BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ
NGUYỄN BÍNH
LUẬN ÁN
THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Mã số: 5.04.33
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS – TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Ngƣời thực hiện: PHẠM THỊ THANH PHƢỢNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2000
LỜI CẢM TẠ
Luận án "Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính" đã đƣợc hoàn thành. Nhân dịp này,
tôi xin dƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công lao dạy dỗ và giúp đỡ của các quý thầy,
quý cô Trƣờng Đại học Sƣ phạm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, đặc biệt là thầy Phùng Quý Nhâm đã trực tiếp hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình và
chu đáo cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.
Cũng nhân dịp này tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu và tập thế giáo viên
Trƣờng Trung học Sƣ phạm Bạc Liêu đã quan tâm tạo điều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ
trong thời gian học tập.
Xin chân thành cám ơn.
Thành phố Hồ Chí Minh 5 - 2000.
Người thực hiện
Phạm Thị Thanh Phượng
MỤC LỤC
DẪN LUẬN ................................................................................................................... 1
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU .................................... 1
2/ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ ................................................................................................ 2
3/ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN............................................................................... 9
4/ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU................................................................ 10
5/ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................... 10
6/ CẤU TRÚC LUẬN ÁN ...................................................................................... 11
NỘI DUNG .................................................................................................................. 14
CHƢƠNG I: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH ..................... 14
I- Cái tôi hoài niệm .............................................................................................. 14
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trƣớc vấn đề đô thị hóa: ..... 14
1.2/ Những hoài niệm về quê hƣơng và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê . 24
2/ Cái tôi tự ý thức về thân phận của kẻ tha hƣơng ............................................. 37
3/ Cái tôi yêu thƣơng và chia xẻ .......................................................................... 48
3.1/ Đối với ngƣời thân .................................................................................... 48
3.2/ Đối với cộng đồng .................................................................................... 56
4/ Cái tôi yêu thƣơng và lỡ làng trong tình yêu ................................................... 67
CHƢƠNG II: PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH ..................... 84
1/ Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời ................................................................ 84
2/ Không gian và thời gian nghệ thuật ................................................................. 90
2.1/ Không gian nghệ thuật .............................................................................. 91
2.2/ Thời gian nghệ thuật ................................................................................. 97
3/ Giọng điệu nghệ thuật .................................................................................... 100
4/ Thể thơ và các phƣơng tiện nghệ thuật .......................................................... 109
4.1/ Thể thơ .................................................................................................... 109
4.2/ Ngôn ngữ ................................................................................................ 113
4.3/ Hình ảnh .................................................................................................. 121
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 128
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
DẪN LUẬN
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nguyễn Bính bƣớc vào trong thơ mới bằng cái tôi chân quê mộc mạc, bình dị, mang
nỗi niềm của một con ngƣời hiện đại để góp phần tạo nên hƣơng sắc cho phong trào thơ lãng
mạn Việt Nam 1930 - 1945. Nhƣng lại đứng riêng một góc trời đằm thắm, em dịu... Cái tôi
đƣợc biểu hiện trong những vần thơ mƣợt mà đằm thắm mang hƣơng vị ca dao, dân ca ấy có
một sức hấp dẫn kỳ lạ, đã làm rung cảm bao trái tim yêu của độc giả trên mọi miền đất nƣớc,
những lời thơ của ông cứ ngân nga mãi trong lòng bao thế hệ độc giả Việt Nam.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ở góc độ này hay góc độ khác, phƣơng diện này
hay phƣơng diện khác đánh giá về các thành tựu và các giá trị khác nhau của thơ Nguyễn
Bính trong phong trào thƣ mới nói riêng và trong văn đàn Việt Nam nói chung. Tuy nhiên sự
thu hút và hấp dẫn của thơ ông là một ấn tƣợng thôi thúc ngƣời viết muốn tự mình đi vào tìm
hiểu và khám phá sâu hơn nữa tiếng nói của những lời tâm tình, những cảm xúc dịu dàng và
sâu nặng tha thiết trong thƣ ông để rồi qua đó cũng xin đóng góp một phần nhỏ vào việc
khẳng định giá trị và vị trí thơ của Nguyễn Bính.
Để thực hiện đƣợc nhiệm vụ trên luận án có mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau:
- Tìm hiểu những đặc điểm cơ bản về cái tôi và cái tôi trữ tình, mối quan hệ giữa cái
tôi trữ tình và thơ trữ tình.
- Xác định và phân tích các đặc điểm về cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính trên cơ
sở liên hệ so sánh với một số nhà thơ khác trong phong trào thơ mới.
1
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
- Tìm hiểu và đánh giá các phƣơng diện nghệ thuật đặc sắc của thơ Nguyễn Bính để
thấy rõ khả năng khám phá và biểu đạt thế giới tâm trạng của cái tôi trữ tình trong thơ ông.
2/ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Ra đời trong phong trào Thơ Mới, Nguyễn Bính đã mau chóng trở thành một nhà thơ
xuất sắc trên văn đàn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945. Hòa mình vào dòng chảy chung của
thơ lãng mạn, thơ Nguyễn Bính vẫn tạo đƣợc cho mình một vị trí rất riêng. Khi phong trào
Thơ Mới phát triển rầm rộ, dòng thơ trữ tình của Nguyễn Bính mau chóng trở thành một đề
tài hấp dẫn đối với các nhà phê bình nghiên cứu. Hoài Thanh - Hoà Chân là những nhà
nghiên cứu, phê bình đầu tiên đánh giá cao về thơ Nguyễn Bính. Trong cuốn "Thi nhân Việt
Nam", hai ông đã khẳng định "Tôi muốn nói Nguyễn Bính vẫn còn giữ đƣợc bản chất chân
quê nhiều lắm. Và thơ Nguyễn Bính đã đánh thức đƣợc ngƣời nhà quê ẩn náu trong lòng ta.
Ta bỗng thấy hình ảnh vƣờn cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và tính tình đơn
giản của dân quê là những tính tình cơ bản của ta" [Hoài Thanh - (42,342)]
Nguyễn Bính đã để lại một di sản nghệ thuật thơ văn phong phú bao gồm nhiều thể
loại: Thơ, truyện thơ, chèo, kịch thơ, truyện ngắn. Hầu hết các tác phẩm đều thể hiện đƣợc
tâm hồn và hơi thở của con ngƣời của cuộc sống dân quê. Đặc biệt thơ trữ tình của thi nhân
đã thể hiện đƣợc một khả năng đồng cảm nhạy bén, sâu sắc với mọi ngƣời, thể hiện đƣợc
tiếng lòng dạt dào cảm xúc, chan chứa tình ngƣời của một hồn thơ. Trên bình diện của "cái
tôi" nhà nghiên cứu phê bình Hoài Thanh - Hoài Châu đã xem Nguyễn Bính là "nhà thơ chân
quê'", là ngƣời đã đem những hồn quê thuần khiết trở về trong những điệu ca dao mƣợt mà để
tìm lại bản chất Việt Nam. Trong cuộc hành trình này, cái tôi trong thơ ông chính là sự tổng
hợp và phát quang của một tài sản vô cùng quý giá "Hồn xƣa đá nƣớc". Những nhận xét khái
quát và gợi ý ban đầu của Hoài Thanh Hoài Chân là cơ sở để nửa thế kỷ sau những nhà phê
bình nghiên cứu góp phần nghiên cứu và bàn đến những vấn đề mới về cái tôi trong thơ trữ
tình của Nguyễn Bính mà trong "Thi nhân Việt Nam" chƣa nói đến.
2
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ở miền Nam, từ năm 1945 đến 1975, thơ Nguyễn Bính trở thành một đề tài đƣợc
nhiều ngƣời quan tâm. Thế Phong trong một công trình nghiên cứu về nhà thơ đã đặc biệt chú
trọng đến tính chất "Bình cũ rƣợu mới" trong thơ Nguyễn Bính. Chính điều ấy tạo cho thơ
ông một "bàn sắc độc đáo" và "một địa vị" không nhà thơ nào có đƣợc. Trong bài viết của
mình, Thế Phong cũng chỉ ra đƣợc nguyên nhân của sức "truyền cảm mãnh liệt" của thơ
Nguyễn Bính: "Thơ Nguyễn Bính không giống một ai, chính thi nghiệp của ông cũng nhƣ
Hàn Mặc Tử, là rút ra đƣợc từ cuộc sống thành khẩn của mình, sống sâu và nghệ thuật cao
diễn tả thành công rực rỡ. Không cầu kỳ nhƣ Vũ Hoàng Chƣơng, không thuần túy lãng mạn
dành riêng cho một giai cấp nhƣ Xuân Diệu, không khóc đời suy tƣ kiểu Huy Cận, không có
những thiên nhiên tạo vật buồn nhẹ nhƣ Lƣu Trọng Lƣ nhƣng đi sâu vào khía cạnh tâm hồn
mọi ngƣời, khi mà thi sĩ cũng hòa đồng rung cảm". [ Thế Phong (33, 258 - 259)]
Sự phân tích tỉ mỉ này đã chỉ ra đƣợc rằng: Điều khiển ngƣời đọc "rung cảm chân
thành ứa lệ" chính là ở cái cá biệt trong chiều sâu của cái tôi và ở cách thức thể hiện của nó:
Cái tôi cá thể hòa trong cái tôi cộng đồng, khám phá tâm hồn con ngƣời bằng một sắc thái trữ
tình nhẹ nhàng nhƣng mang tính chia xẻ và đồng cảm cao.
Viết về thƣ Nguyễn Bính trên báo đặc san Hƣơng Cúc mới (Sông văn - Đà Lạt 1952)
Trọng Thƣ một mặt phê phán nội dung thƣ Nguyễn Bính là "không hợp thời" và "cái tôi"
đắm mình trong tình yêu và "than rằng tình mình đã khép lại vì một ngƣời con gái", nhƣng
mặt khác lại thừa nhận rằng đó là những bài thơ của một tâm hồn thơ "tình tứ, nhẹ nhàng,
man mác" và "mang cả hồn chúng ta về phía xa xôi, chốn quê hƣơng thân mến" .
Ngoài ra, nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính còn có một số công trình nghiên cứu khác.
Vũ Bằng với "có hai Nguyễn Bính", Mộng Tuyết với "Nguyễn Bính với hai khía cạnh nhà thơ
tình thất và nhà thơ bình dân" Ta Tỵ với "Nguyễn Bính một thiên tài lỡ dở", Sông Thai với
"Nguyễn Bính với những bƣớc lỡ làng"... Nhƣng nhìn chung việc nghiên cứu về cái tôi trữ
tình chƣa có một công trình riêng hoàn chỉnh, nó chỉ đƣợc bộc lộ rải rác trong các công trình
nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính trên cái nhìn ở bình diện chung. Hơn nữa trong vấn đề cái tôi
trữ tình, những nhận xét
3
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đánh giá chỉ dừng lại ở chỗ phát hiện, nêu vấn đề một cách khái quát chứ chƣa đi vào phân
tích sâu.
Ở miền Bắc, việc nhận định thơ mới nói chung, thơ Nguyễn Bính nói riêng lại
nghiêng về khuynh hƣớng phủ định. Nhận định về thơ mới, Vũ Đức Phúc trong quyển "Bàn
về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn hóa Việt Nam hiện đại 1930 - 1954" viết
rằng: "Bài thơ mới nào khá nhất cũng có ít nhiều những yếu tố xấu về tƣ tƣởng. Cái gọi là
chủ nghĩa nhân đạo" trong Thơ Mới chỉ là một thứ chủ nghĩa cá nhân gầy còm, trống rỗng và
vô vị". Với quyển "Phong trào Thơ Mới 1932 - 1945 (NXB Giáo dục, Hà Nội. 1997" Phan
Cự Đệ cho rằng Thơ Mới chịu ảnh hƣởng của ý thức hệ tƣ sản, về cơ bản là tiêu cực. Tuy
nhiên, công bằng mà nói thơ Nguyễn Bính không bị xem nhƣ là một ví dụ điển hình có tính
chất gay gắt nhƣ một số nhà thơ khác ở thời kỳ này có lẽ do hồn thơ mang bản sắc chân quê
trữ tình đằm thắm của thơ ông.
Trên thực tế, từ sau Đại hội VI (1986) cùng với không khí dân chủ hóa trong đời sống
xã hội, trong sáng tác văn học, việc nhìn nhận lại giá trị của trào lƣu văn học lãng mạn Việt
Nam 1930 - 1945 đã trả cho thơ Mới cũng nhƣ thơ Nguyễn Bính trở về với vị trí của nó trên
văn đàn. Chính bản sắc riêng và sự thể hiện rất riêng của thi nhân mà hiện tƣợng thơ ông
đƣợc xem nhƣ là một hiện tƣợng khá đặc biệt: "Một trƣờng thơ, một khoanh tre trong bờ tre
làng thơ Việt Nam" [Tô Hoài (12,23 )].
Sau một quãng lùi lịch sử, hàng loạt các công trình nghiên cứu và đánh giá của giới
nghiên cứu và phê bình văn học lần lƣợt ra mắt bạn đọc với sự đánh giá mới khách quan hơn
và khoa học hơn. Tôn Phƣơng Lan trong "Nguyễn Bính - nhà thơ chân quê" trên cơ sở
phân tích đóng góp về nội dung và nghệ thuật đã khẳng định "Khi Huy Cận, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên và phần lớn các nhà thơ đƣơng thời chịu ảnh hƣởng của thơ phƣơng Tây và chính
nó đã dem lại cho phong trào Thơ Mới những nét đặc sắc thì Nguyễn Bính mang đến cho
phong trào thơ một phong cách mộc mạc, chân quê, một lối ví von đậm đà màu sắc ca dao".
(20, 54)
Thơ Nguyễn Bính giàu chất trữ tình, nó là kết quả của một sự hòa quyện gần nhƣ là
máu thịt giữa nhà thơ với cuộc đời. Các giai điệu của nỗi buồn chia ly, niềm đau bị bội bạc
hay cảm xúc bâng khuâng trƣớc một phong cảnh mộc mạc, bình dị của quê hƣơng... đều đƣợc
nhà thơ rung động bằng tất cả tình cảm chân thành, tha thiết của mình và chính cái tình
4
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
ấy theo Vũ Quần Phƣơng nhận xét thì "đã làm cho cảnh quê Nguyễn Bính bâng khuâng xao
xuyến, có sức khêu gợi, đánh thức trong tâm hồn ta những kỷ niệm về một miền quê có thực
và cả một miền quê chỉ có trong hoài niệm". (34, 26)
Khi thể hiện chất "chân quê" vẫn là con ngƣời của hiện đại với hồn thơ phảng phất
tình điệu lãng mạn đƣơng thời. Trong "Thơ Mới những bước thăng trầm" Lê Đình Kỵ đã
khẳng định giá trị của sự kết hợp hài hòa này: "Nói hƣơng vị của quê hƣơng đất nƣớc thì
không đâu bằng ca dao. Nhƣng nếu nói thơ Nguyễn Bính không khác gì ca dao xƣa thì Thơ
Mới sẽ nghèo mất đi một Nguyễn Bính". Ông đồng thời cũng đã nhìn thấy rõ rằng cảm xúc
thơ của nhà thơ là thứ cảm xúc gắn bó với cuộc sống của đại đa số ngƣời dân Việt Nam:
"Nguyễn Bính đã đến với ngƣời đọc không phải nhƣ một thợ thơ mà bằng "tâm hồn tôi", một
tâm hồn mộc mạc dễ rung động trƣớc những vui buồn quen thuộc hàng ngày và giống nhƣ ca
dao, nó có sức lắng đọng và vƣơng vấn ngƣời đọc". [ Lê Đình Kỵ (26,109 và 203)]
Mối quan hệ gắn bó giữa "cái tôi" với cuộc sống, con ngƣời nhƣ thế là đã đƣợc xác
định.
Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là phát hiện ra đặc điểm bản chất và
nét đặc sắc của "cái tôi" trong tình và ý thơ ông. Các nhà phê bình nghiên cứu cũng đã chỉ ra
rằng sự thể hiện của “cái tôi" trong thơ Nguyễn Bính không chỉ ảnh hƣởng mạnh đến nội
dung mà còn tác động rất lớn vào nghệ thuật của nhà thơ. Bằng sự hiểu biết sâu sắc và gần
gũi với cuộc sống của con ngƣời Việt Nam, "Tâm hồn tôi" của Nguyễn Bính đƣợc thể hiện
một cách mộc mạc, bình dị và thấm đẫm chất tình. Tình trong thơ ông chính là tình cảm đối
với quê hƣơng đất nƣớc, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, nỗi thông cảm đối với những
phụ nữ bất hạnh, nỗi lo lắng trƣớc sự tàn phai của "Hồn xƣa đất nƣớc" và sự đổi thay của
cuộc đời... Trong một công trình nghiên cứu phê bình phong cách của các nhà thơ mới có lên
"Con mắt thơ", Đỗ Lai Thúy đã đi sâu vào khám phá thế giới nghệ thuật của các nhà thơ
mới có sự kết hợp giữa tƣ duy khoa học và tƣ duy nghệ thuật. Nguyên tắc khám phá đó đã
giúp ông chỉ ra đƣợc bản chất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính: "Cái tôi của nhà
thơ vừa là một sản phẩm của đô thị vừa là một thực thể độc lập tách biệt với thế giới bên
ngoài, nhất là với chính cuộc sống đô thị".
5
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Có một góc độ riêng trong cảm nhận cuộc sống và phƣơng thức biểu hiện, nhà thơ đã đƣa ra
cái tôi của mình trở thành trung tâm sáng tạo. Và cũng theo ý kiến của nhà phê bình nghiên
cứu Đỗ Lai Thúy thì đó là một cái tôi độc đáo với những phẩm chất bình dị nhƣng hết sức
tinh túy "Nỗi niềm quê hƣơng chẳng những là một hƣơng thơm đặc biệt của thơ Nguyễn Bính
mà còn là một dòng nƣớc mạnh thay đổi cả đôi bờ thể loại thơ ông" và "xét trong toàn bộ
sáng tạo của Nguyễn Bính thì mảng thơ giang hồ hoài niệm quê hƣơng có một vị trí đặc biệt.
Dƣờng nhƣ nó tỏa ánh sáng kỳ ảo làm tôn lên vẻ đẹp của chân quê đang biến đổi trƣớc sự
tiếp xúc với đô thị hiện đại và tấm lỏng thiết tha của nhà thơ trƣớc sự thay đổi của nó".
Hiểu sâu sắc tâm hồn của thi nhân, Đỗ Lai Thúy cũng đồng thời cho rằng Nguyễn
Bính là một trong những trƣờng hợp hiếm hoi trong sự cọ xát giữa cũ và mới đã "Bộc lộ sâu
sắc trong tâm hồn không chỉ một cá nhân mà cả một dân tộc, không chỉ một thời mà có lẽ của
nhiều thời". Tuy không sinh ra trong một gia đình nông thôn nhƣng sống nhiều ở nông thôn,
rồi lớn lên theo bƣớc chân phiêu bạt nhuốm cát bụi thị thành, trong cuộc sống nhiều tƣơng
phản ấy, thi sĩ đã có dịp hiểu tƣờng tận cuộc đời. Môi trƣờng đô thị góp phần "mài sắc ý thức
cá nhân của nhà thơ". Và thơ ông "là những con sóng vỗ về cả hai phía. Tiếng dội của nó
vọng từ bờ nọ sang bờ kia". [Đỗ Lai Thúy (41,45 và 113)].
Nói đến thơ Nguyễn Bính là nói đến tình yêu thƣơng sâu nặng mà lúc nào nhà thơ
cũng dành cho cuộc đời. Viết về tâm hồn thơ Nguyễn Bính, nhân ngày giỗ của nhà thơ, Hoài
Việt trong "Nguyễn Bính thi sĩ của yêu thƣơng" đã nhận xét "Tâm hồn Nguyễn Bính nhƣ một
cây đàn muôn điệu, thoáng một chút gió đã ngân lên ". (49, 62)
Theo Hồ Sĩ Hiệp, cội nguồn của cái tôi trong thơ Nguyễn Bính "Bắt rễ từ những hoa
đồng, cỏ nội, những ao muống, vạt cần, những mồ hôi, nƣớc mắt, những lam lũ thƣờng nhật
của quê hƣơng, một quê hƣơng gắn bó suốt cuộc đời, dù có lúc ông phai lênh đênh khắp từ
Bắc chí Nam hoặc bị cuộc đời hất hủi". Hồ Sĩ Hiệp nói rõ hơn: "Nguyễn Bính không ca ngợi
những bóng dáng mỹ nhân mà luôn đi sâu vào thế giới tâm tình của những mảnh đời ngang
trái dở dang. Có thể nói, với ngòi bút của mình Nguyễn Bính đã nói lên chân thật đầy đủ nỗi
ƣu buồn trầm lắng, giải tỏa đƣợc những tiếng kêu bi thƣơng của những tâm hồn mộc mạc.
Tiếng thơ của Nguyễn Bính gây đƣợc sự rung cảm chân thành, lời thơ không gò bó
6
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
gƣợng ép giả tạo, nhƣ chính nhà thơ đã mang nỗi niềm tâm sự hơn là do chính tác giả tƣởng
tƣợng làm ra..." [20, 18 và 97]
Hà Minh Đức trong những nghiên cứu của mình cũng có những nhận định về "Cái
tôi" trữ tình trong thơ Nguyễn Bính khá sâu sắc:
"Ở Nguyễn Bính dƣờng nhƣ có hai con ngƣời, con ngƣời của đồng quê và con ngƣời
thi sĩ giang hồ đắm đuối với sự nghiệp. Hai con ngƣời đã tạo nên hai cái tôi trữ tình.". Quá
trình khúc xạ để tạo nên hai cái tôi trữ tình ấy đã hình thành một tâm hồn - Hồn thơ Nguyễn
Bính. Để rồi từ những rung động và thổn thức của trái tim mình, hồn thơ ông nhƣ những cung
đàn cứ ngân lên hoài giai điệu yêu thƣơng của cuộc sống. Khi đề cập đến tác phẩm "Lỡ bƣớc
sang ngang" của Nguyễn Bính, Hà Minh Đức cũng đã nói: "Cái tôi trữ tình của Nguyễn Bính
có căn cứ để thâm nhập, để chan hòa vào cuộc sống, nhiều số phận" và kết luận: "Cái tôi trữ
tình của Nguyễn trƣớc sau vẫn là cái tôi trữ tình yêu cầu sự thông cảm. Tác giả không tự tôn
mình lên, "Cái tôi" của nhà thơ không khinh bạc, kiêu căng tách khỏi mọi ngƣời".[Hà Minh
Đức( 17, 208 và 209,213)].
Thể hiện cái tôi bằng khả năng đồng cảm cao giữa nhà thơ và cuộc đời là điều không
thể phủ nhận đƣợc, có phải vì thế mà sau năm 1945, trƣớc sự chuyển đổi của nhiều nhà thơ
mới thì thơ Nguyễn Bính lại dễ dàng ít vật vã?
Thơ Nguyễn Bính mƣợt mà dung dị giàu chất nhân ái, gắn bó với cuộc sống của nhân
dân, cùng với cảm hứng lãng mạn là cảm hứng nhân bản. Ông viết về nỗi đau bằng những
nếm trải và viết về tình đời bằng những tình cảm chân thành của trái tim mình. Chính vì vậy
mà những vần thơ mang đậm đà bản sắc dân tộc của Nguyễn Bính đƣợc đông đảo bạn đọc
mến mộ. Lại Nguyên Ân trong bài nghiên cứu "sự có mặt của Nguyễn Bính" đăng trong
tuyển tập " Nguyễn Bính thi sĩ của yêu thƣơng" đã đánh giá thơ của Nguyễn Bính bằng cách
đi sâu vào phân tích thực chất sự thể hiện của cái tôi trữ tình. Ông cho rằng cái tôi trữ tình
trong thơ Nguyễn Bính bên cạnh nỗi niềm tâm sự hoài cổ thì những vần thơ đƣợc viết ra từ
trái tim nhà thơ còn là sự tự ý thức và "ý thức về sự sống của cá nhân và quyền đƣợc vui sống
của con ngƣời". Cũng phân tích về "cái tôi" trong thơ Nguyễn Bính, Lại Nguyên Ân đã xác
định một khía cạnh quan trọng trong cảm hứng sáng tác của nhà thơ: "Ngay từ đầu, giữa "thời
đại của cái tôi" thơ Nguyễn Bính cũng ít khi nói về "tôi", từ những tiểu sử
7
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
"thật nhƣ đếm" của chính mình, mà "cái tôi" trữ tình trong thơ Nguyễn Bính phần nhiều là
gởi tâm sự theo lối "thác lời", "làm lời" ngƣời khác, nói hộ ngƣời khác và ngay khi nói
chuyện mình, nhiều lúc ông cũng đƣa ra cái "tôi" nửa mình, nửa ngƣời khác, thiêu dệt "tôi"
trong một câu chuyện khác xa tiểu sử của bản thăn. Ông rất tài nhập vai và nói rất đúng giọng
của họ". (49, 32 và 33)
Có thể nói thơ Nguyễn Bính giàu chất tƣởng tƣợng, chính chất tƣợng tƣởng phong
phú này là cảm hứng sáng tác trong thơ ông.
Thơ là tình. Tình ấy bén rễ rất sâu trong cuộc sống rồi dội vào trái tim nhà thơ thành
những vần thơ ứ đầy chất liệu cuộc sống và nỗi niềm của ngƣời sáng tạo. Trong thơ Nguyễn
Bính, cái tôi trữ tình của nhà thơ không chỉ chứa đựng tình cảm, nỗi niềm tâm trạng... của nhà
thơ mà còn là khúc giao cảm của nhà thơ đối với cuộc đời. Trong các công trình nghiên cứu
gần đây nhƣ: Phân tích bài thơ "Tết của mẹ tôi" của giáo sƣ Hoàng Nhƣ Mai, "Nguyễn
Bính thi sĩ của đồng quê" - Hà Minh Đức, phân tích bài "Tương tư" của Hà Bình Trị, phân
tích "Lỡ bước sang ngang" của Hoàng Nhƣ Mai... Các tác giả cũng đã ít nhiều đề cập đến
các đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính: Thiết tha gắn bó với cuộc đời, với
con ngƣời và với quê hƣơng ở cả nội dung thơ và nghệ thuật sáng tạo. Đồng cảm với thi
nhân, Hà Bình Trị trong "Bài thơ tương tư" của Nguyễn Bính đã đi sâu vào phân tích cảm
xúc của thơ trữ tình và nhu cầu giải bày của nó. Tác giả xem "cái tôi" của Nguyễn Bính là
"cái tôi tha thiết có nhu cầu phơi trải" và cái tôi ấy "phản ánh mảng tâm hồn của tầng lớp
thanh niên tiểu tƣ sản những năm 30 của thế kỷ này". (20,76).
Vấn đề "cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính" đã đƣợc các nhà phê bình nghiên cứu
khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau với các đặc điểm khác nhau. Chúng ta có thể rút ra
một số điểm chung trong những nhận xét về cái tôi nhƣ sau:
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính vừa mang tính truyền thống vừa mang tính
hiện đại. Đó cũng là cái tôi vừa gắn liền với hoàn cảnh xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 -
1945, vừa nhƣ là một "thực thể độc lập" vƣợt qua bên ngoài hoàn cảnh ấy để trở về với cội
nguồn "chân quê".
8
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
- Cái tôi của nhà thơ một mặt đƣa chúng ta đến với phần "ngƣời" bên trong của nhà
thơ, mặt khác lại giúp chúng ta hiểu thêm về tình đời, tình ngƣời và cuộc đời qua khúc giao
cảm của nhà thơ đối với cuộc sống.
Bên cạnh đó, nhƣ chúng ta đã nói, việc nghiên cứu về cái tôi trữ tình trong thơ
Nguyễn Bính vẫn chƣa có một công trình riêng hoàn chỉnh. Các đặc điểm của cái tôi chỉ đƣợc
nêu rải rác trong các bài nghiên cứu về một vấn đề khác thuộc phần nội dung hay nghệ thuật
của thơ ông. Hơn nữa, trong vấn đề cái tôi trữ tình, các nhận xét đánh giá chỉ dừng lại ở chỗ
phát hiện, nêu vấn đề một cách khái quát chứ chƣa phân tích sâu.
Tuy nhiên, những nhận xét, đánh giá trên chính là cơ sở quý báu để ngƣời viết đi sâu
hơn trong việc nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, xem cái tôi là hạt nhân,
nhân cách của hình tƣợng thơ và là cơ sở để chủ thể trữ tình bộc lộ ý thức chủ quan của mình
trong mối quan hệ giữa nhà thơ và cuộc sống.
3/ ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
Vấn đề "cái tôi trữ tình" là một phƣơng diện giá trị của thơ ông giải quyết vấn đề này,
luận án sẽ có những đóng góp nhƣ sau:
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi nội cảm. Trƣớc hết đó là cái tôi của
nhà thơ đã đƣợc nghệ thuật hóa, thơ hóa. Nó phản ánh tâm tƣ tình cảm và cuộc đời của nhà
thơ.
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi trữ tình nhập vai. Ông đã hóa thân
vào tâm trạng của những chàng trai những cô thôn nữ dịu dàng e ấp và tất cả những ngƣời
thôn quê bình dị mộc mạc để nói lên nỗi lòng của họ. Cái tôi trữ tình trong thơ ông chính là
cái tôi hoài niệm, cái tôi tự ý thức về mình, cái lôi yêu thƣơng - chia xẻ và cái tôi với những
yêu thƣơng và lỡ làng trong tình yêu.
- Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính đƣợc chuyển tải qua các phƣơng diện nghệ
thuật - phƣơng tiện lý giải và khám phá cuộc sống - mang tính cảm tính và mang tính quan
niệm của Nguyễn Bính nhƣ thể thơ, ngôn từ, hình ảnh đến nghệ thuật biểu hiện và quan niệm
nghệ thuật về con ngƣời, giọng điệu nghệ thuật, thời gian và không gian nghệ thuật.
9
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
- Để giải quyết vấn đề, chúng tôi xem cái tôi là hạt nhân, nhân cách của hình tƣớng
thơ.
4/ GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
So với các nhà thơ cùng thời, ƣƣớc Cách mạng tháng Tám Nguyễn Bính là nhà thơ có
nhiều thi phẩm đƣợc in nhất (7 tập thơ, 1 truyện thơ, 1 kịch thơ và một số bài thơ lẻ chƣa xuất
bản). Sau Cách mạng Tháng tám Nguyễn Bính vẫn tiếp lục làm thơ và cho ra đời nhiều tập
thơ khác kể cả truyện thơ. Tuy nhiên khi tiến hành đề tài này, chúng tôi chỉ chú trọng tìm
hiểu, khảo sát "cái tôi trữ tình" của thơ ông trong các tập thơ sau:
1- Lỡ bƣớc sang ngang.
2- Tâm hồn tôi.
3- Hƣơng cố nhân.
4- Một nghìn cửa sổ.
5- Ngƣời con gái ở lầu hoa.
6- Mƣời hai bến nƣớc.
7- Mây Tần.
Cạnh bảy tập thơ này, chúng tôi còn căn cứ vào những bài thƣ của Nguyễn Bính sáng
tác trong giai đoạn trên nhƣng chƣa đƣợc in thành lập và những bài thơ lẻ của Nguyễn Bính
trƣớc năm 1945 gửi cho ông Bùi Hạnh Cẩn ở dạng các bức thƣ đã đƣợc xuất bản trong cuốn
"Nguyễn Bính và tôi" xuất bản năm 1995 và quyển "Nguyễn Bính một vì sao sáng" xuất bản
1999.
Đây là nguồn tài liệu cơ bản để chúng tôi tìm hiểu vấn đề cái tôi trữ tình trong thơ
Nguyễn Bính.
5/ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, luận văn
sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu dƣới đây:
10
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
- Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Để tìm ra những đặc điểm của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, ngƣời viết đi
vào phân tích lý giải mối quan hệ giữa nhà thơ với cuộc sống, thời đại, đồng thời tìm hiểu
nguyên nhân của sự hình thành và thể hiện của những đặc điểm ấy nhằm khám phá sâu sắc
hơn hồn thơ của ông trên bình diện của cái tôi. Sử dụng phƣơng pháp phân tích tổng hợp
ngƣời viết cũng tìm hiểu về thơ Nguyễn Bính trên cơ sở xem xét các quan điểm của những
nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá về thơ ông để sau dó tổng hợp, rút ra đƣợc những đặc
điểm chung mang tính đặc trƣng nhất của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính, đồng thời sử
dụng hệ thống lý luận về cái tôi trữ tình của thi pháp nhƣ một hệ qui chiếu, để phân tích lý
giải tìm ra những đặc điểm riêng của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính.
- Phương pháp so sánh:
Mục đích của phƣơng pháp so sánh là nhằm chỉ ra những đặc điểm tƣơng đồng và dị
biệt của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính so với cái tôi trữ tình trong thơ của các nhà thơ
mới đƣơng thời. Phƣơng pháp này giúp cho ngƣời viết có cơ sở để lý giải sâu hơn và rõ ràng
hơn sự thể hiện của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính. Trên cơ sở đó xác định đúng giá
trị chung và riêng của thơ ông trên thi đàn thơ mới nói riêng và văn đàn Việt Nam nói chung.
Thao tác này đƣợc tiến hành nhƣ sau: Đặt thơ Nguyễn Bính trorng mối quan hệ với các nhà
Thơ Mới cùng thời. Sử dụng phƣơng pháp phân tích, lý giải cùng với phƣơng pháp so sánh
để rút ra đƣợc đặc điểm chung và riêng trong sự thể hiện của cái tôi trữ tình, đồng thời qua đó
so sánh thơ Nguyễn Bính với các nhà thơ có cùng đề tài phản ánh nhƣ: Đoàn Văn Cừ, Anh
Thơ, Bàng Bá Lân... nhằm làm nổi bật bản sắc riêng của thơ Nguyễn Bính và cái tôi trữ tình
trong thơ ông.
Ngoài ra, để làm nổi bật đặc điểm và sự thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn
Bính, ngƣời viết còn sử dụng phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp hệ thống, phƣơng pháp
loại hình đan xen vào để hỗ trợ cho việc phân tích và tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ
Nguyễn Bính.
6/ CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm có ba phần: Phần dẫn luận, nội dung và kết luận.
11
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Dẫn luận:
1/ Lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu.
2/ Lịch sử vấn đề.
3/ Đóng góp của luận án.
4/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
5/ Phƣơng pháp nghiên cứu.
6/ Cấu trúc luận án.
Nội dung:
Chương I: Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính.
1/ Cái tôi hoài niệm.
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trƣớc vấn đề đô thị hóa.
1.2/ Những hoài niệm về quê hƣơng và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê.
2/ Cái tôi tự ý thức về về thân phận của kẻ tha hƣơng.
3/ Cái tôi yêu thƣơng chia xẻ.
3.1/ Đối với ngƣời thân.
3.2/ Đối với cộng dồng.
4/ Cái tôi yêu thƣờng và lỡ làng trong tình yêu.
Chương II: Phương thức biểu hiện cái tôi trữ tình.
1/ Quan niệm nghệ thuật về con ngƣời.
2/ Không gian và thời gian nghệ thuật.
2.1/ Không gian nghệ thuật.
2.2/Thời gian nghệ thuật.
3/ Giọng điệu nghệ thuật.
4/Thể thơ và các phƣơng tiện nghệ thuật.
4.1/Thể thơ.
4.2/ Ngôn ngữ.
12
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
4.3/ Hình ảnh.
Kết luận
Thƣ mục tham khảo
13
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
NỘI DUNG
CHƢƠNG I: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH
I- Cái tôi hoài niệm
1.1/ Ý thức sâu sắc về sự đổi thay của nông thôn trước vấn đề đô thị hóa:
Vào những năm đầu của thế kỷ 20, sau khi củng cố xong bộ máy chính quyền đô hộ,
thực dân Pháp bắt đầu chính sách khai thác thuộc địa. Đi đôi với việc thay đổi bộ mặt kinh tế
là việc làm thay đổi các giá trị vãn hóa của xã hội nƣớc ta. Cuộc sống đô thị hình thành, phát
triển cùng với sự du nhập của luồng văn hóa Âu Tây từ sách vở, báo chí đến lối sống... Tác
động đến các giá trị tinh thần của cộng đồng ngƣời Việt, bào mòn bản sắc văn hóa truyền
thống vốn nhƣ một giá trị bất biến mà từ bao đời nay con ngƣời nâng niu gìn giữ. Sự đổi thay
ấy một mặt ảnh hƣởng lớn đến sự đổi mới về nội dung và nghệ thuật của văn thƣ, mặt khác
nó là nguyên nhân những luồng tƣ duy nghệ thuật với những nỗi day dứt, trăn trở...của nhà
văn, nhà thơ.
