣợng thƣ Lại bộ Trịnh Hoài Đức đến ngự sàng sai viết “Sách lập hoàng tử Hiệu làm Hoàng thái tử” và sai Đô Thống chế Trần Văn Năng, Thƣợng thƣ Trịnh Hoài Đức… coi việc làm sách ấn.

Tháng 6, sách phong lập Hoàng thái tử ở điện Thanh Hoà. Huỵ tiền thời Tây Sơn và ban tiền Gia Long thông bảo. Lấy Thƣợng thƣ Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp tổng trấn Gia Định giúp

cho Tổng trấn Nguyễn Huỳnh Đức.

Mùa đông, Trịnh Hoài Đức biên tập lại những thi tập cũ bị mối mọt gặm nát là Thoái thực truy biên và Quan quang, đồng thời thu thập thơ từ năm Giáp tý đến nay biên soạn đặt tên là Khả dĩ, gộp chung đặt tên là Cấn Trai thi tập.

Trịnh Hoài Đức có thơ: Điệu Nguyễn Quế cơ (2 bài), Thƣơng đệ tam tử Thiên Hóa1, Tân lang, Mông quả, Thủy liễu, Ba la mật, Dã thạch lựu, Phụng lê, Dƣơng đào, Hợp hoan đậu, Phật đầu lê, Bối diệp, Đằng tàm, Huyết ngao, Hầu, Hải kính.2

1817, Đinh Sửu Gia Long thứ 16

Thuyền Ma Cao đậu ở cửa biển Đà Nẵng, dâng địa đồ đảo Hoàng Sa. Tàu nƣớc Pháp đậu ở Đà Nẵng xin dâng sản vật, nhƣng vua không tiếp, để

các quan lại ở Quảng Nam tiếp.

1818, Mậu Dần Gia Long thứ 17

Dân chúng ở Nghệ An nổi dậy. Tháng 11, cho ngƣời Thanh, Chân Lạp, Chà Và đến khai khẩn ruộng hoang,

lập phố xá ở phía sau bảo Châu Đốc.

Con trai thứ ba của Trịnh Hoài Đức là Thiên Hoá mất. Trịnh Hoài Đức có

thơ: Thƣơng đệ tam tử Thiên Hoá.

Sửa đắp thành Thăng Long. Sai Chƣởng tả quân Lê Văn Duyệt đi kinh lƣợc

1819, Kỵ Mão Gia Long thứ 18

hai xứ Nghệ An, Thanh Hoa đều có sớ xin tha thuế.

Tháng 3, Trịnh Hoài Đức làm bài Tự tự cho tập thơ Cấn Trai thi tập, rồi

khắc in và lƣu hành tập thơ của mình.

Tháng 9, cho vét đào sông Châu Đốc thông đến Hà Tiên, gọi là kênh Vĩnh

Tế.

Tổng trấn Gia Định chƣởng Tiền quân Quận công Nguyễn Huỳnh Đức chết ở nhà, vì trƣớc đó ốm, xin nghỉ. Lấy Chƣởng hữu quân Nguyễn Văn Nhân là Tổng trấn Gia Định.

Tháng 12, Vua Nguyễn Gia Long băng, thọ 58 tuổi, ở ngôi 22 năm, lên ngôi

hoàng đế 18 năm.

1 Thiên Hoá con trai thứ ba của Trịnh Hoài Đức mất vào năm Mậu Dần, 1818, nhƣng trong lời tựa tự đề cho tập thơ Cấn Trai thi tập, ông có viết, thu thập những bài thơ từ năm Giáp tý đến năm Bính Tý, vì thế chúng tôi tạm để bài thơ này vào năm Bính Tý (1816). 2 Những bài thơ vịnh này cũng không rõ năm sáng tác, chúng tôi tạm để vào đây, chờ thẩm sát lại.

230

1820, Canh Thìn Minh Mệnh thứ 1

Vua Nguyễn Minh Mệnh nối ngôi. Và ban 16 điều ân chiếu: tiền thóc sản vật mà nhân dân còn thiếu từ năm Gia Long thứ 18 trở về trƣớc và thuế lệ, tiền thóc sản vật về nhân đinh điền thổ trong năm Minh Mệnh thứ 1 đều đƣợc miễn. Khởi nghĩa của Hà Đoàn Thiệu và Lƣơng Hoàng Hải ở Thái Nguyên. Bệnh

dịch lan tràn từ Hà Tiên đến Bắc Thành.

Thƣợng thƣ Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh ấn vụ

Tổng trấn Gia Định thay cho Nguyễn Văn Nhân.

Tháng 6, đặt Quốc sử quán để biên soạn quốc sử. Tháng 6, triệu Thƣợng thƣ Lại bộ hành Hiệp tổng trấn Gia Định Trịnh

Hoài Đức về kinh, lại cho lĩnh việc ở Lại bộ.

Trịnh Hoài Đức gặp hai ngƣời con của cố giao Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh là Quang Dao và Quốc Khuê, đem trình bản thảo thơ của Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh xin khắc in lƣu hành.

Tháng 8, Hữu Tham tri bộ Lễ Nguyễn Du mất. Xuống chiếu tìm sách cũ. Trịnh Hoài Đức dâng sách Gia Định thông chí (3 quyển) và Minh Bột di

ngƣ văn thảo.

Truy cấp phu coi mộ Ngô Nhân Tĩnh. Tháng 3, xây dựng miếu Thế Tổ, đúc một quả chuông to, sai Thƣợng thƣ

1821, Tân Tỳ Minh Mệnh thứ 2

Lại bộ Trịnh Hoài Đức viết bài minh.

Tháng 5, sai các quan soạn sách Liệt thánh thực lục, Chƣởng hữu quân Nguyễn Văn Nhân làm Tổng tài, Thƣợng thƣ Trịnh Hoài Đức và Phạm Đăng Hƣng làm Phó tổng tài soạn sách tại Quốc sử quán.

Tháng 8, lấy Thƣợng thƣ Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh Thƣợng thƣ Lại bộ và kiêm lĩnh Thƣợng thƣ Binh bộ, ban hàm nhất phẩm.

Tháng 9, lập đàn tế tƣớng sĩ trận vong Nam Bắc, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh

Hoài Đức khâm mệnh đi tế.

Tháng Chạp, sứ Thanh sang sách phong, Tổng trấn bắc thành Lê Chất và

Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức sung chức Thị vệ đại thần.

Mở ân khoa thi hội đầu tiên và định phép thi. Sai Hiệp biện đại học sĩ Trịnh

1822, Nhâm Ngọ Minh Mệnh thứ 3

Hoài Đức sung Chủ khảo trƣờng thi Hội.

Thi Cống sĩ ở điện Cần Chính, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức sung

độc quyển.

Tháng 9, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức dâng bộ Lịch đại kỷ nguyên

và Khang tế lục.

Tháng 11, sai Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Thƣợng thƣ Lại bộ Trịnh Hoài Đức

kiêm lĩnh chức Thƣợng thƣ Lễ bộ.

Trịnh Hoài Đức cho san khắc thêm hai tập của Lê Quang Định và Ngô Nhân Tĩnh vào sau tập thơ của mình, viết tựa và đặt tên là Gia Định tam gia thi lƣu hành.

1823, Quý Mùi Minh Mệnh thứ 4

Tháng 7, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức ốm nặng, dâng biểu xin về Gia Định để thoả ý nguyện “cáo chết quay đầu về núi”, lại nói “vợ chết chƣa chôn, con ở tang mẹ”, nhƣng vua không cho, bảo ở lại tĩnh dƣỡng, và cho nghỉ công việc hai bộ Lại, Lễ.

Đến tháng 10, Hoài Đức hết bệnh, lại lĩnh công việc nhƣ cũ, nhƣng đƣợc

hơn mƣời ngày lại dâng biểu xin về Gia Định thăm nhà 3 tháng.

Tháng 3, Hiệp biện học sĩ Trịnh Hoài Đức về lại kinh lĩnh chức Thƣợng

1824, Giáp Thân Minh Mệnh thứ 5

thƣ Lại bộ kiêm quản công việc Lễ bộ.

Tháng 7, sai soạn Ngọc điệp tôn phả sai Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Thƣợng thƣ Lại bộ Trịnh Hoài Đức làm Tổng tài. Tháng 11, Ngọc điệp làm xong đặt vào long đình.

1825, Ất Dậu

Hiệp biện học sĩ Trịnh Hoài Đức quyền lĩnh công việc Thƣơng bạc. Tháng 2, Hiệp biện đại học sĩ Trịnh Hoài Đức mất. Truy tặng Thiếu bảo

231

Lê Quang Định đƣợc đƣa vào thờ ở miếu Trung hƣng công thần.

Minh Mệnh thứ 6 Cần Chính điện Đại học sĩ (trật Chánh nhất phẩm), thuỳ là Văn Khác. Ngô Nhân Tĩnh đƣợc đƣa thờ phụ ở miếu Trung hƣng công thần1. 1850, Tự Đức thứ 3 1854, Tự Đức thứ 5

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Lục tỉnh Nam Việt, mục Tỉnh Gia Định, phần Nhân vật, truyện Ngô Nhân Tịnh, bản dịch của Tu Trai Nguyễn Tạo, Nha Văn hoá phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, 1973, tr.99 và bản chữ Hán in kèm, tờ 37a,b. Nhƣng theo Đại Nam liệt truyện, sđd., tr.216, cho rằng ông đƣợc thờ vào miếu Trung hƣng công thần vào năm Tự Đức thứ 5 (tức 1852).

232

PHỤ LỤC 2

CÁC BÀI TỰ BẠT TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA

1.

自序

余原籍福建省福州府長樂縣福湖鄉。遠祖圜浦公兵部尚書,以明季致仕,家世業儒書香 紹美,暨顯祖會,大清初入中國,不堪變服剃頭之令,留髮南投,客于邊和鎮福隆府平安縣 清河社,受一廛而爲氓。初試陶朱之技,終博陶朱之名,竟成鹿洞俗名仝狔巨擘。及先考少 事詩書,長通六藝,大字象棋爲時稱首。羞與紈袴子弟伍,以張釋之以貲補郎,黃霸入粟沈 黎郡補左馮翊卒吏,遂到富春京納銀,拜受六品冠蓋,就職于新平府倉塲,挈家遊宦。癸巳 年不祿,時余方十歲,從慈幃與兄姊復歸清河舊貫,奉祖母以供晨夕之歡。後被西山入寇, 四海鼎沸,故郡爲墟,錢井金溝,盡歸于盗賊之囊橐矣。慈幃攜余再往藩安鎮流寓于新隆 縣,全賴和丸斷織,嚴督從師。然而村學童生坐欠春風,止知背讀講義而已。適吳母攜仁靜 來,共敘別情,涕淚交下。二母撫二雛而言曰:爾等先人逞世豪華名時英俊,不幸飆囘海 宇,星散友朋,玉樹塵埋,烏衣巷寂,爾等勉追先志,克振家聲,是二母甘瞑目處。

於是二雛拜命,續訂世交。余以仁靜且長四歲,遂以世兄稱之,攜手文塲,刮摩淬礪, 其於經史子集,三教九流,凡遇同文之書必求竟讀,不辤駁雜鹵莽之笑。嚮慕唐詩風調,就 正時師,無奈嘉定新邦,文運初開,詩流尚隘,欲泝淵源未由也。已爰購三唐名集,諸家法 語,相與鑽仰沈研,究其氣格體裁,關竅底蘊之所在,寢食其間,繹意翻題,效顰學步。久 後慣熟,觸景生情,放筆肆吟,終不違乎杼柚之體制,而唐家樽俎始得知其臭味也。自是時 名先輩,樂與交遊,許以忘年拉登論文鏖筆之壇範,我馳驅從容取勝,而安靜之名已並播於 文人之口矣。然亦時或着力更費推敲,欲入古學之藩籬,終落時文之圈套,不有勦襲陳腐則 鄙俗浮媚。雖筆下成篇而味同嚼蠟,求其風雅神情,三百篇之軌轍,終不能得。蓋以火候日 淺,俗染病深,未得法家三昧故也,乃知古云:十年做得一舉子,三十年做不得一詩翁,真 不誣矣。噫,詩教其難者有如此夫。乃集諸同志,結爲詩社,以將相琢磨,名曰嘉定山會。 余名安號止山氏,吳名靜號汝山氏。凡會中詩友率以山自爲號,用誌其詩學之宗風焉耳。

既而年荒鹽米,釜生塵魚,固無顏子郭外之田,遂從子貢讀殖貨志以治生,庶免罹淮侯 城下之窘,以繼夫膏晷之功也。而汝山所知所行亦復如是。庚子年,余入贅黎家,得所倚 托,又遇九思鄧先生,以質其平昔之學於經史詩文,方得擥其綱領歸要而訛謬疵瑕之俗學故 習殆盡云矣。繼以國運方蹇,干戈相尋,致有高綿之游亦避地同塵之一法門也。因其境多艱 苦,跡遍華夷,故即景題情,篇什幾已盈尺。

戊申中興初,當路群公不揣虛譽,舉余翰林院知制誥。己酉年奉行田畯承宣勸農免役之 政。壬子年廷選東宮侍講。癸丑秋欽命東宮元帥景公代鎮延慶城,余奉扈從。是冬突來西山 圍兵。甲寅春王師出援,乘勝追勦進至富安鎮。御駕親督水兵進攻施耐海門。特命東宮元 帥,調撥諸道步兵,由仝柿上道出君山俗名山内主,夾攻歸仁城。余亦追隨儲備,緩急應行 傳宣進止機密重事。故余以文官職塲鋒鏑時亦侈於其列。及其賊壁堅閉,我餉不敷,大兵撒 囘,搤險富安平和二鎮。余扈侍東宮元帥回嘉定城。是冬蒙陞授余定祥鎮記録。時兵徭財 賦,一一取辨於民,而能上有益於國,下無害於民,其道亦已難矣。戊午夏蒙旨擢余戶部右 叅知,從兵給餉。己未年僞鎮守歸仁城阮俊獻城歸降。欽命掌後軍平西驂乘大將軍性郡公武 公性,禮部周正侯吳從周留鎮。余欽命漕運給交以充儲備。其冬僞少傅阮耀大舉水步入寇歸 仁城。庚申夏,王師出援舟師次于虬蒙海澳,水步分道,進解歸仁之圍。余奉轉輪隨宜辨 事,徵募民夫轉運錢米,涉壑踰山,給諸屯兵餽餉不乏。時賊兵五倍,堅築二重土壘圍抱益 固,內城外援不得相通。辛酉孟春,聖謨天縱,親提水兵,乘夜攻破施耐海門,盡燒西山戰

233

艦,火耀山谷,俘獲僞兵將卒,器械不可昇勝數。視夫千六百餘年前赤壁之戰同一快與。僞 主阮光纘聞報,愴惶盡驅順化北河空國入援,睿筭富春空虛。孟夏,留欽差掌前軍平西大將 軍誠郡公阮文誠管步兵。欽差掌象軍領象政川郡公阮德川管象兵隨機攻守,爲城中聲援,駕 督水師直抵富春,兵不血刃,阮光纘亦身奔北河,京城底定。欽命掌左軍平西將軍悅郡公黎 文悅提步兵入解歸仁之圍。命余從兵徵廣南廣義二處租庸以給軍食,兵駐清孝屯,攻賊後 背。壬戌春,阮耀窮逼夜遁由山蠻上道投竄北河。

孟夏,余奉詔回京,欽旨陞授戶部尚書,本朝六部之有尚書自余始,敕往大清國爲進貢 正使,本朝入使中國自余部始,仍謝恩,以己未年,官兵漂風到粵,給賜衣糧送回之事,並 絞納收獲天朝賜封西山阮光平阮光纘冊印,與械送俘獲內地海匪僞東海王莫觀扶,僞總兵梁 文庚,樊文才,由粵東閫臣題達,同甲乙副使兵部叅知靜遠侯吳仁靜,刑部叅知蘊才侯黃玉 蘊,乘白燕玄鶴二戰艚。六月十二日,自順安海門駕海。十九日屆粵洋分三州塘,颶風大 發。倒海翻山,飆風湧濤,船似芥舟滾湯中磨折,顚危性命,機幾不可保。余白燕艚先在上 川沙堤灣泊,二副使玄鶴艚,海外難支,風急椗斷,漂來粵轄大澳。七月初一日同到粵東虎 門關,呈天朝太子太保協辨大學士兵部尚書兩廣總督學羅吉慶摺奏。十月天朝旨准使部由廣 西省取路進京朝謁。接報王師收獲安南全境,繼命兵部尚書敏政侯黎光定,甲乙副使勤政殿 學士葵江侯阮迪吉,禮部僉事烱鑑侯黎正路爲請封使。奉兩粵督撫札下留余桂省等待齊到一 同進行。但彼以請封表內所請爲南越國一語,頗與兩粵古號相同爲關礙,經奉天朝軍機大臣 詰責。廣西巡撫孫玉庭督令繳回原表務使改請封從安南國舊號。本國復文,以安南經爲僞 號,不肯從命。爲此,巡撫孫,布政公峩,桉察清安泰,勤請使部輪流辨難,誘使具表文附 寄回奏,求速遵改。稟以議自上裁非出疆專命之事。孫撫臺甚加憂懼,忙赴太平府近關,修 書往復,關頭候命,羽檄交馳,加以兩國之兵因寇亂初平,於關上地頭,未免各張聲勢,與 迎送使事,接遞公文,兵弁守候,並嚴整飾,而國號一事,彼欲固要,我國不肯聽從。往復 文書,辨論未定,以故外間訛傳,二使部已爲內地拘禁。於是北城總鎮公經委間行往桂探 候。癸亥四月,因後表所敘,我國先有越裳,後有安南之語。事經天朝廷議准許使部緩程進 京。以此遂封爲越南國,蓋已善加調度彼此兩全,甚得事體。五月自桂省起程,八月歷燕 京,出萬里長城古北口關,往熱河行在拜覲。本朝使到熱河自余部始,昔所未有。會諸國來 王入貢賓使,同賞中秋嘉宴。事竣,由南關囘國,使事顛末詳見華程錄。

甲子元旦至昇龍城朝謁,復命仍停留奉侍行受冊封大禮。上論余與靜遠侯,旣熟北語官 話,委余侍駕,靜遠侯陪冊封大使廣西布政齊布森,同爲通譯宴欵問答之語,免他通事,卑 下衣服賤陋,觀瞻不雅。禮成仍扈駕囘富春京。直方其國事旣成,公事未攝爰因使行觀光 集,業編成帙,乃蒐索從前詩草,多已散失,止憑所記憶及得諸朋友傳誦之口,而追編之, 終不能得十分之一二,名曰退食追編,彙次紀年以表其時屬正僞,運際窮通,并自註事蹟名 號庶備。他時采風之一助可也。

乙丑春,特命余以本職叶與欽差掌中軍平西大將軍權郡公阮文張行嘉定城留鎮事。戊辰 冬,權郡公應召回京,詔余叶與欽差掌振武軍仁郡公阮文仁行嘉定城總鎮。辛未冬恭遇孝康 皇后升遐。壬申春,欽准余表奏請詣京瞻拜寧陵大禮。是秋欽詔頒銓行刑部尚書事。余拜表 固辤,蒙准改授禮部尚書兼管理欽天監事務。甲戌孟春復銓吏部尚書。

丙子冬簡命余協與欽差掌前軍平西將軍德郡公阮黃德總鎮嘉定城。時因公暇檢點舊編則 退食,觀光二集,多爲虫蠹侵蝕,不忍平生心蹟埋沒摧殘,若不速圖,則他日全編將盡歸于 無何有之鄉矣。遞行輯補,首以退食追編,次以觀光集,並收拾甲子年以後,凡應制送贈哀 輓諸作,與夫閑時教正子弟門客詠物諸小題,挨次臚列綴于丙子之下,名曰可以集,而總以 本齋命爲艮齋詩集。募得粵東剞劂氏付梓,留與子孫,使知余平生履歷有如此之磳磴以蓋保 其後云耳,非著作之謂也。蓋以當今聖天子光復炎圖,廓清南服方立綱陳紀,制禮作樂,正 臣子黼黻皇猷贊襄帝治而不暇,奚取乎將文字以占時名者哉,是爲序并類引國事家譜以並說 云。

嘉隆十八年三月二十日 吏部尚書欽差嘉定城協總鎮安全侯鄭懷德止山氏題

234

TỰ TỰ

Dƣ nguyên tịch Phúc Kiến tỉnh Phúc Châu phủ Trƣờng Lạc huyện Phúc Hồ hƣơng. Viễn tổ Hoàn Phố công Binh bộ thƣợng thƣ. Dĩ Minh quý trí sĩ, gia thế nghiệp Nho thƣ hƣơng thiệu mỷ. Kỳ hiển tổ Hội, Đại Thanh sơ nhập Trung Quốc, bất kham biến phục thế đầu chi lệnh, lƣu phát Nam đầu, khách vu Biên Hoà trấn Phúc Long phủ Bình An huyện Thanh Hà xã, thụ nhất triền nhi vi manh. Sơ thí Đào Chu chi kỷ, chung bác Đào Chu chi danh, cánh thành Lộc Động (tục danh Đồng Nai) cự phách. Cập tiên khảo thiếu sự thi thƣ, trƣởng thông lục nghệ, đại tự tƣợng kỳ vi thời xƣng thủ. Tu dữ hoàn khố tử đệ ngũ, dĩ Trƣơng Thích Chi dĩ ty bổ Lang, Hoàng Bá nhập túc Trầm Lê quận bổ Tả phùng dực tốt lại, toại đáo Phú Xuân kinh nạp ngân, bái thụ lục phẩm quan cái, tựu chức vu Tân Bình phủ thƣơng trƣờng, khiết gia du hoạn. Quý Tỳ niên bất lộc, thời dƣ phƣơng thập tuế, tòng từ vi dữ huynh tỵ phục quy Thanh Hà cựu quán, phụng tổ mẫu dĩ cung thần tịch chi hoan. Hậu bị Tây Sơn nhập khấu, tứ hải đỉnh phí, cố quận vi khƣ, tiền tỉnh kim câu, tận quy vu đạo tặc chi nang thác hĩ. Từ vi huề dƣ tái vãng Phiên An trấn lƣu ngụ vu Tân Long huyện, toàn lại hoà hoàn đoạn chức, nghiêm đốc tòng sƣ. Nhiên nhi thôn học đồng sinh toạ khiếm xuân phong, chỉ tri bối độc giảng nghĩa nhi dĩ. Thích Ngô mẫu huề Nhân Tĩnh lai, cộng tự biệt tình, thế lệ giao há. Nhị mẫu phủ nhị sồ nhi ngôn viết: Nhĩ đẳng tiên nhân sính thế hào hoa danh thời anh tuấn, bất hạnh tiêu hồi hải vũ, tinh tán hữu bằng, ngọc thụ trần mai, ô y hạng tịch, nhĩ đẳng miễn truy tiên chí, khắc chấn gia thanh, thị nhị mẫu cam minh mục xử.

Ƣ thị nhị sồ bái mệnh, tục đính thế giao. Dƣ dĩ Nhân Tĩnh thả trƣởng tứ tuế, toại dĩ thế huynh xƣng chi, huề thủ văn trƣờng, quát ma thối lệ kỳ ƣ Kinh Sử Tử Tập, tam giáo cửu lƣu, phàm ngộ đồng văn chi thƣ tất cầu cánh độc, bất từ bác tạp lỗ mãng chi tiếu. Hƣớng mộ Đƣờng thi phong điệu, tựu chính thời sƣ, vô nại Gia Định tân bang, văn vận sơ khai, thi lƣu thƣợng ải, dục tố uyên nguyên vị do dã. Dĩ viên cấu tam Đƣờng danh tập, chƣ gia pháp ngữ, tƣơng dữ toản ngƣỡng trầm nghiên, cứu kỳ khí cách thể tài, quan khiếu để uẩn chi sở tại, tẩm thực kỳ gian, dịch ý phiên đề, hiệu tần học bộ. Cửu hậu quán thục, xúc cảnh sinh tình, phóng bút tứ ngâm, chung bất vi hồ trữ trục chi thể chế, nhi Đƣờng gia tôn trở thuỵ đắc tri kỳ xú vị dã. Tự thị thời danh tiên bối, lạc dữ giao du, hứa dĩ vong niên lạp đăng luận văn ao bút chi đàn phạm. Ngã trì khu thung dung thủ thắng, nhi An Tĩnh chi danh dĩ tịnh bá ƣ văn nhân chi khẩu hĩ. Nhiên diệc thời hoặc trƣớc lực cánh phí thôi xao, dục nhập cổ học chi phiên ly, chung lạc thời văn chi quyển sáo, bất hữu tiễu tập trần hủ tắc bỉ tục phù mị. Tuy bút hạ thành thiên nhi vị đồng tƣớc lạp, cầu kỳ phong nhã thần tình, tam bách thiên chi quỷ triệt, chung bất năng đắc. Cái dĩ hoả hầu nhật thiển, tục nhiễm bệnh thâm, vị đắc pháp gia tam muội cố dã, nãi tri cổ vân: “thập niên tố đắc nhất cử tử, tam thập niên tố bất đắc nhất thi ông”, chân bất vu hĩ. Y, thi giáo kỳ nan giả hữu nhƣ thử phù. Nãi tập chƣ đồng chí, kết vi thi xã, dĩ tƣơng tƣơng trác ma, danh viết Gia Định Sơn hội. Dƣ danh An hiệu Chỉ Sơn thị, Ngô danh Tĩnh hiệu Nhữ Sơn thị. Phàm hội trung thi hữu suất dĩ Sơn tự vi hiệu, dụng chí kỳ thi học chi tông phong yên nhĩ. Ký nhi niên hoang diêm mễ, phủ sinh trần ngƣ, cố vô Nhan Tử quách ngoại chi điền, toại tòng Tử Cống độc thực hoá chí dĩ trị sinh, thứ miễn duy Hoài Hầu thành hạ chi quẫn, dĩ kế phu cao quỷ chi công dã. Nhi Nhữ Sơn sở tri sở hành diệc phục nhƣ thị. Canh Tý niên, dƣ nhập chuế Lê gia, đắc sở ỵ thác, hựu ngộ Cửu Tƣ Đặng tiên sinh, dĩ chất kỳ bình tích chi học ƣ kinh sử thi văn, phƣơng đắc lãm kỳ cƣơng lĩnh quy yếu nhi ngoa mậu tỳ hà chi tục học cố tập đãi tận vân hĩ. Kế dĩ quốc vận phƣơng kiển, can qua tƣơng tầm. Trí hữu Cao Miên chi du diệc tỳ địa đồng trần chi nhất pháp môn dã. Nhân kỳ cảnh đa gian khổ, tích biến Hoa Di, cố tức cảnh đề tình, thiên thập ky dĩ doanh xích.

Mậu Thân trung hƣng sơ, đƣơng lộ quần công, bất tuy hƣ dự, cử dƣ Hàn lâm viện tri chế cáo. Kỵ Dậu niên phụng hành Điền tuấn thừa tuyên khuyến nông, miễn dịch chi chính. Nhâm Tý niên đình tuyển Đông cung thị giảng. Quý Sửu thu khâm mệnh Đông cung nguyên soái Cảnh công, đại trấn Diên Khánh thành, dƣ phụng hỗ tòng. Thị đông đột lai Tây Sơn vi binh. Giáp Dần xuân vƣơng sƣ xuất viện, thừa thắng truy tiễu tiến chí Phú Yên trấn. Ngự giá thân đốc thuỵ binh tiến công Thi Nại hải môn. Đặc mệnh Đông cung nguyên soái, điều bát chƣ đạo bộ binh, do Đồng Thị thƣợng đạo xuất Quân Sơn (tục danh Núi Chúa), giáp công Quy Nhơn thành. Dƣ diệc truy tuỳ trù bị, hoãn cấp ứng hành truyền tuyên tiến chỉ cơ mật trọng sự. Cố dƣ dĩ văn quan chức trƣờng phong đích thời diệc xỉ ƣ kỳ liệt. Cập kỳ tặc bích kiên bế, ngã hƣớng bất phu, đại binh tát hồi, ách hiểm Phú An Bình Hoà nhị trấn. Dƣ hỗ thị Đông cung nguyên soái hồi Gia Định thành. Thị đông mông thăng thụ dƣ Định Tƣờng trấn ký lục. Thời binh dao tài phú, nhất nhất thủ biện ƣ dân, nhi năng thƣợng hữu ích ƣ quốc, hạ vô

235

hại ƣ dân, kỳ đạo diệc dĩ nan hĩ. Mậu Ngọ hạ mông chỉ trạc dƣ Hộ bộ Hữu tham tri, tòng binh cấp hƣớng. Kỵ Mùi niên nguỳ trấn thủ Quy Nhơn thành Nguyễn Tuấn hiến thành quy hàng.

Khâm mệnh Chƣởng hậu quân Bình tây Tham thừa Đại tƣớng quân Tính quận công Võ Công Tính, Lễ bộ Chu Chính hầu Ngô Tòng Chu lƣu trấn. Dƣ khâm mệnh Tào vận cấp giao dĩ sung trừ bị. Kỳ đông nguỳ Thiếu phó Nguyễn Diệu đại cử thuỵ bộ nhập khấu Quy Nhơn thành. Canh Thân hạ, vƣơng sƣ xuất viện, chu sƣ thứ vu Cầu Mông hải úc, thuỵ bộ phân đạo, tiến giải Quy Nhơn chi vi. Dƣ phụng chuyển luân tuỳ nghi biện sự, trƣng mộ dân phu chuyển vận tiền mễ, thiệp hác du sơn, cấp chƣ đồn binh quỷ hƣớng bất phạp. Thời tặc binh ngũ bội, kiên trúc nhị trùng thổ luỷ vi bão ích cố, nội thành ngoại viện bất đắc tƣơng thông. Tân Dậu mạnh xuân, Thánh mô thiên túng, thân đề thuỵ binh, thừa dạ công phá Thi Nại hải môn, tận thiêu Tây Sơn chiến hạm, hoả diệu sơn cốc, phu hoạch nguỳ binh tƣớng tốt, khí giới bất khả thăng thắng sổ. Thị phù thiên lục bách dƣ niên tiền Xích Bích chi chiến đồng nhất khoái dƣ. Nguỳ chủ Nguyễn Quang Toản văn báo, sảng hoàng tận khu Thuận Hoá Bắc Hà không quốc nhập viện, Duệ toán Phú Xuân không hƣ. Mạnh hạ, lƣu Khâm sai Chƣởng tiền quân Bình Tây đại tƣớng quân Thành quận công Nguyễn Văn Thành quản bộ binh. Khâm sai Chƣởng tƣợng quân lĩnh tƣợng Chính Xuyên quận công Nguyễn Đức Xuyên quản tƣợng binh tuỳ cơ công thủ, vi thành trung thanh viện, Giá đốc thuỵ sƣ trực để Phú Xuân, binh bất huyết nhận, Nguyễn Quang Toản diệc thân bôn Bắc Hà, kinh thành để định. Khâm mệnh Chƣởng tả quân Bình tây tƣớng quân Duyệt quận công Lê Văn Duyệt đề bộ binh nhập giải Quy Nhơn chi vi. Mệnh dƣ tòng binh trƣng Quảng Nam, Quảng Nghĩa nhị xứ tô dung dĩ cấp quân thực, binh trú Thanh Hiếu đồn, công tặc hậu bối. Nhâm Tuất xuân, Nguyễn Diệu cùng bức dạ độn do sơn man thƣợng đạo đầu thoán Bắc Hà. Mạnh hạ, dƣ phụng chiếu hồi kinh, khâm chỉ thăng thụ Hộ bộ Thƣợng thƣ (bổn triều lục bộ chi hữu Thƣợng thƣ tự dƣ thuỵ), sắc vãng Đại Thanh quốc vi tiến cống chính sứ (bổn triều nhập sứ Trung Quốc tự dƣ bộ thuỵ), nhƣng tạ ân, dĩ Kỵ Mùi niên, quan binh phiêu phong đáo Việt, cấp tứ y lƣơng tống hồi chi sự, tịnh giảo nạp thu hoạch Thiên triều tứ phong Tây Sơn Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Quang Toản sách ấn, dữ giới tống phu hoạch nội địa hải phỉ nguỳ Đông Hải vƣơng Mạc Quan Phù, nguỳ Tổng binh Lƣơng Văn Canh, Phàn Văn Tài, do Việt Đông khổn thần đề đạt, đồng Giáp Ất phó sứ Binh bộ tham tri Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhân Tĩnh, Hình bộ tham tri Uẩn Tài hầu Huỳnh Ngọc Uẩn, thừa Bạch yến Huyền hạc nhị chiến tào. Lục nguyệt thập nhị nhật, tự Thuận An hải môn giá hải. Thập cửu nhật giới Việt dƣơng phận Tam Châu Đƣờng, cụ phong đại phát, đảo hải phiên sơn, tiêu phong dũng đào, thuyền tự giới chu cổn thang trung ma chiết, điên nguy tính mệnh, cơ kỵ bất khả bảo. Dƣ Bạch yến tào tiên tại Thƣợng Xuyên sa đê loan bạc, nhị phó sứ Huyền hạc tào, hải ngoại nan chi, phong cấp đĩnh đoạn, phiêu lai Việt hạt Đại Áo. Thất nguyệt sơ nhất nhật đồng đáo Việt Đông Hổ Môn quan, trình Thiên triều Thái tử thái bảo Hiệp biện Đại học sĩ Binh bộ thƣợng thƣ Lƣỡng Quảng Tổng đốc học La Cát Khánh triệp tấu. Thập nguyệt Thiên triều chỉ chuẩn sứ bộ do Quảng Tây tỉnh thủ lộ tiến kinh triều yết. Tiếp báo Vƣơng sƣ thu hoạch An Nam toàn cảnh, kế mệnh Binh bộ Thƣợng thƣ Mẫn Chính hầu Lê Quang Định, Giáp ất phó sứ Cần chính điện học sĩ Quỳ Giang hầu Nguyễn Địch Cát, Lễ bộ Thiêm sự Quýnh Giám hầu Lê Chính Lộ vi thỉnh phong sứ. Phụng Lƣỡng Việt đốc phủ trát hạ lƣu dƣ Quế tỉnh đẳng đãi tề đáo nhất đồng tiến hành. Đãn bỉ dĩ thỉnh phong biểu nội sở thỉnh vi Nam Việt quốc nhất ngữ, phả dữ Lƣỡng Việt cổ hiệu tƣơng đồng vi quan ngại, kinh phụng Thiên triều quân cơ đại thần cật trách. Quảng Tây tuần phủ Tôn Ngọc Đình đốc lệnh chƣớc hồi nguyên biểu vụ sứ cải thỉnh phong tòng An Nam quốc cựu hiệu. Bổn quốc phúc văn, dĩ An Nam kinh vi nguỳ hiệu, bất khẳng tòng mệnh. Vị thử, Tuần phủ Tôn, Bố chính Công Nga, Án sát Thanh An Thái cần thỉnh sứ bộ luân lƣu biện nan, dụ sứ cụ biểu văn phụ ký hồi tấu, cầu tốc tuân cải. Bẩm dĩ nghị tự Thƣợng tài phi xuất cƣơng chuyên mệnh chi sự. Tôn phủ đài thậm gia ƣu cụ, mang phó Thái Bình phủ cận quan, tu thƣ vãng phục, quan đầu hậu mệnh, vũ hịch giao trì, gia dĩ lƣỡng quốc chi binh nhân khấu loạn sơ bình, ƣ quan thƣợng địa đầu, vị miễn các trƣơng thanh thế, dữ nghênh tống sứ sự, tiếp đệ công văn, binh biện thủ hậu, tịnh nghiêm chỉnh sức, nhi quốc hiệu nhất sự, bỉ dục cố yêu, ngã quốc bất khẳng thính tòng. Vãng phục văn thƣ, biện luận vị định, dĩ cố ngoại gian ngoa truyền, nhị sứ bộ dĩ vi nội địa câu cấm. Ƣ thị Bắc thành Tổng trấn công kinh uỵ gián hành vãng Quế thám hậu. Quý Hợi tứ nguyệt, nhân hậu biểu sở tự, ngã quốc tiên hữu Việt Thƣờng, hậu hữu An Nam chi ngữ. Sự kinh Thiên triều đình nghị chuẩn hứa sứ bộ hoãn trình tiến kinh (dĩ thử toại phong vi Việt Nam quốc, cái dĩ thiện gia điều độ bỉ thử lƣỡng toàn, thậm đắc sự thể). Ngũ nguyệt tự Quế tỉnh khởi trình, bát nguyệt lịch Yên Kinh, xuất Vạn lý trƣờng thành Cổ Bắc Khẩu quan, vãng Nhiệt Hà hành tại bái cận (bổn triều sứ đáo Nhiệt Hà tự dƣ bộ thuỵ, tích sở vị hữu), hội chƣ quốc lai vƣơng

236

nhập cống tân sứ, đồng thƣởng trung thu gia yến. Sự thuân, do Nam Quan hồi quốc, sứ sự điên mạt tƣờng kiến Hoa trình lục.

Giáp Tý nguyên đán chí Thăng Long thành triều yết, phục mệnh nhƣng đình lƣu phụng thị hành thụ Sách phong đại lễ. Thƣợng luận dƣ dữ Tĩnh Viễn hầu, ký thục Bắc ngữ quan thoại, uỵ dƣ thị giá, Tĩnh Viễn hầu bồi sách phong đại sứ Quảng Tây Bố chính Tề Bố Sâm, đồng vi thông dịch, yến khoản vấn đáp chi ngữ, miễn tha thông sự, ty hạ y phục tiện lậu, quan chiêm bất nhã. Lễ thành nhƣng hỗ giá hồi Phú Xuân kinh, trực phƣơng kỳ quốc sự ký thành, công sự vị nhiếp viên nhân sứ hành Quan quang tập, nghiệp biên thành trật, nãi sƣu sách tòng tiền thi thảo đa dĩ tán thất, chỉ bằng sở ký ức cập đắc chƣ bằng hữu truyền tụng chi khẩu, nhi truy biên chi. Chung bất năng đắc thập phân chi nhất nhị, danh viết Thoái thực truy biên, vựng thứ kỵ niên dĩ biểu kỳ thời thuộc chính nguỳ, vận tế cùng thông, tịnh tự chú sự tích danh hiệu thứ bị. Tha thời thái phong chi nhất trợ khả dã.

Ất Sửu xuân, đặc mệnh dƣ dĩ bổn chức diệp dữ Khâm sai chƣởng trung quân Bình tây Đại tƣớng quân Quyền quận công Nguyễn Văn Trƣơng hành Gia Định thành lƣu trấn sự. Mậu Thìn đông, Quyền quận công ứng triệu hồi kinh, chiếu dƣ diệp dữ Khâm sai Chƣởng Chấn Võ quân Nhân Quận công Nguyễn Văn Nhân hành Gia Định thành tổng trấn. Tân mùi đông cung ngộ Hiếu Khang Hoàng hậu thăng hà. Nhâm Thân xuân, khâm chuẩn dƣ biểu tấu thỉnh nghệ kinh chiêm bái Ninh lăng đại lễ. Thị thu khâm chiếu ban thuyên hành Hình bộ Thƣợng thƣ sự. Dƣ bái biểu cố từ, mông chuẩn cải thụ Lễ bộ Thƣợng thƣ kiêm quản lý Khâm thiên giám sự vụ. Giáp Tuất mạnh xuân phục thuyên Lại bộ Thƣợng thƣ.

Bính Tý đông giản mệnh dƣ Hiệp dữ Khâm sai Chƣởng tiền quân Bình tây tƣớng quân Đức quận công Nguyễn Huỳnh Đức tổng trấn Gia Định thành. Thời nhân công hạ kiểm điểm cựu biên tắc Thoái thực, Quan quang nhị tập, đa vi trùng đố xâm thực, bất nhẫn bình sinh tâm tích mai một tồi tàn, nhƣợc bất tốc đồ, tắc tha nhật toàn biên tƣơng tận quy vu vô hà hữu chi hƣơng hĩ. Đệ hành tập bổ, thủ dĩ Thoái thực truy biên, thứ dĩ Quan quang tập, tịnh thu thập Giáp Tý niên dĩ hậu, phàm ứng chế tống tặng ai vãn chƣ tác, dữ phù nhàn thời giáo chính tử đệ môn khách vịnh vật chƣ tiểu đề, ai thứ lƣ liệt chuế vu Bính Tý chi hạ, danh viết Khả dĩ tập, nhi tổng dĩ Bản trai mệnh vi Cấn Trai thi tập. Mộ đắc Việt Đông kỵ quyết thị phó tử, lƣu dữ tử tôn, sử tri dƣ bình sinh lý lịch hữu nhƣ thử chi tằng đặng dĩ cái bảo kỳ hậu vân nhĩ, phi trứ tác chi vị dã. Cái dĩ đƣơng kim Thánh thiên tử quang phục Viêm đồ, khuếch thanh Nam phục phƣơng lập cƣơng trần kỵ, chế lễ tác nhạc, chính thần tử phủ phất hoàng du tán Tƣơng Đế trị, nhi bất hạ hề thủ hồ tƣơng văn tự dĩ chiếm thời danh giả tai, thị vi tự tịnh loại dẫn quốc sự gia phả dĩ tịnh thuyết vân.

Gia Long thập bát niên tam nguyệt nhị thập nhật, Lại bộ Thƣợng thƣ Khâm sai Gia Định thành Hiệp tổng trấn An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức Chỉ

Sơn thị đề. Dịch:

TỰ ĐỀ TỰA Tôi, nguyên quán ở làng Phúc Hồ, huyện Trƣờng Lạc, phủ Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến. Viễn tổ là Hoàn Phố công giữ chức Binh bộ Thƣợng thƣ, đến cuối triều Minh thì nghỉ hƣu, gia thế bao đời nối nghiệp đèn sách nhà Nho, đến đời ông nội tôi là Trịnh Hội, Đại Thanh bắt đầu vào Trung Quốc, vì không chịu theo lệnh thay đổi y phúc cạo tóc giắt bím, bèn để tóc vào nƣớc Nam, làm khách ngụ ở xã Thanh Hà, huyện Bình An, phủ Phƣớc Long, trấn Biên Hoà, nhận một chỗ ở làm dân. Lúc đầu thử làm nghề buôn bán, rốt cuộc lại nổi tiếng nhờ bán buôn, lại trở thành tay cự phách ở Lộc Động (tục gọi là Đồng Nai). Đến đời cha tôi, thuở nhỏ theo học thi thƣ, lớn lên thông cả lục nghệ, tài viết đại tự, đánh cờ (của cha) cũng đƣợc thời bấy giờ khen ngợi là đứng đầu. Thấy thẹn ngang hàng với đám con em nhà giàu thiếu học, nên bắt chƣớc theo Trƣơng Thích Chi nhờ nộp tiền mà đƣợc bổ chức Lang, nhƣ Hoàng Bá nộp thóc ở quận Trầm Lê đƣợc bổ chức tốt lại Tả phùng dực, bèn đến kinh Phú Xuân nạp bạc, bái nhận mão lọng chức hàng lục phẩm, nhận chức ở kho phủ Tân Bình, mang cả gia đình đến chỗ làm. Năm Quý Tỵ (1773), (cha tôi) không may qua đời, bấy giờ tôi vừa 10 tuổi, bèn theo mẹ cùng anh chị trở lại quê cũ Thanh Hà, để sớm hôm vui vầy phụng dƣỡng bà nội. Sau bị Tây Sơn vào nhiễu loạn, bốn bể nhƣ nƣớc trong vạc trào sôi, quê cũ là nơi bán buôn sầm uất, tiền của nhƣ ngòi nhƣ giếng, đều về hết túi tham của giặc cƣớp. Mẹ tôi dắt tôi trở lại trấn Phiên An, lƣu ngụ

237

ở huyện Tân Long, toàn nhờ cậy vào sự dạy dỗ của mẹ1, kính cẩn dốc lòng theo thầy học tập. Nhƣng đám trẻ đi học trong làng lúc ấy thiếu thầy giỏi2, chỉ biết đọc thuộc lòng, giảng nghĩa chữ mà thôi. Gặp khi bác họ Ngô đƣa anh Nhân Tĩnh đến, cùng kể lể tình cảm xa cách, nƣớc mắt đầm đìa. Hai ngƣời mẹ khuyên dỗ hai đứa trẻ mà rằng: Ông cha các con, dòng dõi hào hoa, tài giỏi ở đời, chẳng may gặp cảnh sóng trào biển cả, bạn bè li tán, cội ngọc chịu vùi nơi cát bụi, ngõ phố phồn hoa3 nay đà vắng vẻ (thời thế thay đổi); các con nên cố gắng theo chí cha ông, để làm rạng rỡ tiếng nhà, là điều mà hai mẹ đây có nhắm mắt cũng cam lòng.

Thế rồi hai trẻ vâng lời, tiếp nối giao tình lâu đời giữa hai nhà. Tôi vì Nhân Tĩnh lớn hơn 4 tuổi, nên gọi bằng anh (thế huynh), cùng dắt tay vào trƣờng văn, trau dồi rèn luyện. Đối với các sách Kinh, Sử, Tử, Tập, tam giáo cửu lƣu, hễ gặp đƣợc sách cùng chung văn tự chữ viết thì ắt tìm mà đọc, chẳng từ những thứ bị chê là tạp nham sơ sài. Trƣớc tôi ham thích phong điệu thơ Đƣờng, thƣờng cầu học ở các bậc thầy đƣơng thời, nhƣng hiềm vì Gia Định là vùng đất mới, văn mạch vừa mở mang, dòng thơ còn hẹp, muốn tìm đến tận nguồn của thơ ca nhƣng chƣa biết dựa vào đâu. Nên bèn mua các tập thơ nổi tiếng của ba thời Đƣờng, lời hay của các nhà, cùng nhau tìm tòi nghiền ngẫm, xét đến thể tài khí cách, nội dung kín đáo trong đó, lúc ngủ khi ăn, đều tạo ý đề thơ, bắt chƣớc học theo4. Sau lâu cũng quen thuộc, gặp cảnh sinh tình, vung bút thoả ngâm cuối cùng không trái với thể thức khuôn phép, mà yến tiệc5 nhà Đƣờng mới đƣợc biết mùi vị. Từ đó, các bậc tiên bối nổi danh thời bấy giờ, vui vẻ cùng kết giao, xem là bạn vong niên, cho tham dự các cuộc bàn văn luận bút, chúng tôi nhanh chóng thong dong giành thắng, nên cái tên An, Tĩnh đều đƣợc truyền rộng qua miệng các văn nhân vậy. Nhƣng cũng có khi dốc sức phí công tìm lời chọn chữ, muốn vào phên giậu của cổ học, rốt cuộc rơi vào sáo rỗng của văn chƣơng thời nay, nếu không bắt chƣớc theo lời xƣa cũ thì lại quê mùa phù phiếm. Dẫu hạ bút thành thơ nhƣng mùi vị nhạt nhẽo, muốn tìm vào khuôn phép của Kinh Thi, thần tình của Phong, Nhã, mà rốt cuộc vẫn không thể đƣợc. Vì bởi trình độ thì mỗi ngày mỗi yếu đi, lại nhiễm cái tục học quá sâu, nên chƣa đƣợc tam muội của pháp gia vậy, mới biết ngƣời xƣa nói: “Học mƣời năm làm đƣợc anh cử, ba chục năm chƣa làm đƣợc thi nhân” thật chẳng ngoa chút nào. Ôi, cái khó của việc làm thơ đến thế sao! Bèn tập hợp những ngƣời cùng chí, lập thành thi xã, để cùng nhau mài giũa, đặt tên là Gia Định Sơn hội. Tôi tên An lấy hiệu Chỉ Sơn, anh Ngô tên Tĩnh lấy hiệu Nhữ Sơn. Phàm các bạn thơ trong hội đều lấy chữ Sơn làm hiệu, để ghi nhớ tông phong thi học của mình vậy.

Gặp năm mất mùa, gạo muối khan hiếm, nồi niêu chỏng trơ bụi bặm, đã không có ruộng cày ngoài thành quách nhƣ Nhan Tử6, thì theo chí buôn bán của Tử Cống để mƣu sinh7, hầu khỏi mắc vào vòng túng quẫn nhƣ Hoài Hầu dƣới thành8, để tiếp tục học hành. Còn anh Nhữ Sơn tình cảnh cũng giống nhƣ thế. Năm Canh Tý (1780), tôi vào ở rể nhà ngƣời họ Lê, coi nhƣ có nơi nƣơng tựa, lại gặp thầy Đặng Cửu Tƣ, tôi đem thơ văn bình sinh học đƣợc từ kinh sử ra hỏi thầy, mới nắm đƣợc cƣơng lĩnh chủ yếu, mà gạt bỏ hết những thói học xƣa cũ đầy tỳ vết lầm lỗi. Lại tiếp vì vận nƣớc còn gian nan, chiến tranh liên miên, tôi phải lánh sang Cao Miên, cũng cùng một cảnh đời bụi bặm. Bởi tình cảnh nhiều gian khổ, vết tích in khắp trong và ngoài nƣớc, nên chi gặp cảnh sinh tình đề thơ, tác phẩm cũng đà đầy đặn.

1 Dịch ý từ hoà hoàn đoạn chức. Liễu Trọng Dĩnh đời Đƣờng ham học, mẹ ông là họ Hàn dùng mật gấu làm thành viên thuốc, ban đêm Dĩnh uống để tỉnh táo học tập. Đoạn chức: nhắc chuyện mẹ của Mạnh Tử chặt khung cửi để dạy Mạnh Tử học tập. Hoà hoàn đoạn chức đều có ý nói về việc mẹ dạy dỗ con cái có phƣơng pháp. 2 Dịch ý từ câu “toạ khiếm xuân phong” (chỗ ngồi thiếu gió xuân). Đời Tống, Chu Quang Đình đến Nhữ Châu học với Trình Minh Đạo, khi trở về nói với mọi ngƣời rằng “Tôi đƣợc ngồi giữa gió xuân một tháng”. 3 Dịch ý từ chữ “Ô y hạng” (ngõ áo đen). Phía đông nam thành Nam Kinh gần cầu Chu Tƣớc, đời Tấn các gia đình quyền quý nhƣ Vƣơng Đạo, Tạ An ở đấy, con cháu hai họ này đều mặc áo đen, nên nơi này đƣợc gọi là “Ô y hạng”. Đời Đƣờng, nhà thơ Lƣu Vũ Tích có viết bài Ô Y hạng nổi tiếng. 4 Bắt chƣớc học theo dịch từ hiệu tần học bộ. Hiệu tần: bắt chƣớc nhăn mày, xuất từ chuyện ngụ ngôn Đông Thi hiệu tần. Chƣơng Thiên vận sách Trang Tử có kể chuyện Tây Thi đau tim nhăn mày, ngƣời ta đều cho là đẹp, có ngƣời xấu xí trong làng thấy vậy về nhà lấy tay ấn vào tim rồi nhăn mày, ai thấy cũng sợ, ngƣời ta gọi là Đông Thi. 5 Yến tiệc dịch ý từ tôn trở. Tôn là đồ đựng rƣợu, trở là mâm đựng thịt. Tôn trở còn dùng để chỉ yến tiệc. 6 Nhan Tử tức Nhan Hồi, tự Tử Uyên, còn gọi là Nhan Uyên, ngƣời nƣớc Lỗ thời Xuân thu, học trò của Khổng Tử, nhà nghèo, ở trong ngõ hẹp với giỏ cơm bầu nƣớc, vẫn thản nhiên vui với đạo. 7 Tử Cống tên Tứ, họ Đoan Mộc, ngƣời nƣớc Vệ thời Xuân thu, học trò Khổng Tử, nhờ có tài buôn bán mà giàu đến ngàn vàng, từng làm Tƣớng quốc nƣớc Lỗ, nƣớc Vệ. 8 Đây nhắc chuyện Hàn Tín lúc nhỏ nhà nghèo, thƣờng cắm câu bên bờ sông dƣới thành. Một hôm, có một bà giặt vải thấy Tín đói liền chia phần cơm của mình cho Tín ăn. Tín bảo bà ta “Thế nào tôi cũng đền ơn bà thật xứng đáng”. Bà giận, nói “Làm tài trai kiếm miếng ăn không xong, tôi thƣơng cậu nên cho cậu ăn, chứ mong gì báo với bổ!”. Sau Hàn Tín theo về với Lƣu Bang làm tƣớng, đƣợc phong Hoài Âm hầu.

238

Năm Mậu Thân (1788), đầu thời Trung Hƣng, các vị đƣơng quyền chẳng nệ hƣ danh cử tôi làm chức Hàn Lâm viện Tri chế cáo. Năm Kỷ Dậu (1789), phụng mệnh giữ chức Điền tuấn, trông coi việc khuyến nông, miễn lao dịch. Năm Nhâm Tý (1792), đƣợc tuyển làm Đông cung thị giảng1. Mùa thu năm Quý Sửu (1793), Khâm mệnh Đông cung nguyên soái Cảnh đi thay trấn giữ thành Diên Khánh, tôi phụng mệnh theo hầu. Mùa đông năm ấy, quân Tây Sơn đột ngột vây thành. Mùa xuân năm Giáp Dần (1794), vƣơng sƣ ra cứu viện, thừa thắng truy quét đến trấn Phú Yên. Vua đích thân đốc suất thuỷ binh tiến công cửa biển Thi Nại. Đặc mệnh cho Đông cung nguyên soái điều bát các đạo bộ binh, từ Đồng Thị ra Quân Sơn (tục gọi là Núi Chúa), giáp công thành Quy Nhơn. Tôi cũng đƣợc đi theo để trù bị những việc cơ mật quan trọng nhƣ ứng phó chậm hay nhanh, truyền nói tiến hay lùi. Tôi vốn là quan văn nhƣng do thời thế gấp gáp cũng đƣợc tham dự vào đó. Kịp khi quân giặc xiết vòng vây kiên cố, lƣơng thực quân ta chẳng đủ, đại binh phải triệt hồi giữ hai trấn hiểm yếu là Phú Yên và Bình Hoà. Tôi theo hầu Đông cung nguyên soái về Gia Định thành. Mùa đông năm ấy, tôi đƣợc ban thăng trao chức Ký lục trấn Định Tƣờng2. Bấy giờ việc quân binh tiền của, mọi thứ đều phải nhờ vào dân, mà làm sao có thể trên thì có lợi cho nƣớc, dƣới thì chẳng hại đến dân, điều này cũng khó lắm thay! Mùa hè năm Mậu Ngọ (1798), tôi đƣợc ban chỉ làm Hữu tham tri Hộ bộ, theo quân đi cấp lƣơng. Năm Kỷ Mùi (1799), tƣớng nguỵ trấn thủ thành Quy Nhơn là Nguyễn Tuấn đem thành quy hàng. Khâm mệnh Chƣởng hậu quân Bình tây tham thừa Đại tƣớng quân Tánh quận công Võ Công Tánh, cùng Lễ bộ Chu Chính hầu Ngô Tòng Chu ở lại giữ trấn này. Tôi khâm mệnh vận chuyển quân lƣơng giao cấp lƣơng thực cho đầy đủ. Mùa đông năm ấy, Thiếu phó nguỵ là Nguyễn Diệu đại cử thuỷ binh tiến vào thành Quy Nhơn. Mùa hè năm Canh Thân (1800), vƣơng sƣ ra cứu viện, quân thuyền đóng ở vụng biển Cù Mông, chia hai đƣờng thuỷ và đƣờng bộ, tiến vào giải vây thành Quy Nhơn. Tôi phụng mệnh chuyển vận đƣợc tuỳ nghi hành sự, trƣng mộ dân phu, chuyển vận gạo tiền, vƣợt suối trèo non, cấp lƣơng cho binh các đồn chẳng thiếu thứ gì. Bấy giờ giặc đông gấp năm lần quân ta, lại xây đắp hai vòng luỹ đất, vòng vây càng thêm kiên cố, trong thành ngoại viện đều không tiếp ứng đƣợc nhau. Đầu xuân năm Tân Dậu (1801), trời chiều ý thánh, nhà vua đích thân cầm thuỷ binh, nhân đêm tối trời tấn công vào cửa biển Thi Nại, thiêu hết chiến hạm của Tây Sơn, lửa rực núi non, bắt đƣợc nhiều binh tƣớng của nguỵ, thu đƣợc khí giới nhiều vô kể. Trông chẳng khác gì với trận chiến Xích Bích của một ngàn sáu trăm năm hơn thuở trƣớc. Chúa nguỵ Nguyễn Quang Toản nghe báo tin, hoảng hốt vội vàng điều quân Thuận Hoá, Bắc Hà, để thành trống không vì đƣa quân vào cứu viện, vua đoán biết Phú Xuân sẽ bị bỏ trống. Đầu mùa hè, để Khâm sai Chƣởng tiền quân Bình tây đại tƣớng quân Thành quận công Nguyễn Văn Thành nắm giữ bộ binh, Khâm sai Chƣởng tƣợng quân lĩnh tƣợng Chính Xuyên quận công Nguyễn Đức Xuyên nắm giữ tƣợng binh tuỳ cơ công thủ, để trợ viện trong thành, vua thân đốc thuỷ sƣ tiến thẳng đến Phú Xuân, quân binh chẳng tốn một giọt máu, Nguyễn Quang Toản cũng đã bỏ chạy ra Bắc Hà, kinh thành đã lấy xong. Khâm mệnh Chƣởng tả quân Bình tây tƣớng quân Duyệt quận công Lê Văn Duyệt nắm giữ bộ binh tiến vào giải vây thành Quy Nhơn. Tôi đƣợc lệnh theo quân để trƣng thu tô dung hai xứ Quảng Nam, Quảng Nghĩa (Ngãi) để cung cấp quân lƣơng, quân đóng ở đồn Thanh Hiếu, để tấn công địch từ phía sau. Mùa xuân năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Diệu bị ép đến cùng, đƣơng đêm trốn theo thƣợng đạo Sơn Man ra Bắc Hà.

Tháng 4, tôi phụng chiếu về kinh, nhận chỉ thăng chức Thƣợng thƣ Hộ bộ (chức Thƣợng thƣ ở sáu bộ bắt đầu có từ tôi), sắc phong làm chánh sứ sang nƣớc Đại Thanh tiến cống (bản triều đi sứ Trung Quốc bắt đầu từ đoàn chúng tôi), để tạ ơn việc năm Kỷ Mùi (1799), quan quân bị gió thổi giạt đến vùng biển đất Quảng, đƣợc ban cấp cho lƣơng thực, quần áo và đƣa về nƣớc trƣớc đây, đồng thời giao nộp sách ấn thu đƣợc của thiên triều đã ban cho Nguyễn Quang Bình, Nguyễn Quang Toản nhà Tây Sơn, và đóng gông áp tải bọn giặc biển trong nƣớc là Nguỵ Đông Hải vƣơng Mạc Quang Phù, nguỵ Tổng binh Lƣơng Văn Canh, Phàn Văn Tài, theo sự đề đạt của Khổn thần xứ Quảng Đông, cùng với Giáp Ất phó sứ là Binh bộ Tham tri Tĩnh Viễn hầu Ngô Nhân Tĩnh, Hình bộ Tham tri Uẩn Tài hầu Huỳnh Ngọc Uẩn, đi hai chiếc thuyền Bạch yến và Huyền hạc. Ngày 12-6 từ cửa biển Thuận An lên đƣờng. Ngày 19 thì đến Tam Châu đƣờng thuộc vùng biển Lƣỡng Quảng gặp gió bão nổi lên, núi chao biển lật, gió táp sóng trào, thuyền tựa lá cải bị vùi dập trong nƣớc xoáy, tính mệnh hiểm nguy, dƣờng khó bảo toàn. Tôi ở tàu Bạch yến đã dạt đỗ vào bãi cát Thƣợng Xuyên, hai phó sứ đi tàu

1 Đại Nam thực lục chép sự kiện này vào tháng 3 năm Quý Sửu, 1793. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, tập 1, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Tổ phiên dịch Viện Sử học phiên dịch, Nxb. Giáo dục, 2004, tr.291. 2 Định Tƣờng: năm 1781 là dinh Trấn Định, năm 1808 đổi thành trấn Định Tƣờng, thời thuộc Pháp là tỉnh Mỷ Tho, nay là tỉnh Tiền Giang.

239

Huyền hạc ở ngoài biển khó chống đỡ nổi, gió giật mạnh cột buồm gãy, trôi giạt đến vụng lớn thuộc đất Quảng (Trung Quốc). Mồng 1 tháng 7, chúng tôi mới cùng đến cửa Hổ Môn tỉnh Quảng Đông, trình với quan Tổng đốc Lƣỡng Quảng là Thƣợng thƣ Binh bộ, Thái tử Thái bảo, Hiệp biện đại học sĩ Giác La Cát Khánh để làm tấu dâng. Tháng 10, thiên triều có chỉ cho đoàn sứ từ tỉnh Quảng Tây thẳng đƣờng vào kinh triều kiến. Lại đƣợc tin báo vƣơng sƣ đã lấy lại đƣợc toàn cõi An Nam, mệnh cho Thƣợng thƣ Binh bộ Mẫn Chính hầu Lê Quang Định, cùng Giáp Ất phó sứ là Cần chánh điện học sĩ Quỳ Giang hầu Nguyễn Địch Cát, Lễ bộ thiêm sự Quýnh Giám hầu Lê Chính Lộ làm sứ bộ thỉnh phong. Nhận đƣợc trát thƣ của Đốc phủ Lƣỡng Quảng bảo chúng tôi ở tỉnh Quế chờ sứ bộ sau đến một lƣợt rồi cùng tiến kinh. Nhƣng họ cho rằng trong biểu thỉnh phong có lời xin phong quốc hiệu là Nam Việt, rất giống với hiệu cũ Lƣỡng Việt nên có ý quan ngại, bị quân cơ đại thần của Thiên triều quở trách. Tuần phủ Quảng Tây là Tôn Ngọc Đình thúc giục bảo trả lại nguyên biểu, khiến sửa đổi theo quốc hiệu cũ là An Nam quốc. Nƣớc ta trả lời rằng, vì An Nam từng là hiệu cũ nên không chịu theo mệnh. Vì vậy, Tuần phủ Tôn Ngọc Đình, Bố chính Công Nga, Án sát Thanh An Thái, ân cần mời sứ bộ, nhiều phen nói rõ chỗ khó khăn, dụ sứ ta nên sửa biểu văn gửi phụ về tâu, yêu cầu chóng sửa lại. Chúng tôi bàn rằng, việc này là do Hoàng thƣợng quyết định, chẳng phải là việc của ngƣời xuất sứ. Tôn phủ đài càng thêm lo lắng, vội vàng đến cửa ải gần phủ Thái Bình, thƣ từ qua lại, ở đầu ải chờ mệnh, hịch thƣ trao đổi qua lại, lại thêm việc binh hai nƣớc vì loạn giặc giã vừa mới bình xong, nên ở địa đầu cửa ải không tránh khỏi việc khuếch trƣơng thanh thế, cùng với việc đón tiễn sứ giả, tiếp nhận đƣa chuyển công văn, quân binh chờ sẵn, tất cả đều chuẩn bị nghiêm chỉnh; còn việc xin quốc hiệu, bên kia thì muốn theo yêu cầu của họ, nƣớc ta thì không chịu nghe theo. Thƣ từ qua lại, bàn luận chƣa xong, vì thế có tin đồn rằng, hai đoàn sứ bộ bị Trung Quốc quản thúc. Thế rồi, Tổng trấn Bắc Thành từng cho ngƣời qua tỉnh Quế thám thính tin tức. Tháng 4 năm Quý Hợi (1803), nhân lời bày tỏ ở tờ biểu sau cùng nói rằng, nƣớc ta trƣớc có tên là Việt Thƣờng, sau có tên An Nam. Sự việc đƣợc thiên triều bàn nghị cho phép sứ bộ hoãn lộ trình tiến kinh (từ đó mới bèn phong là Việt Nam quốc, tất cả đã qua bàn nghị điều hoà, trọn vẹn đôi bên, sự thể tốt đẹp). Tháng 5 mới từ tỉnh Quế lên đƣờng, tháng 8 đến Yên Kinh, ra Vạn lý trƣờng thành qua cửa Cổ Bắc Khẩu, thẳng đến hành tại ở Nhiệt Hà để bái yết (triều ta đi sứ đến Nhiệt Hà bắt đầu từ bọn tôi, trƣớc đây chƣa từng có). Gặp khi sứ giả các nƣớc khác cũng đến triều cống, đƣợc cùng thƣởng thức tiệc vui trung thu. Công việc đã xong, từ ải Nam Quan trở về nƣớc, tất cả đầu đuôi việc đi sứ xin xem trong Hoa trình lục.

Tết nguyên đán năm Giáp Tý (1804) đến triều yết tại thành Thăng Long, lại nhận mệnh ở lại để chầu làm đại lễ nhận sách phong. Hoàng thƣợng dụ rằng, tôi và Tĩnh Viễn hầu, am hiểu tiếng quan thoại phƣơng Bắc, nên uỷ thác tôi hầu giá, Tĩnh Viễn hầu thì bồi tiếp đại sứ sách phong là Quảng Tây bố chính Tề Bồ Sâm, đồng thời làm thông dịch khi tiếp đãi vấn đáp, để khỏi dùng ngƣời khác, áo quần thấp hèn thô lậu, xem không đƣợc nhã nhặn. Đại lễ đã xong, tôi hầu giá về kinh đô Phú Xuân. Mãi đến khi việc nƣớc đã xong, việc công chƣa bận, bèn nhân đem tập thơ Quan quang làm khi đi sứ, biên tập thành quyển, rồi sƣu tìm những bản thảo thơ làm trƣớc đây, phần nhiều đã bị thất lạc, chỉ nhờ vào trí nhớ và qua sự lƣu truyền của các bạn mà biên soạn lại, nhƣng rốt cuộc vẫn không thể đƣợc một hai phần mƣời, đặt tên là Thoái thực truy biên, sắp xếp theo thứ tự thời gian sáng tác để cho rõ chính nguỵ, vận cùng hay thông, đồng thời tự chú sự tích, danh hiệu đầy đủ. Ngày sau có góp nhặt phong tục thì cũng giúp ích đƣợc vậy.

Mùa xuân năm Ất Sửu (1805), tôi đặc mệnh vẫn giữ chức cũ, cùng coi việc trấn giữ thành Gia Định với Khâm sai Chƣởng trung quân Bình tây đại tƣớng quân Quyền quận công Nguyễn Văn Trƣơng. Mùa đông năm Mậu Thìn (1808), Quyền quận công đƣợc triệu về kinh, chiếu cho tôi giúp việc cùng với Khâm sai Chƣởng chấn võ quân Nhân quận công Nguyễn Văn Nhân Tổng trấn thành Gia Định. Mùa đông năm Tân Mùi (1811), đức Hiếu Khang hoàng hậu thăng hà. Mùa xuân năm Nhân Thân (1812), vua khâm chuẩn cho biểu tấu của tôi xin vào kinh chiêm bái đại lễ an táng. Mùa thu năm ấy, tôi đƣợc chiếu ban cất nhắc làm việc Thƣợng thƣ Hình bộ. Tôi dâng biểu cố từ, đƣợc ân chuẩn cho đổi nhận chức Thƣợng thƣ Lễ bộ kiêm quản lý việc ở Khâm thiên giám. Tháng giêng năm Giáp Tuất (1814), lại đƣợc cất nhắc làm Thƣợng thƣ Lại bộ.

Mùa đông năm Bính Tý (1816), tôi phụng mệnh cùng giúp việc với Khâm sai Chƣởng tiền quân Bình tây tƣớng quân Đức quận công Nguyễn Huỳnh Đức tổng trấn thành Gia Định. Bấy giờ nhân việc công rảnh rỗi, xem xét lại mấy tập thơ cũ, mới thấy hai tập Thoái thực và Quan quang, phần lớn bị mọt gặm nát, chẳng nỡ thấy tâm tích bình sinh mai một tàn khuyết, nếu không nhanh

240

chóng phục hồi, thì mai sau các tập ấy đều đến chỗ chẳng còn chi. Bèn vội bổ khuyết biên tập lại, phần đầu để tập Thoái thực truy biên, tiếp theo là Quang quang tập, đồng thời thu thập từ năm Giáp Tý trở về sau, phàm những bài thơ viết khi ứng chế, đƣa tiễn, đáp tặng, ai vãn… với những bài thơ vịnh vật, giáo chính con em, môn khách trong lúc nhàn rỗi, sắp xếp thứ tự nối vào sau năm Bính Tý, đặt tên là Khả dĩ tập, rồi lấy hiệu của mình để đặt tựa chung cho ba tập là Cấn Trai thi tập. Mƣợn đƣợc thợ khắc in Quảng Đông đem khắc bản, để lƣu con cháu, cho chúng biết lý lịch bình sinh của tôi từng có những khi vất vả gập ghềnh nhƣ thế, mà giữ gìn nó về sau, chứ không phải gọi là sáng tác gì cả. Thảy nhờ ngày nay đức vua thánh minh khôi phục cơ đồ, làm yên ổn cõi Nam, sắp đặt kỷ cƣơng, chế lễ tạo nhạc, chính là lúc bầy tôi phò tá đức vua vạch mƣu, trợ giúp đức vua trị nƣớc vẫn không có thời gian, sao dám đem chuyện chữ nghĩa để chiếm danh tiếng ở đời, nên làm bài tựa này cùng lời dẫn để tỏ chuyện nhà việc nƣớc vậy thôi.

Ngày 20 tháng 3 năm Gia Long thứ 18 (1819), Lại bộ Thƣợng thƣ, Khâm sai Gia Định thành, Hiệp Tổng trấn, An Toàn hầu, Chỉ Sơn Trịnh

Hoài Đức đề tựa.

2.

艮 齋 詩 集 序

夫 言 者 心 之 聲 也,而 詩 又 其 言 之 英 華 而 有 節 奏 者 也 。 爲 詩 不 過 數 則, 曰 格 曰 氣 曰 字 句 曰 典 故 。 凡 人 格 勝 者 爲 詩 多 莊 雅, 氣 勝 者 爲 詩 多 雄 渾, 字 句 勝 者 其 詩 多 秀 麗, 典 故 勝 者 其 詩 多 質 贍。惟 其 清 濁 工 拙 存 乎 其 人 要 不 外 是 數 者,故 觀 其 詩 而 可 想 見 其 人 矣 。鄭 侯 艮 齋 今 之 聞 人 也, 其 先 中 土 閩 建 人 卜 居 于 南 幾 世 矣, 至 侯 而 昌 焉 。 少 事 翰 墨, 磊 磊 有 奇 氣 。 每 有 譔 述 輒 見 推 于 同 輩 比 出 而 用 世 果 以 文 學 名 。 尤 愛 作 詩,自 官 翰 林 乃 得 恣 意 題 詠, 繼 而 從 事 簿 書, 羈 跡 戎 馬 亦 吟 諷 不 輟 。 故 其 所 著 作 惟 詩 爲 獨 多 。 余 前 投 嘉 定 時, 常 得 見 其 零 草, 竊 自 歆 羨 豔 慕 。 壬 戌 夏, 鄭 侯 選 國 正 使, 其 冬 余 亦 繼 賦 皇 華 。 桂 城 相 遇 之 後, 晨 夕 把 握 往 返 周 旋, 遂 得 窺 其 底 蘊 。蓋 其 爲 人 和 而 不 流 俗, 簡 而 不 傲 於 物, 富 貴 不 能 淫, 威 武 不 能 屈, 自 有 磊 落 不 磨 之 氣, 故 其 發 之 於 詩, 心 之 所 之 興 之 所 及 皆 自 然 入 料, 不 待 結 構, 不 假 雕 刻, 其 詩 宏 以 深, 其 韻 悠 以 長, 如 蜃 樓 海 市 之 不 可 摸 捉, 如 疾 雷 怒 濤 之 不 可 推 閼, 時 亦 位 置 字 句 而 不 見 痕 迹, 時 亦 引 用 典 故 而 巧 於 湊 合 。 噫, 鄭 侯 之 詩 殆 所 謂 氣 勝 者, 其 詩 多 雄 渾 者 歟 。 余 於 詩 極 拙 且 懶, 未 足 涉 其 籓 籬, 時 與 鄭 侯 唱 酬 多 得 開 發 。 公 暇 見 示 退 食 追 編, 觀 光 集, 近 三 百 首, 且 托 以 序 。 余 受 而 得 竟 之 飽 看 全 豹, 因 略 次 其 平 日 之 所 良 言 者 弁 于 卷 端 。 雖 然 詩 技 耳 豈 足 以 盡 鄭 侯 之 長 哉 。 鄭 侯 大 得 時 行 道 方 且 廣, 溫 柔 敦 厚 之 教 以 贊 黜 陟 勸 懲 之 政,於 以 挖 揚 風 雅 獎 進 韓 歐,上 佐 聖 天 子 同 文 之 化,則 其 素 所 蓄 積 也 在 。 余 深 有 望 焉 是 序 。

嘉 龍 四 年 仲 春 月 上 澣 吉 日 禮 部 左 參 知 葵 江 阮 迪 吉 題

CẤN TRAI THI TẬP TỰ

Phù ngôn giả, tâm chi thanh dã, nhi thi hựu kỳ ngôn chi anh hoa nhi hữu tiết tấu giả dã. Vi thi bất quá sổ tắc, viết cách, viết khí, viết tự cú, viết điển cố. Phàm nhân cách thắng giả vi thi đa trang nhã, khí thắng giả vi thi đa hùng hồn, tự cú thắng giả kỳ thi đa tú lệ, điển cố thắng kỳ thi đa chất thiệm, duy kỳ thanh trọc công chuyết tồn hồ kỳ nhân yếu bất ngoại thị sổ giả. Cố quan kỳ thi nhi khả tƣởng kiến kỳ nhân hĩ. Trịnh hầu Cấn Trai kim chi văn nhân dã, kỳ tiên Trung thổ Mân Kiến nhân, bốc cƣ vu Nam kỵ thế hĩ, chí hầu nhi xƣơng yên. Thiếu sự hàn mặc, lỗi lỗi hữu kỳ khí. Mỗi hữu soạn thuật triếp kiến suy vu đồng bối bỉ xuất nhi dụng thế quả dĩ văn học danh. Vƣu ái tác thi, tự quan Hàn lâm nãi đắc tứ ý đề vịnh, kế nhi tùng sự bạ thƣ, ki tích nhung mã diệc ngâm phúng bất xuyết. Cố kỳ

241

sở trứ tác duy thi vi độc đa. Dƣ tiền đầu Gia Định thời, thƣờng đắc kiến kỳ linh thảo, thiết tự hâm tiện diễm mộ. Nhâm Tuất hạ, Trịnh hầu tuyển quốc chính sứ, kỳ đông dƣ diệc kế phú Hoàng Hoa. Quế thành tƣơng ngộ chi hậu, thần tịch bả ác vãng phản chu tuyền, toại đắc khuy kỳ để uẩn. Cái kỳ vi nhân hoà nhi bất lƣu tục, giản nhi bất ngạo ƣ vật, phú quý bất năng dâm, uy vũ bất năng khuất, tự hữu lỗi lạc bất ma chi khí, cố kỳ phát chi ƣ thi, tâm chi sở chi, hứng chi sở cập giai tự nhiên nhập liệu, bất đãi kết cấu, bất hạ điêu khắc, kỳ thi hoành dĩ thâm, kỳ vận du dĩ trƣờng, nhƣ thận lâu hải thị chi bất khả mô tróc, nhƣ tật lôi nộ đào chi bất khả thôi át, thời diệc vị trí tự cú nhi bất kiến ngân tích, thời diệc dẫn dụng điển cố nhi xảo ƣ tấu hợp. Y, Trịnh hầu chi thi đãi sở vị khí thắng giả, kỳ thi đa hùng hồn giả dƣ! Dƣ ƣ thi cực chuyết thả lãn, vị túc thiệp kỳ phiên li, thời dữ Trịnh hầu xƣớng thù đa thụ nhi đắc cánh chi bão khán toàn báo, nhân lƣợc thứ kỳ bình nhật chi sở lƣơng ngôn giả biện vu quyển đoan. Tuy nhiên thi kỷ nhĩ khởi túc dĩ tận Trịnh hầu chi trƣờng tai? Trịnh hầu đại đắc thời hành đạo phƣơng thả quảng, ôn nhu đôn hậu chi giáo dĩ tán truất trắc khuyến trừng chi chính, ƣ dĩ oa dƣơng phong nhã, tƣởng tiến Hàn Âu, thƣợng tá thánh thiên tử, đồng văn chi hoá, tắc kỳ tố sở súc tích dã tai. Dƣ thâm hữu vọng yên thị tự.

Gia Long tứ niên trọng xuân nguyệt thƣợng cán cát nhật. Lễ bộ Tả tham tri Quỳ Giang Nguyễn Địch Cát đề. Dịch:

BÀI TỰA TẬP THƠ CẤN TRAI Lời nói là tiếng của lòng, mà thơ là anh hoa của lời nói nhƣng có tiết tấu mà thôi. Làm thơ chẳng qua mấy điều cách, khí, tự cú, điển cố. Thƣờng nhân cách trội thì thơ nhiều trang nhã; khí trội thì thơ hùng hồn; câu chữ trội thì thơ đẹp đẽ tú lệ; điển cố trội thì thơ phong phú. Sự trong, đục, khéo, vụng ở con ngƣời cũng không ngoài những điều ấy, thế nên, xem thơ thì biết đƣợc ngƣời. Trịnh hầu Cấn Trai là ngƣời nổi tiếng ngày nay, tiên tổ của ông vốn ngƣời Phúc Kiến, Quảng Đông, Trung Quốc, sang trú ngụ ở phƣơng Nam đã mấy đời, mãi đến đời Trịnh hầu mới yên ổn. Từ nhỏ đã theo đòi bút mực, thƣờng có khí lạ, mỗi khi soạn thuật thƣờng có kiến giải hơn các bạn đồng lứa, nhƣ thế mà dùng ở đời thì quả thật có thể nổi danh về văn học. Ông rất thích làm thơ, từ khi giữ chức hàn lâm liền đƣợc thoả ý đề vịnh, kế ông theo việc bạ tịch, đi khắp nơi nhƣng cũng không bỏ việc ngâm vịnh. Nên những sáng tác của ông chỉ riêng thơ là nhiều. Tôi trƣớc lúc vào Gia Định, thƣờng đƣợc thấy các bản thảo rời rạc của ông, tự lấy làm ngƣỡng mộ vô cùng. Mùa hè năm Nhâm Tuất (1802), Trịnh hầu đƣợc tuyển làm chánh sứ, mùa đông năm ấy, tôi cũng nối việc đi sứ sang Trung Quốc. Sau khi gặp nhau ở thành Quế (Quế Lâm, Quảng Đông), sớm tối nắm tay, đi về quây quần, mới hiểu biết đƣợc tâm ý.Ông là ngƣời ôn hoà mà không vẩn tục, giản dị mà không ngạo vật, giàu sang chẳng phóng túng, uy vũ chẳng khuất phục, có chí khí lỗi lạc chẳng mòn, thế nên phát lộ thành thơ, lòng nghĩ, hứng đến đều tự nhiên vào thơ, chẳng đợi kết cấu, chẳng nhờ chạm trổ mà thơ ông lớn rộng, sâu xa, âm vận du dƣơng vời vợi, nhƣ đền đài hƣ ảo trên biển cả không thể sờ mó, nhƣ sấm nổ sóng gào chẳng thể nắm bắt, lúc thì xếp bày câu chữ mà chẳng thấy dấu vết, lúc thì dẫn dụng điển cố mà khéo léo hoà hợp. Ôi, thơ của Trịnh hầu có thể gọi là khí trội vậy, thế nên thơ ông nhiều hùng hồn! Tôi đối với thơ rất vụng về lại lƣời nhác, đâu đủ vƣợt qua rào giậu của ông, thỉnh thoảng cùng xƣớng hoạ với Trịnh hầu cũng đƣợc mở mang thêm. Lúc nhàn rỗi việc công đƣợc ông đƣa xem Thoái thực truy biên, Quan quang tập gần ba trăm bài, lại nhờ tôi viết tựa. Tôi nhận lời rồi đọc hết một mạch, nhân đó lƣợc lấy những lời hay thƣờng ngày đem đặt ở đầu sách. Tuy vậy, tài thơ đâu đủ để nói hết những cái hay của Trịnh hầu. Trịnh hầu khi đắc chí thì hành đạo theo phép tắc mà rộng lƣợng, lấy ôn nhu đôn hậu để thực hành chính sách truất bỏ cất nhắc, khuyến khích trừng phạt, cho nên đối với bậc phong nhã đáng khen thì tiến cử lên nhƣ họ Hàn họ Âu, trên phò thiên tử thánh minh giáo hoá đồng văn, thì những điều mà ông nuôi dƣỡng tích chứa trƣớc đây vẫn còn. Tôi rất trông mong điều ấy ở ông mà làm bài tựa này.

Ngày lành thƣợng tuần tháng giêng năm Gia Long thứ 4 (1805) Lễ bộ Tả tham tri Quỳ Giang Nguyễn Địch Cát đề tựa.

242

3.

艮 齋 詩 集 跋

四 時 有 秋 而 肅 殺 果 天 心 乎 ? 五 音 有 商 而 悲 傷 果 樂 意 乎 ? 詩 窮 然 後 工 而 荒 寒 蕭 瑟 悽 惋 激 烈 則 非 詩 之 教 也 。夫 言 出 於 暫,徵 於 久,興 發 乎 心,關 乎 身 。君 子 和 其 所 養 以 大 其 所 受,豈 逐 逐 於 韻 句 之 末 也 。世 之 好 以 詩 鳴,往 逞 構 思 如 秋,矢 音 如 商,其 荒 寒 蕭 瑟 如 寡 婦 夜 啼,羈 人 寒 起 ;其 悽 惋 激 烈 如 亡 臣 去 國 、 壯 士 臨 戎 。詩 誠 工 矣,極 至 於 李 、杜 、元 、白 而 已 矣 。求 其 溫 柔 敦 厚 之 體,寬 裕 和 平 之 氣, 窮 則 爲 考 槃 、 泌 水,達 則 爲 卷 阿 、 天 保 。 賦 宴 題 樓,獻 廟 登 郊 無 入 而 不 自 得,韓 、范 、歐 、蘇 殆 由 此 其 選 乎 ?尚 書 鄭 公 朝 名 卿 也,公 初 以 文 學 受 知,凡 平 昔 之 所 磨 礪 蓋 將 措 之 爲 事 業,故 不 忍 以 世 之 所 好 者 賊 吾 之 所 養,拙 於 是 集 有 以 窺 公 之 梗 概 焉 。方 其 獨 夫 橫 行,爵 火 爲 光,明 王 未 興,良 禽 焉 棲 塵 中,布 衫 朝 風 夕 雨,感 赤 狐 而 思 黃 鳥,窮 愁 之 況 何 如 也,而 公 樂 行 憂 違,不 是 無 悶 。丁 未 以 前 諸 作 類 皆 渾 涵 風 雅,譬 之 鏡 花 水 月 色 相 自 在 。及 其 王 師 進 討,六 飛 駕 海,讎 敵 在 前,戎 功 稽 日,風 濤 矢 石 互 相 爲 難,公 出 調 餽 餉,入 參 帷 幄,慮 事 於 毫 忽,應 變 於 眉 睫,而 能 忠 以 鎮 情,義 以 制 命,形 諸 吟 諷 寄 憶,不 過 寫 其 磥 砢 磊 磈 之 氣。過 潭 之 鴈 而 影 不 留,沖 斗 之 劍 而 芒 不 露,所 謂 溫 厚 和 平 者 非 歟 。宜 其 荷 天 庥,紆 帝 眷,信 步 扶 搖,唾 手 纍 若,爲 國 名 臣,爲 時 良 使,翱 翔 廊 廟,出 入 朝 郡。其 詩 如 其 人,其 所 受 如 其 所 養。他 日 薰 時 之 歌,喜 起 之 吟,九 重 有 以 屬 龢 者,公 其 韓 、范 、 歐 、蘇 中 人 也 。若 夫 觀 光 集 則 公 之 得 志 時 作,國 事 既 濟,吾 願 亦 足,於 以 彌 縫 玉 帛,省 勅 蘩 薇,心 平 故 無 險 思,境 順 故 無 危 辭,未 足 以 是 爲 公 奇 也 。拙 疏 狂 晚 進 文 章 知 遇 與 公若 無 緣 者 。壬 戌 夏,公 詣 覲 京 邸,拙 得 因 葵 江 阮 侯 一 覲 台 範,自 以 爲 獲 覩 大 觀 矣 。是 年 公 尋 有 皇 華 之 命,拙 亦 隨 駕 北 征,芝 眉 一 別,動 三 星 霜,乃 今 始 得 周 旋,而 錦 堂 之 駕 公 又 行 且 著 韉 。拙 從 來 之 心 想 神 慕 僅 得 見 於 是 集。過 此 而 春 梅 夏 蓮 秋 菊 冬 松 芬 芳 特 達,各 以 時 見 則 又 烏 可 得 而 限 量 耶 ? 阮 侯 深 取 是 集 因 以 序 示 拙,拙 又 反 覆 公 詩 而 參 以 阮 侯 之 序,其 如 畫 工 傳 神 一 般,神 固 可 傳 畫 之 者 尤 曲 盡 其 形 容 。易 曰﹕ 書 不 盡 言,言 不 盡 意,遂 忘 固 陋 悉 次 其 辭 以 跋 。

嘉 隆 四 年 仲 春 月 穀 旦 吏 部 參 知 澧 溪 侯 吳 時 位 書

CẤN TRAI THI TẬP BẠT

Tứ thời hữu thu nhi túc sát quả thiên tâm hồ? Ngũ âm hữu thƣơng nhi bi thƣơng quả nhạc ý hồ? Thi cùng nhiên hậu công nhi hoang hàn tiêu sắt thê uyển khích liệt tắc phi thi chi giáo dã. Phù ngôn xuất ƣ tạm, trƣng ƣ cửu, hƣng phát hồ tâm, quan hồ thân. Quân tử hoà kỳ sở dƣỡng dĩ đại kỳ sở thụ, khởi trục trục ƣ vận cú chi mạt dã. Thế chi hiếu dĩ thi minh, vãng sính cấu tứ nhƣ thu, thỉ âm nhƣ thƣơng, kỳ hoang hàn tiêu sắt nhƣ quả phụ dạ đề, ki nhân hàn khởi; kỳ thê uyển khích liệt nhƣ vong thần khứ quốc, tráng sĩ lâm nhung. Thi thành công hĩ, cực chí ƣ Lý, Đỗ, Nguyên, Bạch nhi dĩ hĩ. Cầu kỳ ôn nhu đôn hậu chi thể, khoan dụ hoà bình chi khí, cùng tắc vi Khảo bàn, Bí thuỵ, đạt tắc vi Quyển a, Thiên bảo. Phú yến đề lâu, hiến miếu đăng giao, vô nhập nhi bất tự đắc, Hàn, Phạm, Âu, Tô đãi do thử kỳ tuyển hồ? Thƣợng thƣ Trịnh công triều danh khanh dã, công sơ dĩ văn học thụ tri, phàm bình tích chi sở ma lệ, cái tƣơng thố chi vi sự nghiệp, cố bất nhẫn dĩ thế chi sở hiếu giả tặc ngô chi sở dƣỡng, chuyết ƣ thị tập hữu dĩ khuy công chi ngạnh khái yên. Phƣơng kỳ độc phu hoành hành, tƣớc hoả vi quang, minh vƣơng vị hƣng, lƣơng cầm yên thê, trần trung bố sam, triêu phong tịch vũ, cảm xích hồ nhi tƣ hoàng điểu, cùng sầu chi huống hà nhƣ dã, nhi công lạc hành ƣu vi, bất thị vô muộn. Đinh Mùi dĩ tiền chƣ tác loại giai hồn hàm phong nhã, thí chi kính hoa thuỵ nguyệt, sắc tƣớng tự tại. Cập kỳ vƣơng sƣ tiến thảo, lục phi giá hải, thù địch tại tiền, nhung công kê nhật, phong đào thỉ thạch hỗ tƣơng vi nạn, công xuất điều quỷ hƣởng, nhập tham duy ốc, lự sự ƣ hào hốt, ứng biến ƣ my tiệp, nhi năng trung sĩ trấn tình, nghĩa sĩ chế mệnh. Hình chƣ ngâm phúng ký ức, bất quá tả kỳ luỷ kha lỗi hội chi khí. Quá đàm chi nhạn nhi ảnh bất lƣu, xung đẩu chi kiếm nhi mang bất lộ, sở vị ôn hậu hoà bình giả phi dƣ? Nghi kỳ hà thiên hƣu, hu đế quyến, tín bộ phù dao, thoá thủ luỷ nhƣợc, vi quốc danh thần, vi thời lƣơng sứ, cao tƣờng lang miếu, xuất nhập triều quận, kỳ thi nhƣ kỳ nhân, kỳ sở thụ nhƣ

243

kỳ sở dƣỡng. Tha nhật huân thời chi ca, hỵ khởi chi ngâm, cửu trùng hữu sĩ chúc hoà giả, công kỳ Hàn, Phạm, Âu, Tô trung nhân dã. Nhƣợc phù Quan quang tập tắc công chi đắc chí thời tác, quốc sự ký tế, ngô nguyện diệc túc, ƣ dĩ di phùng ngọc bạch, tình sắc phiền vi, tâm bình cố vô hiểm tứ, cảnh thuận cố vô nguy từ, vị túc dĩ thị vi công kỳ dã. Chuyết, sơ cuồng vãn tiến, văn chƣơng tri ngộ dữ công nhƣợc vô duyên giả. Nhâm Tuất hạ, công nghệ cận kinh kỳ, chuyết đắc nhân Quỳ Giang Nguyễn hầu nhất cận đài phạm, tự dĩ vi hoạch đổ đại quan hĩ. Thị niên, công tầm hữu hoàng hoa chi mệnh, chuyết diệc tuỳ giá bắc chinh, chi my nhất biệt, động tam tinh sƣơng, nãi kim thuỵ đắc chu tuyền, nhi cẩm đƣờng chi giá, công hựu hành thả trứ tiên. Chuyết tùng lai chi tâm tƣởng thần mộ cẩn đắc kiến ƣ thị tập, quá thử nhi xuân mai hạ liên thu cúc đông tùng phân phƣơng đặc đạt, các dĩ thời hiện, tắc hựu ô khả đắc nhi hạn lƣợng da? Nguyễn hầu thâm thủ thị tập nhân dĩ tự thị chuyết, chuyết hựu phản phúc công thi nhi tham dĩ Nguyễn hầu chi tự, kỳ nhƣ hoạ công truyền thần, thần cố khả truyền hoạ chi giả, vƣu khúc tận kỳ hình dung. Dịch viết: Thƣ bất tận ngôn, ngôn bất tận ý, toại vong cố lậu tất thứ kỳ từ dĩ bạt.

Gia Long tứ niên trọng xuân cốc đán, Lại bộ Tham tri Lễ Khê hầu Ngô Thì Vị thƣ. Dịch:

BÀI BẠT TẬP THƠ CẤN TRAI Bốn mùa, có mùa thu là tiêu điều nghiêm khốc, hẳn lòng trời chăng? Năm âm, có âm thƣơng là bi đát hẳn ý nhạc chăng? Thơ, phải khốn cùng sau đó mới hay, nhƣng hoang lạnh, hiu hắt, thê lƣơng, khích liệt thì không phải là giáo hoá của thơ. Thƣờng lời nói phát ra trong chốc lát mà làm chứng cứ lâu dài; hứng thú phát ra từ tâm, mà quan hệ đến thân. Ngƣời quân tử điều hoà sự tu dƣỡng để làm lớn rộng điều mình nhận, há đâu cứ theo đuổi cái ngọn của câu chữ vần điệu. Ngƣời đời thích dùng thơ để mình đƣợc nổi tiếng, nên thƣờng sính kiểu cấu tứ nhƣ mùa thu, buông tiếng nhƣ tiếng thƣơng, hoang lạnh hiu hắt nhƣ ngƣời quả phụ than khóc trong đêm, nhƣ lữ khách đêm đông thức giấc; thê lƣơng khích liệt nhƣ kẻ bầy tôi rời nƣớc, tráng sĩ vào trận. Thơ chân thành mới là hay, hay nhất thì nhƣ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Nguyên Chẩn, Bạch Cƣ Dị mà thôi. Theo đuổi phong cách ôn nhu đôn hậu, khí cách khoan thai thong thả hoà nhã, khi cùng thì làm Khảo bàn, Bí thuỷ, khi đạt thì nhƣ Quyển a, Thiên bảo. Làm phú giữa tiệc, đề thơ trên lầu, thơ dâng nơi lang miếu, thơ tế đất trời, chẳng đâu chẳng dự mà không tự đắc, Hàn Dũ, Phạm Trọng Yêm, Âu Dƣơng Tu, Tô Thức, đều từ chỗ ấy mà tuyển ra chăng? Thƣợng thƣ họ Trịnh là danh thần triều ta, lúc đầu ông nhờ vào văn học mà đƣợc tri ngộ, phàm những gì ông mài dũa tôi rèn ngày trƣớc đều đem ra thi thố vào sự nghiệp, nên chẳng nỡ vì cái ngƣời đời thích mà làm hại cái mình tu dƣỡng, xem qua tập thơ này có thể thấy đại khái về ông. Huống gì nhân buổi độc phu hoành hành, lửa đóm cho là sáng, bậc vua sáng chƣa nổi lên, cánh chim lành trong trần đời biết đỗ đâu, áo vải sớm gió chiều mƣa, cảm nỗi cáo đỏ mà thƣơng nỗi chim vàng1, cảnh huống khốn cùng sầu khổ nhƣ vậy mà ông vẫn vui làm, lo lắng những việc ngang trái, dẫu không đƣợc ngƣời đời biết cũng không buồn. Những bài thơ làm trƣớc năm Đinh Mùi (1787) đều phong nhã hồn hậu, thí nhƣ bóng hoa trong gƣơng, vầng trăng đáy nƣớc, sắc tƣớng tự tại. Đến khi vƣơng sƣ tiến chinh, nhà vua đích thân ngự giá2 vƣợt biển, quân thù trƣớc mắt, việc quân tính từng ngày, sóng cả gió to, mũi tên hòn đạn, cùng nhau gây nạn, ông ngoài thì lo chu cấp lƣơng thực, trong thì dự bàn sách lƣợc, lo việc từ mảy may, ứng biến trong nháy mắt, mà vẫn có thể đem lòng trung lo việc, lấy nghĩa sai khiến mệnh lệnh, đều hiện ra nơi ngâm vịnh gởi nỗi niềm, chẳng qua là ghi lại cái khí trắc trở gập ghềnh của ông. Cánh nhạn qua đầm bóng chẳng lƣu, kiếm khí xông trời ánh chẳng lộ, cái gọi là ôn nhu đôn hậu chẳng phải thế sao? Nên ông đội ơn trời, đƣợc vua thƣơng, vững bƣớc chống đỡ, xoa tay trƣớc khó khăn, là danh thần của nƣớc, là sứ giỏi bấy giờ, rong chơi nơi lang miếu, vào ra chốn triều quận. Thơ ông nhƣ ngƣời ông, điều mà ông nhận đƣợc nhƣ điều mà ông tu dƣỡng. Ngày sau khi bài ca mừng gió ấm, khúc ngâm vui đứng lên, nếu đấng cửu trùng có điều phó thác, ông là ngƣời đứng chung trong đám Hàn Dũ, Phạm Trọng Yêm, Âu Dƣơng Tu, Tô Thức ấy vậy. Nhƣ xem tập Quan quang là những bài viết khi ông đắc chí, việc nƣớc đã

1 Nỗi cáo đỏ dịch từ chữ xích hồ hay hồng hồ, một loại cáo có lông đỏ thẫm, lông của nó rất quý có thể dùng làm áo lông. hoàng điểu là chim hoàng ly. Nỗi chim vàng dịch từ hoàng điểu. Bài Miên man trong Kinh Thi mƣợn lời chim hoàng ly để nói lên tình cảnh của một ngƣời chịu lao khổ mong có ngƣời cho ăn uống và dạy bảo. Ở đây ý chỉ cảnh huống khổ cực cơ hàn. 2 Dịch từ chữ Lục phi: cũng viết là 六騑 hoặc 六蜚 . Xƣa, xe của hoàng đế thắng 6 ngựa để kéo, đi nhanh nhƣ bay, nên gọi nhƣ vậy. Về sau, từ này dùng để chỉ đích thân hoàng đế ngự giá, hoặc chỉ xa giá nhà vua.

244

lặng, nguyện ông cũng thoả, thế rồi bổ cứu sách vở, xem xét việc nhà, lòng yên nên ý tứ không hiểm quái, cảnh thuận nên lời lẽ chẳng lạ lùng, chƣa đủ để xem là sự kỳ vĩ của ông. Tôi tính tình sơ cuồng chậm tiến, việc gặp gỡ văn chƣơng với ông thật là chƣa có duyên. Mùa hè năm Nhâm Tuất (1802), ông đến chầu nơi kinh kỳ, tôi nhờ Quỳ Giang Nguyễn hầu (Nguyễn Địch Cát) mới đƣợc gặp mặt ông, tự cho là mình đƣợc tận mắt mở rộng tầm mắt vậy. Năm ấy, ông đƣợc mệnh đi sứ, tôi cũng theo giá bắc chinh, lần ấy chia tay, thoắt đến ba thu, đến nay mới đƣợc gặp gỡ, mà xe gấm nhà quan ông phải thắng yên ra đi1. Tôi từ xƣa đến nay vẫn lòng mong ý mến, chỉ đƣợc thấy ở tập này, qua đó mà mai xuân, sen hạ, cúc thu, đông tùng, ngạt ngào riêng vẻ, thứ nào cũng hiện đúng lúc, thì sao có thể nhón lấy mà đo lƣờng? Nguyễn hầu thâm đắc đƣợc tập thơ này nhân đó đƣa bài tựa cho tôi xem, tôi lại xem đi xem lại thơ ông và xem thêm bài tựa của Nguyễn hầu, ông giống nhƣ hoạ sĩ vẽ truyền thần, thần vốn dĩ có thể truyền đƣợc, thì ngƣời hoạ sĩ phải nắm hết đƣợc hình dung của nó. Kinh Dịch nói: Thƣ không thể nói hết lời, lời không thể nói hết ý, bèn quên mình thô lậu quê mùa mà nói ra hết lời mình để ở dƣới tập thơ.

Ngày lành tháng 2, năm Gia Long thứ 4 (1805) Tham tri bộ Lại, Lễ Khê hầu Ngô Thì Vị viết. 4.

讀艮齋詩集跋 子曰:“誦詩三百,授之以政不達,使於四方不能專對,雖多,亦奚以爲?”信哉! 詩之有 益於人國也。蓋窮經將以致用,故達於詩者,內外修治,爲天保采薇。原隰馳驅,爲皇華枤 杜。當重任而霖四海,翊昌運而潤鴻猷,皆詩之用也。詩始於扶徠罔罟之歌,盛於慶雲南風 之詠,至四始之詩而大備。中古流爲七言五言小律排律與歌曲詞調皆詩也。嘗奉讀艮齋詩 集,竊有感焉。集中一曰退食追編,取詩退食自公之義,即語之所謂授政也。一曰觀光集, 取易觀國之光之義,即語之所謂專對也。一曰可以集,取語曰詩可以興可以觀可以群可以怨 之義。集凡三內可以集畧記應酬之大概,僅四十餘首。至於篇什之博,註引之詳,惟退食與 觀光二集,蓋主意專以從政專對爲重。抑相公之授政之專對,視之古人尤難焉。粵自天造草 昧成旅崎嶇,軍政民庸事幾轇轕,而新邦事體多爲僞西所遮飭,燕京天遠音問初通,又非尋 常旌節可比。相公居而從政,內參廟筭,外贊軍儲,章縫於矢石之塲,羈靮於風塵之會。出 而奉使,水達海程,陸穿新驛,委曲於請封之表,辨析於稱號之書,其難中之難又如此。方 且左右逢原從容囘幹,國務使華不勞而濟。當此倥偬喧豗之際,人處之若不堪其憂而胸次裕 然無一芥蔕,優游吟咏盈篇滿什宛然如當謳歌,雅頌之治朝。其掀天揭地之大材,聳壑昂霄 之偉器,可以見其倪矣。相公以中州望閥浮海而南,僻居南服,其地乃帆檣之所,又生當雲 雷之會,朝夕避地,不遑啟處,算來燈卷,工夫與古人,青年作賦,皓首窮經,何啻倍蓰。 今讀其詩集,用意渾厚,措辭莊雅,恂恂然有大家風,深得溫柔敦厚之教。又按集中,所編 上自壬寅,下至壬戌,前後殆三十年中間,韜晦逋避,遭遇追隨,出入均勞,趨赴唯命。地 有忙閑之別,年有彊壯之殊,而詩集諸作,毫無痕跡,隱然一氣呵成,非胸中成竹得之天然 何能及此。相公今以天官正卿協督嘉定,最類韓魏公,晝錦堂春風和氣與物無忤,泰山喬岳 爲人所依裁斷之。暇時與翰墨家笑語周旋。微北河人,奉督城學,辱蒙光顧,常出詩集見示 囑令訂序。古人有言,凡看大人文字輒以好好二字,塞責不諂則傲。微誠不敏,不敢以諂傲 自居,登受唯命,回堂憑几奉讀,心閱誠服,集端有葵江阮侯,澧溪吳侯兩序委婉明白,內 有洪山阮禮部朱評,字句穩當,區區淺晚,何敢俎豆其間,然旣仰承成命輒罄所見僭附墨跡 再贅跋其後亦求教之意云耳。儻爲澧溪,洪山所笑,是甘庶免自笑而已。再拜謹書

嘉隆十七年孟秋月望日 翰林院行嘉定城正督學耀光伯 高輝耀再拜謹書。

1 Chỉ việc Trịnh Hoài Đức sắp vào Gia Định giữ chức Hiệp Lƣu trấn Gia Định năm Gia Long thứ 4 (1805).

245

ĐỘC CẤN TRAI THI TẬP BẠT

Tử viết: "Tụng Thi tam bách, thụ chi dĩ chính bất đạt, sứ ƣ tứ phƣơng bất năng chuyên đối, tuy đa diệc hề dĩ vi tín tai? Thi chi hữu ích ƣ nhân quốc dã. Cái cùng kinh tƣơng dĩ trí dụng, cố đạt ƣ Thi giả, nội ngoại tu trị, vi Thiên bảo Thái vi. Nguyên thấp trì khu, vi Hoàng hoa Đệ đỗ. Đƣơng trọng nhiệm nhi lâm tứ hải, dực xƣơng vận nhi nhuận hồng du, giai Thi chi dụng dã. Thi thuỵ ƣ Phù lại Võng cổ chi ca, thịnh ƣ Khánh vân Nam phong chi vịnh. Chí Tứ Thuỵ chi thi nhi đại bị, trung cổ lƣu vi thất ngôn, ngũ ngôn, tiểu luật, bài luật dữ ca khúc, từ điệu giai thi dã. Thƣờng phụng độc Cấn Trai thi tập, thiết hữu cảm yên. Tập trung, nhất viết Thoái thực truy biên, thủ Thi thoái thực tự công chi nghĩa, tức Ngữ chi sở vị thụ chính dã. Nhất viết Quan quang tập, thủ Dịch quan quốc chi quang chi nghĩa, tức Ngữ chi sở vị chuyên đối dã. Nhất viết Khả dĩ tập, thủ Ngữ viết thi khả dĩ hƣng khả dĩ quan khả dĩ quần khả dĩ oán chi nghĩa. Tập phàm tam nội, Khả dĩ tập lƣợc ký ứng thù chi đại khái, cận tứ thập dƣ thủ. Chí ƣ thiên thập chi bác, chú dẫn chi tƣờng, duy Thoái thực dữ Quan quang nhị tập, cái chủ ý chuyên dĩ tòng chính chuyên đối vi trọng, ức tƣớng công chi thụ chính chi chuyên đối, thị chi cổ nhân vƣu nan yên. Việt tự thiên tạo, thảo muội thành lữ khi khu, quân chính dân dung sự kỵ giao cát nhi tân bang sự thể đa vị nguỳ tây sở già sức. Yên Kinh thiên viễn âm vấn sơ thông, hựu phi tầm thƣờng tinh tiết khả tỵ. Tƣớng công cƣ nhi tòng chính, nội tham miếu toán, ngoại tán quân trừ, chƣơng phùng ƣ thỉ thạch chi trƣờng, ky đích ƣ phong trần chi hội. Xuất nhi phụng sứ, thuỵ đạt hải trình, lục xuyên tân dịch, uỵ khúc ƣ thỉnh phong chi biểu, biện tích ƣ xƣng hiệu chi thƣ, kỳ nan trung chi nan hựu nhƣ thử. Phƣơng thả tả hữu phùng nguyên thung dung hồi cán, quốc vụ sứ Hoa bất lao nhi tế. Đƣơng thử, không tổng huyên hôi chi tế, nhân xử chi nhƣợc bất kham kỳ ƣu nhi hung thứ dụ nhiên vô nhất giới đế, ƣu du ngâm vịnh doanh thiên mãn thập uyển nhiên nhƣ đƣơng âu ca, Nhã tụng chi trị triều. Kỳ hân thiên yết địa chi đại tài, tủng hác ngang tiêu chi vĩ khí, khả dĩ kiến kỳ nghê hĩ. Tƣớng công dĩ Trung Châu vọng phiệt, phù hải nhi Nam, tích cƣ Nam phục, kỳ địa nãi phàm tƣờng chi sở, hựu sinh đƣơng vân lôi chi hội, triêu tịch tỳ địa, bất hoàng khải xứ, toán lai đăng quyển, công phu dữ cổ nhân, thanh niên tác phú, hạo thủ cùng kinh, hà thí bội tỵ. Kim độc kỳ thi tập, dụng ý hồn hậu, thố từ trang nhã, tuân tuân nhiên hữu đại gia phong, thâm đắc ôn nhu đôn hậu chi giáo. Hựu án tập trung sở biên, thƣợng tự Nhâm Dần, hạ chí Nhâm Tuất, tiền hậu đãi tam thập niên trung gian, thao hối bô tỳ, tao ngộ truy tuỳ, xuất nhập quân lao, xu phó duy mệnh. Địa hữu mang nhàn chi biệt, niên hữu cƣờng tráng chi thù, nhi thi tập chƣ tác, hào vô ngân tích, ẩn nhiên nhất khí kha thành, phi hung trung thành trúc đắc chi, thiên nhiên hà năng cập thử. Tƣớng công kim dĩ Thiên quan chính khanh Hiệp đốc Gia Định, tối loại Hàn Nguỳ công, trú cẩm đƣờng xuân phong, hoà khí dữ vật vô ngỗ, Thái sơn kiều nhạc, vi nhân sở y tài đoán chi. Hạ thời dữ hàn mặc gia tiếu ngữ chu tuyền.Vi Bắc Hà nhân, phụng Đốc thành học, nhục mông quang cố, thƣờng xuất thi tập, kiến thị chúc lệnh đính tự. Cổ nhân hữu ngôn, phàm khán đại nhân văn tự, triếp dĩ hảo hảo nhị tự, tắc trách bất siểm tắc ngạo. Vi thành bất mẫn, bất cảm dĩ siểm ngạo tự cƣ, đăng thụ duy mệnh, hồi đƣờng bằng kỵ phụng độc, tâm duyệt thành phục. Tập đoan hữu Quỳ Giang Nguyễn hầu, Lễ Khê Ngô hầu lƣỡng tự uỵ uyển minh bạch, nội hữu Hồng Sơn Nguyễn Lễ bộ chu bình, tự cú ổn đáng, khu khu thiển vãn, hà cảm trở đậu kỳ gian, nhiên ký ngƣỡng thừa thành mệnh, triếp khánh sở kiến tiếm phụ mặc tích tái chuế bạt kỳ hậu, diệc cầu giáo chi ý vân nhĩ. Thảng vi Lễ Khê, Hồng Sơn sở tiếu, thị cam thứ miễn tự tiếu nhi dĩ. Tái bái cẩn thƣ.

