ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM CHU ĐÌNH KIÊN

ĐẶC TRƯNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT

CỦA JOHN MAXWELL COETZEE

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HUẾ, 2020

ĐẠI HỌC HUẾ TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM CHU ĐÌNH KIÊN

ĐẶC TRƯNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT

Ngành:

Mã số:

CỦA JOHN MAXWELL COETZEE LÝ LUẬN VĂN HỌC 9220120

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1. PGS.TS BỬU NAM

2. PGS.TS TRẦN THỊ SÂM

HUẾ, 2020

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án tiến sĩ này, tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Khoa

Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế; lãnh đạo Trường Cao đẳng Sư

phạm Thừa Thiên Huế đã tạo những điều kiện tốt nhất trong quá trình học tập và nghiên cứu. Cảm ơn quý Thầy, Cô giáo đã nhiệt tình trực tiếp giảng dạy, trao đổi, góp ý chuyên môn để tôi có được kết quả như ngày hôm nay.

Tôi bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đến PGS.TS Bửu Nam, PGS.TS Trần Thị

Sâm, những người đã đặt trọn niềm tin vào Nghiên cứu sinh cũng như tận tâm chỉ

dẫn tôi từ những ngày còn là sinh viên đến khi hoàn thành luận án. Tri ân đến Thầy

và Cô tình cảm sâu sắc nhất.

Cuối cùng, xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, sinh viên luôn động

viên, khuyến khích, ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện luận án.

Tác giả luận án

Chu Đình Kiên

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu

trong luận án là trung thực, đảm bảo độ chính xác cao nhất có thể. Các tài liệu tham

khảo, trích dẫn có xuất xứ rõ ràng. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của công trình nghiên cứu.

Tp Huế, tháng ... năm 2020

Tác giả

Chu Đình Kiên

DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

1. Nhà xuất bản: Nxb

2. John Maxwell Coetzee: Coetzee

tr. NKC

3. Trang: 4. Người kể chuyện:

(Phần in đậm trong Luận án là những nội dung nhấn mạnh của chúng tôi)

NHÀ VĂN JOHN MAXWELL COETZEE (nguồn: https://www.azkunazentroa.eus/az/ingl/activities/encuentro-con-jm- coetzee/al_evento_fa)

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................. 1 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 2 3. Mục đích nghiên cứu ........................................................................................... 2 4. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu ...................................................... 2 5. Đóng góp của luận án .......................................................................................... 3 6. Cấu trúc luận án................................................................................................... 4 NỘI DUNG ................................................................................................................ 5 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ....................................... 5 1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại ...................................... 5 1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới ........... 5 1.1.2. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam ........... 8 1.2. Tình hình nghiên cứu về Coetzee ................................................................... 13 1.2.1. Nghiên cứu về Coetzee trên thế giới ....................................................... 13 1.2.2. Nghiên cứu về Coetzee ở Việt Nam ........................................................ 24

Chƣơng 2. ĐẶC TRƢNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU THUỘC ĐỊA .......................... 33 2.1. Chế độ Apartheid/hậu Apartheid ở Nam Phi ................................................. 34 2.1.1. Đại tự sự Apartheid - thời kỳ lịch sử bạo lực .......................................... 36 2.1.2. Hậu Apartheid - thời kỳ lịch sử bất ổn .................................................... 39 2.2. Tâm thức lưu vong và ngụ ngôn chính trị ...................................................... 47 2.2.1. Tâm thức lưu vong và lịch sử “đen” - “trắng” ........................................ 47 2.2.2. Ngụ ngôn đen (allegory) chính trị Nam Phi ............................................ 56 2.3. Diễn ngôn “kẻ mạnh”, “kẻ khác” ................................................................... 61 2.3.1. Diễn ngôn “kẻ mạnh” - người da trắng và mặc cảm phạm tội ................ 62 2.3.2. Diễn ngôn “kẻ khác” - người da đen bản xứ và mặc cảm trả thù ............ 65 Chƣơng 3. ĐẶC TRƢNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NHÂN VẬT ......................................... 71

3.1. Kiểu con người phi lí, hoài nghi hậu hiện đại gắn với cảm thức hậu thực dân .......................................................................................................... 71 3.1.1. Con người phi lí mang ý thức phản tỉnh .................................................. 72 3.1.2. Con người hoài nghi, cô đơn ................................................................... 77 3.2. Kiểu con người bị ruồng bỏ, bị chấn thương gắn với cảm thức lưu vong ..... 82 3.2.1. Con người bị ruồng bỏ ............................................................................. 82 3.2.2. Con người bị chấn thương ....................................................................... 88

3.3. Kiểu con người tính dục, khao khát tự do và hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái ........................................................................................... 91 3.3.1. Con người tính dục, khao khát tự do ........................................................... 91 3.3.2. Con người hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái .......... 97 Chƣơng 4. KỸ THUẬT TRẦN THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE .................................................................................. 104 4.1. Kỹ thuật sử dụng người kể chuyện trong tiểu thuyết của Coetzee .............. 104 4.1.1. Người kể chuyện và tính chất lưỡng phân ngôi kể ................................ 104 4.1.2. Điểm nhìn đa chiều và người kể chuyện không đáng tin cậy ............... 111 4.2. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không - thời gian trong tiểu thuyết của Coetzee ................................................................................................................ 115 4.2.1. Kỹ thuật trần thuật thời gian gắn với hành trình trải nghiệm từ trung tâm đến ngoại vi ..................................................................................................... 115 4.2.2. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không gian vòng tròn mê cung và thời gian phân mảnh đồng hiện ............................................................................... 120 4.3. Các kỹ thuật trần thuật khác trong tiểu thuyết của Coetzee ......................... 125 4.3.1. Siêu hư cấu trong tiểu thuyết của Coetzee ............................................ 125 4.3.2. Kỹ thuật sử dụng giọng điệu hoài nghi, chua chát ................................ 128 4.3.3. Trò chơi nhại, lối viết tự truyện tiểu sử và thủ pháp giản lược ............. 132 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 144 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..................................................................................................... 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 149

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

1.1. Thế kỷ XX là thời đại của sự bùng nổ công nghệ, tri thức, các ngành khoa học tự nhiên, trí tuệ nhân tạo và cả khoa học xã hội. Sức sản xuất và năng lượng xã hội được tạo ra bằng cả mười chín thế kỷ cộng lại. Đồng thời với sự phát triển đó là những biến đổi nhanh chóng trong đời sống xã hội. Các quan niệm về văn hóa, chính trị, kinh tế, tôn giáo, sắc tộc… cũng thay đổi sâu sắc, nhất là ở phương Tây. Tác động của cuộc cách mạng hậu công nghiệp ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn chương nói chung, lý luận phê bình văn học nói riêng. Sự xuất hiện hàng loạt thuật ngữ, các trường phái phê bình văn học trong thời gian gần đây đã chứng minh điều đó. Thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại (postmodernism) ra đời cuối thế kỷ XIX, được xây dựng, phát triển, có nhiều thành tựu nổi bật ở thế kỷ XX, XXI và nhanh chóng trở thành một trào lưu lý luận ngự trị, uy tín, tiên phong ở hầu khắp các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, triết học, đạo đức, tôn giáo, giáo dục, nghệ thuật,… trong đó có lý luận phê bình văn học.

1.2. Hậu hiện đại là thuật ngữ đa bội, không đơn thuần là trường phái lý thuyết phê bình văn học mà cao hơn đó là hệ thống triết - mỹ học, là nền tảng văn hóa mới, hay đó là một hệ hình (paradigm) tư duy và tri thức mới. Xuất phát từ nhiều quan điểm khác nhau của các nhà cấu trúc luận, hiện tượng học cho đến giải cấu trúc, tường giải học, phân tâm học, ngôn ngữ học, kí hiệu học, tân Marxism, nữ quyền luận… nhưng cốt lõi hậu hiện đại là triết học ngôn ngữ. Điểm xuất phát phong phú, phức tạp và chưa đông cứng, chủ nghĩa hậu hiện đại trong triết học cũng như trong ngôn ngữ chủ yếu xoay quanh việc truy vấn bản chất của ngôn từ, văn bản, sự phản kháng chống lại các đại tự sự (grand narrative)… Hậu hiện đại là một lý thuyết chưa đông cứng, đang ở thì hiện tại hoàn thành tiếp diễn, vẫn còn nhiều địa hạt cho các chủ thể sáng tạo. Chưa đi đến hồi kết, nhưng lý luận, nghiên cứu, sáng tạo văn chương hậu hiện đại đã có nhiều hiện tượng tiêu biểu. Xuất hiện nhiều nhà văn sáng tác theo khuynh hướng hậu hiện đại như Patrick White, Gabriel García Márquez, Umberto Eco, Italo Calvino, Don Richard DeLillo, Coetzee, Murakami Haruki,… Điều này đã cho thấy sự thay đổi phương pháp sáng tác của văn chương thế giới đương đại. Nghiên cứu một tiểu thuyết gia đạt giải Nobel Văn học như Coetzee là một việc làm thú vị và cần thiết không chỉ đối với lí luận phê bình Việt Nam mà còn góp phần làm phong phú cho học thuật thế giới. Với mục đích xác lập những đặc trưng nghệ thuật trong một số tiểu thuyết của Coetzee; chúng tôi đi tìm và cố gắng lí giải những ẩn ngữ bên trong con người nhiều tâm sự đối thoại được bao bọc bởi khuôn mặt lạnh lùng, lối sống khép kín và thứ văn chương đầy quyền uy, ma lực.

(1) Như vậy đến nay, Nam Phi là quốc gia có hai nhà văn đạt giải thưởng Nobel Văn học. Người thứ nhất là Nadine Gordimer (1923-2014). Bà là nhà hoạt động xã hội da trắng chống chủ nghĩa Apratheid đoạt giải

1.3. Coetzee (sinh năm 1940) là nhà văn Nam Phi giành giải Nobel văn học(1) năm 2003, trở thành đại diện tiêu biểu cho nền văn học lục địa đen. So với các nhà

1

tiểu thuyết hiện đại, hậu hiện đại trên thế giới, ông không đem đến cho bạn đọc những tác phẩm đồ sộ, hoành tráng mà sáng tác của Coetzee có dung lượng vừa phải, tiết kiệm. Là nhà văn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các bậc thầy hậu hiện đại như F.M. Dostoyevsky, F. Kafka, W.C. Faulkner... nên trên từng trang viết của Coetzee luôn đau đáu về thân phận con người trong mối quan hệ với cộng đồng, xã hội. Với lối viết giản dị, tinh tế, đi thẳng trực tiếp các vấn đề, không màu mè, tất cả bi kịch con người Nam Phi được phơi bày sáng rõ… Văn chương của Coetzee đánh thẳng vào tâm lí bạn đọc và xã hội hậu hiện đại những câu hỏi nhức nhối đến ngột ngạt về tình trạng chia rẽ trong xã hội văn minh. Tiểu thuyết của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới trong đó có sáu tiểu thuyết đã được chuyển ngữ ở Việt Nam. Hiện nay, ở nước ta việc nghiên cứu lý thuyết hậu hiện đại trong văn học và ứng dụng lý thuyết vào các trường hợp cụ thể đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, với trường hợp nhà văn Nam Phi Coetzee thì chưa có công trình nào đầy đủ, trọn vẹn. Đó chính là lý do cơ bản và chính yếu giúp chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết John Maxwell Coetzee. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: các tiểu thuyết của nhà văn Nam Phi Coetzee. Hiện nay ở Việt Nam đã có 6 tiểu thuyết dịch ra tiếng Việt (Giữa miền đất ấy, Đợi bọn mọi, Cuộc đời và thời đại của Michael K, Tuổi sắt đá, Ruồng bỏ, Người chậm). Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cố gắng khảo sát đối chiếu nguyên bản tiếng Anh để từ đó đề xuất các đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của ông có độ tin cậy.

- Phạm vi nghiên cứu: luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu những đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee. Trong đó chúng tôi tìm hiểu đặc trưng tiểu thuyết của ông từ tâm thức thuộc địa/hậu thuộc địa, phương diện nhân vật và các kỹ thuật trần thuật hậu hiện đại, từ đó giúp bạn đọc Việt Nam nhận diện những đóng góp của nhà văn Coetzee đối với văn chương thế giới đương đại. 3. Mục đích nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm tìm ra những đặc trưng hậu hiện đại trong 6 tiểu thuyết được dịch ở tiếng Việt của nhà văn Nam Phi Coetzee. Từ đó khẳng định, Coetzee là nhà văn hậu hiện đại tài hoa, dị biệt của văn chương thế giới thế kỷ XXI.

- Coetzee là nhà văn chịu tác động mạnh mẽ bởi thể chế Apartheid nhưng tỏ thái độ ngoại cuộc trong cuộc chiến chống chế độ phân rẽ, vì vậy tiểu thuyết của ông mang tâm thức hậu thuộc địa, ám ảnh lưu vong tâm hồn. Đây cũng chính là mục đích nghiên cứu của luận án nhằm lí giải hiện tượng đó. 4. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý thuyết

Nobel Văn học năm 1991, nổi tiếng với tập tiểu luận Living in hope and history: Notes from our

century (Sống trong hi vọng và trong lịch sử: Những ghi chép về thế kỉ chúng ta) được xuất bản năm 1999.

Trong phạm vi luận án này, chúng tôi sử dụng lý thuyết hậu hiện đại để nghiên cứu một tác gia văn học tiêu biểu của Nam Phi - Coetzee. Đến nay, lý thuyết

2

hậu hiện đại đang trên đà vận động với nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, có khi đối lập, trái chiều. Bởi hậu hiện đại là sự hỗn độn, bất tín, lý thuyết của những tiểu tự sự phân mảnh, chắp vá. Sử dụng lý thuyết hậu hiện đại vào nghiên cứu một hiện tượng như Coetzee - đại biểu tiêu biểu của văn học hậu hiện đại trên thế giới không có nghĩa là áp đặt một cách cơ học, vật lí khung lí thuyết vào trong từng tiểu thuyết mà chúng tôi luôn xem xét trong mối quan hệ tương thích với tính cách, con người và thời đại của nhà văn sinh sống. Đặc biệt khi nghiên cứu, chúng tôi gắn đặc trưng tiểu thuyết của Coetzee với bối cảnh chính trị, văn hóa, xã hội Nam Phi thời kì Apartheid/hậu Apartheid và tâm thức sáng tạo của ông để từ đó có những lý giải về đặc trưng hậu hiện đại. Một nhà văn sẽ không thể đáp ứng tất cả các đặc điểm của một phạm trù lý thuyết, vì vậy chúng tôi chỉ tập trung vào đặc trưng tiểu thuyết của Coetzee gắn với tâm thức thuộc địa/hậu thuộc địa, bi kịch con người hậu hiện đại và các phương thức trần thuật hậu hiện đại tiêu biểu. Ngoài ra, để làm rõ đặc trưng hậu hiện đại trong văn chương Coetzee chúng tôi vận dụng các lý thuyết nghiên cứu khác như: thi pháp học, tự sự học, phân tâm học… 4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên

cứu chính sau đây:

- Phương pháp lịch sử - văn hóa: dùng để nghiên cứu, khảo sát các tiểu thuyết của Coetzee từ góc nhìn lịch sử, văn hóa Nam Phi thời kì Apartheid/hậu Apartheid.

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: dùng để tìm hiểu, nghiên cứu một cách hệ thống các đặc trưng của tiểu thuyết Coetzee từ đó thấy được những đóng góp của ông đối với văn chương hậu hiện đại Nam Phi nói riêng và thế giới nói chung.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng hai loại phương pháp nghiên cứu phối

hợp sau đây:

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: dùng để nghiên cứu những tương đồng và khác biệt trong đặc trưng nghệ thuật của Coetzee với các nhà văn hậu hiện đại khác (Albert Camus, Franz Kafka, Toni Morrison, Nadine Gordimer và một số nhà văn Nam Phi đương đại,…)

- Phương pháp liên ngành văn học - văn hóa: nghiên cứu tiểu thuyết của Coetzee trong mối quan hệ với văn học, văn hóa Nam Phi, chúng tôi hi vọng tìm thấy đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết cũng như lí giải tầm ảnh hưởng của ông đối với văn chương thế giới. 5. Đóng góp của luận án

Luận án trình bày những đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee, từ đó giúp bạn đọc Việt Nam có cái nhìn cơ bản, tổng thể về tiểu thuyết của ông cũng như văn học Nam Phi trong bối cảnh thuộc địa/hậu thuộc địa.

Luận án được xem là một trong những công trình đầu tiên, nghiên cứu tương đối có hệ thống các đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee ở Việt

3

Nam, từ đó khẳng định vị trí, tầm vóc cũng như sự ảnh hưởng của Coetzee đối với văn chương thế giới đương đại.

Bên cạnh đó, luận án thể nghiệm lý thuyết hậu hiện đại vào việc nghiên cứu một hiện tượng đạt giải thưởng Nobel Văn học, vì vậy, đây sẽ là công trình mang tính gợi mở cho những công việc tiếp theo của các nhà nghiên cứu khác.

Luận án hoàn thành sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập, nghiên cứu về tiểu thuyết gia Coetzee nói riêng cũng như chủ nghĩa hậu hiện đại, văn học hậu hiện đại Nam Phi nói chung. 6. Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung

chính của luận án được triển khai trong 4 chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2. Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee nhìn từ tâm

thức hậu thuộc địa

Chương 3. Đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee nhìn từ

phương diện nhân vật

Chương 4. Kỹ thuật trần thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee

4

NỘI DUNG Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Trong chương tổng quan, chúng tôi đề cập đến hai nội dung cơ bản. Thứ nhất là tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới và sự ứng dụng trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam hiện nay để từ đó chúng tôi đi đến kết luận quan trọng: chủ nghĩa hậu hiện đại đang ở thì hiện tại tiếp diễn. Sự hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại là quá trình kế thừa và phát triển các học thuyết trước đó, là sản phẩm của thời đại internet, của cách mạng 4.0 - nền công nghiệp tự động hóa... Những đóng góp của chủ nghĩa hậu hiện đại tác động to lớn đến mọi mặt của cuộc sống, trong đó có lĩnh vực văn học nghệ thuật. Các hệ tư duy mới ra đời giải quyết gần như triệt để cấu trúc thượng tầng trong đời sống xã hội. Thứ hai là tình hình nghiên cứu hiện tượng Coetzee và tiểu thuyết của ông ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung từ đó đánh giá tổng quan nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài. Có thể nói hiện tượng Coetzee trên thế giới đã được nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống. Nhiều công trình có tính khái quát cao, phục vụ đắc lực trong học tập và nghiên cứu văn chương đương đại. Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào có tính chuyên sâu về hiện tượng Coetzee, đặc biệt nhất là chỉ ra các đặc trưng hậu hiện đại trong sáng tác của ông. Từ việc tổng thuật của đề tài, chúng tôi đi đến khẳng định Coetzee là nhà văn hậu hiện đại được hình thành từ tâm thức thực dân/hậu thực dân. 1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại

Chủ nghĩa hậu hiện đại là một trào lưu tư tưởng phổ biến(2) và hiện nay đang hình thành khái niệm, đặc trưng khu biệt. Lý thuyết này không chỉ có trong lĩnh vực văn hóa, triết học, hội họa, âm nhạc, văn học,… mà đã phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống con người. Tuy nhiên, ở phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tổng thuật chủ nghĩa hậu hiện đại trên lĩnh vực văn học để có cái nhìn lịch đại và đồng đại về tình hình nghiên cứu hiện nay. 1.1.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới

(2) Trong Hậu hiện đại ở Nga, Văn học và lý luận (2002), tác giả M.Epsstein thống kê: cuối năm 1998, ở Mỹ, riêng tại các thư viện lớn thống kê được 3579 cuốn sách với đầu đề có từ postmodernism và 2666 cuốn có từ posmodern. Trong số sách bán trên thị trường có 421 cuốn về posmodernism và 833 cuốn về postmodern (tr.364-365). Ở Nga, từ cuối 1980 tới năm 1995, riêng trong lĩnh vực văn hoá đã có khoảng hơn 40 đầu sách về lĩnh vực này (tr.321) [153].

Khái niệm hậu hiện đại được định hình ở các lĩnh vực khác đã xuất hiện từ lâu, tuy nhiên trong văn học thì phải vào những năm 60 của thế kỷ XX mới có những công trình ra đời. Năm 1861, nhà khoa học, triết gia người Pháp, Antoine Augustin Cournot nói đến khái niệm hậu lịch sử (post-histoire) trong cuốn Traité de l'enchaînement des idées fondamentales dans les science et dans l'Histoire (Chuyên luận về sự liên kết những ý tưởng cơ bản trong khoa học và sử học). Trong cuốn sách này, Cournot nhắc đến giả thuyết của Hegel về sự hoàn tất lịch sử ở thời điểm hiện đại, để gián tiếp chỉ định những gì xảy ra sau đó là hậu lịch sử.

5

Nửa cuối thế kỷ XIX, thuật ngữ “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) xuất hiện trong lĩnh vực hội họa. Đến công trình Antología de la poesía española e hispano-americana (1882-1932) (Tuyển tập thơ Tây Ban Nha và Mĩ Latinh), nhà phê bình Pederico de Onís đã sử dụng thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại để chỉ sự khủng hoảng của ngôn ngữ trong thơ ca. Năm 1947, một sử gia nổi tiếng người Anh là Arnold Joseph Toynbee (1889-1975) trong công trình A Study of History (Nghiên cứu lịch sử) đã sử dụng thuật ngữ này nhằm mục đích để “đánh dấu trước sau năm 1875 văn minh phương Tây đã bước vào một chu kỳ lịch sử mới” (Ihab Hassan). Đến những năm 60, 70 của thế kỉ XX, nhiều nhà lý luận Hoa Kỳ, sau đó là cả châu Âu đã sử dụng rộng rãi thuật ngữ này, và đã có nhiều cuộc tranh luận, đối thoại như giữa học giả Pháp Jean Francois Lyotard với học giả Đức Jürgen Harbamas(3)… Công trình La condition postmoderne: rapport sur le savoir (Hoàn cảnh hậu hiện đại: bản tường trình về tri thức, 1979) và tiếp tục được triển khai trong Le différend (Bất đồng, 1983) của Lyotard trở thành “cương lĩnh” cho nội hàm thuật ngữ này. Đến nay, nó được sử dụng rộng khắp trong mọi lĩnh vực: văn học, nghệ thuật, văn hóa, kiến trúc, thể thao, triết học… Năm 1990, Katie Wales đã đưa thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiện đại vào quyển A Dictionary of Stylistics (Từ điển phong cách học). Tác giả xem khái niệm này là một trào lưu tư tưởng xuất hiện từ 1960 trở đi, là sự tiếp nối của chủ nghĩa hiện đại ở châu Âu khước từ hệ quy chiếu hiện thực. Năm 1996, trong cuốn Literary Theory, An Introduction (Dẫn luận lí luận văn học), Terry Eagleton xác định các phạm trù của hậu hiện đại: tùy tiện, đa trị, lai ghép, lệch tâm, dễ thay đổi, ngưng đọng, hệt như một mô phỏng [101].

Văn chương hậu hiện đại được xem là phản ứng chống lại tư tưởng Khai sáng (Enlightenment) - phong trào ủng hộ lý tính, khoa học và sự hợp lý khởi nguồn từ châu Âu trong thế kỷ XVII - XVIII; chống lại cả sự tiếp cận của những người theo chủ nghĩa hiện đại đối với văn chương. Nó không thích bị định nghĩa hay phân loại là một “trào lưu” (văn chương). Hậu hiện đại có nhiều kiểu lý thuyết phê bình khác nhau, chấp nhận phản ứng đa chiều của người đọc, kể cả cách tiếp cận “giải cấu trúc” (déconstruction) - phương pháp phân tích văn chương của triết gia Pháp Jacques Derrida. Nó phá vỡ cái gọi là “ngầm hiểu”, sợi dây liên kết giữa tác giả, văn bản và người đọc thông qua tác phẩm.

(3) Sinh năm 1929, là nhà triết học, xã hội học thực dụng người Đức, có nhiều quan niệm đối lập với Lyotard về chủ nghĩa hậu hiện đại, nổi tiếng với công trình The Philosophical Discourse of Modernity (Diễn ngôn

triết học về tính hiện đại - 1985).

Năm 1941, một số nhà nghiên cứu lý luận văn học khẳng định đây là năm khởi đầu cho chủ nghĩa hậu hiện đại. Tuy nhiên, Keith Hopper lại cho rằng The Third Policeman (Người cảnh sát thứ ba) của Flann O‟Brien (nhà văn người Ireland) mới là một trong những tiểu thuyết hậu hiện đại đầu tiên (bản thảo hoàn tất năm 1939 nhưng bị cấm xuất bản, đến năm 1967 mới được ra mắt). Tác phẩm mang những đặc điểm của văn chương hậu hiện đại, sau này rất nhiều các nhà văn khác sử dụng như một hình thức phổ biến: lai lịch và tình huống không thể lí giải của nhân vật, siêu hư cấu... Một quyển khác của Flann O‟Brien có tựa đề là The Dalkey

6

Archive(4), xuất bản năm 1964, hai năm trước khi tác giả qua đời cũng được xem là tiểu thuyết khởi đầu giai đoạn văn chương hậu hiện đại.

Nhìn chung, tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới rất phức tạp, nhưng có thể có hai phương pháp tiếp cận cơ bản: cách tiếp cận và quan niệm văn học hậu hiện đại từ góc độ xã hội học và triết học Tân Marxism và cách tiếp cận văn học hậu hiện đại từ góc độ ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật đặc thù. Từ góc độ xã hội học và triết học có các tác giả như Fredric Jameson với tiểu luận Postmodernism, or, The Cultural Logic of Late Capitalism (Chủ nghĩa hậu hiện đại hay logic văn hóa của chủ nghĩa tư bản hậu kì, 1984); các bài báo Postmodernism for Kids or What is Postmodernism (Chủ nghĩa hậu hiện đại cho người mới tìm hiểu hay chủ nghĩa hậu hiện đại là gì?) của Arup Ratan Ghosh; The romantic, the modern and postmodern (Lãng mạn, hiện đại và hậu hiện đại) của Ashoke Viswanathan; Postmodernism and India: some preliminary animadversions (Chủ nghĩa hậu hiện đại và Ấn Độ: một vài nhận định ban đầu) của Makarand Paranjape… đã chỉ rõ nền tảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản hậu kì đã quy định đến tính chất và diện mạo của văn học. Ngoài ra, ở Trung Quốc các nhà nghiên cứu như Vương Nhạc Xuyên với Nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại (1992), Thịnh Ninh với Nghi hoặc và phản tư nhân văn - phê phán tư trào chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây (1997), Trần Hiểu Minh với Thử thách vô biên - tính hậu hiện đại của văn học tiên phong Trung Quốc (2006) và các bài viết của Ngô Lượng, Trác Hồng, Trần Tư Hòa, Vương Ninh, Đỗ Thư Doanh… đã xác lập lý thuyết văn học hậu hiện đại nằm trong quỹ vận động, phát triển của xã hội thế kỷ XX. Thứ hai là cách tiếp cận từ góc độ ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật. Cách tiếp cận này chịu ảnh hưởng từ lý thuyết giải cấu trúc của Bakhtin, Derrida, Kristeva, Lacan, Foucault... Từ những kiến giải, các nhà hậu hiện đại đã đưa ra những đặc trưng thẩm mĩ của văn học hậu hiện đại như: hỗn độn, hoài nghi, mảnh vỡ, đa trị, lai ghép, ngoại biên, lệch tâm...

điên loạn.

Tóm lại, có thể thấy tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới có nhiều thành tựu góp phần định hình nền văn học đương đại. Với việc định hình và phát triển một lí thuyết nghiên cứu văn học mới đã làm cho đời sống phê bình trở nên hấp dẫn, sôi động. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu, phê bình hiện nay vẫn còn có những giới hạn khi xác định phạm trù khái niệm hậu hiện đại. Thứ nhất, đó là sự chồng chéo, có khi đối lập nhau trong việc xác định khái niệm hậu hiện đại. Thứ hai, chưa làm rõ cũng như chưa xác định phạm trù cái chung và cái riêng trong khái niệm hậu hiện đại. Với đặc điểm hậu hiện đại của mỗi quốc gia, khu vực có những điểm khác nhau, đặc trưng riêng, các nhà hậu hiện đại vẫn chưa tìm thấy điểm chung trên phạm vi toàn thế giới. Dù muốn hay không khái niệm và nội hàm lí thuyết hậu hiện đại đã hiện hữu trong đời sống phê bình văn học. Nó đã xác lập một hệ hình nghiên cứu chính hiện nay và thực sự có nhiều đóng góp thiết thực, làm sinh động hóa các hướng tiếp cận đời sống văn học. (4) Đây là cuốn tiểu thuyết thứ năm và cuối cùng của ông. Năm 1965 được Hugh Leonard chuyển thể thành kịch sân khấu với tên gọi The Saints Go Cycling In. Nhân vật chính là De Selby, một kiểu nhân vật tri thức

7

1.1.2. Tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam

Lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học Việt Nam cũng như các luồng tư tưởng phê bình ở nước ta những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Xuất hiện bài báo dịch thuật, công trình nghiên cứu, ứng dụng lý thuyết văn học hậu hiện đại. Điều này đã làm cho không khí phê bình học thuật sôi động, không thua kém so với các nước tiên tiến trên thế giới. Khái niệm hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu hiện đại đã hàm chứa nhiều vấn đề phức tạp, gây tranh cãi giữa các nhà khoa học, cho nên khi áp dụng vào Việt Nam cũng không tránh khỏi những tiếp nhận chồng chéo, có khi mâu thuẫn gay gắt. Ở luận án này, chúng tôi sẽ không khảo sát lại các công trình nghiên cứu về lý thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam tiêu biểu theo trình tự lịch đại như các luận án trước đã làm mà chỉ tổng quan các thành tựu nổi bật.