Sự xâm lấn của cuộc sống đô thị vào nông thôn cùng lúc tác động đến nhiều phƣơng
diện cuộc sống của con ngƣời Việt Nam quanh năm sống sau lũy tre xanh. Sự du nhập của
cuộc sống mới khác hẳn cuộc sống cũ vừa gợi sự thích thú nhƣng lại vừa làm cho con ngƣời
ta cảm thấy xa lạ, âu lo. Ra đời từ những năm đầu thế kỷ thứ XX, Thơ Mới với sự đa dạng về
phong cách "Một tâm hồn rộng mở nhƣ Thế Lữ, mơ màng nhƣ Lƣu Trọng Lƣ, hùng tráng nhƣ
Huy Thông, trong sáng nhƣ Nguyễn Nhƣợc Pháp, ảo nảo nhƣ Huy Cận, quê mùa nhƣ Nguyễn
Bính, kỳ dị nhƣ Chế Lan Viên" [Hoài Thanh (42,34)] là kết quả của những tác động từ cơ sở
văn hóa, kinh tế, chính trị của xã hội lúc bấy giờ. Xu hƣớng chung của các nhà thơ lãng mạn
thời kỳ này là né tránh cuộc sống xã hội ngột ngạt bằng cách đi sâu vào thế giới của tâm hồn
con ngƣời, khám phá những góc cạnh của tình yêu, của nỗi buồn, sự cô đơn... và không ít nhà
thơ quay trở về quá khứ mơ lại giấc mơ xƣa nhƣ tìm kiếm một khoáng không gian êm đềm.
Nguyễn Bính cũng là một trong những nhà thơ nhƣ vậy.
14
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nhƣng khác hẳn với sự trở về của Anh Thơ, Bàng Bá Lân hay Đoàn Văn Cừ trong những bức
tranh nông thôn thuần khiết hƣơng vị quê mà nhà thơ nhƣ một ngƣời du ngoạn cảnh quê:
Tháng cắp bên hông nón đội đầu
Khuyên vàng yếm thắm áo the nâu
Trông u chẳng khác thời con gái
Mắt sáng, môi hồng má đỏ au...
Chiều mát đƣờng xa nhạt nắng vàng
Đoàn ngƣời về ấp gánh khoai lang,
Trời xanh cò trắng bay từng lớp.
Xóm chợ lều phơi xác lá bàng.
(Đƣờng về quê mẹ - Đoàn Văn Cừ)
Sự trở về của Nguyễn Bính là sự trở về của một đứa lúc nào con gắn bó với quê
hƣơng cho nên nó chất chứa khôn nguôi những day dứt, trăn trở, những nhận thức sâu sắc về
cuộc sống và những dự cảm xã hội mang tính thời sự. Với nhà thơ, hơi thơ cuộc sống ở nông
thôn trong từng cảnh vật của làng quê từ bến nƣớc, giàn trầu, hàng cau, giậu mồng tơi, khung
cửi... đã khắc sâu vào máu thịt của ông. Ông hiểu rất rõ những phong tục tập quán, nền nếp
thế giới tâm linh qua cách ăn mặc, cách cƣ xử và qua sự tín ngƣỡng tôn giáo của ngƣời dân.
Một đêm hát chèo, một buổi lễ chùa, một ngày hội xuân, lời hò hẹn của đôi trai cái yêu nhau,
tình cảm con ngƣời sâu nặng... trong thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng mang hồn sắc dân tộc.
Nó chính là những bộ phận nhỏ của văn hóa làng quê từ bao đời đã trở thành cố hữu trong
tâm thức ngƣời dân. Chính vì vậy một sự đổi thay của cuộc sống dù rất nhỏ trong thƣ ông đều
mang nội niềm khắc khoải âu lo của nhà thơ về sự đổi thay của ban sắc dân tộc. Đỗ Lai Thúy
trong bài viết "Đƣờng về chân quê của Nguyễn Bính có nhận xét rõ về chất hoài niệm trong
thơ Nguyễn Bính: "Trong số các nhà thơ cùng thời viết về nông thôn nhƣ Bàng Bá Lân, Anh
Thơ, Đoàn Văn Cừ... có là chỉ có Nguyễn Bính là nhận thức sâu sắc đƣợc sự thay đổi của
thôn quê trƣớc cuộc xâm lăng của đô thị. Nếu thơ của các thi sĩ trên chỉ là những “bức tranh
quê" những bài "Thôn ca" những họa phẩm phong tục tục và lịch sử
15
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
quý giá thì thơ Nguyễn Bính là nhớ thƣơng, lo âu và khắc khoải về sự phôi pha của quê
hƣơng". [Đỗ Lai Thúy (42, 111)]
Trong tâm trạng của một ngƣời "thị dân hiện đại" có nguồn gốc nho gia, sự trăn trở
của Nguyễn Bính xuất phút từ sự ý thức sâu sắc về sự xói mòn của các giá trị văn hóa truyền
thống của làng quê Việt Nam trƣớc những ảnh hƣởng của luồng văn hóa du nhập từ Âu tây
sang. Trong tâm trạng của một chàng trai làng chờ đợi ngƣời yêu đi tỉnh về nhà thơ xót xa:
Hôm qua, em đi tỉnh về,
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
Khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng,
Áo cài khuy bấm! Em làm khổ tôi!
(Chân quê)
Trong cái tứ của ca dao, hồn thơ của Nguyễn Bính trở về với cội nguồn của dân tộc đã
hàng ngàn năm ấp ủ ở làng quê. Hình ảnh của con ngƣời và cảnh vật làng quê trong thơ ông
luôn luôn đƣợc định hình trở thành những chuẩn mực về đạo đức, về thẩm mỹ. Đó cũng là
nét thẩm mỹ đƣợm màu sắc dân tộc. Do vậy, cái cảm hứng "chân quê "đƣợc khơi nguồn từ
đời sống của quê hƣơng,của dân tộc với những tình cảm bình dị. gần gũi mà quý báu của ông
xuất phát lừ ý thức muốn chống lại tình trạng tha hóa, xu hƣớng học đòi làm mất đi bản sắc
văn hóa tốt đẹp của quê hƣơng. Nhà thơ hụt hẫng tìm kiếm:
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lƣng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen?
(Chân quê)
Làng quê Việt Nam từ bao đời nay gắn liền một cách thân thiết với những sự vật mà
con ngƣời sử dụng hàng ngày. Hình ảnh "yếm lụa sồi". "Dây lƣng đũi", "Áo tứ thân", "Khăn
mỏ quạ"... từ lâu đã trở thành những thứ y phục truyền thống của ngƣời Việt. Nó góp phần
làm tăng thêm nữ tính cho ngƣời phụ nữ. Đặc biệt hình ảnh cái yếm còn là biểu tƣợng tình
yêu trong ca dao:
16
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ƣớc gì sông rộng một gang
Bắc cầu giải yếm mời nàng sang chơi.
Hay:
Trầu em têm tôi hôm qua
Cất trong giải yếm mở ra mời chàng.
Ngày xƣa để ứng phó với khí hậu nóng bức, phụ nữ khi làm lụng, nhất là trong bóng
râm thƣờng hay mặc yếm với hai tay để trần, cách ăn mặc với mục đích ứng phó với môi
trƣờng tự nhiên này dần dần trở thành một cái đẹp của ngƣời Việt Nam cổ truyền "Đàn ông
đóng khố đuôi lƣơn, đàn bà yếm thắm hở lƣờn mới xinh". Sự trở về trong thơ Nguyễn Bính
trƣớc hết là sự trở về với cội nguồn bằng thể thơ dân gian quen thuộc cùng với cách nói ví
von, cách sử dụng những hình ảnh từ lâu vốn đã đƣợc xem là bản sắc văn hóa của cộng đồng
ngƣời Việt. Trong sự trở về này thi nhân đã chứng tỏ đƣợc sự hiểu biết sâu sắc và sự trân
trọng những giá trị văn hóa ấy của mình. Với nhà thơ, thơ là sự thể hiện của niềm khao khát
và ƣớc nguyện của tâm hồn ông. Những êm đềm và ngọt ngào của cuộc sống bình dị sau lũy
tre làng khác biệt hầu nhƣ hoàn toàn với những cay đắng mà nhà thơ đã nếm trải trong những
ngày lăn lộn kiếm sống ở thành thị đã biến nhà thơ thành ngƣời của quê hƣơng - một quê
hƣơng thiết tha và đằm thắm nghĩa tình - thế mà những năm đầu của thế kỷ XX này, tất cả
đang bị xói mòn đi và đang có nguy cơ biến mất. Lời tâm sự của anh trai làng vì thế là sự
thấm thìa sâu sắc những đổi thay đang đi đến chỗ mất mát của hồn xƣa đất nƣớc.
Trong thơ Nguyễn Bính sự tàn phai của "Hồn xƣa đất nƣớc" cứ trăn đi trở lại nhƣ một
ám ảnh với tất cả sự day dứt và trăn trở. Sài Gòn đang biến mình thành đô thị hiện đại chớm
bắt mình vào nền văn minh công nghiệp. Văn hóa Âu tây đã có những ảnh hƣởng mạnh đến
đời sống văn hóa của ngƣời việt. Trong xã hội Việt, do sự qui định của cơ chế kinh tế nông
nghiệp, các thành viên của làng không chỉ quan hệ gắn bó với nhau bằng quan hệ máu thịt mà
còn gắn bó với nhau bằng quan hệ sản xuất, con ngƣời cùng lao động với nhau trên mảnh
vƣờn, đồng ruộng, rồi hẹn hò gặp gỡ ở những buổi hội chèo... sự thay đổi theo cơ cấu đô thị
của cả một nền kinh tế văn hóa đã phá vỡ mối quan hệ gắn bó của cộng đồng
17
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đƣa ngƣời ta ra khỏi tổ ấm gia đình. Trong cái nhìn đầy nỗi âu lo của một thành viên trong
cộng đồng, nhà thơ cảm nhận:
Những cuộc chia lìa khởi tự đây
Cây đàn sum họp đứt từng dây
Những đời phiêu bạt thân đơn chiếc
Lần lƣợt theo nhau suốt tối ngày.
(Những bóng ngƣời trên sân ga)
Cùng với việc chứng kiến cảnh chia ly là dự cảm về những "cái tôi cô đơn" mà trong
đó bản thân nhà thơ cũng không thể thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy.
Thời gian sống ở thôn quê của ông có lẽ không nhiều nhƣng gắn bó và có nhiều kỷ
niệm êm đềm. Ông am hiểu tƣờng tận cuộc sống, cách cảm, cách nghĩ của nông thôn. Trong
thơ ông có những hình ảnh thƣờng thấy đƣợc xem là biểu tƣợng văn hóa làng, thể hiện tính
cộng đồng của nông thôn nhƣ: Cây đa, bến nƣớc, con đò, hội hè, đình đám, mái chùa... Nói
đến làng ngƣời ta nghĩ đốn mái đình: Trung tâm hành chính, trung tâm văn hóa và trung tâm
về mặt tình cảm với những đêm hội chèo thân thƣơng: "Qua đình ngả nón trông đình - Đình
bao nhiêu ngói thƣơng mình bấy nhiêu", "Đêm qua tát nƣớc đầu đình, bỏ quên chiếc áo trên
cành hoa sen", cây đa: nơi hò hẹn... Cũng với ý nghĩa ấy nhƣng những biểu tƣợng của làng
còn mang cả tâm trạng khắc khoải không yên của một tâm tƣ hoài niệm:
Ánh chiều vàng ánh chiều rơi
Chiều xƣa rêu phủ tự muôn đời.
(Chiều quê)
Chùa chiền, mái đình là nơi tổ chức hội hè đình đám, nhƣng khi những chỗ ấy bị
ngƣời ta quên lãng thì những đám hát, những hội hè cũng dần dần trở về với dĩ vãng:
Đến ngay trai trẻ quanh làng Thƣợng
Đình đám thâu đêm họ chẳng màng.
Họ kháo nhau rằng trò dở lắm;
Phƣờng Mơ năm ấy thế rồi tan.
18
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Phƣờng mơ)
Đi vào phân tích thế giới trữ tình của nhà thơ chúng ta có thể nhận thấy rằng thật ra
thì thi nhân không phải là một anh nhà quê cố hữu với tất cả những gì mình có, bản thân
ngƣời cũng đã nhiều lần đi tỉnh, cũng "dan díu nợ kinh thành". Bằng trực giác và bằng cảm
giác, thi nhân cảm nhận đƣợc rằng đô thị càng phát triển thì bản sắc văn hóa truyền thống
càng phôi pha, tính hài hòa vốn có trong quan hệ xã hội bị phá vỡ, con ngƣời cảm thấy chênh
vênh, mất đi thế cân bằng. Trong tâm trạng ấy của con ngƣời, cuộc sống thuần khiết êm ả sau
lũy tre làng cũng trở thành bất an:
Năm sau vƣờn cải hoa vàng hết
Bƣớm lại sang mà em chẳng sang.
Thui thủi một mình anh bắt bƣớm
Trông chèo thƣa thớt động làng Ngang.
(Hết bƣớm vàng)
Con ngƣời Việt Nam đời đời kiếp kiếp gắn bó với mảnh vƣờn, đồng ruộng để mà sinh
sống, chuyện cái tình cái nghĩa cũng sinh ra từ đây. Đứng ở mảnh vƣờn hiện tại làm một cuộc
trở về bằng giấc mơ có hình ảnh của cánh bƣớm, một kỷ niệm đẹp hiện về cùng lúc con
ngƣời ý thức đƣợc thế lẻ loi của mình ở hiện tại, bồn chồn nghe tiếng trống chèo đang vọng
một cách thƣa thớt. Điều này cũng có nghĩa là trong nhận thức của thi nhân, cuộc sống không
đi theo chiều hƣớng sinh sôi nảy nở mà đang trên đƣờng trƣợt trở về với cái xơ xác, hoang
tàn:
Một thửa vƣờn hoang bên cạnh am,
Xƣơng rồng, bãi cỏ lấn rau sam;
Vƣờn này ngày nhỏ, anh còn nhớ
Đã nhẩy qua tƣờng trẩy trộm cam.
(Vƣờn xƣa)
Con ngƣời nhà quê trong thơ Nguyễn Bính luôn có những cuộc trở về với những hình
ảnh đẹp của cuộc sống trong quá khứ: Một con đƣờng làng rụng trắng hoa xoan, thoảng mùi
hoa cam, hoa bƣởi, một con ngƣời đang náo nức chờ đợi buổi hội chèo... Trong hành trình trở
về đó, nhà
19
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
thơ tạo ra cái thế đối lập không thể dung hợp đƣợc giữa cuộc sống hiện đại và quá khứ. "Hoa
với rƣợu" là một bài thơ hồi cố về một kỷ niệm rất đẹp của nhà thơ là dẫn chứng tiêu biểu của
âm hƣởng vỗ về của tâm hồn thơ giữa đôi bờ quá khứ và hiện tại ấy:
Chao ôi là mộng hay là thực
Là thực hay là mộng bấy lâu
Hai đứa sống bằng hoa với rƣợu
Sống vào giời đất, sống cho nhau
Nhƣng mộng mà thôi mộng mất rồi
Hoa tàn rƣợu ế ấy tình tôi
Chiều nay tôi chắp đôi tay lại:
Đừng gặp ngƣời xƣa nữa lạy giời.
(Hoa với rƣợu)
Quá khứ là quê hƣơng, nơi nuôi dƣỡng hồn thơ của nhà thơ và nơi mà nhà thơ có thể
hòa hợp đƣợc những phẩm chất trong sáng, chân thực của mình với cuộc đời nhân hậu còn
thuần phác. Quá khứ với những hình ảnh đẹp về con ngƣời và cảnh vật trong thơ Nguyễn
Bính nhƣ một truyền thống vốn có, nhƣ cuộc đời hiện lại nhiều màu, nhiều vẻ và nhƣ những
mong ƣớc vốn không hề thay đổi trƣớc những biến động của cuộc đời. Có lẽ chính vì vậy mà
khi gởi gắm tình yêu của mình về với quê hƣơng để tìm lại những vẻ đẹp truyền thống, thanh
khiết mà không dễ nhận ra ở một nơi nào khác nhất là ở chốn đô thị phồn hoa, nhà thƣ cảm
nhận đƣợc những mất mát lớn lao của cuộc sống mà mảng đậm của nó là nỗi cô đơn, tâm
trạng nuối tiếc của con ngƣời.
Phong trào Âu hóa ở những năm 1930 - 1945 du nhập vào Việt Nam trên hai phƣơng
diện: Phƣơng diện nổi và phƣơng diện chìm. Ngƣời ta có thể dễ dàng nhận ra bề nổi của nó ở
một lối sống, một cách ăn mặc, một cuộc thi sắc đẹp, một cuốn tiểu thuyết tình, một buổi chợ
phiên... Nhƣng trong cơn lốc mở đƣờng vào thế kỷ này của ngƣời Việt lúc bấy giờ còn có
một trào lƣu khác lặng lẽ nhƣng rất quan trọng và không dễ dàng gì nhân ra nó: Đó là trào lƣu
ý thức. Chính cái âu hóa trầm sâu này mà không phải là cái âu hóa bèo bọt nói trên mới là đối
đầu đích thực của nền văn hóa dân tộc. Không thận trọng con ngƣời sẽ đứng trƣớc nguy cơ
20
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
còn đấy nhƣng lại mất tất cả. Thơ Nguyễn Bính vì thế trở thành những dự báo đầy trách
nhiệm của một nhà thơ về số phận của những giá trị văn hóa, tinh thần trong sự phát triển của
xã hội theo xu hƣớng mở cửa và thực tế, trong thời đại ngày nay vấn đề này cũng đƣợc đặt ra
nhƣ một thử thách đối với xã hội. Và khi xã hội thay đổi, con ngƣời có xu hƣớng "cố lùi xa
nếp cũ để đi đến chỗ mà ngƣời ta gọi là văn minh" (Hoài Thanh), thì những gì mà nhà thơ gởi
gắm trong thơ mãi mãi sẽ làm lay động tâm hồn, nó nhƣ lời nhắn gởi con ngƣời, trong khi đi
đến cuộc sống văn minh, hãy xây dựng nó trên nền tảng của một nền văn hóa mang đậm cốt
cách và bản sắc dân tộc của con ngƣời Việt Nam, hội nhập chớ không bị hòa tan trong những
nền văn hóa khác.
Chế Lan Viên đã từng có một ý tƣởng rất lạ:
Ai đâu trở lại mùa thu trƣớc
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng
Với những hoa tƣơi muôn cánh rã
Về đây đem chắn nẻo thu sang.
( Xuân - Chế Lan Viên)
Sợ thời gian trôi đi nhà thơ muôn quay trở lại với mùa thu của quá khứ sống ở đó với
những vui buồn. Nhƣng Nguyễn Bính có lẽ là nhà thơ duy nhất đứng trên chính mảnh đất quê
hƣơng của mình ở hiện tại mà phải hƣớng tâm hồn mình về quá khứ để tìm lại quê hƣơng với
một tâm trạng hụt hẫng xót xa trƣớc tất cả những gì đã mất và đang mất. Sống với hiện tại
nhƣng trong lòng lại trĩu nặng ân tình với một làng quê thuần khiết Việt Nam, có cây đa, bến
nƣớc, con đò và những con đƣờng thơm hƣơng bƣởi, hƣơng cau. Có lúc phải thốt ra với nỗi
lòng tê tái:
Ngự Viên ngày trƣớc không còn nữa
Giờ chỉ còn tên xóm Ngự Viên.
(Xóm Ngự Viên)
Đọc thơ Nguyễn Bính, chúng ta luôn bắt gặp đâu đó tâm trạng bất an chênh vênh của
cái tôi trữ tình. Điều này cũng dễ hiểu, khi mà trong xã hội một tƣ tƣởng khác xuất hiện và
xâm nhập vào cuộc sống của nhiều ngƣời, thì cơ chế xã hội cùng với tất cả các mối quan hệ
của nó cũng thay đổi theo một chiều hƣớng có cả cái tốt lẫn cái xấu, cái lợi và
21
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
cái bất lợi. Hệ thống đạo lý truyền thống của cộng đồng cũng theo đó mà thay đổi:
Mụ vợ Bắc Nam ngƣời tứ xứ
Anh chồng tay trắng lẫn tay đen
Đổi thay tình nghĩa nhƣ cơm bữa
Khúc "Hậu đình hoa" hát tự nhiên
Nhọc nhằn tiếng cú trong canh vắng
Nhao nhác đàn dơi lúc đỏ đèn...
(Xóm Ngự Viên)
Coi trọng tình nghĩa, giữ gìn tôn ti trật tự kỷ cƣơng là truyền thống đạo lý ngàn đời
của con ngƣời Việt Nam cổ truyền. Tinh thần ấy thấm nhuần trong ca dao: "Lá lành đùm lá
rách", "Chị ngã em nâng", "Môi hở răng lạnh"... Những cuộc đấu tranh gay gắt với thiên
nhiên để sinh tồn và phát triển, những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm của cha ông xƣa
với những hy sinh mất mát để giữ vững độc lập và chủ quyền của dân tộc đƣợc lấy từ sức
mạnh đoàn kết, tinh thần yêu thƣơng, gắn bó của cộng đồng. Đó vừa là ý thức dân tộc, vừa là
tình cảm dân tộc, là phần tinh hoa nhất trong những tƣ tƣởng, tình cảm cao đẹp của dân tộc
ta. Vậy mà giờ đây mọi thứ đều bị đảo lộn. Ngƣời ta có thể đổi trắng thay đen. Nơi thiêng
liêng không đƣợc tôn trọng và khi chuyện tình nghĩa có thể dễ dàng đổi thay nhƣ cơm bữa thì
sự tha hóa của con ngƣời dƣờng nhƣ trở thành một quy luật tất yếu. Nhận ra cuộc sống đang
đổi thay đã thấy xót xa, nhận ra chính mình đang đổi thay lại càng thấy xót xa hơn:
Ở mãi kinh thành với bút nghiên
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
Xót xa một buổi soi gƣơng cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.
(Sao chẳng về đây)
Con ngƣời suy tƣ nhận ra chính mình đang thay đổi sau khi rơi vào vòng xoáy của
cuộc đời. Sự hài hòa cổ điển bị phá vỡ, cá nhân trở nên lẻ loi nhỏ bé. Con ngƣời cảm thấy cô
độc khi thiếu không khí ấm áp của tình ngƣời. Cái tôi nỗi lòng, cái tôi lo âu của nhà thơ đang
thấm trong
22
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
từng con chữ. Ý thức về việc con ngƣời đang tự đánh mất mình là tâm trạng của ngƣời thị
dân hiện đại khi đang tự tách mình ra và quan sát mình trên bình diện tập thể.
Thơ Nguyễn Bính mang tiếng nói trăn trở của ông về những đổi thay của cuộc sống
hiện tại, những đổi thay đã bào mòn đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì thế cảnh
quê và tình quê trong thơ ông luôn gắn liền với cách tƣ duy, lối suy nghĩ phù hợp với tâm
hồn, tính cách ngƣời Việt. Đặt cảnh quê và tình quê ấy trong một thế giới nghệ thuật thơ vừa
truyền thống vừa hiện đại và trong các thế có sự cọ xát giữa cái đang đổi thay " khăn nhung,
quần lĩnh", "áo cài, khuy bấm", " lệch... mặt chữ điền", "Ngự Viên ngày trƣớc không còn
nữa" ... và cái không thay đổi: một cây đa, bến nƣớc, con đò, vƣờn dâu, vƣờn chè, những con
ngƣời đôn hậu dù ở đâu, hoàn cảnh nào cũng chung thủy, nồng tình thắm nghĩa, nhân ái...
Nguyễn Bính đã nêu bật đƣợc mối quan hệ giữa khả năng tha hóa con ngƣời và sự đổi thay
của các hiện tƣợng cuộc sống nhƣ một kết quả tất yếu. Nguyễn Bính cảm nhận tất cả những
đổi thay đang diễn ra một cách âm thầm lặng lẽ ấy bằng sự nhận thức sâu sắc về mối nguy
hiểm của nó với hệ thống giá trị văn hóa làng quê và bằng nỗi lòng âu lo khắc khoải của thi
nhân.
Trong tâm trạng của một cái tôi lo âu, khắc khoải và trong sự lƣỡng phân của tâm hồn
giữa đôi bờ hiện tại và quá khứ, nông thôn và thành thị, thơ Nguyễn Bính đã bộc lộ những
nhận thức sâu sắc trong tâm hồn không chỉ của một cá nhân mà còn của cả một dân tộc.
Những vần thơ trữ tình đằm thắm, đầy tâm trạng của nhà thơ đã trở thành một bức thông điệp
gửi gắm những dự báo những vấn đề mang tính chất thời sự. Vấn đề bảo tồn những giá trị
văn hóa tinh thần thể hiện bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển của xã hội không chỉ ở
thời điểm những năm đầu của thế kỷ thứ XX này, mà cho đến nay, nó vẫn còn là vấn đề đang
đƣợc xã hội đặc biệt quan tâm chú ý. Phát triển cuộc sống là một nhu cầu cần thiết nhƣng
phát triển ấy chỉ bền vững khi và chỉ khi chúng ta xây dựng trên nền tảng của văn hóa truyền
thống và những tinh hoa cổ truyền của dân tộc có nghĩa là trên một phƣơng diện nào đó của
bình diện văn hóa, chúng ta vẫn là:
Hoa chanh nở giữa vƣờn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê.
23
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Chân quê)
1.2/ Những hoài niệm về quê hương và khát vọng giữ gìn bản sắc chân quê
Thơ Nguyễn Bính nhẹ nhàng, man mác nhƣng trong từng chữ, từng dòng thơ, ngƣời
ta cảm nhận đƣợc nỗi lòng đang trĩu nặng suy tƣ của nhà thơ. Âu lo trƣớc cuộc sống hiện lại
nhà thơ tìm về quá khứ đốt cháy lòng mình trong nỗi khát khao tìm lại cuộc sống xƣa thuần
khiết êm đềm. Trong Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh đã nói về thơ Nguyễn Bính: "Nguyễn
Bính vẫn còn giữ đƣợc bản chất nhà quê nhiều lắm. Và trong thơ Nguyễn Bính đã đánh thức
ngƣời nhà quê ẩn náu trong lòng ta" [Hoài Thanh (42, 343)]. Sự phân thân của cái tôi trữ tình
để làm con sóng vỗ giữa đôi bờ hiện tại và quá khứ là cảm hứng chủ đạo trong suốt cuộc đời
thơ của Nguyễn Bính. Những năm tháng gắn bó với cuộc sống nông thôn và những cuộc
phiêu lƣu nơi chốn thị thành giúp nhà thơ hiểu rõ hơn giá trị của cuộc sống và thân phận của
con ngƣời. Tâm hồn thơ Nguyễn Bính đã đƣợc gọt giũa từ những nếm trải thấm thía... Cuộc
sống là đề tài vô tận và nhà thơ đã cần mẫn chắt lọc những hƣơng vị của cuộc đời để tạo
thành những giọt mật mang hƣơng vị riêng của mình. Có thể nói, trong thơ Nguyễn Bính hình
ảnh nhân vật trữ tình chán nản với hiện tại và trở về quá khứ có một tần số xuất hiện rất
nhiều:
Đƣơng đêm trời đổ mƣa rào,
Nằm đây mơ dáng lầu cao kinh thành.
Mây hồ trắng nƣớc hồ xanh,
Ngày xƣa hai đứa chúng mình có nhau.
(Thƣơng nhớ kinh thành)
Khi hiện tại không thỏa lòng thì quá khứ sống lại bao giờ cũng đẹp hơn. Hƣớng tâm
hồn trở về quá khứ, Nguyễn Bính đã đƣa con ngƣời trở về với cảm giác mênh mông, êm dịu.
Nó góp phần làm giảm đi cái không khí ngột ngạt, oi bức của cuộc sống hiện tại. Cuộc sống
của con ngƣời với tình yêu và những kỷ niệm trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với cảnh vật
làng quê: Một mái đình cong cong cổ kính, một cây đa, bên nƣớc, con đò quê...
Năm xƣa chở chiếc thuyền này
24
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cho cô sang bãi tƣớc đay chiều chiều.
(Giấc mơ anh lái đò)
Niềm hoài niệm của thi nhân nằm trong cấu trúc cảm hứng: Cắm con trên bến vắng ở
dòng sông hiện lại ngƣời lái đò mơ lại giấc mơ xƣa rồi thả mình trong giấc mơ ấy:
Tƣng bừng vua mở khoa thi
Tôi đỗ quan Trạng vinh quy về làng
"Võng anh đi trƣớc võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò".
(Giấc mơ anh lái đò)
Nhƣng ƣớc mơ vẫn chỉ là mơ ƣớc, hiện tại là cái mà con ngƣời không thể chối bỏ.
Ngƣời lái đò đành phải bán con thuyền bản mệnh của mình đi:
Lang thang tôi dạm bán thuyền
Có ngƣời trả chín quan tiền lại thôi.
(Giấc mơ anh lái dò)
Trong khi Thế Lữ mơ màng chốn bồng lai tiên cảnh có cung tần mỹ nữ múa lƣợn
trong tiếng đàn, tiếng sáo, có suối trong giếng ngọc:
Tiên nga xõa tóc bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm bóng chiều không đi.
(Tiếng sáo thiên thai - Thế Lữ)
Và Xuân Diệu ngập chìm trong tình yêu cuồng nhiệt, khát vọng tình yêu cũng là khát
vọng sống của thi nhân:
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi
Trong vƣờn thơm ngát của hồn tôi.
(Nguyên đán-Xuân Diệu)
25
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Chế Lan Viên dẫn dắt ngƣời đọc vào thế giới ma quái "đầy sọ ngƣời, xƣơng máu cùng
yêu ma" đồng thời với một nỗi lòng xót xa về quá khứ huy hoàng của một đất nƣớc bây giờ
chỉ còn lại: "những tháp gầy mòn", "những đền đổ nát", "những tƣợng chàm lở lói rỉ rên
than"... Còn Nguyễn Bính trong phong cách ca dao ở cả tƣ duy lẫn cảm xúc, ở cả ý, tình điệu,
nhà thơ đã làm những cuộc hành trình trở về quá khứ với "những ƣớc mơ quan trạng, những
tâm tình bao chùm, lặng lẽ của ngƣời mẹ, ngƣời chị, ngƣời vợ, cô lái đò, cô hái dâu..." {Đỗ
Lai Thúy(20, 48)}
Với cái tôi trữ tình luôn láng sâu, đậm đà, tha thiết với quê hƣơng, trong thơ ông,
chúng ta có thể đễ dàng tìm thây rất nhiều từ ngữ chỉ thời gian xuất hiện với tần số cao nhƣ:
Vƣờn xƣa, ngày xƣa, thời trƣớc, bữa ấy...
Cô hồi tƣởng lại ba xuân trƣớc
Trên bến cùng ai đã hẹn thề.
(Cô lái dò)
hay:
Bữa ấy mƣa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dƣới chân giày.
(Mƣa xuân)
Không khí thuở xƣa dịu dàng bàng bạc trong thơ ông chính là những ƣớc mơ và nỗi
đau khắc khoải của nhà thơ trƣớc cuộc đời dâu bể. Xuất thân trong gia đình có truyền thống
nho giáo, lớn lên trong mùi thơm nồng nàn của hƣơng bƣởi, hƣơng cau, chất thơ ngọt ngào
trong thơ ông là kết quả của một tài năng thi sĩ bẩm sinh và là kết quả của sự tiếp thu trọn vẹn
của nền văn minh thôn dã. Hầu hết những bài thơ viết về quá khứ qua sự hồi cố của nhà thơ
nhƣ: Giấc mơ anh lái đò, xóm cũ, quan trạng vƣờn xƣa, lạy giời cấm cửa rừng mai, thời
trƣớc... là những bài thơ viết về những kỷ niệm rất đẹp. Quá khứ càng đẹp, chất hoài niệm
trong thơ càng đậm, khát khao gìn giữ cái đẹp càng cháy bỏng. Nơi thành thị xa hoa không
phải là nơi nhà thƣ có thể tìm thấy sự đồng cảm cảm, chia xẻ, tâm hồn thi nhân hƣớng về làng
quê nơi có mảnh vƣờn, căn nhà nhỏ:
Sáng trăng chia nửa vƣờn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau.
26
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Vì tằm tôi phải chạy dâu,
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay,
Chồng tôi thi đỗ khoa này,
Bõ công kinh sử từ ngày lấy tôi.
(Thời trƣớc)
Có một điều đáng chú ý là Nguyễn Bính thƣờng hay mơ mình đƣợc trở thành quan
trạng:
Quan trạng đi bốn lọng vàng
Cờ thêu tám lá qua làng trang nghiêm.
(Quan trạng)
Hay:
Tƣng bừng vua mở khoa thi
Tôi đỗ quan Trạng vinh quy về làng.
(Giấc mơ anh lái đò)
Vào cái thời văn minh phƣơng Tây thâm nhập mạnh vào nƣớc ta, bút sắt thay bút
lông, các khoa thi chữ hán đã bị hủy bỏ, chuyện khoa bảng không còn thì giấc mơ trở thành
quan trạng không phải là biểu hiện của một xu hƣớng hƣớng tới quyền lực hay danh vọng.
Mơ lại giấc mơ xƣa cái tôi trữ tình của nhà thơ ẩn chứa nỗi cảm thƣơng nuối tiếc khôn nguôi
đối với ánh sáng vàng son của một thời đã qua. Niềm tiếc nuối quá khứ vàng son dĩ vãng đã
là nguồn cảm hứng của không ít thi nhân. Bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên là một dẫn
chứng:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông ngƣời qua
Bao nhiêu ngƣời thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Nhƣ phƣợng múa rồng bay"
27
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
….
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xƣa
Những ngƣời muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ.
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
Những câu thơ chất chứa nỗi niềm, khác hẳn với cái nhìn vui tƣơi hồn nhiên của
Nguyễn Nhƣợc Pháp khi nhìn về quá khứ:
Hôm nay đi chùa Hƣơng
Hoa cỏ mờ hơi sƣơng
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gƣơng.
(Chùa hƣơng - Nguyễn Nhƣợc Pháp)
Và với Nguyễn Bính cảm xúc đó đâu chỉ là nỗi niềm thƣơng cảm cho một thời đã tàn.
Giữa một hiện tại mà con ngƣời cảm thấy mình không thể hòa nhập, tâm trạng hƣớng về quá
khứ sẽ góp phần củng cố mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng. Con ngƣời còn có chỗ
dựa, có hy vọng để mà sớm quên đi những ngày tháng chán nản không biết ngày mai cuộc
đời rồi sẽ đi đâu, làm gì. Quá khứ nhƣ một chỗ dừng chân của ngƣời khách bộ hành:
Thuở ấy làm sao thật thái bình
Trai hiền bạn với gái đồng trinh
Đời say men rƣợu thơm hoa rụng
Tràn những thơ ngây ngập cảm tình.
(Hoa với rƣợu)
Quá khứ trong thơ Nguyễn Bính là một quê hƣơng dịu dàng, là những con ngƣời hiền
lành và những kỷ niệm êm đềm. Nhìn cuộc đời một cách thấu thị qua hình ảnh đẹp của quá
khứ chính là góc độ mà Nguyễn Bính quan sát hiện tại. Điều này không có nghĩa là Nguyễn
Bính viết về thực tại với cái nhìn chiêm nghiệm của ngƣời xƣa, cũng không phải cái nhìn của
anh nông dân cố thủ, nhà thơ nhận thức đƣợc qui
28
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
luật thực tại của cuộc sống, vì thế thƣ ông là sự lƣỡng phân của tâm hồn giữa đôi bờ cuộc
sống hiện tại và quá khứ. Cái tôi trữ tình của nhà thơ trong tâm trạng níu kéo, dùng dằng. Quá
khứ nằm trong một trạng thái viên mãn, hài hòa giữa con ngƣời với tự nhiên, con ngƣời với
cuộc đời, còn hiện tại nằm trong cái thế vừa hút lại vừa đẩy... Do đó cái tôi mang cảm giác cô
đơn, lạc lõng... Chính vì vậy mà giữa một xã hội đang chạy theo lối sống phƣơng Tây, giấc
mơ anh lái đò muốn trở thành quan trạng của Nguyễn Bính vẫn không chút lỗi thời.
Cùng với cảm hứng trở về với cuộc sống cuội nguồn, thơ lãng mạn Việt Nam giai
đoạn 1930-1945 đã nổi lên một số gƣơng mặt tiêu biểu nhƣ: Thơ của Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá
Lân, Anh Thơ... trên cuộc hành trình ấy, mỗi tác giả lại nhìn ngắm quá khứ ở những góc độ
khác nhau với những cảm quan sáng tác khác nhau. Đoàn Văn Cừ tái hiện lại quá khứ bằng
những bức tranh nông thôn đầy đủ những đƣờng nét, màu sắc và ngồn ngộn sức sống trong
những quan sát và nhận xét tinh tế:
Anh hàng tranh kĩu kịt quẫy đôi bồ
Tìm đến chỗ đông ngƣời ngồi dở bán
Một thầy khóa gò lƣng trên cánh phản
Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
Cụ đồ nho ngừng lại vuốt râu cằm
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ
Nƣớc thời gian gội tóc trắng phau phau
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu
Áo cụ lý bị ngƣời chen sấn kéo
Khăn trên đầu đƣơng chít cũng tung ra
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh già
Quên cả chị bên đƣờng đang đứng gọi.