Gia Long thập thất niên mạnh thu nguyệt vọng nhật Hàn lâm viện Hành Gia Định thành Chính đốc học Diệu Quang bá Cao Huy Diệu tái bái cẩn thƣ. Dịch:

BÀI BẠT ĐỌC TẬP THƠ CẤN TRAI Khổng Tử nói: Đọc ba trăm bài kinh Thi, trao việc chính trị cho ngƣời ấy, mà ngƣời ấy không làm đƣợc, bảo đi sứ bốn phƣơng mà không thể tự đối đáp đƣợc, thì dẫu đọc nhiều, phỏng có ích gì? Điều ấy xác đáng thay! Thi có ích đối với ngƣời ta, với đất nƣớc vậy. Phàm, thông suốt kinh sách ắt có chỗ đáng dùng, nên ngƣời thấu đạt Thi, trong ngoài tự tu sửa mà thịnh trị, nhƣ là Thiên bảo, Thái vi. Rong ruổi trên đƣờng, là Hoàng hoa, Đệ đỗ. Gánh việc lớn mà có thể thảnh thơi bốn biển, giúp vận mới mà thấm nhuần bao la, đều là do cái dụng của Thi cả. Thơ bắt đầu từ lời hát Phù lai1, lời ca

1 Phù lai: tên khúc nhạc của vua Phục Hy, còn có nghĩa là “Phong lai” (Gió thổi).

246

đánh cá, rồi thịnh ở bài vịnh Khánh vân (mây lành), Nam phong (gió mát), đến Kinh Thi1 thì đầy đủ. Trung cổ chia làm thơ thất ngôn, ngũ ngôn, tiểu luật, bài luật, và kể cả ca khúc, từ điệu đều là thơ cả. Từng phụng mệnh đọc tập thơ Cấn Trai, trộm có vài cảm xúc vậy. Trong tập thơ, có một tập tựa là Thoái thực truy biên, tức lấy nghĩa câu “Thoái thực tự công” (từ triều đình, cửa công, lui về nhà mà ăn cơm) trong kinh Thi, tức điều mà sách Luận ngữ gọi là trao cho việc chính trị. Một tập tựa là Quan quang, thì lấy nghĩa “quan quốc chi quang” (xem cảnh tƣợng đất nƣớc) trong kinh Dịch, tức điều mà Luận ngữ gọi là tự đối đáp. Một tập tựa là Khả dĩ, thì lấy ý nghĩa “Thi khả dĩ hƣng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán” trong Luận ngữ. Trong ba tập ấy, tập Khả dĩ ghi chép đại khái những việc ứng thù, chỉ khoảng hơn 40 bài. Còn nhƣ nói về sự uyên bác của tác phẩm, chú dẫn rõ ràng, thì chỉ có hai tập Thoái thực và Quan quang, có lẽ chủ ý cho rằng theo việc chính sự, đi sứ đối đáp là trọng. Dƣờng nhƣ việc quan, đi sứ của tƣớng công xem ra càng khó hơn ngƣời xƣa? Đất Việt ta từ khi mới mở mang chốn cỏ hoang thành làng xóm, việc quân việc dân hầu nhƣ còn lộn xộn, mà sự thể của tân bang phần nhiều bị nguỵ tây2 ngăn trở, Yên kinh xa thẳm, tin tức vừa thông, thì việc cầm cờ tiết đi sứ nào phải bình thƣờng có thể sánh đƣợc. Tƣớng công theo việc chính mà an nhiên, trong thì tham dự mƣu tính, ngoài thì giúp việc quân lƣơng, tấu chƣơng làm trong trận đạn làn tên, cầm cƣơng ở hội gió bụi phong trần. Ra thì phụng mệnh đi sứ, đƣờng thuỷ giong ra biển cả, đƣờng bộ xuyên qua trạm dịch, uyển chuyển với biểu thỉnh phong, phân tích rành rọt thƣ xƣng quốc hiệu, điều ấy quả là điều khó trong khó đến nhƣ vậy. Huống lại tả hữu đối đáp, thong dong xoay xở, việc nƣớc đi sứ hoàn thành mà chẳng nhọc. Đƣơng lúc giữa chiến trận đánh nhau gấp rút, thân ở trong đó mà nhƣ không chịu nỗi lo, lòng thong dong tựa không vƣớng víu chút gì, dạo chơi ngâm vịnh thơ ca đầy rẫy, nhẹ nhàng nhƣ hát ca, dùng Nhã, Tụng trị chính. Cái tài lƣơng đống chống trời đỡ đất, khí vũ vút núi xuyên mây, có thể đều thấy điều đó ở đây. Tƣớng công dòng dõi danh gia vọng tộc từ Trung Quốc vƣợt biển vào nƣớc Nam, ở chốn miền Nam, đất ấy là nơi trọng yếu, lại sinh gặp buổi mây giăng sấm động, sớm tối phải trốn tránh, chẳng kịp mở mang, mà cũng lo việc đèn sách, công phu sánh cùng ngƣời xƣa, tuổi trẻ đã làm thơ phú, bạc đầu còn sôi kinh, còn hơn gấp nhiều lần nhƣ thế. Nay đọc tập thơ của ông, dùng ý tứ thì hồn hậu sâu lắng, chọn chữ trang nhã, rõ ràng là có phong cách bậc đại gia, thâm đắc ý ôn nhu đôn hậu. Lại xét trong tập thơ, những bài thơ làm trên từ Nhâm Dần dƣới đến năm Nhâm Tuất, trong khoảng hơn ba chục năm, những ngày tháng lánh nạn, buổi gặp gỡ đi theo, ra vào đều nhọc, tiến lùi theo mệnh. Đất có sai khác giữa ngƣời bận rộn kẻ nhàn rỗi, tuổi tác có sai khác khoẻ mạnh, mà những bài thơ trong tập, vẫn không chút vết tích, thơ thành tự nhiên, nếu chẳng phải ngƣời trong lòng tự nhiên sẵn có thì làm sao có thể đƣợc nhƣ thế. Tƣớng công nay vì triều đình mà làm bậc chính khanh giúp việc đôn đốc thành Gia Định, thật giống nhƣ Hàn Nguỵ công, giữa nhà gấm khí hoà gió mát chẳng trái với vật, nhƣ núi cao non cả là nơi mọi ngƣời trông cậy. Lúc rảnh rỗi, cùng khách thơ văn nói cƣời chu đáo. Tôi ngƣời ở Bắc Hà, phụng mệnh nhận chức Đốc học thành Gia Định, đƣợc ông chiếu cố, thƣờng đƣa tập thơ cho tôi xem bảo tôi viết tựa. Ngƣời xƣa có câu, thƣờng xem chữ nghĩa của bậc đại nhân thì nói liền hai chữ “hay hay”, nếu nhƣ khƣớc từ không theo thì cho là ngạo. Tôi thật tình không tài cán gì, chẳng dám đƣa mình vào chỗ siểm ngạo, bèn nhận lãnh đem về nhà dựa án mà đọc, lòng thấy vui mà thành tâm phục theo. Đầu tập có hai bài tựa của Quỳ Giang Nguyễn hầu và Lễ Khê Ngô hầu, rõ ràng sáng sủa, bên trong có lời bình của Hồng Sơn Nguyễn Lễ bộ, câu chữ thoả đáng, trong sáng dễ hiểu, đâu dám bày vẽ chen vào giữa, nhƣng đã nhận lời theo mệnh, bèn vắt hết những hiểu biết của mình xin để phụ bút tích thêm vào lời bạt đặt phía sau, cũng là có ý xin đƣợc chỉ giáo mà thôi. Giả nhƣ có bị Lễ Khê, Hồng Sơn cƣời chê, thì cam lòng để khỏi tự cƣời mà thôi. Một lần nữa kính cẩn bái viết.

Ngày rằm tháng bảy, năm Gia Long thứ 17 (1818) Hàn lâm viện, Hành Gia Định thành Chính đốc học, Diệu Quang Bá Cao Huy Diệu kính cẩn bái viết.

1 Dịch từ Tứ thuỵ. Có thuyết cho rằng: Tứ thuỵ tức chỉ “Phong”, “Tiểu nhã”, “Đại nhã”, “Tụng”, tức nói đến Kinh Thi. Thuyết khác cho rằng tứ thuỵ là bốn bài đầu tiên trong bốn phần của Kinh Thi. Chúng tôi theo thuyết đầu tiên, vì cách lý giải này có thể tìm thấy trong bài Thi Đại tự. 2 Nguỳ tây ở đây ý chỉ quân Tây Sơn.

247

5.

拾 英 堂 詩 集 序 世 之 所 謂 工 於 詩 者,謂 其 法 律 細 也, 謂 其 句 工 也, 謂 其 選 字 也 。 以 此 衡 詩 誰 曰 不 ■ 1。 顧 吾 之 所 取 詩 從 聲 調 外 更 欲 紬 繹 而 別 ■ 2以 窺 其 至 性 至 情 之 所 蘊 也 。 詩 以 言 志 者 也 。 凡 士 之 蓄 其 所 有 無 所 洩 則 弗 宣 。 是 故 燕 ■ 無 詩 惟 出 使 行 役 則 有 詩 。 蓋 異 地 之 風 塵 ■ 景 色 色 皆 足 以 動 吾 鄉 閭 井 里 之 思, 觸 緒 ■ 懷 而 長 言 詠 嘆, 遂 亹 亹 然 溢 出 於 喉 間 而 ■ 之, 能 禦 而 蘊 藉 者, 徵 其 中 和 豪 邁 者, 騐 其 ■ 負 。 大 凡 學 士 言 志 者 所 爲 悉 本 於 詩 也, 至 於 忠 臣 義 士 或 賦 物 而 別 寄 遙 情, 或 寫 景 而 ■3 寓 微 意, 而 生 平 一 段 惓 惓 君 國 之 忱 往 往 ■4 露 於 筆 端 而 不 自 覺 。 是 則 所 謂 性 情 之 正 也 。 丙 寅 之 三 月, 予 到 越 南 主 於 故 人 ■5 兵 ■6 ■ 侯 家 。 吳 侯 出 詩 草 兩 帙 示 予, 且 囑 予 曰 : ■ 爲 我 序 之 。 予 閱 諸 作, 其 一 則 作 於 奉 命 訪 黎 之 日, 其 一 則 作 於 縛 盜 入 貢 之 年 。■ ■ 之 不 文 正 。 昔 人 所 謂 望 門 牆 而 未 入 其 宮 者 , 烏 足 以 序 吳 侯 之 詩 耶 ? 然 吾 思 吳 侯 昔 年 來 粵, 與 予 盤 桓 累 月, 挹 其 言 論 丯 采, 蹇 蹇 氣 概 恆 寓, 彬 彬 風 雅 。中 集 中 雄 健 綺 麗 之 句 美 不 勝 收, 而 吾 閱 至 身 世 無 聊 聖 帝 知 暨 義 以 君 臣 每 自 寬 等 語, 隱 然 尋 繹 其 惓 惓 君 國 之 ■ 7,未 嘗 不 執 卷, 流 連 而 三 復 之 不 置 也 。 大 凡 忠 君 者 必 信 友 。 此 吾 之 所 以 樂 與 吳 侯 定 交 者 職 是 故 也 。

夫 詩 之 爲 教 正 欲 使 人 得 其 情 性 之 正 而 澤 身 於 忠 孝 節 義 之 間 也 。 事 有 關 於 名 教, 予 又 何 得 不 敘 ? 以 予 之 所 欲 言 至, 其 詩 之 氣 格 渾 成, 琢 金 玉 以 成 章, 織 經 史 而 作 錦, 斯 則 有 目 所 共 賞 者, 固 不 煩 予 之 品 題 也 。

嘉 隆 五 年 歲 次 丙 寅 蒲 月 吉 日 。 中 浣 廣 東 順 德 簡 圃 陳 濬 遠 拜 書 。

THẬP ANH ĐƢỜNG THI TẬP TỰ

Thế chi sở vị công ƣ thi giả, vị kỳ pháp luật tế dã, vị kỳ cú công dã, vị kỳ tuyển tự dã. Dĩ thử hoành thi thuỳ viết bất (mất một chữ). Cố ngô chi sở thủ thi tùng thanh điệu ngoại cánh dục trừu dịch nhi biệt (mất một chữ) dĩ khuy kỳ chí tính chí tình chi sở uẩn dã. Thi dĩ ngôn chí giả dã. Phàm sĩ chi súc kỳ sở hữu vô sở tiết tắc phí tuyên. Thị cố Yên (mất một chữ) vô thi, duy xuất sứ hành dịch tắc hữu thi. Cái dị địa chi phong trần (mất một chữ) cảnh sắc sắc giai túc dĩ động ngô hƣơng lƣ tỉnh lý chi tứ, xúc tự (mất một chữ) hoài nhi trƣờng ngôn vịnh thán, toại vỉ vỉ nhiên dật xuất ƣ hầu gian nhi (mất một chữ) chi, năng ngự nhi uẩn tạ giả, trƣng kỳ trung hoà hào mại giả, nghiệm kỳ (mất một chữ) phụ. Đại phàm học sĩ ngôn chí giả sở vi tất bổn ƣ thi dã, chí ƣ trung thần nghĩa sĩ hoặc phú vật nhi biệt ký dao tình, hoặc tả cảnh nhi (mất một chữ) ngụ vi ý, nhi sinh bình nhất đoạn quyền quyền quân hoài chi thầm, vãng vãng (mất một chữ) lộ ƣ bút đoan nhi bất tự giác. Thị tắc sở vị tính tình chi chính dã. Bính Dần chi tam nguyệt, dƣ đáo Việt Nam chủ (trú -ND) ƣ cố nhân (mất một chữ) binh (mất hai chữ) hầu gia. Ngô hầu xuất thi thảo lƣỡng trật thị dƣ, thả chúc dƣ viết: (mất hai chữ) vị ngã tự chi. Dƣ duyệt quan chƣ tác, kỳ nhất tắc tác ƣ phụng mệnh phỏng Lê chi nhật, kỳ nhất tắc tác ƣ phƣợc đạo nhập cống chi niên. (mất hai chữ) chi bất văn chính. Tích nhân sở vị vọng môn tƣờng nhi vị nhập kỳ cung giả, ô túc dĩ tự Ngô hầu chi thi da? Nhiên ngô tƣ Ngô hầu tích niên lai Việt, dữ dƣ bàn hoàn luỷ nguyệt, ấp kỳ ngôn luận phong thái, kiển kiển khí khái hằng ngụ, bân bân phong nhã. Trung tập trung, hùng kiện ỵ lệ chi cú, mỷ bất thăng thu, nhi ngô duyệt chí „Thân thế vô liêu thánh đế tri‟ kỳ „Nghĩa dĩ quân thần mỗi tự khoan‟ đẳng ngữ, ẩn nhiên tầm dịch kỳ quyền quyền quân quốc chi (mất một chữ), vị thƣờng bất chấp quyển, lƣu liên nhi tam phục chi bất trí dã. Đại phàm trung quân giả tất tín hữu. Thử ngô chi sở dĩ lạc dữ Ngô hầu định giao giả chức thị cố dã.

1 Những ô đen là những chữ bị mất hoặc không nhìn rõ trong nguyên văn. 2 Chúng tôi ngờ là chữ tài . 3 Chúng tôi ngờ là chữ thác. 4 Chúng tôi ngờ là chữ 沾 5 Chúng tôi ngờ là chữ Ngô. 6 Chúng tôi ngờ là chữ bộ. 7 Chúng tôi ngờ là chữ thầm.

248

Phù thi chi vi giáo chính dục sử nhân đặc kỳ tình tính chi chính nhi trạch thân ƣ trung hiếu tiết nghĩa chi gian dã. Sự hữu quan ƣ danh giáo, dƣ hựu hà đắc bất tự ? Dĩ dƣ chi sở dục ngôn chí kỳ thi chi khí cách hồn thành trác kim ngọc dĩ thành chƣơng, chức kinh sử nhi tác cẩm, tƣ tắc hữu mục sở cộng thƣởng giả, cố bất phiền dƣ chi phẩm đề dã.

Gia Long ngũ niên tuế thứ Bính Dần bồ nguyệt cát nhật. Trung Hoán Quảng Đông Thuận Đức Giản Phố Trần Tuấn Viễn bái thƣ. Dịch:

BÀI TỰA TẬP THƠ THẬP ANH ĐƢỜNG Cái mà ngƣời đời cho là thơ hay, chính là nói phép tắc thể cách của thơ nghiêm chỉnh, là nói câu cú khéo léo, là nói chọn chữ kỳ lạ, lấy điều ấy mà xét thơ, ai nói là không (mất chữ). Nhƣng những bài thơ ta chọn lấy, ngoài thanh điệu ra, ta còn thích tìm ra chỗ biệt tài để xem cái uẩn khúc chí tình chí tính của nhà thơ. Thơ là để nói chí. Phàm kẻ sĩ chất chứa những điều ẩn ức mà không có nơi để phát ra thì không thể tỏ bày. Thế nên, Yên (mất chữ) không làm thơ mà khi đi sứ, hành dịch thì lại có thơ. Gió bụi, cảnh sắc nơi đất khách cũng đủ làm rung động nỗi niềm quê hƣơng làng xóm của mình, xúc chạm nỗi lòng mà ca ngâm vịnh thán, dào dạt tràn ra nơi cổ họng mà (mất chữ), ấy là biết kiềm chế mà khoan dung, chứng tỏ ông là ngƣời trung hoà, khoáng đạt, lại nghiêm khắc.

Phàm là bậc học sĩ muốn nói chí mình thì đều làm thơ. Còn nhƣ các bậc trung thần nghĩa sĩ, hoặc làm thơ vịnh vật để gởi gắm tình ý sâu xa, hoặc tả cảnh để thác ngụ ẩn ý, còn nỗi tình thực cả một đời lắng lo cho việc vua việc nƣớc thƣờng thƣờng thấm đẫm lộ ra nơi đầu ngọn bút nhƣng không tự biết, đó chính là điều mà ngƣời ta gọi là tính tình thẳng ngay vậy. Tháng ba năm Bính Dần, tôi đến Việt Nam ngụ ở nhà ngƣời bạn cũ là (mất chữ) Binh (mất chữ) hầu gia. Hầu gia liền mang ra hai tập bản thảo thơ đƣa tôi xem và nói tôi rằng, (mất chữ) vì tôi mà đề tựa. Tôi xem những bài thơ của ông, một tập đƣợc làm khi phụng mệnh tìm thăm tin tức của vua Lê, một tập đƣợc làm khi bắt bọn trộm cƣớp sang nộp cống (câu này có 6 chữ, mất hai chữ, nên không rõ ý, không thể dịch). Ngƣời xƣa nói, “chỉ ngóng qua cửa rào mà chƣa vào trong nhà”, làm sao đủ để viết tựa cho thơ của Ngô hầu? Nhƣng tôi lại nhớ đến năm xƣa khi Ngô hầu sang đất Việt (Quảng Đông), cùng tôi quấn quýt mấy tháng liền, giãi bày bàn luận lời lẽ đẹp đẽ, khí khái việc lƣu trệ nơi đất khách mà phong nhã hài hoà. Trong tập thơ, những câu mạnh mẽ hùng tráng đẹp đẽ không thể kể hết, nhƣng tôi xem đến những câu nhƣ “Thân thế vô liêu thánh đế tri” và “Nghĩa dĩ quân thần mỗi tự khoan” mới hé mở mối tơ tình khẩn thiết vì vua vì nƣớc, tôi chƣa từng bỏ quyển, cuốn trôi theo mà đọc đi đọc lại không rời. Phàm là ngƣời trung với vua thì ắt thành thật với bạn bè. Đó là lý do tôi vui vẻ cùng Ngô hầu kết giao.

Ôi, thơ là để giáo hoá cho ngay thẳng, muốn cho ngƣời ta có đƣợc tính tình ngay thẳng, và giúp cho thân mình vào trong điều trung, hiếu, tiết, nghĩa. Những việc liên quan đến danh giáo tôi lẽ nào lại không kể. Và điều mà tôi muốn nói đến là khí cách thơ ông hồn thành, mài dũa vàng ngọc mà thành chƣơng, dệt kinh sử mà thành bài, thế thì những ngƣời có con mắt xanh hãy cùng nhau thƣởng thức, mà không phiền vì lời phẩm đề của tôi vậy.

Ngày lành tháng năm, năm Bính Dần, Gia Long năm thứ 5 (1806). Trung Hoán Thuận Đức Giản Phố Trần Tuấn Viễn bái viết ở Quảng Đông. 6.

拾英 堂 詩 序 汝 山 吳 子 之 爲 人 質 任 自 然, 最 喜 無 事, 是 集 有 詩 多 至 百 數 十 首, 竊 嘗 怪 之,及 竟 其 集 則 天 籟 自 鳴, 意 到 筆 到, 不 費 推 敲, 求 索 之 勞 而 亦 無 椎 鑿 刻 鏤 之 迹 。 朱 夫 子 所 謂 咨 嗟 詠 嘆 之 餘, 有 自 然 之 音 響, 節 族 斯 之 謂 歟 ?

嘉 隆 五 年 孟 夏 月 吉 日 。 葵 江 阮 迪 吉 謹 題 識 。

THẬP ANH ĐƢỜNG THI TỰ

Nhữ Sơn Ngô tử chi vi nhân chất nhậm tự nhiên, tối hỉ vô sự, thị tập hữu thi đa chí bách sổ thập thủ, thiết thƣờng quái chi, cập cánh kỳ tập, tắc thiên lại tự minh, ý đáo bút đáo, bất phí thôi xao

249

cầu sách chi lao nhi diệc vô chuỳ tạc khắc lũ chi tích. Chu phu tử sở vị tƣ ta thán vịnh chi dƣ, hữu tự nhiên chi âm hƣởng, tiết tấu tƣ chi vị dƣ?

Gia Long ngũ niên mạnh hạ nguyệt cát nhật. Quỳ Giang Nguyễn Địch Cát cẩn đề chí. Dịch:

BÀI TỰA TẬP THƠ THẬP ANH ĐƢỜNG1 Ngô Nhữ Sơn là ngƣời bẩm tính tự nhiên, rất thích vô sự, mà tập thơ có hơn một trăm mấy chục bài, tôi từng trộm lấy làm lạ, suốt cả tập thơ là tiếng sáo trời tự ngân vang, ý đến thì hạ bút, chẳng phí công sức chọn lời tìm chữ đắn đo mà cũng không thấy vết tích của việc khắc chạm mài dũa. Đó là điều mà Chu phu tử2 nói, thở than ngâm vịnh mà có âm hƣởng tiết tấu tự nhiên đó chăng?

Ngày lành tháng đầu hè, Gia Long năm thứ năm (1806). Quỳ Giang Nguyễn Địch Cát kính cẩn viết tựa. 7.

拾英 堂 詩 序 詩 者 情 之 發 而 神 固 行 其 間, 當 乎 情 莫 不 有 情, 而 情 極 者 唯 神, 則 行 乎 情 而 不 囿 乎 情, 雖 作 者 亦 莫 知 其 然 而 然 者, 故 觀 詩 觀 其 神 則 幾 矣 。 ■ 汝 山 ■ 兵 部 大 人 負 中 州英 氣 來 遊 我 越, 方 其 天 造 雲 雷, 自 許 馳 驅 以 輔 成 大 業 。 忠 愛 之 情 發 之 詩, 隨 感 隨 發, 筆 與 情 到 而 其 一 般 宕 佚 之 致, 飄 乎 旁 日 月 而 挾 宇 宙, 隱 隱 乎 情 之 外, 非 一 篇 一 句 所 可 指 摘 。殆 蒙 莊 所 謂 若 有 真 宰 而 不 得 其 朕 者 斯 非 神 之 全 歟 ? 辛 未 春 大 人 奉 特 旨 涖 驩。 存 時 備 驩 學, 錯 荷 青 眼 而 獲 見 之, 固 知 越 運 當 興, 上 天 佑 之 爲 生 賢 佐 ■ 大 人 之 得 全 於 天 也, 固 有 來 矣, 乃 如 之 詩 而 可 以 尋 常 感 發 觀 之 哉 ? 枳 棘 非 鸞 鳳 之 栖, 敝 州 何 幸 快 覩 ! 以 存 之 摧 頹 倦 惰, 奉 爲 謦 欬 而 若 有 所 興 起, 焉 是 惡 得 以 無 言 耶 ? 既 承 辱 命 不 敢 自 厭, 謹 綴 數 言 於 後 。

嘉 隆 十 年 辛 未 閏 仲 春 月 穀 日 乂 安 鎮 督 學 裴 楊 瀝 存 成 拜 書

THẬP ANH ĐƢỜNG THI TỰ

Thi giả, tình chi phát nhi thần cố hành kỳ gian, đáng hồ tình mạc bất hữu tình, nhi tình cực giả duy thần, tắc hành hồ tình nhi bất hựu hồ tình, tuy tác giả diệc mạc tri kỳ nhiên nhi nhiên giả, cố quan thi quan kỳ thần tắc cơ hĩ. (mất một chữ) Nhữ Sơn (mất một chữ) binh bộ đại nhân phụ Trung Châu anh khí lai du ngã Việt, phƣơng kỳ thiên tạo vân lôi, tự hứa trì khu dĩ phụ thành đại nghiệp. Trung ái chi tình phát chi thi, tuỳ cảm tuỳ phát, bút dữ tình đáo nhi kỳ nhất ban đãng dật chi trí phiêu hồ. Bạng nhật nguyệt nhi hiệp vũ trụ, ẩn ẩn hồ tình chi ngoại, phi nhất thiên nhất cú sở khả chỉ trích. Đãi Mông Trang sở vị “nhƣợc hữu chân tể nhi bất đắc kỳ trẫm” giả, tƣ phi thần chi toàn dƣ? Tân mùi xuân đại nhân phụng đặc chỉ lị Hoan, Tồn thời bị Hoan học, thác hà thanh nhãn nhi hoạch kiến chi, cố tri Việt vận đƣơng hƣng, thƣợng thiên hựu chi vi sinh hiền tá (mất một chữ) đại nhân chi đắc toàn ƣ thiên dã, cố hữu lai hĩ, nãi nhƣ chi thi nhi khả dĩ tầm thƣờng cảm phát quan chi tai? Chỉ cức phi loan phụng chi thê, tệ châu hà hạnh khoái đổ, dĩ Tồn chi tồi đồi quyện noạ phụng vi khánh khái nhi nhƣợc hữu sở hƣng khởi, yên thị ô đắc dĩ vô ngôn da? Ký thừa nhục mệnh bất cảm tự yếm, cẩn xuyết sổ ngôn ƣ hậu.

Gia Long thập niên Tân Mùi nhuận trọng xuân nguyệt cốc nhật. Nghệ An trấn đốc học Bùi Dƣơng Lịch Tồn Thành bái thƣ. Dịch:

1 Trong 10 thế kỷ bàn luận về văn chƣơng, tập 1, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 226, có bài này với tựa đề là “Thơ ƣa tự nhiên”. 2 Chu phu tử: tức Chu Hy, học giả thời Tống.

250

BÀI TỰA TẬP THƠ THẬP ANH ĐƢỜNG1 Thơ là từ tình cảm phát ra mà cái thần vốn nằm trong đó, đáng phải tình thì không gì không có tình, mà tình cùng cực thì chỉ còn thần, cho dẫu ở trong tình nhƣng lại không bị tình trói buộc. Vì thế, xem thơ phải xem cái thần của nó thì mới may ra. Ngô Nhữ Sơn Binh bộ đại nhân mang anh khí Trung Châu2 mà sang ở đất Việt ta, gặp khi trời nổi cơn mây mù sấm động, tự hứa lòng rong ruổi mà phò giúp thành đại nghiệp. Cái tình trung quân ái quốc phát lộ vào thơ, theo cảm xúc mà phát ra, câu chữ ý tình đều thấu đáo mà thơ thƣờng phóng dật vô cùng, nƣơng tựa nhật nguyệt, ôm cả vũ trụ, tình cảm chan chứa, nào phải chỉ một bài một câu mà có thể trích đƣợc, quả giống nhƣ lời Trang Tử nói, “giống nhƣ có đấng chân tể nhƣng mà không thấy đƣợc dấu vết của đó” 3, đó không phải là sự toàn vẹn của thần chăng?

Mùa xuân năm Tân Mùi, đại nhân phụng đặc chỉ đến đất Hoan. Tồn tôi bấy giờ giữ chức đốc học ở Hoan, may nhờ ngài để mắt đến mới đƣợc gặp mặt. Mới hay trời cao phò tá nên sinh ngƣời hiền tài giúp rập, nhƣ Ngô đại nhân đƣợc trời thành toàn nên mới đến đây vậy. Còn nhƣ thơ của ngài đâu thể đem cảm hứng tầm thƣờng mà xem? Loài cỏ tranh gai góc chẳng phải là chỗ cho loan phụng đỗ nghỉ, tệ châu sao đƣợc may mắn mà ngắm nhìn thoả thích thế chăng! Tồn tôi già yếu, biếng nhác, vâng làm hắng đặng, mà khi có điều hứng khởi, thì đâu thể chẳng nói một lời? Đã thừa lệnh nào dám từ khƣớc nên cẩn trọng đề vài lời ở dƣới.

Ngày lành tháng trọng xuân, năm nhuận Tân Mùi, Gia Long thứ 10 (1811), Đốc học trấn Nghệ An, Bùi Dƣơng Lịch hiệu Tồn Thành bái thƣ.

1 Trong tập sách Ngƣời xƣa bàn về văn chƣơng, bài này có tên là “Tựa Ngô Hiệp trấn Tĩnh Viễn hầu thi tập” trích trong Tồn Trai ốc lậu thoại thi văn, kí hiệu VHv.89. Xin xem Đỗ Văn Hỵ, Ngƣời xƣa bàn về văn chƣơng, tập 1, Nxb. KHXH Hà Nội, 1993, tr.32-33. 2中 州 Trung Châu: huyện Trung Châu, đƣợc đặt ra vào thời Chu, nay là huyện Tân An, tỉnh Hà Nam. 中 洲: địa danh, nằm giữa sông Mân Giang, ở huyện Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến, chia sông Mân Giang thành hai nhánh. Một nhánh dòng chảy từ bắc sang đông, gọi là sông Mã Đầu, còn gọi là sông Đông Giáp (Hiệp); một nhánh chảy từ tây xuống nam, gọi là sông Tây Giáp, đến phía đông châu này thì hợp dòng đổ ra Ngũ Hổ môn. Ngô Nhân Tĩnh quê Phúc Kiến, nên có thể là chữ 中 州 Trung Châu này. 3 Câu này lấy từ sách Trang tử, Tề vật luận: 若 有 真 宰, 而 特 不 得 其 眹 (giống nhƣ có đấng chân tể (trời) mà không thể thấy đƣợc dấu vết của trời)

251

8.

華 原 詩 草 序

我 越 號 稱 文 獻 。 自 丁 氏 建 國 以 來 與 北 朝 通 好, 使 命 往 必 以 有 名 士 大 夫 充 其 選 。 故 其 禮 文 之 交 際, 書 札 之 酬 答, 應 對 之 明 辨 與 沿 途 所 歷 之 詩 篇 吟 詠, 往 往 爲 北 朝 縉 紳 起 敬 。 夫 學 者 莫 先 乎 養 氣, 能 養 吾 浩 然 之 氣 則 應 世 酬 物 運 之 而 有 餘 。 故 以 小 事 大 禮 也 。 惟 吾 以 剛 方 不 撓 之 氣 臨 之, 不 以 小 自 墮, 則 吾 之 氣 常 伸, 而 凡 吾 平 日 之 所 得 所 聞 皆 可 隨 事 應 栽, 斯 前 朝 名 卿 鉅 公 所 以 能 重 國 體 而 不 忝 文 獻 之 名 者 在 此 。

皇 朝 嘉 隆 元 年 歲 壬 戌, 天 下 大 定, 奉 駕 禦 昇 龍 城, 首 擇 使 臣 將 命 講 舊 典 也 。 晉 齋 黎 公 特 以 兵 部 尚 書 充 求 封 正 介 是 行 也, 侈 舊 邦 之 崇, 稱 創 新 封 之 國 號, 事 體 尤 重, 皇 朝 使 命 第 一 科 。 公 以 是 年 十 一 月 持 節 往, 以 次 年 十 二 月, 與 天 朝 敕 封 欽 命 使 偕 來, 雖 仗 韾 靈 事 有 成 議 而 公 之 幹 旋 國 事 在 行, 實 狀 歷 歷 可 稽 也 宏 故 能 於 人 之 所 難 者 易 之 。 自 出 疆 至 復 命 計 月 十 有 四, 得 詩 凡 七 十 餘 首 。 今 讀 其 詩 雍 容 不 迫, 一 本 之 以 溫 柔 敦 厚 之 意, 形 於 咨 嗟 嘆 詠 之 間, 不 假 雕 琢 而 其 氣 自 充, 直 可 繼 前 徽 而 光 國 體 。 吾 夫 子 所 謂 “ 誦 詩 三 百 篇, 使 於 四 方, 可 以 不 辱 君 命 ”。 公 其 有 得 於 詩 之 教 歟 ? 抑 愚 又 有 說 焉, 文 章 天 地 之 元 氣, 得 之 者 其 氣 直 與 天 地 同 流 。 故 夫 四 時 順 序 雨 露 霑 濡, 天 之 文 也 ; 江 河 流 潤, 山 岳 蘊 藏, 地 之 文 也 ; 彌 綸 旋 幹 於 其 間 以 參 贊 化 育 之 所 不 及 者, 人 之 文 也 ; 豈 直 爭 奇 閗 艷 於 尺 幅 之 際 哉 ? 公 少 年 英 豪 明 於 大 義, 羈 靮 從 君, 以 及 強 仕 惟 能 淨 濟 艱 難 輔 成 大 業, 爲 開 創 中 興 名 臣 又 閱 歷 千 萬 里 程 途 完 濟 國 事, 其 爲 文 也, 孰 大 非 其 氣 之 不 淄 不 磷 者 安 得 有 此 ? 今 當 兵 革 既 息 四 海 向 平 尤 有 望 於 公 者, 上 爲 德 下 爲 民, 人 才 之 未 薦 者, 明 揚 之 善 政 之 未 立 者, 贊 行 之 事 之 利 於 國 家 者, 無 不 爲 之 。 乘 紳 正 笏 不 爲 威 武 所 屈, 不 爲 群 議 所 搖, 以 措 天 下 於 泰 山 之 安 立, 千 萬 年 不 朽 之 事 業, 斯 之 謂 經 天 緯 地 之 文 。 夫 是 則 我 南 交 之 文 獻 不 獨 北 朝 所 取 重 而 文 獻 之 澤 及 於 國 人, 將 使 史 氏 書 之,後 人 歌 誦 之,乘 之, 金 石 而 無 窮 者 詩 云, 乎 哉 余 小 子 雖 駑 鈍 請 執 筆 從 事 於 斯 是 爲 序 。

旹 嘉 隆 六 年 歲 在 丁 卯 仲 秋 既 望 晚 生 清 華 玉 山 翰 林 院 制 誥 黎 良 慎 拜 書 于

京 邸

HOA NGUYÊN THI THẢO TỰ

Ngã Việt hiệu xƣng văn hiến, tự Đinh thị kiến quốc dĩ lai, dữ bắc triều thông hiếu, sứ mệnh vãng tất dĩ hữu danh sĩ đại phu sung kỳ tuyển. Cố kỳ lễ văn chi giao tế, thƣ trát chi thù đáp, ứng đối chi minh biện dữ diên đồ sở lịch chi thi thiên ngâm vịnh, vãng vãng vi bắc triều tấn thân khởi kính. Phù học giả mạc tiên hồ dƣỡng khí, năng dƣỡng ngô hạo nhiên chi khí tắc ƣng thế thù vật vận chi nhi hữu dƣ, cố dĩ tiểu sự đại lễ dã. Duy ngô dĩ cƣơng phƣơng bất nạo chi khí, lâm chi, bất dĩ tiểu tự đoạ, tắc ngô chi khí thƣờng thân, nhi phàm ngô bình nhật chi sở đắc sở văn giai khả tuỳ sự nhi ứng tài, tƣ tiền triều danh khanh cự công sở dĩ năng trọng quốc thể nhi bất thiểm văn hiến chi danh giả tại thử.

Hoàng triều Gia Long nguyên niên tuế Nhâm Tuất, thiên hạ đại định, phụng giá ngự Thăng Long thành thủ trạch sứ thần tƣơng mệnh giảng cựu điển dã. Tấn Trai Lê công đặc dĩ binh bộ thƣợng thƣ sung cầu phong chính giới thị hành dã, xỉ cựu bang chi sùng xƣng, sáng tân phong chi quốc hiệu, sự thể vƣu trọng, hoàng triều sứ mệnh đệ nhất khoa, công dĩ thị niên thập nhật nguyệt trì tiết vãng dĩ thứ niên thập nhị nguyệt, dữ thiên triều sắc phong khâm mệnh sứ hài lai, tuy trƣợng thanh linh sự hữu thành nghị, nhi công chi cán tuyền quốc sự tại hành, thực trạng lịch lịch khả kê dã hoành cố, năng ƣ nhân chi sở nan giả dị chi. Tự xuất cƣơng chí phục mệnh kế nguyệt thập hữu tứ, đắc thi phàm thất thập dƣ thủ. Kim độc kỳ thi, ung dung bất bách, nhất bản chi dĩ ôn nhu đôn hậu chi ý, hình ƣ tƣ ta thán vịnh chi gian, bất giả điêu trác nhi kỳ khí tự sung, trực khả kế tiền huy nhi hậu quang quốc thể. Ngô phu tử sở vị, „tụng thi tam bách thiên, sứ ƣ tứ phƣơng, khả dĩ bất nhục quân mệnh‟. Công kỳ hữu đắc ƣ thi chi giáo dƣ? Ức ngu hựu hữu thuyết yên, văn chƣơng thiên địa chi khí, đắc chi giả, kỳ khí trực dữ thiên địa đồng lƣu. Cố phù tứ thời thuận tự vũ lộ triêm nhu, thiên chi văn dã; giang hà lƣu

252

nhuận, sơn nhạc uẩn tàng, địa chi văn dã; di luân tuyền cán ƣ kỳ gian dĩ tham tán hoá dục chi sở bất cập giả, nhân chi văn dã; khởi trực tranh kỳ đấu diễm ƣ xích bức chi tế tai? Công thiếu niên anh hào, minh ƣ đại nghĩa, ki đích tùng quân, dĩ cập cƣờng sĩ, duy năng tịnh tế gian nan, phụ thành đại nghiệp, vi khai sáng trung hƣng danh thần, hựu duyệt lịch thiên vạn trình đồ, hoàn tế quốc sự, kỳ vi văn dã, thục đại phi kỳ khí chi bất truy bất lân giả, an đắc hữu thử? Kim đƣơng bình cách ký tức, tứ hải hƣớng bình, vƣu hữu vọng ƣ công giả, thƣợng vi đức hạ vi dân, nhân tài chi vị tiến giả, minh dƣơng chi thiện chính chi vị lập giả, tán hành chi sự chi lợi ƣ quốc gia giả, vô bất vi chi. Thừa thân chính hốt bất vị uy vũ sở khuất, bất vị quần nghị sở dao, dĩ thố thiên hạ ƣ thái sơn chi an, lập thiên vạn niên bất hủ chi sự nghiệp, tƣ chi vị kinh thiên vĩ địa chi văn phù. Thị tắc ngã Nam giao chi văn hiến bất độc Bắc triều sở thủ trọng, nhi văn hiến chi trạch ƣ quốc nhân tƣơng sứ sử thị thƣ chi, hậu nhân ca tụng chi, thừa chi kim thạch nhi vô cùng giả. Thi vân, Hô tai dƣ tiểu tử tuy nô độn, thỉnh chấp bút tùng sự ƣ tƣ thị vi tự.

Thời Gia Long lục niên tuế tại Đinh Mão Trọng thu kí vọng Vãn sinh Thanh Hoa Ngọc Sơn

Hàn lâm viện chế cáo Lê Lƣơng Thận bái thƣ vu kinh kỳ.

Dịch:

BÀI TỰA TẬP THƠ HOA NGUYÊN THI THẢO Nƣớc Việt ta hiệu xƣng là nƣớc văn hiến, từ khi nhà Đinh dựng nƣớc đến nay, giao hảo với Bắc triều, sứ giả qua lại, ắt dùng những bậc danh sĩ, đại phu. Bởi thế, việc giao tiếp lễ nghĩa, thù đáp thƣ từ, ứng đối bàn luận cùng với việc ngâm vịnh thơ ca trên đƣờng đi sứ thƣờng khiến cho nhân sĩ Bắc triều sinh lòng kính ngƣỡng.

Phàm việc học, không gì trƣớc tiên bằng việc dƣỡng khí, một khi có thể dƣỡng đƣợc cái khí hạo nhiên của mình thì việc ứng xử ở đời, giao tiếp với ngƣời, tốt đẹp có thừa, nên việc nhỏ mà lễ lớn. Riêng tôi lấy cái khí cứng rắn bất khuất mà xử việc thời không vì chuyện nhỏ mà tự hạ mình, bởi khí của tôi thƣờng buông thả mà bình sinh có đƣợc kiến văn và sở đắc đều do tuỳ sự mà ứng đối. Đó là lý do các bậc công khanh tiếng tăm ở tiền triều biết trọng quốc thể mà không phạm tới cái danh văn hiến.

Năm Nhâm Thân, Gia Long nguyên niên triều ta, thiên hạ đại định, phụng giá đến thành Thăng Long tuyển chọn sứ thần để phụng mạng xem xét cựu điển. Ông Lê Tấn Trai làm chức Binh bộ thƣợng thƣ sung làm chánh sứ phái đoàn cầu phong. Phải giữ tôn xƣng của nƣớc cũ, lại cầu phong quốc hiệu mới, sự việc vô cùng trọng đại, vì hoàng triều mà đi sứ lần thứ nhất. Tháng 11 năm ấy, ông cầm cờ tiết mà đi, cho đến tháng 12 năm sau, khâm mệnh sứ của thiên triều sang sắc phong, tuy cậy uy thanh, bàn bạc sự việc nhƣng ông vẫn làm tròn quốc sự trong chuyến đi sứ, việc làm, thực trạng rành rành có thể kê khảo. Ông khí khái lỗi lạc, chất chứa thì to lớn, phát ra thì xa rộng, nên có thể làm dễ dàng những việc mà ngƣời ta thấy là khó. Lúc xuất sứ đến phục mệnh chừng hơn mƣời bốn tháng mà thơ đến hơn bảy chục bài. Nay đọc thơ ông, ung dung thong thả, suốt tập đều lấy ý ôn, nhu, đôn, hậu, hình ảnh nằm trong lời ngâm vịnh thở than, không tì vết chạm trổ mà khí thơ tự đầy tràn, thật có thể kế thừa tiền nhân mà làm rạng rỡ quốc thể. Phu tử nói rằng: đọc Thi ba trăm bài xuất sứ bốn phƣơng có thể không làm nhục quân mệnh. Phải chăng ông đƣợc lời dạy ấy từ Thi chăng? Tôi ngu muội lại nghe nói rằng, văn chƣơng là nguyên khí của trời đất, ngƣời đƣợc khí ấy có thể sống cùng trời đất. Thế nên, bốn mùa hoà thuận, mƣa móc thấm nhuần, là văn của trời; sông suối chảy trôi, núi non uẩn tàng là văn của đất; tổ chức xếp đặt ở giữa để tham tán những điều bất cập của tạo hoá là văn của ngƣời; há đâu cứ tranh kỳ lạ, khoe đẹp đẽ trong khoảng thƣớc tấc mà thôi? Ông thuở nhỏ đã có chí anh hào, làm sáng đại nghĩa, ruổi ngựa theo vua cho đến khi lớn lên làm quan thì có thể vƣợt mọi gian nan phò giúp thành đại nghiệp, là bậc danh thần khai sáng nền trung hƣng, lại trải đƣờng xa ngàn dặm để hoàn thành việc nƣớc, ấy là văn vậy, còn gì lớn hơn? Nếu không phải là ngƣời có khí độ trôi chảy không ngừng thì làm sao có đƣợc nhƣ vậy. Nay binh lửa đã ngừng, bốn phƣơng bình lặng, điều mà trông mong nhất ở ông, là trên vì đức nghiệp, dƣới vì dân, nhân tài chƣa đƣợc tiến cử; nền chính trị tốt đẹp chƣa làm cho rạng rỡ; giúp đỡ những việc làm có lợi cho nƣớc nhà, thì không việc gì mà không làm, khi làm quan cầm hốt thì chẳng vì uy vũ mà khuất phục, chẳng vì lời bàn nghị mà dao động, vì lo toan thiên hạ vững vàng nhƣ núi Thái, sự nghiệp bất hủ muôn năm, ấy gọi là văn của trời ngang đất dọc. Đó là văn hiến của đất Nam ta, chẳng riêng gì bên Bắc triều mới có, nên văn hiến thấm nhuần đến cả mọi ngƣời trong nƣớc khiến cho những nhà viết sử đời sau

253

ca tụng vâng theo, cái mà còn lại đến vô cùng ấy là thơ ca chăng? Tôi là bậc tiểu bối, tuy tài hèn thô lậu xin đƣợc chấp bút theo hầu ở đây mà làm bài tựa này.

Đầu thu năm Đinh Mão, Gia Long năm thứ 6 (1807),Vãn sinh Thanh Hoa, Ngọc Sơn Lê

Lƣơng Thận chức Hàn lâm viện chế cáo bái viết ở Kinh kỳ.

9.

嘉 定 弎 家 詩 序

余 於 庚 辰 夏 自 嘉 定 城 閫 來 亰 拜 臨 國 孝 。仍 奉 畱 亰 復 理 部 務 。適 亡 友 黎 户 部 次 子 光 瑶, 吳 工 部 弎 子 國 珪 偕 來 叅 見 。各 將 其 父 詩 集 呈 請 付 梓 。余 宿 與 弍 友 唱 酬, 稔 知 其 篇 什 汗 充 。今 僅 覯 千 百 之 十 弌, 甚惋 訝 而 窮 叩 之, 俱 以 散 逸 自 前 經 先 友 筐 緗 揀 存 止 此 爲 對 。余 再 四 沈 思 曰 : 吾 儕 之 事 業 心 蹟 自 有 旂 常 簡 策, 在 顧 不 假 乎 詩 文 以 炫 耀 于 世 也 。然 文 者 心 之 華, 其 性 情 之 正 偏, 士 學 之 醕 疵, 須 此 以 見 其 梗 槩 焉 。况 吾 儕 之 知 世 者 初 以 文, 斯 人 萎 而 文 不 傳, 恐 將 來 翰 藻 品 評 無 片 言 隻 字 之 可 徵, 何 以 噤 他 歧 倖 進 嘵 嘵 之 聲 口 者 。欲 謀 爲 分 壽 梨 枣, 各 爲 鎭 家 物, 柰 卷 袠 無 多 不 莊 几 案 。回 念 :吾 儕 生 平 旣 攜 手 以 遊 亦 聯 鐮 而 登 仕, 出 使 入 朝, 無 往 而 不 志 同 肩 竝, 則 今 詩 之 刻 應 合 而 弌 之, 庶 終 始 克 諧, 存 殁 無 閒, 於 義 爲 得 矣 。旹 艮 亝 集 業 已 梓 行, 遂 綴 鐫 華 原 、拾 英 弍 集 于 其 次, 總 顏 曰 ︰嘉 定 弎 家 詩 。 板 印 旣 成, 質 諸 識 者, 迺 分 給 吾 弎 家 子 各 藏 其 本 。籌 吾 儕 之 子 若 孫, 設 不 能 個 個 皆 跨 竈 充 閭, 克 繩 步 武, 定 世 世 中 自 不 少 弌 尋 常 承 家 讀 書 兒 知 祖 先 之 手 澤 可 珍, 爲 世 守 愛 護 而 圖 存 之, 必 不 至 於 覆 釜 糊 窗 之 可 虞 。斯 鼎 足 兔 穴 之 長 計 耳 。惟 弍 友 冥 中 之 靈 有 以 默 佑 啓 沃 我 兒 孫 。 余 若 何 靳 費 憚 勞 而 不 即 成 全 其 美 事 耶 ?

明 命 弎 年 仲 夏 月 穀 旦 協 辨 大 學 士 領 吏 部 尚 書 兼 領 兵 部 尚 書 充 國 史 舘 副 總 裁 加 弍 給 紀 錄 弌 次

安 全 侯 鄭 懷 德

GIA ĐỊNH TAM GIA THI TỰ

Dƣ ƣ Canh Thìn hạ (1820) tự Gia Định thành khổn lai kinh bái lâm Quốc hiếu, nhƣng phụng lƣu kinh phục lý bộ vụ. Thích vong hữu Lê Hộ bộ thứ tử Quang Dao, Ngô Công bộ tam tử Quốc Khuê, giai lai tham kiến, các tƣơng kỳ phụ thi tập trình thỉnh phó tử. Dƣ túc dữ nhị hữu xƣớng thù, nẫm tri kỳ thiên thập hãn sung, kim cận cấu thiên bách chi thập nhất, thậm uyển nhạ, nhi cùng khấu chi, câu dĩ tán dật tự khẳng kinh tiên hữu khuông tƣơng giản tồn chỉ thử vi đối. Dƣ tái tứ trầm tƣ viết: Ngô sài chi sự nghiệp tâm tích, tự hữu kỳ thƣờng giản sách, tại cố bất giả hồ thi văn dĩ huyễn diệu vu thế dã. Nhiên văn giả tâm chi hoa, kỳ tính tình chi chính thiên, sĩ học chi thuần tỳ, tu thử dĩ kiến kỳ ngạnh khái yên. Huống ngô sài chi tri thế giả sơ dĩ văn, tƣ nhân uỵ nhi văn bất truyền, khủng tƣơng lai hàn tảo phẩm bình vô phiến ngôn chích tự chi khả trƣng, hà dĩ cấm tha kỳ hãnh tiến, hiêu hiêu chi thanh khẩu giả. Dục mƣu vi phân thọ lê táo, các vi trấn gia vật, nại quyển trật vô đa, bất trang kỵ án. Hồi niệm, ngô sài sinh bình, ký huề thủ dĩ du tƣờng, diệc liên liêm nhi đăng sĩ, xuất sứ nhập triều, vô vãng nhi bất chí đồng kiên tịnh, tắc kim thi chi khắc, ứng hợp nhi nhất chi, thứ chung thuỵ khắc hài, tồn một vô gián, ƣ nghĩa vi đắc hĩ giả. Thời Cấn Trai nghiệp dĩ tử hành, toại xuyết tuyên Hoa Nguyên, Thập Anh nhị tập vu kỳ thứ, tổng nhan viết Gia Định tam gia thi. Bản ấn ký thành, chất chƣ thức giả, nãi phân cấp ngô tam gia tử các tàng kỳ bản. Trù ngô sài chi tử nhƣợc tôn, thiết bất năng cá cá giai khoa táo sung lƣ, khắc thằng bộ vũ, định thế thế trung tự bất thiểu nhất tầm thƣờng thừa gia độc thƣ nhi tri tổ tiên chi thủ trạch khả trân, vi thế thủ ái hộ nhi đồ tồn chi, tất bất chí ƣ phúc phủ hồ song chi khả ngu. Tƣ đỉnh túc thố huyệt chi trƣờng kế nhĩ. Duy nhị hữu minh trung chi linh hữu dĩ mặc hựu khải ốc ngã nhi tôn. Dƣ nhƣợc hà cận phí đạn lao nhi bất tức thành toàn kỳ mỷ sự da?

Minh Mệnh tam niên trọng hạ nguyệt cốc đán,

254

Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Lại bộ Thƣợng thƣ kiêm lĩnh Binh bộ Thƣợng thƣ sung Quốc sử

quán Phó tổng tài gia nhị cấp Ký lục nhất thứ An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức.

(Hiệp biện Đại học sĩ Trịnh thị) Dịch:

BÀI TỰA TẬP THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA Vào mùa hạ năm Canh Thìn (1820), tôi từ thành Gia Định đƣợc chỉ vào kinh bái lễ Quốc hiếu, rồi phụng mệnh ở lại kinh nắm giữ việc ở bộ vụ. Vừa lúc ấy con thứ của ngƣời bạn đã mất Lê Hộ bộ (Lê Quang Định) là Quang Dao, con thứ ba của Ngô Công bộ (Ngô Nhân Tĩnh) là Quốc Khuê đều đến tham kiến, mỗi ngƣời đều dâng tập thơ của cha mình xin nhờ tôi khắc bản. Trƣớc đây tôi cùng hai bạn xƣớng thù vịnh hoạ nên biết thơ của họ rất nhiều1, nay chỉ còn độ một phần trăm, mƣời phần nghìn thì kinh ngạc xót xa, rồi gạn hỏi suy xét hết, thì đều nói vì mất mát, qua sự tìm tòi chọn nhặt trong hòm rƣơng của hai bạn trƣớc đây chỉ còn đƣợc bấy nhiêu. Tôi lại trầm tƣ nghĩ rằng: sự nghiệp vết tích của chúng tôi, hẳn có quốc sử ghi chép đánh giá, mà vốn không mƣợn thơ văn để huênh hoang với đời. Nhƣng văn là tinh hoa của lòng, là sự thẳng ngay hay tà vạy của tính tính, là vết tích tốt xấu của bậc sĩ học, cũng nhờ đó mà thấy đƣợc đại khái. Huống khi bọn tôi có tiếng ở đời, ban đầu nhờ vào thơ văn, ngƣời nhƣ thế khi mất đi, mà văn chƣơng không truyền lại, e tƣơng lai phẩm bình văn chƣơng chẳng có lấy một lời một chữ làm chứng, thì lấy gì mà ngăn chặn ngƣời đời điều tiếng bọn tôi thăng tiến bằng con đƣờng khác? Muốn đem tác phẩm khắc in để truyền lâu dài2, cũng để mỗi nhà làm vật trấn bảo, hiềm vì tác phẩm không nhiều, để chẳng đƣợc đẹp bàn đẹp án. Bao lần nghĩ, bọn chúng tôi sinh bình cùng dắt tay vào trƣờng học, cùng một lúc ra làm quan, khi đi sứ lúc vào chầu, chẳng bao giờ chẳng cùng vai cùng chí. Vậy thì ngày nay, tập thơ đƣợc san khắc cũng nên hợp làm một, nhƣ vậy là trƣớc sau hài hoà, kẻ sống ngƣời còn cũng không bị chia cách, thật hợp với điều nghĩa lắm vậy. Bấy giờ tập thơ Cấn Trai (của tôi) đã khắc xong lƣu hành, bèn đem khắc thêm hai tập Hoa Nguyên, Thập Anh đƣa vào phía sau, đặt tựa chung là Gia Định tam gia thi. Bản in khắc xong, trình cùng các bậc thức giả, rồi chia cho con của ba nhà, mỗi ngƣời giữ một bản. Nếu nhƣ con cháu chúng tôi, giả nhƣ không thể đƣợc tiếng “con hơn cha” 3 rỡ ràng dòng họ4, có thể nối bƣớc cha ông, chắc hẳn trong những đời sau sẽ không thiếu có đứa tầm thƣờng nối đƣợc nếp nhà mà học hành, biết đƣợc sách vở bút tích (dấu vết)5 của tổ tiên là đáng quý, vì đời mà giữ gìn nâng niu lƣu trữ chúng, ắt không đến nỗi phải đem chúng để úp nồi dán cửa thì cũng vui. Nhƣ thế có thể đủ để làm kế hay bền vững lâu dài vậy6. Mong linh hồn hai bạn ở cõi trời ngầm phò giúp cho con cháu ta. Tôi đây cũng đâu nề hà sức già mệt nhọc mà không thành toàn ngay việc tốt đẹp này.

Ngày lành tháng 5 năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh chức Lại bộ Thƣợng thƣ, kiêm lĩnh chức Binh bộ Thƣợng thƣ, sung

chức Phó Tổng tài Quốc sử quán gia nhị cấp Ký lục nhất thứ, An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức.

1 Dịch từ chữ Hãn sung: chữ xuất từ câu “hãn ngƣu sung đống”. Lục Văn Thông tiên sinh mộ biểu của Liễu Tông Nguyên có câu: “Sách của ông, để thì chất cao đến xà nhà, chuyển ra ngoài thì trâu ngựa chở cũng đổ mồ hôi”. Về sau ngƣời ta dùng từ này để chỉ sách vở nhiều. 2 Thời xƣa ngƣời ta thƣờng dùng gỗ cây lê và cây táo để khắc bản in sách, vì vậy về sau lê táo dùng để chỉ bản khắc sách. 3 Con hơn cha dịch từ chữ Khoa táo: Mục Khoa táo trong sách Thiên lộc thức dƣ của Cao Sĩ Kỳ dẫn Hải khách nhàn đàm rằng: “Trên móng trƣớc của ngựa có hai khoảng trống gọi là táo môn. Phàm những con ngựa hay có dấu chân sau vƣợt lên cả dấu chân trƣớc, ngƣời ta gọi là vƣợt cả táo môn (khoa táo). Về sau dùng để chỉ con hơn cha. Cha đƣợc ví nhƣ bếp, trên bếp thƣờng đặt nồi, nên sinh con hơn cha đƣợc gọi là “khoa táo”. 4 Làm rạng rỡ dòng họ dịch từ Sung lƣ. Sách Tấn thƣ, Giả Sung truyện chép: “Giả Sung tên tự là Công Lƣ, … cha ông là Quỳ, về già mới sinh đƣợc Sung, ý muốn sau này làm rạng rỡ tổ tiên nhà cửa nên đặt tên tự là Lƣ”. Về sau, chữ này dùng để chúc mừng việc sinh con. (Hán ngữ đại từ điển (thƣợng, trung, hạ), Hán ngữ đại từ điển xuất bản xã, bản in lần thứ 4, Thƣợng Hải, 2005, quyển thƣợng, tr.848). 5 Dấu vết dịch từ chữ Thủ trạch, cũng nhƣ nói thủ hãn (dấu tay), sau thƣờng dùng để chỉ bút tích, hoặc di vật của tổ tiên để lại. Thiên Ngọc tảo trong Lễ ký có chép: “Cha mất mà con không thể đọc đƣợc sách của cha, ấy là vì dấu tay của ngƣời còn ở đó”. Khổng Dĩnh Đạt chú rằng: “Ý nói sách của cha còn lƣu dấu tay của cha khi còn sống đã cầm, nên không nỡ đọc”. 6 Kế hay dịch từ chữ Thố huyệt: hang thỏ. Thỏ làm hang thƣờng làm nhiều hang để có đƣờng chạy thoát. Bền vững lâu dài dịch ý từ chữ Đỉnh túc: chân vạc. Tục ngữ có câu: “Dù ai nói ngã nói nghiêng, lòng ta vẫn vững nhƣ kiềng ba chân”. Ở đây ý chỉ vững chắc và khôn khéo.

255

PHỤ LỤC 3

TRÍCH DỊCH THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA (Do khuôn khổ có hạn, chúng tôi chỉ trích dịch những bài thơ chƣa đƣợc công bố ở các công trình khác. Riêng với thơ Lê Quang Định, chúng tôi chỉ trích những bài có phần bình chú của Nguyễn Du và Ngô Thì Vị. Các số đánh ở đầu bài thơ là số thứ tự từng bài theo các tập thơ.)

艮齋詩集 欽差吏部尚書 行嘉定城協總鎮 安全侯鄭懷德甫輯 CẤN TRAI THI TẬP KHÂM SAI LẠI BỘ THƢỢNG THƢ HÀNH GIA ĐỊNH THÀNH HIỆP TỔNG TRẤN AN TOÀN HẦU TRỊNH HOÀI ĐỨC

艮齋退食追編 欽差吏部尚書 行嘉定城協總鎮 安全侯鄭懷德甫輯 CẤN TRAI THOÁI THỰC TRUY BIÊN Khâm sai Lại bộ Thƣợng thƣ hành Gia Định thành Hiệp Tổng trấn An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức phủ tập

丙午年 BÍNH NGỌ NIÊN (1786) 30. 寄懷黃玉蘊晦山真臘行 園梅摽白菊抽黃 蕃榻塵生草夢忙 得路鵾鵬南徙海 離群鴻雁夜鳴霜 石城醉訪鐘埋蹟1

金塔閒評布繫方2 勞我庾樓頻倚望 淒迷嶺樹水蒼茫 KÝ HOÀI HUỲNH NGỌC UẨN HỐI SƠN CHÂN LẠP HÀNH Viên mai phiêu bạch cúc trừu hoàng, Phồn tháp trần sinh thảo mộng mang. Đắc lộ côn bằng nam tỵ hải, Ly quần hồng nhạn dạ minh sƣơng. Thạch Thành tuý phỏng chung mai tích, Kim Tháp nhàn bình bố hệ phƣơng. Lao ngã dữu lâu tần ỵ vọng, Thê mê lĩnh thụ thuỵ thƣơng mang. Dịch nghĩa: GỬI NỖI LÕNG ĐẾN HỒI SƠN HUỲNH NGỌC UẨN ĐI CHÂN LẠP Vƣờn mai nở trắng, cúc nở vàng, Giƣờng họ Phồn3 đóng bụi, giấc cỏ bận rộn, Chim bằng đƣợc gió bay từ nam sang biển bắc, Hồng nhạn xa bầy cất tiếng gọi trong đêm sƣơng. Chốn thành Đá, say hỏi dấu vết chôn chuông,

1 Nguyên chú: 高綿國西南荒山中帝釋寺爲古佛坐化之處行 一日程至一古城相傳爲古西戎大秦城字匾漫滅其宮殿欄廡 皆白石雕琢光瑩精巧庭上人行聞如鐘聲或云下有埋鐘虛懸 機械足履石則機動鐘鳴云 (Trong núi hoang ở phía tây nam nƣớc Chân Lạp có chùa Đế Thích, là nơi đức Phật ngày xƣa toạ hoá, đi đƣờng khoảng một ngày thì đến một toà thành cổ, tƣơng truyền là thành Đại Tần Tây nhung, nét chữ đã mờ nhƣ mất hết, hành lang cung điện đều dùng đá trắng, tô vẽ điêu khắc tinh xảo, ngƣời đi trên sân nghe nhƣ có tiếng chuông kêu, có ngƣời cho rằng phía dƣới có treo hệ thống chuông, chân ngƣời giẫm lên, máy chuông vang động nên phát ra tiếng).

2 Nguyên chú: 南榮東岸有一古塔上嵌金瓢號爲金塔亦名金 臺俗傳在昔洚水有塔漂流胡僧以布絲線九條作法繫之絆住 於此今成阜云 (mé đông Nam Vang có tháp cổ, phía trên tháp có khảm một cái hồ vàng, gọi là Kim tháp (tháp Vàng), còn gọi là Kim đài (đài Vàng), tục truyền ngày xƣa lúc nƣớc lụt, có chiếc tháp trôi đến, vị sƣ ngƣời Hồ (Ấn Độ) dùng chín sợi vải lụa làm phép buộc tháp lại ở đây, nay trở thành một cái gò). 3 Dịch từ Phồn tháp. Trần Phồn có chiếc giƣờng chỉ giành cho bạn của mình là Từ Trĩ nằm mỗi khi đến chơi, Từ Trĩ về thì ông lại treo chiếc giƣờng lên.

256

Mâm chén tôi say mừng thời buổi tốt đẹp. Vào tiệc cùng vui cầm lấy đôi đũa bạc, Lại sợ nhọc công nói chuyện Hạng Tƣ. 3 33. 商人婦 自從夫壻素封尋 香燼燈殘冷繡衾 破夢鸎翻情緒惡 織愁柳鎖懊憹深 灼龜海阻歸期誤 寄雁山高去信沉 應悔囊空常聚首 免儂頻嚼石蓮心 THƢƠNG NHÂN PHỤ Tự tòng phu tế tố phong tầm, Hƣơng tẫn đăng tàn lãnh tú khâm. Phá mộng anh phiên tình tự ác, Chức sầu liễu toả áo nùng thâm. Chƣớc quy hải trở quy kỳ ngộ, Ký nhạn sơn cao khứ tín trầm. Ƣng hối nang không thƣờng tụ thủ, Miễn nùng tần tƣớc thạch liên tâm. Dịch nghĩa: VỢ NGƢỜI LÁI BUÔN Từ khi chồng đi tìm kế làm ăn, 4 Hƣơng nhạt đèn tàn, chăn thêu lạnh lùng. Oanh chuyền làm tan giấc mộng, tâm tình khó chịu, Liễu thắm dệt nỗi sầu, buồn bã thêm sâu. Đốt mai rùa bói, biển cả xa vời, ngày về lỡ hẹn, Gửi thƣ, núi cao, thƣ đi biệt tăm. Chợt hối hận, thà túi không mà kề đầu sát cánh, Để em khỏi thƣờng nhai đá với tim sen. Dịch thơ:

Ở tháp Vàng, tán chuyện cách dùng vải lụa buộc tháp. Ta nhọc nhằn lên lầu không trông ngóng, Cây cối núi non mờ mịt, sông nƣớc mênh mông. Dịch thơ: Vƣờn mai nở trắng, cúc khoe vàng, Bụi bám giƣờng Phồn, giấc cỏ khan. Tung sóng côn bằng qua biển bắc, Xa bầy hồng nhạn gọi đêm sƣơng. Chôn chuông, say hỏi nơi Thành Đá, Buộc vải, thƣờng han chốn Tháp Vàng. Đứng tựa lầu cao mòn mỏi ngóng, Mịt mờ non núi, nƣớc tràng giang. 31. 范如登登第後再娶同諸友即席書贈 嫋嫋東風解凍吹 范庭更長合歡枝 瓊花自古歸黃甲 素練而今屬翠眉 針芥嘉君逢盛事 杯盤醉我慶佳期 登筳樂共操鉛槊 還恐鏤冰對項斯 PHẠM NHƢ ĐĂNG ĐĂNG ĐỆ HẬU TÁI THÖ ĐỒNG CHƢ HỮU TỨC TỊCH THƢ TẶNG Niểu niểu đông phong giải đống xuy, Phạm đình cánh trƣởng hợp hoan chi. Quỳnh hoa tự cổ quy hoàng giáp, Tố luyện nhi kim thuộc thuý my. Châm giới gia quân phùng thịnh sự, Bôi bàn tuý ngã khánh giai kỳ. Đăng diên lạc cộng thao duyên sáo, Hoàn khủng lũ băng đối Hạng Tƣ. Dịch nghĩa: PHẠM NHƢ ĐĂNG SAU KHI THI ĐỖ LẤY THÊM VỢ, CÙNG BẠN BÈ MỞ TIỆC, VIẾT TẶNG. Gió xuân mơn man thổi tan băng tuyết lạnh giá, Sân nhà họ Phạm lại sinh sôi cây hợp hoan. 1 Xƣa nay hoa quỳnh vẫn thuộc về bậc hoàng giáp, Lụa trắng đến giờ vẫn thuộc về ngƣời mày xanh. Mũi kim hạt cải mừng cho anh gặp việc lớn, 2

1 Dịch từ “hợp hoan chi”. Cây hợp hoan, tức cây me. Ở đây tác giả chơi chữ, chỉ việc Phạm Đăng Hƣng lấy vợ. 2 Mũi kim, hạt cải dịch từ “châm giới”. Kinh Dịch: Không phải chỉ có những vật đồng loại mới có sự tƣơng cảm, mà giữa các vật khác loại cũng có sự tƣơng cảm, nhƣ nam châm hút cây kim,

hổ phách hút hạt cải… Về sau kim cải dùng để chỉ tính tình hoà hợp tìm đến nhau, chỉ tình vợ chồng gắn bó. 3 Nhọc công vô ích dịch ý từ “Lũ băng” (khắc lên băng). Xuất từ câu “hoạ chi lũ băng” (vẽ màu khắc lên băng giá), một mai băng tan, bức vẽ cũng chẳng còn, ý chỉ nhọc công vô ích. Hạng Tƣ, tự Tử Thiên, tên khác là Ích Chƣơng, nhà thơ ẩn sĩ đời Đƣờng, hơn ba mƣơi năm ở ẩn tại núi Chiêu Dƣơng. Dƣơng Kính Chi có bài thơ tặng ông rằng: “Kỵ độ kiến quân thi tổng hảo, Cập quan tiêu cách quá vu thi. Bình sinh bất giải tàng nhân thiện, đáo xứ phùng nhân thuyết Hạng Tƣ” (Mấy lần xem thơ anh đều thấy hay, nay gặp đƣợc ngƣời, thấy nhân cách của anh còn hơn cả thơ. Bình sinh tôi chẳng biết giấu cái hay của ngƣời đời, nên gặp ai ở đâu tôi cũng nói về Hạng Tƣ).Ở đây, tác giả Trịnh Hoài Đức có ý khen ngợi Phạm Nhƣ Đăng. 4 Thoát ý từ chữ “Tố phong”: ngƣời không có chức tƣớc, đất phong nhƣng giàu có. Sử ký, Hoá thực liệt truyện nói: “kẻ không có bổng lộc ban theo phẩm trật, không có thu nhập trên đất phong theo chức tƣớc, mà sƣớng không kém gì ngƣời có bổng lộc, gọi là tố phong”. Ở đây tác giả muốn nói đến việc đi buôn.

257

Thợ lành lại bỏ, có ngu không!? 38. 鈴兒草 潛伏青林竊假名 鈴兒掛號嚇雛鶯 苞凋秋夜迎風響 子串春枝逐雨聲 佩得有因飛野馬 繫來無用戲彭城 當年博取嬰童樂 背地驚人弄一鳴 LINH NHI THẢO Tiềm phục thanh lâm thiết giả danh, Linh nhi quải hiệu hách sồ oanh. Bao điêu thu dạ nghênh phong hƣởng, Tử xuyến xuân chi trục vũ thanh. Bội đắc hữu nhân phi dã mã, Hệ lai vô dụng hí Bành Thành. Đƣơng niên bác thủ anh đồng lạc, Bối địa kinh nhân lộng nhất minh. Dịch nghĩa: CỎ LINH NHI (CHUÔNG)3 Trộm giả danh ẩn náu trong rừng xanh, Đặt hiệu là Linh nhi (cái chuông), thƣờng làm hoảng chim oanh nhỏ. Đài hoa tàn trong đêm thu, đón gió kêu vang, Hạt xâu nhƣ cành xuân, rơi theo tiếng mƣa. Có duyên thời đeo đƣợc nó nhƣ ngựa hoang, Vô dụng buộc lại đeo chỉ làm trò cƣời khắp Bành Thành. 4 Năm ấy lấy làm trò vui cho bọn trẻ, Trên mặt đất vắng, kêu một tiếng khiến ngƣời ta hãi kinh. 5 39. 病中得皇黃晦山病信題寄 夜深反側不成眠 支杖簾前欲問天 顧影自思應骨瘦 撫衾長恨爲名纒 病身誰惠君臣藥 債主時增母子錢 知是故人同一恙

Từ chàng đi kiếm kế làm ăn, Hƣơng lụn đèn tàn, lạnh gối chăn. Oanh hót, mộng tan, lòng ngán ngẫm, Liễu vƣơng, sầu dệt, dạ băn khoăn. Non cao, gửi nhạn, tin thƣ vắng, Biển thẳm, bói rùa, buổi hẹn tăng. Nghĩ hận, sum vầy dầu rỗng túi, Tim sen thiếp khỏi nhấm bao lần. 37. 冬松1 百花憔悴入窮冬 山上蒼茫羨有松 霜雪歲寒凋覺後 葉柯時貫翠彌濃 風翻雅韻來吟鶴 石擁奇姿起蟄龍 廊廟棟樑長九計 良工捨我更何庸 ĐÔNG TÙNG Bách hoa tiều tuỳ nhập cùng đông, Sơn thƣợng thƣơng mang tiện hữu tùng. Sƣơng tuyết tuế hàn điêu giác hậu, Diệp kha thời quán thuý di nùng. Phong phiên nhã vận lai ngâm hạc, Thạch ủng kỳ tƣ khởi chập long. Lang miếu đống lƣơng trƣờng cửu kế, Lƣơng công xả ngã cánh hà dung? Dịch nghĩa: CỘI TÙNG MÙA ĐÔNG Trăm hoa héo rụng cuối mùa đông, Trên hòn núi xanh, mến thay có cội tùng. Sƣơng tuyết cuối năm, tùng rụng lá cuối cùng, 2 Nhành lá thƣờng vẫn giữ vẻ thắm xanh. Gió lùa phát ra tiếng thanh tao tựa tiếng hạc ngâm, Dáng cây kỳ lạ uốn quanh bờ đá nhƣ rồng nằm ẩn. Rƣờng cột của nƣớc nhà là kế lâu dài, Thợ giỏi mà bỏ ta, càng ngu sao! Dịch thơ: Trăm hoa héo rụng cuối mùa đông, Trên núi cao xanh, vẫn có tùng. Sƣơng tuyết năm tàn, cây úa trụi, Lá cành thƣờng thắm, vẻ xanh trông. Gió lồng tiếng trỗi âm nhƣ hạc, Đá ấp hình khoe dáng tựa rồng. Rƣờng cột nƣớc nhà, trƣờng cửu kế,

1 Nguyên chú: 席中掌鬮得題并限韻 (Trong tiệc tay cầm vò rƣợu đƣợc đề tài, làm theo hạn vận.) 2 Dịch ý từ “giác hậu điêu” lấy ý trong câu “tuế hàn nhi hậu điêu” ý chỉ vào mùa đông, cây tùng rụng lá sau các loài cây.

3 Cỏ linh nhi: có tên khác là Hà bao mẫu đơn, vì hoa có hình dạng nhƣ cái chuông (hình trái tim) nên có tên đó. Hoa có 4 cánh, 2 tầng, bao lại nhƣ hoa sen, tạo thành hình trái tim, treo thành một dãy nhƣ chuông, mỗi cành chừng 10 cái, rũ xuống, mùa hoa nở từ tháng 4 đến tháng 6, hoa tàn thành hạt nhỏ. 4 Bành Thành: tức Từ Châu, quê hƣơng của Hán Cao tổ Lƣu Bang. 5 Câu cuối xuất từ câu “nhất minh kinh nhân” (kêu một tiếng làm kinh hãi mọi ngƣời).

258

猩猩相惜舊情牽 BỆNH TRUNG ĐẮC HUỲNH HỐI SƠN BỆNH TÍN ĐỀ KÝ Dạ thâm phản trắc bất thành miên, Chi trƣợng liêm tiền dục vấn thiên. Cố ảnh tự tƣ ƣng cốt sấu, Phủ khâm trƣờng hận vị danh triền. Bệnh thân thuỳ huệ quân thần dƣợc, Trái chủ thời tăng mẫu tử tiền. Tri thị cố nhân đồng nhất dạng, Tinh tinh tƣơng tích cựu tình khiên. Dịch nghĩa: TRONG CƠN BỆNH ĐƢỢC TIN HUỲNH HỐI SƠN BỊ BỆNH ĐỀ THƠ GỬI Đêm khuya, trằn trọc, ngủ không đƣợc, 1 Chống gậy đến trƣớc rèm muốn hỏi trời. Ngoái nhìn bóng, tự thƣơng thân gầy guộc, Vỗ chăn luôn hận, ta bị cái danh ràng buộc. Thân bệnh, ai cho ta thuốc quân thần? Chủ nợ thƣờng tăng thêm lãi mẹ lãi con. Biết là bạn xƣa tình trạng cũng giống ta, Vƣớng vít thƣơng nhau, giữ mãi tình cũ. 2 Dịch thơ: Đêm sâu trằn trọc ngủ không yên, Chống gậy trƣớc rèm hỏi lão thiên. Đoái bóng tự thƣơng xƣơng cốt guộc, Vỗ chăn thƣờng hận cái danh phiền. Thân đau ai giúp quân thần dƣợc, Chủ nợ luôn tăng mẫu tử tiền. Đƣợc biết cố nhân cùng giống vậy, Tình xƣa vấn vít nhớ thƣơng thêm. 戊申年 MẬU THÂN NIÊN (1788) 41. 胡道生行役過父墓不得拜掃托余代作 遠避塵氛五載中 新梅一過感何窮 追思有夢雲飛白 展拜無由淚染紅 赴役兒孫趨火速 欺人狐兔臥堂封 天荒地老胡然事 泉下如知亦痛恫

HỒ ĐẠO SINH HÀNH DỊCH QUÁ PHỤ MỘ BẤT ĐẮC BÁI TẢO THÁC DƢ ĐẠI TÁC Viễn tị trần phân ngũ tải trung, Tân Mai nhất quá cảm hà cùng. Truy tƣ hữu mộng vân phi bạch, Triển bái vô do lệ nhiễm hồng. Phó dịch nhi tôn xu hoả tốc, Khi nhân hồ thố ngoạ đƣờng phong. Thiên hoang địa lão hồ nhiên sự, Tuyền hạ nhƣ tri diệc thống đồng. Dịch nghĩa: HỒ ĐẠO SINH ĐI VIỆC QUÂN NGANG QUA MỘ CHA KHÔNG THỂ LỄ MỘ, NHỜ TÔI LÀM THAY Xa lánh cõi trần trong năm năm, Chợt qua Tân Mai, cảm xúc khôn cùng. Nhớ cha thƣờng mộng, mây bay trắng núi, Bày đồ tế lạy bất giác nƣớc mắt nhuộm hồng khăn. Vì việc quân, cháu con đi gấp nhƣ lửa cháy, Nhờn ngƣời, thỏ cáo nằm kín nhà. Trời hoang đất cỗi, chuyện xa xôi, Dƣới suối vàng, nếu biết cũng đau đớn. Dịch thơ: Năm năm xa cách cõi hồng trần, Qua xứ Tân Mai cảm xúc dâng. Thƣơng nhớ thƣờng mơ mây trắng núi, Chắp tay khôn nén lệ hồng khăn. Việc quân con cháu bôn ba chạy, Nhà vắng thỏ chồn nhơ nhởn lăn. Đất cỗi trời hoang bao bấy việc, Suối vàng biết cũng dạ đau oằn. 42. 山雲 限韻 觸石悠揚山上雲 梢頭郁郁又紛紛 出從遠岫霜初霽 歸帶殘霞日正曛 得路可能施雨澤 無心終不伴妖氛 閑蹤肯許狂風蕩 留向芒碭覆聖君 SƠN VÂN Hạn vận Xúc thạch du dƣơng sơn thƣợng vân, Sao đầu úc úc hựu phân phân. Xuất tùng viễn tụ sƣơng sơ tễ, Quy đới tàn hà nhật chính huân. Đắc lộ khả năng thi vũ trạch,

1 Trằn trọc dịch chữ “phản trắc” (nghiêng qua trở lại), chỉ ngƣời ngủ không đƣợc. 2 Tinh tinh tƣơng tích 猩猩相惜: vốn là 惺惺相惜 (ngậm ngùi thƣơng nhau), ý nói ngƣời cùng chí hƣớng cùng hoàn cảnh nên thƣơng nhau.

259

Vô tâm chung bất bạn yêu phân.1 Nhàn tung khẳng hứa cuồng phong đãng, Lƣu hƣớng mang đang phú thánh quân. Dịch nghĩa: MÂY NÚI Mây trên núi là đà chạm vào đá, Lúc đầu hơi ngùn ngụt rồi cuồn cuộn. Bay ra từ núi xa, khi sƣơng bắt đầu tan, Về mang theo ráng chiều, ánh mặt trời nắng quái. Đắc chí thì có thể ra ơn mƣa móc, Vô tâm vẫn không kết cùng với khí lạ. Dấu nhàn chịu để cuồng phong cuốn, Đợi dịp rộng che thánh quân. 庚戌年 CANH TUẤT NIÊN (1790) 53. 曾點瑟 悠然胸次獨超群 鳴志揮來暢妙文 韻迸希鏗沂水月 人閒舍作莫春雲 南風好向絃中弄 北鄙渾無柱下聞 不有知音時振鐸 狂夫誰識亦華勳 TĂNG ĐIỂM SẮT Du nhiên hung thứ độc siêu quần, Minh chí huy lai sƣớng diệu văn. Vận bính hy khanh Nghi Thuỵ nguyệt, Nhân nhàn xá tác mạc xuân vân. Nam phong hảo hƣớng huyền trung lộng, Bắc bỉ hồn vô trụ hạ văn. Bất hữu tri âm thời chấn đạc, Cuồng phu thuỳ thức diệc Hoa Huân. Dịch nghĩa: ĐÀN SẮT TĂNG ĐIỂM Trong lòng riêng ôm ấp ý hơn ngƣời, Nên khi gảy đàn thì tiếng đàn thông suốt nhƣ tỏ chí mình. Tiếng đàn bật ra nhƣ vầng trăng nơi sông Nghi, Ngƣời nhàn chẳng cần làm đám mây cuối xuân. Phong tục ngƣời phƣơng Nam, khéo lồng trong dây đàn, Tục phƣơng Bắc, hoàn toàn không nghe thấy ở mỗi trụ.

1 Vô tâm: ý câu “vân vô tâm nhi xuất tụ” (mây vô tâm bay ra khỏi núi) của Đào Tiềm. Yêu phân: khí mây không lành, ý chỉ hoạ loạn.

Không cần có tri âm vẫn thƣờng so phím gảy, Kẻ cuồng ai biết cũng đều là Trùng Hoa (tên của vua Thuấn), Phóng Huân (tên của vua Nghiêu). 辛亥年 TÂN HỢI NIÊN (1791) 54. 送先鋒將軍阮文誠進征平順鎮 救焚奉詔下丹墀 鯨剹將軍奉出師 鞫旅霜凝蛇鳥陣 凌波星耀虎熊旗 一樽留戀臨歧日 千里征誅掛印時 錯節盤根逢利器 徯蘇珍重副民思 TỐNG TIÊN PHONG TƢỚNG QUÂN NGUYỄN VĂN THÀNH TIẾN CHINH BÌNH THUẬN TRẤN Cứu phần phụng chiếu há đan trì, Kình lục tƣớng quân phụng xuất sƣ. Cúc lữ sƣơng ngƣng xà điểu trận, Lăng ba tinh diệu hổ hùng kỳ. Nhất tôn lƣu luyến lâm kỳ nhật, Thiên lý chinh tru quải ấn thì. Thác tiết bàn căn phùng lợi khí, Hề tô trân trọng phó dân tƣ. Dịch nghĩa: TIỄN TIÊN PHONG TƢỚNG QUÂN NGUYỄN VĂN THÀNH TIẾN QUÂN ĐÁNH TRẤN BÌNH THUẬN Ông phụng chiếu cứu binh nhƣ cứu lửa nên phải rời thềm son, Tƣớng quân phụng chiếu diệt kình, dẫn quân ra trận. Xét quân, sƣơng đọng, dàn trận chim rắn, Lƣớt sóng, sao sáng, bóng cờ hùng hổ bay. Một chén rƣợu lƣu luyến trong ngày chia tay, Ngàn dặm đi chinh phạt, khi mang ấn. Đốt rễ cây cứng quanh co, chằng chịt, gặp phải đồ vật bén nhọn, Mong chờ vua sáng đến, hợp với suy nghĩ của dân. 2 55. 百襇裙 百幅飄翻間色裙 美人妝束耀星文 2 Mong chờ vua sáng đến dịch ý từ chữ “Hề tô”. Xuất từ câu “hề dữ hậu, hậu lai kỳ tô” (chờ đợi vua của ta đến, khiến cho dân ta đƣợc sống yên vui) trong Kinh Thƣ. Sau dùng chữ này để chỉ ý lòng mong chờ của dân đối với vua.

260

Vua ban yến tiệc nên bƣng chén uống thả sức,1 Trên bàn, có ngƣời mang canh thập cẩm đến. Một khi uống vào thì lại muốn ăn, Năm vị cay hoà cùng năm mùi hƣơng. Khách và chủ ngồi đầy bàn, cùng giãi bày hết tình cảm, Sơn hào hải vị năm ấy, đã từng nếm đủ. Mặn nhạt tất cả đều nhờ vào tay ngƣời điều phối, Nghe ngƣời ta bình phẩm, ta thì nằm ở trong giƣờng. 壬子年 NHÂM TÝ NIÊN (1792) 59. 紅梅 紅梅爲世重 晏圃可移栽 香蕚胭脂抹 瓊英絳雪堆 妒春楊后淚 帶醉趙妃腮 先沐東皇澤 丹心未肯灰 HỒNG MAI Hồng mai vi thế trọng, Yến phố khả di tài. Hƣơng uân nhân chi mạt, Quỳnh anh giáng tuyết đôi. Đố xuân Dƣơng hậu lệ, Đới tuý Triệu phi tai. Tiên mộc đông hoàng trạch, Đan tâm vị khẳng hôi. Dịch nghĩa: MAI ĐỎ Hồng mai đƣợc ngƣời đời xem trọng, Có thể đem trồng vào vƣờn tƣơi tốt. Mùi thơm nhƣ phấn sáp, Chất hoa trắng nhƣ tuyết phủ. Nhƣ giọt lệ Dƣơng Quý phi ganh xuân, 2 Nhƣ má Triệu Phi Yến đƣơng say. 3 Đƣợc gội ơn chúa xuân trƣớc, Lòng son chƣa dám tàn.

繽紛足展千花步 靉靆腰纒五彩雲 對鏡落霞穿泮水 臨流襍錦濯河汾 歸風休羨留仙製 持贈昭陽服侍君 BÁCH GIẢN QUẦN Bách bức phiêu phiên gian sắc quần, Mỷ nhân trang thúc diệu tinh văn. Tân phân túc triển thiên hoa bộ, Ái đãi yêu triền triền ngũ thái vân. Đối kính lạc hà xuyên phán thuỵ, Lâm lƣu tạp cẩm trạc hà phần. Quy phong hƣu tiện lƣu tiên chế, Trì tặng chiêu dƣơng phục thị quân. Dịch nghĩa: VÁY XOÈ Chiếc quần màu pha giữa trăm sắc, Ngƣời đẹp trang điểm xong, tựa ngôi sao sáng. Theo bƣớc chân đi, ngàn bông hoa nhƣ bung nở, Dải lụa quấn vòng eo sặc sỡ tựa mây ngũ sắc giăng. Soi gƣơng, tƣởng ráng chiều rơi vào trong dòng nƣớc, Đi vào dòng sông, nhƣ ngàn gấm lụa giặt ở bờ sông. Ngọn gió thổi qua, chớ ngƣỡng mộ mà giữ chút quần tiên, Níu tặng chút ánh dƣơng để hầu chàng. 56. 十錦湯 鹿鳴式讌縱壼觴 案上擎來十錦湯 一飲還將一啄勸 五辛并與五肴香 主賓滿座情兼盡 山海當年味備嘗 濃淡介然調爕手 聽人評品隱匡牀 THẬP CẨM THANG Lộc minh thức yến túng hồ trƣờng, Án thƣợng kình lai thập cẩm thang. Nhất ẩm hoàn tƣơng nhất trác khuyến, Ngũ tân tịnh dữ ngũ hào hƣơng. Chủ tân mãn toạ tình kiêm tận, Sơn hải đƣơng niên vị bị thƣờng. Nùng đạm giới nhiên điều tiếp thủ, Thính nhân bình phẩm ẩn khuông sàng. Dịch nghĩa: CANH THẬP CẨM

1 Lấy ý từ bài thơ Lộc minh (Tiếng hƣơu kêu) trong Kinh Thi nói về việc tiếp đãi sứ giả. Lộc minh thí yến: tức là yến tiệc vua đãi những ngƣời đậu tiến sĩ và đãi các quan trƣờng; khi dự yến cũng có ca bài Lộc minh xuân, chỉ kỳ thi hội mở vào mùa xuân. 2 Dƣơng hậu: chỉ Dƣơng Quý phi, tên là Dƣơng Ngọc Hoàn, hiệu Thái Chân, ngƣời đẹp thông minh, giỏi ca múa, Đƣờng Huyền Tông Minh Hoàng tuyển vào cung làm phi, phong Quý phi, là ngƣời thiếp yêu nhất của vua Đƣờng Minh Hoàng. 3 Triệu phi: tức Triệu Phi Yến, cũng là ngƣời có nhan sắc đẹp, giỏi múa hát. Tƣơng truyền, Phi Yến ngƣời thon thả, có thể múa đƣợc trong lòng bàn tay.

261

病葉墜同聆 心碎愁聞汝 瀟瀟對旅亭 THÍNH VŨ Hồ sàng chi sở nhuận, Náo mộng tuý hoàn tinh (tỉnh). Vi lựu lâm linh các, Hàn thanh thấu chỉ bình. Lậu chi lƣu kỳ trích, Bệnh diệp truỳ đồng linh. Tâm toái sầu văn nhữ, Tiêu tiêu đối lữ đình. Dịch nghĩa: NGHE MƢA Chân giƣờng Hồ ẩm ƣớt, Làm ta thức giấc, say rồi tỉnh. Tiếng mƣa rơi nhẹ thấm cả gác chuông2, Hơi lạnh lọt vào tấm bình phong bằng giấy. Cùng rơi với giọt nƣớc đồng hồ, Với chiếc lá vàng rơi khẽ. Lòng tan nát, sầu nghe mƣa, Hiu hắt trƣớc đình khách. Dịch thơ: Giƣờng Hồ hơi ẩm ƣớt, Giấc mộng tỉnh rồi say. Tiếng khẽ qua căn gác, Hơi hàn lọt bức mây. Giọt đồng rơi tí tách, Lá úa khẽ khàng bay. Nghe tiếng mƣa rầu rĩ, Lữ đình hiu hắt thay! 癸丑年 QUÝ SỬU NIÊN (1793) 63. 賀禮部阮洪都再娶 復見容臺畫燭紅 鳳箾纔引夜融彤 依希月度霓裳曲 隱約春囘玉管中 穠艶乍看花灼灼 欹斜咲整被僮僮 耆英也識天垂眷 爲報今宵應夢熊 HẠ LỄ BỘ NGUYỄN HỒNG ĐÔ TÁI THÚ Phục kiến dung đài hoạ chúc hồng, Phụng tiêu tài dẫn dạ dung đồng. Y hy nguyệt độ nghê thƣờng khúc,

Dịch thơ: HỒNG MAI Hồng mai đƣợc đời trọng, Vƣờn đẹp chuyển trồng ngay. Hƣơng ngát mùi son phấn, Quỳnh anh pha tuyết dày. Lệ nhƣ Dƣơng hậu oán, Hồng tựa Triệu phi say. Đƣợc gội ơn xuân trƣớc, Lòng son nào dám phai. 60. 蠟梅 馥郁蠟梅香 孤山處士莊 懷春身瘦瘠 妒雪病焦黃 麝過臍粘樹 蜂飛蜜鎮房 簪頭遊冶女 堪贈作金妝 LẠP MAI Phức úc lạp mai hƣơng, Cô sơn xử sĩ trang. Hoài xuân thân sấu tích, Đố tuyết bệnh tiều hoàng. Xạ quá tê niêm thụ, Phong phi mật chấn phòng. Trâm đầu du dã nữ, Kham tặng tác kim trang. Dịch nghĩa: MAI THÁNG CHẠP Hoa mai tháng chạp hƣơng thơm ngào ngạt, Là nhà của xử sĩ Cô Sơn. 1 Tiếc xuân thân mai gầy, Ghen với tuyết nhuốm bệnh vàng. Hƣơu đi qua cuống hoa dính vào thân, Lũ ong bay đến hút nhuỳ. Cô gái dạo chơi hái hoa cài đầu, Thì hoa tặng làm trang sức vàng. 61. 聽雨 胡牀支礎潤 鬧夢醉還醒 微溜淋鈴閣 寒聲透紙屏 漏巵流其滴 1 Cô Sơn xử sĩ: Xử sĩ núi Cô Sơn, tức Lâm Bô, ngƣời đất Tiền Đƣờng, tính cách thanh đạm, không màng danh lợi, ẩn cƣ ở Cô Sơn, hai mƣơi năm trời không đặt chân đến thị thành, thƣờng trồng mai và nuôi hạc làm vui nên ngƣời ta mới gọi là “mai thê hạc tử”.

2 Gác chuông: dịch thẳng từ Linh các, thƣờng dùng để chỉ hàn lâm viện, hoặc nơi làm việc của tƣớng soái và quan các châu phủ.

262

Ẩn ƣớc xuân hồi ngọc quản trung. Nùng diễm sạ khan hoa chƣớc chƣớc, Y tà tiếu chỉnh bị đồng đồng. Kỳ anh dã thức thiên thuỳ quyến, Vị báo kim tiêu ứng mộng hùng. Dịch nghĩa: MỪNG BỘ LỄ NGUYỄN HỒNG ĐÔ LẤY TÁI THÚ Lại đƣợc thấy nhà ông đốt nến hồng, Sáo phụng vừa thổi, đêm hoà trong màu đỏ. Dƣới ánh trăng lờ mờ ai múa khúc nghê thƣờng, 1 Thấp thoáng mùa xuân trong khúc sáo ngọc. Vẻ mặt mặn mà, chợt nhìn biết là đoá hoa tƣơi tốt mơn mởn, 2 Mái tóc dài nghiêng, cƣời chỉnh tóc đoan trang. 3 Bậc kỳ lão cũng biết trời rũ lòng thƣơng, Nên đêm nay báo sẽ ứng giấc mộng sinh con trai. 4 Dịch thơ: Lại thấy nhà ông thắp nến hồng, Đêm hoà khúc sáo phụng thanh trong. Bóng trăng thoang thoáng, nghê thƣờng khúc, Xuân đến lung linh, sáo ngọc lồng. Vẻ đẹp chợt nhìn, hoa mởn mởn, Tóc nghiêng cƣời chỉnh, buộc thong dong. Kỳ anh cũng biết trời thƣơng xót, Hẳn báo đêm nay đƣợc mộng hùng. 64. 六月喜雨題寄戰場侍從翰林諸友 退却炎蒸癸丑年 油雲密布夏山巓 田疇苗渥連宵雨 草木春回六月天 榴潄舊汙紅啟齒 荷霑新寵綠輸錢 遙憐單服諸文友 正爲君王立馬前

LỤC NGUYỆT HỈ VŨ ĐỀ KÝ CHIẾN TRƢỜNG THỊ TÕNG HÀN LÂM CHƢ HỮU Thối khƣớc viêm chƣng Quý Sửu niên, Du vân mật bố hạ sơn điên. Điền trù miêu ác liên tiêu vũ, Thảo mộc xuân hồi lục nguyệt thiên. Lựu sấu cựu ô hồng khải xỉ, Hà triêm tân sủng lục thâu tiền. Dao liên đơn phục chƣ văn hữu, Chính vị quân vƣơng lập mã tiền. Dịch nghĩa: THÁNG SÁU MỪNG TRỜI MƢA, ĐỀ THƠ GỬI CÁC BẠN HÀN LÂM THEO HẦU GIÁ Ở CHIẾN TRƢỜNG Năm Quý Sửu, cái nóng bị đẩy lùi, 5 Mây đen dày đặc bao phủ trên núi mùa hè. Lúa mạ nơi ruộng đồng đƣợc thấm nhuận cơn mƣa suốt đêm, Cây cỏ xanh mơn nhƣ xuân về dù đang giữa tiết trời tháng sáu. Cây lựu gội sách những vết dơ cũ, chồi đỏ mọc ra tựa răng, Cành sen gội mƣa móc, nảy lá xanh tròn nhƣ đồng tiền. Xa thƣơng cho các bạn văn mặc áo mỏng, Vì đang đứng trƣớc ngựa hầu vua. Dịch thơ: Quý Sửu, trời oi bị đẩy nhanh, Mây đen ngùn ngụt phủ non thành. Ruộng đồng lúa mạ đêm mƣa thấm, Cây cối xuân về tháng sáu xanh. Lựu gội vết tàn, phô hạt đỏ, Sen đằm ơn mới, nở tiền xanh. Xa thƣơng áo bạn toàn đơn chiếc, Trƣớc ngựa hầu vua lạnh cũng đành. 65. 山屯答兵部右參知黎光定兼水漕寄慰 俯仰相期不厚顏 照臨有日更何關 屠龍窟豢原爲險 棲鶻巢攀莫說難 順逆好風牛異馬 智仁樂處水如山 內通已外心知事 天縱魚鳶任往還

1 Theo Đƣờng thƣ khúc nghê thƣờng là vũ khúc của Bà la môn truyền sang Trung Quốc. Quan Tiết độ sứ Hà Tây là Dƣơng Kính Thuật dâng cho Đƣờng Minh Hoàng, bèn sửa lời lại và đặt tên là Nghê thƣờng vũ y khúc. 2 Đoá hoa tƣơi tốt mơn mởn dịch từ Hoa chƣớc chƣớc. Lấy từ ý bài Đào yêu trong Chu Nam, Kinh Thi: Đào chi yêu yêu, chƣớc chƣớc kỳ hoa, chi tử vu quy, nghi kỳ thất gia (cây đào xinh tƣơi, hoa nhiều mà rậm, nàng ấy về nhà chồng, ắt thuận hoà êm ấm). 3 Bị đồng đồng: mái tóc đoan trang, xuất từ ý bài Bị chi đồng đồng trong thơ Thiệu Nam, Kinh Thi: Bị chi đồng đồng, túc dạ tại công, bị chi kỳ kỳ, bạc ngôn tuyền quy (đầu tóc buộc đoan trang, ngày đêm lo làm việc, đầu tóc buộc thong dong, trở về khi tế xong). 4 Mộng hùng: mơ thấy gấu, tức điềm sinh con trai. Kinh Thi có câu “Duy hùng duy bi, nam tử chi tƣờng” (nằm mộng thấy con hùng con bi (gấu), là điềm sinh con trai).

5 Mùa thu năm này (1793), ông đƣợc đi cùng hỗ giá Đông cung Cảnh ra trấn thành Diên Khánh thay Nguyễn Văn Thành, bài thơ này đƣợc ông làm trƣớc đó khoảng một tháng.

263

SƠN ĐỒN ĐÁP BINH BỘ HỮU THAM TRI LÊ QUANG ĐỊNH KIÊM THUỶ TÀO KÝ UỶ Phủ ngƣỡng tƣơng kỳ bất hậu nhan, Chiếu lâm hữu nhật cánh hà quan. Đồ long quật hoạn nguyên vi hiểm, Thê cốt sào phan mạc thuyết nan. Thuận nghịch hảo phong ngƣu dị mã, Trí nhân nhạo xứ thuỵ nhƣ sơn. Nội thông dĩ ngoại tâm tri sự, Thiên túng ngƣ diên nhậm vãng hoàn. Dịch nghĩa: NƠI ĐỒN NÚI TRẢ LỜI THƠ AN ỦI CỦA TẢ THAM TRI BINH BỘ KIÊM CHỨC THUỴ TÀO LÊ QUANG ĐỊNH Cúi ngẩng mong nhau, mà không thẹn, Đã có mặt trời soi tỏ, thì còn ngại gì nữa. Chuyện đào hang giết rồng, vốn nguy hiểm, Chuyện bắt tổ chim két dữ lúc đang đậu, xin chớ nói khó khăn. Gió thổi xuôi ngƣợc, trâu khác ngựa, Chỗ vui của bậc nhân và trí, sông nƣớc cũng nhƣ núi non. 1 Trong ngoài đã thông hiểu, lòng tự nhiên sẽ rõ, Trời bao la, chim cá cứ mặc tình lại qua. Dịch thơ: Cúi ngửa trông mong chẳng thẹn gì, Gặp nhau có lúc cũng hề chi. Giết rồng phá ổ, âu là hiểm, Bắt két trên cành, chớ kể nguy. Trâu ngựa ngƣợc xui khi trái gió, Nƣớc non nhân trí vẫn vui vì. Trong ngoài thông suốt, nên lòng biết, Chim cá mặc tình giữa cõi ni. 甲寅年 GIÁP DẦN NIÊN (1794) 66. 和北河鄧陳常投南自叙原韻2 河北賢才豈乏人 如卿意氣義爲親 國讐不逐寒暄改 臣節何勞跋涉頻 祖狄襟期清晉宇 武侯利鈍付天鈞

遭逢莫袖經綸手 自古英雄貴得君 HOẠ BẮC HÀ ĐẶNG TRẦN THƢỜNG ĐẦU NAM TỰ TỰ NGUYÊN VẬN Hà Bắc hiền tài khởi phạp nhân? Nhƣ khanh ý khí nghĩa vi thân. Quốc thù bất trục hàn huyên cải, Thần tiết hà lao bạt thiệp tần. Tổ Địch khâm kỳ thanh Tấn vũ, Vũ Hầu lợi độn phó Thiên quân. Tao phùng mạc tụ kinh luân thủ, Tự cổ anh hùng quý đắc quân. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI TỰ THUẬT VỀ CHUYỆN VÀO NAM CỦA ĐẶNG TRẦN THƢỜNG NGƢỜI BẮC HÀ Đất Bắc Hà, đâu có thiếu ngƣời hiền tài, Ý khí nhƣ anh, lấy nghĩa làm thân. Thù nƣớc chẳng đổi theo mùa nóng lạnh, Tiết tháo bầy tôi ngại gì nhọc nhằn bôn ba. Tổ Địch áo cờ quét tàn giặc thù nơi đất Tấn, 3 Vũ Hầu kế mƣu sắc sảo đành phó mặc trời cao.4 Gặp gỡ nhau xin chớ khoanh tay giấu tài kinh luân, Xƣa nay anh hùng quý ở việc gặp đƣợc minh quân. Dịch thơ: Hiền tài Hà Bắc, thiếu ai chăng? Ý khí nhƣ anh, nghĩa sát thân. Thù nƣớc chẳng theo mùa đắp đổi, Lòng tôi sá kể cuộc phong trần. Áo cờ Tổ Địch, trong trời Tấn, Mƣu diệu Khổng Minh, phó cõi thần. Gặp gỡ, kinh luân tài chớ giấu, Anh hùng xƣa quý gặp minh quân. 67. 歸仁府兵場同兵步部右參知黎光定分路回 嘉定城 我于客歲扈皇儲 卿復今年侍帝輿 延慶戍邊嗟別袂 歸仁平寇恰連裾 鬚眉已逐逢時易

1 Câu này xuất từ ý câu trong Luận ngữ: “nhân giả nhạo sơn, trí giả nhạo thuỵ” (ngƣời nhân vui cảnh núi, ngƣời trí vui cảnh nƣớc), ở đây Trịnh Hoài Đức muốn nói chỗ vui vẻ của ngƣời nhân hay ngƣời trí đều giống nhau không khác. 2 Nguyên chú: 時鄧於北河起兵與西山賊拒戰屢被敗衂竟圖 南奔又爲山海所阻今始得達 (Bấy giờ họ Đặng ở Bắc Hà khởi binh chống trả với quân Tây Sơn, nhiều lần thua trận cùng đƣờng mới chạy vào Nam, nhƣng lại bị núi sông cách trở, nay mới đến đƣợc.)

3 Tổ Địch: ngƣời đất Phạm Dƣơng, đời Tấn, tự Sĩ Nhã, thời Nguyên đế, làm thứ sử Dự Châu, lúc vƣợt sông gõ chèo thề rằng: không lấy đƣợc Trung Nguyên thề không trở lại sông này. Bộ binh đánh nhau cầm cự với quân Thạch Lặc, từ sông Hoàng Hà trở xuống phía nam đều là đất thuộc nhà Tấn. Ngày ông mất, quan quân Dự Châu để tang ông nhƣ bậc cha mẹ. 4 Vũ Hầu: tức Gia Cát Lƣợng, hiệu Khổng Minh, còn có hiệu Ngoạ Long tiên sinh. Ông giúp Lƣu Bị chia thiên hạ thành thế chân vạc, là ngƣời mƣu lƣợc tài tình, sau khi mất đƣợc phong là Vũ Hƣơng Hầu.

264

ĐỀ BINH BỘ HỮU THAM TRI MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH QUY NHƠN PHỦ ĐỊA ĐỒ Chế đĩnh nhân giai thát độc phu, Quy Nhơn hà sự trữ cuồng bô. Đồ Bàn thạch điệp sơn tàng tật, Thi Nại loan hàm thuỵ nạp ô. Đạo tặc thả hƣu khoa địa hiểm, Quân vƣơng bất nhẫn dĩ thành đồ. Tha niên hội nghị trung hƣng sách, Địch thế phân minh tại hoạ đồ. Dịch nghĩa: ĐỀ THƠ VÀO ĐỊA ĐỒ PHỦ QUY NHƠN CỦA BINH BỘ HỮU THAM TRI MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH Chế gậy gộc mọi ngƣời đều đánh kẻ giặc, Thành Quy Nhơn cớ sao dung chứa bọn cuồng loạn. Thành Đồ Bàn đá ngổn ngang, núi nhƣ giấu tật, Cửa biển Thị Nại gấp khúc, nƣớc đen ngòm dƣờng chứa bẩn. Kẻ giặc chớ khoe rằng nơi đây hiểm trở, (Chẳng qua) nhà vua không nỡ tàn phá cả thành. Năm nào trong bàn hội nghị dâng kế sách trung hƣng, Thế giặc hiện ra rõ ràng ở bức vẽ. Dịch thơ: Quyết đánh độc phu, chế gậy gồng, Quy Nhơn sao chứa kẻ cuồng ngông? Đồ Bàn lởm chởm, non mài đá, Thi Nại quanh co, nƣớc đục dòng. Bọn giặc đừng khoe, nhờ đất hiểm, Nhà vua chẳng nỡ, đốt thành không. Năm nào dâng kế trung hƣng sách, Thế giặc hình này hiện rõ trong. 69. 西施菊 綽約東籬整淡粧 苧蘿村廢尚遺香 步風響屧裁纖蕊 笑月傾城趁晚涼 嬌憶姑蘓秋作沼 瘦憐彭澤夜凝霜 昨來叢下瀟瀟雨 回首吳宮淚滿裳 TÂY THI CÚC 2 Xƣớc ƣớc đông ly chỉnh đạm trang,

心志猶期舊日如 從此故鄉同笑指 卿舟我馬詠歸歟 QUY NHƠN PHỦ BINH TRƢỜNG ĐỒNG BINH BỘ HỮU THAM TRI LÊ QUANG ĐỊNH PHÂN LỘ HỒI GIA ĐỊNH THÀNH Ngã vu khách tuế hỗ hoàng trừ, Khanh phục kim niên thị đế dƣ. Diên Khánh thú biên ta biệt duệ, Quy Nhơn bình khấu cáp liên cƣ. Tu my dĩ trục phùng thời dị, Tâm chí do kỳ cựu nhật nhƣ. Tòng thử cố hƣơng đồng tiếu chỉ, Khanh chu ngã mã vịnh quy dƣ! Dịch nghĩa: Ở BÌNH TRƢỜNG PHỦ QUY NHƠN CÙNG HỮU THAM TRI BINH BỘ LÊ QUANG ĐỊNH CHIA NGÃ VỀ THÀNH GIA ĐỊNH Vào năm trƣớc tôi theo hầu giá hoàng thái tử, Còn anh năm nay lại theo hầu xa giá nhà vua. Quân dịch ở Diên Khánh, thở than nỗi chia xa (dứt tay áo), Đánh giặc ở Quy Nhơn, may thay lại gặp nhau (liền vạt áo). Đã theo kiếp nam nhi, gặp thời thì nên việc lớn, Tâm chí vẫn mong, giống nhƣ ngày xƣa. Từ đây, ta cùng chỉ về quê hƣơng vui cƣời, Anh đi thuyền, tôi đi ngựa, ca ngâm trở về. Dịch thơ: Năm trƣớc tôi hầu Thái tử ra, Bác nay hầu giá Đức vua qua. Quy Nhơn bình loạn, may mừng gặp, Diên Khánh vây đồn, rủi cách xa. Tâm chí hằng mong nhƣ thuở trƣớc, Mày râu sẵn kiếp dễ xông pha. Cùng cƣời chỉ chốn quê hƣơng đó, Tôi bác ngựa thuyền, cất tiếng ca. 68. 題兵部右參知敏政侯黎光定歸仁俯地圖 制梃人皆撻獨夫 歸仁何事貯狂逋 闍磐石叠山藏疾 施耐彎涵水納汙 盜賊且休誇地險 君王不忍以城屠 他年會議中興策 敵勢分明在畫圖1 1 Nguyên chú: 歸仁城係古闍磐城爲占城故址 Thành Quy Nhơn thuộc thành Đồ Bàn xƣa, là nền cũ của nƣớc Chiêm Thành.

2 Tây Thi: tên một cô gái nƣớc Việt thời Xuân Thu, có sắc đẹp, là ngƣời đƣợc Việt Vƣơng Câu Tiễn tiến công cho Ngô Vƣơng Phù Sai, sau Câu Tiễn diệt nƣớc Ngô.

265

Trữ la thôn phế thƣợng di hƣơng. Bộ phong hƣởng tiệp tài tiêm nhị, Tiếu nguyệt khuynh thành sấn vãn lƣơng. Kiều ức Cô Tô thu tác chiểu, Sấu liên Bành Trạch dạ ngƣng sƣơng. Tạc lai tùng hạ tiêu tiêu vũ, Hồi thủ Ngô cung lệ mãn thƣờng. Dịch nghĩa: CÚC TÂY THI Bên rào đông tha thƣớt vẻ đẹp thanh đạm, Cỏ nanh trắng um tùm trong ngôi làng hoang, mà cúc còn phảng phất chút hƣơng. Nhị hoa nhỏ nhắn rung trong gió, tựa tiếng guốc ai vang, Khoe sắc dƣới trăng trong chiều thu muộn, tựa nụ cƣời làm nghiêng cả thành trì. Ao hồ nhuốm hơi thu, dáng hoa đằm nhƣ cô gái nhớ thành Cô Tô, Trong đêm dày sƣơng, dáng cúc gầy gò tựa thƣơng ngƣời nơi Bành Trạch. Đêm qua dƣới khóm hoa mƣa rơi xào xạc, Ngỡ nhƣ ai ngoảnh đầu nhìn lại cung vua Ngô, lệ rơi ƣớt cả áo. Dịch thơ: Tha thƣớt rào đông, vẻ nhạt vàng, Làng hoang cỏ lấn, vẫn đƣa hƣơng. Nhị rung trƣớc gió, nhƣ ai bƣớc, Cánh nở trong thu, tựa nguyệt hƣờng. Dáng nhớ Cô Tô, ao trƣớng nƣớc, Sầu thƣơng Bành Trạch, tối tràn sƣơng. Đêm qua dƣới khóm mƣa xào xạc, Ngỡ biệt cung Ngô, rỏ lệ thƣơng. 乙卯年 ẤT MÃO NIÊN (1795) 71. 倒掛鳥 莫謂樊籠累德輝 遑知么鳳愛文翬 晴翻花底懸丹爪1 午晒枝頭反翠衣 臥看雲霄修羽翼 夢迴台斗探璿璣 饒他鴝鵒驕言語 剪舌要人粟豆肥 ĐẢO QUẢI ĐIỂU 2 Mạc vị phiền lung luỳ đức huy, Hoàng tri yêu phụng ái văn huy.