Về công trình nghiên cứu lý thuyết hậu hiện đại Cuối thế kỷ XX, xuất hiện một số bài báo dịch thuật, giới thiệu những nét phác thảo ban đầu về lý thuyết hậu hiện đại trên thế giới ở Việt Nam. Sự thất bại của cơ cấu luận - Phê bình Levi - Strauss và Jacques Derrida của Phạm Công Thiện và Cơ cấu ngôn ngữ của Michel Foucault của Tuệ Sĩ đăng trên Tạp chí Tư tưởng (số 6, ngày 01/11/1969) thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh đã giới thiệu và gợi ý về một sự thay đổi trong xu hướng nghiên cứu mới trong tương lai, cái mà sau này chúng ta gọi là “hậu hiện đại”. Năm 1991, tiểu luận Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của Antonio Blach (Tây Ban Nha) (Nguyễn Trung Đức dịch) in trên Tạp chí Văn học, (số 5, 1991) đã cung cấp cho bạn đọc các khái niệm cơ bản của văn học hậu hiện đại và tiểu thuyết hậu hiện đại như: tính phức tạp và phiến diện, xóa nhòa ranh giới giữa không gian của nghệ thuật và không gian của kỹ thuật, giữa ý thức và vô thức, giữa hiện thực và ma quái... Năm 1995, bài viết Từ văn bản đến tác phẩm văn học và giá trị thẩm mỹ của Trương Đăng Dung in trên Tạp chí Văn học (số 11, 1995) đã diễn giải mối quan hệ giữa văn bản - người đọc và đi đến khẳng định sự tạo nghĩa chỉ có thể có được thông qua hoạt động tiếp nhận của người đọc.

Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XXI khái niệm hậu hiện đại mới bắt đầu sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam. Bài viết Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại của Phương Lựu trên tạp chí Nhà văn (số 8, 2000) đã trực tiếp bàn về khái niệm này, đồng thời chỉ ra con đường phát triển của nó trong nghiên cứu, phê bình văn học. Bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tượng chồng chéo khái niệm của Nguyễn Văn Dân đăng trên tạp chí Văn học, (tháng 9/2001) và những bài viết trao đổi xung quanh vấn đề này đôi lúc có gay gắt, chủ quan nhưng đã có những bàn luận thẳng thắn về hiện tượng đã hoặc chưa có chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam. Đến nay, dù muốn hay không thì bản thân tác giả cũng thừa nhận sự có mặt của hậu hiện đại trong đời sống văn học Việt Nam. Cũng trong năm này, Phùng Văn Tửu công bố chuyên luận Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 2001) với 4 phần: Dưới con mắt các nhà phê bình, Hồi ức và sáng tạo, Các giải thưởng văn chương, Hướng về đông đảo bạn đọc, công trình đã phần nào phác họa diện mạo chung của văn học hậu hiện đại

8

Pháp thông qua việc phân tích một số nhà văn nổi tiếng như Annie Ernaux, Robbe- Grillet, Le Clézio...

Năm 2003, Nxb Hội nhà văn và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản công trình Văn học hậu hiện đại thế giới. Trong quyển 1, Văn học hậu hiện đại thế giới - những vấn đề lý thuyết có 7 bài viết của các tác giả Việt Nam và 4 bài viết của các nhà nghiên cứu định cư ở nước ngoài. Cùng năm này, nhóm dịch giả Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại Nguyên Ân giới thiệu quyển Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học phương Tây và Hoa Kì thế kỉ XX của hai tác giả I.P.Ilin và Tzurganova. Đây được xem là cuốn sách cung cấp có hệ thống các thuật ngữ và khái niệm hậu hiện đại cũng như chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học. Các nhà nghiên cứu đã đề cập đến các khái niệm của chủ nghĩa hậu hiện đại: cảm quan hậu hiện đại, mặt nạ tác giả, siêu truyện, mã kép, giải nhân cách hóa, phi lựa chọn, pastiche, bất tín nhận thức, liên văn bản, tính nhục thể, ngoại biên...

Năm 2004, Trương Đăng Dung đã nghiên cứu và diễn giải bản chất của tư duy lý luận văn học từ hiện đại đến hậu hiện đại một cách hệ thống trong công trình Tác phẩm văn học như là quá trình (Nxb Khoa học Xã hội). Trong Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử (phần 1, Nxb Đại học Sư phạm, 2004) do Trần Đình Sử chủ biên có nhiều bài viết nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại và sự ứng dụng của nó trong một số trường hợp cụ thể như: Kỹ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (Nguyễn Đăng Điệp), Cấu tứ tự sự của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Nguyễn Văn Tùng), Miêu tả của Robbe-Grillet trong tiểu thuyết Ghen (La jalousie) (Nguyễn Thị Từ Huy)... Bên cạnh đó, tiểu luận phê bình Đi tìm sự thật biết cười (Umberto Eco - Vũ Ngọc Thăng dịch, Nxb Hội Nhà văn - Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2004) đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau của lý luận nghệ thuật như: kí hiệu và văn bản học, mĩ học hậu hiện đại, thi pháp mở...

Năm 2005, bài viết Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại của Đào Tuấn Ảnh (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 8) đã chỉ rõ con đường du nhập lí thuyết hậu hiện đại trên thế giới ở Việt Nam, đặc trưng thẩm mỹ cũng như các khả năng vận dụng lý thuyết văn học nước nhà.

Năm 2006, công trình Chủ nghĩa hậu hiện đại, các vấn đề nhận thức luận của Trần Quang Thái (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) phác thảo và hệ thống lịch sử ra đời và quá trình phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới, đặc biệt tác giả tổng kết những tư tưởng cơ bản của lý thuyết này. Trong thời gian này có nhiều bài nghiên cứu bắt đầu ứng dụng lí thuyết hậu hiện đại làm nền tảng để nghiên cứu, soi chiếu các hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 12, 2007) như: Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài (Lã Nguyên), Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga (Đào Tuấn Ảnh), Lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và dấu vết của hệ hình thi pháp hậu hiện đại (Cao Kim Lan)…

Năm 2008, nhóm tác giả bộ giáo trình Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội) đã đưa khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại vào

9

và xem đó là khuynh hướng sáng tác của văn học đương đại thế giới. Điều đó chứng tỏ sự thừa nhận khái niệm này trong giới học thuật chính thống ở các trường Đại học và Cao đẳng ở Việt Nam. Công trình Tự sự học (tập 2) do Trần Đình Sử chủ biên tiếp tục có nhiều bài viết bàn về sự ứng dụng chủ nghĩa hậu hiện đại vào đời sống văn học Việt Nam: Kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thể trần thuật trong tiểu thuyết hậu hiện đại (Trần Huyền Sâm), Tư duy thơ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Nguyễn Thị Bình), Mẫu gốc như là thành phần tạo nghĩa trong chuyện kể (khảo sát qua mẫu gốc lửa và nước trong “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo) (Đào Vũ Hòa An)… Ngoài ra còn có bài viết Tiếp cận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại và chủ nghĩa hậu hiện đại của Hoàng Ngọc Hiến trên (Tạp chí Sông Hương, số 7, 2008) đã chỉ ra những dấu hiện cơ bản hậu hiện đại trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Lê Anh Hoài…

Năm 2011, Lý thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu (Nxb Đại học Sư phạm) được xem là công trình công phu về việc tái hiện diện mạo chủ nghĩa hậu hiện đại trong tiến trình chung của văn học thế giới. Bên cạnh những khái niệm, lịch sử ra đời, tên gọi, các cuộc tranh luận, các học giả tiêu biểu… thì cuốn sách còn cung cấp những tri thức cơ bản về hậu hiện đại giúp người đọc soi chiếu những đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại vào quá trình nghiên cứu các hiện tượng văn chương cụ thể.

Năm 2012, chuyên luận Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu Petrescu (Ru-ma-ni) do Lê Nguyên Cẩn dịch và giới thiệu đã góp phần cung cấp thêm góc nhìn về văn học hậu hiện đại trên thế giới với phương diện tiền đề cơ bản và những đặc trưng cơ bản của thi pháp hậu hiện đại.

Về công trình ứng dụng lý thuyết hậu hiện đại vào các hiện tượng cụ thể Ở Việt Nam, những năm đầu của thế kỷ XXI, có nhiều công trình ứng dụng lý thuyết hậu hiện đại vào nghiên cứu từng trường hợp cụ thể. Điều này, góp phần khẳng định hậu hiện đại có mặt trong đời sống văn học Việt Nam và trở thành một khuynh hướng nghiên cứu chủ đạo trong thời gian sắp tới.

Năm 2012, công trình Văn học hậu hiện đại - lý thuyết và tiếp nhận của tác giả Lê Huy Bắc (Nxb Đại học Sư phạm) được ấn hành với 21 chương. Đây là công sức tìm tòi, khám phá của tác giả trong việc xây dựng lí thuyết cũng như vận dụng vào các hiện tượng trên thế giới và Việt Nam: Franz Kafka, J.M. Coetzee, G.G. Marquez, Don DeLillo, Paul Auster, Ken Kesey, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tư, Thanh Thảo, Bảo Ninh… Tác giả dành 6 chương để khái quát lý thuyết hậu hiện đại, các chương còn lại đã vận dụng hậu hiện đại để nghiên cứu các trường hợp cụ thể như: mờ hóa, mã kép, giải tôi, ngẫu nhiên, đa điểm nhìn, nghịch lí, nhại, hỗn độn, giải luận đề, tính dục, tính đa trị, liên văn bản, tiểu tự sự… Đặc biệt, ở chương 5: Hậu hiện đại từ Franz Kafka đến J.M. Coetzee là bài viết độc đáo cho thấy sự dịch chuyển của lý thuyết hậu hiện đại từ giữa thế kỉ đến cuối thế kỉ XX cũng như sự chuyển tiếp từ bậc thầy văn chương (Kafka) đến nhà hậu hiện đại tiêu biểu (Coetzee).

Năm 2013, công trình Văn học hậu hiện đại - diễn giải và tiếp nhận của Nguyễn Thành, Hồ Thế Hà, Nguyễn Hồng Dũng chủ biên (Nxb Văn học), Lý thuyết

10

phê bình văn học hậu hiện đại của Trường Đại học Hồng Đức (Nxb Đại học Vinh) ra đời. Đặc biệt là công trình Văn học hậu hiện đại - lý thuyết và thực tiễn của Lê Huy Bắc, Lê Nguyên Cẩn, Đỗ Hải Phong chủ biên (Nxb Đại học Sư phạm) gồm 29 bài viết với các nội dung: những vấn đề chung của văn học hậu hiện đại (5 bài), ứng dụng lí thuyết vào nghiên cứu các hiện tượng văn học Việt Nam (8 bài), ứng dụng lí thuyết vào nghiên cứu các tác giả và tác phẩm văn học nước ngoài (16 bài). Một số bài viết đã làm sáng tỏ các kĩ thuật đặc trưng của văn học hậu hiện đại như: tính chất trò chơi, tính liên văn bản, phi trung tâm, huyền ảo, mảnh vỡ...

Không thể không kể đến công trình Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam do Lê Huy Bắc chủ biên (Nxb Tri thức, 2013) với 18 bài viết sâu sắc như: Lí thuyết phê bình hậu hiện đại như một siêu ngữ, Từ ngôn ngữ đến trò chơi ngôn ngữ hậu hiện đại (Lê Huy Bắc), Giải cấu trúc và nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay (Trần Đình Sử), Thiền và hậu hiện đại (Nhật Chiêu), Chủ nghĩa hậu hiện đại gặp gỡ Đông phương (Inrasara), Phi trung tâm - khái niệm và tiếp nhận (Nguyễn Thị Hạnh), Dẫn luận lí thuyết liên văn bản (Nguyễn Văn Thuấn), Vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đại qua “Bốn bề bờ bụi” của Akutagawa Ryunosuke (Nguyễn Thị Tịnh Thy)… Tuy giữa các bài viết còn đôi chỗ mâu thuẫn nhau về quan niệm, cách nhìn hậu hiện đại nhưng tất cả đã góp phần tạo nên sự phong phú cho đời sống phê bình hậu hiện đại ở nước ta hiện nay.

Trong những năm gần đây, việc vận dụng lí thuyết hậu hiện đại vào các hiện tượng cụ thể đã trở thành một phong trào phát triển mạnh mẽ. Tiêu biểu có công trình Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại (giai đoạn 1986 - 2012) của Phùng Gia Thế. Cuốn sách gồm 3 chương: Khái niệm hậu hiện đại và yếu tố hậu hiện đại trong văn hóa Việt Nam đương đại; Mô hình thế giới giải thiêng; Xu hướng Các-na-van hóa đã đề cập đến các vấn đề như: lai lịch thuật ngữ, hậu hiện đại một khái niệm đa nghĩa thuộc nhiều lĩnh vực của văn hóa, điều kiện hậu hiện đại và những yếu tố trong văn hóa Việt Nam. Chương 2 và 3 của công trình đã ứng dụng các lí thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại như: chủ thể trần thuật phi trung tâm, phân mảnh, lắp ghép, người trần thuật không đáng tin cậy, hỗn độn, hoang mang, giễu nhại, siêu hư cấu, thông tục hóa… để làm sáng rõ tác phẩm của một số nhà văn đương đại như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài, Chu Lai, Hồ Anh Thái…

Gabriel García Márquez và nỗi cô đơn huyền thoại (2015) của Phan Tuấn Anh được xem là công trình nghiên cứu dày dặn, có hệ thống về hiện tượng văn chương tiêu biểu châu Mỹ Latin. Cuốn sách tập hợp 12 bài viết về các biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại như: yếu tố phi lý, tâm thức mê lộ, liên văn bản, cảm quan đa trị, nghịch dị... trong các tác phẩm Trăm năm cô đơn, Giờ xấu, Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi, Tình yêu thời thổ tả... Đây được xem là công trình ứng dụng lí thuyết hậu hiện đại vào một tác giả tiêu biểu trên thế giới hấp dẫn giúp bạn đọc Việt Nam không chỉ biết đến một nhà văn đạt giải Nobel Văn học (1982) mà còn có nhiều tri thức về văn hóa, xã hội, tâm thức văn chương Mĩ Latin huyền thoại, bí ẩn.

11

Ngoài ra, hai luận án tiến sĩ đã ứng dụng lí thuyết hậu hiện đại vào nghiên cứu các hiện tượng văn học ở Việt Nam: Yếu tố hậu hiện đại trong truyện ngắn Việt Nam của Lê Văn Trung và Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 của Nguyễn Hồng Dũng... Đây là kết quả quá trình tìm tòi, nỗ lực của các nhà nghiên cứu phê bình nhằm ứng dụng lí thuyết hậu hiện đại vào đời sống văn học Việt Nam.

Năm 2016, công trình Tiểu thuyết phương Tây hiện đại và các hướng tiếp cận của Trần Huyền Sâm (Nxb Văn học) đã mang đến cho người đọc các hướng tiếp cận: tự sự học (thời gian, kiểu trần thuật), so sánh (tiểu thuyết và kinh thánh), tiểu thuyết và liên văn hóa, tiểu sử học về các tiểu thuyết gia: Umberto Eco, Marguerite Duras, J.M. Coetzee, Nikos Kazantzakis, Claude Lévi-Strauss, Le Clézio, M.V. Llosa…

Năm 2017, tác giả Thái Phan Vàng Anh xuất bản công trình Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI - Lạ hóa một cuộc chơi (Nxb Đại học Huế). Đây là kết quả của quá trình tìm tòi xác lập và ứng dụng lý thuyết hậu hiện đại vào nghiên cứu tình hình tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI với những phát hiện mới, độc đáo. Công trình trên góp phần trả lời cho một vài băn khoăn: Việt Nam có hoàn cảnh hậu hiện đại, có tâm thức hậu hiện đại hay không? Các nhà văn Việt Nam khi sáng tác liệu có vận dụng lí thuyết hậu hiện đại hay không? Và khi biểu hiện các nhà văn Việt Nam có điều gì giống và khác với các nhà văn hậu hiện đại trên thế giới? v.v…

Bên cạnh đó, có nhiều bài viết được đăng tải trên các trang website uy tín mang đến những thông tin có tính thời sự như: Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học Việt Nam, Các lý thuyết phê bình văn học 9(11): chủ nghĩa hậu hiện đại, Chủ nghĩa hậu hiện đại - những mảnh nghĩ rời, Chủ nghĩa hậu hiện đại và những cái cần chết trong văn học Việt Nam,… của tác giả Nguyễn Hưng Quốc; Thử thưởng thức một tác phẩm văn chương hậu hiện đại của Hoàng Ngọc Tuấn; Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn bản của Nguyễn Minh Quân… Các diễn đàn trao đổi sôi nổi về chủ nghĩa hậu hiện đại như: Chủ nghĩa hậu hiện đại và ảnh hưởng ở nước ta của Đông La, Chập chờn bóng ma hậu hiện đại của Đỗ Minh Tuấn, Nhà văn Lê Anh Hoài: Hậu hiện đại đã và đang được Việt hóa của Thái Kim Lan, Bàn về thuật ngữ văn học hậu hiện đại của Nguyễn Văn Tùng, Tùy bút nhỏ về hậu hiện đại của Văn Giá, Thiền và hậu hiện đại của Nhật Chiêu, Xu hướng tân hình thức, hậu hiện đại trong thơ: chiếc áo rộng cho một cơ thể còm của Khánh Phương, Chủ nghĩa hậu hiện đại? của Bùi Quang Thắng, Nhận biết về chủ nghĩa hậu hiện đại trong nghệ thuật của Hồ Sĩ Vịnh, Nhập lưu hậu hiện đại; Hậu hiện đại và thơ hậu hiện đại; Ma net, quá trình chuyển giọng từ hiện đại đến hậu hiện đại… của Inrasara…

Từ những công trình, bài viết trên chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu, phê bình ở Việt Nam đã tìm tòi, xác lập lí thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam trên nhiều phương diện khác nhau:

Về lí thuyết phê bình hậu hiện đại, có thể kể đến sự đóng góp của tác giả Phương Lựu. Với những nỗ lực của nhà nghiên cứu văn học hàng đầu ở Việt Nam, tác giả đã xác lập, phân loại các khuynh hướng hậu hiện đại trên thế giới và định

12

hướng xu thế phê bình văn học ở nước ta hiện nay. Từ đó giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về chủ nghĩa hậu hiện đại.

Về nguồn gốc và quá trình sáng tác văn chương hậu hiện đại có sự đóng góp nhất định của Nguyễn Văn Dân. Là người đặt ra câu hỏi tồn tại hay không tồn tại của chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam tạo nên nhiều tranh luận nhưng những gợi dẫn của tác giả chứng tỏ rằng: hậu hiện đại có sức hút hấp dẫn đối với phê bình văn học của nước ta hiện nay. Còn La Khắc Hòa mang đến những vấn đề giải cấu, giải thiêng các đại tự sự.

Trong lĩnh vực nghiên cứu, vận dụng vào các hiện tượng văn học cụ thể ở Việt Nam và thế giới có thể kể đến: Hồ Thế Hà, Lê Huy Bắc, Nguyễn Thị Bình, Bửu Nam, Trần Huyền Sâm, Nguyễn Hồng Dũng, Phan Tuấn Anh, Phùng Gia Thế, Thái Phan Vàng Anh...

Mặc dù hành trình khám phá địa hạt hậu hiện đại dường như chưa có hồi kết nhưng có thể nói rằng tình hình nghiên cứu và sự ứng dụng lí thuyết này ở Việt Nam đã có những thành tựu nhất định. Điều này đã làm cho đời sống văn học của nước nhà sôi động và có thể hội nhập với tình hình chung với văn học trong khu vực và trên thế giới.

Việc khảo sát các công trình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới đã có nhiều luận án tiến sĩ trước đó của các tác giả thực hiện như: Nguyễn Hồng Dũng (Đại học Khoa học Huế), Nguyễn Văn Thuấn (Đại học Sư phạm Huế), Phan Tuấn Anh (Đại học Khoa học Huế), Phùng Gia Thế (Đại học Sư phạm Hà Nội 2), Lê Thị Diễm Hằng (Đại học Sư phạm Huế), Nguyễn Thị Thanh Hiếu (Đại học Vinh), Nguyễn Thị Lan Anh (Đại học Quốc gia Hà Nội), Phạm Ngọc Lan (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Tp.HCM), Trần Quang Hưng (Học viện Khoa học Xã hội),… Các luận án đã mô tả diện mạo chung khá đầy đủ về tình hình nghiên cứu lý thuyết văn học hậu hiện đại trên thế giới. Vì thế, trong luận áy này, chúng tôi chỉ dừng lại ở mức phác thảo sơ lược về các khuynh hướng nghiên cứu lý thuyết hậu hiện đại trên thế giới và ở Việt Nam. Điều chúng tôi quan tâm là tập trung đi tìm chân dung, diện mạo, phong cách của nhà văn hậu hiện đại Coetzee. 1.2. Tình hình nghiên cứu về Coetzee

Coetzee là một hiện tượng lạ, độc đáo, bí ẩn trên văn đàn thế giới đương đại. Ông sinh ra và lớn lên ở Nam Phi, có nguồn gốc Do Thái; làm việc tại nhiều trường Đại học Nam Phi và Mỹ. Năm 2006, Coetzee trở thành công dân của đất nước xứ sở Kangaroo. Mang trong mình thân phận tha hương với nhiều ẩn ức về đất nước; bị ám ảnh nặng nề bởi chế độ Apartheid; có đời sống cá nhân thăng trầm, bất hạnh; có khối tài sản đáng mơ ước… tất cả điều đó đã làm nên một nhà văn Nam Phi độc đáo, tài hoa, hấp dẫn. Khi nghiên cứu về Coetzee, chúng tôi nhận thấy ở ông những nét đáng chú ý sau: đó là dạng con người dị biệt, chăm chỉ, tài năng, ngoại cuộc, ám ảnh với những đau thương mất mát. 1.2.1. Nghiên cứu về Coetzee trên thế giới

Giải thưởng Nobel Văn học không chỉ là mơ ước của một cá nhân nhà văn mà nó là niềm tự hào của đất nước, quốc gia. Nhưng Coetzee lại đón nhận thông tin này bằng thái độ bình thản. Thậm chí, ông không hề biết việc mình đạt giải Nobel

13

[166]. Giải Nobel Văn học năm 2003 không chỉ đem đến sự bất ngờ cho bản thân ông mà ngay cả bạn đọc châu Phi cũng chưa biết đến nhà văn Coetzee là ai. David Attwell, giáo sư tại Đại học Witwatersrand (Nam Phi) nhận định về cách nhìn xa của Viện Hàn lâm Thụy Điển khi trao giải thưởng cho nhà văn Nam Phi này: “tôi không nghĩ rằng, phần lớn người dân Nam Phi biết ông ấy là ai [99]. Quả thực các tác phẩm của Coetzee đã thổi đến những luồng gió mới lạ đến đời sống văn học ở quốc gia Cầu Vồng này. Nhà phê bình văn học Shaun de Waal(5) nhận định: “Nam Phi là một quốc gia không đề cao văn chương. Phần lớn sách được nhập khẩu với giá rất cao [và] sách được coi là mặt hàng xa xỉ” [166]. Vì vậy, Nam Phi có quyền tự hào về một nhà văn có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà và thế giới. Sự thật là văn phong của Coetzee đã có ảnh hưởng rất lớn đến các nhà văn da đen trẻ của Nam Phi như Zoë Wicomb (1948), Zakes Mda (1948), Mike Nicol (1951), Ivan Vladislavić (1957)…

Giải thưởng Nobel Văn học trao tặng cho Coetzee ngoài tài năng, còn dành tặng cho lòng dũng cảm của ông khi nói về bối cảnh chính trị khô khốc ở Nam Phi. Per Erik Wästberg, nhà văn Thụy Điển - thành viên của Hội đồng trao giải Nobel Văn học, tỏ thái độ ngạc nhiên, lo lắng cho Coetzee và nhận định: “ông ấy đào sâu vào tình hình đất nước trong tình trạng con người với sự tàn nhẫn và cô đơn. Ông ấy đã lên tiếng cho chúng ta thấy được sự phân biệt của kẻ mạnh. Với sự trung thực về trí tuệ và một dạng tự sự về độ chính xác, ông ấy đã tiết lộ những bộ mặt giả của nền văn minh của chúng ta và khám phá ra bản chất của cái ác” [166]. Nhà văn người Chile, Ariel Dorfman xem Coetzee là một nghệ sĩ trung thực: “Anh ấy khám phá khung cảnh rất ảm đạm của con người. [Coetzee] không nói dối. Anh ấy không nói dối về bản thân mình. Anh ấy không nói dối về thân phận con người. Anh ấy không nói dối về nhân vật của mình. Anh ấy đi vào chiều sâu của những gì thuộc về con người” [166].

Trong bài viết: Only the Big Questions, A South African writer refects on his country's new Nobel laureate (Chỉ những vấn nạn lớn, một nhà văn Nam Phi ngẫm nghĩ về người đồng hương vừa được giải Nobel), nhà văn Rian Malan (tác giả của My Traitor's Heart - Trái tim kẻ phản bội) cho rằng Coetzee là một nhà văn khó gần, sự im lặng của ông chính là cách ông trả lời về những băn khoăn của độc giả. Ông là một trí thức thâm trầm (một số người nói là lạnh lùng), nhưng trên tất cả, “ông là đại sư phụ về trò chơi rắc rối của lý thuyết văn chương hậu hiện đại”. Đánh giá về tiểu thuyết của Coetzee, Rian Malan nhận xét: “Coetzee sẽ được nhớ đến giản dị như một nhà văn mô tả, xác đáng hơn tất cả, thế nào là một người da trắng có lương tri khi đối mặt với sự ngu ngốc và tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc” [151]. Ông “là một người sống tự giác như một nhà tu khổ hạnh và hiến dâng. Không uống rượu, không hút thuốc, không ăn thịt. Ông đạp xe đạp đi rất xa để gìn giữ sức khỏe và ngồi ít nhất một tiếng đồng hồ tại bàn viết mỗi buổi sáng, đều đặn như thế bảy ngày một tuần. Một người bạn đồng nghiệp làm việc với ông hơn 10 năm nói rằng ông ta chỉ thấy Coetzee cười có một lần duy nhất” [151]. Một người (5) Là một học giả, nhà lí luận phê bình phim Nam Phi, nổi tiếng với công trình: Mail & Guardian Bedside Book, 1998: A Selection of Superb Journalism from Africas' Best Read. Braamfontein: Mail & Guardian, 1998.

14

quen biết ông, đã từng đi ăn với ông cho hay Coetzee chẳng hề nói một tiếng nào trong suốt nhiều bữa ăn. Không tiếp xúc nhiều và cuộc sống đi đây đi đó thường xuyên giúp ông rất nhiều trong việc viết lách. Ông tránh khỏi va chạm trực tiếp với những xáo trộn của đất nước, đặc biệt là vào lúc cao điểm của cuộc xung đột chủng tộc đẫm máu ở Nam Phi nhiều thập niên trước.

Con người dị biệt thể hiện ở cách Coetzee im lặng. Ông im lặng để phản ánh, viết một cách tàn nhẫn đến bỏng rát hiện thực. “Chính điều Coetzee im lặng lại tác động mạnh đến ý thức người đọc. Một cách tàn nhẫn, ông bắt độc giả phải đối diện với tình thế tiến thoái lưỡng nan và phải lựa chọn giữa hai cái cùng tồi tệ. So sánh cái không thể so sánh, đó là tinh thần của tiểu thuyết Ruồng bỏ, cuốn sách giúp tác giả của nó đứng vào danh sách những người có sách bán chạy nhất thế giới và lần thứ hai đoạt giải Booker (1999)” [151]. Đây là đánh giá hết sức thuyết phục của Paul Ingendaay(6) về Coetzee.

Không phải là hầu hết, nhưng các nhà văn sau khi đạt các giải thưởng lớn thường có độ viết chậm lại hoặc có khi là không sáng tác nữa. Cái bóng của giải thưởng quá lớn làm cho chính bản thân họ không vượt qua được bản thân mình. Nhưng đối với Coetzee, điều này không xảy ra vì ông vẫn sáng tác đều đặn. Sau năm 2003, ông có các tiểu thuyết: Elizabeth Costello: Eight Lessons (2003), Người chậm (2005), Diary of a Bad Year (2007), The Childhood of Jesus (2013), The Schooldays of Jesus (2016)…; truyện ngắn: Three Stories (2014), bao gồm: The stories are: I. “A House in Spain” II. “Nietverloren” (first published as “The African Experience”) III. “He and His Man”…; tự truyện Summertime (2009) là những sáng tác gây ấn tượng đối với bạn đọc. Trong một bài viết về tiểu thuyết Người chậm, nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá về sức sáng tạo dồi dào của Coetzee: “Gabriel Garcia Marquez có lần đùa mà thật khi ông tổng kết rằng sau khi đoạt giải Nobel văn học, hầu như các nhà văn không viết được nữa, hoặc viết không hay. Điều này không đúng với Coetzee, nhà văn Nam Phi mới nhập quốc tịch Úc, người đoạt giải Nobel năm 2003. Cuốn Người chậm xuất bản năm 2005 và là một cuốn sách đỉnh cao, ngay cả so với những cuốn trước của ông như Ruồng bỏ, Giữa miền đất ấy, Tuổi sắt đá, Cuộc sống và thời đại của Michael K”. Điều này đã chứng minh cho sự sáng tạo, miệt mài lao động đích thực của Coetzee.