(Chợ tết - Đoàn Văn Cừ)
29
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nhà thơ đi sâu vào việc tái hiện lại, lựa chọn đúng những chi tiết sinh động của một
phiên chợ tết, tâm trạng của nhà thơ đƣợc ký thác trong những cái nhìn hóm hỉnh và những
câu thơ có sức khái quát cao. Chính vì vậy mà những cảnh sinh hoạt tƣởng nhƣ rất bình
thƣờng qua sự miêu tả tài tình của thi nhân trở nên những hoạt động rộn ràng, lung linh óng
ánh sắc màu, "Hồn xƣa đất nƣớc" cũng toát ra từ đó. Hồn của cảnh và hồn của thi nhân nhƣ
hòa quyện vào một để gây cảm giác bâng khuâng về một thời mà giờ đây chỉ còn là ký ức của
dĩ vãng.
Cũng bằng sự cộng hƣởng của các chi tiết, thơ của Anh Thơ đã đƣa con ngƣời trở về
với một miền quê tĩnh lặng, êm đềm, có đƣờng đê, ruộng lúa, có cánh bƣớm rập rờn. Đắm
mình trong thơ của Anh Thơ chúng ta tƣởng chừng nhƣ đang sống lại cái nhịp sống thong
thả, yên bình dƣờng nhƣ cố hữu của phƣơng thức sản xuất nông nghiệp làng xã. Nhà thơ thản
nhiên gạt ra ngoài những ồn ào, chấn động để đi tìm cái tĩnh lặng trong sáng:
Mƣa đổ bụi êm êm trên bến vắng
Đò biếng lƣời nằm mặc nƣớc sông trôi
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời
Ngoài đƣờng đê cỏ non tràn biếc cỏ
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ
Mấy cánh bƣớm rập rờn trôi trƣớc gió
Những trâu bò thong thả cúi ăn mƣa
(Chiều xuân - Anh Thơ)
Khác với thơ của Đoàn Văn Cừ và Anh Thơ, thơ của Bàng Bá Lân không nhiều cảnh.
Cái đặc sắc của Bàng Bá Lân là chớp lấy hồn quê của cảnh quê mà tƣởng chừng nó chỉ bộc lộ
trong giây lát:
Quán cũ nằm lƣời trong sóng nắng
Bà hàng thƣa khách ngủ thiu thiu
Nghe mồ hôi chảy đầm nhƣ tắm
Đứng lặng trong mây một cánh diều.
30
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Trƣa hè - Bàng Bá Lân)
"... Cả cái hồn lặng lẽ và ngây ngất của đồng quê dƣới nắng trƣa nhƣ đang ngƣng
đọng trong mây câu thơ ấy!" [Hoài Thanh (42,166)]
Cái tôi hoài niệm nhớ nhung của Nguyễn Bính gắn liền cái tôi của tình yêu quê hƣơng
tha thiết. Viết về làng quê Việt Nam, nhà thơ đã khẳng định "cái tôi chân quê" của mình trong
hoài vọng và thƣơng nhớ. Nhà văn Tô Hoài đã khẳng định về thơ Nguyễn Bính: "Khi nào anh
cũng là ngƣời của cái xứ đồng, của cái diều bay, của dây hoa lý, của mƣa thƣa mƣa bụi, giữa
công ăn việc làm vất vả sƣơng nắng. Bài đấy là cốt lõi cuộc đời và tâm hồn thơ Nguyễn Bính.
Quê hƣơng là tất cả và cũng là nơi in đậm dấu vết đời mình" [(12, 20]. Hình ảnh nông thôn
Việt Nam đƣợc tái hiện trong thơ ông nhƣ một cái gì đó bất biến, không xê dịch với cái tôi
khắc khoải mang nặng tình cảm:
Bữa ấy mƣa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
Mẹ bảo "Thôn Đoài hát tối nay".
(Mƣa xuân)
Quê hƣơng qua sự hoài niệm của Nguyễn Bính không cụ thể nhƣ Anh Thơ, tỉ mỉ nhƣ
Đoàn Văn Cừ mà biểu hiện ngƣời ở thế giới nội tâm, ở tình đời và tình ngƣời.
Tâm trạng hoài niệm bằng những biểu hiện cụ thể của nó: Tƣơng tƣ, mơ mộng và
chiêm bao đã đƣa nhà thơ vƣợt qua khỏi những rào cản:
Thơ thẩn đƣờng chiều một khách thơ
Say nhìn ra rặng núi xanh lơ
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.
(Cô hái mơ)
Hay:
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bƣớm trắng thƣờng sang bên này.
31
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Bƣớm ơi! Bƣớm hãy vào đây !
Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...
(Ngƣời hàng xóm)
Tâm trạng hoài niệm của nhà thơ còn là biểu hiện của một cái tôi khao khát giao cảm.
Trong không khí bảng lảng một sắc màu hoài cổ, thơ Nguyễn Bính xuất hiện hàng loạt những
hình ảnh biểu hiện cho một làng quê truyền thống Việt Nam: Mái đình, cây đa, bến nƣớc, con
đò... Hệ thống hình ảnh trở thành những hình tƣợng nghệ thuật vẽ lên vẻ đẹp một làng quê
Việt Nam thuần khiết, nơi từ ngàn đời đã sản sinh, nuôi dƣỡng nền văn hóa làng xã và
chuyển lai nỗi ám ảnh, lo sự của thi nhân về sự tồn tại của những giá trị tƣởng chừng nhƣ bất
biến lại đang vơi cạn và thay đổi. Sự vơi cạn và thay đổi bắt đầu từ chiếc "khuy bấm", "khăn
nhung", "quần lĩnh" và tâm trạng "rộn ràng" của cô gái quê vừa đi tỉnh về. Cho nên, xét trong
toàn bộ những bài thơ về quê hƣơng của nhà thơ, dù với cái lôi vui buồn hay lo âu khắc
khoải, bao giờ chúng ta cũng cảm nhận đƣợc tấm lòng tha thiết của thi nhân.
Trong cuộc hành trình trở về sống trong quá khứ xƣa với nông thôn bằng mơ mộng,
tƣởng tƣợng, nhà thơ liệu có gặp lại mình không?
Lá sen vƣơng vấn hƣơng sen ngát
Ấp ủ đôi ta chút nhụy hờ
Lũ bƣớm tƣởng hoa cài mái tóc
Theo về tận cửa mới tan mơ.
(Trƣờng huyện)
Sự phân thân của cái tôi trữ tình trong tâm trạng nửa về, nửa ở lại gặp những giá trị
tồn tại ở trạng thái vừa có lại vừa không, vừa "thật" lại vừa "ảo". Đƣợc hạnh phúc vui vẻ,
nhƣng đó chỉ là một cuộc sống trong mơ - kết quả của quá trình phân thân, lƣỡng giá trong
thực tế, thi nhân vẫn là con ngƣời của hiện tại. Cuộc sống hiện lại thì ngột ngạt bế tắc mà trái
tim nhà thơ thì nhƣ những sợi dây đàn, khẽ chạm vào là sẽ ngân lên với những cung điệu yêu
thƣơng và khắc khoải âu lo.
Nông thôn Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính đẹp, tinh tế và gắn liền với những tồn tại
mang giá trị tinh thần của cá cộng đồng. Hà Minh Đức trong "Một thời đại thi ca" đã nhận xét
rất có lý về cái tôi trong mảng thơ
32
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
viết về làng quê của nhà thơ: "Trong mảng thơ viết về làng quê "cái tôi" của Nguyễn Bính
không đứng ngoài mà luôn chia xẻ, hòa đồng với cảnh vật, con ngƣời của làng quê. Tuổi trẻ
lớn lên trong hƣơng đồng gió nội, Nguyễn Bính cũng tự xem mình là thành viên của cộng
đồng". [Hà Minh Đức (17, 209)]
Viết về quê hƣơng, nhà thơ đã gửi trọn tâm hồn của mình vào trong từng bức tranh
quê, nhập trong tiếng trống hội chèo, trong tâm hồn náo nức của cô gái quê và trong nỗi bồi
hồi xao xuyến của đôi trai gái đang hò hẹn... để rồi vẽ lên những cánh đẹp thuần khiết, nói lên
tất cả những nỗi lòng trong sự hiểu biết sâu sắc, tinh tế và chia xẻ. Và từ những cảnh đẹp ấy,
những nỗi lòng ấy, toát lên một thứ giá trị vô cùng quý giá... "Hồn xƣa đất nƣớc" làm rung
lên trái tim yêu thƣơng của độc giả trên khắp mọi miền đất nƣớc. Ngƣời ta thuộc lòng những
bài thơ viết về quê hƣơng của Nguyễn Bính bởi vì quê hƣơng nằm sâu trong tâm khảm của
nhà thơ với nỗi nhớ niềm thƣơng và những âu lo, khắc khoải của một "tâm hồn tôi" chƣa bao
giờ ngƣời những day dứt:
Ơi thôn Vân hỡi thôn Vân
Nơi nao kết giải mây Tần cho ta
Ở đây tƣởng nhớ quê nhà
Thấy mây Tần đó ngỡ là thôn Vân.
(Thôn Vân quê mẹ)
Cái tôi trữ tình của Nguyễn Bính gắn chặt với quê hƣơng, một quê hƣơng trĩu nặng ân
tình và tuyệt vời nhân nghĩa. Một quê hƣơng chắp cánh cho những ƣớc mơ, sáng tạo và khát
vọng ở đời. Nguyễn Bính lớn lên trên một vùng quê trắng trời - trắng nƣớc. Gió nên đông
đêm ngày giật gào từng cơn. Nơi ấy, nuôi dƣỡng những ƣớc mơ, những dằn vặt theo đúng
nghĩa Con Ngƣời của nhà thơ. Không nặng lòng sao đƣợc khi mà ở quê hƣơng trong từng
rặng cây, bờ đê, đều có thể gợi lên một kỷ niệm:
Nhà em có một giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
(Tƣơng tƣ)
33
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Tình yêu quê hƣơng gắn chặt với tình yêu con ngƣời. Quê hƣơng trong thơ Nguyễn
Bính là một quê hƣơng bình dị mà gắn bó thân thƣơng: Nơi trong một căn nhà nhỏ có một
ngƣời cha quãng đại, một ngƣời mẹ tần tảo dịu dàng và một đứa em ngoan:
Nhà tôi có một vƣờn dâu.
Có giàn đỗ ván, có ao cấy cần
….
Em tôi là gái mƣời lăm,
Quét sân, chạy chợ, chăn tằm sớm trƣa
Thầy tôi dạy học chữ nho
Dạy dăm ba dứa học trò loanh quanh.
(Nhà tôi)
Không những thế quê hƣơng qua hoài niệm của thi nhân còn là những hình ảnh của
ngƣời dân quê chất phát, lạc quan nhƣng cuộc đời lại mang nhiều oan khiên. Đặc biệt Nguyễn
Bính nói nhiều đến hình ảnh của những ngƣời phụ nữ có tình duyên lỡ làng:
Năm ấy sang sông lỡ chuyến đò.
Đò đầy, gió lớn, sóng sông to
" Mƣời hai bến nƣớc" xa lăng lắc
Lầm tự ngày xƣa, lỡ đến giờ.
(Mƣời hai bến nƣớc)
Sự tái hiện những cảnh đời này đã góp phần làm nên giá trị nhân văn đậm đặc và sâu
lắng tình đời, tình ngƣời trong thơ ông. Cái đẹp trong sự hoài niệm của nhà thơ chính là cái
đẹp của lòng mến yêu tha thiết cuộc sống thanh bình trong trẻo của làng quê và nỗi cảm
thƣơng những cảnh đời ngang trái.
Trên bình diện xã hội, hình ảnh quê hƣơng trong thơ Nguyễn Bính vƣợt lên trên cái
nhìn của thực lại. Nhà thơ không vẽ lên bức tranh quê bằng sự chính xác tỉ mỉ của các chi tiết
mà chỉ phác họa nắm bắt đƣợc cái thần của hồn quê, chính vì vậy mà quê hƣơng của nhà thơ
vừa mang đầy chất thơ, vừa đẹp, vừa hữu tình:
34
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thôn Vân có biếc có hồng
Biếc trong nắng sớm hồng trong vƣờn chiều
Đê cao có đất thả diều
Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay
Quả lành trĩu nặng cành cây
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen
Hiu hiu gió quạt giăng đèn
Vài dăm trẻ nhỏ thả thuyền ta chơi
(Thôn Vân)
Một làng quê hiền hòa, bình dị, yên vui đƣợc cảm nhận qua cái tôi duyên quê đằm
thắm của thi nhân. Có nếm trải nhiều trong những năm tháng lênh đênh nơi đất khách quê
ngƣời, có trải lòng mình ra để yêu thƣơng mới hiểu hết nỗi lòng gắn bó của nhà thơ đối với
quê hƣơng. Vẻ đẹp của quê hƣơng trong thơ ông có nguồn gốc sâu xa từ vẻ đẹp của tình quê,
vẻ đẹp của lòng ngƣời. Chính sự hài hòa bình dị của mỗi cá nhân trong cộng đồng đã tạo nên
bản sắc chung ấy, khỏi sắc cho mọi sự thăng hoa của tâm hồn:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh.
Tôi đợi ngƣời yêu đến tự tình.
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lƣng xanh.
(Mùa xuân xanh)
Sau lũy tre làng trong sắc màu thanh thoát, nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp của ngƣời
thiếu nữ. Hòa trong cảnh của đất trời cây cỏ, vẻ đẹp ấy đã gợi lên một tình quê nồng nàn và
gieo vào tâm hồn ngƣời đọc một ấn tƣợng khó quên.
Nông thôn Bắc Bộ từ bao đời nay gắn liền với hình ảnh: Lũy tre, mái gianh, mảnh
vƣờn... Đây cũng là hình ảnh biểu tƣợng cho quê hƣơng thanh bình trong thơ Nguyễn Bính.
Cái tôi trữ tình của nhà thơ đã hóa thân vào những hình ảnh rất đỗi thân thƣơng ấy:
Ngõ làng rơi lắm lá tre
35
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Vƣờn suông chỉ có hoa chè rụng mau.
(Vô duyên)
Cùng với hình ảnh của lũy tre là hình ảnh của mái gianh. Trong thơ Nguyễn Bính, mái
gianh mang nỗi niềm tâm sự của cái tôi trữ tình là nơi tâm hồn con ngƣời đƣợc chở che và
nƣơng tựa. Viết về mái gianh làng quê, nhà thơ nghe dâng lên trong lòng mình một nỗi buồn
man mác:
Chốn này đây nhiều mái gianh,
Nhiều hoa tim tím lắm trời xanh.
Nhiều bƣơm bƣớm trắng, nhiều tơ trắng.
Ta nhớ ai đâu chốn thị thành.
(Không đề)
Mái gianh chứ không phải là một chỗ nào khác là nơi nhà thơ mong mỏi, tin tƣởng về
một nơi yên bình nƣơng náu của cô gái quê ngày xƣa:
Chắc ở nơi nào dƣới mái gianh
Chị em Nhi vẫn sống yên lành.
(Hoa với rƣợu)
Hình ảnh quê hƣơng trong xa cách đƣợc kết lại bằng những kỷ niệm đẹp của tuổi trẻ
và nỗi nhớ quê. Nhắc đến quê hƣơng, chúng ta thƣờng nhắc đến những mảnh vƣờn quanh
nhà, vƣờn cũng đƣợc nói tới khá nhiều trong thơ Nguyễn Bính với nhiều sắc thái khác nhau
và nhiều cung bậc tình cảm khác nhau của cái tôi trữ tình. Vƣờn là sự hiện diện và là "nhân
chứng" của một cuộc sống hạnh phúc:
Sáng trăng chia nửa vƣờn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
(Thời trƣớc)
Trong lúc cuộc sống xã hội đang có xu hƣớng chạy theo lối sống Âu tây thì thơ
Nguyễn Bính vẫn kéo đƣợc ngƣời đọc ngƣợc dòng thời gian trở về với cuộc sống xa xƣa.
Hóa thân trong niềm vui và tấm lòng của ngƣời vợ có chồng đỗ trạng, nhà thơ đã tạo ra đƣợc
một âm điệu cộng hƣởng giữa mảnh vƣờn với cuộc sống của con ngƣời:
Chồng tôi cƣỡi ngựa vinh quy
36
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Hai bên có lính hầu đi dẹp đƣờng
Tôi ra đón tận gốc bàng
Chồng tôi xuống ngựa, cả làng ra xem.
Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem giăng giải lên trên vƣờn chè.
(Thời trƣớc)
Chất hoài niệm và chất nội tâm hiện đại của cái tôi trữ tình đƣợc chuyển tải trong
những vần thơ lục bát hài hòa, duyên dáng với những từ ngữ hình ảnh gần gũi với ca dao,
Nguyễn Bính đã vẽ lên đặc sắc bức tranh quê ở cả cảnh và tình, đời và ngƣời. Trong cuộc
hành trình trở về, cái tôi trữ tình trong thơ ông thật sự đã trải lòng mình ra với quê hƣơng,
bòn mót và nâng niu tất cả những gì thuộc về giá trị văn hóa truyền thống. Chính nỗi lòng
thiết tha ấy mà những sự vật thƣờng thấy hàng ngày trƣớc mắt ta, khi vào thơ Nguyễn Bính
bỗng trở thành lung linh hƣơng sắc. Trong phong trào Thơ mới không phải là không có
những bài thơ viết về quê hƣơng rất đẹp nhƣng kết hợp bức tranh ấy với Hồn xƣa đất nƣớc,
gửi gắm tất cả ƣớc mơ và khát vọng cùng với những âu lo khắc khoải của mình vào đó để độc
giả nhận biết về giá trị của "Hồn xƣa đất nƣớc" thì chỉ có Nguyễn Bính. Đó cũng chính là sự
đóng góp độc đáo của nhà thơ.
2/ Cái tôi tự ý thức về thân phận của kẻ tha hương
Thời đại của thơ mới là thời đại của cái tôi - cái tôi lự ý thức về mình. Bất mãn với
hiện thực, các nhà thơ mới đi sâu vào khám phá mọi ngõ ngách của tâm hồn con ngƣời, lấy
nỗi buồn làm cảm hứng thẩm mỹ của thơ ca. Cái tôi buồn vì nhiều lẽ: Vì tình yêu, tình đời
hay chỉ đơn thuần là nỗi buồn vu vơ "Không hiểu vì sao tôi buồn"... Buồn, cô đơn không còn
là tâm trạng đơn nhất của một cá thể mà là tâm trạng chung của các nhà thơ mới. Khi cuộc
sống chỉ là những chuỗi ngày dài lê thê bế tắc hiện thực không đáp ứng nỗi ƣớc mơ thì nỗi
buồn chất chứa trở thành cái cớ để ngƣời ta trốn tránh cuộc đời. Tản Đà xem đời là "Giấc
mộng lớn giấc mộng con". Chế Lan Viên ru ngủ mình trong những tháp chàm
37
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đổ nát. Xuân Diệu mải miết nên con đƣờng tình yêu. Thế Lữ trốn lên tiên... Ngƣời ta làm tất
cả để chạy trốn hiện thực ngột ngạt của cuộc sống. Thú giang hồ phiêu lãng đƣợc rất nhiều
nhà thơ ôm ấp. Nhƣng đi đâu? Làm gì? Chƣa ai trả lời đƣợc. Đi vì đơn giản là không muốn
sống một cuộc đời chật hẹp, tù túng:
Đi, đi... đi mãi nơi vô định.
Tìm cái phi thƣờng, cái ƣớc mơ.
(Đời phiêu lãng - Hàn Mặc Tử)
Có khi "đi" cũng đƣợc xem nhƣ là tiếng gọi của non sông:
Vì chƣng ta cũng biết yêu thƣơng
Mà cuộc tình duyên gặp giữa đƣờng.
Trong lúc non sông mờ cát bụi
Phải đâu là hội kết uyên ƣơng.
(Tiếng gọi bên sông - Thế Lữ)
Nhƣng đi để làm gì? - các nhà thơ mới chƣa trả lời đƣợc.
Là nhà thơ của phong trào thơ mới, Nguyễn Bính cũng có những suy nghĩ tƣ tƣởng
mang dáng dấp của thời đại. Nhà thơ cũng "đi" dùng thú giang hồ phiêu lãng để khỏa lấp nỗi
buồn của mình và cũng để "vẩn vơ tìm lại quê hƣơng" (Đỗ Lai Thúy) nhƣng rồi không biết đi
đâu. Những chuyến giang hồ trôi nổi của nhà thơ là những chuyến trôi dạt vô định, thiếu vắng
niềm tự hào của một lãng tử. "Giang hồ mê chơi quên giang sơn" nhà thơ xem hành động của
mình là :
Bỏ lại vƣờn cam, bỏ mái gianh
Anh đi dan díu nợ kinh thành
(Hoa với rƣợu)
Trong ý thức của nhà thơ ra đi là chuyện "Lỡ bƣớc sang ngang" tâm sự của cái tôi trữ
tình vì thế mang nỗi niềm xót xa, nuối tiếc:
Mai ngày tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng, bỏ gió, chao ôi! Bỏ chùa
(Quê tôi)
38
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Khỏa lấp nỗi khắc khoải, âu lo nƣớc sự xâm lấn của cuộc sống đô thị mà phải làm
những chuyến ra đi, trở thành "Con chim lìa đàn". Hành động này là chuyện bất đắc dĩ. Nếu
nhƣ Thâm Tâm trong "Tống biệt hành" còn giữ đƣợc thái độ "dứt khoát" với chút ít hào khí
của tráng sĩ xƣa, xem đó là nợ của ngƣời trai thì những chuyến giang hồ của Nguyễn Bính lại
chẳng có một chí hƣớng nào cả, đi để mà đi "dan díu" với kinh thành sống rày đây mai đó,
chật vật với chuyện cơm áo và cuộc đời, chấp nhận trong một tâm trạng hết sức chua xót:
Tôi sẽ đi đây, tôi sẽ quên
Trọn đời làm một kẻ vô duyên
Trọn đời làm một thân cô lữ
Ở mọi đƣờng xa ở mọi miền.
(Thôi nàng ở lại)
Có khi còn là sự hằn học:
Em đi mất tích một mùa xuân
Đi để chôn vùi hận ái ân.
(Khăn hồng)
Trong chiều sâu tâm tƣởng, các nhà thơ mới nói chung và Nguyễn Bính nói riêng đều
ý thức đƣợc hoàn cảnh "Tôi là con nai bị chiều đánh lƣới" của mình, Vì vậy, đối với thi nhân,
cuộc sống hiện tại là một khoảng không gian chật hẹp, tù túng. Cũng nhƣ một số nhà văn nhà
thơ. Nguyễn Bính cũng mang ít nhiều cái thú giang hồ. Nhà thơ đã làm một cuộc hành trình
kéo dài suốt từ Bắc đến Nam, có mặt hầu hết các thành phố lớn: Hà Nội, Huế, Sài Gòn để tìm
một cuộc sống khác: cảm hứng lên đƣờng có lúc thôi thúc nhƣ một niềm hứng khởi:
Sống là sống để mà đi
Con tàu bạn hữu chuyến xe nhân tình.
(Nửa đêm nghe tiếng còi tàu)
Nhƣng rồi ở những miền đất hứa xa xôi ấy, ngƣời con của quê hƣơng đã hiểu rõ hơn
bản chất của đời sống thị thành và trong sự cọ sát với bao nỗi lo toan nhà thơ càng có dịp
hiểu rõ hơn mình và hiểu rõ hơn cuộc đời. Đúng nhƣ lời nhận xét của Đỗ Lai Thúy về nhà
thơ: "Cái tôi của nhà
39
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
thơ vừa là một sản phẩm đô thị, vừa là một thực thể độc lập, tách biệt với thế giới bên ngoài,
nhất là với chính cuộc sống đô thị" ( 41,105). Chính cuộc sống mà đặc biệt là môi trƣờng đô
thị đã góp phần mài sắc ý thức cá nhân của nhà thơ. Trong vị thế vừa hòa mình vào cuộc
sống, vừa tách mình ra nhƣ một chủ thể cá nhân, nhà thơ đã ý thức đƣợc thân phận của mình:
Thân phận của một kẻ tha hƣơng: lạc loài - cô đơn
Với Nguyễn Bính, thơ ông chính là tâm hồn ông. Tâm hồn của một trái tim đa cảm,
nhiều nếm trải và tất nhiên, nếu cuộc sống là cội nguồn cảm hứng của thơ ca thì thƣ Nguyễn
Bính đƣợc sàng lọc từ một cuộc sống có nhiều mồ hôi, nƣớc mắt, nhiều tình yêu và nỗi đau.
Cuộc sống và trái tim yêu của nhà thơ đã làm nên những vần thơ sống mãi với thời gian và
cùng với thời gian âm vang của nó đọng mãi trong lòng ngƣời đọc. Nhƣ một quy luật nghiệt
ngã của cuộc sống, đời ông càng khổ thì thơ ông càng hay. Chất thơ của nhà thơ nhƣ hạt ngọc
trai mà để tạo thành ngọc, con sinh vật biển đã chịu sự giày vò đau đớn của những hạt cát...
Chốn đô thị phồn hoa nhƣng đó lại là nơi khó tìm ra đƣợc mối đồng cảm và cũng
không phải là nơi tâm hồn có thể hội nhập. Cuộc sống ấy đã làm cho những vần thơ viết về
nỗi niềm của những ngày xa quê phả ra hơi thở chua chát thê lƣơng:
Hoa mai quán trọ trắng nhƣ sƣơng.
Len với hoa đào dƣới khóm dƣơng
Dang dở một thân nơi đất khách,
Tết này ta lại ngắm hoa suông.
(Quán trọ)
Cô độc, bơ vơ, sống một cuộc sống không có lý tƣởng thì làm sao có thể thấy đƣợc ý
nghĩa của cuộc sống. Dẫu vậy, khát vọng, gắn bó, khát vọng giao cảm với cuộc đời vẫn âm ỉ
mãi không thôi. Càng khát khao càng thấy lực đẩy cuộc sống đô thị đẩy mình đi xa hơn:
Lừng lững tàu đi mất nửa rồi
Sao không dừng lại ở ga tôi?
Lấy mƣơi lăm phút cho tôi gửi
Chút ít xuân xanh trả lại giời.
40
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Mà mãi đêm nay mới nhớ ra
Đời mình chẳng khác chuyến tàu qua,
Nhƣng từ ga lớn từ ga nhỏ.
Giời chẳng làm cho lấy một ga.
(Chuyến tàu đêm)
Những chuyến phiêu bạt giang hồ càng đẩy Nguyễn Bính xa quê hƣơng thì nỗi cô
quạnh trong lòng càng lớn. Tâm sự với ngƣời thân mà nỗi niềm cứ day dứt mãi:
Em vốn đƣờng dài thân ngựa lẻ
Chị thì sông cái chuyển đò ngang.
Ở quê ngƣời càng cô đơn thì nỗi nhớ về quê nhà càng da diết. Sức hút - đẩy của cuộc
sống thị thành đối với nhà thơ vừa gần lại vừa xa nhƣng những tên gọi thị thành là ẩn dấu vào
đó sự đối lập hoàn toàn không thể giao cảm đƣợc với cái tôi trữ tình: "Cát bụi thị thành",
"thành thị gió mƣa phai"... Nhà thơ đem cuộc sống thành thị đối lập với cuộc sống nông thôn:
Phồn hoa - thanh đạm, xứ ngƣời - quê mình, ở đây - ở đấy... Thành thị còn gắn với những gì
dễ đổi thay: "Có bồng trở lại kinh kỳ đƣợc - Hoa đợi hay bay xứ khác rồi"... Và ngay cả con
ngƣời cũng đánh mất luôn cả mình:
Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
Xót xa một buổi soi gƣơng cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.
(Sao chẳng về đây)
Nguyễn Bính sống rất lâu ở thành thị nhƣng cuộc đời phiêu dạt chƣa bao giờ thi nhân
xem đó là tổ ấm, là nơi nƣơng náu. Ông hầu nhƣ cách biệt với cuộc sống đô thị và tự gọi
mình là khách: Khách thơ, khách du... Con ngƣời đó ở đâu cũng là kẻ lỡ làng, kẻ ngoại lệ:
Nhƣng trên bến vắng một đêm kia
Ngƣời khách tình chung ấy trở về!
Cô gái đã âu duyên phận mới
41
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Khách còn trở lại nữa mà chi?
(Cô lái dò)
Càng tìm kiếm nhà thơ càng thấy mình cô đơn, càng thấy mình xa lạ với cuộc sống thị
thành. Những lúc ấy, tình yêu và nỗi nhớ về một quê hƣơng mà mình yêu tha thiết vọng về.
Tâm sự của cái tôi trữ tình càng buồn khổ:
Hỡi ơi trời đất vô cùng rộng
Nào đâu tìm biết một mái nhà
Có nhƣ mặt tịch xanh mà uống
Đất khách cùng đƣờng ta khóc ta.
(Đêm mƣa đất khách)
Cảm giác lạc loài bơ vơ càng nồng hơn mỗi lần tốt đến. Nếu nhƣ ở mảng thơ viết về
nông thôn, cái tôi của nhà thơ hòa trong sự rộn ràng vui tƣơi của màu áo tuổi thƣ, sức sống
của các cô thiếu nữ và nồng nàn cửa hƣơng bƣởi, hƣơng cau trong những ngày tết đến thì
trong mảng thơ viết về thành thị nhà thơ lại là một chủ thể độc lập, tách hẳn mình ra ngoài cả
không gian và thời gian:
Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng.
Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị
Tôi đã về đây rất vội vàng.
(Sao chẳng về đây)
Khát vọng trở về đi cùng với ý thức về cái chết - cái chết của việc sống mà nhƣ chết
hay cái chết theo nghĩa sinh học? Có lẽ cả hai:
Sao chẳng về đây, nỡ lạc loài
Giữa nơi thành thị gió mƣa phai
Chết dần từng nấc, rồi mai mốt
Chết cả mùa xuân, chết cả đời ?
(Sao chẳng về đây)
42
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Những đêm đất khách nằm nghe mƣa rơi, những lúc xuân về chốn thị thành một hình
một bóng thì mối "sầu đô thị" càng "quánh đặc" (từ dùng của Đỗ Lai Thúy). Hơn lúc nào hối
sự hồi tƣởng của nhà thơ trở về với những kỷ niệm êm đềm, với gia đình, với bè bạn... bằng
tất cả tình thƣơng và nỗi đau trĩu nặng trong tâm hồn:
Ngƣời quen nhắc lại từng tên một
Kể lại từng nơi đặt dấu giày
Trôi dạt dám mong gì vấn vít
Sòng đời thua nhẵn cả thơ ngây...
(Giời mƣa ở Huế)
Trong thơ mới buồn đƣợc xem là một trạng thái để con ngƣời chứng tỏ rằng mình
không thỏa mãn, bàng quang với thế tục, xét cho cùng mà nói tâm tƣ hoài niệm của nhà thơ
có nguồn gốc xuất phát từ khái vọng giao cảm với cuộc đời, từ tình yêu con ngƣời, yêu hè
bạn, yêu cha mẹ... Chúng ta hãy lắng nghe tâm sự của cái tôi trữ tình trong nỗi niềm của một
ngƣời cha nơi đất khách nói với dứa con gái bé bỏng của mình:
Ở đây cha khóc mà thƣơng nhớ
Đất Huế dầm mƣa mấy tháng tròn.
Và lời của một đứa con dặn ngƣời mẹ yêu thƣơng:
Mẹ ơi một sớm thăm hoa rụng
Nhặt giữ giùm con dăm cánh thôi.
(Tết biên thùy)
Có một điều chắc chắn rằng Nguyễn Bính ra đi không phải để tìm sự giàu có. Và thực
tế cuộc sống nghèo nàn, túng thiếu luôn đeo đuổi dai dẵng nhà thơ. Những chuyến ra đi của
nhà thơ là chuyện "thỏa chí tang bồng" và tìm một cơ hội mới cho sự nghiệp. Chuyện văn
chƣơng của nhà thơ thì đã rõ nhƣng còn chuyện cuộc đời:
Một chút công danh rất hão huyền
Vã dang dở nửa cuộc tình duyên.
(Bắt gặp mùa thu)
43
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Trong một xà hội mà thực tế cuộc đời còn bao nhiêu cái vô nghĩa lý nhất là sự bất
công còn dành cho một hạng ngƣời đáng kể trong thiên hạ thì tâm sự của cái tôi nhà thơ làm
sao tránh khỏi cảm giác nhọc nhằn:
Ai bảo mắc vào duyên bút mực
Suốt đời mang lấy số long dong
Ngƣời ta đi kiếm cái giàu sang cả
Mình chỉ mơ toàn chuyện viễn vong.
(Xuân tha hƣơng)
Và tất nhiên là một nhà thơ lãng mạn, nhà thơ cũng đi tìm cái đẹp để tôn thờ: Cái đẹp
qua một cảnh quê, qua một nỗi buồn, một nụ cƣời, một ánh mắt... Nhƣng trên bƣớc đƣờng đi
tìm cái đẹp ấy đã không ít lần thi nhân đã xót xa:
Kinh đô cát bụi bay nhiều
Tìm đâu thấy một ngƣời yêu hoa hồng.
(Đóa hoa hồng)
Cuộc hành trình của nhà thƣ là cuộc hành trình nhiều gian truân, vất vả. Các bài thơ:
Xuân tha hƣơng, Xuân vẫn tha hƣơng, Xuân lại tha hƣơng, Giời mƣa ở Huế, Một trời quan
lái, Đêm mƣa đất khách, Hành phƣơng Nam... đã ghi lại một cách sâu sắc hoàn cảnh bế tắc,
nỗi lòng tê tái và những thất vọng ê chề của nhà thơ. Những xúc cảm của nhà thơ trong mạch
thơ viết về thành thị là sự thú nhận thất bại của ông trƣớc cuộc đời về những ƣớc mơ không
thành, những chuỗi ngày sống dễ dãi vô nghĩa lý để rồi coi nhƣ mình đã "sang sông đắm đò".
Và đau khổ hơn cả là nhiều khi con đƣờng đi trƣớc mắt cũng trở nên nghẽn lối trên hành trình
tìm lại cuộc đời và cũng là tìm lại chính mình, có lúc nhà thơ đã nung nóng lên khát vọng trở
về:
Xuân đã sang rồi em có hay
Tình xuân chan chứa ý xuân đầy.
Kinh kỳ bụi quá xuân không đến
Sao chẳng về đây? Chẳng ở đây?
(Sao chẳng về đây)
44
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Sau bao năm tha hƣơng với những đắng cay nếm trải vù thấm thía tình đời, tình
ngƣời, nhiều lúc nhà thơ cũng đã không tránh khỏi những lúc nhìn lại mình, để rồi sau đó
dâng lên trong lòng một nỗi xót xa về chính bản thân mình, chính cách sống của mình. Hành
phƣơng Nam là một bài thơ mang tâm trạng chán chƣờng của một con ngƣời qua bao phân
tích, mổ xẻ cùng với những đấu tranh giằng xé nội tâm đã phần nào cảm thấy ân hận với
những quãng đời phóng túng vô nghĩa của quá khứ:
Ngƣời giam chí lớn vòng cơm áo
Ta trói thân vào nợ nƣớc mây.
….
Nợ tình chƣa trả tròn một món
Sòng đời thua đến trắng hai tay.
(Hành phƣơng Nam)
Những nỗi ân hận nhƣ các mạch chuyển giao vi mô nối kết nhà thơ trở lại với cuộc
đời thực. Ân hận vì sự lầm lỡ cũng nhƣ trách ai đã gây nên sự lầm lỡ trở thành nỗi ám ảnh
của nhà thơ trong quá trình khám phá thế giới nội tâm của nhân vật trong một số bài thơ:
Mƣời hai bến nƣớc, Lỡ bƣớc sang ngang, Oan nghiệt,... nhận thức về lầm lỡ luôn đi liền theo
nó là nhu cầu đƣợc cảm thông trân trọng. Trong yêu thƣơng hạnh phúc hay cô đơn, đau khổ
cái tôi nhà thơ bao giờ cũng muốn tìm đến với cuộc đời, sống trong đời, và có lúc muốn làm
một cái gì đó có nghĩa cho đời nhƣng rồi vẫn chƣa thể vƣợt ra ngoài cái không khí ngột ngạt
chung của xã hội cho nên tâm trạng của nhà thơ bao giờ cũng in hằn những đắng cay, chua
chát.