Tình phiên hoa để huyền đan trảo, Ngọ sái chi đầu phản thuý y. Ngoạ khán vân tiêu tu vũ dực, Mộng hồi thai đẩu thám tuyền ky. Nhiêu tha cù dục kiêu ngôn ngứ, Tiễn thiệt yêu nhân túc đậu phì. Dịch nghĩa: CHIM ĐẢO QUẢI Chớ bảo rằng trong lồng làm luỳ cái đức sáng, Loài chim phụng vẫn thƣờng thích bộ lông đẹp. Khi trời quang tạnh, bay dƣới hoa, co móng chân đỏ, Buổi trƣa phơi nắng trên cành cây, trở lớp áo xanh. Nằm nhìn trời mây, sửa sang rỉa lại bộ cánh, Mơ về phƣơng bắc, lên thăm những vì sao xanh. 3 Mặc kệ con chim sáo khoe khoang là biết nói, Cắt lƣỡi chỉ vì muốn ngƣời ta cho ăn để béo thôi. Dịch thơ: Chớ bảo cũi lồng mất ánh quang, Đời hay chim phụng thích trang hoàng. Dƣới hoa bay lộn, treo chân đỏ, Trên ngọn, nắng phơi, trở áo choàng. Nằm ngắm trời mây, tung cánh sửa, Mơ về cõi bắc, kiếm sao sang. Mặc tình con sáo khoe hay nói, Cắt lƣỡi vì cần béo tấm thân. 72. 過山魚 4 江湖浪跡逐鯸鮐 雨澤偏多興致催 越嶺爲逃頳尾政 食田既慰逆鱗才 漦遺不産王家孼 骨鯁長爲水國推 似爾山川經苦節 天門何日化龍囘 QUÁ SƠN NGƢ Tục danh cá rô Giang hồ lãng tích trục hầu thai, Vũ trạch thiên đa hứng trí thôi. Việt lĩnh vi đào trinh vĩ chính, Thực điền ký uỵ nghịch lân tài. Ly di bất sản vƣơng gia nghiệt, Cốt ngạnh trƣờng vi thuỵ quốc suy.

3 Tuyền ky: một loại ngọc xanh, ở đây có ý chỉ những ngôi sao, vì “tuyền ky ngọc hoành” ngƣời Trung Quốc chỉ bảy ngôi sao Bắc Đẩu. 4 Nguyên chú: 俗名魚个魚芻 (tục gọi là cá rô.)

1 Bản Trần Kinh Hoà chép nhầm thành chữ “qua” 瓜 2 Đảo quải: tên một loài chim nhỏ, sinh sản ở vùng Quảng Tây, lông xanh mỏ đỏ, rất giống với chim anh vũ (vẹt) nhƣng nhỏ hơn, biết hót, tính thích bay nhào lộn, ngƣời ta thƣờng cho đồ ăn.

266

Mƣa non Vu lã chã ƣớt màn lụa trắng. 4 Quyến luyến tự thƣơng cho ngƣời con gái trẻ lâu ngày không gặp, Mƣa tầm tã nhƣ khóc vì nỗi xa cách lâu ngày. Ngƣời đời sá kể bận việc cúng tế cầu đƣợc khéo tay, 5 Chẳng biết đến ngƣời cháu trời đêm ấy thế nào. Dịch thơ: MƢA ĐÊM MỒNG BẢY THÁNG BẢY Bỏ cả roi trâu, bỏ ngọc thoi, Chàng Ngƣu ả Chức vƣợt sông trời. Xa xa cầu quạ, tơ thiêng dệt, Lất phất mƣa tiên, lụa ƣớt ngời. Quyến luyến thƣơng tình cô gái trẻ, Sụt sùi tựa khóc nỗi chia phôi. Ngƣời đời sá kể, lo cầu khéo, Chẳng biết ai kia dạ rối bời. 丙辰年 BÍNH THÌN NIÊN (1796) 74. 哭鄧九思先生6 子美生平累坎軻 有才無命奈之何 泉臺壇築登文伯 氊座風吹泣酒魔 章疏已酬當世望 詩書曾正後人訛 歸山不盡情中曲 夜夜墳前起怒波 KHỐC ĐẶNG CỬU TƢ TIÊN SINH Tử Mỷ sinh bình luỳ khảm kha, Hữu tài vô mệnh nại chi hà? Tuyền đài đàn trúc đăng văn bá, Chiên toạ phong xuy khấp tửu ma. Chƣơng sớ dĩ thù đƣơng thế vọng, Thi thƣ tằng chính hậu nhân ngoa. Quy sơn bất tận tình trung khúc, Dạ dạ phần tiền khởi nộ ba! Dịch nghĩa: Sinh bình Tử Mỷ nhiều phen trắc trở, 7 Có tài nhƣng không có mệnh, biết làm thế nào?

Tự nhĩ sơn xuyên kinh khổ tiết, Thiên môn hà nhật hoá long hồi. Dịch nghĩa: CÁ RÔ Nơi sóng nƣớc sông hồ đuổi theo cá nƣợc, Thƣờng đƣợc ơn mƣa, nên hứng trí thƣờng thúc giục. Trốn nơi núi Việt, đuôi đỏ vì gánh vác nền chính, 1 Đƣợc ban ruộng làm thực điền để an ủi tài can ngăn thẳng thắn. 2 Nƣớc dãi không sản sinh nỗi nghiệt của nhà vua, Xƣơng cứng thẳng (ngƣời ngay thẳng) dài đƣợc suy tôn nơi thuỵ quốc. Ta cũng nhƣ ngƣơi có nỗi khổ vƣợt sông núi, Nơi cửa trời biết bao giờ mới hoá rồng quay trở về. 73. 七夕雨 放牧投韉擲玉梭 雙雙牛女渡銀河 鵲橋迢遞聯靈匹 巫雨猖狂濕素羅 繾綣自憐嬌少舊 滂沱如泣別離多 無稽人世忙求巧 不道天孫此夜何 THẤT TỊCH VŨ Phóng mục đầu tiên trịch ngọc thoa, Song song ngƣu nữ độ ngân hà. Thƣớc kiều điều đệ liên linh thất, Vu vũ xƣơng cuồng thấp tố la. Khiển quyển tự liên kiều thiếu cựu, Bàng đà nhƣ khấp biệt li đa. Vô kê nhân thế mang cầu xảo, Bất đạo thiên tôn thử dạ hà. Dịch nghĩa: MƢA ĐÊM MỒNG BẢY THÁNG BẢY Bỏ việc chăn trâu, vứt cả thoi ngọc, Ngƣu lang Chức nữ cùng vƣợt sông Ngân. Cầu quạ xa xa nối liền đôi tiên, 3 1 Trinh vĩ: đuôi đỏ, xuất từ thơ Nhữ phần, chƣơng Thiệu Nam, trong Kinh Thi: Phƣơng hầu trinh vĩ, vƣơng thất nhƣ huỵ” “魴 魚頳尾,王室如燬。” (Cá phƣơng đỏ đuôi, vƣơng thất sắp cháy) (Chu Hy chú: đuôi cá phƣơng vốn màu trắng nay chuyển sang đỏ, tức lao khổ lắm vậy). Về sau dùng điển này để nói về ngƣời vì mệt nhọc lao khổ quá độ vì gánh vác nhiều trọng vụ). 2 Nghịch lân: vảy ngƣợc dƣới cổ rồng. Nghịch lân tài: ý nói ngƣời có tài can ngăn thẳng thắn, không sợ chạm vào cái vảy ngƣợc của con rồng. 3 Thƣớc kiều: cầu Ô Thƣớc, hay còn gọi là cầu Quạ, tục truyền đến ngày mồng 7 tháng 7, quạ bắc cầu cho Ngƣu Lang và Chức Nữ gặp nhau, nên ngày này quạ bị hói trắng lông đầu.

4 Vu vũ: mƣa non Vu, chỉ chuyện ái ân, mây mƣa. 5 Cầu xảo: cầu khéo tay, ngày mồng bảy tháng bảy, các cô gái tranh nhau xỏ chỉ để cầu khéo tay. Ngƣời ta đặt mâm trái cây, cùng kim chỉ, cho nhện giăng tơ, nếu nhện giăng thì đƣợc. 6 Nguyên chú: 中興初先生上中與十策詔擢內閣學士與當路 忤退作歸山十詠以詩酒自娛卒墓葬臨平順鎮城海岸 Đầu năm Trung Hƣng, tiên sinh dâng sớ Thập sách (Mƣời kế sách), bỏ chức Nội các Học sĩ và bất chấp lui về, tiên sinh có làm Quy sơn thập vịnh, lấy việc làm thơ uống rƣợu tự vui. Khi ông mất, mộ táng ở bờ biển trƣớc thành trấn Bình Thuận. 7 Tử Mỷ: tên tự của Đỗ Phủ, nhà thơ nổi tiếng thời Đƣờng, hiệu là Thi sử.

267

Dƣới suối vàng, lập đàn, tiên sinh lên hàng văn bá, Trong chỗ tiệc ngồi, gió rít, khiến bọn ma rƣợu khóc than. Chƣơng sớ của tiên sinh đã làm thoả đƣợc sự ngóng trông của ngƣời đời, Thi thƣ của tiên sinh từng đính chính chỗ sai lầm của ngƣời đời sau. Tình ý trong khúc Quy sơn vẫn còn chẳng hết, Đêm đêm, trƣớc mộ phần của tiên sinh, biển nổi sóng cuộn trào! Dịch thơ: Tử Mỹ cuộc đời trắc trở chao! Có tài không mệnh, biết làm sao. Suối vàng, văn bá lên đàn thẳm, Yến tiệc, tửu ma khóc gió rào. Chƣơng sớ hợp lòng dân ngóng đợi, Thi thƣ sửa chỗ lỗi lầm sau. Quy Sơn một khúc tình chƣa dứt, Trƣớc mộ đêm đêm sóng cuộn trào. 77. 湘妃竹 蒼梧無夢續重熙 湘竹琳琅二女悲 有淚自能興感慨 虛心終亦灑相思 斑痕帶雨臨三楚 個字題風奏九嶷 爲語簫人休濫剪 德輝斯引鳳來儀 TƢƠNG PHI TRÖC Thƣơng Ngô vô mộng tục trùng hy, Tƣơng trúc lâm lang nhị nữ bi. Hữu lệ tự năng hƣng cảm khái, Hƣ tâm chung diệc sái tƣơng tƣ. Ban ngân đới vũ lâm Tam Sở, Cá tự đề phong tấu Cửu Nghi. Vị ngữ tiêu nhân hƣu lạm tiễn, Đức huy tƣ dẫn phụng lai nghi. Dịch nghĩa: TRÖC TƢƠNG PHI Thƣơng Ngô không còn mộng nối tiếp đời thịnh trị, Khóm trúc sông Tƣơng nhƣ ngọc lang, đã thấm nỗi sầu của hai nàng. 1 Ngƣời có lệ hẳn có thể dâng nỗi cảm khái, Trúc vô tâm cuối cùng cũng rỏ lệ nhớ thƣơng. 1Hai nàng: tức chỉ Nga Hoàng và Nữ Anh, con vua Nghiêu, vợ của vua Thuấn. Vua Thuấn tuần thú phƣơng Nam. Đến núi Cửu Nghi, đồng Thƣơng Ngô thì mất. Hai ngƣời vợ vua đi tìm, khóc nơi sông Tƣơng, nƣớc mắt vấy vào trúc nơi đó thành đốm. Sau cùng nhả xuống sông Tƣơng tự trầm, hoá thành thần nữ sông Tƣơng, đêm đêm thƣờng hiện lên gảy đàn sắt.

Vết lệ theo mƣa bay vào nƣớc Sở, Từng chữ bay theo gió đến tâu ở núi Cửu Nghi. Nhắn với ngƣời làm sáo, xin chớ cắt trúc này, Đức độ sáng chói thì dẫn đƣợc phụng hoàng đến thôi. Dịch thơ: Thƣơng Ngô tàn mộng nối đời sau, Trúc bến Tƣơng theo Nhị Nữ sầu. Có lệ đã đành dâng cảm khái, Vô tâm mà cũng rỏ niềm đau. Cửu Nghi, gió tấu bao hàng chữ, Tam Sở, mƣa đƣa nhƣng vết rầu. Tạo sáo ai ngƣời, xin chớ cắt, Lòng thành trổi tiếng, phụng về mau. 78. 閨情 知君志氣欲龍攀 爭奈沙場倍險難 羽檄勤邀詢驛信 鏡臺嬾對整花顏 嚬將秋柳眉同蹙 啼向春篁淚共斑 暗祝軍前無血刃 王師及早定西山 KHUÊ TÌNH Tri quân chí khí dục long phan, Tranh nại sa trƣờng bội hiểm nan. Vũ hịch cần yêu tuân dịch tín, Kính đài lãn đối chỉnh hoa nhan. Tần tƣơng thu liễu my đồng xúc, Đề hƣớng xuân hoàng lệ cộng ban. Ám chúc quân tiền vô huyết nhận, Vƣơng sƣ cập tảo định Tây sơn. Dịch nghĩa: KHUÊ TÌNH Biết chí khí của chàng muốn tìm kiếm công danh, 2 Nên chẳng ngại ra sa trƣờng nguy hiểm bội lần. Khiến thiếp thƣờng biên thƣ hỏi thăm tin tức chiến trận, Mà biếng chuyện soi gƣơng trang điểm dung nhan. Nét mày thƣờng cau nhƣ hình chiếc lá liễu mùa thu, Vết lệ khóc thấm mặt tựa ngấn trúc đốm vàng ngày xuân. 2 Tìm công danh dịch từ Long phan: xuất từ câu “phan long lân, phụ phụng dực” (vin vảy rồng, nhờ cánh phụng) trong sách Pháp ngôn của Dƣơng Hùng đời Hán. Sau chuyển thành thành ngữ “phụng phụ long phan” để chỉ những ngƣời nƣơng cậy vào vua chúa và ngƣời quyền quý để lập công danh.

268

Chốn Bao Trung trở kiếm, làm mất vƣợn Sở (vạ lây nƣớc Hàn). 3 Ba quân rong ruổi đều theo sách lƣợc dƣới trƣớng của ông, Việc thành bại của Bái Công, có thể dự tính trƣớc bàn tiệc. Ghét nghe tiếng chim trĩ ác kêu ở Tây Lạc, Nên theo chân Tùng Tử dạo chơi ngoài cõi đời. 4 Dịch thơ: Sáu nƣớc gò hoang, kẻ sĩ sầu, Ngàn vàng coi nhẹ, trọng thù sâu. Chuỳ khua Bác Lãng, hƣơu Tần mất, Kiếm trở Bao Trung, vƣợn Sở đâu. Binh lính ruổi rong, mƣu dƣới trƣớng, Lão ông thành bại, chƣớc trong đầu. Chán nghe trĩ ác ồn Tây Lạc, Tùng Tử theo ngƣời học phép tu. 110. 其二 痛癢并吞建亥年 自投章甫事龍泉 群雄甲馬喧椎下 六國兒孫泣箸前 晚矣假王嗟盡鳥 鄙哉丞相苦汙田 圮書未必全三略 黃老心傳屬後篇 KỲ NHỊ Thống dƣỡng tính thôn kiến hợi niên, Tự đầu chƣơng phủ sự Long Tuyền. Quần hùng giáp mã huyên truỳ hạ, Lục quốc nhi tôn khấp trợ tiền. Vãn hĩ giả vƣơng ta tận điểu, Bỉ tai thừa tƣớng khổ ô điền. Bĩ thƣ vị tất toàn tam lƣợc, Hoàng Lão tâm truyền chúc hậu thiên. Dịch nghĩa: BÀI 2 Đau đớn khi các nƣớc bị thôn tính,

Thầm chúc trƣớc đoàn quân chàng đừng bị thƣơng tích, Quân nhà vua sẽ sớm định đƣợc Tây Sơn. Dịch thơ: Biết chàng chí khí, kiếm công danh, Lặn lội sa trƣờng, chẳng kể nan, Thƣ viết thƣờng thăm tin chiến trận, Gƣơng soi biếng nhác vẻ hoa nhan. Mày cau dƣờng liễu pha màu thắm, Ngấn lệ nhƣ tre đốm sắc vàng. Thầm chúc trận tiền, không vết tích, Quân sƣ sớm định giặc Tây Sơn. 戊午年 MẬU NGỌ NIÊN (1798) 109. 張良 六國邱墟一士憂 千金輕爲重韓仇 錐揮博浪無秦鹿 劍返褒中失楚猴 群力馳驅帷下策 廼翁成敗箸前籌 惡聞惡雉鳴西雒 松子追隨世外遊 TRƢƠNG LƢƠNG Lục quốc khâu khƣ nhất sĩ ƣu, Thiên kim khinh vị trọng Hàn cừu. Chuỳ huy Bác Lãng vô Tần lộc, Kiếm phản Bao Trung thất Sở hầu. Quần lực trì khu duy hạ sách, Nãi ông thành bại trợ tiền trù. Ô văn ác trĩ minh Tây Lạc, Tùng Tử truy tuỳ thế ngoại du. Dịch nghĩa: TRƢƠNG LƢƠNG Sáu nƣớc biến thành gò hoang, có một kẻ sĩ lo lắng, Ngàn vàng coi khinh, chỉ xem trọng trả mối thù của nƣớc Hàn. 1 Ở Bác Lãng vung chuỳ, làm mất hƣơu Tần (giang sơn nhà Tần), 2

1 Mối thù nƣớc Hàn: Trƣơng Lƣơng vốn ngƣời nƣớc Hàn, nƣớc Hàn bị Tần diệt, Trƣơng Lƣơng quyết ý trả thù đền nợ nƣớc, về sau theo Hán Lƣu Bang, làm quân sƣ cho Lƣu Bang diệt Tần. 2 Bác Lãng: Nơi Trƣơng Lƣơng cùng ngƣời lực sĩ cầm chuỳ nặng trăm cân thích khách Tần Thuỵ Hoàng nhƣng đánh nhầm vào xe tuỳ tùng, việc không thành Trƣơng Lƣơng phải bỏ trốn. Sau theo Hán Cao Tổ diệt Tần. Tần lộc: hƣơu Tần, chỉ thiên hạ nhà Tần. Theo lời chú của Trình Đại Xƣơng trong sách Tục diễn phồn lộ thì hƣơu tƣợng trƣng cho thiên hạ, mà kẻ tranh bá đồ vƣơng tranh nhau săn đuổi. Chúng tôi xét thấy, khi Tần Nhị Thế lên ngôi, Triệu Cao chuyên quyền, bèn cho ngƣời dắt con hƣơu đến trƣớc nhà vua nói là con ngựa, có ngƣời sợ Cao thì nói hƣơu, có ngƣời thì nói ngựa. Cao để ý giết hết những ngƣời

nói ngựa đi. Thiên hạ nhà Tần từ đó năm trong tay của Triệu Cao, nên mới có chuyện hƣơu Tần là vậy. 3 Bao Trung: vùng đất Bao Trung, nơi Trƣơng Lƣơng tiễn chân Bái Công vào đất Ba Thục, sau quay về nƣớc Hàn, nhƣng vì Lƣơng từng theo Bái Công nên Hạng Vũ không muốn dùng Hàn vƣơng Thành làm vƣơng mà cho làm hầu, rồi sau giết đi, nƣớc Hàn bị diệt hẳn. Sở hầu: vƣợn Sở. Xuất từ câu “Sở quốc vong viên, hoạ diên lâm mộc” (nƣớc Sở mất con vƣợn, mà hoạ lây đến cả rừng), ý nói vì muốn tìm một con vƣợn mà chặt hết cả rừng cây, câu này có ý nói bị vạ lây. 4 Tùng Tử: tức Xích Tùng Tử. Tƣơng truyền sau khi Lƣu Bang lên ngôi nhà Hán, Trƣơng Lƣơng từ quan thoái ẩn, đi tu tiên với Xích Tùng Tử. Nhƣng Sử ký chép, ông chết, ngƣời ta đem chôn cùng viên đá vàng (Hoàng Thạch công ngƣời đã đƣa quyển sách cho ông) mà ông gặp đƣợc ở bờ bắc sông Tế.

269

Tự mình đầu quân làm đại phu thờ Long Tuyền. 1 Binh ngựa quần hùng xôn xao dƣới mũi chuỳ. Con cháu sáu nƣớc khóc than trƣớc bàn ăn. Muộn rồi, giả vƣơng than chim hết, 2 Kém thay, thừa tƣớng khổ ở ruộng lầy. 3 Sách cũ chƣa hẳn vẹn toàn ba mƣu lƣợc, Tâm truyền của Hoàng Lão còn nằm ở chƣơng sau. 4 Dịch thơ: Đau đớn nƣớc Hàn bị diệt vong, Đem thân theo đến Kiếm thành Phong. Con em sáu nƣớc, đau lòng khóc, Binh mã quần hùng, hoảng dạ trông. Thừa tƣớng, tệ thay, cam ruộng xấu, Giả vƣơng, muộn lắm, oán chim cùng. Sách xƣa chƣa hẳn ba thiên đủ, Hoàng Lão tâm truyền hẳn chửa xong. 111. 韓信 罷釣英雄尚擇君 豈容坐視海翻塵 劔揮秦楚風腥血 釣索侯王印繫綸 推食只知龍可擾 捫心無奈雉難馴 教猱莫咎刀錐相 逞古功高幾老臣 HÀN TÍN Bãi điếu anh hùng thƣợng trạch quân, Khởi dung toạ thị hải phiên trần. Kiếm huy Tần Sở phong tinh huyết, Điếu sách hầu vƣơng ấn hệ luân. Thôi thực chỉ tri long khả nhiễu, 1 Long Tuyền: tên thanh gƣơm báu, còn gọi là Long Uyên. Sách Tấn thƣ chép: Trƣơng Hoa xem thiên văn thấy có khí tím sáng chói giữa khoảng sao Đẩu, bèn hỏi Lôi Hoán, Hoán bảo đó là khí gƣơm báu bốc lên, bèn cho ngƣời đi tìm. Tìm đến huyện Phong, đào ở nơi nhà ngục đƣợc hai thanh kiếm là Long Tuyền và Thái A. Ở đây chỉ Hán Cao Tổ Lƣu Bang, vì Lƣu Bang ngƣời ấp Phong, lấy thiên hạ bằng ba thƣớc kiếm. Kiếm Long Tuyền cũng ở đất Phong, nên mƣợn chỉ. 2 Câu này xuất từ ý câu “điểu tận cung tàng” (hết chim giấu tên), chỉ sự bạc bẽo. Câu xuất từ ý câu nói của Hàn Tín khi làm giả vƣơng ở Tề, bị Hán Cao Tổ theo kế Trần Bình, hội quân ở đầm Vân Mộng, Tín đến, bị bắt, từng nói: “quả nhƣợc nhân ngôn: „giảo thố tử, lƣơng cẩu phanh, cao điểu tận, lƣơng cung tàng, địch quốc phá, mƣu thần vong‟, ngã cố đƣơng phanh” (quả nhƣ lời ngƣời ta nói: thỏ ranh chết, chó giỏi bị giết, chim trên cao hết, cất cung tên, nƣớc địch phá xong, giết mƣu thần, ta vì vậy đáng bị giết). Sau đƣợc tha, cho làm Hoài Âm hầu, rồi cùng Trần Hy làm phản không thành, bị Lữ Hậu theo kế Tiêu Hà bắt giết, hối hận vì không nghe lời mƣu sĩ Khoái Thông ngƣời Tề. 3 Câu này hẳn nói đến chuyện Trƣơng Lƣơng không chịu nhận ba vạn hộ ở nƣớc Tề, mà chỉ xin đƣợc phong hầu ở đất Lƣu. 4 Hoàng lão: tức Hoàng Thạch Công, ngƣời đã bảo Trƣơng Lƣơng nhặt giày mang cho ông và mấy lần hẹn gặp vào sáng sớm, rồi đƣa sách Thái công binh pháp cho Trƣơng Lƣơng học.

Môn tâm vô nại trĩ nan tuần. Giao nhu mạc cữu đao chuỳ tƣớng, Sính cổ công cao kỵ lão thần. Dịch nghĩa: HÀN TÍN Anh hùng khi không câu nữa, vẫn có thể chọn đƣợc minh quân, Há cứ ngồi bó gối nhìn bốn biển nổi gió bụi? Kiếm vung đất Tần, đất Sở, hơi máu tanh trong gió, Tìm đƣợc chức vƣơng hầu thì bó buộc trong ấn tín. Đƣa cơm chỉ biết, rồng có thể quấy, Dọ lòng nào đoán đƣợc, loài trĩ khó dạy. 5 Nếu nhƣ đừng cãi lời ngƣời tƣớng số, Công lớn xƣa nay đƣợc mấy ngƣời. Dịch thơ: Bỏ câu, tráng sĩ chọn minh quân, Há cứ ngồi xem biển sóng cồn. Tần, Sở kiếm vung, hơi nhuốm máu, Vƣơng hầu câu đƣợc, ấn ràng thân. Kiếm cơm chỉ biết, rồng còn chọc, Dọ ý ai hay, trĩ khó thuần. Nếu chẳng trái lời ngƣời tƣớng thuật, Ngƣời xƣa công trạng mấy ai hơn? 112. 其二 中原鹿走四郊塵 謀食王孫尚寄身 杖劍栖皇干漢楚 登壇激烈定齊秦 泰山未見盟如礪 狡兔空成嘆若人 名遂使能閑再釣 五湖煙景勝淮津 KỲ NHỊ Trung Nguyên lộc tẩu tứ giao trần, Mƣu thực vƣơng tôn thƣợng ký thân. Trƣợng kiếm thê hoàng can Hán Sở, Đăng đàn kích liệt định Tề Tần. Thái Sơn vị kiến minh nhƣ lệ, Giảo thố không thành thán nhƣợc nhân. Danh toại sử năng nhàn tái điếu, Ngũ Hồ yên cảnh thắng Hoài Tân. Dịch nghĩa: BÀI 2, Thiên hạ Trung Nguyên nhƣ hƣơu chạy, bốn bề nổi bụi, Chàng công tử chỉ biết lo cầu cái ăn còn gửi thân chƣa lộ. 5 Hai câu này ý nói Hàn Tín có thể qua mặt Hán Cao Tổ nhƣng không qua mặt đƣợc Lữ Hậu.

270

Triệu Phi Yến ẻo lả vào trong màn. 4 Đƣờng hoang gai góc, sau mƣa trơ trọi, Thâm cung nƣớc bẩn đọng, lâu ngày gió thổi tanh tao. Uổng công đêm nào cũng xông hƣơng cầu đảo Thái Ất (ở núi Chung Nam) Chỉ đƣợc linh nghiệm là những cô gái tranh nhau ở gác Chiêu Dƣơng. Dịch thơ: Một giấc say sƣa, giữa hậu đình, Hoa vàng ngọc bội, vọng hƣ thinh. Ban Cơ cố chối cùng xa giá, Triệu Yến đua chen đến nội bình. Mƣa dội đƣờng hoang, gai góc lẫn, Gió đƣa cung cấm, nƣớc hồ tanh. Nhọc cho mỗi tối thiêu hƣơng nguyện, Chỉ đƣợc bao nàng tranh sủng quanh. 114. 其二 王歇金陵起晉家 雲迴日月擁羊車 石頭降主來丹殿 玉臂佳人舞絳紗 輕重君恩觀竹葉 淡濃春思卜鹽花 三楊未起樗蒲散 滿眼胡塵壓翠華 KỲ NHỊ Vƣơng yết Kim Lăng khởi Tấn gia, Vân hồi nhật nguyệt ủng dƣơng xa. Thạch Đầu hàng chủ lai đan điện, Ngọc tý giai nhân vũ giáng sa. Khinh trọng quân ân quan trúc diệp, Đạm nùng xuân tứ bốc diêm hoa. Tam Dƣơng vị khởi xƣ bồ tán, Mãn nhãn Hồ trần áp thuý hoa. Dịch nghĩa: BÀI 2 Vua dừng chân ở Kim Lăng, khởi nghiệp nhà Tấn, Mây che mờ nhật nguyệt, bao phủ cả xe dê. 5 Chúa đầu hàng đến chầu điện nhà vua, 6 Ngƣời đẹp tay trắng nhƣ ngọc, múa lụa đỏ.

Khi chống kiếm bôn ba, làm nên cuộc Hán, Sở, Lúc lên đàn tƣớng thật oai phong, diệt nƣớc Tề, Tần. Ngôi vững nhƣ Thái Sơn chƣa thấy, mà lời hội thề đã tiêu mòn, Thỏ khôn giết đƣợc rồi, lại thở than nhƣ ngƣời ta từng nói. 1 Nếu khi danh toại mà có thể quay về nhàn câu nhƣ trƣớc, Cảnh vật ở Ngũ hồ hơn cả cảnh bến Hoài Tân. Dịch thơ: Trung Nguyên hƣơu ruổi, bụi tung tràn, Tráng sĩ tìm cơm hãy gửi thân. Múa kiếm xông pha, chia Hán, Sở, Lên đàn lẫm liệt, định Tề, Tần. Thái Sơn chƣa vững, sai thề hẹn, Thỏ chết thôi đành, oán thế nhân. Danh toại lui về câu chốn cũ, Ngũ Hồ cảnh sắc đẹp hơn phần. 113. 咏史 妖矯苖2孫醉後庭 金華玉珮響瑓玎 班姬懇欵辤同輦 趙燕參差入內屏 荒逕鬼薪臨雨秃 深宮禍水久風腥 徒勞太乙燃藜夜 爭奈昭陽粉黛靈 VỊNH SỬ Yêu kiểu miêu tôn tuý hậu đình, Kim hoa ngọc bội hƣởng đông đinh. Ban Cơ khẩn khoản từ đồng liễn, Triệu Yến sâm si nhập nội bình. Hoang kính quỵ tân lâm vũ ngốc, Thâm cung hoạ thuỵ cửu phong tinh. Đồ lao Thái Ất nhiên lê dạ, Tranh nại Chiêu Dƣơng phấn đại linh. Dịch nghĩa: VỊNH SỬ Vƣơng tôn uống say nằm nhƣ mạ ngã ở hậu đình, Những cô gái đeo ngọc bội, hoa vàng múa hát, tiếng vọng leng keng. Ban Cơ khẩn nài, từ chối ngồi cùng xe, 3

1 Hai câu này nhắc chuyện Hàn Tín khi bị bắt từng than van. Xem chú thích ở bài trên. 2 Nguyên văn khắc chữ này trên bộ thảo, dƣới nhƣ chữ điện viết tắt, tự dạng giống chữ miêu 苖 nhƣng chúng tôi chƣa rõ là chữ gì, tạm để chữ 苖, chờ khảo lại. 3 Ban Cơ: tức Ban Tiệp dƣ, cung nữ đời Hán, có tài thơ ca. Sau khi bị Hán Thành Đế lãng quên, nàng lui về ở Đông cung, làm thơ đề vào quạt, tự ngụ chiếc quạt trong mùa thu không ai dùng

đến nhƣ mình bị thất sủng. Phiếm chỉ ngƣời đẹp bị thất sủng trong cung. 4 Triệu Yến: tức Triệu Phi Yến. Ở đây, phiếm chỉ ngƣời đẹp trong cung. 5 Dƣơng xa: xe do dê kéo. Sách Tấn thƣ chép chuyện Tấn Võ Đế có nhiều cung tần, nên phải dùng chiếc xe có dê kéo để đến các hậu cung. Xe dê đến phòng nào, vua ngủ lại phòng đó. Vì thế các cung phi tranh nhau lấy lá, tẩm muối, rắc trƣớc phòng để nhử dê đến phòng của mình. Ở đây ý chỉ nhà vua. 6 Câu này chỉ việc Tôn Hạo chúa nƣớc Ngô ra hàng nƣớc Tấn ở thành Thạch Đầu.

271

Tích hối đoan niên thiếu, Công quang thuộc lão thành. Trƣờng An trần mãn nhãn,1 Bất tổn bản lai minh. Dịch nghĩa: KÍNH MẮT Đƣợc tạo ra từ kết tinh của nƣớc, Nhƣ bậc thƣợng khanh là con mắt của các nƣớc. Cùng nhìn ánh trăng tròn, Trong veo nhƣ một đôi ngọc sáng. Trẻ nhỏ đeo vào thì tối mờ, Tuổi già đeo nó lại sáng tỏ ra. Dẫu bụi kinh thành tràn ngập, Cũng chẳng hại đến tính sáng của ngƣơi. 117. 耳爬 側聽世糊塗 憑君去舊汚 心樞能自潔 身牖不容蕪 看破人頭腦 開通命道途 何勞流洗耳 巢父費工夫 NHĨ BẢ Trắc thính thế hồ đồ, Bằng quân khử cựu ô. Tâm xu năng tự khiết, Thân dũ bất dung vu. Khán phá nhân đầu não, Khai thông mệnh đạo đồ. Hà lao lƣu tẩy nhĩ, Sào Phủ phí công phu. Dịch nghĩa: CÂY RÁY TAI Nghiêng tai nghe, không rõ sự đời, Nhờ ngƣơi (móc tai) mà ta bỏ đƣợc những dơ dáy cũ. Then lòng, nhờ đó mà tự trong sạch, Tấm thân, nhờ đó cũng không chứa đều dơ. Thấy toạc đƣợc suy nghĩ của ngƣời ta, Mở thông con đƣờng sự sống. Nhọc gì xuống dòng sông rửa tai, Mà Sào Phủ cũng chẳng uổng công đƣa trâu đi nơi khác uống nƣớc. 2

Ơn vua có khi trọng có khi khinh, thƣờng xem lá trúc, Tình xuân khi nhạt khi nồng, bói hoa tuyết. Tam Dƣơng chƣa nổi dậy, đã tan rã nhƣ cây xƣ, cỏ bồ. Loạn giặc Hồ tràn khắp, áp chế xa giá nhà vua. Dịch thơ: Chọn đất Kim Lăng dựng Tấn triều, Xe dê, nhật nguyệt, bóng mây bao. Chúa hàng xin đến chầu cung điện, Ngƣời ngọc đƣa sang vũ khúc đào. Tình ý nhạt nồng, xem cánh tuyết, Ơn vua đƣợc mất, ngắm tre xao. Tam Dƣơng chƣa nổi, đà tan tác, Khắp chốn bụi Hồ, ngập giá cao. 己未年 KỶ MÙI NIÊN (1799) 115. 琥珀麟扇墜 世家秦大夫 骨相周公子 遺愛在人心 仁風乘濟美 HỔ PHÁCH LÂN PHIẾN TRUỲ Thế gia Tần đại phu, Cốt tƣớng Chu công tử. Di ái tại nhân tâm, Nhân phong thừa tế mỷ. Dịch nghĩa: TUA QUẠT BẰNG HỔ PHÁCH Gia thế thuộc dòng dõi đại phu nƣớc Tần, Cốt cách thuộc dòng dõi Chu Công. Đƣợc yêu thích bởi ở lòng ngƣời, Làn gió nhân nối vẻ tốt đẹp cứu dân. 116. 目鏡 秀毓水之精 諸邦目上卿 團圓月對望 皓潔玉雙清 蹟晦端年少 功光屬老成 長安塵滿眼 不損本來明 MỤC KÍNH Tú dục thuỵ chi tinh, Chƣ bang mục thƣợng khanh. Đoàn viên nguyệt đối vọng, Hạo khiết ngọc song thanh.

1 Trƣờng An: ở đây mƣợn dùng chỉ kinh đô. 2 Sào Phủ: tên ngƣời ẩn sĩ thời Đƣờng Nghiêu. Vua Nghiêu nhƣờng ngôi cho Hứa Do, Hứa Do không nhận, quy ẩn ở Ki Sơn. Vua Nghiêu lại cho ngƣời đến mời, Hứa Do bèn xuống dòng sông Dĩnh rửa tai, vì cho việc chính trị làm bẩn tai mình. Sào Phủ bấy giờ đang cho trâu uống nƣớc bên sông, thấy vậy

272

118. 青蝦 占斷江湖起大家 才高躍浪羨青蝦 恩加內相清綃印 俸食長鬚綠稻花 鉗刺薔薇兵可衛 甲裝琬琰富堪誇 追思赤壁遊蘓子 舊侶當時興轉賒 THANH HÀ Chiếm đoạn giang hồ khởi đại gia, Tài cao dƣợc lãng tiện thanh hà. Ân gia nội tƣớng thanh tiêu ấn, Bổng thực trƣờng tu lục đạo hoa. Kiềm thích tƣờng vi binh khả vệ, Giáp trang uyển diễm phú kham khoa. Truy tƣ Xích Bích du Tô Tử, Cựu lữ đƣơng thời hứng chuyển xa. Dịch nghĩa: TÔM CÀNG XANH Chiếm lấy một khúc sông hồ, làm bậc đại gia, Tài cao vƣợt sóng, ngƣỡng mộ thay tôm càng xanh. Đƣợc ban ơn, dáng mạo nhƣ dải lụa sống trong suốt, Đƣợc bổng cho, râu dài nhƣ lá lúa xanh. Hai càng trông nhƣ gai hồng, có thể phòng vệ, Vỏ mặc giáp nhƣ ngọc, thật là kẻ giàu có. Nhớ lại chuyện xƣa Tô Đông Pha đi chơi nơi Xích Bích, 1 Những ngƣời bạn cũ bấy giờ, hứng đã phai. 庚申年 CANH THÂN NIÊN (1800) 119. 送兵部叅知靜遠侯吳汝山奉使序引 葢以丙午年,西山阮光平,因安南國,君 弱 臣 強, 鄭氏 專政 ,人心 思 我朝 先世 功 德,遂假竊御名兵清君側掩襲昇隆城,黎 昭統出奔大清。戊午年,靜遠侯奉往廣東 間行候問昭統消息,起居船到江門港,適 值 白 蓮教 煽亂 于四 川,道 路 梗塞 以事 返 命。己未年,王師進軍歸仁城降之後,颶 風暴發中,水官兵漂到廣東瓊州陵水縣, 地方官給賜衣糧,繕修船艘引送回國。今 年復命吳侯往粵爲謝恩使兼請入貢事例,

時御兵自嘉定城進解歸仁之圍,留余守護 糧儲于平和鎮海澳,接見使船自嘉定來, 示諸友送詩焂掛使旛,言詣行在所拜命, 前往余因和韻一首,別韻二首用表餞情。 若 云 :君 子送 人以 言,則 無 一言 而可 是 序。 愧無寸善壓群豪 客地虛沽眾譽騷 錢穀我猶司陣後 旌旄君正逐風高 幹旋鳶趾連鰲極 沐浴凰池展鳳毛 此去殷勤收底績 主憂臣莫奈頻勞 TỐNG BINH BỘ THAM TRI TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN PHỤNG SỨ TỰ DẪN Cái dĩ Bính Ngọ niên Tây Sơn Nguyễn Quang Bình nhân An Nam quốc quân nhƣợc thần cƣỡng, Trịnh thị chuyên chính, nhân tâm tƣ ngã triều tiên thế công đức, toại giả thiết Ngự danh binh thanh quântrắc yểm tập Thăng Long thành. Lê Chiêu Thống xuất bôn Đại Thanh. Mậu Ngọ niên, Tĩnh Viễn hầu phụng vãng Quảng Đông, gian hành hậu vấn Chiêu Thống tiêu tức, khởi cƣ thuyền đáo Giang Môn cảng thích trị Bạch Liên giáo phiến loạn vu Tứ Xuyên, đạo lộ ngạnh tắc dĩ sự phản mệnh. Kỵ Mùi niên vƣơng sƣ tiến quân Quy Nhơn thành hàng chi hậu, cụ phong bạo phát trung thuỵ quan binh phiêu đáo Quảng Đông Quỳnh Châu Lăng Thuỵ huyện, địa phƣơng quan cấp tứ y lƣơng thiện tu thuyền sƣu dẫn tống hồi quốc. Kim niên phục mệnh, Ngô hầu vãng Việt vị tạ ân sứ kiêm thỉnh nhập cống sự lệ, thời ngự binh tự Gia Định thành tiến giải Quy Nhơn chi vi, lƣu dƣ thủ hộ lƣơng trừ vu Bình Hoà trấn hải úc, tiếp kiến sứ thuyền tự Gia Định lai, thị chƣ hữu tống thi thúc quải sứ phan, ngôn nghệ hành tại sở bái mệnh, tiền vãng dƣ nhân hoạ vận nhất thủ biệt vận nhị thủ, dụng biểu tiễn tình. Nhƣợc vân: quân tử tống nhân dĩ ngôn, tắc vô nhất ngôn nhi khả thị tự. Quý vô thốn thiện áp quần hào, Khách địa hƣ cô chúng dự tao. Tiền cốc ngã do tƣ trận hậu, Tinh mao quân chính trục phong cao. Cán tuyền diên chỉ liên ngao cực, Mộc dục hoàng trì triển phụng mao. Thử khứ ân cần thu để tích, Chủ ƣu thần mạc nại tần lao. Dịch nghĩa:

hỏi duyên cớ, Hứa Do kể lại, Sào Phủ vội dẫn trâu đi uống nƣớc ở dòng trên vì sợ bẩn miệng trâu. 1 Xích Bích, Tô Tử: nhắc chuyện Tô Đông Pha dạo chơi vùng Xích Bích, có làm bài phú Xích Bích nổi tiếng.

273

TIỄN THAM TRI BINH BỘ TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN ĐI SỨ, TỰA DẪN Vào năm Bính Ngọ (1786), Tây Sơn Nguyễn Quang Bình, nhân nƣớc An Nam vua yếu thần mạnh, học Trịnh chuyên quyền, lòng ngƣời nhớ đến công đức những đời vua trƣớc triều ta, bèn trộm lấy danh nghĩa nhà vua dấy binh ra thành Thăng Long đánh dẹp kẻ loạn thần, vua Lê Chiêu Thống phải bỏ sang nƣớc Đại Thanh. Năm Mậu Ngọ (1798), Tĩnh Viễn hầu phụng mệnh sang Quảng Đông hỏi thăm tin tức của vua Lê Chiêu Thống, ban đầu đi thuyền đến cảng Giang Môn, vì gặp quân Bạch Liên giáo nổi loạn ở Tứ Xuyên, đƣờng xá tắc nghẽn, nên quay trở về. Năm Kỵ Mùi (1799), sau khi quân sƣ tiến quân, thành Quy Nhơn đầu hàng, trong cơn gió bão lớn, quan quân đƣờng thuỵ bị trôi giạt đến huyện Lăng Thuỵ, Quỳnh Châu, Quảng Đông, đƣợc quan địa phƣơng cấp cho áo quần lƣơng thực, sửa chữa tàu thuyền dẫn đƣờng về nƣớc. Năm nay, Ngô hầu lại phụng mệnh sang sứ đất Lƣỡng Quảng để tạ ơn và bàn việc nhập cống, bấy giờ, đức vua dẫn quân từ thành Gia Định tiến ra giải vây thành Quy Nhơn, lƣu tôi giữ việc quân lƣơng ở vụng biển trấn Bình Hoà, đón gặp sứ thuyền từ Gia Định đến, bèn bảo các bạn tặng thơ để treo lên cờ sứ, bèn nói đến nơi hành tại để bái mệnh, trƣớc đây tôi nhân có một bài hoạ vần, hai bài biệt vận để bày tỏ tình cảm đƣa tiễn. Ngƣời xƣa nói: quân tử đƣa tiễn nhau bằng lời, thì tôi không thể không nói một lời mà làm bài tựa này. Thẹn không có tấc lƣỡi giỏi để trấn áp quần hùng hào kiệt, 1 Nơi đất khách khiêm nhƣờng, khiến mọi ngƣời khen ngợi. Chuyện lƣơng tiền, tôi còn phải lo mọi ngƣời sau trận chiến, Việc đi sứ, anh đang đi trong gió buồm giƣơng cao. Xoay tít chân ƣng, nối liền cõi ngao, Tắm gội ao hoàng, giang mở cánh phụng. Từ đây đi hãy cố gắng thu đƣợc kết quả tốt, Chúa công còn đang lo lắng, thì bầy tôi cũng chẳng nề hà chuyện luôn mệt nhọc. Dịch thơ: Thẹn không tấc lƣỡi áp quần hào, Đất khách khiêm nhƣờng, đƣợc tiếng tao. Tiền gạo, tôi còn lo trận tuyến, Cờ mao, anh lại nắm giƣơng đầu. Ao hoàng tắm gội, thêm lông phụng,

Móng vuốt xoay vòng, nối cõi ngao. Cố gắng từ đây thu thắng lợi, Chúa buồn, thần cũng sá gian lao. 120. 其二 英雄氣概凜風雷 不辱終歸磊落才 莫使皇風孤化外 早成王事報春魁 謝恩旗作稱藩引 納欵書從辨僞裁 休向沙塲拘別句 十秊前已築詩臺 KỲ NHỊ Anh hùng khí khái lẫm phong lôi, Bất nhục chung quy lỗi lạc tài. Mạc sử hoàng phong cô hoá ngoại, Tảo thành vƣơng sự báo xuân khôi. Tạ ân kỳ tác xƣng phiên dẫn, Nạp khoản thƣ tòng biện nguỳ tài. Hƣu hƣớng sa trƣờng câu biệt cú, Thập niên tiền dĩ trúc thi đài. Dịch nghĩa: BÀI 2 Khí khái bậc anh hùng lẫm liệt tựa gió sấm, Không nhục mạng đi sứ ấy cũng đều là do tài năng lỗi lạc. Đừng để phong tục của vua ta trở nên lẻ loi bên ngoài, Mà sớm làm xong việc của vua giao để báo đáp ơn xuân. Vì tạ ơn, cờ làm bài dẫn xƣng thần, Để nạp khoản, thƣ nêu những điều phải trái. Xin chớ nệ chấp lời li biệt của tôi nơi sa trƣờng, Mƣời năm trƣớc biết anh là ngƣời lập nên thi đàn. Dịch thơ: Khí khái anh hùng tựa sấm mây, Lo tròn sứ mạng bởi do tài. Hoàng phong đừng để bên trời lẻ, Vƣơng sự mau xong, đáp ý dày. Nạp khoản, thƣ nêu điều phải quấy, Tạ ơn, cờ viết chuyện đƣờng ngay. Sa trƣờng chớ nệ câu li biệt, Kỷ trƣớc thi đàn, đã dựng gây. 121. 其三 慕義酬恩出聖猷 彌縫功就屬吾儒

1 Câu này xuất từ chuyện Khổng Minh sang Đông Ngô dùng ba tấc lƣỡi thuyết phục nhân sĩ Đông Ngô hợp sức đánh Tào.

274

山浮瑞氣迎旄節 海奠安瀾護畫艫 越地新霑天雨露 南藩增廣帝輿圖 歸來拜揖分茅命 折取梅枝掛寚1符2 KỲ TAM Mộ nghĩa thù ân xuất thánh du, Di phùng công tựu thuộc ngô nho. Sơn phù thuỳ khí nghênh mao tiết, Hải điện an lan hộ hoạ lô. Việt địa tân triêm thiên vũ lộ, Nam phiên tăng quảng đế dƣ đồ. Quy lai bái ấp phân mao mệnh, Chiết thủ mai chi quải bảo phù. Dịch nghĩa: BÀI 3 Vì mến nghĩa đền ơn, xuất sứ cõi đất vua, Công việc bổ cứu quả thuộc về bọn nhà nho ta. Núi tràn hơi mây tốt đón nghênh đoàn sứ, Biển lặn sóng yên bảo vệ thuyền sứ. Cõi Việt vừa đƣợc gội ơn mƣa móc của trời, Vùng phía Nam mở rộng thêm bờ cõi của vua. Ngày trở về bái lạy nhận ơn ban thƣởng, Bẻ một cành mai để treo làm ấn tín. Dịch thơ: Xuất sứ, đền ơn mến nghĩa mà. Cái công bổ cứu, thuộc Nho gia. Núi tràn hơi tốt, nghênh cờ tiết, Biển lặng sóng hiền, giúp sứ hoa. Cõi Việt vừa nhuần mƣa móc mới, Vùng Nam thêm rộng cõi sơn hà. Ngày về bái tạ ơn ban thƣởng, Bẻ một cành mai treo ấn hoa. 122. 秋日虬蒙山屯書事 說到沙場夢亦驚 乾坤易老恨難平 山谿慣駕開宸座 鳥獸馴人雜路行 木末經秋粘戰血 禾根入夜宿奇兵 闍槃礮震烽冲地 一將身懸國重輕

THU NHẬT CẦU MÔNG SƠN ĐỒN THƢ SỰ Thuyết đáo sa trƣờng mộng diệc kinh, Càn khôn dị lão hận nan bình. Sơn khê quán giá khai thần toạ, Điểu thú tuần nhân tạp lộ hành. Mộc mạt kinh thu niêm chiến huyết, Hoà căn nhập dạ túc kỳ binh. Đồ Bàn bác chấn phong xung địa, Nhất tƣớng thân huyền quốc trọng khinh. Dịch nghĩa: NGÀY THU Ở ĐỒN NÚI CÙ MÔNG VIẾT LẠI SỰ VIỆC Nói đến chuyện sa trƣờng, trong mơ cũng kinh hoàng, Tuổi tác dễ già, hận khó tan hết. Núi khe quen theo hầu giá, mở chỗ cho vua ngồi, Chim thú quen ngƣời, cùng đi lẫn trên đƣờng. Ngọn cây trải qua mùa thu còn dính vết máu chiến trận, Gốc lúa vào đêm lại chứa thêm kỳ binh. Thành Đồ Bàn, tiếng đại bác nổ vang, lửa tràn mặt đất, Thân tƣớng hiểm nguy cũng không bằng sự an nguy của nƣớc. Dịch thơ: Nhắc đến sa trƣờng, mộng cũng kinh. Càn khôn dễ đổi, hận khôn bình. Núi khe hầu giá, bày cung khuyết, Chim thú quen quân, cũng bộ hành. Gốc lúa qua đêm, che xác lính, Ngọn cây thu đến, nhiễm hơi tanh. Đồ Bàn pháo nổ, loang trời đất, Binh tƣớng thân nguy, trọng quốc tình. 123. 山屯秋雨 淋漓砦壁滑如酥 壑漲溪漫雨載途 卒掛簑衣傳將令 濠關木馬3洗觚殳 鼓鳴帥幕聲猶濕 檄發詞言墨尚濡 忠甲義旗秋不冷 闍槃遙向語征夫 SƠN ĐỒN THU VŨ Lâm ly trại bích hoạt nhƣ tô, Hác trƣớng khê mạn vũ tái đồ. Tốt quải xoa y truyền tƣớng lệnh, Hào quan mộc mã tẩy cô thù.

3 Nguyên chú: 戰具 (đồ dùng đánh trận).

1 Nguyên văn khắc chữ này giống nhƣ chữ 寶 nhƣng không có bộ bối ở dƣới (trên bộ miên, dƣới trái bộ ngọc, phải bộ phữu). Chúng tôi nghĩ là một dạng khác của chữ 寶. Đồng thời bảo phù nằm ở đây cũng hợp nghĩa, bảo phù nghĩa là ấn tín của vua. 2 Nguyên chú: 是年歸仁之圍未解兵事旁午南風又晚使不果 行 (Năm ấy, thành Quy Nhơn bị vây chƣa giải đƣợc, việc quân phải chờ có gió nam, từ trƣa đến chiều tối, khiến cho quân không dám đi tiếp viện.)

275

Cổ minh soái mạc thanh do thấp, Hịch phát từ ngôn mặc thƣợng nhu. Trung giáp nghĩa kỳ thu bất lãnh, Đồ Bàn dao hƣớng ngữ chinh phu. Dịch nghĩa: MƢA THU Ở ĐỒN NÚI Vách trại ƣớt nhèm, trơn nhƣ váng sữa, Suối khe tràn nƣớc, mƣa ngập đƣờng. Lính mang áo tơi để truyền lệnh của tƣớng, Dƣới hào đóng cọc ngang, rửa khí giới. Tiếng trống vang nơi trƣớng soái, tiếng nhƣ ƣớt, Hịch phát ra từ ngƣời thảo hịch, mực còn đẫm. Quân binh đều là ngƣời trung nghĩa, nên giữa thu chẳng thấy lạnh, Nhắn với kẻ chinh phu, hãy hƣớng về thành Đồ Bàn. Dịch thơ: Vách trại ƣớt đầm, tựa mỡ pha, Suối khe dâng nƣớc, lối mƣa nhoà. Lính truyền tƣớng lệnh, mang tơi lá, Hào rửa gƣơm đao, đóng cọc tà. Trống động màn quân, âm ƣớt đục, Hịch truyền đã viết, mực còn sa. Quân binh trung nghĩa, thu không lạnh, Hƣớng đến Đồ Bàn, nhắn kẻ xa. 辛酉年 TÂN DẬU NIÊN (1801) 124. 己未年四月,王師招降歸仁城,欽命掌後 軍平西驂乘將軍性郡公武公性,禮部周正 侯吳從周擁兵鎮撫,十二月,偽將阮耀大 兵攻圍。庚申夏四月,王師出援,尚未克 解。辛酉夏,御兵乘虛進取富春京,復命 欽差掌左軍平西將軍悅進屯廣義鎮攻賊後 背。余奉從兵給餉,時歸仁城圍久未解, 內外阻絕,武吳二公以突圍獨全,必將士 多死鋒鏑,義所不忍,而城中舊降將卒屢 有異圖,多繾城夜遁者,加以城中糧絕, 武 公 先於 五月 二十 七日登 城 中八 角樓 自 焚,吳公仰藥死節,遺令勿毁輜重全城降 僞 求 活三 軍之 命。 訃音至 廣 義屯 舉皆 哀 慟,余因哭之以詩並誌其名臣大節云耳非 以詩鳴也。 三載身輕百戰中 城孤糧絕困英雄 突圍不忍人爲席 報國惟知我匪躬 八角火同心共赤 千秋聲與日爭紅

他年擬倣雲臺畫 相將應推第一功 Kỵ Mùi niên tứ nguyệt, Vƣơng sƣ chiêu hàng Quy Nhơn thành, Khâm mệnh Chƣởng hậu quân Bình tây tham thừa tƣớng quân Tánh quận công Võ công Tánh, Lễ bộ Chu chính hầu Ngô Tòng Châu ủng binh trấn phủ, thập nhị nguyệt, nguỳ tƣớng Nguyễn Diệu đại binh công vi. Canh Thân hạ tứ nguyệt, Vƣơng sƣ xuất viện, thƣợng vị khắc giải. Tân Dậu hạ, Ngự binh thừa hƣ tiến thủ Phú Xuân kinh, phục mệnh Khâm sai chƣởng Tả quân Bình tây tƣớng quân Duyệt tiến đồn Quảng Nghĩa trấn công tặc hậu bối. Dƣ phụng tòng binh cấp hƣởng, thời Quy Nhơn thành vi cửu vị giải, nội ngoại trở tuyệt, Võ Ngô nhị công dĩ đột vi độc toàn, tất tƣớng sĩ đa tử phong đích nghĩa sở bất nhẫn, nhi thành trung cựu hàng tƣớng tốt lũ hữu dị đồ, đa khiển thành dạ độn giả, gia dĩ thành trung lƣơng tuyệt, Võ công tiên ƣ ngũ nguyệt nhị thập thất nhật đăng thành trung bát giác lâu tự phần, Ngô công ngƣỡng dƣợc tử tiết, di lệnh vật huỵ truy trọng toàn thành hàng nguỳ cầu hoạt tam quân chi mệnh. Phó âm chí Quảng Nghĩa đồn cử giai ai đỗng, dƣ nhân khốc chi dĩ thi, tịnh chí kỳ danh thần đại tiết vân nhĩ, phi dĩ thi minh dã. KỲ NHẤT Tam tải thân khinh bách chiến trung, Thành cô lƣơng tuyệt khốn anh hùng. Đột vi bất nhẫn nhân vi tịch, Báo quốc duy tri ngã phỉ cung. Bát giác hoả đồng tâm cộng xích, Thiên thu thanh dữ nhật tranh hồng. Tha niên nghĩ phỏng Vân đài hoạ, Tƣớng tƣớng ƣng suy đệ nhất công. Dịch nghĩa: Tháng 4 năm Kỵ Mùi (1799), vƣơng sƣ chiêu hàng thành Quy Nhơn, Khâm mệnh Chƣởng hậu quân Bình tây tham thừa tƣớng quân Tánh quận công Võ Công Tánh, Lễ bộ Chu Chính hầu Ngô Tòng Châu mang binh thấn thủ, tháng 12, tƣớng Tây Sơn là Nguyễn Diệu cất đại binh công thành. Tháng 4 mùa hè năm Canh Thân (1800), vƣơng sƣ ra cứu viện, nhƣng vẫn chƣa giải vây đƣợc. Hè năm Tân Dậu (1801), vua dẫn quân thừa khi Phú Xuân bỏ trống tiến đánh vào kinh đô Phú Xuân, lại mệnh cho Khâm sai Chƣởng Tả quân Bình tây tƣớng quân Duyệt tiến đóng ở trấn Quảng Nghĩa để công địch phía sau. Tôi phụng mệnh theo quân lo việc cấp lƣơng, bấy giờ thành Quy Nhơn bị vây đã lâu mà chƣa giải đƣợc, trong ngoài cách trở, hai ông Võ Tánh và Ngô

276

平生所學已收功 杯酒從容節概雄 一死歸仁酬帝眷 千秋南越振文風 妖氛辟易寒西賊 義氣昭回並武公 從此知卿多有後 綿綿祭祀國家同2 KỲ NHỊ Bình sinh sở học dĩ thu công, Bôi tửu thung dung tiết khái hùng. Nhất tử Quy Nhơn thù đế quyến, Thiên thu Nam Việt chấn văn phong. Yêu phân tịch dịch hàn Tây tặc, Nghĩa khí chiêu hồi tịnh Võ công. Tòng thử tri khanh đa hữu hậu, Miên miên tế tự quốc gia đồng. Dịch nghĩa: BÀI 2 Những điều ông học đƣợc trong đời đã thu đƣợc công, Một chén rƣợu độc thung dung uống, tiết khái thật anh hùng. Thà chịu chết ở Quy Nhơn để báo đền ơn vua, Ngàn năm cõi Nam Việt đƣợc chấn hƣng văn phong. Tà khí đẩy lùi, khiến giặc Tây sợ hãi, Nghĩa khí quây quần, sánh cùng ông Võ Tánh. Từ đây biết anh coi nhƣ đã có ngƣời thừa kế, Đƣợc nƣớc nhà thờ, tế cúng mãi mãi. Dịch thơ: 1. Sở học bình sinh, nay thấy đây, Khí hùng rƣợu độc uống khoan thai. Quy Nhơn vĩnh biệt, ơn vua trả, Nam Việt ngàn năm, văn mạch dày. Nghĩa khí bừng bừng cùng Võ tƣớng, Hơi tà tan tác lạnh quân Tây. Từ đây bác có ngƣời thờ phụng, Tế tự nƣớc nhà hƣơng khói bay. 2. Bình sinh sở học, đã nên công, Chén rƣợu thong dong, tiết khái hùng. Chết giữa Quy Nhơn, đền ý chúa, Ngàn thu Nam Việt, chấn văn phong. Hơi tà tan tác, kinh Tây tặc,

Tòng Châu vì nghĩ nếu đột phá vòng vây để giữ thân mình, ắt tƣớng sĩ chịu chết trong chỗ đao thƣơng, nên không nỡ, huống trong thành các binh tƣớng theo hàng nhiều ngƣời có ý khác, thƣờng nhân đêm tối bỏ trốn, lại thêm trong thành hết lƣơng, Võ công lên lầu bát giác trong thành mà tự thiêu vào ngày 27-5 trƣớc, Ngô công uống thuốc độc tử tiết, để lệnh rằng xin chớ huỵ quân dụng trong thành, cả thành hàng Nguỳ để cầu cái sống cho ba quân. Tin buồn đến đồn Quảng Nghĩa, ai cũng thƣơng xót, tôi nhân khóc các ông mà làm thơ để ghi nhớ cái tiết cả của ngƣời bầy tôi danh tiếng, chứ nào phải mƣợn thơ để cầu cái tiếng ở đời. Suốt ba năm, trăm trận đánh, coi nhẹ thân mình, Thành bị cô lập, lƣơng cạn, anh hùng khốn đốn. Nếu đột phá vòng vây, chẳng nỡ đem mạng ngƣời làm chiếu lót, Đền ơn nƣớc, chỉ cần biết ta không phải chịu bó mình. Ngọn lửa nơi lầu bát giác cũng rực đỏ với lòng ông, Tiếng để ngàn thu tranh sáng cùng bóng nhật. Năm nào nhƣ có vẽ tranh treo ở đài Mây, 1 Tƣớng tƣớng đều tôn ông là ngƣời có công bậc nhất. Dịch thơ: 1. Ba năm trăm trận, nhẹ hình hài, Lƣơng cạn, anh hùng khốn giữa vây. Không nỡ phá thành, vì sĩ tốt, Chỉ hay báo quốc, chẳng cung tay. Lửa lầu bát giác cùng tâm đỏ, Tên tuổi ngàn năm với nhật tày. Tranh vẽ đài Mây năm khác chọn, Công đầu ông đứng chẳng còn ai! 2. Ba năm trăm trận, tƣởng nhƣ không, Lƣơng cạn thành cô, khốn kẻ hùng. Không nỡ phá thành xua lính chết, Tự hay báo quốc gửi lòng trung. Lửa lầu bát giác cùng tâm đỏ, Tên tuổi ngàn năm sánh nhật hồng. Tranh vẽ đài Mây năm khác chọn, Công đầu bậc nhất chính là ông! 125. 其二 1 Đài Mây dịch từ chữ Vân đài. Đời Hán cho dựng Vân đài, và vẽ tƣợng những ngƣời có công bậc nhất để thờ ở đấy.

2 Nguyên chú: 吳公無子賊平之日朝議加贈武公爲中興第一 功臣太尉國公吳公爲太子太師郡公春秋二祭並頒賜祀田守 墓民夫各有差等恩至優渥 (Ngô công vốn không có con, ngày bình giặc xong, triều đình bàn bạc ban tặng cho Võ công làm Trung hƣng đệ nhất công thần, Thái uý quốc công; phong tặng Ngô công làm Thái tử thái sƣ quận công, đƣợc tế vào hai mùa xuân thu, đồng thời ban tặng cho tự điền, và ngƣời trông coi mộ phần, hai ông thật là đƣợc ân đức thấm nhuần lắm vậy).

277

Quế ngọc thƣơng thầm, túi rỗng không. Rƣợu rót đầy chung, anh tựa Tất, Kiếm ca không cá, tớ nhƣ Phùng. Gió mƣa, áo mỏng run cơn lạnh, Chiêng trống, ngựa gầy khiếp đứng nhông. Trừ hết tƣớng kia, thời vẫn đợi, Cứu ngƣời bắt sống giữa đêm đông. 127. 兵塲得長子天性亡信3 軍前聞報汝云亡 公義私恩背刺茫 養母兒先歸隴土 事君我尚在沙塲 王卿不盡情鍾嘆 延廣徒增命短傷 昔日家書徵汝字 行行墨跡淚行行 BINH TRƢỜNG ĐẮC TRƢỞNG TỬ THIÊN TÍNH VONG TÍN Quân tiền văn báo nhữ vân vong, Công nghĩa tƣ ân bối thích mang. Dƣỡng mẫu nhi tiên quy lũng thổ, Sự quân ngã thƣợng tại sa trƣờng. Vƣơng Khanh bất tận tình chung thán, Diên Quảng đồ tăng mệnh đoản thƣơng. Tích nhật gia thƣ trƣng nhữ tự, Hàng hàng mặc tích lệ hàng hàng. Dịch nghĩa: NƠI BINH TRƢỜNG ĐƢỢC TIN CON LÀ THIÊN TÍNH MẤT Trƣớc quân nghe báo rằng con đã mất, Việc nghĩa chung, tình riêng tƣ, nhói cả lƣng mình. Con nuôi dƣỡng mẹ già, mà vội về lòng đất trƣớc, Cha thờ vua, nên còn ở mãi nơi sa trƣờng. Vƣơng Diễn bởi tình chung đúc, than thở không nguôi, 4 Diên Quảng mạng sống ngắn ngủi, dẫu thêm tặng vật cũng chẳng vơi nỗi đau.5

Nghĩa khí quây quần, sánh Võ công. Từ biết rằng ông chừ có hậu, Nƣớc nhà hƣơng khói đƣợc cùng chung. 126. 冬日廣義戰塲寄富春京吏部參知范玉韞 戰地艱難眾與同 獨憐桂玉更囊空 盈罍有酒卿逾畢 彈鋏無魚我類馮 風雨頻催寒薄罽 鼓鉦時動怯羸驄 除殘上將機猶待 元濟生擒雪夜中 ĐÔNG NHẬT QUẢNG NGHĨA CHIẾN TRƢỜNG KÝ PHÚ XUÂN KINH LẠI BỘ THAM TRI PHẠM NGỌC UẨN Chiến địa gian nan chúng dữ đồng, Độc liên quế ngọc cánh nang không. Doanh lôi hữu tửu khanh du Tất, Đàn giáp vô ngƣ ngã loại Phùng. Phong vũ tần thôi hàn bạc kế, Cổ chinh thời động khiếp luy thông. Trừ tàn thƣợng tƣớng cơ do đãi, Nguyên tế sinh cầm tuyết dạ trung. Dịch nghĩa: NGÀY ĐÔNG Ở CHIẾN TRƢỜNG QUẢNG NGÃI GỞI CHO LẠI BỘ THAM TRI PHẠM NGỌC UẨN Ở KINH ĐÔ PHÚ XUÂN Nơi chiến địa cùng chịu gian nan với mọi ngƣời, Thấy thƣơng cho cành quế cành ngọc, túi rỗng không. Có rƣợu đầy chung, anh hơn ông Tất Trác, 1 Gõ kiếm hát mà cơm không có cá, tôi giống Phùng Hoan. 2 Gió mƣa nhiều phen giục giã, lạnh buốt trong chiết áo len mỏng, Chiêng trống thƣờng gõ vang, lũ ngựa gầy khiếp sợ. Trừ hết tƣớng kia còn phải chờ đợi thời cơ, Cứu ngƣời bị bắt sống trong đêm tuyết lạnh. Dịch thơ: Gian nan chiến địa với quân cùng,

1 Tất Trác: ngƣời vùng Đồng Dƣơng, đời Tấn, lúc trẻ tính tình phóng khoáng, làm quan đến chức Lại bộ lang, thƣờng uống rƣợu đến quên cả chức vị, nhà bên cạnh của ông nấu rƣợu, ông thƣờng lén vào để uống, ngƣời canh gác bắt đƣợc trói lại, sáng mai nhìn lại mới thấy là Tất Trác, liền cởi trói cho ông. 2 Phùng Hoan: thực khách của Mạnh Thƣờng Quân. Lúc đầu, ông không đƣợc Mạnh Thƣờng Quân đãi ngộ, ăn cơm không có cá thịt, không có rƣợu, đi không có xe, nên thƣờng gõ kiếm hát. Khi nghe các thực khách khác kể chuyện đó, Mạnh Thƣờng Quân đãi ngộ ông, sau này chính ông là ngƣời giữ vững ngôi vị cho Mạnh Thƣờng Quân.

3 Nguyên chú: 八月初三日亡 (Thiên Tính mất vào ngày mồng 3 tháng 8) 4 Vƣơng khanh, tình chung: tức Vƣơng Diễn với câu nói về “tình chung đúc”. Sách Thế thuyết tân ngữ có ghi chuyện Vƣơng Diễn đƣa tang đứa con nhỏ, đau buồn vô hạn, Sơn Giản đến viếng, nói: chỉ là con trẻ sao buồn đau đến thế? Ông nói: “Thánh nhân vong tình, hạ ngu bất cập tình, tình chi sở chung, chính tại ngã bối” (bậc thánh nhân quên tình, kẻ ngu muội chẳng có tình, nơi tình cảm hun đúc, chính là ở bọn ta). Ở đây Trịnh Hoài Đức muốn mƣợn điển này để tự nói về mình cũng có hoàn cảnh tƣơng tự. 5 Diên Quảng: tên tự của Tử Hỗn, ngƣời đời Tấn, con của Nguỳ Thƣ. Sách Tấn thƣ, quyển 41, phần liệt truyện Nguỵ Thƣ có chép: “Tử Hỗn tự Diên Quảng, là ngƣời có tài đức, làm Thái tử xá nhân, năm 27 tuổi, mất trƣớc Thƣ, mọi ngƣời trong ngoài

278

Thƣ nhà ngày trƣớc vẫn còn nét chữ của con, Nhìn mỗi dòng chữ viết, lệ rỏ từng dòng. Dịch thơ: Đƣợc tin con mất, giữa binh trƣờng, Ơn nghĩa riêng chung, xóc cốt xƣơng. Nuôi mẹ, con sao về đất trƣớc? Thờ vua, cha phải ở sa trƣờng! Vƣơng Khanh buồn khổ, tình tan hợp, Diên Quảng thƣơng đau, mạng yểu đƣờng. Ngày trƣớc, thƣ nhà con viết gửi, Nhìn từng nét bút lệ cha vƣơng.

艮齋觀光集 吏部尚書欽差嘉定城協總鎮安全侯鄭懷德 甫輯 CẤN TRAI QUAN QUANG TẬP LẠI BỘ THƢỢNG THƢ KHÂM SAI GIA ĐỊNH THÀNH HIỆP TỔNG TRẤN AN TOÀN HẦU TRỊNH HOÀI ĐỨC PHỦ TẬP

壬戌年 NHÂM TUẤT NIÊN (1802) 128. 奉使大清國經廣東洋分三洲塘遇颶風 三洲晴晚使帆行 昏黑何來颶母精 粵海波濤林壑漲 上川1風雨地天盲 止將忠義持舟楫 奚有顛危畏鱷鯨 帝鑑梯航臣節苦 應教嶽瀆護蜺旌 PHỤNG SỨ ĐẠI THANH QUỐC, KINH QUẢNG ĐÔNG DƢƠNG PHẬN TAM CHÂU ĐƢỜNG, NGỘ CỤ PHONG Tam Châu tình vãn sứ phàm hành, Hôn hắc hà lai cụ mẫu tinh. Việt Hải ba đào lâm hác trƣớng, Thƣợng Xuyên phong vũ địa thiên manh. Chỉ tƣơng trung nghĩa trì chu tiếp, Hề hữu điên nguy úy ngạc kình.

Đế giám thê hàng thần tiết khổ, Ƣng giao nhạc độc hộ nghê tinh. Dịch nghĩa: PHỤNG SỨ SANG NƢỚC ĐẠI THANH, QUA TAM CHÂU ĐƢỜNG HẢI PHẬN QUẢNG ĐÔNG, GẶP GIÓ BÃO. Trời chiều Tam Châu quang tạnh, thuyền sứ căng buồm đi, Bỗng nhiên trời tối sầm, gió bão nổi lên. Bờ biển Quảng Đông sóng trào lên cả hang núi, Nơi bãi Thƣợng Xuyên gió mƣa tối cả đất trời. Chỉ biết đem lòng trung nghĩa gìn giữ lèo lái, Nào vì nguy nan, sợ lũ ngạc kình. Vua soi xét thấy thần đi sứ vất vả, Nên khiến núi non sông nƣớc bảo vệ cờ nghê. 2 Dịch thơ: Tam Châu chiều lặng, sứ thuyền giong, Gió lốc từ đâu đến bão bùng. Việt Hải sóng ngàn, trào vách núi, Thƣợng Xuyên mƣa gió, tối bầu không. Đem lòng trung nghĩa gìn lèo lái, Nào sợ ngạc kình ngại hiểm hung. Trời thấy thần đi đƣờng khổ sở, Sai sông núi giữ bóng nghê cùng. 136. 珠江花艇3 一自摩尼墜賈胡 湞江遊子慶僊區 三春蝶夢酣花艇 五夜蟾光戀海珠 聲裊竹枝鬆玉佩 唇彈瓜子倒銀壼 千金賈笑尋常事 絃管終宵逗水都 CHÂU GIANG HOA ĐĨNH Nhất tự ma ni truỳ cổ Hồ, Trinh giang du tử khánh tiên khu. Tam xuân điệp mộng hàm hoa đĩnh, Ngũ dạ thiềm quang luyến hải châu. Thanh niểu trúc chi tông ngọc bội, Thần đàn qua tử đảo ngân hồ. Thiên kim cổ tiếu tầm thƣờng sự, Huyền quản hồng tiêu đậu thuỵ đô. Dịch nghĩa:

triều đình đều lấy làm thƣơng tiếc. Nguỳ Thƣ thƣờng đau buồn, từ quan lui về mà than rằng: „Ta chẳng cao xa bằng Trang Tử, há vì chuyện vô ích mà tự làm tổn hại mình?‟ Thế rồi suốt đám tang không khóc nữa. Vua truyền chiếu rằng: “Thƣ chỉ có một đứa con, bạc mệnh qua đời, Thƣ tuổi già cáo lão, sống đơn chiếc khổ sở, thƣờng nhớ chuyện đau lòng, vì đứa con mà than khóc. Nghĩ rằng để làm tan mối sầu mà dƣỡng khí, nên tăng thêm phẩm vật. Vẫn ban cho kính đồng để nhìn bốn phía, màn trƣớng, một cỗ xe trâu, để vào ra dạo chơi ngóng nhìn, mong có thể làm tan nỗi sầu vậy.” Lại cho cháu là Dung để nối dõi, nhƣng lại mất sớm, bèn lấy cháu là Hoảng nối dõi.” 1 Nguyên chú: địa danh.

2 Cờ nghê dịch từ nghê tinh, chỉ ngƣời đi sứ. 3 Nguyên chú: 昔胡賈墜摩尼珠于江而後珠嶼浮出因以名江 (Xƣa có ngƣời Hồ đi buôn làm rơi ngọc Ma ni xuống dòng sông này, sau đó một hòn đảo ngọc nổi lên trên nƣớc, nhân đó ngƣời ta đặt tên dòng sông này là sông ngọc).

279

THUYỀN HOA Ở SÔNG NGỌC Từ khi khách buôn ngƣời Hồ làm rơi ngọc ma ni, Ngƣời đi chơi trên sông Trinh mừng đây là vùng của tiên. 1 Suốt ba tháng xuân, say giấc điệp nơi thuyền hoa, Đêm tối năm canh, bóng trăng sáng nhƣ luyến hòn ngọc biển. Tiếng rít vào ống trúc, lỏng cả đai ngọc, Môi cắn hạt dƣa, bình rƣợu bạc nghiêng uống. Ngàn vàng đổi lấy một nụ cƣời là chuyện thƣờng,2 Sáo đàn suốt đêm vẳng nơi sông nƣớc. Dịch thơ: Từ độ khách Hồ để ngọc rơi, Sông Trinh du khách đến vui chơi. Hoa thuyền giấc đắm ba xuân mộng, Ngọc biển trăng soi một tối ngời. Ống trúc tiếng rền, đai ngọc trễ, Hạt dƣa môi cắn, rƣợu hầu vơi. Ngàn vàng đổi tiếng cƣời đâu hiếm, Đàn sáo thâu đêm giữa nƣớc trời. 143. 浙江監生陸鳳梧丐題竹白扇三枝兼索贈 滿袖清風來故人 竹林終日共逡巡 奉親自可供黃孝 潔己何妨蔽庾塵 護粉輕搖花却暑 招香細拂晢流春 逢時幸展施爲畧 爭擬南薰解慍民 CHIẾT GIANG GIÁM SINH LỤC PHỤNG NGÔ CÁI ĐỀ TRÚC BẠCH PHIẾN TAM CHI KIÊM SÁCH TẶNG (KỲ NHẤT) Mãn tụ thanh phong lai cố nhân, Trúc lâm chung nhật cộng thuân tuần. Phụng thân tự khả cung Hoàng hiếu,3 Khiết kỵ hà phƣơng tế Dữu trần.4 Hộ phấn khinh dao hoa khƣớc thử, 1 Trinh giang: sông Trinh, ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc. 2 Ngàn vàng mua một nụ cƣời dịch từ Thiên kim cổ tiếu. Ngƣời đẹp Bao Tự không cƣời, Chu U Vƣơng tìm mọi cách để nàng cƣời, có kẻ hiến kế đốt lửa hiệu. Vua bèn sai đốt lửa ở đài phong hoả, quân chƣ hầu tƣởng có giặc, kéo quân đến cứu, nhƣng biết bị lừa. Bao Tự thấy cảnh dáo dác của chƣ hầu mà tức cƣời. Kẻ bày kế đƣợc vua tặng cho ngàn vàng. Về sau có giặc đến thật, lại đốt lửa nhƣng chƣ hầu không đến cứu, mất nƣớc, U Vƣơng bị giết ở Ly Sơn. 3 Câu này nhắc điển Hoàng Hƣơng đêm hè quạt cho giƣờng chiếu mát mẻ để cha mẹ nằm. 4 Chƣa rõ điển, tạm dịch nhƣ trên. Có lẽ nhắc đến chuyện Văn Vƣơng xƣa bị giam ở Dữu Lý chăng (?).

Chiêu hƣơng tế phất triết lƣu xuân. Phùng thời hạnh triển thi vi lƣợc, Tranh nghĩ nam huân giải uấn dân.5 Dịch nghĩa: GIÁM SINH TỈNH CHIẾT GIANG LỤC PHỤNG NGÔ XIN ĐỀ THƠ LÊN BA CHIẾC QUẠT TRẮNG VẼ TRÖC, ĐỒNG THỜI CHIA TẶNG BÀI 1 Gió mát tràn tay áo đến thăm ngƣời bạn cũ, Trong vƣờn trúc, suốt ngày cùng dạo chơi. Thờ cha mẹ, tự biết có thể hết lòng hiếu nhƣ Hoàng Hƣơng, Làm sạch mình, đâu ngại che chắn bụi Dữu Lý. Che làn phấn, nhẹ lay thì làm tan hết nắng nóng, Gọi hƣơng thơm, phất nhẹ thì thảy thành gió xuân. Nếu gặp thời may mắn thi triển tài lƣợc, Cùng tranh với làn gió nam để giải nỗi sầu của dân ta. Dịch thơ: Gió mát tay tràn, gặp bạn thân, Suốt ngày vƣờn Trúc đƣợc ân cần. Thờ cha mẹ, biết dâng lòng hiếu, Giữ sạch thân, đâu ngại bụi trần. Gìn phấn, nhẹ lay, tan nóng bức, Mời hƣơng, khẽ phất, ngạt hơi xuân. Gặp thời thi triển nên tài lƣợc, Tranh với gió nồm xua nỗi dân. 144. 中夏清凉賴此君 解人煩熱思何殷 招搖風掃紅塵路 披拂波翻白練裙 日午畱連歡握手 夜寒棲息好論文 囘思寶座趨陪候 常惹金爐鴨綠薰 (KỲ NHỊ) Trung hạ thanh lƣơng lại thử quân, Giải nhân phiền nhiệt tƣ hà ân. Chiêu diêu phong tảo hồng trần lộ, Phi phất ba phiên bạch luyện quần. Nhật ngọ lƣu liên hoan ác thủ, Dạ hàn thê tức hiếu luận văn. Hồi tƣ bảo toạ xu bồi hậu, Thƣờng nhạ kim lƣ áp lục huân. Dịch nghĩa: 5 Nam huân giải uấn dân: gió nam giải đƣợc nỗi khổ nhọc cho dân.

280

BÀI 2 Giữa hè muốn mát mẻ, đều phải nhờ vào ngƣơi, Cái ý cởi bỏ những buồn phiền trong ngƣời ta của ngƣời sao ân cần thế? Phe phẩy thì nổi gió quét sạch con đƣờng đầy bụi trần, Phất phất thì sóng cuộn trào tựa quần lụa trắng. Trƣa nắng lƣu luyến mãi, vui đƣợc cầm tay để quạt, Đêm lạnh nghỉ ngơi, thích cùng bàn văn. Nhớ lại trên ghế quý đƣợc cùng tiếp khách, Nên thƣờng nhiễm mùi khói hƣơng xanh thơm của lò trầm. Dịch thơ: Giữa hè mát mẻ lại nhờ mày, Giúp khách tan phiền, thật quý thay. Phất phất sóng chao quần lụa trắng, Phơ phơ gió quét bụi đƣờng bay. Trƣa hè quyến luyến, cầm tay mãi, Đêm lạnh ngâm nga, đƣợc nghỉ dài. Nhớ lúc cùng ai trên ghế quý, Hƣơng trầm thƣờng đƣợm chất thơm say. 145. 韜晦三冬跡尚沉 養成體面到于今 犯顏令主能容納 握手斯文共唱吟 君子終存高節壯 仁人還愛惠風深 勸渠莫避炎炎勢 康濟蒼生有素心 (KỲ TAM) Thao hối tam đông tích thƣợng trầm, Dƣỡng thành thể diện đáo vu kim. Phạm nhan lệnh chủ năng dung nạp, Ác thủ tƣ văn cộng xƣớng ngâm. Quân tử chung tồn cao tiết tráng, Nhân nhân hoàn ái huệ phong thâm. Khuyến cừ mạc tỳ viêm viêm thế, Khang tế thƣơng sinh hữu tố tâm.1 Dịch nghĩa: BÀI 3 Ba tháng mùa đông mờ mịt, vết tích bặt tăm, Nuôi dƣỡng thể diện chờ đến ngày hôm nay. Dẫu xúc phạm mặt chủ, cũng đƣợc dung nạp, Đƣợc cầm tay văn nhân, cùng xƣớng hoạ ngâm thơ.

1 Khang tế thƣơng sinh: cứu giúp, vỗ yên dân chúng. Sách Thƣợng thƣ có câu: “khang tế tiểu dân” (cứu giúp và vỗ yên dân chúng).

Quân tử cuối cùng vẫn đƣợc nêu cao khí tiết hùng tráng, Bậc nhân vẫn thích làn gió mát nồng nàn. Khuyên ngƣơi chớ bỏ khỏi vùng địa thế nóng nôi, Mà nên có lòng lành giúp đỡ muôn dân. Dịch thơ: Mờ mịt trời đông, giấu vết im, Nuôi thành thể diện, đến khi tìm. Phạm vô mặt chủ, riêng dung chứa, Tay nắm văn nhân, thoả xƣớng ngâm. Quân tử vẫn còn cao tiết tháo, Ngƣời nhân luôn thích gió nam đằm. Khuyên ngƣơi chớ bỏ khi nồng nực, Giúp đỡ bao ngƣời, hãy có tâm. 146. 冬月由廣東水程往廣西省會請封使取路進 京道中吟同吳黃兩副使次笠翁三十韻 南國輸誠向粵東2 西甌上謁北辰宮 遠經霜雪年將暮 極望山川路不窮 得稱意時行且止 莫添足處拙求工 超然造物籠牢外 遺愛文恭進退風 ĐÔNG NGUYỆT DO QUẢNG ĐÔNG THUỶ TRÌNH VÃNG QUẢNG TÂY TỈNH, HỘI THỈNH PHONG SỨ THỦ LỘ TIẾN KINH, ĐẠO TRUNG NGÂM ĐỒNG NGÔ, HUỲNH LƢỠNG PHÓ SỨ THỨ LẠP ÔNG TAM THẬP VẬN3 1. Nam quốc du thành hƣớng Việt Đông, 4 Tây âu thƣợng yết bắc thần cung. Viễn kinh sƣơng tuyết niên tƣơng mộ, Cực vọng sơn xuyên lộ bất cùng. Đắc xứng ý thời hành thả chỉ, Mạc thiêm túc xứ chuyết cầu công.5 Siêu nhiêu tạo vật lung lao ngoại, Di ái văn cung tiến thoái phong. Dịch nghĩa: 2 Bản Trần Kinh Hoà chép tạc hƣớng đông. 3 Lạp Ông: tên hiệu của Lý Ngƣ. Lý Ngƣ (1611-1680) vốn tên là Tiên Lữ, tự Trích Phàm, hiệu Thiên Đồ, sau đó ông đổi tên là Lý Ngƣ, tự Lạp Hồng, hiệu Lạp Ông, nhà hý khúc nổi tiếng thời cuối Minh đầu Thanh, ngƣời đất Nhƣ Cao, Giang Tô. Ông có tác phẩm Lạp Ông đối vận, là cuốn sách dùng để chọn vần làm thơ, đƣợc biên soạn dựa theo cuốn Thanh luật khải mông. 4 Việt Đông: tức Quảng Đông. 5 Câu này xuất xứ từ điển “hoạ xà thiêm túc”. Thơ Hữu cảm của Lý Thƣơng Ẩn có câu: “Khuyến quân mạc cƣỡng an xà túc, Nhất trản phƣơng lao bất đắc thƣờng” (Khuyên anh chớ gƣợng vẽ thêm chân cho rắn, Một chén rƣợu thơm cũng không đƣợc nếm môi).

281

Một chiếc thuyền nhỏ trên đƣờng xa vời. Thích nắng sáng mai, mang giƣờng ra sƣởi, Hơi lạnh lọt vào cửa thuyền mang theo tiếng chuông điểm canh. Xa nghe tỉnh Quế Lâm có đình dừng ngựa, Giờ mới thấy ở Ngô Châu có đá cột rồng. Khắp nơi cảnh vật tô điểm vô cùng mới mẻ, Sông núi nhƣ vì khách mà điểm trang. Dịch thơ: Quảng Đông thu, đến Quảng Tây đông, Một chiếc thuyền con, lộ mấy trùng. Sớm kê giƣờng sƣởi, thƣờng ƣa nắng, Chuông điểm canh lồng, giá thoảng song. Xa nghe Quế tỉnh, đình dừng ngựa, Mới thấy Ngô Châu, đá buộc rồng. Khắp chốn vô cùng thêm mới mẻ, Tô hồng vì khách ấy non sông. 148/3. 迢迢竻竹泛輕艭 牽纜撐篙上逆瀧 謙性半資觀水養 熱心多爲飲冰降 戍樓遲滯籌三漏 旅夜支持酒一缸 嗚咽龍吟何處笛 滿船霜月臥滄江 Điều điều Lực Trúc2 phiếm khinh sang, Khiên lãm sanh cao thƣớng nghịch lang. Khiêm tính bán tƣ quan thuỵ dƣỡng, Nhiệt tâm đa vị ẩm băng hàng. Thú lâu trì trệ trù tam lậu, Lữ dạ tri chì tửu nhất cang. Ô yết long ngâm3 hà xứ địch, Mãn thuyền sƣơng nguyệt ngoạ thƣơng giang4. Dịch nghĩa: Gò Lực Trúc xa xa, dạo thuyền nhẹ, Kéo dây neo, chống sào ngƣợc dòng nƣớc xiết. Tính khiêm nhƣờng, nửa nhờ xem dòng nƣớc mà di dƣỡng, Lòng nóng nảy, phần nhiều uống băng để trừ đi.

THÁNG MÙA ĐÔNG, TỪ QUẢNG ĐÔNG ĐI ĐƢỜNG THUỴ SANG TỈNH QUẢNG TÂY HỘI VỚI ĐOÀN SỨ THỈNH PHONG MƢỢN ĐƢỜNG LÊN KINH, GIỮA ĐƢỜNG CÙNG HAI PHÓ SỨ NGÔ NHÂN TĨNH, HUỲNH NGỌC UẨN LÀM BA MƢƠI BÀI THEO VẬN LẠP ÔNG. Vì nƣớc Nam dốc lòng thành, đến Quảng Đông, Từ đất phía tây lên bắc cung yết kiến. Đƣờng xa trải nhiều sƣơng tuyết, năm sắp hết, Núi non hút mắt, đƣờng đi chẳng cùng. Gặp khi thoả chí, phải biết ra làm quan và biết lui về nghỉ, Đừng thêm chân rắn, lấy cái vụng mà cầu cái khéo. Dẫu vƣợt ra khỏi ngoài vòng tạo hoá, Vẫn còn thích nếp tiến thoái theo lễ nghi. (?) Dịch thơ: Vì nƣớc, dốc lòng đến Quảng Đông, Trời tây xa viếng Bắc thần cung. Tuyết sƣơng dầu dãi, năm đà muộn, Sông núi lô nhô, lối chẳng cùng. Đắc chí biết khi, hành với xử, Chớ thêm chân rắn, vụng cầu công. Cũi lồng tạo hoá dù ra khỏi, Vẫn mến tiến lùi theo lễ phong. 147/2. 廣東秋又廣西冬 一葉扁舟路幾重 愛日曉憑迎燠榻 穿窗寒送定更鐘 遙聞桂省亭攔馬 纔見梧州石繫龍 到處無窮新點綴 山川如爲客爲容 Quảng Đông thu hựu Quảng Tây đông, Nhất diệp biên chu lộ kỵ trùng. Ái nhật hiểu bằng nghênh úc tháp, Xuyên song hàn tống định canh chung. Dao văn Quế tỉnh đình lan mã, Tài kiến Ngô Châu thạch hệ long.1 Đáo xứ vô cùng tân điểm xuyết, Sơn xuyên nhƣ vị khách vi dung. Dịch nghĩa: Mùa thu ở đất Quảng Đông, mùa đông đã sang Quảng Tây,

2 Nguyên chú: than danh = tên bãi biển. Theo Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển, gò Lực Trúc, nằm ở bờ bắc sông Cẩm thuỵ, cách 35 dặm về phía tây nam huyện Tân Hƣng, Quảng Đông. 3 Long ngâm: Theo Từ nguyên, có ba nghĩa. Một, dẫn sách Linh quái lục rằng, Phòng Quản tu học ở trong hang núi Chung Nam, chợt nghe có tiếng nhƣ vật chạm vào đồ đồng kêu o o, mới hỏi, bậc phụ lão nói đó là tiếng rồng ngâm, quả nhiên lát sau mƣa đổ. Hai, tên một khúc đàn. Trịnh Thuật Tổ truyện trong Bắc Tề thƣ chép, Thuật Tổ giỏi đàn, tự tạo ra mƣời khúc long ngâm. Ba, cũng gọi là địch (sáo). Ở đây chúng tôi chọn dùng nghĩa thứ hai. 4 Thƣơng giang 滄 江 nhƣ thƣơng giang 蒼 江: sông xanh.

1 Ngô Châu: Theo Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển, thời Hán đặt làm quận Thƣơng Ngô, thời Đƣờng đặt là Ngô Châu, thời Tống gọi là quận Thƣơng Ngô, Ngô Châu, thời Nguyên đổi thành lộ Ngô Châu, thời Minh lại gọi là phủ Ngô Châu, thời Thanh giữ nguyên nhƣ thời Minh, nay thuộc huyện Thƣơng Ngô tỉnh Quảng Tây.

282

Trì trệ nơi lầu lính thú, ba canh đếm giọt đồng hồ, Đêm nơi đất khách, có bầu rƣợu cầm chừng. Tiếng sáo đâu đây vang khúc long ngâm dào dạt, Đầy thuyền sƣơng trăng, ta nằm trên sông xanh. Dịch thơ: Xa gò Lực Trúc cánh buồm căng, Dây kéo chèo bơi nƣớc ngƣợc đằng. Khiêm tính dƣỡng nhờ xem tính nƣớc Nhiệt tâm hoà bởi uống tâm băng. Ba canh trì trệ nơi lầu lính, Một hũ nhâm nhi giữa tối ngần. Khúc sáo long ngâm dào dạt trỗi, Đầy khoang trăng toả bến sƣơng giăng. 149/4. 使舫蒼梧晚棹移 怱怱纔過伏波祠 識真可想遨遊蹟 示用空懷矍鑠姿 銅柱未逾南北界 珠犀已惑聖明時 忘機孟浪群鷗鴨 放逐征帆弄水湄 Sứ phƣởng Thƣơng Ngô vãn trạo di,1 Thông thông tài quá Phục Ba từ.2 Thức chân khả tƣởng ngao du tích, Thị dụng không hoài quắc thƣớc tƣ. Đồng trụ vị du nam bắc giới, Châu tê dĩ hoặc thánh minh thời. Vong cơ mạnh lãng quần âu áp,3 Phóng trục chinh phàm lộng thuỵ my. Dịch nghĩa: Chiều tà, thuyền sứ đƣa chèo trên sông Thƣơng Ngô, Thuyền lƣớt nhẹ nhàng qua miếu thờ Phục Ba. Biết rõ sự thật có thể nghĩ đến dấu vết ngao du, Muốn tỏ ích dụng nên vẫn mang dáng quắc thƣớc. 1 Thƣơng Ngô: đồng Thƣơng Ngô, tƣơng truyền, vua Thuấn đi tuần phƣơng nam, mất và táng tại đồng Thƣơng Ngô. Thƣơng Ngô cũng là tên một ngọn núi, còn gọi là Cửu Nghi, nay ở phía đông nam huyện Ninh Viễn, tỉnh Hồ Nam. 2 Phục Ba: Phục Ba tƣớng quân Mã Viện, tƣớng nhà Hán, lập nhiều chiến công, từng sang nƣớc ta đàn áp cuộc khởi nghĩa hai bà Trƣng. 3 Câu này xuất từ điển “âu lộ vong cơ”, sách Liệt Tử chép: Ở vùng biển có ngƣời thích chim âu, mỗi sáng ra bãi biển chơi với chim, chim đến đậu cả trăm con mà không bắt. Cha ngƣời ấy bảo: “Ta nghe chim âu theo chơi với con, con hãy bắt cho ta chơi”. Sáng hôm sau ngƣời ấy ra biển, chim bay liệng mà không đáp xuống”. Sau điển này đƣợc dùng với nghĩa làm bạn với con âu con cò mà quên việc đời, chỉ ngƣời ở ẩn. (dẫn theo Hoài Anh, Gia Định tam gia thi, NXB. Tổng hợp Đồng Nai, 2005, tr. 166).

Cột đồng chƣa vƣợt khỏi ranh giới nam bắc, Châu ngọc và sừng tê đã lừa dối thánh minh. Thà quên đi sự đời, chơi đùa cùng con âu con cò, Giong cánh buồm xa giỡn nƣớc nơi bến sông. Dịch thơ: Thƣơng Ngô thuyền sứ lƣớt chiều tà, Vun vút vèo qua miếu Phục Ba. Tỏ ích hoài mong thân quắc thƣớc, Biết rành còn muốn vết chơi xa. Trụ đồng chƣa vƣợt ranh nam bắc, Tê ngọc đã lừa thánh chúa a! Bỏ mặc sự đời, âu kết bạn, Cánh buồm tít tắp giữa sông . 150/5. 日 午 山 前 捲 翠 幃 半 山 霜 葉 半 煙 霏 東 城 畫 鷁 安 流 返 南 徼 溟 鴻 故 國 飛 地 迥 水 旋 穿 嶺 帶 歲 寒 雲 送 奉 天 衣 星 槎 乍 觸 黃 灘 石 疑 近 雙 星 夜 渡 磯 Nhật ngọ sơn tiền quyển thuý vi, Bán sơn sƣơng diệp bán yên phi. Đông thành hoạ nghịch an lƣu phản, Nam kiếu minh hồng cố quốc phi. Địa quýnh thuỵ tuyền xuyên lĩnh đới, Tuế hàn vân tống phụng thiên y. Tinh tra sạ xúc hoàng than thạch, Nghi cận song tinh4 dạ độ ki. Dịch nghĩa: Mặt trời đứng ngọ trƣớc núi, vén màn xanh, Nửa núi sƣơng mờ, nửa núi khói phất phơ. Thuyền hoa Đông thành nhẹ nhàng trở về, Cánh chim hồng bể Nam bay về quê hƣơng. Đất trồi lên, nƣớc sông xoáy xuyên qua dải núi, Năm tàn lạnh lẽo, mây làm chiếc áo trời. Thuyền bè chợt chạm phải đá bãi vàng, Ngỡ gần bãi đá mà Ngƣu lang, Chức nữ đi sang trong đêm. Dịch thơ: Vầng dƣơng trƣớc núi vén màn mây, Nửa núi sƣơng giăng, nửa khói dày. Thuyền xứ Đông thành về bến lƣớt, Cánh hồng Nam hải lƣợn quê ai. Sông dài đất cuốn, xuyên non biếc, Khói lạnh năm tàn, vá áo mây. Bất chợt bè sao chạm bãi đá, 4 Song tinh: hai vì sao. Theo Từ nguyên tức là sao Ngƣu lang và sao Chức nữ.

283

Ngỡ bờ Ngƣu Chức buổi sum vầy. 151/6. 天 寒 三 水 凍 無 魚 異 域 難 憑 遠 使 書 老 蚌 含 珠 和 霧 隱 童 牛 負 耒 破 雲 鋤 消 磨 歲 月 山 頭 禿 閱 歷 風 塵 石 髮 疏 寄 問 請 封 陪 价 者 龍 輿 北 幸 近 何 如 Thiên hàn Tam Thuỵ1 đống vô ngƣ,2 Dị vực nan bằng viễn sứ thƣ. Lão bạng hàm châu hoà vụ ẩn, Đồng ngƣu phụ lỗi phá vân sừ. Tiêu ma tuế nguyệt sơn đầu ngỗi, Duyệt lịch phong trần thạch phát sơ. Ký vấn thỉnh phong bồi giới giả, Long dƣ bắc hạnh cận hà nhƣ? Dịch nghĩa: Trời đông ở Tam Thuỵ, rét đến không có cá, Nơi xứ lạ khó nhờ cậy tin thƣ xa. Nghêu sò ngậm ngọc lẩn trong sƣơng móc, Trẻ con cỡi trâu vác cày bừa nát cả mây trời. Năm tháng mài mòn cả đầu núi, Trải bao gió bụi đầu tóc đá thƣa. Nhắn hỏi đoàn sứ thỉnh phong, Xe rồng lên bắc dạo này thế nào? Dịch thơ: Trời đông Tam Thuỷ, cá khôn bơi, Đất lạ khó nhờ thƣ đến nơi. Ngậm ngọc, trai sò len móc ẩm, Vác cày, mục tử xới mây trời. Tháng ngày dầu dãi, đầu non trụi, Gió bụi xông pha, tóc đá rời. Ƣớm hỏi thỉnh phong đoàn sứ giả, Xe rồng lên bắc đã ra khơi? 152/7. 牽 舟 人 上 半 山 途 舟 去 山 留 古 道 孤 地 接 楚 城 榔 不 長 天 高 秦 嶺 雪 難 逾 蔑 才 慚 愧 官 司 會 專 對 兢 惶 我 鄙 儒 愛 禮 慶 今 尋 遠 聖 來 庭 無 用 貢 珊 瑚

Khiên chu nhân thƣớng bán sơn đồ, Chu khứ sơn lƣu Cổ Đạo3 cô. Địa tiếp Sở thành lang bất trƣởng, Thiên cao Tần lĩnh tuyết nan du. Miệt tài tàm quý quan ti hội, Chuyên đối4 cắng hoàng ngã bỉ nho. Ái lễ khánh kim tầm viễn thánh, Lai đình vô dụng cống san hô. Dịch nghĩa: Neo thuyền, ngƣời đi lên con đƣờng giữa núi, Thuyền đi, núi ở lại, Cổ Đạo đứng một mình. Đất liền thành Sở, cây cau tƣởng khó lớn, Trời cao núi Tần, tuyết khó tan. Tài hèn thấy thẹn cũng đƣợc mang chức quan, Ứng đối nơm nớp lo sợ vì là nhà nho hèn. Mến lễ nghi, mừng ngày nay đƣợc ở nơi thánh triều, Đến chầu chẳng cần cống san hô. Dịch thơ: Neo thuyền rẽ lối giữa non lơ, Núi ở thuyền đi, Cổ Đạo trơ. Đất sát Sở thành, cau khó mọc, Trời cao Tần lĩnh, tuyết khôn mờ. Tài hèn hổ thẹn mang quan tƣớc, Ứng đối ngại ngùng lão hủ nho. Chuộng lễ mừng nay tìm viễn thánh, Vào triều khỏi phải cống san hô. 153/8. 封 川 路 入 瘴 江 西 深 洞 編 氓 雜 漢 黎 耘 跡 未 青 蘿 蔔 圃 燒 痕 猶 黑 荔 枝 隄 居 人 度 日 終 嫌 短 行 客 占 星 不 覺 低 鼓 櫂 撥 開 千 里 霧 淵 驚 眠 鱷 樹 猿 啼 Phong Xuyên lộ nhập chƣớng giang tê (tây), 5 Thâm động biên manh tạp Hán lê. Vân tích vị thanh la bặc phố, Thiêu ngân do hắc lệ chi đê. Cƣ nhân độ nhật chung hiềm đoản, Hành khách chiêm tinh bất giác đê. Cổ trạo bát khai thiên lý vụ, Uyên kinh miên ngạc thụ viên đề. Dịch nghĩa: Đƣờng vào Phong Xuyên theo mé tây con sông thẳm,

1 Nguyên chú: huyện danh = tên huyện. Theo Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển, huyện Tam Thuỵ đƣợc thiết lập từ nhà Hán, huyện thuộc phủ Quảng Đông, Quảng Châu. 2 Ngƣ: cá. Ở đây chỉ thƣ từ, lấy ý từ một câu trong cổ thi “Hữu bằng viễn phƣơng lai, Di ngã song lý ngƣ” (có bạn từ xa đến, tặng ta một đôi cá chép)

3 Nguyên chú: địa danh. 4 Luận ngữ: “sứ ƣ tứ phƣơng, bất năng chuyên đối” (đi sứ bốn phƣơng, không biết lấy gì mà đối đáp). 5 Phong Xuyên: là vùng đất huyện Quảng Tín đời Hán, đến đời Tấn là huyện Phong Hƣng, đời Tuỳ đổi lại thành Phong Xuyên. Đời Thanh thuộc phủ Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông.

284

Trong động sâu, ngƣời dân không nghề nghiệp gì sống chung với dân Hán. Vƣờn cải còn dấu cày chƣa xanh màu, Bãi lệ chi (vải) vết cháy vẫn còn đen. Ngƣời dân cho ta ở thì tính ngày vẫn còn e ít, Khách đi nhìn sao bất giác thấy sà thấp (ngày tháng qua nhanh). Quẫy chèo xua sạch mây mù muôn dặm, Làm kinh giấc ngủ kình ngạc ở vực sâu, vƣợn trên cây hú rộn. Dịch thơ: Phong Xuyên men lối bến sông ngầu, Động hút bao ngƣời sống lẫn nhau. Vải đỏ, ngấn tro còn cháy thẳm, Cải xanh, vết cuốc chửa lên màu. Cƣ dân tính buổi còn hiềm ít, Hành khách nhìn sao đã sát đầu. Quẫy nƣớc chèo khua sƣơng vạn dặm, Vƣợn ngàn hú động ngạc khe sâu. 154/9. 甘 村 冬 景 好 安 排 忙 裏 行 人 望 亦 佳 雲 樹 晴 分 天 有 路 煙 波 暮 起 水 無 涯 窖 炊 粗 糲 重 陪 菜 門 避 諠 囂 半 掩 柴 醉 臥 石 牀 歌 帝 力 邱 隅 黃 鳥 和 喈 喈 Cam thôn đông cảnh hảo an bài, 1 Mang lý hành nhân vọng diệc giai. Vân thụ tình phân thiên hữu lộ, Yên ba mộ khởi thuỵ vô nhai. Diếu xuy thô lệ trùng bồi thái, Môn tị huyên hiêu bán yểm sài. Tuý ngoạ thạch sàng ca Đế lực,2 Khâu ngung hoàng điểu hoạ giai giai. Dịch nghĩa: Cảnh đông làng Cam khéo sắp bày, Ngƣời đi đƣờng trong cơn vội vã mà trông cũng đẹp. Mây trắng cây xanh quang tạnh rõ ràng, trời nhƣ có lối, Khói sóng chiều dâng, nƣớc không bến bờ. Bếp nhỏ thổi cơm thô, đƣợc thêm món rau,

1 Nguyên chú: địa danh. Theo Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển có mục Cam: vùng tây nam huyện Lạc Dƣơng tỉnh Hà Nam. Mục Cam Trúc khƣ: phía tây nam huyện Thuận Đức tỉnh Quảng Đông. 2 Đế lực: là những việc làm của vua. Bài hát Khang cù có câu: “Canh điền nhi thực, tạc tỉnh nhi ẩm, đế lực hà hữu vu ngã tai?” (Tự cày ruộng mà ăn, tự đào giếng mà uống, việc làm của vua nào có cho ta?). Ý nói, không phải chịu ơn vua. Sách Hán thƣ có câu: “Thu hào giai đế lực dã” (mảy may đều là của vua). Trong thơ Trịnh Hoài Đức, thì lại gồm cả hai ý trên.

Tránh ồn ào nên cửa gỗ khép hờ. Say nằm trên giƣờng đá, hát bài Đế lực, Bên gò chim vàng anh hót líu lo. Dịch thơ: Làng Cam khéo vẽ cảnh mùa đông, Vội vã hành nhân, đẹp lạ lùng. Mây trắng cây xanh, trời rẽ lối, Khói chiều sóng toả, nƣớc mênh mông. Cơm thô, thổi bếp thêm rau món, Cửa củi, lánh trần khép nửa không. Phản đá say nằm, ca Đế lực, Bên đồi chim hót tiếng thanh trong. 155/10. 腰 間 長 劍 倚 天 開 萬 壑 陰 陰 蟄 凍 雷 菊 徑 凋 傷 包 老 圃 松 風 蕭 颯 粵 王 臺 酒 躋 稱 聖 斯 無 量 詩 到 驚 神 即 脫 胎 多 少 路 前 冠 蓋 客 洛 陽 曾 是 看 花 回 Yêu gian trƣờng kiếm ỵ thiên khai, Vạn hác âm âm chập đống lôi. Cúc kính điêu thƣơng Bao lão phố,3 Tùng phong tiêu táp Việt vƣơng đài.4 Tửu tê xƣng thánh tƣ vô lƣợng, Thi đáo kinh thần tức thoát thai.5 Đa thiểu lộ tiền quan cái khách,6 Lạc Dƣơng tằng thị khán hoa hồi.7 3 Bao lão phố: vƣờn lão Bao, tức Bao Chửng, ngƣời Hợp Phì, đời Tống, tên tự là Hy Nhân. Thời Tống Nhân Tông, ông giữ chức tri phủ phủ Khai Phong, chấp pháp nghiêm minh, quan thân quý thích vì ông mà kiêng dè, dân chúng cũng chẳng dám lừa dối, dẫu đàn bà con trẻ cũng biết tiếng ông. Bấy giờ ở kinh thành có câu rằng: “quan tiết bất đáo, hữu Diêm La Bao lão” (chẳng vì riêng tƣ, có lão Bao nhƣ Diêm La). Tính ông ít cƣời, nên ngƣời ta ví có đƣợc nụ cƣời của ông nhƣ nƣớc sông Hoàng Hà trong. Ông làm quan đến chức Khu mật phó sứ, lúc mất đặt thuỳ là Hiếu Túc. Có lẽ chính vì Bao Chửng quá siêng năng trong công việc, ngƣợc với Đào Tiềm (Đào Tiềm thì sợ khóm cúc hoang vu, từ quan mà về, còn Bao Chửng thì mải lo việc quan, nên khu vƣờn của Bao Chửng không ngƣời chăm sóc để hoang) vì vậy, Trịnh Hoài Đức mƣợn cúc vƣờn lão Bao để nói lên sự tàn tạ của cúc chăng? 4 Việt vƣơng đài: đài vua Việt, đài nằm trên núi Việt Tú, phía bắc tỉnh trị Quảng Đông. Triệu Đà (Triệu Vũ vƣơng) dựng đài trên núi ấy nhân đó đặt tên là Việt vƣơng đài. Thơ Hàn Dũ có câu: Nhạc tấu Vũ vƣơng đài (Nhạc trỗi trên đài Vũ vƣơng). Vũ vƣơng đài cũng chính là Việt vƣơng đài. 5 Thoát thai: Sâm Đồng Khế có câu: “Công thành chi hậu, thoát thai xuất khẩu” (sau khi công phu tựu thành thì sinh ra từ miệng). Ở đây ý nói đạo gia tu dƣỡng thánh thai, cuối cùng sinh ra từ miệng. Về sau, nghĩa này bị thay đổi, ngƣời ta làm sự việc nào đó thay hình đổi dạng thành một sự vật khác. 6 Quan cái: chỉ mũ lọng, phục sức của nhà quan. Phú của Ban Cố có câu: “Quan cái nhƣ vân, thất tƣớng ngũ công” (mũ lọng nhƣ mây, bảy tƣớng năm công). Lại có nghĩa là ngƣời có sứ mệnh đi qua đi lại không dứt. 7 Lạc Dƣơng: là một trong những kinh đô cổ nổi tiếng phồn hoa ở Trung Quốc, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.

285

Dịch nghĩa: Giữa lƣng đeo trƣờng kiếm, tựa vào trời xanh, Muôn hốc núi âm u, côn trùng lạnh kêu rỉ rả. Vƣờn họ Bao, mấy hàng cúc hoang tàn, Đài vua Việt, gió thổi cội tùng xơ xác. Rƣợu lên đến độ xƣng thánh, thì là vô lƣợng, Thơ đến chỗ kinh cả thần linh, ấy là thoát thai (xuất khẩu thành thơ). Trên đƣờng kia có bao nhiêu ngƣời khách đội mũ che lọng? Từng ngắm hoa nơi đất Lạc Dƣơng trở về. Dịch thơ: Lƣng đeo trƣờng kiếm dựa trời mây, Vạn hốc âm u dế thở dài. Lối cúc điêu tàn Bao lão phố, Gió thông réo rắt Việt vƣơng đài. Rƣợu say xƣng thánh rằng vô lƣợng, Thơ đến kinh thần ắt thoát thai. Trƣớc lối bao nhiêu ngƣời mũ lọng, Ngắm hoa giữa chốn Lạc Dƣơng này? 156/11. 自 我 勞 勞 屢 雁 賓 半 年 北 嶺 半 南 旻 凌 波 濕 透 王 生 襪 冒 雪 寒 侵 孟 浩 巾 默 數 道 途 多 苦 況 暗 矜 筋 力 尚 強 人 蒼 梧 行 見 農 桑 樂 舜 教 南 巡 未 隕 淪 Tự ngã lao lao lũ nhạn tân, Bán niên bắc lĩnh bán nam mân. Lăng ba thấp thấu Vƣơng Sinh miệt,1 Mạo tuyết hàn xâm Mạnh Hạo cân.2 Mặc số đạo đồ đa khổ huống, Ám căng cân lực thƣợng cƣờng nhân. Thƣơng Ngô hành kiến nông tang vụ, Thuấn giáo nam tuần vị vẫn luân. Dịch nghĩa: Từ độ ta nhọc nhằn làm lũ khách nhƣ cánh nhạn,

1 Vƣơng Sinh: tức Vƣơng Duy, ngƣời Thái Nguyên, tên tự Ma Cật, thời Đƣờng Huyền Tông, làm quan đến chức Thƣợng thƣ Hữu thừa, ngƣời đời gọi là Vƣơng Hữu thừa, ông giỏi thơ, vẽ tranh sơn thuỵ rất đẹp, ngƣời ta gọi là “trong thơ có hoạ, trong hoạ có thơ”, cũng là tổ của phái hoạ Nam tông, ông có căn nhà ở Võng Xuyên (ở huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây, cảnh sắc núi non, sông nƣớc tân kỳ, vừa hiểm trở lại vừa kỳ thú), thƣờng cùng Bùi Địch dạo chơi ở Võng Xuyên, làm thơ vẽ tranh. Trịnh Hoài Đức dùng chuyện này để nói mình trèo đèo vƣợt suối, nhƣng không phải là du ngoạn nhƣ Vƣơng Duy. 2 Mạnh Hạo: tức Mạnh Hạo Nhiên, ngƣời Tƣơng Dƣơng, nhà thơ nổi tiếng đời Đƣờng, ông cũng là nhà thơ phái điền viên sơn thuỵ nhƣ Vƣơng Duy. Ông có câu thơ: “Bất tài minh chủ khí, quy ngoạ cố sơn thu” (vì bất tài nên minh chủ bỏ, đành quay về núi xƣa nằm trong cảnh thu).