(6) Là nhà văn, nhà phê bình văn học Đức, nổi tiếng với tiểu thuyết Why you left me (2006).

Tuy nhiên, không có nghĩa là xuất bản liên tục mà rất chậm rãi, kiên trì, Coetzee mới trình làng một tác phẩm với lối viết thận trọng, tối giản đến mức có thể. Năm 2007, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Diary of a Bad Year (Nhật kí một năm tồi tệ - Text Publishing tại Úc). Senor C - người gần như là hiện thân của chính nhà văn - một cây bút trung tuổi người Nam Phi di cư đến sống ở Australia. Senor C già hơn Coetzee vài tuổi nhưng người đọc vẫn nhận ra trong đó hình ảnh của chính tác giả. Cuốn tiểu thuyết là một tập hợp văn chương, tiểu luận và lồng vào trong đó những câu chuyện về công việc viết lách. Một nhà xuất bản Đức đặt hàng Senor C viết một tập tiểu luận về sự rối loạn của thế giới ngày nay. Cuốn sách sẽ lấy tên là Strong Opinions (Những quan điểm cứng rắn). Để hoàn thành đúng thời hạn

15

được giao, Senor C đã nhờ một cô hàng xóm sexy người Philippines đánh máy bản thảo của mình. Chính vì vậy, Diary of a Bad Year vừa chất đầy những luận điểm chính trị, lại vừa xen lẫn câu chuyện tình ái với mối quan hệ đuổi bắt giữa một nhà văn già và người đánh máy trẻ. Đằng sau câu chuyện là công việc làm văn của một người nghệ sĩ và sản phẩm là những tác phẩm của họ để lại. Năm 2016, Coetzee tiếp tục cho xuất bản cuốn The Schooldays of Jesus, đây là cuốn tiểu thuyết thứ 13 viết từ The Childhood of Jesus xuất bản năm 2013 đem lại những điều mới mẻ, hấp dẫn cho bạn đọc.

Có thể nói, Coetzee là nhà văn có sức lao động miệt mài, tiểu thuyết và các bài phê bình nghiên cứu của ông đã cho thấy được công việc của một người nghệ sĩ cũng như sự khẳng định thuyết phục về giải thưởng Nobel Văn học 2003.

Nhà nghiên cứu Robert McCrum(7) trên tạp chí The Guardian đã đánh giá rất cao về vị trí, tầm ảnh hưởng cũng như tài năng văn chương của Coetzee. Cũng giống như các sáng tác của André Brink(8), tác phẩm của ông đã tạo nên cảm hứng và khẳng định chỗ đứng trên đất nước còn nhiều bất ổn về chính trị. Điều khác biệt của Coetzee là đem đến cách hành văn độc đáo, hấp dẫn nhưng không phải người đọc nào cũng dễ dàng tiếp nhận. Bởi Coetzee không đi theo lối mòn cũ của các nhà văn cùng thời. “Coetzee không mang đến sự an ủi, mà là sự bất ổn. Bất ổn lớn nhất trong những tác phẩm với phong cách kiệm lời và bút pháp điệu nghệ của ông là: câu chữ - công cụ duy nhất để đối thoại với thế giới tồi tệ - có nguy cơ tự phá vỡ trước đe dọa của sự hoài nghi vào chủ nghĩa duy lý và sự hoài nghi vào xác tín đạo đức. “Cái giường của tôi, cái cửa sổ của tôi, căn phòng của tôi”, một người đàn ông đã cầu nguyện như vậy trong tác phẩm đầu tay Dusklands (Miền đất hoàng hôn, 1974) của Coetzee để mong có được chút niềm tin vào thực tại mà anh ta có thể bấu víu vào đó, trong khi nhiệm vụ của anh ta ở Việt Nam là giết người bằng những cách hiện đại nhất” (Paul Ingendaay, nhật báo Frankfurter Allgemeine). Coetzee không viết văn để làm vui, để vỗ về con người. Ông viết văn để tàn phá những giá trị văn minh dối lừa. Như vậy, Coetzee là một người phá rối chăng? Một tên “khủng bố”, một nhà văn Nam Phi chuyên quấy lộn những trật tự đạo đức xã hội bình thường? Ông không phải chỉ muốn tàn phá nó ra khỏi những mỹ từ và cách điệu. Công việc của ông là tàn phá thẳng vào những khuôn thước của mỹ từ và cách điệu hay hiện thực - những thứ đạo đức mà dường như theo ông là đi ngược lại nhân tính cố hữu của con người.

Ngoài các tiểu thuyết, truyện ngắn hư cấu, Coetzee còn là một nhà phê bình văn chương tầm cỡ. Ông xuất bản bốn tác phẩm: White Writing, Doubling the Point, Giving Offense, Stranger Shores. Stranger Shores (2001) bàn đến những tác giả hàng đầu của văn chương thế giới thế kỷ 20: Franz Kafka (Tiệp Khắc), Joseph (7) Robert McCrum (1953), là nhà văn người Anh, Biên tập viên cho tạp chí The Observer. (8) André Brink (1935-2015) là một tiểu thuyết gia người Nam Phi. Ông viết bằng cả tiếng Afrikaans và tiếng Anh, dạy ngôn ngữ Anh tại Đại học Cape Town. Trong những năm 1960, ông là một trong những thành viên chủ chốt của phong trào văn học Die Sestigers (The Sixty-ers), đấu tranh bằng cách sử dụng tiếng Nam Phi như một ngôn ngữ chính thống để nói chống lại chính phủ Apartheid, Tiểu thuyết đầu tiên Kennis van die aand (1973) của Brink đặc biệt quan tâm đến Apartheid, sau này ông quan tâm đến vấn đề mới được đặt ra ở quốc gia Nam Phi dân chủ.

16

Brodsky (Mỹ), Jorge Luis Borges (Argentina), Salman Rushdie (Ấn Độ), Naguib Mahfouz (Ai Cập), Nadine Gordimer (Nam Phi)… Hầu hết đã được đăng tải trên The New York Times, tờ báo mà bản thân ông là cộng tác viên. Cũng như truyện, lý luận phê bình của ông cũng ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu. Ông viết thận trọng, nhưng thẳng thắn, sắc bén. Điều đó cho thấy ông đọc nhiều, đọc sâu từng tác giả và kiến thức về văn học rất phong phú. Giáo sư James Shapiro (Đại học Columbia) nhận định: “tuyển tập này (4 công trình) sẽ lôi cuốn những ai quan tâm đi tìm một mô thức phê bình thẳng thắn, lịch sự và không chùn bước ở một thời điểm khi mà những nhà văn thường tỏ ra dễ dãi khi điểm sách các đồng nghiệp của mình. Những nhà lý thuyết hẳn sẽ rất thú vị trong cách mà Coetzee vận dụng một cách khéo léo ảnh hưởng lẫn nhau giữa chủ nghĩa thuộc địa, việc kiểm duyệt, nghề văn và lịch sử. Nhưng giá trị lâu bền nhất của “Stranger Shores” là ánh sáng mà nó ném lên sân khấu trong chuyến du hành trí thức của một trong những nhà văn đầy trí tuệ và quan trọng nhất của thời đại chúng ta” (The New York Times).

Lối sống đặc biệt, khác đời của Coetzee có thể là hậu quả do chấn động tâm lý của việc ly dị với người vợ trước (năm 1980) và rồi cái chết của đứa con trai 23 tuổi vài năm sau đó. Nếu đọc tập hồi ký Boyhood: Scenes From Provincial Life (1997), với cuộc sống thời thơ ấu được mô tả một cách chi tiết của Coetzee, chúng ta sẽ tìm thấy nhiều điều liên quan đến thái độ sống của ông cũng như nhiều vấn đề cốt lõi liên quan đến tình hình xung đột chủng tộc ở Nam Phi và sự chống đối quyết liệt chế độ Apartheid có trong hầu hết các tác phẩm. Có thể nói cuộc đời riêng với những biến động thăng trầm đã ảnh hưởng rất lớn trên từng trang viết của Coetzee.

Có một thực tế không thể phủ nhận là sự xung đột chủng tộc ở Nam Phi xảy ra không chỉ giữa người da đen, da màu với da trắng mà còn xảy ra giữa da trắng và da trắng. Trong số hơn 40 triệu dân (số liệu năm 1994), 75% là da đen, chỉ có 13% dân số (khoảng 5,5 triệu người) là da trắng, số còn lại là da màu (da đen hoặc hợp chủng) và Ấn Độ [xem thêm tài liệu 193]. Trong suốt gần nửa thế kỷ, thiểu số người da trắng đã thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc thuộc loại tàn bạo và dai dẳng nhất trên thế giới. Dân da trắng thống trị cũng không thuần nhất: một phần là người da trắng đã bị Phi-châu-hóa (africanized) gọi là Afrikaaners và một phần là người da trắng định cư sau này. Trong một nghĩa nào đó, tác phẩm của Coetzee được xem đã “hình tượng hóa” một phần nào đó tính phân liệt của người da trắng ở Nam Phi. Bản thân Coetzee vẫn thường lên tiếng bảo vệ những người Afrikaaners chống lại những người da trắng khác, những người mà theo ông thái độ hoàn toàn cố chấp, hẹp hòi, cách cư xử vô lương tâm và đời sống lười biếng hàng ngày. Những chấn thương không thể lành của xã hội Aparthied/hậu Apartheid Nam Phi đã tác động không nhỏ đến lối viết/ phong cách của Coetzee.

Có thể nói, qua những nhận định, đánh giá của các nhà nghiên cứu, nhà văn khác cho thấy dù ở thể loại nào Coetzee cũng có những đóng góp đối với văn học đương đại thế giới. Đó là một nhà văn tài năng, bản lĩnh, im lặng nhưng dũng cảm, quyết liệt, phá vỡ để tái tạo những giá trị mới,… Giải Nobel Văn học 2003 rất xứng đáng với những đóng góp của Coetzee cho nền văn học thế giới.

17

Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về Coetzee - con người bí ẩn với những tính cách lạ lùng và các tác phẩm có khả năng “đánh thức những tiếng nói phản tỉnh trong chính mình và dám đối thoại với những tiếng nói đó”. Là nhà ngụ ngôn hậu hiện đại, “Coetzee nhìn thấu qua những bộ dạng tục tĩu và sự hào nhoáng giả dối của lịch sử,... Điềm tĩnh nhưng ương ngạnh, ông bảo vệ giá trị đạo đức của thơ ca, văn chương và tưởng tượng. Không có những cái đó, chúng ta tự bịt mắt mình và trở thành những kẻ quan liêu của tâm hồn” (Thông cáo Viện Hàn lâm Thụy Điển - 2003).

Đánh giá về vị trí và vai trò của Coetzee, nhiều nhà nghiên cứu xem ông như một người chuyển ngữ văn hóa Nam Phi đến với độc giả, chạm khắc vào độc giả những hoang mang về thân phận con người. Harald Leusmann (Ball State University, Mỹ) trong “Quan điểm phê phán văn hóa của J.M. Coetzee” (Ngọc Thanh dịch, trang website: evan (2004)) đã cho người đọc thấy được một phần góc khuất trong văn hóa hậu Apartheid với những bi kịch xã hội Nam Phi cuối thế kỉ XX. Tony Morphett (nhà văn Úc) trong “Đọc Coetzee ở Nam Phi” (Ngọc Thanh dịch, trang web: evan.com (2004)) nhận xét: chúng ta thấy văn xuôi độc đáo rất khó đọc, nhưng cảm giác về sự xúc phạm những tín điều trong nghiên cứu văn chương theo quan điểm tự do và nhân đạo chủ nghĩa là sâu sắc và mãnh liệt. Bởi Coetzee đã chạm đến những bi kịch tinh thần đau đớn nhất của con người cá nhân không chỉ của tầng lớp bình dân mà cả trí thức. “Đọc “Ô nhục” của J.M. Coetzee” (Jennifer Trần dịch, trang website: evan.com (2004)), nhà nghiên cứu Salman Rushdie đã phản ánh những trăn trở, day dứt trong khát vọng tìm kiếm, khẳng định vị trí xã hội và điểm tựa tâm hồn trong xã hội hiện đại. Lin Sampson trong “Looking for the heart of J.M. Coetzee” (The Sunday Times of South Africa, 1999) tìm kiếm, lí giải hiện tượng Coetzee trên phương diện xã hội học qua đôi lần gặp gỡ và nhận thấy “nghe rời rạc như thể được gọt dần từng lớp cho đến lúc trở nên thì thầm”. Cũng không phải ngẫu nhiên mà Coetzee được Viện Hàn lâm Thụy Điển mệnh danh là “một nhà hoài nghi triệt để”, người “không nhân nhượng khi phê bình chủ nghĩa duy lý tàn nhẫn và thói đạo đức giả của văn minh phương Tây”. Và còn nữa: “Sự trung thực trí thức của ông phá vỡ tất cả những tín điều của thói ủy lạo, và cách ly mình với trò hề rẻ tiền của lòng hối hận và sự xác tín” [184]. Tờ The Guardian coi Coetzee, như là một tác giả đã chọn kẻ xa lạ, người ngoài hành tinh, kẻ ngoài cuộc, đứng bên lề, như là một thể loại nghệ thuật, hay nói một cách khác, đây là nghệ thuật của kẻ ngoài lề, với những suy tư thật là u ám của kẻ đó, về chế độ hậu - phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Một kẻ ngoài cuộc vĩ đại. Nhà phê bình văn học Paul Ingendaay (Đức) lại cho rằng “Có vẻ như Coetzee muốn chống lại mọi hình thức đạo đức hóa - cái cách mà thể chế kỳ thị chủng tộc muốn khuếch trương cho danh tiếng của nhà trí thức cấp tiến, muốn nghiền nát nó, bằng cách biến những nhân vật của mình thành những điểm phơi bày của mâu thuẫn hơn là những sứ giả” [134].

Nhà nghiên cứu Malan Rian (Nam Phi) trong bài viết J.M. Coetzee: Nobel văn chương 2003 (Nguyễn Hữu Ước dịch, web: talawas.org, 10/10/2003) đánh giá về sự khác biệt của nhà văn Nam Phi này với các nhà văn đương thời. Cách im lặng là biểu hiện độc đáo nhất của Coetzee về lý thuyết văn chương hậu hiện đại. Qua

18

tiểu thuyết Bararians (Đợi bọn mọi), Malan Rian nhận định: “đó là ngụ ngôn buốt nhói và không chịu đựng nổi về đời sống hằng ngày và các tình thế đạo đức tiến thoái lưỡng nan của chúng tôi, một cuốn sách dấn rất sâu và bình diện tâm thần và rất hấp dẫn tới độ khiến ta bàng hoàng và bị mê hoặc”. Cách thay đổi chủ đề trong sáng tác và chuyển sang Australia vào năm 2002 để lại nhiều thắc mắc cho giới phê bình học thuật ở Nam Phi.

Có lẽ đặc biệt nhất là lời giới thiệu của Viện Hàn lâm Thụy Điển khi dùng những lời có cánh nhưng chính xác nhận định về tiểu thuyết của Coetzee: “Chẳng có tác phẩm nào của ông giống tác phẩm nào. Đọc thật kỹ ta mới phát hiện ra tất cả là những chuyến du hành theo đường trôn ốc đi xuống mà ông xem là cần thiết nhằm cứu chuộc số phận các nhân vật của ông” [184]. Bên cạnh việc đánh giá những điểm độc đáo trong từng tác phẩm của ông thì Per Erik Wästberg (nhà văn Thụy Điển) cũng nhấn mạnh: “Viết có nghĩa là đánh thức những tiếng nói phản tỉnh trong chính mình và dám đối thoại với những tiếng nói đó. Sự hấp dẫn hiểm nghèo của cái ngã nội tại, đó là chủ đề của John Coetzee: giác quan và thân thể những con người, cái phần sâu kín của châu Phi. “Hình dung cái không thể hình dung” là bổn phận của nhà văn” [184]. Cuộc đối thoại bề ngầm phía dưới tầng lớp ngôn ngữ giản lược, tối thiểu trong các công trình của Coetzee chính là điểm hấp dẫn người đọc. Các sách, luận án, luận văn, bài báo viết về tiểu thuyết của Coetzee Coetzee là một trong những nhà văn có sức hút đối với giới nghiên cứu, phê bình, học giả trên toàn thế giới. Họ không chỉ đi tìm những ẩn giấu văn chương mà còn khái quát cả những vấn đề riêng tư về đời sống gia đình của ông. Chúng tôi nhận thấy rất nhiều tiểu thuyết của Coetzee được sử dụng để làm sáng tỏ các biểu hiện cho lý thuyết hậu hiện đại.

Năm 1988, nhà nghiên cứu Teresa Dovey đã cho xuất bản công trình: The novels of J.M. Coetzee: Lacanian allegories do Craighall: Ad. Donker ấn hành đã khám phá những câu chuyện ngụ ngôn về tình hình chính trị, xã hội và con người Nam Phi khi chế độ Apratheid đang diễn ra gay gắt.

Trong công trình J.M. Coetzee: South Africa and the Politics of Writing của David Attwell (University of Califonia Press, 1993), tác giả cho rằng Coetzee đã tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa hậu hiện đại, kết hợp nhuần nhuyễn để giải quyết những căng thẳng đạo đức của cuộc khủng hoảng Nam Phi. Là một hình thức của “situational metafiction”, tác phẩm của Coetzee tái cấu trúc và phê bình các diễn ngôn quan trọng trong lịch sử của chủ nghĩa thực dân và phân biệt chủng tộc từ thế kỷ thứ mười tám đến nay. Năm 2016, ông tiếp tục xuất bản công trình J. M. Coetzee and the Life of Writing: Face-to-face with Time. David Attwell khám phá quá trình sáng tạo phi thường đằng sau tác phẩm của Coetzee, từ Dusklands đến The Childhood of Jesus. Dựa trên các bản thảo, sổ ghi chép và tài liệu nghiên cứu Coetzee tại Trung tâm Harry Ransom của Đại học Texas, Attwell tiết lộ sự hấp dẫn, nổi tiếng mà tiểu thuyết của nhà văn Nam Phi mang lại. Ông chứng minh cách thuyết phục cho bạn đọc rằng tác phẩm của Coetzee mang tính tự truyện cao. Trên tất cả, Attwell lập luận, Nam Phi với lịch sử, ngôn ngữ, phong cảnh và xung đột có mặt nhiều trong tiểu thuyết của ông hơn những gì chúng ta nhận ra.

19

Luận án của Dawn Grieve với đề tài Confrontation and identity in the fiction of J.M. Coetzee (Đối sánh và bản sắc trong tiểu thuyết của J.M. Coetzee) (bảo vệ tại Edith Cowan University, 1999) đã xây dựng bối cảnh lịch sử Nam Phi thời đại Apartheid cũng như phong cách, cá tính con người này để tìm hiểu những đặc trưng trong văn chương hậu hiện đại của Coetzee.

Công trình J.M. Coetzee and the Ethics of Power (Unsettling Complicity, Complacency and Confession) dày gần 300 trang của nhà nghiên cứu Emanuela Tegla là sự đóng góp rất lớn cho giới nghiên cứu, phê bình về tiểu thuyết của Coetzee. Quyển sách được chia thành 4 chương lấy lí thuyết phê bình hậu hiện đại/hậu thuộc địa để nghiên cứu các tiểu thuyết Đợi bọn mọi, Tuổi sắt đá, Cuộc đời và thời đại của Michael K, Ruồng bỏ. Với tiểu thuyết Đợi bọn mọi, tác giả đặt ra câu hỏi cho vị quan tòa: Từ nhiệm vụ đến lựa chọn đạo đức, cái nào quan trọng hơn? Trong chương 2, tiểu thuyết Tuổi sắt đá đặt ra các vấn đề: nhận thức, lời thú tội, sự hổ thẹn của nhân vật người kể chuyện. Chương 3, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa sự lười biếng và liêm chính của con người trong Cuộc đời và thời đại của Michael K. Lý tưởng, bạo lực, cảm giác tội lỗi, những lằn ranh của đạo đức con người trong xã hội Nam Phi được tác giả khái quát trong chương 4 qua tiểu thuyết Ruồng bỏ. Cuốn sách thực sự đã đem đến cách nhìn mới về con người Nam Phi trước những lựa chọn mang tính tiến thoái lưỡng nan.

Tuyển tập phê bình Critical perspectives on J.M. Coetzee do Graham Huggan và Stephen Watson biên tập được Macmillan Press; New York: St. Martin's Press (1996) ấn hành. Ngoài lời mở đầu (nhà văn Nadine Gordimer) và lời bạt (nhà nghiên cứu David Attwell), cuốn sách bao gồm 11 bài báo của các nhà nghiên cứu nổi tiếng tập trung vào các vấn đề sau: Chủ nghĩa thực dân và tiểu thuyết của Coetzee; Lời nói và sự im lặng trong tiểu thuyết của Coetzee; The Hermeneutics of Empire: siêu hư cấu hậu thuộc địa trong tiểu thuyết của Coetzee; Coetzee: chủ nghĩa hậu hiện đại và chủ nghĩa hậu thực dân; Dusklands: ẩn dụ/ trừu tượng của bạo lực; Trò chơi đuổi bắt trong Giữa miền đất ấy; Đợi bọn mọi: ngụ ngôn về những truyện ngụ ngôn; Sự im lặng ngột ngạt: tiểu thuyết Foe và sự lên ngôi của chính trị... Quyển sách là công trình nghiên cứu tiểu thuyết của Coetzee trên nhiều phương diện: chủ nghĩa hậu hiện đại, chủ nghĩa hậu thực dân, siêu hư cấu, các dụ ngôn, ẩn dụ, hình thức trò chơi,… Đây được xem là tuyển tập bài viết hay, đầy đủ về phong cách sáng tác Coetzee. Tất cả các nhà nghiên cứu đều khẳng định vị thế, sự ảnh hưởng và những đóng góp to lớn của ông đối văn học Nam Phi đương đại và trên thế giới.

Quyển sách J.M. Coetzee and the Novel: Writing and Politics After Beckett (J.M. Coetzee và tiểu thuyết: lối viết và tình hình chính trị sau Beckett) của Patrick Hayes do Nxb OUP Oxford ấn hành vào 2010, đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tiểu thuyết Coetzee nằm ở sự linh hoạt giữa tiểu thuyết truyền thống mà đại biểu là Cervantes, Defoe, và Richardson đến các nhà văn hiện đại và hậu hiện đại như Dostoyevsky, Kafka và Beckett…

Năm 2011, nhà nghiên cứu María J. López cho xuất bản cuốn Acts of Visitation: The Narrative of J.M. Coetzee, Nxb: Amsterdam - New York. Cuốn sách

20

dày hơn 300 trang, gồm 2 chương: Chương 1: Penetration and visitation in South Africa; Chương 2: The Writer as Host and Guest. Từ sự phê bình chiếm hữu (appripriations) đến thông diễn học chống cự/ kháng lại, tác giả quyển sách đã lí giải các vấn đề: sự thâm nhập trong Dusklands và Giữa miền đất ấy; sự chống cự trong Đợi bọn mọi; trạng thái kí sinh trong Cuộc đời và thời đại của Michael K, sự thanh tra/ kiểm soát trong Ruồng bỏ. Bên cạnh đó, María J. López cũng tìm thấy bí mật trong Foe; trạng thái lệ thuộc trong Boyhood (Thời niên thiếu), Youth (Tuổi trẻ), Summertime (Mùa hè), sự xâm nhập trong The Marter of Petersburg và Người chậm, sự trung thành trong Elizabeth Costello và Diary of a Bad Year. Công trình đã tổng kết, đánh giá những địa hạt sáng tạo của Coetzee. Đồng thời đã chứng minh sự tìm tòi, khám phá công phu của nhà nghiên cứu María J. López về hiện tượng đặc biệt này.

The Intellectual Landscape in the Works of J.M. Coetzee (Bức tranh trí thức trong tiểu thuyết của J.M. Coetzee, 2018) của hai nhà nghiên cứu văn học so sánh hàng đầu Đại học Queensland (Úc) và Đại học Bonn (Đức) là Tim Mehigan, Christian Moser là công trình có nhiều bài viết hay đánh giá nghệ thuật tiểu thuyết của Coetzee. Ngoài lời giới thiệu của hai tác giả (Introduction: Coetzee‟s Intellectual Landscaspes), quyển sách tập hợp 15 bài viết nghiên cứu các vấn đề liên quan đến tiểu thuyết của Coetzee như: Trật tự xã hội và tính siêu việt: thủ pháp trò chơi trong tiểu thuyết của Coetzee; Tự truyện và sự mỉa mai lãng mạn: Coetzee và Roland Barthes; Ý nghĩa về sự mọi rợ trong tiểu thuyết Đợi bọn mọi của Coetzee; Chuẩn mực đạo đức của Coetzee; Lối đọc Don Quixote: Văn học di dân ở thế giới mới… Đây được xem là công trình công phu nghiên cứu tiểu thuyết, phong cách và con người của Coetzee trong sự so sánh với các nhà văn khác trên thế giới. Những nghiên cứu, đánh giá của các tác giả hàng đầu trên thế giới đã khẳng định đặc điểm riêng của ông khi phản ánh hiện thực của đất nước Nam Phi mà bản thân ông không tự nhận nó thuộc về mình.

Luận án tiến sĩ: J.M. Coetzee and the Paradox of Postcolonial Authorship (J.M. Coetzee và những nghịch lí từ góc nhìn của tác giả hậu thuộc địa) của Jane Poyner được bảo vệ tại University of Exeter (Anh) năm 2009, gồm 9 chương đã nghiên cứu các tiểu thuyết của Coetzee như: Dusklands, Giữa miền đất ấy, Đợi bọn mọi, Cuộc đời và thời đại của Michael K, Foe, Tuổi sắt đá, The Master of Petersburg, Ruồng bỏ... Luận án chủ yếu đi vào phân tích các bình diện nội dung của tiểu thuyết Coetzee như: điên loạn và huyền thoại, điên rồ và văn minh, công lí pháp luật và chủ nghĩa hoài nghi, tính cổ điển và sự rời rạc, sai lệch, trốn tránh và kiểm duyệt, sự thật và giả dối hòa giải, hư cấu và tri thức… Các cặp phạm trù nhị nguyên được đặt ra để thách đố lựa chọn của con người trong bối cảnh xã hội đầy biến động của Nam Phi.

Luận án J.M. Coetzee and the Problems of Literature (J.M. Coetzee và những vấn đề của văn chương) của Benjamin H. Ogden (được bảo vệ tại New Brunswick Rutgers, The State University of New Jersey, 2013) đã tìm mối liên quan, điểm tương đồng và sự kế thừa trong phong cách của Coetzee với tiểu thuyết

21

gia Ford Madox Ford (Anh), Beckett (Pháp) để từ đó khẳng định ông là nhà phê bình văn học có tầm cỡ của văn chương thế giới đương đại.

Eckard Smuts trong luận án Searching for the Self in J.M. Coetzee's Autobiographical Fiction (Tìm kiếm cái tôi J.M. Coetzee trong tiểu thuyết tự truyện của ông, 2/2014) được bảo vệ tại Đại học Cape Town đã tìm kiếm bản thể cá nhân con người của Coetzee trong bối cảnh văn hóa, chính trị và thời đại (Thời đại sắt) ở Nam Phi. Luận án được trình bày thành ba chương: Chương 1: The Subject of Confession (Chủ đề tự truyện); Chương 2: The Karoo Farm (Nông trại, không gian Karoo); Chương 3: Politics, Voice and the Self (Chính trị, tiếng nói và cá nhân con người) đã cho người đọc một góc nhìn mới, lạ về tiểu thuyết của Coetzee.

Luận án “Coetzee’s Traumatized Creatures: Toward a Post-Anthropocentric and Posthumanist Understanding of Trauma” (Con người chấn thương trong tiểu thuyết của Coetzee: Từ lý thuyết hậu nhân học và hậu hiện đại) của Marliene Stolker được bảo vệ tại Utrecht University (Hà Lan) năm 2015 đã khai thác kiểu con người chấn thương thông qua hai tiểu thuyết Ruồng bỏ và Cuộc đời và thời đại của Michael K. Công trình đã lí giải các kiểu chấn thương của con người, nhất là chấn thương tinh thần dựa vào học thuyết S.Freud. Các khái niệm: sự chịu đựng, đau khổ, bị thương, dễ tổn thương, chế độ chăm sóc… trong con người chấn thương được tác giả luận án triển khai cụ thể, chi tiết, từ đó làm nổi bật bi kịch con người hậu hiện đại. Những chấn thương của các nhân vật trong sáng tác của Coetzee xuất phát từ hệ quả của xã hội bất công, nghèo đói và lạc hậu, của chế độ phân rẽ khủng khiếp.

Bên cạnh các luận án tiến sĩ nghiên cứu về tiểu thuyết Coetzee bảo vệ thành công với những khai mở hấp dẫn thì rất nhiều bài báo khoa học đăng tải trên tạp chí uy tín của các nhà nghiên cứu nổi tiếng cũng đã định hướng cho việc tìm hiểu, khám phá biểu hiện hậu hiện đại trong tiểu thuyết của ông.