Mỗi nhà thơ mới trong ý thức về sự cô đơn của mình đã tìm đến một chỗ dựa. Xuân
Diệu với bao mời gọi khát khao cảm thông "nghìn trái tim mang trong một trái tim" đã tìm
đến tình yêu. Nhƣng tìm đến tình yêu hóa ra lại lọt vào giữa sa mạc:
Muốn trốn sầu đơn muôn vạn kiếp
Lại tìm sa mạc của tình yêu.
(Nƣớc đổ lá khoai - Xuân Diệu)
Nhƣng rồi phải ví nỗi cô đơn của mình chất ngất nhƣ dãy Hy Mã Lạp Sơn
45
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cô đơn muôn lần, muôn thuở cô đơn
Ngƣời lên trời, ôi Hy Mã Lạp Sơn.
(Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)
Chế Lan Viên đem cái tôi của mình cố tình tách biệt với ngoại cảnh:
Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn trốn
Những ƣu phiền đau khổ với buồn lo.
(Những sợi tơ lòng - Chế Lan Viên )
Để tìm quên, nhà thơ đã quay về tháp xƣa, gửi gắm vào đó cái đau buồn uất hận của
ngƣời một dân mất nƣớc.
Chúng ta có thể nhận thấy rằng với Nguyễn Bính, tất cả tâm hồn và trái tim nhà thơ
đều hƣớng về những mảnh đời thôn dã, tìm lại cho mình một cái thế thăng bằng trong cuộc
sống. Thơ Nguyễn Bính vì thế, ở đâu, viết về cái gì, cũng đều mang hơi ấm của một nông
thôn bình dị chan chứa yêu thƣơng và cái tôi trữ tình trong thơ ông chính là cái tôi chân quê
mang dáng dấp thời đại.
Bielinski có nói một ý nhƣ thế này bất cứ thi sĩ vĩ đại nào, sở dĩ họ vĩ đại là bởi vì
những đau khổ và hạnh phúc của họ bắt nguồn từ khoảng sâu thẳm của lịch sử xã hội bởi vì
họ là khí quan và là đại biểu của xã hội, của thời đại và của nhân loại. Trong nỗi niềm của
một cái tôi riêng - cái tôi nhà thơ - chúng ta hiểu thêm về cuộc sống của cả một tầng lớp giai
cấp trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Dẫu có lúc họ có nói:
Một giã gia đình, một dửng dƣng
Li khách! Li khách! Con đƣờng nhỏ
Chí lớn chƣa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
(Tống biệt hành - Thâm Tâm)
Nhƣng cuối cùng cách nói ấy cũng phải nhƣờng chỗ cho tâm trạng bất mãn với thời
cuộc của hầu hết các nhà thơ. Trong thơ Nguyễn Bính
46
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
sự chia ly tô đậm thêm quy luật của cuộc sống đô thị hóa. Cái tôi giang hồ của nhà thơ trong
khi bật gốc rễ khỏi mảnh đất quê ra sống ở đô thị vẫn tự khẳng định mình là con ngƣời của
"hƣơng quê đồng nội"
Tám trăm xứ cắm cờ con gái
Tôi vẫn là ngƣời của xứ tôi.
(Chung tình)
Bằng trực giác nhà thơ đã nắm bắt đƣợc sự hủy hoại của nền văn minh đô thị hiện đại
đối với văn minh thôn dã và nhân cách của con ngƣời "Hôm qua em đi tỉnh về - Hƣơng đồng
cỏ nội hay đi ít nhiều", "Xót xa một buổi soi gƣơng cũ - Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền".
Bởi vậy con ngƣời giang hồ của nhà thơ bao giờ cũng ở trong tâm thế bất an, thấy mình cô
độc. Sống ở thành thị nhƣng chƣa bao giờ nhà thơ nhận mình là con ngƣời của thành thị,
cũng chƣa bao giờ nhà thơ cảm thấy mình có thể hài hòa trong cuộc sống ấy. Cái tôi trữ tình
của nhà thơ đã bứt phá đã tìm một chuyến đi về:
Trên con đƣờng đất đỏ ven đê
Tôi đã vui mừng trở lại quê
….
Bỏ nơi thành thị chốn tôi mơ
Trở lại thôn quê tự bấy giờ
Sống lại quãng đời ngày trẻ dại
Thả diều bắt bƣớm với nàng thơ.
(Sống lại)
Bên trong cái tôi cô đơn là cái tôi khát vọng và bên trong nỗi buồn là ánh sáng của
một "tâm hồn tôi". Ánh sáng ấy tạo ra những vần thơ kỳ diệu đƣa ngƣời đọc vào chốn mênh
mông, dịu ngọt của "Hồn xƣa đất nƣớc", làm sống lại không khí thanh bình, tĩnh lặng của quê
hƣơng. Cuộc sống rồi sẽ đổi thay nhƣ một quy luật tất yếu - Rất khó có thể thấy lại một buổi
hội chèo, ngƣời ta đã thay thế thuốc lào bằng thuốc điếu, dầu gội đầu cũng không dùng bằng
hoa bƣởi, hoa cam... Nhƣng tình cảm của con ngƣời đối với quê hƣơng và trĩu nặng âu lo... sẽ
không thay đổi. Nó
47
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
sẽ là những dòng nƣớc mát hình lƣới lắm cho tình yêu quê hƣơng và đánh thức trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với cộng đồng.
3/ Cái tôi yêu thương và chia xẻ
3.1/ Đối với người thân
"Tôi là thi sĩ cua yêu thƣơng đó là một câu thơ của Nguyễn Bính. Câu thơ ấy thể hiện
đƣợc trọn vẹn tâm hồn thơ của ông.
Nguyễn Bính, nhà thơ, càng nhiều đau thƣơng nếm trải càng mặn nồng với yêu
thƣơng. Thơ Nguyễn Bính, bằng tất cả các trạng thái tâm lý: Khắc khoải, âu lo, trăn trở... để
quan sát sự biến đổi của hiện tƣợng "hƣơng đồng gió nội bay đi ít nhiều", "cây đàn sum họp
đứt muôn dây", sự vật: "chùa xƣa rêu phủ...", "Vƣờn cải hoa vàng hết...", "Hà Nội cơ hồ loạn
tiếng ve"... và sau đó hội tụ lại tạo thành một giá trị bất biến của thơ ông: "Yêu thƣơng", góp
phần khắc họa đậm nét con ngƣời tâm linh của ông. Giá trị này chính là nguyên nhân, điều
kiện, kết quả của cái nhìn nghệ thuật qua mối xung đột giữa văn hóa nông thôn và văn hóa
thành thị. Trong tất cả các nhà thơ mới thì Nguyễn Bính có lẽ là nhà thơ duy nhất có những
bài thơ viết về tình cảm, nỗi niềm của mình đối với những ngƣời thân, và điều này, nói theo
cách nói của Hoài Việt thì cũng không nằm ngoài "Trƣờng nghệ thuật" của thơ Nguyễn Bính:
"Tâm hồn Nguyễn Bính giống nhƣ một cây đàn muôn điệu. Thoáng một chút gió là rung lên.
Nhƣng đây là thoáng gió quê hƣơng, những thoáng gió thổi từ đồng nội tới" [ (48, 62)].
Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định thêm rằng cái tôi trong thơ Nguyễn Bính trong
quá trình phân thân, lƣỡng giá và rơi vào tâm trạng bất an nơi cuộc sống thành thị đã ý thức
đƣợc sâu sắc hơn những giá trị văn hóa, trong đó có giá trị tình cảm của cộng đồng. Chính
quá trình cọ sát này đã làm cho tình yêu thƣơng trong thơ Nguyễn Bính nồng nàn hơn, ngọt
ngào hơn. Ngƣời ta nói về thơ Nguyễn Bính khi nói về sự xót xa, nỗi đau trƣớc sự phôi phai
của một "Hồn xƣa đất nƣớc", nhƣ một tình yêu đất nƣớc thầm kín. Nhƣng phải chăng tất cả
đều bắt đầu từ tình cảm và sự ý thức trách nhiệm của thi nhân đối với những ngƣời thân và
cộng đồng. Trong những năm tháng tha phƣơng lạc loài nơi đất khách, có lần, nhà thơ
48
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đã viết thƣ gửi về cho những đấng sinh thành với cách nói của đứa con thấy mình có tội:
Con đi quạnh cửa quạnh nhà
Cha già đập lúa, mẹ già giũ rơm
Cha dậm gạo, mẹ vần cơm
Có con con vắng ai làm thay cho.
(Thƣ gửi thầy mẹ)
An ủi cha mẹ mà nỗi đau cứ dâng lên đến tận gan ruột:
Con đi mƣời mấy năm trời
Một thân bé bỏng nửa đời gió sƣơng
Thầy đừng nhớ mẹ đừng thƣơng
Cầm nhƣ đồng kẽm ngang đƣờng bỏ đi.
(Thƣ gửi thầy mẹ)
"Dan díu với nợ giang hồ" nghĩ rằng "Một mai những tƣởng cơ đồ làm nên" nhƣng rồi
những năm tháng chìm nổi, thấy mình chƣa làm gì đƣợc để báo đáp cho cha mẹ. Đau cho
mình nhà thơ càng thấy thƣơng cha, cảm thấy mình có tội với cha. Lời xin lỗi của thi nhân
đâu phải chỉ phơi trải nỗi lòng mà còn ẩn cả niềm đau thân phận:
Nghìn lại cha già lƣợng thứ cho
Trót thân con vƣớng nợ giang hồ.
Tình ngƣời trong thơ Nguyễn Bính chính là những tình cảm dịu ngọt bao dung của
ngƣời mẹ, quãng đại của ngƣời cha, yêu thƣơng của ngƣời em gái, tần tảo một nắng hai
sƣơng của ngƣời vợ. Những tấm chân tình bình dị ấy đã làm ấm lòng nhà thơ trong những
ngày tha hƣơng chật vật với miếng cơm manh áo - Và tình yêu thƣơng của ông là tình yêu
của cái tôi day dứt, trăn trở về trách nhiệm để rồi sau đó thấy không làm gì đƣợc đã tự dằn
vặt, ân hận...
Hƣớng về quê hƣơng, Nguyễn Bính hƣớng về ngƣời thân và những mảnh đời thôn dã
bình dị. Cái tôi nhà thơ ở những mảng thơ này là cái tôi âu lo ngậm ngùi và trăn trở. Nỗi niềm
ấy nhƣ thấm vào trong những cảnh vật từng con ngƣời làng quê. Cái tôi của nhà thơ không
còn là
49
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
"khách" đứng ở ngoài để chiêm nghiệm nữa mà hòa hợp vào thật sâu bên trong, khai thác hết
chiều sâu của lừng cảnh ngộ với tất cả sự yêu thƣơng và thông cảm. Một duyên phận lỡ làng,
một khát vọng tan vỡ... tất cả ở đó đều có sự hòa quyện giữa hiện thực và tình ngƣời. Hồn thơ
âu lo, ngậm ngùi, trăn trở của nhà thơ còn bắt nguồn từ nỗi nhớ, niềm thƣơng trong những
ngày chia xa với gia đình, với ngƣời thân, với bạn bè và sự thức tỉnh vì đã "Bỏ lại vƣờn cam
bỏ mái gianh" mà đi "dan díu nợ kinh thành". Cái tôi của nhà thơ vì thế mang tính nhân bản
cao và mang dƣ vị ngọt ngào có tác động thẩm mỹ sâu sắc đối với ngƣời đọc.
Nguyễn Bính có lẽ cũng là nhà thơ mới duy nhất viết về hình ảnh và tấm lòng ngƣời
mẹ. Không đƣợc đôi tay dịu dàng của mẹ chăm sóc từ thuở còn thơ, nhà thơ hiểu sâu sắc thế
nào là mất mát, cho nên hình ảnh của mẹ trong thơ ông bao giờ cũng là hình ảnh rất đẹp
mang phẩm chất của ngƣời phụ nữ Việt Nam: Thầm lặng hy sinh, vất vả cả cuộc đời vì chồng
vì con:
Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều
Gạch tƣờng hoa ngƣời quét lại
Vẽ cây trừ quỉ, giồng cây nêu.
…
Xong ba ngày tết mẹ tôi lại
Đầu tắt mặt tối nuôi chồng con
Rồi một đôi khi ngƣời dậm gạo
Chuyện trò kể lại tuổi chân son.
(Tết của mẹ tôi)
Qua tâm tƣởng của ông, hình ảnh ngƣời mẹ dịu hiền hiện lên thật cảm động. Bằng cái
tôi trữ tình nội cảm, sử dụng chất giọng kể trong rất nhiều bài thơ để giải bày tâm sự, tình
cảm dịu dàng tha thiết trong thơ Nguyễn Bính đã có sức âm vang rất lớn đối với ngƣời đọc.
Giọng thơ ngậm ngùi là một trong những yếu tố giúp nhà thơ chuyển tải những tâm tƣ
tình cảm của mình. Nếu nhƣ trong những chuyến đi đày ở thành thị hồn thơ của ông hằn sâu
nỗi ngậm ngùi chua chát thì trong
50
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
những lời thơ gửi cho cha độ hằn sâu ấy càng trở nên đậm đặc hơn khi nhà thơ nghĩ đến hình
ảnh ngƣời cha đang mong mỏi tin con:
Cha già ngừng chén biếng ngâm thơ
Đƣa mắt nhìn theo hút dặm mờ
Xe ngựa ngƣời về trong cát bụi
Con mình không một lá thƣ đƣa.
Cái tôi của nhà thơ trong những bài thơ thể hiện tình cảm của mình đối với ngƣời thân
mang nét đẹp của truyền thống đạo lý từ hàng ngàn năm nay của ý thức cộng đồng.
Trong cuộc đời, Nguyễn Bính xem việc bỏ quê hƣơng ra đi "dan díu nợ kinh thành" là
việc ngoài ý muốn, là chuyện "lỡ bƣớc sang ngang". Trong tâm trạng của cô gái có tình
duyên lỡ làng, nhân vật trữ tình nghĩ về mẹ, về em ở nơi có mảnh vƣờn thân thƣơng:
Em ơi! Em ở lại nhà
Vƣờn dâu em đẵn mẹ già em thƣơng
Mẹ già một nắng hai sƣơng
Chị đi một bƣớc trăm đƣờng xót xa
…
Ở nhà em nhớ mẹ thƣơng
Ba gian trống một mảnh vƣờn xác xơ.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Cái tôi trữ tình của nhà thơ là cái tôi tâm trạng, cái tôi ấy nhập thân trong nhiều vai
khác nhau để bộc lộ tâm tƣ ở nhiều góc cạnh và bình diện khác nhau. Cái tôi ấy có khi tách
hẳn mình ra để chua chát quan sát cuộc sống ở thành thị. Nhƣng có khi lại nhập vào vai một
nhân vật trữ tình nào đó đứng ở vị thế cộng đồng. Sự hóa thân của nhà thơ trong nhiều nhân
vật khác nhau: Khi thì ở vị trí "tôi" lúc thì "chị", "em", "mẹ"... đã thể hiện đƣợc sự khám phá
phong phú đa dạng của nhà thơ khi đi vào các khía cạnh của lãnh địa tâm hồn - tâm linh đầy
bí ẩn của con ngƣời. Một sự phản ánh chính xác, phù hợp với tình huống, hoàn cảnh là biểu
hiện của một sự cảm nhận tinh tế và hiểu biết sâu sắc. Chúng ta hãy lắng
51
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
nghe trong nỗi lòng của ngƣời mẹ, cái tôi trừ tình nói với ngƣời con gái đang sắp sửa từ giã
gia đình để đi về nhà chồng:
Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không!
Nín đi, mặc áo ra chào họ
Rõ quý con tôi! Các chị trông!
Ƣơng ƣơng dở dở quá đi thôi
Cô có còn thƣơng đến chúng tôi
Thì đứng lên nào! Lau nƣớc mắt
Mình cô làm khổ mấy mƣơi ngƣời.
(Lòng mẹ)
Nói nhƣ thế để an ủi con gái lúc ra đi, nhƣng trong lòng mẹ những cơn sóng của tình
thƣơng con đang dội mãi:
Đƣa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con, khổ mấy mƣơi!
Con ạ! Đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đƣa thoi.
(Lòng mẹ)
Vừa mới cứng rắn cƣơng quyết, nhƣng chỉ sau khi con bƣớc chân ra đi thì sự cố gắng
ấy đã phải buông chùng xuống vì nỗi ngậm ngùi phải xa con. Cái hay của nhà thơ là nhân vật
trữ tình đang nói với con nhƣng cũng tự an ủi với chính mình. Tất cả bộc bạch đều rất tự
nhiên nhƣ chính những lời ăn tiếng nói hàng ngày. Chính những tình yêu thƣơng nhƣ thế này
đã sƣởi ấm hồn thơ của thi nhân. Mang một nồi bất hạnh lớn trong cuộc đời là không còn mẹ.
Tình thƣơng của ngƣời cha, ngƣời chị dù lớn đến đâu cũng không thể bù đắp nổi. Nhƣng may
mắn thay Nguyễn Bính còn có bà mẹ quê hƣơng. Ngƣời mẹ mà Nguyễn Bính đã đƣợc sinh
ra, nơi mà những dòng sữa mát lành tràn ngập thấm trong từng hột lúa, ngọn rau đã nuôi nhà
thơ lớn lên, bồi đắp hồn thơ để rồi từ tâm hồn ấy nhà thơ đã làm nên những bài thơ tuyệt tác
về mẹ, về quê hƣơng, về đất nƣớc và con ngƣời của mình.
52
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cùng với giọng thơ yêu thƣơng, bùi ngùi cái tôi trữ tình của nhà thơ trong những bài
thơ viết về tình cảm đối với ngƣời thân cũng không tránh khỏi tâm trạng lo âu khắc khoải.
Cái tôi chân quê của nhà thơ chịu sự chi phối của cuộc sống làng xã cộng đồng. Giá trị của cá
nhân đƣợc qui định trong mối quan hệ với cộng đồng. Do sự qui đinh của sản xuất làng xã,
các cá nhân đều có một mối quan hệ mật thiết với cộng đồng. Từ đó có sự quan tâm, lo lắng
cho nhau. Khi văn hóa đô thị len lỏi vào văn hóa cổ truyền, lúc ấy, mỗi cá nhân đã tự nó ý
thức đƣợc cái tôi đích thực của mình. Nhƣng cùng với sự phát triển của ý thức cá nhân là ý
thức về sự cân bằng vốn có bị phá vỡ, con ngƣời luôn nằm trong tâm thức âu lo, bất an về vị
thế của mình. Sự nhìn nhận hiện thực dƣới góc độ văn hóa ở cả hai bình diện: Giá trị văn hóa
và giá trị nhân phẩm của thi nhân đã hình thành tâm trạng âu lo, khắc khoải khi nghĩ về số
phận của con ngƣời. Trong "oan nghiệt" tâm trạng âu lo khắc khoải của nhân vật trữ tình lên
đến đỉnh cao:
Ngọc nữ trót sinh vào đời tục lụy
Đời con rồi khổ đấy con ơi
Mẹ con đeo đuổi nghề ca xƣớng
Nuôi đƣợc con sao giời hỡi giời.
(Oan nghiệt)
Đây là nỗi lòng của ngƣời cha có một số phận không may mắn và một cuộc đời nổi
trôi đang nghĩ về đứa con gái tội nghiệp của mình, càng nghĩ càng lo và càng đau. Ở đây,
cảm quan của cái tôi trữ tình mang tính dự báo cao về tƣơng lai và số phận của con ngƣời, đặt
vào trong mối quan liên đới với cuộc sống đô thị. Mọi giá trị đều thay đổi đến chóng mặt
ngay cả giá trị nhân phẩm, thì số phận của mỗi con ngƣời, nhất là ngƣời phụ nữ đã đƣợc báo
trƣớc.
Ở một bài thơ khác trong tâm trạng của một ngƣời cha bạc mệnh. nhà thơ lại nghĩ về
con với tất cả tình thƣơng và nỗi đau:
Con nó đâu rồi bế lại đây
Cho tôi nhìn nó một vài giây
Trƣớc khi nhắm mắt tôi thừa hiểu
Đời nó sau này hẳn đắng cay.
53
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Trối trăn)
Xót xa cho con tủi cho phận mình:
Có mẹ có cha mà đến nỗi
Miệng đời mai mỉa gái mồ côi.
(Oan nghiệt)
Bên trong nỗi đau ấy là tình thƣơng, sự dằn vặt và nỗi ân hận về một trách nhiệm
không tròn.
Bên cạnh những dự cảm văn hóa với sự ám ảnh về thời gian một ám ảnh khác nữa
trong thơ Nguyễn Bính là ám ảnh về thân phận của cá nhân. Theo quan niệm cũ, thời gian
tuần hoàn, con ngƣời dù ở trong trạng thái nào: Đƣợc yêu hay thất tình, đau khổ hay hạnh
phúc đều có đƣợc sự an bằng nào đó về tâm hồn: "Tƣởng giếng sâu anh nối sợi dây dài - Ai
ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây". Quan niệm mới xem thời gian là một chiều, đã đi rồi thì
không trở lại. Theo thời gian mọi cái đều thay đổi cho nên con ngƣời bao giờ cũng sống trong
nỗi lo. Và nếu nhƣ nỗi ám ảnh về thời gian để thể hiện qua tâm trạng hoài niệm để tìm về cố
gắng níu kéo những cái đã mất thì nỗi ám ảnh về số phận con ngƣời - hệ quả của quan niệm
thời gian một chiều - lại lấy lầm nhìn ở phía tƣơng lai gần và xa, biểu hiện qua những dự
cảm, dự báo. Và vì thế, nỗi lo ở đây trở nên thiết thực hơn bao giờ hết:
Cha lo ngại lắm là con gái
Chẳng có bao giờ biết mặt cha
Con mƣời sáu bảy xuân đƣơng độ
Cha bốn năm mƣơi chửa trót già
Cha buồn tiễn khách hơi thu quạnh
Con thẹn che đàn nửa mặt hoa
Chàng chàng thiếp thiếp vui bằng đƣợc
Bố bố con con chẳng nhận ra
…
Áo anh mà ƣớt vì đêm ấy
Tội nghiệp đời con xấu hổ cha.
54
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Oan nghiệt)
Những dự cảm ấy đƣợc xuất phát từ cuộc đời và những lăn lộn nếm trải trong tình yêu
thƣơng và nỗi lo lắng của nhân vật trữ tình. Ngƣời đọc cảm nhận đƣợc sự bất ổn trong tâm
hồn nhà thơ, cuộc đời không có chỗ để tin tƣởng, con ngƣời luôn ở thế cảm giác chênh vênh.
Sự cảm nhận về nỗi bi thƣơng của số phận, tha hóa của tính cách, nhân phẩm con ngƣời cùng
với tất cả những lo lắng, xót xa và đặt nó vào trong cảm quan dự báo văn hóa đã làm cho thơ
trữ tình của Nguyễn Bính đằm thắm hơn, thiết tha hơn.
Sống trong cộng đồng xã hội, con ngƣời bao giờ cũng có cội nguồn riêng tƣ của mình.
Chính ở đây con ngƣời sinh ra, lớn lên và hình thành trong mình những tình cảm gắn bó yêu
thƣơng với những ngƣời thân trong gia đình, cũng vui nỗi vui chung, buồn nỗi buồn chung và
lo nỗi lo chung. Trong thơ Nguyễn Bính chúng ta không chỉ thấy tình yêu bao la của cha mẹ
đối với con cái, tình thƣơng của con cái đối với cha mẹ mà còn có nghĩa, chị tình em. "Lỡ
bƣớc sang ngang", một thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ đâu chỉ là nỗi đau của cô gái có tình
duyên lỡ làng ngang trái mà còn có tình cảm của đứa em đối với chị:
Chị bây giờ... nói thế nào?
Bƣớm tiên khi đã lạc vào vƣờn hoang.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Bên trong của thơ là tiếng thở dài thƣơng tâm của em trƣớc số phận bấp bênh không
may mắn trong duyên phận của chị mình. Trong một cuộc đời mà ngay chính bản thân mình
cũng "mấy khi yêu mà chắc đƣợc yêu - cho rất nhiều nhƣng nhận chẳng bao nhiêu" thì càng
hiểu thêm cuộc tình duyên tính sổ với lỡ làng của chị:
Chị từ lỡ bƣớc sang ngang
Trời giông bão giữa tràng giang lật thuyền.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Cái tôi bức xúc đã thể hiện đƣợc tất cả sự thắm thiết nhân hậu của tình cảm chị em.
Phải nói rằng Nguyễn Bính đã làm xúc động lòng ngƣời bằng những từ ngữ đơn sơ, những
cảnh tình gần gũi. Tình cảm của ngƣời thân ở đây cũng đau đớn thật sự nhƣ chính nỗi lòng
của ngƣời trong cuộc.
55
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Một lần lỡ bƣớc là tan vỡ tất cả: Tình duyên, cuộc đời và bao nhiêu mơ ƣớc.
Sống trong mối quan hệ gia đình, cộng đồng gắn bó, sợi dây tình cảm của con ngƣời
bao giờ cũng trở nên khăng khít yêu thƣơng. Thấy đƣợc điều đó, chúng ta càng hiểu nhiều
hơn nỗi lòng trong thơ Nguyễn Bính:
Thƣơng chị từ khi chị lấy chồng!
Cố nhân chẳng biết làm sao ấy
Rặt những tin đồn chuyện bƣớm ong
(Xuân tha hƣơng)
Rõ ràng, cái tôi trong thơ Nguyễn Bính không buồn vì "Tôi buồn không hiểu vì sao
tôi buồn" cũng không "vơ vẩn cùng mây" rồi "để tâm hồn ràng buộc với muôn dây". Cái
buồn, nỗi đau trong thơ ông có căn nguyên từ cuộc sống hiện tại - từ sự đồng cảm, tƣơng
quan trong cuộc sống của con ngƣời. Trong một xã hội mà sản xuất nông nghiệp giữ một vai
trò chủ đạo thì để có một mùa lúa bội thu cũng nhƣ để có một sức mạnh vƣợt qua sự khắc
nghiệt của thiên tai, của đói nghèo, ngƣời ta phải yêu thƣơng nhau, gắn bó với nhau. Tình
cảm yêu thƣơng gắn bó, chia xẻ ngọt bùi của cộng đồng ngƣời Việt từ bao đời nay đã trở
thành đạo lý của dân tộc. Chính nó là nền tảng của một "Hồn xƣa đất nƣớc" mà trong thơ của
mình, Nguyễn Bính đã níu kéo và gìn giữ. Qua cách thể hiện những tình cảm mộc mạc, kín
đáo mà sâu đậm của lòng ngƣời, Nguyễn Bính đã làm cho hồn thơ của mình toát lên vẻ đẹp
bình dị của tâm hồn con ngƣời Việt Nam. Đấy cũng chính là một đóng góp độc đáo và cũng
chính là sự thể hiện tài năng của nhà thơ trên văn đàn Việt Nam ở những năm đầu thế kỷ XX.
3.2/ Đối với cộng đồng
Nói đến thơ Nguyễn Bính ngƣời ta nghĩ ngay đến giọng thơ tâm tình gần gũi. Giọng
thơ ấy bắt nguồn từ tấm lòng rộng mở và khả năng thâm nhập đối tƣợng, chuyển hóa đối
tƣợng khách quan thành chủ quan. Tức là khả năng tự biểu hiện và nhập vai của cái tôi đến
mức: "Tƣởng nhƣ chính mình sinh ra cái khách quan ấy" của nhà thơ. Cái tôi của nhà thơ
cảm nhận cuộc sống bằng tất cả sự hòa quyện gần nhƣ là máu thịt giữa chủ thể và khách thể.
Tình đời, tình ngƣời và sự cảm thông chia xẻ là một
56
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
trong những yếu tố tạo nên tầm vóc của thơ ông. Không lý giải đƣợc sự bế tắc, ngột ngạt,
không giải thích đƣợc trọn vẹn nguyên nhân sâu xa nỗi đau ở mỗi hiện tƣợng trong cuộc sống
nhƣng thơ Nguyễn Bính vẫn có một chỗ đứng vững vàng trong lòng nguời đọc bởi vì cuộc
sống đƣợc viết ra bằng những rung động tinh tế và nỗi đau nhân tình của nhà thơ. Nỗi đau
nhƣ ngọn lửa sƣởi ấm lòng ngƣời và làm đậm đặc thêm giá trị nhân văn trong thơ ông.
Không thể hòa nhập đƣợc với hiện thực ngột ngạt của cuộc sống, cái tôi nhà thơ làm
những cuộc trở về với cuộc sống thôn quê bằng tâm tƣởng nhƣ tìm đến một chỗ dựa thiêng
liêng của tâm linh: Một ngôi chùa, bến nƣớc, cây đa, con đƣờng làng rụng trắng hoa cau, đêm
hội chèo mênh man lòng ngƣời, hoài niệm về những mảng đời, những ƣớc mơ... thôn quê
trong thơ Nguyễn Bính bỗng nhiên đẹp đến nỗi nguời ta phải hỏi rằng thực hay mộng?...
Những kỷ niệm của một đời ngƣời chỉ là cái đẹp trong hoài niệm. Đằng sau nó, hiện thực về
một cuộc sống nhiều tủi cực nhƣ những lớp sóng ngầm đang dội mãi vào trái tim nhà thơ -
Hiện thực về một làng quê bề bộn và số phận của những con ngƣời nhỏ bé luôn có những nỗi
đau riêng:
Ngày xƣa dệt cửi chăn tằm
Em còn bé lắm mƣời lăm tuổi đầu
Bây giờ cắt cỏ chăn trâu
Bây giờ em đã làm dâu nhà ngƣời
Buồn thôi chả thiết nói cƣời
Đắng cay sống những ngày dài nhƣ năm.
(Làm dâu)
Quan sát cuộc sống ở vị thế nhƣ là một khách thể hay nhập vai vào một nhân vật nào
đó thì cái tôi của thi nhân vẫn luôn gửi gắm vào đó những khao khát nồng nàn về một tình
yêu hạnh phúc. So với văn học hiện thực phê phán, đƣơng nhiên văn học lãng mạn Việt Nam
giai đoạn 1930 - 1945 chƣa đủ sức vẽ lên một bức tranh toàn cảnh về xã hội Việt Nam cùng
với tất cả những đau thƣơng, bế tắc của nó: Làng quê Việt Nam vào mùa sƣu thuế không lúc
nào ngớt tiếng kêu khóc, cuộc đời của những nguời nông dân oằn xuống trong gánh nợ nặng
lãi vay của địa chủ, những con ngƣời bị tƣớc hết cả quyền làm ngƣời... Các nhà thơ lãng
57
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
mạn, bằng cách này hay cách khác, tìm cách để né tránh hiện thực cuộc sống. Nhƣng đâu đó
không phai không bàng bạc nỗi đau nhân tình, Nguyễn Bính đƣợc xem là một trong những
nhà thơ giàu tình cảm của các nhà thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX. Nhà thơ của tâm tƣ tình cảm,
của yêu thƣơng và nghĩa tình sâu nặng hay những lúc yêu thƣơng tắc nghẽn vẫn nghe vang
âm hƣởng của tình ngƣời. Trong một bài thơ có tên là "Xuân" nhà thơ cũng viết về nỗi đau
của ngƣời phụ nữ có một cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc:
Em chƣa có chồng,
Má còn hồng thắm.
Tết tết xuân xuân!
Đời vui vẻ lắm.
…
Em đã lấy chồng,
Má hồng hết thắm.
Tết tết xuân xuân,
Đời buồn tẻ lắm!
(Xuân)
Nhà thƣ đã viết về nỗi đau của ngƣời phụ nữ nhƣ chính nỗi đau của mình. Nỗi đau
của con ngƣời đang xót xa cho tất cả những cái đẹp đang tàn phai trong cuộc đời.
Nhƣng đâu chỉ đi làm dâu thì mới có những cuộc đời bị bƣớc vào vòng oan trái. Sống
trong một xã hội mà mọi thứ đều thay đổi một cách đáng sợ từ cách ăn mặc, cách suy nghĩ
cho đến quan niệm sống... thì thân phận của con ngƣời nói chung đều thấy đáng thƣơng:
Nhƣng chiếc khăn màu thổn thức bay
Những bàn tay vẫy những bàn tay
Những đôi mắt ƣớt tìm đôi mắt
Buồn ở đâu hơn ở chốn này.
(Những bóng ngƣời trên sân ga)
58
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Sân ga thƣờng là nơi khơi nguồn của mọi cuộc chia ly và cũng là nơi xuất phát điểm
của đoàn tụ, sum họp. Với Nguyễn Bính nhìn ngƣời ta đƣa tiễn những ngƣời thân và những
ngƣời ra đi khuất dần trong tầm mắt nhà thơ hiểu rằng "Buồn ở đâu hơn ở chốn này?".
Nguyễn Bính trải lòng mình ra với cuộc đời để rồi cảm nhận tất cả nỗi đau và dâng tất
cả tình thƣơng cho con ngƣời. Phần lớn nỗi đau và tình thƣơng ấy thi nhân đã dành cho ngƣời
phụ nữ:
Tôi với nàng không quen biết nhau
Mà tôi thƣơng tiếc bởi vì đâu
Mới hay tự thuở bao ngƣời đẹp
Chẳng hẹn trần gian đến bạc đầu.
(Viếng hồn trinh nữ)
Con ngƣời nhân ái ấy, khi nhìn thấy "Một chiếc xe màu trắng đục" với "Hai con ngựa
trắng" biết rằng đó là đám ma của một nàng trinh nữ xấu số nên đã động lòng xót thƣơng mà
liên tƣởng về một cuộc đời thơ ngây đẹp đẽ, và viết lên những câu thơ chan chứa tình ngƣời
rồi đƣa ra một kết luận về sự phũ phàng mà cuộc đời đã dành cho những cô gái đẹp. Trƣớc
đó, trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng đã từng phải cay đắng viết:
Trăm năm trong cõi ngƣời ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Và có lúc ông đã cho Kiều tự nghiến răng nguyền rủa số phận của mình:
Chém cha cái số đào hoa
Cởi ra rồi lại buộc vào nhƣ chơi.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Sự đồng cảm của các nhà thơ đối với số phận cay đắng của ngƣời phụ nữ có lẽ xuất
phát từ một thực tế là thi sĩ và giai nhân đều cùng một kiếp gian truân nhƣ nhau.
59
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
"Tâm hồn tôi" của Nguyễn Bính đến với chúng ta bằng tiếng nói của tình đời, tình
ngƣời. Đó là những thứ tình cảm sâu sắc, ý nhị và tinh tế đƣợc khơi nguồn từ một cuộc sống
cộng đồng yêu thƣơng gắn bó với nhau trong quan điểm đạo đức truyền thống: "Môi hở răng
lạnh, máu chảy ruột mềm" - "chị ngã em nâng" và đƣợc mài sắc hơn về ý thức trong cuộc
sống đô thị nơi mà nhà thơ đã nếm trải nhiều ngọt bùi cay đắng. Ngƣời Pháp có câu: "Những
nỗi đau lớn tạo nên những thi sĩ lớn" (Les grandes douteurs fonts les grands poètes), đôi vai
gầy của nhà thơ đã phải gồng lên gánh biết bao nỗi đau đớn: Nỗi đau mất nƣớc, nỗi đau mất
mẹ, nỗi đau nhân tình thế thái... Nỗi đau của mình và nỗi đau của đồng loại. Những cảm xúc
đó tạo thành âm hƣởng chủ đạo trong thơ Nguyễn Bính. Song có điều khó có thể tìm thấy
trong thơ ông cái giọng thơ hằn học, rên rĩ, bi thiết. Tuy có đắng cay và cả chua chát nữa
nhƣng cơ bản vẫn là yêu thƣơng. Với thi nhân, bao nhiêu cuộc ra đi, bao nhiêu lần chia tay
với ngƣời thân, bạn bè là bao nhiêu nỗi đau ngấm ngầm. Bởi thế nhà thơ rất hiểu:
Ngƣời mẹ già kia tuổi đã nhiều
Đã từng đau khổ biết bao nhiêu
Mà nay lại khóc thêm lần nữa
Nƣớc mắt còn đâu buổi xế chiều.
Những đứa em kìa khóc cho ai
Mà nay phải khóc một ngƣời rồi
Mà nay trên những môi ngoan ấy
Chả đƣợc bao giờ gọi: Chị ơi!
(Viếng hồn trinh nữ)
Trong hoàn cảnh nhƣ thế này thì nỗi đau ắt hẳn càng thống thiết hơn.
Tình yêu thƣơng đốt nóng lên ngọn lửa khao khát và hy vọng về một sự đổi đời.
Trong số phận cay đắng của những ngƣời mà hạnh phúc chƣa bao giờ là một khái niệm dành
cho họ, nhà thơ tỏ ra là một ngƣời hiểu biết rất sâu sắc những khát vọng đời thƣờng bằng tất
cả sự cảm thông và
60
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
trân trọng. Nỗi niềm trong thơ Nguyễn Bính không chỉ là những tâm sự lắm chua cay mà còn
là những lời an ủi, vỗ về ngọt ngào thân thiết:
Trời gần trời có xa đâu
Thế nào chị cũng qua cầu đắng cay.