Nửa năm ở núi bắc, nửa năm ở trời nam. Vƣợt sóng thấm ƣớt hài vải Vƣơng Duy, Đội tuyết lạnh lùa khăn Mạnh Hạo. Nhẩm tính quãng đƣờng đi lắm gian khổ, Thầm mừng gân sức vẫn còn nhƣ ngƣời trẻ trai. Ngang qua Thƣơng Ngô thấy đƣợc mùa dâu, Thật là phƣơng Nam vẫn còn thấm nhuần giáo hoá của vua Thuấn. Dịch thơ: Từ độ nhọc nhằn khách xứ xa, Trời nam, núi bắc, một năm qua. Vƣơng Sinh hài ấy dầm sƣơng sóng, Mạnh Hạo khăn này đẫm tuyết pha. Nhẩm tính đƣờng dài bao khổ cảnh, Thầm mừng gân sức vẫn niên hoa. Thƣơng Ngô ngang thấy mùa dâu trẩy, Thuấn giáo phƣơng nam vẫn chửa nhoà. 157/12. 近 來 海 外 絕 波 氛 中 國 遙 知 有 聖 君 重 譯 南 行 占 出 日 孤 帆 北 望 入 高 雲 棚 城 幸 沐 春 風 化 銅 柱 彌 隆 宿 世 勳 歲 暮 巴 江 江 上 過 敢 將 公 事 歎 離 群 Cận lai hải ngoại tuyệt ba phân, Trung Quốc dao tri hữu thánh quân. Trùng dịch3 nam hành chiêm xuất nhật, Cô phàm bắc vọng nhập cao vân. Bằng thành hạnh mộc xuân phong hoá, Đồng trụ4 di long túc thế huân. Tuế mộ Ba giang5 giang thƣợng quá, Cảm tƣơng công sự thán li quần. Dịch nghĩa: Dạo này ngoài bể không còn sóng dữ, Trung Quốc xa biết có đấng thánh quân. Từ phƣơng nam đi sứ, xem bóng mặt trời mọc, Cánh buồm côi về phía bắc tƣởng lẫn vào mây. Thành gác may mắn gội trong cảnh xuân, Trụ đồng to lớn, mà công lao đã qua. Cuối năm ta qua sông Ba giang, Đâu dám đem việc công mà than nỗi cách xa. Dịch thơ: 3 Trùng dịch: cũng nhƣ phiên dịch, ở đây chỉ việc đi sứ. 4 Đồng trụ: cột đồng. Lâm ấp ký chép: Mã Viện trồng hai cây trụ đồng ở nam giới Tƣợng Lâm để chia ranh giới với nƣớc Tây Đồ. Các thuyết xƣa nói rằng, nay ở mé tây huyện Khâm tỉnh Quảng Đông. Còn Tƣợng Lâm là vùng đất Thuận Hoá của nƣớc An Nam (Việt Nam ta). Ở đây Trịnh Hoài Đức cũng nhƣ Ngô Nhân Tĩnh đều nói đến cột đồng do Mã Viện dựng ở Quảng Đông. 5 Ba Giang: sông Ba Thuỵ, ở Hà Nam.

286

山 到 無 山 地 步 寬 爲 語 南 從 門 下 客 檀 車 將 駕 鋏 休 彈 Gia thƣ sơ khải kiến bình an, Hỉ uý hà tu triệt vĩ khan. Tự ngã vi thần năng kiến tiết, Tri khanh giáo tử giải hoà hoàn. Thuỵ quy hữu thuỵ nguyên lƣu viễn, Sơn đáo vô sơn địa bộ khoan. Vị ngữ nam tùng môn hạ khách,2 Đàn xa tƣơng giá giáp hƣu đàn.3 Dịch nghĩa: Thƣ nhà vừa mở ra xem thấy bình an, Mừng vui đâu cần xem đến hết thƣ. Tự thuở ta làm bầy tôi biết dựng điều tiết nghĩa, Biết nàng dạy con có phƣơng pháp. Nƣớc chảy về biển, dòng nƣớc thêm sâu dài, Núi cao đến mức không còn núi, đƣờng đi thênh thang. Nhắn gởi về nam ngƣời khách dƣới cửa kia, Xe sắp thắng ngựa lên đƣờng, chớ gõ gƣơm ca. Dịch thơ: Thƣ nhà vừa mở đặng bình an, Mừng chẳng cần xem đến cuối hàng. Tiết nghĩa bầy tôi, ta gắng dựng, Lẽ thƣờng con cháu, thiếp khuyên lơn. Nƣớc trôi về biển, nguồn sâu thẳm, Non ngất cùng non, bƣớc vững vàng. Nhắn gửi về nam, ngƣời dƣới cửa, Xe đàn sắp thắng, chớ ca vang! 160/15. 深 深 旅 雁 度 南 關 我 尚 離 家 未 暫 還 碁 賦 有 人 爭 老 手 乾 坤 無 藥 住 童 顏 雲 封 下 古 滄 桑 局 雪 撒 中 州 白 玉 環 4 此 去 燕 臺 應 不 遠 舉 頭 紅 日 在 前 山 Thâm thâm lữ nhạn độ Nam quan, Ngã thƣợng li gia vị tạm hoàn. Kì phú hữu nhân tranh lão thủ, Càn khôn vô dƣợc trú đồng nhan.

Ngoài biển nghe rằng sóng dữ yên, Trung Hoa xa biết có vua hiền. Từ nam, đi sứ nhìn trời rạng, Ngóng bắc, buồm côi lẫn khói tiên. Thành gác đằm xuân cơn gió mát, Cột đồng càng lớn chiến công thiêng. Sông Ba lại vƣợt, năm tàn muộn, Công cán ai ngƣời than thở riêng. 158/13. 葉 睡 相 思 日 欲 昏 椰 帆 迢 遞 白 沙 墩 沖 寒 雉 浴 江 頭 水 破 曉 雞 鳴 洞 裏 村 問 酒 漫 沽 酬 冷 淡 呼 童 且 酌 話 溫 存 明 朝 更 換 梧 州 艇 須 向 行 裝 細 討 論 Diệp thuỳ tƣơng tƣ nhật dục hôn, Da phàm điều đệ Bạch Sa1 đồn. Xung hàn trĩ dục giang đầu thuỵ, Phá hiểu kê minh động lý thôn. Vấn tửu mạn cô thù lãnh đạm, Hô đồng thả chƣớc thoại ôn tồn. Minh triêu cánh hoán Ngô Châu đĩnh, Tu hƣớng hành trang tế thảo luân. Dịch nghĩa: Lá khép lại nhƣ tƣơng tƣ, mặt trời sắp lặn, Cánh buồm xa xa về bến Bạch Sa. Chim trĩ tắm mình dƣới nƣớc để xua cơn rét, Tiếng gà gáy trong thôn làm tan màn đêm. Hỏi mua chút rƣợu để xua cơn lạnh lùng, Gọi trẻ nhỏ vừa rót vừa nói chuyện ôn tồn. Sáng mai lại đổi thuyền sang Ngô Châu, Nên dặn dò kỷ càng thu xếp hành trang. Dịch thơ: Tƣơng tƣ lá khép, bóng chiều tà, Thấp thoáng buồm về bến Bạch Sa. Tránh rét trĩ ngâm đầu bãi nƣớc, Tàn đêm gà gáy giữa thôn nhà. Pha trà gọi trẻ, câu nồng ấm, Rót rƣợu xua hàn, chuyện nhẩn nha. Mai sớm Ngô Châu thuyền lại đổi, Hành trang gói ghém chớ quên à! 159/14. 家 書 初 啟 見 平 安 喜 慰 何 須 徹 尾 看 自 我 爲 臣 能 建 節 知 卿 教 子 解 和 凡 水 歸 有 水 源 流 遠

2 Môn hạ khách: khách dƣới cửa. Trong bài này đang nhắc đến điển Phùng Hoan, nhƣng tác giả ám chỉ Lê Quang Định sắp đi sứ. 3 Đàn xa: xe bằng gỗ đàn. Xƣa thƣờng dùng gỗ cây đàn để làm xe vì gỗ cây đàn cứng, cũng dùng để chỉ xe dùng trong quân dịch. Giáp hƣu đàn: đừng gõ kiếm, điển Phùng Hoan gõ kiếm ca ở nhà Mạnh Thƣờng Quân. Ở đây tác giả có ý chỉ việc Lê Quang Định cũng sắp đi sứ. 4 Bản A.780 chép là 圜

1 Nguyên chú: địa danh.

287

Thuyền đi chậm, ngồi xem ngỡ chở cả núi non. Ngƣời quẫy chèo giao nhau hát nhƣ khóc, Kẻ hầu trà sợ rét ngủ gà gật. Huyện thành ở bến sông thăm hỏi tình hình, Ghi chép việc đi đƣờng làm bài giải sầu. Dịch thơ: Cờ gấm dạt dào Bối Thuỷ tuôn, Sông xui về bắc vạn đƣờng mòn. Áo manh, ƣớc chổi xua tàn tuyết, Buồm nặng, ngỡ thuyền chở núi non. Bạn lái nhịp nhàng ca tựa khóc, Hầu trà lạnh lẽo mộng chon von. Huyện thành bến nƣớc qua thăm hỏi, Ghi chép tạm xem khúc giải buồn. 162/17. 何 有 隆 冬 朔 雪 驕 儐 臣 熱 血 自 能 調 一 川 堤 蔭 丹 楓 葉 兩 岸 田 抽 小 麥 苗 思 客 港 頭 遙 舊 路 望 夫 山 下 急 征 橈 東 歸 淡 蕩 三 榕 水 不 逐 行 人 報 信 潮 Hà hữu long đông sóc tuyết kiêu, Tân thần nhiệt huyết tự năng điều. Nhất xuyên đê ấm đan phong diệp, Lƣỡng ngạn điền trừu tiểu mạch miêu. Tƣ Khách hạng đầu dao cựu lộ,6 Vọng Phu sơn hạ cấp chinh nghiêu.7 Đông quy đạm đãng Tam Dung thuỵ,8 Bất trục hành nhân báo tín triều. Dịch nghĩa: Trời đông rét mƣớt, tuyết phƣơng bắc rơi lạnh sao, Nhiệt huyết của sứ thần có thể tự điều hoà. Cả bờ sông rợp mát lá phong đỏ, Hai bên bờ ruộng lúa non nẩy mầm xanh. Đầu ngõ Tƣ Khách có con đƣờng xƣa xa xa, Dƣới núi Vọng Phu mái chèo gấp khua. Đƣờng về đông, dòng Tam Dung quang tạnh, Ngƣời đi đƣờng không dứt báo tin con nƣớc. Dịch thơ: Đất bắc đông sang tuyết lạnh nhiều, Há đâu nhiệt huyết sứ thần tiêu. Đôi bờ ruộng lúa xanh mơn mởn, Một dải sông phong đỏ hắt hiu. Dƣới núi Vọng Phu, chèo lƣớt vội,

Vân thôn Hạ Cổ1 thƣơng tang cục,2 Tuyết tát Trung Châu3 bạch ngọc hoàn. Thử khứ Yên Đài4 ƣng bất viễn, Cử đầu hồng nhật tại tiền san. Dịch nghĩa: Từng đàn nhạn bay qua cửa ải Nam quan, Ta còn xa nhà, chƣa về đƣợc. Cờ phú đã có ngƣời tranh vị trí nhất, Đất trời nào có thuốc giữ mãi tuổi thanh xuân. Mây phủ trời Hạ Cổ, đời nhƣ biển dâu thay đổi, Tuyết rắc đất Trung Châu, cuộc sống quẩn quanh tựa chuỗi ngọc trắng. Từ đây đến Yên Đài chắc không còn xa nữa, Ngẩng đầu mặt trời đỏ ở đầu non. Dịch thơ: Từng đàn nhạn bắc vƣợt Nam quan, Ta vẫn xa quê cách biệt làng. Cờ phú có ngƣời tranh lão luyện, Đất trời không thuốc giữ dung nhan. Mây giăng Hạ Cổ, đời dâu bể, Tuyết rắc Trung Châu, chuỗi ngọc quàng. Đƣờng đến Yên Đài chừng mấy quãng? Đầu non vầng nhật rực trông sang. 161/16. 飄 颻 浿 水 繡 旌 懸 北 向 開 河 路 萬 千 衣 薄 夢 思 驅 雪 箒 帆 遲 坐 訝 載 山 船 篙 師 相 盪 歌 如 哭 茶 僕 驚 寒 起 又 眠 水 汛 縣 城 過 問 譯 紀 程 聊 當 解 愁 篇 Phiêu diêu Bối Thuỵ tú tinh huyền, 5 Bắc hƣớng khai hà lộ vạn thiên. Y bạc mộng tƣ khu tuyết trửu, Phàm trì toạ nhạ đới sơn thuyền. Cao sƣ tƣơng đãng ca nhƣ khốc, Trà bộc kinh hàn khởi hựu miên, Thuỵ tấn huyện thành qua vấn dịch, Kỵ trình liêu đáng giải sầu thiên. Dịch nghĩa: Cờ tinh thêu phơ phất trên sông Bối Thuỵ, Sông mở về phƣơng bắc cả trăm lối đi. Áo mỏng, mơ có đƣợc chổi để quét sạch tuyết, 1 Hạ Cổ: chƣa biết ở đâu. 2 Thƣơng tang cục: cuộc biển dâu, chỉ sự đổi dời, từ chữ “thƣơng hải tang điền”. 3 Trung Châu: chỉ Trung Nguyên, Trung Quốc. 4 Yên Đài: chỉ Bắc Kinh, Trung Quốc. 5 Bối Thuỵ: Nguyên chú: địa danh. Theo Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển, huyện Bối Thuỵ nay là Nghĩa Châu thuộc bờ Nam sông Ấp Lục, Triều Tiên. Sông Bối Thuỵ, nay gọi là sông Ấp Lục giang.

6 Tƣ Khách hạng: Ngõ Tƣ Khách. Nguyên chú: tại Phú Xuân kinh đông nam (ở phía đông nam kinh đô Phú Xuân). 7 Vọng Phu sơn: núi Vọng Phu. Nguyên chú: tại Quảng Đông giang bắc (ở phía bắc sông Quảng Đông). 8 Tam Dung thuỵ: sông Tam Dung. Nguyên chú: triều thuỷ chí thử nhi chỉ (nƣớc triều đến đây thì hết).

288

Đầu đƣờng Tƣ Khách, ngõ phong rêu. Tam Dung lờ lững xuôi đông chảy, Chẳng giúp ngƣời đi báo tín triều. 163/18. 持 危 履 險 伏 師 梢 檜 雨 簧 風 任 戶 敲 抱 火 漁 翁 宵 下 釣 披 簑 山 客 晝 于 茅 漸 從 佳 景 同 嚵 蔗 有 用 吾 生 豈 繫 匏 萬 里 經 過 王 事 者 岑 溪 惆 悵 孝 鳩 巢 Trì nguy lý hiểm phục sƣ sao, Cối vũ hoàng phong nhậm hộ xao. Bão hoả ngƣ ông tiêu hạ điếu, Phi xoa sơn khách trú vu mao. Tiệm tùng giai cảnh đồng sàm giá,1 Hữu dụng ngô sinh khởi hệ bào.2 Vạn lý kinh qua vƣơng sự giả, Sầm khê trù trƣớng hiếu cƣu sào. Dịch nghĩa: Chèo chống hiểm nguy cậy có bạn chèo, Cây cối trúc vàng mặc mƣa gió gõ lùa. Lão chài ôm đèn, ban đêm thả câu, Ông tiều đắp áo tơi, buổi sáng trở về nhà cỏ. Dần vui theo cảnh đẹp nhƣ kiểu nhai mía, Đời ta có chỗ dùng, há là quả bầu treo hờ. Trải qua vạn dặm bởi làm việc vua, Núi khe cao ngất, tổ chim cƣu kêu buồn. Dịch thơ: Chống nguy đỡ hiểm cậy ai chèo, Gió trúc mƣa mai gõ cửa reo. Ôm đuốc ngƣ ông đêm thả móc, Khoác tơi sơn khách sáng về lều. Dần xem cảnh đẹp, nhƣ nhai mía, Hữu dụng đời ta, bầu hão treo? Vạn dặm trải bao điều vƣơng sự, Non cao buồn bã hiếu cƣu kêu. 164/19. 樂 有 天 然 散 鬱 陶 沖 寒 獨 自 覆 香 醪 無 絃 琴 是 知 音 客 不 朽 名 歸 命 世 豪

韶 石 徽 聲 重 隔 霧 蒼 梧 古 道 半 埋 篙 行 人 欲 鼓 湘 靈 瑟 千 載 湘 靈 調 正 高 Lạc hữu thiên nhiên tán uất đào, Xung hàn độc tự phúc hƣơng lao. Vô huyền cầm thị tri âm khách, Bất hủ danh quy mệnh thế hào. Thiều thạch chuỵ thanh trùng cách vụ, Thƣơng Ngô Cổ Đạo bán mai cao. Hành nhân dục cổ Tƣơng Linh sắt,3 Thiên tải Tƣơng Linh điệu chính cao. Dịch nghĩa: Vui có cảnh thiên nhiên làm tan nỗi sầu muộn, Xua cơn lạnh một mình uống rƣợu thơm. Đàn không dây đó là khách tri âm, Cái danh bất hủ đều do số mệnh lớn. Tiếng chuỵ, nhạc thiều, lẩn trong sƣơng móc, Thƣơng Ngô Cổ Đạo có mái chèo nửa bị vùi. Ngƣời đi đƣờng muốn gảy đàn Tƣơng Linh, Ngàn năm tiếng đàn Tƣơng Linh vẫn vút cao. Dịch thơ: Mừng có thiên nhiên giãi nỗi sầu, Lạnh lùng mƣợn rƣợu chuốc xua mau. Đàn không dây ấy ngƣời tri kỷ, Danh chẳng mục do vận số vào. Tiếng chuỷ điệu thiều, sƣơng lẩn vọng, Thƣơng Ngô Cổ Đạo, mái dầm sâu. Ai ngƣời định gảy Tƣơng Linh sắt? Ngàn thuở Tƣơng Linh điệu vút cao. 165/20. 三 見 他 鄉 十 月 過 村 臨 楊 柳 奈 愁 何 柴 扉 寂 寞 峰 岩 冷 瓜 艑 遲 迥 水 石 磨 君 國 未 酬 恩 義 重 歲 時 休 較 別 離 多 推 窗 高 喚 招 舟 子 起 椗 飛 橈 急 渡 河 Tam kiến tha hƣơng thập nguyệt qua, Thôn lâm Dƣơng Liễu nại sầu hà.4 Sài phi tịch mịch phong nham lãnh, Qua biển trì quynh thuỵ thạch ma. Quân quốc vị thù ân nghĩa trọng,

1 Sàm giá: nhai mía. Ông Cố Khải Chi mỗi khi ăn mía thì ăn từ ngọn tới gốc và nói rằng "dần dần vào cảnh thú" (tiệm chí giai cảnh 漸至佳境). Vì thế nên sự gì từ khổ mà đến sƣớng gọi là giá cảnh 蔗境. 2 Quả bầu. Sách Luận ngữ nói: "Ngô khởi bào qua dã tai, yên năng hệ nhi bất thực" 吾豈匏瓜也哉 ! 焉能繫而不食 (Ta há phải là quả bầu đâu ! Sao hay treo mà ăn không đƣợc). Tục gọi kẻ sĩ không đƣợc dùng làm quan là "bào hệ" 匏繫 nghĩa là để hờ hão thôi, không có dùng làm gì.

3 Tƣơng Linh sắt: đàn sắt Tƣơng Linh, Tƣơng Linh hay Tƣơng phi, vợ vua Thuấn. Tƣơng truyền, khi vua Thuấn tuần thú phƣơng Nam mất ở đồng Thƣơng Ngô, hai bà vợ của vua là Nga Hoàng và Nữ Anh ôm đàn sắt đi tìm, đến bờ sông Tƣơng khóc than, nƣớc mắt nhuốm vào trúc ở đó làm trúc đốm vàng, rồi trầm mình xuống sông Tƣơng. Sau khi mất, thƣờng hiện hồn gãy đàn sắt trên sông Tƣơng, tiếng đàn ai oán não nùng. 4 Nguyên chú: thôn danh (tên thôn). Dƣơng Liễu: thôn Dƣơng Liễu.

289

Tuế thời hƣu giảo biệt li đa. Thôi song cao hoán chiêu chu tử, Khởi đĩnh phi nghiêu cấp độ hà. Dịch nghĩa: Nơi đất lạ đã qua ba tháng mƣời, Làng thôn Dƣơng Liễu sầu não lòng. Cửa tre vắng vẻ, đá núi lạnh lẽo, Thuyền thúng xoay vòng, sóng đá mài mòn. Ơn vua ơn nƣớc còn mang nặng chƣa đền đáp, Năm tháng xa cách còn dần dà chƣa về. Đẩy cửa cao giọng gọi lái đò, Nhổ neo trƣơng buồm gấp gấp vƣợt sông. Dịch thơ: Ba bận tháng mƣời nơi đất lạ, Đến thôn Dƣơng Liễu, sầu ôi cha! Cửa sài tịch mịch triền non lạnh, Thuyền nhỏ lòng vòng sóng đá va. Quân quốc chƣa đền ơn nghĩa nặng, Tháng năm mờ mịt nỗi chia xa. Lùa song cao giọng kêu đò mãi, Hãy chóng khua chèo vƣợt sóng qua. 166/21. 山 城 深 處 咽 清 笳 隔 岸 殘 陽 落 遠 沙 萬 里 匆 匆 天 外 客 一 泓 淡 淡 月 中 槎 蕭 森 青 欖 臨 三 峽 飄 泊 紅 蘋 過 五 叉 酒 後 覺 來 詩 肚 燥 呼 童 生 火 夜 烹 茶 Sơn thành thâm xứ yết thanh già, Cách ngạn tàn dƣơng lạc viễn sa. Vạn lý thông thông thiên ngoại khách, Nhất hoằng đạm đạm nguyệt trung tra. Tiêu sâm thanh trám lâm Tam Hiệp,1 Phiêu bạc hồng tần quá Ngũ Xoa.2 Tửu hậu giác lai thi đỗ táo, Hô đồng sinh hoả dạ phanh trà. Dịch nghĩa: Chốn sâu nơi thành núi có tiếng và nổi lên, Bóng chiều tà bên kia bờ rơi xuống bãi cát xa. Ngƣời khách lạ trên đƣờng muôn dặm vội vã, Một mái bè trôi trên dải sông rộng bàng bạc ánh trăng. Rừng cây trám um tùm xanh ngát, dẫn vào Tam Hiệp, Bập bềnh tần đỏ, vƣợt qua Ngũ Xoa. Sau cơn rƣợu chợt thấy lòng thơ thúc giục, Gọi trẻ nhuốm lửa pha trà đêm.

1 Tam Hiệp: Nguyên chú: địa danh. Tam Hiệp hay còn gọi là Tam Giáp. 2 Ngũ Xoa: Nguyên chú: địa danh.

Dịch thơ: Sơn thành hun hút tiếng tù và, Bên núi chiều tà bãi cát xa. Muôn dặm bôn ba ngƣời viễn xứ, Một dòng bát ngát mái trăng ngà. Trám xanh ngăn ngắt vào Tam Hiệp, Tần đỏ bồng bềnh vƣợt Ngũ Xoa. Cơn rƣợu tỉnh rồi thơ xót dạ, Gọi đồng nhóm lửa, tối pha trà. 167/22. 山 如 利 戟 水 如 湯 前 路 悠 悠 險 且 長 橘 柚 影 寒 籠 曉 霧 猴 猻 聲 斷 入 斜 陽 輕 肥 我 遇 深 於 赤 報 補 心 雄 貫 彼 蒼 會 挹 龍 光 歸 去 後 輿 頭 分 插 嶺 梅 香 3 Sơn nhƣ lợi kích thuỵ nhƣ thang, Tiền lộ du du hiểm thả trƣờng. Quýt dữu ảnh hàn lung hiểu vụ, Hầu tôn thanh đoạn nhập tà dƣơng. Khinh phì 4 ngã ngộ thâm ƣ xích, Báo bổ tâm hùng quán bỉ thƣơng. Hội ấp long quang quy khứ hậu, Dƣ đầu phân sáp lĩnh mai hƣơng. Dịch nghĩa: Núi nhƣ kích nhọn, nƣớc nóng nhƣ sôi, Chặng đƣờng phía trƣớc dài dằng dặc và đầy nguy hiểm. Bóng cây cam quýt lạnh lẽo trong màn sƣơng sớm, Tiếng vƣợn tiếng hầu đứt nối hút trong ánh tà dƣơng. Ta đƣợc ơn tri ngộ đối đãi sâu đậm hơn son đỏ, Lòng muốn báo đáp thấu cả trời xanh. Sau khi mang ánh sáng vinh quang trở về, Trƣớc đầu xe chia cắm mai núi ngát hƣơng. Dịch thơ: Non nhƣ giáo nhọn, nƣớc nhƣ sôi, Tiền lộ gian nguy xa cách vời. Bóng quýt lạnh lùng sƣơng sớm phủ, Tiếng hầu nức nở bóng chiều rơi. Nghĩa tình tri ngộ hơn son thắm, Báo đáp hùng tâm thấu đất trời. Mang ánh long quang ta trở lại, Đầy xe mai núi ngạt ngào phơi. 3 Bản Trần Kinh Hoà chép: 擔 頭 分 帶 嶺 梅 香 4 Khinh phì: ý chỉ áo cừu nhẹ, ngựa béo tốt (khinh cầu phì mã). Luận ngữ: Thừa phì mã, ý khinh cầu (cỡi ngựa béo, mặc áo cừu nhẹ). Ở đây có ý chỉ ơn tri ngộ đối đãi của vua Nguyễn đối với tác giả.

290

乍 恐 吟 高 遏 斗 星 詩 酒 近 來 充 客 料 應 知 默 有 效 山 靈 Lộ tàng thâm thụ khoáng sa đinh, Điệp chƣớng tằng loan liệt hoạ bình. Cốt sấu giang thành mai lạc lạc, Ảnh sơ thôn hạng trúc đình đình. Ngẫu nhân hứng dật vong nhân ngã,3 Sạ khủng ngâm cao át (yết) đẩu tinh. Thi tửu cận lai sung khách liệu, Ƣng tri mặc hữu hiệu sơn linh. Dịch nghĩa: Cò vạc trốn trong lùm cây nơi bãi cát rộng, Núi non trùng điệp bày nhƣ bức bình phong. Mai ở thành bên sông gầy xơ xác, Bóng trúc nơi đầu hẻm rũ lơ thơ. Chợt vì dật hứng nên quên ta với ngƣời, Thoắt sợ ngâm nga át cả sao đẩu. Thơ với rƣợu gần đây tràn trề lòng khách, Nên biết yên lặng học theo non thiêng. Dịch thơ: Rừng sâu cò ẩn bãi buồn tênh, Non núi lô nhô tựa hoạ bình. Xƣơng xẩu Giang thành mai lả tả, Rập rờn thôn xóm trúc xanh xanh. Bởi nhân dật hứng quên ta - khách, Chợt sợ cao ngâm át đẩu tinh. Thơ rƣợu dạo này tuỳ khách liệu, Học theo linh núi cứ làm thinh. 170/25. 觀 音 觀 裏 石 崚 嶒 擎 出 雲 間 補 納 僧 星 篲 掃 餘 寒 葉 聚 月 簾 釣 下 暮 煙 凝 靜 參 風 送 三 生 偈 閑 卜 花 開 五 夜 燈 到 枕 吼 鯨 音 百 八 一 腔 俗 慮 碧 江 澄 Quan Âm quán lý thạch lăng tằng, Kình xuất vân gian bổ nạp tăng. Tinh tuệ tảo dƣ hàn diệp tụ, Nguyệt liêm điếu hạ mộ yên ngƣng. Tĩnh tham phong tống tam sinh kệ, Nhàn bốc hoa khai ngũ dạ đăng. Đáo chẩm hống kình âm bách bát, Nhất xoang tục lự bích giang trừng. Dịch nghĩa: Trong tự quán Quan Âm, đá bày cao chót vót, Giữa đám mây hiện ra một vị sƣ.

168/23. 帆 開 燕 翼 蘸 流 清 風 送 舟 臨 肇 慶 城 屋 舍 蟬 聯 炎 帝 市 旌 旛 隼 動 亞 夫 營 歲 將 餘 日 收 成 効 雲 爲 孤 山 補 不 平 遙 度 故 園 今 夜 況 有 人 燈 下 數 歸 程 Phàm khai yến dực trám (tiếu) lƣu thanh, Phong tống chu lâm Triệu Khánh thành. Ốc xá thiền liên Viêm đế thị,1 Tinh phiên chuẩn động Á phu doanh.2 Tuế tƣơng dƣ nhật thâu thành hiệu, Vân vị cô sơn bổ bất bình. Dao đạc cố viên kim dạ huống, Hữu nhân đăng hạ sổ quy trình. Dịch nghĩa: Cánh buồm mở ra nhƣ cánh én giữa dòng nƣớc trong, Gió đƣa thuyền vào đến thành Triệu Khánh. Nhà cửa sầm uất nhƣ chợ Viêm đế, Cờ xí rợp trời tựa doanh trại của Á phu. Năm sắp tàn, gắng gom lại những ngày thừa, Mây vì núi đơn lẻ, vá những khoảng trống chẳng bằng. Nơi xa đoán chắc đêm nay ở vƣờn cũ, Có ngƣời bên ngọn đèn đếm ngày ta trở về. Dịch thơ: Buồm căng cánh én, lƣớt dòng sông, Triệu Khánh thuyền vô gió thổi nồng. Viêm Đế cửa nhà san sát nối, Á Phu cờ xí rợp trời phong. Năm tàn gom góp ngày thừa lại, Mây phủ vá chằng khoảng núi không. Vƣờn cũ, đêm nay, xa đoán biết, Ngày về, dƣới nến có ngƣời trông. 169/24. 鷺 藏 深 樹 曠 沙 汀 疊 嶂 層 巒 列 畫 屏 骨 瘦 江 城 梅 落 落 影 疏 村 巷 竹 亭 亭 偶 因 興 逸 忘 人 我 1 Viêm Đế: họ Khƣơng, xƣng họ Thần Nông, thay họ Phục Hy làm vua, chế tạo cày bừa dạy dân canh tác, nếm trăm thứ cỏ để làm thuốc, giữa trƣa thì họp chợ, để thúc đẩy buôn bán, truyền ngôi đƣợc tám đời, gồm 500 năm. Ở đây ý chỉ phƣơng nam Trung Quốc (Theo tự điển Từ nguyên). 2 Á Phu doanh: doanh trại của Liễu Á Phu. Sách Hán thƣ, Chu Á Phu truyện chép: Thời Hán Văn đế, đại tƣớng Chu Á Phu, đóng quân ở Tế Liễu (nay là vùng đông bắc huyện Lâm đồng tỉnh Thiểm Tây), quân pháp nghiêm minh, thiên tử đến, chƣa có lệnh quân sĩ không dám mở cửa cho vào, ngƣời đời sau thƣờng gọi là “Liễu doanh”, hay “Á Phu doanh”.

3 Vong nhân ngã: quên đi đâu là khách đâu là chủ, cũng nhƣ vong ngã (quên đi bản ngã), chỉ tâm đạt tới tĩnh lặng.

291

Những vì sao nhƣ chiếc chổi gom quét lá thu dồn lại, Bức màn trăng thả câu, khói chiều nhƣ ngƣng tụ. Ngồi lặng lẽ, gió vẳng đƣa bài kệ tam sinh (ba đời), Nhàn nhã nhìn xem, ngọn nến năm canh nở hoa đèn, Tiếng chuông vọng đến gối một trăm lẻ tám tiếng, Bao niềm trần tục lắng trong nhƣ dòng sông xanh. Dịch thơ: Tự quán Quan Âm núi xếp tầng, Ngàn mây phảng phất bóng tăng nhân. Chổi sao quét lá thu về cội, Ánh nguyệt câu liêm khói ngỡ ngừng. Ba kiếp kinh lồng, ta tĩnh lặng, Năm canh đèn nở, đoá hoa dâng. Tiếng kình vọng gối trăm linh tám, Sông biếc gạn trong những nhọc nhằn. 171/26. 恰 逢 身 世 到 神 州 十 里 餘 過 一 傳 郵 歸 海 江 流 今 古 夢 依 山 城 築 往 來 愁 談 心 喜 共 陳 徐 榻 醉 月 閑 聯 李 郭 舟 平 樂 金 鑼 聲 一 響 桂 林 景 色 入 船 頭 Cáp phùng thân thế đáo thần châu, Thập lý dƣ qua nhất truyền (truyện) bƣu. Quy hải giang lƣu kim cổ mộng, Y sơn thành trúc vãng lai sầu. Đàm tâm hỵ cộng Trần Từ tháp,1 Tuý nguyệt nhàn liên Lý Quách chu.2 Bình Lạc kim la thanh nhất hƣởng, Quế Lâm cảnh sắc nhập thuyền đầu. Dịch nghĩa: Kiếp này may gặp đƣợc đến đất kinh kỳ, Qua hơn mƣời dặm có một trạm truyền tin. Dòng sông chảy về biển chở theo giấc mộng xƣa nay,

Thành xây dựa vào núi, chứa chất nỗi sầu kim cổ. Cùng giƣờng tâm tình, nhƣ Trần Phồn, Từ Trĩ, Chung thuyền say trăng tựa Lý Ƣng, Quách Thái. Tiếng chuông vàng ở Bình Lạc vừa vang động, Cảnh sắc Quế Lâm thu cả vào trong thuyền. Dịch thơ: Thân sứ ta nay đến đế kỳ, Đƣờng qua mƣời dặm một tin bay. Sông về biển rộng, mơ kim cổ, Thành dựa non ngàn, hận vãng lai. Chung sạp Trần, Từ, vui ý hợp, Một thuyền Lý, Quách, đối trăng say. Chuông vàng Bình Lạc vừa vang động, Cảnh Quế thuyền thu một cõi này. 172/27. 雲 到 山 頭 嵐 出 林 雲 開 山 竇 夕 嵐 沈 漂 羅 漸 蹙 江 心 水 喜 客 全 希 葉 底 禽 已 見 粵 西 還 若 此 更 聞 燕 北 雪 猶 深 慇 勤 報 與 同 舟 道 整 頓 衣 裘 理 褥 衿 Vân đáo sơn đầu nham xuất lâm, Vân khai sơn đậu tịch nham trầm, Phiêu la tiệm xúc giang tâm thuỵ, Hỉ khách toàn hy diệp để cầm. Dĩ kiến Việt Tây hoàn nhƣợc thử, Cánh văn Yên Bắc tuyết do thâm. Ân cần báo dữ đồng chu đạo, Chỉnh đốn y cầu lý nhục khâm. Dịch nghĩa: Mây bay đến đầu núi, khói lam ra khỏi rừng, Mây tan ra khỏi hang, khói chiều phủ xuống. Bồng bềnh con thuyền chạm sát nƣớc lòng sông, Trong bụi thƣa chim hót nhƣ mừng khách đến. Đã thấy cảnh trời Việt Tây (Quảng Tây) nhƣ thế này, Lại thêm nghe Yên Bắc (Bắc Kinh) tuyết rơi dày. Ân cần nhắn với ngƣời cùng thuyền, Hãy thu xếp áo cừu chăn bông cẩn thận. Dịch thơ: Mây phủ đầu non khói núi tà, Hốc non mây vén, khói chiều sa. Lặng lờ thuyền lƣớt lòng sông áp, Ríu rít chim chào dƣới bãi xa. Đã thấy Việt Tây hơi khí lạnh, Thêm nghe Yên Bắc tuyết rơi nhoà.

1 Trần Từ: tức Trần Phồn, Từ Trĩ. Trần Phồn có chiếc giƣờng, chỉ giành riêng cho bạn mình là Từ Trĩ ngồi. Khi Từ Trĩ về, Trần Phồn lại treo giƣờng lên. 2 Lý, Quách: tức Lý Ƣng và Quách Thái. Sách Hậu Hán thƣ, Quách Thái truyện chép: Quách Thái tự Lâm Tông, ngƣời Giới Hƣu, Thái Nguyên, gia thế nghèo hèn, bèn đi chơi ở Lạc Dƣơng, gặp quan doãn Hà Nam Lý Ƣng. Ƣng lấy làm lạ bèn kết bạn, do đó danh tiếng chấn động kinh sƣ. Sau về quê, các nhà nho tiễn đến bên sông, số xe đến nghìn cỗ. Lâm Tông với Lý Ƣng ngồi chung thuyền, cùng hợp sức chèo lái. Các tân khách nhìn đều cho là thần tiên. (Chú theo bản của Hoài Anh)

292

Ân cần nhắn bảo trong thuyền hãy, Sửa soạn chăn màn, áo ấm nha! 173/28. 濟 世 人 材 說 楩 楠 自 傷 樗 櫟 重 行 拈 瞢 聞 荊 璧 秦 庭 弄 只 愛 驪 珠 禹 穴 探 水 陸 莫 勞 程 里 萬 江 山 相 送 我 儔 三 擬 酬 二 百 年 孤 望 皇 化 從 玆 到 越 南 Tế thế nhân tài thuyết tiện nam, 1 Tự thƣơng xƣ lịch trọng hành niêm.2 Mông văn3 kinh bích Tần đình lộng,4 Chỉ ái li châu Vũ huyệt tham.5 Thuỵ lục mạc lao trình lý vạn,6 Giang sơn tƣơng tống ngã trù tam. Nghĩ thù nhị bách niên cô vọng,7 Hoàng hoá tùng tƣ đáo Việt Nam. Dịch nghĩa: Bậc nhân tài cứu đời nói chuyện cây tiện nam, Tự thƣơng mình vô dụng mà đƣợc trọng dụng. Xa nghe ngọc kinh hí lộng cả triều Tần, Chỉ thích cầm ngọc li châu thăm hang Vũ. Bôn ba vạn dặm đƣờng thuỵ đƣờng bộ, cũng đừng than khó nhọc, Đã có núi sông đƣa tiễn ba ngƣời chúng ta. Hãy đáp đền nỗi mong ngóng từ hai trăm năm trƣớc, Ơn vua từ đây thấm nhuần Việt Nam.

Dịch thơ: Cứu đời thƣờng nói tiện nam tinh, Vô dụng thân đây cũng đƣợc vinh. Riêng thích cầm châu chơi Vũ huyệt, Đã nghe ôm ngọc giỡn Tần đình. Dặm đƣờng thuỷ bộ, đừng than nhọc, Suốt cõi non sông, tiễn chúng mình. Dốc đáp ân tình bao thuở trƣớc, Việt Nam giờ đã gội oai linh. 174/29. 海 龍 領 袖 狐 裘 襜 備 禦 窮 冬 具 已 兼 且 看 分 明 山 聚 米 何 關 歷 亂 雪 飄 鹽 官 巖 廊下 花 名 勝 8 佛 鎮 街 前 酒 價 廉 夜 半 彷 徨 眠 不 得 姮 娥 消 息 隔 重 簷 Hải long lĩnh tụ hồ cầu xiêm, Bị ngự cùng đông cụ dĩ kiêm. Thả khán phân minh sơn tụ mễ, Hà quan lịch loạn tuyết phiêu diêm. Quan nham lang hạ hoa danh thắng, Phật trấn nhai tiền tửu giá liêm. Dạ bán bàng hoàng miên bất đắc, Hằng Nga tiêu tức cách trùng diêm.9 Dịch nghĩa: Cổ áo hình rồng biển, vạt áo cừu lông chồn, Những thứ chống chọi với cái rét mùa đông đã đầy đủ. Nhìn thấy núi tuyết phủ rõ ràng nhƣ đống gạo trắng, Nào lo tuyết bay tung nhƣ muối rắc đầy. Dƣới mái hiên nhà quan, hoa nào cũng đẹp, Trƣớc phố chùa chiền, hàng rƣợu giá rẻ. Nửa đêm bồn chồn không ngủ đƣợc, Nhìn bóng trăng lấp ló treo trƣớc hiên. Dịch thơ: Cổ áo rồng chầu, áo khoác lông, Đủ kham giá rét cuối mùa đông. Hãy xem non chất nhƣ cơm trắng, Sá ngại tuyết lùa tựa muối bông. Hoa ở nhà quan nhiều kiểng đẹp, Rƣợu nơi trấn Phật giá nhƣ không. Nửa đêm thao thức không tròn giấc, Trƣớc mái hàng hiên bóng nguyệt lồng.

1 Tiện nam: loại cây lớn, sinh sản ở vùng núi đất Thục Kiềm. Thân cao hơn mƣời trƣợng, lá lớn có hình tròn, mùa đông không bị rụng lá, hoa có màu xanh nhạt, quả tím đen, chất gỗ cứng lại có mùi thơm, dùng làm rƣờng cột vật dụng rất tốt, màu cây đỏ thì cứng, màu cây trắng thì giòn. 2 Xƣ lịch: Cây xƣ, cây lịch, loại gỗ không dùng đƣợc việc gì, nên bây giờ tự nói nhún mình là "xƣ tài" kẻ vô tài. 3 Bản Trần Kinh Hoà chép: 蓇 間 4 Kinh bích Tần đình lộng: ôm ngọc kinh giữa triều Tần. Chỉ chuyện Lạn Tƣơng Nhƣ đi sứ sang Tần, đem ngọc đổi thành. Vua Tần muốn đƣợc ngọc mà không chịu giao thành, Tƣơng Nhƣ quyết chết theo ngọc, buộc Tần phải đổi mƣời lăm toà thành để lấy ngọc. 5 Vũ huyệt: hang Vũ. Theo Sử ký, Thái sử công tự tự có nói: năm hai mƣơi tuổi đi về phƣơng nam chơi ở vùng Giang Hoài, lên núi Cối Kê, vào Vũ huyệt. Sách Chính nghĩa dẫn quát địa chí nói: núi Thạch Thanh, còn có tên là núi Ngọc Duẩn, lại có tên là núi Uyển Uỵ, tức ngọn núi Cối Kê. Sách Thuỷ kinh chú nói: Trên núi Cối Kê có miếu của vua Vũ. Ngày xƣa, vua Vũ đi tuần thú phía đông, mất ở Cối Kê, nền táng ở đất ấy. Phía đông ngọn núi có cái giếng sâu không thấy đáy, tức là Vũ huyệt. 6 Bản Trần Kinh Hoà chép là 萬 里 e nhầm, vì không đối với câu dƣới. 7 Câu này có lẽ nói đến nhà Nguyễn, kể từ mở cõi, chia đàng Trong và đàng Ngoài vào năm 1600 cho đến khi Gia Long lên ngôi 1802, là đƣợc hơn 200 năm. Trong thơ Nôm Đi sứ cảm tác, ông cũng có ý giống câu này.

8 Các bản đều chép là 官 巖 鄉 下 quan nham hƣơng hạ, khó mà dịch thông, nên chúng tôi e chép nhầm, theo chúng tôi là 官 巖 廊 下 quan nham lang hạ (dƣới mái hiên nhà quan) mới đúng. 9 Hằng Nga: còn gọi là Tần nga, vợ Hậu Nghệ, vì ngửi trộm thuốc tiên của Vƣơng mẫu cho chồng mà bay lên cung trăng. Sau Hằng Nga dùng để chỉ trăng.

293

枳棘鳳姑停 拓落魁人傍 江南地最靈 TẶNG QUẢNG TÂY TỈNH TU CHỨC LANG BÀNH TUNG LINH BẠN SỨ Nghiêu giai xuất thụy minh,4 Tứ cực cộng lai đình. Cố ngã mi vô bạch, Đa quân nhãn hữu thanh.5 Mai toan canh trữ hoạ, Chỉ cức phụng cô đình. Thác lạc khôi nhân bạng, Giang Nam địa tối linh. Dịch nghĩa: TẶNG QUAN TIẾP SỨ BÀNH TUNG LINH, TU CHỨC LANG TỈNH QUẢNG TÂY Thềm vua Nghiêu mọc cỏ minh tốt đẹp, Bốn phƣơng cùng đến sân chầu, Ông lo cho tôi chu đáo, lông mày không trắng, Cũng nhờ ông là ngƣời có con mắt xanh. Quả mơ chua có thể hoà canh, Cây gai góc, chim phụng không đỗ đƣợc. Tôi bơ vơ giữa trời xa đƣợc đứng bên ngƣời kỳ vĩ, Đất Giang Nam quả là chỗ địa linh. Dịch thơ: Thềm Nghiêu cỏ tốt sinh, Bốn cõi đến sân đình. Chu đáo, mày không trắng, Thật tình, mắt có xanh. Mơ chua, canh dễ nếm, Gai góc, phụng khôn dừng. Đứng cạnh ngƣời khôi vĩ, Giang Nam xứng địa linh. 186. 臨桂縣正堂范來濡前冬嚴寒惠送柴炭元宵 鬧會復陪使部觀燈適承省委勸農告行因以 詩贈 南馳繡節向神京 臨桂高衙幸識荊 送炭雪天饒厚意 陪燈元夜綽餘情 鄭牢善論慚非我 文穆英風繼有卿 雅見閭閻相指視

175/30. 禿 盡 蘆 花 爲 雁 啣 後 凋 寒 歲 識 松 杉 水 湍 崖 震 將 遷 谷 風 迓 雲 行 欲 墜 岩 曉 日 乍 翻 龍 窟 動 客 舟 纔 過 石 門 緘 挑 燈 閑 讀 王 褒 頌 壓 倒 情 芽 宿 未 芟 Ngốc tận lƣ hoa vị nhạn hàm, Hậu điêu hàn tuế thức tùng sam.1 Thuỵ thoan nhai chấn tƣơng thiên cốc, Phong nhạ vân hành dục truỳ nham. Hiểu nhật xạ phiên long quật động, Khách chu tài quá thạch môn giam. Khiêu đăng nhàn độc Vƣơng Bao tụng,2 Áp đảo tình nha túc vị sam. Dịch nghĩa: Hoa lau bị lũ nhạn ngậm trụi hết, Trời lạnh cây tàn mới biết tùng xanh tƣơi. Nƣớc chảy xiết, vách núi rung tƣởng hang dời, Gió thổi mây bay tƣởng vách núi rơi. Ánh nắng sớm chợt loé sáng nhƣ rồng bay ra khỏi hang thẳm, Thuyền khách vừa qua khỏi cửa đá phong kín. Khêu đèn nhàn nhã ngồi đọc bài tụng của Vƣơng Bao, Đè nén đƣợc mầm tình lâu nay vẫn chƣa cắt. Dịch thơ: Lũ nhàn ngậm trụi vạt hoa lau, Năm muộn trời đông, thông vẫn màu. Nƣớc xiết vách rung, non ngỡ động, Gió đƣa mây cuốn, đá nhƣ xao. Nắng mai loé sáng hang rồng chuyển. Thuyền khách vừa qua cửa đá rào. Nhàn tụng Vƣơng Bao khêu nến đọc, Mầm tình chƣa cắt đã gầy hao. 177. 贈廣西省修職郎彭嵩齡伴使3 堯階出瑞蓂 四極共來庭 顧我眉無白 多君眼有青 梅酸羮佇和 1 Câu này thoát từ ý câu “tuế hàn nhi hậu điêu”. 2 Vƣơng Bao tụng: tức chỉ Thánh chủ đắc hiền thần tụng của Vƣơng Bao.Vƣơng Bao, ngƣời đất Thục, sống vào thời nhà Hán, tên chữ là Tử Uyên. Thứ sử Ích Châu là Vƣơng Tƣơng tiến cử vào kinh đô, dâng bài Thánh chủ đắc hiền thần tụng. Thời Hán Tuyên Đế, làm chức Gián đại phu, sai ngƣời đến Ích Châu để tế tự thần Kim Mã Bích Kê, rồi mất trên đƣờng đi. 3 Nguyên chú: 彭江南人 (Bành Tung ngƣời Giang Nam)

4 Minh: tức cỏ minh giáp, một loại cỏ báo điềm lành (theo truyền thuyết thời vua Nghiêu, Trung Quốc cổ đại). 5 Mi vô bạch: mày không trắng; nhãn hữu thanh: mắt có màu xanh, tức thanh nhãn. Xƣa Nguyễn Tịch không thích ai thì trợn mắt lên chỉ thấy toàn lòng trắng, ngƣợc lại thì ông dùng mắt xanh. Thanh nhãn (mắt xanh) dùng để chỉ thái độ tôn trọng ngƣời khác. Cả hai đều có ý chỉ việc đối xử tôn trọng ngƣời khác.

294

枝退黃楊戶遶煙 王事靡遑稽地遠 客愁無那值長年 甌人乍報更春服 寒勝吾鄉冬至天 VIỆT TÂY SỨ QUÁN NHUẬN NHỊ NGUYỆT KHẨU CHIẾM Ngoã tƣớc song song hý lựu tiền, Án đầu điêu tích tỉnh triêu miên. Diệp dƣ thanh giáp giai hàm vũ, Chi thối hoàng dƣơng hộ nhiễu yên. Vƣơng sự mỷ hoàng kê địa viễn, Khách sầu vô ná trị trƣờng niên. Âu nhân xạ báo canh xuân phục, Hàn thắng ngô hƣơng đông chí thiên. Dịch nghĩa: THÁNG HAI NHUẦN Ở SỨ QUÁN QUẢNG TÂY ỨNG KHẨU LÀM THƠ Từng đôi chim én giỡn bay trƣớc sân thềm, Trƣớc giƣờng tiếng thằn lằn làm tỉnh giấc ngủ sớm. Cây giáp xanh còn vài chiếc lá, dƣới thềm còn đằm cơn mƣa, Cành thông vàng trĩu xuống, ngoài cửa sổ khói toả bay. Việc vua chƣa thành, còn ở mãi nơi xa, Khách buồn chẳng biết thế nào, năm tháng đằng đẵng. Trẻ hầu chợt báo đến lúc thay quần áo xuân, Mùa xuân mà lạnh hơn cả tiết trời đông chí ở quê mình. Dịch thơ: Từng đôi chin én giỡn sƣơng bay, Trƣớc án thằn lằn giục giấc mai. Hoa lá tƣơi xanh, thềm móc đẫm, Thông vàng cành trĩu, cửa hƣơng xây. Việc vua chƣa vẹn, đƣờng xa thẳm, Nỗi khách vô biên, năm tháng dài. Hầu trẻ chợt thƣa, xuân phục đổi, Lạnh hơn quê cũ tiết đông thay! 188. 使館清明同請封副使阮迪吉題懷 遷橋鶯語柳綿蠻 蕭索郵亭晝掩關 乞火何人歸北舍 掃墳此日憶南山 草霑細雨宵猶下 花滿芳園客未還 翹望朝陽1心萬里

朱旛良令勸春耕 LÂM QUẾ HUYỆN CHÍNH ĐƢỜNG PHẠM LAI NHU TIỀN ĐÔNG NGHIÊM HÀN HUỆ TỐNG SÀI THÁN NGUYÊN TIÊU NÁO HỘI PHỤC BỒI SỨ BỘ QUAN ĐĂNG THÍCH THỪA TỈNH UỶ KHUYẾN NÔNG CÁO HÀNH NHÂN DĨ THI TẶNG Nam trì tú tiết hƣớng thần kinh, Lâm Quế cao nha hạnh thức kinh. Tống thán tuyết thiên nhiêu hậu ý, Bồi đăng nguyên dạ xƣớc dƣ tình. Trịnh lao thiện luận tàm phi ngã, Văn mục anh phong kế hữu khanh. Nhã kiến lƣ diêm tƣơng chỉ thị, Châu phan lƣơng lệnh khuyến xuân canh. Dịch nghĩa: CHÍNH ĐƢỜNG HUYỆN LÂM QUẾ LÀ PHẠM LAI NHU VÀO MÙA ĐÔNG TRƢỚC TIẾT SƢƠNG LẠNH ĐÃ TẶNG CHO THAN CỦI, HỘI RẰM THÁNG GIÊNG LẠI DẪN ĐOÀN SỨ BỘ ĐI XEM ĐÈN HOA, VỪA LÚC THỪA LỆNH TỈNH PHẢI ĐI KHUYẾN NÔNG NÊN CÁO BIỆT ĐI, NHÂN ĐÓ TÔI LÀM THƠ TẶNG Từ phƣơng Nam rong ruổi cầm cờ tiết đến kinh đô, Nơi phố Lâm Quế may mắn đƣợc biết anh. Trời đông tuyết lạnh, anh tặng than củi, tỏ rõ ý đãi trọng hậu, Đêm rằm tháng giêng, dẫn đi xem đèn hoa, tỏ tình rộng rãi của anh. Tôi tự thẹn mình chẳng phải là kẻ giỏi luận bàn trong lao nƣớc Trịnh, Mà anh thì nối đƣợc phong cốt tốt đẹp của Văn Mục. Thƣờng thấy xóm làng tay chỉ nhìn nhau, Cờ phƣớn đỏ ban lệnh khuyến khích vụ đầu xuân. Dịch thơ: Từ Nam rong ruổi đến kinh thành, Lâm Quế công đƣờng may biết anh. Cho củi trời đông, bày hậu ý, Xem đèn hội tết, tỏ chân tình. Trịnh lao giỏi luận, tôi thêm thẹn, Văn Mục anh tài, bác nối nhanh. Nhìn thấy xóm làng cùng ngóng chỉ, Quan lành cờ đỏ khuyến xuân canh. 187. 粵西使館潤二月口占 瓦雀雙雙戲霤前 案頭蜩蜥醒朝眠 葉餘青莢階含雨

1 Nguyên chú: 富春京朝會閣 (Triêu Dƣơng là gác hội triều ở kinh đô Phú Xuân).

295

幾回夢寐接鵷班 SỨ QUÁN THANH MINH ĐỒNG THỈNH PHONG PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT ĐỀ HOÀI 1 Thiên kiều oanh ngứ liễu miên man, Tiêu tác bƣu đình trú yểm quan. Khất hoả hà nhân quy bắc xá,2 Tảo phần thử nhật ức nam san. Thảo triêm tế vũ tiêu do há, Hoa mãn phƣơng viên khách vị hoàn. Kiều vọng Triêu Dƣơng tâm vạn lý, Kỵ hồi mộng mị tiếp uyên ban. Dịch nghĩa: TIẾT THANH MINH Ở SỨ QUÁN CÙNG THỈNH PHONG PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT GHI NỖI NHỚ Chim oanh hót ríu rít chuyền cành, tơ liễu bay đầy, Ở bƣu đình vắng vẻ, suốt ngày đóng cửa. Ai ngƣời xin lửa trở về nhà phía bắc, Hôm nay gặp ngày tảo mộ, nhớ núi nam. Đêm khuya mƣa nhỏ còn rơi đầm cây cỏ, Hoa nở ngập vƣờn thơm, khách chửa kịp về. Xa trông điện Triêu Dƣơng, lòng nơi vạn dặm, Bao lần ngủ mơ thấy ở triều ban. Dịch thơ: Dời cành oanh hót liễu tơ buông, Xơ xác bƣu đình đóng cửa suông. Xin lửa ai ngƣời về bắc xá. Gặp ngày tảo mộ nhớ quê hƣơng. Mƣa phùn thấm cỏ, đêm phơ phất, Hƣơng ngát vƣờn hoa, khách dặm trƣờng. Xa ngóng Triêu Dƣơng lòng vạn dặm, Triều ban mộng mị giấc hằng vƣơng. 189. 暮春登老君巖和廣西趙竹君題壁原韻 城西春暮挈樽瓢 且及行看花柳朝 延客洞開雲掛竇 整容巖浴雨流橋 函關雪散遺青犢 榕樹3風高送紫箾 遠价北瞻天子氣 恒山深阻熱河遙

MỘ XUÂN ĐĂNG LÃO QUÂN NHAM HOẠ QUẢNG TÂY TRIỆU TRÚC QUÂN ĐỀ BÍCH NGUYÊN VẬN Thành tây xuân mộ khế tôn biều, Thả cập hành khan hoa liễu triêu. Diên khách động khai vân quải đậu, Chỉnh dung nham dục vũ lƣu kiều. Hàm quan tuyết tán di thanh độc, Dung thụ phong cao tống tử tiêu. Viễn giá bắc chiêm thiên tử khí, Hằng sơn thâm trở Nhiệt Hà diêu. Dịch nghĩa: CUỐI XUÂN LÊN NGỌN NÚI LÃO QUÂN, HOẠ THEO NGUYÊN VẦN BÀI THƠ ĐỀ VÁCH CỦA TRIỆU TRÖC QUÂN NGƢỜI QUẢNG TÂY Cuối xuân nơi tây thành mua vài bầu rƣợu, Lại kịp đi xem tiết hoa liễu nở. Mây nhƣ mời khách, bay ra khỏi hang núi, vƣớng vít trên hốc núi, Mƣa nhƣ sửa lại vẻ mặt, gội rửa cả ngọn núi, nƣớc chảy qua cầu. Nơi ải Hàm Quan tuyết tan đi, hé lộ con trâu xanh, Ở lầu Dung Thụ gió thổi lồng lộng, đƣa tiếng sáo vẳng đến. Xa nhìn lên hƣớng bắc để xem luồng khí thiên tử, Nhƣng núi Hằng Sơn cao cao ngăn cách Nhiệt Hà xa xôi. Dịch thơ: Xuân muộn thành tây rƣợu một bầu, Cũng xem kịp buổi liễu hoa sao. Động khơi mây toả, mời du khách, Núi tắm mƣa bay, lƣợn dƣới cầu. Dung Thụ gió lồng đƣa tiếng sáo, Hàm Quan tuyết chảy lộ non sâu. Xa nhìn phƣơng bắc hơi thiên tử, Vời vợi Nhiệt Hà núi tiếp nhau. 191. 驛舍夢故表弟仁山 廿載鴒原濕淚啼 悴荊無復望生稊 臨岐惶惑吾從事 示夢殷勤汝醒迷 存沒忘機悲化蝶 枕檀能恪起燒猊 近來依托憑誰所 得失寒暄未及提 DỊCH XÁ MỘNG CỐ BIỂU ĐỆ NHÂN SƠN Chấp tải linh nguyên thấp lệ đề,

1 Bài thơ đƣợc làm vào năm Quý Hợi (1803), bấy giờ Nguyễn Địch Cát cũng đƣợc cử làm phó sứ trong sứ đoàn sang nƣớc Thanh cầu phong do chánh sứ Lê Quang Định dẫn đầu. 2 Khất hỏa: xin lửa, ý chỉ ngƣời đi giảng hòa. Ở đây chỉ ngƣời làm việc sứ giả. 3 Nguyên chú: 榕樹樓在巖北 (lầu Dung Thụ (cây Dong) ở phía bắc ngọn núi).

296

Thiệu Hƣng khả tá xung sầu tửu, Gia Định thƣờng tƣ bác thực hoan.3 Dạ tiếp hổ long thiêu dƣợc đỉnh, Thời khu tê tƣợng tẩu đồng bàn. Nhĩ lai hƣ phụ giang thần hảo, Lục phiếm Tƣơng Ly thuỵ mãn than.4 Dịch nghĩa: GIẢI SẦU LÀM THƠ ĐÙA, TRÌNH CÁC VỊ TRONG ĐOÀN ĐI SỨ Phòng kín biết rõ là đƣờng đi khó, Cái rét lạnh của mƣa xuân nơi thành Quế Lâm xói vào ngƣời. Ở Thiệu Hƣng có thể mƣợn rƣợu tiêu sầu, Còn ở Gia Định thƣờng nhớ món thịt lửng nƣớng. Đêm thì hoà hợp hổ rồng ở lò đốt thuốc, Ngày thì xua tê giác chạy trên mâm đồng. Dạo này luống phụ ý tốt của thần sông, Nƣớc tràn bến bờ, xanh ngắt giòng Tƣơng Ly. Dịch thơ: Rõ ràng phòng kín khó vào trong! Thành Quế mƣa xuân, héo cõi lòng. Gia Định thƣờng mơ thịt lửng nƣớng, Thiệu Hƣng thời mƣợn rƣợu sầu công. Đêm chơi rồng hổ, bên lò thuốc, Ngày đuổi voi tê, trƣớc đĩa đồng. Nƣớc trƣớng Tƣơng Ly, bờ bãi thắm, Lâu nay luống phụ ý thần sông! 193. 桂林解纜 陡灘兎伏風鴻飆 山岳屏開江水潮 象國去冬停繡節 桂林今夏發花橈 後先雨表葵心篤 南北一家氛祲銷 從此燕京龍密勿 御爐香繞使袍饒 QUẾ LÂM GIẢI LÃM Đẩu than thố phục phong hồng tiêu, Sơn nhạc bình khai giang thuỵ triều. Tƣợng Quốc khứ đông đình tú tiết,1

Tuỳ kinh vô phục vọng sinh đề. Lâm kỳ hoàng hoặc ngô tòng sự, Thị mộng ân cần nhữ tỉnh mê. Tồn một vong cơ bi hoá điệp,1 Chẩm đàn năng khác khởi thiêu nghê. Cận lai y thác bằng thuỳ sở, Đắc thất hàn huyên vị cập đề. Dịch nghĩa: NƠI TRẠM DỊCH, MỘNG THẤY NGƢỜI EM HỌ ĐÃ MẤT LÀ NHÂN SƠN Hai chục năm trời, chim chìa vôi thƣờng đẫm lệ kêu, Cỏ kinh nay thôi hết chờ sinh cỏ đề nữa. Lúc chia tay dè dặt ngần ngừ, ta theo việc nƣớc, Trong giấc mộng luôn ân cần, em nhƣ tỉnh nhƣ mê. Còn mất đều quên đi, đau lòng chuyện hoá bƣớm, Gối thơm thƣờng kính cẩn nằm, bèn dậy đốt chút trầm hƣơng. Gần đây biết nƣơng cậy vào ai? Chuyện đƣợc mất, khi nói chuyện chƣa kịp nhắc đến. Dịch thơ: Hai chục năm ròng rỏ lệ thƣơng, Cỏ kinh thôi đợi cỏ đề vƣơn. Anh theo việc nƣớc, chia biền biệt, Em giấc tỉnh mê, mộng vấn vƣơng. Còn mất hầu quên, buồn hoá bƣớm, Gối thơm kính cẩn, dậy xông hƣơng. Dạo này chăng biết ai tâm sự, Ấm lạnh tình đời, nói dở dang. 192. 遣悶戲呈使部列位2 密室遑知行路難 桂城春雨襲人寒 紹興可借冲愁酒 嘉定常思煿食獾 夜燮虎龍燒藥鼎 時驅犀象走銅盤 邇來虛負江神好 綠泛湘灕水滿灘 KHIỂN MUỘN HÍ TRÌNH SỨ BỘ LIỆT VỊ Mật thất hoàng tri hành lộ nan, Quế thành xuân vũ tập nhân hàn.

1 Hoá điệp: hoá thành bƣớm, tức điển Trang Chu mơ hoá thành bƣơm bƣớm. 2 Nguyên chú: 廣西有犀象石置銅盤中自相角逐客以爲戲 (ở Quảng Tây có đá tê giác, đặt ở trong mâm đồng, theo tƣớng ngƣời mà lấy sừng đuổi theo khách để làm vui)

3 Chữ 獾 dùng thông với chữ 貛 có nghĩa là một giống thú có hình xác nhỏ mà béo, mõm nhọn chân ngắn, đuôi ngắn, thƣờng ở hang, hay đào thủng đê điều. Một số tự điển cho nghĩa là con lửng (Chúng tôi không biết có phải là giống chuột đồng hay không?). Chữ này còn cho nghĩa là một giống lợn lông vàng, gọi là trƣ hoan. 4 Tƣơng Ly: tức sông Tƣơng và sông Ly. Hai con sông này vốn chung một dòng, từ phía núi Dƣơng Hải theo dòng tây bắc chảy xuống đến ngọn núi chia thành hai dòng nam bắc. Ngƣời xƣa vì sự chia dòng của sông mà gọi là Tƣơng Ly (chia nhau), đến ngƣời đời sau lại thêm bộ thuỵ vào trƣớc chữ Ly thành Tƣơng Ly (sông Tƣơng, sông Ly).

297

Tung hoành lộ chuyển thiên điều quýnh, Trung tín chu tuỳ bách trƣợng khiên. Tố lý phẩm tranh Liên xã quý,6 Huy khiêm nhân thứ Trúc lâm hiền.7 Giang sơn mạc tỵ Tô Trƣơng tiếu,8 Vị quốc hà phƣơng mộ khấu Yên. Dịch nghĩa: HUYỆN LINH XUYÊN VIẾT GỞI HỨNG Ta cùng nhau uống lá sen chia tay, đã trải hai năm, Từ biệt anh, mùa hè này lại qua Linh Xuyên. Đƣờng ngang lối dọc quanh co, ngàn lối xa xôi, Thuyền trung tín theo dòng sông trăm trƣợng dẫn đi. Tự tu dƣỡng phẩm hạnh, nhƣ những vị tôn quý ở ao Sen, Nhƣờng nhịn nhau, tựa bảy ngƣời hiền ở rừng Trúc. Sông núi chớ đem so với Tô Tần, Trƣơng Nghi, Vì nƣớc, nào ngại phải cúi lạy giữa xứ ngƣời. Dịch thơ: Hai năm từ chén rƣợu chia tay, Tôi đến Linh Xuyên giữa hạ này. Đƣờng dọc lối ngang, ngàn lối chuyển, Theo thuyền trung tín, vạn dòng xoay. Ao Sen ngƣời quý, lo tròn phận, Rừng Trúc bậc hiền, vẹn thảo ngay. Đừng sánh Tô, Trƣơng, sông núi mỉa, Lạy quỳ vì nƣớc ngại gì thay. 196. 和副使阮迪吉湘江晚泛原韻9 興安縣北過花橋 湘水奔流畫鷁飄 灣陡風高清客況 長灘波定伏塵囂10

Quế Lâm kim hạ phát hoa kiêu. Hậu tiên vũ biểu quỳ tâm đốc,2 Nam bắc nhất gia phân tẩm tiêu. Tòng thử Yên Kinh long mật vật, Ngự lô hƣơng nhiễu sứ bào nhiêu. Dịch nghĩa: RỜI THUYỀN Ở QUẾ LÂM Trăng nằm trên bờ cao, gió thổi mạnh, Núi non nhƣ tấm bình phong mở, nƣớc sông trào. Mùa đông năm trƣớc sứ bộ dừng ở Quảng Đông, Mùa hè năm nay quẫy mái chèo ở Quế Lâm. Màn mƣa ràn rụa trƣớc sau, nhƣng vẫn dốc lòng nhƣ hoa quỳ, Nam bắc từ nay đã thông suốt một nhà, hơi chƣớng độc đã sạch. Từ đây đến Yên Kinh ngƣời ở đông đúc, Mùi thơm từ lò hƣơng vua ban đƣợm cả áo bào của sứ thần. Dịch thơ: Trăng nấp bờ cao, gió thổi trào, Núi ngàn mở cửa, nƣớc triều xao. Hè nay, Rừng Quế giƣơng cờ sứ, Đông trƣớc, Quận Voi nghỉ chốn nào. Mƣa đổ bao la, lòng vẫn dốc, Một nhà nam bắc, chƣớng tan mau. Yên Kinh đƣờng đến thêm sầm uất, Hƣơng toả ngự lô đƣợm áo bào. 195. 靈川縣寄興 象鼻相畱我二年 別君今夏過靈川 縱橫路轉千條迥 忠信舟隨百丈牽 素履品爭蓮社貴 撝謙人次竹林賢3 江山莫比蘓張笑 爲國何妨暮敂燕 LINH XUYÊN HUYỆN KÝ HỨNG Tƣợng tỳ tƣơng lƣu ngã nhị niên,4 Biệt quân kim hạ quá Linh Xuyên.5

1 Tƣợng Quốc: cũng nhƣ nói Tƣợng Quận, nay thuộc vùng đất Quảng Đông, Trung Quốc. 2 Quỳ tâm: lòng hoa quỳ, hoa quỳ thƣờng hƣớng về ánh mặt trời, vì vậy để ví với lòng ngƣời trung trinh. 3 Nguyên chú: 使合二部正副六位 (hai đoàn sứ bộ hợp lại, gồm 6 vị tất cả). 4 Tƣợng tỳ: tức tƣợng tỳ bôi (ly hình nhƣ cái vòi voi), còn gọi là hà diệp bôi (ly lá sen), thƣờng thì đâm vào giữa lá sen, rồi uống cái chất trong cọng của nó. Ở đây chắc tác giả dùng nhƣ đồ dùng để uống rƣợu. 5 Linh Xuyên: huyện Linh Xuyên thuộc Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

6 Tố lý: giày trắng, ý nói giữ bổn phận của mình. Liên xã: Đời Đông Tấn, sƣ Tuệ Viễn ở núi Lƣ Sơn, cùng tu pháp môn tịnh độ với nhóm Lƣu Di Dân, bên trong núi có ao sen trắng, nhân đó gọi là Liên xã (Liên xã tiên hiền truyện). Những ngƣời tu theo pháp môn Tịnh độ tông, sau khi chết đƣợc tiếp dẫn về phƣơng Tây, sinh ra từ hoa sen báu, nên gọi là Liên xã. 7 Trúc lâm hiền: bảy vị hiền ở rừng Trúc, gồm Kê Khang, Nguyễn Tịch, Sơn Đào, Hƣớng Tú, Lƣu Linh, Tử Hàm, Vƣơng Nhung. 8 Tô, Trƣơng: tức Tô Tần và Trƣơng Nghi, hai ngƣời là bạn thân, đều là những du thuyết giỏi thời Chiến quốc. Hai câu cuối ý nói, tác giả không giống nhƣ Tô Tần và Trƣơng Nghi đi thờ nƣớc khác. 9 Bài thơ này, trong bản của Trần Kinh Hoà chỉ đề tựa là 和副 使阮迪吉 “Hoạ Phó sứ Nguyễn Địch Cát”. 10 Nguyên chú: 灣陡陡名長灘灘名 (Loan Đẩu, tên gò núi; Trƣờng Than, tên bến nƣớc). Lời chú này vốn đặt ở sau tựa đề bài thơ, chúng tôi đặt ở đây cho hợp.

298

落霞影弔靈妃竹 斜日陰封聖壽椒 護送鑼聲鳴界首 雁行花舫繫桑條 HOẠ PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT TƢƠNG GIANG VÃN PHIẾM NGUYÊN VẬN Hƣng An huyện bắc quá hoa kiều, Tƣơng thuỵ bôn lƣu hoạ nghịch phiêu. Loan Đẩu phong cao thanh khách huống, Trƣờng Than ba định phục trần hiêu. Lạc hà ảnh điếu Linh phi trúc,1 Tà nhật âm phong Thánh thọ tiêu. Hộ tống la thanh minh giới thủ, Nhạn hàng hoa phảng hệ tang điều. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI CHIỀU ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG TƢƠNG CỦA PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT Thuyền qua cầu hoa phía bắc huyện Hƣng An, Nƣớc sông Tƣơng chảy nhanh thuyền sứ trôi. Gò Loan Đẩu gió lộng làm vơi đi tình trạng khách, Bến Trƣờng Than sóng lặng, làm lắng sự ồn ào của cõi trần. Ráng chiều rơi, bóng treo trên ngọn trúc Linh phi, Ánh chiều tà phủ ngập hoa hồ tiêu dâng mừng thọ vua. Tiếng chiêng của đoàn hộ tống vang đầu bến nƣớc, Thuyền hoa neo ở bờ dâu nhƣ đàn nhạn xếp hàng. Dịch thơ: Hƣng An huyện bắc, lại qua cầu, Tƣơng Thuỷ nƣớc triều ta lƣớt mau. Loan Đẩu gió lồng, vơi nỗi khách, Trƣờng Than sóng lặng, bặt lo âu. Hồ tiêu Thánh thọ, pha màu nắng, Khóm trúc Linh phi, mắc bóng sầu. Hộ tống chiêng vang đầu bến nƣớc, Thuyền hoa nhƣ nhạn giữa ngàn dâu. 197. 舟中端陽 路窮綠水復青山 終覺乾坤是大閑 金鼓忽逢人兢渡 萍蓬尚唱我陽關 荷風枕角清香過

1 Linh phi trúc: trúc Linh phi, chỉ trúc đốm vàng ở sông Tƣơng.

梅雨篷頭白打潸 念切太和2趨進日 菖蒲獻3壽出4朝班 CHU TRUNG ĐOAN DƢƠNG Lộ cùng lục thuỵ phục thanh san, Chung giác càn khôn thị đại nhàn, Kim cổ hốt bồng nhân cắng độ. Bình bồng thƣợng xƣớng ngã Dƣơng Quan,5 Hà phong chẩm giác thanh hƣơng quá, Mai vũ bồng đầu bạch đả san, Niệm thiết Thái Hoà xu tiến nhật, Xƣơng bồ hiến thọ xuất triều ban. Dịch nghĩa: TẾT ĐOAN DƢƠNG TRONG THUYỀN Đƣờng xa vời, hết sông biếc lại núi xanh, Mới biết đất trời quả là rộng lớn. Chuông trống gặp ngƣời khua tranh qua sông, Trôi nổi tựa bèo cỏ, vẫn hát khúc Dƣơng Quan. Gió mang hƣơng sen thoảng qua bên gối, Cơn mƣa mai gõ râm ran vào mái thuyền. Lòng luôn nghĩ đến ngày vào điện Thái Hoà, Xƣơng bồ mừng thọ, đứng dƣới sân triều. Dịch thơ: TẾT ĐOAN DƢƠNG TRONG THUYỀN Đƣờng xa núi thẳm, tiếp sông ngàn, Mới biết vô cùng cõi thế gian. Chiêng trống ngƣời qua, vang tiếng đón, Bình bồng tôi hát khúc Dƣơng Quan. Gió sen bên gối đƣa hƣơng thoảng, Mƣa hạ đầu song gõ điệu tràn. Da diết Thái Hoà khi hội ngộ, Xƣơng bồ mừng thọ giữa triều ban. 202. 和請封使黎兵部晉齋全州端午 艾旗影眩北堂萱 鈷鉧潭溫夏氣暄 角黍送盤逢縣宴 菖蒲賜酒憶君恩 靈渠可濬溝爲蕞6 怨竹難乾泪有根 懷古思鄉行客事 驚人華髩落芳樽 2 Nguyên chú: 富春京殿 (kinh điện ở Phú Xuân). 3 Bản Trần Kinh Hoà chép chữ này là 爲 4 Bản Trần Kinh Hoà chép chữ này là 序 5 Dƣơng Quan: cửa ải tại tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Thơ Vƣơng Duy đời Đƣờng có câu: Khuyến quân cánh tận bôi trung tửu, Tây xuất Dƣơng Quan vô cố nhân (Khuyên anh cạn hết chén rƣợu này, ra khỏi Dƣơng Quan về tây sẽ không còn ai là bạn cũ). Sau Dƣơng Quan dùng để chỉ cảnh ly biệt, cô đơn ở xứ ngƣời. 6 Nguyên chú: 湘灕分派渠曰靈渠 (Sông Tƣơng Ly chia nhánh gọi là kênh Linh). Nguyên chú này vốn để cuối bài thơ, chúng tôi để lên đây cho hợp.

299

DU TƢƠNG SƠN QUANG HIẾU TỰ 4 Đệ nhất thiền lâm xuất Sở nam,5 Linh quang thị tịch nghiễm liên kham.6 Hữu duyên trần trục chiêm chân tích, Vô Lƣợng từ phong tản cổ am.7 Hổ ngoạ bạch vân tu chứng quả,8 Điểu y phi tích niệm Cù Đàm.9 Mục ngƣu ca tại nhân hà khứ?10 Thuỳ tịch thiền quan vị ngã tham. Dịch nghĩa: DẠO CHÙA QUANG HIẾU Ở TƢƠNG SƠN Rừng thiền (ngôi chùa) này nổi tiếng nhất của vùng phƣơng nam đất Sở, Ánh sáng linh thiêng khi Phật nhập niết bàn vẫn còn ở tháp sen (tháp Phật). Ta có duyên may trong đƣờng trần nên đƣợc chiêm ngƣỡng dấu tích xƣa, Làn gió từ bi của đức Vô Lƣợng Thọ Phật làm mát mẻ ngôi miếu cổ. Cọp nằm trong mây trắng (chính pháp, thiện pháp), nên đƣợc chứng quả, Chim nƣơng theo gậy thiền, cùng niệm hiệu Phật. Bài ca “Chăn trâu” vẫn còn đây, mà ngƣời đi đâu? Ai là ngƣời mở cửa Thiền để ta vào? Dịch thơ: Rừng Thiền đệ nhất chốn phƣơng nam, Ánh sáng thiêng xƣa rực tháp trầm. Ta có duyên trần, xem dấu cũ, Vô biên gió mát, toả đầy am. Cọp theo chính pháp, tu nên quả, Chim hƣớng gậy thiền, hót Phạm âm. Đâu mất ngƣời xƣa? Còn khúc hát…

HOẠ THỈNH PHONG SỨ LÊ BINH BỘ TẤN TRAI TOÀN CHÂU ĐOAN NGỌ Ngải kỳ ảnh huyễn bắc đƣờng huyên, Cổ mẫu đàm ôn hạ khí huyên. Giác thử tống bàn phùng huyện yến, Xƣơng bồ tứ tửu ức quân ân. Linh cừ khả tuấn câu vi toại, Oán trúc nan can lệ hữu căn.1 Hoài cổ tƣ hƣơng hành khách sự, Kinh nhân hoa mấn lạc phƣơng tôn. Dịch nghĩa: HOẠ BÀI TIẾT ĐOAN NGỌ Ở TOÀN CHÂU CỦA THỈNH PHONG SỨ BINH BỘ LÊ TẤN TRAI Bóng cờ lá ngải mờ lẫn trong cỏ huyên nơi nhà phƣơng bắc, Nƣớc trong đầm nóng nhƣ chiếc bàn là, mùa hè nắng ấm. Tặng mâm bánh tro, gặp tiệc đãi nơi huyện, Ban rƣợu xƣơng bồ, làm ta nhớ đến ơn vua. Dòng kênh Linh có thể khơi thông, nhờ những ngòi nƣớc nhỏ, Đốm trúc vàng mang nỗi oán khó phai, lệ thấm sâu. Ôn chuyện xƣa, nhớ quê nhà, là chuyện của khách đi xa, Giật mình thấy mái tóc hoa rơi vào chén rƣợu thơm. Dịch thơ: Cờ xí, cỏ huyên lẫn bóng mờ, Nƣớc đầm cũng nóng bởi hè trƣa. Huyện đƣa bánh nếp nhân đoan ngọ, Ban rƣợu xƣơng bồ nhớ đức vua. Ngòi nhỏ khai dòng kênh hoá lớn, Trúc vàng khôn ráo lệ năm xƣa. Khách thƣờng hoài cổ, thƣơng quê, chợt: Chén rƣợu chan đầy mái tóc phơ. 205. 遊湘山光孝寺 第一禪林出楚南 靈光示寂儼蓮龕 有緣塵躅瞻真跡 無量慈風散古庵2 虎臥白雲修証果 鳥依飛錫念瞿曇 牧牛歌在人何去3 誰闢禪關爲我叅 1 Oán trúc: cũng nhƣ Linh phi trúc. 2 Nguyên chú: 無量壽佛湼槃在此真身髤漆尚存 (Phật Vô Lƣợng Thọ nhập niết bàn ở nơi này, tƣợng sơn chân thân vẫn còn ở đây). 3 Nguyên chú: 佛有牧牛歌詞行世 (Đạo Phật có bài ca chăn trâu lƣu hành ở đời).

4 Tƣơng Sơn: còn có tên gọi khác là Quân Sơn, Động Đình Sơn, nằm trong hồ Động Đình phía Tây Nam huyện Nhạc Dƣơng, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Mặt trƣớc đối với lầu Nhạc Dƣơng ở cửa Tây thành. Trong sách của đạo cho rằng đây là phúc địa thứ 11. 5 Sở nam: chỉ vùng phía nam của nƣớc Sở ngày xƣa, tức vùng Động Đình, Thƣơng Ngô. Chiến quốc sách, Sở sách có dẫn lời Tô Tần nói: “Sở là nƣớc lớn trong thiên hạ, phía tây có đất Kiềm Trung, Vu Quận; phía đông có Hạ Châu, Hải Dƣơng; phía nam có Động Đình, Thƣơng Ngô; phía bắc có Tuần Dƣơng ngăn chặn Phần Kinh; đất đai rộng năm ngàn dặm, là nơi có thể dựng nghiệp bá vậy”. 6 Thị tịch: thị hiện Niết bàn, chỉ chƣ Phật chƣ Bồ tát các nhà đạo đức bỏ cái thân lúc mất. 7 Vô Lƣợng: tức còn gọi là Vô Lƣợng Quang Phật, Vô Lƣợng Thọ Phật, Vô Lƣợng Quang Nhƣ Lai đều chỉ danh hiệu của đức Phật A Di Đà. A Di Đà (Amitabha) chữ phạn có nghĩa ánh sáng vô cùng, thọ mạng vô lƣợng. 8 Chứng quả: đạt đƣợc quả vị, Phật giáo có bốn bậc quả vị từ cao đến thấp là: quả vị Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn. 9 Cù Đàm: hay Cồ Đàm, phiên từ chữ Gautama, tên của Phật Thích Ca, vì họ thánh của ngài là Cồ Đàm, nên ngƣời ta gọi ngài nhƣ vậy. 10 Mục ngƣu ca: bài ca chăn trâu có 10 bài, dụ ý chăn dắt tâm ý của ngƣời tu hành trở về với bản tâm.

300

Cửa Thiền ai mở để ta thăm? 207/1 湖南道中舟行雜詠 隨風回粵商艇 逐水上燕使舟 迎送行人困倦 年來雲白山頭 HỒ NAM ĐẠO TRUNG CHU HÀNH TẠP VỊNH (KỲ NHẤT) Tùy phong hồi Việt thƣơng đĩnh,1 Trục thủy thƣớng Yên sứ chu. 2 Nghênh tống hành nhân khốn quyện, Niên lai vân bạch sơn đầu. Dịch nghĩa: TẠP VỊNH KHI ĐI THUYỀN Ở HỒ NAM Bài 1 Xuôi theo gió, ghe ngƣời buôn về đất Lƣỡng Quảng, Ngƣợc dòng nƣớc, thuyền sứ lên Yên Kinh. Đƣa tiễn ngƣời đi đƣờng mệt mỏi này, Chỉ có mây trắng phủ đầu núi khi năm mới sang. Dịch thơ: Thuyền buôn xuôi gió về Việt, Thuyền sứ ngƣợc dòng đến Yên. Đƣa tiễn hành nhân mỏi mệt, Xuân sang, mây trắng đầu ngàn. 208/2 晴川荇帶牽興 晚席荷風襯涼 綠水臨窗進盥 青山夾道稱觴 (KỲ NHỊ) Tình xuyên hạnh đới khiên hứng, Vãn tịch hà phong sấn lƣơng. Lục thuỵ lâm song tiến quán, Thanh sơn giáp đạo xƣng thƣơng. Dịch nghĩa: BÀI 2 Sông quang tạnh, cỏ hạnh dẫn dắt hứng thơ, Tối trải chiếu ngồi, gió mang hƣơng sen ngấm lạnh tay áo. Dòng sông ghé mé cửa nhƣ dâng chậu nƣớc, Núi xanh xanh đƣờng hẹp tựa chiếc li. Dịch thơ: Cỏ hạnh sông trong gợi hứng, Chiếu đêm gió mát hƣơng sen. Nƣớc xanh vào song dâng chậu, 1 Việt: chỉ vùng đất Quảng Đông Quảng Tây. 2 Yên: chỉ Bắc Kinh.

Núi biếc đƣờng quanh tựa đèn. 209/3 夜來舷泊煙樹 杳渺如浮漢槎 睡起濕雲風捲 半天擲出山家 (KỲ TAM) Dạ lai huyền bạc yên thụ, Diểu miểu nhƣ phù Hán tra.3 Thuỳ khởi thấp vân phong quyển, Bán thiên trịch xuất sơn gia. Dịch nghĩa: BÀI 3 Đêm về thuyền đỗ hàng cây vƣơng khói, Xa xa trông nhƣ bè Hán bồng bềnh. Ngủ dậy, đám mây ƣớt bị gió cuốn lên, Lƣng chừng trời, thoáng hiện nhà xóm núi. Dịch thơ: Đêm buông đậu thuyền cây khói, Thấp thoáng nhƣ bè Hán trôi. Ngủ dậy mây sƣơng gió cuốn, Nhà ai hé lộ lƣng trời? 210/4 坐愛隨身夏扇 行看示我周行 前程且記如此 十里自有一塘 (KỲ TỨ) Toạ ái tuỳ thân hạ phiến, Hành khan thị ngã chu hàng.4 Tiền trình thả ký nhƣ thử, Thập lý tự hữu nhất đƣờng. Dịch nghĩa: BÀI 4 Ngồi thích bên mình có quạt, Đi xem để rõ đƣờng đi. Lộ trình phía trƣớc đã ghi chép nhƣ thế, Mƣời dặm tự có một gò ao. Dịch thơ: Ngồi thích, bên thân có quạt, Đi đƣờng đƣờng lớn thì coi. Tiền trình chẳng sai đà chép: Mƣời dặm có một ngọn đồi. 211/5 3 Hán tra: bè Hán. 4 Chu hàng: đƣờng lớn. Kinh Thi có câu: Nhân chi hiếu ngã, thị ngã chu hàng (Ngƣời thích ta, bảo ta đi đƣờng lớn), thơ Quyển nhĩ có câu: ta ngã hoài nhân, trí bỉ chu hàng (ôi ta nhớ ngƣời, để ngƣời đi đƣờng lớn).

301

Kỳ phong đƣơng hộ kình lai. Dịch nghĩa: BÀI 7 Trời chiều súng pháo bắn, ghé thuyền nghỉ, Trăng lặn, chiêng nổi, thuyền ra đi. Cảnh đẹp không cần lên cao ngắm, Núi lạ mở cửa sổ ngồi xem. Dịch thơ: Bóng tà pháo nổ, đỗ bến, Nguyệt lặn chiêng vang, thuyền đi. Cảnh đẹp cần chi lên ngóng, Non kỳ, chống cửa lắm khi. 214/8 篋重近添詩草 壺輕頻覆酒盃 江花何必問主 且看及時花開 (KỲ BÁT) Khiếp trọng cận thiêm thi thảo,1 Hồ khinh tần phúc tửu bôi. Giang hoa hà tất vấn chủ, Thả khán cập thời hoa khai. Dịch nghĩa: BÀI 8 Tráp nặng thêm vì gần đây thêm thơ mới, Bầu rƣợu nhẹ dần vì thƣờng rót rƣợu uống. Hoa bên bờ sông chẳng cần hỏi chủ nhân, Hoa cũng nở kịp lúc để ta xem. Dịch thơ: Tráp nặng vì thêm thơ mới, Bầu nghiêng bởi dốc rƣợu hoài. Hoa sông đâu cần hỏi chủ, Cũng nở kịp thời ta coi. 226. 祭風臺 搖橹輕舟掠水來 南屏山下見遺臺 蘆花倚阜禳旗展 鴉翅翻樷羽扇開 學究也知風可借 運移無柰2力難囘 江山愛護忠純跡 銅雀當年已綠苔 TẾ PHONG ĐÀI Dao lỗ khinh chu lƣợc thuỵ lai, Nam Bình sơn hạ kiến di đài.3

人聚山腰成邑 客來巖麓艤航 語言人客相左 明月猶如故鄉 (KỲ NGŨ) Nhân tụ sơn yêu thành ấp, Khách lai nham lộc nghĩ hàng. Ngữ ngôn nhân khách tƣơng tả, Minh nguyệt do nhƣ cố hƣơng. Dịch nghĩa: BÀI 5 Ngƣời họp ở chân núi thành làng ấp, Khách đến đỗ thuyền ở chân đồi. Ngôn ngữ của ta với khách trái nhau, Chỉ có trăng sáng vẫn giống nhƣ ở quê hƣơng. Dịch thơ: Ngƣời họp lƣng đèo lập ấp, Khách vào, thuyền ghé chân truông. Ngữ ngôn ta khách sai biệt, Trăng sáng nhƣ miền cố hƣơng. 212/6 山田經畫碁罫 石逕宛轉波紋 野叟相忘世事 背人黃麥自耘 (KỲ LỤC) Sơn điền kinh hoạ kỳ quái, Thạch kính uyển chuyển ba văn. Dã tẩu tƣơng vong thế sự, Bối nhân hoàng mạch tự vân. Dịch nghĩa: BÀI 6 Ruộng trên núi (ruộng cao) giăng nhƣ vẽ thành bàn cờ, Lối đá quanh co nhƣ lƣợn sóng. Ông già quê quên cả việc đời, Khom lƣng một mình cày cấy lúa mạch vàng. Dịch thơ: Ruộng non nhƣ bàn cờ vẽ, Đƣờng sỏi sóng gợn mấp mô. Ông lão quê quên thế sự, Lúa vàng cặm cụi cày bừa. 213/7 斜陽放砲汎泊 落月鳴鑼船開 佳景不須登眺 奇峰當戶擎來 (KỲ THẤT) Tà dƣơng phóng pháo phiếm bạc, Lạc nguyệt minh la thuyền khai. Giai cảnh bất tu đăng thiếu,

1 Câu này nhắc đến ý Lý Hạ làm thơ thƣờng cƣỡi lừa đi, mang theo túi gấm, hễ làm đƣợc câu nào hay thì bỏ vào đấy, đến khi về thì soạn lại. 2 Nguyên văn khắc chữ nại 柰, đúng ra phải là 奈. 3 Đài cầu gió đông do Gia Cát Lƣợng dựng ở núi Nam Bình.

302

Lô hoa ỵ phụ nhƣơng kỳ triển, Nha sí phiên tùng vũ phiến khai.1 Học cứu dã tri phong khả tá, Vận di vô nại lực nan hồi. Giang sơn ái hộ trung thuần tích, Đồng Tƣớc đƣơng niên dĩ lục đài.2 Dịch nghĩa: ĐÀI CẦU GIÓ Mái chèo lay nhẹ, thuyền rẽ nƣớc đi, Dƣới núi Nam Bình còn ngôi đài sót lại. Hoa lau dựa gò nhƣ cờ cầu gió giƣơng lên, Cánh quạ trở trong bụi rậm tựa chiếc quạt lông mở ra. Học mà suy xét sâu xa cũng biết rằng gió có thể mƣợn đƣợc, Vận mệnh đã thay đổi không thể làm gì đƣợc, sức ngƣời khó cứu vãn. Sông núi thích bảo vệ vết tích của ngƣời trung trinh, Còn lầu Đồng Tƣớc, ngay năm ấy đã phủ ngập rêu xanh. Dịch thơ: Thuyền nhẹ đƣa chèo rẽ nƣớc bay, Nam Bình dƣới núi, một ngôi đài. Bên gò lau trắng nhƣ cờ xí, Giữa bụi quạ chuyền tựa quạt ai. Mƣợn gió, bởi nhờ suy xét kỹ, Sức ngƣời, vận đổi khó vần xoay. Trung thuần, sông núi còn che chở, Đồng Tƣớc năm xƣa rêu phủ dày. 235. 漢陽府縣二幕賓魏金二記室各將畫扇懇余 題咏其一兩美人梧桐下觀書其一美人梧下 囓指如有所思丫鬟執柳枝侍側其一美人松 下乘凉其一墨闌余因酒席熏心援筆塞責 習靜閑開小院東 梳粧二女宛圖中 羞人默念因緣譜 按歲潛分正閏桐 筆墨有情和日月 鶯花無意出簾櫳 秘辛心薄風流惡 酷愛喬家嫁兩雄 HÁN DƢƠNG PHỦ HUYỆN NHỊ MẠC TÂN NGUỲ KIM NHỊ KÝ THẤT CÁC TƢƠNG HOẠ PHIẾN KHẨN DƢ ĐỀ

VỊNH, KỲ NHẤT LƢỠNG MỸ NHÂN NGÔ ĐỒNG HẠ QUAN THƢ, KỲ NHẤT MỸ NHÂN NGÔ HẠ KHIẾT CHỈ NHƢ HỮU SỞ TƢ, NHA HOÀN CHẤP LIỄU CHI THỊ TRẮC, KỲ NHẤT MỸ NHÂN TÙNG HẠ THỪA LƢƠNG, KỲ NHẤT MẶC LAN, DƢ NHÂN TỬU TỊCH HUÂN TÂM VIỆN BÚT TẮC TRÁCH Tập tĩnh nhàn khai tiểu viện đông, Sơ trang nhị nữ uyển đồ trung. Tu nhân mặc niệm nhân duyên phả, Án tuế tiềm phân chính nhuận đồng. Bút mặc hữu tình hoà nhật nguyệt, Oanh hoa vô ý xuất liêm lung. Bí tân tâm bạc phong lƣu ác, Khốc ái Kiều gia giá lƣỡng hùng.3 Dịch nghĩa: HAI VỊ KHÁCH NGUỲ, KIM GIỮ CHỨC KÝ THẤT CỦA HAI MẠC PHỦ HUYỆN HÁN DƢƠNG, MỖI NGƢỜI ĐEM QUẠT XIN TÔI ĐỀ VỊNH, MỘT BỨC VẼ HÌNH HAI NGƢỜI ĐẸP ĐỨNG DƢỚI CỘI NGÔ ĐỒNG XEM SÁCH, MỘT NGƢỜI ĐẸP ĐỨNG DƢỚI CÂY CẮN MÓNG TAY VẺ NHƢ SUY NGHĨ LẮM VẬY, CÔ GÁI HẦU CẦM NHÁNH LIỄU ĐỨNG HẦU BÊN CẠNH, MỘT NGƢỜI ĐẸP ĐỨNG DƢỚI CỘI TÙNG HÓNG MÁT, MỘT BỨC TRANH LAN MẶC, TÔI LÚC NHÂN HỨNG RƢỢU NỒNG TRONG LÒNG, CẦM BÖT ĐỀ THƠ Nhàn nhã ngồi trong mé đông khu vƣờn nhỏ, Có hai cô gái trang điểm, ở trong bức tranh. Thầm đọc chuyện nhân duyên, vẻ e thẹn hiện lên nét mặt, Xét tuổi tác, thầm biết ai chủ ai hầu. Bút mực có thần tình thì cùng lâu dài với vũ trụ, Chim hoa không có ý gì thì đƣợc thả lồng bay. Tấm lòng khắc bạc, thì để tiếng phong lƣu xấu, Mộ thay nhà họ Kiều gả hai ngƣời con gái cho hai bậc hùng. 236. 活向圖中立阿嬌 可人憐處筆難描 含嚬佀恨無金屋 不語如傷費絳綃 靜看雲根同影幻 暗驚梧葉逐霜凋

1 Hai câu này, tác giả vừa tả thực cảnh nơi núi Nam Bình, và liên tƣởng đến hình ảnh của Gia Cát Lƣợng năm xƣa, tay cầm quạt lông, cắm cờ cầu gió trên đài. 2 Đồng Tƣớc: lầu Đồng Tƣớc, tên đài do Tào Tháo dựng lên trƣớc khi đem quân đánh đất Ngô, di chỉ còn tây nam huyện Lâm Chƣơng tỉnh Hà Nam, Trung Quốc.

3 Câu này nhắc chuyện nhà họ Kiều ở Đông Ngô có hai chị em xinh đẹp là Đại Kiều và Tiểu Kiều, Đại Kiều đƣợc gả cho vua nƣớc Ngô là Tôn Sách, Tiểu Kiều gả cho Chu Du.

303

丫頭未解春虛度 爭向風前闘柳腰 (KỲ NHỊ) Hoạt hƣớng đồ trung lập ả kiều, Khả nhân liên xứ bút nan miêu. Hàm tần tự hận vô kim ốc, Bất ngữ nhƣ thƣơng phí giáng tiêu. Tĩnh khán vân căn đồng ảnh huyễn, Ám kinh ngô diệp trục sƣơng điêu. Nha đầu vị giải xuân hƣ độ, Tranh hƣớng phong tiền đấu liễu yêu. Dịch nghĩa: BÀI 2 Trong tranh có cô gái đứng thật sống động, Chỗ khiến ngƣời ta thƣơng xót, thì bút mực khó vẽ nổi. Nhíu mặt nhƣ hận không ngƣời làm nhà vàng để ở, Chẳng nói nhƣ đau lòng phí sức mặc lụa đỏ. Nhàn nhìn mây núi nhƣ bóng ảo, Thầm kinh lá ngô đồng rụng theo sƣơng. Cô bè hầu chẳng biết, mùa xuân trôi qua vô ích, Tranh eo liễu cùng rặng liễu trƣớc làn gió xuân. 237. 蛟綃一幅抵千金 粧束佳人趁綠陰 漫道柳姿耽雪咏 堪將松節比氷心 輕營足下鞋無印 濃淡眉頭筆乍簪 掌上舞酣風韻逸 撩人時向夢中尋 (KỲ TAM) Giao tiêu nhất bức để thiên kim, Trang thúc giai nhân sấn lục âm. Mạn đạo liễu tƣ đam tuyết vịnh, Kham tƣơng tùng tiết tỵ băng tâm. Khinh doanh túc hạ hài vô ấn, Nùng đạm my đầu bút sạ trâm. Chƣởng thƣợng vũ hàm phong vận dật, Liêu nhân thời hƣớng mộng trung tầm. Dịch nghĩa: BÀI 3 Lụa hoa một bức, giá ngàn vàng, Ngƣời đẹp trang điểm xong, bƣớc đến bóng cây xanh. Dáng liễu thon thả, lời nói hay nhƣ thơ vịnh tuyết, Khí tiết của cội tùng sánh với tấm lòng băng. Bƣớc đi nhẹ nhàng, chẳng in lại dấu vết,

Nét mày nồng nhạt, nét mỏng tựa kim. Trên tay nhảy múa, tiếng gió nhàn dật, Khiến ngƣời ta phải thƣờng mong tìm trong mơ. 238. 不從凡卉競榮枯 九畹移栽世外區 掌上僊方收汗有 毫端春色惹塵無 國香只許騷人賞 玉珮那容粉蝶汙 生意年來長活潑 流連翰墨共歡娛 (KỲ TỨ) Bất tòng phàm huỵ cạnh vinh khô, Cửu uyển di tài thế ngoại khu.1 Chƣởng thƣợng tiên phƣơng thu hãn hữu, Hào đoan xuân sắc nhạ trần vô. Quốc hƣơng chỉ hứa tao nhân thƣởng,2 Ngọc bội na dung phấn điệp ô. Sinh ý niên lai trƣờng hoạt bát, Lƣu liên hàn mặc cộng hoan ngu. Dịch nghĩa: BÀI 4 Chẳng cùng loài cỏ cây tầm thƣờng tranh nhau chuyện héo tƣơi, Hoa lan đƣợc trồng vào trong vùng xa trần đời. Cõi tiên trên lòng tay, muốn hái thật khó, Cảnh xuân nơi chân mày, chẳng nhiễm bụi trần. Mùi thơm của lan chỉ dành bậc tao nhân thƣởng thức, Vẻ đẹp nhƣ ngọc nào chịu bọn ong bƣớm làm dơ. Bao năm mà vẻ đẹp vẫn luôn sống động, Lƣu luyến cùng ngƣời bút mực chung niềm vui. 255. 使停河南遊相國寺達本禪師以淨土津梁經 見 示 因 索 題 贈 穿林曲徑到禪堂 近接高僧禮梵王 蓮瓣茶餘忘彼我 菩提樹下是津梁 1 Cửu uyển: ruộng nhiều mẫu, ở đây dùng chỉ hoa lan. Sở từ, Ly Tao của Khuất Nguyên có câu: Dƣ ký tƣ lan chi cửu uyển hề, hựu thụ huệ chi bách mẫu (ta đã ƣơm lan vào ruộng nhiều mẫu, lại trồng thêm huệ vào ruộng trăm mẫu). Về sau, cửu uyển dùng để chỉ hoa lan. 2 Quốc hƣơng: do từ “quốc sắc thiên hƣơng” (sắc nƣớc hƣơng trời), chỉ vẻ đẹp tuyệt vời. Ở đây có lẽ nói lan chỉ dành cho những bậc tao nhân thƣởng thức.

304

力薄頻開疾病端 芩栢違人偏適口 風霜慣我作常餐 栖遲養自乾坤館 調燮功從水火丹 騎杖登輿翹四望 嵩陽雲峙月陰團 HÀ NAM CÔNG QUÁN BỆNH KHỞI TỰU ĐẠO DẠ HÀNH NGÂM Duy tƣ bất nhục táo tâm can, Lực bạc tần khai tật bệnh đoan. Cầm bách vi nhân thiên thích khẩu, Phong sƣơng quán ngã tác thƣờng xan. Thê trì dƣỡng tự càn khôn quán, Điều tiếp công tòng thuỵ hoả đan. Kỳ trƣợng đăng dƣ kiều tứ vọng, Tung Dƣơng vân trĩ nguyệt âm đoàn. Dịch nghĩa: HẾT BỆNH TỪ CÔNG QUÁN TỈNH HÀ NAM LÊN ĐƢỜNG, NGÂM LÖC ĐI TRONG ĐÊM Chỉ nghĩ một điều làm sao không nhục mệnh sứ, thiêu đốt cả tâm gan, Sức yếu nên thƣờng bị tật bệnh xâm nhập. Cỏ cầm, rƣợu bách (thuốc) thƣờng xƣa ít uống, nay lại đƣợc uống đến khoái cả miệng, Sƣơng gió quen ta rồi, coi nhƣ là cơm bữa. Cứ lần lữa bệnh hoạn trong nhà trọ của đất trời, Công điều trị là ở thuốc linh đan thuỵ hoả. Khi cỡi ngựa lúc ngồi xe, trông ngóng bốn bề, Ngọn núi Tung Dƣơng phủ mây, có bóng nguyệt tròn tròn. 257. 渡黃河 獻來琛賮値淸時 一葉橫流界險巇 竹箭奔湍花櫂急 石尤狂颭斗槎遲 半生世味同河淡 五載鄉情有夢知 囘首塵中車馬客 臨津不少阮生悲 ĐỘ HOÀNG HÀ Hiến lai sâm tẫn trị thanh thời, Nhất diệp hoành lƣu giới hiểm hy. Trúc tiễn bôn thoan hoa trạo cấp, Thạch vƣu cuồng triển đẩu tra trì. Bán sinh thế vị đồng hà đạm, Ngũ tải hƣơng tình hữu mộng tri. Hồi thủ trần trung xa mã khách,

猿歸苔護拈花跡 虎去雲封聽法場 時向檀那開覺路 紅塵之外是西方 SỨ ĐÌNH HÀ NAM DU TƢỚNG QUỐC TỰ1 ĐẠT BỔN THIỀN SƢ DĨ TỊNH ĐỘ TÂN LƢƠNG KINH KIẾN THỊ NHÂN SÁCH ĐỀ TẶNG Xuyên lâm khúc kính đáo thiền đƣờng, Cận tiếp cao tăng lễ Phạm vƣơng. Liên biện trà dƣ vong bỉ ngã,2 Bồ đề thụ hạ thị tân lƣơng. Viên quy đài hộ niêm hoa tích,3 Hổ khứ vân phong thính pháp trƣờng. Thời hƣớng đàn na khai giác lộ, Hồng trần chi ngoại thị tây phƣơng. Dịch nghĩa: SỨ ĐOÀN DỪNG Ở HÀ NAM, DẠO CHƠI CHÙA TƢỚNG QUỐC, THIỀN SƢ ĐẠT BẢN ĐEM KINH TỊNH ĐỘ TÂN LƢƠNG CHO XEM, NHÂN ĐÓ LÀM THƠ ĐỀ TẶNG Xuyên qua con đƣờng rừng đến thiền đƣờng, Đƣợc gần gũi vị cao tăng, lễ Phật. Uống trà cánh sen quên mất chủ khách, Dƣới cội bồ đề chính là bờ bến tân lƣơng. Vƣợn trở về, rêu phong vết cầm hoa cƣời mỉm, Hổ đi, mây phủ mờ sân nghe pháp, Ngài thƣờng mở ra con đƣờng giác ngộ cho ngƣời mộ Phật, Vƣợt ra ngoài cõi hồng trần chính là Tây phƣơng. Dịch thơ: Xuyên rừng lối nhỏ đến thiền đƣờng, Thân cận cao tăng, lễ Phạm vƣơng. Một chén trà sen, quên khách chủ, Bồ đề dƣới cội, ấy tân lƣơng. Vƣợn về, rêu phủ niêm hoa tích, Hổ lánh, mây che thính pháp trƣờng. Thƣờng hƣớng đàn na khai bến giác, Ngoài hồng trần ấy chính tây phƣơng. 256. 河南公館病起就道夜行吟 惟思不辱燥心肝 1 Tƣớng Quốc tự: chùa Tƣớng Quốc, nằm ở đông bắc huyện trị Khai Phong, Hà Nam, chùa xây vào năm Thiên Bảo thứ 6 triều Tề, tên gọi là Kiến Quốc. Đời Đƣờng Duệ Tông đổi tên thành Tƣớng Quốc tự, sang đời Tống trên biển đề là Đại Tƣớng Quốc tự. 2 Vong bỉ ngã: quên ngƣời quên ta, quên chủ quên khách, tức vô tâm. 3 Niêm hoa: rút từ “niêm hoa vi tiếu”. Theo Truyền đăng lục nói: Lúc Thế Tôn thuyết pháp trên núi Linh Sơn, bấy giờ ngài cầm một cành hoa giơ lên bảo với chúng hội, mọi ngƣời đều im lặng, chỉ có Tôn giả Ca Diếp là lĩnh hội mỉm cƣời.

305

Lâm tân bất thiểu Nguyễn sinh bi.1 Dịch nghĩa: QUA SÔNG HOÀNG HÀ Ta đến tiến cống, đúng lúc dòng nƣớc Hoàng Hà trong, Một chiếc thuyền ngang sông trong cõi sóng gió nguy hiểm. Dòng nƣớc xiết chảy nhƣ tên bắn, mái chèo khua gấp rút, Đá nhọn lô nhô gió ào ào, khiến thuyền chậm lại. Mùi vị nửa cuộc đời, cùng đạm bạc nhƣ sông Hà (theo dòng sông Hà mà vơi nhạt), Tình quê hƣơng dăm ba năm này, chỉ có mộng biết mà thôi. Ngoảnh đầu nhìn bao khách ngựa xe trong trần đời, Vào bến nƣớc chẳng bớt đi nỗi buồn của chàng Nguyễn. 258. 汲縣郊行 摩娑行葯出郊坰 糵秫桑麻妬髩青 馬滚風塵跑牴詭2 人衝煙樹過通靈3 臺欹呂父殘熊夢4 碣臥殷師損鳳銘5 觸處頓成傷往事 心旌搖曵醉官亭 CẤP HUYỆN GIAO HÀNH 6 Ma sa hàng dƣợc xuất giao quynh, Nghiệt thuật tang ma đố mấn thanh. Mã cổn phong trần bào Để Nguỳ, Nhân xung yên thụ quá Thông Linh. Đài y Lữ phụ tàn hùng mộng,7 Kiệt ngoạ Ân sƣ tổn phụng minh.8

Xúc xứ đốn thành thƣơng vãng sự, Tâm tinh dao duệ tuý quan đình. Dịch nghĩa: ĐI NGOÀI THÀNH HUYỆN CẤP Xe đi sát hàng dƣợc thảo, ra ngoài đồng xa, Lúa mạ, gai dâu, cũng thấy ganh cùng mái tóc mai xanh. Ngựa đi trong gió bụi tung mù, nhƣ khiến thú đá chạy theo, Ngƣời xen trong hàng cây khói sƣơng, vƣợt qua cầu Thông Linh. Ngôi đài nghiêng nghiêng, ông họ Lữ đã tàn giấc mộng hùng, Hòn đá bia nằm ngổn ngang, thái sƣ nhà Ân giảm bớt lời khuyên. Đâu đâu cũng làm cho ta thƣơng cảm những chuyện cũ, Nỗi lòng say nhƣ lá cờ lay lắt giữa nhà quan. 261. 和安陽縣舉人王鉄崖見贈原韻 星馳繡節到名區 萬里山河一遠儒 塵躅辱汙賢聖路 瑤圖幸歷帝王都 葱蘢雲物昭中夏 磅礴文風際四隅 冀地逢君交半面 七言相贈抵瓊瑜 HOẠ AN DƢƠNG HUYỆN CỬ NHÂN VƢƠNG THIẾT NHAI KIẾN TẶNG NGUYÊN VẬN Tinh trì tú tiết đáo danh khu, Vạn lý sơn hà nhất viễn nho. Trần trục nhục ô hiền thánh lộ, Dao đồ hạnh lịch đế vƣơng đô. Thông lung vân vật chiêu Trung Hạ, Bàng bạc văn phong tế tứ ngung. Ký địa phùng quân giao bán diện,9 Thất ngôn tƣơng tặng để quỳnh du. Dịch nghĩa:

1 Nguyễn sinh: có lẽ chỉ Nguyễn Tịch, ngƣời thời Tam Quốc, tự là Tự Tông, là ngƣời có tài, nhƣng tính tình phóng khoáng, ham rƣợu, có khi đóng cửa ở nhà viết sách hàng mấy tháng, có khi du sơn ngoạn thuỵ suốt ngày quên cả trở về. Mỗi khi đến đƣờng cùng thì ngồi khóc rất đau đớn, khóc xong thì về. Ông lại thích đạo Lão Trang, làm quan đến chức Bộ binh hiệu uý, nên ngƣời đời gọi là Nguyễn bộ binh. 2 Nguyên chú: 縣城前門石獸名 (tên loài thú đá trƣớc cổng huyện thành). 3 Nguyên chú: 城南橋名 (tên chiếc cầu ở phía nam thành). 4 Nguyên chú: 臺在縣北 (đài ở phía bắc huyện). 5 Nguyên chú: 比干墓在城北路旁碑題殷太師比干墓縣志云 孔聖手書筆法遒古 (mộ Tỵ Can nằm ở bên đƣờng phía bắc thành, trên bia đề “Ân thái sƣ Tỵ Can mộ” (mộ của Tỵ Can, thái sƣ nhà Ân), Huyện chí nói rằng, bút tích của đức Khổng Tử, bút pháp mộc mạc mà cứng cáp). 6 Cấp Huyện: tên huyện, đƣợc đặt từ thời nhà Hán, thời Minh Thanh thuộc phủ Vệ Huy, tỉnh Hà Nam. 7 Lữ phụ: tức Lữ Vọng, chỉ Khƣơng Tử Nha, từng đi câu bên bờ sông Vọng, sau giúp Văn Vƣơng dựng nên nhà Chu.