Hai nhà nghiên cứu của Shadi S. Neimneh & Marwan M. Obeidat (Hashemite University, Zarqa, Jordan) trong bài viết Age of Iron as a Cultural Text: The Question of Apartheid and the Body (tạp chí Canadian Center of Science and Education, 2014) đã giải quyết câu hỏi về chủ nghĩa Apartheid và thân phận con người Nam Phi qua tiểu thuyết Tuổi sắt đá. Tác giả bài viết cho rằng Tuổi sắt đá là tiểu thuyết tiêu biểu cho lối viết hậu hiện đại thể hiện những vấn đề rối ren, nóng bỏng của xã hội Nam Phi thời đại phân biệt chủng tộc, đặc biệt phát hiện mối quan hệ ẩn dụ giữa thân thể và tình trạng bệnh ung thư của bà Curren với thực trạng chính trị Apartheid của Nam Phi những năm 1990.

Trong một bài báo khác có tên Coetzee’s Postmodern Bodies: Disgrace between Human and Animal Bodies, tác giả Shadi S. Neimneh (English Department, Hashemite University, Zarqa, Jordan) tìm thấy sự tương đồng giữa bản năng tính người và loài vật trong tiểu thuyết Ruồng bỏ, từ đó khái quát thân phận con người hậu hiện đại trong bối cảnh chính trị Nam Phi khi bị xã hội xa lánh, chối bỏ.

Bài báo J.M. Coetzee: The Postmodern and the Postcolonial (J.M. Coetzee: hậu hiện đại và hậu thuộc địa) in trong công trình Critical Perspectives on J.M.

22

Coetzee, Huggan G., Watson S. (eds, 1996) của tác giả Kenneth Parker đã chỉ ra các biểu hiện của chủ nghĩa hậu hiện đại, hậu thực dân, vấn đề liên văn hóa trong tiểu thuyết của ông. Từ những đóng góp của Coetzee, bài viết khẳng định vị trí của ông trên văn đàn thế giới đương đại.

A Postcolonial Analysis of J.M. Coetzee’s Two Novels: Waiting for the Barbarians and Life and Times of Michael K (Nghiên cứu chủ nghĩa hậu thực dân trong hai tiểu thuyết: Đợi bọn mọi và Cuộc đời và thời đại của Michael K) của Hatice Elif Diler và Derya Emir (Dumlupınar Üniversitesi, Fen-Edebiyat Fakültesi, Batı Dilleri ve Edebiyatı Bölümü, Thổ Nhĩ Kỳ) đã chỉ ra những biểu hiện thuộc địa/hậu thực địa trong hai tiểu thuyết tiêu biểu của J.M. Coetzee đồng thời lí giải nguyên nhân dẫn đến lối viết lạ của ông. Với Coetzee, ông không tìm cách để đưa ra những giải pháp về vấn đề thực dân mà chỉ phỏng đoán căn bệnh ác tính của văn hóa phương Tây.

Ngoài ra, có nhiều bài báo của các nhà nghiên cứu là giảng viên đại học đã sử dụng tiểu thuyết của Coetzee để chứng minh biểu hiện hậu hiện đại. Tiêu biểu có: Post-apartheid South Africa and Patterns of Violence in J.M. Coetzee’s Disgrace and Phaswane Mpe’s Welcome to Our Hillbrow (Hậu Apartheid ở Nam Phi và bạo lực trong Ruồng bỏ của J.M. Coetzee và Welcome to Our Hillbrow của Phaswane Mpe, 2014) của Dr. Gilbert Tarka Fai; Post-apartheid situation in J.M. Coetzee’s Disgrace (Tình hình hậu Apartheid trong tiểu thuyết Disgrace của J.M. Coetzee) của V.Pradeep Raj; Political, Social and Cultural aspects of racism in post-apartheid South Africa in John Maxwell Coetzee’s Disgrace (Chính trị, xã hội, văn hóa, các khía cạnh của phân biệt chủng tộc thời kì hậu Apartheid ở Nam Phi trong tiểu thuyết Ruồng bỏ của John Maxwell Coetzee) của Joanna Stolarek; Reading the Unspeakable: Rape in J.M. Coetzee’s Disgrace (Đọc điều thầm kín: hãm hiếp trong Ruồng bỏ của J.M. Coetzee) của Lucy Valerie Gramham… Các bài báo tập trung khai thác các khía cạnh về đời sống xã hội, đặc biệt là thân phận con người Nam Phi sau khi chế độ Apartheid sụp đổ. Nam Phi hậu chia rẽ và hàng loạt các vấn đề đặt ra: bạo lực, thù hận, hiếp dâm, cướp bóc,… Tất cả làm nên bức tranh chính trị ngột ngạt, không hề giống như dư luận thế giới tin tưởng ở một cuộc đại cách mạng do tổng thống Nelson Mandela thực hiện.

Có thể nói giới nghiên cứu, phê bình văn học trên thế giới rất quan tâm đến hiện tượng Coetzee. Không chỉ dừng lại những tìm tòi khám phá về con người mà còn định hướng biểu hiện hậu hiện đại trong các tiểu thuyết của ông. Đây chính là những gợi dẫn cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án. Từ những khảo sát trên, chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên cứu chính về con người và tiểu thuyết của Coetzee:

Thứ nhất: khái quát con đường nghệ thuật và tìm kiếm phong cách nghệ thuật của Coetzee để từ đó khẳng định tầm vóc, sức ảnh hưởng của ông đối với văn học và phê bình văn chương thế giới.

Thứ hai: nghiên cứu các tiểu thuyết của Coetzee để làm sáng tỏ các đặc điểm

của lý thuyết hậu hiện đại.

23

1.2.2. Nghiên cứu về Coetzee ở Việt Nam

Nghiên cứu về nhà văn Coetzee ở Việt Nam không nhiều nhưng có một số nhận xét thích đáng, thể hiện sự quan tâm của giới phê bình nước ta hiện nay đặc biệt là nhà văn hải ngoại. Đây được xem là góc nhìn thời sự, khá sâu sắc về nhà văn Nam Phi này.

Tác giả Trần Hữu Thục (Mỹ) trong bài viết: J.M. Coetzee: Nỗi đau là chân lí (tạp chí: damau.org) nhận định: “Ông không ham viết dài. Các tác phẩm của ông đều rất vừa phải, cô đọng, thường thì không quá 300 trang. Ông viết văn chặt chẽ, cẩn trọng, ít lời, chắc chắn như viết tiểu luận”. Trong bài viết Phá vỡ để tái tạo: J.M. Coetzee và giải Nobel văn học 2003 (tạp chí: damau.org), tác giả Trần Nghi Hoàng (Mỹ) cho rằng: Coetzee đã dụng công phá vỡ tất cả cái ngu muội trong não bộ văn minh Tây phương, thứ đạo đức giả vô cảm. Ông phá vỡ để tái tạo từ trong cái tự thể giằng xé của chính ông và của những con người đang mang trong đầu thứ đạo đức giả của văn minh Tây phương mà đi từng bước trên con đường tự sát. Ngay trong hành động phá vỡ này, ông đã cưu mang cho con người nói chung một hành vi dũng cảm của sự tái tạo khôn cùng.

Còn Mai Hiền, trong bài viết Nhà văn John Maxwell Coetzee - Ẩn sĩ phong lưu (nguồn: tapchisonghuong.com.vn), nhận thấy mức độ giàu có, phong lưu trong sáng tác của Coetzee. Nhà nghiên cứu xác định chủ đề chính trong sáng tác của Coetzee là những tổn thương do chủ nghĩa phân biệt chủng tộc gây ra cho con người và xã hội. Những tổn thương đó khiến con người nhiều khi không còn hiểu nổi bản thân, gia đình và thời đại mình đang sống. Họ trở thành nạn nhân của chính mình và thời cuộc, trở thành kẻ vô tích sự, mất hết niềm tin, trách nhiệm công dân và mất ý thức về vai trò của bản thân trong cộng đồng. Mai Hiền thấy điểm khác biệt Coetzee với các nhà văn viết cùng chủ đề là: “ông không dừng lại ở việc miêu tả sự tha hóa về mặt đạo đức của con người, mà muốn bàn đến sự tha hóa về mặt xã hội. Chính điều đó nâng Coetzee lên tầm cao hơn các nhà văn khác và khiến công chúng “mắc nghiện” tiểu thuyết của ông - tiếng nói “thâm nhập sâu sắc vào những thân phận con người, chỉ ra sự tàn bạo cùng nỗi cô đơn của nó, và lên tiếng bênh vực cho kẻ yếu”, để hướng tới mục đích tối cao là “lột mặt nạ của cái gọi là nền văn minh thuộc địa và phơi bày bộ dạng của cái ác” (Thông cáo của Viện Hàn lâm Thụy Điển).

Như vậy, với các hiện tượng văn chương thế giới, tác phẩm là đối tượng để các nhà phê bình nghiên cứu, tuy nhiên với Coetzee, đời sống con người cá nhân của ông cũng là một chủ đề không chính thống để khám phá. Càng tìm hiểu về con người của Coetzee, người đọc không chỉ thấy sự độc đáo, dị biệt, một tài năng văn chương mà còn ở đó là trái tim đau đáu về chủ đề thân phận con người và sứ mệnh cầm bút của người nghệ sĩ trong thời đại toàn cầu hóa.

Hiện nay, nghiên cứu về tiểu thuyết Coetzee ở Việt Nam không nhiều, chưa có công trình nào mang tính khái quát thành một định hướng cho người đọc tiếp nhận. Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở một số bài báo khoa học ngắn gọn hoặc những trao đổi trên các diễn đàn. Mặc dù có luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp của sinh viên từ các trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn và sư

24

phạm nhưng chưa có độ dày dặn, hệ thống. Khảo sát các bài viết ở Việt Nam, chúng tôi thấy có một số trao đổi đáng chú ý như:

Nhà nghiên cứu Trần Hữu Thục đã có nhiều ý kiến tổng kết về Coetzee qua công trình “John Maxwell Coetzee: nỗi đau là chân lý” [168]. Thế giới truyện của Coetzee là thế giới của bóng tối, của khổ đau, tuyệt vọng và những bất hạnh nhân sinh khác - hậu quả trực tiếp của chế độ phân biệt chủng tộc. Mỗi một truyện dài của Coetzee đều áp dụng một “chiến lược” viết khác nhau về cốt truyện, nhân vật, không khí, cách diễn đạt và bố cục… Trong Cuộc đời và thời đại của Michael K, không khí đầy chất Kafka và Beckett; trong Giữa miền đất ấy không khí của những hoang tưởng và ám ảnh tâm lý; The Master of Petersburg tái hiện thế giới của Dostoyevsky, Đợi bọn mọi huyền hoặc, hoang đường và kinh dị như loại tiểu thuyết “thriller”; “truyện” mới nhất là Elizabeth Costello (9/2003) lại là một phi truyện - hư cấu, trộn lẫn giữa essays (tiểu luận) và fiction (tiểu thuyết), gồm có 8 bài giảng (lessons) và một lời bạt (postcript) đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau: bảo vệ thú vật, vai trò của tiểu thuyết, vấn đề hiện thực… Các nhân vật tuy đều mang tính chất “cô đơn” nhưng được khắc họa sắc nét và đa dạng, cá tính phát triển tùy theo từng tình huống đặc thù: Magda (Giữa miền đất ấy) hoang mang, bất định; Lurie (Ruồng bỏ) thì trầm uất; Michael K (Cuộc đời và thời đại của Michael K) thì lạc lõng, ngây thơ, ngờ nghệch… Bên cạnh những đánh giá về thể loại hư cấu thì Trần Hữu Thục còn đánh giá khá sâu sắc về những tiểu luận, nghiên cứu phê bình của Coetzee: “Cũng như truyện, văn lý luận của ông ngắn, gọn, trong sáng, dễ hiểu. Ông viết thận trọng, nhưng thẳng thắn, sắc bén. Điều đó cho thấy ông đọc nhiều, đọc sâu từng tác giả và kiến thức về văn học rất phong phú” [174].

Nhà nghiên cứu Đào Trung Đạo trong bài viết J.M. Coetzee: Kẻ ngoại cuộc cho rằng văn chương của Coetzee chịu ảnh hưởng của Kafka, Dostoyewsky, và Beckett đồng thời ông cho rằng điểm khác biệt lớn nhất của Coetzee với những nhà văn viết về sự hành hạ con người đằng sau cánh cửa căn phòng tối ở chỗ ông chỉ nhìn cái căn phòng tối đó như một ngụ ngôn (allegory): đó là một cánh cửa khép kín có mặt cùng khắp trên mọi nơi khi có sự chia cách giữa con người với con người: cánh cửa trại, cánh cửa các trung tâm, cánh cửa các khu lao động, cánh cửa màu da, cánh cửa chủng tộc, cánh cửa ngôn ngữ, và cánh cửa tâm hồn... Nếu Salman Rushdie là một nhà văn băng ngang tất cả mọi biên giới, nhà văn “ở giữa hai bên”, thì Coetzee là một nhà văn đứng bên ngoài tất cả mọi cánh cửa, mọi ngăn cách: một kẻ ngoại cuộc. Ngoài ra bằng 5 tiểu thuyết của Coetzee, nhà nghiên cứu Đào Trung Đạo đã chứng minh thái độ ngoại cuộc của nhà văn này: “Tiểu thuyết của Coetzee viết về những hoàn cảnh trong đó ta không còn có thể biết thế nào là phải, thế nào là trái; và nếu như có chọn lấy một thái độ rõ rệt thì thái độ này cũng chẳng đưa đến một kết thúc nào” [158].

Nguyễn Thị Minh Duyên trong bài viết: “Nhân vật trong tiểu thuyết của J.M. Coetzee” [157] cho rằng: “đó là những kẻ độc hành khiếm khuyết”. Những nhân vật của Coetzee như đang bước ra từ thế giới hoang dã, xa lạ, khép kín của dân tộc Nam Phi để lạc vào một mê cung mê thất của bạo lực, thối rữa đạo đức, ác mộng... chỉ có

25

điều đó lại là thực tại, là một thực tại nghiệt ngã của thế giới hiện đại, của một thời kì lịch sử.

Trong bài viết Hành trình bị ruồng bỏ của một con người [170], Phong Linh nhận định tiểu thuyết Ruồng bỏ là tác phẩm điển hình cho thứ văn chương đầy hoài nghi nhưng đẹp đến đau lòng của Coetzee. Bên cạnh những nhận định về tấn bi kịch tinh thần của giáo sư David thì tác giả so sánh lối viết và cách đánh giá con người trong mối tương quan với tiểu thuyết của Milan Kundera “cảm giác của con người bị ruồng bỏ, bị treo lơ lửng trong một cuộc đời “khôn kham”, cùng với cái kết thúc “nhẹ bẫng”, mà đau xót hẳn sẽ khiến người đọc nhớ nhiều đến Đời nhẹ khôn kham với một Kundera luôn cay nghiệt, luôn hoài nghi, luôn khước từ sự an ủi, thỏa hiệp trong văn chương. Văn chương của Coetzee khiến người đọc nhói đau, nghẹt thở, và sợ hãi”. Ruồng bỏ còn có những đoạn văn viết một cách say mê về thơ ca, âm nhạc, về sự thăng hoa cảm xúc, về những cánh đồng hoang dã, về lòng tử tế. Thực sự Ruồng bỏ đem đến cho người đọc những khoảnh khắc bừng sáng trong vẻ đẹp buồn bã đến đau lòng.

Khi đọc tiểu thuyết Người chậm, Nguyễn Khắc Phê đã chỉ ra sự khác biệt trong việc lựa chọn đề tài của Coetzee so với các nhà văn khác trong bài viết Lòng tốt nẩy mầm từ tình yêu trong trắng [181]. Không phải đề tài lớn mới tạo nên sự thành công cho nhà văn mà Coetzee đã làm điều ngược lại. Bằng câu chuyện vặt vãnh nhưng có tính phổ quát, bi kịch tận cùng nhưng được khởi phát từ tình yêu thương con người của Người chậm đã làm cho người đọc thế giới phải cảm động và đặt niềm tin con người ở thời hậu hiện đại. “Coetzee đã có biệt tài chọn được tình huống mà con người thời đại nào, dân tộc nào cũng có lúc phải trải qua: đó là bi kịch của con người khi phải sống cô đơn, do cách sống riêng không phù hợp với cộng đồng hay thời đại, do phải “di tản” hay do tuổi tác, bệnh tật… Nói cách khác, đó là bi kịch muôn đời của nhân loại, nên tác phẩm của Coetzee dễ dàng đến với mọi dân tộc” [181].

Trong bài viết Thế giới văn chương hoài nghi và tăm tối của J.M.Coetzee [176], Thủy Nguyệt cho rằng hai cảm thức xuyên suốt tiểu thuyết của Coetzee là hoài nghi và đau đớn. Mỗi nhân vật của ông đều bị đẩy đến những trạng thái tâm thần bất ổn do dư chấn của xã hội gây nên. Đó là những tổn thương không bao giờ có thể lành lặn. Coetzee không tin vào “sự an ủi” của văn chương, lại càng không phải là người theo hướng “hiện thực chủ nghĩa”, văn chương của ông là những bất ổn, tăm tối và đau đớn nhưng luôn đầy hấp lực. Huyền ảo và thơ mộng là hai phương diện, thủ pháp để nhà văn Nam Phi này truyền tải những nội dung ấy. Coetzee thường viết những tiểu thuyết ngắn, kìm nén, bằng những thứ ngôn ngữ chuẩn xác, không có sự dư thừa. Tạo dựng không khí vừa thơ mộng vừa ngột ngạt khiến cho ý tứ, cảm thức đặc trưng trong sáng tác của ông luôn được thể hiện một cách sắc nét. Một điều đặc biệt trong văn chương của Coetzee chính là khả năng đi sâu vào khai mở những ngóc ngách tâm thần của con người. Không đơn giản là phô bày những tâm tư tình cảm, mà Coetzee còn nhuần nhuyễn diễn giải những kín đáo nhất, hoang mang, tự vấn tăm tối nhất của con người.

26

Về các bài báo nghiên cứu khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, chúng tôi

đặc biệt quan tâm 3 bài viết của Lê Huy Bắc, Trần Huyền Sâm và Lê Thị Hường.

Lê Huy Bắc được xem là nhà nghiên cứu hiện nay ở Việt Nam có nhiều bài viết cũng như các luận văn, khóa luận hướng dẫn sinh viên về tác giả Coetzee. Trong bài viết “Hậu hiện đại: từ Franz Kafka đến J. Coetzee”, tác giả Lê Huy Bắc đã tìm thấy sự tương đồng của Kafka và Coetzee “những kẻ tha hương ngay trên chính quê hương mình” đi từ cái ảo để tìm thấy cái thực, thực hơn cái hiện thực mà nhà văn chuyển tải. Giống như Kafka, Coetzee đã tạo dựng được một ma lực ngôn từ đủ để “buộc độc giả của mình phải nhìn vào những vực thẳm mà họ thực sự không muốn nhìn nhưng cuối cùng cũng không thể quay đi đâu khác. Ông theo đuổi gần như triệt để mĩ học của sự thất bại” [14, tr.57]. Đặt Coetzee bên cạnh Kafka, tác giả đã chỉ ra những điểm gặp gỡ của hai nhà văn trên nhiều phương diện như: mô típ giấc mơ - bừng ngộ, hài hước đen, tính phi lí, vô nghĩa của xã hội và con người, hoài nghi và cái nhìn phi lịch sử, dạng tư tưởng phi tư tưởng… Để chứng minh cho những luận điểm đưa ra, tác giả đã lấy hai tiểu thuyết tiêu biểu là Hang ổ và Cuộc đời và thời đại của Michael K để so sánh, đối chiếu. Từ đó, Lê Huy Bắc khẳng định “Thế giới của Kafka, Coetzee luôn thuộc về độc-giả-tương-lai”.

Qua bài viết “Bi kịch Ruồng bỏ trong tiểu thuyết cùng tên của John Maxwell Coetzee” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học (2007), Trần Huyền Sâm đã lý giải bi kịch của con người Nam Phi thời hậu Apartheid đó là bi kịch tính dục và bi kịch cô đơn hoài nghi trong xã hội hậu hiện đại đã đẩy con người đến bế tắc của dục vọng. Nhân cách và sự thỏa hiệp của khát khao tính dục, sự phi lý và nỗi trống vắng của xã hội không kết nối đẩy vị giáo sư của Trường Đại học Cape Town đến những giằng co giữa thân phận là một con người hay một con chó. Bên cạnh đó, Trần Huyền Sâm còn phát hiện các thủ pháp để ngỏ, phép đánh vắng nhân vật và kiểu đánh tráo chủ thể trần thuật trong bài nghiên cứu “Kĩ thuật “đánh tráo” chủ thể trần thuật trong một số tiểu thuyết hậu hiện đại”… Những kiến giải trên góp phần giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng độc đáo và lôi cuốn của nhà văn Coetzee.

Khi nghiên cứu về tiểu thuyết Người chậm, Lê Thị Hường đã giải quyết một số vấn đề như hành vi giải trung tâm, ghép mảnh, liên văn bản, diễn ngôn mảnh đoạn và đặc biệt khái quát một số kiểu nhân vật chấn thương trong tác phẩm qua Người chậm của Coetzee - Từ lí thuyết hậu hiện đại. Bài viết đã có nhiều nhận định tinh tế, sâu sắc “lý thuyết hậu hiện đại đã giúp giải mã được những tầng nghĩa của tiểu thuyết Coetzee, nhằm khẳng định sự đóng góp của nhà văn vào tài sản chung của văn học nhân loại. Nhưng trên hết Người chậm chính là ẩn dụ lớn về cuộc đời, giàu tính nhân văn” [48]. Bên cạnh đó, tác giả đã phát hiện dạng ngôn ngữ đối lập nhị phân trong tiểu thuyết Người chậm - một trong những kiểu ngôn ngữ độc đáo của văn chương hậu hiện đại “kiểu ngôn ngữ mảnh đoạn, suy nghĩ trong suy nghĩ; sự trật khớp giữa lời nói và suy nghĩ…, thể hiện những xung đột tinh tế trong tâm hồn. Tính chất nhị phân của ngôn ngữ thể hiện trạng thái lưỡng phân của Paul” [48]. Cũng nghiên cứu về tiểu thuyết này, Nguyễn Thị Thu Giang đã phát hiện bốn dạng thức văn bản trong tác phẩm qua bài viết Hiện tượng đa văn bản trong tiểu

27

thuyết “Người chậm” của J.M. Coetzee (Tạp chí Khoa học, Đại học An Giang (số 2, 2014). Đó là văn bản về cuộc sống của những người già tàn tật và các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm của xã hội đối với họ trong cuộc sống hiện nay; Văn bản quan niệm về một tình yêu đích thực; Văn bản về sáng tạo nghệ thuật; Văn bản về cuộc hành trình băn khoăn đi tìm lẽ sống đích thực của con người - triết lí hành động… Mặc dù chưa có những phát hiện sâu sắc nhưng bài viết đã có những bước nhận diện ban đầu về các loại văn bản trong tiểu thuyết Người chậm khi soi chiếu lý thuyết liên văn bản.

Trong bài viết Đa văn bản trong tiểu thuyết Ruồng bỏ của J.M. Coetzee [4], tác giả Phạm Tuấn Anh phát hiện các kiểu văn bản sau: Văn bản về vấn đề tính dục; Văn bản về sáng tạo nghệ thuật; Văn bản về bi kịch bị ruồng bỏ… Từ đó, bài viết khẳng định về bản chất của con người hậu hiện đại mang bi kịch cô đơn, bất lực, mỗi cá nhân trở thành những mảnh ghép chắp vá không hoàn thiện. Bên cạnh đó, Phạm Tuấn Anh còn chỉ ra bốn kiểu con người hậu hiện đại trong tác phẩm của Coetzee: Con người trong sự chi phối của bản năng tính dục, triền miên giữa những mối hoài nghi, cô đơn, xa lạ với thực tại đời sống và chiêm nghiệm với những suy tư giàu triết lí trong bài viết Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết J.M. Coetzee [5]. Tác giả sử dụng 5 tác phẩm tiêu biểu: Ruồng bỏ, Người chậm, Đợi bọn mọi, Tuổi sắt đá, Cuộc đời và thời đại của Michael K để nhận ra các kiểu con người hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee. “Con người giờ đây không còn tròn vành, rõ nét nhưng cũng không phải là hoàn toàn mất đi. Con người vẫn tồn tại nhưng tồn tại một cách đầy vụn vỡ, lạc lõng và cô đơn. Con người trong xã hội hậu hiện đại là bản thể của nhiền phiến loạn, luôn phân mảnh, bị phân tán thành “một chủ thể phi trung tâm”, bao hàm nhiều mảnh vụn và tất cả đều bị hòa tan trong bối cảnh xám xịt chung quanh” [5]. Ngoài ra, tác giả cũng nghiên cứu khá chi tiết giọng điệu nghệ thuật trong một số tiểu thuyết của Coetzee, tiêu biểu có Giọng điệu nghệ thuật trong tiểu thuyết Người chậm của John Maxwell Coetzee (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 8 (250), 2016). Bài viết đã đánh giá các kiểu giọng điệu trong tiểu thuyết Người chậm nói riêng, văn chương hậu hiện đại nói chung từ đó giúp bạn đọc nhận diện một cách khái quát phong cách văn chương của Coetzee.

Bên cạnh một số bài viết nghiên cứu trực tiếp về tiểu thuyết của Coetzee thì cũng có một vài bài viết dùng tác phẩm của ông để làm sáng rõ một số vấn đề lý luận hiện nay. Trong Lý thuyết siêu hư cấu, Phạm Ngọc Lan đã lấy tác phẩm Cuộc đời và thời đại của Michael K để chứng minh cho lý thuyết hư cấu và siêu hư cấu. Từ tên của nhân vật, đến tính cách không rõ nét và cách đấu tranh để tạo lập và giữ gìn cho mình một không gian riêng biệt, tác giả khẳng định: nhân vật Michael K “tồn tại trong một vũ trụ có tính lật đổ, trong đó sự tự do hồn nhiên của anh làm hổ thẹn tất cả những gì nhân danh từ thiện hay phúc lợi mà xã hội dựa vào đó để chi phối tự do cá nhân” [168].

Tóm lại, tình hình nghiên cứu về Coetzee ở Việt Nam còn ít, chưa xuất hiện công trình nghiên cứu mang tính khái quát, khai mở. Số lượng các bài báo khoa học hạn chế, một số luận văn thạc sĩ được thực hiện ở các trường Đại học mới chỉ nghiên cứu một vài khía cạnh nhỏ trong 6 tiểu thuyết được chuyển dịch ở Việt Nam.

28

Từ công trình, bài viết của các tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam,

chúng tôi nhận thấy một số đặc trưng tiểu thuyết của Coetzee như sau:

Thứ nhất, tiểu thuyết của Coetzee đều có dung lượng vừa phải (khoảng 200 đến 300 trang), được tối giản đến mức có thể; sử dụng lối hành văn cổ điển như các tiểu thuyết thời kì cổ điển, hiện đại; phản ánh, miêu tả chân thực khách quan hiện thực, có khi nhuốm màu hiện thực huyền ảo, đặt nhân vật vào những cảnh huống đấu tranh, lựa chọn khắc nghiệt mà không hướng nhân vật đến giải pháp cụ thể nào cho tương lai.

Thứ hai, mạch truyện của Coetzee đậm chất Kafka, Beckett khi đặt nhân vật vào những tình huống phi lí để họ tự bộc lộ con người bản năng. Tuy nhiên, không như các nhà văn hậu hiện đại khác, mạch truyện hay số phận nhân vật được tự do, phóng túng mà tiểu thuyết của Coetzee lại tính toán cặn kẽ từng chi tiết trong truyện.

Thứ ba, không gian kể chuyện là Nam Phi, giai đoạn sau là Australia, tuy nhiên vượt qua biên giới lãnh thổ của một quốc gia cụ thể, tiểu thuyết của Coetzee hướng đến không gian bao quát để đặt ra các vấn đề mang tầm nhân loại. Vẫn là tên đất, con phố, bờ biển, hoang mạc, nông trại... của Nam Phi cụ thể nhưng người đọc có thể bắt gặp không gian ấy ở bất cứ đâu trên toàn thế giới. Từ đó nhà văn đi đến khẳng định: bi kịch con người Nam Phi cũng chính là số phận chung của nhân loại khi đối diện với chiến tranh và hậu quả của nó để lại.

Thứ tư, một trong những vấn đề luôn đau đáu trong tiểu thuyết của Coetzee đó là thân phận con người thuộc địa/hậu thuộc địa ở Nam Phi. Ám ảnh Apartheid/hậu Apartheid luôn trở đi trở lại trong tâm thức Coetzee, kể cả giai đoạn sáng tác ở Australia. Không trực tiếp truy vấn, nhưng bất cứ tác phẩm nào của ông cũng nhức nhối các câu hỏi: Liệu Nam Phi da đen có thực sự hạnh phúc như những gì mà văn minh phương Tây từng công bố với thế giới? Thân phận người da trắng trên đất nước Nam Phi và những cuộc trả thù diễn ra như thế nào? Đâu là tiêu chí phân định bạo lực hay văn hóa bạo lực ở quốc gia Cầu Vồng này?

Thứ năm, nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee là những con người chấn thương với những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần. Đó là những kẻ độc hành bước ra từ tiểu thuyết phi lí của Beckett, Kafka, từ Nam Phi trì độn và bạo lực, kết quả của xã hội hậu thực dân.