(Xây hồ bán nguyệt)
Trong cô đơn Nguyễn Bính luôn nhắc đến một ngƣời, ngƣời đó là chị Trúc là ngƣời
đã "Lỡ bƣớc sang ngang" và ngƣời cũng là ngƣời mà trong những ngày tháng tha phƣơng nhà
thơ đã gởi gắm tâm sự của mình vào trong những lá thơ là những bài thơ hay: Lỡ bƣớc sang
ngang, Mƣời hai bến nƣớc, Xuân tha hƣơng, Xuân lại tha hƣơng. Nhà thơ thƣơng chị bởi vì
đó là một ngƣời phụ nữ có cuộc đời bất hạnh. Nỗi đau của chị phần nào giống nỗi đau của
cuộc đời ông. Hai con ngƣời ấy gặp nhau và trải lòng với nhau. Yêu thƣơng chị Trúc, nhà thơ
cảm thấy yêu thƣơng vô ngần những giây phút hạnh phúc trong cuộc đời của ngƣời phụ nữ
ấy:
Thế rồi máu chảy về tim
Duyên làm lành chị duyên tìm về môi
Chị nay lòng ấm lại rồi
Mối tình chết đã có ngƣời hồi sinh
Chị từ dan díu với tình
Đời tƣơi nhƣ buổi bình minh nạm vàng.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Những giây phút con ngƣời cảm thấy hạnh phúc là những giây phút đƣợc sống với
chính sự thổn thức của trái tim mình. Nỗi lòng đó đã đƣợc trái tim nhà thơ ghi nhận bằng
những âm điệu rạo rực phơi phới trong thơ.
Tâm hồn Nguyễn Bính đƣợc gửi vào trong mỗi lời thơ chan chứa cảm xúc và mang
nặng nỗi đau nhân tình. Nỗi đau trong thơ ông là thứ nỗi đau tuy chƣa vực ngƣời ta dậy
nhƣng nó cũng đã giúp cho ngƣời ta phải sống một cuộc sống mà ít ra với mình nó có ý nghĩa
hơn. Bằng những tình cảm thật viết ra từ trái tim và con đƣờng đi của nó là đến với trái tim
ngƣời khác, sự cảm thông của tác giả, trong một trƣờng hợp nào đó đƣa con ngƣời ta ra khỏi
những trói buộc để sống với chính mình:
Tóc trắng vƣơng trên mái tóc nàng,
61
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Đƣa nàng sang trọn bến đò ngang.
Yêu đƣơng sống lại, con ngƣời ấy
Lại thấy đời tƣơi tựa nắng vàng.
(Tơ trắng)
Đọc bài thơ ngƣời ta có cảm giác đang nghe đâu đây thoang thoảng mùi thơm của
nắng, đang quyện lẫn với mùi thơm của lúa... Cả một không gian tràn đầy sự sống, đang trỗi
dậy từ thiên nhiên đất trời cây cỏ. Sự sống cũng đang sống dậy trong lòng ngƣời. Bao nhiêu
niềm đau giờ nhƣờng chỗ cho chính trái tim con ngƣời cất lên tiếng nói yêu thƣơng. Khi
ngƣời ta mở lòng mình ra nhƣ vậy cuộc đời lại trở nên thật đáng yêu.
Hãy thử đọc hai câu thơ của Huy Cận trong bài thơ "Cách xa":
Dọc đời rải rác muôn ga đón
Khó nỗi ngồi chung một chuyến tàu.
(Cách xa- Huy Cận)
Hay câu thơ khác trong thơ Xuân Diệu:
Trăng sáng trăng xa trăng rộng quá
Hai ngƣời nhƣng chẳng bớt bơ vơ.
(Trăng - Xuân Diệu)
Đi trong cuộc đời, nhƣng lúc nào cũng thấy bơ vơ, thấy cuộc đời tẻ nhạt có lúc cố tình
thổi phồng lên nỗi cô đơn của mình "Khuây khỏa trong chuyện đời, ráng lấp cho đầy khoảng
trống trong linh hồn bằng những thế sự linh tinh" (Xuân Diệu). Thơ Nguyễn Bính không thế,
ngoài những nỗi buồn theo khuynh hƣớng thời đại tiêu biểu cho tầng lớp thanh niên tiểu tƣ
sản giai đoạn 1930 - 1945 mất tự do, mất phƣơng hƣớng, tình cảm nhà thơ bao giờ cũng dành
cho quê hƣơng, cho con ngƣời và cho cuộc đời. Tình ngƣời, tình đời trong thơ ông vì thế
không chỉ là nỗi đau mà có khi còn là những tình cảm tế nhị, tinh tế. Nhà thơ đi sâu vào mọi
ngõ ngách, tâm hồn con ngƣời để yêu thƣơng, thông cảm:
Em nhƣ cô gái hãy còn xuân,
Trong trắng thân chƣa lấm bụi trần,
….
62
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Long xuân lơ đãng, má xuân hồng.
Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng,
Đôi tám xuân đi trên mái tóc.
Đêm xuân cô ngủ có buồn không ?
(Gái xuân)
Cái tôi của nhà thơ luôn khát khao một cuộc sống hạnh phúc trong tình yêu. Đọc thơ
ông chúng ta có thể rút ra một kết luận là: Cuộc đời đẹp là cuộc đời con ngƣời đƣợc sống để
yêu thƣơng nhau, yêu thƣơng ngay cả khi mà mình đang đau khổ. Trong lời trăn trối của một
ngƣời chồng xấu số thƣơng cho thân phận mình, thƣơng cho đứa con yêu, nhân vật trữ tình
đã làm đƣợc một việc mà trong xã hội thực dân nửa phong kiến ngƣời ta không dễ dàng chấp
nhận:
Mợ còn trẻ lắm, mới đôi mƣơi,
Ở vậy sao cho trót một đời.
Tang tóc ba năm cho phải phép,
Miễn sao thiên hạ khỏi chê cƣời.
Để con ở lại, chọn ai ngƣời
Phải lứa vừa đôi mợ sánh đôi.
(Trối trăng)
Trong bài "Mƣa xuân" lấy tâm sự của một cô gái quê mong mỏi đêm hội chèo để
đƣợc gặp ngƣời yêu, nhà thơ đã để cho cô gái ấy chủ động đi tìm tình yêu bằng những vần
thơ lấy cảnh ngụ tình tinh tế và sâu sắc "Mƣa xuân" đã lột tả đƣợc khát vọng hạnh phúc nồng
nàn trong nỗi lòng của cô gái quê. Dẫu không gặp đƣợc ngƣời yêu mà đã cùng cô: "năm tao
bảy tuyết" hò hẹn nhƣng mùa xuân còn đến là hy vọng vẫn còn.
Trong cuộc đời gặp nhiều cay đắng, đau nhiều với chuyện thế thái nhân tình nhƣng
trong trái tim chia làm bốn ngăn ấy, ngăn chứa oán hận chỉ một phần vơi, còn trên ba phần
vẫn là thƣơng yêu. Nhà thơ xót xa lắm mà vẫn phải hiểu rằng:
Mƣa chiều nắng sớm ngƣời ta bảo
63
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ngay đến ông trời cũng đổi thay.
Những dòng thơ trữ tình của Nguyễn Bính đã đƣa nhà thơ bứt ra khỏi tình trạng tha
hóa để trở về với chính mình trong thơ ca. Ở đó nhà thơ đã vƣợt ra khỏi sự cƣơng tỏa của xã
hội để trình bày những nỗi đau của cuộc đời đã dội vào trái tim ông. Bên trong những mối
tình đau khổ, nhƣng mối sầu đô thị, những thất vọng cay đắng và sự vật lộn với miếng cơm
manh áo... là những nỗi niềm mà qua đó nhà thơ đã tiếp nối đƣợc tiếng nói nhân đạo truyền
thống trong văn học. Ý thức về quyền sống và quyền đƣợc vui sống của cá nhân con ngƣời
mà trong đó, tình yêu và sự cảm thông là nền tảng của mọi vấn đề phản ánh. Nếu nhƣ có lúc
nào đó các nhà văn của nhóm Tự lực văn đoàn nhƣ Khái Hƣng, Nhất Linh, Hoàng Đạo... ca
ngợi trật tự đƣơng thời, tô hồng lối sống tƣ sản thì thái độ của các nhà thơ mới lại luôn quay
lƣng với thực tại đen tối. Họ thấy cuộc đời chỉ toàn những tù hãm, đau xót. Với Huy Cận,
cuộc đời thật tẻ nhạt, tù túng:
Thân bay nhảy giam nhà mồ nhỏ trí
Một dáng điệu suốt trăm nghìn thế kỷ.
(Chết -Huy Cận)
Tế Hanh thi đậu xong, đi lang thang không biết làm gì. Trở về quê hƣơng gặp nạn đói
và những chuyện đau buồn, nhà thơ chán ngán vô cùng trƣớc cuộc sống ao tù:
Quê hƣơng ơi! trăm năm nhƣ giấc điệp.
Việc đổi thay không thể nói cho cùng.
Có vùng vẫy cũng không qua số kiếp
Ta chỉ là phòng nhỏ của buồng chung.
(Tế Hanh)
Chế Lan Viên thấy thực tại vô vị tầm thƣờng:
Trời ơi! Chán nản đƣơng vây phủ
Ý tƣởng hồn tôi giữa cõi tang
(Điêu tàn - Chế Lan Viên)
Thơ Nguyễn Bính cũng đƣa đến cho chúng ta một cuộc sống từ thành thị đến nông
thôn đâu đâu cũng có những nỗi buồn, những tâm
64
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
trạng đắng cay đau khổ. Một đô thị tù đọng, những cuộc chia ly, những đêm mƣa đất khách,
tâm trạng cô đơn chốn thị thành... có cảm giác rằng cuộc đời con ngƣời đang mòn mỏi theo
thời gian. Sống mà không có một hy vọng nào về một sự đổi thay. Trong thơ Nguyễn Bính,
hình ảnh nhân vật trữ tình chán nản với cuộc sống hiện tại và làm những cuộc ra đi không
mục đích "Ta đi nhƣng biết về đâu nhỉ?", thực chất là cảm nhận của cái tôi trữ tình về sự hữu
hạn của đời sống con ngƣời. Cuộc sống là túng con ngƣời bị lệ thuộc vào những vật do chính
mình làm ra và cuối cùng con ngƣời lại trở về với trạng thái cô đơn và cảm giác chênh vênh:
Có lần tôi thấy hai cô bé.
Sát má vào nhau khóc sụi sùi,
Hai bóng chung lƣng thành một bóng,
"Đƣờng về nhà chị chắc xa xôi?"
Có lần tôi thấy một ngƣời yêu
Tiễn một ngƣời yêu một buổi chiều
Ở một ga nào xa vắng lắm
Họ cầm tay họ bóng xiêu xiêu.
(Những bóng ngƣời trên sân ga)
Bằng tình cảm yêu thƣơng chia xẻ để ý thức về quyền sống con ngƣời trong xã hội,
nhà thơ không dừng lại trong tâm sự của cái tôi mà làm một cuộc hòa nhập vào trong tâm tƣ
của những ngƣời khác và từ cái tôi trữ tình nhiều vai ấy nhà thơ đã cất lên tiếng nói về quyền
sống của con ngƣời. Nói về cuộc đời của cô gái có một cuộc tình duyên "đồng sàng dị mộng"
lỡ làng bao nhiêu hy vọng, bao nhiêu mơ ƣớc, nhà thơ xót xa:
Cô tôi nhạt cả môi hồng
Cô tôi chết cả tấm lòng ngây thơ
Đâu còn sống lại trong mơ
Đâu còn sống lại bến bờ sông yêu.
Buồng the sầu sớm thƣơng chiều
65
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Khóc thầm có biết bao nhiêu lệ rồi.
(Dòng dƣ lệ)
"Lỡ bƣớc sang ngang", một thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ cũng nằm trong cấu trúc
cảm hứng này:
Chuyến này chị bƣớc sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Cuộc đời Nguyễn Bính là một chuỗi những lỡ làng và lỡ làng nhất là những lỡ làng
trong tình yêu. Chính vì vậy mà nhà thơ thấu hiểu đƣợc chuyện của mình, chuyện của ngƣời.
Trong thơ của mình dù đứng ở ngôi thứ nhất xƣng "tôi" hay nhập vào một vai nào đó thì nỗi
niềm cái tôi vẫn cất lên đƣợc tiếng nói chung về nỗi đau của những con ngƣời bất hạnh với
tất cả sự yêu thƣơng, cảm thông và chia xẻ.
Cái tôi trữ tình với ý thức về cuộc sống của con ngƣời trong thơ ông chủ yếu là sự ý
thức của cái tôi cá nhân đối với quyền tự do trong tình yếu và tự do đƣợc tìm kiếm hạnh phúc
của con ngƣời. Cái tôi ấy nhƣ rung lên trong nỗi đau của những chàng trai, những cô gái quê
có tình duyên lỡ làng và sẵn sàng đồng cảm, chia xẻ với họ. Có lẽ khi viết về số phận của con
ngƣời, Nguyễn Bính đã khai thác nhiều cái tứ của ca dao:
Đôi ta là bạn thong dong
Nhƣ đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chúng thầy mẹ nói ngang
Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau.
(Ca dao)
Trong một bài thơ của mình ông viết:
Em là con gái nhà trời
Anh là con cái nhà ngƣời thƣờng dân
Yêu em có vạn có ngàn
Nhƣng cha chẳng chứng cho bàn tay không.
(Ngƣu Lang Chức Nữ)
66
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thơ Nguyễn Bính không đƣa ngƣời đọc đến những cơn mƣa trắng trời trắng nƣớc đến
nỗi không còn một cây lúa có thể sống nỗi trên đồng cũng không đƣa ngƣời đọc đến với
những vất vả nhọc nhằn của con ngƣời trong việc kiếm miếng cơm, manh áo. Nhƣng bằng
những nỗi đau thầm lặng, những cảm xúc buồn thƣơng với số phận lỡ làng nhà thơ cũng đã
thức tỉnh đƣợc những phần sâu thẳm nhất trong tận trái tim con ngƣời kêu gọi sự sống của
mọi lƣơng tri - để ý thức đƣợc rằng: Những nghiệt ngã cay đắng ở cuộc đời chính là biểu hiện
của việc quyền tự do của con ngƣời đang bị cƣớp đoạt và sự cƣớp đoạt ấy đang diễn ra một
cách hết sức đau đớn:
Càng tài sắc lắm càng oan nghiệt
Bảy nổi ba chìm với nƣớc non.
(Oan nghiệt)
Tình yêu và nỗi đau là hai mặt của một hồn thơ - Hồn thơ Nguyễn Bính. Bằng sự
thông nhất biện chứng ấy nhà thơ đã giúp chúng ta nhìn sâu hơn nữa vẻ đẹp từ tâm linh, tâm
hồn con ngƣời. Những vẻ đẹp góp phần nâng con ngƣời lên theo đúng nghĩa viết hoa.
4/ Cái tôi yêu thương và lỡ làng trong tình yêu
Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca và tình yêu cũng đƣợc xem nhƣ là cảm hứng
chủ đạo của thơ lãng mạn Việt Nam giai đoạn 1930 -1945. Khi cái tôi đƣợc xem là trung tâm
sáng tạo thì tình yêu trở thành cảm hứng hàng đầu cũng là điều dễ hiểu. Cuộc sống không có
chỗ đứng cho mình thì ngƣời ta trốn vào tình yêu - Điều này đƣợc xem nhƣ là một giải pháp.
Bài thơ đầu tiên "tình già" trình làng cũng là một bài thơ nói về tình yêu. Rồi sau này trong
mạch cảm hứng ấy, các nhà thơ mới đã xây dựng một lâu đài tình yêu lãng mạn với lất cả sự
phong phú góc cạnh của một bản giao hƣởng đa âm.
Trong thi ca Việt Nam, trƣớc phong trào thơ lãng mạn 1930 -1945 chƣa bao giờ tình
yêu đƣợc nói nhiều đến nhƣ vậy. Không có nhà thơ mới nào là không có ít nhất vài bài thơ
nói về tình yêu... Sự cởi bỏ những ràng buộc đối với cá nhân, cuộc đấu tranh giữa cái cũ và
cái mới, thơ cũ
67
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
và thơ mới... là nguyên nhân do tình yêu nảy nở trong thi ca để rồi sau, đó nó đứng một vị trí
chủ đạo trong cảm hứng sáng tác.
Chung nhịp đập với phong trào thơ mới, thơ Nguyễn Bính cũng không thể thiếu đƣợc
tiếng nói của tình yêu. Bằng sắc áo cổ xƣa cùng với tâm tƣ nỗi niềm của con ngƣời hiện đại,
Nguyễn Bính đã xây dựng đƣợc cho mình một phong cách riêng biệt trong toàn bộ sáng tác
của ông nói chung và trong mảng đề tài này nói riêng. Trong thơ Nguyễn Bính, những cung
bậc của tình yêu: Yêu thƣơng, hờn giận đƣợc thể hiện một cách dịu dàng đằm thắm và giản dị
trong sáng. Tình yêu trong thơ ông gắn bó một cách mật thiết với các giá trị văn hóa làng xã.
Thời kỳ mà đời sống thành thị, đời sống phồn hoa đã nảy sinh ra không biết bao đau lòng,
bao nhiêu đổi thay dâu bể thì tình yêu trong thơ Nguyễn Bính lại gắn với hình ảnh một làng
quê có vƣờn dâu, bến đò, có dòng sông bến nƣớc, cây đa, có vƣờn cau, vƣờn trầu:
Nhà em có một giàn trầu
Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
(Tƣơng tƣ)
Sử dung hợp một cách hài hòa giữa cách nói truyền thống và nỗi niềm của tình yêu
hiện đại là cơ sở của sự hấp dẫn trong thơ tình Nguyễn Bính. Hãy nghe nhà thơ nói về tình
yêu đơn phƣơng đến độ tƣơng tƣ:
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Một ngƣời chín nhớ mƣời mong một ngƣời.
Gió mƣa là bệnh của trời
Tƣơng tƣ là bệnh của tôi yêu nàng.
(Tƣơng tƣ)
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính hòa trong nhịp thở của cảnh quê, hồn quê gợi cảm
giác bâng khuâng, xao xuyến của lòng ngƣời. Trong khi cùng thời với Nguyễn Bính, tình yêu
trong thơ Xuân Diệu cuồng nhiệt và nồng cháy:
Hãy sát đôi đầu, hãy kề đôi ngực
Hãy quyện nhau đôi mái tóc ngắn dài
Những cánh tay hãy quấn riết đôi vai
68
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt.
(Xa cách - Xuân Diệu)
Mối tình quê trong thơ Nguyễn Bính nảy nở trong đêm hội làng hay ở một khúc sông
quê cùng nồng nàn, xôn xao. Nhƣng đó vẫn là cái nồng nàn xôn xao trong sự tĩnh lặng của
thôn quê và sự ngƣng đọng của thời gian tuần hoàn:
Ngày qua ngày lại qua ngày,
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng.
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đƣờng sang đã đành.
Nhƣng đây cách một đầu đình,
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
(Tƣơng tƣ)
Nỗi ám ảnh về thời gian trong thơ Nguyễn Bính đƣợc thể hiện bằng tâm trạng níu kéo
thời gian, bằng trạng thái phân thân trở về với thời gian quá khứ! Thời gian "ngày xƣa", "bữa
ấy" đƣa những mối tình quê của thi nhân trở về với không gian của những mảnh vƣờn, bờ tre,
ngõ làng:
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng.
(Chân quê)
Hay:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu.
Chờ em ăn dập bã trầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng,
Cùng đi một ngõ, vội vàng chi anh?
(Chờ nhau)
Trong khi đó nỗi ám ảnh về thời gian trong thơ Xuân Diệu lại đƣợc thể hiện bằng nỗi
khát khao tận hƣởng. Nhà thơ sợ thời gian về một mặt
69
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đem đến tình yêu và tuổi trẻ nhƣng mặt khác nó lại là sự "một đi không trở lại" cho nên đã
sống, đã yêu đời thì phải chạy đua với thời gian:
Mau lên chứ vội vàng lên với chứ
Em em ơi tình non sắp già rồi.
(Vội vàng - Xuân Diệu)
Sống trên đời nhƣng Xuân Diệu luôn mơ tƣởng tới một miền không gian xa xôi nào
đó
Hãy để cho tôi đƣợc giã từ
Vẫy chào cõi thực để vào hƣ
Trong hơi thở chót dâng trời đất
Cũng vẫn si tình đến ngất ngƣ.
(Xuân Diệu)
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với cuộc sống, đặc biệt là với cuộc sống
thôn quê. Ngoài cuộc đời, Nguyễn Bính là con ngƣời của tình yêu, con ngƣời ấy sẵn sàng trao
tất cả trái tim mình cho ngƣời khác để rồi sau đó phải viết nên những vần thơ ngậm ngùi
thƣơng tiếc cho những mối tình của mình. Nhà thơ yêu hay yêu là nguồn cảm hứng cho thi
tứ:
Mới gặp mà tôi đã yêu ngay
Để mà thao thức mấy đêm nay.
Nhƣng rồi tình yêu "thanh sắc trần gian", khát vọng tình yêu cũng là khát vọng muôn
thuở của con ngƣời. Nhƣng thử hỏi trên cuộc đời này có bao nhiêu ngƣời đƣợc một tình yêu
trọn vẹn. Trong thƣ mới, tình yêu là phải có chia ly, trắc trở, éo le... một tình yêu trọn vẹn
không phải là đối tƣợng của thi ca lãng mạn bởi vì hai ngƣời yêu nhau, lấy đƣợc nhau thì khát
vọng đã đƣợc thỏa mãn không còn gì để lãng mạn nữa:
Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở.
(Hồ Dzếnh)
Hƣơng vị của tình yêu phải nằm trong hai cực đối lập: Ngọt ngào và cay đắng.
70
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính nhƣ một vƣờn hoa đầy hƣơng sắc. Với tình yêu, cái
tôi trữ tình của thi nhân bao giờ cũng lắng sâu đằm thắm và dịu ngọt. Ngòi bút của thi nhân
miêu tả tài tình những mối tình thơ mộng của những chàng trai, những cô gái quê:
Gió mƣa là bệnh của trời
Tƣơng tƣ là bệnh của tôi yêu nàng.
Hai thôn chung lại một làng,
Cớ sao bên ấy chẳng sang, bên này?
(Tƣơng tƣ)
Trong xã hội Việt Nam cổ truyền, tâm tình con ngƣời đƣợc qui định bằng nền kinh tế
tiểu nông khép kín. Những cô gái chăn tằm dệt vải chỉ đi từ khung cửi đến nƣơng dâu và cô
lái đò thì cũng quen một khúc sông quê. Đêm hội làng là dịp để họ gặp nhau và tiên với nhau.
Nguyễn Bính cảm nhận rất tinh tế một niềm vui không nén đƣợc:
Mƣa bụi nên em không ƣớt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.
(Mƣa xuân)
Rồi cũng thôi đê ấy thôi bỗng trở nên dài. Vẫn cơn mƣa ấy thôi, sao mà nặng hạt khi:
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang:
Mình em lầm lụi trên đƣờng về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mƣa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
(Mƣa xuân)
Thơ Nguyễn Bính giàu chất mơ mộng và hoài cổ. Tình yêu trong thơ ông cũng vậy.
Những thoáng nồng nàn trong tình yêu rồi cũng qua đi, con ngƣời lại trở về với trạng thái cô
đơn của mình. Để vƣợt qua cô đơn này nhà thơ quay trở về quá khứ, gợi nhớ rất xa về dĩ vãng
và thấp thoáng trong đó một nỗi niềm luyến tiếc cho mối tình đã qua:
Em đi phố huyện tiêu điều lắm
Trƣờng huyện giờ xây kiểu khác rồi
71
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Mà đến hôm nay anh mới biết
Tình ta nhƣ chuyện bƣớm xƣa thôi.
(Trƣờng huyện)
Và cũng để vƣợt qua trạng thái cô đơn nhà thơ quay trở về với chiêm bao. Hình ảnh
"cánh bƣớm" trong thơ ông nhƣ một biểu tƣợng chấp cánh cho ƣớc mơ đƣa "tôi" vƣợt qua
trạng thái cô đơn, giao cảm đƣợc với đồng loại. Nhờ có cánh bƣớm con ngƣời đƣợc trở về
với thời đại của truyện cổ tích: Thi đỗ Thám hoa, lấy công chúa, sống trong thế giới hoa.
Hình ảnh bƣớm trong giấc mơ gắn liền với một kỷ niệm về tình yêu thuở học trò:
Lá sen vƣơng vấn hƣơng sen ngát
Ấp ủ đôi ta chút nhụy hờ
Lũ bƣớm tƣởng hoa cài mái tóc
Theo về tận cửa mới tan mơ.
(Trƣờng huyện)
Nhƣng rồi giấc mơ tan, con ngƣời lại trở về với trạng thái thực tại của mình.
Trong thơ tình Nguyễn Bính hình ảnh cánh bƣớm khi ẩn khi hiện thấp thoáng trong
thơ không có một vị trí cố định. Có khi là hình ảnh của một con ngƣời, có khi là biểu hiện của
tâm thức, có khi là sự mong mỏi, mơ ƣớc:
Bao giờ bến mới gặp đò?
Hoa khuê các bƣớm giang hồ gặp nhau?
(Tƣơng tƣ)
Một trạng thái buồn bã:
Hoa buồn không thắm bƣớm không bay
(Cầu nguyện)
Hay một niềm hạnh phúc:
Đầy vƣờn hoa bƣởi hoa cam rụng,
72
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ngào ngạt hƣơng bay, bƣớm vẽ vòng.
(Xuân về)
Đi từ những ẩn dụ dân gian để viết về tình yêu nam nữ, thi nhân đã gửi gắm vào đó
chất nội tâm của con ngƣời thời đại vì thế tình yêu của thi nhân dẫu ở thực tại hay chỉ là
mộng, trong trạng thái đau khổ hay hạnh phúc thì cũng đã có gửi gắm vào đó một điệp khúc
chia ly tan vỡ. Thật ra thơ tình của Nguyễn Bính chính là cuộc tình duyên lỡ dở của bản thân
ông. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính do vậy vừa mang cảm giác nhẹ nhàng nhƣng lại vừa
mang cảm giác hƣ hƣ thực thực. Hình ảnh hoa và bƣớm nhƣ một phía ảo của con sông tình
yêu thực mà ở đó nhà thơ cứ bơi mãi với trái tim có ngọn lửa yêu đƣơng lúc nào cũng tha
thiết của mình.
Nguyễn Bính viết rất nhiều về tình yêu. Nhƣng tình yêu trong thơ ông phần nhiều nếu
không phải là tình yêu đơn phƣơng thì cũng là tình yêu gặp nhiều trắc trở:
Em đã sang ngang với một ngƣời
Anh còn trồng cải nữa hay thôi?
Đêm qua mơ thấy hai con bƣớm
Khép cánh tình chung ở giữa đời.
(Hết bƣớm vàng)
Cái tôi trữ tình trong tình yêu là cái tôi hoài vọng về một sự đồng điệu và chia xẻ.
Niềm hoài vọng ấy không có ngƣời đáp lại để rồi tự mình phải đặt câu hỏi cho cuộc đời hay
cũng cho chính bản thân mình. Nhƣng không nhƣ chàng trai lãng mạn trong thơ tình của Tế
Hanh mang tâm sự vô cùng não lòng khi tình yêu mất:
Rồi anh chết, anh chết sầu chết héo
Linh hồn anh thất thểu dõi hồn em.
(Ao ƣớc - Tế Hanh)
Sự thất vọng về tình yêu trong thơ Nguyễn Bính cũng để lại những "dấu lặng" trong
tâm hồn, nhƣng những dấu lặng ấy chỉ là những niềm nuối tiếc nhẹ nhàng phù hợp với những
tấm tình quê:
Ai đem rắc bƣớm lên hoa?
73
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng?
Ai đem nhuộm lá cho vàng?
Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?
(Rắc bƣớm lên hoa)
Những lời trách móc đầy nuối tiếc nhƣ thế này rất gần gũi với cách nói trong ca dao:
Tƣởng giếng sâu anh nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây.
(Ca dao)
Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính có đủ các giai đoạn và các cung bậc từ hò hẹn gặp
gỡ yêu thƣơng đến giận hờn trách móc. Cái tôi của nhà thơ thâm nhập vào trong tâm hồn của
những chàng trai, những cô gái quê chân chất mộc mạc để nói lên nỗi lòng của họ. Chính
trong cái tôi trữ tình nhập vai ấy, nhà thơ đã chuyển tải đƣợc chất nội tâm hiện đại trong
những mối tình quê dịu dàng mà cháy bỏng khát khao:
Anh ơi! Em nhớ em không nói
Nhớ cứ dầy lên cứ rối lên.
(Nhớ)
Những khắc khoải về tình yêu, những hoài vọng, mơ ƣớc... trong thơ Nguyễn Bính
luôn có sự giao hòa với đất trời, với cuộc sống và với cảnh sắc thiên nhiên. Đó chính là
những yếu tố thúc đẩy niềm khát khao giao cảm của con ngƣời. Một buổi đợi chờ đƣợc miêu
tả đầy ấn tƣợng trong thơ:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh,
Tôi đợi ngƣời yêu đến tự tình.
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lƣng xanh.
(Mùa xuân xanh)
Dù nhớ nhung hờn giận hay yêu thƣơng... tình yêu trong thơ ông bao giờ cũng toát lên
vẻ đẹp chất phác và nhẹ nhàng, thanh thoát.
74
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Với các nhà thơ lãng mạn, có lẽ trên đời này là không có gì là vĩnh cửu, mọi cái có thể
tồn tại và có thể mất đi. Một trạng thái viên mãn đi đến hôn nhân trong tình yêu không thực
với cảm hứng của thơ lãng mạn vì thế tình yêu trong thơ mới chủ yếu là chia ly, cách trở và
éo le ngang trái. Thơ Nguyễn Bính cũng viết theo thiên hƣớng này, chỉ có một điều khác là
nếu nhƣ trong thơ lãng mạn sự chia ly cách trở không có một lý do nào cụ thể rõ ràng hay có
cũng nhƣ không vì rất mơ hồ thậm chí bí ẩn:
Một lời nói nếu có gan ƣớm thử
Một bàn tay đừng lƣỡng lự trao thƣ
Một lúc nhìn thêm đôi lúc tình cờ
Chắc có lẽ đã làm nên luyến ái.
(Luyến ái - Huy cận)
Với Nguyễn Bính dẫu thi nhân đã từng đi tỉnh, bƣớc chân ông đã hằn in trên khắp nẻo
đƣờng thành thị nhƣng tâm hồn thƣ của thi nhân lại là bản giao hƣởng của hồn quê. Vì thế
trong cái nhìn của con ngƣời hiện đại, nhà thơ đã thể hiện đƣợc một phong cách rất gần gũi
với ca dao ở cả ý và tình điệu. Khi ông viết:
Em là con gái nhà trời
Anh là con cái của ngƣời thƣờng dân
Yêu em có vạn có ngàn
Nhƣng cha chẳng chứng cho bàn tay không.
(Ngƣu Lang Chức Nữ)
Thì nguyên nhân của một cuộc tình tan vỡ đã đƣợc giải thích rất rõ: Khi mà trong
cuộc sống sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt thì những cuộc hôn nhân bị trắc trở có lẽ
cũng là chuyện thƣờng tình cho dù tâm hồn của những ngƣời yêu nhau rất đỗi hòa hợp.
Những trái ngang đi liền với một lý do cụ thể nhƣ thế này rất giống với cách nói trong
ca dao:
Đôi ta là bạn thong dong
Nhƣ đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
Bởi chƣng thầy mẹ nói ngang
75
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau.
(Ca dao)
Trong cuộc đời, Nguyễn Bính có một hộp bích quy đựng đầy những lá thƣ tình. Thi
nhân yêu nhiều nhƣng đó chỉ là tình yêu đơn phƣơng, tình yêu trong mộng tƣởng. Những mối
tình mà kết cục rồi sẽ không đi đến đâu. Ông cảm thấy mất mát:
Nào biết yêu đƣơng đƣợc những gì,
Mà sao chỉ thấy mất dần đi?
Hoa xuân không nở vƣờn tôi nữa,
Hàng xóm thƣa sang bƣớm dậy thì.
(Bƣớm thƣa sang)
"Yêu là chết trong lòng một ít" mỗi mối tình đi qua để lại một chút xót xa, một cảm
giác hụt hẫng. Tâm hồn trở nên trống vắng. Mà càng trống vắng càng cảm thấy tha thiết hơn,
khát khao hơn. Có lúc ngƣời khách bộ hành trên sa mạc tình yêu ấy cũng xót xa cay đắng
"Em tôi chẳng hiểu tôi đâu - Đêm đêm chẳng mộng chung nhau nữa rồi". Thế nhƣng yêu thì
vẫn cứ yêu. Mà không yêu sao đƣợc khi trong tận sâu thẳm trái tim mình, nhƣ một định mệnh
thi nhân đã là: "Thi sĩ của thƣơng yêu" tâm linh ấy đƣợc ông mang theo suốt cuộc đời thơ của
mình. Dẫu nhiều lúc trong cuộc đời phải nếm chịu không ít những phũ phàng cay đắng thì
vẫn nguyện làm một khách tình chung:
Tôi rất hiền và rất muốn ngoan
Chiếng xuân trời đã gả về nàng
Hôm nay say rƣợu làng ân ái,
Thơ tặng ngƣời yêu thảo mấy hàng.
(Chung tình)
Tình yêu là tiếng nói của con tim khi hai tâm hồn đồng điệu và hòa hợp với nhau.
Nhƣng rồi trong thực tế cuộc sống, ý nghĩa thực của tình yêu bị ngƣời đời làm hoen ố. Có lúc
nhà thơ phải cay đắng thốt lên:
Ai đi tha thiết với giàu sang,
Chỉ thắm xe rồi lại dở dang...
76
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thôi nhé! từ nay tôi chả dám
Ngửa tay xin một trái tim vàng
Của ngƣời đẹp nữa! Vì ngƣời đẹp
Đâu muốn tim vàng ở mái tranh!
(Mai tàn)
Có lúc nhà thơ "hờn dỗi":
Nàng về làm dâu nhà tôi
Vƣờn dâu nó thẹn với đôi tay ngà.
(Nhà tôi)
Một mái nhà tranh, một buổi hội chèo, một con đƣờng thơm nồng nàn hoa bƣởi...
những cảnh vật nhƣ có linh hồn ấy là nơi đã đƣa con ngƣời đến với nhau trong những buổi
hẹn hò, những lần gặp gỡ. Nhƣng rồi đến một hôm nào đó, ngƣời ta bỏ cái nơi nghĩa tình sâu
nặng ấy để dứt áo ra đi thì tình yêu cũng mất:
Xa lắm Nhi ơi! Muộn lắm rồi
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi.
(Hoa với rƣợu)
Nhà thơ yêu nhiều và dễ yêu. Một Tú Uyên, một nàng Oanh rồi một cô Nhi... mỗi mối
tình là một nguồn cảm hứng cho thơ. Những cảm hứng ấy xuất phát từ trái tim chân thành,
tha thiết. Nhƣng đó chỉ là tình mộng. Những mối tình mà trong đó chỉ có một mình trái tim
nhà thơ thổn thức. Có lúc thi nhân tủi cho phận mình:
Mấy khoa thi chót thầy ơi
Sao không thi đỗ để rồi làm quan
Để rồi lắm bạc nhiều vàng,
Để cho con lấy đƣợc nàng thầy ơi!
(Nhà tôi)
77
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cuộc sống đã và đang đổi thay rất nhiều nhƣng trong thơ của mình Nguyễn Bính vẫn
thƣờng hay nhắc lại câu chuyện thi cử và đỗ dạt làm quan của một thời đại vàng son đã lùi
vào dĩ vãng. Đó là tiếng nói của một số phận không may mắn, oán trách cho chuyện dở dang
hay nỗi lòng xót xa của một tâm hồn chán nản với những phủ phàng, bon chen của cuộc sống
hiện tại, tiếc nuối cho quá khứ? Khi trong cuộc đời có nhiều điều để buồn đau, nhà thơ tìm về
chỗ dựa của tâm linh. Đằng sau những oán trách và tiếc nuối là sự nhận thức về sự thật cuộc
đời của nhà thơ. Sự nhận thức ấy đi cùng với khát vọng giao cảm. Vì vậy trong trạng thái sầu
đau quánh đặc, âm hƣởng thơ của thi nhân vẫn luôn đƣợc vỗ về bởi những lời nhắn gởi về
một cuộc sống yêu thƣơng thủy chung và giàu tình nghĩa.