8 Ân sƣ: chỉ Ân thái sƣ Tỵ Can. 9 Ký địa: đất Ký, tức Ký Châu, thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Phùng quân bán diện: gặp nhau nửa mặt, ý chỉ gặp nhau vội vàng. Theo Ứng Phụng truyện trong Hậu Hán thƣ và lời chú chép rằng: Ứng Phụng ngƣời thời Đông Hán, lúc nhỏ nổi tiếng thông minh, từ nhỏ đến lớn, phàm những chuyện ông gặp qua thì đều nhớ hết. Năm ông 20 tuổi, Ứng Phụng đến Bành Thành thăm Viên Hạ, gặp lúc Viên Hạ đi chơi xa, có ngƣời thợ làm xe ở trong nhà mở cửa hé nửa mặt nhìn ông. Mấy mƣơi năm sau, tình cờ gặp ngƣời thợ đóng xe ấy trên đƣờng, Ứng Phụng vẫn nhận ra và chào hỏi. Về sau, trở thành điển cố để chỉ việc gặp gỡ vội vàng.

306

Lá bay trong sƣơng cùng nỗi buồn thu (lá ngô đồng). Lòng mang nỗi nhớ xa đến giấc mộng núi Vu, Ngƣời đẹp trang điểm xong lặng yên không nói tựa cô gái nƣớc Sở. Thầm chúc kiếp sau nhƣ có duyên phận, Chiêu Dƣơng đƣờng cũ ta lại gặp nhau. 263. 勒石題邯鄲呂僊祠黃粱真跡 邯鄲秋過石橋邊 想像仙蹤混俗年 竈剩黃粱乾富貴 樓沈銕笛舊雲煙 此身未醒風流夢 那日終諧火棗緣 欲向真人前借枕 盧生今尚抱頭眠4 LẶC THẠCH ĐỀ HÀM ĐAN LỮ TIÊN TỪ HOÀNG LƢƠNG CHÂN TÍCH 5 Hàm Đan thu quá Thạch Kiều biên,6 Tƣởng tƣợng tiên tung hỗn tục niên. Táo thặng hoàng lƣơng can phú quý,7 Lâu trầm thiết địch cựu vân yên. Thử thân vị tỉnh phong lƣu mộng, Na nhật chung hài hoả táo duyên.8 Dục hƣớng chân nhân tiền tá chẩm, Lƣ sinh kim thƣợng bão đầu miên.9

HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI THƠ CỦA CỬ NHÂN HUYỆN AN DƢƠNG VƢƠNG THIẾT NHAI TẶNG TÔI Cầm cờ tiết đi sứ qua đến vùng đất nổi danh này, Giữa sông nƣớc muôn dặm, một nhà nho từ cõi xa đến đây. Vết chân bụi bặm của tôi nhƣ làm dơ đƣờng của bậc hiền thánh, Dấu xe ngọc may mắn trải khắp kinh đô đế vƣơng. Cảnh vật ở nƣớc Trung Hoa trông thật tƣơi tốt, Văn phong sáng ngời khắp bốn phƣơng. Nơi đất Ký Châu (Hà Nam) gặp anh trong vội vàng, Xin làm bài thơ thất ngôn tặng nhau để báo đáp lòng anh. 262. 題梧下二美人圖1 秋天淡蕩靜雲衢 誰送佳人入畫圖 筆下掃眉同媚柳 霜初飄葉共悲梧 含情遠憶巫娥夢 不語嬌粧楚女軀 暗祝投塵如有分 昭陽舊路慣相俱 ĐỀ NGÔ HẠ NHỊ MỸ NHÂN ĐỒ Thu thiên đạm đãng tĩnh vân cù, Thuỳ tống giai nhân nhập hoạ đồ. Bút hạ tảo my đồng mị liễu, Sƣơng sơ phiêu diệp cộng bi ngô. Hàm tình viễn ức Vu nga mộng,2 Bất ngữ kiều trang Sở nữ khu.3 Ám chúc đầu trần nhƣ hữu phận, Chiêu Dƣơng cựu lộ quán tƣơng câu. Dịch nghĩa: ĐỀ TRANH HAI NGƢỜI ĐẸP ĐỨNG DƢỚI CÂY NGÔ ĐỒNG Trời thu thanh trong mát mẻ, trên đƣờng lắng mây, Ai đƣa ngƣời đẹp vào trong bức hoạ này? Bút vẽ nét mày nhƣ lá liễu,

1 Nguyên chú: 使部所至士夫爭將古畫好扇懇其題咏或以紙 軸求其書寫條幅聯對各送酬謝玩好閏筆之禮止要落欵越南 國使姓名以誌希遇 (Các sĩ phu ở những nơi đoàn sứ đến, tranh nhau đem tranh cổ, quạt đẹp ra khẩn nài đề vịnh hoặc đem giấy xin viết điều bức, đối liên, ai cũng cảm tạ, thƣởng thức, thù lao nhuận bút, lại yêu cầu ghi vào lạc khoản tên họ của đoàn sứ nƣớc Việt Nam để ghi nhớ cuộc gặp gỡ hiếm có này.) 2 Vu Nga mộng: mộng non Vu, cũng nhƣ nói Vu Giáp mộng, chỉ việc ái ân. 3 Câu này ý nói đến Bao Tự, ngƣời thiếp yêu của Chu U Vƣơng.

4 Nguyên chú: 祠堂三座前堂奉漢鍾離像中堂奉呂洞濱仙跡 後堂塑廬生臥睡像 (Từ đƣờng xây làm ba toà, tiền đƣờng thờ Chung Ly thời Hán, trung đƣờng thờ dấu vết của tiên Lữ Động Tân, hậu đƣờng đắp tƣợng Lƣ Sinh nằm ngủ.) 5 Lữ tiên: tức Lữ Động Tân, ngƣời Kinh Triệu đời Đƣờng, tên là Tung, đỗ tiến sĩ cập đệ giữa năm Hàm Thông, làm Lƣỡng Điều huyện lệnh. Khi loạn Hoàng Sào nổi lên, ông dời nhà đến ở dƣới núi Chung Nam sơn, tu tiên đắc đạo, về sau thế nào không rõ. Trong cuốn Đƣờng thi cổ xuý của Nguyên Di Sơn (Hiếu Vấn), có một bài thơ của Lữ Động Tân, biệt hiệu là Thuần Dƣơng Tử, cũng xƣng là Hồi Đạo Nhân, tục truyền ông là một trong tám vị tiên, còn gọi là Lữ Tổ. 6 Hàm Đan: huyện Hàm Đan, thời Xuân thu thuộc Vệ ấp, sau thuộc nƣớc Tấn, thời Chiến Quốc thuộc nƣớc Triệu. Kính hầu dời đô từ Tấn Dƣơng về đây. Đời Tần đặt làm quận Hàm Đan. Hán Cao đế lập Trƣơng Nhĩ làm Triệu vƣơng, đóng đô ở Hàm Đan. Trƣơng Yến nói rằng: Hàm là tên núi, Đan là hết. Hàm Đan có nghĩa là núi Hàm đến đây là hết, vì thế có tên là Hàm Đan. Nay thuộc phủ Nam Dƣơng cũ, tỉnh Hà Nam. Thạch Kiều: cầu Thạch Kiều, nằm trên sông Thạch Kiều phía tây huyện Đồng Cổ, Giang Tây, nối thông giữa Hồ Nam với huyện Lƣu Dƣơng. 7 Hoàng lƣơng: giấc mộng kê vàng, chỉ công danh hƣ ảo (xem thêm ở dƣới). 8 Hoả táo: loại quả tiên, ăn vào có thể trƣờng thọ. 9 Câu cuối dẫn điển Lữ công chẩm (gối của ông Lữ), xét trong cuốn Dị văn tập, có chuyện rằng, Lữ công (Lữ Động Tân) đi ngang qua Hàm Đan, trong phủ có chàng họ Lƣ, tự than nghèo khó danh vọng không thành, xin ngủ nghỉ lại, ngƣời chủ nhà bấy giờ đang nấu cháo kê vàng, Lữ công bèn thò vào trong túi lấy chiếc gối đƣa cho chàng, nói: gối chiếc gối này có thể đƣợc vinh sủng nhƣ ý, Lƣ liền gối gối ấy mà ngủ, trong mơ thấy mình đi vào trong gối đến đƣợc nhà mình, chẳng mấy chốc thi

307

Hai chục năm trong khói lửa chiến tranh, đã trải nhiều gian truân, Ta cũng nhƣ chàng họ Lƣ kia sau giấc mộng. Nghiệp công danh chƣa thành, lòng nhƣ lửa đốt, Làm quan lấy vợ vẫn nhƣ thế, cuộc đời qua nhanh nhƣ nấu nồi kê vàng. Đƣờng đê rợp liễu thu xanh ngắt một màu, xanh cả ánh mắt, Đƣờng đến kinh đô bụi hồng mờ mịt, hồng cả ánh nhìn. Hƣớng đến thanh đàn nhập vào chánh quả, Cảnh Bồng Lai, vì nhân duyên mà có, cũng vì nhân duyên mà hoá không. 267. 使停隆興寺漫題3 正定隆興殿閣重 雲輧釋馬訪禪宗 有爲旣著千年燭 無相何來七丈容4 雲擁書樓封錦帕 螭朝御碣拱霜松5 行人欲叩因緣果 爭奈比邱夢正慵 SỨ ĐÌNH LONG HƢNG TỰ MẠN ĐỀ Chính Định Long Hƣng điện các trùng, Vân bình thích mã phỏng thiền tông. Hữu vi ký trứ thiên niên chúc, Vô tƣớng hà lai thất trƣợng dung. Vân ủng thƣ lâu phong cẩm phách, Ly triều ngự kiệt củng sƣơng tùng. Hành nhân dục khấu nhân duyên quả, Tranh nại tỳ kheo mộng chính dung. Dịch nghĩa: ĐOÀN SỨ DỪNG Ở CHÙA HƢNG LONG, ĐỀ THƠ Chùa Long Hƣng ở Chính Định, điện gác từng tầng cao cao, Vén rèm xe, xuống ngựa, lên thăm cõi thiền. “Hữu vi” (có làm), nên vẫn còn ngọn đèn sáng suốt ngàn năm,

Dịch nghĩa: KHẮC VÀO ĐÁ ĐỀ CHÂN TÍCH KÊ VÀNG ĐỀN LỮ TIÊN Ở HÀM ĐAN Mùa thu qua Hàm Đan, đến bên Thạch Kiều, Ngỡ là bao năm dấu tiên đã lẫn với vết tục. Trên bếp nồi kê vàng đã cạn giấc mơ phú quý, Tiếng sáo sắt nơi lầu gác chìm trong mây khói xƣa. Kiếp này chƣa tỉnh giấc mộng phong lƣu, Ngày ấy cái duyên ăn quả tiên rốt cuộc vẫn không xong. Muốn mƣợn chân nhân chiếc gối để nằm, Nhƣng chàng Lƣ vẫn còn ôm đầu ngủ say. Dịch thơ: Thu đến Hàm Đan cạnh Thạch Kiều, Tiên phàm vết lẫn, tháng năm rêu. Kê vàng phú quý nay đà cạn? Tiếng địch lầu mây hút bóng chiều. Giấc mộng phong lƣu ta chửa tỉnh, Cái duyên hoả táo vẫn còn khêu. Chân nhân gối cũ, toan nhờ mƣợn, Say mộng chàng Lƣ vẫn ngáy đều. 264. 廿年烽火歷艱屯 我亦廬生夢後身 龍虎未成燒汞候 宦婚猶是煑粱身 青勞秋柳堤乘眼 紅望京華路遶塵 爲向清壇叅正果 蓬萊仙境有無因 (KỲ NHỊ) Chấp niên phong hoả lịch gian truân, Ngã diệc Lƣ sinh mộng hậu thân. Long hổ vị thành thiêu hống hậu,1 Hoạn hôn do thị chử lƣơng thân. Thanh lao thu liễu đê thừa nhãn, Hồng vọng kinh hoa lộ nhiễu trần. Vị hƣớng thanh đàn tham chính quả,2 Bồng Lai tiên cảnh hữu vô nhân. Dịch nghĩa: BÀI 2

đỗ, làm quan, thọ hơn tám chục tuổi, rồi bệnh chết, giật mình tỉnh dậy, quay nhìn thấy Lữ công ở bên, nồi kê vàng vẫn chƣa chín. Ý nói cuộc đời nhƣ giấc mộng. 1 Long hổ: rồng cọp. Sách Sử ký chép: Phạm Tăng nói với Hạng Vũ: Bái công lúc ở Sơn Đông tham tiền của, thích đàn bà con gái đẹp, nay đã vào cửa quan, tiền của không lấy, mỷ nữ không màng, đó là bởi không để chí mình vào lợi nhỏ, tôi đã sai ngƣời xem khí của ngƣời này, họ đều cho là rồng cọp thành mây ngũ sắc, đó là khí của thiên tử vậy. Đây có ý chỉ công danh. 2 Thanh đàn: đàn thanh tịnh, chỗ của những ngƣời tiên ở, cũng giống nhƣ tiên đàn.

3 Nguyên chú: 寺在正定府城中 (Chùa nằm trong thành phủ Chính Định). 4 Nguyên chú: 寺奉觀音大士金身高七丈三尺佛前燈鑊號千 年燭貯油百斤常點不絕 (Chùa thờ kim thân đức Quan Âm đại sĩ, cao bảy trƣợng ba thƣớc, trƣớc tƣợng Phật có tháp đèn gọi là đèn ngàn năm, chứa trăm cân dầu, thƣờng thắp sáng không dứt.) 5 Nguyên chú: 寺所殿閣樓觀前後絡繹正殿奉大士金身前有 大清聖祖仁皇帝御製碑文左建書樓垣外右後行宮是南巡之 所 (Lầu gác điện đền trong chùa trƣớc sau đều thông với nhau, chánh điện thờ kim thân đức Quan Âm đại sĩ, phía trƣớc có văn bia do Thánh tổ Nhân Hoàng đế nƣớc Đại Thanh ngự đề, bên trái dựng lầu sách, tƣờng thấp bao bọc, phía sau bên phải là hành cung, nơi nghỉ khi nam tuần.)

308

Gió đƣa mùi hƣơng lúa thơm vào mũi ngƣời đi đƣờng. 270. 陟廣仁嶺4 雄瞻古北口 人上石巑岏 赤日胸前捧 青雲足下蟠 瀑翻驚鹿飲 風震怯猿攀 皇路開通後 寬平絕險艱 TRẮC QUẢNG NHÂN LĨNH 5 Hùng chiêm Cổ Bắc khẩu, Nhân thƣớng thạch tán hoàn. Xích nhật hung tiền bổng, Thanh vân túc hạ bàn. Bộc phiên kinh lộc ẩm, Phong chấn khiếp viên phan. Hoàng lộ khai thông hậu, Khoan bình tuyệt hiểm gian. Dịch nghĩa: LÊN NÚI QUẢNG NHÂN Trông cửa Cổ Bắc hùng tráng, Ngƣời trèo lên vách đá cheo leo. Mặt trời đỏ nhƣ ở trƣớc ngực, Mây xanh dƣờng quấn dƣới chân. Thác đổ làm kinh lũ hƣơu đang uống nƣớc, Gió thốc lên làm lũ vƣợn khiếp sợ chuyền cành. Sau khi con đƣờng đƣợc vua khai thông, Làm cho nhƣng gian khổ nguy hiểm trở nên dễ dàng. 271. 古北口紀見6 重峰叠壑霧雲班 萬里長城啓北關 打獵人從鷹隼去 穿裘客載駱駝還 熱河日麗羅仙蹕7

“Vô tƣớng” (không có hình tƣớng), mà thân vàng cao bảy trƣợng đã có từ bao giờ? Mây ôm ấp lầu sách, giăng trên chiếc khăn bịt đầu bằng gấm, Con giao ly chầu về tấm bia đá do chính tay vua viết, cây thông lẩn trong sƣơng. Ngƣời hành hƣơng muốn hỏi thăm quả nhân duyên, Chẳng nể việc vị tỳ kheo kia đang lƣời trong mộng. 269. 直隷道中書事 京畿千里宅天王 元首諸邦控御強 右向太行驅巿馬 左歸滄海泛樓航1 琉璃2高架橋如玉 豆腐3深藏店尚霜 正熱平田秋萬頃 風吹禾黍襲人香 TRỰC LỆ ĐẠO TRUNG THƢ SỰ Kinh kỳ thiên lý trạch thiên vƣơng, Nguyên thủ chƣ bang khống ngự cƣờng. Hữu hƣớng Thái Hàng khu thị mã, Tả quy thƣơng hải phiếm lâu hàng. Lƣu Ly cao giá kiều nhƣ ngọc, Đậu Hủ thâm tàng điếm thƣợng sƣơng. Chính nhiệt bình điền thu vạn khoảnh, Phong xuy hoà thử tập nhân hƣơng. Dịch nghĩa: TRÊN ĐƢỜNG TRỰC LỆ GHI VIỆC Chốn kinh kỳ ngàn dặm là nơi vua chọn làm nhà, Là nơi đầu mối của các nƣớc chống cƣờng địch. Bên phải đƣờng ngựa dong ruổi thẳng đến Thái Hàng, Bên trái đƣờng thuỵ thông suốt, kề sát biển xanh. Chiếc cầu Lƣu Ly bắt cao nhƣ cầu ngọc, Hàng bán Đậu Hủ khuất sâu, quán còn phủ sƣơng. Đồng ruộng vụ lúa mùa đang chín, ngập tràn vạn khoảnh.

1 Nguyên chú: 廣輿記曰直隷左抱滄海有右擁太行 (Quảng dƣ ký chép rằng mé trái Trực Lệ ấp biển xanh, bên phải ôm núi Thái Hành). 2 Nguyên chú: 橋名在涿州城北長一里許廣二丈皆白石砌 (Lƣu Ly là tên cầu ở phía bắc thành Trác Châu, dài một dặm, rộng khoảng hai trƣợng, đều lát bằng đá.) 3 Nguyên chú: 店名大庯巿 (Đậu Hủ, tên cửa hiệu ở chợ Đại Phu).

4 Nguyên chú: 嶺在承德府熱河之南康熙初年截嶺開路盤旋 上下車馬可行 (Núi này nằm ở phủ Thừa Đức, phía nam Nhiệt Hà, năm đầu thời Khang Hy, phá núi mở đƣờng, đƣờng quanh co lên xuống, ngựa xe có thể đi đƣợc.) 5 Quảng Nhân lĩnh: núi Quảng Nhân, nằm ở phía tây huyện Thừa Đức, Nhiệt Hà chừng 11 dặm, tức là núi Mặc Đấu ngày xƣa, đời nhà Thanh đặt tên là Quảng Nhân. 6 Nguyên chú: 古北口乃萬里長城關名 (Cổ Bắc khẩu là tên cửa ải Vạn Lý trƣờng thành.) 7 Nguyên chú: 熱河行宮大清歷朝避暑北巡之所日麗午門名 東北至滿州長白祖山行程不遠 (Nhiệt Hà, hành cung Nhiệt Hà, là nơi các triều vua Đại Thanh đi bắc tuần, tránh nắng nghỉ

309

石匣弓閒掛雪山1 驛使正酣酥酪酒 黃沙斷磧角聲寒 CỔ BẮC KHẨU KỶ KIẾN Trùng phong điệp hác vụ vân ban, Vạn lý trƣờng thành khải bắc quan. Đả liệp nhân tòng ƣng chuẩn khứ, Xuyên cừu khách tải lạc đà hoàn. Nhiệt Hà nhật lệ la tiên tất, Thạch hạp cung nhàn quải tuyết sơn. Dịch sứ chính hàm tô lạc tửu, Hoàng sa đoạn thích giốc thanh hàn. Dịch nghĩa: GHI ĐIỀU TRÔNG THẤY Ở CỬA CỔ BẮC Núi non trùng điệp, suối khe đầy sƣơng mù, Trƣờng thành dài vạn dặm mở ra cửa bắc. Chim cắt theo ngƣời thợ săn bay đi, Lạc đà chở ngƣời khách mặc áo cừu trở về. Ánh nắng đẹp (Nhật lệ) ở Nhiệt Hà bày ra con đƣờng vua đi, Chiếc cung ở cửa Thạch Hạp treo hờ ở núi Tuyết Sơn. Ngƣời đi sứ đang say trong chén rƣợu sữa, Bãi cát vàng dƣờng nhƣ đứt quãng trong tiếng tù và lạnh lẽo vang. 273. 贈聖裔七十二代孫拔貢試任新鄭縣知縣繼 炳 孳孳向日効葵衷 聖裔恭逢返路中 枝葉榮霑楓殿露 雲仍高接杏壇風 牛刀暫試鷄初割 花縣遙看樹已樷 致澤何難家有訓 皐夔事業佇元功 TẶNG THÁNH DUỆ THẤT THẬP NHỊ ĐẠI TÔN BẠT CỐNG THÍ NHẬM TÂN TRỊNH HUYỆN TRI HUYỆN KẾ BÍNH Tƣ tƣ hƣớng nhật hiệu quỳ trung, Thánh duệ cung phùng phản lộ trung. Chi diệp vinh triêm phong điện lộ,2 Vân nhƣng cao tiếp hạnh đàn phong.3 mát. Nhật Lệ là tên ngọ môn, đông bắc đến Mãn Châu, núi Trƣờng Bạch Tổ, đƣờng đi không xa lắm). 1 Nguyên chú: 石匣城關口內遊撃駐札之所 (Thạch Hạp, trong cửa ải thành, là nơi dừng chân của các quan chuyển thƣ trát đến). 2 Phong điện: sân điện trồng cây phong, chỉ cung vua. Thời xƣa cung điện nhà Hán trồng nhiều cây phong ở sân, vì thế gọi là thềm phong, sân phong. 3 Hạnh đàn: đàn hạnh, hay vƣờn trồng nhiều cây hạnh. Ngày xƣa Khổng Tử dạy học trò dƣới vƣờn hạnh, nên về sau, vƣờn hạnh dùng để chỉ trƣờng học, hay những ngƣời xuất thân từ

Ngƣu đao tạm thí kê sơ cát, Hoa huyện dao khan thụ dĩ tùng. Trí trạch hà nan gia hữu huấn,4 Cao, Quỳ sự nghiệp trữ nguyên công.5 Dịch nghĩa: TẶNG CHÁU ĐỜI THỨ BẢY MƢƠI HAI CỦA THÁNH DUỆ ĐƢỢC ĐỀ BẠT KẾ NHẬM CHỨC TRI HUYỆN HUYỆN TÂN TRỊNH Bao đời nhƣ hoa quỳ quay về ánh nắng để tỏ lòng thành, Dòng dõi thánh hiền nay đƣợc gặp trong lúc ta trên đƣờng trở về. Lá cành tƣơi tốt đƣợm ơn sƣơng móc nơi cung khuyết, Mây vẫn trên cao đón gió ở đàn hạnh. Dao mổ trâu tạm dùng để cắt gà thử, Khắp huyện hoa từ xa đã nghe cây cối tốt tƣơi. Trên phò vua, dƣới giúp dân có khó gì với ngƣời đã có sẵn nếp nhà dạy dỗ, Sự nghiệp của ông Cao, ông Quỳ thật đáng công đầu. 278. 使行自述 嶺海窮人跡 乘車復駕舟 手逢巡撫展6 鬚奉帝王留1 Nho gia. Cũng có ngƣời cho rằng, vƣờn hạnh là khu vƣờn ở thành Trƣờng An, đời Đƣờng, nhà vua đón tiếp các tân tiến sĩ ở đây. 4 Trí trạch: tức nói gọn cụm từ “trí quân trạch dân” (trên phò vua, dƣới giúp dân). 5 Cao, Quỳ: tức ông Cao Dao, quan coi ngục và ông Quỳ là quan giữ lễ nhạc thời vua Ngu Thuấn. 6 Nguyên chú: 使到湖南省贄見巡撫高紀,坐談之餘,高執 余手掌,相視花紋,因問使部係農耐人,其農耐之名,古 無聞見,今觀使部語默舉動,衣冠人物,有中國之風,與 從前安南來使大有天淵之判得無,農耐別是一古何國,其 文學風俗封域土産若何?余一一清答,待茶而退。蓋嘉定 城俗名仝狔,廣東土音呼爲農耐。致廣東督撫閫臣詢知緣 由,別行摺奏以我國爲農耐人,非昔年安南交趾人一般, 故使部所至,京省府縣並以此核查官吏士民亦以此厚加看 待,而農耐之名已書於史館矣。(Sứ đoàn đến tỉnh Hồ Nam, gặp mặt quan Tuần phủ Cao Kỵ, sau khi nói chuyện xong, Cao cầm lòng tay tôi, xem tƣớng chỉ tay, nhân hỏi sứ bộ là ngƣời Nông Nại, cái tên Nông Nại ấy, xƣa nay chƣa từng nghe thấy, nay xem cách đi đứng nói năng của đoàn sứ bộ, thật là những ngƣời có văn hoá, giống với phong tục của Trung Quốc, so với sứ giả trƣớc đây từ An Nam đến thật khác xa, ngỡ rằng Nông Nại là một nƣớc xƣa nào khác, văn học, phong tục, cƣơng vực, thổ sản thế nào? Tôi bèn nói rành rọt hết, đƣợc đãi trà rồi lui. Thành Gia Định, thƣờng gọi là Đồng Nai, thổ âm Quảng Đông gọi là Nông Nại. Đến khi quan Khổn thần là Tuần phủ Quảng Đông hỏi thăm biết đƣợc duyên cớ, khi lên đƣờng, ông viết tấu là đoàn sứ nƣớc ta là ngƣời Nông Nại, không phải là ngƣời Giao Chỉ An Nam nhƣ trƣớc đây, cho nên những nơi sứ bộ đến, từ kinh, tỉnh, phủ, huyện đến sĩ dân, quan lại kiểm tra đều vì điều ấy mà tiếp đãi rất chu đáo, mà cái tên Nông Nại cũng đƣợc ghi vào sử quán vậy).

310

Nam bắc chu xa chí, Hoa Di đạo lộ thông. Bút đoan miêu bất tận, Hạo đãng điện phu công. Dịch nghĩa: ĐỀ BỨC VẼ HÀNH TRÌNH ĐI SỨ TRUNG QUỐC Cầm cờ tiết đi sứ, lòng bầy tôi phấn chấn, Bức vẽ mở ra địa thế hùng vĩ. Núi sông từ nay đã là của quê vua, Cỏ cây đƣợc thấm nhuần gió mát của vua. Xe thuyền nam bắc qua lại, Ngƣời Hoa ngƣời Di lại qua thông suốt. Ngọn bút không thể nào vẽ hết đƣợc, Công mở rộng cõi bờ mênh mông.

艮齋可以集 欽差吏部尚書行嘉定城協總鎮安全侯 鄭懷德甫輯 CẤN TRAI KHẢ DĨ TẬP Khâm sai Lại bộ thƣợng thƣ hành Gia Định thành Hiệp Tổng trấn An Toàn hầu Trịnh Hoài Đức phủ tập

南北隨聲應2 江山有句酬 歸來妻子問 幸免笑虛遊 SỨ HÀNH TỰ THUẬT Lĩnh hải cùng nhân tích, Thừa xa phục giá chu. Thủ phùng tuần phủ triển, Tu phụng đế vƣơng lƣu. Nam bắc tùy thanh ứng, Giang sơn hữu cú thù. Quy lai thê tử vấn, Hạnh miễn tiếu hƣ du. Dịch nghĩa: TỰ THUẬT HÀNH TRÌNH ĐI SỨ Vùng biển núi Lĩnh chẳng thấy bóng ngƣời, Đi xe rồi lại đi thuyền. Tay này, gặp tuần phủ thì dang ra, Râu này, vì phụng mệnh vua mà để dài. Ở Nam hay ở Bắc đều tùy tiếng nói mà đối đáp, Cảnh đẹp non sông, thì dùng thơ thù họa. Khi trở về nhà, vợ con có hỏi, Rằng may mắn không uổng một chuyến vui chơi. 279. 題華程圖3 節捧臣心壯 圖開地勢雄 江山歸帝籍 草木被皇風 南北舟車至 華夷道路通 筆端描不盡 浩蕩奠敷功 ĐỀ HOA TRÌNH ĐỒ Tiết phủng thần tâm tráng, Đồ khai địa thế hùng. Giang sơn quy đế tịch, Thảo mộc bị hoàng phong.

甲子年 此後公忙不遑吟咏間有稱頌送贈哀輓大題 與夫教正門下雜作隨筆必錄以次附之無事 於逐年分紀 GIÁP TÝ NIÊN (1804) Thử hậu công mang bất hoàng ngâm vịnh gian hữu xƣng tụng tống tặng ai vãn đại đề dữ phù giáo chính môn hạ tạp tác tuỳ bút tất lục dĩ thứ phụ chi vô sự ƣ trục niên phân kỵ. (Từ năm Giáp Tý về sau, trong lúc bận rộn việc công vẫn không bỏ ngâm vịnh, phàm những bài thơ lấy đề tài từ xƣng tụng, tặng tiễn, ai vãn cùng với những sáng tác tạp nhạp tuỳ bút nơi cửa nhà khi nhàn rỗi vô sự ắt đều ghi lại chép phụ vào sau theo từng năm) 280. 澆花 祇恐驕陽熱氣烘 汲將春水灌花叢 輕篩為護香嬌力 頻灑思陪造化功 浴罷秦娥流粉黛 盥餘趙女退脂紅 明朝閑檢園庭下 桂子蘭孫占曉風

1Nguyên chú: 余欽命時奉上諭留鬚以重國體 (Khi tôi nhận mệnh đi sứ, phụng chỉ dụ của hoàng thƣợng để râu để gìn quốc thể). 2 Nguyên chú: 使到廣西通事陳貴病死,余初以廣東語應 酬,後漸熟北音官話,凡當官問答,余自應之,一路如此 (Sứ đoàn đến tỉnh Quảng Tây, ngƣời giữ việc thông dịch là Trần Quý bị bệnh chết, tôi lúc đầu dùng tiếng Quảng Đông để đối đáp, sau dần dà quen cả tiếng quan thoại Bắc Kinh, phàm khi làm việc đối đáp, tôi đều tự ứng đáp, suốt chặng đƣờng đều nhƣ thế cả.) 3 Nguyên chú: 使行別有按認在行一路山川城郭塘汛路程畫 成圖本 (chặng đƣờng đi sứ cứ xét vào đây thì rõ, suốt chặng đƣờng đi, núi sông thành quách ao hồ, bến nƣớc, lộ trình, đều vẽ thành bức vẽ).

311

KIÊU HOA Chỉ khủng kiệu dƣơng nhiệt khí hồng, Cấp tƣơng xuân thuỵ hoán hoa tùng. Khinh sƣ vi hộ hƣơng kiều lực, Tần sái tƣ bồi tạo hoá công. Dục bãi tần nga lƣu phấn đại, Quán dƣ Triệu nữ thoái chi hồng. Minh triêu nhàn kiểm viên đình hạ, Quế tử hƣơng tôn chiếm hiểu phong. Dịch nghĩa: TƢỚI HOA Chỉ sợ hơi nóng của chiếc xe chở ánh mặt trời quá nóng, Nên dẫn nƣớc xuân về tƣới khóm hoa. Tƣới nhẹ vì muốn gìn làn hƣơng mỏng, Tƣới nhiều lần để nhớ đến công của tạo hoá. Tắm xong, hoa tựa Hằng nga trôi vẻ phấn, Gội sạch rồi, hoa dƣờng Triệu Phi Yến bớt vẻ hồng. Sáng mai kiểm lại dƣới sân vƣờn, Con cháu của quế, lan sẽ chiếm làn gió sớm. 281. 酷愛奇葩綴景風 勤加調護灌澆功 一缻甘水爭春雨 萬顆瓊漿撒粉叢 白手新恩均地有 紅顏舊染半塵空 靜參輔相相宜處 活潑生機樹樹同 (KỲ NHỊ) Khốc ái kỳ ba chuyết cảnh phong, Cần gia điều hộ hoán kiêu công. Nhất bình cam thuỵ tranh xuân vũ, Vạn khoảnh quỳnh tƣơng tát phấn tùng. Bạch thủ tân ân quân địa hữu, Hồng nhan cựu nhiễm bán trần không. Tĩnh tham phụ tƣớng tƣơng nghi xứ, Hoạt bát sinh cơ thụ thụ đồng. Dịch nghĩa: BÀI 2 Yêu thay hoa lạ tô điểm cho cảnh sắc, Nên cố chăm sóc ra công tƣới nƣớc cho hoa. Một bình nƣớc ngọt tranh với mƣa xuân, Vạn khoảnh đƣợm nƣớc quỳnh, mang phấn đi. Kẻ trắng tay nhận ơn mới, ở đâu cũng có, Ngƣời hồng nhan nhiễm vết cũ, nửa trần này không. Lặng xem bậc tƣớng phò giúp cũng phải đƣợc chỗ thích hợp, Sức sống tràn trề, cây nào cây nấy cũng giống nhau.

282. 野牡丹 托根何必在沈香 綠野丰情擬洛陽 里巷古來饒國色 塵埃今自有花王 酒醒雨洗東珠琖 蜂去春留赤蠟房 富貴不從衰老損 珊瑚四尺尚成行 DÃ MẪU ĐƠN Thác căn hà tất tại trầm hƣơng, Lục dã phong tình nghĩ Lạc Dƣơng. Lý hạng cổ lai nhiêu quốc sắc, Trần ai kim tự hữu hoa vƣơng. Tửu tinh vũ tẫy đông châu trản, Phong khứ xuân lƣu xích lạp phòng. Phú quý bất tòng suy lão tổn, San hô tứ xích thƣợng thành hàng. Dịch nghĩa: HOA MẪU ĐƠN Ở ĐỒNG Gửi thân đâu cần phải giấu mùi hƣơng, Nơi đồng xanh, bởi đa tình nên cứ nhớ Lạc Dƣơng. Làng quê ngõ xóm xƣa nay thƣờng lƣợng thứ cho ngƣời quốc sắc, Cõi trần từ nay đã có vua của loài hoa. Tỉnh cơn say, mƣa gội rửa, hoa nhƣ chén ngọc, Ong bay hết, xuân còn giữ trong nhuỳ đỏ. Vẻ phú quý chẳng giảm bớt theo tuổi già, Bốn thƣớc san hô vẫn thành hàng. 283. 芥花 高人采地在煙霞 芥圃葱蘢野興賖 蒼玉霜開交挹瓣 黃金日耀叠層葩 遺香善教思諸葛 坐佛誠心憶李家 為語村娃休早摘 護持成子續年華 GIỚI HOA Cao nhân thái địa tại yên hà, Giới phố thông lung dã hứng xa. Thƣơng ngọc suông khai giao ấp biện, Hoàng kim nhật diệu điệp tằng ba. Di hƣơng thiện giáp tƣ Gia Cát, Toạ phật thành tâm ức Lý gia. Vị ngữ thôn oa hƣu tảo trích, Hộ trì thành tử tục niên hoa.

312

御屏圖畫憶王維1 何堪賜弔煩中使 無復明時疏十思 KHỐC HỘ BỘ THƢỢNG THƢ MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH Gia Định thân bằng dĩ bán nuy, Lê khanh kim hựu Vĩ tinh ky (kỳ). Hạt cầu dĩ phó lâm quan lễ, Khấp vũ hoàn đa cử nhẫm bi. Công thự phong lƣu hoài sĩ hạnh, Ngự bình đồ hoạ ức Vƣơng Duy. Hà kham tứ điếu phiền trung sứ, Vô phục minh thời sớ thập ti (tƣ). Dịch nghĩa: KHÓC THƢỢNG THƢ HỘ BỘ TƢỚC MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH Bạn bè ở Gia Định một nửa đã mất, Anh họ Lê nay lại cỡi sao Vĩ ra đi. Chiếc áo cừu lớn đã đắp phụ vào cỗ áo quan, Mƣa khóc còn nhiều hơn cả nỗi buồn khi nâng áo chiếu. Vẻ phong lƣu của anh nơi công đƣờng khiến tôi nhớ đến tiết tháo của bậc đại phu, Trông bức vẽ ngự bình ngày xƣa của anh, khiến tôi nhớ đến Vƣơng Duy. Anh đƣợc vua sai trung sứ đến viếng, tôi biết làm sao, Từ nay không còn thấy anh dâng sớ về mƣời điều suy nghĩ trong thời nay nữa. 299. 聞嘉定城協總鎮靜遠侯吳汝山工部尚書訃 音哀作 指望安邊展宿懷 錦堂驚報汝山頽 紆青有力生能博 不白之言死可哀 半世雄心空復爾 二年大體謂何哉 憐卿曠達翻成癖 埋怨莊生入夜臺 VĂN GIA ĐỊNH THÀNH HIỆP TỔNG TRẤN TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN CÔNG BỘ THƢỢNG THƢ PHÓ ÂM AI TÁC Chỉ vọng An Biên triển túc hoài, Cẩm đƣờng kinh báo Nhữ Sơn đồi. Hu thanh hữu lực sinh năng bác, Bất bạch chi ngôn tử khả ai.

Dịch nghĩa: HOA CẢI Đất tốt bậc cao nhân ở chốn khói mây, Vƣờn cải sum suê, hứng tràn trề. Sƣơng móc nhƣ ngọc, mở cánh ra hút lấy, Nắng vàng rực rỡ, nở hoa nhiều tầng. Làn hƣơng còn sót lại nhờ thiện giáo, nhớ Gia Cát, Bên đất phật thành tâm, nhớ nhà họ Lý. Nhắn gửi mấy cô bé quê chớ hái hoa vội, Giữ gìn hạt mầm để nối tiếp tuổi hoa. 292. 南梅 羅浮飛跡是何年 饒托根株大越天 翠葉竝同花競秀 香姿不為雪增姸 橫斜古寺承甘露 點綴春窗裊瑞煙 莫謂南朝無宋相 清新還擬續瑤篇 NAM MAI La phù phi tích thị hà niên, Nhiêu thác căn chu Đại Việt thiên. Thuỳ diệp tịnh đồng hoa cạnh tú, Hƣơng tƣ bất vị tuyết tăng nghiên. Hoành tà cổ tự thừa cam lộ, Điểm xuyết xuân song niểu thuỳ yên. Mạc vị Nam triều vô Tống tƣớng, Thanh tân hoàn nghĩ tục dao thiên. Dịch nghĩa: NAM MAI (MAI PHƢƠNG NAM) Dấu tiên nơi La Phù từ năm nào, Đến đây gửi thân nơi trời Đại Việt. Lá xanh cùng phô vẻ đẹp với hoa, Mùi hƣơng chẳng cần tuyết để làm thêm nồng. Cành xoà nghiêng trƣớc ngôi chùa cổ, nên đƣợc gội nƣớc cam lộ, Điểm xuyết cho cửa xuân, hƣởng làn khói trầm thơm tho. Đừng nói là Nam triều không có tƣớng Tống, Vẻ thanh tân còn nối tiếp bài ngọc dao. 298. 哭戶部尚書敏政侯黎光定 嘉定親朋已半萎 黎卿今又尾星騎 褐裘已副臨棺禮 泣雨還多舉衽悲 公署風流懷士行

1Nguyên chú: 黎前有奉畫屏風步障上進 (Ông Lê trƣớc đây có phụng mệnh vẽ tấm bình phong bộ chƣớng, dâng lên cho vua).

313

Bán thế hùng tâm không phục nhĩ, Nhị niên đại thể vị hà tai?1 Liên khanh khoáng đạt phiên thành tích, Mai oán Trang sinh nhập dạ đài. Dịch nghĩa: NGHE TIN HIỆP TỔNG TRẤN THÀNH GIA ĐỊNH TƢỚC TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN, THƢỢNG THƢ CÔNG BỘ MẤT, ĐAU BUỒN LÀM THƠ Trông ngóng về đất An Biên mà giãi mối tình cũ, Tôi ở nơi nhà gấm (kinh thành) kinh hoàng nghe báo tin Nhữ Sơn đã mất. Khi làm quan, anh đủ tài sức để thi thố tài năng rộng rãi, Vì một lời nói mù mờ chẳng rõ mà chết, thật đáng đau xót. Hùng tâm nửa đời không trở lại đƣợc, Anh đã vì việc đại thể của đất nƣớc trong hai năm, giờ biết nói gì đây? Thƣơng anh tính tình khoáng đạt, lại trở thành khối bệnh, Đành ôm hận nhƣ Trang Sinh mà xuống suối vàng.

1 Nhị niên đại thể: đại thể hai năm, việc nƣớc hai năm, có lẽ chỉ việc ông làm phó sứ khi đi sứ Trung Quốc cùng với Trịnh Hoài Đức vào năm 1802 đến đầu năm 1804.

314

拾英堂詩集 公部尙書靜遠侯吳汝山甫草 THẬP ANH ĐƢỜNG THI TẬP CÔNG BỘ THƢỢNG THƢ TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN PHỦ THẢO

空戴南冠萬里愁 壯士自能酬國債 丈夫誰肯爲身謀 片心未達門重鎖 一事無成淚暗流 跼蹐前途天地窄 帝閽徒望抱奇猷 (Kỳ nhị) Phiêu bồng đoạn ngạnh cộng du du, Không đới nam quan vạn lý sầu. Tráng sĩ tự năng thù quốc trái, Trƣợng phu thuỳ khẳng vị thân mƣu. Phiến tâm vị đạt môn trùng toả. Nhất sự vô thành lệ ám lƣu. Cục tích tiền đồ thiên địa trách, Đế hôn đồ vọng bão kỳ du. Dịch nghĩa: Cỏ bồng bay trong gió, cành đào gãy trôi trong dòng nƣớc, cả hai cùng buồn man mác, Đội mũ quê hƣơng ở nơi đất khách xa xôi thêm buồn. Tráng sĩ tự biết mình có thể báo nợ nƣớc, Kẻ trƣợng phu ai chịu mƣu cầu cho thân mình. Tấm lòng của ta chƣa thấu đến vua vì cửa rồng còn khoá, Một việc làm không xong, nƣớc mắt lại chảy thầm. Con đƣờng phía trƣớc cứ quẩn quanh, trời đất sao hẹp thế? Lòng ta ôm ấp mƣu lạ cũng đành buồn trông về kinh đô. Dịch thơ: Bồng bay, đào gãy thảy lênh đênh, Khăn mũ quê hƣơng, vạn dặm tình. Tráng sĩ tự hay đền nợ nƣớc, Trƣợng phu há chịu béo thân mình! Tấm lòng chƣa tỏ, bao lần khoá, Một việc không thành, lệ rỏ quanh. Luẩn quẩn tiền đồ, trời đất hẹp, Buồn ôm mƣu lạ, ngóng kinh thành. 6. 經綸袖手恨年年 舉目關河每愴然

4. 同陳俊何平赤下舟中雜咏 事百年餘大義伸 行藏隨遇敢尤人 也知有命當微服 只爲求仁且屈身 撫劍未酬邦國恨 不才每悞友朋憐 盛衰容易畱名節 自古無多理亂臣 ĐỒNG TRẦN TUẤN, HÀ BÌNH XÍCH HẠ CHU TRUNG TẠP VỊNH Sự bách niên dƣ đại nghĩa thân, Hành tàng tuỳ ngộ cảm vƣu nhân. Dã tri hữu mệnh đƣơng vi phục, Chỉ vị cầu nhân thả khuất thân. Phủ kiếm vị thù bang quốc hận, Bất tài mỗi ngộ hữu bằng lân (liên). Thịnh suy dung dị lƣu danh tiết, Tự cổ vô đa lí loạn thần. Dịch nghĩa: Cố sức phò nghĩa lớn hơn trăm năm, Tuỳ thời mà làm quan hay về nghỉ, chuyện ấy nào dám so cùng ngƣời ta. Cũng biết có mệnh nên ta phải tuân theo, Chỉ vì mong cầu điều nhân nên mới chịu cúi mình. Vỗ kiếm hận chƣa trả đƣợc nỗi nƣớc nhà, Ta bất tài thƣờng đƣợc bạn bè thƣơng xót. Đời thịnh hay suy cũng dễ lƣu danh tiết, Từ xƣa đến nay chẳng có mấy bầy tôi biết trị loạn. Dịch thơ: Trăm năm nghĩa cả cố khuông phò, Xuất xử theo đời, chẳng dám so. Có mệnh cũng đành ra sức phục, Cầu nhân nên phải chịu thân co. Vỗ gƣơm, nợ nƣớc chƣa đền đáp, Tài thấp, bạn bè phải lắng lo. Danh tiết thịnh suy lƣu cũng dễ, Xƣa nay đƣợc mấy bậc ƣu nho? 5. 飄蓬斷梗共悠悠

315

草木盡歸秋氣色 樓臺半掩夕陽天 養成若訥方稱辨 學到如愚始爲賢 聞道謝安多勝局 惟能棄子急爭先 (Kỳ tam) Kinh luân tụ thủ hận niên niên, Cử mục quan hà mỗi sảng nhiên. Thảo mộc tận quy thu khí sắc, Lâu đài bán yểm tịch dƣơng thiên. Dƣỡng thành nhƣợc nạp phƣơng xƣng biện, Học đáo nhƣ ngu thuỵ vị hiền. Văn đạo Tạ An đa thắng cục,1 Duy năng khí tử cấp tranh tiên. Dịch nghĩa: (Bài 3) Bao năm hận có tài kinh luân nhƣng phải bó tay, Ngƣớc mắt nhìn sông núi, thƣờng rơi lệ buồn. Cây cỏ đã ngả màu sang thu, Lầu đài khuất nửa trong bầu trời chiều. Dƣỡng tính nhƣ vụng mới đáng là biết, Học đến mức nhƣ ngu mới gọi là hiền tài. Nghe nói Tạ An thƣờng thắng thế, Chỉ biết thí cờ tranh thế hơn. Dịch thơ: Bao năm ôm hận giỏi kinh luân, Mắt ngóng non sông lệ ƣớt ngần. Cây cỏ ngả màu thu ảm đạm, Lầu đài khuất nửa bóng hoàng hôn. Dƣỡng nên tính vụng âu rằng khéo, Học đến nhƣ ngu mới đáng tôn. Nghe nói Tạ An thƣờng thắng thế, Rằng hay thí tốt để tranh hơn.. 7. 精忠自古有何奇 話已投機更向誰 世愛謙恭多見信 時遭恐懼每生疑 江山有夢愚臣念 身事無聊聖主知 早晚憑天施妙術 免敎落魄久棲遲

(Kỳ tứ) Tinh trung tự cổ hữu hà kỳ, Thoại dĩ đầu cơ cánh hƣớng thuỳ? Thế ái khiêm cung đa kiến tín, Thời tao khủng cụ mỗi sinh nghi. Giang sơn hữu mộng ngu thần niệm, Thân sự vô liêu thánh chủ tri. Tảo vãn bằng thiên thi diệu thuật, Miễn giao lạc thác cửu thê trì. Dịch nghĩa: (Bài 4) Một lòng trung thành xƣa nay chuyện ấy có lạ gì? Lời nói đã tâm đầu ý hợp, nhƣng biết nói cùng ai? Đời thích sự khiêm cung, thƣờng đƣợc xem trọng, Lúc gặp việc hay hoảng hốt, bị sinh nghi ngờ. Trong giấc mơ bầy tôi vẫn luôn nhớ nghĩ đến sông núi quê hƣơng, Thánh chúa biết thân thế của bầy tôi vẫn chẳng đƣợc gì. Mỗi sớm mỗi tối, cầu xin trời ra ơn làm phép màu, Để ta khỏi phải lƣu lạc lần lữa nơi đất khách. Dịch thơ: Tự cổ trung trinh có lạ gì? Những lời thật dạ, tỏ cùng ai? Khiêm cung đời thích thƣờng tin tƣởng, Hoảng hốt nhiều phen bị ghét nghi. Sông núi mơ màng, thần vẫn nhớ, Tấm thân chẳng đoái, chúa hằng ghi. Phép màu hôm sớm xin trời giúp, Đừng để phiêu lƣu mãi xứ này. 8. 招擕赤下汎舟遊 鐡巷閒觀暫解憂 引出至剛因地利 鑄成大器在人謀 碧峯圍繞千重隔 绿樹陰濃一色秋 聞道龍山多勝景 共君登望莫淹畱 (Kỳ ngũ) Chiêu huề Xích hạ phiếm chu du, Thiết hạng nhàn quan tạm giải ƣu. Dẫn xuất chí cƣơng nhân địa lợi, Chú thành đại khí tại nhân mƣu. Bích phong vi nhiễu thiên trùng cách, Lục thụ âm nùng nhất sắc thu. Văn đạo Long Sơn đa thắng cảnh, Cộng quân đăng vọng mạc yêm lƣu.

1 Tạ An: ngƣời Dƣơng Hạ đời Tấn, tự là An Thạch, thuở nhỏ nổi tiếng, đƣợc mới làm quan nhƣng không ra, ẩn cƣ ở vùng Đông Sơn, dẫn ngƣời kỷ đi cùng. Ngƣời thời ấy có câu rằng: An Thạch bất xuất, nhƣ thƣơng sinh hà? (An Thạch không làm quan, dân chúng biết làm thế nào?) Đến năm ông hơn 40 tuổi mới ra làm quan tƣ mã cho Hoàn Ôn, ông cùng cháu của mình là Tạ Huyền chống địch lập đƣợc công lớn, làm quan đến chức Thái bảo, lúc ông mất đƣợc tặng chức Thái phó, nên ngƣời đời gọi ông là Tạ Thái phó.

316

Dịch nghĩa: (Bài 5) Cùng dắt tay nhau xuống thuyền dạo sông Xích hạ Tạm nhìn ngõ Thiết giải nỗi muộn phiền Tạo ra chất cứng rắn là nhờ ở đất Đúc thành vật lớn là do ngƣời Từng ngọn núi xanh vây bọc, cách trở ngàn trùng Bóng cây rợp mát thu một màu thu Nghe nói Long Sơn nhiều cảnh đẹp Cùng anh lên ngắm, chớ chần chừ nữa. Dịch thơ: Xích Hạ rong thuyền, tay nắm nhau, Nhàn xem ngõ Thiết tạm vơi sầu. Đúc nên đại khí, do ngƣời tất, Tạo chất cang cƣờng, bởi đất sâu. Núi biếc vây vòng ngàn cách trở, Cây xanh rợp mát một màu thu. Long Sơn nghe tiếng nhiều nơi đẹp, Lên ngóng cùng anh chớ đợi lâu. 12. 和劉照半邊菊原韻 靜對東籬醉一邊 黃金肯賣十分鮮 自知晚節畱餘美 也愛芳心吐未全 秋色不齊三曲徑 霜威有限一方天 既名隱逸嫌流露 含養精神待後年 HOẠ LƢU CHIẾU BÁN BIÊN CÚC NGUYÊN VẬN Tĩnh đối đông li tuý nhất biên, Hoàng kim khẳng mại thập phân tiên. Tự tri vãn tiết lƣu dƣ mỷ, Dã ái phƣơng tâm thổ vị toàn. Thu sắc bất tề tam khúc kính, Sƣơng uy hữu hạn nhất phƣơng thiên. Ký danh ẩn dật hiềm lƣu lộ,1 Hàm dƣỡng tinh thần đãi hậu niên. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI BÁN BIÊN CÚC CỦA LƢU CHIẾU Một phen say nằm lặng bên rào đông, Ngàn vàng chịu bán vẻ tƣơi tắn vẹn toàn kia không? Tự biết vẫn còn thơm tho đến cuối mùa, Cũng thích lòng thơm vẫn chƣa toả hết ra. Vẻ mùa thu chẳng bằng ba luống cúc,

1 Câu này thoát ý từ câu trong bài Ái liên thuyết của Chu Hy.

Sƣơng dày ngăn cách một phƣơng trời. Đã mang danh ẩn dật nên ngại hiển lộ ra ngoài, Hàm dƣỡng tinh thần chờ đến năm sau. Dịch thơ: Một cuộc say nằm dƣới giậu đông, Ngàn vàng có bán vẻ tƣơi không? Cuối mùa tự biết còn phô đẹp, Lòng ngát rằng ƣa chửa toả nồng. Thu sắc chƣa bằng ba lối nhỏ, Sƣơng dày phủ ngập một bầu không. Mang danh ẩn dật nên hiềm lộ, Hàm dƣỡng tinh thần đợi gió đông. 13. 和張稔溪弔蘭2原韻 不共閒花植檻邊 凌空九畹占春妍 根荄遠別繁華地 莖葉先承雨露天 清隔美人相近狎 香飄。。。高懸3 擬栽月殿同丹桂 凡卉何由結勝緣 HOẠ TRƢƠNG NẪM KHÊ ĐIẾU LAN NGUYÊN VẬN Bất cộng nhàn hoa thực hạm biên, Lăng không cửu điện chiếm xuân nghiên. Căn cai viễn biệt phồn hoa địa, Kính diệp tiên thừa vũ lộ thiên. Thanh cách mỷ nhân tƣơng cận áp, Hƣơng phiêu … cao huyền. Nghĩ tài nguyệt điện đồng đan quế, Phàm huỵ hà do kết thắng duyên. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI ĐIẾU LAN CỦA TRƢƠNG NẪM KHÊ Chẳng chịu trồng bên rào cùng những loài hoa khác, Hƣơng thơm xông lên chín cõi trời cao, riêng chiếm mùa xuân. Rễ cành khác xa với cõi đất phồn hoa, Cành lá gội ơn mƣa móc trời ban trƣớc. Thơm tho nhƣ ngƣời đẹp lại gần, Hƣơng phảng phất … trên cao. Nếu trồng ở cung trăng cùng loài quế đỏ, Loài cỏ cây bình thƣờng vì đâu kết đƣợc mối duyên cùng? Dịch thơ: Bên rào chẳng ở với hoa nhàn, Hƣơng vút chín tầng riêng chiếm xuân. Cõi đất phồn hoa, thân chẳng gởi, 2 Nguyên văn chép 闌, chúng tôi sửa lại là 蘭 3 Bản chúng tôi sử dụng nguyên văn bị tàn khuyết mất ba chữ.

317

15. 和香山詩社對梅原 羅浮香夢遶 半夜獨憑欄 月下俱憐影 山中近耐寒 憂天應骨瘦 覺世定心酸 潔白畱人愛 幽情欲話難 HOẠ HƢƠNG SƠN THI XÃ ĐỐI MAI NGUYÊN VẬN KỲ NHẤT La phù hƣơng mộng nhiễu, Bán dạ độc bằng lan. Nguyệt hạ câu liên ảnh, Sơn trung cộng nại hàn. Ƣu thiên ƣng cốt sấu, Giác thế định tâm toan. Khiết bạch lƣu nhân ái, U tình dục thoại nan. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI ĐỐI MAI CỦA NHÓM THƠ HƢƠNG SƠN Hƣơng thơm thoảng đƣa quanh giấc mộng, Nửa đêm một mình dựa lan can. Dƣới trăng cùng thƣơng chiếc bóng, Trong núi non cùng chịu cảnh giá rét. Buồn lo đất trời nên xƣơng xẩu gầy guộc, Biết chuyện cuộc đời nên lòng mai chua. Tính trong sạch nên đƣợc ngƣời yêu quý, Tấm lòng sâu kín muốn nói nhƣng khó tỏ bày. Dịch thơ: Bồng bềnh hƣơng nhiễu mộng, Khuya tựa giậu mình ai. Dƣới nguyệt thƣơng chiếc bóng, Trong non chịu rét dài. Lo đời xƣơng gầy guộc, Rõ việc dạ chua cay. Trinh trắng bao ngƣời mến, Tình sâu khó giãi bày. 16. 其二 香風何處早 梅影月移欄 撲我多芳餌 羞余儘素餐 眼前春易占 心底話尤難 從此消塵慮

Bầu trời mƣa móc, lá thừa ơn. Thơm tho nhƣ thể gần ngƣời đẹp, …… Cung Quảng đƣợc trồng bên quế đỏ, Vì đâu cỏ dại kết duyên thân? 14. 和香山詩社雪聲原韻 楚歌當寂寂 謝咏正漫漫 韻帶梅花落 音凝柳葉黄1 和風多殺伐 共雨更摧殘 聞擁藍關外 韓公去馬難 HOẠ HƢƠNG SƠN THI XÃ TUYẾT THANH NGUYÊN VẬN Sở ca đƣơng tịch tịch, Tạ vịnh chính man man. Vận đới mai hoa lạc, Âm ngƣng liễu diệp hoàng. Hoạ phong đa sát phạt, Cộng vũ cánh thôi tàn. Văn ủng Lam quan ngoại, Hàn công khứ mã nan.2 Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI TUYẾT THANH CỦA NHÓM THƠ HƢƠNG SƠN Khúc ca nƣớc Sở đang lặng lẽ, Điệu ngâm họ Tạ man mác. Theo vần hoa mai rơi rụng, Tiếng ngừng lá liễu úa vàng. Cùng hoà với gió nghe réo rắc, Lẫn trong tiếng mƣa càng nghe phai tàn. Nghe ngoài ải Lam quan, Ông họ Hàn khó giục ngựa đi. Dịch thơ: Sở ca còn vắng lặng, Tạ vịnh đã man man. Vần lẫn hoa mai rụng, Điệu ngƣng lá liễu vàng. Gió hoà nghe réo rắc, Mƣa đẫm giục phai tàn. Tiếng ngựa Hàn công thúc, Ngần ngừ ải Lam quan. 1 Bản chúng tôi sử dụng nguyên văn khuyết mất hai chữ, chúng tôi đoán ý thơ bổ khuyết hai chữ diệp hoàng, chờ dịp thẩm sát lại. 2 Hai câu này xuất từ ý câu “Tuyết ủng Lam quan mã bất tiền” trong bài Tả thiên chí Lam quan thị điệt tôn Tƣơng của Hàn Dũ để chỉ cảnh tuyết rơi dày khó đi đƣợc. Sau khi Hàn Dũ dâng tờ tâu can ngăn vua Đƣờng Hiến Tông về việc rƣớc xƣơng Phật, bị biếm đi Triều Dƣơng (Quảng Đông), đến ải Lam quan tuyết dày, ngựa không tiến lên đƣợc.

318

還期入夢看 KỲ NHỊ Hƣơng phong hà xứ tảo, Mai ảnh nguyệt di lan. Phốc ngã đa phƣơng nhị, Tu dƣ tẫn tố xan. Nhãn tiền xuân dị chiếm, Tâm để thoại vƣu nan. Tùng thử tiêu trần lự, Hoàn kỳ nhập mộng khan. Dịch nghĩa: Bài hai Gió đƣa hƣơng sớm thơm từ nơi nào nổi lên, Trăng chiếu đƣa bóng hoa mai in lên lan can. Mùi hoa nhƣ bánh thơm bay vào mũi ngào ngạt, Nghĩ thẹn cho mình cứ ăn không ngồi rồi. Trƣớc mắt cảnh xuân dễ chiếm, Lời nói tận đáy lòng khó nói thay. Từ đây, những suy nghĩ trần gian tiêu mất hết, Vẫn còn chờ vào mộng xem. Dịch thơ: Gió thơm từ đâu đến, Trăng chuyển bóng mai lồng. Ngào ngạt mùi thơm lạ, Ăn không nghĩ thẹn thùng. Vẻ ngoài xuân dễ chiếm, Tấc dạ chuyện khôn cùng. Từ độ duyên trần dứt, Vẫn chờ vào mộng trông. 17. 其三 不向江南去 柴門喜得看 春魁才一占 花候引千般 白共山頭老 明同月影寒 先天藏這裡 泰兆已開端 KỲ TAM Bất hƣớng Giang Nam khứ, Sài môn hỉ đắc khan. Xuân khôi tài nhất chiếm, Hoa hậu dẫn thiên ban. Bạch cộng sơn đầu lão, Minh đồng nguyệt ảnh hàn. Tiên thiên tàng giá lý,1

Thái triệu dĩ khai đoan. Dịch nghĩa: BÀI 3 Hoa mai chẳng đi về Giang Nam, Mừng đƣợc thấy nơi cửa sài thô lậu. Trong tiết xuân, mai chiếm vị trí đầu, Mùa hoa, mai nở trƣớc muôn hoa. Sắc trắng chung với tuyết đầu núi, Sáng trong nhƣ bóng trăng thu. Vẻ tiên thiên ẩn trong hoa này, Điềm thái bình đã mở ra. Dịch thơ: Giang Nam không chịu đến, Mừng đƣợc thấy nơi đây. Xuân thắm mình khoe trƣớc, Mùa hoa dẫn vạn loài. Trắng ngần cùng tuyết núi, Sáng lạnh với trăng đầy. Trời đất thu vào đó, Điềm vui nở chốn này. 18. 和古對梅原韻 前途驚歲晚 花候已翻新 林下高眠客 月中素影人 幾囘香遶夢 數點玉鎔神 情到忘言際 空空色色身 HOẠ CỔ ĐỐI MAI NGUYÊN VẬN Tiền đồ kinh tuế vãn, Hoa hậu dĩ phiên tân. Lâm hạ cao miên khách, Nguyệt trung tố ảnh nhân. Kỵ hồi hƣơng nhiễu mộng, Sổ điểm ngọc dung thần. Tình đáo vong ngôn tế, Không không sắc sắc thân. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI THƠ CỔ ĐỐI MAI Trên đƣờng dài kinh hãi thấy năm đã tàn, Mùa hoa đã nở những bông hoa mới. Trong rừng có ngƣời khách nằm cao đầu ngủ, Dƣới trăng có bóng ngƣời lẻ loi. Mấy lần hƣơng hoa bay vào giấc mộng, Bao điểm ngọc đúc nên thần thái hoa. Tình cảm ở đời đến chỗ quên lời,

1 Tiên thiên: kinh Dịch chép: “tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thời” (làm trƣớc trời nhƣng không trái với trời, làm sau trời mà theo thời cơ của trời) ý nói, bậc đại nhân hợp với trời, thời cơ chƣa đến vẫn làm trƣớc trời, trời cũng

không trái với mình. Thời cơ đến, tuy làm sau trời, mà ta cũng không thể trái với trời. Tiên thiên cũng chính là tiên thiên bát quái do Phục Hy vạch ra, ở đây còn để chỉ càn khôn vũ trụ.

319

Mời hiểu tấm thân này là không sắc, sắc không. Dịch thơ: Đƣờng thẳm e năm hết, Mùa hoa rộ nở bông. Dƣới rừng, ngƣời gối giấc, Trong nguyệt, khách riêng lòng. Mấy độ hƣơng thơm mộng, Bao làn ngọc điểm dung. Tình quên lời đã đạt, Thân sắc sắc không không. 19. 冬日偕香山詩社諸子過普濟院尋梅 同登彼岸雪紛紛 爲愛梅花氣味芬 閒訪芳心如此1地 寒憐瘦骨共斯文 且看天地開春信 不覺乾坤掛2夕曛 塵夢時縈清夢遠 一枝明月臥山雲 ĐÔNG NHẬT HÀI HƢƠNG SƠN THI XÃ CHƢ TỬ QUÁ PHỔ TẾ VIỆN TẦM MAI Đồng đăng bỉ ngạn tuyết phân phân, Vị ái mai hoa khí vị phân. Nhàn phỏng phƣơng tâm nhƣ thử địa, Hàn liên sấu cốt cộng tƣ văn. Thả khan thiên địa khai xuân tín, Bất giác càn khôn quải tịch huân. Trần mộng thời oanh thanh mộng viễn, Nhất chi minh nguyệt ngoạ sơn lâm. Dịch nghĩa: NGÀY ĐÔNG CÙNG CÁC ÔNG Ở NHÓM THƠ HƢƠNG SƠN QUA CHÙA PHỔ TẾ TÌM MAI Cùng lên trên bờ ấy trong tuyết bay bời bời, Chỉ vì yêu khí vị hoa mai thơm tho. Tìm thăm lòng thơm nhƣ vùng đất này, Thƣơng cho nhánh mai gầy gò nhƣ văn ấy. Nhìn thấy đất trời đƣa tin xuân đến, Chẳng biết càn khôn đã tối chiều. Giấc mộng trần thƣờng đến, giấc mộng thanh cao càng xa, Một vầng trăng sáng ngủ lẫn trong núi mây. Dịch thơ: Cùng lên đồi giữa tuyết mù bay, Bởi thích hoa mai khí vị đầy. Thăm hỏi lòng thơm nhƣ chốn ấy, Xót thƣơng thân gộc tựa văn này,

Mải nhìn trời đất tin xuân đến, Chẳng biết càn khôn bóng xế tây. Thoát mộng thanh tao, mộng tục nhiễu, Một vầng trăng sáng ngủ non mây. 20. 澳門旅寓春和堂書懷 白雲黃葉两悠悠 百感撩人慘淡秋 天若有情應共老 地如無恨亦生愁 蕭蕭古木山川落 滾滾長江盡夜流 未卜他年如願否 幾囘惆悵獨登樓 ÁO MÔN LỮ NGỤ XUÂN HOÀ ĐƢỜNG THƢ HOÀI Bạch vân hoàng diệp lƣỡng du du, Bách cảm liêu nhân thảm đạm thu. Thiên nhƣợc hữu tình ƣng cộng lão, Địa nhƣ vô hận diệc sinh sầu. Tiêu tiêu cổ mộc sơn xuyên lạc, Cổn cổn trƣờng giang tận dạ lƣu. Vị bốc tha niên nhƣ nguyện phủ, Kỵ hồi trù trƣớng độc đăng lâu. Dịch nghĩa: Ở TRỌ NHÀ XUÂN HOÀ NƠI ÁO MÔN VIẾT TẢ NỖI LÒNG Cảnh mây trắng, lá vàng, cả hai cùng buồn man mác, Trăm niềm cảm xúc nhƣ trêu ngƣời giữa mùa thu thảm đạm. Trời nhƣ có tình nên cùng già cỗi, Đất nhƣ không có nỗi hận mà cũng sinh nỗi sầu. Cây cối xác xơ rụng rơi trong sông núi, Sông dài cuồn cuộn trôi chảy suốt đêm. Chƣa biết năm nào đƣợc nhƣ ƣớc nguyện, Bao lần buồn bã một mình lên lầu cao. Dịch thơ: Lá vàng mây trắng thảy man man, Trăm mối tình dâng, thu úa tàn. Trời tựa có tình nên sắc cỗi, Đất dƣờng không hận cũng sầu lan. Xác xơ non núi cây rời cội, Cuồn cuộn sông dài nƣớc chảy khan. Chẳng biết năm nào nhƣ ƣớc nguyện, Lên lầu mấy độ ngóng mênh mang. 21. 天時人事两相違 未解他年是與非 欲效塞翁期失馬

1 Nguyên văn bị tàn khuyết mất ba chữ, chúng tôi đoán ý bổ khuyết. 2 Nguyên văn thiếu mất ba chữ, chúng tôi đoán ý thêm vào.

320

肯同莊子話亡機 蓮城漠漠寒烟鎖 梅嶺紛紛細雨飛 撩起鄉愁憑檻望 晨鐘五點日斜暉 KỲ NHỊ Thiên thời nhân sự lƣỡng tƣơng vi, Vị giải tha niên thị dữ phi. Dục hiệu Tái ông kỳ thất mã,1 Khẳng đồng Trang Tử thoại vong ki.2 Liên thành mạc mạc hàn yên toả, Mai lĩnh phân phân tế vũ phi. Liêu khởi hƣơng sầu bằng hạm vọng, Thần chung ngũ điểm nhật tà huy. Dịch nghĩa: (Bài 2) Thiên thời, nhân sự, cả hai đều trái ý, Chƣa biết chuyện năm nào là đúng hay là sai. Muốn bắt chƣớc lão già nơi biên ải ngồi yên xem việc mất ngựa, Muốn cùng Trang Tử nói chuyện quên đi tâm cơ. Nơi Liên thành mờ mịt khói thu phong kín, Ở Mai lĩnh mƣa phùn bay bời bời. Làm khơi dậy mối sầu quê hƣơng, dựa lan can đứng ngóng, Chuông sớm điểm năm tiếng, bóng mặt trời nghiêng nghiêng. Dịch thơ: Thiên thời nhân sự trái luôn hai, Chƣa biết năm nào đúng với sai? Muốn học Tái ông cƣời mất ngựa, Nguyện theo Trang tử mặc quên đời. Liên thành vắng vẻ, hơi mây lạnh, Mai lĩnh dặt dìu, mƣa khói bay. Dạ trỗi tình quê ra đứng ngóng, Chuông chùa gióng giả, bóng chiều lay. 30.

同何平題懷施世禄 去途渺渺似鵬程 何日同君話此生 雪點漫天封母3國 梅花滿地落山城 半輪明月三更夢 一片丹心4萬里情 强與何君樓上望 那堪遠塞雁啼聲 ĐỒNG HÀ BÌNH ĐỀ HOÀI THI THẾ LỘC Khứ đồ miễu miễu tự bằng trình, Hà nhật đồng quân thoại thử sinh? Tuyết điểm mạn thiên phong mẫu quốc, Mai hoa mãn địa lạc sơn thành. Bán luân minh nguyệt tam canh mộng, Nhất phiến đan tâm vạn lý tình. Cƣỡng dữ Hà quân lâu thƣợng vọng, Na kham viễn tái nhạn đề thanh. Dịch nghĩa: CÙNG HÀ BÌNH LÀM THƠ, NHỚ THI THẾ LỘC Con đƣờng đã qua mờ mịt xa vời nhƣ đƣờng bay của chim bằng, Biết bao giờ đƣợc cùng anh nói chuyện cuộc đời này? Tuyết rơi đầy trời che kín nƣớc mẹ, Hoa mai nở rụng khắp sơn thành. Nửa vầng trăng soi suốt ba canh mộng, Một tấm lòng son mang mối tình xa vạn dặm. Cùng anh họ Hà gƣợng lên lầu trông ngóng, Nào chịu nổi tiếng nhạn kêu ở miền ải xa xa. Dịch thơ: Chim bằng hun hút tựa hành trình, Trò chuyện đời này, khi có anh. Tuyết rắc tung trời che nƣớc mẹ, Mai rơi ngập đất mịt sơn thành. Nửa vầng trăng tỏ, ba canh mộng, Một tấm lòng son, vạn dặm tình. Theo bƣớc anh Hà lên gác ngóng, Miền xa nhạn vẳng, dạ không đành. 32. 畱別陳濬遠 仁願學顏子 心三月不違 如愚方樂道 若訥豈亡機 一遇畱青眼 幾囘憶白衣

1 Xuất ý từ chuyện Tái ông thất mã trong sách Hoài Nam tử. Câu chuyện ông già nơi biên ải mất ngựa mà vẫn cƣời trong khi mọi ngƣời đều cho đó là không may, nhƣng vài ngày sau, con ngựa của ông lại dẫn về thêm một con ngựa khác, mọi ngƣời đến chúc mừng, chỉ riêng ông cho rằng đó chƣa hẳn là may. Con trai ông lão, vì thấy con ngựa mới về kia đẹp nên cƣỡi nó, chẳng may ngã gãy chân, mọi ngƣời cho là xui xẻo, nhƣng ông lão không cho đó là xui. Vài tháng sau, ngƣời Hồ vào xâm chiếm, trai tráng trong làng đều bị sung quân, kẻ chết trận rất nhiều, chỉ riêng con ông vì què chân mà ở nhà, bảo toàn đƣợc mạng sống. Ở đây, Ngô Nhân Tĩnh muốn nói đến sự thản nhiên trƣớc mọi sự vì hiểu biết đạo lý ẩn tàng của vũ trụ, trong hoạ có phúc, trong phúc có hoạ. Ở câu sau của bài thơ, tác giả cũng nhắc đến điều này. 2 Vong ky: quên đi cơ xảo, vứt bỏ lý trí, đây là một trong những học thuyết căn bản của tƣ tƣởng Lão Trang. Trong tƣ tƣởng Lão Trang, vấn đề bỏ sự khéo léo, thông minh, trí mƣu là để đạt đến sự hiểu biết bản thể, tức là biết cái không thể biết, nhƣ thế đƣợc coi nhƣ là sự đạt đạo.

3 Nguyên văn thiếu mất hai chữ, chúng tôi đoán ý thêm vào. 4 Nguyên văn thiếu mất hai chữ, chúng tôi đoán ý thêm vào.

321

臨岐無限淚 天外雨霏霏 LƢU BIỆT TRẦN TUẤN VIỄN Nhân nguyện học Nhan Tử,1 Tâm tam nguyệt bất vi. Nhƣ ngu phƣơng lạc đạo,2 Nhƣợc nạp khởi vong ki. Nhất ngộ lƣu thanh nhãn, Kỵ hồi ức bạch y. Lâm kỳ vô hạn lệ, Thiên ngoại vũ phi phi. Dịch nghĩa: TẠM BIỆT TRẦN TUẤN VIỄN Nguyện học theo Nhan Uyên về đức nhân, Ba tháng lòng không thay đổi. Nhƣ ngu dại mới là vui với đạo, Nhƣ vụng về há có phải là quên đi cơ xảo? Vừa gặp gỡ đã lọt vào mắt xanh, Bao lần ta nhớ về thời bần hàn mặc áo trắng. Đến nơi ngã rẽ, lệ rơi vô hạn, Ngoài trời mƣa bay phất phơ. Dịch thơ: Nhân, nguyện học Nhan Tử, Lòng ba tháng chẳng dời. Nhƣ ngu mới thấu đạo, Tựa vụng ấy quên đời. Áo trắng bao lần nhớ, Mắt xanh thoáng gặp thôi. Lệ tuôn buồn ngã rẽ, Mƣa khói mịt chân trời. 35. 畱贈黃奮南 塵懷無半點 清雅世堪師 醫俗書千卷 陶情酒一巵 荒郊纔倚玉 滄海又分岐 聊折庭前菊 途中慰所3思 LƢU TẶNG HOÀNG PHẤN NAM Trần hoài vô bán điểm,

1 Nhan Tử: học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử, nổi tiếng về đức nhân, nhƣng lại mất sớm. 2 Câu này xuất ý từ chuyện Nhan Hồi “toạ vong” (ngồi mà quên) trong Đại tông sƣ, mục 8, ở sách Trang tử: “… Một hôm khác nữa, lại ra mắt mà rằng: - Hồi đƣợc thêm. - Là nghĩa gì? - Hồi "ngồi mà quên" rồi. Trọng Ni ngạc nhiên hỏi: - Ngồi mà quên, là thế làm sao? Nhan Hồi nói: Giải thể, bỏ thông minh, lìa hình, bỏ trí, đồng với Đạo lớn. Đó gọi là "ngồi mà quên" (tọa vong). Trọng Ni nói: "Đồng, thì không còn tham muốn nữa; hóa, thì không thƣờng nữa. Quả Hồi là ngƣời hiền, Khƣu này nguyện theo sau đó".” (Thu Giang Nguyễn Duy Cần dịch). 3 Nguyên văn thiếu mất hai chữ, chúng tôi đoán ý thêm vào.

Thanh nhã thế kham sƣ. Y tục thƣ thiên quyển, Đào tình tửu nhất chi. Hoang giao tài ỵ ngọc, Thƣơng hải hựu phân kỳ. Liêu chiết đình tiền cúc, Đồ trung uý sở tƣ. Dịch nghĩa: LƢU TẶNG HOÀNG PHẤN NAM Nỗi trần tục không chút điểm, Là bậc thầy thanh tao cao nhã một đời. Cứu đời ngàn pho sách, Di dƣỡng tính tình trong một chén rƣợu. Nơi ngoại thành hoang vu vừa mới chống gậy ngọc, Đã vào biển xanh rồi lại lên núi non, Tạm hái một cành cúc nơi đầu sân, Giữa đƣờng an ủi nỗi nhớ thƣơng. Dịch thơ: Nỗi trần không chút điểm, Thanh nhã xứng tôn sƣ. Cứu thế, sách ngàn quyển, Dƣỡng tình, rƣợu một li. Đồng hoang vừa gửi ngọc, Biển biếc lại chia li. Tạm ngắt một cành cúc, Đƣờng xa đỡ thảm bi. 36. 畱贈張稔溪 才高張子術 春燠杏花林 醫世君臣藥 懷人玉石心 余身輕一葉 爾意重千金 南北明朝別 青青柳岸陰 LƢU TẶNG TRƢƠNG NẪM KHÊ Tài cao Trƣơng Tử thuật,4 Xuân úc hạnh hoa lâm. Y thế quân thần dƣợc, Hoài nhân ngọc thạch tâm. Dƣ thân khinh nhất diệp, Nhĩ ý trọng thiên câm (kim). Nam bắc minh triêu biệt, Thanh thanh liễu ngạn âm. Dịch nghĩa: LƢU TẶNG TRƢƠNG NẪM KHÊ 4 Trƣơng Tử: tức Trƣơng Lƣơng, là ngƣời có chí lớn, đƣợc Hoàng Thạch Công truyền cho sách binh thƣ, học thành tài. Trƣơng Lƣơng là ngƣời nƣớc Hàn, nƣớc Hàn bị nhà Tần diệt, ông liền theo Hán Cao tổ Lƣu Bang diệt Tần. Ở đây Ngô Nhân Tĩnh có ý ví Trƣơng Nẫm Khê cũng có tài nhƣ Trƣơng Lƣơng.

322

Tựa gió ấm xôn xao. Tri ngộ bao giờ đáp, Thẹn mình lại cách sao! 38. 和符磻溪畱別原韻 乍逢豪俠好兒男 言別悠悠思不堪 萬里秋天雲海外 一枝明月鳥巢南 憐誰未遇寧懷寶 羞我臨行辱贈楠 若使明珠應售世 求諸善價爲君探 HOẠ PHÙ BÀN KHÊ LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN Sạ phùng hào hiệp hảo nhi nam, Ngôn biệt du du tứ bất kham. Vạn lý thu thiên vân hải ngoại, Nhất chi minh nguyệt điểu sào nam. Liên thuỳ vị ngộ ninh hoài bảo, Tu ngã lâm hành nhục tặng nam. Nhƣợc sử minh châu ƣng thụ thế, Cầu chƣ thiện giá vị quân tham. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI PHÙ BÀN KHÊ LƢU BIỆT Chợt gặp một bậc nam tử hào hiệp, Nói lời chia biệt, lòng buồn dằng dặc không nguôi. Trời thu trải muôn dặm, mây trôi ngoài biển, Một vầng trăng sáng, chim Việt đậu cành nam. Thƣơng ai chƣa gặp thời đành giấu vật báu, Thẹn ta trƣớc lúc đi, đƣợc tặng nhánh kỳ nam. Nhƣ có viên ngọc báu muốn bán cho đời, Thì xin đƣợc giá tốt để anh xem. Dịch thơ: Trƣợng phu hào hiệp chợt quen nhau, Giã biệt lòng ta ngập nỗi sầu. Vạn dặm trời thu, mây trắng biển, Một vầng trăng sáng, nhạn về đâu? Thƣơng ngƣời ôm ngọc, thời chƣa đến, Thẹn kẻ cầm cờ, bƣớc thấp cao. Nếu có minh châu đời muốn bán, Thì cầu giá đắt để xem sao! 39. 交情別恨話皆難 天外霏霏雨雪漫 鴻鴈未歸沙浦遠 梅花先動朔風寒 積懷余輩詩難和

Tài anh cao nhƣ Trƣơng Lƣơng, Mùa xuân ấm trong vƣờn hoa hạnh. Cứu đời bằng phƣơng thuốc quân thần, Nhớ ai với tấm lòng vàng ngọc. Thân tôi nhẹ nhƣ chiếc lá, Ý tình của anh nặng tựa ngàn vàng. Từ mai chia biệt kẻ nam ngƣời bắc, Bóng liễu bên bờ sắc xanh xanh. Dịch thơ: Tài cao sánh Trƣơng Tử, Rừng hạnh hoa ngát xuân, Mến khách: lòng ngọc đá, Cứu đời: thuốc quân thần. Thân tôi – lá cô lẻ, Ý bác – vàng mấy cân. Mai sớm chia nam, bắc, Bờ đê liễu xanh rờn. 37. 畱贈劉三哥 廣交天下士 令德海應同 不道人情短 惟憐客路窮 平明臨夜月 和淡仰春風 何日酬知遇 羞余一別中 LƢU TẶNG LƢU TAM CA Quảng giao thiên hạ sĩ, Lệnh đức hải ƣng đồng. Bất đạo nhân tình đoản, Duy liên khách lộ cùng. Bình minh lâm dạ nguyệt, Hoà đạm ngƣỡng xuân phong. Hà nhật thù tri ngộ, Tu dƣ nhất biệt trung. Dịch nghĩa: LƢU TẶNG LƢU TAM CA Anh kết giao với kẻ sĩ khắp thiên hạ, Đức độ của anh giống nhƣ biển cả. Đừng bảo rằng tình ngƣời ngắn ngủi, Riêng thƣơng khách đã cùng đƣờng. Bình lặng sáng suốt nhƣ ánh trăng đêm, Ấm áp thanh đạm nhƣ gió xuân. Biết ngày nào mới đền đƣợc ơn tri ngộ này, Thẹn cho tôi vừa quen anh đã phải chia xa. Dịch thơ: Quảng giao khắp thiên hạ, Đức độ nhƣ biển trào. Ai nói tình ngƣời bạc, Anh thƣơng khách khổ đau. Nhƣ trăng đêm lặng sáng,

323

孤懷明月望仙城 HOẠ LƢU TAM CA LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN Hải cƣơng ba lãng hận nan bình, Kim nhật vị quân tửu tận khuynh. Bang quốc bằng thuỳ an giáp trƣớng, Càn khôn lao ngã trục can tinh. Bách niên sự nghiệp trƣờng ƣu thế, Nhất phiến can trƣờng tận thoại khanh. Ốc thủ Kính Giang tƣơng biệt hậu, Cô hoài minh nguyệt vọng Tiên Thành. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI LƢU BIỆT CỦA LƢU TAM CA (Bài 1) Hận khó bình đƣợc sóng dữ ngoài biển, Hôm nay vì anh tôi dốc cạn chén rƣợu. Đất nƣớc cậy ai làm an việc binh đao, Đất trời nhọc tôi quét sạch giặc giã. Sự nghiệp trăm năm vẫn thƣờng lo cho đời, Một tấm lòng dốc hết nói cùng anh. Sau khi nắm tay chia biệt ở Kính Giang, Một mình ôm nỗi nhớ nhƣ vầng trăng sáng ngóng về Tiên Thành. Dịch thơ: Sóng dữ biên cƣơng hận khó bình, Li này dốc cạn cũng vì anh. Nƣớc nhà cậy bác yên binh lửa, Trời đất phiền tôi đuổi ngạc kình. Sự nghiệp trăm năm, đời mãi nghĩ, Can trƣờng một dạ, chuyện chân tình. Kính Giang tay nắm, ta từ biệt, Trăng sáng Tiên Thành riêng nhớ quanh. 41. 河橋分袂思依依 萬里歸帆掛夕暉 北嶺寒梅和1雪放 南天旅雁帶霜飛 江前漂母恩推食 城下王孫釣罷歸 愧我素餐何日報 每懷一粒一珠璣 KỲ NHỊ Hà kiều phân quyết tứ y y, Vạn lý quy phàm quải tịch huy. Bắc lĩnh hàn mai hoà tuyết phóng, Nam thiên lữ nhạn đới sƣơng phi. Giang tiền Phiếu mẫu ân thôi thực,2 Thành hạ vƣơng tôn điếu bãi quy.1

恐隔吾人酒強歡 早晚得酬身事了 全憑學海保平安 KỲ NHỊ Giao tình biệt hận thoại giai nan, Thiên ngoại phi phi vũ tuyết man. Hồng nhạn vị quy sa phố viễn, Mai hoa tiên động sóc phong hàn. Tích hoài dƣ bối thi nan hoạ, Khủng cách ngô nhân tửu cƣỡng hoan. Tảo vãn đắc thù thân sự liễu, Toàn bằng học hải bảo bình an. Dịch nghĩa: Tình bạn và nỗi hận chia cách, cả hai đều khó nói, Ngoài trời mƣa tuyết bay bời bời. Chim hồng nhạn còn ở nơi xa chƣa về bến cát, Hoa mai đã chạm trƣớc cái rét của gió lạnh phƣơng bắc. Bọn tôi chất chứa nỗi lòng, thơ càng khó hoạ, Ngƣời ta sợ cách trở, uống rƣợu gƣợng vui mà thôi. Sớm muộn thân này cũng đƣợc thù tạc. Chỉ toàn nhờ vào biển học mà giữ đƣợc bình an. Dịch thơ: Hận biệt, giao tình, nói khó sao! Ngoài trời mƣa tuyết rắc nao nao. Cánh nhàn xa thẳm chƣa về bến, Mai thắm lạnh lùng trƣớc gió xao. Quyến luyến bọn mình, thơ khó hoạ, Xa xăm lũ tớ, rƣợu khôn vào. Sớm hôm thân cũng đƣợc đền đáp, Biển học cậy nhờ nên chẳng nao. Giao tình xa cách khó nên lời, Mƣa tuyết ngoài trời phơ phất rơi. Cánh nhạn xa chƣa về bến cát, Nhành mai lạnh hé gió đông bời. Bọn mình bao nỗi, thơ khôn hoạ, Lũ tớ chia li, rƣợu gƣợng mời. Sớm muộn thân này âu cũng gặp, Bình an cậy biển học mà thôi. 40. 和劉三哥畱別原韻 海疆波浪恨難平 今日爲君酒盡傾 邦國憑誰安甲帳 乾坤勞我逐竿旌 百年事業長憂世 一片肝腸儘話卿 握手鏡江相別後

1 Nguyên văn thiếu mất hai chữ. Chúng tôi đoán ý thêm vào. 2 Phiếu mẫu: bà già đƣa cơm cho Hàn Tín thuở ông còn hàn vi.

324

Quý ngã tố xan hà nhật báo, Mỗi hoài nhất lạp nhất châu ki. Dịch nghĩa: (Bài 2) Bên cầu sông dứt vạt áo ra đi, lòng buồn vời vợi, Một cánh buồm về trong muôn dặm mang cả bóng chiều. Mai lạnh núi bắc nở trong băng tuyết, Cánh nhạn trời nam bay trong cõi sƣơng. Trƣớc sông, từng chịu ơn đƣa cơm của Phiếu mẫu, Dƣới thành, bao chàng công tử câu xong trở về. Thẹn cho ta ngồi ăn không, biết bao giờ mới báo đáp đƣợc, Thƣờng nghĩ mỗi hạt cơm là một hạt ngọc. Dịch thơ: Bên cầu dứt áo, dạ buồn vƣơng, Muôn dặm thuyền về chở tịch dƣơng. Núi Bắc hoa mai khoe giữa tuyết, Trời Nam cánh nhạn gội trong sƣơng. Cho cơm trƣớc bến, ơn bà Phiếu, Câu chán về thành, oán gã Vƣơng. Thẹn kẻ ăn không, chƣa báo đáp, Hạt cơm hạt ngọc nghĩ thêm thƣơng. 42. 和張稔溪畱別原韻 說到當時思已醺 一樽別酒意中人 白歸深洞雲天暮 綠染長亭柳岸新 潮海難窮千里念 風雲易老百憂身 牡丹肯許栽南土 高占邊方雨露春 HOẠ TRƢƠNG NẪM KHÊ LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN Thuyết đáo đƣơng thì tứ dĩ huân, Nhất tôn biệt tửu ý trung nhân. Bạch quy thâm động vân thiên mộ, Lục nhiễm trƣờng đình liễu ngạn tân. Triều hải nan cùng thiên lý niệm, Phong vân dị lão bách ƣu thân. Mẫu đơn khẳng hứa tài Nam thổ, Cao chiếm biên phƣơng vũ lộ xuân. Dịch nghĩa: HOẠ NGUYÊN VẬN BÀI LƢU BIỆT CỦA TRƢƠNG NẪM KHÊ

Nói đến lúc ấy, lòng đã buồn, Một chén rƣợu li biệt với ngƣời tri kỵ. Mây bay về động sâu trắng cả trời chiều tối, Liễu trƣờng đình nhuộm xanh cả bờ sông. Nỗi nhớ nơi xa ngàn dặm nhƣ sóng biển chẳng bao giờ thôi, Tấm thân trăm nỗi lo nhƣ gió mây dễ già cỗi. Hoa mẫu đơn đã chịu trồng ở phƣơng nam, Ắt sẽ chiếm một vùng mƣa móc trong mùa xuân. Dịch thơ: Nhắc đến hôm nao dạ những sầu, Rƣợu từ một chén với tri giao. Mây về động thẳm giăng trời trắng, Liễu nhuộm trƣờng đình biếc bến sâu. Sóng biển khôn cùng, bao nỗi nhớ, Gió mây dễ cỗi, bấy lo âu. Mẫu đơn nếu chịu về Nam sống, Xuân đến, một vùng mƣa móc thâu. 43. 說情愛 是非可否爲誰陳 黃柏年年苦入唇 計得生平余所愛 何時歸作個閒人 THUYẾT TÌNH ÁI Thị phi khả phủ vị thuỳ trần, Hoàng bách niên niên khổ nhập thần. Kế đắc sinh bình dƣ sở ái, Hà thời quy tác cá nhàn nhân? Dịch nghĩa: Phải trái nào biết nói cùng ai, Nên bao năm miệng môi cứ nhấm hoàng bách đắng lòng. Kể hết những sở thích sinh bình của ta, Chẳng biết bao giờ mới đƣợc làm một ngƣời nhàn hạ. Dịch thơ: Thị phi nào biết tỏ cùng ai, Hoàng bách bao năm chát lƣỡi này. Kể hết bình sinh ta thích chí, Bao giờ nhàn rỗi tấm thân đây? 44. 愛念金剛一部經 心頭降伏話分明 若能了得如如是 功破愁城不用兵 KỲ NHỊ Ái niệm Kim cƣơng nhất bộ kinh, Tâm đầu hàng phục thoại phân minh. Nhƣợc năng liễu đắc nhƣ nhƣ thị,

1 Câu này nhắc chuyện Hàn Tín thuở hàn vi thƣờng cắm câu ở bờ sông. Cả hai câu ngụ ý chỉ bản thân của tác giả cũng gặp hoàn cảnh tƣơng tự nhƣ Hàn Tín.

325

Một bộ Hoàng Đình thích đọc thay, Phi thƣờng đạo đức tiếng khôn bày. Đông tây nam bắc ra gì mặc, Ta muốn lặng im qua kiếp này. 47. 愛讀離騷酒獨醒 憂君憂國百年情 湘江今日長流恨 天地應無負屈平 KỲ NGŨ Ái độc Li tao tửu độc tinh, Ƣu quân ƣu quốc bách niên tình. Tƣơng giang kim nhật trƣờng lƣu hận, Thiên địa ƣng vô phụ Khuất Bình. Dịch nghĩa: Thích đọc Li tao mọi ngƣời say riêng ta tỉnh, Lo cho vua cho nƣớc mối tình trọn đời, Sông Tƣơng ngày nay vẫn còn trôi nỗi hận, Trời đất chắc không phụ lòng Khuất Bình. Dịch thơ: Thích đọc Li tao, tỉnh một mình, Lo vua lo nƣớc dốc tâm tình. Đến nay Tƣơng Thuỷ còn trôi hận, Trời đất rằng không phụ Khuất Bình. 48. 愛觀周易以持身 語默行藏學聖人 識得隨時真個樂 天根月窟總皆春 KỲ LỤC Ái quan Chu Dịch dĩ trì thân, Ngữ mặc hành tàng học thánh nhân. Thức đắc tuỳ thời chân cá lạc, Thiên căn nguyệt quật tổng giai xuân. Dịch nghĩa: Thích xem Chu Dịch để giữ gìn thân mình, Lặng yên trong việc hành tàng xuất xử, ta học theo thánh nhân. Biết đƣợc tuỳ thời là niềm vui thật sự, Núi non, hang động cũng đều nhuốm vẻ xuân. Dịch thơ: Thích xem Chu Dịch để gìn thân, Lời nói việc làm học thánh nhân. Biết lẽ tuỳ thời vui ý đạo, Trời xuân, hang núi cũng vô ngần. 49. 春愛草堂睡覺天 靜觀萬里錦山川 莫辭樽酒花前勸 只恐鶯啼又一年

Công phá sầu thành bất dụng binh. Dịch nghĩa: Thích đọc một bộ kinh Kim Cƣơng, Khi đã nhiếp phục đƣợc tâm thì lời nói rõ ràng. Nếu hiểu đƣợc nhƣ nhƣ thị, Phá tan thành sầu chẳng cần dụng binh. Dịch thơ: Thích đọc Kim Cƣơng một bộ kinh, Niệm trần lắng hết, lẽ phân minh. Nếu nhƣ hiểu đặng nhƣ nhƣ thị, Thì phá thành sầu chẳng dụng binh. 45. 愛誦南華第一篇 片時做個半閒仙 假余讀得三千日 斷盡平生俗慮纒 KỲ TAM Ái tụng Nam hoa đệ nhất thiên, Phiến thì tố cá bán nhàn tiên. Giả dƣ độc đắc tam thiên nhật, Đoạn tận bình sinh tục lự triền. Dịch nghĩa: Thích đọc chƣơng đầu kinh Nam hoa, Lập tức làm một vị tiên nửa nhàn hạ, Nếu ta có thể đọc đƣợc ba ngàn ngày, Cắt sạch mọi tục lự đeo bám trong đời. Dịch thơ: Nam Hoa ta thích đọc chƣơng đầu, Thỉnh thoảng làm tiên đƣợc phút lâu. Nếu đọc đƣợc ba ngàn buổi vậy, Cuộc đời dứt hết những lo âu. 46. 愛看黃庭一部經 非常道德名難名 東西南北成何事 予欲無言過此生 KỲ TỨ Ái khán Hoàng Đình nhất bộ kinh, Phi thƣờng đạo đức danh nan danh.1 Đông tây nam bắc thành hà sự? Dƣ dục vô ngôn quá thử sinh. Dịch nghĩa: Thích xem một bộ kinh Hoàng Đình, Chẳng phải đạo thƣờng, định đƣợc cái danh khó định. Mặc cho đông tây nam bắc thành chuyện gì, Ta muốn sống qua kiếp này trong lặng im không lời. Dịch thơ: 1 Câu này mƣợn ý từ câu “Đạo khả đạo phi thƣờng đạo, danh khả danh phi thƣờng danh” trong Đạo đức kinh của Lão Tử.

326

Đừng bỏ uổng cảnh đẹp suốt năm chẳng có đêm đen. Dịch thơ: Trăng sáng mùa thu ngắm trƣớc thềm. Một vầng thanh khiết giữa sông êm. Cuộc đời đắc ý thì vui uống, Chớ phụ cảnh trời chẳng bóng đêm. 52. 冬愛梅庭對雪天 漫漫世界玉山川 呼童酌酒十分滿 六出花飛慶瑞年 KỲ THẬP Đông ái mai đình đối tuyết thiên, Man man thế giới ngọc sơn xuyên. Hô đồng chƣớc tửu thập phân mãn, Lục xuất hoa phi khánh thuỳ niên. Dịch nghĩa: Mùa đông thích ngắm trời tuyết trong sân mai, Thế giới bao la sông núi nhƣ ngọc. Gọi trẻ rót rƣợu cho thật đầy, Hoa nở sáu cánh bay mừng năm thái bình. Dịch thơ: Đình mai đông thích tuyết trời bay, Sông núi càn khôn tựa ngọc bày. Bảo trẻ nghiêng ve đầy cốc rƣợu, Hoa vàng sáu cánh chúc điều may. 53. 壬戌年孟冬使行由廣東水程往廣西和鄭艮 齋次笠翁三十韻 1. 窮南極北復西東 萬水千山眼界空 一片高懷雲遠外 三更明對月當中 酒能無量才情萃 人肯忘憂學力充 今古夢殘還獨嘆 芙蓉江上釣漁翁 NHÂM TUẤT NIÊN MẠNH ĐÔNG SỨ HÀNH DO QUẢNG ĐÔNG THỦY TRÌNH VÃNG QUẢNG TÂY HOẠ TRỊNH CẤN TRAI THỨ LẠP ÔNG TAM THẬP VẬN Cùng nam cực bắc phục tây đông, Vạn thuỵ thiên sơn nhãn giới không. Nhất phiến cao hoài vân viễn ngoại, Tam canh minh đối nguyệt đƣơng trung. Tửu năng vô lƣợng tài tình tuỳ, Nhân khẳng vong ƣu học lực sung. Kim cổ mộng tàn hoàn độc thán,

KỲ THẤT Xuân ái thảo đƣờng thuỳ giác thiên, Tĩnh quan vạn lỳ cẩm sơn xuyên. Mạc từ tôn tửu hoa tiền khuyến, Chỉ khủng oanh đề hựu nhất niên. Dịch nghĩa: Mùa xuân thích nằm ngủ ngày nơi nhà cỏ, Nhàn xem núi sông gấm vóc trải muôn dặm. Đừng từ chối chén rƣợu mời uống trƣớc hoa, Chỉ sợ tiếng oanh kêu, lại qua một năm. Dịch thơ: Mùa xuân nhà cỏ ngủ say sƣa, Lặng ngắm non sông gấm vóc thừa. Chén rƣợu trƣớc hoa xin chớ khƣớc, Sợ oanh gióng giã giục sang mùa. 50. 夏愛竹樓避暑天 陰陰槐樹枕前川 南風一覺余微醉 高臥羲皇學少年 KỲ BÁT Hạ ái trúc lâu tị thử thiên, Âm âm hoè thụ chẩm tiền xuyên. Nam phong nhất giác dƣ vi tuý, Cao ngoạ Hy Hoàng học thiếu niên. Dịch nghĩa: Mùa hạ thích trốn nắng trong lầu trúc, Bóng cây hoè mát mẻ gối giấc trƣớc dòng sông. Gió nồm thổi làm ta tỉnh cơn say nhẹ, Nằm gối đầu cao nhƣ tuổi trẻ thời Hy Hoàng. Dịch thơ: Lầu trúc thƣờng ƣa tránh nắng hè, Gối đầu trên bến, bóng hoè che. Gió nam làm tỉnh cơn say nhẹ, Học kẻ Hy Hoàng ngủ khoẻ re. 51. 秋愛桂庭玩月天 一輸皓潔共晴川 人生得意須當飲 莫負清光不夜年 KỲ CỬU Thu ái quế đình ngoạn nguyệt thiên, Nhất luân hạo khiết cộng tình xuyên. Nhân sinh đắc ý tu đƣơng ẩm, Mạc phụ thanh quang bất dạ niên. Dịch nghĩa: Mùa thu thích ngắm trời trăng dƣới sâm quế, Một vầng trăng thanh khiết với dòng sông quan tạnh. Đời ngƣời đắc ý hãy uống cho thoả,

327

Phù Dung giang thƣợng điếu ngƣ ông.1 Dịch nghĩa: ĐẦU ĐÔNG NĂM NHÂM TUẤT, SỨ ĐOÀN THEO ĐƢỜNG THUỴ TỪ QUẢNG ĐÔNG SANG QUẢNG TÂY, HOẠ THƠ TRỊNH CẤN TRAI THEO VẬN LẠP ÔNG, BA MƢƠI VẦN Đi hết nam bắc rồi lại sang tây đông, Muôn nghìn sông núi tầm mắt vô cùng. Một áng mây ngoài xa gợi lòng thƣơng nhớ, Ba canh làm bạn với vầng trăng sáng giữa trời. Rƣợu uống đƣợc vô lƣợng, tài tình hợp nhau, Ngƣời chịu quên nỗi lo, thì sức học đầy đủ. Giấc mộng xƣa nay đã tàn, một mình than thở, Trên sông Phù Dung, có một lão ngƣ ngồi câu. Dịch thơ: Bắc nam cùng cực lại tây đông, Muôn núi nghìn sông mắt hoá không. Một tấm lòng thƣơng mây biếc phủ, Ba canh dạ giãi bóng trăng lồng. Rƣợu hay vô lƣợng, tài tình lắm, Ngƣời chịu quên sầu, sức học thông. Kim cổ mộng tàn than thở mãi, Phù Dung đầu bến một ngƣ ông. 54. 2. 孤舟入廣月初冬 綠水悠悠客思濃 龍母廟前紅葉落 粵王臺上白雲封 乾坤遺恨人何在 今古流愁水自舂 霜滿江天家萬里 驚回旅夢五更鐘 Cô chu nhập Quảng nguyệt sơ đông, Lục thuỵ du du khách tứ nùng. Long mẫu miếu tiền hồng diệp lạc,2 Việt vƣơng đài thƣợng bạch vân phong.3 Càn khôn di hận nhân hà tại? Kim cổ lƣu sầu thuỵ tự thung. Sƣơng mãn giang thiên gia vạn lý, Kinh hồi lữ mộng ngũ canh chung. Dịch nghĩa: Thuyền côi vào đất Quảng vào tháng đầu mùa đông,

1 Phù Dung giang: sông Phù Dung, tức sông Chƣơng ở Giang Tây. Sách Nam Khang huyện chí chép: sông Chƣơng giang ở Huyện Nam, còn có tên là sông Phù Dung. Tƣơng truyền, vào thời Đƣờng hai bên bờ sông trồng rất nhiều hoa phù dung (hoa sen) nên mới có tên ấy. Sông ở huyện Chính An, tỉnh Quý Châu. 2 Long mẫu miếu: miếu Long mẫu. 3 Việt vƣơng đài: xem chú thích ở phần thơ Trịnh Hoài Đức.

Sông xanh dài dằng dặc khiến cảm xúc khách thêm nồng. Trƣớc miếu Long mẫu, lá phong đỏ rơi rụng, Trên đài Việt vƣơng mây trắng phủ vây. Đất trời còn lƣu nỗi hận, mà nay ngƣời ở đâu? Xƣa nay nỗi sầu vẫn trôi nhƣ dòng nƣớc chảy trào. Đầy trời sƣơng giăng, nhà xa vạn dặm, Làm kinh giấc mộng ngƣời lữ thứ là tiếng chuông canh năm. Dịch thơ: Thuyền côi đến Quảng tháng đầu đông, Sông biếc mênh mông nỗi nhớ nồng. Lá thắm đầu đền Long mẫu rụng, Mây xanh trên đỉnh Việt vƣơng phong. Đất trời để hận, ngƣời đâu tá? Kim cổ trôi sầu, xuân nhuốm sông. Trời bến sƣơng giăng quê vạn lý, Canh năm mộng khách tiếng chuông lồng. 55. 3. 九轉迴腸似曲江 關山迢遞別南邦 恨誰輕薄花流水 憐我清寒月到窗 數著爭先棋局勝 五更殺退睡魔降 忽聞霜裏梅花曲 想是山城故國腔 Cửu chuyển hồi trƣờng tự khúc giang,4 Quan sơn điều đệ biệt Nam bang. Hận thuỳ khinh bạc hoa lƣu thuỵ, Liên ngã thanh hàn nguyệt đáo song. Sổ trứ tranh tiên kỳ cục thắng, Ngũ canh sát thối thuỳ ma hàng. Hốt văn sƣơng lý Mai hoa khúc, Tƣởng thị Sơn Thành cố quốc xoang.5 Dịch nghĩa: Ruột quặn đau chín khúc tựa sông uốn cong, Quan san xa xôi giã biệt nƣớc Nam. Hoa hận ai khinh bạc mà trôi trên dòng nƣớc, Trăng thƣơng ta lạnh lẽo nên ghé vào song cửa. 4 Cửu chuyển hồi trƣờng: Ruột thắt chín lần. Báo Nhậm Thiếu Khanh thƣ 報任少卿書 của Tƣ Mã Thiên có câu: Thị dĩ trƣờng nhất nhật nhi cửu hồi 是以腸一日而九迴 (Một ngày mà ruột thắt chín lần). 5 Sơn Thành: trấn Sơn Thành, cách 30 dặm về phía tây nam huyện Nam Tĩnh, tỉnh Phúc Kiến. Ngô Nhân Tĩnh ngƣời tỉnh Phúc Kiến. Ở đây có lẽ là quê hƣơng của Ngô Nhân Tĩnh. Nhƣng nếu hiểu “sơn thành” chỉ là thành bên núi nhƣ những bài thơ khác trong tập của Trịnh Hoài Đức, thì câu trên dịch là “Ngỡ điệu quê cũ vẳng bên thành núi”.

328

Mấy lần chơi cờ đều tranh thắng trƣớc, Năm canh xua sạch lũ ma buồn ngủ. Chợt nghe trong sƣơng khúc nhạc Mai hoa, Ngỡ là điệu hát quê cũ vẳng ở thành trì trong núi non. Dịch thơ: Chín khúc ruột dần tựa khúc giang, Trời Nam xa cách mấy quan san. Hận ngƣời khinh bạc, hoa trôi chảy, Thƣơng khách thanh hàn, nguyệt ghé sang. Mấy cuộc chơi cờ tranh thế thắng, Năm canh ma ngủ bị xua tan. Sƣơng mờ nghe vẳng mai hoa khúc, Ngỡ giọng Sơn Thành quê cũ vang. 56. 4. 日 至 初 冬 夜 漸 遲 天 將 景 色 更 將 宜 霜 凝 橘 葉 珠 千 顆 雪 點 梅 花 玉 一 枝 桂 嶺 嶺 頭 雲 變 態 巴 江 江 上 水 流 岐 英 雄 事 業 同 今 古 滿 目 山 河 有 所 思 Nhật chí sơ đông dạ tiệm trì, Thiên tƣơng cảnh sắc cánh tƣơng nghi. Sƣơng ngƣng quất diệp châu thiên khoả, Tuyết điểm mai hoa ngọc nhất chi. Quế lĩnh lĩnh đầu vân biến thái,1 Ba giang giang thƣợng thuỵ lƣu kỳ.2 Anh hùng sự nghiệp đồng kim cổ, Mãn mục sơn hà hữu sở tƣ. Dịch nghĩa: Tiết trời vào tháng đầu đông, đêm dần tối chậm, Trời vẽ thêm cảnh sắc thật là hợp. Sƣơng ngƣng trên lá quýt nhƣ ngàn hạt châu, Tuyết điểm trên hoa mai tựa cành ngọc. Đầu núi Quế mây thƣờng biến đổi hình trạng, Trên sông Ba giang nƣớc chảy vòng vèo. Sự nghiệp anh hùng xƣa nay đều giống nhau,

1 Quế lĩnh: núi Quế, ở phía bắc huyện Lâm Vũ, tỉnh Hồ Nam ba mƣơi dặm, còn có tên Hƣơng Hoa lĩnh, thế núi hùng vĩ, uốn quanh huyện, có nhiều quặng thiếc. Núi Quế lĩnh ở phía tây huyện Khúc Giang, tỉnh Quảng Đông bốn mƣoi dặm. Sách Minh nhất thống chí, Quế lĩnh bắt nguồn từ Quế Vĩnh, núi ấy có nhiều quế, nên có tên ấy. Có núi Quế lĩnh cách trăm hai mƣơi dặm về phía tây huyện Phú Xuyên tỉnh Quảng Tây. 2 Ba Giang: sông Ba, còn gọi là Nam Giang, bắt nguồn từ núi Đại Ba phía bắc huyện Nam Giang, Tứ Xuyên, dòng chảy về nam qua huyện Ba Trung, lại xuống đông nam hợp với sông Ba Thuỵ, nên gọi là Ba Giang.