Thứ sáu, chiến lược trần thuật vừa cổ điển, vừa hiện đại trở thành đặc trưng trong nghệ thuật tiểu thuyết của Coetzee. Vẫn là ngôi kể chuyện ngôi thứ nhất và thứ ba truyền thống, nhưng điểm nhìn được đặt vào nhân vật, kiểu đánh tráo chủ thể trần thuật với tính chất lưỡng lự ngôi kể đã làm cho câu chuyện không chỉ mô tả chân thực cuộc sống mà còn có khả năng đi sâu khám phá ngõ ngách đời sống tinh thần của con người hậu hiện đại.

Thứ bảy, bên cạnh là tiểu thuyết gia hậu hiện đại, thì Coetzee còn là một nhà giáo, nhà phê bình, nghiên cứu văn chương tầm cỡ. Siêu hư cấu là thủ pháp quan trọng được ông vận dụng tài tình. Đan xen trong tiểu thuyết là các tiểu luận, bài nói chuyện (lesson) về thể loại tiểu thuyết và nghệ thuật trần thuật hậu hiện đại. Thông qua cách nhìn, cách đánh giá của các nhân vật về quá trình sáng tạo và vai trò của

29

nghệ thuật trong đời sống đã giúp cho Coetzee thể hiện quan điểm, cảm thức thẩm mĩ của mình trong thời hậu hiện đại về các vấn đề: thân phận con người, bức tranh xã hội bạo lực, hạnh phúc, niềm an ủi của con người...

* Đánh giá tình hình nghiên cứu và hƣớng triển khai - Về tình hình nghiên cứu Từ công việc tổng thuật ở trên, chúng tôi đi đến những đánh giá sau đây: Tình hình nghiên cứu lý thuyết hậu hiện đại trên thế giới và Việt Nam đang diễn ra liên tục, sôi động, đạt được nhiều thành tựu. Dù phủ nhận hay không thì nó vẫn là một lí thuyết đang trong thì hiện tại tiếp diễn khẳng định những nét vượt trội trong khuynh hướng nghiên cứu mới. Những đóng góp của các nhà khoa học để đưa lí thuyết này vào trong nghiên cứu văn học đã chứng minh cho sự hấp dẫn của hậu hiện đại.

Tình hình nghiên cứu tiểu thuyết của Coetzee trên thế giới đa dạng, phong phú, khai mở nhiều nội dung quan trọng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hiện tượng Coetzee ở Việt Nam chưa nhiều, chưa có công trình nào đầy đủ, mang tính hệ thống. Tiểu thuyết của Coetzee vẫn còn nhiều khoảng trống cần được bạn đọc tìm tòi, khám phá. Còn khá nhiều ý kiến rời rạc, chưa thống nhất, mang chủ quan cảm tính cần được bổ sung và khái quát.

Trong quá trình nghiên cứu lý thuyết chủ nghĩa hậu hiện đại cũng như văn chương Coetzee, chúng tôi nhận thấy cảm quan, tâm thức sáng tạo của mỗi nhà văn chịu tác động, ảnh hưởng lớn từ môi trường chính trị xã hội của quốc gia, thời đại lịch sử. Nếu Gabriel Garcia Marquez sáng tạo và chịu ảnh hưởng bởi không khí xã hội của đất nước Colombia nói riêng và hiện thực huyền ảo của châu Mỹ Latin nói chung; văn chương của Haruki Murakami được lấy bối cảnh của không gian hiện đại mà cô đơn của đất nước mặt trời mọc... thì sáng tác của Coetzee được bao bọc bởi nền chính trị Aparthied/hậu Apartheid. Đó là bối cảnh của đất nước Nam Phi thời kì hậu thực dân.

(9) Theo Lê Thị Vân Anh thì: “Từ colonial trong tiếng Anh có hai cách dịch là thuộc địa hoặc thực dân. Tương tự, thuật ngữ postcolonialism có thể hiểu là chủ nghĩa hậu thuộc địa hoặc chủ nghĩa hậu thực dân”. Tác giả giải thích: “Nếu dịch là chủ nghĩa hậu thuộc địa, sẽ nhấn mạnh hơn đến những di sản còn lại, những ám ảnh thuộc địa, cái tồn tại trong bối cảnh văn hóa cựu thuộc địa. Còn dịch là chủ nghĩa hậu thực dân sẽ nhấn mạnh đến nguyên nhân, nguồn gốc, tác nhân xâm nhập tạo nên bối cảnh văn hóa đó” [152].

“Chủ nghĩa hậu hiện đại như một thứ “hậu triết học” tuyên bố thiên chức và sứ mệnh của mình không còn đi tìm chân lí nữa. Bởi vì xã hội hậu hiện đại do “người khác dẫn đường”, lí luận không còn quyền uy để đưa ra những chuẩn mực mà chỉ với thái độ hoài nghi, không ngừng tiến hành phủ định, không thảo luận những vấn đề về giá trị, mà chỉ bàn bạc hiệu quả của ngôn ngữ mà thôi” [63, tr.61]. Sau chiến tranh thế giới thứ II (1945), nhân loại bước vào giai đoạn chủ nghĩa hậu thực dân. Tình hình sau thế chiến thứ II đã tác động đến tư tưởng tình cảm, kết cấu tâm lí con người, đặc biệt là các quan niệm về xã hội thay đổi. Có thể xem chủ nghĩa hậu thuộc địa(9) là một bộ phận, phân nhánh, dạng thức của chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong công trình Lý thuyết văn học hậu hiện đại, Phương Lựu cho rằng, đến thời điểm hiện nay không chỉ dừng lại ở khái niệm hậu hiện đại mà còn là hậu

30

hậu hiện đại (Beyond postmodernism). Sự phát triển của lý thuyết hậu hiện đại đã sản sinh những trường phái mới. “Lí luận văn học hậu hiện đại từ chỗ “phá” đến “xây”, từ phê phán ngôn ngữ, giải cấu trúc, phá đổ mọi hệ thống lí luận cũ đến việc quay về với lịch sử, xã hội, chính trị” [63, tr.10]. Hậu hiện đại theo khuynh hướng với lịch sử có trường phái Chủ nghĩa tân lịch sử, với xã hội có Phê bình nữ quyền, với chính trị có Chủ nghĩa hậu thực dân. Như vậy, theo Phương Lựu, chủ nghĩa hậu hiện đại là một phân nhánh/khuynh hướng của chủ nghĩa hậu hiện đại. Đối với trường hợp của nhà văn Coetzee, với nhiều yếu tố đặc biệt về hoàn cảnh lịch sử, xã hội (chế độ Apartheid) nên khi nghiên cứu, chúng tôi xem ông là nhà văn hậu hiện đại mang cảm thức hậu thuộc địa với những vấn đề về chính trị Nam Phi. Vì vậy, nghiên cứu về Coetzee cũng có nghĩa là chúng tôi lấy lí thuyết hậu thực dân như một nền tảng lí luận để làm rõ đặc trưng hậu hiện đại trong sáng tác của ông.

Khi chuyển dịch khái niệm postcolonialism, tác giả Phương Lựu gọi là chủ nghĩa hậu thực dân và ông cho rằng “lí luận về chủ nghĩa hậu thực dân chủ yếu nghiên cứu các mối quan hệ về quyền lực văn hóa hiện nay giữa các nước vốn là đế quốc và thuộc địa trước đây, vạch rõ thực chất bá quyền văn hóa của các nước vốn là đế quốc với thế giới thứ ba, đồng thời ra sức tìm ra mô hình mới trong quan hệ văn hóa đông tây trong thời đại hậu thực dân” [63, tr.213]. Như vậy, sau chiến tranh thế giới vấn đề văn hóa, quyền lực ảnh hưởng rất lớn đến các nước thứ ba như Nam Phi. Vì vậy, văn chương Nam Phi cũng như các nhà văn đương thời, trong đó có Coetzee chịu tác động mạnh bởi tư tưởng, lí thuyết hậu thực dân. Trong công trình Văn học các nước thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia, F. Jameson cho thấy vận mệnh của văn hóa văn học thế giới thứ ba trong đối sánh nhị nguyên về văn hóa giữa thế giới thứ nhất và thế giới thứ ba (tức giữa trung tâm và ngoại biên) [xem thêm tài liệu 164]. Hậu hiện đại là sự đả phá các đại tự sự trên tất cả mọi phương diện thì khuynh hướng hậu thực dân là đả phá các đại tự sự về thể chế chính trị. Viết về tình hình chính trị, xã hội ở Nam Phi trong thời kì Apartheid và hậu Apartheid là hình thức Coetzee phá vỡ những tin tưởng của thế giới về một Nam Phi ổn định và phát triển.

Bên cạnh chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu thuộc địa thì nền chính trị Nam Phi còn tồn tại và chịu tác động của chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid, vì vậy bối cảnh xã hội ở quốc gia này có những đặc điểm riêng biệt, không giống với các nước thuộc thế giới thứ ba khác. Như vậy, ngoài vấn đề văn hóa, bá quyền văn hóa thì thể chế chính trị, quyền lực da đen - da trắng ở Nam Phi được xem là trung tâm của văn chương hậu thực dân/hậu hiện đại. Coetzee là nhà văn da trắng sáng tác phản ánh bối cảnh phân tranh đen - trắng trong thời kì hậu thực dân chắc chắn để lại nhiều điều thú vị cho bạn đọc thế giới.

- Về hướng triển khai của luận án Với đề tài Đặc trưng hậu hiệu đại trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee, chúng tôi cố gắng hệ thống, tổng hợp, tiếp tục khám phá hiện tượng đa phức này và làm rõ các đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của ông. Trong đó, chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề sau:

31

Thứ nhất, Coetzee sống và viết trong cả hai giai đoạn Apartheid/hậu Apartheid, nên ông chứng kiến, nếm trải bối cảnh chính trị, xã hội Nam Phi đầy biến động và phức tạp. Trong luận án, chúng tôi nghiên cứu đặc trưng hậu hiện đại trong tiểu thuyết của Coetzee từ tâm thức và lối viết hậu thuộc địa để thấy được xung đột Apartheid/hậu Apartheid trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Các vấn đề bạo lực và văn hóa bạo lực, diễn ngôn kẻ mạnh, diễn ngôn kẻ khác, mối quan hệ giữa chủ nhân - nô lệ - kẻ tha hóa ở Nam Phi được Coetzee phản ánh khô khốc, đem đến nhận thức mới cho bạn đọc...

Thứ hai, từ phương diện nhân vật, chúng tôi đi đến xác định các kiểu con người trong tiểu thuyết của Coetzee. Đó là kiểu con người hoài nghi, cô đơn với thực tại và chính bản thân mình. Con người phi lý mang ý thức phản tỉnh. Kiểu con người bị chấn thương với khiếm khuyết thể chất và tinh thần trở thành nét đặc trưng trong sáng tác của ông. Tình dục là văn hóa của cơ thể, điều này được Coetzee khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau, một mặt là bản năng, mặt khác là công cụ để báo thù của người da đen đối với người da trắng và ngược lại. Đặc trưng trong con người tính dục của Coetzee đó là họ không rơi vào trạng thái vô nghĩa, mất phương hướng mà tất cả hướng đến vẻ đẹp nhục thể của con người đúng nghĩa. Văn chương hậu hiện đại chứng kiến các sence làm tình của con người trở nên trống rỗng, thì tiểu thuyết của Coetzee lại trở nên nóng bỏng, mãnh liệt, đầy cảm xúc. Văn chương của Coetzee với mục đích cao nhất là hướng con người đến vùng trời tự do. Tự do thân xác, tự do tinh thần, phá vỡ trật tự Apartheid, khẳng định vị trí bản thể để đối thoại bên ngoài lãnh thổ là những đặc điểm khu biệt trong tiểu thuyết của Coetzee.

Thứ ba, từ kỹ thuật trần thuật hậu hiện đại, chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề sau: người kể chuyện với tính chất lưỡng lự ngôi kể; điểm nhìn đa chiều và người kể chuyện không đáng tin cậy; kĩ thuật trần thuật gắn với tọa độ không thời gian. Lối viết giản lược, văn phong tiết độ, siêu hư cấu, giọng điệu hoài nghi, mỉa mai, hài hước đen... là những thủ pháp quan trọng được Coetzee sử dụng trong việc thể hiện thông điệp nhân sinh.

Nếu như quá trình sáng tác nhà văn hiện đại sẽ chịu chi phối bởi phong cách sáng tác của thời kì lịch sử nhất định thì văn chương hậu hiện đại lại không tuân thủ một đại tự sự cụ thể, mỗi cá nhân có những quan điểm tiểu tự sự khác nhau. “Họ không sáng tác dưới ánh sáng chỉ đường duy nhất, không chịu sự chi phối của một hệ nhận thức (episteme, khái niệm của Foucault). Họ không hướng lối viết của mình theo một nguyên tắc định hình của một nhóm sáng tạo. Mỗi người trong sáng tác đã luôn là một hệ biến hình đa dạng và phức tạp. Có người đi theo hướng giả trinh thám (Paul Auster), có người đi theo hướng huyền ảo (Gabriel Garcia Marquez, Don DeLillo), có người theo hướng cực hạn (Raymond Carver),... Có thể nói mỗi nhà văn hậu hiện đại là một dạng, đồng thời cũng là một tổ hợp phong cách với nhiều biến hóa khôn lường. Chẳng hạn, ta có thể xếp Don DeLillo vào nhóm những nhà huyền ảo, nhà nhại thần thoại, giả trinh thám... Như thế các nhà hậu hiện đại trong quá trình sáng tạo đã không ngừng giải cấu trúc phong cách của mình” [14, tr.28]. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: Coetzee là nhà văn có lối viết ngụ ngôn đen về xã hội Apartheid/hậu Apartheid gắn với tâm thức hậu thuộc địa và lưu vong.

32

Chƣơng 2 ĐẶC TRƢNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ TÂM THỨC HẬU THUỘC ĐỊA Coetzee là nhà văn hậu hiện đại mang tâm thức hậu thuộc địa, sống ở Nam Phi, một quốc gia bị áp bức, thống trị về chính trị, văn hóa phương Tây. Chế độ chính trị Apartheid tác động lớn đến cảm thức sáng tạo văn chương của ông. Cho nên, tiểu thuyết của ông chịu ảnh hưởng từ cảm quan hậu thuộc địa và hình thành lối viết ngụ ngôn đen - cảm thức lưu vong. Ở Chương 2 của luận án, chúng tôi tập trung triển khai gồm 3 nội dung cơ bản. Từ việc tìm hiểu lý thuyết hậu thuộc địa, luận án khái quát chế độ phân rẽ ở Nam Phi thời đại Apartheid/hậu Apartheid với những đạo luật hà khắc. Không chỉ phân biệt hai thái cực chủng tộc trắng - đen mà Nam Phi còn đối diện với sự phân chia: giàu - nghèo, đàn ông da trắng - đàn ông da đen, phụ nữ da trắng - phụ nữ da đen,... Diễn ngôn của “kẻ mạnh” và “kẻ khác” có những hoán đổi vị trí bất ngờ. Không phải lúc nào “kẻ mạnh” cũng là thượng đẳng, “kẻ khác” là nô lệ mà đằng sau bức tranh xã hội bạo lực chiến tranh là những bi kịch về thân phận con người. Các vấn đề bệnh tật, chiến tranh, hãm hiếp, ngoại tình, AIDS, đồng tính... đặc biệt nhất là bạo lực và ý nghĩa cuối cùng về sự tồn tại của con người trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bạo lực trở thành văn hóa để xóa bỏ mọi xung đột trong xã hội khi mà thể chế chính trị đã có nhiều nỗ lực cải thiện, nhưng những gì người đọc nhìn thấy vẫn chưa đúng với các bản báo cáo về tình hình Nam Phi cuối thế kỉ XX.

Hàng loạt các câu hỏi về con người với thái độ ứng xử trước hoàn cảnh trở đi trở lại nhiều lần trong sáng tác của Coetzee: đấu tranh yếu ớt, vô cảm trước thời cuộc, hay thỏa hiệp trước tình thế... Ông không phải là nhà văn đầu tiên phản ánh cái phi lí của con người. Beckett, Kafka là những nhà văn tiên phong và đặt nền móng cho nền văn học phí lí. Vụ án và Lâu đài là hai sáng tác điển hình của Kafka gây ám ảnh đối với bạn đọc. Trong hai cuốn tiểu thuyết này, nhân vật hầu như không lộ mặt. Josef K. trong Vụ án chưa một lần phải ra trước vành móng ngựa. Trong những lần đi tìm toà án, anh đã được gặp nhiều người ở vào địa vị bị cáo như anh. Họ ngồi đợi để gặp toà mà chẳng có hy vọng được gặp. Khi K. hỏi họ đợi gì thì họ chỉ biết ngơ ngác trả lời: “Tôi đợi”. Họ được đưa đến và đi tìm căn phòng pháp luật nhưng tất cả đều vô vọng. Điểm chung của các nhân vật trong sáng tác của Kafka là chấp nhận phi lí một cách tự nhiên. Một ngày kia Gregor Sama trong Hóa thân bị biến thành con bọ khổng lồ. Anh không thắc mắc tại sao mình lại bị biến thành con bọ mà nhanh chóng thích nghi với hình dạng mới. Và từ đây, hàng loạt những rắc rối, phi lí xảy đến với anh khiến Samsa vô cùng khổ sở. Các nhân vật của Kafka thường rơi vào cõi mê cung, huyễn hoặc, không thể lí giải nổi. Tuy nhiên, trong văn chương của Coetzee, các nhân vật hiện lên đầy đủ với các thông tin khá rõ ràng. Họ hoài nghi về bản chất xã hội, con người và bản thân mình nhưng không gay gắt, vô vọng như trong sáng tác của Beckett, Kafka. Hành trình đi và đến của họ cụ thể, có chủ thể, có “con đường”, có mục đích... Sống dưới chế độ phân rẽ các nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee chịu tác động của quyền lực chủ nghĩa.

33

Không chỉ phân biệt giàu - nghèo, đen - trắng, đàn ông - phụ nữ, họ còn bị ám ảnh bởi sự áp đặt quyền lực vô hình của chế độ Apartheid. Dù vậy, dưới góc nhìn của chủ nhân, nô lệ hay kẻ tha hóa thì văn chương của Coetzee vẫn luôn hướng nhân vật của mình về ánh sáng của tình thương yêu. Có lẽ tình yêu thương là cứu cánh cuối cùng để con người bấu víu vào sự tồn tại ở Nam Phi khô cằn. Phi lí nhưng không sắc lạnh như trong văn chương của Beckett, hoài nghi nhưng không tàn khốc như trong tiểu thuyết của Kafka... Coetzee vẫn dành riêng những trang văn đẹp lung linh về thiên nhiên và con người Nam Phi. 2.1. Chế độ Apartheid/hậu Apartheid ở Nam Phi

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hưng Quốc, đóng góp nổi bật nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại là, một mặt, giúp người ta đoạn tuyệt những giấc mơ đại tự sự (grand narratives) của chủ nghĩa hiện đại, mặt khác, nó cũng giúp người ta hiểu sâu sắc hơn về chính thời đại mình đang sống, cái thời đại trong đó, với sự phát triển vượt bậc của các kỹ thuật truyền thông điện tử, từ truyền hình đến computer, các ký hiệu không còn nối liền với thực tại mà tự chúng trở thành một virtual reality, những bản thể của hiện thực, nơi ranh giới giữa cái thực và cái ảo, giữa cái bề mặt và cái bề sâu, giữa hiện tượng và ý nghĩa không còn hiện hữu nữa. “Khác với chủ nghĩa hiện đại vốn đặt trên nền tảng chủ nghĩa duy lý của Descartes và gắn liền với phong trào Khai Sáng (thế kỷ XVIII), nhấn mạnh vào lý trí, khoa học, kỹ thuật và những sự tiến bộ theo hướng tuyến tính; chủ nghĩa hậu hiện đại gắn liền với chủ nghĩa hậu cấu trúc, đề cao tính bất định, tính đứt đoạn, tính đa dạng và tính phân mảnh. Khác với chủ nghĩa hiện đại vốn lúc nào cũng cố gắng hoàn chỉnh một nền văn hoá cao cấp như một thực tại khu biệt với nền văn hoá bình dân, chủ nghĩa hậu hiện đại nỗ lực xoá nhoà mọi sự phân biệt, xoá nhoà mọi ranh giới giữa bình dân và cao cấp, giữa tính đặc tuyển (elitism) và tính đại chúng” [177]. Khác với chủ nghĩa hiện đại vốn tìm kiếm sự thống nhất trong đó mọi yếu tố đều quy vào một trung tâm nhất định với một cấu trúc chặt chẽ và có thứ bậc rõ rệt, chủ nghĩa hậu hiện đại chủ trương phi tâm hoá (de-centring), do đó, chấp nhận những sự lắp ghép ngẫu nhiên và nhại lại, chấp nhận sự kết hợp lỏng lẻo giữa các thành tố trong văn bản như những thủ pháp nghệ thuật quan trọng. Khác với chủ nghĩa hiện đại vốn hoàn toàn hướng đến tương lai, cổ vũ các cuộc cách mạng, khuyến khích mọi hành vi phủ định và phản kháng, chủ nghĩa hậu hiện đại kết hợp cái nhìn về tương lai với một chút hoài niệm đối với quá khứ, kết hợp dễ dàng giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và sự cách tân.

Nói cách khác, nếu chủ nghĩa hiện đại là một quá trình khu biệt hoá dựa trên một trung tâm nhất định thì chủ nghĩa hậu hiện đại lại là một quá trình giải khu biệt hoá và xoá bỏ mọi trung tâm. Cũng có thể nói chủ nghĩa hậu hiện đại là sự sụp đổ của những cái đơn nhất và toàn trị để nhường chỗ cho những phần mảnh và những yếu tố ngoại biên, là sự khủng hoảng của tính nhất quán và là sự nở rộ của những sự dị biệt, là sự thoái vị của tính hệ thống và sự thăng hoa của tính đa tạp. Một cách vắn tắt, tự bản chất, chủ nghĩa hậu hiện đại là một thứ chủ nghĩa đa nguyên. Tính chất đa nguyên, “theo Roland Barthes, xuất phát từ sự thiếu vắng của một ý nghĩa trung tâm và những yếu tố mang tính độc sáng trong các văn bản; theo Jean

34

Francois Lyotard, xuất phát từ sự sụp đổ của các đại tự sự vốn là nền tảng trên đó người ta xây dựng các trung tâm quyền lực; theo Fredric Jameson, xuất phát từ quá trình sản xuất và tiêu thụ có tính chất xuyên quốc gia của nền kinh tế hoàn cầu hoá thời hậu kỳ tư bản chủ nghĩa; theo Jean Baudrillard, xuất phát từ một đặc điểm căn bản của xã hội hậu hiện đại vốn được tạo thành bởi những ký hiệu không còn quy chiếu về hiện thực” [177].

Coetzee được xem là nhà hậu hiện đại tiêu biểu cho văn học Nam Phi nói riêng, văn chương thế giới nói chung cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI. Một trong những đặc trưng đó là sự phá vỡ các diễn ngôn tự sự về một Nam Phi thống nhất, tự do, tiến bộ, chính nghĩa. Cả trước và sau chế độ Apartheid, tiểu thuyết của Coetzee phản ánh các tiểu tự sự xã hội. Không mạnh mẽ quyết liệt, nhưng văn chương của Coetzee đủ đánh thức suy ngẫm của bạn đọc về một Nam Phi khác so với những gì họ từng biết. Khi xác định vị trí của nhà tiểu thuyết gia, nhà phê bình văn học Coetzee, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đặt ra ba giả thiết. Thứ nhất, vì ông là người da trắng châu Âu nên sẽ có những quyền lực bị hạn chế khi phản ánh về châu Phi da đen. Thứ hai, ông là nhà văn Nam Phi không ca ngợi thành tựu của hậu Apartheid mà lại phản ánh một thực tại khốc liệt, chia rẽ ở đất nước, nhất là khi ông trở thành công dân của Australia. Thứ ba, tác phẩm của Coetzee là những câu chuyện ngụ ngôn về tình hình Nam Phi đương đại, kịch tính, phức tạp, nhạy cảm. Tuy nhiên vượt lên trên tất cả các ranh giới phê bình, tiểu thuyết của Coetzee đặt ra nhiều câu hỏi lớn, thách thức và đầy hoài nghi về xã hội và thân phận con người thời kì Apartheid/hậu Apartheid. Thay vì miêu tả nền chính trị xã hội tàn khốc thì văn chương của ông đặt con người vào trong hoàn cảnh cụ thể để lựa chọn, đối mặt với những tình thế lịch sử. Vì vậy, thể chế chính trị không trở thành vấn đề trung tâm trong tiểu thuyết của Coetzee như nhà văn tiền bối Nadine Gordimer, mà ông chỉ phản ánh số phận con người với những thời khắc lịch sử mang tính quyết định.

(10) Là giáo sư văn học Anh của trường các Đại học nổi tiếng ở Hoa Kì, là tác giả của công trình: A Story of South Africa, J.M. Coetzee’s fiction in context.

Cho rằng là nhà văn ngoại cuộc, không có nghĩa là ông tách hẳn mà Coetzee là người nghệ sĩ có ý thức trách nhiệm trước bối cảnh lịch sử Nam Phi. Coetzee cũng như các nhà văn khác phải đối diện với những tình thế chính trị, xã hội ngặt nghèo. Susan Vanzanten Gallagher(10) cho rằng: “given this turbulent history, the South African writer faces a unique and difficult situation. Is the primary responsibility of a writer living under apartheid to write or to fight, to produce works of art or to struggle to eliminate injustice and oppression”? (với lịch sử đầy biến động này, nhà văn Nam Phi phải đối mặt với một tình huống độc đáo và khó khăn. Là trách nhiệm chính của một nhà văn sống dưới chế độ phân biệt chủng tộc để viết hoặc chiến đấu, xuất bản các tác phẩm nghệ thuật hoặc đấu tranh để loại bỏ bất công và áp bức?) [143]. Vấn đề lịch sử được Coetzee đặt ra ngay từ những tiểu thuyết đầu tiên. Không chỉ là lịch sử của Nam Phi mà còn là vấn đề của các quốc gia khác trên thế giới. Dusklands là câu chuyện được nhà văn kể bằng giọng điệu đặc thù của mình, kẻ ngoại cuộc lạnh lùng, tàn nhẫn nhưng sắc bén, thiết tha. Cuộc

35

chiến xâm lược của Mỹ ở Việt Nam, đặc biệt là sự tàn bạo của nó. Bằng những bức ảnh và thước phim tài liệu xa xôi nhưng câu chuyện của đế quốc xâm lược là sự huyễn tưởng tàn bạo mà nhân loại thế kỉ XX chứng kiến. Trong Dusklands, Coetzee đã cảnh báo về mối nguy hiểm của chủ nghĩa thuộc địa. Tất cả các diễn ngôn đã chỉ ra hiện thực và những bi kịch của người bản xứ. 2.1.1. Đại tự sự Apartheid - thời kỳ lịch sử bạo lực

Apartheid (phát âm theo tiếng Hà Lan), seperateness (phát âm theo tiếng Afrikaans) có nghĩa là sự riêng biệt, tách biệt, dùng để chỉ hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi giữa thiểu số người da trắng và phần đông người da đen trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Thuật ngữ Apartheid lần đầu tiên được sử dụng tại Nam Phi vào năm 1917 trong một bài diễn văn của Jan Christian Smuts - một trong những lãnh tụ vĩ đại nhất của Nam Phi trong thời kỳ Nam Phi là nước tự trị nằm trong khối Liên hiệp Anh. Như vậy, sự phân biệt chủng tộc theo thuật ngữ Apartheid ở Nam Phi thực chất xuất hiện từ thời kỳ thuộc địa và sau đó trở thành chính sách phát triển chính thức của chính phủ Nam Phi sau cuộc tổng tuyển cử năm 1948 sau khi Đảng Dân tộc (NP) đánh đổ chính quyền của Jan Christian Smuts. Đảng Dân tộc sau năm 1948 đã chính thức sử dụng chính sách Apartheid để mở rộng chính sách phân biệt chủng tộc và đề cao vai trò lãnh đạo của người da trắng ở Nam Phi [xem thêm phụ lục 6].

Đối với Coetzee, ông không miêu tả trực diện mâu thuẫn, cuộc đấu tranh bạo động, tập đoàn kinh tế thanh trừng nội bộ mà đi sâu vào dạng bi kịch của nhân dân Nam Phi phải đối diện hàng ngày. Những chấn thương bên trong tâm lí, tinh thần con người là hình thức ngụ ngôn đen để Coetzee mô tả xã hội Nam Phi. Nếu Nadine Gordimer miêu tả đời sống chính trị, xã hội Apartheid với những trang văn kinh hoàng đẫm máu(11) thì ngược lại, Coetzee lại đi sâu vào những chấn thương bên trong con người để phản ánh cuộc chiến cũng không kém phần khốc liệt.