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi tâm trạng, cái tôi ấy đứng ở vị trí nào
cũng chất chứa nỗi niềm riêng tƣ và khát vọng giao cảm. Những cảm xúc cá nhân trong thơ
ông không bao giờ ở trạng thái riêng lẻ mà luôn chịu sự chi phối và tác động của con ngƣời,
của cuộc sống và ngay cả của không gian và thời gian:
Cái ngày cô chƣa có chồng
Đƣờng gần tôi cứ đi vòng cho xa
Lối này làm bƣởi nhiều hoa
Đi vòng để đƣợc qua nhà đấy thôi.
(Qua nhà)
Khi có chồng, cũng con đƣờng, ngôi nhà, và khu vƣờn ấy thôi, nhƣng tất cả đều đã
đổi khác, không còn sắc màu, không còn hƣơng thơm và cuộc sống cũng nhƣ ngừng lại:
Cái ngày cô đi lấy chồng
Gớm sao có một quãng đồng mà xa
Bờ rào cây bƣởi không hoa
Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo.
Lợn không nuôi đặc ao bèo
Giàu không dây chẳng buồn leo vào giàn
Giếng thơi mƣa ngập nƣớc tràn
78
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.
(Qua nhà)
Cho dù có "dan díu" với "nợ kinh thành" nhƣng Nguyễn Bính đã lớn lên ở nông thôn
và vì vậy có ở đâu, làm gì, thì tâm hồn thơ của ông cũng gắn bó với nông thôn bằng những
sợi dây tình cảm vô hình mà thiêng liêng sâu nặng. Theo cách nói của nhà thơ thì mấy ai mà
không có trong mình những kỷ niệm về một làng quê truyền thống: Một lần thả diều ở bờ đê,
một buổi đi hát chèo hay một lần hò hẹn... rồi chẳng bao giờ có thể quên đƣợc nữa trong cuộc
đời:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn dập bã giầu em sang
Đôi ta cùng ở một làng
Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh
Nghe ngƣời ta nói mong manh
Hình nhƣ họ biết chúng mình... với nhau.
(Chờ nhau)
Tình yêu chân quê đẹp bởi sự đằm thắm dịu dàng và bởi sự tự tin của những chàng
trai, những cô gái quê. Tình làng nghĩa xóm từ bao đời nay của cộng đồng ngƣời Việt đã kết
gắn những tâm hồn thôn dã lại với nhau và ngƣợc lại sự hòa hợp của hai tâm hồn càng làm
cho cộng đồng thêm thân thiết, gắn bó. Nhận thức sâu sắc tâm lý cộng đồng, Nguyễn Bính
hiểu đƣợc nỗi lòng của một cô gái quê khi bƣớc vào yêu:
Mẹ em nhƣ bóng nắng về chiều
Sống đƣợc bao nhiêu biết bấy nhiêu.
Em em còn trẻ ngƣời non dạ
Há nỡ theo anh, nỡ bỏ liều!
Lấy ai nuôi mẹ dạy em thơ?
Anh có thƣơng em hãy cố chờ.
Chƣa trọn đạo con tròn nghĩa chị,
79
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Lòng nào dám tƣởng tới duyên tơ.
(Lòng nào dám tƣởng)
Sự gắn bó giữa con ngƣời với nhau trong quan hệ tình làng nghĩa xóm, quan hệ gia
đình tạo thành chất thơ đậm đặc trong hồn thơ của thi nhân. Và ngay cả trong tình yêu thôn
quê thì con ngƣời cũng có sự hòa hợp nhất định với quê hƣơng. Một chàng trai trữ tình đã
cảm nhận vẻ đẹp của ngƣời yêu bằng những "tinh chất" mộc mạc của quê hƣơng:
Một đi làm nở hoa sen
Một cƣời làm rụng hàng nghìn hoa mai
Hƣơng thơm nhƣ thể hoa nhài
Những môi tô đậm làm phai hoa đào
Nõn nà nhƣ thể hoa cau
Thân hình yểu ffiệu nhƣ màu hoa lan.
(Lòng yêu đƣơng)
Thân thể ngƣời yêu nồng nàn trong mùi thơm và vẻ đẹp của hƣơng đồng nội. Một ánh
mắt, một dáng vẻ, một nụ cƣời... là một bông hoa. Không là một ngƣời yêu tha thiết với cảnh
vật đồng quê, với con ngƣời, không có một tâm hồ thi sĩ "chân quê" làm sao có thể miêu tả
đƣợc rõ một vẻ đẹp quyến rũ và độc đáo đến nhƣ vậy đƣợc.
Thơ tình Nguyễn Bính không dạt dào và mạnh mẽ nhƣ Xuân Diệu mà có chất sâu
lắng, dịu dàng, bát ngát của một thi sĩ làng quê. Nguyên Bính để hết cái tình của mình vào
những mảnh đời dân dã. Chính những mảnh đời ấy, những cuộc tình ấy là ngọn lửa đã làm
ấm lòng của thi nhân trong những ngày lận đận, những đêm mƣa đất khách:
Nhƣ chuyện Tƣơng Nhƣ và Trác Thị
Đƣa nhau về ở đất Lâm Cùng
Vƣờn xuân trắng xóa hoa cam rụng
Tôi với em Nhi kết vợ chồng.
(Hoa với rƣợu)
80
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Khác với thơ tình Nguyễn Bính, tình yêu trong thơ Xuân Diệu dù ở mức độ nào thì
những tâm hồn yêu nhau vẫn không bao giờ có sự hòa hợp:
Dù tin tƣởng chung một đời một mộng
Anh vẫn là anh em vẫn cứ là em
Có thế nào qua Vạn Lý Trƣờng Thành
Cả hai vụ trụ chứa đầy bí mật.
(Xuân Diệu)
Và vì vậy, trong thơ Nguyễn Bính, khi tình yêu đƣợc thể hiện bằng nỗi nhớ thì đó
cũng là một nỗi nhớ đầy ấn tƣợng:
Ví chăng nhớ có nhƣ tơ nhỉ,
Em thử quay xem đƣợc mấy vòng?
Ví chăng nhớ có nhƣ vừng nhỉ,
Em thử lào xem đƣợc mấy thƣng?
(Nhớ)
Tha thiết nồng nàn là vậy nhƣng rồi càng dấn sâu vào "cát bụi kinh thành". Cái tôi trữ
tình trong thơ ông càng trở nên cô đơn, bi đát. Đã có lúc nhà thơ phải than thở: "em tôi có
hiểu tôi đâu" và yêu nhiều nhƣng cuối cùng thi nhân phải ngậm ngùi:
Hồn tôi: giếng ngọc trong veo,
Trăng thu trong vắt, buổi chiều trong xanh
Hồn cô nhƣ bụi kinh thành,
Đa đoan vó ngựa, chung tình bánh xe.
(Oan uổng)
Đối lập tâm hồn với cuộc sống đô thị, nhà thơ phải quay lƣng với tình yêu trong một
trạng thái đau thƣơng:
Nàng hãy vì tôi đoạn một lời:
"Từ nay nàng đã hết yêu tôi.
Từ nay ta sẽ xa nhau mãi
81
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Và sẽ quen nhau đến trọn đời"
Nàng hãy đi xây lại cuộc đời
Rồi đây ai nhắc đến tên tôi
Và ai có hỏi: "là ai nhỉ?"
Nàng lạnh lùng cho: "Chả biết ai!"
(Thôi nàng ở lại)
Sống vì tình yêu nhà thơ đã nung nóng tâm hồn mình cho ƣớc mơ về một tình yêu
vững chắc. Nhƣng tình yêu trong thơ ông đều đi đến kết cục buồn bã, trái ngang và chia phôi
mang trọn vẹn âm hƣởng "trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt" của thơ mới. Gặp gỡ yêu thƣơng
bao giờ cũng đi cùng với trái ngang và cay đắng:
Ngƣời ấy xuân già chê gối lẻ
Nên ngƣời nôm nả chuyện sang sông
Đò ngang bến dọc tha hồ đấy
Quý hóa gì đâu một chữ "đồng"!
(Xuân tha hƣơng)
Những nhớ mong khắc khoải cuối cùng không đƣợc đáp lại:
Tôi còn mong ngóng làm chi nữa
Đò đã đƣa ngang tự buổi nào
Sông nƣớc có buồn nhƣng cùng bến,
Nhƣng mà tôi biết nói làm sao?
(Ngƣời cách sông rồi tôi cách sông)
Tuy nhiên, Nguyễn Bính không quan niệm tình yêu phải chia ly lỡ làng mới đẹp. Ông
nhận thức đƣợc rằng sự lỡ làng ấy, cơ bản ấy không do ý thức phủ phàng của con ngƣời mà
chủ yếu là do cảnh ngộ. Chính ý thức này đã tạo cho cái tôi trong thơ ông vừa mang âm
hƣởng ngậm ngùi vừa mang nỗi cảm thông sâu sắc.
Nguyễn Bính đã viết về tình yêu bằng cái tôi chân quê nội cảm, dịu dàng e ấp mà đầy
khát vọng. Cái tôi ấy là nỗi niềm của tất cả những
82
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
chàng trai, những cô gái quê và tất cả những ngƣời đang yêu nhau. Chất nội tâm, hiện đại
cùng với cảm xúc về những mối tình quê dân dã đã làm cho hƣơng vị tình yêu vừa mới mẻ,
quen thuộc, vừa bình dị lại vừa độc đáo. Đó cũng chính là chất độc đáo của thơ ông.
83
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
CHƢƠNG II: PHƢƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRỮ TÌNH
1/ Quan niệm nghệ thuật về con người
Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình hoạt động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn,
là sự phản ánh hiện thực của cuộc sống thông qua "lăng kính chủ quan" của ngƣời sáng tạo.
Về thực chất đó chính là một cách chiếm lĩnh và lý giải cuộc sống của con ngƣời. Quan niệm
đó quyết định chiều sâu của việc miêu tả cũng nhƣ việc giải quyết chủ đề, đề tài trong sáng
tác. Từ nguyên lý: "Văn học là nhân học" ta có thể đi đến kết luận rằng giá trị của văn học là
ở chỗ nó đã hiểu, cảm nhận con ngƣời sâu sắc đến mức độ nào. Sự khám phá quan niệm nghệ
thuật sẽ giúp chúng ta hiểu đƣợc khả năng, mức độ phản ánh và hiểu biết về con ngƣời của
tác giả.
Nguyễn Bính là nhà thơ của cảnh quê, tình quê. Trong thơ ông con ngƣời và cảnh vật
làng quê thấm đƣợm hồn quê. Từ những cảnh vật bình thƣờng, những cuộc đời bình dị của
cuộc sống thôn quê thổi vào đó chất men của tình yêu dịu ngọt từ trái tim mình, nhà thơ đã
gợi đƣợc hồn quê thiết tha, đằm thắm làm rung cảm biết bao tâm hồn độc giả khắp mọi miền
đất nƣớc .
Cũng nhƣ trong thơ mới, thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính đƣợc hình thành
từ cái nhìn chủ quan, nội cảm của nhà thơ. Thế giới con ngƣời trong thơ ông cũng đƣợc cảm
nhận từ cái nhìn ấy. Điểm nổi bật, bao quát trong cái nhìn nghệ thuật về con ngƣời trong thơ
Nguyễn Bính là ông chú ý đến mảnh sáng của tâm hồn con ngƣời. Nguyễn Bính phản ánh
con ngƣời từ góc độ tâm hồn. Tức là góc độ tình cảm, cảm xúc cá nhân. Con ngƣời trong thơ
ông là con ngƣời cảm xúc, con ngƣời nội cảm. Con ngƣời đó trƣớc hết là con ngƣời "Chủ
thể" con ngƣời của "cái tôi" chân quê và thành thị. Con ngƣời ấy bỏ thôn quê ra đi "dan díu
nợ kinh thành" để rồi sau đó lúc nào cũng dằn vặt, xót xa:
Bỏ lại vƣờn cam bỏ mái gianh
84
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Anh đi dan díu nợ kinh thành.
(Hoa với rƣợu)
Ôm trong lòng "mối sầu đô thị", con ngƣời ấy lúc nào cũng thấy cô đơn, thấy mình là
kẻ lỡ làng, kẻ dở dang:
Dang dở một thân nơi đất khách
Tết nay ta lại ngắm hoa suông.
(Quán trọ)
Nhƣng trên bến vắng một đêm kia
Ngƣời khách tình chung ấy trở về!
Cô gái đã âu duyên phận mới
Khách còn trở lại nữa mà chi.
(Cô lái đò)
Nỗi lòng của con ngƣời tha hƣơng đƣợc nhà thơ giải bày ở những góc cạnh đầy u uẩn
và bế tắc:
Gió lạnh sƣơng sa nặng hạt rồi
Thuyền ta đậu lại bến này thôi
Sớm mai xuôi ngƣợc về đâu nhỉ
Nào biết về đâu kẻ ngƣợc xuôi
(Không đề)
Đi tìm hạnh phúc tình yêu giữa một xã hội đầy biến động và cuối cùng lại rơi vào
hoàn cảnh bế tắc, cùng quẫn, con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính có lúc rơi vào trạng thái phẫn
chí:
Một thân lữ thứ sầu phong tỏa
Đốt ngọn đèn lên bóng rợn tƣờng
(Xuân vẫn tha hƣơng)
Muốn đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa nhƣng rốt cuộc chỉ gặp toàn những thứ vô
nghĩa lý, con ngƣời ấy nồng lên một cảm giác ân hận, xót xa, muốn làm gì đó cho đời nhƣng:
Ta đi nhƣng biết về đâu nhỉ
85
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Đã đẩy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi: - Thế nhân ơi!
(Hành phƣơng Nam)
Sau này, tiếng gọi ấy của kẻ tha hƣơng đã tìm đƣợc cho mình sự đồng vọng ở con
đƣờng cách mạng, lý tƣởng cách mạng.
Để khỏa lấp nỗi cô đơn, con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính tìm về với mơ tƣởng và
sống trong hoài niệm qua khứ;
Rƣợu cất kỳ ngon men ủ khéo
Say ngƣời thiên hạ lại say nhau
Chiều chiều hai đứa sang thăm chị
Chồng hái hoa cho vợ giắt đầu
Chao ôi! Là mộng hay là thực?
Là thực hay là mộng bấy lâu?
Hai đứa sống bằng hoa với rƣợu
Sống vào giời đất, sống cho nhau.
(Hoa với rƣợu)
Từ nay khi nhớ quê nhà
Thấy mây Tần đó tƣởng là thôn Vân.
(Thôn Vân)
Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Có con bƣớm trắng thƣờng sang bên này...
(Ngƣời hàng xóm)
Mộng tƣởng là cách nhà thơ dùng để thi vị hóa thực tế.
Trong cái tôi trữ tình nhập vai, bằng sự hiểu biết sâu sắc tâm lý của con ngƣời làng
quê, nhà thơ đã thể hiện rất tinh tế tâm tƣ tình cảm của họ. Thơ của ông là nỗi lòng của bà mẹ
đã nén buồn, động viên con đi lấy chồng là tâm trạng thao thức của cô gái quê chờ đợi đêm
hội làng để đƣợc gặp ngƣời yêu, là nỗi thổn thức đầy cay đắng của một cô gái "Lỡ
86
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
bƣớc sang ngang" "Một đi bảy nổi ba chìm - Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần", là
những nhớ nhung của một anh trai làng "tƣơng tƣ" và nỗi âu lo, hồi hộp của một chàng trai có
ngƣời yêu đi tỉnh... Nguyễn Bính ngậm ngùi với cô lái đò lỗi hẹn, có lúc ông cùng anh lái đò
mơ lại giấc mơ làm quan trạng... Bao nhiêu con ngƣòi là bấy nhiêu tâm trạng. Tâm trạng nào
cũng đƣợc nhà thơ lột tả một cách tài tình và đặc sắc.
Con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính là con ngƣời của những nỗi niềm riêng tƣ. Những
nỗi niềm riêng đó từ những nhớ nhung, chờ đợi hay những âu lo khắc khoải đến những buồn
đau, thƣơng tiếc... đều đã thể hiện đƣợc quan niệm của nhà thƣ về con ngƣời và vẻ đẹp của
con ngƣời. Cuộc sống trong thơ ông là cuộc sống vƣợt lên những lo toan thƣờng nhật về
miếng cơm manh áo. Bằng chất lãng mạn của một tâm hồn gắn bó gần nhƣ là máu thịt với
quê hƣơng và với trái tim lúc nào cũng tha thiết yêu thƣơng, đau đáu hƣớng tâm hồn mình về
một cuộc sống thủy chung, giàu tình nghĩa, thơ Nguyễn Bính đã thể hiện đƣợc con ngƣời
thôn quê với tất cả với cái duyên quê mặn mà tình tứ. Cái duyên quê ấy là vẻ đẹp thuần khiết
trong tâm hồn một cô thôn nữ:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn nhƣ cây lụa trắng
Mẹ già chƣa bán chợ làng xa.
(Mƣa xuân)
Vẻ đẹp con ngƣời càng thanh thoát hơn khi hài hòa với cảnh sắc quê hƣơng:
Cỏ nằm trên mộ đợi thanh minh
Tôi đợi ngƣời yêu đến tự tình
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
Bắt đầu là cái thắt lƣng xanh.
(Mùa xuân xanh)
Hình ảnh cô gái quê xuất hiện khá nhiều trong thơ Nguyễn Bính và đó là những con
ngƣời gây đƣợc nhiều ấn tƣợng đẹp đối với ngƣời đọc. Ngƣời con gái trong mƣa xuân, cô
hàng xóm, cô lái đò, cô hái mơ... đều
87
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
là những cô gái quê dịu dàng, sống giản dị, chịu thƣơng, chịu khó. Với họ, tình yêu nhƣ một
sức mạnh thầm kín luôn đẩy con ngƣời vào trạng thái yêu đƣơng xao xuyến và những bâng
khuâng khắc khoải:
Chờ mãi anh sang, anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng
(Mƣa xuân)
Những mối tình quê nảy sinh sau một lần gặp mặt, một đêm hội chèo ấy rồi cũng lặng
lẽ qua đi, nỗi buồn của con ngƣời đến ngay khi niềm vui vừa mới nhóm lên. Có lẽ tình yêu
của những cô gái suốt đời sống âm thầm với mảnh vƣờn đồng ruộng kia rốt cuộc rồi cũng
mong manh nhƣ số phận của họ.
Trong bản sắc văn hóa làng xã, cuộc sống của con ngƣời thôn quê trở nên lung linh
hơn trong hình ảnh của những con ngƣời náo nức đi xem hội chèo, đi trẫy lễ chùa:
Trên đƣờng cát mịn một đôi cô
Yếm đỏ, khăn thâm trẩy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc
Tay lần tràng hạt, miệng nam mô
(Xuân về)
Hay:
Những bà tóc bạc hiền nhƣ phật
Sắm sửa hành trang trẩy hội chùa
(Thơ xuân)
Những nét đặc tả của nhà thơ đã thể hiện đƣợc cái thanh thoáng lặng lẽ của con ngƣời
thôn quê đôn hậu. Chính họ chứ không phải ai khác đã làm nên bản sắc văn hóa của làng quê.
Thế giới tâm linh của con ngƣời đi vào trong thơ Nguyễn Bính với tất cả những nét đẹp vốn
có của nó. Từ nỗi lòng khắc khoải của thi nhân, cuộc sống và con ngƣời làng quê bao giờ
cũng gần gũi và thiêng liêng. Hình ảnh ngƣời dân quê chân chất, lạc
88
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
quan nhƣng lại phải chịu đựng không ít những nỗi oan khiên trong cuộc đời, đặc biệt là thân
phận đáng cảm thƣơng của những cô gái quê trong thơ Nguyễn Bính đã thể hiện đƣợc tình
yêu tha thiết của thi nhân trƣớc cuộc sống thanh bình trong trẻo của làng quê và lòng xót xa
nỗi cảm thƣơng của ông đối với những cảnh đời bi kịch đầy ngang trái.
Nhìn con ngƣời từ vị thế cộng đồng, thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng thể hiện đƣợc
những con ngƣời tâm tƣ có khát vọng giao cảm. Sự sắn bó gần gũi mật thiết với cộng đồng đã
giúp cho con ngƣời trong thơ ông không có hiện tƣợng rơi vào trạng thái cực đoan đáng tiếc.
Trong hạnh phúc tràn đầy hay trong buồn đau uất nghẹn, những nhân vật trữ tình trong thơ
Nguyễn Bính vẫn còn có chỗ để nƣơng náu và do vậy những con ngƣời ấy vẫn tìm đƣợc sự
cân bằng về tâm lý, tình cảm. Tình mẹ thƣơng con, tình chị thƣơng em, những "tơ lòng" với
cô hàng xóm... Trong nhịp sống thong thả ngàn đời của thôn quê, những con ngƣời ấy bao
giờ cũng sẵn sàng chia xẻ, động viên nhau để sống:
Trời gần trời có xa đâu
Thế nào chị cũng qua cầu đắng cay.
(Xây hồ bán nguyệt)
Trong khi đó trong cô đơn, con ngƣời trong thơ của Vũ Hoàng Chƣơng lại đến bàn
đến, thuốc phiện, tìm quên lãng trong say sƣa và trụy lạc:
Say đi em! Say đi em!
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rƣợu, rƣợu nữa và quên, quên hết!
(Mời say - Vũ Hoàng Chƣơng)
Con ngƣời trong thơ Xuân Diệu đến với tình yêu để tìm an ủi nhƣng tình cũng chỉ là
tình mộng:
Bóng chiều đi vụt, bóng đêm nay
Tôi lại đa mang hận tháng ngày
Dƣới ánh trăng cƣời tôi kiếm mãi
Dấu bàn tay ấy ở trong tay.
89
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Với bàn tay ấy - Xuân Diệu)
Có thể thấy con ngƣời trong Thơ Mới nói chung và trong thơ Nguyễn Bính nói riêng
là con ngƣời ít hoạt động. Chủ yếu đó là con ngƣời của suy tƣ, đau đớn, cảm xúc, đào sâu vào
bản ngã. Với Nguyễn Bính so với việc miêu tả hàng loạt lớp ngƣời nhƣ thơ của Anh Thơ,
Đoàn Văn Cừ con ngƣời trong thơ ông vắng vẻ hơn và lặng lẽ hơn và mặc dù cũng có những
náo nức, xôn xao của nỗi lòng con ngƣời nhƣng những xôn xao náo nức ấy bao giờ cũng
đƣợc gói gọn trong sự tĩnh lặng của làng quê. Đồng thời khi miêu tả, thể hiện con ngƣời,
Nguyễn Bính rất chú trọng sự kết hợp vẻ đẹp hình thức với vẻ đẹp nội tâm. Những trang phục
nhƣ: "Yếm lụa sồi", "yếm đỏ", "khăn mỏ quạ", "quần nái đen", "thắt lƣng xanh", cùng với sắc
diện: "Màu má gái chƣa chồng", "đôi mắt trong"... đã trở thành một yếu tố thẩm mỹ của thơ
Nguyễn Bính. Sự kết hợp dó đã phác họa nên hình ảnh của những con ngƣời chân quê mộc
mạc mà thơ mộng trong thơ ông.
Bằng những cảm nhận tinh tế, bằng trái tim yêu thƣơng chân thành, tha thiết và bằng
khả năng nhập vai nhƣ chính ngƣời trong cuộc, Nguyễn Bính đã thể hiện đƣợc hình ảnh con
ngƣời "chân quê" mộc mạc mà thơ mộng. Con ngƣời trong thơ ông là con ngƣời cá nhân,
mang tất cả nhƣng suy tƣ trăn trở, những cảm xúc về tình yêu quê hƣơng, về tình yêu lứa đôi
và về tình yêu con ngƣời. Quan niệm đó chi phối toàn bộ thế giới nghệ thuật và tƣ duy nghệ
thuật trong thơ ông.
2/ Không gian và thời gian nghệ thuật
Không gian và thời gian nghệ thuật là phƣơng thức tồn tại và triển khai của thế giới
nghệ thuật. Trong nghệ thuật, không gian và thời gian không tách rời nhau.
Thời gian và không gian trong tự nhiên vận hành theo một qui luật nhất định: Gần -
xa, sớm - tối, xuân - hạ, thu - đông... Trong sáng tạo nghệ thuật, cũng có thể không gian và
thời gian đƣợc ngƣời nghệ sĩ sử dụng theo qui luật vận hành ấy nhƣng thông thƣờng khi đi
vào thế giới nghệ thuật, thời gian và không gian đã đƣợc lựa chọn, sắp xếp... Sáng
90
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
tạo lại thông qua quá trình chủ quan hóa sâu sắc của ngƣời nghệ sĩ để cho nó mang một chất
lƣợng mới, một nội dung thẩm mĩ mới.
Trong thơ Nguyễn Bính, không gian và thời gian nghệ thuật chính là một phƣơng thức
chiếm lĩnh thực tại của nhà thơ. Nguyễn Bính đƣợc mệnh danh là nhà thơ chân quê, không
gian và thời gian trong thơ ông chủ yếu là không gian và thời gian của làng quê. Qua một
buổi hội xuân, một đêm hội chèo, một lần hò hẹn, trên một bến sông, một con đƣờng làng,
một bờ đê, một căn nhà nhỏ, một mảnh vƣờn... Cùng với một trạng thái động của tâm hồn
con ngƣời, nhà thơ đã làm sống lại cái hồn của một làng quê cổ truyền Việt Nam thiêng liêng
mà gần gũi. Và nhƣ vậy cảnh quê thắm đẫm tình quê trong thơ ông không chỉ đơn thuần là
những vật thể bình thƣờng nữa, nó trở thành vật thể có hồn, sống động, trở thành hình tƣợng
nghệ thuật cụ thể, gợi cảm lại vừa khái quát thể hiện khả năng chiêm nghiệm là chiếm lĩnh
cuộc sống của nhà thơ.
Một trong những đặc điểm tâm trạng của cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là tâm
trạng hoài niệm. Tâm trạng hoài niệm trong thơ ông xuất phát từ sự ý thức và nỗi khắc khoải
về sự với cạn của văn hóa làng xã cộng đồng. Do đó không gian và thời gian, nhất là không
gian thời gian làng quê trong thơ Nguyễn Bính là không gian và thời gian hoài niệm, tức là
thời gian và không gian đƣợc tái hiện lại trong sự gợi nhớ, gợi thƣơng của tác giả, cho nên
thời gian, không gian ấy bao giờ cũng rất thi vị và đẹp.
2.1/ Không gian nghệ thuật
Không gian làng quê trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với những hình ảnh thân thuộc
mang tính chất cố hữu của làng quê: Cây đa, bến nƣớc, con đò, vƣờn cam, vƣờn dâu, vƣờn
xoan, ruộng lúa, bờ đê, ngõ làng... Không gian làng quê vừa cụ thể vừa là nỗi ám ảnh của thi
nhân về một cuộc sống quá khứ yên bình và tƣơi dẹp cho nên bao giờ cũng đặt trong sự hòa
hợp với màu sắc và mùi vị: “Trên con đƣờng đất đỏ ven đê", "Lúa thì con gái mƣợt nhƣ
nhung", "Lối này lắm bƣởi nhiều hoa" (Qua nhà); "Bữa ấy mƣa xuân phơi phới bay - Đầy
vƣờn hoa bƣởi hoa cam rụng (Xuân về) Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy (Mƣa xuân) "Nhà
nàng ở cạnh nhà tôi - Cách nhau cái giậu mùng tơi xanh rờn" (Cô hàng xóm)... trong cảnh
đẹp hữu tình thi vị đó là sắc diện và nỗi niềm của con ngƣời:
Trên đƣờng cát mịn, một đôi cô,
91
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Yếm đỏ, khăn thâm, trẩy hội chùa
Gậy trúc dắt bà già tóc bạc,
Tay lần tràng hạt, miệng nam mô.
(Xuân về)
Trên con đƣờng đất đỏ ven đê
Tôi đã vui mừng trở lại quê.
(Sống lại)
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngƣớc mắt nhìn giời đôi mắt trong.
(Xuân về)
Phải nói rằng không gian làng quê trong thơ Nguyễn Bính nồng nàn và ngọt ngào
trong sự cảm nhận của thi nhân. Sự thanh thoát hƣơng tình, sự xôn xao biến động nằm trong
cái lặng lẽ đời thƣờng, thế giới cảnh vật của không gian bao giờ cũng tƣơng quan với thế giới
nỗi niềm của con ngƣời và góp phần lột tả thế giới nỗi niềm ấy. Không gian yên bình thơ
mộng thuộc về thế giới tâm linh của con ngƣời, nó chính là những ƣớc mơ, khác khoải đến
nao lòng của thi nhân cho nên bao giờ cũng gợi hình, gợi cảm và góp phần đƣa con ngƣời cá
nhân trở về với trạng thái thƣ thái, đƣợc trấn an để quên đi cảm giác cô đơn, cảm giác bất an
của mình. Khác với không gian thơ mộng, hữu tình trong thơ Nguyễn Bính, không gian trong
thơ Xuân Diệu thƣờng vận hành theo chiều suy tàn, tan rã:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vƣờn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xƣơng mỏng manh.
(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)
Với không gian ấy con ngƣời càng thấy lẻ loi, cô độc. Huy Cận đem không gian rợn
ngợp của vũ trụ để nói lên cảm giác cô đơn, nhỏ bé của con ngƣời:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
92
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Con thuyền xuôi mái nƣớc song song
Thuyền về nƣớc lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
(Tràng giang- Huy Cận)
Không gian nghệ thuật và con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính thƣờng có sự tƣơng ứng,
tƣơng giao. Nguyễn Bính đặc biệt chú ý đến không gian mùa xuân. Trong tâm trạng thao thức
của cô gái chờ đợi đêm hội chèo để đƣợc gặp ngƣời yêu, không gian cũng trở nên tràn trề, rực
rỡ:
Bữa ấy mƣa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
(Mƣa xuân)
Không gian mùa xuân càng rực rở hớn, lung linh hơn khi con ngƣời đang tha thiết
giao cảm:
Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chƣa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngƣớc mắt nhìn trời đôi mắt trong.
(Xuân về)
Khi tâm trạng con ngƣời thay đổi không gian cảnh vật cũng thay đổi:
Bữa ấy mƣa xuân đã ngại bay
Hoa xuân đã nát dƣới chân giày.
(Mƣa xuân)
Hay:
Cái ngày cô chƣa có chồng
Đƣờng gần tôi cứ đi vòng cho xa
Lối này lắm bƣởi nhiều hoa.
(Qua nhà)
Khi cô gái đi lấy chồng thì:
Từ ngày cô đi lấy chồng
93
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Gớm sao có một quãng đồng mà xa
Bờ rào cây bƣởi không hoa
Qua bên nhà thấy bên nhà vắng teo.
(Qua nhà)
Thể hiện không gian thôn quê, Nguyễn Bính đã vẽ những nét bút đặc tả làm cho cảnh
quê trong thơ ông trở nên gợi cảm và thấm đẫm hồn quê. Không gian quê trong thơ Nguyễn
Bính chính là không gian của sự mời gọi tình yêu: Tình yêu quê hƣơng, yêu con ngƣời, yêu
cuộc sống và tình yêu đôi lứa, là không gian của nỗi niềm, tâm trạng cảnh quê và tình quê
luôn nằm trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau
Trong thơ Nguyễn Bính, không gian đô thị không nhiều nhƣng nó luôn gắn với cảm
giác chênh vênh, bất an của cá thể:
Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh
Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ
Tôi thấy quanh tôi và tất cả
Kinh thành Hà Nội chít khăn xô.
(Viếng hồn trinh nữ)
Hay:
Hà Nội ba mƣơi sáu phố phƣờng,
Lòng chàng đã dứt một tơ vƣơng,
Chàng qua chiều ấy qua chiều khác,
Nhƣ một ngƣời đi giữa đám tang.
(Hà Nội ba mƣơi sáu phố phƣờng)
Trong cảm nhận của thi nhân, không gian đô thị luôn vận động một cách chậm chạp,
căng thẳng và dồn nén nhƣ chính tâm thái ngột ngạt, cô đơn và bất an của cái tôi trữ tình.
Những không gian hình thành từ tâm thức của chủ thể là không gian chia ly và không
gian gián cách. Trong thơ Đƣờng và thơ trung đại, không gian chia ly tiễn biệt thƣờng xuất
hiện hình ảnh của bến đò, chiếc cầu, ngàn dâu xanh. Không gian chia ly của Nguyễn Bính
cũng xuất hiện những vật thể truyền thống nhƣng lại mang tố chất thẩm mỹ mới: Nếu
94
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
những cuộc chia ly trong thơ cổ diễn ra vì những khao khát, chí "Tang bồng hồ thỉ" của đàn
ông thì trong thơ Nguyễn Bính là chia ly tình duyên và chia ly giang hồ. Không gian chia ly
của Nguyễn Bính vì thế vừa mang tính truyền thống vừa mang tính hiện dại.
Không gian chia ly về tình duyên với hình ảnh con sông con thuyền, nhịp cầu trong
thơ Nguyễn Bính không mang lại những liên tƣởng về cuộc hội ngộ mà tạo cảm giác chia ly
xa cách:
Bỏ thuyền, bỏ bến, bỏ dòng sông
Cô lái đò kia đi lấy chồng.
(Cô lái đò)
Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ
….
Cách mấy mƣơi con sông sâu
Là trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Không gian chia ly trong tình duyên là không gian vừa thực vừa ảo: "Bến đò đã tắt
chuyến sang ngang", "Đƣa nàng sang tận bến đò ngang", "Tình đã sang sông đã tới bờ" "Tuy
gang tấc ấy mà tôi biết - ngƣời cách sông rồi tôi cách sông", "Bỏ thuyền, bỏ lái, bỏ dòng
sông"... Những không gian nhƣ thế này ẩn chứa đầy tâm trạng "trăm cay ngàn đắng" của
những cuộc tình dang dở và những cô gái phải lấy chồng trong cảnh "đồng sàng dị mộng"
Việc sử dụng và lựa chọn chất liệu miêu tả trong không gian chia ly của Nguyễn Bính đã thật
sự làm rung cảm trái tim ngƣời đọc làm cho ngƣời ta thấu hiểu hơn và đồng cảm hơn với nỗi
đau của con ngƣời.
Không gian chia ly với hình ảnh của con tàu, nhà ga là không gian mang tính chất
hiện đại, với không gian này con ngƣời trở nên cô đơn và nhỏ bé hơn:
Tàu chạy hình nhƣ để chở buồn,
Chở ngƣời đi nhớ kẻ về thƣơng
95
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nâng bao nhiêu gót chân xinh đẹp?
Tàu chạy đêm nay có lạc đƣờng?
(Chuyến tàu đêm)
Hay:
Lừng lững tàu đi mất nửa rồi
Sao không dừng lại ở ga tôi?
Lấy mƣơi lăm phút cho tôi gửi
Chút ít xuân xanh trả lại giời.
(Chuyến tàu đêm)
Không gian chia ly chứa đựng những lo âu, bất ổn và đe dọa đến thân phận con ngƣời.
Tâm thức cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính bao giờ cũng có nỗi niềm hoài vọng,
thiết tha giao cảm với cuộc đời. Nhƣng rồi liệu khát khao đó có trở thành hiện thực? Không
gian gián cách là loại không gian mà nhân vật ở không gian này trông ngóng về không gian
khác. Loại không gian này bao giờ cũng có vật cản:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn.
(Ngƣời hàng xóm)
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đƣờng sang đã đành
Nhƣng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy cho tình xa xôi?
(Tƣơng tƣ)
Loại không gian này đƣợc Nguyễn Bính sử dụng trong khi thể hiện tình duyên hoặc
nỗi hoài hƣơng của con ngƣời đi xa:
Quê nhà xa lắc, xa lơ đó
Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.
(Hành phƣơng nam)
96
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Trong không gian gián cách thông thƣờng thì cảnh vật và con ngƣời hòa quyện với
nhau, nhƣng vẫn có một khoảng cách nhất định ở giữa để tạo ra một không gian thƣơng nhớ
và giấc mơ hợp nhất. Không gian gián cách trong thơ Nguyễn Bính là phƣơng thức không
gian để tâm trạng nỗi lòng của nhân vật đƣợc bộc lộ rõ hơn.
Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính là không gian của sự gợi nhớ, gợi
thƣơng, của tâm tƣ hoài niệm. Tình yêu cùng với chất lãng mạn của thi nhân đã tạo cho
không gian ấy thƣờng ấm áp và gợi mở tình ngƣời. Đây chính là cơ sở hình thành hệ thống
hình ảnh nghệ thuật trong thơ ông.
2.2/ Thời gian nghệ thuật
Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính cũng là thời gian trong hoài niệm: tức là
thời gian quá khứ. Thời gian nghệ thuật của thi nhân thiếu hẳn thời gian lịch sử xã hội mà tập
trung thể hiện thời gian cá nhân của đời ngƣời. Đó là thời gian của tâm trạng, nỗi niềm.