Núi sông thu vào đầy mắt, trong lòng có mối nghĩ suy. Dịch thơ: Nắng hửng đầu sông, đêm loãng dần, Trời pha cảnh sắc đẹp muôn phần. Sƣơng gieo lá quýt, ngàn viên ngọc, Tuyết điểm hoa mai, một nhánh ngần. Quế lĩnh đầu non mây biến ảo, Ba giang trên bến sóng lăn tăn. Anh hùng sự nghiệp nhƣ kim cổ, Mắt ngắm sơn hà cảm xúc dâng. 57. 5. 匆匆孤雁渡南飛 遠地蕭條日夕暉 灘上客船騎石過 溪前村女採桑歸 無邊落葉梅花徑 不盡輕煙掩竹扉 忽憶去年今日事 朝陽閣上賜寒衣 Thông thông cô nhạn độ Nam phi, Viễn địa tiêu điều nhật tịch huy. Than thƣợng khách thuyền kỳ thạch quá, Khê tiền thôn nữ thái tang quy. Vô biên lạc diệp mai hoa kính, Bất tận khinh yên yểm trúc phi. Hốt ức khứ niên kim nhật sự, Triêu Dƣơng các thƣợng tứ hàn y.3 Dịch nghĩa: Cánh nhạn vội vàng bay về phƣơng Nam, Cảnh vật nơi đất khách xơ xác, bóng mặt trời chiều tà, Ở trên bến thuyền khách cỡi trên đá mà đi qua, Trƣớc khe cô gái thôn quê hái dâu trở về. Hoa mai lá rụng bời bời trên đƣờng, Khói nhẹ phơ phất cửa tre đóng kín suốt ngày. Chợt nhớ lại chuyện ngày này năm trƣớc, Trên điện Triêu Dƣơng ta đƣợc ban áo lông cừu. Dịch thơ: Về Nam cánh nhạn lƣớt vội vàng, Đất lạ đìu hiu bóng xế ngang. Trên bến thuyền ai lèn đá vƣợt, Đầu khe thôn nữ hái dâu ngàn. Vô biên lá rụng đƣờng hoa phủ, Bất tận sƣơng mờ cửa trúc vƣơng. Chợt nhớ hôm này năm ngoái đó, Áo cừu ban giữa điện Triêu Dƣơng. 3 Triêu Dƣơng: điện Triêu Dƣơng ở kinh thành Huế, Phú Xuân.

329

58. 6. 鄉殊俗異奈何如 鏡裏人兮謾笑余 日月似梭年易滿 春秋若夢歲將除 流窮世事江心白 歷盡人情柳眼疏 爲道親朋隨所遇 暗中不愧是名譽 Hƣơng thù tục dị nại hà nhƣ, Kính lý nhân hề mạn tiếu dƣ. Nhật nguyệt tự thoa niên dị mãn, Xuân thu nhƣợc mộng tuế tƣơng trừ. Lƣu cùng thế sự giang tâm bạch, Lịch tận nhân tình liễu nhãn sơ. Vị đạo thân bằng tuỳ sở ngộ, Ám trung bất quý thị danh dƣ (dự). Dịch nghĩa: Phong tục làng quê khác nhau biết làm thế nào? Kẻ trong gƣơng kia giờ cũng cƣời nhạo ta. Ngày tháng nhƣ thoi, tuổi dễ thêm, Xuân thu nhƣ giấc mộng, năm sắp tàn. Sông trôi cùng thế sự nên lòng sông trắng, Liễu trải hết tình ngƣời nên mắt liễu hững hờ. Xin nhắn với ngƣời thân và bạn bè rằng ta theo cảnh ngộ, Nhƣng trong đêm tối không thẹn lòng, đó là ngƣời có danh dự. Dịch thơ: Thói quê khác biệt biết sao mà, Trong kính hắn cƣời ngạo với ta. Ngày tháng nhƣ thoi, năm dễ lấp, Xuân thu tựa mộng, tuổi e già. Trôi cùng thế sự, lòng sông trắng, Trải hết nhân tình, mắt liễu hoa. Nhắn giúp thân bằng tuỳ cảnh ngộ, Trong đêm chẳng thẹn ấy danh gia. 59. 7. 莫道舟中一事無 每看風景亦堪娛 忙歸樵徑千山樹 閒泊漁船兩岸蘆 雪壓梅魂香共冷 江流月色影同孤 離家誰謂人蕭索 清白天將伴遠途

Mạc đạo chu trung nhật sự vô, Mỗi khan phong cảnh diệc kham ngu. Mang quy tiều kính thiên sơn thụ, Nhàn bạc ngƣ thuyền lƣỡng ngạn lƣ. Tuyết áp mai hồn hƣơng cộng lãnh, Giang lƣu nguyệt sắc ảnh đồng cô. Li gia thuỳ vị nhân tiêu tác, Thanh bạch thiên tƣơng bạn viễn đồ. Dịch nghĩa: Chớ nói trong thuyền ngày ngày không có chuyện gì, Mỗi ngày xem phong cảnh, nhƣ thế cũng đủ vui. Bác tiều vội vã trở về trên đƣờng non giữa ngàn cây, Thuyền chài nhàn nhã đỗ giữa hai bờ lau trắng. Tuyết ngập hồn hoa mai, hƣơng thơm cùng nhạt, Dòng sông trôi bóng nguyệt, bóng cùng lẻ loi. Xa nhà ai nói ngƣời tàn tạ? Trời trong xanh và mây trắng cùng ta làm bạn trên đƣờng xa. Dịch thơ: Chớ bảo trong thuyền rỗi việc thay, Rằng xem phong cảnh cũng vui vầy. Thong dong thuyền ghé đôi bờ sậy, Vội vã ai về giữa bến cây. Tuyết ngập hồn mai, hƣơng lạnh lẽo, Sông nhoà sắc nguyệt, bóng riêng tây. Xa nhà ai nói thân phờ phạc? Mây trắng trời xanh bạn dặm dài. 60. 8. 江中極目翠微低 山外青山望轉迷 心在南邦身在北 水歸東海月歸西 人臨大事行無事 詩到無題是大題 靜坐常思先得策 何須起舞待聞雞 Giang trung cực mục thuý vi đê, Sơn ngoại thanh sơn vọng chuyển mê. Tâm tại Nam bang thân tại Bắc, Thuỵ quy Đông hải nguyệt quy Tây. Nhân lâm đại sự hành vô sự, Thi đáo vô đề thị đại đề. Tĩnh toạ thƣờng tƣ tiên đắc sách, Hà tu khởi vũ đãi văn kê. Dịch nghĩa:

330

Giữa sông mắt ngắm thấy trời xanh nhƣ thấp xuống, Ngoài núi còn có núi xanh, nhìn mịt mờ. Lòng ở nƣớc Nam, thân ở đất bắc, Nƣớc chảy về biển Đông, trăng lặn về hƣớng Tây. Ngƣời ta khi làm việc lớn thì nhƣ không có việc gì, Thơ đến không có đề thì chính là đề lớn. Ngồi yên lặng thƣờng nghĩ đƣợc kế sách trƣớc, Đâu cần phải bồn chồn chờ đến khi nghe tiếng gà gáy. Dịch thơ: Giữa dòng ngút ngát nƣớc trời mây, Bát ngát non xanh, mắt ngập đầy. Lòng ở nƣớc Nam, thân ở Bắc, Sông về Đông hải, nguyệt về Tây. Ngƣời làm đại sự, nên vô sự, Thơ đến vô đề, ấy đại đề. Tĩnh toạ suy lƣờng đƣợc kế trƣớc, Đâu cần nhảy nhót đợi ngày mai. 61. 9. 喜盡陰雲暗雨霾 眼寬天地自然佳 橘留枝上黃金點 雪滿山中白玉堆 一路寒光供雅詠 五湖清淡盪塵懷 此生幸遇昇平世 到處何關物我乖 Hỵ tận âm vân ám vũ mai, Nhãn khoan thiên địa tự nhiên giai. Quất lƣu chi thƣợng hoàng kim điểm, Tuyết mãn sơn trung bạch ngọc đôi. Nhất lộ hàn quang cung nhã vịnh, Ngũ hồ thanh đạm đãng trần hoài. Thử sinh hạnh ngộ thăng bình thế, Đáo xứ hà quan vật ngã quai. Dịch nghĩa: Vui vì thấy mây mờ mƣa tối tan hết, Ánh mắt khoan hoà trời đất tự nhiên trở nên đẹp đẽ. Trên cành quýt giữ lại từng điểm vàng óng ánh, Trong núi non tuyết phủ đầy nhƣ gò ngọc. Suốt đƣờng đi ánh trăng cho ta ngâm vịnh, Ngũ hồ mát mẻ làm vơi đi những niềm trần. Kiếp này may gặp đƣợc đời thái bình, Khắp nơi đâu ngại sự vật trái ngang. Dịch thơ:

Mừng cảnh mây mờ, mƣa ám tan, Đất trời bát ngát đẹp vô vàn. Quả vàng sóng sánh trên cành quýt, Tuyết trắng ngời ngời khắp núi non. Suốt lối ngâm nga say bóng nguyệt, Năm hồ trong trẻo vợi trần gian. Kiếp này may sống đời bình trị, Chốn chốn nào lo sự trái ngang. 62. 10. 呼童捧出玉犀杯 斟酌賓朋送舊醅 側聽鑼聲知到汛 坐看山色擬登臺 柳愁總爲傷春盡 梅瘦猶期望雪來 我尚栖遲雲外遠 故園叢菊向誰開 Hô đồng phủng xuất ngọc tê bôi, Kham chƣớc tân bằng tống cựu phôi. Trắc thính la thanh tri đáo tấn, Toạ khan sơn sắc nghĩ đăng đài. Liễu sầu tổng vị thƣơng xuân tận, Mai sấu do kỳ vọng tuyết lai. Ngã thƣợng thê trì vân ngoại viễn, Cố viên tùng cúc hƣớng thuỳ khai. Dịch nghĩa: Gọi trẻ nhỏ mang chén ngọc tê, Rót rƣợu nhạt mời bạn bè. Bên tai nghe tiếng chiêng vang, biết là đến bến, Ngồi xem màu núi xanh, muốn đƣợc lên đài cao. Liễu buồn hẳn bởi thƣơng mùa xuân tàn tạ, Mai gầy vì còn chờ ngóng tuyết rơi. Ta còn lần lữa nơi xa xôi, Khóm cúc nơi vƣờn cũ có nở vì ai? Dịch thơ: Ngọc tê chén quý, gọi đồng mang, Thù tạc bạn thân, rƣợu rót tràn. Tai vẳng chiêng cồng, hay đến bến, Ngồi xem sắc núi, muốn lên non. Liễu sầu cũng bởi thƣơng xuân hết, Mai ốm âu vì ngóng tuyết sang. Ta vẫn bôn ba ngoài xứ lạ, Vƣờn xƣa cúc có nở hoa vàng? 63. 11. 江村寂寞石粼粼

331

Thạch đô vô ý diệc đầu văn. Hành nhân báo đạo Phong Xuyên giới,1 Lƣỡng Quảng chu trình đáo thử phân. Dịch nghĩa: Đá gọi là buộc rồng, vì e sợ tìm đàn, Thuyền nhẹ vừa qua nơi ấy trong bóng chiều nhạt nắng. Mƣa làm hoa rơi trôi ra trƣớc khe nƣớc, Mây phủ ngoài núi non, cánh chim lẻ bay về. Mai vì hữu tình nên xƣơng gầu guộc, Đá núi vô ý mà cũng có vết nhăn nheo. Sứ giả báo rằng đến ranh giới Phong Xuyên, Từ đây đƣờng thuỵ phân chia thành Quảng Đông, Quảng Tây. Dịch thơ: Đá rồng buộc chặt sợ tìm đàn, Thuyền nhẹ vừa qua bóng nắng tan. Hoa rụng mƣa rơi lòng suối thẳm, Mây giăng chim lẻ giữa non ngàn. Hữu tình nên bởi mai gầy rạc, Vô ý ấy mà đá cũng nhăn. Tin báo Phong Xuyên đà hết cõi, Từ đây Lƣỡng Quảng rẽ đôi đàng. 65. 13. 梅亭舟泊日黃昏 無限清幽任討論 綠水青山供遠客 白沙翠竹隱孤村 棋非占腹難贏局 酒是知心謾放言 笑我風霜千萬里 何如終日掩柴門 Mai đình chu bạc nhật hoàng hôn, Vô hạn thanh u nhậm thảo luân. Lục thuỵ thanh sơn cung viễn khách, Bạch sa thuý trúc ẩn cô thôn. Kỳ phi chiêm phúc nan doanh cục, Tửu thị tri tâm mạn phóng ngôn. Tiếu ngã phong sƣơng thiên vạn lý, Hà nhƣ chung nhật yểm sài môn. Dịch nghĩa: Thuyền đỗ ở đình Mai giữa lúc chiều tối, Cảnh sắc thanh u vô cùng, mặc ai bàn tán. Non nƣớc xanh xanh bày ra cho khách xa xứ ngắm,

滿目清光不染塵 雨後山川增色景 雪中松柏倍精神 太平余尚間關日 富貴人求久住春 想到世情皆板著 何如一度一番新 Giang thôn tịch mịch thạch lân lân, Mãn mục thanh quang bất nhiễm trần. Vũ hậu sơn xuyên tăng sắc cảnh, Tuyết trung tùng bách bội tinh thần. Thái bình dƣ thƣợng gian quan nhật, Phú quý nhân cầu cửu trú xuân. Tƣởng đáo thế tình giai bản trƣớc, Hà nhƣ nhất độ nhất phiên tân. Dịch nghĩa: Xóm chài bên sông vắng vẻ, đá sỏi chon von, Cảnh sắc thanh trong không gợn chút bụi. Sau cơn mƣa, sông núi càng thêm đẹp đẽ, Trong sƣơng tuyết, tùng bách càng xanh thêm. Trong cảnh thái bình, mà ta vẫn sống những ngày xa cách, Phú quý giàu sang, ngƣời đời cầu mong đƣợc mãi mãi. Nghĩ đến sự tình đời đều cứng nhắc, Sao bằng trời đất mỗi ngày mỗi mới thêm. Dịch thơ: Xóm chài heo hút đá chon von, Bát ngát thanh quang chẳng nhiễm trần. Mƣa dứt non sông thêm cảnh sắc, Tuyết pha tùng bách lắm tinh thần. Thái bình ta vẫn còn lận đận, Phú quý ai cầu đƣợc mãi xuân. Nghĩ đến tình đời hay cứng nhắc, Sao bằng mỗi độ mới muôn phần. 64. 12. 石號繫龍恐索群 輕舟方過日朝曛 落花流出溪前雨 孤鳥飛來嶺外雲 梅以有情應骨瘦 石都無意亦頭紋 行人報道封川界 兩廣舟程到此分 Thạch hiệu hệ long khủng sách quần, Khinh chu phƣơng quá nhật triêu huân. Lạc hoa lƣu xuất khê tiền vũ, Cô điểu phi lai lĩnh ngoại vân. Mai dĩ hữu tình ƣng cốt sấu,

1 Phong Xuyên: tức huyện Phong Xuyên, đời Hán thuộc huyện Quảng Tín, đời tấn đặt làm huyện Phong Hƣng, đời Tuỳ đổi lại làm huyện Phong Xuyên, đời Thanh thuộc phủ Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông.

332

Bờ trúc xanh trên bãi cát trắng thấp thoáng một ngôi làng. Cờ không phải là kẻ rõ bụng, nên khó thắng, Rƣợu là ngƣời hiểu lòng, nên đừng có buông lời. Tự cƣời ta ở xa ngàn vạn dặm nơi sƣơng gió, Sao bằng suốt ngày ở trong nhà đóng cửa gỗ. Dịch thơ: Đình Mai thuyền ghé bóng chiều rơi, Cảnh sắc thanh u, mặc chuyện đời. Nƣớc biếc non thanh mời viễn khách, Trúc xanh cát trắng ẩn làng côi. Cờ không biết dạ, e khôn thắng, Rƣợu ấy tri âm, chớ quá lời. Vạn lý phong sƣơng, ta tự cợt, Sao bằng đóng cửa suốt ngày ngơi. 66. 14. 義以君臣每自寬 身非木石朔風寒 時來萬里干封易 歲到三冬獻曝難 宦海波濤真苦況 侯門車馬有爭端 高燒紅燭閒看爾 心未成灰夜未闌 Nghĩa dĩ quân thần mỗi tự khoan, Thân phi mộc thạch sóc phong hàn. Thời lai vạn lý can phong dị,1 Tuế đáo tam đông hiến bộc nan.2 Hoạn hải ba đào chân khổ huống, Hầu môn xa mã hữu tranh đoan. Cao thiêu hồng chúc nhàn khan nhĩ, Tâm vị thành hôi dạ vị lan. Dịch nghĩa: Vua tôi vì nghĩa đều tự rộng lòng, Thân mình nào phải gỗ đá, gió bấc thổi thấy lạnh. Thời vận đến muôn dặm lập công cầu phong dễ, Năm tháng đến mùa đông khó dâng nắng ấm đƣợc. Nơi bể hoạn nhiều sóng gió thật khổ sở, Cửa công hầu xe ngựa tranh xếp lên hàng đầu.

Ta cứ thắp đuốc lên nhàn xem thế sự, Lòng chƣa thành tro (mất hy vọng), đêm chƣa tàn. Dịch thơ: Vì nghĩa vua tôi ấy rộng lòng, Thân nào gỗ đá, lạnh hơi phong. Gặp thời muôn dặm, can phong dễ, Năm đến ba đông, khó hiến nồng. Bể hoạn sóng dồn, hay khổ sở, Cửa hầu xe ngựa, biết tranh công. Trên cao thắp nến nhàn xem vậy, Đêm chửa tàn canh, dạ vẫn hồng. 67. 15. 粵嶺茫茫粵水灣 輕舟共入桂林關 且思昔日由何別 莫道今年未暫還 心遠家鄉無厭夢 眼窮世界不平山 封川江上觀音石 化作中流自在閒 Việt lĩnh mang mang Việt thuỵ loan, Khinh chu cộng nhập Quế Lâm quan. Thả tƣ tích nhật do hà biệt, Mạc đạo kim niên vị tạm hoàn. Tâm viễn gia hƣơng vô yếm mộng, Nhãn cùng thế giới bất bình san. Phong Xuyên giang thƣợng Quan Âm thạch, Hoá tác trung lƣu tự tại nhàn. Dịch nghĩa: Núi Việt mịt mờ, sông Việt uốn quanh, Thuyền nhẹ cùng vào cửa ải Quế Lâm. Nhớ lại ngày trƣớc vì sao từ biệt, Đừng nói năm nay còn chƣa trở về. Xa nhà xa quê nên lòng không chán mộng, Mắt nhìn khắp cõi, không làm bằng đƣợc núi non. Trên sông Phong Xuyên có tƣợng đá Quan Âm, Làm dòng nƣớc trôi thong dong tự tại. Dịch thơ: Núi Việt mịt mờ, sông Việt quanh, Thuyền xuôi vào cửa Quế Lâm thành. Nhớ sao hôm trƣớc ta chia biệt, Đừng nói năm nay việc chửa thành. Lòng cách quê nhà, đâu chán mộng, Mắt trông khắp cõi, hút non thanh. Quan Âm tƣợng đá Phong Xuyên ấy, Tự tại an nhàn, con nƣớc xanh.

1 Can phong: cầu phong hầu. 2 Hiến bộc: dâng nắng ấm, khiêm từ chỉ những cống hiến của mình đối với mọi ngƣời. Sách Liệt Tử nói: Xƣa nƣớc Tống có kẻ cày ruộng, thƣờng mặc chiếc áo gai suốt cả mùa đông, đến mùa xuân, thì nằm phơi nắng giữa trời, chẳng cần biết trong thiên hạ có nhà cao cửa rộng chăn êm nệm ấm, rồi bảo với vợ mình rằng: ngƣời ta ai cũng phụ nắng ấm mặt trời mà chẳng hay, nếu nàng dâng lời ấy lên vua, ắt sẽ đƣợc trọng thƣởng.

333

68. 16. 村墟落落晚含煙 景色撩人最可憐 夜靜閒吟三益友 風寒獨枕一方天 至清若水還流俗 不動如山可證禪 多少物情俱有趣 人生世上豈徒然 Thôn khƣ lạc lạc vãn hàm yên, Cảnh sắc liêu nhân tối khả liên. Dạ tĩnh nhàn ngâm tam ích hữu, Phong hàn độc chẩm nhất phƣơng thiên. Chí thanh nhƣợc thuỵ hoàn lƣu tục, Bất động nhƣ sơn khả chứng thiền. Đa thiểu vật tình câu hữu thú, Nhân sinh thế thƣợng khởi đồ nhiên. Dịch nghĩa: Thôn xóm thƣa thớt, khói chiều bay lên, Cảnh sắc khiến ngƣời ta thấy buồn nhớ. Đêm vắng nhàn nhã ngâm thơ cùng dăm ba ngƣời bạn, Gió đông lạnh, một mình nằm gối một phƣơng trời. Trong sạch nhƣ dòng nƣớc kia cũng vẫn còn vẩn đục, Yên lặng nhƣ núi non mới có thể chứng thiền. Muôn việc ít nhiều đều có thú riêng, Cuộc sống trên đời nào phải không không? Dịch thơ: Xóm thôn lác đác khói chiều pha, Cảnh sắc trêu ngƣơi dạ xót xa. Đêm vắng nhàn ngâm cùng bạn hữu, Gió se riêng gối một phƣơng xa. Lắng trong nhƣ nƣớc, còn vƣơng tục, Bất động dƣờng non, chứng đạo a. Vạn sự ít nhiều đều có thú, Kiếp ngƣời trần thế há chăng là? 69. 17. 何以離家慰寂寥 一樽濁酒對清宵 情深似海酬難盡 義重如山敢易消 詩索隨園尋好句 舟臨倒水望迴潮 山村催曉雞聲唱 遠憶衣冠早上朝

Hà dĩ li gia uý tịch liêu, Nhất tôn trọc tửu đối thanh tiêu. Tình thâm tự hải thù nan tận, Nghĩa trọng nhƣ sơn cảm dị tiêu. Thi sách Tuỳ Viên tầm hảo cú, Chu lâm đảo thuỵ vọng hồi triều. Sơn thôn thôi hiểu kê thanh xƣớng, Viễn ức y quan tảo thƣớng triều. Dịch nghĩa: Xa nhà lấy gì để an ủi nỗi buồn? Một chén rƣợu nhạt uống giữa đêm khuya. Tình sâu nhƣ biển khó đền đáp hết, Nghĩa nặng nhƣ núi đâu dễ tiêu. Thơ học theo Tuỳ Viên thích tìm câu hay, Thuyền đi vào chỗ nƣớc ngƣợc ƣa nhìn sóng trào. Tiếng gà gáy xua tan màn đêm ở xóm núi, Nơi xa vẫn nhớ lúc mặc áo đội mão vào triều sớm. Dịch thơ: Lấy gì an ủi nỗi cô liêu, Rƣợu nhạt một bầu giữa tối hiu. Nghĩa nặng dƣờng non đâu dám lãng, Tình sâu tựa biển dễ chi tiêu. Tuỳ Viên, thơ học tìm câu đẹp, Nƣớc dốc, thuyền qua ngắm sóng triều (trào). Xóm núi tinh mơ gà gáy vọng, Xa mơ áo mão sớm lên triều. 70. 18. 不關寒鳥一枝巢 我亦凄涼宿遠郊 薛荔村前煙罩樹 烏龍江上水流泡 蕭蕭竹雨溪邊落 颯颯松風戶外敲 謾道今年鄉域異 文章四海舊知交 Bất quan hàn điểu nhất chi sào, Ngã diệc thê lƣơng túc viễn giao. Tiết Lệ thôn tiền yên trạo thụ, Ô Long giang thƣợng thuỵ lƣu bào. Tiêu tiêu trúc vũ khê biên lạc, Táp táp tủng phong hộ ngoại xao. Mạn đạo kim niên hƣơng vực dị, Văn chƣơng tứ hải cựu tri giao. Dịch nghĩa: Chẳng phải vì một tổ chim trong mùa đông, Ta cũng lạnh lùng trú ở cõi đất xa xôi. Trƣớc thôn Tiết Lệ, khói sƣơng trùm cả cây cối,

334

Trên sông Ô Long, nƣớc chảy xiết sủi bọt lên. Mƣa trúc đìu hiu rơi bên dòng nƣớc, Gió thông thổi sàn sạt gõ vào ngoài cánh cửa. Chớ nói năm này còn ở nơi tha hƣơng dị vực, Văn chƣơng bốn biển đều là bạn cũ thôi. Dịch thơ: Một tổ chim hàn giữa buổi đông, Lạnh lùng ta cũng trú long đong. Đầu thôn Tiết Lệ cây vây khói, Trên bến Ô Long nƣớc sủi dòng. Mƣa trúc đìu hiu rơi lạch nƣớc, Gió thông réo rắt gõ ngoài song. Năm nay đừng bảo nơi đất lạ, Bốn biển văn chƣơng thảy bạn lòng. 71. 19. 獨自間關共爾曹 風霜萬里敢云勞 曾經滄海洋洋大 更歷青山步步高 酒散舊愁臨水酌 詩題新句對風颾 萬金寶劍長天外 不愧男兒志氣豪 Độc tự gian quan cộng nhĩ tào, Phong sƣơng vạn lý cảm vân lao. Tằng kinh thƣơng hải dƣơng dƣơng đạo, Cánh lịch thanh sơn bộ bộ cao. Tửu tán cựu sầu lâm thuỵ chƣớc, Thi đề tân cú đối phong tao. Vạn kim bảo kiếm trƣờng thiên ngoại, Bất quý nam nhi chí khí hào. Dịch nghĩa: Một mình từ khi xa cách cùng các anh, Dãi dầu sƣơng gió vạn dặm đƣờng, nào dám nói khó nhọc! Từng vƣợt qua biển rộng mênh mông xanh thẳm, Từng trèo núi non xanh ngát cao cao. Rƣợu làm tan nỗi sầu cũ, đem uống ở bến sông, Thơ có câu hay thì ngâm vang cùng gió lộng. Thanh kiếm báu giá ngàn vàng vẫn còn ở ngoài trời xa, Làm trai chẳng thẹn, chí khí hào sảng ngút trời. Dịch thơ: Từ biệt cùng anh, cánh lẻ đàn, Phong sƣơng vạn dặm dám đâu than! Mênh mông biển cả khua chèo vƣợt, Chót vót non cao cất bƣớc tràn.

Rƣợu giãi sầu xƣa, vào bến chuốc, Thơ đề câu mới, gió lồng vang. Ngàn vàng bảo kiếm bên trời thẳm, Chẳng thẹn nam nhi chí ngút ngàn. 72. 20. 那堪歲月易蹉跎 屈指今年四十過 清水一泓知己淡 長風萬里故人和 月非有意團圓久 雲是無心出沒多 此去但期酬厚意 滿天霜雪奈如何 Na kham tuế nguyệt dị tha đà, Khuất chỉ kim niên tứ thập qua. Thanh thuỵ nhất hoằng tri kỵ đạm, Trƣờng phong vạn lý cố nhân hoà. Nguyệt phi hữu ý đoàn viên cửu, Vân thị vô tâm xuất một đa. Thử khứ đãn kỳ thù hậu ý, Mãn thiên sƣơng tuyết nại nhƣ hà. Dịch nghĩa: Tháng năm trôi qua nhanh chóng thật khó chịu đựng, Co tay bấm đốt, năm nay đã quá tuổi bốn mƣơi. Một dải sông trong đó là tri kỵ, Vạn dặm đƣờng dài gió lộng ấy bạn thân. Trăng chẳng có ý lâu tròn, Mây vô tâm thƣờng ra khỏi núi. Từ nay chỉ còn chờ đáp đền hậu ý, Đầy trời sƣơng tuyết phủ, biết làm sao? Dịch thơ: Xót lòng ngày tháng cứ dần trôi, Bấm đốt năm nay bốn chục rồi. Một dải sông xanh, tri kỷ ít, Dặm dài gió cuốn, cố nhân ôi. Trăng nào hữu ý luôn tròn mãi, Mây ấy vô tâm giã núi đồi. Cách biệt vẫn mong đền hậu ý, Đầy trời sƣơng tuyết phủ khơi vơi. 73. 21. 長安何處遠天涯 莫莫寒煙望轉賒 雲裡孤村山寂寞 洞中曲徑樹橫斜 日殘塘泊西瓜艑

335

Dịch nghĩa: Chớ đem tâm sự ra so lƣờng, Gió lặng yên mây bay cao, đêm chƣa tàn, Đem ấn nộp vốn là xin ấn tƣớc mới, Vinh phong vẫn phải chờ xin thỉnh phong. Đừng khiến cho bƣớc đi chậm chạp, hãy dong roi trở về nhanh chóng, Chỉ sợ đƣờng dài trùng trùng, xa xôi cách trở. Muôn việc đều ở trời, thƣờng nhiều ngoắt ngoéo, Rốt cuộc lại danh vọng cũng thuộc chuyện không phải mãi thƣờng hằng. Dịch thơ: Chớ đem tâm sự để suy lƣờng, Gió lặng mây cao, đêm vấn vƣơng. Nạp ấn vốn là cầu ấn tƣớc, Vinh phong vẫn đợi thỉnh phong chƣơng. Đừng xui nhàn bộ nhanh roi ruổi, Chỉ sợ trùng lâm cách mấy đƣờng. Muôn sự ở trời thƣờng ngoắt ngoéo, Rốt cùng danh vọng cũng vô thƣờng. 75. 23. 才微安敢說將兵 航海梯山答聖明 月落寒江孤鴈影 風迴古寺冷鐘聲 豈無不酒相思淚 爲有多關受粲情 憶別到今纔幾日 故鄉聞道樂昇平 Tài vi an cảm thuyết tƣơng binh, Hàng hải thê sơn đáp thánh minh. Nguyệt lạc hàn giang cô nhạn ảnh, Phong hồi cổ tự lãnh chung thanh. Khởi vô bất tửu tƣơng tƣ lệ, Vị hữu đa quan thụ xán tình. Ức biệt đáo kim tài kỵ nhật, Cố hƣơng văn đạo lạc thăng bình. Dịch nghĩa: Tài hèn nào dám nói chuyện điều binh khiển tƣớng, Chỉ biết vƣợt biển cả trèo núi non (đi sứ), mong đền đáp ơn vua. Trăng lặn trên sông lạnh, một bóng nhạn cô đơn, Gió thổi vòng ngôi chùa cổ, tiếng chuông nghe lạnh lẽo. Nào phải vì không có rƣợu mà rơi lệ nhớ thƣơng,

歲暮田開小麥花 夜靜江心聞犬吠 應知隔岸有人家 Trƣờng An hà xứ viễn thiên nhai, Mạc mạc hàn yên vọng chuyển xa. Vân lý cô thôn sơn tịch mịch, Động trung khúc kính thụ hoành tà. Nhật tàn đƣờng bạc tây qua biển, Tuế mộ điền khai tiểu mạch hoa. Dạ tĩnh giang tâm văn khuyển phệ, Ƣng tri cách ngạn hữu nhân gia. Dịch nghĩa: Trƣờng An (chỉ quê hƣơng) ở nơi nào? Xa tận chân trời, Khói lạnh mịt mờ nhìn chẳng thấy đâu. Làng xóm hiu quạnh ẩn trong mây mờ, núi non vắng vẻ, Con đƣờng quanh co trong động, cây cối nghiêng sà. Ngày đã tắt, con thuyền câu đỗ ở bờ đất, Năm sắp tàn, trên ruộng, lúa còn nở hoa. Trong đêm vắng vẻ, giữa lòng sông nghe tiếng chó sủa, Biết chắc bên bờ kia có nhà ngƣời ở đó. Dịch thơ: Trƣờng An đâu chốn, cách thiên nha? Khói lạnh man man dõi mắt xa. Thôn xóm mây lồng, non tịch mịch, Đƣờng quanh động lẫn, cỏ la đà. Chiều tà trên bến thuyền câu đỗ, Năm muộn ruộng còn lúa trổ hoa. Đêm vắng lòng sông nghe chó sủa, Cách bờ biết chắc có ngƣời ta. 74. 22. 謾將心事且商量 風靜雲高夜未央 納印本來求印爵 榮封還待請封章 休教閒步歸鞭快 只恐重臨去路長 事在天然多曲折 到頭名望屬非常 Mạn tƣơng tâm sự thả thƣơng lƣơng, Phong tĩnh vân cao dạ vị ƣơng. Nạp ấn bản lai cầu ấn tƣớc, Vinh phong hoàn đãi thỉnh phong chƣơng. Hƣu giao nhàn bộ quy tiên khoái, Chỉ khủng trọng lâm khứ lộ trƣờng. Sự tại thiên nhiên đa khúc chiết, Đáo đầu danh vọng thuộc phi thƣờng.

336

Nhƣng vì có nhiều cửa ải, nên chịu nhiều tình chất chứa. Nhớ lại lúc từ biệt đến nay mới mấy ngày, Nơi quê hƣơng nghe báo đã vui trong cảnh thái bình. Dịch thơ: Tài hèn nào dám luận dùng binh, Vƣợt biển trèo non báo thánh minh. Sông lạnh trăng chìm, in cánh nhạn, Gió lồng chùa cổ, tiếng chuông đanh. Lệ thƣơng nhớ chảy, nào không rƣợu, Tình chứa chan dâng, bởi lắm tình. Cách biệt đến nay chừng mấy buổi, Cố hƣơng vui biết đƣợc thanh bình. 76. 24. 滿天樹色半凋零 雲裡高城欲摘星 買醉人歸閒酒店 酬恩船至鬧旗亭 盤餐有客供山味 日食無魚遠海腥 淡薄常甘邦外趣 寸誠願達九重聽 Mãn thiên thụ sắc bán điêu linh, Vân lý cao thành dục trích tinh. Mãi tuý nhân quy nhàn tửu điếm, Thù ân thuyền chí náo kỳ đình. Bàn xan hữu khách cung sơn vị, Nhật thực vô ngƣ viễn hải tinh. Đạm bạc thƣờng cam bang ngoại thú, Thốn thành nguyện đạt cửu trùng thinh. Dịch nghĩa: Khắp trời cây cối một nửa đã úa tàn, Toà thành cao lồng trong mây ngỡ nhƣ hái đƣợc sao. Ngƣời đi mua rƣợu trở về, quán rƣợu hoá nhàn rỗi, Thuyền đền ơn đến, làm đình cờ náo nhiệt. Trên mâm cơm tiếp khách bày đủ các món sơn vị, Ngày ngày ăn cơm không có cá, thiếu món ở biển. Dẫu đạm bạc nhƣng ngọt ngào cái thú ở nƣớc ngoài, Tấc lòng thành xin bày tỏ, nơi chín tầng cao có nghe. Dịch thơ: Khắp trời cảnh sắc nửa tiêu hao, Mây phủ thành cao ngỡ hái sao. Luý tuý ngƣời về, trơ quán rƣợu,

Thuyền đền ơn đến, rộn cờ sao. Mâm cơm có khách, đầy sơn vị, Bữa tạm không ai, thiếu hải hào. Đạm bạc cam lòng nơi đất khách, Tấc lòng xin gửi chín tầng cao. 77. 25. 茫茫海內氣含弘 一望山河感慨增 肯效甘心吞啞炭 直將熱血禦寒冰 情關父子愁難禁 道重君臣罷不能 天外夜闌眠未穩 一杯濁酒五更燈 Mang mang hải nội khí hàm hoằng, Nhất vọng sơn hà cảm khái tăng. Khẳng hiệu cam tâm thôn á thán,1 Trực tƣơng nhiệt huyết ngự hàn băng. Tình quan phụ tử sầu nan cấm, Đạo trọng quân thần bãi bất năng. Thiên ngoại dạ lan miên vị ổn, Nhất bôi trọc tửu ngũ canh đăng. Dịch nghĩa: Giữa lòng sông biển mênh mông, khí sƣơng phủ đầy, Nhìn sông núi bao la, cảm xúc dâng thêm. Ta chịu cam lòng nuốt than nóng, Vẫn luôn đem nhiệt huyết chống đỡ với giá băng lạnh lùng. Tình cha con sâu dày, khó nén đƣợc mối sầu, Đạo vua tôi sâu nặng khó mà bỏ đƣợc. Nơi trời xa đêm tàn rồi, giấc ngủ vẫn chƣa trọn, Một li rƣợu nhạt uống với ngọn đèn suốt năm canh. Dịch thơ: Mang mang dải dất khí sƣơng cao, Mắt ngóng non sông cảm khái trào. Than đỏ, cam lòng xin nguyện ngậm, Giá băng, máu nóng quyết đem bao. Tình thâm phụ tử sầu khôn nén, Đạo trọng quân thần bỏ khó sao! Đất khách đêm tàn còn trở giấc, Năm canh rƣợu nhạt, bóng đèn chao. 78. 26. 1 Câu này nhắc chuyện Dự Nhƣợng vì muốn báo thù cho chủ nên nuốt than để làm cho giọng khác đi.

337

迢迢一葉遠行舟 兩岸蘆花夕照秋 莫怪洞中人自在 且看江上水空流 山城蕭鼓星初落 海外風波夢未休 時已清平年欲暮 功成之後早回頭 Điều điều nhất diệp viễn hành chu, Lƣỡng ngạn lƣ hoa tịch chiếu thu. Mạc quái động trung nhân tự tại, Thả khan giang thƣợng thuỵ không lƣu. Sơn thành tiêu cổ tinh sơ lạc, Hải ngoại phong ba mộng vị hƣu. Thời dĩ thanh bình niên dục mộ, Công thành chi hậu tảo hồi đầu. Dịch nghĩa: Một chiếc thuyền nhỏ thấp thoáng phía xa xa, Hai bên bờ núi hoa lau trắng giữa ánh nắng chiều thu. Đừng lấy làm lạ thấy những ngƣời trong động an nhàn, Hãy nhìn trên sông, dòng nƣớc vẫn hững hờ trôi. Tiếng trống tiếng sáo trên thành núi vang lên, ngôi sao sớm lặn, Ngoài biển sóng gió vỗ gào, giấc mộng chƣa thôi. Lúc này đời đã thanh bình, năm sắp hết, Sau khi công thành, hãy sớm quay đầu. Dịch thơ: Thấp thoáng thuyền con giữa mịt mù, Đôi bờ lau trắng nắng chiều thu. Chớ lạ trong bƣng, ngƣời tự tại, Nhìn xem sông chảy, nƣớc êm trôi. Sơn thành sáo trống, sao vừa lặn, Biển cả phong ba, mộng chửa rồi. Đời đã bình yên, năm sắp hết, Công thành thời sớm ngoảnh đầu thôi. 79. 27. 自從一諾重千金 涉世才疏待到今 江水流窮遊子淚 嶺梅開盡故園心 插天山色重重翠 捲地灘聲滾滾沈 陽朔城邊存古廟 空留鐵帽倒寒林

Tự tùng nhất nặc trọng thiên kim, Thiệp thế tài sơ đãi đáo kim. Giang thuỵ lƣu cùng du tử lệ, Lĩnh mai khai tận cố viên tâm. Sáp thiên sơn sắc trùng trùng thuý, Quyển địa than thanh cổn cổn trầm. Dƣơng sóc thành biên tồn cổ miếu, Không lƣu thiết mạo đảo hàn lâm. Dịch nghĩa: Xƣa nay một lời hứa đáng giá cả ngàn vàng, Ta bƣớc vào đời với tài hèn nên chờ đợi đến nay. Nƣớc sông trôi mãi lệ hận của ngƣời du tử, Mai đầu núi nở rộ tấm lòng nhớ quê hƣơng. Lớp lớp núi xanh lô nhô chọc lên trời, Tiếng sóng vỗ bờ từng đợt từng đợt chìm trong lòng đất. Bên thành Dƣơng Sóc vẫn còn ngôi miếu cũ, Còn trơ chiếc mũ sắt giữa cánh rừng mùa đông lạnh. Dịch thơ: Nghìn vàng lời hứa tự xƣa nay, Tài mọn còn chờ đến mãi đây. Du tử lệ trôi hoà sóng nƣớc, Vƣờn xƣa lòng nở rực đồi mai. Núi xanh biêng biếc đan trời thẳm, Sóng vỗ lao xao vén đất dày. Dƣơng Sóc thành bên toà cổ miếu, Còn trơ mũ sắt giữa ngàn cây. 80. 28. 終朝寂寂我何堪 酌酒呼朋共笑談 江上已無離恨柳 村中惟有合歡柑 數間茅舍寒煙鎖 一片蓬牕夕影含 遙望故園千萬里 最關情處是山南 Chung triêu tịch tịch ngã hà kham, Chƣớc tửu hô bằng cộng tiếu đàm. Giang thƣợng dĩ vô li hận liễu, Thôn trung duy hữu hợp hoan cam. Sổ gian mao xá hàn yên toả, Nhất phiến bồng song tịch ảnh hàm. Dao vọng cố viên thiên vạn lý, Tối quan tình xứ thị Nam san. Dịch nghĩa: Suốt ngày vắng vẻ, làm sao chịu đƣợc, Rót rƣợu mời bạn bè, cùng cƣời nói chơi.

338

Trên bờ sông đã không còn cây liễu hận chia li nữa, Trong xóm làng chỉ có cây cam hợp hoan. Mấy gian nhà cỏ tranh trong khói lạnh bao phủ, Một mái thuyền cỏ bồng ngậm ánh nắng chiều. Xa ngóng quê hƣơng, cách cả ngàn vạn dặm, Nơi nào hữu tình nhất, đó chính là ngọn núi phƣơng nam. Dịch thơ: Suốt ngày vắng vẻ dạ sao đang? Mời bạn chuyện vui, rƣợu rót tràn. Liễu hận trên sông nào thấy nữa, Cam vui giữa xóm mọc ken đan. Mấy gian nhà cỏ vùi mây lạnh, Một mái thuyền tranh ngậm nắng tàn. Xa ngóng vƣờn xƣa ngàn vạn dặm, Nơi tình tứ nhất ấy Nam san. 81. 29. 綺窻夜掩朔風嚴 天外寒雲細雨添 滾滾江流千里遠 蕭蕭木落萬情兼 幾回夢裡鄉關近 依舊舟中日月淹 喜得天涯知己共 盡心酬答聖恩霑 Ỵ song dạ yểm sóc phong nghiêm, Thiên ngoại hàn vân tế vũ thiêm. Cổn cổn giang lƣu thiên lý viễn, Tiêu tiêu mộc lạc vạn tình kiêm. Kỵ hồi mộng lý hƣơng quan cận, Y cựu chu trung ngật nguyệt yêm. Hỵ đắc thiên nhai tri kỵ cộng, Tận tâm thù đáp thánh ân triêm. Dịch nghĩa: Đứng tựa cửa sổ trong đêm tối mịt mùng, gió bấc thổi lạnh lùng, Nơi trời xa mây lạnh phủ, thêm mƣa phùn lất phất. Sông chảy cuồn cuộn trôi xa cả ngàn dặm, Lá cây rơi xào xạc hiu hắt, vạn mối tình dâng. Mấy lần trong mộng thấy đã đến gần quê hƣơng, Nhƣng ta vẫn ở trong thuyền nhƣ cũ, ngày tháng mịt mù. Ở chân trời mừng đƣợc cùng ngƣời tri kỵ, Cùng dốc lòng đền đáp ơn mƣa móc của vua. Dịch thơ: Song lụa đêm che, gió bấc lùa,

Ngoài trời mây lạnh rắc cơn mƣa. Sông trôi cuồn cuộn xa ngàn dặm, Lá rụng tiêu điều trăm mối tơ. Trong mộng bao lần quê cũ đến, Giữa thuyền lần lữa tháng năm đƣa. Chân trời mừng đƣợc cùng tri kỷ, Dốc hết lòng son báo đức vua. 82. 30. 曾寄家書懶作函 平安二字有何緘 滿船明月天涯客 兩岸青山一片帆 事每忘機緣素拙 人能無我即非凡 欲窮南北東西志 莫厭奇峰白石岩 Tằng ký gia thƣ lãn tác hàm, Bình an nhị tự hữu hà giam. Mãn thuyền minh nguyệt thiên nhai khách, Lƣỡng ngạn thanh sơn nhất phiến phàm. Sự mỗi vong cơ duyên tố chuyết, Nhân năng vô ngã tức phi phàm, Dục cùng nam bắc đông tây chí, Mạc yếm kỳ phong bạch thạch nham. Dịch nghĩa: Từng viết thƣ về nhà, làm biếng cho vào phong thƣ, Hai chữ bình an đâu cần phải phong làm gì. Trăng sáng đầy cả thuyền soi ngƣời khách xa xứ, Núi xanh dựng hai bờ, một chiếc thuyền buồm lẻ loi. Làm việc thƣờng vứt bỏ tâm cơ, ấy vì giữ tính vụng về, Ngƣời có thể vô ngã, thì là bậc phi phàm. Chí muốn đi hết vòng trời đông tây nam bắc, Thì nào chán núi non kỳ lạ khó khăn. Dịch thơ: Thƣ nhà từng viết, biếng niêm phong, Hai chữ bình an cứ để tràn. Trăng sáng đầy thuyền riêng lữ khách, Đôi bờ núi biếc cánh buồm ngang. Vong cơ bởi vụng khi hành sự, Vô ngã nên thành thoát thế gian. Nam bắc đông tây vùng vẫy chí, Sợ gì núi hiểm với gian nan. 104. 請封使船至未得相見集古作 別時容易見時難

339

青鳥慇懃爲探看 銀鎖重關聽未闢 月移花影上欄杆 THỈNH PHONG SỨ THUYỀN CHÍ, VỊ ĐẮC TƢƠNG KIẾN TẬP CỔ TÁC 1 Biệt thời dung dị kiến thời nan, Thanh điểu ân cần vị thám khan.2 Ngân toả trùng quan thinh vị tịch, Nguyệt di hoa ảnh thƣớng lan can. Dịch nghĩa: THUYỀN SỨ ĐOÀN THỈNH PHONG ĐẾN, CHƢA GẶP ĐƢỢC NHAU, HỌC THEO XƢA LÀM THƠ Xa cách thì dễ, gặp nhau thì khó, Chim xanh ân cần thăm dò giúp ta. Mấy làn cửa khoá bạc khoá kín, tiếng chƣa mở, Trăng rọi bóng hoa lên trên lan can. Dịch thơ: THUYỀN SỨ ĐOÀN THỈNH PHONG ĐẾN, CHƢA GẶP ĐƢỢC NHAU, HỌC THEO XƢA LÀM THƠ Khó đƣợc gặp cùng, dễ cách xa, Chim xanh tha thiết dọ dùm ta. Bao lần khoá bạc còn phong kín, Trăng rọi lên thềm in bóng hoa. 107. 步艮齋並頭菊原韻 並頭叢菊遶香園 開盡幽情寂不言 共戴一天三徑晚 同窺九日幾人存 籬邊夜月相憐影 檻外秋風合夢魂 若使多情還解語 聲聲應勸酒盈樽 BỘ CẤN TRAI TỊNH ĐẦU CÚC NGUYÊN VẬN Tịnh đầu tùng cúc nhiễu hƣơng viên, Khai tận u tình tịch bất ngôn. Cộng đới nhất thiên tam kính vãn, Đồng khuy cửu nhật kỵ nhân tồn. Li biên dạ nguyệt tƣơng liên ảnh, Hạm ngoại thu phong hợp mộng hồn. Nhƣợc sử đa tình hoàn giải ngữ, Thanh thanh ƣng khuyến tửu doanh tôn.

Dịch nghĩa: LÀM THEO NGUYÊN VẬN BÀI TỊNH ĐẦU CÚC CỦA CẤN TRAI Khóm trúc bằng đầu mọc khắp vƣờn thơm ngát, Hoa nở hết mối tình sâu kín nhƣng lại không nói gì. Cùng đội cả bầu trời, có ba luống cúc nở muộn, Những ngƣời cùng nhìn hoa trong ngày trùng cửu, nay còn đƣợc bao? Bên bờ rào, trăng đêm sáng, ngƣời và bóng thƣơng nhau, Ngoài hiên nhà, gió thu thổi làm hồn mộng hợp lại. Nếu làm cho đa tình cũng vẫn phải nói, Thì nên lên tiếng khuyên rƣợu đầy li. Dịch thơ: Khóm trúc bằng đầu hƣơng toả bay, Chân tình nở hết, lặng im bày. Một trời chung đội, ba đƣờng muộn, Mồng chín cùng xem, có mấy ai? Trƣớc giậu đêm trăng, thƣơng chiếc bóng, Ngoài hiên gió lạnh, quyện mơ say. Đa tình dầu vậy, xin lên tiếng, Rƣợu rót thật đầy khuyên khách say! 110. 沛中 得丧原非偶爾成 且觀機兆已分明 雲浮沛上迷秦日 神哭山中旺漢聲 含淚忽將三尺劍 變情幸賜一杯羹 天恩君德誰能辨 千古寬仁大度名 BÁI TRUNG Đắc táng nguyên phi ngẫu nhĩ thành, Thả quan cơ triệu dĩ phân minh. Vân phù Bái thƣợng mê Tần nhật, Thần khốc sơn trung vƣợng Hán thanh. Hàm lệ hốt tƣơng tam xích kiếm, Biến tình hành tứ nhất bôi canh. Thiên ân quân đức thuỳ năng biện, Thiên cổ khoan nhân đại độ danh. Dịch nghĩa: TRONG ĐẤT BÁI Đƣợc hay mất vốn không phải ngẫu nhiên mà nên, Hãy xem điềm báo thì đã biết ngay. Mây mù đất Bái, làm mờ vầng nhật đất Tần,

1 Bài thơ ảnh hƣởng thơ của Lý Thƣơng Ẩn, nên tác giả mới nói “tập cổ tác”. 2 Hai câu đầu lẫy từ bài thơ Vô đề của Lý Thƣơng Ẩn, câu đầu “Tƣơng kiến thời nan biệt diệc nan” (khó gặp nhau, xa nhau càng khó) và câu cuối “Thanh điểu ân cần vị thám khan” (chim xanh ân cần thăm dò giùm ta).

340

Tiếng quỵ thần khóc trong núi sâu, thanh thế nhà Hán đang lên. Ngậm lệ sầu trong ba thƣớc kiếm, Nếu thay lòng đổi dạ, nhớ ban cho bát canh. Đức của vua, ơn của trời, ai có thể biết đƣợc, Ngàn thuở khoan nhân thì đƣợc tiếng độ lƣợng. Dịch thơ: Đƣợc mất há là chuyện ngẫu nhiên, Cứ xem điềm báo biết ngay liền. Mây giăng đất Bái, trời Tần tối, Thần khóc trong non, thế Hán lên. Nuốt lệ chịu vùi ba thƣớc kiếm, Đổi lòng xin dự bát canh riêng. Ơn trời, đức chúa, ai ngƣời biết, Ngàn thuở khoan dung tiếng đức truyền. 113. 贈河南督學政吳雲樵惠送詩集 何期邦外客 得覩篋中珍 俊逸知無敵 清高信有神 汴梁欽領袖 臺閣具經綸 徒仰春風座 匆匆笑未因 TẶNG HÀ HAM ĐỐC HỌC CHÍNH NGÔ VÂN TIỀU HUỆ TỐNG THI TẬP Hà kỳ bang ngoại khách, Đắc đổ niếp trung trân. Tuấn dật tri vô địch, Thanh cao tín hữu thần. Biện Lƣơng khâm lĩnh tụ, Đài các cụ kinh luân. Đồ ngƣỡng xuân phong toạ, Thông thông tiếu vị nhân. Dịch nghĩa: LÀM TẶNG ĐỐC HỌC CHÍNH HÀ NAM NGÔ VÂN TIỀU ĐÃ TẶNG TÔI TẬP THƠ Ngày nào làm khách ở phƣơng xa, Chờ đƣợc thấy vật báu trong rƣơng. Tài thơ cao vời biết là anh vô địch, Lời lẽ thanh tao tôi tin thơ có thần. Anh là nhà thơ hàng đầu nơi Biện Lƣơng, Chốn đài các anh là ngƣời có tài kinh luân xoay chuyển. Luôn ngƣỡng mộ tài học của anh, Chợt tự cƣời chẳng rõ vì đâu. Dịch thơ: Ngày nào làm khách ở tha hƣơng, Tận mắt ƣa nhìn ngọc ở rƣơng. Tuấn dật khôn bì, thần điệu vút,

Thanh cao khó sánh, tứ thơ hƣờng. Biện Lƣơng lãnh tụ, đành cam nhận, Đài gác kinh luân, cũng đảm đƣơng. Ngƣỡng mến tài năng mong cảm hoá, Vội vàng tự mỉa, thật hoang đƣờng! 116. 客中夜雨 天恐星車帶月行 故將霖雨注臨洺 窓虛翠竹簫簫落 井老蒼梧滴滴聲 一片寒雲孤草店 三更旅夢遠棚城 聖朝恩廣沾南北 故國應知沐寵榮 KHÁCH TRUNG DẠ VŨ Thiên khủng tinh xa1 đới nguyệt hành, Cố tƣơng sâm vũ chú lâm minh. Song hƣ thuý trúc tiêu tiêu lạc, Tỉnh lão thƣơng ngô trích trích thanh. Nhất phiến hàn vân cô thảo điếm, Tam canh lữ mộng viễn bằng thành. Thánh triều ân quảng triêm nam bắc, Cố quốc ƣng tri mộc sủng vinh. Dịch nghĩa: MƢA ĐÊM NƠI ĐẤT KHÁCH Trời e sợ xe sứ chở bóng trăng đi, Nên làm mƣa rào rót vào bể. Bên song cửa hàng trúc xanh rụng tơi tả, Bên giếng cũ từng tiếng mƣa rơi vào cây ngô đồng xanh lốp đốp. Một mảng mây lạnh che căn lều cỏ lẻ loi, Giấc mộng lữ khách ba canh xa xôi thành trì. Ơn đức thánh triều rộng lớn gội từ nam đến bắc, Quê hƣơng chắc cũng đƣợc ƣu ái thấm gội mƣa móc. Dịch thơ: Trời sợ xe sao chở nguyệt về, Nên làm mƣa đổ rƣới lê thê. Cửa buồn trúc biếc rơi hiu hắt, Giếng cũ đồng xanh điệu não nề. Một áng mây thu lều cỏ lạnh, Ba canh mộng khách cõi thành mê. Thánh triều ơn thấm nhuần nam bắc, Vinh hiển từ nay suốt xóm quê. 133. 湖 廣 歸 舟 途 中 作 三 十 韻 1. 1 Tinh xa: xe sao, cũng giống nhƣ nói tinh thiều (xe sao), tinh tra (bè sao), đều có ý chỉ thuyền xe ngƣời đi sứ.

341

星霜幾度客途中 迢遞歸舟泊晚風 斜岸短蓬疎雨濕 寒崖遠樹淡煙籠 錦鱗釣罷漁磯寂 白石歌殘鳥道通 幾處渡頭人去後 山城月落楚江空 HỒ QUẢNG QUY CHU ĐỒ TRUNG TÁC TAM THẬP VẬN Tinh sƣơng kỵ độ khách đồ trung, Điều đệ quy phàm bạc vãn phong. Tà ngạn đoản bồng sơ vũ thấp, Hàn nhai viễn thụ đạm yên lung. Cẩm lân điếu bãi ngƣ ki tịch, Bạch thạch ca tàn điểu đạo thông. Kỵ xứ độ đầu nhân khứ hậu, Sơn thành nguyệt lạc Sở giang không. Dịch nghĩa: GIỮA ĐƢỜNG TỪ HỒ QUẢNG TRỞ VỀ LÀM BA MƢƠI BÀI Mấy lần khách đi giữa đƣờng trong trời sƣơng và sao, Xa xa chiếc thuyền buồm trở về đỗ trong gió chiều. Bờ nghiêng nghiêng mái thuyền cỏ ƣớt mƣa bay, Vách núi lạnh cây ngàn xa giăng màn khói lam. Câu xong cá trở về, còn lại hòn đá vắng, Khúc ca ngƣời đốn củi dứt, đƣờng chim thẳng bay. Trên mấy bến đò, khi ngƣời đã sang sông hết, Trăng xế nơi Sơn Thành, bến sông Sở vắng không. Dịch thơ: Mấy độ tinh sƣơng khách giữa đƣờng, Buồm về thấp thoáng gió chiều giƣơng. Mái bồng nghiêng bến mƣa nhoà ƣớt, Cây cối lạnh bờ khói nhạt vƣơng. Bạch thạch ca tàn, chim thẳng cánh, Cẩm lân câu dứt, đá trơ suông. Đò ngang bao chốn ngƣời qua hết, Sông Sở, Sơn Thành trăng xế ngang. 134. 2. 旌旗影落動蛟龍 鼓棹閒過石鼓冬 紅染江邊楓葉老 綠拖崖上石苔濃 十年湖海萍蓬跡 一片山河楚越踪

客况無聊詩思苦 强將杯酒豁心胸 Tinh kỳ ảnh lạc động giao long, Cổ trạo nhàn qua Thạch Cổ đông. Hồng nhiễm giang biên phong diệp lão, Lục thi nhai thổ thạch đài nồng. Thập niên hồ hải bình bồng tích, Nhất phiến sơn hà Sở Việt tung. Khách huống vô liêu thi tứ khổ, Cƣỡng tƣơng bôi tửu khoát tâm hung. Dịch nghĩa: Bóng cờ in trên dòng nƣớc làm kinh động lũ giao long, Mái chèo nhàn nhã quẫy nƣớc qua Thạch Cổ trong tiết trời đông. Lá phong bên bờ sông nhuộm đỏ cả bến sông, Rêu mọc tràn phủ xanh cả vách núi. Mƣời năm rồi ta nhƣ cánh bèo trôi trên sông biển, Một mảng non sông là dấu vết của nƣớc Sở và nƣớc Việt. Tình cảnh của khách buồn bã, làm tứ thơ khó nhọc, Đành đem rƣợu uống giãi nỗi lòng. Dịch thơ: Bóng cờ in nƣớc khiếp giao long, Thạch Cổ thuyền qua giữa tiết đông. Nhuốm đỏ bờ sông: ngàn lá thắm, Phủ xanh vách núi: đá rêu nồng. Biển hồ bèo dạt mƣời năm trọn, Sở Việt non sông một mảnh lồng. Tình khách buồn hiu, thi tứ khổ, Nỗi lòng mƣợn rƣợu chuốc cho xong. 135. 3. 煙波空使憶南邦 愁陣無邊借酒降 一葉輕舟歸越客 滿天殘雪冷湘江 雲霞樵臥山間屋 風月漁眠柳外艭 何處飛來王謝燕 差池水上語雙雙 1 Yên ba không sử ức Nam bang, Sầu trận vô biên tá tửu hàng. Nhất diệp khinh chu quy Việt khách, Mãn thiên tàn tuyết lãnh Tƣơng giang.2 1 Sang sang: tiếng chim hót líu lo. 2 Tƣơng giang: sông Tƣơng, xuất nguồn từ núi Dƣơng Hải huyện Hƣng An, Quảng Tây, cùng nguồn với sông Li giang. Sông Tƣơng chảy đến phía tây huyện Linh Lăng tỉnh Hồ Nam, hợp lƣu cùng Tiêu Giang hay Tiêu Thủy nên gọi là sông Tiêu Tƣơng.

342

Dịch nghĩa: Mây giăng ngang trời, chim nhạn bay về nghỉ, ánh tịch dƣơng chầm chậm rơi, Bóng cây bên bờ đá cùng đầu thuyền chuyển dời. Hai năm mới đƣợc nghe tên nƣớc mới, Hai lần dạo ngũ hồ với một tấm lòng nhớ quê hƣơng. Nằm trên sông xanh trong chiếc thuyền tranh mái chèo ngắn, Trong tiếng tù và thổi, với gió nhẹ mƣa phùn. Khách qua đƣờng xin chớ hỏi gì lão chài, Sông Mịch La xƣa nay vẫn đắm nỗi buồn của ngƣời nƣớc Sở. Dịch thơ: Nhạn về mây khẳm, ánh tà buông, Bờ đá, cây, thuyền, bóng chuyển luôn. Hiệu nƣớc, hai năm nay mới thuận, Tình quê, mấy thuở Ngũ hồ tuôn. Sông xanh thuyền lá nằm yên lặng, Mƣa gió tù và trỗi tiếng suông. Xin khách đừng kêu ngƣ phủ hỏi, Mịch La ngàn thuở Khuất Nguyên buồn. 137. 5. 前途江景尙熹微 桂槳松舟故國歸 此日動知他日靜 今年是覺昔年非 月寒山閣花陰瘐 雨濕天涯草色肥 夢有丈人來問我 如何爾不息心機 Tiền đồ giang cảnh thƣợng hi vi, Quế tƣởng tùng chu cố quốc quy. Thử nhật động tri tha nhật tĩnh, Kim niên thị giác tích niên phi. Nguyệt hàn sơn các hoa âm sấu, Vũ thấp thiên nhai thảo sắc phì. Mộng hữu trƣợng nhân lai vấn ngã, Nhƣ hà nhĩ bất tức tâm ki? Dịch nghĩa: Cảnh sắc dòng sông nơi con đƣờng phía trƣớc còn tờ mờ, Thuyền thông chèo quế ta trở về quê cũ,

Vân hà tiều ngoạ sơn gian ốc, Phong nguyệt ngƣ miên liễu ngoại sang. Hà xứ phi lai Vƣơng Tạ yến,1 Sai trì thuỵ thƣợng ngữ sang sang? Dịch nghĩa: Khói sóng khiến ta nhớ nƣớc Nam, Nỗi sầu không bến bờ đành mƣợn rƣợu giãi sầu. Một chiếc thuyền chở ngƣời khách Việt trở về, Tuyết tàn bay khắp trời, lạnh cả sông Tƣơng. Bác tiều nằm trong căn nhà trên núi dƣới ánh ráng chiều, Ngƣời đánh cá ngủ trên chiếc thuyền ngoài rặng liễu dƣới gió trăng. Cánh én nhà Vƣơng Tạ từ đâu bay đến, Trên sông bay lƣợn hót líu lo. Dịch thơ: GIỮA ĐƢỜNG TỪ HỒ QUẢNG TRỞ VỀ LÀM BA MƢƠI VẦN Khói sông giục nỗi nhớ quê hƣơng, Bất tận sầu giăng, mƣợn rƣợu hàng. Một chiếc thuyền về nơi đất Việt, Đầy trời tuyết rắc lạnh sông Tƣơng. Tiều nằm nhà cỏ, non mây quyện, Ngƣ ngủ thuyền chài, trăng gió vƣơng. Vƣơng Tạ én bay về chốn lạ, Lƣợn lờ trên bến hót du dƣơng. 136. 4. 雲橫囘鴈夕陽遲 石岸船頭樹影移 二載一聞新國號 五湖兩度故鄉思 孤蓬短棹滄江臥 細雨殘風畫角吹 過客莫從漁父問 汨羅自古楚人悲 Vân hoành hồi nhạn tịch dƣơng trì, Thạch ngạn thuyền đầu thụ ảnh di. Nhị tải nhất văn tân quốc hiệu,2 Ngũ hồ lƣỡng độ cố hƣơng ti (tƣ). Cô bồng đoản trạo thƣơng giang ngoạ, Tế vũ tàn phong hoạ giốc xuy. Quá khách mạc tùng ngƣ phủ vấn, Mịch La tự cổ Sở nhân bi.3 1 Vƣơng Tạ yến: én nhà họ Vƣơng, họ Tạ, xuất từ ý thơ Ô y hạng của Lƣu Vũ Tích: “Cựu thời Vƣơng, Tạ đƣờng tiền yến, phi nhập tầm thƣờng bách tính gia”. 2 Câu này nhắc chuyện nƣớc ta, sau khi Gia Long lên ngôi, lấy hiệu nƣớc là Nam Việt, sai Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh cầu phong, nhƣng nhà Thanh e ngại, phải thƣ từ qua lại nhiều lần, sau mới đổi hiệu nƣớc lại thành Việt Nam. 3 Sở nhân bi: nỗi buồn của ngƣời Sở, chỉ Khuất Nguyên buồn vì bị ruồng bỏ. Hai câu cuối của bài thơ nhắc đến chuyện Khuất

Nguyên buồn rầu đi lang thang, gặp ông lão chài, hai ngƣời cùng nói chuyện, ông lão khuyên Khuất Nguyên nên sống theo thời thế, và hát khúc Thƣơng lang: “Thƣơng lang chi thuỵ thanh hề, khả dĩ trạc ngã anh; Thƣơng lang chi thuỵ trọc hề, khả dĩ trạc ngã túc” (Nƣớc sông Thƣơng lang trong, có thể giặt giải mũ; nƣớc sông Thƣơng lang đục, có thể rửa chân). Hát xong, lão chài chèo ghe đi, Khuất Nguyên buồn bã, gieo mình xuống sông Mịch La tự trầm.

343

Ngày nay là động, biết đâu hôm khác là tĩnh, Năm nay là phải, mà năm trƣớc là sai. Bóng trăng lạnh soi gác núi làm bóng hoa gầy guộc, Mƣa rơi thấm ƣớt chân trời khiến màu cỏ tốt tƣơi. Trong mơ ta thấy có ngƣời đàn ông đến hỏi ta: Sao ngƣơi chẳng chịu ngừng tâm cơ lại? Dịch thơ: Tờ mờ cảnh sắc lối sông mê, Chèo quế thuyền lan, cố quốc về. Ngày ấy động, hay hôm khác tĩnh, Năm nay phải, biết trƣớc đây mê. Đài cao trăng lạnh, hoa gầy quá, Vách núi mƣa dầm, cỏ tốt ghê! Mộng thấy trƣợng nhân cƣời hỏi tớ: Sao ngƣơi chẳng chịu lắng lòng đi? 138. 6. 一別燕京遠敝廬 幾囘南望憶琴書 心清湘水長天共 骨瘐衡山太古如 潔抹雪堤畱月白 密籠煙樹補秋疎 閒觀不盡風光好 來興仙槎樂有餘 Nhất biệt Yên kinh viễn tệ lƣ, Kỵ hồi nam vọng ức cầm thƣ. Tâm thanh Tƣơng thuỵ trƣờng thiên cộng, Cốt sấu Hoành sơn thái cổ nhƣ. Khiết mạt tuyết đê lƣu nguyệt bạch, Mật lung yên thụ bổ thu sơ. Nhàn quan bất tận phong quang hảo, Lai hứng tiên tra lạc hữu dƣ. Dịch nghĩa: Vừa từ biệt Yên kinh, rời xa căn nhà nát, Mấy lần ngoảnh nhìn phƣơng nam, nhớ đàn sách. Tấm lòng trong sạch tựa dòng sông Tƣơng chảy mãi với trời, Thân gầy nhƣ Hoành sơn thời thái cổ. Đê phủ tuyết trắng nhƣ để giữ ánh sáng của trăng, Khói phủ dày ở hàng cây nhƣ thêm cho vẻ tiêu sơ của mùa thu. Nhìn xem cảnh sắc vô cùng tƣơi tốt, Hứng thú đến với thuyền sứ, niềm vui có thừa. Dịch thơ: Yên kinh từ giã, biệt nhà lan, Ngóng mãi trời Nam nhớ sách đàn. Thân ốm Hoành sơn dƣờng thái cổ,

Lòng thanh Tƣơng thuỷ với trời hoang. Bờ đê tuyết phủ, lƣu trăng sáng, Cây cối thu về, vá khói loang. Bát ngát cảnh quang ta ngắm thoả, Bè tiên hứng đến thú vui tràn! 139. 7. 萬里風塵一腐儒 謀身却笑杞人愚 遊窮天外烏何有 思入雲中淡欲無 草木尙知分楚越 衣冠不覺變唐虞 休論世事多翻覆 喜得歸帆酒自娛 Vạn lý phong trần nhất hủ nho, Mƣu thân khƣớc tiếu Kỵ nhân ngu1. Du cùng thiên ngoại ô hà hữu? Tứ nhập vân trung đạm dục vô. Thảo mộc thƣợng tri phân Sở Việt, Y quan bất giác biến Đƣờng Ngu. Hƣu luân thế sự đa phiên phúc, Hỵ đắc quy phàm tửu tự ngu. Dịch nghĩa: Gió bụi muôn dặm đƣờng một lão hủ nho, Cƣời chuyện lo cho thân mình nhƣ ngƣời ngu nƣớc Kỵ. Đi khắp ngoài trời đất, đâu là quê hƣơng? Tứ vút vào mây, lòng thanh nhƣ chẳng còn ham muốn. Đến cỏ cây còn biết phân ranh giới đất Sở với đất Việt, Áo mão chẳng hay đã thành thuở Nghiêu Thuấn. Đừng bàn việc đời nhiều sự tráo trở, Mừng đƣợc trở về có rƣợu lấy làm vui. Dịch thơ: Một lão nho tồi giữa gió sƣơng, Cƣời thân ngƣời Kỷ ngốc nhƣ thƣờng. Mây ngàn gửi tứ, lòng thanh thản, Trời đất dạo cùng, đâu cố hƣơng? Áo mão nào hay thời thịnh trị, Cỏ cây còn biết cõi biên cƣơng. Sự đời tráo trở xin đừng nói, Mừng đặng ngày về rƣợu ngát hƣơng. 140. 8. 1 Kỵ nhân ngu: ngƣời nƣớc Kỵ ngu. Xuất ý câu Kỵ nhân ƣu thiên (ngƣời Kỵ lo trời) trong sách Liệt tử. Có ngƣời nƣớc Kỵ cứ lo trời sập không biết mình sẽ sống ở đâu. Ở đây Ngô Nhân Tĩnh có ý cho rằng mình không có ý lo cho thân mình, đó chỉ là lo chuyện vô ích.

344

玉 樹 凋 零 葉 滿 溪 惱 人 愁 色 晚 寒 凄 百 年 心 聽 尼 山 鳳 半 夜 鄰 鳴 祖 逖 雞 去 國 客 愁 爲 有 命 離 鄉 詩 愛 作 無 題 吟 成 忽 憶 池 塘 柳 月 色 溶 溶 院 落 西 Ngọc thụ điêu linh diệp mãn khê,1 Não nhân sầu sắc vãn hàn thê. Bách niên tâm thính Ni Sơn phụng,2 Bán dạ lân minh Tổ Địch kê.3 Khứ quốc khách sầu vi hữu mệnh, Li hƣơng thi ái tác vô đề. Ngâm thành hốt ức trì đƣờng liễu, Nguyệt sắc dung dung viện lạc tây. Dịch nghĩa: Cây hoè điêu tàn, lá rụng đầy khe, Trời chiều lạnh lẽo khiến lòng ngƣời sầu theo. Trăm năm lòng lắng nghe tiếng phụng nơi núi Ni, Nửa đêm nghe tiếng gà Tổ Địch gáy ở nhà bên. Rời đất nƣớc lòng khách sầu, vì có mệnh phải tuân, Xa quê hƣơng nên thích làm thơ không đề. Ngâm thơ xong chợt nhớ liễu bờ ao, Ánh trăng sáng vằng vặc lặn xuống trời tây. Dịch thơ: Ngọc thụ điêu tàn, lá ngập khe, Chiều thu lạnh lẽo, xót xa hề! Trăm năm lòng lắng Ni Sơn phụng, Khuya khoắt dƣờng vang Tổ Địch kê. Rời nƣớc khách sầu, vì có mạng, Xa quê thơ thích viết vô đề. Ngâm xong chợt nhớ trì đƣờng liễu, Bóng nguyệt bàng hoàng xế cõi tê (tây). 141. 9. 羨爾山居分外佳 春風秋月滿衿懷 慣從天際栖雲鶴

1 Ngọc thụ: cây ngọc. Theo Từ nguyên, ngọc thụ tức cây hoè. Thời nhà Tuỳ, nhà Đƣờng đều gọi cây hoè là ngọc thụ. 2 Ni Sơn: núi Ni, cũng chính là gò Ni (Ni Khâu), núi ở cách huyện Khúc Phụ, Sơn Đông về phía đông nam sáu mƣơi dặm. Thúc Lƣơng Ngột cùng Nhan thị sinh Khổng Tử ở Ni Khâu nên đặt tên cho ông là Khâu, tự là Trọng Ni. 3 Tổ Địch: ngƣời đất Phạm Dƣơng, đời Tấn, tự Sĩ Nhã, thời Nguyên đế, làm thứ sử Dự Châu, lúc vƣợt sông gõ chèo thề rằng: không lấy đƣợc Trung Nguyên thề không trở lại sông này. Bộ binh đánh nhau cầm cự với quân Thạch Lặc, từ sông Hoàng Hà trở xuống phía nam đều là đất thuộc nhà Tấn. Ngày ông mất, quan quân Dự Châu để tang ông nhƣ bậc cha mẹ.

不見人間當道豺 四壁未曾留耳聽 十年今始得心齋 亭舟坐愛閒中趣 古岸楓紅水綠涯 Tiện nhĩ sơn cƣ phân ngoại giai, Xuân phong thu nguyệt mãn khâm hoài. Quán tùng thiên tế thê vân hạc, Bất kiến nhân gian đáng đạo sài.4 Tứ bích vị tằng lƣu nhĩ thính, Thập niên kim thuỵ đắc tâm trai. Đình chu toạ ái nhàn trung thú, Cổ ngạn phong hồng thuỵ lục nhai. Dịch nghĩa: Muốn đƣợc ở trong núi non tách biệt với ngoài trần thế, Gió xuân, trăng thu căng đầy ngực áo. Cánh hạc bay suốt cả vùng trời đỗ ở chân mây, Chẳng thấy loài lang sói cản đƣờng giữa nhân gian nữa. Bốn vách chƣa từng để tai vào nghe, Mƣời năm rồi nay mới đƣợc lòng thanh tịnh. Trong thuyền thích ngồi trong yên lặng, Bên bờ xƣa phong đỏ rợp, dòng sông nhuộm xanh cả chân trời. Dịch thơ: Lòng vui non núi ẩn cƣ thay, Xuân gió, thu trăng, ngực áo đầy. Bát ngát trời mây vui cánh hạc, Bao la trần thế, sạch lang sài. Mƣời năm mới đƣợc tâm thanh tịnh, Bốn vách chƣa từng để lọt tai. Thuyền đỗ, thích ngồi trong vắng lặng, Bờ xƣa phong đỏ, nƣớc xanh mây. 142. 10. 歸棹茫然遠客來 滿湖風月作良媒 煙波尚待公侯釣 舟楫當爲宰相才 開盡鄉心秋後菊 夢回春色臘前梅 別離自古多如我 莫聽城頭畫角哀 Quy trạo mang nhiên viễn khách lai, Mãn hồ phong nguyệt tác lƣơng mai (môi). Yên ba thƣợng đãi công hầu điếu, Chu tiếp đƣơng vi tể tƣớng tài. 4 Đáng đạo sài: Theo Từ nguyên có nghĩa là ngƣời cầm quyền bính. Sách Hậu Hán thƣ có câu: “Sài lang đáng đạo, an vấn hồ li” (sói chắn đƣờng, sao hỏi chồn?) chỉ việc Lƣơng Ký chấp chính.

345

Ta thƣờng mong trí nhƣ dòng nƣớc trôi mãi không ngừng, Cũng thƣờng dƣỡng đức nhân nhƣ ngọn núi bất động. Nào phải ở triều mới là ngƣời yêu nƣớc, Dẫu nơi chân trời góc biển cũng vẫn là bầy tôi trung. Dịch thơ: Ngàn vàng khó chuộc sắc xuân xƣa, Hồ hải phong trần, thấu lẽ chƣa? Chợt nhớ thƣơng cây, ngàn dặm cách, Chớ thiêu phiền não, một xe vừa. Thƣờng mong trí, nƣớc không ngừng chảy, Tĩnh dƣỡng nhân, non vẫn đứng trơ. Đâu cứ giữa triều là ái quốc, Chân trời góc bể vẫn tôi thừa. Xuân sắc thời xƣa vàng khó chuộc, Phong trần hồ hải lẽ chƣa thông. Ngàn cây thƣơng nhớ tình muôn dặm, Phiền não đem thiêu củi một lồng. Mong trí nhƣ sông hằng chảy mãi, Dƣỡng nhân tựa núi giữa bầu không. Hẳn đâu yêu nƣớc khi triều nội? Góc biển chân trời dạ vẫn trung. 144. 12. 局 罷 征 誅 勝 負 分 乘 槎 萬 里 答 明 君 還 憐 過 甲 丁 年 苦 更 憶 衣 冠 乙 夜 勤 去 日 恐 多 離 窟 兔 歸 時 喜 盡 負 山 蚊 莫 嫌 艇 小 難 容 膝 河 岳 高 深 異 所 聞 Cục bãi chinh tru thắng phụ phân, Thừa tra vạn lý đáp minh quân. Hoàn liên quá giáp đinh niên khổ, 1 Cánh ức y quan ất dạ cần.2 Khứ nhật khủng đa li quật thố, Quy thời tận hỵ phụ sơn văn. Mạc hiềm đĩnh tiểu nan dung tất, Hà nhạc cao thâm dị sở văn. Dịch nghĩa: Cuộc chiến chinh đã dứt, thắng thua đã định, Cỡi thuyền đi muôn dặm đền đáp ơn vua. Còn thƣơng nhớ nỗi khổ binh đao năm ấy, Lại càng nhớ mối tình áo mão ân cần.

Khai tận hƣơng tâm thu hậu cúc, Mộng hồi xuân sắc lạp tiền mai. Biệt li tự cổ đa nhƣ ngã, Mạc thính thành đầu hoạ giốc ai. Dịch nghĩa: Mái chèo của ngƣời khách xa quẫy nƣớc trong cõi mịt mờ, Khắp sông hồ trăng thanh gió mát làm bà mai mối. Khói sóng sông hồ còn đợi ngƣời công hầu về buông câu, Mái chèo đáng nên làm tài tể tƣớng. Nở hết lòng quê chính là đóa cúc sau mùa thu, Mơ về cảnh xuân sắc ấy đóa mai vàng trƣớc tháng chạp. Xa cách xƣa nay phần nhiều đều nhƣ ta, Chớ nghe tiếng tù và buồn bã vang ở đầu thành. Dịch thơ: Viễn khách khua chèo, bát ngát thay, Đầy hồ trăng gió ấy làm mai. Buông câu khói sóng, công hầu đợi, Lèo lái thuyền kia, tể tƣớng tài. Nở hết lòng quê đôi khóm cúc, Mộng về xuân sắc đoá hoa mai. Xƣa nay xa cách ta cùng phận, Tiếng sáo đầu thành chớ lắng tai. 143. 11. 萬金難買舊時春 湖海風塵未了因 乍憶相思千里樹 漫燒煩惱一輿薪 水無凝滯長懷智 山不遷移靜養仁 豈獨在朝能愛國 天涯海角亦人臣 Vạn kim nan mãi cựu thời xuân, Hồ hải phong trần vị liễu nhân. Sạ ức tƣơng tƣ thiên lý thụ, Mạn thiêu phiền não nhất dƣ tân. Thuỵ vô ngƣng trệ trƣờng hoài trí, Sơn bất thiên di tĩnh dƣỡng nhân. Khởi độc tại triều năng ái quốc, Thiên nhai hải giác diệc nhân thần. Dịch nghĩa: Muôn ngàn vàng cũng khó mua đƣợc mùa xuân xƣa, Dầu dãi phong trần nơi hồ biển vẫn chƣa hiểu thấu lẽ đời. Chợt nhớ cây ngàn ngàn dặm thƣơng nhau, Đừng đốt phiền não một xe củi.

1 Hai câu này có lẽ nhắc việc mùa xuân năm Đinh tỳ, 1797, nhân tiết Vạn thọ, ban áo cho các quan theo thứ bậc, và năm nay cũng là năm chiến trận rất khốc liệt. 2 Ất dạ: tức canh hai nửa đêm, khoảng 10 giờ tối.

346

Ngày rời nƣớc lo sợ nhƣ thỏ rời khỏi hang, Lúc trở về vui mừng tựa muỗi mòng vác đƣợc núi non. Đừng chê con thuyền nhỏ khó dung chân, Núi sông cao rộng khác với những điều mình nghe. Dịch thơ: Cuộc cờ đã vãn thắng thua phân, Vạn lý bè giong, báo thánh quân. Còn nhớ năm nào chinh chiến khổ, Thêm thƣơng đêm ấy áo xiêm cần. Ngày đi, thỏ sợ rời hang tựa, Trở lại, mòng vui vác núi bằng. Chớ ngại thuyền con không đủ chỗ, Kỳ thay sông núi lạ vô ngần. Chiến trận hơn thua đã tỏ tƣờng, Ơn vua đền đáp, cỡi bè giƣơng. Giáp binh lao khổ năm nao nhớ, Áo mão ân cần buổi ấy thƣơng. Vác núi mòng vui ngày trở lại, Rời hang thỏ sợ buổi lên đƣờng. Chớ hiềm thuyền nhỏ khôn dung gối, Sông núi cao sâu khác lẽ thƣờng. 145. 13. 雪 霽 雲 晴 望 帝 閽 楚 南 一 路 沐 天 恩 江 濱 月 冷 魚 龍 寂 岳 峙 雲 開 虎 豹 尊 水 閣 青 青 松 作 瓦 幽 家 落 落 竹 爲 門 三 浯 石 鏡 留 千 古 靈 鑑 人 間 翰 墨 根 Tuyết tễ vân tình vọng đế hân, Sở nam nhất lộ mộc thiên ân. Giang tân nguyệt lãnh ngƣ long tịch, Nhạc trĩ vân khai hổ báo tôn. Thuỵ các thanh thanh tùng tác ngoã, U gia lạc lạc trúc vi môn. Tam Ngô thạch kính lƣu thiên cổ, Linh giám nhân gian hàn mặc căn. Dịch nghĩa: Mây tan tuyết tạnh nhìn về cõi quê vua, Suốt đƣờng Sở nam đều gội ơn trời. Nơi bến sông, vầng trăng lạnh lẽo, cá rồng yên vắng, Chỗ ngọn núi cao, mây tan hết lộ dáng hổ báo ngồi. Đài gác bên sông có tùng xanh lợp ngói, Nhà vắng lƣa thƣa trúc ken làm cửa. Gƣơng đá ở Tam Ngô còn truyền thiên cổ,

Soi xét ngọn nguồn chuyện văn chƣơng trong cõi đời. Dịch thơ: Xa ngóng quê nhà sạch tuyết mây, Sở nam suốt lối gội ơn dày. Bến sông trăng buốt ngƣ long vắng, Đỉnh núi mây tan hổ báo bày. Khóm trúc lƣa thƣa đan lối ngõ, Bóng tùng ngăn ngắt rợp lâu đài. Tam Ngô gƣơng đá truyền thiên cổ, Soi xét văn từ giữa cõi đây. 146. 14. 遊 人 漫 道 別 離 難 一 片 來 誠 九 有 安 樹 擁 圍 屏 青 岸 際 山 披 圖 畫 白 雲 端 多 愁 去 日 匆 匆 過 無 事 歸 時 仔 細 看 日 暮 停 船 親 友 問 繡 衾 玉 枕 不 禁 寒 Du nhân mạn đạo biệt li nan, Nhất phiến lai thành cửu hữu an. Thụ ủng vi bình thanh ngạn tế, Sơn phi đồ hoạ bạch vân đoan. Đa sầu khứ nhật thông thông quá, Vô sự quy thời tử tế khan. Nhật mộ đình thuyền thân hữu vấn, Tú khâm ngọc chẩm bất câm hàn. Dịch nghĩa: Ngƣời lên đƣờng chớ nói chia li là khó, Một tấm lòng thành thì chín việc đều bình an. Cây cối vây quanh ôm khoảng bờ núi xanh, Núi non khoác bức họa đồ đầu làn mây trắng. Ngày ra đi nhiều ƣu sầu nên đi qua vội vàng, Lúc trở về không còn việc gì mới đƣợc nhìn kỷ càng. Chiều tối dừng thuyền bạn bè ngƣời thân thăm hỏi, Rằng dẫu mặc áo gấm gối gối ngọc cũng chẳng ngăn nổi cái rét căm căm. Dịch thơ: Ngƣời đi chớ nói khó li tan, Một tấm lòng thành, chín việc an. Cây ấp bình phong, che núi biếc, Non choàng tranh vẽ, khoác mây nhàn. Ngày đi sầu lắm, trông vội vã, Lúc lại việc không, ngắm kỹ càng. Chiều tối dừng thuyền, thân hữu hỏi, Áo là gối ngọc, lạnh lồng sang. 147.

347

15. 朝 朝 飛 去 暮 飛 還 語 語 雙 雙 雲 水 間 卻 笑 塵 中 人 役 役 不 如 洲 上 鳥 關 關 欲 酬 雨 露 恩 銘 骨 安 得 神 仙 藥 駐 顏 莫 把 歸 期 燈 下 數 且 看 山 外 更 重 山 Triêu triêu phi khứ mộ phi hoàn, Ngứ ngứ sang sang vân thuỵ gian. Khƣớc tiếu trần trung nhân dịch dịch, Bất nhƣ châu thƣợng điểu quan quan1. Dục thù vũ lộ ân minh cốt, An đắc thần tiên dƣợc trú nhan. Mạc bả quy kỳ đăng hạ số, Thả khan sơn ngoại cánh trùng sơn. Dịch nghĩa: Mỗi sớm bay đi, chiều tối trở về, Hót líu lo giữa cõi nƣớc mây. Lại cƣời cho ngƣời trong cõi trần luôn tất bật, Chẳng bằng con chim trên bờ bãi kêu quan quan. Muốn đáp đền ơn mƣa móc, ghi khắc tận tủy xƣơng, Làm sao đƣợc thuốc tiên mà giữ mãi vẻ trẻ trung. Dƣới ánh đèn chớ đếm ngày trở về, Hãy cứ nhìn xem ngoài núi kia còn có núi trùng trùng. Dịch thơ: Chiều tối quay về, sớm lại bay, Líu lo so cánh giữa sông mây. Cƣời khách tục kia còn bận bịu, Thua cả thƣ cƣu bãi nƣớc dày. Mƣa móc đáp đền ơn khắc cốt, Thuốc tiên khôn giữ vẻ hình hài. Bên đèn chớ đếm ngày về nữa, Ngoài núi kìa xem núi xếp đầy. 148. 16. 漫 想 歸 途 尚 萬 千 濃 愁 空 付 淡 雲 煙 暫 乘 湖 上 船 侯 伯 常 滿 樽 中 酒 聖 賢 堤 柳 細 腰 新 別 恨 江 梅 瘦 骨 舊 因 緣 歷 嘗 世 事 無 窮 味 且 讀 南 華 第 一 篇

Mạn tƣởng quy đồ thƣợng vạn thiên, Nùng sầu không phó đạm vân yên. Tạm thừa hồ thƣợng thuyền hầu bá, Thƣờng mãn tôn trung tửu thánh hiền. Đê liễu tế yêu tân biệt hận, Giang mai sấu cốt cựu nhân duyên. Lịch thƣờng thế sự vô cùng vị, Thả độc Nam hoa đệ nhất thiên. Dịch nghĩa: Đừng nghĩ rằng đƣờng trở về còn ngàn vạn dặm đƣờng, Mối sầu chan chứa cứ phó mặc cho khói mây làm tan đi. Tạm cho rằng là ngƣời công hầu cỡi thuyền trên sông hồ, Hay nhƣ thánh hiền rƣợu trong chén thƣờng đầy. Liễu nơi bờ đê dáng nhỏ chắc vì nỗi hận chia li mới, Mai mọc bên sông xƣơng gầy hẳn đợi mối duyên xƣa. Việc đời đã trải hết bao mùi vị, Lại đọc chƣơng đầu sách Nam Hoa kinh. Dịch thơ: Chớ nghĩ đƣờng xa cách vạn ngàn, Sầu dâng phó mặc khói mây giăng. Trên hồ thuyền lƣớt nhƣ hầu bá, Trong chén rƣợu tràn ấy thánh nhân. Đê liễu vóc gầy, thêm hận biệt, Mai sông xƣơng xẩu, nhớ duyên trần. Chuyện đời từng trải bao mùi vị, Lại đọc Nam Hoa dƣỡng tính chân. 149. 17. 試 以 鹽 梅 鼎 鼐 調 宦 途 方 覺 海 同 遙 獨 憐 山 色 文 章 老 多 悟 花 顏 粉 黛 嬌 遠 望 雲 愁 秋 淡 淡 孤 眠 雨 恨 夜 蕭 蕭 灘 聲 醒 起 鄉 關 夢 客 意 天 心 兩 寂 寥 Thí dĩ diêm mai đỉnh nãi điều, Hoạn đồ phƣơng giác hải đồng diêu. Độc liên sơn sắc văn chƣơng lão, Đa ngộ hoa nhan phấn đại kiều. Viễn vọng vân sầu thu đạm đạm, Cô miên vũ hận dạ tiêu tiêu. Than thanh tỉnh khởi hƣơng quan mộng, Khách ý thiên tâm lƣỡng tịch liêu. Dịch nghĩa: Thử đem mai và muối bỏ vào vạc mà hoà,

1 Câu này xuất ý từ trong Kinh thi: Quan quan thƣ cƣu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.

348

thƣơng giang

Chớ khen chuyện Tiêu Hà, Tào Sâm khác đời nhƣng vẫn làm theo, Đáng ƣa thay tình bạn một lòng một dạ của Quản Trọng và Bão Thúc Nha. Mây sớm ra khỏi núi giăng ngang cây ngàn, Chim chiều bay về tổ mang theo khói lạnh. Trên sông xanh có trăng trong gió mát, Chợt nhớ năm nao thuyền chở đầy rƣợu thịt. Dịch thơ: Thuyền nhảy nhƣ rồng giỡn với mƣa, Quảng Đông xuân đến, cỏ nhƣ xƣa. Tiêu, Tào chuyện cũ, xin đừng nhắc, Quản, Bão giao tình, thật đáng ƣa. Mây sớm rời non, giăng lối thẳm, Chim chiều về tổ, đẫm sƣơng thƣa. Trăng thanh gió mát trên sông biếc, Chợt nhớ năm nao rƣợu thịt thừa. 151. 19. 虎門乍入士心豪 寸舌鋼啣百鍊刀 知是燕庭能錫土 敢誇越國慣征袍 五湖風月閒蕭洒 萬里江山解鬱陶 歸棹忽聞吹玉笛 江城一曲白雲高 Hổ Môn sạ nhập sĩ tâm hào, Thốn thiệt cƣơng hàm bách luyện đao. Tri thị Yên đình năng tích thổ, Cảm khoa Việt quốc quán chinh bào. Ngũ hồ phong nguyệt nhàn tiêu sái, Vạn lý giang sơn giải uất đào. Quy trạo hốt văn xuy ngọc địch, Giang thành nhất khúc bạch vân cao. Dịch nghĩa: Vừa vào đến Hổ Môn, lòng kẻ sĩ hào sảng, Một tấc lƣỡi cứng nhƣ gang, sắc tựa đao trăm lần mài. Biết triều đình đất Bắc, là nơi đất thép, Khá khen cho nƣớc Việt quen việc mặc áo chiến chinh. Trăng gió ngũ hồ nhàn nhã làm tiêu sái cõi lòng, Núi sông muôn dặm làm tan hết nỗi sầu muộn. Quay mái chèo trở về, chợt nghe tiếng sáo ngọc trổi lên, Một khúc nhạc làm cao cả làn mây trắng nơi giang thành. Dịch thơ: Hổ Quan vừa đến, sĩ tâm hào, Tấc lƣỡi đầy gang, sắc tựa đao.

Mới biết con đƣờng làm quan xa vời tựa biển cả. Riêng thƣơng cho sắc núi già nhƣ chuyện văn chƣơng, Thƣờng hiểu vẻ hoa đẹp nhƣ son phấn thiếu nữ điểm trang. Xa xa nhìn mây buồn, sắc trời thu nhàn nhạt, Giấc ngủ lẻ loi trong mƣa hận, đêm tối đìu hiu. Tiếng sóng bờ sông làm thức giấc mộng quê hƣơng, Ý khách và lòng trời cả hai đều vắng lặng. Dịch thơ: Mai muối thử đem bỏ vạc điều, Đƣờng quan xa tựa biển sông triều. Văn chƣơng, sắc núi, thƣơng già cả, Mày phấn, môi hoa, biết mỹ miều. Xa ngóng mây sầu, thu quạnh quẽ, Giấc buồn mƣa hận, tối đìu hiu. Sóng bờ vỗ thức quê hƣơng mộng, Ý khách lòng trời cũng tịch liêu. 150. 18. 沛爾升騰得雨蛟 春囘銅柱舊分茅 漫誇異代蕭曹事 可愛同心管鮑交 遠樹朝橫雲出岫 寒煙晚帶鳥歸巢 風清月白滄江上 忽憶當年載酒肴 Bái nhĩ thăng đằng đắc vũ giao, Xuân hồi đồng trụ1 cựu phân mao. Mạn khoa dị đại Tiêu Tào sự2, Khả ái đồng tâm Quản Bão giao3. Viễn thụ triêu hoành vân xuất tụ, Hàn yên vãn đới điểu quy sào. Phong thanh nguyệt bạch thƣợng, Hốt ức đƣơng niên tái tửu hào. Dịch nghĩa: Thuyền nhảy vọt lên nhƣ rồng đƣợc mƣa, Xuân về nơi trụ đồng (chỉ Quảng Đông) cỏ tranh mọc nhƣ xƣa. 1 Đồng trụ: cột đồng. Lâm ấp ký chép: Mã Viện trồng hai cây trụ đồng ở nam giới Tƣợng Lâm để chia ranh giới với nƣớc Tây Đồ. Các thuyết xƣa nói rằng, nay nằm ở mé tây huyện Khâm tỉnh Quảng Đông. Còn Tƣợng Lâm là vùng đất Thuận Hoá của nƣớc An Nam (Việt Nam ta). Ở đây Trịnh Hoài Đức cũng nhƣ Ngô Nhân Tĩnh đều nói đến cột đồng do Mã Viện dựng ở Quảng Đông. 2 Tiêu, Tào: tức Tiêu Hà, Tào Sâm. Có câu Tiêu quy Tào tuỳ, tức Tiêu Hà đời trƣớc chế tác pháp lệnh, Tào Sâm đời sau vẫn tuân theo pháp lệnh. (Theo Từ nguyên) 3 Quản, Bão: tức Quản Trọng và Bão Thúc Nha, hai ông là bạn thân thiết tri âm của nhau.

349

Rƣợu cạn đêm tàn, hƣơng đã lụn, Đuổi cơn ma ngủ, dậy pha trà. 153. 21. 南望長安落日斜 紛紛細雨點如麻 鄉心不盡灘聲亂 客眼無窮樹影遮 難買醉人千日酒 易開愁菊兩秋花 十年前笑謀身拙 何事多端畫足蛇 Nam vọng Trƣờng An lạc nhật tà, Phân phân tế vũ điểm nhƣ ma. Hƣơng tâm bất tận than thanh loạn, Khách nhãn vô cùng thụ ảnh già. Nan mãi tuý nhân thiên nhật tửu, Dị khai sầu cúc lƣỡng thu hoa, Thập niên tiền tiếu mƣu thân chuyết, Hà sự đa đoan hoạ túc xà.4 Dịch nghĩa: Nhìn về phía nam Trƣờng An, mặt trời nghiêng bóng, Mƣa nhỏ mịt mờ nhƣ hạt mè bay. Lòng nhớ quê hƣơng cùng tiếng sóng bờ sông vỗ loạn, Tầm mắt khách bị che bởi hàng cây vô cùng. Rƣợu khiến ngƣời uống say cả ngàn bữa khó mà mua đƣợc, Đoá cúc sầu rũ hai mùa thu thì cũng dễ nở hoa. Tự cợt mƣời năm trƣớc việc mƣu thân vụng về, Việc gì phải lắm chuyện vẽ rắn thêm chân? Dịch thơ: Nam Trƣờng An ngóng, bóng chiều tà, Mƣa rắc nhƣ mè, hạt hạt sa. Dào dạt lòng quê, bờ sóng loạn, Mênh mông mắt khách, bóng cây nhoà. Rƣợu say ngàn bữa, khôn mua đƣợc, Cúc úa hai mùa, dễ nở hoa. Tự cợt mƣời năm ta vụng dại, Thêm chân cho rắn, cớ sao a?!

Dẫu biết Yên đình nơi đất thép, Khen cho Việt quốc mặc chinh bào. Ngũ hồ trăng gió lòng tiêu sái, Vạn lý non sông giãi nỗi sầu. Vẫy nƣớc chèo khua lồng tiếng địch, Giang thành một khúc trắng mây cao. 152. 20. 歸去來兮倚棹歌 古今勝景兩番過 水憐清淡無嫌遠 山愛高奇不厭多 一帶江寒懷楚客 三更明月憶秦娥 夜闌酒盡香鑪燼 生火烹茶逐睡魔 Quy khứ lai hề ỵ trạo ca,1 Cổ kim thắng cảnh lƣỡng phiên qua. Thuỵ liên thanh đạm vô hiềm viễn, Sơn ái cao kỳ bất yếm đa. Nhất đới hàn giang hoài Sở khách,2 Tam canh minh nguyệt ức Tần nga.3 Dạ lan tửu tận hƣơng lƣ tẫn, Sinh hoả phanh trà trục thuỳ ma. Dịch nghĩa: Dựa chèo hát khúc “quy khứ lai hề” (hãy về đi thôi), Cảnh đẹp xƣa nay đã hai lần nhìn ngắm. Ta thích sông thanh đạm nên chẳng ngại đi xa, Lại ƣa núi non cao lạ nên chẳng chán nhiều. Một dải sông lạnh lẽo khiến ta thƣơng ngƣời khách nƣớc Sở (Khuất Nguyên), Ba canh trăng sáng làm ta nhớ đến cô gái đất Tần (Hằng Nga). Đêm đã tàn, rƣợu đã hết, lò hƣơng cũng lụn, Nhuốm lửa pha trà uống để xua cơn buồn ngủ. Dịch thơ: Quẫy chèo ta hát “Hãy về a!”, Cảnh đẹp hai lần thoả ngắm qua. Thích núi cao vời, đâu chán lắm, Ƣa sông thanh đạm, chẳng hiềm xa. Gái Tần, trăng sáng thêm nhung nhớ Khách Sở, sông thu luống xót xa. 1 Quy khứ lai hề: một bài từ nổi tiếng của Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) đời Tấn. 2 Sở khách: chỉ Khuất Bình (Khuất Nguyên) ngƣời nƣớc Sở, bị vua ruồng bỏ, buồn bã vì nỗi cô trung, ông nhảy xuống sông Mịch La tự trầm. 3 Tần nga: tức Hằng Nga, còn gọi Thƣờng Nga, vốn ngƣời đất Tần, lấy Hậu Nghệ, tƣơng truyền, nàng ngửi trộm thuốc tiên của Tây Vƣơng Mẫu cho chồng mình nên cơ thể trở nên nhẹ nhàng bay đến cung trăng. Thơ Lý Thƣơng Ẩn có câu: “Thƣờng Nga ƣng hối thâu linh dƣợc, Bích hải thanh thiên dạ dạ tâm” (Thƣờng Nga hối trộm thuốc tiên, Trời xanh biển biếc đêm đêm tỏ lòng – Trần Trọng San dịch).

4 Hoạ túc xà: vẽ chân cho rắn, xuất từ điển “Hoạ xà thiêm túc” (vẽ rắn thêm chân). Có ngƣời nƣớc Sở cúng tế, ban cho xá nhân một vò rƣợu. Mọi ngƣời nói: Vò rƣợu này một ngƣời uống có thừa, mà nhiều ngƣời uống thì không đủ, hãy vẽ dƣới đất một con rắn, ai vẽ xong trƣớc thì đƣợc uống. Mọi ngƣời cho là phải, có một ngƣời vẽ gần xong con rắn, tay trái chụp lấy vò rƣợu, tay phải vừa vẽ vừa nói, ta có thể vẽ thêm chân cho rắn, vẽ chƣa xong, thì kẻ khác vẽ xong rắn, đoạt lấy vò rƣợu nói: Rắn vốn không có chân, ngƣơi vẽ thêm chân cho rắn, thì không còn là rắn. Nói xong, cầm vò rƣợu mà uống hết. Ngƣời kia vì thêm chân cho rắn mà mất đi vò rƣợu.

350

飄零湖海雙冬冷 顛倒英雄萬里征 去日旌旗今日節 字雖上下亦同名 Nguy nguy thánh vũ tự thiên sinh, Sáng nghiệp trung hƣng nhất cử thành. Án cựu niên đồ phi tại Việt, Canh tân quốc hiệu thị quan Thanh. Phiêu linh hồ hải song đông lãnh, Điên đảo anh hùng vạn lý chinh. Khứ nhật tinh kỳ kim nhật tiết, Tự tuy thƣợng hạ diệc đồng danh2. Dịch nghĩa: Thánh Vũ vòi vọi tự trời giáng sinh, Cử binh dựng nghiệp trung hƣng một trận thành công. Xét thấy cơ đồ năm xƣa không phải chỉ ở đất Việt, Đổi mới hiệu nƣớc lại do nhà Thanh. Ta lƣu lạc nơi sông biển lạnh lẽo đã hai năm, Anh hùng điên đảo nơi xa vạn dặm, Ngày trƣớc mang tinh kỳ nay là cờ tiết, (Quốc hiệu) chữ tuy trên dƣới khác nhau nhƣng cũng cùng một tên. Dịch thơ: Cao vời Thánh Vũ, thật trời sinh, Dựng nghiệp trung hƣng một trận thành. Thuở trƣớc cơ đồ nào ở Việt, Đổi thay quốc hiệu ấy do Thanh. Phiêu linh hồ hải, hai đông lạnh, Điên đảo anh hùng, vạn dặm xanh. Ngày trƣớc tinh kỳ nay tiết việt, Chữ tuy trên dƣới cũng cùng danh. 156. 24. 那能物我兩忘形 百感心頭未肯寧 枝弱薔薇逢夏老 節堅松栢入冬青 一番春雨花間夢 幾度秋風酒後醒 半掩蓬窓斜日影 蘆花萍水小舟停 Na năng vật ngã lƣỡng vong hình, Bách cảm tâm đầu vị khẳng ninh. Chi nhƣợc tƣờng vi phùng hạ lão, Tiết kiên tùng bách nhập đông thanh. Nhất phiên xuân vũ hoa gian mộng, Kỵ độ thu phong tửu hậu tinh.

154. 22. 舟中習靜養微陽 保得身强謁帝王 樹影依稀楓陛影 天香彷彿御鑪香 錦屏冬靄葡萄綠 玉帳春深琥珀光 遠送歸帆風拂拂 計程指日到仙鄉 Chu trung tập tĩnh dƣỡng vi dƣơng, Bảo đắc thân cƣờng yết đế vƣơng. Thụ ảnh y hy phong bệ ảnh, 1 Thiên hƣơng phảng phất ngự lô hƣơng. Cẩm bình đông ái bồ đào lục, Ngọc trƣớng xuân thâm hổ phách quang. Viễn tống quy phàm phong phất phất, Kế trình chỉ nhật đáo tiên hƣơng. Dịch nghĩa: Trong thuyền ta tập tĩnh dƣỡng chút khí dƣơng, Để giữ đƣợc sức khoẻ mạnh mẽ khi gặp lại vua. Bóng cây thƣa thớt kia là bóng nơi thềm phong (chỉ triều đình), Hƣơng trời phảng phất là hƣơng thơm của lò hƣơng ở cung điện. Mùa đông nơi màn gấm đƣợc thƣởng thức rƣợu bồ đào, Mùa xuân nơi trƣớng ngọc đƣợc ban chén hổ phách. Đƣa tiễn cánh buồm xa về quê là từng ngọn gió lồng lộng, Tính ngày về theo bóng nắng đến quê hƣơng. Dịch thơ: Trong thuyền tĩnh toạ dƣỡng âm dƣơng, Thân giữ khang cƣờng gặp đế vƣơng. Phơn phớt bóng cây, dƣờng điện tía, Ngạt ngào hƣơng lạ, tƣởng lƣ vàng. Cẩm bình đông thƣởng bồ đào tửu, Ngọc trƣớng xuân ban hổ phách quang. Đƣa tiễn thuyền ta, từng ngọn gió, Đếm ngày thẳng tiến, đến quê hƣơng. 155. 23. 魏魏聖武自天生 創業中興一舉成 按舊年圖非在越 更新國號是觀清 1 Phong bệ: thềm phong, cũng nhƣ nói “phong thần” 楓宸, đều là chỉ triều đình. Trong cung điện nhà Hán trồng nhiều loại cây phong, vì thế có tên ấy.

2 Đây chỉ việc cầu phong quốc hiệu, ta lấy tên là Nam Việt, nhƣng nhà Thanh e ngại, đổi hiệu là Việt Nam.

351

Bán yểm bồng song tà nhật ảnh, Lƣ hoa bình thuỵ tiểu chu đình. Dịch nghĩa: Nào ai có thể quên đi bản ngã và ngoại vật, Nên trăm niềm tâm sự vẫn chƣa chịu lắng im. Cành tƣờng vi yếu ớt gặp tiết hạ oi nồng, Cội tùng bách cứng rắn vẫn xanh trong mùa đông. Một giấc mộng trong hoa và mƣa xuân, Mấy lần tỉnh sau bữa rƣợu trong gió thu. Cửa bồng nửa khép hờ, mặt trời xế bóng, Một chiếc thuyền con đỗ trong bèo tím và hoa lau. Dịch thơ: Vật ngã cùng quên, chuyện khó tày! Tâm tình trăm mối chửa yên thay. Tiết dày tùng bách, đông thêm sắc, Thân mỏng tƣờng vi, hạ luống gầy. Một trận mƣa xuân, hoa lẫn mộng, Bao phen gió rét, tỉnh vùi say. Cửa bồng nửa khép, chiều nghiêng bóng, Thuyền nhỏ bèo lau ghé chốn này. 157. 25. 白蘋紅蓼碧波澄 晚泊歸舟待月升 山樹風斜疎影散 江梅雪冷暗香凝 心酸已被詩媒苦 情重應沽酒價增 幾度凄凉閒欲話 夏蟲難共語寒冰 Bạch tần hồng liệu bích ba trừng, Vãn bạc quy chu đãi nguyệt thăng. Sơn thụ phong tà sơ ảnh tán, Giang mai tuyết lãnh ám hƣơng ngƣng. Tâm toan dĩ bị thi môi khổ, Tình trọng ƣng cô tửu giá tăng. Kỵ độ thê lƣơng nhàn dục thoại, Hạ trùng nan cộng ngữ hàn băng. Dịch nghĩa: Cỏ hồng, tần trắng, sóng xanh lắng trong, Buổi chiều thuyền về đỗ, đợi trăng lên. Cây rừng bị gió thổi nghiêng, bóng cây thƣa thớt, Hàng mai bên sông trong tuyết lạnh, nhƣ ngƣng toả hƣơng. Lòng ta buồn đã bị nàng thơ làm khổ, Tình nghĩa sâu nặng nên chắc giá rƣợu tăng. Mấy độ lạnh lùng ta muốn định nói, Nhƣng tiếng trùng mùa hè khó nói cùng giá băng.

Dịch thơ: Cỏ hồng tần trắng, sóng xanh trong, Thuyền muộn về ngơi, đợi nguyệt lồng. Cây núi gió tà, thƣa bóng ngả, Mai sông tuyết lạnh, thoáng hƣơng đông. Lòng buồn đã kín, nàng thơ khổ, Tình nặng vừa đong, giá rƣợu bồng. Mấy độ thê lƣơng hòng định nói, Trùng hè khó thấu tiếng lòng đông! 158. 26. 江流不盡古今愁 總爲浮生世網留 脫俗未酣莊子夢 謀身何用杞人憂 兩年客對三更月 萬里山寒一色秋 日日舟中無個事 每將詩酒對浮鷗 Giang lƣu bất tận cổ kim sầu, Tổng vị phù sinh thế võng lƣu. Thoát tục vị hàm Trang tử mộng, Mƣu thân hà dụng Kỵ nhân ƣu.1 Lƣỡng niên khách đối tam canh nguyệt, Vạn lý sơn hàn nhất sắc thu. Nhật nhật chu trung vô cá sự, Mỗi tƣơng thi tửu đối phù âu. Dịch nghĩa: Dòng sông trôi mãi nỗi sầu xƣa nay, Chỉ còn kiếp sống trôi nổi trong cái lƣới cuộc đời. Bảo là thoát tục, nhƣng còn chƣa say mộng nhƣ Trang Tử, Nếu là lo cho thân mình thì cần gì nỗi lo của ngƣời nƣớc Kỵ. Hai năm làm khách bạn cùng trăng đêm, Vạn dặm non núi lạnh lẽo hoà trong màu thu. Ngày ngày trong thuyền ta chẳng có việc gì, Đành mang thơ rƣợu bạn cùng lũ cò. Dịch thơ: Sông trôi bất tận cổ kim sầu, Giữa lƣới đời còn kiếp nổi trôi. Thoát tục chƣa say Trang Tử mộng, Mƣu thân nào sá Kỷ nhân rầu. Hai năm khách với ba canh nguyệt, Vạn dặm non hoà một sắc thu. Sớm sớm giữa thuyền ta rảnh việc, Thì đem thơ rƣợu bạn phù âu. 159. 27. 1 Kỵ nhân ƣu: nỗi lo ngƣời đất Kỵ (đã chú ở trên.)