Điều đặc biệt trong tiểu thuyết của Coetzee thể hiện ở việc tác giả xây dựng những hoàn cảnh/ bối cảnh mà ở đó con người không còn có thể biết thế nào là phải, thế nào là trái. Nếu được lựa chọn một thái độ rõ rệt thì thái độ đó cũng không đem đến một kết thúc cụ thể nào. Bối cảnh chính trong phần lớn tiểu thuyết của Coetzee là những vùng đất Nam Phi từ đồng bằng nông thôn đến sa mạc khô cằn, từ thành phố văn minh đến vùng biên giới man rợ, nơi con người và con người, con người và lịch sử đối đầu để xóa bỏ lẫn nhau. Tuy nhiên, Coetzee lại không để những hoàn cảnh này chi phối đến lối viết lạnh lùng của mình. Ông luôn xem mình là một kẻ ngoại cuộc, kẻ đứng bên lề lịch sử, chính trị, xã hội của Nam Phi để miêu tả, phản ánh. Để câu chuyện trở nên khách quan thì đó là mục đích của bất kì nhà văn nào. Tuy nhiên, đối với Coetzee việc dửng dưng với lịch sử, chính trị là để không dự phần vào việc đánh giá hành động của nhân vật cũng như không phải đưa quyết định nên hành động ra sao trước những tình thế xảy ra. Các nhân vật của ông luôn luôn tự đứng đằng sau lưng chính mình, bất động, mất hẳn khả năng tham dự vào hành động của chính mình. Việc biến mình thành thụ động trước thời cuộc, cách thể (11) Các tiểu thuyết tiêu biểu của Gordimer: Burger's Daughter (1979), July's People (1981), The House Gun (1998), The Pickup (2002)…

36

hiện sự hiện hữu cuối cùng để thoát ra khỏi sự áp bức của Apartheid, theo Coetzee đó là ánh sáng thánh thiện cuối cùng của con người mà ông khao khát tìm kiếm.

Dusklands (1974) là cuốn tiểu thuyết đầu tay của Coetzee. Tác phẩm được gợi cảm hứng khi ông đến thăm bảo tàng Anh ở London. Khi chuyển đến Texas vào cuối những năm 1960, ông tiếp tục nghiên cứu về đề tài chiến tranh tâm lí và cuộc chiến ở Việt Nam. Coetzee bắt đầu viết tiểu thuyết này khi ông chuyển đến Buffalo, New York, vào tháng 1 năm 1970. Tác phẩm gồm hai câu chuyện riêng biệt: “The Vietnam Project” (Dự án Việt Nam) và “The Narrative of Jacobus Coetzee” (Tường thuật của Jacobus Coetzee). Câu chuyện đầu tiên, The Vietnam Project, kể về những công việc điên rồ của nhân vật chính Eugene Dawn. Eugene làm việc cho một cơ quan chính phủ Hoa Kỳ chịu trách nhiệm về cuộc chiến tâm lý trong chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, công việc huyễn tưởng và các hoạt động tâm lý gây tổn thất nặng nề cho ông. Bi kịch của Eugene lên đến đỉnh điểm khi đâm chết Martin, con trai ông. Câu chuyện thứ hai, The Narrative of Jacobus Coetzee diễn ra vào thế kỷ XVIII, là một câu chuyện về một cuộc thám hiểm vào nội địa Nam Phi. Sau khi qua sông Orange, Jacobus gặp một bộ lạc Namaqua để buôn bán, nhưng đột nhiên ngã bệnh. Anh ta được cứu sống bởi bộ lạc và dần dần hồi phục. Vì tham gia vào một cuộc chiến mà anh ta bị trục xuất khỏi làng. Người nô lệ cuối cùng của anh ta chết trên đường về nhà. Jacobus trở về một mình và sau đó tổ chức một cuộc thám hiểm trừng phạt chống lại Namaqua. Câu chuyện kết thúc bằng việc Jacobus xử tử những nô lệ đã bỏ rơi anh ta. Chủ đề của tác phẩm thể hiện lòng ganh ghét con người dưới hai hình dạng khác nhau: loại thứ nhất là lòng ganh ghét có tính chất trí thức và hoang tưởng tự cao tự đại; loại thứ hai là lòng ganh ghét có tính cách sống còn và dã man. Khi đánh giá về tác phẩm, nhà phê bình văn học Dominic Head (Anh) cho rằng Dusklands được viết dưới hình thức một chủ nghĩa hậu hiện đại mới ở Nam Phi. Xuất bản lần đầu năm 1974, tác phẩm đã thu hút những phản hồi tích cực từ phía độc giả. Các nhà phê bình đánh giá cao cách thể hiện và phê phán bạo lực vốn có trong tâm lý thực dân và đế quốc ở thế giới phương Tây. Tuy nhiên, một số ý kiến tỏ ra chưa hài lòng về sự phản kháng của Coetzee vì ông không đưa ra lời phê phán trực tiếp nào về bạo lực thuộc địa. Đây là thái độ chủ đạo xuyên suốt các tiểu thuyết của Coetzee, ông không đưa ra phán xét cuối cùng, chỉ mô phỏng các trạng thái xã hội và để nhân vật trải nghiệm. Mọi đánh giá cuối cùng thuộc về độc giả, nhưng nếu đọc kĩ ta thấy giọng điệu mỉa mai chua chát, ngầm ẩn một khía cạnh của hài hước đen về xã hội Nam Phi.

Các nhân vật của Coetzee thường đứng ngoài cuộc chiến. Michael K trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại Michael K là một kiểu nhân vật như vậy. Chữ K không có dấu chấm phía sau có nghĩa không phải là một cái tên viết tắt như nhân vật Joseph K. trong tiểu thuyết của Kafka. Cuộc đời của K là cuộc đời của một kẻ đứng bên lề. Thời đại của K là thời chiến tranh giữa những người cầm quyền da trắng và quân du kích đấu tranh lật đổ chính quyền độc tài Apartheid. Micheal K đại diện cho người Phi châu vô danh, nhỏ bé nào đó, mang khuyết tật bẩm sinh cả về thể xác lẫn tinh thần, có một đời sống như cây cỏ. Người mẹ độc nhất của K mang trọng bệnh và muốn trở về sống những ngày còn lại ở vùng quê nơi bà sống suốt

37

thời thanh xuân. Muốn di chuyển từ vùng này sang vùng kia K phải xin được giấy phép thông hành. Dù đã cố gắng và hết sức kiên nhẫn nhưng giấy phép này chẳng bao giờ đến được tay mẹ con K. Vì vậy, K đánh liều bằng cách tự đóng một cái xe kéo, chính anh làm phu xe để đưa mẹ về huyện Hoàng Tử Albert. Lần khởi hành thứ nhất thất bại vì K kéo xe trên trục lộ giao thông chính và bị quân đội, cảnh sát đuổi về. Lần thứ hai, K không theo trục lộ chính mà kéo xe quanh co xuyên qua những con đường nhỏ, hai mẹ con ăn bờ ngủ bụi và bị cướp bóc. Đi chưa được nửa đường thì Anna K ngã bệnh, khi đưa vào nhà thương dù bà đang hấp hối nhưng vì nhà thương không đủ chỗ cho số bệnh nhân quá đông nên mẹ K đành nằm chờ chết. Cuối cùng, bà bị chết trong bệnh viện và người ta đưa cho K gói tro hài cốt của mẹ anh và chiếc va ly của bà. Một buổi sáng tình cờ có một ông lão đánh xe ngựa nhìn thấy K và cho anh quá giang một đoạn đường. Con đường tìm về chốn quê mẹ của Micheal K cũng là hành trình của một kẻ muốn tránh xa con người, tránh xa cuộc đời. K hết bị ném vào trại này lại đến trung tâm khác và kiên quyết trốn chạy để được xa lánh. Có điều lạ lùng là trước những khổ nạn phải gánh chịu trong lòng K không chút oán thù, phẫn hận mà ngược lại vẫn thản nhiên tự tại, bám riết vào đất đai, côn trùng để sinh tồn theo bản năng sinh vật. K bỏ mặc các khái niệm: chính trị, chiến tranh, chính quyền thể chế, cảnh sát, quyền sống, phân biệt chia rẽ... để sinh tồn như con người nguyên thủy.

Trại cuối cùng K vào là một trại tù và chính ở nơi đây anh gặp được một người thực sự là “bạn”: vị bác sĩ, một người không những hết lòng bảo vệ, cứu chữa mà còn cố sức tìm hiểu anh. Thời gian ở đây anh gần như bất hợp tác với mọi người, không ăn không nói, chỉ nằm trơ trơ khiến vị bác sĩ lo lắng. Trong suy nghĩ của người bác sĩ trẻ này thì K không thuộc về thế giới chúng ta, K thuộc về thế giới của riêng mình. “Anh ta như một hòn đá, một hòn sỏi nằm yên lặng chỉ chăm chú đến công việc của chính mình từ thuở hồng hoang đến giờ, nay bỗng có người nhặt lên và tung từ tay này sang tay khác” [95, tr.237]. Vị bác sĩ này trông thấy môi K bị sứt với vách ngăn ở miệng bị chệch hẳn sang một bên đã có nhã ý khâu lại cho anh, nhưng K dứt khoát từ chối: “Tôi sinh ra thế nào thì cứ để mặc tôi như thế” [95, tr.230]. Cuối cùng Micheal K trốn khỏi trại để trở về chốn cũ, thành phố nơi anh đã chào đời, trưởng thành và từng làm việc. Hóa ra, điểm/đích đến của K cũng là điểm/nơi khởi hành xuất phát. Một chi tiết thú vị nếu người đọc không tinh ý sẽ rất dễ bỏ qua: trong phần II của Cuộc đời và thời đại của Michael K ở nhiều chỗ Michael gọi là Michaels (có thêm s, chỉ số nhiều). Khi Coetzee thêm hậu tố “s” vào tên của Micheal K có lẽ ngầm hiểu trên đời này còn có vô số người như Micheal K. Chữ K trơ trọi, đơn độc như một người hùng phản chiến chống lại chiến tranh. Mặc dù, hàng ngày K đối diện với chiến tranh, nhưng nó không thể chạm đến anh. “Anh ta đi xuyên suốt trong lòng cuộc chiến tranh. Một sinh vật chưa được sinh ra, mà cũng chưa đang sinh ra” [95, tr.238]. Trong cuộc đối thoại của mình với vị bác sĩ và Noel, Michael K khẳng định: “tôi không can dự đến chiến tranh” [95, tr.243]. Đối với anh chỉ có những hạt bí ngô là sự tồn tại, bởi vì “những gì mọc ra là để cho tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta là con em của đất mà” [95, tr.245]. Phát biểu của Michael K đánh thức tiềm ẩn trong bạn đọc hôm nay và mãi mãi sau này về giá trị của sinh thái. Có thể nói Michael K là nhân vật thú vị chứa đựng nhiều dụ ngôn mà

38

Coetzee dụng công xây dựng. Cuốn tiểu thuyết cỡ trung bình nhưng dung nạp trong đó nhiều tiếng nói đối thoại. Đó là tiếng nói đối thoại bạo lực chiến tranh; tình trạng chia rẽ; sự bỏ rơi người già; vấn đề ăn uống, sức khỏe, bệnh tật; bảo vệ sinh thái thiên nhiên... Chính lí do này mà tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K vinh dự nhận giải thưởng Booker danh giá.

Đợi bọn mọi và Tuổi sắt đá cũng là những tiểu thuyết phản ánh thực trạng bất ổn ở Nam Phi. Mặc dù không có những trận chiến ầm ĩ bom đạn nhưng các tác phẩm của Coetzee phần nào đã khách quan hóa cuộc phân tranh đen - trắng. Đợi bọn mọi có thể được xem là một hoang tưởng, ẩn dụ về việc truy lùng bọn mọi rợ của Đế chế chính phủ Nam Phi da trắng. Truy lùng, bắt bớ, đánh đập... nhằm tìm ra những kẻ đã gây ra những bất ổn trong xã hội. Thực tế sự xáo trộn không bắt nguồn từ bọn mọi mà từ sự kì thị, nghi ngờ của Đế chế. Tuổi sắt đá là tiểu thuyết phản ánh thực trạng một Nam Phi da đen đang trỗi dậy chống lại chính phủ, cảnh sát để giành chính quyền. Dù thất bại, đẫm máu, tuổi trẻ Nam Phi da đen bị giết hại nhưng đó là trận đánh mở màn cho một cuộc vũ trang sắp xảy ra.

Có thể nói, ở giai đoạn Apartheid, tiểu thuyết của Coetzee đã góp phần phản ánh chân thực, khách quan bức tranh chính trị bạo lực ở quốc gia đa sắc tộc này. Bạo lực trở thành văn hóa, khó có chính quyền nhà nước nào xóa bỏ được. Sau này, với những nỗ lực đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt nhưng chính phủ của tổng thống Nelson Mandela vẫn không thể xóa bỏ tình trạng bạo lực ở Nam Phi. 2.1.2. Hậu Apartheid - thời kỳ lịch sử bất ổn

Nam Phi được thành lập sau khi Anh Quốc đánh bại cuộc kháng chiến của người Boers (di dân người Hòa Lan đến định cư vào thế kỷ XVII) trong cuộc chiến tranh gọi là “Boer War” (1899-1902). Trong những năm tiếp theo, sau chiến thắng của đảng Dân tộc Phi (South African National Party - NP) trong cuộc tổng tuyển cử vào năm 1948, hàng loạt đạo luật được ban hành nhằm bảo đảm sự thống trị hoàn toàn của người da trắng (khoảng 10% dân số) trên người da đen (80% dân số), tạo nên một chế độ phân biệt chủng tộc khắc nghiệt nhất trên thế giới. Sau cuộc chiến tranh lâu dài đổ máu, năm 1990, chế độ Apartheid bị sụp đổ và cuộc bầu cử tự do dành cho tất cả các sắc tộc lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1994 đưa người da đen lên cầm quyền. Nelson Mandela trở thành tổng thống đầu tiên của Nam Phi thời kì hậu-Apartheid.

Lịch sử cuộc nội chiến Mỹ (1860-1865) đã ghi nhận người da đen ở Hoa Kỳ được giải phóng khỏi chế độ nô lệ. Ai cũng tưởng họ sẽ rất sung sướng vì đột nhiên được sống tự do, bình đẳng. Nhưng không, trái lại, họ cảm thấy lạc lõng trước số phận. Từ trước, tuy là thân phận nô lệ, nhưng cuộc sống của họ, dù sao cũng có người lo, không phải vận dụng trí óc để sinh tồn. Khi đột nhiên được làm người tự do, họ mất phương hướng, không biết phải làm gì. Tình trạng đó chẳng khác gì với người da đen Nam Phi sau khi chế độ Apartheid sụp đổ. Khi Mandeda lên nắm chính quyền, người da đen bản địa được trao lại tất cả các quyền mà họ ao ước và đấu tranh bằng xương máu mấy thế hệ để có được. Nhưng sau một thời gian đầu ngây ngất, họ chững lại, ngơ ngác. Đó cũng là tâm trạng của những nhà văn da đen Nam Phi hiện tại. Được giải phóng rồi, họ cầm bút mà không biết phải viết những

39

gì. Ca ngợi chế độ mới thì không đáng vì chưa có gì mới mẻ. Tiếp tục chửi rủa chế độ phân biệt chủng tộc thì đã qua rồi, vì đã bị lật đổ, kẻ thì vào tù, người thì mất quyền. Thiểu số người da trắng trở thành giai tầng bị trị. Chế độ chính trị mới mở toang cánh cửa cho thấy cả một con đường thênh thang trước mắt với vô vàn cơ hội, nhưng đồng thời cũng với nhiều thách thức ngòi bút của người nghệ sĩ có lương tri. Coetzee nhận xét rằng chế độ phân biệt chủng tộc đã chết, nhưng hậu quả của nó vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, kể cả văn chương. Chuyện quyền hành vẫn còn ám ảnh mọi người nhiều năm sau nữa.

Năm 2001, nhà thơ, tiểu thuyết gia Phaswane Mpe(12) cho xuất bản Welcome to Our Hilbrow rất được giới phê bình Nam Phi tán thưởng. Tác phẩm đưa ra một cái nhìn về sự hư hỏng thể chất và tinh thần trong cả hai khu vực nông thôn và thành thị. Nông thôn thì nghèo nàn, bảo thủ còn thành thị thì là hình ảnh của những đường phố tồi tàn, đầy tệ nạn: đĩ điếm, hút xách, bệnh AIDS đang đe dọa cuộc sống bình an của họ. Phaswane Mpe nhận xét: “Những vấn đề chủng tộc tất nhiên không còn chiếm ưu thế trong đời sống của tôi nữa. Thế giới bây giờ phức tạp hơn nhiều so với chuyện da trắng - da đen. Chúng tôi tự do. Chúng tôi dám chọn những đề tài không hề được lưu tâm tới trong những năm tháng dưới chế độ Apartheid”. Sự xung đột đen - trắng nhường chỗ cho các mâu thuẫn khác mới nảy sinh. Đó là xung đột giữa những người da đen ở lại quê hương và đồng bào lưu vong ở nước ngoài trở về, đang bon chen kiếm việc làm; xung đột giữa truyền thống nông thôn và văn minh thành thị; xung đột giai cấp trong giới người da đen. Những người da đen trẻ, có học thức bây giờ có thể sống thoải mái, tự do giữa cả hai thế giới đen và trắng. Do điều kiện kinh tế tốt hơn, người da đen trẻ có xu hướng đi tìm một căn cước mới cho mình. Một cuộc tìm kiếm khổ đau vì họ không thấy mình thuộc về thế giới nào, đen hay trắng. Họ quá xa cách với thực tại da đen (tội lỗi, nghèo khổ, trình độ thấp…) nhưng lại chẳng thể trở thành đồng hạng với da trắng, chỉ vì màu da không thể nào tẩy xóa đi được.

Kabelo Sello Duiker(13) là một trong những nhà văn trẻ Nam Phi có sức sáng tạo dồi dào. Với việc cho ra đời liên tiếp hai tác phẩm phần nào phản ánh thực trạng xã hội những năm sau đầu thế kỷ XXI. Thirteen Cents (2000) là câu chuyện ảm đạm của những đứa trẻ bụi đời vật lộn để sống còn trong một xứ sở mà đụng độ giai cấp càng ngày càng gay gắt. The Quiet Violence of Dreams (2001) đã phản ánh một người đàn ông da đen có học chiến đấu với bệnh tâm thần và rồi chịu an phận với tình trạng đồng tính luyến ái. Tất cả phơi bày những mặt trái của xã hội Nam Phi đương đại.

David Attwell, giáo sư Anh văn tại Đại học Natal, khi biên soạn một cuốn sách về lịch sử văn học Nam Phi da đen, cho rằng: “những nhà văn da đen đang hướng dẫn một cuộc tranh cãi về tất cả mọi loại vấn đề, chứ không chỉ là vấn đề (12) Phaswane Mpe (1970 - 2004) tác giả của Welcome to Our Hillbrow - cuốn tiểu thuyết đầu tiên đề cập đến những thay đổi cuộc sống của người dân Nam Phi trong mười năm kể từ khi Nelson Mandela và FW de Klerk lên nắm chính quyền, bãi bỏ chính sách Apartheid. (13) Kabelo Sello Duiker (1976) là một tiểu thuyết gia, nhà biên kịch người Nam Phi nhận giải thưởng Commonwealth Writers Prize cho tiểu thuyết Thirteen Cents và giải Herman Charles Bosman Prize cho cuốn The Quiet Violence of Dreams.

40

chủng tộc. Dưới chế độ Apartheid, vấn đề là chủng tộc và kháng chiến. Bây giờ thắng lợi rồi, phạm vi của cuộc đấu tranh trở nên rộng lớn hơn nhiều đối với các nhà văn” [100]. Nhân vật trong các tiểu thuyết mới, tất nhiên không còn là những người da đen nghèo khổ đấu tranh kiên cường chống những người da trắng giàu có, bóc lột nữa. Họ bây giờ là một Tshepo (niềm hi vọng mới), sinh viên thuộc giai cấp trung lưu như trong tác phẩm của Kabelo Sello Duiker, lái xe hơi đắt tiền và học trường tư, thích giao du với người da trắng thượng lưu hơn là với bạn bè đồng chủng; là một Camagu trong truyện của Zanemvula Kizito Gatyeni Mda(14), đậu tiến sĩ và có nhiều kinh nghiệm làm việc từ một công ty ở New York, trở về quê nhà kiếm một việc làm tương xứng, nhưng lại không muốn quỵ lụy những người da đen mới lên cầm quyền; là một Refentse, giáo sư phụ giảng đại học, vợ là biên tập viên của một nhà xuất bản lớn, cả hai lớn lên trong một vùng quê nghèo, mơ ước được sống ở đô thị, cuối cùng thực hiện được giấc mơ của mình, trở thành một thứ trưởng giả học làm sang. Nhân vật còn là những người bị bệnh AIDS, đứa trẻ lang thang bụi đời, tội phạm. Cũng có loại nhân vật điển hình như một người da đen nọ, đã từng bị đánh đập tàn nhẫn vì chống lại nhà cầm quyền da trắng, bây giờ có quyền trong tay, trở lại đàn áp tàn bạo đồng hương của mình. Cũng không thiếu những nhân vật tha hóa, chạy đua theo các tiện nghi vật chất, học đòi những thói trưởng giả rởm như đặt tên con theo tên của các hãng sản xuất nổi tiếng, tên của hãng điện thoại di động hoặc nuôi chó loại đắt tiền... Và một nét đặc biệt nữa, loại nhân vật da trắng ngày xưa vốn xuất hiện như những người ác thì bây giờ lại trở nên những kẻ lương thiện, đàng hoàng, sống có thủy có chung trong lúc những người da đen thì ngược lại.

(14) Zanemvula Kizito Gatyeni Mda là nhà thơ, nhà tiểu thuyết, nhà biên kịch Nam Phi nổi tiếng, là một trong những thành viên sáng lập ra tổ chức African Writers Trust. (15) Theo số liệu vào năm 2013, Nam Phi là nước có số người nhiễm HIV cao nhất, khoảng 6 triệu người (chiếm hơn 10% dân số) [187].

Theo nhà văn Kabelo Sello Duiker: “Căng thẳng chủng tộc đen - trắng mờ nhạt dần khi những người da đen có thể theo đuổi giấc mơ của họ đến cùng... Những nhà văn da đen đàn anh đã phải viết về những bất công tồn tại lúc đó. Giờ tôi có thể nói những gì tôi muốn. Tôi tự do” [174]. Hậu Apartheid, có vẻ như một trật tự chính quyền mới được thiết lập. Nhưng bên dưới dấu hiệu lạc quan đó, vẫn tiềm ẩn các rối loạn mới trong đời sống xã hội: bạo động, tội ác và cả… một loại Apartheid mới. Trong tác phẩm của Z. Mda, người ta thấy một số nhân vật da đen, mang thiên kiến của người da trắng, nhìn những người da đen khác một cách khinh bỉ, nhất là những người mà họ gọi là những “black foreigners” (là những người lưu vong ở ngoại quốc trở về). Họ tố cáo những kẻ trở về là đã mang bệnh AIDS(15) về nước truyền nhiễm và tồi tệ hơn là ăn cắp công ăn việc làm của những người trong nước. Tự do, giải phóng, độc lập… tất cả chung quy lại vẫn chỉ là những danh từ hão huyền. Khi chưa có được, những tính từ ấy hấp dẫn, mời gọi. Nhưng khi có được chính quyền, tất cả trở thành “nothing”. Cuộc sống quay cuồng trong luẩn quẩn, bế tắc tuyệt vọng thời đại hậu Apartheid. Thế giới vẫn nhầm tưởng, Nam Phi hậu Apartheid là một xã hội công bằng khi nội chiến kết thúc. Tuy nhiên,

41

bức tranh đời sống ở Nam Phi không có sự thay đổi, nếu có thì chỉ thay đổi thể chế cầm quyền nhà nước. Ranh giới phân biệt vẫn bao trùm trong mọi ngóc ngách của đời sống nhân dân.

Không trực tiếp miêu tả những tàn bạo khốc liệt, tiểu thuyết của Coetzee đặt tình thế hậu Apartheid ở ngoại biên câu chuyện với những ám ảnh đổ vỡ, hoảng loạn tinh thần của con người, hoài nghi hiện thực, phân liệt vùng miền, truy tìm nguồn gốc, đặc biệt là bạo lực trả thù thời kì hậu Apartheid.

Tiểu thuyết Ruồng bỏ (1999) tiêu biểu cho những sáng tác giai đoạn hậu Apartheid. Nhân vật chính của câu chuyện là giáo sư David Lurie, 52 tuổi, hai lần li dị vợ, có quan hệ tình dục với sinh viên Melanie nên bị đuổi khỏi trường, trôi dạt về nông trại của con gái tên là Lucy. Nơi đây, ông biết có ba người đàn ông da đen làm nhục con gái mình. Trong bữa tiệc tại nhà Petrus - hàng xóm của Lucy, ông nhìn thấy một trong những người da đen đó và ông đã lên tiếng đòi công bằng, nhưng Petrus chối phăng và hứa sẽ bảo vệ Lucy với điều kiện cô phải kết hôn với hắn, mặc dù hiện hắn đã có vợ và hai con. Lucy từ chối báo cảnh sát, chấp nhận cái thai và làm vợ bé của Petrus, nhường toàn bộ đất đai cho hắn, chỉ giữ lại ngôi nhà. David đau đớn vì bất lực, mất niềm tin. Ông thuyết phục Lucy từ bỏ trang trại nhưng Lucy từ chối. Vì muốn sống gần với con gái, ông đã nhận công việc ở trại “Liên đoàn bảo vệ động vật”. Trong một lần, David trở lại thành phố và tìm đến nhà Melanie để nói lời xin lỗi. Đến trường Đại học, ông nhận thấy sự ghẻ lạnh của đồng nghiệp, về nhà thấy nhà cửa bị cướp tan hoang. Ông đành quay lại thuê nhà cạnh trang trại của Lucy và tìm nguồn vui trong công việc “bảo vệ động vật” nhưng thực chất đó là nơi thiêu hủy động vật già yếu và bệnh tật. Hình ảnh David bên con chó tàn tật cuối tiểu thuyết đang lúc lắc cái chân sau tàn tật, ngửi mặt ông, liếm má ông, liếm môi, liếm tai ông là chi tiết đầy ẩn dụ cho thân phận trí thức nói riêng và con người Nam Phi nói chung thời đại hậu thực dân.

Với tiểu thuyết này, Coetzee đặt ra nhiều vấn đề trong xã hội Nam Phi thời kì hậu Apartheid, nhất là thân phận người trí thức da trắng và sự trả thù của người da đen. Từ góc nhìn của người da trắng, Coetzee đã mở ra những bi kịch nhói buốt của con người Nam Phi phải đối diện. Không còn là sự tra tấn, phân biệt, đàn áp của người da trắng đối với người da đen, bây giờ là sự thanh trừng, trả thù của người da đen đối với thiểu số người da trắng. Bạo lực tình dục, xâm phạm thân thể đối với người da trắng trở nên phổ biến hơn bao giờ hết. Người da trắng bị tấn công, hãm hiếp, ruồng bỏ. Tri thức, quyền lực thuộc địa không còn tồn tại trên đất nước đa chủng tộc này nữa. David Lurie còn biểu tượng cho tầng lớp người già da trắng ở Nam Phi bất lực, không có khả năng chống trả, cô đơn.

Chủ đề bạo lực tình dục và sự sỉ nhục người phụ nữ xảy ra cả da trắng lẫn da đen. Vấn đề bạo lực đối với phụ nữ da trắng do đàn ông da đen gây ra đang trở nên nóng bỏng ở Nam Phi không chỉ trong thời đại của chủ nghĩa thực dân mà trong cả những năm gần đây. Đây là cuộc trả thù cực kỳ đáng sợ của đàn ông da đen đối với phụ nữ da trắng và phụ nữ da đen khi chính phủ mới lên nắm chính quyền hoàn toàn bất lực, mất kiểm soát. Im lặng, sự phục tùng thân thể và trao lại tài sản nông trại của Lucy cho Petrus biểu hiện cho sự cướp bóc và trả thù của người da đen nói

42

chung và đàn ông da đen nói riêng. David tìm mọi cách phản kháng kịch liệt để chống lại Petrus và chống lại thái độ im lặng của con gái mình nhưng hoàn toàn thất bại. Không chỉ vậy, biết rõ con gái bị những người đàn ông da đen tấn công, đốt nông trại, hãm hiếp, David chấp nhận bất lực. Lucy đã ngăn cản cha mình không nên có bất cứ hành động phản kháng nào đó là cách thỏa hiệp để tồn tại của người da trắng lúc này. Ở hoang mạc Nam Phi khô cằn chấp nhận, im lặng là thái độ sống có lợi cho bản thân.

Sau khi bị ba thanh niên da đen đốt phá nông trại, con gái bị hãm hiếp, đất đai bị Petrus cướp đoạt, David trở thành kẻ lang thang. “Thỉnh thoảng ông đến cửa hàng ở Salem, và chỉ đến Grahamstown vào thứ Bảy. Rất nhanh chóng, ông trở thành một người ẩn dật, một người sống ẩn dật ở nông thôn” [97, tr.160]. Dần dần David nhận ra mình đang mất phương hướng, ông đang mắc kẹt ở một nơi hoàn toàn biệt lập, trốn tránh bọn da đen hung ác sẵn sàng báo thù, chăm sóc con gái và giải cứu số phận của những động vật bất hạnh. Việc ông bị ném vào một vùng thôn quê Nam Phi, xa cách hoàn toàn nền văn minh của người da trắng, buộc ông phải chứng kiến sự man rợ của một xã hội, mà không thể cất tiếng lên án, với cảnh giết mổ động vật, cảnh cướp bóc, thậm chí hiếp dâm… chính là một hình thức mà tác giả chọn để nhân vật nếm trải nỗi đau, hoàn tất một hành trình bị ruồng bỏ của con người.