Thời gian nghệ thuật chính là thời gian đƣợc tái hiện qua tâm tƣởng của nhà thơ. Vì
vậy trong thơ Nguyễn Bính những từ ngữ chỉ thời gian quá khứ có tần số xuất hiện rất nhiều:
Bữa ấy, thời trƣớc, năm xƣa, cái ngày, thuở ấy... Theo một thống kê chƣa đầy đủ, đã có 19
lần nhà thơ sử dụng những từ ngữ này. Ngoài ra còn có sự xuất hiện của các từ: Thuở trƣớc,
buổi vui xƣa, ngàn xƣa, vƣờn cũ, chuyện xƣa... vì vậy cuộc sống và con ngƣời trong thơ
Nguyễn Bính, đặc biệt là cuộc sống và con ngƣời nông thôn đƣợc tác giả thể hiện qua một
quãng lùi của thời gian. Nhà thơ lấy sự thay đổi của cuộc sống hiện tại để nhìn nhận những
giá trị văn hóa bất biến của cuộc sống quá khứ. Sự trở lại với thời gian quá khứ chuyển tải
những khắc khoải và hoài vọng của thi nhân về giá trị cuộc sống của một thời đã qua mà
không gì cứu vãn lại đƣợc.
Có hai loại thời gian tâm tƣởng trong thơ Nguyễn Bính: Thời gian tâm tƣởng mang
tính chất tuần hoàn và thời gian tâm tƣởng mang tính chất khách quan.
Trong tâm thức của ngƣời thôn quê, thời gian tuần hoàn là thời gian mà mọi vật nhƣ
"Vầng trăng vơi rồi lại đầy" không mất đi đâu cả, thời gian trôi đi một cách bình thản không
đƣợc đo, đếm một cách chính xác. Trong thơ Nguyễn Bính, thời gian tuần hoàn đƣợc miêu tả
trong sự ngƣng
97
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
đọng tĩnh lặng của cuộc sống. Thời gian biểu hiện "Thần thái" của cảm xúc cá nhân:
Thuở ấy làm sao thật thái bình
Trai hiền bạn với giá đồng trinh
Đời say men rƣợu thơm hoa rụng
Tràn những thơ ngây ngập cảm tình.
(Hoa với rƣợu)
Láng giềng đã đỏ đèn đâu
Chờ em ăn giập bã giầu em sang.
(Chờ nhau)
Đêm nay mới thật là đêm
Ai đem giăng giãi lên trên vƣờn chè.
(Thời trƣớc)
Thời gian tuần hoàn đƣợc biểu hiện trong tâm thức hoài niệm của nhân vật trữ tình,
trong ý thức khắc khoải về những giá trị văn hóa đã và đang mất. Do vậy cuộc sống và con
ngƣời trong thời gian tuần hoàn bao giờ cũng là "tinh chất" của cái đẹp và đó là cái đẹp trong
tƣ thế tĩnh tại.
Tác giả cảm nhận thời gian theo cách cảm nhận của ngƣời dân quê. Làng xóm từ xƣa
vẫn dựa vào những hiện tƣợng của thiên nhiên để nhận biết về thời gian. Ban ngày thì theo
bóng nắng, ban đêm thì theo ánh trăng, rồi tiếng gà gáy sớm... đều có khả năng báo hiệu về
thời gian. Thơ Nguyễn Bính cũng tìm đến cách biểu hiện đó.
Thời gian trong thơ Xuân Diệu là thời gian vận động một cách hối hả, thù địch với
hạnh phúc và tuổi xuân:
Xuân đang đến nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Và xuân hết nghĩa là tôi cũng mất
Lòng tôi rộng nhƣng lƣợng trời cứ chật.
(Xuân Diệu)
Với Chế Lan Viên thời gian là nấm mồ chôn tuổi xanh:
98
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Cả dĩ vãng là chuỗi mồ vô tận
Cả tƣơng lai là chuỗi huyệt chƣa thành
Và hiện tại biết cùng chăng hỡi bạn
Cũng đang chôn mòn mõi chuỗi ngày xanh.
(Chế Lan Viên)
Thời gian đƣợc định vị nhƣ vậy cho nên con ngƣời bao giờ cũng phải có ý thức chống
chọi với nó.
Thời gian tuần hoàn trong thơ Nguyễn Bính vừa giúp con ngƣời cân bằng tâm lý,
sống trong tâm thức cộng đồng vừa tạo cảm giác bâng khuâng lƣu luyến về một quá khứ đã
đi qua.
Thời gian khách quan trong thơ Nguyễn Bính là thời gian một chiều, thời gian vận
động theo hƣớng một đi không trở lại sự chuyển động của thời gian của tác giả miêu tả qua
sự liên tục của sự chuyển động từ đông sang xuân. Các sự kiện đƣợc miêu tả có tính liên tục
"đã thấy xuân về với gió đông", "Với trên màu má gái chƣa chồng", "Lá nõn nhành non ai
tráng bạc ", "Lúa thì con gái mƣợt nhƣ nhung", "Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng", "Trên
đƣờng cát mịn một đôi cô - Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa" liên kết các sự kiện chúng ta
thấy đƣợc bƣớc đi hữu hình của thời gian mùa xuân từ mơ hồ đến rõ rệt. Từ nụ xuân đến
xuân đến. Nhìn ở hƣớng khác chúng ta thấy mùa xuân khởi từ vụ trụ đến vạn vật rồi đến lòng
ngƣời. Mùa xuân đƣợc nhân hóa theo chiều từ cao xuống thấp. Đó là không gian. Xuân về là
sự gặp gỡ của thời gian. Trong thơ Nguyễn Bính thời gian mùa xuân hòa hợp trong sự xôn
xao náo nức của thiên nhiên và tâm trạng con ngƣời: Cô hàng xóm "ngƣớc mắt nhìn trời đôi
mắt trong", cô thôn nữ "Lòng thấy giăng tơ một mối tình", "Trên đƣờng cát mịn một đôi cô -
Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa".
Thời gian khách quan tồn tại không chỉ là một chuỗi các sự kiện nối tiếp còn là một
sự thay đổi trong bản thân mỗi sự vật. Một sự vật nào đó ở thời điểm khác thì nó không còn
là nó nữa mặc dù vẻ ngoài hoặc tên gọi không thay đổi:
Hôm nay có một ngƣời du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên.
(Xóm Ngự Viên)
99
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thời gian không chỉ tác động lên sự vật mà còn tác động lên cả con ngƣời:
Ở mãi kinh kỳ với bút nghiêng
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
Xót xa một buổi soi gƣơng cũ
Thấy lệch bao nhiêu mặt chữ điền.
(Sao chẳng về đây)
Thời gian khách quan trong thơ Nguyễn Bính gắn liền với tâm trạng ngậm ngùi, sự ý
thức sâu sắc về cá nhân của chủ thể trữ tình. Cùng với bƣớc đi của thời gian là nỗi niềm và
cảm xúc của con ngƣời, là nỗi âu lo của cái tôi trƣớc một cuộc sống đang thay đổi.
Cách tổ chức thời gian tâm tƣởng đã giúp Nguyễn Bính thể hiện cái tôi chân quê và
cái tôi thời đại trong thƣ ông đạt hiệu quả cao hơn. Nó mang đậm dấu ấn quan niệm chủ quan
về thế giới và con ngƣời của nhà thơ. Cách tổ chức thời gian ấy thể hiện nỗi lòng và những
mơ ƣớc, khát khao của ông đối với cuộc đời tạo sự đồng cảm về nỗi niềm bâng khuâng lƣu
luyến cho ngƣời đọc.
3/ Giọng điệu nghệ thuật
Giọng điệu nghệ thuật là một trong những hình thức bộc lộ rõ chủ quan nhất, nó là âm
hƣởng chung trong cách cảm, cách nhìn, thái độ, lập trƣờng... của tác giả. Giọng điệu không
chỉ là vấn đề của phong cách nghệ thuật mà còn là yếu tố quan trọng tạo thành nội dung tƣ
tƣởng, tình cảm của tác phẩm. Đối với ngƣời đọc, nắm bắt đƣợc giọng điệu sẽ là cơ sở đi vào
cái "thần" , "hồn" của tác phẩm. Thơ trung đại chủ yếu sử dụng giọng thơ trữ tình điệu ngâm
và nhạc điệu cách luật cho nên ít thể hiện cá tính sáng tạo. Thơ mới 1932 - 1945 đã thực sự
có một cuộc cách tân về giọng điệu. Đó là giọng điệu thoát ra từ khúc nhạc lòng của một cái
tôi trữ tình nội cảm. Trần Đình Sử dã nhận xét: “Thơ Mới sử dụng giọng điệu trực tiếp của
lời nói của tiếng kêu than, tạo thành thơ trữ tình điệu nói". [Trần Đình Sử (38,43)].
100
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Do vậy, câu thơ dƣờng nhƣ không phải là của ai cả, không hƣớng tới ai cả, nó chỉ là
biểu hiện của cái nhìn trầm tƣ nội tại.
Nói về giọng điệu nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính, Hà Minh Đức cho rằng: "Có thể
ông đã chịu ảnh hƣởng của điệu than, của nhiều làn điệu dân ca. Điệu than đã đƣa ngƣời đọc
đến những vùng mù sự rung cảm của hai trái tim trào lên bao cảm hứng với chuyện đời dang
dở cay đắng". [Hà Minh Đức (15, 53)].
Sử dụng tài tình thể thƣ dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn lời ăn tiếng nói hàng ngày của
nhân dân cùng với khả năng khám phá thế giới nội tâm của con ngƣời với tất ca những cung
bậc tình cảm từ hạnh phúc, yêu thƣơng đến buồn đau u uẩn là cơ sở tạo nên giọng điệu thơ
Nguyễn Bính. Phải nói rằng cái tôi buồn bã cô đơn cùng với những nỗi niềm yêu thƣơng khắc
khoải đã tạo cho thƣ Nguyễn Bính mang khá nhiều giọng điệu ngậm ngùi, xót xa cổ tính chất
thở than. Tuy nhiên, giọng điệu trong thơ ông không chỉ là giọng điệu ngậm imùi mà cùng
với tất ca các sắc thái tình cảm của con ngƣời: Yêu, thƣơng, nhớ mong, hờn dỗi, tiếc nuối...
đã đƣợc nhà thơ thể hiện một cách tài tình nong một giọng điệu trong phù hợp với tâm tƣ nỗi
niềm, tình cảm của nhân vật trữ tình để rồi cùng với những yếu tố nội dung và nghệ thuật
khác, giọng điệu góp phần tạo nên giá trị và phong cách riêng của thơ ông.
Con ngƣời trong thơ Nguyễn Bính là con ngƣời của nỗi lòng, nỗi niềm, con ngƣời của
đời sống nội tâm. Con ngƣời đƣợc thể hiện nhƣ vậy sẽ kéo theo sự thể hiện của giọng điệu
nghệ thuật. Ở đây, luận văn không có tham vọng đi vào tìm hiểu thế giới của nhịp điệu trong
thơ Nguyễn Bính với tất cả sự hòa quyện của giọng điệu, sắc thái và cƣờng độ cảm xúc cùng
với chất nhạc trong thơ mà chỉ xin đề cập đến một số giọng điệu nhƣ là phƣơng thức biểu
hiện của cái tôi trữ tình. Và nhƣ vậy, thế giới của tâm hồn với tất cả các sắc thái tình cảm sẽ
tạo nên giọng điệu đó cho thơ.
Trong giao tiếp hàng ngày có rất nhiều loại giọng điệu. Sử dụng khéo léo giọng điệu
sẽ tạo ra một hiệu quả cao trong giao tiếp. Trong nghệ thuật, hiệu quả của giao tiếp còn thể
hiện ở chỗ giọng điệu trong thơ có tạo ra đƣợc sự cộng hƣởng cảm hứng bên trong để làm âm
vang tâm hồn ngƣời đọc hay không. Tức là ở đây giọng điệu nghệ thuật đã có sự hòa quyện
của nhân lố khách quan và chủ quan, giọng điệu của đời
101
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
sống đã có sự cộng hƣởng chặt chẽ, đằm thắm tự bên trong của xúc động nội tâm. Trong thơ
Nguyễn Bính, cái tôi đứng ở trung tâm cảm hứng, giải bày, thổ lộ với một cảm xúc yêu
thƣơng, khát khao đồng cảm và chia sẻ là hạt nhân tạo nên giọng điệu của thƣ. Chính vị thế
ấy mà những bài thơ viết về quê hƣơng với một cuộc sống yên bình, thong thả và với một
cảnh sắc hài hòa trong thơ ông thƣờng mang một giọng điệu ấm áp, thiết tha trong trẻo:
Xanh cây xanh cỏ xanh đồi
Xanh rừng xanh núi da trời cũng xanh
Áo chàm cô Mán thanh thanh
Mắt xanh biêng biếc một mình tƣơng tƣ.
(Xanh)
Giọng điệu thiết tha trong trẻo ấy mang âm điệu tƣơi vui rộn rã của cuộc sống, của đất
trời:
Chƣa hè trời đã nắng chang chang
Tu hú vừa kêu, vải mới vàng
Hoa gạo tàn đi cho sắc đỏ,
Nhập vào sắc đỏ của hoa xoan.
….
Đƣờng lên chợ tỉnh xa tăm tấp...
Nắng mới, ôi chao! Cát bụi mù.
Các chị trong làng đi bán lụa
Giắt đầu từng nắm lá hƣơng nhu.
(Cuối tháng ba)
Mang khúc nhạc lòng của con ngƣời khi nghĩ về mảnh đất mà mình đã sinh ra:
Thôn Vân có biếc có hồng
Hồng trong nắng sớm biếc trong vƣờn chiều
Đê cao có đất thả diều
Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay.
102
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Quả lành trĩu nặng cành cây
Sen đầy ao cá cá đầy ao sen
….
Ăn gỏi cá đánh cờ ngƣời
Thần tiên riêng một góc trời thôn Vân.
(Thôn Vân)
Lắng đọng tình yêu đối với hồn quê:
Quê tôi có gió bốn mùa
Có giăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông hôm, gió sớm, trăng rằm
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi.
(Quê tôi)
Giọng điệu vừa đằm thắm yêu thƣơng, vừa thiết tha trong trẻo mang đầy cảm xúc yêu
thƣơng của thi nhân đã gợi lên vẻ đẹp thi vị, ngọt ngào của quê hƣơng qua vùng ký ức của
"cái tôi", đó chính là cơ sở để cái tôi trữ tình bộc lộ tiếng nói của nỗi lòng lúc nào cũng đằm
thắm hƣớng về một làng quê tĩnh lặng, một làng quê sâu nặng nghĩa tình nhƣ tìm kiếm một
sự đồng vọng, một chỗ dựa của tâm linh. Hƣớng về con ngƣời, hƣớng về quê hƣơng, thơ
Nguyễn Bính mang giọng điệu ấm áp tƣơi vui chuyển tải nỗi lòng rạo rực, thiết tha giao cảm
của con ngƣời, của đất trời mỗi khi xuân về.
Từng đàn con trẻ chạy xun xoe
Mƣa tạnh giời quang nắng mới hoe
Lá nõn nhành non ai tráng bạc
Gió về từng trận gió bay đi.
Thong thả dân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mƣợt nhƣ nhung
Đầy vƣờn hoa bƣởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hƣơng bay, bƣớm vẽ vòng.
103
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
(Xuân về)
Hồn thơ ông nhƣ thể cất lên thành lời ca, tiếng reo vui bộc lộ:
Đây cả mùa xuân đã đến rồi
Từng nhà mở cửa đón vui tƣơi
Từng cô em bé so màu áo
Đôi má hồng lên nhí nhảnh cƣời
….
Pháo nổ đâu đây khói ngợp trời
Nhà nhà đoàn tụ dƣới hoa tƣơi
Lòng tôi nhƣ cánh hoa tiên ấy
Một áng thơ đề nét chẳng phai.
(Thơ xuân)
Và trong không khí rạo rực, tha thiết mang hơi thở của cuộc sống đang phập phồng
đấy, một chút xao xuyến bâng khuâng của lòng ngƣời cũng đã đƣợc nhà thơ kịp thời nắm bắt,
lột tả bằng giọng thơ tƣơi vui ấm áp:
Làng đêm vào đám, tối nay chèo
Nàng thấy bà đi, tất tƣởi theo.
Tằm tơ kéo đƣợc đôi khuyên bạc
Giấu giếm nay nàng mới dám đeo.
Nàng đẹp mà nàng lại có duyên
Trai thôn thầm liếc, liếc thầm khen.
Thấy họ nhìn mình, nàng quá thẹn
Níu bà về để tháo đôi khuyên.
(Đôi khuyên bạc)
Cái duyên quê đã đƣợc bộc lộ qua giọng thơ yêu thƣơng ấm áp và trong trẻo ấy.
104
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Mùa xuân là mùa của sự sống, của niềm vui, hạnh phúc và khi tết đến xuân về, là lúc
nỗi lòng của con ngƣời hƣớng về tổ tiên ông bà. Nỗi lòng ấy đƣợc nhà thơ thể hiện qua giọng
thơ trang nghiêm, thành kính mang hơi thở ấm áp của cuộc sống:
Tết đến mẹ tôi vất vả nhiều
Mẹ tôi lo liệu đủ trăm chiều
Sân gạch tƣờng hoa ngƣời quét lại
Vẽ cung trừ quỉ giồng cây nêu.
….
Mẹ tôi thắt lại chiếc khăn sồi
Rón rén lên bàn thờ ông tôi
Đôi mắt ngƣời trông thành kính quá
Ngƣớc xem hƣơng cháy đến đâu rồi.
(Tết của mẹ tôi)
Quảng đại quần chúng độc giả tìm đến thơ Nguyễn Bính bởi vì những bài thơ chứa
đựng tâm trạng, gần gũi với tâm hồn và tính cách ngƣời Việt ấy đã đƣợc thể hiện bằng một
thứ từ ngữ, giọng điệu quen thuộc: Giọng ca dao, dân ca. Thơ Nguyễn Bính có rất nhiều bài
thơ là lời tâm sự giãi bày. Những lời tâm sự giãi bày này có khi là lời của cái tôi trữ tình nhập
vai có khi là lời của chủ thể đối với nhân vật trữ tình. Và ở bất cứ vị thế nào Nguyễn Bính
cũng chứng tỏ đƣợc khả năng cảm nhận và nắm bắt đƣợc những biểu hiện của thế giới nội
tâm phong phú, đa dạng của mình để rồi những âm vang của nỗi lòng con ngƣời có một tác
động thẩm mĩ rất lớn đối với ngƣời đọc.
Giọng tâm tình trong thơ Nguyễn Bính có khi mang âm hƣởng ân tình tha thiết, có khi
mang âm hƣởng ngậm ngùi xót xa. Nỗi ngậm ngùi xót xa của một cái tôi tha hƣơng cảm thấy
cô đơn tìm kiếm sự đồng vọng và một cái tôi lúc nào cũng cảm thấy lỡ làng, nhất là lỡ làng
trong tình yêu sự ngậm ngùi đó của nhân vật trữ tình không chỉ trầm sâu trong nội tâm mà
còn đƣợc bộc bạch thành lời, thành điệu làm cho nỗi niềm của nhân vật trữ tình càng bộc lộ
rõ, và chân dung của nhân vật trữ tình biểu hiện và sống động hơn:
105
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Xa lắm rồi Nhi! Muộn lắm rồi
Bẽ bàng lắm lắm nữa Nhi ơi!
Từ ngày Nhi bỏ nơi làng cũ
Mộng ngát duyên lành cũng bỏ tôi.
(Hoa với rƣợu)
Giọng điệu ngậm ngùi làm cho nỗi khát khao giao cảm của cái tôi đối với cuộc đời
càng tha thiết hơn:
Em có bao giờ hiểu đƣợc tôi
Giờ đây em đã phụ tôi rồi,
Cho tôi đƣợc khóc vì tôi thấy
Tôi đã tan hoang cả kiếp ngƣời.
(Cho tôi đƣợc khóc)
Có khi giọng thơ tâm tình trong âm hƣởng ngậm ngùi mang màu sắc đối thoại vừa tạo
cảm giác khát khao chia xẻ, vừa tạo cảm giác gần gũi:
Chị có yêu thì chị mới ghen,
Ai mà trách chị đƣợc, nhƣng xin
Chị đừng khóc nữa, đừng buồn nữa,
Chả có bao giờ ngƣời ấy quen.
(Chị đã ghen)
Hay:
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn nhƣ cây lụa trắng
Mẹ già chƣa bán chợ làng xa.
(Mƣa xuân)
Cũng có khi giọng thơ mang âm hƣởng ngậm ngùi đi đôi với sự chiêm nghiệm một
triết lý có phần cực đoan:
Chao ơi! Ba bốn tao ân ái
106
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Đã đủ tan tành một kiếp trai.
(Giời mƣa xứ Huế)
Trong những bài thơ viết về nỗi niềm của con ngƣời tha hƣơng, khi nghĩ về quê
hƣơng giọng thơ mang âm hƣởng ngậm ngùi ấy đã chuyển tải đƣợc tình yêu quê hƣơng tha
thiết đồng thời khắc sâu hơn sự cô đơn lòng sầu xứ của con ngƣời.
Rƣợu uống kỳ say bữa thất thƣờng
Buồn nhƣ tên lính ở biên cƣơng.
Đêm ba mƣơi tết, trời mƣa bụi,
Sực nhớ quê nhà uống rƣợu suông.
(Mùa đông nhớ cố nhân)
Hoa mai quán trọ trắng nhƣ sƣơng.
Len với hoa đào dƣới khóm dƣơng
Dang dở một thân nơi đất khách,
Tết này ta lại ngắm hoa suông.
(Quán trọ)
Có những bài thơ nhà thơ sử dụng nhiều chất giọng đan xen để làm nổi bật tâm trạng,
nỗi niềm và cả số phận của cả nhân vật trữ tình. Bài "Mƣa xuân" là một khúc nhạc lòng với
tất cả sự hòa âm phối sắc đƣợc nhà thơ kết hợp để miêu tả tâm trạng của một cô gái đang yêu
chờ đợi ngƣời yêu. Giọng thơ tâm tình mà cô tự kể mang đủ cái âm hƣởng xao xuyến, bồi hồi
và náo nức:
Bữa ấy mƣa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
(Mƣa xuân)
Nhƣng rồi chờ đợi không dƣợc thỏa lòng, giọng thơ chuyển sang trách móc hờn dỗi:
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn
107
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Để cả mùa xuân cùng nhỡ nhàng!
(Mƣa xuân)
Lời trách móc chẳng đến mức chì chiết nhƣng vẫn ngầm mang nỗi ngậm ngùi, chua
xót. Giận cho ngƣời, tủi cho mình, giọng cô gái ở ''mƣa xuân" cũng giống giọng của chàng
trai trong "tƣơng tƣ":
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đƣờng sang đã đành
Nhƣng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy mà tình xa xôi...
(Tƣơng tƣ)
Sự thay đổi giọng điệu trong một bài thơ để làm bộc lộ những cảm xúc tƣơng tƣ của
nhân vật trữ tình cũng đƣợc Nguyễn Bính thể hiện tài tình trong bài: "Lỡ bƣớc sang ngang"
hay "Lòng mẹ". Từ giọng mắng:
Gái lớn ai không phải lấy chồng
Can gì mà khóc, nín đi không!
Nín đi, mặc áo ra chào họ
Rõ quý con tôi! các chị trông!
(Lòng mẹ)
Đã chuyển sang giọng tâm tình pha chút buồn man mát trong niềm hạnh phúc của con
cái:
Con ạ! đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đƣa thoi.
(Lòng mẹ)
Trong "Lỡ bƣớc sang ngang" có nhiều giọng điệu đan xen với nhau: Giọng bộc bạch
của ngƣời chị khi ngậm ngùi bi đát, khi tƣơi sáng kết hợp với lời gọi trực tiếp và giọng trần
thuật của ngƣời em đã làm nổi bật đƣợc thân phận và mở rộng đƣợc khả năng biểu đạt đến
mức tự nhiên thoải mái.
Những lời giải bày, bộc bạch trong thơ Nguyễn Bính tạo cho thơ ông một không khí
tâm tình chia sẽ đồng thời tạo tâm thế cho cá nhân thổ lộ,
108
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
mở lòng ra với đời. Lời thƣ giải bày bộc bạch giải phóng giọng điệu cá thể làm cho nó hiện ra
bề mặt đồng thời cải tạo chất nhạc trong thơ. Chất nhạc ấy, không phải nhạc điệu trầm bổng,
réo rắt do phối hợp bằng trắc tạo nên, mà do tiếng lòng, do hơi thở nhịp đập tình cảm tạo nên.
Giọng điệu nghệ thuật tâm tình, giãi bày mang âm hƣởng thiết tha tƣơi sáng và ngậm
ngùi trong thơ Nguyễn Bính xuất phát từ cái tôi trữ tình nội cảm nhẹ nhàng, êm dịu, đằm
thắm nhƣ lời tâm tình, tâm sự. Chất giọng này phù hợp với cái nhìn nghệ thuật về con ngƣời
nghệ thuật của ông là con ngƣời của nỗi niềm, của đời sống nội tâm. Hai giọng điệu chính
này đi đôi với hai hoàn cảnh tâm trạng của con ngƣời nghệ thuật làm cho thơ Nguyễn Bính
vốn thiên về thế giới tinh thần lại càng có thêm khả năng để khẳng định "sự ƣu thắng của giá
trị tinh thần" .(Vƣơng Trí Nhàn - Thế giới hôm qua).
4/ Thể thơ và các phương tiện nghệ thuật
4.1/ Thể thơ
Theo thống kê, trong những sáng tác của thi nhân trƣớc cách mạng tháng Tám, thơ lục
bát chiếm 45%, thơ 7 chữ chiếm 48%. Nhƣ vậy là thể thơ lục bát chiếm một vị trí rất đáng kể
và so với các nhà thơ mới đƣơng thời thì Nguyễn Bính có số lƣợng thơ làm bằng thể lục bát
nhiều nhất, rất nhiều bài thơ lục bát của ông tạo đƣợc hiệu quả thẩm mỹ cao đối với độc giả
và do đó nó cũng thể hiện đƣợc tài năng của nhà thơ khi tìm về với thể thơ dân gian quen
thuộc và trữ tình này.
Khi tìm hiểu về nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính các nhà nghiên cứu đều đánh giá
rằng thành còng nhất của ông là sử dụng nhuần nhị, đặc sắc thể thơ lục bát truyền thống và
đƣa vào đó cách nói, cách nhìn mới của con ngƣời thời đại làm cho thơ ông vừa tạo nên cái
đặc sắc của phong trào thơ mới lại vừa có cái độc đáo riêng, khó mà lẫn lộn với bất kỳ ai
khác. Điều này đã đƣợc Đoàn Thị Đặng Hƣơng khẳng định: "Về mặt thi pháp trên thi đàn thơ
mới, Nguyễn Bính có thể coi là một cách tân. Sáng tạo trong một cấu trúc có sẵn, một mô
hình truyền thống cố định là một khó khăn không kém sự sáng tạo ra cấu trúc mới cho thơ.
Ông là nhà thơ đầu tiên trên thi đàn hiện đại của thế kỷ này đã dùng hình thức thơ ca
109
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
dân gian (đặc biệt là ca dao dân ca) để chuyển tải nội dung thẩm mĩ của thơ mới: Nội dung
trữ tình của nhà thƣ lãng mạn" ( 50,73). Thơ lục bát vốn có sức mạnh ở cái hồn, cái duyên
trong lời thơ, bài thơ, ở âm diệu ngọt ngào và cái ý vị ẩn đằng sau tất cả các câu thơ, dòng
thơ:
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vƣờn hồng có lối ai vào hay chƣa
Mận hỏi thì đảo xin thƣa
Vƣờn hồng có lối nhƣng chƣa ai vào.
(Ca dao)
Những năm đầu của thế kỷ thứ XX ở Việt Nam, nhƣ một xu thế tất yếu, trƣớc sự du
nhập của văn hóa phƣơng Tây, đa phần các nhà thơ mới đã ít nhiều đều chịu ảnh hƣởng nghệ
thuật của các nhà thơ Pháp. Nhƣng với Nguyễn Bính thì không. Là một xuất thân trong một
gia đình nho giáo, lớn lên trong một làng quê mà trƣa hè có tiếng tre đƣa kẽo kẹt, xuân đến có
trăm hoa khoe sắc, có lối nhỏ qua nhà ai ngọt ngào hƣơng bƣởi, hƣơng cam, có những ngƣời
dân sống chan hòa sẵn sàng chia ngọt xẻ bùi... Nguyễn Bính đã thấm vào máu thịt của mình
cái chất sống dân dã, đậm đà của con ngƣời làng quê. Điều này đã biến ông thành nhà thơ của
làng quê Việt Nam không chỉ ở nội dung mà còn ở cách thể hiện.
Ngoài thể thơ lục bát, Nguyễn Bính còn làm thơ 7 chữ, thơ 5 chữ. Nhƣng sở trƣờng và
thành công nhất của ông vẫn là thơ lục bát. Thơ lục bát của ông vừa gần gũi, mang vẻ đẹp
của ca dao lại vừa là sự cách tân sáng tạo ở cả ý và tình điệu:
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
(Chân quê)
Sử dụng thể thơ lục bát, nhà thơ không đi sâu vào khai thác chất tâm lý cộng đồng
thƣờng có nhiều trong ca dao, dân ca mà chú ý vào việc khai thác chiều sâu tâm trạng, nỗi
niềm của cái tôi cá nhân. Nhà thơ "chân quê" đã không tìm về lục bát bằng sự mô phỏng đơn
giản mà đi
110
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
tìm sự hòa hợp giữa hồn quê trong ca dao với tâm tƣ, tình cảm của con ngƣời hiện đại:
Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bƣớm giang hồ gặp nhau.
(Tƣơng tƣ)
Hồn anh nhƣ hoa cỏ may
Một chiều cả gió bám đầy áo em
(Hoa cỏ may)
Hay:
Lòng anh nhƣ hoa hƣớng dƣơng
Trăm nghìn đổ lại một phƣơng mặt trời.
(Em với anh)
Cái tôi trữ tình tha thiết đằm thắm của nhà thơ đã đƣợc thể hiện rất sâu sắc, tinh tế
trong thể thơ lục bát. Chính hồn cốt dân tộc ngấm sâu trong tâm hồn nhà thơ là suối nguồn
tạo nên dòng chảy của ngôn từ qua những giây phút rung động của thi nhân. Và cũng sự
ngấm sâu đó đã làm cho thơ lục bát của thi nhân vừa mang vẻ đẹp lấp lánh của ca dao lại vừa
mang cá tính riêng và dấu ấn riêng của một nhà thơ lãng mạn. Đó là thể thơ lục bát bên cạnh
sắc thái cổ truyền còn mang thêm bản sắc của thơ mới: Những hình ảnh lạ, những từ ngữ mới
và một cái buồn man mác trong tâm hồn của lớp ngƣời tiểu tƣ sản vào những năm trƣớc cách
mạng tháng Tám.
Mang màu sắc ca dao, thơ lục bát của Nguyễn Bính khác hẳn với thơ lục bát mang
đậm ý tứ cá nhân nhƣ là một phƣơng tiện để biểu thị cái tôi cô đơn, nhỏ bé của nhà thơ Huy
Cận trƣớc cuộc đời:
Đêm mƣa làm gió không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nƣơng nƣớc giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
(Buồn đêm mƣa - Huy Cận)
111
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Hay:
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh, với ngƣời quạnh hiu
Non xanh ngây cả buổi chiều
Nhân gian e cũng tiêu điều dƣới kia
(Thu rừng - Huy Cận)
Những bài thơ lục bát của Nguyễn Bính nhƣ: Chân quê, Tƣơng tƣ, Ngƣời hàng xóm,
Lỡ bƣớc sang ngang... vừa thanh thoát gợi cảm, mang màu sắc ca dao, vừa chải chuốt điêu
luyện:
Em ơi! Em ở lại nhà
Vƣờn dâu em hái mẹ già em thƣơng
Mẹ già một nắng hai sƣơng
Chị đi một bƣớc trăm đƣờng xót xa.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Cau thôn Đoài ngồi nhớ giầu không thôn nào.
(Tƣơng tƣ)
Ca dao dân ca là biểu hiện sinh động của hình thái Folklore dân tộc. Đây là nơi chứa
đựng trí tuệ, thần thái, tâm linh ngƣời Việt. Nguyễn Bính, từ mảnh đất văn hóa dân gian này,
đã khai thác và khơi nguồn sáng tác làm giàu cho sáng tác của mình.
Nếu trong ca dao có những câu:
- Yên nhau tam tứ cũng trèo
Ngũ lục sông lội, thất bát đèo cũng qua.
- Những lời mình nói với ta
Sông sâu hóa cạn đƣờng xa hóa gần
Ai ngờ ra dạ lần khân
Sông cạn lại thẳm, đƣờng gần lại xa.
Thì ta gặp trong thơ Nguyễn Bính:
112
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nhà em cách bốn quả đồi
Cách ba ngọn suối cách đôi cánh rừng
Nhà em xa cách quá chừng
Em van anh đấy, anh đừng yêu em.
(Vài nét rừng)
Cái ngày cô chƣa có chồng
Đƣờng gần tôi cứ đi vòng cho xa
Từ ngày cô đi lấy chồng
Gớm sao có một quãng đồng mà xa.
(Qua nhà)
Có thể nói, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ cách tân lớn của thể thơ lục bát
và cả nội dung lẫn hình thức. Kết hợp chặt chẽ với thi pháp dân gian, ông đã mở rộng sức thể
hiện của nó. Với Nguyễn Bính, thể thơ lục bát dân tộc đã phát triển đến đỉnh cao trong thi đàn
hiện đại. Thơ của ông luôn luôn đổi mới, muôn màu muôn vẻ, tránh đƣợc cảm giác nhàm
chán của những nhịp thơ, một hòa âm cố định mà lục bát thƣờng hay dẫn đến và với những
sáng tác độc đáo của riêng mình, Nguyễn Bính đã mang đến cho thơ hiện đại Việt Nam một
dáng vẻ mới, một sinh lực mới và một sự đa dạng mới không thể phủ nhận đƣợc.
Sử dụng nhuần nhị thể thơ lục bát, Nguyễn Bính đã thổi vào hồn thơ của mình tính
chất và tâm hồn dân tộc. Điều này góp phần thể hiện cái tôi trữ tình độc đáo và ý nhị trong
thơ ông.
4.2/ Ngôn ngữ
Về mặt ngôn ngữ, thơ Nguyễn Bính thể hiện đƣợc tiếng nói tâm tƣ tình cảm của thế
giới nội tâm con ngƣời. Nó chứa đựng đƣợc chiều sâu của sự suy nghĩ và những cảm nhận
tinh tế, đầy sáng tạo của một nhà thơ đƣợc mệnh danh là "chân quê".
Ngôn ngữ thơ của Nguyễn Bính giản dị, trong sáng và đậm đà màu sắc dân gian, dân
tộc. Từ kho làng ngôn ngữ dân gian, nhà thơ đã lựa chọn chắt lọc để làm giàu cho phƣơng
thức biểu hiện của riêng mình. Có
113
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
lẽ sống nhiều năm ở nông thôn, những lời ăn tiếng nói, cách cảm, cách nghĩ của bà con, hàng
xóm đã thấm sâu vào tâm hồn của ông, để rồi trong những giây phút xúc cảm nồng lên, nhà
thơ đã viết ra những vần thơ trữ tình đằm thắm mang đậm màu sắc dân tộc.
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi trữ tình nội cảm, cái tôi của thế giới
nội tâm phong phú của con ngƣời. Để thể hiện cái tôi trữ tình ấy, nhà thơ đã sử dụng những
ngôn ngữ giàu hình ảnh quen thuộc. Thế giới của hồn quê, tình quê trong thơ ông là thế giới
của những từ ngữ, dậu mùng tơi, vƣờn chè, tiếng trống chèo, hoa xoan, hoa bƣởi, hoa cam,
giời cao, gió cả, trăng sáng... Giống nhƣ thơ ca dân gian, nhà thơ đã dùng những mã cụ thể,
mã hiện thực để diễn tả những mã trừu tƣợng, mã thẩm mỹ của cảm xúc nghệ thuật. Trong sự
tiếp thu này nhà thơ đồng thời cũng đã đƣa vào thơ những khái niệm, những cảm xúc thẩm
mỹ mới làm cho nó vừa có sức gợi hình, gợi cảm mạnh, lại vừa có hồn. Hãy thử đọc một
đoạn thơ trong bài thơ " Qua nhà " của ông:
Từ ngày cô đi lấy chồng
Gớm sao có một quãng đồng mà xa
…
Lợn không nuôi đặc ao bèo
Giầu không giây chẳng buồn leo vào giàn
Giếng thơi mƣa ngập nƣớc tràn
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều.