352

Hành ngâm lƣu thuỵ thi hào động, Toạ đối thanh sơn tửu hứng hàm. Vật ngoại vô cùng nhàn thế giới, Quý vô bán ngữ Tấn thanh đàm. Dịch nghĩa: Ngoài ngôi miếu ở Tiêu Tƣơng đã sạch lắng chƣớng khói, Cỏ cây cao thấp dệt nên một màu xanh thẫm. Ngôi làng bên bờ núi nhuộm hồng trong ánh nắng chiều, Cánh nhạn thu bay giữa trời làm xanh cả dòng sông. Lúc đi thì ngâm nga cùng dòng sông, hứng thơ trào dâng, Lúc ngồi bạn cùng núi xanh, hứng rƣợu nồng nàn. Cảnh vật vô cùng, thế giới an lạc, Thẹn không nửa lời nói cùng Tấn Thanh. Dịch thơ: Tiêu Tƣơng ngoài bến khói mây trong, Cỏ thấp cây cao thắm sắc lồng. Cách bãi làng côi hồng bóng ác, Ngang trời nhạn lẻ biếc dòng sông. Dạo ngâm nƣớc chảy, tình thơ động, Ngồi bạn non xanh, hứng rƣợu nồng. Thế giới vô cùng nhàn khắp cõi, Nửa lời thẹn chuyện Tấn Thanh không. 161. 29. 歸心莫嘆道途淹 古跡名區愛遠瞻 樹擁畫樓圍寶障 澗流碧洞掛晶簾 收回淨土禪機妙 禁得愁城佛法嚴 我既有心聞擊磬 更參色相恐傷廉 Quy tâm mạc thán đạo đồ yêm, Cổ tích danh âu ái viễn chiêm. Thụ ủng hoạ lâu vi bảo chƣớng, Giản lƣu bích động quải tinh liêm. Thu hồi tịnh độ thiền cơ diệu, Cấm đắc sầu thành Phật pháp nghiêm. Ngã ký hữu tâm văn kích khánh, Cánh tham sắc tƣớng khủng thƣơng liêm. Dịch nghĩa: Lòng muốn trở về thì đừng than đƣờng dài xa vời, Những cổ tích danh thắng chỉ thích xa nhìn thôi. Cây ấp lầu hoa, nhƣ bức màn báu vây quanh,

滄浪曲罷椏邊吟 一片樓臺露藹深 山寺寒鐘聲細細 江船明月夜沈沈 幾囘雨酒他鄉淚 兩度花開故國心 車墜良鄉休再道 歸帆十月到湘陰 Thƣơng Lang khúc bãi liễu biên ngâm, Nhất phiến lâu đài lộ ái thâm. Sơn tự hàn chung thanh tế tế, Giang thuyền minh nguyệt dạ trầm trầm. Kỵ hồi vũ sái tha hƣơng lệ, Lƣỡng độ hoa khai cố quốc tâm. Xa truỳ lƣơng hƣơng hƣu tái đạo, Quy phàm thập nguyệt đáo Tƣơng Âm. Dịch nghĩa: Bên rặng liễu ngâm xong khúc Thƣơng Lang, Một dải lầu đài chìm trong sƣơng khói. Tiếng chuông chùa trên núi lạnh lẽo, âm vang khe khẽ, Trăng sáng cả thuyền và sông, đêm lặng chìm. Mấy lần rót rƣợu trong mƣa hoà cùng nƣớc mắt nơi đất khách, Hai phen hoa nở với tấm lòng nhớ quê xƣa. Xe dừng nơi quê khách, xin đừng nói nữa, Cánh buồm trở về quê hƣơng, tháng mƣời mới đến sông Tƣơng Âm. Dịch thơ: Bên liễu ngâm tàn khúc sóng Thƣơng, Lâu đài một mảng nhuộm sƣơng ngàn. Chuông đêm chùa núi âm thoang thoảng, Trăng rọi thuyền sông bóng vấn vƣơng. Mấy bận mƣa tuôn dòng lệ khách, Hai lần hoa nở dạ quê hƣơng. Xứ ngƣời lần lữa xin đừng nhắc, Thuyền đến Tƣơng Âm giữa tiết sƣơng. 160. 28. 潇湘廟外淨雲嵐 草樹高低翠色參 隔岸孤村紅日影 橫空秋鴈碧江涵 行吟流水詩豪動 坐對青山酒興酣 物外無窮閒世界 愧無半語晉清談 Tiêu Tƣơng miếu ngoại tịnh vân lam, Thảo thụ cao đê thuý sắc tham (sâm). Cách ngạn cô thôn hồng nhật ảnh, Hoành không thu nhạn bích giang hàm.

353

Thánh, phàm hiện rõ, gƣơng sông sáng, Di, Hạ phân chia, ải núi mờ. Áo chiếc sƣơng đằm, thông biếc lạnh, Tay thùng gió lộng, trúc xanh lơ. Cảnh hồ nam bắc tuỳ ai vẽ, Quê cũ ta về nhƣ ƣớc mơ. Ngƣời vạn dặm về, thƣ biếng xem, Thuyền tiên nhẹ lƣớt, vƣợt trần phàm. Mịt mờ cửa núi chia Di Hạ, Vằng vặc gƣơng sông rõ thánh, phàm. Trúc biếc gió thu lùa ngực áo, Tùng xanh sƣơng lạnh thấm vai chàm. Sông hồ nam bắc mặc ai vẽ, Một cánh buồm về quê cũ thăm. 163. 咏黎長派侯髮 盛衰不改鉄心肝 報國仍存一髮看 短笑龍山驚落帽 長嗟燕地怒冲冠 幾莖未白黎圖暗 兩鬢空畱滿塞寒 三握知君何以沐 忠臣自有淚波瀾 VỊNH LÊ TRƢỜNG PHÁI HẦU PHÁT Thịnh suy bất cải thiết tâm can, Báo quốc nhƣng tồn nhất phát khan. Đoản tiếu Long sơn kinh lạc mão,1 Trƣờng ta Yên địa nộ xung quan.2 Kỵ hành vị bạch Lê đồ ám, Lƣỡng mấn không lƣu Mãn tái hàn. Tam ác tri quân hà dĩ mộc3, Trung thần tự hữu lệ ba lan. Dịch nghĩa: VỊNH MÁI TÓC CỦA TRƢỜNG PHÁI HẦU HỌ LÊ Dẫu cuộc thịnh suy mà tấm lòng sắt vẫn không đổi, Lòng báo đền đất nƣớc chỉ còn một mái tóc trắng.

Dòng suối chảy trên hang động xanh tựa nhƣ bức màn sao thả xuống. Cơ thiền vi diệu đƣợc đón về tịnh độ. Pháp Phật nghiêm trang, ngăn đƣợc cả thành sầu. Ta đã có lòng nghe tiếng khánh gõ vang, Càng chấp nhặt vào sắc tƣớng, e làm tổn hại đức liêm. Dịch thơ: Lòng về sá kể nỗi gian lao, Cổ tích danh lam cứ ngắm nào. Cây ấp lầu hoa, buông trƣớng báu, Suối trào động biếc, thả màn sao. Đón về cõi tịnh, thiền cơ diệu, Ngăn đƣợc thành sầu, Phật pháp cao. Ta đã một lòng nghe tiếng khánh, E tham sắc tƣớng, hại liêm sao! 162. 30. 萬里歸心莫啟緘 仙舟坐擬出塵函 山門遠近分夷夏 水鑑澄清辨聖凡 翠竹吹寒風滿袖 蒼松冷濕露沾衫 任人描畫湖南北 故國歸余一片帆 Vạn lý quy tâm mạc khải giam, Tiên chu toạ nghĩ xuất trần hàm. Sơn môn viễn cận phân Di Hạ, Thuỵ giám trừng thanh biện thánh phàm. Thuý trúc xuy hàn phong mãn tụ, Thƣơng tùng lãnh thấp lộ triêm sam, Nhậm nhân miêu hoạ hồ nam bắc, Cố quốc quy dƣ nhất phiến phàm. Dịch nghĩa: Tấm lòng nơi xa vạn dặm nay trở về, không cần mở thƣ xem nữa, Ngồi trong thuyền sứ mà ngỡ nhƣ đang vƣợt khỏi cõi trần. Quan ải trên núi xa xa chia hai miền Di, Hạ, Lòng sông sáng nhƣ gƣơng dƣờng phân biệt đƣợc ai thánh, ai phàm. Hàng trúc xanh giữa cơn gió lạnh, gió lùa đầy cả tay áo, Cội thông xanh đằm sƣơng ƣớt lạnh, sƣơng móc ƣớt cả manh áo đơn. Mặc ai vẽ đƣợc cảnh sắc hồ này, Có một cánh buồm đang trở về quê hƣơng. Dịch thơ: Ngƣời vạn dặm về, biếng mở thƣ, Trần gian thuyền lƣớt, nhẹ nhƣ tờ.

1 Sách Tấn thƣ, Mạnh Gia truyện chép: “Ngày mồng chín tháng chín, vua Hoàn Ôn đãi tiệc ở núi Long Sơn, quan lại đều tụ họp, bấy giờ các quan tả lại đều mặc nhung phục, bỗng có trận gió thổi tới, thổi bay chiếc mũ của Gia xuống đất, nhƣng Gia chẳng hay biết gì.” Về sau ngƣời ta dùng điển này để chỉ việc lên núi cao trong ngày trùng cửu. 2 Kinh Kha lúc vào Tần để hành thích vua Tần Thuỵ Hoàng, ông cùng ngƣời đẹp Li Cơ đàn hát để tỏ quyết tâm, những ngƣời đƣa tiễn nghe thấy cảnh tƣợng ấy đều rợn da, tóc dựng lên mũ. Thơ Lạc Tân Vƣơng đời Đƣờng: Thử địa biệt Yên Đan/ Tráng sĩ phát xung quan/ Tích thời nhân dĩ một/ Kim nhật thuỵ do hàn. 3 Tam ác: ba lần vắt tóc.

354

Cƣời cho việc nơi núi Long hoảng sợ rơi cả mũ, Lại than thở việc Kinh Kha tóc giận dựng ngƣợc lên mũ nơi đất Yên. Mấy hàng tóc chƣa bạc, nghiệp nhà Lê đen tối, Hai mái tóc còn đây nhƣ sƣơng lạnh nơi đất bắc. Làm sao tắm đƣợc khi mà ba lần vắt tóc? Nƣớc mắt bậc trung thần luôn có sóng ngàn. Dịch thơ: Thịnh suy chẳng đổi thiết tâm can, Báo quốc còn đây mái tóc khan. Những cợt Long sơn kinh rớt mũ, Luống than Yên địa giận xung quan. Mấy hàng chƣa bạc, cơ Lê tắt, Hai mái còn trơ, ải Bắc hàn. Tóc vắt ba lần khi tắm gội, Trung thần sóng lệ tự man man. 164. 咏武後軍火 休將成敗論危安 一點精誠用火難 八角亭紅忠骨焰 四方煙白賊心寒 冷灰猶熱英雄血 死炭能生戰士肝 不獨棉山三月節 御鑪日日爲勻看 VỊNH VŨ HẬU QUÂN HOẢ Hƣu tƣơng thành bại luận nguy an, Nhất điểm tinh thành dụng hoả nan. Bát giác đình hồng trung cốt diệm, Tứ phƣơng yên bạch tặc tâm hàn. Lãnh khôi do nhiệt anh hùng huyết, Tử thán năng sinh chiến sĩ can. Bất độc Miên sơn tam nguyệt tiết, Ngự lƣ nhật nhật vị quân khan. Dịch nghĩa: VỊNH V HẬU QUÂN TỰ THIÊU Chớ nên đem việc thành và bại để luận anh hùng, Một tấm lòng thành, khó mà dùng lửa để tỏ bày hết. Nơi đình bát giác, ngọn lửa đỏ thiêu xƣơng cốt ngƣời trung, Khói trắng ngùn ngụt bốn phƣơng, làm rợn lòng kẻ giặc. Than lạnh vẫn còn nóng dòng máu anh hùng, Than đen vẫn có thể giục lòng ngƣời chiến sĩ. Chẳng riêng gì nơi núi Miên (núi Gòn) trong ngày lễ tháng ba,

Mà lò hƣơng nơi ngự điện ngày ngày đều tỏa khói nhang. Dịch thơ: Đừng đem thành bại luận an nguy, Một tấc thành tâm, lửa khó bày. Bát giác đình hồng, trung cốt rực, Bốn phƣơng khói trắng, tặc tâm bay. Tro tàn vẫn rực lòng quân sĩ, Than lạnh còn sôi máu tƣớng tài. Nào chỉ Miên Sơn ba tháng tết, Ngày ngày ngự điện khói hƣơng xây. 165. 咏吳禮部酒 酒有如君古未觀 千秋事業一杯乾 醒囘寄托生前重 酣得醇誠死後安 直以香醪酬國易 空畱新麴飲人難 醉中恐失君臣禮 將入黃泉尙整冠 VỊNH NGÔ LỄ BỘ TỬU Tửu hữu nhƣ quân cổ vị quan, Thiên thu sự nghiệp nhất bôi can. Tỉnh hồi ký thác sinh tiền trọng, Hàm đắc thuần thành tử hậu an. Trực dĩ hƣơng giao thù quốc dị, Không lƣu tân khúc ẩm nhân nan. Tuý trung khủng thất quân thần lễ, Tƣơng nhập hoàng tuyền thƣợng chỉnh quan. Dịch nghĩa: VỊNH CHÉN RƢỢU CỦA LỄ BỘ HỌ NGÔ Uống rƣợu nhƣ anh, xƣa nay tôi chƣa từng thấy, Sự nghiệp ngàn thu dốc cạn trong một chén. Khi tỉnh, những lời gởi gắm của ông, lúc còn sống thật to lớn, Lúc say tấm lòng ông vẫn thuần hậu, chết rồi vẫn an nhiên. Đền ơn nƣớc bằng chén rƣợu, ấy cũng dễ, Còn để lại men nồng cho ngƣời ta uống, thật khó thay. Trong cơn say anh vẫn sợ thất lễ vua tôi, Lúc xuống suối vàng vẫn còn sửa áo mũ ngay ngắn. Dịch thơ: Uống rƣợu nhƣ anh hiếm ở đời, Ngàn thu sự nghiệp, một ly thôi! Tỉnh thời phó thác, lời còn nặng, Say vẫn thuần thành, phách hãy ngơi. Báo nƣớc, dễ bằng chung rƣợu đắng, Cho ngƣời, khó để chút men hơi.

355

迎風庭院花爭放 帶雨江湖水急流 癡傼食芹猶遠志 故人莫問再來不 LƢU BIỆT Dung sơ cố tật dƣợc hà cầu? Mỗi sử nhân gian tác thoại đầu. Tôn tửu dị thù tri kỵ ẩm, Phiến ngôn nan vấn vị thân mƣu. Nghênh phong đình viện hoa tranh phóng, Đới vũ giang hồ thuỵ cấp lƣu. Si hán thực cần do viễn chí,1 Cố nhân mạc vấn tái lai phầu!? Dịch nghĩa: LƢU BIỆT Cái tật lƣời biếng của ta, biết tìm thuốc chữa nơi đâu? Thƣờng khiến ngƣời đời làm câu nói đầu môi. Li rƣợu dễ uống cùng ngƣời tri kỵ, Còn lời nói khó hỏi: có vì thân mƣu cầu hay không? Hoa nơi sân đình đón gió xuân tranh nhau nở, Nƣớc sông hồ theo mƣa cuồn cuộn trôi. Gã ngốc ăn rau cần, vẫn có chí hƣớng xa vời, Nên bạn đừng hỏi: ta có trở lại hay không!? Dịch thơ: Biếng lƣời tật cũ, thuốc khôn màu, Thƣờng để ngƣời đời kháo chuyện nhau. Chén rƣợu dễ mời tri kỷ uống, Nửa lời e nói vị thân cầu. Trƣớc thềm gió lộng hoa đua nở, Hồ biển mƣa rào nƣớc cuốn mau. Kẻ dại ăn cần, nuôi chí lớn, Cố nhân đừng hỏi lại về đâu? 186. 丁卯年季秋欽命鍚封高綿國王途經廣義茶 曲江遇洪水駐節龍頭山 行旌遇雨駐龍頭 茶曲滔滔晝夜流 治水昔時猶有道 濟川今日豈無舟

E say thất lễ quân thần lắm, Chín suối đƣờng về mũ chẳng lơi. 184. 乙丑年春日偶成 玉樹春風錦繡香 朝囘微醉倚仙床 日輪近午雲應淡 斗柄迴寅物更光 滿地奇花開富貴 盈箱古史載文章 太平笑我無多策 壽比南山慶聖王 ẤT SỬU NIÊN XUÂN NHẬT NGẪU THÀNH Ngọc thụ xuân phong cẩm tú hƣơng, Triêu hồi vi tuý ỵ tiên sàng. Nhật luân cận ngọ, vân ƣng đạm, Đẩu bính hồi dần, vật cánh quang. Mãn địa kỳ hoa khai phú quý, Doanh tƣơng cổ sử tải văn chƣơng. Thái bình tiếu ngã vô đa sách, Thọ tỵ Nam Sơn khánh thánh vƣơng. Dịch nghĩa: NGÀY XUÂN NĂM ẤT SỬU, NGẪU NHIÊN THÀNH THƠ Cây hoè đƣa hƣơng trong gió xuân, Sáng tỉnh giấc trong cơn say, dựa giƣờng tiên. Mặt trời gần trƣa, mây dƣờng tan mỏng đi, Sao bắc đẩu chuyển sang hƣớng dần, vạn vật tốt tƣơi. Khắp chốn hoa thơm nở phú quý, Đầy rƣơng sách sử cổ chở văn chƣơng. Thời thái bình cƣời cho ta không có nhiều kế sách, Chỉ chúc thánh vƣơng thọ tựa núi Nam. Dịch thơ: Gió ấm cội hoè phô gấm hƣơng, Cơn say chƣa tỉnh, tựa bên giƣờng. Trời xoay sắp ngọ, mây phơn phớt, Sao chuyển qua dần, vật thịnh trƣơng. Khắp chốn kỳ hoa khoe phú quý, Đầy rƣơng cổ sử chở văn chƣơng. Thái bình tự cợt ta vô dụng, Thọ tựa Nam Sơn, chúc thánh vƣơng. 185. 畱別 慵疎痼疾藥何求 每使人間作話頭 樽酒易酬知己飲 片言難問爲身謀

1 Si hán: gã ngốc. Trong sách Tấn thƣ có chép chuyện về Vƣơng Thầm, ngƣời đời Tấn, cả dòng họ đều cho Thầm là kẻ ngốc. Ngƣời cháu con anh ông là Tế, nhân cùng nói chuyện với chú mình về kinh Dịch, mà mổ xẻ đƣợc nhiều vấn đề kỳ diệu, bèn lấy làm lạ. Khi Vũ Đế cho gặp Tế, hỏi rằng: “Ông chú ngốc của khanh khoẻ chứ?”. Tế đáp: “Chú của thần không ngốc”. Hỏi: “Ví nhƣ ai chăng?”. Đáp: “Từ Sơn Đào trở xuống, Nguỳ Thƣ trở lên, đều từ cái ngốc đó mà nổi danh”. Lại ở Bắc sử có chuyện Lý Tập ngƣời Bắc Tề, vì việc can gián vua mình chẳng kiêng dè, mà Văn Tuyên Đế cƣời nói: “Trong thiên hạ còn có kẻ nào ngốc nhƣ thế chăng?”. Rau cần là loại mọc ven bờ nƣớc, ruột rỗng, lại có vị cay. Ở đây tác giả có lẽ mƣợn chuyện trên và với việc ăn rau cần để tỏ ý mình kiên trung, vô tâm.

356

此去已期梅月會 休將杯酒唱陽關 ĐÁP CHƢ HỮU TẶNG BIỆT NGUYÊN VẬN Mãn thành xuân sắc tống chinh an, Bán cú tâm đầu dục thoại nan. Vị tín lâm dân sƣ Tử Sản,1 Cảm tƣơng thị nghĩa hiệu Phùng Hoan.2 Giang sơn hữu ý vân tƣơng tịnh, Thiên địa vô tâm vật tự nhàn. Thử khứ dĩ kỳ mai nguyệt hội, Hƣu tƣơng bôi tửu xƣớng Dƣơng Quan. Dịch nghĩa: ĐÁP LẠI NGUYÊN VẬN BÀI TẶNG BIỆT CỦA CÁC BẠN Khắp thành tràn ngập mùa xuân, bạn tiễn ta đi xa, Nửa câu thật lòng, muốn nói nhƣng khó thay. Chƣa dám tin sẽ yêu dân nhƣ con giống Tử Sản, Nhƣng dám học theo Phùng Hoan mua tiếng nghĩa cho chủ mình. Sông núi có ý, mây sạch làu, Trời đất vô tâm, vạn vật tự thành. Từ đây ra đi, đã hẹn gặp nhau khi mùa mai nở, Đừng đem li rƣợu hát khúc Dƣơng Quan để từ biệt nhau. Dịch thơ: Bạn tiễn ta đi, xuân ngập thành, Nửa lời tâm sự, ngập ngừng quanh. Thƣơng dân Tử Sản, theo chƣa đặng, Mua nghĩa Phùng Hoan, học cũng đành. Hữu ý, non sông, mây lắng tạnh,

靜觀雲色千山暮 閒聽風聲萬木秋 欲速從來多不達 罪甘王命住淹畱 ĐINH MÙI NIÊN QUÝ THU, KHÂM MỆNH TỨ PHONG CAO MIÊN QUỐC VƢƠNG ĐỒ KINH QUẢNG NGHĨA TRÀ KHÚC GIANG NGỘ HỒNG THUỶ TRÚ TIẾT LONG ĐẦU SƠN. Hành tinh ngộ vũ trú Long đầu, Trà Khúc thao thao trú dạ lƣu. Trị thuỵ tích thời do hữu đạo, Tế xuyên kim nhật khởi vô chu. Tĩnh quan vân sắc thiên sơn mộ, Nhàn thính phong thanh vạn mộc thu. Dục tốc tùng lai đa bất đạt, Tội cam vƣơng mệnh trú yêm lƣu. Dịch nghĩa: CUỐI THU NĂM ĐINH MÙI, KHÂM MỆNH BAN PHONG CHO QUỐC VƢƠNG NƢỚC CAO MIÊN, TRÊN ĐƢỜNG QUA SÔNG TRÀ KHÚC TỈNH QUẢNG NGÃI, GẶP LŨ LỚN, TRÚ TẠM Ở NÚI LONG ĐẦU Mang cờ sứ ra đi, lại gặp mƣa, đành trú ở Long đầu, Dòng sông Trà Khúc đêm ngày nƣớc cuồn cuộn chảy. Trị thuỵ ngày xƣa có cách trị, Ngày nay qua sông há đâu không có thuyền? Lặng nhìn sắc mây, ngàn núi tối mù, Chỉ nghe tiếng gió rít, cây cối lồng tiếng thu. Muốn cho nhanh chóng, xƣa nay phần nhiều là không đƣợc, Đành cam tội với vua, mà dần dà nơi này. Dịch thơ: Mang cờ gặp lũ, trú Long đầu, Trà Khúc đêm ngày nƣớc cuốn mau. Trị thuỷ xƣa kia còn có đạo, Vƣợt sông chừ lại há không tàu? Màu mây lặng ngó, ngàn non tối, Tiếng gió im nghe, vạn gốc thu. Muốn chóng, xƣa nay thƣờng chẳng đạt, Đành cam mang tội ở đây lâu. 187. 答諸友贈別原韻 滿城春色送征鞍 半句心頭欲話難 未信臨民師子產 敢將市義效馮驩 江山有意雲相浄 天地無心物自閒

1 Tử Sản: tên tự của Công Tôn Kiều, quan đại phu nƣớc Trịnh thời Xuân Thu, vì ở làng Đông, nên gọi là Đông lý Tử Sản. Ông học rộng hiểu nhiều, giỏ về chính trị, làm quan từ thời Trịnh Giản Công trải qua thời Định Công, Hiến Công, Thanh Công, tất cả hơn bốn mƣơi năm. Bấy giờ nƣớc Trịnh tranh bá với nƣớc Tấn, Sở, ông thƣờng dùng lễ nghĩa để làm việc, mà không hề ẩu tả theo sở thích của mình. Hai nƣớc Tấn, Sở rất kiêng nể ông. Cách làm chính trị của ông là khoan hoà để làm cho mạnh mẽ, mạnh mẽ để giúp khoan hoà. Ông đƣợc Khổng Tử khen là Huệ nhân (ngƣời có nhân từ, ân huệ), và khen là đƣợc bốn đạo của ngƣời quân tử: “Hành kỵ dã cung, sự thƣợng dã kính, dƣỡng dân dã huệ, sử dân dã nghĩa” (khiêm cung trong việc làm của mình, thờ vua bằng sự tôn kính, nuôi dân bằng ơn huệ, sai khiến dân bằng nghĩa). 2 Phùng Hoan: khách của Mạnh Thƣờng Quân công tử Điền Văn nƣớc Tề. Ông là ngƣời gõ kiếm ca đòi sự đãi ngộ nhƣ những gia khách khác, đến khi Mạnh Thƣờng Quân muốn đòi nợ ở đất Tiết, ông là ngƣời xin đi. Trƣớc khi đi, hỏi Mạnh Thƣờng Quân muốn mua gì? Mạnh Thƣờng Quân bảo cái gì thiếu thì mua. Phùng Hoan liền đến đất Tiết, xoá hết sổ nợ của dân. Khi về, Mạnh Thƣờng Quân hỏi đã thu nợ đƣợc không? Mua gì về không? Phùng Hoan kể rõ sự tình và nói làm vậy là mua tiếng nghĩa cho Mạnh Thƣờng Quân. Thƣờng Quân có ý không vui. Nhƣng về sau, bị vua Tề nghi kỳ, không còn chỗ nào về, khi đến đất Tiết, đã thấy dân chúng đón ở ven đƣờng. Bấy giờ Mạnh Thƣờng Quân mới thấy việc mua nghĩa của Phùng Hoan là quan trọng.

357

Vô tâm, trời đất, vật tự sinh. Ngày đi hẹn gặp mùa mai nở, Chén rƣợu Dƣơng Quan hãy để dành.

358

華原詩草 欽命正使兵部尚書 黎知止晉齋甫輯 HOA NGUYÊN THI THẢO KHÂM MỆNH CHÍNH SỨ BINH BỘ THƢỢNG THƢ LÊ TRI CHỈ TẤN TRAI PHỦ TẬP

1.畱別北城阮總鎮 顏範三年始一親 驚催冠劍作陪臣 敬天殿1繞皇華燦 昭德臺2迎帝寵新 創國正關公鎖鑰 泛槎莫說我風塵 驛梅指日旋香信 南北擕看宇宙春 LƢU BIỆT BẮC THÀNH NGUYỄN TỔNG TRẤN Nhan phạm tam niên thuỵ nhất thân, Kinh thôi quan kiếm tác bồi thần. Kính Thiên điện nhiễu hoàng hoa xán, Chiêu Đức đài nghênh đế sủng tân. Sáng quốc chính quan công toả dƣợc, Phiếm tra mạc thuyết ngã phong trần. Dịch mai chỉ nhật tuyền hƣơng tín, Nam bắc huề khan vũ trụ xuân. Dịch nghĩa: THƠ GIÃ BIỆT TỔNG TRẤN BẮC THÀNH HỌ NGUYỄN Ba năm mới đƣợc gặp mặt một lần, Mão kiếm mang vội vàng làm ngƣời bầy tôi bồi tiếp. Điện Kính Thiên, vẫn hằng mơ suốt chặng đƣờng đi sứ, Đài Chiêu Đức, nghênh đón ơn vua mới. Việc dựng nƣớc, chính nhờ một phần ông mở mang, Chuyện đi sứ, đừng kể rằng tôi xông pha nơi gió bụi. Cành mai ở dịch trạm một ngày không xa lại toả hƣơng thơm ngát, Nam bắc cùng dắt tay xem mùa xuân đầy vũ trụ. Dịch thơ: Ba năm mới đƣợc gặp dung nhan,

1 Nguyên chú: 殿在昇龍城臨朝命之所 điện ở thành Thăng Long, nơi nhận lệnh vào triều. 2 Nguyên chú: 臺在南關上是交接之所 đài trên ải Nam Quan, là nơi giao tiếp (với các sứ thần Trung Quốc).

Mão kiếm bầy tôi cũng vội vàng. Điện Kính Thiên mơ đƣờng sứ ruổi, Đài Chiêu Đức đón nghĩa vua thƣơng. Dựng nƣớc, phần nhờ anh giúp rập, Sứ xa, đâu quản tớ phong sƣơng. Tin thơm mai trạm ngày kia ngát, Nam bắc cùng xem xuân ngập tràn. 吳澧溪曰三年一親別亦久矣冠劍驚催行亦驟矣 久別行驟不能無言至其辭殿而賦皇華望臺而邀 帝寵則別也爲王事而行也爲壯遊南關北上時不 比陽關西出况民心初附安危係於將鄰好初締榮 辱係於使藥石龍蛇之用衣冠玉帛之周旋居者行 者總之爲國分猷故以鎖鑰勉將轅而風塵安使職 真正事君以身贈知己以言宇宙囘春將公調爕手 亦使公經濟手 Ngô Lễ Khê bình: Ba năm mới gặp, cách biệt cũng lâu. Mũ kiếm mang vội chứng tỏ lên đƣờng bất ngờ. Cách biệt đã lâu mà lên đƣờng cũng vội nên không thể không nói một lời. Nhƣ ông từ biệt cung điện mà lên đƣờng đi sứ, trông ngóng lâu đài mong đƣợc ân sủng của vua; cách biệt là bởi việc nƣớc, lên đƣờng làm một chuyến đi xa. Chuyến đi từ ải Nam Quan sang đất Bắc bấy giờ, không thể sánh với chuyến ra khỏi Dƣơng Quan về tây; huống lòng dân mới theo, an nguy ở tƣớng, mà giao hảo với láng giềng vinh hay nhục lại nằm ở ngƣời đi sứ. Cái dụng của dƣợc thạch long xà3, sự chu toàn của y quan ngọc bạch4, kẻ ở lại hay ngƣời ra đi cũng đều là vì đất nƣớc, vậy nên mấu chốt ở chỗ khuyên gắng tƣớng nơi viên môn, mà gió bụi nơi xa cũng phải an lòng sứ giả. Thật là, đem thân thờ vua, lấy lời tặng ngƣời tri kỵ, vũ trụ xuân về, tƣớng công là tay điều hoà, mà sứ công là tay kinh luân. 33 Long xà: rồng và rắn, cụm từ này có các nghĩa sau: 1, chỉ việc ở ẩn; 2, chỉ những ngƣời có tài dị thƣờng; 3, chỉ vũ khí nhƣ mâu và kích; 4, chỉ năm thìn và năm tỳ; 5, chỉ cây cối um tùm. Ở đây có lẽ muốn chỉ đến vũ khí, ngụ ý tƣớng võ. Dƣợc thạch: chỉ trị bệnh bằng thuốc thang và kim châm, còn để chỉ những lời khuyên can. Dƣợc thạch long xà dùng trong câu này chỉ võ tƣớng Nguyễn Văn Thành. 4 Y quan ngọc bạch: áo mão lụa ngọc, ở đây có ý chỉ quan văn nhƣ Lê Quang Định.

359

2.畱別北城諸僚友 步葵江侯元韻 言語羞將品使才 直敎寸念得叨陪 龍城雲樹描離思 燕地梯航逐遠來 征眼翠連關上椏 皇華香送隴頭梅 今朝非以尋常醉 擕手相將莫厭杯 LƢU BIỆT BẮC THÀNH CHƢ LIÊU HỮU BỘ QUỲ GIANG HẦU NGUYÊN VẬN Ngôn ngữ tu tƣơng phẩm sứ tài, Trực giao thốn niệm đắc đao bồi. Long thành vân thụ miêu li tứ, Yên địa thê hàng trục viễn lai. Chinh nhãn thuý liên quan thƣợng liễu, Hoàng hoa hƣơng tống lũng đầu mai. Kim triêu phi dĩ tầm thƣờng tuý, Huề thủ tƣơng tƣơng mạc yếm bôi. Dịch nghĩa: THƠ GIÃ BIỆT CÁC BẠN ĐỒNG LIÊU Ở BẮC THÀNH, LÀM THEO NGUYÊN VẬN THƠ QUỲ GIANG HẦU Thẹn đem lời lẽ để bình phẩm tài năng của sứ giả, Tấc lòng luôn nghĩ rằng mình may mắn đƣợc chọn đi sứ. Mây và cây ở thành Thăng Long nhƣ tô vẽ nỗi sầu xa cách, Thuyền sứ lên đất Bắc (Trung Quốc) nhƣ đẩy ngƣời xa thêm. Trông xa liễu trên quan ải một màu xanh biếc, nối tiếp nhau, Trên đƣờng đi sứ, hoa mai đầu truông núi toả hƣơng tiễn ta. Sáng nay chẳng phải say vì những việc tầm thƣờng, Cùng nhau nắm tay, chúng ta kẻ tƣớng văn ngƣời tƣớng võ, chớ buông li. Dịch thơ: Lời lẽ thẹn bàn tài sứ a, Tấc lòng đƣợc nhận hội văn gia. Thành Long cây khói tô niềm biệt, Cõi Bắc thuyền bè ruổi nỗi xa. Quan ải liễu xanh đôi mắt biếc, Đầu truông mai ngát dặm hoàng hoa. Sáng nay say khƣớc cơn say lạ, Tay nắm cùng nhau dốc chén khà. 3.寄懷北城阮總鎮1 1Nguyên chú: 壬戌冬十一月望厚後在昇龍城發行公餞詩一章又擕 過珥河到天定寺停鞭把杯爲別五天後至諒山城乃次公元韻寄懷 Tháng 11 mùa đông năm Nhâm Tuất, sau khi vọng hậu ở thành

渡頭鄭重別時難 折柳停鞭半日間 佳句長吟凝白雪 台光回望阻青山 霜濡華駱心如轉 夢入芝眉步欲寬 天定寺前三把飲 於今春色尚酡顏 KÝ HOÀI BẮC THÀNH NGUYỄN TỔNG TRẤN Độ đầu trịnh trọng biệt thời nan, Chiết liễu đình tiên bán nhật gian. Giai cú trƣờng ngâm ngƣng bạch tuyết, Đài quang hồi vọng trở thanh san. Sƣơng nhu hoa lạc tâm nhƣ chuyển, Mộng nhập chi my bộ dục khoan. Thiên Định tự tiền tam bả ẩm, Ƣ kim xuân sắc thƣợng đà nhan. Dịch nghĩa: GỞI NỖI LÕNG ĐẾN TỔNG TRẤN BẮC THÀNH HỌ NGUYỄN Đầu bến sông dùng dằng mãi, khó chia xa, Dừng ngựa, bẻ cành liễu trong ánh nắng chiều. Câu thơ hay ngâm nga mãi, làm tuyết ngƣng đọng, Ngoái nhìn đền đài quang tạnh bị ngăn cách bởi núi xanh. Sƣơng thấm ngựa hoa, lòng quặn chuyển, Giấc mộng vào mắt, bƣớc đi khoan thai. Trƣớc chùa Thiên Định, ba lần nâng chén, Sắc xuân đến nay vẫn còn trên vẻ mặt hồng. Dịch thơ: Đầu bến dùng dằng khó cách xa, Dừng roi ngắt liễu bóng chiều tà. Câu hay ngâm ngợi, đông sƣơng tuyết, Lầu gác trông vời, cách núi hoa. Móc thấm ngựa hoa, lòng quặn thắt, Mộng lên mày cỏ, bƣớc bao la. Trƣớc chùa Thiên Định nâng ba chén, Xuân sắc vẫn còn thắm mặt ta. 阮素如曰不借雕刻自有餘味 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Không cần chạm trổ câu chữ mà thơ tự có dƣ vị. 4.寧明江解纜 寧明百里別南天 使節悠揚插畫船 汀鶴沙鷗供我覽 江梅堤柳爲誰牽 Thăng Long, lúc lên đƣờng ông tiễn bằng một bài thơ, lại đƣa qua sông Nhĩ Hà đến chùa Thiên Định mới dừng ngựa, mang chén rƣợu để tiễn biệt, năm ngày sau, tôi đến thành Lạng Sơn bèn theo vần thơ ông mà làm thơ gởi nỗi lòng.

360

khi cầm cờ đi sứ rong ruổi trên thuyền hoa, bập bềnh cùng trăng, hùm kêu ngựa hí, chuyển thành cò vạc nơi bãi bờ; kiếm trắng cờ xanh hoá thành mai sông liễu bãi, thành quách trong mây chẳng phải binh tranh trở lại, chèo mái thuyền tranh vào bờ đỗ, lại càng không cần binh tốt đánh nhau, trông khắp bao la, bất giác trong lòng rộng rãi, thần tình vui vẻ, thế nên vừa từ biệt trời Nam thì đã hứng khởi trong lòng, liên tiếp ghi lại những điều trông thấy, một bài tuyệt bút, chẳng cần vá víu, tiền trình còn xa, cảnh đẹp còn nhiều, hẳn chƣa hết nên thà dừng trƣớc, khỏi phí lòng điểm xuyết. 5.明江記見 繞城一帶水流通 岸聳層巒霽碧空 山市閒雲歸鳥道 江村微雨浴漁翁 女粧荊布搖長櫓 兒繫瓢瓜戲短篷 伴送州官無箇事 請安惟有札書翃 MINH GIANG KÝ KIẾN Nhiễu thành nhất đái thuỵ lƣu thông, Ngạn tủng tằng loan tễ bích không. Sơn thị nhàn vân quy điểu đạo, Giang thôn vi vũ dục ngƣ ông. Nữ trang kinh bố dao trƣờng lỗ, Nhi hệ biều qua hí đoản bồng. Bạn tống châu quan vô cá sự, Thỉnh an duy hữu trát thƣ hồng. Dịch nghĩa: GHI LẠI NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY Ở MINH GIANG Một dòng sông chảy bao quanh thành, Non núi điệp trùng giữa bầu trời xanh quang tạnh. Mây bay nhàn nhã giữa phố núi, trên đƣờng một cánh chim bay trở về, Mƣa lâm thâm ở ngôi làng bên sông gội ƣớt ông lão chài cá. Cô gái mặc áo vải gai khua mái chèo, Đứa bé buộc tã đang đùa giỡn nơi mui thuyền. Quan quân đón tiễn ta chẳng có gì, Chỉ có một trát thƣ đỏ để thỉnh an mà thôi. Dịch thơ: Quanh thành lờ lững một dòng sông, Núi vút trời cao sạch bụi hồng. Phố núi mây xanh chim mỏi cánh, Làng sông mƣa nhỏ gội ngƣ ông. Cô nàng áo vải khua chèo quế, Con bé buộc khăn giỡn mái bồng. Đón tiễn nhà quan đơn giản lạ,

雲間城郭斜陽樹 岸次篷篙夕嶂煙 一望坦然寬眼界 崎嶇何似十年前 NINH MINH GIANG GIẢI LÃM Ninh Minh bách lý biệt nam thiên, Sứ tiết du dƣơng sáp hoạ thuyền. Đinh hạc sa âu cung ngã lãm, Giang mai đê liễu vị thuỳ khiên. Vân gian thành quách tà dƣơng thụ, Ngạn thứ bồng cao tịch chƣớng yên. Nhất vọng thản nhiên khoan nhãn giới, Kỳ khu hà tự thập niên tiền! Dịch nghĩa: RỜI THUYỀN Ở SÔNG NINH MINH Ninh Minh trăm dặm nữa cách biệt trời Nam, Cờ sứ cắm trên thuyền hoa bay phần phật. Vạc cò nơi bãi nƣớc cho ta ngắm thoả thích, Liễu trên bờ đê, mai nơi bờ sông nhƣ níu kéo tình ai. Thành quách cao cao giữa mây trời, bóng tà dƣơng lồng trong cây cối, Thuyền ghé mái chèo vào bờ đỗ trong sƣơng khói chiều đêm. Nhìn ngắm mênh mông ánh mắt bao la, Gập ghềnh hiểm trở sao nhƣ trƣớc đây mƣời năm. Dịch thơ: Ninh Minh trăm dặm giã trời Nam, Cờ sứ thuyền hoa lộng gió tràm. Bờ bãi vạc cò, tuỳ thích ngắm, Đê sông mai liễu, níu lòng đam. Mây lồng thành quách cây nghiêng bóng, Bờ ghé thuyền tranh khói xế lam. Mắt ngắm bao la cùng khắp cõi, Gập ghềnh sao giống cách mƣơi năm. 吳澧溪曰扁舟浮海而後知達岸之安千里徒行而 後知登車之適回思十數年前從事兵場腳踏處虎 穴蛇區骸山血水眼開處刀鋒劍樹石雨箭蝗崎嶇 險巇儘是可驚可愕一旦使節馳星畫船泛月噉虓 嘶馬轉爲汀鶴沙鷗白刃青旌化作江梅堤柳雲間 城郭非復兵爭岸次篷篙更無戌仗豁然一望不覺 心曠神怡所以纔別南天便自得興連下記見一章 極筆補漏不然前程尚遠名勝甚多未當於抵寧時 先已費心點綴 Ngô Lễ Khê bình: Một chiếc thuyền nhỏ bồng bềnh trên biển rồi sau đó mới biết sự bình an của việc đến bờ, bƣớc ngàn dặm trên đá ghềnh rồi mới biết cái nhàn nhã của việc ngồi xe. Nhớ lại mƣời mấy năm trƣớc theo việc quân, bƣớc chân dẫm khắp hang hùm ổ rắn, núi xƣơng biển máu, mắt nhìn nơi ngọn đao mũi kiếm hòn tên, gian khổ gập ghềnh hiểm hóc thật là đáng kinh ngạc thay. Đến

361

歷落村墟傍竹籬 筆架高低山八畫 文瀾蕩漾水催詩 櫓聲搖曳傳空谷 驚起潭龍欲化機 HOA SƠN ĐƢỜNG KÝ KIẾN Dao vọng Hoa Đƣờng thụ sắc di, Chu phù nhai hạ vãn phong xuy. Nguy nga tự vũ huyền tinh bái, Lịch lạc thôn khƣ bạng trúc li. Bút giá cao đê sơn nhập hoạ, Văn lan đãng dạng thuỵ thôi thi. Lỗ thanh dao duệ truyền không cốc, Kinh khởi đàm long dục hoá ki. Dịch nghĩa: GHI LẠI NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY Ở BẾN HOA SƠN Xa trông Hoa Đƣờng sắc cây nhƣ chuyển động, Dƣới vách núi con thuyền trôi trong gió chiều hây hây. Miếu mạo nguy nga rợp đầy cờ xí, Xóm làng lác đác tre trúc đan thành rào giậu. Giá bút cao thấp lô nhô, núi non vào tranh vẽ, Làn sóng lăn tăn, con nƣớc giục làm thơ. Tiếng mái chèo khua vang cả núi vắng, Làm cho lũ rồng nơi đầm sâu cũng kinh hoảng muốn bay lên. Dịch thơ: Hoa Đƣờng xa ngắm sắc cây lơ, Dƣới núi thuyền trôi gió tối xô. Miếu mạo nguy nga cờ trƣớng rũ, Xóm thôn xơ xác trúc tre phờ. Lô nhô giá bút, non vào hoạ, Dằng dặc làn văn, nƣớc giục thơ. E tiếng chèo khua vang núi vắng, Làm kinh rồng ẩn dƣới khe mờ. 吳澧溪曰入畫即是此景催詩即是此句 Ngô Lễ Khê bình: Vào hoạ ấy là cảnh này, giục thơ tức là câu này. 9.贈黃西太平府正堂綜理邊務王撫棠 燠然文物滿華程 千里葵輸咫尺輕 紫塞煙消旌旆影 黃堂風惹管絃聲 未將重驛邀新寵 已把台光達遠情 樽爼足敷邊閫外 鴻名大振太平城

Thỉnh an chỉ có trát thƣ không. 6.豬山塘晚泊 岸掛殘紅隱約明 沿流十里水波平 桅分樹影歸鴉散 燈照沙堆宿鷺驚 燠氣漸開光使節 時煙半合遶州城 一聲號砲千岩寂 驚入豬山塘口兵 TRƢ SƠN ĐƢỜNG VÃN BẠC Ngạn quải tàn hồng ẩn ƣớc minh, Diên lƣu thập lý thuỵ ba bình. Chi phân thụ ảnh quy nha tán, Đăng chiếu sa đôi túc lộ kinh. Úc khí tạm khai quang sứ tiết, Tình yên bán hợp nhiễu châu thành. Nhất thanh hiệu pháo thiên nham tịch, Kinh nhập Trƣ Sơn đƣờng khẩu binh. Dịch nghĩa: ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở BẾN TRƢ SƠN Bờ núi treo mặt trời đỏ le lói những tia nắng cuối ngày, Dòng nƣớc êm trôi suốt mƣời dặm không có sóng trào. Mái chèo khua bóng cây nhƣ tan ra khiến bầy quạ kinh hoảng, Ánh đèn chiếu trên bãi cát bầy cò sợ lố nhố lên. Hơi nóng tạm xua tan, làm quang rạng cờ sứ, Khói mây tụ nửa vời, vƣơng vít trên thành quách. Một tiếng pháo hiệu nổ lên, ngàn ngọn núi vắng lặng, Làm kinh động đoàn quân vào giữa gò Trƣ Sơn. Dịch thơ: Non treo bóng xế nắng vàng giăng, Mƣời dặm sông xuôi sóng nƣớc bằng. Chèo rẽ bóng cây bầy quạ hoảng, Nến soi đồi cát lũ cò băng. Khói thanh vƣơng vấn, châu thành quyện, Hơi nóng xua tàn, cờ sứ căng. Pháo hiệu vừa khai, ngàn núi vắng, Trƣ Sơn cửa bến rộn đoàn quân. 阮素如曰隨筆直寫勁健無匹 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Ý chảy theo bút, cứng rắn mà không tục. 7.花山塘記見 遙望花塘樹色移 舟浮崖下晚風吹 巍峨祠宇懸旌旆

362

Lĩnh thụ mông lung túc vụ thâm. Hoán độ hành nhân xâm tuyết kính, Khứ sào ô thƣớc táo vân lâm. Bồng song sạ tỉnh quan sơn mộng, Hô trĩ phanh trà tức cảnh ngâm. Dịch nghĩa: BUỔI SỚM ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG LƢ Tiếng chiêng giục trời sáng, bầu trời hửng nắng, Mái chèo ngang bờ sông, bóng trúc mát mẻ. Cỏ bên suối tiêu điều khói sớm mờ phủ, Cây trên ngàn mờ mịt lẫn trong sƣơng móc. Ngƣời đi đƣờng gọi đò ồn cả con đƣờng đầy tuyết, Quạ rời tổ bay, náo loạn cả rừng. Trong thuyền chợt tỉnh giấc mộng quan sơn, Gọi trẻ pha trà tức cảnh ngâm thơ. Dịch thơ: Chiêng vang gọi thức mặt trời hồng, Bóng trúc la đà, chèo quế vung. Lạnh lẽo cỏ khe mây sớm phủ, Mông lung cây núi móc sƣơng lồng. Gọi đò bao khách vang đƣờng tuyết, Rời tổ đàn chim rộn cõi không. Giấc mộng quan san ta chợt tỉnh, Pha trà gọi trẻ, hứng thơ nồng. 吳澧溪曰曉景如畫 Ngô Lễ Khê bình: Cảnh sáng mai nhƣ tranh vẽ. 12.響湖 響湖一派水溶溶 屏障高低兩岸峰 急溜烟凌驚浴鳥 狂瀾風引喚眠龍 簾橫白練封山色 苔洗青衣露石容 太古琹聲疑有調 近來無路覓前蹤 HƢỞNG HỒ Hƣởng hồ nhất phái thuỵ dung dung, Bình chƣớng cao đê lƣỡng ngạn phong. Cấp lựu yên lăng kinh dục điểu, Cuồng lan phong dẫn hoán miên long. Liêm hoành bạch luyện phong sơn sắc, Đài tẩy thanh y lộ thạch dung. Thái cổ cầm thanh nghi hữu điệu, Cận lai vô lộ mịch tiền tung. Dịch nghĩa: HƢỞNG HỒ Dòng nƣớc Hƣởng hồ chảy man man, Hai bên là núi non lô nhô làm bình phong. Nƣớc chảy xiết khói mù toả làm kinh hoảng lũ chim đang tắm,

TẶNG QUẢNG TÂY THÁI BÌNH PHỦ CHÍNH ĐƢỜNG TỔNG LÝ BIÊN VỤ VƢƠNG PHỦ ĐƢỜNG Öc nhiên văn vật mãn hoa trình, Thiên lý quỳ du chỉ xích khinh. Tử tái1 yên tiêu tinh bái ảnh, Hoàng đƣờng2 phong nhạ quản huyền thanh. Vị tƣơng trùng dịch yêu tân sủng, Dĩ bả đài quang đạt viễn tình. Tôn trở túc phô biên khổn ngoại, Hồng danh đại chấn Thái Bình thành. Dịch nghĩa: TẶNG VƢƠNG PHỦ ĐƢỜNG, TỔNG LÝ BIÊN VỤ CHÍNH ĐƢỜNG PHỦ THÁI BÌNH, TỈNH QUẢNG TÂY Đƣờng đi sứ ngập tràn cảnh văn minh, Ngàn dặm đƣờng, xe sứ qua thật nhẹ nhàng. Ải bắc khói tan, lộ bóng cờ xí, Nơi công đƣờng của quan thái thú, gió lộng tiếng sáo đàn. Chẳng mong lấy việc đi sứ triều cống của tôi để mong đƣợc quý mến, Lại nhờ vào thƣ từ, mà đạt đƣợc mối tình xa xôi. Chén rƣợu bát canh đủ tỏ lòng nơi ngoài biên ải, Tiếng tăm của anh vang dội khắp thành Thái Bình. Dịch thơ: Văn minh rực rỡ ngập đƣờng hoa, Ngàn dặm xe quỳ nhẹ bƣớc qua. Ải bắc mây tan, cờ xí rộn, Nhà vàng gió lộng, sáo ca hoà. Nào đem việc sứ mong ơn mới, Đành lấy tờ thƣ tỏ nỗi xa. Chén rƣợu giãi tình ngoài vực ải, Tiếng tăm vang khắp Thái Bình a! 11.瀘江早泛 催曉鑼聲天色曙 橫篙江岸竹堤陰 溪毛冷落朝烟罩 嶺樹朦朧宿霧深 喚渡行人侵雪徑 去巢鳥鵲噪雲林 篷窗乍醒關山夢 呼稚烹茶即景吟 LƢ GIANG TẢO PHIẾM Thôi hiểu la thanh thiên sắc thự, Hoành cao giang ngạn trúc đê âm. Khê mao lãnh lạc triêu yên trác, 1 Tử tái: ải tía, chỉ trƣờng thành. Sách Cổ kim chú, mục Đô ấp của Thôi Báo có chép: “Nhà Tần xây trƣờng thành, gạch đá đều có màu tía, các ải nhà Hán cũng vậy, vì thế gọi là tử tái”. Ở đây chỉ ải quan ở Trung Quốc. 2 Hoàng đƣờng: nhà vàng, chỉ nơi làm việc của quan Thái thú.

363

Sóng gào gió thổi làm thức lũ rồng ngủ dƣới vực sâu. Nƣớc hồ nhƣ màn lụa trắng vắt ngang màu núi xanh, Dội xuống bờ rêu xanh nhƣ chiếc áo làm lộ vẻ đá. Tiếng đàn cầm thời thái cổ ắt là có điệu, Dạo này không có đƣờng đi cứ phải tìm dấu ngƣời đi trƣớc. Dịch thơ: Hƣởng Hồ con nƣớc chảy lênh đênh, Núi vút lô nhô tựa hoạ bình. Gió cuốn sóng trào, rồng thức giấc, Nƣớc trôi khói quyện, vạc hoàng kinh. Vắt màn lụa trắng, non che dáng, Gội áo rêu xanh, đá hiện hình. Thái cổ đàn kia e có điệu, Gần đây không lối, hỏi tiền trình. 吳澧溪曰驚鳥喚龍響亦急矣不謂山腰小湖亦能 如此震撼可知有一勺之多者便自作勢不獨江海 爲能風波 Ngô Lễ Khê bàn: Làm chim hoảng hốt, rồng thức giấc, tiếng vang ấy hẳn cũng gấp gáp lắm, chớ nói cái hồ nhỏ nơi xƣờn non cũng có thể chấn động nhƣ vậy, đủ biết nhiều suối hồ thì có thể làm nổi cơn sóng gió không phải chỉ riêng có sông biển thôi đâu. 阮素如曰喚字若有靈氣 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Chữ “hoán” (gọi) nhƣ có khí thiêng. 13.登金鷄巖 1 金鷄巖上觀音洞 畫鷁津頭望寶幢 戲水鶵鷗隨客艇 避烟老鶴宿禅窗 鴨香有跡薰蓮座 鳬履無踪渡葦江 何處佳人憑鷲嶺 白衣相証翠眉雙 ĐĂNG KIM KÊ NHAM Kim Kê nham thƣợng Quán Âm đông (động), Hoạ nghịch tân đầu vọng bảo tràng. Hý thuỵ sồ âu tuỳ khách đĩnh, Tỳ yên lão hạc túc thiền song. Áp hƣơng hữu tích huân liên toạ, Phù lý vô tung độ vỷ giang. Hà xứ giai nhân bằng Thứu Lĩnh, 1 Nguyên chú: 限三江韻用每句一禽名岩出江邊上有石洞奉觀音佛 極有清趣 Hạn vận Tam giang, mỗi câu đều dùng tên một loài chim, núi ló ra trên dòng sông có động đá thờ phật Quan Âm, cảnh sắc thanh nhã.

Bạch y tƣơng chứng thuý mi song.2 Dịch nghĩa: LÊN NÚI KIM KÊ Trên núi Kim Kê có động Quán Âm, Thuyền vào đầu bến sông, nhìn tràng phan báu. Chim âu giỡn nƣớc bay theo thuyền khách, Cánh hạc tránh sƣơng trú ở cửa thiền. Hƣơng thiên nga còn thoảng thơm cả toà sen, Dấu chim le le qua dòng sông vi lô không để lại vết. Giai nhân nơi nào mà đứng nơi núi Thứu Lĩnh, Áo trắng cùng chứng nơi đôi mày biếc. Dịch thơ: Động Quan Âm trên núi Gà Vàng, Tạm ghé bờ sông, ngóng bảo tràng. Thuyền sứ âu vờn tung sóng nƣớc, Cửa thiền hạc trú ẩn sƣơng loang. Toà sen còn thoảng hƣơng thiên điểu, Sông Vỹ nào in dấu nhạn sang. Đâu chốn giai nhân nƣơng Thứu Lĩnh, Bạch y cùng chứng nét mi hƣờng. 吳澧溪曰文難在起句詩難在結句若非此人來得 湊巧詩翁恐未必完篇第可惜佳人只充詩料 Ngô Lễ Khê bình: Làm văn khó ở câu mở đầu, làm thơ khó ở câu kết, nếu không có ngƣời ấy đến một cách trùng hợp, bậc thi ông e cũng chƣa chắc hoàn tất bài thơ, đáng tiếc ngƣời đẹp chỉ là sung vào làm chất liệu cho thơ thôi. 阮素如曰以活白衣影出死白衣筆態幻化 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Làm sống cái bóng áo trắng ra khỏi cái áo trắng chết, bút thái thật huyền ảo. 14.南寧紀勝 左江兵備道臺師 劍佩鏗鏘示武儀 泡澗長流儂子恨 崑山永勒狄青碑 城分雉堞臨天際 屋串蟬聯傍水涯 夜月江亭宴賓客 龍光遥射伏波祠 NAM NINH KÝ THẮNG Tả giang binh bị đạo đài sƣ, Kiếm bội kiên tƣơng thị vũ nghi. Bào giản trƣờng lƣu Nùng Tử hận3, 2 Nguyên chú: 時有一美人淡粧衣白先在佛前行香此亦詩料也 Bấy giờ có một ngƣời đẹp mặc áo trắng tô phấn nhạt đang hành hƣơng trƣớc bàn Phật, bèn lấy làm thi liệu. 3 Nùng Tử: tức Nùng Trí Cao, ngƣời Man, châu Quảng Nguyên, thời Tống (thời Lý nƣớc ta). Đầu thời Đƣờng, họ Nùng xƣng hùng ở Tây Nguyên, đời thƣờng gọi là Châu thủ lĩnh, cuối thời Đƣờng, tri đảng vẫn ở đó là Nùng Toàn Phúc, bị ngƣời Giao Chỉ giết, ngƣời vợ gả cho

364

Côn sơn vĩnh lặc Địch Thanh bi1. Thành phân trĩ điệp lâm thiên tế, Ốc xuyến thiền liên bạng thuỵ nhai. Dạ nguyệt giang đình yến tân khách, Long quang dao xạ Phục Ba từ. Dịch nghĩa: GHI LẠI CẢNH SẮC NAM NINH Bên bờ Tả giang đoàn quân đạo đài mang khí giới, Kiếm đeo leng keng tỏ rõ oai nghi. Suối chảy mãi nỗi hận Nùng Tử, Núi Côn Luân còn bia khắc chiến công của Địch Thanh. Thành trì trông cứ nhƣ đứt rồi lại nối, tít tắp tận chân trời, Nhà cửa nối tiếp nhau, ở dọc theo bờ nƣớc. Đêm trăng bên ngôi đình sông, bày tiệc đãi khách, Ánh sáng rực rỡ rọi vào đền Phục Ba. Dịch thơ: Binh lính đạo đài giữa Tả giang, Kiếm gƣơm lấp lánh, rạng oai phong. Suối khe mãi chảy oan Nùng Tử, Bia núi còn ghi chuyện Địch công. Điệp điệp cửa nhà bên bến nƣớc, Trùng trùng thành quách giữa bầu không. Bên đình mở tiệc đêm trăng sáng, Đền Phục Ba kia cũng rực hồng. 吳澧溪曰遒勁逼古 Ngô Lễ Khê bình: Mạnh mẽ xa vời, gần với cổ phác. 阮素如曰挺特有古意俯仰千古語有感慨 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Rất có cổ ý, nhìn suốt ngàn xƣa, lời chất chứa cảm khái. 15.又 仙橈一過小南京2 滿眼繁華煥路程 錦綉新題光水閣 管絃逸韻遶江城 杯斟鸚鵡筳賓客 旗擁龍蛇耀甲兵

文獻也知吾國寶 將從何處不逢迎 HỰU Tiên nghiêu nhất quá Tiểu Nam Kinh, Mãn nhãn phồn hoa hoán lộ trình. Cẩm tú tân đề quang thuỵ các, Quản huyền dật vận nhiễu giang thành. Bôi châm anh vũ diên tân khách,3 Kỳ ủng long xà diệu giáp binh.4 Văn hiến dã tri ngô quốc bảo, Tƣơng tùng hà xứ bất phùng nghênh? Dịch nghĩa: LẠI CÓ THƠ Thuyền sứ vừa qua đất Nam Ninh, Cảnh phồn hoa khắp cõi rọi sáng đƣờng đi. Thơ mới làm, đẹp nhƣ gấm vóc, sáng rực cả đài gác trên sông, Vần thơ cao vời nhƣ tiếng sáo đàn vƣơng vấn thành trì bên sông. Rƣợu rót nhƣ tiếng vẹt kêu mời tân khách, Cờ che rậm rạp sáng cả giáp binh. Văn hiến cũng biết là báu vật nƣớc ta, Nên từ nơi nào mà không nghênh đón? Dịch thơ: Sứ thuyền rời khỏi Tiểu Nam Kinh, Khắp chốn phồn hoa đẹp lộ trình. Gấm vóc câu thơ tô thuỷ các, Sáo đàn điệu vút lộng giang thành. Rƣợu tràn dào dạt mời tân khách, Cờ rợp um tùm rạng giáp binh. Văn hiến nƣớc ta là quốc bảo, Nên nơi nào cũng đón thân tình! 16.永純城記見 永純江口渡斜暉 隱隱樓臺半掩扉 塔影崢嶸標縣治 樹梢蔽芾擁城圍 丈夫傾蓋迎王使 稚子登舟看錦衣 通夜淹畱清旅夢 燠逢天氣刧寒威 VĨNH THUẦN THÀNH KÝ KIẾN Vĩnh Thuần giang khẩu độ tà huy, Ẩn ẩn lâu đài bán yểm phi. Tháp ảnh tranh vanh tiêu huyện trị,

một thƣơng nhân, sinh đƣợc Trí Cao, nhƣng vẫn lấy họ Nùng, ngƣời Giao Châu cho y cai quản châu Quảng Nguyên. Trí Cao bèn đánh châu An Đức, chiếm cứ Quảng Nam, đánh Hỗ Châu, dựng nƣớc Đại Nam. Năm thứ 5 niên hiệu Hoàng Hựu nhà Tống, Địch Thanh mang quân đánh, dẹp yên. Về sau Nùng Trí Cao mất ở Đại Lý. 1 Địch Thanh: ngƣời Tây Hà đời Tống, tự là Hán Thần, giỏi cỡi ngựa bắn tên, tinh thông binh pháp, tính ông cẩn thận ít nói, lại thƣờng cất nhắc tƣớng tá. Vào thời vua Tống Nhân Tông, quân Tây Hạ làm phản, Thanh làm Diên Châu chỉ sứ, lúc lâm trận, ông xoã tóc, đeo mặt nạ đồng, kẻ địch trông thấy tƣởng ông là thần. Sau đó, khi Nùng Trí Cao làm loạn, đúng vào tết Thƣợng nguyên, Thanh giăng đèn bày tiệc, canh ba đem kỳ binh đột nhập ải Côn Luân. Chỉ trong một ngày đêm thì phá đƣợc giặc, dẫn quân về kinh sƣ, đƣợc phong làm Khu mật sứ. Lúc ông mất đƣợc tặng chức Trung thƣ lệnh, ban thuỳ là Vũ Tƣơng. 2Nguyên chú: 南寧俗稱小南京 Nam Ninh tục gọi là Tiểu Nam Kinh.

3 Anh vũ: chim vẹt. Phú Anh vũ của Nễ Hành có câu: “Hữu hiến anh vũ giả, cử tửu ƣ Hành tiền viết” (Có kẻ dâng chim anh vũ, nâng chén rƣợu trƣớc mặt Hành nói). Thu hứng, bài 8, của Đỗ Phủ có câu: “Hƣơng đạo trác dƣ anh vũ lạp, Bích ngô thê lão phụng hoàng chi” (Gạo thơm chim vẹt mổ từng hạt, phụng hoàng bay đỗ lên cây ngô đồng xanh). Ở đây ý chỉ tiếng rót rƣợu mời khách nghe nhƣ tiếng vẹt mổ thóc. 4 Long xà: đã chú thích ở trên. Ở đây có ý chỉ cờ xí rợp trời.

365

Thụ sao tế phất ủng thành vi. Trƣợng phu khuynh cái nghênh vƣơng sứ, Trĩ tử đăng chu khán cẩm y. Thông dạ yêm lƣu thanh lữ mộng, Öc phùng thiên khí khƣớc hàn uy. Dịch nghĩa: GHI LẠI NHỮNG ĐIỀU NHÌN THẤY Ở THÀNH VĨNH THUẦN Qua cửa sông Vĩnh Thuần trong bóng chiều, Lâu đài thấp thoáng cửa cài hờ. Bóng tháp chon von nhƣ nêu cao huyện trị, Ngọn cây cao thấp bao bọc lấy thành trì. Ngƣời lớn thì che dù đón sứ đoàn nhà vua, Trẻ con thì lên thuyền xem áo gấm. Suốt đêm giấc mộng khách bồng bềnh, Cuộc gặp gỡ ấm áp xua tan thời tiết lạnh. Dịch thơ: Giang Thuần đầu bến nắng chiều phai, Thấp thoáng lâu đài cửa hé cài. Huyện sở nhận ra nhờ chóp tháp, Thành trì bao bọc bởi ngàn cây. Quý ông che lọng chào vƣơng sứ, Trẻ nhỏ lên thuyền ngắm áo ai. Mộng khách bồng bềnh đêm lặng lẽ, Xua tàn hơi lạnh, ấm lòng thay. 18.題美人搖櫓圖 天然秀媚已堪餐 搖櫓佳人更可觀 楊柳風低腰帶墜 芙蓉霜淡臉脂寒 微含春悶嬌無力 半露秋晴影欲闌 刧恨丹青偏著筆 不將璜珮畫紅顏 ĐỀ MỸ NHÂN DAO LỖ ĐỒ Thiên nhiên tú mỳ dĩ kham xan, Dao lỗ giai nhân cánh khả quan. Dƣơng liễu phong đê yêu đới truỳ, Phù dung sƣơng đạm liễm chi hàn. Vi hàm xuân muộn kiều vô lực, Bán lộ thu tình ảnh dục lan. Khƣớc hận đan thanh thiên trứ bút, Bất tƣơng hoàng bội hoạ hồng nhan. Dịch nghĩa: ĐỀ TRANH NGƢỜI ĐẸP BƠI CHÈO Thiên nhiên xinh đẹp nhƣ có thể ăn đƣợc, Ngƣời đẹp bơi thuyền càng thích xem. Gió thổi hàng dƣơng liễu, thắt lƣng sà xuống, Sƣơng nhạt nhoà hoa phù dung, vẻ mặt thoa phấn lạnh lùng. Ngậm nỗi sầu xuân, ngƣời con gái nhƣ không có sức,

Vẻ thu nửa lộ ra, bóng hình muốn tan đi. Lại hận cho ngƣời hoạ sĩ vẽ chƣa trọn vẹn, Không đem ngọc hoàng bội để vẽ nét mặt hồng của nàng. Dịch thơ: Thiên nhiên đẹp đẽ, muốn ăn khan, Ngƣời đẹp bơi thuyền, ghé mắt sang. Dƣơng liễu gió sà, đai áo trễ, Phù dung sƣơng nhạt, phấn son lan. Xuân sầu nhuốm vẻ, hình không sức, Thu tạnh ngƣng sƣơng, bóng muốn tan. Hận khách đan thanh thiên lệch thế, Chẳng dùng hoàng bội vẽ hồng nhan. 吳澧溪曰美人妙在神思而容色次之故畫美人圖 難能畫其容色而不能畫其神思故詠美人圖更難 風低帶墜霜淡脂寒春悶含嬌秋晴露影畫之工耶 抑詩之工耶詩得於畫圖之中耶抑神契心會於畫 圖之外耶何其情思飄逸意態輕盈人覧之如西施 東牆宛然在目詩翁可謂善形容矣噫女之有色猶 士之有才才必伸於相知色必悅於相憐否則韶英 咸護魚鳥皆驚袞衣繡裳猨狙何慕 Ngô Lễ Khê bình: Ngƣời đẹp là đẹp ở thần tứ, mà dung nhan vẻ mặt là thứ yếu, nên chi vẽ tranh ngƣời đẹp khó vẽ đƣợc nhan sắc đã đành lại càng không thể vẽ đƣợc thần tứ, vì vậy vịnh thơ tranh ngƣời đẹp lại càng khó. Gió sà đai trễ, sƣơng nhạt phấn lạnh, sầu xuân hàm tiếu, bóng sƣơng thu tạnh, là do ngƣời vẽ vẽ khéo chăng hay là do ngƣời làm thơ hay chăng? Thơ đạt đƣợc cái trong bức hoạ, hay là thần tâm khế hợp hơn cả vẻ ngoài của bức hoạ? Mà sao tình tứ của nàng phiêu dật, ý thái nhẹ nhàng tha thƣớt, khiến ngƣời xem tƣởng tựa Tây Thi đứng nơi tƣờng đông. Có thể nói nhà thơ khéo tƣởng tƣợng vậy. Ôi, con gái có sắc giống nhƣ con trai có tài. Tài ắt lộ ra chỗ tƣơng tri, sắc ắt lộ ra chỗ tƣơng lân, nếu không thế thì vẻ đẹp, tài năng cùng che lấp, chim cá thảy sợ, áo bào xiêm gấm cũng chỉ là loài đƣời ƣơi mà thôi, có gì đáng mộ? 阮素如曰風態流動似有脂粉氣 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Phong thái trôi chảy nhƣ có hơi hƣớm phấn son. 19.途中慈親諱日懷感 霜凋殘葉露濡枝 不覺年華已換時 夢入杯棬芳澤在 望迴枌梓白雲馳 關山有路牽離恨 湖海無階達孝思 難假桑蓬供爼豆 也應悔作好男兒

366

Vân đài hà tất hội gia mô. Ngũ than thiên cổ kinh qua hậu, Vị cảm tinh trung điện nhất hồ. Dịch nghĩa: Muốn mở mang nghiệp đế nên đi về hƣớng nam xa xôi, Toà miếu cổ thờ tƣớng quân nằm dựa trên đồi Cƣơng Ngô. Cỏ tranh chia trời đất đến nay vẫn còn, Gạo thóc chất đầy núi khe xƣa nay chƣa từng hoang vu. Trụ đồng kia vẫn còn lƣu công nghiệp to lớn, Đài Vân nọ đâu cần phải vẽ tranh để ngợi khen. Ngàn năm sau qua bến Ngũ hiểm, Vì cảm tấm lòng trung của ông mà tế một bình rƣợu. Dịch thơ: Lĩnh ngoại xa xôi, mở đế đồ, Cƣơng Ngô miếu cũ tƣớng quân trơ. Cỏ chia thiên hạ, nay còn đó, Thóc chất non cao, dấu chửa mờ. Đồng trụ hãy còn ghi nghiệp lớn, Vân đài hà tất vẽ tranh thờ. Ngũ than qua bến ngàn sau vẫn, Cảm mối trung thành, tế rƣợu thơ. 吳澧溪曰漢家宮闕巳隨雲水將軍古廟獨倚崗梧 不知何以得此蓋嗇於此者豐於彼勇足以平僭亂 而不能弭貝錦之讒貴足以爲天子翁而不得與丹 青之列將軍受虧於漢亦以多矣然其英雄事業轟 轟烈烈茅分天地過粵嶺者思其功米聚山谿讀漢 書者羨其智生有益死有聞以此取償於造物故能 周流磅薄血食南北瞻其廟無不起敬想其人無不 歆慕此詩寫得痛快襯切括盡將軍平生謂之詩也 可卽謂將軍贊也亦可 Ngô Lễ Khê bình: Cung khuyết nhà Hán trôi theo mây nƣớc, miếu cổ thờ tƣớng quân còn trơ dựa ở Cƣơng Ngô, chẳng biết vì sao lại đƣợc nhƣ vậy, phàm đã mất cái này thì lại đƣợc cái kia, cái dũng có thể bình giặc loạn nhƣng không thể che đƣợc lời dèm pha, sự sang giàu đủ để làm đấng thiên tử mà không đƣợc liệt vào tranh vẽ để thờ. Tƣớng quân chịu sự mất mát bởi nhà Hán cũng nhiều, nhƣng sự nghiệp anh hùng vang dội, cỏ mao chia thiên hạ nơi Việt Lĩnh của ông, nghĩ công ấy nhƣ thóc chất đầy núi khe. Ai đọc sách Hán thƣ cũng mộ tiếng lúc sống thời có ích, lúc chết thời vang danh, lấy điều đó mà đền nghì tạo hoá, mới có thể trôi chảy bàng bạc, thông suốt từ Bắc đến Nam. Trông miếu ấy, không ai không khởi lòng kính nể, nghĩ đến ngƣời, chẳng ai chẳng hâm mộ. Bài thơ này lời lẽ thống khoái thân thiết lại bao quát cả

ĐỒ TRUNG TỪ THÂN HUÝ NHẬT HOÀI CẢM Sƣơng điêu tàn diệp lộ nhu chi, Bất giác niên hoa dĩ hoán thì. Mộng nhập bôi quyền phƣơng trạch tại, Vọng hồi phần tử bạch vân trì. Quan san hữu lộ khiên li hận, Hồ hải vô giai đạt hiếu tƣ. Nan giả tang bồng cung trở đậu, Dã ƣng hối tác hảo nam nhi. Dịch nghĩa: GIỮA ĐƢỜNG GẶP NGÀY GIỖ CHA MẸ Sƣơng làm lá tàn tạ, móc đầm cành, Bất giác đã qua tuổi hoa niên. Mộng quay về chén bát gỗ, hƣơng thơm còn đó, Ngoảnh đầu nhìn quê hƣơng, mây trắng mờ bay. Núi non có đƣờng chăn dắt nỗi hận xa quê, Biển hồ không có bậc thềm để thấu đạt tấm lòng hiếu. Nếu nhƣ thoả chí tang bồng cũng khó mà bày đồ để cúng tế mẹ, Thì cũng nên hối hận dù là một đấng nam nhi giỏi giang. Dịch thơ: Sƣơng gieo lá rụng, móc mềm cây, Năm tháng đâu hay đã luống ngày. Bát chén hằng mơ, hƣơng vẫn đƣợm, Quê hƣơng ngoảnh lại, trắng màn mây. Nỗi xa, non núi bao đƣờng dắt, Lòng hiếu, biển hồ chẳng bến phơi. Thoả chí tang bồng khôn tế mẹ, Cũng nên tủi hổ phận làm trai. 吳澧溪曰愴慨由衷 Ngô Lễ Khê bình: Cảm khái thê lƣơng ấy bởi có tấm lòng thành. 20.過起敬灘題馬伏波祠 嶺外遐荒廣帝圖 將軍古廟倚崗梧 茅分天地今猶在 米聚山谿昔未蕪 銅柱直將畱偉績 雲臺何必繪嘉謨 五灘千古經過後 爲感精忠奠一壺 QUÁ KHỞI KÍNH ĐƢỜNG ĐỀ MÃ PHỤC BA TỪ Lĩnh ngoại hà hoang quảng đế đồ, Tƣớng quân cổ miếu ỵ Cƣơng Ngô. Mao phân thiên địa kim do tại, Mễ tụ sơn khê tích vị vu. Đồng trụ trực tƣơng lƣu vĩ tích,

367

22.潯洲夜泊 暮笳何處向洲涯 聲落蓬窗動旅懷 水閣懸登迎國貢 江廵敲柝點征牌 驚看鴈影翻殘雪 夢入鵷行整玉階 城上砲聲催曉漏 回頭花草弄晴街 TẦM CHÂU DẠ BẠC Mộ già hà xứ hƣớng châu nhai, Thanh lạc bồng song động lữ hoài. Thuỵ các huyền đăng nghênh quốc cống, Giang tuần xao tích điểm chinh bài. Kinh khan nhạn ảnh phiên tàn tuyết, Mộng nhập uyên hàng chỉnh ngọc giai. 2 Thành thƣợng pháo thanh thôi hiểu lậu, Hồi đầu hoa thảo lộng tình nhai. Dịch nghĩa: Tiếng tù và chiều từ đâu vọng đến bến, Tiếng lọt vào song thuyền làm động lòng xa xứ. Trên thuỵ các treo đèn, đón phẩm vật cống nạp, Quan tuần sông gõ liếp cửa, kiểm thẻ đi đƣờng. Kinh nhìn trong tuyết tàn, bóng nhạn bay nghiêng, Mộng về nơi thềm ngọc, đàn chim uyên ngay ngắn xếp hàng. Tiếng pháo trên thành giục giã trời sáng, Ngoảnh đầu nhìn, hoa cỏ rợp cả non xanh. Dịch thơ: Tiếng và chiều tối vọng đâu đây, Điệu lọt song xui nỗi lữ hoài. Đình tạ treo đèn nghênh quốc cống, Tuần sông gõ liếp kiểm chinh bài. Tuyết tàn ngồi ngắm, nhàn nghiêng bóng, Thềm ngọc mộng về, én lƣợn bay. Tiếng pháo trên thành xua giấc sớm, Ngoảnh đầu: hoa cỏ ngập chân mây. 吳澧溪曰乘車衣錦也雖窮山僻水儘可興懷命蹇 時違者雖勝地芳辰難逢開笑昔白香山夜泊潯洲 有客焉有酒焉有明月照江心有婦人彈琵琶何等 風流標致而青衫淚濕不禁傷情使公夜泊潯洲但 見水閣之燈江廵之柝翻殘雪之鴈影落蓬窗之笳 聲何等蕭瑟寂寞而玉階入夢忠愛惓惓此地此時 所遇則同而所趨各別蓋香山窮官也使公達宦也 窮人觸處生悲故琵琶行言長而怨深達人志在君 國故此詩意思安閒不費筆力

cuộc đời tƣớng quân, gọi là thơ cũng đƣợc mà gọi là bài tán tƣớng quân cũng đƣợc vậy. 阮素如曰句法壯健有如是翁 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Cú pháp tráng kiện, chỉ có ông đƣợc thế. 21.過五險灘 1 幾渡浮航幾度梯 仙橈又泛五灘溪 狂瀾烟逐鮫宮散 雪浪花分鴈影迷 廵檢新臺風陣陣 伏波古廟草萋萋 囘頭乍醒江湖夢 沽酒相將擬品題 QUÁ NGŨ HIỂM THAN Kỵ độ phù hàng kỵ độ thê, Tiên nghiêu hựu phiếm Ngũ than khê. Cuồng lan yên trục giao cung tán, Tuyết lãng hoa phân nhạn ảnh mê. Tuần kiểm tân đài phong trận trận, Phục Ba cổ miếu thảo thê thê. Hồi đầu sạ tỉnh giang hồ mộng, Cô tửu tƣơng tƣơng nghĩ phẩm đề. Dịch nghĩa: QUA BẾN NGŨ HIỂM Bao phen đi thuyền trên sông nƣớc, mấy lần đi bộ vƣợt núi non, Bè tiên (thuyền sứ) nay lại qua khe Ngũ Hiểm. Sóng lớn khói mù làm tan giao cung, Tuyết bay mờ mịt làm bóng nhạn lạc đƣờng. Trên đài kiểm tra gió lùa từng trận, Trƣớc miếu Phục Ba cỏ mọc xanh rờn. Ngoảnh đầu, chợt tỉnh mộng sông hồ, Tƣớng văn rót rƣợu mời tƣớng võ cùng với mấy vần thơ. Dịch thơ: Bao độ bồng bềnh chừ bấp bênh, Bè tiên Ngũ Hiểm vƣợt duềnh duềnh. Sóng trào khói cuốn, cung giao tán, Tuyết xoáy hoa tàn, bóng nhạn kinh. Tuần kiểm đài cao, ngàn gió lộng, Phục Ba miếu cổ, cỏ um xanh. Ngoảnh đầu chợt tỉnh giang hồ mộng, Rƣợu rót thơ đề tôi với anh. 阮素如曰眼前真景不在搜索 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Cảnh thật bày trƣớc mắt, chẳng cần tìm đâu. 1 Nguyên chú: 灘中有五險處故名五險左岸有馬伏波廟右岸名大灘 司廵檢(mất một chữ)駐劄 Trong bến có năm chỗ rất hiểm trở, nên có tên là Ngũ hiểm. Mé bờ trái có miếu thờ Mã Phục Ba, mé bờ phải tên Đại than tƣ là nơi có tháp canh gác tuần tra.

2 Uyên hàng chỉnh ngọc giai: nhƣ chim uyên xếp theo hàng ngay ngắn nơi thềm ngọc, có ý nói quan văn quan võ đứng xếp hàng dƣới sân triều nhƣ đàn uyên. Cả câu thơ có ý nói tác giả luôn mơ về triều đình.

368

Bóng trăng nơi mái nhà bồi hồi lúc nửa đêm. Mấy tiếng ngựa hý giữa cỏ non xanh, Một tấm buồm đơn chở mây chiều. Tình cảm xa cách nhiều vô kể, sao nói hết đƣợc, Mƣợn đem giấy bút ghi lại nỗi cách xa. Dịch thơ: Vời vợi xe thuyền, may có anh, Chi lan gần gũi, dạ khôn đành. Mai đình hé nở, xuân chƣa trọn, Bóng nguyệt sà soi, tối vắng tanh. Mấy tiếng ngựa vang lồng cỏ ngát, Cánh buồm cô lẻ chở mây xanh. Tình xa biết mấy, lời khôn tỏ, Tạm lấy câu thơ tỏ tấc thành. 阮素如曰似此佳句把古人喝退數步 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Những câu thơ hay nhƣ thế này có thể bức cổ nhân lùi mấy bƣớc. 24.梧州除夜 舟次梧江凍雪開 夜間寒燠正相催 迎新韻雅行中句 送臘香分贈後梅 故國未歸羞衣錦 明年無事謾傾杯 回頭街巷傳燈燭 恍認龍光射斗台 NGÔ CHÂU TRỪ DẠ Chu thứ Ngô giang đống tuyến khai, Dạ gian hàn úc chính tƣơng thôi. Nghênh tân vận nhã hành trung cú, Tống lạp hƣơng phân tặng hậu mai. Cố quốc vị quy tu ý cẩm, Minh niên vô sự mạn khuynh bôi. Hồi đầu nhai hạng truyền đăng chúc, Hoảng nhận long quang xạ đẩu đài.3 Dịch nghĩa: ĐÊM BA MƢƠI TẾT Ở NGÔ CHÂU Thuyền đỗ ở sông Ngô, tuyết đông tan, Nửa đêm khí nóng khí lạnh đang thay nhau. Giữa đƣờng làm đƣợc mấy câu thơ đón năm mới, Hoa mai nở tặng ta chút hƣơng thơm. Quê cũ chƣa về đƣợc, thẹn ta mặc áo gấm, Sang năm rảnh việc, cứ dốc chén uống cho say.

Ngô Lễ Khê bình: Mặc áo gấm ngồi kiệu xe, tuy vào núi sông hẻo hút cũng thả hết hứng lòng; khi số mệnh trắc trở thất thời, thì dẫu cảnh đẹp giờ lành cũng khó mở miệng cƣời vui. Xƣa thì Bạch Hƣơng Sơn (Bạch Cƣ Dị - LQT) đêm đỗ thuyền Tầm Châu, có khách, có rƣợu, có trăng sáng chiếu lòng sông, có ca nữ gảy đàn tì bà… đủ vẻ phong lƣu nhƣ thế, mà áo xanh đẫm lệ đau lòng. Sứ công (Lê Quang Định – LQT) đêm tối đỗ thuyền bến Tầm Châu, chỉ thấy ngọn đèn nơi thuỵ các, trát thƣ của kẻ tuần sông, bóng nhạn nghiêng trong tuyết tàn, tiếng tù và lọt vào cửa thuyền… cảnh sắc hiu hắt tịch mịch làm sao, mà giấc ngủ vẫn mơ mòng về cửa khuyết, niềm trung quân ái quốc láng lai. Những điều gặp gỡ tại nơi này lúc này, ai cũng nhƣ ai, mà cảm xúc thì mỗi ngƣời mỗi khác. Kẻ Hƣơng Sơn kia là cùng quan, còn sứ công là ngƣời hiển đạt; ngƣời cùng thì lòng thấy cô độc mà sinh buồn, nên lời khúc Tỳ bà hành dài mà nặng niềm oán thán; còn kẻ hiển đạt chí ở việc nƣớc việc vua thế nên ý tứ bài thơ an nhàn mà chẳng phí bút lực. 23.別南寧分府黃德明 1 舟車迢遞好逢君 香近芝闌久不聞 鄭重亭梅春半點 低徊梁月夜平分 數聲斑馬嘶芳草 一片孤帆掛夕雲 多少別情難盡話 謾將三弄記離群 BIỆT NAM NINH PHÂN PHỦ HOÀNG ĐỨC MINH Chu xa điều đệ hảo phùng quân, Hƣơng cận chi lan cửu bất văn. Trịnh trọng đình mai xuân bán điểm, Đê hồi lƣơng nguyệt dạ bình phân. Sổ thanh ban mã tê phƣơng thảo, Nhất phiến cô phàm quải tịch vân. Đa thiểu biệt tình nan tận thoại, Mạn tƣơng tam lộng ký li quần.2 Dịch nghĩa: TỪ BIỆT HOÀNG ĐỨC MINH PHÂN PHỦ NAM NINH Thuyền xe từ xa xôi đến, may gặp đƣợc anh, Gần với cỏ chi lan lâu ngày không nghe thấy mùi nữa. Hoa mai nơi mái đình trịnh trọng nở nửa vẻ xuân, 1 Nguyên chú: 黃短送別潯洲府謝歸用李青蓮別中都明府元韻書贈 Họ Hoàng tiễn đƣa một đoạn đến phủ Tầm Châu mới từ tạ trở về, bèn theo nguyên vần bài Biệt Trung đô Minh phủ của Lý Thanh Liên (Lý Bạch) để đáp tặng. 2 Tam lộng: chƣa rõ điển, nhƣng có lẽ chỉ thơ ca, một trong bốn thú vui tao nhã của cổ nhân: cầm, kỳ, thi, hoạ.

3 Long quang: tức kiếm khí, ánh sáng của kiếm, cùng nghĩa với Long tuyền hay Long uyên. Truyện Trƣơng Hoa trong Tấn thƣ: Giữa vùng sao đẩu và sao ngƣu có ánh sáng tía. Lôi Hoán ngƣời Dự Chƣơng nói: Đó là kiếm khí xông lên trời xanh mà ra. Trƣơng Hoa hỏi nó ở quận nào? Hoán bảo ở Phong thành, đất Dự Chƣơng. Hoa liền bổ chức Phong Thành lệnh cho Hoán, khi Hoán đến liền cho khai quật nền ngục, đào sâu hơn bốn trƣợng, thì gặp một hộp đá, ánh sáng lạ thƣờng, bên trong có hai thanh kiếm có khắc chữ Long tuyền và Thái a. Đêm ấy không còn thấy ánh sáng tía giữa vùng sao đẩu và sao ngƣu nữa.

369

Ngoảnh đầu nhìn con phố ngƣời ta thắp lửa truyền nhau, Giật mình nhận thấy ánh sáng của kiếm rực chiếu lên sao đẩu. Dịch thơ: Thuyền đỗ sông Ngô tuyết đã tàn, Đêm dâng hơi ấm, lạnh đà tan. Đông qua, hƣơng ngát mai đem tặng, Xuân đến, câu hay điệu nhịp tràn. Nƣớc cũ chƣa về, buồn áo gấm, Sang năm rỗi việc, cứ say khan. Ngoảnh đầu phố nhỏ truyền nhau nến, Ánh sáng rọi sao đến bàng hoàng. 吳澧溪曰非惡盛服羞未歸耳非愛甘酒喜無事耳 Ngô Lễ Khê bàn: Không phải ghét mặc y phục đẹp đẽ đàng hoàng mà thẹn thùng bởi lẽ chƣa thể về đƣợc quê hƣơng, không phải thích rƣợu ngon mà là mừng cho thân mình đƣợc vô sự. 阮素如曰往復元機一語道出風致悠然沈挫悠揚 淡中有味 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Cơ trời đắp đổi, một lời nói ra, phong nhã dằng dặc, sâu lắng du dƣơng, trong cái đạm nhạt vẫn có dƣ vị. 25.客中元日 一川花柳靄佳晨 客況瀟然淨點塵 湖海未醒羇旅夢 鬢毛爭品歲時新 但知弧矢奇男子 不覺衣冠飭老臣 篷上橫斜梅影動 暗香彷彿故園春 KHÁCH TRUNG NGUYÊN NHẬT Nhất xuyên hoa liễu ái giai thần, Khách huống tiêu nhiên tịnh điểm trần. Hồ hải vị tinh ki lữ mộng, Mấn mao tranh phẩm tuế thời tân. Đãn tri hồ thỉ kỳ nam tử, Bất giác y quan sức lão thần. Bồng thƣợng hoành tà mai ảnh động, Ám hƣơng phảng phất cố viên xuân. Dịch nghĩa: NGÀY ĐẦU NĂM NƠI ĐẤT KHÁCH Đầy sông hoa liễu bay, buổi sáng trời quang tạnh thật đẹp, Tình cảnh của khách thƣ thái sạch bụi trần. Biển hồ vẫn chƣa tỉnh cơn mộng lữ thứ, Mái tóc bạc tranh mới với tháng năm. Chỉ biết rằng cung tên làm bậc nam tử trở nên kỳ tài,

Nào hay áo mão chỉ là thứ che đậy ngƣời bầy tôi già cả. Trên mái thuyền lá, bóng mai nghiêng khẽ đung đƣa, Hƣơng thơm thoang thoảng nhƣ ở khu vƣờn cũ trong mùa xuân. Dịch thơ: Một sông hoa liễu đẹp muôn phần, Tình khách âu sầu, bụi lắng lâng. Hồ biển chƣa tàn cơn lữ thứ, Tóc mai năm hết bạc vài phân. Cung tên, rằng biết tài nam tử, Áo mão, đâu hay bịp lão thần. Bóng động mai nghiêng trên mái cỏ, Hƣơng thầm phảng phất cõi vƣờn xuân. 26.夜寒偶作1 滞雨敲冰冷轉衾 爐烟欲燼五更心 春風爲送鄉情燠 晴雪偏憐旅夢深 催枕有聲銅漏迸 禦寒無力酒香沈 插瓶斜照梅花影 思入陪遊玩上林 DẠ HÀN NGẪU TÁC Trệ vũ xao băng lãnh chuyển khâm, Lô yên dục tẫn ngũ canh tâm. Xuân phong vị tống hƣơng tình úc, Tình tuyết thiên liên lữ mộng thâm. Thôi chẩm hữu thanh đồng lậu tính, Ngự hàn vô lực tửu hƣơng trầm. Sáp bình tà chiếu mai hoa ảnh, Tứ nhập bồi du ngoạn Thƣợng Lâm. Dịch nghĩa: CHỢT LÀM THƠ TRONG ĐÊM LẠNH Mƣa dầm gõ xuống băng giá, lạnh lồng vào áo chăn, Lò hƣơng sắp tàn giữa đêm năm canh một tấm lòng. Gió xuân sƣởi ấm gợi mối tình quê hƣơng, Tuyết sáng riêng thƣơng giấc mộng của khách. Bên gối ngủ có tiếng đồng hồ rỏ giọt thánh thót, Cốc rƣợu lắng hƣơng nên chẳng đủ sức xua cái lạnh. Bóng mai cắm trong bình nến rọi nghiêng nghiêng, Gợi hứng muốn lên chơi cảnh Thƣợng Lâm. Dịch thơ: Mƣa dầm khăn áo giá băng xông, Hƣơng lụn năm canh một tấm lòng. Gió tiễn tình quê nồng nỗi nhớ, 1 Nguyên chú: 時癸亥春正月望後作 Bài thơ làm sau đêm rằm tháng giêng, mùa xuân Quý Hợi.

370

Gạt lệ thẹn cùng loài cáo sói, Cúi đầu nghe vẳng tiếng quê hƣơng. Xa nghiêm mình lạy, vong linh chứng, Trƣớc kính sầu xui tóc điểm sƣơng. 吳澧溪曰君子有終身之喪父母之諱日也而客中 適遇此日雲天萬里枌梓一方顧毛水而無從恨關 山之難縮家情國事苦况平分不覺桑蓬之志易足 而若灰香火之誠難供而自鬱想物類之祭魚祭獸 揮涕空慙聽鳥聲之行不得哥低頭莫奈於是整容 參拜望見鑒於虛靈對鏡催愁只自嗟夫老境此篇 辭意溫雅血脈聯絡總因孝念呵成全無文飭行役 君子宜各寫一通 Ngô Lễ Khê bình: Ngƣời quân tử có tang suốt đời ấy là ngày giỗ cha mẹ, mà giữa đƣờng xa xôi lại gặp phải ngày ấy, trời mây muôn dặm, quê hƣơng một phƣơng, dòng nƣớc khó làm tan nỗi hận, quan san khó nén đƣợc, việc nƣớc tình nhà, nỗi khổ ngang nhau, nào biết chí tang bồng dễ thoả, mà đốt nén hƣơng tỏ lòng thành khó thay, mới thấy uất buồn nhớ những món đồ tế cúng thì bày cá bày thịt tế, gạt lệ thẹn nghe tiếng chim kêu thì không đi đƣợc, cúi đầu nào biết làm gì, thế rồi sửa soạn dung mạo tham bái mong vong linh chứng giám, soi gƣơng sầu giục chỉ biết tự than vãn cảnh già, bài thơ này ý lời ôn nhã, huyết mạch liền lạc, đều vì lòng hiếu mà nên thơ, cả bài không thấy dấu vết tô vẻ, ngƣời quân tử đi làm việc nơi xa nên mỗi bài đều viết một mạch. 阮素如曰難易二字似有深意句法圓活出自天趣 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Hai chữ “khó” “dễ” nhƣ có thâm ý, cú pháp tròn trịa trôi chảy tự nhiên. 29.又步鄭艮齋元韻 擕步栖霞入洞扉 傳燈一點尙熹微 燠囘鹤夢烟初散 曉送鯨音露正晞 巖竹風高清影瘐 谷闌1雨潤素心肥 山僧不識南人服 笑認蓬萊羽客飛 HỰU BỘ TRỊNH CẤN TRAI NGUYÊN VẬN Huề bộ Thê Hà nhập động phi, Truyền đăng nhất điểm thƣợng hi vi. Úc hồi hạc mộng yên sơ tán, Hiểu tống kình âm lộ chính hy. Nham trúc phong cao thanh ảnh sấu, Cốc lan vũ nhuận tố tâm phì.

Tuyết thƣơng mộng khách đƣợm niềm trông. Đồng hồ nƣớc giọt, xua cơn ngủ, Chén rƣợu hƣơng phai, thấy lạnh lòng. Mai cắm trong bình nghiêng bóng rọi, Thƣợng Lâm muốn dạo hứng dâng nồng. 吳澧溪曰漏能催枕聲促矣酒不禦寒力微矣促漏 必不能成夢微酒必不能得醉寒夜漫漫何以消遣 此情此景似覺無聊 Ngô Lễ Khê bình: Giọt nƣớc đồng hồ có thể xua giấc ngủ, tiếng nƣớc giọt gấp rút lắm vậy; rƣợu không ngăn nổi cơn lạnh, men nồng không đủ độ vậy; giọt nƣớc đồng hồ rỏ gấp ắt không thể thành mộng, rƣợu nhạt ắt không thể làm ngƣời say; đêm lạnh đằng đẵng, lấy gì tiêu khiển, tình ấy cảnh ấy nhƣ khiến ta cảm đƣợc nỗi chán ngán của tác giả. 27.客中遇諱日感作 两度年華萬里行 家情國事半經營 桑蓬易足平生志 香火難供一寸誠 揮淚自羞豺獺念 低頭空聽鷓鴣聲 整容參望虛靈鑒 霜鬂愁催鏡裡盈 KHÁCH TRUNG NGỘ HUÝ NHẬT CẢM TÁC Lƣỡng độ niên hoa vạn lý hành, Gia tình quốc sự bán kinh doanh. Tang bồng dị túc bình sinh chí, Hƣơng hoả nan cung nhất thốn thành. Huy lệ tự tu sài lãn niệm, Đê đầu không thính giá cô thanh. Chỉnh dung tham vọng hƣ linh giám, Sƣơng mấn sầu thôi kính lý doanh. Dịch nghĩa: GIỮA ĐẤT KHÁCH GẶP NGÀY GIỖ, CẢM XÖC LÀM THƠ Hai mùa xuân qua, ta vẫn ở nơi xa vạn dặm, Tình nhà việc nƣớc mới trải qua một nửa. Bình sinh chí tang bồng dễ thành, Một tấc lòng thành nhƣng khó việc khói hƣơng. Gạt lệ tự thẹn cho lòng hiếu của mình thua loài sói, Cúi đầu buồn nghe tiếng đa đa vẳng. Sửa áo mão bái lạy nơi xa, mong hƣơng linh chứng giám, Soi gƣơng nỗi sầu làm hai mái tóc trắng bạc đầy. Dịch thơ: Hai độ niên hoa vạn dặm đƣờng, Tình nhà việc nƣớc, vẫn còn vƣơng. Cuộc đời cung kiếm âu dễ vẹn, Một tấc lòng thành khó khói hƣơng.

1 Nguyên văn khắc lan 闌, đúng ra phải là chữ 蘭 này.

371

Mỗi ngày làm việc giúp nhà chài, nên sinh kế cũng đủ, Thƣờng thƣờng làm loài cá nƣớc hoảng sợ, oan nghiệp kết thêm. Loài chim biết bay cũng chia loài có lông mao, lông vũ, Những loài chìm sâu khó biết thì nhìn vào vẩy với mai. Nếu nhƣ khiến ngƣời đời biết mà nuôi sớm, Thì nay nó cũng chẳng phải đi ở xa nơi đầm trạch thế kia. Dịch thơ: Vẹt nói tiếng ngƣời, xƣa hiếm thay, Ai thƣơng chim cốc giúp nhà chài? Ngày làm vì chủ, mƣu sinh đủ, Khiến hoảng cá rùa, oan nghiệp vay. Vật lặn khôn nhìn, mai vẩy nhỉ, Loài bay dễ biết, vũ mao ngay! Ngƣời đời nhƣ biết nuôi mày sớm, Đầm trạch từ đây khỏi đoạ đày! 吳澧溪曰世固未有才而不爲人用者鸕鷀飛禽也 而制於人終日浮沈水中爲主人捕漁雖千丈之淵 百丈之潭而魚無所逃其受勞多而得食無幾主人 者豈能制彼之命哉直以均其勞逸而不盡其力調 其饑飽而不專其利故無樊籠而彼自不飛無程勒 而彼自不懈不然以善啄之口嘴豈難充易飽之膓 以能飛之羽毛豈甘爲窮主之用才無大小皆可使 物無善惡皆可制得其術者龍擾虎馴失其術者妻 離子叛 Ngô Lễ Khê bàn: Ở đời chƣa có chuyện kẻ có tài mà không đƣợc ngƣời ta dùng đến. Cồng cộc là loài chim biết bay, mà bị ngƣời ta quản chế, suốt ngày lặn ngụp trong dòng nƣớc để bắt cá cho chủ, dẫu vực sâu ngàn trƣợng, đầm sâu trăm trƣợng thế mà loài cá cũng không biết trốn vào đâu. Chim cốc làm lụng khổ nhọc mà đƣợc ăn thì có mấy, ngƣời chủ vì sao có thể nắm đƣợc đời sống của nó? ấy bởi, làm cân bằng sự khó nhọc và nhàn nhã của nó mà không làm kiệt sức của nó, điều hoà cái no cái đói của nó nên nó không ham lợi riêng, vì vậy chẳng cần lồng cũi mà nó cũng chẳng bay đi, không cần sắp xếp hối thúc mà nó cũng không lƣời biếng. Nếu không vì cái mỏ của nó giỏi việc bắt cá thì khó mà làm no cái bụng mình và nó là loài chim biết bay há cam chịu bị ngƣời chủ sai khiến. Tài không phân biệt lớn nhỏ đều có thể dùng, vật không phân biệt lành dữ đều có thể quản thúc. Ngƣời đƣợc cái thuật ấy thì rồng cọp cũng theo, mà mất cái thuật ấy thì vợ con cũng xa lìa. 阮素如曰世珍鸚鵡以其能言耳鸕鷀事人以身終 日劬勞不遺餘力不言不語誰則知之一語中令人 無限感嘆

Sơn tăng bất thức nam nhân phục, Tiếu nhận Bồng Lai vũ khách phi.1 Dịch nghĩa: LẠI LÀM THEO NGUYÊN VẦN THƠ TRỊNH CẤN TRAI Cùng nhau đi lên Thê Hà vào cửa động, Một ngọn đèn truyền còn sáng lập loè. Hơi ấm vào giấc mơ hạc, khói vừa tan, Tiếng chuông sớm vọng vào, sƣơng đang mờ. Trúc núi trong gió cao, bóng trúc gầy, Lan trong hang núi thấm mƣa, lòng lan mập. Nhà sƣ không quen với y phục ngƣời nƣớc Nam, Cƣời tƣởng khách là tiên ở Bồng Lai. Dịch thơ: Dạo bƣớc Thê Hà, cửa động bày, Truyền đăng một ngọn sáng lung lay. Đêm nồng giấc hạc, sƣơng tan tác, Sáng vẳng chuông kình, móc phất bay. Trúc núi gió lùa, nghiêng dáng gộc, Lan rừng mƣa đƣợm, ngát lòng say. Phƣơng nam áo mão, sƣ không biết, Cƣời tƣởng Bồng Lai tiên đến đây. 阮素如曰語有禅理 Nguyễn Tố Nhƣ nói: Lời có lẽ thiền. 31.鸕鷀 能言鸚鵡古來珍 誰愛鸕鷀事主人 日爲漁家生計足 時驚水族業寃頻 飛禽有類分毛羽 潛物無端認甲鱗 若使世人知早畜 澤梁今亦不征巡 LÔ TƢ2 Năng ngôn anh vũ cổ lai trân, Thuỳ ái lô tƣ sự chủ nhân. Nhật vị ngƣ gia sinh kế túc, Thời kinh thuỵ tộc nghiệp oan tần. Phi cầm hữu loại phân mao vũ, Tiềm vật vô đoan nhận giáp lân. Nhƣợc sử thế nhân tri tảo súc, Trạch lƣơng kim diệc bất chinh tuần. Dịch nghĩa: CHIM CỐC Chim vẹt có thể nói chuyện đƣợc, xƣa nay quý, Có ai thích chim cốc biết phụng sự chủ nhân? 1 Vũ khách: khách mặc áo lông chim, chỉ tiên, đạo sĩ. Ở đây có ý chỉ sứ đoàn Việt Nam mặc áo tay dài nhƣ tiên ở Bồng Lai. 2 Lô tƣ: chim cốc, còn gọi là con cồng cộc, ô quỵ, thuỵ lão nha, chàng cốc. Loài chim này quen thuỵ tính, lại biết lặn bắt cá ăn. Khi bị đuổi bắt, nó có thể lặn xuống nƣớc hàng mƣơi để trốn tránh. Vì cồng cộc có lông đen tuyền nên gọi là quạ nƣớc, quỵ đen.

372

Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Đời chuộng chim vẹt vì nó biết nói, chim cốc biết đem thân phụng sự chủ mình thì suốt ngày cực nhọc không còn hơi sức, không nói không rằng thì ai mà biết. Chỉ một lời thơ mà khiến ngƣời ta cảm thán vô cùng. 32.桂林解纜次韻 1 錦帆高挂挹清飊 晚趂平灘聽水潮 咫尺天庭來玉詔 百千里路放闌橈 望窮嶺樹鄉關異 吟罷江梅歲月銷 斾影日光新國號 遙分仙寵耀南朝 QUẾ LÂM GIẢI LÃM THỨ VẬN2 Cẩm phàm cao quải ấp thanh tiêu, Vãn nhĩ bình than thính thuỵ triều. Xích chỉ thiên đình lai ngọc chiếu, Bách thiên lý lộ phóng lan nghiêu. Vọng cùng lĩnh thụ hƣơng quan dị, Ngâm bãi giang mai tuế nguyệt tiêu. Bái ảnh nhật quang tân quốc hiệu, Dao phân tiên sủng diệu Nam triều. Dịch nghĩa: RỜI THUYỀN Ở QUẾ LÂM, THEO THỨ VẬN Buồm gấm giƣơng cao lộng gió, Chiều nơi bến lặng, nghe tiếng thuỵ triều. Triều đình gần bên ban chiếu xuống, Trăm ngàn dặm đƣờng buông mái chèo. Nhìn khắp núi non, cây cối, xóm làng đều xa lạ, Ngâm thơ xong bên bờ sông mai, thấy năm tháng đã hết. Dƣới ánh nắng bóng cờ bay mang quốc hiệu mới, Nơi xa đƣợc sủng nhƣ tiên, làm rạng rỡ triều Nam. Dịch thơ: Buồm gấm giƣơng cao, lộng gió ngàn, Bến chiều lặng sóng tiếng triều vang. Chèo lan buông mái, xa ngàn dặm, Chiếu ngọc thiên đình, cách tấc gang. Cây núi trông vời nơi đất lạ, Mai sông ngâm ngợi tháng năm tàn. Nắng soi quốc hiệu cờ phơi phới, Đƣợc sủng, Nam triều cũng vẻ vang. 33. 鸕鷀塘夜泊 次 韻 鸕鷀塘口枕晴山

一繫仙槎傍竹灣 放筏漁人敎鳥宿 迩墟野婦串魚還 宦情淡蕩江流潔 客思低徊漏轉閑 高捲篷窗天色曙 白雲渺渺水潺潺 LÔ TƢ ĐƢỜNG DẠ BẠC THỨ VẬN3 Lô Tƣ đƣờng khẩu chẩm tình san, Nhất hệ tiên tra bạng trúc loan. Phóng phiệt ngƣ nhân giao điểu túc, Nhĩ khƣ dã phụ xuyến ngƣ hoàn. Hoạn tình đạm đãng giang lƣu khiết, Khách tứ đê hồi lậu chuyển nhàn. Cao quyển bồng song thiên sắc thự, Bạch vân miểu miểu thuỵ sàn sàn. Dịch nghĩa: THEO VẦN BÀI ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở ĐẦM LÔ TƢ Cửa bờ Lô Tƣ gối vào núi non quang tạnh, Buộc thuyền nghỉ ở bên cạnh bờ trúc. Ông chài thả bè, chim về rừng nghỉ, Ngƣời đàn bà quê nơi gò bên, mang xâu cá trở về. Tình quan bình đạm nhƣ dòng sông trong trôi chảy, Ý khách bồi hồi theo giọt đồng hồ rơi. Cuốn rèm cửa thuyền lên cao, màu trời sáng sủa, Mây trắng bay miên man, dòng nƣớc chảy dạt dào. Dịch thơ: Cửa bến Lô Tƣ gối núi ngàn, Bè tiên ghé nghỉ trúc mơn man. Lão chài thả mặc bè chim đỗ, Cô gái quay về xiên cá ngon. Đạm bạc tình quan dòng nƣớc chảy, Bồi hồi ý khách giọt đồng khan. Cửa bồng cuốn hết, màu trời sáng, Mây trắng bồng bềnh, nƣớc chứa chan. 吳澧溪曰漁人何閒野婦何忙豈教鳥宿者胸中已 無物我串魚還者念頭尙有夫兒一忙一閒對得亦 覺有趣 Ngô Lễ Khê bình: Lão chài nhàn sao, gái quê bận sao! Ngƣời bỏ mặc chim chóc nghỉ đỗ, ấy trong lòng đã không phân biệt là ta hay là vật, kẻ xiên cá trở về, ấy trong suy nghĩ vẫn còn có chồng có con. Một ngƣời bận bịu, một ngƣời thong dong, mà đối đƣợc, cũng cảm thấy thật thú vị. 34.全州客中端午 臘月梅花五月萱

1 Nguyên chú: 時得命在桂林省癸亥夏四月奉詔詣上京初革國號旗 題越南國使 Lúc bấy giờ đƣợc lệnh chờ ở Quế Lâm, tháng 4 năm Quý Hợi (1803) phụng chiếu lên kinh, vừa mới đổi tên nƣớc, trên cờ đề là sứ đoàn nƣớc Việt Nam. 2 Bài này tác giả làm theo vần của bài Quế Lâm giải lãm của Trịnh Hoài Đức.

3 Thứ vận: hoạ thơ theo thứ tự các vần trong bài thơ gốc, gọi là thứ vận. Thể này bắt đầu từ Nguyên Chẩn và Bạch Cƣ Dị đời Đƣờng. Bài thơ này tác giả làm theo vần bài Lô Tƣ đƣờng dạ bạc của Trịnh Hoài Đức.

373

Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Đan xen lẫn lộn, kẻ tiểu gia chẳng thể nói, mà cũng không dám nói, lời thơ ôn hậu. 35.又次艮齋韻 一片星槎萬里山 乾坤無處不爲閑 遙傾葵影遊燕壁 惹帶荷香入楚關 風爲石榴然舊燼 雨憐湘竹洗餘潸 舟中次第筳蒲飲 不在朝班亦使班 HỰU THỨ CẤN TRAI VẬN Nhất phiến tinh tra vạn lý san, Càn khôn vô xứ bất vi nhàn. Dao khuynh quỳ ảnh du Yên bích, Nhạ đới hà hƣơng nhập Sở quan. Phong vị thạch lƣu (lựu) nhiên cựu tẫn, Vũ liên Tƣơng trúc tẩy dƣ san.1 Chu trung thứ đệ diên bồ ẩm, Bất tại triều ban diệc sứ ban. Dịch nghĩa: LẠI LÀM THEO VẦN THƠ CỦA CẤN TRAI Một chiếc thuyền vƣợt muôn ngàn núi non, Đất trời không nơi nào là không nhàn. Xa xa nghiêng bóng hoa quỳ vào vách Yên, Mang theo làn hƣơng sen vào cửa Sở. Gió vì thạch lựu khơi lên đóm than cũ, Mƣa thƣơng trúc đốm bên sông Tƣơng, gội sạch những dòng lệ thừa. Trong thuyền theo thứ tự mở tiệc rƣợu bồ, Không phải ở nơi triều đình thì cũng là nơi thuyền sứ. Dịch thơ: Một mảnh bè sao vƣợt dặm ngàn, Đất trời khắp chốn thật an nhàn. Xa nghiêng bóng nhật qua Yên bích, Mang đƣợm hƣơng sen đến Sở quan. Thạch lựu gió lùa khơi đóm lửa, Trúc Tƣơng mƣa rửa gội màu tang. Trong thuyền bồ tửu chia thù tạc, Chẳng ở triều ban cũng sứ ban. 阮素如曰帶荷入楚得之騷經唐人風格 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Mang đƣợm hƣơng sen vào đất Sở, đạt đƣợc ý của Li tao, có phong cách của ngƣời thời Đƣờng.