Đau khổ, ô nhục và nghịch lý thay khi trước đó David Lurie, một học giả, trí thức từng có mối quan hệ tình dục với sinh viên da đen của mình. David Lurie là giáo sư dạy ngôn ngữ hiện đại và phụ giảng môn thông tin tại trường Đại học Tổng hợp Cape Town. Ông đam mê nghiên cứu các nhà thơ lãng mạn và đang ôm ấp ý tưởng viết một tác phẩm về Byron, đó là vở nhạc kịch: Byron ở Italy, khúc mộng tưởng về tình yêu khác giới dưới dạng một vở opera. Là một bậc trí thức nhiều đam mê, lãng mạn, khao khát lí tưởng, có tài chính vững vàng, có trách nhiệm cao trong dạy học, tất cả hội đủ điều kiện cho David Lurie cuộc sống thoải mái, yên bình. Nhưng David còn là một tín đồ của thần tình yêu. “Với tầm cao của ông, bộ khung đẹp đẽ, nước da màu ô liu, mái tóc thẳng, ông luôn có vẻ quyến rũ” [97, tr.13]. Ông có đời sống tình dục mãnh liệt “mỗi tuần chỉ chín mươi phút có đàn bà cũng đủ làm ông hạnh phúc” [97, tr.11]. Vì thế “trong suy nghĩ của ông, một người đàn ông năm mươi hai tuổi, đã hai lần ly hôn như ông giải quyết vấn đề tình dục như thế là khá tốt” [97, tr.5]. Có thời gian ông rơi vào trạng thái lo âu, khắc khoải sau những lần quan hệ bừa bãi: chung chạ với vợ của đồng nghiệp, những du khách trong các quán rượu ở bến cảng, kể cả những cô gái điếm. Và ông đã nghĩ đến việc cắt bỏ dương vật để tìm con đường giải thoát cho những ham muốn của mình. “Một người đàn ông ngồi trên ghế tự cắt bỏ: một cảnh tượng thô bỉ, nhưng trên một góc độ nào đó, cũng chẳng thô bỉ hơn là chính người đàn ông đó hì hục trên thân thể một người đàn bà” [97, tr.17]. Ông giải quyết vấn đề sinh lý với bất kỳ ai, kể cả sinh viên của mình.

Ban đầu David Lurie nghĩ rằng mình là kẻ vô tội trong mối quan hệ với Melanie. Xét về địa vị ông là người da trắng, giáo sư của Melanie, là giai tầng thượng đẳng trong xã hội. Cuộc phiêu lưu tình ái với cô sinh viên chỉ là thỏa mãn

43

cơn khát dục năng đàn ông của mình. Nhưng vụ việc đã bị Melanie khiếu nại và đưa ra Hội đồng kỉ luật nhà trường và ông đã gặp nhiều rắc rối, phiền toái. David đã chống đối lại Hội đồng kỷ luật và cho rằng ông chỉ là kẻ trung thành của thần Eros và đó là quyền năng vốn có của một người đàn ông mà Thiên Chúa ban tặng. Nhưng cuối cùng ông vẫn bị đuổi khỏi trường, mất việc và trở về nông trại của con gái. Dường như hai sự việc David quan hệ với sinh viên da đen và những người đàn ông da đen hãm hiếp con gái ông có mối quan hệ với nhau. Sự khác biệt nằm ở chỗ Melanie da đen cuối cùng đã vượt qua sự xấu hổ và trở thành một nữ diễn viên nghiệp dư trong khi Lucy mất tất cả trước sức ép của Petrus. Điều quan trọng là David đã không thức thời để nhận ra cấu trúc xã hội đã thay đổi.

Có một thực tế, hậu Apartheid được xem là thời kì người da trắng có thể bị tấn công bất cứ lúc nào. Tình hình chính trị bất ổn, chuyện cướp bóc, hãm hiếp “xảy ra hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, ở từng phần trên đất nước này” [97, tr.131]. Sau sự kiện con gái ông bị hãm hiếp, David cố gắng đòi lại công bằng, nhưng đó là điều không thể ở vùng đất hoang mạc hẻo lánh. Đối với Lucy, cô chấp nhận chuyện đó là một phần của cuộc sống. Cô có thai với người da đen và chấp nhận làm vợ bé của Petrus để nhận sự bảo lãnh, kể cả việc phải dâng toàn bộ đất đai. Lucy có vẻ là người thức thời hơn cha cô. Việc Petrus mời những người da đen trong đó có cả Pollux, một trong những kẻ tấn công hai cha con cô đã cảnh báo cho Lucy hiểu rằng: nếu cô không dựa dẫm vào ông ta thì cô có thể bị tấn công lần thứ hai hoặc buộc phải rời khỏi mảnh đất này. Cuối cùng Lucy đã quyết định ở lại nông thôn và làm “kẻ khác” cho Petrus. Đành chấp nhận với quyết định của con gái mình, David làm việc cho Petrus, miễn cưỡng phụ giúp Bev Shaw tại phòng khám động vật, phó mặc vai trò đảo ngược vị thế lịch sử.

Xã hội hậu phân biệt chủng tộc Nam Phi đảo lộn vị thế của kẻ mạnh và kẻ yếu. Kẻ mạnh là người da đen, da màu bản xứ. Kẻ yếu là người da trắng bị tấn công. Đồng thời hàng loạt các vấn đề phát sinh như: đói nghèo, bạo lực, hãm hiếp, ngoại tình, đồng tính, dịch AIDS… trở nên nóng bỏng hơn bao giờ hết. Thời kì hậu Apartheid các mâu thuẫn phát sinh, không còn đẫm máu như trước mà thay vào đó là tình trạng khủng hoảng tinh thần và cấu trúc quyền lực xã hội mới ra đời.

Đối với Nam Phi nói riêng và châu Phi nói chung trong thời đại Apartheid và hậu Apartheid, bạo lực không chỉ là các cuộc đấu tranh, nổi dậy, đánh phá của các lực lượng thù địch mà nó còn trở thành một thứ văn hóa. Tất cả mọi phương diện mâu thuẫn trong đời sống xã hội đều được giải quyết bằng bạo lực. Trong thời kì Apartheid, sự bá quyền của người da trắng tạo ra những ranh giới phân biệt khủng khiếp, những cuộc đàn áp dã man gây ra tình trạng chia rẽ tột độ trong đời sống của nhân dân. Ở khắp mọi nơi của đất nước, những hàng rào phân cách, các biển cấm dựng khắp nơi tạo nên không khí chính trị căng thẳng, đặc biệt nhất là các chính sách của chính phủ trên tất cả mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế... làm cho tình trạng căng thẳng càng trở nên ngột ngạt hơn bao giờ hết [xem thêm Phụ lục 6]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến Nam Phi trở thành quốc gia bạo lực trên thế giới thời kì hậu Apartheid như: hậu quả của chế độ Apartheid, nạn cướp bóc, hiếp dâm, phân biệt giàu nghèo, bệnh tật, đặc biệt nhất là sự khủng hoảng kinh tế.

44

Chuyên gia Gareth Newham của Viện nghiên cứu an ninh ở Pretoria cho rằng: “Nam Phi không thể giải quyết bài toán bạo lực nếu không có được nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là, không ít quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn Nam Phi nhưng họ không xảy ra tình trạng bạo lực tồi tệ như vậy. Rõ ràng, ngoài câu chuyện về phát triển kinh tế, rất nhiều vấn đề trong xã hội Nam Phi cũng cần được giải quyết” [174]. Chết chóc xảy ra quá nhiều ở Nam Phi(16). Tỷ lệ số vụ giết người được coi là chỉ số cơ bản nhất để đánh giá mức độ bạo lực ở Nam Phi. Sự gia tăng số vụ giết người ở Nam Phi được đề cập trong bản báo cáo những năm gần đây là “hồi chuông báo động” cho các nhà lãnh đạo đất nước trong việc tìm giải pháp ngăn chặn bạo lực.

Trong tiểu thuyết của Coetzee tồn tại nhiều xung đột mang tính đối kháng loại trừ nhau, tuy nhiên ông chú trọng mô tả hai dạng bạo lực: thứ nhất, bạo lực tính dục giữa người da đen đối với người da trắng và ngược lại; thứ hai, bạo lực từ các cuộc nổi dậy người da đen chống lại người da trắng. Giữa miền đất ấy được viết năm 1977, giữa lúc không khí Apartheid ở Nam Phi chưa bao giờ ngột ngạt hơn thế. Tác phẩm gồm có 255 trang với 266 đoản khúc, là những ghi chép của một cô gái da trắng tên là Magda. Tiểu thuyết được xây dựng bởi những ẩn ức, sự căm hận và trả thù của người da trắng đối với người da đen và ngược lại. Giữa miền đất ấy là ẩn dụ gây sốc về xã hội Nam Phi hiện đại, về ông chủ thực dân và người nô lệ bản địa, về những khát vọng kiểu Âu châu và sự rộng lớn và cô đơn của Phi châu. Những ghi chép của Magda vừa là câu chuyện mà cô trải nghiệm, kinh qua, nhưng cũng có những câu chuyện tồn tại trong trí tưởng tượng, mơ thấy. Những đoản khúc được sắp xếp một cách lộn xộn, tưởng chừng như vụn vặt, nhưng nó lại chứa đựng một nỗi đau nhức nhối về thân phận con người: sự bi thương của những số phận nơi xứ Beru hẻo lánh.

Mở đầu tác phẩm là những mơ tưởng, huyễn hoặc của Magda về đám cưới của cha mình với bà vợ mới. Sau đó, câu chuyện về cuộc đời của Magda và những con người nơi đây hiện lên qua dòng suy tưởng của nhân vật chính. Magda cũng như Bass, Hendrik và Anna… là điển hình cho con người Nam Phi lúc bấy giờ. Đó là lục địa đen, là thế giới của sự lãng quên, bị tách khỏi lịch sử: “xứ sở đầy những cô gái già sầu muộn… những con người sầu muộn” và từng cá nhân “chỉ là một đại lượng hư vô, một sự trống rỗng mà hướng về nó tất cả đều nghiêng ngả, chìm đắm, một sự nhiễu loạn trong không khí, ngột ngạt, xám xịt như một làn hơi lạnh giá, quay cuồng trong những hành lang bỏ không, thù hận” [93, tr.9,10]. Đặc biệt nhất là Magda, mồ côi khi còn nhỏ, sống thiếu tình thương, sự gắn kết bên cạnh người cha bạo dục, cô độc trong bốn bức tường, hoàn toàn xa lạ với không khí sa mạc, trở thành gái già trinh tiết đau đớn, tủi cực, phẫn hận, khát khao.

(16) Tờ The Guardian (Anh) đưa tin, hơn 20.000 người dân Nam Phi đã thiệt mạng trong khoảng thời gian từ tháng 4-2017 đến tháng 3-2018, tăng hơn 7% so với cùng kỳ trước đó. Trung bình 57 người Nam Phi bị giết hại mỗi ngày [190].

266 đoản khúc là cuộc đối thoại gấp gáp về nỗi sợ, sự buồn tẻ cuộc sống nơi sa mạc và những khao khát thầm kín của Magda. Sống trong cô đơn, thiếu sự liên hệ với thế giới xung quanh, cô tìm đến giấc mơ và sự tưởng tượng để giải phóng

45

những ẩn ức hiện diện về sự sống. Người mẹ trong kí ức của Magda “nhạt nhòa, xám xịt, nhân hậu, dịu dàng, mảnh dẻ, sụp xuống đất”. Và bà đã chết vì phải chịu đựng những đòi hỏi tình dục thô bạo của người cha. Tuổi thơ của Magda chỉ biết làm bạn với côn trùng, cỏ cây, mẩu gỗ, đá cuội. Chính vì vậy, cô héo mòn trong những suy tưởng mông lung. Cả 35 đoản khúc đầu, tác giả đã để cho cô thỏa sức với những ý nghĩ tội lỗi: giết cha và người vợ mới của cha, thủ tiêu hai cái xác: “cội nguồn bất hạnh của tôi nằm nhẽo nhợt giữa hai đùi. Tôi muốn hủy diệt ông từ lâu” [93, tr.26]. Có thể nói, mỗi đoản khúc là mỗi dòng tâm sự nhức nhối, bật ra từ sâu thẳm nỗi đau, sự mặc cảm của Magda trước thực tại cô đơn của sa mạc Nam Phi.

Từ góc nhìn của người da trắng cô đơn giữa sa mạc hoang vắng, nhà văn Coetzee còn khám phá những ẩn ức tình dục. Ở đây, Magda bộc lộ hết những bản năng thầm kín trong sâu thẳm của một người đàn bà già chưa biết đến mùi đàn ông. Ẩn ức trong vô thức của Magda trở thành nỗi khao khát: “ai đó phải làm cho tôi trở thành đàn bà, ai đó phải khoan thủng tôi để tâm trạng già cỗi này chảy ra” [93, tr.162]. Tình dục là biểu hiện đẹp nhất của tình yêu và nhân tính. Nhưng ở Magda và Nam Phi cằn cỗi, quyền được sống đúng bản năng không tồn tại, nói gì đến thăng hoa tinh thần. Cuối cùng, Magda trở thành nô lệ tình dục cho người làm công trong nông trại của mình là Hendrik. Để cho tiếng nói bản năng lên tiếng chính là cách mà Coetzee đẩy con người đến gần với nhân loại nhất. Tiếng nói nhân bản của ông đấu tranh đòi quyền sống, quyền tự do không chỉ cho người da đen mà còn cho người da trắng. Coetzee không phê phán đả kích người da trắng hay người da đen. Vượt lên trên tất cả, câu chuyện ở xứ Beru trong Giữa miền đất ấy phơi bày bi kịch chế độ Apartheid để lại cho đất nước Nam Phi những tội ác và lòng thù hận. Từ một cô gái da trắng ở quyền thượng đẳng của kẻ mạnh, Magda trở thành nô lệ tình dục. Từ vị thế của ông chủ da trắng trong các đồn điền, Bass trở thành kẻ bị truy sát. Cuối cùng, nô lệ da đen - Hendrik trả thù ông chủ da trắng. Đồng thời Giữa miền đất ấy đã thể hiện rõ bi kịch cá nhân con người Nam Phi cô đơn, lạc lõng, xáo trộn địa vị, tìm cách liên hệ với thế giới bên ngoài nhưng bất lực. “Người ta bỏ mặc tôi kéo lê suốt cuộc đời, lầm lụi, bị bỏ quên như một chiếc giày cũ” [93, tr.80] như chính loài người đã quên hẳn một tầng lớp người đang hiện diện trên mặt đất. Ngay cả Thượng đế cũng để quên họ “chúng tôi là những kẻ đắm đò của Thượng đế, cũng như là những kẻ đắm đò của lịch sử” [93, tr.252]. Bằng điểm nhìn của một cô gái da trắng ở trên đất nước da đen, tác phẩm cũng bộc lộ rõ bi kịch sụp đổ những khát vọng sở hữu chinh phục của chủ nghĩa thực dân và sự trả thù tàn bạo của người da màu.

Bao trùm không khí chính trị của Đợi bọn mọi là nghiêm cấm, bắt bớ, tra tấn, uy hiếp... luôn rình rập, bủa vây. Một thế lực quyền lực bao trùm nhưng không biết chính xác đe dọa đến cuộc sống của người dân nơi vùng biên ải xa xôi. Đế chế ba không xác định được bọn mọi rợ, còn bọn mọi rợ không hiểu bạo lực tồn tại xung quanh là cái gì… Cuộc hành trình của Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K trên con đường đưa hài cốt của mẹ trở về nông thôn vừa gian nan, vất vả vừa nhuốm màu hoang tưởng, ẩn dụ. Cảnh sát kiểm duyệt, tra khảo từ giấy thông hành đến nắm tro xương đã bủa vây không khí câu chuyện trở nên căng thẳng hơn

46

bao giờ hết. Đặc biệt nhất là qua hai tiểu thuyết Tuổi sắt đá và Ruồng bỏ. Bao trùm không khí xã hội là xung đột căng thẳng giữa “kẻ mạnh” và “kẻ khác”. Nội dung này chúng tôi trình bày ở mục 2.3. Diễn ngôn “kẻ mạnh”, “kẻ khác”.

Như vậy có thể thấy tình trạng bạo lực thời kì Apartheid và hậu Apartheid ở Nam Phi dưới trang văn của Coetzee bắt nguồn từ hệ quả của chế độ phân rẽ, lòng hận thù chủng tộc; từ ẩn ức của nỗi cô đơn bị ruồng bỏ, lưu vong; từ sự suy thoái kinh tế nhất là đạo đức, nhân phẩm con người; từ hoang tưởng tính dục và bản năng sinh tồn... Tuy nhiên, điểm khác biệt trong tiểu thuyết của Coetzee đó là không phản ánh trực tiếp tình trạng phân rẽ cụ thể của lực lượng nào với nhóm người nào như các nhà văn cùng thời. Thông qua các bi kịch khác nhau của con người cả da đen lẫn da trắng chịu chi phối của chế độ Apartheid, văn chương của Coetzee khẳng định: bản chất của phân biệt chủng tộc là tội ác. 2.2. Tâm thức lƣu vong và ngụ ngôn chính trị

Là nhà văn Nam Phi nhưng không ít lần bị giới chính trị và bạn đọc Nam Phi từ chối vì đã phản ánh tình hình đen tối của đất nước, Coetzee tự xem mình là nhà văn phương Tây với hành trình trải nghiệm những vùng đất sáng tạo. Coetzee sinh ra ở Nam Phi có nguồn gốc Do Thái, học tập và giảng dạy nhiều nơi trên thế giới: Anh, Pháp, Mỹ, Úc... Sự nghiệp của ông có thể chia làm hai giai đoạn: trước và sau khi trở thành công dân Úc (2002). Tuy nhiên, ở tiểu thuyết nào của Coetzee dù lấy bối cảnh ở Nam Phi hay ở bất cứ quốc gia nào, thì người đọc vẫn có thể nhận ra được câu chuyện ấy có thể xảy ra bất kì ở đâu trên trái đất ở mọi thời đại. Con người, nhân vật trong tiểu thuyết của ông không hẳn là người bản địa, nhưng cũng không hẳn thuộc về chính quốc. Đây là đặc điểm tâm thức lưu vong khác biệt trong sáng tác của ông với các nhà văn khác trên thế giới. 2.2.1. Tâm thức lưu vong và lịch sử “đen” - “trắng”

Có một thực tế từ nhiều thập niên trước đó, ở Nam Phi những nhà văn da đen trong đó có cả những nhà văn da trắng viết về người da đen bị hành hạ, đàn áp, kiểm duyệt bởi chính quyền da trắng, nhiều người bị tù đày. Những người khác phải chọn kiếp sống lưu vong. Các nhà xuất bản và các tạp chí văn học từ chối in bài vở và tác phẩm của họ. Hầu hết tác phẩm của họ đều bị cấm lưu hành tại Nam Phi. Thế nhưng, dù trong hoàn cảnh nào, tù đày, lưu vong, bị săn lùng đêm ngày, họ vẫn tiếp tục cầm bút, vẫn viết để khơi dậy sức sống và sự cam đảm cho đồng bào Nam Phi đang rên siết dưới ách thống trị của chính quyền da trắng kỳ thị. Trong thập niên 1930, Solomon Plaatje trở thành nhà văn da đen Nam Phi đầu tiên có tác phẩm xuất bản bằng Anh văn. Mhudi, một tiểu thuyết lịch sử, diễn tả sự thất bại của bộ lạc Ndebele vào những năm 1800 do một liên minh giữa đen và trắng. Nối tiếp là Can Themba và Nathaniel Nakasa viết truyện ngắn về đời sống thành thị và chế độ Apartheid vào những năm 1950. Sau này, cả hai đều bị buộc phải lưu vong để khỏi bị giam tù. Cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, xuất hiện một nền văn chương phản kháng: thơ, truyện ngắn, truyện dài đều đồng loạt ca ngợi công cuộc đấu tranh chống lại chính sách kỳ thị chủng tộc của tập đoàn cầm quyền da trắng. Các nhà văn tạo ra những nhân vật độc đáo bị kiềm tỏa trong đói, nghèo, tuyệt

47

vọng, bị kỳ thị dã man nhưng vẫn kiên cường chiến đấu. Văn chương trở thành nơi biểu lộ khát vọng được sống trong tự do, bình đẳng, hạnh phúc.

Trong số những khuôn mặt nổi bật của văn chương Nam Phi, có thể kể đến Zakes Mda, Phaswane Mpe, Sello Duiker, Mark Behr... Zakes Mda (1950), sống lưu vong ở nước ngoài 32 năm. Ông là một kịch gia và nhà thơ trước khi trở thành tiểu thuyết gia. Tiểu thuyết đầu tay là Ways of Dying xuất bản năm 1995, kế đó là She Plays with the Darkness đã được giải M-Net Book Prize. Tác phẩm The Heart of Redness (2001) đề cập đến sự căng thẳng giữa những người da đen chấp nhận các giá trị phương Tây và người da đen khác muốn phục hồi và bảo vệ giá trị truyền thống, kể cả tập tục lễ nghi vô cùng phản khoa học và lạc hậu. Đồng thời tiểu thuyết cũng phản ánh sự tan vỡ ảo tưởng của những người da đen lưu vong. Họ trở về với nhiều niềm tin và hy vọng về một chính phủ mới. Nhưng khi chứng kiến một đất nước mà những người cầm quyền mới chẳng khác gì tập đoàn thống trị cũ, chỉ có khác màu da, họ hoàn toàn suy sụp. Nhà cầm quyền mới cũng tham nhũng, bất công, đàn áp và thậm chí còn… kỳ thị hơn cả những người da trắng trong chế độ cũ. Trong số những nhà văn da đen, tiêu biểu phải kể đến Toni Morrison với huyền thoại Mắt biếc (1970). Tác phẩm đã viết lại nỗi đau khổ tận cùng của chủng tộc da đen bằng những câu chuyện đầy xúc động, ám ảnh. “Tại một miền đất chỉ yêu thích những đứa bé tóc vàng, mắt xanh, ai sẽ khóc than cho những giấc mơ của một cô bé da đen?”. Cuốn tiểu thuyết viết về người da đen trên đất Mỹ - nơi được mệnh danh là văn minh, bình đẳng bậc nhất trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy. Người da đen là những người bị tước đoạt tên tuổi và thân phận trở thành những công cụ nô lệ, vô bản sắc, vô sở hữu ngay cả thân xác mình… Người da đen là những người bị cưỡng đoạt ngôn ngữ và văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng tổ tiên trở thành những kẻ không nguồn cội… Sống sót sau những chuyến tàu buôn nghiệt ngã, khi đặt chân lên “miền đất hứa” họ mất tên tuổi, cái tên mà người da đen có được là do người da trắng đặt cho. Bị lưu vong, họ trắng tay giữa nước Mỹ giàu sang. Bệnh tật, khiếm khuyết trở thành nỗi đau không phải ai cũng dễ đồng cảm. Mắt biếc phơi bày nỗi đau đến tận cùng của sự phân rẽ màu da. Một người đàn bà da đen luôn mặc cảm với đôi chân khập khiễng, một người đàn ông đã đem lại ánh sáng cho cuộc đời tăm tối ấy, rồi cũng tự tay dập tắt chút hy vọng nhỏ nhoi. Một cô gái phải chịu bao đớn đau khi mang trong mình bào thai oan nghiệt - bào thai do chính cha ruột cưỡng bức mà thành... Hóa ra không chỉ ở châu Phi mới có phân biệt nhưng không, người da đen châu Phi bị coi rẻ khắp mọi nơi. Toni Morrison đã mang người đọc đến với một thế giới như thế - thế giới không có có tình yêu, chẳng có tình thương. Trong thế giới ấy, những đứa trẻ da đen là “những con chó đen dơ dáy” còn cha mẹ chúng chỉ là “một lũ mọi rợ” mà thôi. Mẹ của Pecola là một người đàn bà bất hạnh. Bất hạnh trong số những người da đen bất hạnh. Những người da trắng không thừa nhận sự tồn tại của bà đã đành, ngay cả trong thế giới của người cùng màu da, bà vẫn bị bỏ rơi. Vì Pauline xấu xí! Xấu xí và thêm một đôi chân tật nguyền - đôi chân lúc nào bước đi cũng phát ra những âm thanh kì cục. Phải gánh chịu đồng thời cả hai sự ruồng rẫy, Pauline tồn tại giữa cuộc đời giống như một vết đen thật mờ. “Họ sống ở đó vì họ nghèo và là dân da đen, họ ở lại đó vì họ tin rằng

48

mình xấu xí”... Pecola đến trường trong sự phân biệt đối xử của lũ bạn - “người da màu ngăn nắp, trang nhã và trầm lặng còn bọn da đen thì dơ dáy, bẩn thỉu và ồn ào”. Cô về nhà trong những cuộc cãi vã, những tiếng chửi rủa, rên la đánh đập không thương tiếc… Dưới trang văn của Toni Morrison, người da đen không chỉ mang nỗi đau phân biệt mà còn mang nỗi đau lưu vong... Tất cả đẩy họ đến bi kịch đau đớn nhất - bi kịch bị ruồng bỏ.

Bên cạnh những nhà văn da đen, thì có những khuôn mặt “khổng lồ” trong văn giới Nam Phi như Nadine Gordimer, Athol Fugard, Coetzee,... Tất cả họ đều là người da trắng, sự nghiệp của họ gắn liền với phong trào tranh đấu chống sự kỳ thị chủng tộc.

Mda sau nhiều năm lưu vong buồn bã nhận xét về văn chương cũng như tình hình mới của Nam Phi: “Viết về quá khứ thì dễ hơn nhiều, đó là sự thật. Bởi vì quá khứ đã tạo ra những câu chuyện làm sẵn rồi (ready-made stories). Bạn thấy không, thời đó, có một biên cương rõ ràng giữa thiện và ác. Đen thì là thiện, trắng thì là ác. Xung đột nằm ở đó. Không có khu vực trung gian. Nhưng bây giờ chúng ta không còn như thế nữa. Trong tình hình mới mẻ hiện nay, đen thì không hẳn đã tốt. Có quá nhiều tội phạm da đen; lại có nhiều người da trắng tốt. Chúng tôi đã trở nên bình thường. Và thật là đau khổ khi được trở nên bình thường… Nhiều người đã từng là nhà văn rất năng nổ trước đây, bây giờ không viết nổi một chữ kể từ khi chế độ Apartheid chấm dứt. Chúng tôi đã phải học tập xem thử tự do là cái gì vậy?” [174]. Như vậy, có thể thấy không chỉ riêng Coetzee mà rất nhiều nhà văn Nam Phi đều mang mặc cảm tha hương. Hơn nữa, Nam Phi là quốc gia dung nạp nhiều luồng văn hóa khác nhau trên thế giới vừa theo hình thức áp đặt vừa theo kiểu giao lưu và giao thoa. Tâm thức lưu vong trong sáng tác của ông có những đặc trưng sau:

Thứ nhất, lưu vong mang tâm thức đánh mất căn cước và hành trình truy tìm quốc tịch vô vọng. Đặc điểm thú vị về con người Coetzee là ông không tự nhận mình là nhà văn của Nam Phi mà xem mình là người viết văn trải nghiệm, một trí thức phương Tây. Đối với ông, mặc cảm lưu vong trở thành nỗi niềm thường trực trên từng câu chữ. Các nhân vật của ông đều loay hoay đi tìm quốc tịch của mình và nhận dạng văn hóa bản địa. Từ quốc tịch của hai nước khác nhau: chính quốc và thuộc địa, người da trắng tìm kiếm nguồn gốc thông qua những vết tích trong gia đình. Nhưng tất cả đi vào bế tắc, mất phương hướng giữa hoang mạc Nam Phi và trên quốc gia khác.

Các nhân vật mang cảm thức lưu vong trong tiểu thuyết của Coetzee xuất hiện rõ nét trong giai đoạn sáng tác ở Anh và Úc khi ông làm trợ giảng, học tập và sau đó trở thành giáo sư văn chương chính thức của trường Đại học Adelaide. Đó là vị giáo sư David Lurie trong Ruồng bỏ, Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K, đó là Magda một “gái già trinh tiết” tại một trang trại hẻo lánh trong Giữa miền đất ấy; đó là bà Curren trong Tuổi sắt đá... Tạp chí Baltimore Sun cho rằng: tất cả các trang viết của Coetzee là đều giống nhau trong việc tập trung miêu tả một nhân vật trung tâm. Chưa một nhân phẩm nào được trực tiếp đưa ra, tuy nhiên có vài cảnh huống được xây dựng lên làm cho người đọc phải suy nghĩ

49

về nó, về hành trình tìm lại nguồn gốc của mình… Họ không chỉ lưu vong nơi ở mà còn trong tâm hồn.

Người chậm được Coetzee hoàn thành vào năm 2005, sau ba năm sống trên đất nước Úc, khoảng thời gian đủ cho ông suy ngẫm về kiếp người lưu vong. Gia đình Paul Rayment có một hành trình từ Pháp đến Úc với mong muốn “tìm được cho mình một nơi an toàn trên mảnh đất xa lạ” [98, tr.266]. Nhưng trên mảnh đất ấy, gia đình ông đối diện với muôn vàn khó khăn, cuộc sống bị đảo lộn. Paul Rayment phải đổi nghề, sống độc thân, ít giao tiếp với thế giới bên ngoài. Em gái làm nghề dạy học, người mẹ lúng túng về ngôn ngữ và không thể tìm cách tiếp cận với công việc của người bản xứ, Paul Rayment lao vào khoa học để tránh xa cuộc sống bên ngoài đang ngày càng biến đổi với tốc độ chóng mặt.