(Qua nhà)
Những từ ngữ hình ảnh: Ao bèo, lợn, giàn giầu không, giếng thơi... rất đỗi bình
thƣờng trong cuộc sống nông thôn miền Bắc đƣợc đƣa vào thơ để diễn tả nỗi buồn, nỗi mất
mát trong tâm hồn con ngƣời Việt Nam hiện đại mà lại trở nên rất có hồn và gợi cảm. Sự lôi
cuốn của từ ngữ trong thơ ông thể hiện ở cái duyên dân dã, quê mùa ấy.
Sử dụng thành thục và điêu luyện ngôn ngữ dân gian là một trong những tài năng
nghệ thuật của Nguyễn Bính. Nhà thơ đã kết hợp đƣợc hài hòa giữa lời ăn tiếng nói và cách
cảm, cách nghĩ của dân gian:
Viết cho chị lá thƣ này
114
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Giữa đêm hăm bốn rạng ngày hăm nhăm
(Xây hồ bán nguyệt)
Hay:
Tầm tầm trời cứ đổ mƣa
Đến hôm nay nữa là vừa bốn hôm
(Ngƣời hàng xóm)
Rồi những từ: eo óc "Thôn gà eo óc ngoài xa vắng", một thôi đê "Thôn Đoài cách có
một thôi đê", cạn ngày "Mẹ bảo" mùa xuân đã cạn ngày", ƣơng ƣơng, dở dở "ƣơng ƣơng, dở
dở qua đi thôi", tất tả "nàng thấy bà đi tất tả theo"... cũng đƣợc sử dụng để thể hiện đƣợc cái
tôi chân quê đằm thắm, sâu sắc và tinh tế. Những ngôn ngữ nghệ thuật ấy bao giờ cũng đƣợc
gắn với một mã cảm xúc nào đó của tâm hồn con ngƣời làm cho nó có sức ngân vang hơn
trong lòng ngƣời.
Nhà thơ cũng sử dụng nhiều tính từ chỉ màu sắc để miêu tả cảnh vật và con ngƣời.
Nếu nhƣ thơ Hàn Mặc Tử nói nhiều đến hƣơng vị thì thơ Nguyễn Bính nói nhiều đến màu
sắc. Trong tình yêu thƣơng tha thiết của thi nhân, cảnh vật và con ngƣời làng quê nhƣ đậm đà
hơn, thi vị hơn qua những từ ngữ miêu tả màu sắc ấy; bầu trời trong xanh, đất đỏ, nắng vàng
hoe, dậu mồng tơi xanh rờn, bƣớm vàng, bƣớm trắng, thắt lƣng xanh, má ửng hồng... Có
những câu thơ tƣởng chừng nhƣ đang nhuốm trong những sắc màu:
Xanh cây xanh cỏ xanh đồi
Xanh rừng xanh núi da trời cũng xanh
Áo chàm cô Mán thanh thanh
Mắt xanh biêng biếc một mình tƣơng tƣ.
(Xanh)
Hay:
Ở chốn này đây nhiều mái gianh
Nhiều hoa tim tím lắm trời xanh
Nhiều bƣơm bƣớm trắng nhiều tơ trắng
(Không đề)
115
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Rồi những hình ảnh của những cô em bé "đôi má hồng lên" và hình ảnh:
Có những ông già tóc bạc phơ
Rƣợu đào nối chén bút đề thơ
Những bà tóc bạc hiền nhƣ phật
Sắm sửa hành trang trẩy hội chùa.
(Thơ xuân)
Trong những sắc màu lung linh, thanh thoái, tâm hồn con ngƣời cũng cảm thấy bình
yên hơn và gắn bó hơn với cuộc sống nông thôn, nơi có bụi lúa, bờ tre, hoa bƣởi, hoa cam,
bƣớm trắng, bƣớm vàng.
Nhƣng cũng với những từ ngữ chỉ màu sắc, nhà thơ lại diễn tả rất thành công cuộc
sống đầy những đổi thay và con ngƣời luôn trong tâm trạng bất an, âu lo ở thành thị:
Ngƣời yêu má đỏ môi hồng
Tóc xanh, mắt biếc mà lòng bạc đen
(Lại đi)
Cả màu sắc của thiên nhiên cũng chứa đựng những bất ổn của cuộc sống:
Có một mùa hè hoa phƣợng thắm
Nở đầy trong lá phƣợng xanh tƣơi
Trải dài thảm đỏ con đƣờng trắng
Nàng thấy đi trên thảm một ngƣời.
(Mƣời hai bến nƣớc)
Khi cuộc sống và con ngƣời với những thay đổi bất an, nhà thơ thƣờng đặt màu sắc
trong thế đối chọi, tƣơng phản "Lòng ai riêng bạc, mắt ai xanh" (Mai tàn), "Tuổi son nhạt
thắm phai đào", "Ngƣời ta pháo đỏ rƣợu hồng - Mà trên đầu chị một vòng hoa tang" (Lỡ
bƣớc sang ngang) "Da trời ai nhuộm mà lam - Tình ta ai nhuộm ai làm cho phai" (Vì ai) "Một
khi tình rụng nhƣ hoa rụng - Máu đỏ lìa tim nhạt sắc hoa (Hoa gạo), "em chƣa lấy chồng - Má
còn hồng thắm... Em đã lấy chồng, má hồng hết thắm" (Xuân)... Cách sử dụng ngôn ngữ này
làm cho câu thơ trở nên lời ít, ý nhiều, cô đọng, súc tích.
116
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Một đặc điểm nổi bặt trong thơ Nguyễn Bính là ông sử dụng nhiều biện pháp ẩn dụ.
Biện pháp ẩn dụ trong thơ ông gợi lên cho ngƣời đọc những liên tƣởng, tƣởng tƣợng rất gần
gũi với đời sống tình cảm của con ngƣời. Nhà thơ không đi tìm chất thơ ở đâu xa mà gạn lọc
ở ngay trong cuộc sống bình thƣờng. Ông thƣờng dùng hình ảnh để nói hộ lòng ngƣời, góp
phần bộc lộ ra thế giới nội tâm cùa con ngƣời những hình ảnh của ông gợi cho ngƣời đọc
những liên tƣởng sâu sắc, gợi hình, gợi cảm để đi vào lòng ngƣời, sắc thái của câu thơ trở
thành lung linh hơn trƣớc những hình ảnh gợi hình, gợi cảm đó. Ông dùng hình ảnh trầu cau
để nói về ƣớc mơ hợp nhất trong tình yêu:
Nhà em có một giàn giầu
Nhà tôi có một hàng cau liên phòng.
(Tƣơng tƣ)
Dùng hình ảnh bến, đò, hoa, bƣớm để nói về tình yêu đôi lứa:
Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bƣớm giang hồ gặp nhau?
(Tƣơng tƣ)
Trong tác phẩm "Lỡ bƣớc sang ngang" nhà thơ đã cho cô gái đi lấy chồng trên hình
ảnh một dòng sông, một con thuyền đầy bão tố:
Chuyến này chị bƣớc sang ngang
Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây
Rƣợu hồng em uống cho say
Vui cùng chị một vài giây cuối cùng
Rồi đây sóng gió ngang sông
Đầy thuyền hận, chị lo không tới bờ.
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Biện pháp ẩn dụ đã làm cho hình ảnh đƣợc nhà thơ sử dụng trở nên có hƣơng có sắc
và có hồn ngƣời. Góp phần thể hiện sâu sắc hơn, sống động hơn thế giới nỗi niềm của con
ngƣời. So sánh cũng là một biện pháp nghệ thuật đƣợc sử dụng nhiều trong thơ Nguyễn Bính:
Hồn tôi nhƣ vũng nƣớc đầy
117
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Em nhƣ cữ nắng bảy ngày chƣa thôi.
(Vũng nƣớc)
Hoặc:
Hồn tôi giếng ngọt trong veo
Trăng thu trong vắt biển chiều trong xanh
Hồn cô cát bụi kinh thành
Đa đoan vó ngựa chung tình bánh xe.
(Tình đời)
Rồi:
Hồn tôi là một lời van
(Ngƣời con gái ở lầu hoa)
Cái hay của Nguyễn Bính là đối lập sự tƣơng đồng của tình cặp đối một làm nổi bật
tâm trạng, thái độ và tình cảm của chủ thể trữ tình. Ca dao thƣờng sử dụng so sánh đơn, còn
so sánh của Nguyễn Bính là so sánh kép. Cách sử dụng nhƣ vậy góp phần tạo cho thơ ông
lung linh lan tỏa.
Việc so sánh tâm hồn với những sự vật, hiện tƣợng cụ thể biểu thị cho sự khao khát
biểu thị thế giới nội tâm, đào sâu khai thác thế giới nội tâm của nhà thơ.
Bên cạnh đó, thơ Nguyễn Bính còn đối lập ý rất tài tình theo thể tỉ của ca dao. Tác giả
thƣờng nói vòng vo trƣớc sau mới đề cập đến vấn đề chính, tạo đƣợc sự bất ngờ, thi vị và
duyên dáng. Kiểu lập ý này tác giả sử dụng trong khá nhiều bài thơ: Qua nhà, Tƣơng tƣ,
Truyện cổ tích.
Nhân hóa cũng là một biện pháp nghệ thuật, tu từ đƣợc sử dụng nhiều trong thơ
Nguyễn Bính. Điều này mở ra một trƣờng nghĩa rộng cho nhà thơ trong việc giãi bày thế giới
tâm hồn phong phú của con ngƣời. Nhà thơ đã linh động hóa hình ảnh của thiên nhiên để thể
hiện tâm tƣ, cảm xúc của con ngƣời. Thiên nhiên ở đây cũng nhƣ có tính ngƣời "Tơ gạo lẳng
lơ", "Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?", "Bƣớm lƣời", "Những cành cây nó cƣới
nhau", "Mây trắng đang xây mộng viễn hành", "Giời đi đƣa đám tang", "Hoa vàng với bƣớm
vàng hôn nhau"...
118
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Thành ngữ dân gian cũng đƣợc sử dụng nhiều trong thơ Nguyễn Bính. Tuy nhiên, ở
đây, nhà thơ không đƣa vào thơ thành ngữ với nguyên dạng của nó mà thƣờng sử dụng lối
đan chữ để làm tăng hiệu qua biểu đạt của ngôn ngữ: "Bảy nổi ba chìm", "Trăm cay ngàn
đắng", "Má đỏ môi hồng", "Năm tao bảy tuyết", "Trăm hờn nghìn giận". "Lỡ bƣớc sang
ngang" là một bài thơ sử dụng rất nhiều thành ngữ:
Một đi bảy nổi ba chìm
Trăm cay ngàn đắng con tim héo dần
Một lầm hai lỡ keo sơn
Mong gì gắn lại phím đàn ngang cung
Tuổi son nhạt thắm phai đào
Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu ngƣời
(Lỡ bƣớc sang ngang)
Trong những hoàn cảnh nhƣ thế này, lối đan chữ đã làm tăng thêm gấp bội tâm trạng
chua cay, hằn học của con ngƣời. Nó có sức tạo không khí lạ lùng. Bản chất cuộc đời từ đó
cũng nhƣ đƣợc khắc sâu hơn.
Những đại từ phiếm chỉ của mơ dân gian cũng đƣợc hòa hợp vào thơ Nguyễn Bính
một cách tự nhiên:
Xa xôi ai nhớ mà thƣơng nhớ
Mà nhớ, mà thƣơng đến thế này.
(Giời mƣa ở Huế)
Ngƣời có đôi, ta rất một mình
(Một mình)
Tƣơng tƣ thức mấy đêm rồi
Biết cho ai, hỏi ai ngƣời biết cho.
(Tƣơng tƣ)
Những đại từ phiếm chỉ tế nhị, khó xác định đối tƣợng đã làm tăng thêm khả năng
khái quát tâm trạng điển hình của nhiều ngƣời trong cùng một lúc, tăng khả năng đồng cảm
giữa những con ngƣời khác nhau.
119
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nhƣ vậy, chất dân gian, ca dao, dân ca trong thơ Nguyễn Bính rất đậm nét. Đó là một
thành công to lớn của Nguyễn Bính đáng đƣợc ghi trên văn đàn và là những yếu tố giúp
chúng ta khẳng định them bản chất "chân quê" trong thơ ông. Tuy nhiên, Nguyễn Bính không
chỉ lớn lên ở nông thôn, theo nhƣ Hoài Thanh đã nhận xét thì: "Chính ngƣời cũng đã đi tỉnh
nhiều lần lắm. Dấu thị thành chẳng những mang trên quần áo, nó còn in vào tận trong hồn"
(42, 334).
Chốn thị thành không phải là nơi nhà thơ có thể hòa hợp. Ông dƣờng nhƣ không thể
nhập cuộc mà chỉ men theo bên ngoài lề cuộc sống, để rồi đời ông là một chuỗi những lỡ
làng; lỡ làng trong tình yêu, lỡ làng trong cuộc sống và trong đó có những lỡ làng do chính
cách sống bừa bãi, phóng túng của mình gây ra. Sau đó nhiều lúc trong cô đơn nhà thơ cảm
thấy hối hận muốn làm một cái gì đó để giúp ít cho đời, nhƣng vẫn chƣa thể vƣợt ra khỏi
những cƣơng tỏa của xã hội. Có lẽ chính vì vậy mà trong thơ ông chúng ta bắt gặp rất nhiều
những từ ngữ: lỡ làng, nhỡ nhàng, dở dang, bẽ bàng, kẻ vô duyên, kẻ lạc loài.
Thiếu một vần thôi đủ dở dang
(Nuôi bƣớm)
Vâng từ ân ái nhỡ nhàng
Lòng tôi riêng nhớ bạn vàng ngày xƣa
(Ngƣời hàng xóm)
Lá ơi và gió ơi! Tôi biết
Tình đã chung đôi đã lỡ làng
(Nhặt nắng)
Có khi chỉ trong một câu lục bát mà nhà thơ dùng đến bốn từ "dở dang":
Dở dang đã dở dang gì
Dở dang cho đến thế thì dở dang
(Xây hồ bán nguyệt)
Sự hằn học, chua chát nhƣ thấm sâu trong mỗi lời thơ. Đây là những từ ngữ đƣợc nhà
thơ rút ra từ bản chất cuộc sống của riêng mình.
120
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Trong thơ ông chúng ta cũng thƣờng hay bắt gặp những từ cảm thán hay những lời
gọi đáp: Chao ôi, chao ơi, chị ơi, ngƣời ơi, hỡi ơi, con ơi!, trời ơi!,...
Chao ôi ! Ba bốn tao ân ái
Cũng đủ tan tành một kiếp trai
(Giờ mƣa xứ Huế)
Trời ơi! Cứu vớt lấy tôi, trời!
(Hà Nội ba mƣơi sáu phố phƣờng)
Chao ôi! Lại nói đến ngày xƣa
(Chung tình)
Chị ơi! Em bé chị đây mà
(Xây lại cuộc đời)
Trong cuộc hành trình tự lƣu đày lắm chua cay này, trạng thái cô đơn của Nguyễn
Bính không hẳn là linh cảm tự dâng lên trong lòng và cố tình tách biệt với ngoại cảnh, "Cái
tôi trữ tình" của nhà thơ bao giờ cũng là cái tôi trữ tình tìm kiếm sự giao cảm đồng vọng và
yêu cầu sự cảm thông. Những từ ngữ đƣợc thốt ra từ nỗi lòng sâu thẳm của nhà thơ đã thật sự
làm rung cảm, gây xúc động sâu xa đối với độc giả.
Bên cạnh những từ ngữ có giá trị thẩm mỹ cao, thơ Nguyễn Bính cũng không tránh
khỏi đƣợc việc sử dụng ngôn ngữ một cách ƣớc lệ, đôi khi mòn héo nhƣ: Bến đò, quán lạnh,
dâu xanh, khiếp giang hồ, thân cát bụi, biên ải, kinh kỳ, tiếng đàn, vó ngựa... Tuy nhiên nhờ
tài năng nghệ thuật, chất dân tộc đậm đà trong thơ và nhờ tình yêu thƣơng chân thành của trái
tim nhà thơ, ngƣời đọc vẫn sẵn sàng chấp nhận để thông cảm và đồng cảm với nỗi niềm của
thi nhân.
4.3/ Hình ảnh
Thế giới vô hình của cái tôi trữ tình nhất thiết phải dựa vào những điểm tựa tạo hình
cụ thể để đƣợc vật chất hóa và hữu hình hóa. Hình ảnh chính là một trong những yếu tố góp
phần tạo dựng cho cái tôi trữ tình một không gian - thời gian thể hiện, một nhịp điệu vận
động, một quan hệ đối với thế giới trong một tồn tại cụ thể, cảm tính.
121
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Nguyễn Bính đã thể hiện hồn thơ lai láng của mình hòa quyện với các nhà thơ đƣơng
thời để làm nên cái đắc sắc của thơ mới nhƣng vẫn tách bạch ra đứng riêng một góc trời dằm
thắm êm dịu. Cũng nói về tình yêu nhƣng nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu hay các nhà thơ
khác sử dụng lối nói trực diện, nói thẳng để bộc lộ lòng mình một cách sôi nổi, vội vàng:
Anh nhớ em, anh nhớ hình, anh nhớ ảnh
Anh nhớ em, anh nhớ lắm, em ơi!
(Tƣơng tƣ chiều - Xuân Diệu)
Thì tình yêu trong thơ Nguyễn Bính lại đƣợc miêu tả một cách chất phác và đậm đà
phong vị quê hƣơng qua một hệ thống hình ảnh nhƣ đã trở thành ƣớc lệ của làng quê Việt
Nam:
Hai thôn chung lại một làng
Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
Ngày qua ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
Bảo rằng cách trở đò giang
Không sang là chẳng đƣờng sang đã đành
Nhƣng đây cách một đầu đình
Có xa xôi mấy cho tình xa xôi?
(Tƣơng tƣ)
Ở đó có thôn Đoài, thôn Đông, có hàng cau, giàn giầu, có con đò bến nƣớc là nơi sinh
thành và nuôi dƣỡng thể thơ lục bát. Thơ Nguyễn Bính thuộc loại giàu tính chất truyền thống,
giàu sức lôi cuốn, gần gũi. Đến với thơ Nguyễn Bính, chúng ta nhƣ thấy lại những hình ảnh
bình thƣờng và rất đỗi thân thƣơng của làng quê Việt Nam đã in sâu trong ký ức, thấy đƣợc
cuộc sống nông thôn trong cái hồn thơ mới mà cũ, cũ mà mới đó. Trong lúc cuộc sống xã hội
Việt Nam đang theo xu hƣớng "Tây hóa" thì thơ Nguyễn Bính vẫn kéo ngƣời đọc ngƣợc
dòng thời gian trở về với cuộc sống xa xƣa của dân tộc. Trong lối sống cổ truyền có niềm vui
của ngƣời vợ có ngƣời chồng đỗ trạng gắn liền với mảnh vƣờn, ngôi nhà:
Đêm nay mới thật là đêm
122
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
Ai đem giăng giãi lên trên vƣờn chè.
(Thời trƣớc)
Nguyễn Bính lấy hình ảnh mảnh vƣờn để biểu tƣợng cho gia đình, cho quê hƣơng:
Vƣờn cam, vƣờn cái, vƣờn dâu...
Nàng về làm dâu nhà tối
Vƣờn dâu có thẹn với đôi tay ngà.
(Nhà tôi)
Những hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi với con ngƣời đƣợc đƣa vào thơ Nguyễn
Bính nhƣ những trƣờng hợp ngẫu nhiên, bình thƣờng, không dụng công nhƣng lại thân tình
và thắm đẫm tình quê. Từ hình ảnh của dòng sông, bến nƣớc, con đò, đến khu vƣờn, bờ ao...
Tất cả đều gắn liền với cảm xúc tình cảm của cá nhân:
Từ nay lại tắm ao đào
Rƣợu dâu nhà cất, thuốc lào nhà phơi.
Giang hồ càn một mình tôi
Quê ngƣời đắng khói, quê ngƣời cay men.
(Anh về quê cũ)
Thế giới hình ảnh trong thơ Nguyễn Bính là thế giới hình ảnh gần gũi với quê hƣơng
làng xóm: Những con bƣớm trắng, bƣớm vàng, vƣờn cải, vƣờn cam, vƣờn chanh, vƣờn bƣởi
ngào ngạt hƣơng bay, ruộng dâu, bãi đay, vƣờn chè... Những cô thôn nữ dịu dàng bên khung
cữi dệt lụa, chăn tằm, đi trẩy hội chùa với trang phục đằm thắm: Dây lƣng đũi, yếm lụa sồi,
áo đồng lẫm, quần lĩnh tía, những anh lái đò, cô lái đò sống giữa hƣơng đồng cỏ nội và dƣới
"Giời cao gió cả giăng nhƣ ban ngày". Đó là những hình ảnh của cuộc sống bình thƣờng mặn
mà, giản dị nhƣng lại có tác dụng làm rung động lòng ngƣời một cách sâu xa đồng thời góp
phần diễn tả thế giới nội tâm thầm kín sầu lắng mà tha thiết trong thơ ông.
Các phƣơng diện nghệ thuật nhƣ cái nhìn nghệ thuật về con ngƣời, giọng điệu nghệ
thuật, không gian và thời gian nghệ thuật cùng với thể thơ, hình ảnh và cách thức thể hiện
thống nhất, toàn vẹn tạo thành phƣơng thức chiếm lĩnh và lý giải cuộc sống của Nguyễn
Bính, đồng thời góp phần đắc lực để thể hiện cái tôi trữ tình trong thơ ông.
123
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
KẾT LUẬN
Nói đến những nhà thơ mới có chất chân quê riêng biệt, ngọt ngào, chúng ta nghĩ
ngay đến Nguyễn Bính. Với những dòng thơ trữ tình đằm thắm, êm dịu mang đậm hƣơng vị
cuộc sống, thơ Nguyễn Bính đã chinh phục lòng ngƣời bằng nhạc điệu của trái tim, bằng
tiếng nói của nỗi niềm, tâm tƣ.
Ra đời trong phong trào thơ mới, Nguyễn Bính đã mau chóng trở thành một nhà thơ
xuất sắc trên văn đàn và chiếm đƣợc cảm tình của đông đảo bằng những lời thơ tâm tình đồng
điệu những vần thơ mƣợt mà, mộc mạc bình dị chất hƣơng quê của một nhà thơ hiện đại.
Trong cái hồn thơ cũ mà mới, mới mà cũ, hiện đại mà truyền thống đó, cái tôi luôn là trung
tâm sáng tạo và tổ chức văn bản trữ tình.
Cái tôi trong thơ trong thơ Nguyễn Bính trƣớc hết là cái tôi ngoài đời của nhà thơ đã
đƣợc nghệ thuật hóa, thơ hóa. Nó chính là thế giới tâm tƣ nỗi niềm của một "thi sĩ của yêu
thƣơng" lúc nào cũng đăm đắm nỗi lòng của mình về với bờ tre, ruộng lúa, mảnh vƣờn và
những ngƣời thân đã đƣợc mã hóa trong thơ bằng các phƣơng diện trữ tình nhƣ hình tƣợng,
ngôn từ...
Trong cái tôi trữ tình nhập vai, Nguyễn Bính đã đi vào thế giới thầm kín của tâm tƣ
con ngƣời để rồi nói lên những nỗi lòng, những cảm xúc của họ bằng những lời thơ tha thiết.
Tiếng nói của thế giới nội tâm trong thơ ông là tiếng nói của những chàng trai, những cô gái
quê và tất cả những ngƣời nông thôn bình dị mà có tâm hồn sâu lắng lúc nào cũng thiết tha ân
tình với con ngƣời và với cuộc đời.
Bản chất tâm lý xã hội, bản chất văn hóa thẩm mỹ, bản chất tự ý thức của cái tôi trữ
tình cho phép giải thích nội dung phong phú rộng lớn của thơ trữ tình Nguyễn Bính.
Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính là cái tôi trữ tình nội cảm, cái tôi này phản ánh
thế giới nội tâm bên trong của con ngƣời và đƣợc hình thành từ sự ý thức về cái tôi cá nhân
của chủ thể qua quá trình chiêm nghiệm và lý giải cuộc sống bằng các thao tác của tƣ duy:
Tri giác, tƣởng
124
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
lƣợng để biến cái tôi cá nhân của nhà thơ thành cái tôi trữ tình - Trung tâm sáng tạo của tác
phẩm trữ tình.
Lâu nay, các nhà nghiên cứu phê bình đều nhất trí đánh giá Nguyễn Bính là nhà thơ
chân quê. Cái tôi trữ tình trong thơ ông hƣớng về quê hƣơng, hƣớng về các giá trị văn hóa
làng xã truyền thống, sự chiêm nghiệm của chủ thể về một cuộc sống hiện lại đầy âu lo bất
trắc và bằng nỗi hoài niệm về một làng quê tƣơi đẹp, yên bình.
Nồng nàn với quê hƣơng, tha thiết với con ngƣời là hạt nhân của cái tôi trữ tình trong
thơ Nguyễn Bính, trong cái tôi hoài niệm để viết về một cuộc sống làng quê cổ truyền bao giờ
nhà thơ cũng hƣớng tâm hồn mình vào những mảnh đời thôn dã bình dị mà sâu lắng chất nội
tâm để nói lên nỗi lòng của họ. Vòm trong ký ức của nhà thơ đầy ăm ắp những kỷ niệm đẹp
đƣợc gợi nhớ, gợi thƣơng: Một lần chờ đợi, một buổi hội chèo, những lần bâng khuâng với
tình yêu và ký ức về một thời son trẻ, những mối tình quê e ấp dịu dàng... Hƣơng thơm và
mật ngọt của cuộc sống đã lắng sâu vào đấy để tạo thành cái hồn quê gần gũi và thiêng liêng
trong thơ ông. Cái tôi trữ tình "chân quê" của Nguyễn Bính đích thực thuộc về nhân cách của
thi nhân bởi vì nó đã vƣơn tới chân trời chân, thiện, mỹ và hòa nhập với con ngƣời, hồn cốt
thiêng liêng của quê hƣơng, dân tộc. Chính cái tội trữ tình ấy đã thổi sức mạnh "hồn quê" vào
những cảnh vật xóm làng: Mảnh vƣờn, bờ đê, bến nƣớc, con đò, hoa xoan, hoa bƣởi... để cho
nó trở nên lung linh và mang đậm cảm xúc của con ngƣời.
Cái tôi trong thơ Nguyễn Bính vừa là cái tôi "chân quê" vừa là một sản phẩm của
"mối sầu đô thị". Nỗi cô đớn, lòng sầu xứ trong những "đêm mƣa đất khách" nung nóng lên
khát vọng trở về. Chính mối sầu đô thị này đã làm cho giọng thơ Nguyễn Bính bàng bạc một
nỗi buồn pha lẫn với chua chát đắng cay. Thái độ không thể hòa nhập với cuộc sống đô thị đã
theo Nguyễn Bính đến lận những vần thơ viết về nỗi niềm, tâm trạng của ông trong những
ngày ở những nơi "thành thị gió mƣa phai". Tâm hồn của Nguyễn Bính hƣớng về quê hƣơng
nhƣ tìm kiếm một sự đồng vọng, xẻ chia và tìm kiếm một chỗ dựa của tâm linh. Quê hƣơng
là nơi tác giả gửi gắm vào đấy những tâm tình quê dìu dịu. Chính vì vậy quê hƣơng trong thơ
ông bao giờ cũng mang một vẻ đẹp bình dị và sáng trong và là tất cả những gì đáng yêu và thi
vị nhất.
125
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
"Trở về" với quê hƣơng luôn là sự trở về với những giá trị văn hóa truyền thống, trở
về với bản chất trong sáng bình dị, tốt đẹp của con ngƣời Việt Nam để chuẩn bị cho một cuộc
hòa nhập mới. Những tiếng nói tâm tình trong thơ Nguyễn Bính trở nên gần gũi thân thiết với
chúng ta là vì thế.
Khả năng chiếm lĩnh và lý giải cuộc sống thể hiện qua khả năng chiếm lĩnh và lý giải
thế giới nội tâm của con ngƣời. Và thế giới nội tâm ấy đƣợc chuyển tải qua hệ thống hình
thức nghệ thuật đặc sắc để tạo thành giá trị của thơ ông. Nhà thơ đã thiết lập một hình thức
nghệ thuật mang "tính quan niệm". Đó là cách sử dụng thể thơ lục bát truyền thống với lối
nói ví von, so sánh mang đậm chất ca dao và đậm đà chất thời đại ở tình và ý. Và cách sử
dụng hệ thống từ ngữ quen thuộc với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân cùng với hệ
thống hình ảnh gợi hình và gợi cảm. Tất cả những phƣơng diện này chịu sự chi phối của cái
nhìn nghệ thuật về con ngƣời, giọng điệu nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ
thuật trong thơ ông.
Trong hệ thống tác phẩm nghệ thuật của Nguyễn Bính con ngƣời hiện lên nhƣ là một
đối tƣợng để nghệ thuật chiếm lĩnh và lý giải. Hầu hết con ngƣời nghệ thuật ấy là con ngƣời
tâm trạng, con ngƣời nỗi lòng. Đó là những con ngƣời chân quê, mộc mạc, chân chất lúc nào
cũng sẵn sàng trải lòng mình ra gắn bó với quê hƣơng, đồng ruộng. Trong tâm tƣ hoài niệm
của thi nhân con ngƣời hiện ra với vẻ đẹp hài hòa với thiên nhiên, đất trời, cây cỏ và trong
mối quan hệ yêu thƣơng gắn bó với cộng đồng.
Trong cái nhìn đầy chất nhân văn và quay về quê hƣơng nhƣ một đối cực, Nguyễn
Bính đã tạo cho thơ ông một mặt hòa với thơ mới để làm nên cái đặc sắc chung của thơ lãng
mạn nhƣng mặt khác lại tách bạch ra đứng riêng một góc trời đằm thắm êm dịu, cũng không
hòa lẫn vào tiếng nói của một số nhà thơ viết về nông thôn khác nhƣ Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ,
Bàng Bá Lân. Thơ Nguyễn Bính thầm lặng, nhẹ nhàng, len lỏi vào cõi tâm linh con ngƣời
nhƣ những hiện tƣợng tự nhiên thƣờng nhật của cuộc sống.
Thơ Nguyễn Bính với một cái tôi trữ tình trĩu nặng tâm tƣ trƣớc cuộc đời dâu bể đã
giúp chúng ta hiểu đƣợc thêm phần nào giá trị và nhân cách con ngƣời ông cũng nhƣ giá trị
và vị trí của thơ ông. Vì thế, nó trở
126
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
thành cái tôi nhân bản. Cuộc sống còn có nhiều đổi thay, nhiều dâu bể thì cái tôi ấy trong thơ
ông vẫn còn đem lại cho chúng ta hƣơng vị ngọt dịu của tình đời và tình ngƣời.
127
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 - Vũ Tuấn Anh - Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 - 1975. Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1997.
2- Lại Nguyên Ân - Đọc lại ngƣời trƣớc, đọc lại ngƣời xƣa. Nhà xuất bản Hội nhà văn,
1998.
3- M . Bakhtin - Lý luận và thi pháp tiểu thuyết - Trƣờng viết văn Nguyễn Du, Hà Nội,
1992.
4- Nguyễn Bính - Lỡ bƣớc sang ngang. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
5- Nguyễn Bính - Hƣơng cố nhân. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
6- Nguyễn Bính - Tâm hồn tôi. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
7- Nguyễn Bính - Một nghìn cửa sổ. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
8- Nguyễn Bính - Mƣời hai bến nƣớc. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
9- Nguyễn Bính - Mây Tần. Nhà xuất ban Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999.
10- Nguyễn Bính - Ngƣời con gái ở lầu hoa. Nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh,
1999.
11- Nguyễn Bính - Tƣơng tƣ. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1994.
12- Nguyễn Bính - Tuyển tập. Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1986.
13- Bùi Hạnh Cẩn - Nguyễn Bính và tôi. Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội, 1995.
14- Nguyễn Phan Cảnh - Ngôn ngữ thơ. Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1987.
15- Hà Minh Đức - Nguyễn Bính - Thi sĩ của đồng quê. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội,
1995.
16- Hà Minh Đức - Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại. Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội, 1997.
128
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
17- Hà Minh Đức - Một thời đại trong thi ca. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
18- Phan Cƣ Đệ - Phong trào thơ mới 1932 - 1945. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997.
19- Dƣơng Quảng Hàm - Việt Nam văn học sử yếu. Nhà xuất bản Quốc gia Giáo dục, Sài
Gòn, 1951.
20- Hồ Sĩ Hiệp (sƣu tầm và biên soạn) - Nguyễn Bính - Thâm Tâm. Nhà xuất bản Văn
nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1997.
21- G. Hê ghen- Mỹ học (tập 4B) Viện văn học Bản Rônêo Hà Nội, 1973
22- Lê Bá Hán (chủ biên) - Tinh hoa thơ mới - Thẩm bình và suy ngẫm. Nhà xuất bản
Giáo dục, 1998.
23- Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Nhƣ Phƣơng - Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ. Nhà
xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998.
24- Lê Đình Kỵ - vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo
dục, Hà Nội, 1998.
25- Lê Đình Kỵ - Đƣờng vào thơ. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1969.
26- Lê Đình Kỵ - Thơ mới những bƣớc thăng trầm. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh, 1989
27- Nguyễn Tấn Long - Việt Nam thi nhân tiền chiến. Nhà xuất bản Sống Mới, Sài Gòn,
1968.
28- Nguyễn Tấn Long - Khuynh hƣớng thi ca tiền chiến. Nhà xuất bản Sống Mới Sài
Gòn, 1968.
29- Phƣơng Lựu (chủ biên) - Lý luận văn học. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1997.
30- Bùi Mạnh Nhị - Thời gian nghệ thuật trong ca dao dân ca trữ tình. Tạp chí Văn học -
số 4 - 1998.
31- Phạm Thế Ngũ - Việt Nam văn học sử giản ƣớc tân biên tập III. Nhà xuất bản Quốc
học Tùng Thƣ, Ất Tỵ.
32- Lê Lƣu Oanh - Thơ trữ tình Việt Nam 1945 - 1975. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia,
Hà Nội, 1998.
129
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
33- Thế Phong - Nhà văn tiền chiến, Nhà xuất bản Vàng Son, Sài Gòn 1974.
34- Vũ Quần Phƣơng - Đóng góp của Nguyễn Bính (dẫn theo phụ san báo giáo viên nhân
dân số 26 7/1997: Nhìn lại một số hiện tƣợng văn học).
35- Vũ Tiến Quỳnh (tuyển chọn) - Xuân Diệu - Huy Cận. Nhà xuất bản văn nghệ , TP. Hồ
Chí Minh, 1994.
36- Vũ Tiến Quỳnh (tuyển chọn) - Nguyễn Bính - Thâm Tâm - Vũ Đình Liên. Nhà xuất
bản văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 1993.
37- Trần Đình Sử - Một số vấn đề về thi pháp hiện đại. Nhà xuất bản Giáo dục. Hà
Nội,1993.
38- Trần Đình Sử - Thi pháp thơ Tố Hữu. Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1997.
39- Trần Đình Sử - Những thế giới nghệ thuật thơ. Nhà xuất bản Giáo dục-Hà Nội, 1997.
40- Anh Thơ - Tuyển tập. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1987
41- Đỗ Lai Thúy - Con mắt thơ. Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 1993.
42- Hoài Thanh - Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1996.
43- Hoàng Tấn - Nguyễn Bính - Một vì sao sáng. Nhà xuất bản Đồng Nai, 1999.
44- Lƣu Khánh Thơ - Cái tôi trữ tình và phƣơng thức biểu hiện cái tôi tình yêu trong thơ
Xuân Diệu nƣớc cách mạng. Tạp chí Văn học số 5, 1994
45- Lê Dục Tú - Vấn đề đánh giá văn học lãng mạn Việt Nam và sự đổi mới tƣ duy
nghiên cứu văn học. Tạp chí văn học số 9 - 1995.
46- Nguyễn Bá Thành - Tƣ duy thơ và tƣ duy thơ Việt Nam hiện đại. Nhà xuất bản Văn
học, Hà Nội, 1998.
47- Trần Hữu Tá - Nguyễn Bính - Nhà thơ của nông thôn Việt Nam, Báo Tuổi trẻ chủ
nhật. Số 1996.
130
Luận văn thạc sĩ Khoa học ngữ văn Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Bính
48- Hoài Việt (tuyển chọn) - Nguyễn Bính - Nhà văn trong nhà trƣờng. Nhà xuất bản
Giáo dục, Hà Nội, 1997.
49- Hoài Việt (sƣu tầm và biên soạn) - Nguyễn Bính thi sĩ của thƣơng yêu. Nhà xuất bản
Hội Nhà văn, Hà Nội, 1990.
50- Vũ Anh Việt (Sƣu tầm và biên soạn) - Nguyễn Bính những lời bình. Nhà xuất bản
Văn hóa- Thông tin Hà Nội. 1999
51- Hoàng Xuân (tuyển chọn) - Nguyễn Bính thơ và đời. Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội,
1998.
52- Nhiều tác giả - Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945. Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội, 1964.
53- Nhiều tác giả - Thơ Việt Nam 1930 - 1945. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1992.
131