謾將景况說寒暄 黃巵半酌瘳鄉思 白扇頻開憶主恩 使節迎祥當艾葉 征鞭却癖勝蒲根 秋來國事營成後 月艶歸舟玉滿樽 TOÀN CHÂU KHÁCH TRUNG ĐOAN NGỌ Lạp nguyệt mai hoa, ngũ nguyệt huyên, Mạn tƣơng cảnh huống thuyết hàn huyên. Hoàng chi bán chƣớc liêu hƣơng tứ, Bạch phiến tần khai ức chủ ân. Sứ tiết nghênh tƣờng đƣơng ngải diệp, Chinh tiên khƣớc tịch thắng bồ căn. Thu lai quốc sự doanh thành hậu, Nguyệt diễm quy chu ngọc mãn tôn. Dịch nghĩa: TIẾT ĐOAN NGỌ LÀM KHÁCH Ở TOÀN CHÂU Hoa mai tháng chạp, cỏ huyên trong tiết tháng năm, Chớ đem cảnh trạng bây giờ mà nói chuyện cùng nhau. Nhấp chén rƣợu hoa vàng, để an ủi nỗi nhớ quê hƣơng, Thƣờng mở chiếc quạt trắng ra, lòng nhớ đến ơn chúa. Đi sứ, đón tết đoan ngọ bằng cờ tiết thay cho lá ngải, Ruổi ngựa nơi xa, xua nỗi phiền muộn trong lòng hơn cả dùng cỏ bồ. Sau khi mùa thu đến, làm xong việc nƣớc, Trên thuyền về trong ngày trăng đẹp chén ngọc rƣợu tràn. Dịch thơ: Đoan ngọ huyên nồng, tháng chạp mai, Đừng đem cảnh huống vội phô bày. Nhớ quê quay quắt nâng ly đắng, Luyến chúa mơ màng mở quạt xoay. Lá ngải đón hên, bằng sứ tiết, Rễ bồ xua muộn, có roi đây. Thu sang, việc nƣớc vẹn toàn cả, Trăng sáng thuyền về rƣợu ngát say. 吳澧溪曰重在持節故艾葉爲輕樂在揮鞭故蒲根 無用 Ngô Lễ Khê bàn: Xem trọng việc cầm cờ tiết đi sứ nên lá ngãi là thƣờng, vui ở việc quất roi ruổi ngựa đi sứ nên rễ bồ cũng chẳng cần chi. 阮素如曰錯錯落落小家不能道亦不敢道語有温 厚

1 Tƣơng trúc: trúc bên sông Tƣơng, còn gọi là hoàng trúc, trúc ở nơi này có màu vàng lốm đốm, tƣơng truyền là do nƣớc mắt của Nga Hoàng và Nữ Anh khóc thƣơng vua Thuấn làm vấy vào trục bên sông Tƣơng nên có màu nhƣ thế.

374

36.題湘山寺 江天極望漫勞神 偶入禪關半珥塵 妙塔空畱無量骨 法輪已轉不生身 雲幪楚澤曇花湧 鍚掛湘山色界新 佛教原來何異諦 亦將忠孝渡迷津 ĐỀ TƢƠNG SƠN TỰ Giang thiên cực vọng mạn lao thần, Ngẫu nhập thiền quan bán nhĩ trần. Diệu tháp không lƣu vô lƣợng cốt, Pháp luân dĩ chuyển bất sinh thân. Vân mông Sở trạch đàm hoa dũng, Tích quải Tƣơng sơn sắc giới tân. Phật giáo nguyên lai hà dị đế? Diệc tƣơng trung hiếu độ mê tân. Dịch nghĩa: ĐỀ THƠ CHÙA TƢƠNG SƠN Nhìn khắp trời sông cũng mệt thần, Chợt đi vào cửa thiền sạch bụi trần. Tháp Phật còn trơ xƣơng cốt của bậc vô lƣợng, Bánh xe pháp đã chuyển xoay, thân bất sinh bất diệt. Mây giăng đầm Sở, hoa đàm nở, Gậy thiền dậm núi Tƣơng, cõi sắc mới mẻ. Đạo Phật vốn không có chân lý nào khác, Cũng đem lòng hiếu trung cứu độ mọi ngƣời ra khỏi bờ mê. Dịch thơ: Trông khắp non sông cũng mệt thần, Cửa thiền chợt đến lắng hồng trần. Cốt xƣơng vô lƣợng, lƣu linh tháp, Thân hoá bất sinh, chuyển pháp luân. Trƣợng dậm non Tƣơng, phô cõi sắc, Mây che đầm Sở, nở hoa đàm. Chung nguồn Phật giáo đâu gì khác, Trung hiếu cứu ngƣời khỏi bến sân. 吳澧溪曰此句若與韓公辨省得佛骨表許多筆力 Ngô Lễ Khê bàn: câu này nhƣ đem so với bài biểu Can việc đón rƣớc Phật cốt của Hàn Dũ thì bút lực mạnh hơn nhiều. 阮素如曰如來心印不與儒者異道 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Tâm ấn của Nhƣ Lai cũng không khác với nhà Nho. 37.又步鄭艮齋元韻 十一毫光放楚南 慈風尙在寶陀龕 飛袈有跡傳來世

慧骨無量証古庵 偶泛仙槎豋彼岸 何妨儒履歷優曇 幾千載事幾千里 定有前因幸一參 HỰU BỘ TRỊNH CẤN TRAI NGUYÊN VẬN Thập nhất hào quang phóng Sở nam, Từ phong thƣợng tại Bảo Đà kham. Phi ca hữu tích truyền lai thế, Tuệ cốt vô lƣơng chứng cổ am. Ngẫu phiếm tiên tra đăng bỉ ngạn, Hà phƣơng nho lý lịch ƣu đàm. Kỵ thiên tải sự kỵ thiên lý, Định hữu tiền nhân hạnh nhất tham. Dịch nghĩa: LẠI LÀM THEO NGUYÊN VẬN THƠ TRỊNH CẤN TRAI Mƣời một ánh hào quang toả xuống vùng Sở nam, Gió từ bi vẫn còn ở khám Bửu Đà. Y bát vẫn còn dấu truyền đến đời sau, Xƣơng cốt vô lƣờng vẫn còn chứng nơi am miếu cổ. Bất chợt thuyền sứ lên bờ bên kia, Nào ngại gót giày nhà nho bƣớc trên hoa ƣu đàm. Chuyện cách mấy ngàn năm, nơi xa mấy ngàn dặm, Hẳn có nhân duyên kiếp trƣớc mới may mắn gặp nơi này. Dịch thơ: Hào quang rọi khắp Sở Nam loà Gió mát từ bi lộng Bửu Đà. Còn dấu cà sa truyền hậu thế, Vô lƣờng cốt tuệ giữa lăng già. Bè tiên, bờ giác, tình cờ đến, Giày Khổng, hoa đàm, chẳng ngại qua. Chuyện mấy ngàn năm, xa vạn lý, Nhân duyên chắc có mới gặp a! 阮素如曰起句陡然光芒四射不可正視 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Câu khởi cao vời, ánh sáng chói lọi bốn bề, không dám nhìn thẳng. 39.瀟湘舟行雜興四首 其一夜酒興 寒燈燒白日 疏雨洗黃昏 竹洒湘妃淚 江流楚客魂 閒雲歸古峒 新月弔孤村 回首鄉關異 呼童且滿樽

375

TIÊU TƢƠNG CHU HÀNH TẠP HỨNG TỨ THỦ KỲ NHẤT DẠ TỬU HỨNG Hàn đăng thiêu bạch nhật, Sơ vũ tẩy hoàng hôn. Trúc sái Tƣơng phi lệ, Giang lƣu Sở khách hồn. Nhàn vân quy cổ động, Tân nguyệt điếu cô thôn. Hồi thủ hƣơng quan dị, Hô đồng thả mãn tôn. Dịch nghĩa: ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG TIÊU TƢƠNG LÀM BỐN BÀI TẠP HỨNG 1. HỨNG RƢỢU ĐÊM Ngọn đèn lạnh thiêu ban ngày, Mƣa nhẹ gội bóng hoàng hôn. Trúc vấy lệ Tƣơng phi, Dòng sông trôi hồn ngƣời nƣớc Sở. Mây nhàn nhã bay về động cũ, Bóng trăng non treo trên xóm thôn cô lẻ. Quay đầu nhìn quê hƣơng xa lạ, Gọi trẻ rót rƣợu thật đầy. Dịch thơ: Đèn tàn thiêu nắng nhạt, Mƣa lạnh gội hoàng hôn. Giọt lệ Tƣơng vấy trúc, Cõi hồn Sở trôi suông. Mây nhàn về động cũ, Trăng khuyết giữa làng thôn. Ngảnh mặt, quê hƣơng lạ, Gọi đồng rót rƣợu luôn. 吳澧溪曰更闌人定萬籟無聲旅況鄉情越想越惱 故夜宜酒興 Ngô Lễ Khê bàn: Canh tàn ngƣời lặng lẽ, thiên nhiên tĩnh mịch, nỗi niềm lữ khách xa quê, càng nghĩ càng não lòng, nên đêm tối khởi hứng uống rƣợu. 40.其二朝畫興 曉看篷窗外 江天景色幽 村姑粧地面 野叟剃山頭 渺渺白雲捲 滔滔碧水流 呼童開畫譜 點染寫松楸 KỲ NHỊ TRIÊU HOẠ HỨNG Hiểu khán bồng song ngoại, Giang thiên cảnh sắc u. Thôn cô trang địa diện,

Dã tẩu thế sơn đầu. Miểu miểu bạch vân quyển, Thao thao bích thuỵ lƣu. Hô đồng khai hoạ phả, Điểm nhiễm tả tùng thu. Dịch nghĩa: 2. HỨNG VẼ BUỔI SÁNG Sáng ngắm nhìn ngoài cửa thuyền, Cảnh sắc trời sông thanh tịch. Cô gái thôn quê làm đẹp mặt đất, Lão già quê bừa nơi đầu non. Xa xa mây trắng cuộn bay, Dòng nƣớc xanh cuồn cuộn chảy. Gọi trẻ mang giấy bút, Chấm mực phác vẽ cảnh cây thu, cội tùng. Dịch thơ: Song thuyền mai sớm ngóng, Thanh vắng cảnh trời sông. Ông lão cày đồi trọc, Gái quê điểm đất hồng. Xa xa mây trắng cuốn, Cuồn cuộn nƣớc xanh dong. Gọi trẻ bày tranh vẽ, Thu, tùng mấy nét xong! 吳澧溪曰百感未起情明在躬筆墨精良神思飄蕩 故朝宜畫興 Ngô Lễ Khê bàn: Trăm nỗi niềm chƣa khởi hết, mà tình nhƣ giƣơng cung, bút mực tinh tế đẹp đẽ, thần tứ phiêu đãng, nên sáng sớm nổi hứng vẽ tranh. 41.其三午茶興 午倦不成夢 臨流濯足頻 解衣驚作主 傾蓋謾逢人 夏暑若無酷 南風未當仁 茶甌能瀉悶 呼稚汲江濱 KỲ TAM NGỌ TRÀ HỨNG Ngọ quyện bất thành mộng, Lâm lƣu trạc túc tần. Giải y kinh tác chủ, Khuynh cái mạn phùng nhân. Hạ thử nhƣợc vô khốc, Nam phong vị đáng nhân. Trà âu năng tả muộn, Hô trĩ cấp giang tân. Dịch nghĩa: 3. HỨNG TRÀ BUỔI TRƢA Trƣa mệt ngủ không thành giấc,

376

Mặt nƣớc bằng lặng nhƣ dòng lụa phơi. Gọi trẻ nhỏ đem bút mực ra, Tìm vần tả nỗi tình tao nhã xa xôi. Dịch thơ: Khói chiều quyện nơi thôn xóm, Ánh nắng dần nhạt sông thanh. Tiếng hát ngƣời chài gió nhẹ, Trâu về bờ cỏ ƣớt xanh. Đầu non nhỏ nhƣ nồi úp, Mặt nƣớc bằng tựa lụa lanh. Trẻ nhỏ mau đem bút mực, Tìm vần bày giãi tâm tình. 吳澧溪曰返照欲落新潮正生牛背笛聲一山一水 一雲一樹儘可入料故晚宜詩興 Ngô Lễ Khê bàn: Ánh mặt trời phản chiếu sắp tàn, thuỵ triều lại dâng, tiếng sáo trỗi trên lƣng trâu, non núi, sông nƣớc, mây trời, cây cối, đều có thể làm thơ, cho nên buổi chiều khởi hứng làm thơ. 44.題扇贈徐師爺 弧矢男兒志 鬚眉可羨卿 囊中錐未脫 匣裡劍空鳴 桃郡滋生色 琹堂鼓暗聲 遭逢非一話 心志是分明 ĐỀ PHIẾN TẶNG TỪ SƢ GIA Hồ thỉ nam nhi chí, Tu mi khả tiện khanh. Nang trung chuỳ vị thoát, Giáp lý kiếm không minh. Đào quận tƣ sinh sắc, Cầm đƣờng cổ ám thanh. Tao phùng phi nhất thoại, Tâm chí thị phân minh. Dịch nghĩa: ĐỀ QUẠT TẶNG TỪ SƢ GIA Chí làm trai tang bồng hồ thỉ, Đấng mày râu ai cũng mến mộ ông. Nhƣ cái chuỳ trong túi vẫn chƣa thò ra, Tựa thanh kiếm trong hộp cứ kêu vang. Ở quận Đào làm tăng thêm sức sống, Nơi Cầm đƣờng, gảy đàn, tiếng thầm vang. Gặp gỡ nhau chẳng cần nói một lời, Mà tâm chí hiểu thấu rõ ràng nhau. Dịch thơ: Làm trai luống thoả chí tang bồng, Bao đấng mày râu mến mộ ông. Giữa túi chày kia còn chửa lộ, Trong bao kiếm ấy vẫn kêu ong.

Mấy phen xuống dòng nƣớc rửa chân. Cởi áo thì sợ mình là chủ, Nghiêng lọng mặc kệ gặp ngƣời ta. Nắng hè nếu nhƣ không nóng, Gió nam chƣa chắc làm điều nhân. Chén trà có thể giải cơn phiền muộn, Gọi trẻ hầu múc nƣớc đầu bến sông. Dịch thơ: Trƣa mệt ngủ không thành giấc, Vào sông mấy độ rửa chân. Gặp ngƣời cũng thƣờng nghiêng lọng, Làm chủ luôn ngại cởi trần. Hè nắng nếu mà không nóng, Gió nam chƣa hẳn đáng nhân. Chén trà xua tan mệt nhọc, Múc nƣớc, tiểu đồng, mau khuân! 吳澧溪曰臨流濯情解衣納涼薰風徐來暑若失故 午宜茶興 Ngô Lễ Khê bàn: Vào dòng nƣớc để giãi bày mối tình, cởi áo để hóng mát, gió mát hiu hiu thổi đến, cái nắng nóng dƣờng nhƣ cũng mất đi, nên chi buổi trƣa khởi hứng uống trà. 阮素如曰句法似杜而別有風旨 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Cú pháp nhƣ Đỗ Phủ, mà phong vị khác nhau. 42.其四晚詩興 村落煙初聚 晴江暑漸清 牛歸芳草潤 漁唱晚風輕 釜覆山頭峡 練鋪水面平 呼童供筆墨 索韻賦騷情 KỲ TỨ VÃN THI HỨNG Thôn lạc yên sơ tụ, Tình giang thự tạm thanh. Ngƣu quy phƣơng thảo nhuận, Ngƣ xƣớng vãn phong khinh. Phủ phúc sơn đầu giáp, Luyện phô thuỵ diện bình. Hô đồng cung bút mặc, Sách vận phú tao tình. Dịch nghĩa: 4. HỨNG THƠ CHIỀU HÔM Xóm làng khói chiều bay tụ lại, Sông quang tạnh, bóng nắng nhạt dần. Trâu về chuồng khiến bờ cỏ thơm ƣớt đẫm, Tiếng hát của ngƣời đánh cá làm làn gió chiều hây hây. Ngọn núi nhƣ chiếc nồi úp xuống,

377

Mà mộng trong lành đến biển xa. 阮素如曰有風態可詠無情生情落句有味 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Có phong thái, đáng ngâm vịnh, không có tình mà lại sinh tình, câu cuối có dƣ vị. 47.登拱極樓 1 長沙湘水轉滄茫 拱極樓頭望岳陽 漢傅文章遺古樹 楚臣忠憤逐蒼浪 詩臨畫檻雲隨步 酌就花欄雨洗腸 淡泊可憐禪味冷 一甌山茖客情芳 ĐĂNG CỦNG CỰC LÂU Trƣờng Sa Tƣơng Thuỵ chuyển thƣơng mang, Củng Cực lâu đầu vọng Nhạc Dƣơng. Hán phó văn chƣơng di cổ thụ, Sở thần trung phẫn trục thƣơng lang. Thi lâm hoạ hạm vân tuỳ bộ, Chƣớc tựu hoa lan vũ tẩy trƣờng. Đạm bạc khả liên thiền vị lãnh, Nhất âu sơn mính khách tình phƣơng. Dịch nghĩa: LÊN LẦU CỦNG CỰC Dòng sông Tƣơng ở Trƣờng Sa xoay chuyển mênh mang, Nơi lầu Củng Cực ngóng nhìn Nhạc Dƣơng. Văn chƣơng của Giả Nghị, thái phó nhà Hán, còn lƣu với ngàn cây, Nỗi trung phẫn của Khuất Nguyên, bầy tôi nƣớc Sở, còn trôi với sóng xanh. Đến ngƣỡng cửa làm thơ, mây theo bƣớc, Dƣới lan can uống rƣợu, mƣa gội nỗi lòng. Cuộc sống đạm bạc đáng thƣơng, vị thiền lạnh nhạt, Một chén rƣợu núi làm thơm tình khách xa. Dịch thơ: Trƣờng Sa vời vợi nƣớc sông Tƣơng, Lên Củng Cực lầu, ngóng Nhạc Dƣơng. Giả Nghị văn chƣơng, cây cối đƣợm, Khuất Bình trung phẫn, nƣớc còn vƣơng. Thơ thành mây vƣớng bên song vẽ, Rƣợu uống mƣa hoà giữa vách hƣơng. Đạm bạc mừng thay, thiền vị nhạt, Làm thơm tình khách: rƣợu non hƣờng.

Cầm đƣờng, dạo khúc đàn không tiếng, Đào quận, vun bồi tƣơi sắc đông. Gặp gỡ cần chi rƣờm chuyện nói, Mà lòng ai cũng thấu vô cùng. 阮素如曰造語新奇與不遇者增色暗聲二字下得 切實險怪 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Lời lẽ mới mẻ tân kỳ, với ngƣời chƣa từng gặp qua mà hạ hai chữ “tăng sắc, ám thanh” (thêm sức sống, tiếng vang thầm) thực là chân thành mà hiểm quái. 45.題扇贈湘潭陵豫知縣 江關歷歷泛星槎 偶向湘潭覩物華 風惹琹聲堂上曲 園留春色縣中花 北南分土雖千里 今古斯文亦一家 半面莫嫌相識淺 時牽清夢到天涯 ĐỀ PHIẾN TẶNG TƢƠNG ĐÀM LĂNG DỰ TRI HUYỆN Giang quan lịch lịch phiếm tinh tra, Ngẫu hƣớng Tƣơng Đàm đổ vật hoa. Phong nhạ cầm thanh đƣờng thƣợng khúc, Viên lƣu xuân sắc huyện trung hoa. Bắc nam phân thổ tuy thiên lý, Kim cổ tƣ văn diệc nhất gia. Bán diện mạc hiềm tƣơng thức thiển, Thời khiên thanh mộng đáo thiên nha. Dịch nghĩa: ĐỀ QUẠT TẶNG TRI HUYỆN LĂNG DƢ Ở TƢƠNG ĐÀM Thuyền sứ bồng bềnh trải khắp núi non sông hồ, Chợt vào Tƣơng Đàm xem cảnh sắc phồn hoa. Gió lồng khúc nhạc trên công đƣờng, Bông hoa trong vƣờn nhà còn lƣu giữ vẻ xuân khắp huyện. Đất đai chia nam bắc tuy cách xa ngàn dặm, Nhƣng văn hoá xƣa nay cũng chỉ coi là một nhà. Gặp gỡ nhau trong vội vàng, quen biết nhau cũng chẳng mấy, Mà lòng thƣờng mơ giấc mơ đẹp, dạo khắp vùng trời. Dịch thơ: Một mảng bè sao, sông núi qua, Tƣơng Đàm chợt đến, cảnh phồn hoa. Gió đƣa khúc nhạc tràn quan xá, Hoa giữ màu xuân khắp huyện nha. Bờ cõi Bắc Nam, tuy cách trở, Tƣ văn kim cổ, vẫn chung nhà. Gặp nhau vội vã tình chƣa đƣợm,

1 Nguyên chú: 步 雲 田 元 韻 樓 在 橘 洲 長 沙 府 城 對 岸 Làm theo nguyên vần bài thơ của Vân Điền, lầu Củng Cực nằm ở bờ bên kia thành phủ Trƣờng Sa, tại Quất Châu.

378

吳澧溪曰賈屈之事千古同嘆過長沙者原自有此 詩料 Ngô Lễ Khê bàn: Chuyện của Giả Nghị, Khuất Nguyên, ngàn thuở nay ai cũng than thở, những ngƣời qua Trƣờng Sa vốn lấy chuyện đó mà làm thơ. 48.過洞庭湖 片片風帆渡水涯 湖中吳楚水分岐 扁舟月暗蛾眉影 叢竹煙凝玉淚枝 草樹跡迷雲夢輦 黃金名勒岳陽碑 君山十二逕過後 紅橘分甘引酒巵 QUÁ ĐỘNG ĐÌNH HỒ Phiến phiến phong phàm độ thuỵ nhai, Hồ trung Ngô Sở thuỵ phân kỳ. Biên chu nguyệt ám nga mi ảnh, Tùng trúc yên ngƣng ngọc lệ chi. Thảo thụ tích mê Vân Mộng liễn, Hoàng kim danh lặc Nhạc Dƣơng bi. Quân Sơn thập nhị kinh qua hậu, Hồng quất phân cam dẫn tửu chi. Dịch nghĩa: QUA HỒ ĐỘNG ĐÌNH Từng cánh buồm lộng gió qua dòng nƣớc, Trong hồ nƣớc cũng chia Ngô, Sở, nƣớc rẽ làm hai. Một chiếc thuyền nhỏ, vầng trăng mờ nhƣ bóng mày ngài, Khóm trúc, sƣơng khói đọng trên cành nhƣ những giọt lệ ngọc. Cỏ cây làm mờ dấu xe nơi Vân Mộng, Tên vẫn còn thếp vàng trên bia Nhạc Dƣơng. Sau khi qua mƣời hai ngọn núi Quân Sơn, Chén rƣợu uống cùng nhau, chia trái quýt đỏ ngọt ngào. Dịch thơ: Từng cánh buồm căng, vƣợt sóng ngàn, Hồ chia Ngô, Sở, nƣớc hai đàng. Trăng mờ thuyền nhỏ, mày ngài nhạt, Móc đọng trúc tùng, lệ ngọc chan. Vân Mộng làn xe, cây cỏ lấp, Nhạc Dƣơng bia đá, thếp vàng trƣơng. Quân Sơn trải hết mƣời hai ngọn, Quýt đỏ chia nhau, chén rƣợu hƣờng. 吳澧溪曰五湖惟洞庭最好使程過湖往往有詩詩 亦往往多佳句蓋湖中風景甚多應接不暇隨句便 佳譬如作聖人誦不假文章儘有事實施美人粧不 費脂粉儘有華麗

Ngô Lễ Khê bàn: Trong Ngũ hồ, chỉ có hồ Động Đình là đẹp nhất, trên chặng đƣờng đi sứ ai ngang qua hồ này cũng thƣờng có làm thơ, mà thơ cũng thƣờng có nhiều câu hay. Cảnh sắc trong hồ rất nhiều, kẻ xƣớng ngƣời hoà chẳng ngớt, lời lẽ càng hay, thí nhƣ, ca tụng thánh nhân, chẳng cần mƣợn văn chƣơng đẹp đẽ, mà trọn vẹn đầy đặn; trang điểm cho ngƣời đẹp, lại chẳng cần nhờ son phấn mà cũng hoa lệ đẹp thay. 49.偶作 幾度桑田幾度滄 堪輿一塊正茫茫 山河著落枰中久 王伯盈輸局裡忙 天若無文機不造 地因有理險能藏 桑蓬最是平生意 莫厭間關道路長 NGẪU TÁC Kỵ độ tang điền kỵ độ thƣơng, Kham dƣ nhất khối chính mang mang. Sơn hà trứ lạc bình trung cửu, Vƣơng bá doanh du cục lý mang. Thiên nhƣợc vô văn cơ bất tạo, Địa nhân hữu lý hiểm năng tàng. Tang bồng tối thị bình sinh ý, Mạc yếm gian quan đạo lộ trƣờng. Dịch nghĩa: NGẪU NHIÊN LÀM THƠ Mấy độ nƣơng dâu hoá thành biển cả, Một mảnh dƣ đồ còn mịt mờ. Non sông đƣợc hay mất, trong cờ đã có từ lâu, Vƣơng bá thắng hay thua, trong cuộc còn bận. Trời nếu không có văn, cơ xảo không tạo đƣợc, Đất vì có lý, hiểm hung có thể ẩn tàng. Thoả chí tang bồng là ý cả cuộc đời, Nên chẳng chán đƣờng đi cách trở núi non xa xôi. Dịch thơ: Dâu biển bao phen mấy độ dời, Dƣ đồ một mảnh mịt mờ phơi. Non sông đƣợc mất, cờ bày sẵn, Vƣơng bá hơn thua, cuộc chẳng ngơi. Trời nếu không văn, cơ khó tạo, Đất vì có lý, hiểm thƣờng khơi. Bình sinh quyết thoả tang bồng chí, Chẳng ngại đƣờng dài cách biển khơi. 吳澧溪曰構思新奇 Ngô Lễ Khê bàn: Cấu tứ mới lạ. 50 楚中 洞庭湖水岳陽樓

379

千載悠悠爭艷出 巫峽朝飛神女雲 湘江夜鼓靈妃瑟 火殘江口熄人謀 風剩石頭吹鬼術 往古滔滔水逝東 山川定記騷人筆 SỞ TRUNG Động Đình hồ thuỵ Nhạc Dƣơng lâu, Thiên tái du du tranh diễm xuất. Vu Giáp triêu phi Thần nữ vân,1 Tƣơng Giang dạ cổ Tƣơng linh sắt.2 Hoả tàn giang khẩu tức nhân mƣu, Phong thặng thạch đầu xuy quỵ thuật. Vãng cổ thao thao thuỵ thệ đông, Sơn xuyên định ký tao nhân bút. Dịch nghĩa: TRONG ĐẤT SỞ Lầu Nhạc Dƣơng trên hồ Động Đình, Ngàn năm còn tranh nhau phô vẻ đẹp. Thần nữ làm mây sáng bay trên núi Vu, Tƣơng phi đêm gảy đàn sắt vang trên sông Tƣơng. Ngọn lửa tàn trên bến sông, làm tiêu nỗi lo toan của ngƣời, Gió lùa trên đầu ngọn đá, làm trò ma quỵ. Xƣa nay nƣớc vẫn cuồn cuộn chảy về đông, Núi sông hẳn đƣợc ghi vào bút mực của bậc tao nhân. Dịch thơ: Lầu Nhạc Dƣơng trên cõi Động Đình, Ngàn năm phô vẻ đẹp tƣơi xinh. Non Vu sớm sớm, mây Thần nữ, Tƣơng Thuỷ đêm đêm, khúc Nữ Anh. Trên bến lửa tàn, niềm khách lịm, Đầu ghềnh gió nổi, quỷ ma sinh. Về đông nƣớc chảy xƣa nay vẫn, Sông núi tao nhân bút mặc tình. 阮素如曰雅淡有古意 Nguyễn Tố Nhƣ bình: Thanh nhã, bình đạm, có ý xƣa. 51.過南屏山懷古 南屏一望憶人龍 湖海滔滔水逝東 野燒晚迷江口火 浦雲晴捲石頭風 煙波乍散吞吳恨 臺榭猶留輔漢攻

欲認千秋經畫地 青霜紫電靄山中 QUÁ NAM BÌNH SƠN HOÀI CỔ Nam Bình nhất vọng ức nhân long,3 Hồ hải thao thao thuỵ thệ đông. Dã thiêu vãn mê giang khẩu hoả, Phố vân tình quyển thạch đầu phong. Yên ba sạ tán thôn Ngô hận, Đài tạ do lƣu phụ Hán công. Dục nhận thiên thu kinh hoạch địa, Thanh sƣơng tử điện ái sơn trung. Dịch nghĩa: QUA NÚI NAM BÌNH NHỚ CHUYỆN XƢA Vừa nhìn núi Nam Bình nhớ đến Rồng ngƣời, Biển hồ nƣớc chảy cuồn cuộn trôi về đông. Lửa đốt đồng chiều tối làm mờ cửa sông, Gió thổi mây bến cuộn trên đầu núi đá. Khói sóng chợt tan nhƣ cơn hận thôn tính nƣớc Ngô, Đền đài vẫn còn nhƣ công phò nhà Hán. Muốn nhìn vùng đất chia ba chân vạc ngàn năm trƣớc, Mà sƣơng xanh chớp tía mù cả núi non. Dịch thơ: Nhác thấy Nam Bình, nhớ Ngoạ Long, Cuộn dòng hồ biển nƣớc về đông. Lửa đồng chiều muộn mờ bờ bến, Mây gió đầu non cuốn cõi không. Đền gác còn ghi công giúp Hán, Khói sông tản mát hận thôn Đông. Muốn nhìn vùng đất ngàn năm trƣớc, Chớp tía sƣơng xanh núi mịt mùng. 52.登黃鶴樓作 黃鶴樓頭象外寬 漢陽城郭遶晴瀾 呂仙醉後重來杳 崔灝詩成再和難 塵夢未醒青草畔 鄉心每寄白雲端 翰飛跡古炎陬遠 人景遭逢有此觀 ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU TÁC Hoàng Hạc lâu đầu tƣợng ngoại khoan, Hán Dƣơng thành quách nhiễu tình lan. Lữ Tiên tuý hậu trùng lai diểu, Thôi Hiệu thi thành tái hoạ nan. Trần mộng vị tinh thanh thảo bạn, Hƣơng tâm mỗi ký bạch vân đoan. Hàn phi tích cổ viêm tƣu viễn,

1 Thần nữ vân: mây Thần nữ, tức Vu Sơn thần nữ. 2 Tƣơng linh sắt: đàn Tƣơng Linh, tức tiếng đàn của Nga Hoàng, Nữ Anh vợ vua Thuấn.

3 Nhân long: rồng ngƣời, chỉ Khổng Minh Gia Cát Lƣợng, vì ông có hiệu là Ngoạ Long tiên sinh.

380

Nhân cảnh tao phùng hữu thử quan. Dịch nghĩa: LÊN LẦU HOÀNG HẠC LÀM THƠ Ngoài lầu Hoàng Hạc cảnh trời mênh mông, Thành quách Hán Dƣơng sóng xanh bao phủ. Tiên Lữ Động Tân sau khi say chẳng quay trở lại nữa, Thôi Hiệu đề thơ rồi khó ai hoạ lại đƣợc. Giấc mộng trần chƣa tỉnh, bên bờ cỏ xanh xanh, Lòng quê hƣơng thƣờng gởi theo làn mây trắng. Cánh chim đã bay cao, dấu xƣa vẫn còn, ta từ miền phƣơng nam hẻo lánh đến, Ngƣời và cảnh gặp nhau mới có cuộc lên chơi lầu này. Dịch thơ: Cảnh lầu Hoàng Hạc giữa bầu không, Thành quách Hán Dƣơng sóng cuộn vòng. Say tít Lữ Tiên, đi chẳng lại, Thơ thành Thôi Hiệu, hoạ khôn xong. Cỏ xanh giấc mộng vùi chƣa tỉnh, Mây trắng tình quê gửi tấm lòng. Dấu cũ vời xa, ta khách lạ, Cảnh, ngƣời gặp gỡ, dạo lầu trông. 吳澧溪曰尖新整暇直瞰唐藩 Ngô Lễ Khê bàn: Sắc sảo mới mẻ, nghiêm chỉnh nhàn nhã, vào đƣợc phên giậu của thơ Đƣờng. 阮素如曰崔灝詩成後人到此竟道不得此句從陳 中構出新思可以詠黃鶴矣 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Thơ Thôi Hiệu viết xong, ngƣời đời sau đến nơi này không thể viết thêm nữa. Câu này xuất từ Trần Trung mà ra, nhƣng có ý mới, có thể vịnh lầu Hoàng Hạc vậy. 53.留題漢陽天都庵 漢陽草樹晚煙濃 歇步天都訪梵宗 法雨篩塵清椏岸 曇雲吐艷蔚蓮峰1 吟魂淡蕩湖中月 旅夢悠揚樓上鐘 夜色光分歸鶴影 半窗疑是白衣容 LƢU ĐỀ THIÊN ĐÔ AM Hán Dƣơng thảo thụ vãn yên nùng, Yết bộ Thiên Đô phỏng phạm tông. Pháp vũ sƣ trần thanh liễu ngạn, Đàm vân thổ diễm uý Liên phong. Ngâm hồn đạm đãng hồ trung nguyệt, Lữ mộng du dƣơng lâu thƣợng chung.

1 Nguyên chú: 庵前江中有蓮花峰 Trong dòng sông trƣớc am có ngọn núi Liên Hoa.

Dạ sắc quang phân quy hạc ảnh, Bán song nghi thị bạch y dung. Dịch nghĩa: ĐỀ THƠ ĐỂ LẠI Ở AM THIÊN ĐÔ Cỏ cây Hán Dƣơng khói chiều phủ mờ, Đi bộ đến thiên Đô thăm cảnh thiền. Mƣa pháp lắng bụi trần, bờ liễu xanh trong, Mây đàm khoe nở nơi ngọn núi Liên Hoa. Hồn thơ đạm bạc tựa bóng trăng trong hồ nƣớc, Giấc mộng khách du dƣơng nhƣ tiếng chuông trên lầu. Bóng đêm sáng rõ nhìn thấy cả bóng hạc bay trở về, Cửa mở nửa cánh, nghi là có ngƣời tiên ở đó. Dịch thơ: Hán Dƣơng cây cỏ khói mây nồng, Dạo bƣớc Thiên Đô viếng phạm tông. Mƣa pháp lắng trần bờ liễu biếc, Mây đàm khoe sắc ngọn Liên phong. Hồn thơ, trăng nƣớc, trong thanh tựa, Mộng khách, chuông lầu, trầm bổng chung. Bóng hạc trong đêm về lấp lánh, Nửa song cửa khép, ngỡ tiên hồng. 55. 步天都庵詩韻書贈員外郎汪 旅思如醇著處濃 相投況遇郭林宗 清分楚峽三江水 香惹蓮花十丈峰 毫氣直將凌碧漢 騷音不啻叩黃鍾 井梧月照歸軺影 好向天都挹笑容 BỘ THIÊN ĐÔ AM THI VẬN THƢ TẶNG VIÊN NGOẠI LANG UÔNG Lữ tứ nhƣ thuần trứ xứ nùng, Tƣơng đầu huống ngộ Quách Lâm Tông. Thanh phân Sở giáp Tam Giang thuỵ, Hƣơng nhạ Liên hoa Thập Trƣợng phong. Hào khí trực tƣơng lăng bích Hán, Tao âm bất thí khấu hoàng chung.2 Tỉnh ngô nguyệt chiếu quy thiều ảnh, Hảo hƣớng Thiên Đô ấp tiếu dung. Dịch nghĩa: THEO VẦN BÀI THƠ THIÊN ĐÔ AM, VIẾT TẶNG VIÊN NGOẠI LANG UÔNG Nỗi lòng khách phƣơng xa nhƣ men say nên đâu đâu cũng nồng nàn, Gặp nhau hai lòng tƣơng hợp nhƣ chuyện Quách Lâm Tông. Trong vắt tựa đỉnh núi Vu và dòng Tam Giang, 2 Hoàng chung: chuông vàng, là một loại nhạc khí đƣợc dùng ở miếu đƣờng, là âm luật đầu tiên trong 12 âm luật của nhạc.

381

Hƣơng quyện thơm núi Thập Trƣợng và Liên Hoa. Hào khí luôn xông thẳng lên trời biếc, Tiếng thanh tao nhƣ gõ tiếng chuông vàng. Trăng sáng chiếu cội ngô đồng bên giếng, và bóng xe trở về, Mặt rạng rỡ nụ cƣời nhìn về am Thiên Đô. Dịch thơ: Tình khách nhƣ say, đâu cũng nồng, Tâm đầu gặp gỡ tựa Lâm Tông. Trong nhƣ Sở giáp, Tam Giang thuỷ, Thơm quyện Liên hoa, Thập Trƣợng phong. Hào khí xông trời, xuyên bích Hán, Tao âm vọng đất, gõ hoàng chung. Xe về trăng chiếu, ngô đồng vắng, Nhìn mãi Thiên Đô rạng nét hồng. 阮素如曰閒雅整暇大家風格 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Nhàn nhã nghiêm trang, có phong cách của bậc đại gia. 57.答贈王鐵崖 次韻 星車萬里歷名區 自覺疏狂愧謂儒 晉帖但能臨八法 漢文猶未賦1三都 直將名義邀天寵 豈以衣冠炫海隅 關塞尚醋羇旅夢 羨誰高臥獨懷瑜 ĐÁP TẶNG VƢƠNG THIẾT NHAI, THỨ VẬN Tinh xa vạn lý lịch danh khu, Tự giác sơ cuồng quý vị nho. Tấn thiếp đãn năng lâm bát pháp,2 Hán văn do vị phú Tam đô.3 Trực tƣơng danh nghĩa yêu thiên sủng, Khởi dĩ y quan huyễn hải ngu. Quan tái thƣợng hàm ki lữ mộng, Tiện thuỳ cao ngoạ độc hoài du.4 Dịch nghĩa: THƠ ĐÁP TẶNG VƢƠNG THIẾT NHAI, THEO THỨ VẬN Xe sứ vƣợt muôn dặm đƣờng gập ghềnh, Tự thấy mình lƣời biếng cuồng ngông, thẹn đƣợc gọi là nhà nho.

Thiếp chữ Lan đình của Hy Chi đời Tấn, tôi chỉ võ vẽ đƣợc tám cách, Văn Hán còn chƣa làm đƣợc nhƣ phú Tam đô. Cứ đem danh nghĩa mà đƣợc ƣu ái mời, Há dùng áo mão mà làm rạng kẻ góc biển xa xôi. Nơi quan ải còn mơ giấc mơ khách trọ, Thèm nhƣ ai ôm ngọc du nằm cao gối một mình. Dịch thơ: Muôn trùng xe sứ vƣợt lô nhô, Vốn bẩm tính lƣời thẹn tiếng Nho. Thiếp chữ lơ mơ vừa tám nét, Hán văn võ vẽ phú Tam Đô. Cũng nhờ danh nghĩa nên ân sủng, Nào bởi y quan rạng cõi mờ. Quan ải vấn vƣơng cơn lữ mộng, Thèm ai ôm ngọc gối đầu pho! 59.過豫讓橋有感 5 邢臺城裡駕征鞍 一帶長虹著眼看 梁下月低吞炭影 板頭霜印漆身寒 眾人今日經過易 國士當年去住難 趙孟基圖隨逝水 橋名終古占江干 QUÁ DỰ NHƢỢNG KIỀU HỮU CẢM Hình đài thành lý giá chinh an, Nhất đới trƣờng hồng trứ nhãn khan. Lƣơng hạ nguyệt đê thôn thán ảnh, Bản đầu sƣơng ấn tất thân hàn. Chúng nhân kim nhật kinh qua dị, Quốc sĩ đƣơng niên khứ trú nan. Triệu Mạnh cơ đồ tuỳ thệ thuỵ, Kiều danh chung cổ chiếm giang can. Dịch nghĩa: CẢM XÚC KHI QUA CẦU DỰ NHƢỢNG Trong thành Hình đài đóng ngựa đi xa, Mắt cứ nhìn một chiếc cầu cong dài. Bóng trăng xà thấp dƣới nhịp cầu nhƣ bóng ngƣời ngậm than (ngày trƣớc), Sƣơng in trên cầu ván lạnh lùng tựa ngƣời tẩm sơn nằm phục (thuở xƣa). Ngƣời thƣờng ngày nay đi qua đó thì dễ, Mà bậc quốc sĩ năm ấy khó rời khỏi chỗ cầu này. Cơ đồ của Triệu Mạnh đã theo dòng nƣớc chảy, Tên cầu xƣa nay vẫn chiếm một vùng sông. Dịch thơ: Thành quách Hình Đài, thắng ngựa dong, Xa nhìn thấp thoáng chiếc cầu vồng. Cầu nghiêng trăng xế, than hồng ngậm,

5 Nguyên chú: 橋在邢臺城內 Cầu nằm ở trong thành Hình Đài.

1 Nguyên văn khắc bộ bối ở dƣới chữ vũ. 2 Câu này nhắc đến thiếp chữ của Vƣơng Hy Chi đời Tấn, bát pháp tức Vĩnh tự bát pháp (tám nét bút chữ Vĩnh), ngƣời học thƣ pháp trƣớc tiên phải bắt đầu từ chữ này. 3 Câu này nhắc đến bài Tam đô phú của đời Hán. 4 Hoài du: ôm ngọc du. Xuất từ câu “hoài cận ác du hề, cùng bất tri sở thị” trong bài Hoài Sa, Cửu chƣơng, Sở Từ. Ngọc cận và du là hai thứ ngọc quý, chỉ phẩm hạnh, đức tốt của ngƣời quân tử.

382

Ngô Lễ Khê bàn: Nếu chẳng phải là nơi bậc thánh nhân mắc nạn thì Dữu Lý cũng chẳng nổi tiếng gì, nếu chẳng phải là khi bậc thánh nhân mắc nạn mà vạch quẻ Phục Hy thì quẻ ấy cũng không có hình tƣợng. Đất lƣu danh tích, trời chứa huyền cơ, khắp trời đất không ra khỏi một bộ kinh Chu Dịch thì công dụng của bậc thánh nhân cũng chẳng to lớn nhƣ thế, vậy nên ý thơ chuyên ở Dịch, đáng gọi là sờ đến tận xƣơng tuỵ. 61.過邯鄲呂僊翁祠 岳陽醉後話歸程 路入邯鄲草樹晴 紅米無心留富貴 黃梁有意煑1功名 多將替笏羇塵夢 誰向雲煙弄笛聲 寧靜也知僊不遠 何須借枕臥盧生 QUÁ HÀM ĐAN LỮ TIÊN ÔNG TỪ Nhạc Dƣơng tuý hậu thoại quy trình, Lộ nhập Hàm Đan thảo thụ tình. Hồng mễ vô tâm lƣu phú quý, Hoàng lƣơng hữu ý chử công danh. Đa tƣơng thế thốc ki trần mộng, Thuỳ hƣớng vân yên lộng địch thanh. Ninh tĩnh dã tri tiên bất viễn, Hà tu tá chẩm ngoạ Lƣ sinh. Dịch nghĩa: QUA ĐỀN TIÊN ÔNG HỌ LỮ Ở HÀM ĐAN Sau cơn say ở Nhạc Dƣơng lại nói chuyện ngày về, Trên đƣờng vào Hàm Đan cỏ cây quang tạnh. Nếp đỏ vô tâm mà để lại sự giàu sang, Kê vàng có ý lại đốt cháy công danh. Thƣờng đem nia sọt rây giấc mơ trần thế, Ai thổi tiếng sáo bay vào khói mây. Yên lặng thì biết tiên không còn xa nữa, Cần gì nhƣ Lƣ sinh mƣợn gối ngủ mơ. Dịch thơ: Nhạc Dƣơng say khƣớc, chuyện quy trình, Đƣờng đến Hàm Đan, cỏ ngát xanh. Nếp đỏ vô tâm, lƣu phú quý, Kê vàng hữu ý, nấu công danh. Khách đem sàng sọt rây cơn mộng, Ai lộng mây trời trổi sáo thanh. Tĩnh lặng thì hay tiên chẳng cách, Cần gì mƣợn gối giống Lƣ Sinh! 吳澧溪曰多少迷魂總緣此夢雲煙笛聲未必喚醒 得來

Ván cũ sƣơng in, bóng lạnh lùng. Bao khách ngày nay qua đó dễ, Mà ngƣời năm ấy chẳng cam lòng, Cơ đồ Triệu Mạnh theo dòng chảy, Muôn thuở tên cầu rạng bến sông. 阮素如曰胸次高邁造語壯旺 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Ý tứ trong lòng cao vời nên lời lẽ tráng kiện. 60.過周文王羑里碑 羑里碑傳不世功 經過此日仰無窮 地因大難留名跡 天以玄機誘聖衷 周易蓍龜千古在 殷臺金玉片時空 一源道統平生學 醒覺初心夢寐中 QUÁ CHU VĂN VƢƠNG DỮU LÝ BI Dữu Lý bi truyền bất thế công, Kinh qua thử nhật ngƣỡng vô cùng. Địa nhân đại nạn lƣu danh tích, Thiên dĩ huyền cơ tú thánh trung. Chu dịch trứ quy thiên cổ tại, Ân đài kim ngọc phiến thời không. Nhất nguyên đạo thống bình sinh học, Tỉnh giác sơ tâm mộng mị trung. Dịch nghĩa: NGANG QUA TẤM BIA DỮU LÝ CỦA CHU VĂN VƢƠNG Tấm bia Dữu Lý còn truyền công nghiệp muôn đời, Ngày nay ngang qua ngƣỡng mộ vô cùng. Đất vì ngƣời có nạn lớn mà còn để lại dấu tích, Trời đem lẽ huyền diệu ban cho bậc thánh nhân. Chu dịch, bói rùa, ngàn năm còn đó, Đài nhà Ân, ngọc vàng thoắt đã thành không. Một nguồn đạo thống cả đời học, Làm thức tỉnh chân tâm trong giấc mộng. Dịch thơ: Dữu Lý bia truyền cái thế công, Ngày nay qua đó mến khôn cùng. Đất vì đại nạn, nêu danh tích, Trời lấy huyền cơ, giúp thánh trung. Chu dịch quẻ rùa ngàn thuở vẫn, Ân đài vàng ngọc thảy thành không. Cả đời ta học theo nguồn đạo, Giữa mộng ngộ ra, một tấm lòng. 吳澧溪曰非聖人蒙難之處羑里必無名非聖人蒙 難之時羲畫必無象地留名跡天誘玄機天地不出 此周易一部而聖人功用亦莫此爲大故詩意專主 於易可謂探得骨子

1 Nguyên văn khắc bộ hoả ở bên trái chữ giả.

383

征鞍暫歇覓閒人 攜步禪門雨浥塵 跡已千年留梵宇 巍然七丈現金身 天章榮煥蓮臺麗 御座光分法界春 悟得菩提真福果 古來每結帝王因 ĐỀ HƢNG LONG TỰ Chinh an tạm yết mịch nhàn nhân, Huề bộ thiền môn vũ ấp trần. Tích dĩ thiên niên lƣu phạm vũ, Nguy nhiên thất trƣợng hiện kim thân. Thiên chƣơng binh hoán liên đài lệ, Ngự toạ quang phân pháp giới xuân. Ngộ đắc bồ đề chân phúc quả, Cổ lai mỗi kết đế vƣơng nhân. Dịch nghĩa: ĐỀ THƠ CHÙA HƢNG LONG Tạm ngừng cuộc ruổi rong, để tìm thăm ngƣời nhàn nhã, Dạo bộ cùng lên cửa thiền trong mƣa lắng bụi trần. Dấu vết đã lƣu lại nơi chùa chiền cả ngàn năm, Nguy nga hiện thân vàng cao bảy trƣợng. Vẻ đẹp ngài rực rỡ, đài sen rạng ngời, Ngự toà sáng rực, mùa xuân đầy pháp giới, Ngộ đƣợc bồ đề thật là quả phúc, Xƣa nay thƣờng kết nhân duyên với bậc đế vƣơng. Dịch thơ: Đƣờng xa tạm nghỉ, viếng nhàn nhân, Dạo bƣớc thiền môn, sạch bụi trần. Vết tích ngàn năm, lƣu cõi tịnh, Cao vời bảy trƣợng, hiện kim thân. Cung trời rực rỡ, hoa sen thắm, Toà ngự huy hoàng, pháp giới xuân. Ngộ đƣợc bồ đề, là quả phúc, Duyên lành thƣờng kết với vƣơng quân. 阮素如曰虛無境界猶有托於人王人生在世可忽 云乎哉 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Cảnh giới hƣ vô, vẫn thác gửi ở bậc vƣơng, đời ngƣời sống ở đời, há đâu qua loa đƣợc chăng? 64.宜溝客中七夕 宜溝秋色掛梧枝 霜淡更深酒力微 午女影斜烏夜噪

Ngô Lễ Khê bàn: Bao nhiêu tâm hồn lạc lối đều do mộng ấy mà ra, khói mây sáo trỗi chƣa chắc đã gọi thức đƣợc giấc mơ. 阮素如曰意見超邁 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Ý tứ thật siêu thoát cao vời. 62.渡滹沱河作 晴望恆山灝氣凝 滹沱晚過碧波澄 平沙鴈去秋聲落 古渡人歸翠影凌 岸口煙餘然漢火 江心澌解濟師冰 經過此地將誰訪 泛泛漁舟月一泓 ĐỘ HÔ ĐÀ HÀ TÁC Tình vọng Hằng sơn hạo khí ngƣng, Hô Đà vãn quá bích ba trừng. Bình sa nhạn khứ thu thanh lạc, Cổ độ nhân quy thuý ảnh lăng. Ngạn khẩu yên dƣ nhiên Hán hoả, 1 Giang tâm tƣ giải tế sƣ băng. Kinh qua thử địa tƣơng thuỳ phỏng, Phiếm phiếm ngƣ chu nguyệt nhất hoằng. Dịch nghĩa: LÀM LÖC QUA SÔNG HÔ ĐÀ Trời quang nhìn núi Hằng sơn sƣơng trắng ngƣng đọng, Chiều qua sông Hô Đà, sóng xanh lặng lẽ. Bãi cát bằng chim nhạn bay kêu vang từng tiếng thu rơi xuống, Bến đò xƣa ngƣời trở về bóng xanh hắt lên. Nơi bến sông vẫn còn mấy vệt khói thừa báo hiệu ở vùng biên giới, Lòng sông đang tiết băng tan nhƣ quân tiếp viện. Ngang qua vùng đất này muốn hỏi thăm ai đó, Chỉ thấy một chiếc thuyền chài cá trôi trong dòng trăng sáng. Dịch thơ: Sƣơng trắng ngƣng trên ngọn núi Hằng, Hô Đà chiều xuống nƣớc lăn tăn. Bãi bờ nhạn vút, âm văng vẳng, Đò cũ ai về, bóng xẳng xăng. Cửa bến còn mù hơi khói lửa, Lòng sông đã rã khối đông băng. Qua đây muốn hỏi thăm ai đó, Lờ lững thuyền câu, nguyệt một vầng. 63.題興隆寺2

1 Hán hoả: lửa báo hiệu, đời Hán, có đốt lửa báo hiệu ở vùng biên giới. Về sau mƣợn dùng để chỉ vùng biên cƣơng.

2 Nguyên chú: 寺在直隸正宧府城內有大佛像高七丈餘 (Chùa nằm trong thành phủ Chính Hoạn ở Trực Lệ, có tƣợng phật cao hơn bảy mƣơi trƣợng.)

384

鑪燒新炭鶴猶眠 今朝若了平生事 應假慈航換玉鞭 DU TỪ HÀNG TỰ Dao duệ chung thanh hà xứ thiên, Từ Hàng phạm vũ liễu ngƣng yên. Tùng phong tảo viện thanh thiền vị, Trúc vũ sƣ song tịnh dục duyên. Bình đới túc hƣơng hoa vị sáp, Lô thiêu tân thán hạc do miên. Kim triêu nhƣợc liễu bình sinh sự, Ƣng giả Từ Hàng hoán ngọc tiên. Dịch nghĩa: DẠO CHƠI CỦA TỪ HÀNG Quẫy chèo đi, tiếng chuông từ nơi nào vọng đến, Chùa Từ Hàng, khói sƣơng bao trên hàng liễu. Gió thông thổi quét qua sân chùa, thoảng mùi thiền thanh thoát, Mƣa trúc bay ngoài cửa sổ, làm sạch mối duyên trần. Cỗ bình còn hƣơng cũ, hoa chƣa cắm, Lò cháy hết than mới, hạc còn say giấc. Sáng nay chợt hiểu đƣợc chuyện trong cuộc đời, Cũng nên đổi roi ngọc để đƣợc lên thuyền từ bi. Dịch thơ: Đâu chốn chuông vang lẫn tiếng chèo, Từ Hàng cõi tịnh, liễu sƣơng gieo. Gió thông quét viện, mùi thiền nhạt, Mƣa trúc lùa song, mối tục tiêu. Bình đƣợm hƣơng xƣa, hoa biếng cắm, Lò tàn than mới, giấc liu riu. Cả đời bao chuyện, nay vừa hiểu, Roi ngọc, thuyền từ, đổi để theo! 吳澧溪曰寫得清幽雅淡極有禪致 Ngô Lễ Khê nói: Thơ tả đƣợc cái thanh u, nhã đạm, thật có ý thiền. 66.車行 關山歷歷屬征途 一片丹誠萬里輸 不是子方驕富貴 終憑王氏範馳驅 聞聲喜望人情近 投轄相留世味殊 自笑原非題杜客 亦勞車馬過皇都 XA HÀNH Quan sơn lịch lịch thuộc chinh đồ, Nhất phiến đan thành vạn lý du.

關山月冷鴈南飛 人情欲巧多爭線 客思無聊漫晒衣 佳節恐牽離別況 且憑欹枕夢中歸 NGHI CÂU KHÁCH TRUNG THẤT TỊCH Nghi Câu thu sắc quải ngô chi, Sƣơng đạm canh thâm tửu lực vi. Ngƣu nữ ảnh tà ô dạ táo, Quan sơn nguyệt lãnh nhạn nam phi. Nhân tình dục xảo đa tranh tuyến, Khách tứ vô liêu mạn sái y. Giai tiết khủng khiên li biệt huống, Thả bằng khi chẩm mộng trung quy. Dịch nghĩa: ĐÊM MỒNG BẢY THÁNG BẢY Ở NGHI CÂU Cảnh thu ở Nghi Câu mắc trên ngọn ngô đồng, Sƣơng rơi trong đêm khuya (thấy lạnh lẽo), (nhƣng ta thì) tửu lƣợng kém. Bóng ngƣời ngƣu nữ xế nghiêng, quạ kêu rộn trong đêm, Ánh trăng trên núi xa lạnh lùng, đàn nhạn bay về nam. Ngƣời đời thƣờng muốn cầu cho khéo tay, ai cũng tranh nhau xâu chỉ, Lòng ngƣời khách phƣơng xa buồn bã cứ phơi áo mãi (không thể về quê đƣợc). Gặp thời tiết đẹp nhƣng lại sợ rằng vƣơng vấn thêm nỗi niềm chia cách, Nên dựa gối nằm để đƣợc về trong mơ. Dịch thơ: Ngô đồng giữ vẻ cảnh thu sang, Rƣợu kém, đêm khuya sƣơng móc tràn. Ngƣu nữ gặp nhau, ô rộn tiếng, Quan san trăng lạnh, nhạn về nam. Lắm cô cầu khéo, tranh xâu chỉ, Tình khách thêm buồn, áo móc khan. Giai tiết thêm e niềm cách biệt, Chi bằng tựa gối mộng hồi hƣơng. 吳澧溪曰疑鄰女彈者借夢中看恐牽離別者憑夢 中歸夢幻境也有時托爲實用 Ngô Lễ Khê bàn: Ngỡ cô gái hàng xóm gảy đàn, nhờ vào giấc mộng mà xem, sợ cầm tay li biệt, ấy cũng nhờ trong mộng mà trở về, cảnh mộng huyễn mà có khi cũng có thể nhờ cậy đƣợc vậy. 65.遊慈航寺 搖曳鐘聲何處天 慈航梵宇椏凝煙 松風掃院清禪味 竹雨篩窗淨欲緣 瓶帶宿香花未插

385

Bất thị Tử Phƣơng kiêu phú quý,1 Chung bằng Vƣơng thị phạm trì khu. 2 Văn thanh hỉ vọng nhân tình cận, Đầu hạt tƣơng lƣu thế vị thù. Tự tiếu nguyên phi đề Đỗ khách, Diệc lao xa mã quá hoàng đô. Dịch nghĩa: ĐI XE Núi non quan ải trùng trùng, dặm đƣờng xa vời, Chiếc xe vƣợt ngàn dặm với một tấm lòng thành. Chẳng phải nhƣ Tử Phƣơng không màng phú quý, Rốt cuộc nhƣ họ Vƣơng suốt buổi ruổi rong. Nghe tiếng nói, vui mừng ngóng ra, thấy tình ngƣời gần gũi, Vào đất khách, ở cùng nhau, biết mùi đời khác nhau. Tự cƣời ta vốn không phải là nhà thơ họ Đỗ (Đỗ Phủ), Mà cũng nhọc xe ngựa đi qua hoàng đô. Dịch thơ: Đƣờng dài thăm thẳm mấy non sông, Ngàn dặm xe qua, một tấm lòng. Chẳng phải Tử Phƣơng khinh phú quý, Mà nhƣ Vƣơng thị cuộc chơi rong. Vô thành, tạm trú, mùi đời lạ, Nghe tiếng, mừng trông, nghĩa khách đồng. Tự mỉa ta nào nhƣ lão Đỗ, Hoàng Đô cũng nhọc ngựa xe dong. 67.答餞短送河間分府李奉瑞次韻 3 一片情雲暮色濃 蕭蕭河上馬嘶風 茶當杯酒詩當話 香靄磁州柳陌中 ĐÁP TIỄN ĐOẢN TỐNG HÀ GIAN PHÂN PHỦ LÝ PHỤNG THUỲ THỨ VẬN Nhất phiến tình vân mộ sắc nùng, Tiêu tiêu hà thƣợng mã tê phong. Trà đƣơng bôi tửu, thi đƣơng thoại, Hƣơng ái Từ Châu liễu mạch trung. Dịch nghĩa: ĐÁP TIỄN ĐOẢN TỐNG PHÂN PHỦ HÀ GIAN LÝ PHỤNG THUỲ, THEO VẦN

Một mảng mây tình, sắc trời chiều tối, Trên sông tiếng ngựa lồng gió hí nghe hiu hắt. Trà thay rƣợu, thơ thay lời nói, Trong đƣờng Từ Châu liễu ngát thơm. Dịch thơ: Mây xanh một đoá, cảnh chiều vàng, Hiu hắt dòng sông tiếng ngựa vang. Lời nói là thơ, trà thế rƣợu, Từ Châu hƣơng ngát liễu bên đàng. 阮素如曰極詩人之致 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: đạt đến cảnh trí cao vời của nhà thơ. 68.旅中重九 去歲重陽興未豪 今秋旅況正蕭騷 謾將黃菊瘳鄉思 空佩茱萸辟遠勞 百感有詩皆去國 寸心無愧是登高 不須故事還吹帽 恐動霜花兩鬂毛 LỮ TRUNG TRÙNG CỬU Khứ tuế trùng dƣơng hứng vị hào, Kim thu lữ huống chính tiêu tao. Mạn tƣơng hoàng cúc sƣu hƣơng tứ, Không bội thù du tị viễn lao. Bách cảm hữu thi giai khứ quốc, Thốn tâm vô quý thị đăng cao. Bất tu cố sự hoàn xuy mạo,4 Khủng động sƣơng hoa lƣỡng mấn mao. Dịch nghĩa: TIẾT TRÙNG CỬU NƠI ĐẤT KHÁCH Tiết trùng dƣơng năm ngoái, hứng vẫn chƣa cao, Mùa thu năm nay, nỗi niềm ngƣời khách đang buồn bã. Tạm mƣợn rƣợu hoàng cúc để làm giảm bớt nỗi nhớ quê, Cũng cứ dắt nhánh thù du để trừ nỗi mệt nhọc nơi phƣơng xa. Trăm nỗi niềm có thơ cũng vì xa quê hƣơng đất nƣớc, Một tấc lòng không thẹn với trời đất, nên cứ lên cao.

1 Tử Phƣơng: tên chữ của Lục Văn Khuê (1256?~1340?), nhà văn học thời Nguyên, ngƣời Giang Âm (nay là vùng Giang Tô). Ông học rộng hiểu nhiều, kinh sử bách gia, thiên văn địa lý, kể cả môn toán số, y dƣợc đều thông suốt. đầu năm Hàm Thuần đời Nam Tống, ông trúng kỳ thi hƣơng, bấy giờ 18 tuổi. Nhà Tống mất, ông bèn ở ẩn phía Đông thành, ngƣời đời gọi ông là “Tƣờng Đông tiên sinh”. Vào thời Nguyên, khôi phục lại việc thi cử, các quan ép ông đi thi, lại trúng kỳ thi hƣơng. Triều đình nhiều lần mời ông ra làm quan nhƣng ông lấy cớ tuổi già nhiều bệnh từ chối. 2 Vƣơng thị: họ Vƣơng, chỉ Vƣơng Duy, nhà thơ sơn thuỵ điền viên đời Đƣờng, ông suốt ngày cùng bạn đi ngao du sơn thuỵ. 3 Nguyên chú: 李送到漳河惠茶爲別 (Họ Lý đƣa tiễn đến Chƣơng Hà, còn tặng trà làm quà tiễn.)

4 Xuy mạo: Sách Tấn thƣ, Mạnh Gia truyện chép: “Ngày mồng chín tháng chín, vua Hoàn Ôn đãi tiệc ở núi Long Sơn, quan lại đều tụ họp, bấy giờ các quan tả lại đều mặc nhung phục, bỗng có trận gió thổi tới, thổi bay chiếc mũ của Gia xuống đất, nhƣng Gia chẳng hay biết gì.” Về sau ngƣời ta dùng điển này để chỉ việc lên núi cao trong ngày trùng cửu. Bài Cửu nhật Lam Điền Thôi thị trang của Đỗ Phủ có câu “Tu tƣơng đoản phát hoàn xuy mạo, tiếu thiến bàng nhân vị chính quan” (Thẹn mái tóc ngắn vẫn bị gió làm rơi mũ, cƣời cho kẻ bênh cạnh đội mũ ngay ngắn).

386

Chẳng cần phải có chuyện cũ, vẫn bị gió thổi rơi khăn, Chỉ e làm hai mái tóc mai nhuốm sƣơng hoa. Dịch thơ: Trùng dƣơng năm ngoái hứng chƣa mờ, Cảnh khách thu này luống xác xơ. Hoa cúc chớ làm đau nỗi khách, Thù du trơ giắt cõi xa lơ. Lên cao, một tấc lòng không thẹn, Rời nƣớc, trăm niềm cảm có thơ. Chuyện cũ thôi đừng xô áo mão, Sƣơng hoa hai mái sợ bơ phờ. 阮素如曰句法員活如珠走盤 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: cú pháp tròn trịa, sống động, nhƣ ngọc khua trên mâm. 71.過武勝關 巖排澗曲阻經過 武勝關前咽暮笳 雲際雁横星數點 村頭雞唱月初斜 路通湖北開蛇穴 山限南河制犬牙 迢遞歸程心似箭 遙看故國幾天涯 QUÁ VŨ THẮNG QUAN Nham bài giản khúc trở kinh qua, Vũ Thắng quan tiền yết mộ già. Vân tế nhạn hoành tinh sổ điểm, Thôn đầu kê xƣớng nguyệt sơ tà. Lộ thông Hồ Bắc khai xà huyệt, Sơn hạn Nam Hà chế khuyển nha. Điều đệ quy trình tâm tự tiễn, Dao khan cố quốc kỵ thiên nhai. Dịch nghĩa: QUA ẢI VŨ THẮNG Núi dựng suối uốn cong, ngăn cản bƣớc qua, Trƣớc cửa ải Vũ Thắng tiếng tù và vang trong chiều tà. Cánh nhạn bay ngang trong mây, vài ánh sao mọc, Tiếng gà đầu thôn gáy rộn, bóng trăng non nghiêng nghiêng. Con đƣờng thông qua Hồ Bắc mở ra nhƣ hang rắn, Núi non ngăn cách Nam Hà, thế tựa nanh vuốt khép lại. Đƣờng về vời vợi xa xôi, lòng sốt sắng nhƣ mũi tên, Xa nhìn quê hƣơng cách mấy chân trời. Dịch thơ: Suối lƣợn đá bày, khó bƣớc qua, Chiều hôm biên ải rộn tù và. Trong mây nhạn lƣớt, sao vừa mọc,

Đầu xóm gà kêu, nguyệt xế tà. Hồ Bắc đƣờng thông nhƣ ngách rắn, Nam Hà núi khép tựa kìm a. Đƣờng về vời vợi, lòng thêm sốt, Nƣớc cũ, trông nhìn, biết mấy xa? 阮素如曰句法有力不在用力 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: cú pháp tự có sức lực không phải ở việc cố dùng sức. 72.武後軍火 古來兵火屬英雄 許國鎔成一點忠 粉骨風炎西塞白 丹心日焰越天紅 煙飛臺閣凌豪氣 灰鎖疆場蓋世功 興滅最關卿火熾 豈徒寒雨熱南宮 VŨ HẬU QUÂN HOẢ Cổ lai binh hoả thuộc anh hùng, Hứa quốc dung thành nhất điểm trung. Phấn cốt phong viêm tây tái bạch, Đan tâm nhật diễm Việt thiên hồng. Yên phi đài các lăng hào khí, Khôi toả cƣơng trƣờng cái thế công. Hƣng diệt tối quan khanh hoả sí, Khởi đồ hàn vũ nhiệt Nam cung. Dịch nghĩa: NGỌN LỬA HẬU QUÂN VÕ TÁNH Xƣa nay binh lửa thuộc về anh hùng, Báo đền ơn nƣớc đúc thành một điểm trung. Xƣơng trắng nát tan trong gió nóng, trắng loà ải tây, Tấm lòng son trong ánh mặt trời đỏ rực cả trời nam. Khói bay gác đài nhƣ hào khí ngút trời, Bụi phủ biên cƣơng công trùm đời. Đƣợc mất là ở ngọn lửa của anh, Há không mƣa lạnh sƣởi ấm Nam cung. Dịch thơ: Xƣa nay binh lửa gửi anh hùng, Báo nƣớc hun thành một điểm trung. Xƣơng trắng gió bay, loà ải tía, Lòng son nắng rọi, rực bầu không. Khói bay đền gác, thêm hào khí, Bụi ngập biên cƣơng, cái thế công. Đƣợc mất cũng nhờ que lửa ấy, Mƣa thu chẳng lạnh nổi Nam cung. 吳澧溪曰兵火之難惟英雄能濟之不謂英雄之志 火亦能濟之武候以火成功武公以火成名火之爲 用烈矣當其八角堂中慨然就義粉骨散於炎風丹

387

Cầu nhân mà đƣợc, hiếm xƣa nay, Uống nghĩa anh vui, chết sá gì. Dốc hết lòng thành đền hoạ loạn, Đừng đem chén rƣợu luận an nguy. Một đời sự nghiệp thanh trong chén, Ngàn thuở công danh vẹn giấc say. Năm ấy ai ngƣời thƣơng tiếc đó, Lửa trung đàn tƣớng với tâm này. 阮素如曰忠臣終事更無別語 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Bậc tôi trung đến cuối đời vẫn không có lời khác. 吳澧溪曰孤城就陷有亡命而尋君有假降而謀賊 總之不害爲忠而公之見則異於是天子以城委將 軍與公城存俱存城亡俱亡將軍既以死誓公豈獨 生僥倖全軀恐無面於天子從害致命即有辭於將 軍所以一生事業冷于杯中千載功名完于醉後酒 香既烈火焰亦紅一對忠臣古今難得孔曰成仁孟 曰取義非斯人之徒而誰與得仁飲義之論確乎其 不易矣 Ngô Lễ Khê bàn: Thành cô bị hãm, dẫu mất mạng cũng nghĩ đến vua, có thể giả hàng để dụ giặc, tóm lại không hại thì cũng cho là trung, nhƣng kiến văn của ông khác, thế nên thiên tử đem thành uỵ thác cho tƣớng quân với ông, (hai ông) cùng còn mất với thành, tƣớng quân dùng cái chết để tỏ lòng, ông há đâu tham sống để toàn thân, thế thì còn mặt mũi nào mà nhìn thiên tử, theo hại bỏ mạng, liền từ biệt tƣớng quân, cho nên sự nghiệp một đời lạnh lẽo trong ly rƣợu, công danh ngàn thuở, hoàn thành sau cơn say. Rƣợu đã thơm mà lửa đỏ cũng hồng, quả là một đôi trung thần xƣa nay khó đƣợc. Khổng Tử nói: “thành bậc nhân”, còn Mạnh Tử nói: “giữ nghĩa”, nếu chẳng phải là những ngƣời ấy thì là ai? Bàn việc “đƣợc nhân uống nghĩa”, rõ ràng chuyện ấy không dễ. 74.長派候髮 肯人零落換容顏 松柏應同節操看 不爲燋頭依北闕 寧教蓬鬢整南冠 知君回首求長易 笑彼吹毛見短難 比美當時應可鑑 爭來千古一奇觀 TRƢỜNG PHÁI HẦU PHÁT Khẳng nhân linh lạc hoán dung nhan, Tùng bách ƣng đồng tiết tháo khan. Bất vị tiêu đầu y bắc khuyết, Ninh giao bồng mấn chỉnh nam quan.

心薰乎焰日不但自全其節亦以全三軍不但全三 軍王師亦因是以收全功生不滅賊寧死以報公之 功爲何如哉昔張巡狥睢陽爲唐中與功臣弟一則 論公爲蓋世功凌煙中想無異辭矣 Ngô Lễ Khê bình: Cái khó của binh lửa chỉ có những bậc anh hùng mới có thể làm đƣợc, chẳng khác gì nói chí anh hùng lửa cũng có thể giúp đƣợc. Võ Hầu (Gia Cát Lƣợng) nhờ lửa mà thành công, còn Võ Công (Võ Tánh) nhờ lửa mà thành danh. Cái dụng của lửa thật là mãnh liệt. Trong đài bát giác bấy giờ tràn đầy nghĩa khí, xƣơng cốt nát tan bay trong gió nóng, lòng son sánh cùng vầng nhật, chẳng những ông trọn tiết mình mà còn giữ vẹn ba quân, chẳng những giữ vẹn cho ba quân, mà cũng nhờ đó vƣơng sƣ mới vẹn công tích. Sống mà không diệt đƣợc giặc, thà chết để báo ơn, công của ông là nhƣ thế sao? Xƣa Trƣơng Tuần chết theo thành Tuy Dƣơng, trở thành công thần bậc nhất của thời Đƣờng Trung Hƣng, thế thì luận rằng ông là ngƣời có công trùm đời trong khói bay ngút trời, thiết nghĩ cũng chẳng còn lời nào khác. 73.吳禮部酒 求仁自古得仁難 飲義如君死亦歡 盡酌醇誠酬禍亂 謾將樽俎論危安 一生事業杯中洌 千載功名醉後完 同席當年誰爲感 將壇忠火對心肝 NGÔ LỄ BỘ TỬU Cầu nhân tự cổ đắc nhân nan, Ẩm nghĩa nhƣ quân tử diệc hoan. Tận chƣớc thuần thành thù hoạ loạn, Mạn tƣơng tôn trở luận nguy an. Nhất sinh sự nghiệp bôi trung liệt, Thiên tải công danh tuý hậu hoàn. Đồng tịch đƣơng niên thuỳ vị cảm, Tƣớng đàn trung hoả đối tâm can. Dịch nghĩa: CHÉN RƢỢU CỦA LỄ BỘ HỌ NGÔ Xƣa nay cầu nhân đƣợc nhân thật khó thay, Uống nghĩa nhƣ anh dẫu chết cũng vui lòng. Dốc hết chén rƣợu với lòng thành bồi đáp cái loạn hoạn nạn, Chớ đem chén rƣợu mà bàn an nguy. Sự nghiệp một đời thanh trong cùng chén rƣợu, Công danh ngàn năm vẹn toàn sau cơn say. Trong năm ấy ai vì anh mà cảm thƣơng, Ngọn lửa trung nơi đài tƣớng, sánh với tấm lòng trung. Dịch thơ:

388

tuy không cùng nơi cùng việc mà riêng chuộng cái chí cái tiết của hầu. Mỗi chữ trong thơ đều đẹp đẽ bày tỏ việc làm của ông. Bài thơ này của ông là kể khi hầu còn sống cả đến khi hầu mất, lại đội ơn nƣớc thấm nhuần, sống thì đƣợc tiếng khen, mất thì đau buồn, đƣợc nhƣ vậy ở vua quan, há phải là không không? Kẻ không đƣợc nhƣ hầu có thể không lấy làm thẹn cho mái tóc, mà ngƣỡng mộ lòng trung của hầu, còn ngƣời không thể thuật lại điều ấy thì có thể không thẹn với bài thơ này hay sao? 75.哭先墳 1 風水依然在 乾坤晴復晴 有天乘福履 無日答生成 草洒歸來淚 花含去別情 幸逢今祭掃 命筆記心誠 KHỐC TIÊN PHẦN Phong thuỵ y nhiên tại, Càn khôn tình phục tình. Hữu thiên thừa phúc lý, Vô nhật đáp sinh thành. Thảo sái quy lai lệ, Hoa hàm khứ biệt tình. Hạnh phùng kim tế tảo, Mệnh bút ký tâm thành. Dịch nghĩa: KHÓC MỘ CHA MẸ Gió sông vẫn còn đây, Đất trời quang tạnh lại thêm quang tạnh. Có ngày nối đƣợc gót cha, Mà không ngày đền đáp ơn sinh thành của mẹ. Cỏ cây chan chứa giọt lệ ngày trở về, Hoa ngậm tình li biệt lúc đi. May gặp ngày quét mộ cúng tế, Bèn lấy bút viết vài dòng để tỏ tấm lòng thành.

Tri quân hồi thủ cầu trƣờng dị, Tiếu bỉ xuy mao kiến đoản nan. Bỉ mỷ đƣơng thời ƣng khả giám, Tranh lai thiên cổ nhất kỳ quan. Dịch nghĩa: MÁI TÓC CỦA TRƢỜNG PHÁI HẦU Ngƣời chịu trôi nổi để đối lấy dung nhan, Tùng bách hẳn nhƣ tiết tháo của ông. Chẳng vì cháy rát mái đầu, nƣơng nơi bắc khuyết, Thà chịu tóc bạc phơ còn chỉnh sửa áo mão phƣơng nam, Biết ông quay đầu, xin tóc dài dễ, Cƣời cho ngƣời kia thổi tóc khó thấy ngắn, Bấy giờ so vẻ đẹp chắc có thể xem, Ngàn xƣa nay, tranh nhau đến xem kỳ quan số một. 阮素如曰一髮一詩皆可千古 Nguyễn Tố Nhƣ bàn: Cả mái tóc và cả thơ ca đều có thể lƣu thiên cổ. 吳澧溪曰欲成仁者必殺身身且不惜何愛於髮長 派候非故爲是以求名也國破君奔忠臣泣血所恃 者此心之未忘則尚庶幾其圖報之有日若薙髮必 至於改裝改裝必至於受官其外者變則其心亦變 心變則是終於苟安而無復長慮矣仁人之心誠有 不忽故寧幽於囚老於竄千磨百折以存此髮存此 髮所以存此心幸而生還亦不傷父母之遺禮不幸 而死猶得以自別於北方之鬼忠孝兩盡此候之用 心良苦處而未有一言及之者公與侯不同地不同 事而獨尚其志嘉其節詩中字字榮於華袞計公之 作此詩當在侯之生前及侯之既沒又蒙 國恩稠疊生有獎死有恤得此於君相而豈徒哉其 有不如侯者能不愧於此髮羨侯之忠而不能術之 者能不愧於此詩 Ngô Lễ Khê bàn: Kẻ muốn thành nhân ắt phải xả thân, thân đã không tiếc thì tiếc gì mái tóc? Trƣờng Phái hầu chẳng phải vì lý do đó để cầu danh vậy. Nƣớc mất vua xuất bôn, trung thần khóc rỏ máu theo hầu, tấm lòng ấy vẫn chƣa quên thì chuộng gì mấy thứ ấy để báo đền. Nếu có ngày mái tóc phải đến nỗi thay đổi, mà thay đổi ắt nhận đƣợc chức quan, vẻ ngoài đã đổi thì lòng cũng đổi, lòng đổi thì cuối cùng tạm an mà không lo nghĩ nữa. Lòng của ngƣời nhân thành thật không thể qua loa đƣợc, thà chịu giam nơi ngục tù tăm tối, già yếu nơi xó chuột, chịu trăm ngàn giày vò để giữ mái tóc ấy. Sở dĩ giữ mái tóc ấy là để giữ tấm lòng, nếu may mắn mà sống vẫn không làm tổn hại đến điều lễ của cha mẹ, nhƣ không may mà chết đi vẫn đƣợc làm ma đất bắc. Hai chữ hiếu trung đều toàn vẹn, cái dụng tâm của ông thật khổ sở nhƣ thế mà chƣa một lời nói đến. Ông và hầu

1 Nguyên chú: 甲子季夏月赴廣義府省雙親墓哭題于後頭瓶風 (Tháng 6 năm Giáp Tý (1804), tôi đến phủ Quảng Ngãi thăm mộ của song thân, khóc đề thơ lên bình phong phía sau mộ).

389

PHỤ LỤC 4

HÌNH ẢNH TƢ LIỆU

Bìa Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.3139

Bìa Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.1392

Bìa Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.780

Bìa Gia Định tam gia thi, trong Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.1392

390

Bìa Hoa Nguyên thi thảo, ký hiệu A.779

Bìa Thập Anh thi tập, ký hiệu A.779

Một trang trong Thập Anh thi tập, ký hiệu A.779

Một trang của Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.3139

391

Trang mục lục của Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.1392

Một trang của Hoa Nguyên thi thảo, ký hiệu A.779

Một trang trong bài tựa Gia Định tam gia thi tự, ký hiệu A.1392

Một trang Cấn Trai thi tập, ký hiệu A.780

392

Khu mộ của Trịnh Hoài Đức (phải) và phu nhân (trái) tại phƣờng Trung Dũng, TP. Biên Hoà

Bia mộ của Trịnh Hoài Đức (phải) và phu nhân (trái) tại phƣờng Trung Dũng, TP. Biên Hoà

393

Tƣợng thờ Trịnh Hoài Đức và bài vị Gia Định Tam gia trong Văn miếu Trấn Biên, TP. Biên Hoà, Đồng Nai

Mộ của Ngô Nhân Tĩnh trong khuôn viên chùa Giác Lâm ở đƣờng Lạc Long Quân, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh

394

MỤC LỤC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1 NIÊN BIỂU GIA ĐỊNH TAM GIA .............................................................................................................................. 221 PHỤ LỤC 2 CÁC BÀI TỰ BẠT TRONG THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA ....................................................................................... 232 TỰ TỰ ................................................................................................................................................................................. 234 CẤN TRAI THI TẬP TỰ .................................................................................................................................................... 240 CẤN TRAI THI TẬP BẠT ................................................................................................................................................. 242 ĐỘC CẤN TRAI THI TẬP BẠT ........................................................................................................................................ 245 THẬP ANH ĐƢỜNG THI TẬP TỰ ................................................................................................................................... 247 THẬP ANH ĐƢỜNG THI TỰ ........................................................................................................................................... 248 THẬP ANH ĐƢỜNG THI TỰ ........................................................................................................................................... 249 HOA NGUYÊN THI THẢO TỰ ......................................................................................................................................... 251 GIA ĐỊNH TAM GIA THI TỰ ........................................................................................................................................... 253 PHỤ LỤC 3 TRÍCH DỊCH THƠ GIA ĐỊNH TAM GIA ................................................................................................................ 255

CẤN TRAI THI TẬP .......................................................................................................................................................... 255 CẤN TRAI THOÁI THỰC TRUY BIÊN ............................................................................................................................... 255 KÝ HOÀI HUỲNH NGỌC UẨN HỐI SƠN CHÂN LẠP HÀNH ..................................................................................... 255 PHẠM NHƢ ĐĂNG ĐĂNG ĐỆ HẬU TÁI THÖ ĐỒNG CHƢ HỮU TỨC TỊCH THƢ TẶNG ...................................... 256 THƢƠNG NHÂN PHỤ ....................................................................................................................................................... 256 ĐÔNG TÙNG ..................................................................................................................................................................... 257 LINH NHI THẢO ............................................................................................................................................................... 257 BỆNH TRUNG ĐẮC HUỲNH HỐI SƠN BỆNH TÍN ĐỀ KÝ .......................................................................................... 258 HỒ ĐẠO SINH HÀNH DỊCH QUÁ PHỤ MỘ BẤT ĐẮC BÁI TẢO THÁC DƢ ĐẠI TÁC ............................................ 258 SƠN VÂN ........................................................................................................................................................................... 258 TĂNG ĐIỂM SẮT .............................................................................................................................................................. 259 TỐNG TIÊN PHONG TƢỚNG QUÂN NGUYỄN VĂN THÀNH TIẾN CHINH BÌNH THUẬN TRẤN ....................... 259 BÁCH GIẢN QUẦN........................................................................................................................................................... 260 THẬP CẨM THANG .......................................................................................................................................................... 260 HỒNG MAI ......................................................................................................................................................................... 260 LẠP MAI ............................................................................................................................................................................. 261 THÍNH VŨ .......................................................................................................................................................................... 261 HẠ LỄ BỘ NGUYỄN HỒNG ĐÔ TÁI THÖ ..................................................................................................................... 261 LỤC NGUYỆT HỈ VŨ ĐỀ KÝ CHIẾN TRƢỜNG THỊ TÕNG HÀN LÂM CHƢ HỮU .................................................. 262 SƠN ĐỒN ĐÁP BINH BỘ HỮU THAM TRI LÊ QUANG ĐỊNH KIÊM THUỴ TÀO KÝ UỴ ...................................... 263 HOẠ BẮC HÀ ĐẶNG TRẦN THƢỜNG ĐẦU NAM TỰ TỰ NGUYÊN VẬN............................................................... 263 QUY NHƠN PHỦ BINH TRƢỜNG ĐỒNG BINH BỘ HỮU THAM TRI LÊ QUANG ĐỊNH PHÂN LỘ HỒI GIA ĐỊNH THÀNH ....................................................................................................................................................................... 264 ĐỀ BINH BỘ HỮU THAM TRI MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH QUY NHƠN PHỦ ĐỊA ĐỒ .......................... 264 TÂY THI CÚC ................................................................................................................................................................... 264 ĐẢO QUẢI ĐIỂU .............................................................................................................................................................. 265 QUÁ SƠN NGƢ.................................................................................................................................................................. 265 THẤT TỊCH VŨ ................................................................................................................................................................. 266 KHỐC ĐẶNG CỬU TƢ TIÊN SINH ................................................................................................................................. 266 TƢƠNG PHI TRÖC ............................................................................................................................................................ 267 KHUÊ TÌNH ....................................................................................................................................................................... 267

395

TRƢƠNG LƢƠNG ............................................................................................................................................................. 268 KỲ NHỊ .............................................................................................................................................................................. 268 HÀN TÍN ............................................................................................................................................................................. 269 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 269 VỊNH SỬ ............................................................................................................................................................................. 270 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 270 HỔ PHÁCH LÂN PHIẾN TRUỲ ....................................................................................................................................... 271 MỤC KÍNH ......................................................................................................................................................................... 271 NHĨ BẢ ............................................................................................................................................................................... 271 THANH HÀ ........................................................................................................................................................................ 272 TỐNG BINH BỘ THAM TRI TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN PHỤNG SỨ TỰ DẪN ............................................. 272 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 273 KỲ TAM ............................................................................................................................................................................. 274 THU NHẬT CẦU MÔNG SƠN ĐỒN THƢ SỰ ................................................................................................................ 274 SƠN ĐỒN THU VŨ............................................................................................................................................................ 274 KỲ NHẤT ........................................................................................................................................................................... 275 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 276 ĐÔNG NHẬT QUẢNG NGHĨA CHIẾN TRƢỜNG KÝ PHÚ XUÂN KINH LẠI BỘ THAM TRI PHẠM NGỌC UẨN277 BINH TRƢỜNG ĐẮC TRƢỞNG TỬ THIÊN TÍNH VONG TÍN ..................................................................................... 277 CẤN TRAI QUAN QUANG TẬP ......................................................................................................................................... 278 PHỤNG SỨ ĐẠI THANH QUỐC, KINH QUẢNG ĐÔNG DƢƠNG PHẬN TAM CHÂU ĐƢỜNG, NGỘ CỤ PHONG278 CHÂU GIANG HOA ĐĨNH ............................................................................................................................................... 278 CHIẾT GIANG GIÁM SINH LỤC PHỤNG NGÔ CÁI ĐỀ TRÚC BẠCH PHIẾN TAM CHI KIÊM SÁCH TẶNG....... 279 (KỲ NHỊ) ............................................................................................................................................................................ 279 (KỲ TAM) ........................................................................................................................................................................... 280 ĐÔNG NGUYỆT DO QUẢNG ĐÔNG THUỴ TRÌNH VÃNG QUẢNG TÂY TỈNH, HỘI THỈNH PHONG SỨ THỦ LỘ TIẾN KINH, ĐẠO TRUNG NGÂM ĐỒNG NGÔ, HUỲNH LƢỠNG PHÓ SỨ THỨ LẠP ÔNG TAM THẬP VẬN ..................................................................................................................................................................................... 280 Nam quốc du thành hƣớng Việt Đông, ............................................................................................................................... 280 Quảng Đông thu hựu Quảng Tây đông, ............................................................................................................................... 281 Điều điều Lực Trúc phiếm khinh sang,................................................................................................................................ 281 Sứ phƣởng Thƣơng Ngô vãn trạo di, ................................................................................................................................... 282 Nhật ngọ sơn tiền quyển thuý vi, ......................................................................................................................................... 282 Thiên hàn Tam Thuỵ đống vô ngƣ, ..................................................................................................................................... 283 Khiên chu nhân thƣớng bán sơn đồ, .................................................................................................................................... 283 Phong Xuyên lộ nhập chƣớng giang tê (tây), ...................................................................................................................... 283 Cam thôn đông cảnh hảo an bài, ......................................................................................................................................... 284 Yêu gian trƣờng kiếm ỵ thiên khai, ..................................................................................................................................... 284 Tự ngã lao lao lũ nhạn tân, .................................................................................................................................................. 285 Cận lai hải ngoại tuyệt ba phân, ........................................................................................................................................... 285 Diệp thuỳ tƣơng tƣ nhật dục hôn, ........................................................................................................................................ 286 Gia thƣ sơ khải kiến bình an, ............................................................................................................................................... 286 Thâm thâm lữ nhạn độ Nam quan,....................................................................................................................................... 286 Phiêu diêu Bối Thuỵ tú tinh huyền, .................................................................................................................................... 287 Hà hữu long đông sóc tuyết kiêu, ........................................................................................................................................ 287 Trì nguy lý hiểm phục sƣ sao,.............................................................................................................................................. 288 Lạc hữu thiên nhiên tán uất đào, .......................................................................................................................................... 288 Tam kiến tha hƣơng thập nguyệt qua, .................................................................................................................................. 288 Sơn thành thâm xứ yết thanh già, ........................................................................................................................................ 289 Sơn nhƣ lợi kích thuỵ nhƣ thang,......................................................................................................................................... 289 Phàm khai yến dực trám (tiếu) lƣu thanh, ............................................................................................................................ 290 Lộ tàng thâm thụ khoáng sa đinh, ........................................................................................................................................ 290

396

Quan Âm quán lý thạch lăng tằng, ...................................................................................................................................... 290 Cáp phùng thân thế đáo thần châu, ...................................................................................................................................... 291 Vân đáo sơn đầu nham xuất lâm, ......................................................................................................................................... 291 Tế thế nhân tài thuyết tiện nam, .......................................................................................................................................... 292 Hải long lĩnh tụ hồ cầu xiêm, ............................................................................................................................................... 292 Ngốc tận lƣ hoa vị nhạn hàm, .............................................................................................................................................. 293 TẶNG QUẢNG TÂY TỈNH TU CHỨC LANG BÀNH TUNG LINH BẠN SỨ ............................................................... 293 LÂM QUẾ HUYỆN CHÍNH ĐƢỜNG PHẠM LAI NHU TIỀN ĐÔNG NGHIÊM HÀN HUỆ TỐNG SÀI THÁN NGUYÊN TIÊU NÁO HỘI PHỤC BỒI SỨ BỘ QUAN ĐĂNG THÍCH THỪA TỈNH UỴ KHUYẾN NÔNG CÁO HÀNH NHÂN DĨ THI TẶNG .................................................................................................................................... 294 VIỆT TÂY SỨ QUÁN NHUẬN NHỊ NGUYỆT KHẨU CHIẾM ..................................................................................... 294 SỨ QUÁN THANH MINH ĐỒNG THỈNH PHONG PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT ĐỀ HOÀI .................................. 295 MỘ XUÂN ĐĂNG LÃO QUÂN NHAM HOẠ QUẢNG TÂY TRIỆU TRÖC QUÂN ĐỀ BÍCH NGUYÊN VẬN ......... 295 DỊCH XÁ MỘNG CỐ BIỂU ĐỆ NHÂN SƠN ................................................................................................................... 296 KHIỂN MUỘN HÍ TRÌNH SỨ BỘ LIỆT VỊ ...................................................................................................................... 296 QUẾ LÂM GIẢI LÃM ........................................................................................................................................................ 297 LINH XUYÊN HUYỆN KÝ HỨNG .................................................................................................................................. 297 HOẠ PHÓ SỨ NGUYỄN ĐỊCH CÁT TƢƠNG GIANG VÃN PHIẾM NGUYÊN VẬN ................................................. 298 CHU TRUNG ĐOAN DƢƠNG .......................................................................................................................................... 298 HOẠ THỈNH PHONG SỨ LÊ BINH BỘ TẤN TRAI TOÀN CHÂU ĐOAN NGỌ .......................................................... 299 DU TƢƠNG SƠN QUANG HIẾU TỰ .............................................................................................................................. 299 HỒ NAM ĐẠO TRUNG CHU HÀNH TẠP VỊNH ............................................................................................................ 300 (KỲ NHẤT) ........................................................................................................................................................................ 300 (KỲ NHỊ) ............................................................................................................................................................................ 300 (KỲ TAM) ........................................................................................................................................................................... 300 (KỲ TỨ) .............................................................................................................................................................................. 300 (KỲ NGŨ) ........................................................................................................................................................................... 301 (KỲ LỤC)............................................................................................................................................................................ 301 (KỲ THẤT) ......................................................................................................................................................................... 301 (KỲ BÁT)............................................................................................................................................................................ 301 TẾ PHONG ĐÀI ................................................................................................................................................................. 302 HÁN DƢƠNG PHỦ HUYỆN NHỊ MẠC TÂN NGUỲ KIM NHỊ KÝ THẤT CÁC TƢƠNG HOẠ PHIẾN KHẨN DƢ ĐỀ VỊNH, KỲ NHẤT LƢỠNG MỶ NHÂN NGÔ ĐỒNG HẠ QUAN THƢ, KỲ NHẤT MỶ NHÂN NGÔ HẠ KHIẾT CHỈ NHƢ HỮU SỞ TƢ, NHA HOÀN CHẤP LIỄU CHI THỊ TRẮC, KỲ NHẤT MỶ NHÂN TÙNG HẠ THỪA LƢƠNG, KỲ NHẤT MẶC LAN, DƢ NHÂN TỬU TỊCH HUÂN TÂM VIỆN BÚT TẮC TRÁCH ........................ 302 (KỲ NHỊ) ............................................................................................................................................................................ 303 (KỲ TAM) ........................................................................................................................................................................... 303 (KỲ TỨ) .............................................................................................................................................................................. 303 SỨ ĐÌNH HÀ NAM DU TƢỚNG QUỐC TỰ ĐẠT BỔN THIỀN SƢ DĨ TỊNH ĐỘ TÂN LƢƠNG KINH KIẾN THỊ NHÂN SÁCH ĐỀ TẶNG ............................................................................................................................................ 304 HÀ NAM CÔNG QUÁN BỆNH KHỞI TỰU ĐẠO DẠ HÀNH NGÂM ........................................................................... 304 ĐỘ HOÀNG HÀ ................................................................................................................................................................. 304 CẤP HUYỆN GIAO HÀNH .............................................................................................................................................. 305 HOẠ AN DƢƠNG HUYỆN CỬ NHÂN VƢƠNG THIẾT NHAI KIẾN TẶNG NGUYÊN VẬN .................................... 305 ĐỀ NGÔ HẠ NHỊ MỶ NHÂN ĐỒ ..................................................................................................................................... 306 LẶC THẠCH ĐỀ HÀM ĐAN LỮ TIÊN TỪ HOÀNG LƢƠNG CHÂN TÍCH ................................................................ 306 (KỲ NHỊ) ............................................................................................................................................................................ 307 SỨ ĐÌNH LONG HƢNG TỰ MẠN ĐỀ ............................................................................................................................. 307 TRỰC LỆ ĐẠO TRUNG THƢ SỰ..................................................................................................................................... 308 TRẮC QUẢNG NHÂN LĨNH ........................................................................................................................................... 308 CỔ BẮC KHẨU KỴ KIẾN ................................................................................................................................................. 309 TẶNG THÁNH DUỆ THẤT THẬP NHỊ ĐẠI TÔN BẠT CỐNG THÍ NHẬM TÂN TRỊNH HUYỆN TRI HUYỆN KẾ BÍNH ........................................................................................................................................................................... 309

397

SỨ HÀNH TỰ THUẬT ...................................................................................................................................................... 310 ĐỀ HOA TRÌNH ĐỒ .......................................................................................................................................................... 310 CẤN TRAI KHẢ DĨ TẬP ...................................................................................................................................................... 310 KIÊU HOA .......................................................................................................................................................................... 311 (KỲ NHỊ) ............................................................................................................................................................................ 311 DÃ MẪU ĐƠN ................................................................................................................................................................... 311 GIỚI HOA ........................................................................................................................................................................... 311 NAM MAI ........................................................................................................................................................................... 312 KHỐC HỘ BỘ THƢỢNG THƢ MẪN CHÍNH HẦU LÊ QUANG ĐỊNH ........................................................................ 312 VĂN GIA ĐỊNH THÀNH HIỆP TỔNG TRẤN TĨNH VIỄN HẦU NGÔ NHỮ SƠN CÔNG BỘ THƢỢNG THƢ PHÓ ÂM AI TÁC ........................................................................................................................................................................ 312

THẬP ANH ĐƯỜNG THI TẬP ......................................................................................................................................... 314 ĐỒNG TRẦN TUẤN, HÀ BÌNH XÍCH HẠ CHU TRUNG TẠP VỊNH ........................................................................... 314 Sự bách niên dƣ đại nghĩa thân, ........................................................................................................................................... 314 Phiêu bồng đoạn ngạnh cộng du du, .................................................................................................................................... 314 Kinh luân tụ thủ hận niên niên, ............................................................................................................................................ 315 Tinh trung tự cổ hữu hà kỳ, ................................................................................................................................................. 315 Chiêu huề Xích hạ phiếm chu du, ........................................................................................................................................ 315 HOẠ LƢU CHIẾU BÁN BIÊN CÚC NGUYÊN VẬN ...................................................................................................... 316 HOẠ TRƢƠNG NẪM KHÊ ĐIẾU LAN NGUYÊN VẬN................................................................................................. 316 HOẠ HƢƠNG SƠN THI XÃ TUYẾT THANH NGUYÊN VẬN ...................................................................................... 317 HOẠ HƢƠNG SƠN THI XÃ ĐỐI MAI NGUYÊN VẬN .................................................................................................. 317 KỲ NHẤT ........................................................................................................................................................................... 317 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 318 KỲ TAM ............................................................................................................................................................................. 318 HOẠ CỔ ĐỐI MAI NGUYÊN VẬN .................................................................................................................................. 318 ĐÔNG NHẬT HÀI HƢƠNG SƠN THI XÃ CHƢ TỬ QUÁ PHỔ TẾ VIỆN TẦM MAI .................................................. 319 ÁO MÔN LỮ NGỤ XUÂN HOÀ ĐƢỜNG THƢ HOÀI ................................................................................................... 319 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 320 ĐỒNG HÀ BÌNH ĐỀ HOÀI THI THẾ LỘC ...................................................................................................................... 320 LƢU BIỆT TRẦN TUẤN VIỄN ......................................................................................................................................... 321 LƢU TẶNG HOÀNG PHẤN NAM ................................................................................................................................... 321 LƢU TẶNG TRƢƠNG NẪM KHÊ.................................................................................................................................... 321 LƢU TẶNG LƢU TAM CA ............................................................................................................................................... 322 HOẠ PHÙ BÀN KHÊ LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN ........................................................................................................... 322 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 323 HOẠ LƢU TAM CA LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN ............................................................................................................ 323 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 323 HOẠ TRƢƠNG NẪM KHÊ LƢU BIỆT NGUYÊN VẬN ................................................................................................. 324 THUYẾT TÌNH ÁI ............................................................................................................................................................. 324 KỲ NHỊ ............................................................................................................................................................................... 324 KỲ TAM ............................................................................................................................................................................. 325 KỲ TỨ ................................................................................................................................................................................. 325 KỲ NGŨ ............................................................................................................................................................................. 325 KỲ LỤC .............................................................................................................................................................................. 325 KỲ THẤT............................................................................................................................................................................ 326 KỲ BÁT .............................................................................................................................................................................. 326 KỲ CỬU.............................................................................................................................................................................. 326 KỲ THẬP ............................................................................................................................................................................ 326 NHÂM TUẤT NIÊN MẠNH ĐÔNG SỨ HÀNH DO QUẢNG ĐÔNG THỦY TRÌNH VÃNG QUẢNG TÂY HOẠ TRỊNH CẤN TRAI THỨ LẠP ÔNG TAM THẬP VẬN ........................................................................................... 326 Cùng nam cực bắc phục tây đông, ....................................................................................................................................... 326

398

Cô chu nhập Quảng nguyệt sơ đông, ................................................................................................................................... 327 Cửu chuyển hồi trƣờng tự khúc giang, ................................................................................................................................ 327 Nhật chí sơ đông dạ tiệm trì, ................................................................................................................................................ 328 Thông thông cô nhạn độ Nam phi, ...................................................................................................................................... 328 Hƣơng thù tục dị nại hà nhƣ, ............................................................................................................................................... 329 Mạc đạo chu trung nhật sự vô, ............................................................................................................................................. 329 Giang trung cực mục thuý vi đê, .......................................................................................................................................... 329 Hỵ tận âm vân ám vũ mai, ................................................................................................................................................... 330 Hô đồng phủng xuất ngọc tê bôi, ......................................................................................................................................... 330 Giang thôn tịch mịch thạch lân lân, ..................................................................................................................................... 331 Thạch hiệu hệ long khủng sách quần, .................................................................................................................................. 331 Mai đình chu bạc nhật hoàng hôn, ....................................................................................................................................... 331 Nghĩa dĩ quân thần mỗi tự khoan, ........................................................................................................................................ 332 Việt lĩnh mang mang Việt thuỵ loan, ................................................................................................................................... 332 Thôn khƣ lạc lạc vãn hàm yên, ............................................................................................................................................ 333 Hà dĩ li gia uý tịch liêu, ....................................................................................................................................................... 333 Bất quan hàn điểu nhất chi sào, ........................................................................................................................................... 333 Độc tự gian quan cộng nhĩ tào, ............................................................................................................................................ 334 Na kham tuế nguyệt dị tha đà, ............................................................................................................................................. 334 Trƣờng An hà xứ viễn thiên nhai, ........................................................................................................................................ 335 Mạn tƣơng tâm sự thả thƣơng lƣơng, .................................................................................................................................. 335 Tài vi an cảm thuyết tƣơng binh, ......................................................................................................................................... 335 Mãn thiên thụ sắc bán điêu linh, .......................................................................................................................................... 336 Mang mang hải nội khí hàm hoằng,..................................................................................................................................... 336 Điều điều nhất diệp viễn hành chu, ...................................................................................................................................... 337 Tự tùng nhất nặc trọng thiên kim, ........................................................................................................................................ 337 Chung triêu tịch tịch ngã hà kham, ...................................................................................................................................... 337 Ỵ song dạ yểm sóc phong nghiêm, ...................................................................................................................................... 338 Tằng ký gia thƣ lãn tác hàm,................................................................................................................................................ 338 THỈNH PHONG SỨ THUYỀN CHÍ, VỊ ĐẮC TƢƠNG KIẾN TẬP CỔ TÁC ................................................................. 339 BỘ CẤN TRAI TỊNH ĐẦU CÚC NGUYÊN VẬN ........................................................................................................... 339 BÁI TRUNG ....................................................................................................................................................................... 339 TẶNG HÀ HAM ĐỐC HỌC CHÍNH NGÔ VÂN TIỀU HUỆ TỐNG THI TẬP ............................................................... 340 KHÁCH TRUNG DẠ VŨ ................................................................................................................................................... 340 HỒ QUẢNG QUY CHU ĐỒ TRUNG TÁC TAM THẬP VẬN ........................................................................................ 341 Tinh sƣơng kỵ độ khách đồ trung, ....................................................................................................................................... 341 Tinh kỳ ảnh lạc động giao long, .......................................................................................................................................... 341 Yên ba không sử ức Nam bang, ........................................................................................................................................... 341 Vân hoành hồi nhạn tịch dƣơng trì, ..................................................................................................................................... 342 Tiền đồ giang cảnh thƣợng hi vi, ......................................................................................................................................... 342 Nhất biệt Yên kinh viễn tệ lƣ, .............................................................................................................................................. 343 Vạn lý phong trần nhất hủ nho,............................................................................................................................................ 343 Ngọc thụ điêu linh diệp mãn khê, ........................................................................................................................................ 344 Tiện nhĩ sơn cƣ phân ngoại giai, .......................................................................................................................................... 344 Quy trạo mang nhiên viễn khách lai, ................................................................................................................................... 344 Vạn kim nan mãi cựu thời xuân, .......................................................................................................................................... 345 Cục bãi chinh tru thắng phụ phân, ....................................................................................................................................... 345 Tuyết tễ vân tình vọng đế hân, ............................................................................................................................................. 346 Du nhân mạn đạo biệt li nan, ............................................................................................................................................... 346 Triêu triêu phi khứ mộ phi hoàn, ......................................................................................................................................... 347 Mạn tƣởng quy đồ thƣợng vạn thiên, ................................................................................................................................... 347 Thí dĩ diêm mai đỉnh nãi điều, ............................................................................................................................................. 347

399

Bái nhĩ thăng đằng đắc vũ giao, ........................................................................................................................................... 348 Hổ Môn sạ nhập sĩ tâm hào, ................................................................................................................................................ 348 Quy khứ lai hề ỵ trạo ca, ...................................................................................................................................................... 349 Nam vọng Trƣờng An lạc nhật tà, ....................................................................................................................................... 349 Chu trung tập tĩnh dƣỡng vi dƣơng, ..................................................................................................................................... 350 Nguy nguy thánh vũ tự thiên sinh, ....................................................................................................................................... 350 Na năng vật ngã lƣỡng vong hình, ....................................................................................................................................... 350 Bạch tần hồng liệu bích ba trừng, ........................................................................................................................................ 351 Giang lƣu bất tận cổ kim sầu, .............................................................................................................................................. 351 Thƣơng Lang khúc bãi liễu biên ngâm, ............................................................................................................................... 352 Tiêu Tƣơng miếu ngoại tịnh vân lam, .................................................................................................................................. 352 Quy tâm mạc thán đạo đồ yêm, ........................................................................................................................................... 352 Vạn lý quy tâm mạc khải giam, ........................................................................................................................................... 353 VỊNH LÊ TRƢỜNG PHÁI HẦU PHÁT ............................................................................................................................ 353 VỊNH VŨ HẬU QUÂN HOẢ ............................................................................................................................................. 354 VỊNH NGÔ LỄ BỘ TỬU .................................................................................................................................................... 354 ẤT SỬU NIÊN XUÂN NHẬT NGẪU THÀNH ................................................................................................................ 355 LƢU BIỆT ........................................................................................................................................................................... 355 ĐINH MÙI NIÊN QUÝ THU, KHÂM MỆNH TỨ PHONG CAO MIÊN QUỐC VƢƠNG ĐỒ KINH QUẢNG NGHĨA TRÀ KHÚC GIANG NGỘ HỒNG THUỴ TRÚ TIẾT LONG ĐẦU SƠN. ............................................................... 356 ĐÁP CHƢ HỮU TẶNG BIỆT NGUYÊN VẬN ................................................................................................................. 356

HOA NGUYÊN THI THẢO ............................................................................................................................................... 358 LƢU BIỆT BẮC THÀNH NGUYỄN TỔNG TRẤN ......................................................................................................... 358 LƢU BIỆT BẮC THÀNH CHƢ LIÊU HỮU BỘ QUỲ GIANG HẦU NGUYÊN VẬN ................................................... 359 KÝ HOÀI BẮC THÀNH NGUYỄN TỔNG TRẤN ........................................................................................................... 359 NINH MINH GIANG GIẢI LÃM ....................................................................................................................................... 360 MINH GIANG KÝ KIẾN ................................................................................................................................................... 360 TRƢ SƠN ĐƢỜNG VÃN BẠC .......................................................................................................................................... 361 HOA SƠN ĐƢỜNG KÝ KIẾN ........................................................................................................................................... 361 LƢ GIANG TẢO PHIẾM ................................................................................................................................................... 362 HƢỞNG HỒ ........................................................................................................................................................................ 362 ĐĂNG KIM KÊ NHAM ..................................................................................................................................................... 363 NAM NINH KÝ THẮNG ................................................................................................................................................... 363 HỰU .................................................................................................................................................................................... 364 VĨNH THUẦN THÀNH KÝ KIẾN .................................................................................................................................... 364 ĐỀ MỶ NHÂN DAO LỖ ĐỒ ............................................................................................................................................. 365 ĐỒ TRUNG TỪ THÂN HUÝ NHẬT HOÀI CẢM ............................................................................................................ 366 QUÁ KHỞI KÍNH ĐƢỜNG ĐỀ MÃ PHỤC BA TỪ ......................................................................................................... 366 QUÁ NGŨ HIỂM THAN .................................................................................................................................................... 367 TẦM CHÂU DẠ BẠC ........................................................................................................................................................ 367 BIỆT NAM NINH PHÂN PHỦ HOÀNG ĐỨC MINH ...................................................................................................... 368 NGÔ CHÂU TRỪ DẠ ........................................................................................................................................................ 368 KHÁCH TRUNG NGUYÊN NHẬT................................................................................................................................... 369 DẠ HÀN NGẪU TÁC ........................................................................................................................................................ 369 KHÁCH TRUNG NGỘ HUÝ NHẬT CẢM TÁC .............................................................................................................. 370 HỰU BỘ TRỊNH CẤN TRAI NGUYÊN VẬN .................................................................................................................. 370 LÔ TƢ ................................................................................................................................................................................. 371 QUẾ LÂM GIẢI LÃM THỨ VẬN ..................................................................................................................................... 372 LÔ TƢ ĐƢỜNG DẠ BẠC THỨ VẬN ............................................................................................................................... 372 TOÀN CHÂU KHÁCH TRUNG ĐOAN NGỌ .................................................................................................................. 373 HỰU THỨ CẤN TRAI VẬN .............................................................................................................................................. 373

400

ĐỀ TƢƠNG SƠN TỰ ......................................................................................................................................................... 374 HỰU BỘ TRỊNH CẤN TRAI NGUYÊN VẬN .................................................................................................................. 374 TIÊU TƢƠNG CHU HÀNH TẠP HỨNG TỨ THỦ .......................................................................................................... 375 KỲ NHẤT DẠ TỬU HỨNG .............................................................................................................................................. 375 KỲ NHỊ TRIÊU HOẠ HỨNG ............................................................................................................................................ 375 KỲ TAM NGỌ TRÀ HỨNG .............................................................................................................................................. 375 KỲ TỨ VÃN THI HỨNG ................................................................................................................................................... 376 ĐỀ PHIẾN TẶNG TỪ SƢ GIA .......................................................................................................................................... 376 ĐỀ PHIẾN TẶNG TƢƠNG ĐÀM LĂNG DỰ TRI HUYỆN ............................................................................................. 377 ĐĂNG CỦNG CỰC LÂU ................................................................................................................................................... 377 QUÁ ĐỘNG ĐÌNH HỒ ...................................................................................................................................................... 378 NGẪU TÁC ........................................................................................................................................................................ 378 SỞ TRUNG ......................................................................................................................................................................... 379 QUÁ NAM BÌNH SƠN HOÀI CỔ ..................................................................................................................................... 379 ĐĂNG HOÀNG HẠC LÂU TÁC ....................................................................................................................................... 379 LƢU ĐỀ THIÊN ĐÔ AM ................................................................................................................................................... 380 BỘ THIÊN ĐÔ AM THI VẬN THƢ TẶNG VIÊN NGOẠI LANG UÔNG...................................................................... 380 ĐÁP TẶNG VƢƠNG THIẾT NHAI, THỨ VẬN .............................................................................................................. 381 QUÁ DỰ NHƢỢNG KIỀU HỮU CẢM ............................................................................................................................. 381 QUÁ CHU VĂN VƢƠNG DỮU LÝ BI ............................................................................................................................. 382 QUÁ HÀM ĐAN LỮ TIÊN ÔNG TỪ ................................................................................................................................ 382 ĐỘ HÔ ĐÀ HÀ TÁC .......................................................................................................................................................... 383 ĐỀ HƢNG LONG TỰ ........................................................................................................................................................ 383 NGHI CÂU KHÁCH TRUNG THẤT TỊCH ...................................................................................................................... 384 DU TỪ HÀNG TỰ .............................................................................................................................................................. 384 XA HÀNH ........................................................................................................................................................................... 384 ĐÁP TIỄN ĐOẢN TỐNG HÀ GIAN PHÂN PHỦ LÝ PHỤNG THUỲ THỨ VẬN ......................................................... 385 LỮ TRUNG TRÙNG CỬU ................................................................................................................................................. 385 QUÁ VŨ THẮNG QUAN .................................................................................................................................................. 386 VŨ HẬU QUÂN HOẢ ........................................................................................................................................................ 386 NGÔ LỄ BỘ TỬU ............................................................................................................................................................... 387 TRƢỜNG PHÁI HẦU PHÁT ............................................................................................................................................. 387 KHỐC TIÊN PHẦN ............................................................................................................................................................ 388 PHỤ LỤC 4 HÌNH ẢNH TƢ LIỆU ..................................................................................................................................................... 389