Khi lưu vong trên quê người, ngôn ngữ là thứ rào cản lớn nhất để người di cư hòa nhập. Nhưng Paul Rayment nhận ra thứ ngôn ngữ thứ hai này “nó không xuất phát từ đáy lòng” [98, tr.270] nên việc giao tiếp, thấu hiểu lẫn nhau là rất khó. Tiếng Anh đối với ông là một công cụ giao tiếp mà không hơn thế nữa. Nhiều lần Paul Rayment trăn trở về nguồn gốc quê hương mình, nhưng ông cũng không phải là người Pháp dù từ Pháp tới, lại càng không phải là người Anh, hay người Hà Lan. “Tôi cũng ở trên mảnh đất xa lạ” là dòng tâm sự cô đơn, buồn tủi của những kẻ mất căn cước trên hành tinh. Họ hoài nghi về lịch sử của mình: “Dân di cư không có lịch sử riêng của họ sao? Chẳng lẽ các người dừng lịch sử lại khi di chuyển từ điểm này đến điểm khác trên địa cầu” [98, tr.69]. Khao khát tìm kiếm “giấy thông hành” thật khó với những người như Paul Rayment.

Gia đình của Marijana Jokić từ Croatia chuyển đến Úc và cũng gặp rất nhiều khó khăn. Chồng của Marijana trước đây là một kĩ thuật viên chuyên về đồ cổ, làm việc trong Học viện mỹ thuật Dobrovnik, nhưng ở Úc nghề đó không được sử dụng. Marijana là người phụ nữ có học thức, có văn hóa, có bằng Phục chế, nhưng ở đây bằng cấp của cô không có ích… Gia đình cô nhập cư rất khó khăn, vất vả. Họ phải đổi nghề, chịu thân phận thấp kém, không tìm thấy tiếng nói chung trong cộng đồng của mình. Tất cả không thuộc về nơi này. Đó là số phận của người di cư, rời bỏ quê hương mình. Nhưng bằng niềm tin và sức mạnh vươn lên gia đình cô đã nỗ lực thoát khỏi bi kịch để tồn tại. “Vợ chồng Jokić ắt phải giữ một kiểu niềm tin nào đó. Trong khi các con họ… sẽ trở thành một hình ảnh riêng về Australia, đầy đủ hơn và nhạt nhẽo hơn” [98, tr.92]. Cô trở thành một điều dưỡng viên lành nghề, nhân hậu, mẫu mực, một người mẹ tốt. Cô cố gắng giữ lại những nét văn hóa đặc trưng của người phụ nữ Croatia: “lúc làm việc, Marijana không đội mũ y tá mà trùm khăn giống các bà nội trợ vùng Balkan” [98, tr.57]. Chiếc khăn là sợi dây để cô gắn kết thân phận lưu vong với cố quốc. Không quên gốc rễ, con người muốn hòa nhập với môi trường mới thì phải thay đổi cách sống cho phù hợp với hoàn cảnh. Dượng của Paul Rayment - một người Hà Lan đã nói một câu làm chúng ta phải suy ngẫm: “thời gian và sự làm việc chăm chỉ sẽ mài mòn thái độ thù địch” [98, tr.93]. Nhưng tất thảy đều mang một thân phận ngụ cư với những éo le, khó khăn mà chỉ họ mới thấu cảm.

50

Bằng kĩ thuật xử lí điểm nhìn trần thuật từ bên trong và trò chơi độc thoại độc đáo - nhân vật tự đối thoại với mình, Coetzee đã để Paul Rayment có khoảng không gian nói hết những thầm kín trong con người cá nhân. Nhờ đó, người đọc hiểu thêm một kiểu con người lưu vong tinh thần trong tiểu thuyết của ông. Từ Magda trong Giữa miền đất ấy, bà Curren trong Tuổi sắt đá đến giáo sư David trong Ruồng bỏ đều là những kẻ lưu vong tinh thần. Paul Rayment cũng không ngoại lệ. Ông tự lưu đày mình trong cuộc sống cô độc. Không theo tôn giáo nào, các khái niệm gia đình, quê hương bắt đầu rời xa trong suy nghĩ kiệt quệ của ông. Cha, mẹ và chị gái là những người thân quen giữa nước Úc rộng lớn, nhưng ông băn khoăn: “cả ba người ấy có phải là gia đình ông không?”. Càng già ông càng thấy tủi phận vì không có gia đình. Gia đình là nơi ông gắn kết thân phận lưu vong của mình với xã hội nhưng nó đã nhanh chóng tan biến. Ông không có con, “không con giống như sự rồ dại, rồ dại khủng khiếp, thậm chí là tội lỗi” [98, tr.43], nên hành trình tìm kiếm quê hương trên đất người của Paul Rayment thật mong manh. Đằng sau những tâm sự chua chát là mặc cảm của kẻ tha hương: “Người Pháp không có tổ ấm. Tôi không có nhà ở Pháp. Rõ ràng là không. Tôi không là chúng ta của bất cứ ai” [98, tr.90]. Paul Rayment từ Pháp sang Úc cũng như chính Coetzee từ Nam Phi qua đây, cho nên trên từng trang viết của ông vừa khắc khoải day dứt vừa chạm tận đáy những suy tư thầm kín của kẻ mang mặc cảm lưu vong.

Thứ hai, cảm thức ngụ cư và nỗi hoài vọng quê hương bản địa. Tiểu thuyết The Childhood of Jesus (Thời thơ ấu của Chúa, 2013) của Coetzee thể hiện rõ hoài cảm này trong sâu thẳm con người ông. Ngay khi mới ra đời, tác phẩm tạo nên nhiều luồng ý kiến đánh giá trái chiều. Có nhận xét hào hứng xem tác phẩm là một kiệt tác, tác giả xứng đáng nhận giải Booker lần thứ ba, nhưng ý kiến khác lại lưỡng lự, bởi câu chuyện mới này lạ lùng nhưng thú vị.

Cốt truyện The Childhood of Jesus diễn ra ở một thành phố cảng có tên Novilla và sử dụng ngôn ngữ Tây Ban Nha trong một đất nước… không tên. Tất cả dân bản địa và dân ngụ cư ở đây, vì nhiều nguyên nhân mà người đọc không rõ, đều quên hết dĩ vãng của mình, rời bản địa đến đây để bắt đầu cuộc đời mới “sạch như tờ giấy trắng”. Ở thị trấn có hai nhân vật chính: bác Simón 44 tuổi và cậu bé Davíd 5 tuổi không biết mặt bố mặt mẹ, hoàn cảnh giống Jesus... Hai bác cháu cũng như những người ngụ cư khác được gọi bằng tên mới, được giúp có nhà có cửa, có công ăn việc làm. Simón hiểu rõ hoàn cảnh trẻ con thiếu mẹ, thậm chí đã kiếm được một phụ nữ địa phương chấp thuận: không làm mẹ nuôi mà làm mẹ thật của đứa trẻ. Còn bản thân Simón thì lân la ở câu lạc bộ làm quen tìm kiếm bạn đời… Song, tại chỗ ở mới, bác cháu Simón lại không ở được lâu. Họ gặp những người sống lâu năm ở đây với những luật lệ hà khắc. Cuối cùng, họ phải trốn khỏi thị trấn mong tìm chỗ ở mới, nơi có thể một lần nữa làm lại cuộc sống từ đầu.

Một năm trước khi công bố The Childhood of Jesus, Coetzee quay về quê hương Nam Phi để thuyết giảng trước các sinh viên Đại học Tổng hợp Cape Town - nơi ông đã giảng dạy nhiều năm - và giới thiệu cuốn tiểu thuyết mới của mình. Ông chọn một đoạn ngắn trong đó kể chuyện Simón dạy Davíd đọc chữ Tây Ban Nha. Quyển sách mà Simón dùng để dạy Davíd là cuốn Những cuộc phiêu lưu của Don

51

Quixote với nhiều tranh minh họa dành cho trẻ em. Nhưng Davíd là cậu bé đặc biệt. Davíd có những khả năng kỳ lạ và óc tưởng tượng sống động. Cậu từ chối tiếp nhận thế giới như vốn có với các trật tự và khuôn thước của nó. Đối với Davíd, những con số, những chữ cái, những từ vựng tồn tại rời rạc, không dính vào với nhau. Giữa những thứ ấy, theo Davíd có một vực thẳm mà ta có thể rơi vào. Trong vực thẳm ấy là cả một bí ẩn.

Trong các phát biểu và tiểu luận của mình, Coetzee nhiều lần bày tỏ sự khâm phục sức sáng tạo của Cervantes, ông gọi đó là “người khổng lồ gánh trên vai tất cả chúng ta”. Đối với ông thì Don Quixote chính là tiểu thuyết tiêu biểu của sự thoát ly thực tế. Làm sao để tạo dựng một thế giới có thể hoán đổi, nơi tình cảm và xúc cảm còn quan trọng hơn cả bối cảnh chính trị và khuôn thước xã hội. Simón đã chủ định chọn Don Quixote có lẽ là để cho Davíd thấy được một người hùng không sợ óc tưởng tượng của mình, không đoạn tuyệt với thế giới quan của mình và không sợ phải mất công bảo vệ thế giới quan đó. Don Quixote là một cuốn sách khác thường - Simón giảng giải cho Davíd như vậy. Tác phẩm cho người đọc thấy thế giới qua con mắt của hai nhân vật Don Quixote và Sancho. Don Quixote thì thấy cần phải chọi lại những gã khổng lồ, còn Sancho thì thấy đó chẳng qua chỉ là chiếc cối xay gió. Phần đông trong chúng ta đồng tình với Sancho - đều quan niệm rằng trên thực tế những gã khổng lồ chỉ là chiếc cối xay gió. Vị họa sĩ vẽ chiếc cối xay gió chắc cũng đồng tình như thế. Ngay cả tác giả của tiểu thuyết này cũng đồng tình. Nhưng cách nhìn nhận của Don Quixote vẫn có quyền tồn tại, như thế giới tưởng tượng của Davíd khi nhìn vào bức tranh minh họa sẽ nghĩ ra một phương án riêng cho câu chuyện về cuộc phiêu lưu của Hiệp sĩ Mặt buồn.

Cuộc phiêu lưu của Don Quixote của Cervantes vốn được coi là cuốn tiểu thuyết hiệp sĩ - kết thúc bằng sự quy hàng của trí tưởng tượng trước thực tại: chàng hiệp sĩ trở về nhà rồi chết. Nhưng tiểu thuyết mới của Coetzee thì kết thúc bằng niềm hy vọng: Simón và Davíd bỏ trốn khỏi Novilla đi tìm chỗ cư trú mới. Dọc đường, Davíd tìm kiếm môn đệ - những người sẵn lòng tin tưởng vào cậu. Davíd gặp bất kỳ người nào chưa quen cũng sẵn sàng bảo người ta rằng mình sẽ trở thành thân nhân của họ. Chỗ ở mới mà các nhân vật đang kiếm tìm nó như thế nào? Có lẽ, đó là xứ sở có tự do cho bất kỳ ý tưởng và óc tưởng tượng nào. Liệu họ có tìm thấy một xứ sở như thế? Trong một lần trả lời phỏng vấn, Coetzee cho rằng: The Childhood of Jesus là câu chuyện về những con người muốn rũ bỏ các xiềng gông, khuôn thước, giành lấy tự do trong hành động, tự do trong suy nghĩ và tự do trong tưởng tượng.

Năm 2002, Coetzee đã rời Nam Phi sang Australia sinh sống với người vợ sau là Dorothy Driver ở Adelaide, nơi ông giữ một chức vụ danh dự tại Đại học Adelaide và nhận quyền công dân vào năm 2006. Có lẽ, nhà văn đã cảm thấy mình là vị khách được mong đợi nhưng thẳm sâu trong tiềm thức vẫn mang mặc cảm “người dưng”. Cũng như nhiều người Nam Phi cùng thế hệ, Coetzee từng khao khát được rời sang một đất nước nào đó để cho những chuyện ở cố quốc khuất khỏi mắt mình. Không ít lần, ông trích dẫn vào tiểu luận của mình câu nói

52

của nhà thơ William Plomer (1903-1973, sinh ở Nam Phi, học và sống phần lớn cuộc đời tại Anh):

Tiếng Anh Tiếng Việt

“Let us go to anothercountry, Not yours or mine, And start again.” Hãy để chúng tôi đi đến một quốc gia khác, Không phải của bạn hay của tôi, Và bắt đầu lại một lần nữa.

Trong hầu hết tiểu thuyết của Coetzee, đất nước được mô tả có nhiều cái không: không đường biên giới, không kiểm tra hộ chiếu, người đến không còn biết cội rễ của mình, tất cả dùng chung một ngôn ngữ và không hề nhắc nhở đến khuôn mặt, màu da. Có lẽ, Coetzee nhìn thấy một tương lai, một thế giới, châu Phi hay châu Âu, da đen hay da trắng, không còn phân biệt chủng tộc sắc tộc. Ông tâm sự: “Tôi là người hằng nuôi mơ ước về tự do (cũng như bất kỳ một tù nhân nào) và thường tưởng tượng ra những con người bứt khỏi gông xiềng và hướng về phía mặt trời” [174].

Tiểu thuyết của Coetzee luôn viết về một vùng đất cụ thể của Nam Phi. Đó là không gian thành phố Cape Town với các con đường, bờ biển, ranh giới phân cách khu vực người da đen và người da trắng; không gian của những hoang mạc, nông trại với cát, bụi, cái nóng khô khốc, quyết liệt của thời tiết. Nhưng vượt lên không gian của một quốc gia, tiểu thuyết của ông mờ nhòe hóa không gian khiến cho nó trở nên phổ quát ở bất cứ vùng đất, miền quê nào trên thế giới. Có lẽ đây là một trong những lí do để Coetzee được vinh dự nhận giải thưởng Nobel Văn học 2003.

Trong tiểu thuyết của Coetzee có hai kiểu lưu vong cơ bản. Thứ nhất, lưu vong trên quê hương của quốc gia khác. Đặc điểm này xuất hiện rõ nét từ sau Người chậm. Thứ hai, kiểu lưu vong trên chính quê hương mình. Nam Phi không thuộc về da trắng và càng không hẳn về da đen chính quốc. Đây là dạng phổ biến không chỉ người da trắng mà cả người da đen. Giữa miền đất ấy đặt ra các mối quan hệ: người da trắng với người da trắng, người da đen với người da trắng ở xứ thuộc địa. Tính cách độc đoán, gia trưởng, tàn bạo, khốc liệt của Bass biểu tượng cho chủ nghĩa thực dân xâm lược. Magda mồ côi mẹ, kí ức về mẹ nhạt nhòa là biểu tượng cho ý niệm mơ hồ về chính quốc. Anna bị Bass cưỡng hiếp, Hendrik trả thù Magda rồi rời bỏ nông trại. Bi kịch ấy trở nên phổ biến ở Nam Phi trong mối quan hệ đen - trắng không quê hương, bị bỏ rơi. Tiểu thuyết của Coetzee bác bỏ một hiện thực cụ thể về xã hội Nam Phi để hướng đến những vùng đất khác nhau, vì vậy một hiện thực huyền ảo được mở ra. Đợi bọn mọi đã phản ánh số người da đen bị giam giữ, bị chết ngày càng nhiều vào cuối những năm 1970 đồng thời thấy được sự bất lực của các quan tòa. Tác phẩm đưa người đọc đến vùng biên ải xa xôi với những cuộc truy lùng bọn mọi của đế chế ba. Ráo riết, khẩn cấp, báo cáo... làm không khí câu chuyện bao trùm sự ngột ngạt, căng thẳng. Câu chuyện vùng biên ải không tên này cũng chính là câu chuyện chung xảy ra ở bất cứ nơi nào trên trái đất. Curren trong Tuổi sắt đá biểu tượng cho người già da trắng trôi dạt trên châu Phi da đen. K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K là người da đen bản xứ cũng không có kết nối với quê hương mình. Anh trở thành kẻ vô gia cư, không có quê hương nơi mình

53

sinh ra. Hành trình của anh đưa mẹ về thị trấn Hoàng Tử Albert là dụ ngôn cho kiểu con người tìm kiếm nguồn gốc quốc tịch. Nhưng về đến nơi, anh vẫn không nhận được bất kì tín hiệu về quá khứ của quê hương. Có thể nói, tâm thức lưu vong trở thành vấn đề trung tâm trong sáng tác của Coetzee. Mỗi trang văn là hành trình tìm kiếm quốc tịch của bản thân ông cũng như thế hệ nhà văn đương thời.

Thứ ba, lưu vong tâm hồn trước bối cảnh xung đột chính trị và nguy cơ đen, nguy cơ trắng mới. Sau khi chế độ Apartheid kết thúc năm 1994, tình hình chính trị, xã hội Nam Phi tưởng sẽ tốt đẹp, tuy nhiên quốc gia này đối diện hàng loạt vấn đề như: AIDS, tội ác, căng thẳng giữa các chủng tộc: da đen là tốt, da trắng là xấu. Căng thẳng giữa các nhà hoạt động chống Apartheid địa phương và những người lưu vong trở về, cuộc đấu tranh để duy trì giá trị truyền thống ở châu Phi với quá trình đô thị hóa / hiện đại hóa, cách ứng xử của những người châu Phi da đen tìm việc làm từ các nước láng giềng Nam Phi, các vấn đề về bản sắc, sự di chuyển giai cấp ngày càng tăng của dân số da đen và kết quả của sự dịch chuyển thân phận, đồng tính, nghèo đói khiến chính quyền nhà nước mới gặp nhiều khó khăn… Một trong những vấn đề lịch sử Nam Phi đặt ra hậu Apartheid chính là nguy cơ đen và nguy cơ trắng. Khi Aparthied sụp đổ, không có nghĩa là mọi tàn dư được xóa hết. Trên thực tế đó chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình chính sách, còn hậu quả của nó để lại trong đời sống hàng ngày và trong tiềm thức của con người vẫn còn ám ảnh. Câu hỏi về cái gì xảy ra đằng sau cánh cửa khép kín chính là điểm trăn trở văn chương của Coetzee. Trường hợp tương tự cũng đã xảy ra với William Faulkner [xem thêm tài liệu 121]. Tuy nhiên, điều khác biệt ở Coetzee khi viết về sự hành hạ con người đằng sau cánh cửa căn phòng tối ở chỗ ông chỉ nhìn cái căn phòng tối đó như một dụ ngôn: đó là một cánh cửa khép kín có mặt cùng khắp trên mọi nơi khi có sự chia cách giữa con người với con người: cánh cửa trại, cánh cửa các trung tâm, cánh cửa các khu lao động, cánh cửa màu da, cánh cửa chủng tộc, cánh cửa ngôn ngữ, và cánh cửa tâm hồn... Nếu Salman Rushdie là một nhà văn băng ngang tất cả mọi biên giới, nhà văn “ở giữa hai bên”, thì Coetzee là một nhà văn đứng bên ngoài tất cả mọi cánh cửa, mọi ngăn cách: một kẻ ngoại cuộc.

Năm 1980, khi cuốn Đợi bọn mọi được xuất bản thì không phải bạn đọc nào cũng có thể hiểu ngay những biểu tượng mà Coetzee xây dựng. Ðối với nhiều người da trắng ở Nam Phi, cuốn tiểu thuyết là một ngụ ngôn buốt nhói và không chịu đựng nổi về đời sống hằng ngày và các tình thế đạo đức tiến thoái lưỡng nan của họ. Một cuốn sách dấn sâu vào bình diện tâm thần, hấp dẫn tới độ khiến bạn đọc bàng hoàng, bị mê hoặc. Chỉ cần Đợi bọn mọi cũng đủ đem lại vị thế cao nhất về lĩnh vực văn học cho Coetzee, nhưng ông còn có nhiều cuốn tiểu thuyết hấp dẫn khác như Cuộc đời và thời đại của Michael K (1983), Foe (1986). Bề mặt, tiểu thuyết Foe là một hình thức kể lại tiểu thuyết Robinson Crusoe, nhưng trong sâu thẳm mang điều gì đó hoàn toàn khác, đó là cuốn sách sâu xa nhất từ trước tới nay viết về tương quan chủng tộc trong một xã hội mà người da đen thường bị tách biệt với người da trắng mà khoảng cách lớn nhất là ngôn ngữ và văn hoá. Mỗi hình tượng hay xung đột trong tiểu thuyết của ông được xây dựng đều ngầm ẩn/ hàm chứa cho một trạng thái xã hội. Magda, vị Quan tòa không tên, Curren, David Lurie, Paul Rayment biểu

54

tượng cho kiểu người trí thức, già, da trắng kiêu hãnh trên lục địa đen châu Phi bị đẩy từ “trung tâm” ra “ngoại vi”, lưu vong, cô đơn - kiểu lớp người bị bỏ rơi sau chiến tranh, bên lề xã hội. Bass, Đại tá Joll, Petrus mô phỏng kiểu ông chủ da trắng độc ác, tàn bạo, thủ đoạn, gia trưởng. Hendrik, cô gái mọi không tên, Michael K, Melanie đại diện cho người nô lệ, phụ nữ da đen yếu thế, phụ thuộc, im lặng... Lucy và Curren biểu tượng cho người phụ nữ da trắng thỏa hiệp hoàn cảnh để sinh tồn, im lặng trở thành phương cách sống giữa miền Nam Phi bất công, chia rẽ. Mỗi hoàn cảnh, tình thế, bối cảnh cũng là những dụ ngôn về nền chính trị Apartheid. Trong Giữa miền đất ấy, chi tiết Bass bị bắn chết trong ngôi nhà của mình có thể có nhiều giả thuyết, nhưng thủ phạm đáng ngờ nhất chính là Magda. Đó phải chăng là dự báo của Coetzee, người da trắng trên đất Phi châu bị thanh trừng bởi người da đen và cũng có thể chính là người da trắng hoang tưởng, huyễn hoặc. Hành trình gian khổ của vị Quan tòa đưa cô gái mọi trở về bộ tộc của cô ta trong Đợi bọn mọi là một kiểu dụ ngôn cho tình hình chia rẽ Nam Phi: có rất nhiều người da trắng tiến bộ nhận thấy sự vô lí đến phi lí của chế độ phân biệt chủng tộc và sẵn sàng bảo vệ người da đen, đứng về phía họ để bảo vệ khẳng định bình đẳng...

Thứ tư, bi kịch đời tư có tác động lớn đến cảm thức lưu vong trong văn chương Coetzee. Một trong những đặc trưng trong sáng tác của Coetzee là cảm quan xã hội có từ chính đời tư cá nhân ông. Nhất là vào giai đoạn sau, khi tấn bi kịch rộng lớn hơn của Nam Phi hạ màn, Coetzee quay trở về lấy cảm hứng trong cuộc đời mình. Con trai ông qua đời sau khi bị ngã một cách kỳ bí; ông viết The Master of Petersburg, một cuốn tiểu thuyết về một người cha hoảng loạn, đau đớn khi mất đi đứa con của mình, tương tự như ông. Người vợ của ông qua đời vì bệnh ung thư và ông viết cuốn Tuổi sắt đá, tác phẩm mô tả những đau đớn tột cùng, chưa từng được viết ra. Vừa là bi kịch về nỗi nhớ con lẫn căn bệnh ung thư và chính trị bạo lực của Nam Phi. Tất cả tạo nên hai bi kịch lớn lồng vào nhau: bi kịch cá nhân con người và bi kịch quốc gia. Vào giữa thập niên 1990, ông chiêm nghiệm về hành trình đời mình, và cho ra đời Ruồng bỏ, câu chuyện về một vị giáo sư đại học da trắng đầy kiêu hãnh bị đuổi việc vì liên quan đến vấn đề tình dục với sinh viên. Bị tước hết mọi quyền ở trường Đại học, David trở về nông trại cùng con gái Lucy. Ở đây ông bị đẩy tụt xuống một đời sống rúm ró tuyệt vọng ngoài lề của một Nam Phi mới. Tác phẩm ám ảnh người đọc bởi những bi kịch lớn của con người trong thời kì hậu Apartheid. Không ai ngạc nhiên khi Coetzee, lúc này 63 tuổi, thầm lặng lên đường sang Australia vào năm 2002, nhưng để lại thắc mắc, băn khoăn cho nhiều người trong giới phê bình nghiên cứu: giải Nobel của ông có là phải là dành cho nhà văn Nam Phi hay đó là nhà văn lưu vong phương Tây? Từ bi kịch cá nhân, Coetzee hư cấu đến bi kịch xã hội rộng lớn không chỉ riêng đất nước Nam Phi mà có thể bắt gặp bất kì nơi nào trên thế giới.

Có thể nói bạo lực đen - trắng trong tiểu thuyết Coetzee không đẫm máu như các nhà văn Nam Phi cùng thời, nhưng bằng các dụ ngôn đen, ông đã đem đến những điểm nhìn nhức nhối về xã hội: tình hình chính trị bất ổn, quyền lực xã hội thay đổi nhưng không triệt để, thân phận con người rẻ rúng...

55

2.2.2. Ngụ ngôn đen (allegory) chính trị Nam Phi

“Ngụ ngôn (allegory) là một dạng thức trần thuật biểu tượng, trong đó toàn bộ hệ thống trần thuật đều được xây dựng theo hướng sở chỉ đến một đối tượng khác, một tình huống khác bên ngoài câu chuyện” [163]. Theo nhóm tác giả Trần Đình Sử trong công trình Từ điển thuật ngữ văn học khái niệm này được dịch là: phúng dụ: “các hình tượng hoặc hình ảnh kết hợp với nhau trong cấu trúc hoàn chỉnh để tạo sự liên tưởng tới ý nghĩa khái quát, trừu tượng trên cơ sở của ý nghĩa cụ thể” [41, tr.263]. “Cùng với sự trỗi dậy của lối viết hậu thực dân, ngụ ngôn đen [xem thêm tài liệu 113] trở thành một kĩ thuật viết được cả các nhà văn lẫn các nhà phê bình chú ý bởi khả năng phá hủy những khái niệm của lịch sử chính thống và chủ nghĩa hiện thực kiểu cổ điển, từ đó tạo ra những dạng thức phản diễn ngôn hậu thực dân. Nhà nghiên cứu Lã Nguyên khi dịch thuật khái niệm này từ tiếng Nga (притча - N.D. Tamarchenko) đã sử dụng từ “dụ ngôn”. “DỤ NGÔN là câu chuyện bóng gió về một trường hợp không phải là sự hiếu kì, mà là minh chứng hiển nhiên cho một qui luật phổ quát buộc người ta phải tuân thủ, chứ không khiến người ta kinh ngạc” [173]. Tuy nhiên, dụ ngôn bao giờ cũng nghiêm túc vì nó xuất phát từ trong Kinh thánh, có tính chất giáo huấn, khác hẳn giọng bỡn cợt của giai thoại. Còn ngụ ngôn thì tính cách và giọng điệu lại có tính hai mặt vừa nghiêm túc vừa giễu nhại, vừa ca ngợi vừa hạ bệ... Trong hai bình diện mô tả - cụ thể và phổ quát - hoàn toàn độc lập, dụ ngôn có vai trò bình đẳng với nhau, còn ngụ ngôn nhấn mạnh bình diện cụ thể. Vì vậy, khi sử dụng thuật ngữ allegory, chúng tôi gọi đó là ngụ ngôn. Đồng thời, chúng tôi nhận thấy sắc thái sử dụng allegory khác nhau, tuy nhiên mục đích của nó thì giống nhau.

Khi viết ngụ ngôn về lịch sử, nhà văn hậu hiện đại gắn với cảm thức hậu thực dân có khuynh hướng xây dựng lại lịch sử, dịch chuyển góc nhìn, hay giải thích lại lịch sử không chỉ như một dòng sự kiện mà còn như một khái niệm, và trong quá trình đó họ hướng đến khả năng thiết lập một bảng giá trị mới trong đó những ý thức phản kháng, những dự định còn ẩn khuất trong diễn ngôn lịch sử cũ sẽ nổi lên như một xung lực hình thành văn hóa. Là nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu nên Coetzee xây dựng các biểu tượng mang tính ngụ ngôn để vừa phản ánh, vừa khát quát mang tính nhân loại. Đặc trưng này thể hiện không chỉ trong tiểu thuyết mà kể cả các bài giảng, ông cũng phân tích rất rõ điều này. Điều đặc biệt, đặc trưng lối viết ngụ ngôn của Coetzee biểu hiện ở cách ông trình bày thực trạng các vấn đề chính trị, xã hội ở Nam Phi qua ngòi bút châm biếm, mỉa mai, hài hước, giễu nhại. Chúng tôi xem đó là lối viết ngụ ngôn đen mang tính “uy mua”. Trong sáng tác, Coetzee xây dựng các hình tượng cụ thể, chi tiết nghệ thuật rõ ràng, tuy nhiên tất cả hình tượng và chi tiết đó mang tính biểu tượng cao. Thông qua đó, ông phản ánh bức tranh xã hội, chính trị Nam Phi với những mặt trái đầy biến động, phức tạp.

Sau Foe, Coetzee quay trở lại chủ đề tình trạng xã hội, văn hóa ở Nam Phi thuộc giai đoạn cuối của chủ nghĩa Apartheid. Ông cho rằng Nam Phi đang mắc chứng ung thƣ giống như nhân vật Curren trong Tuổi sắt đá. Những năm cuối của chủ nghĩa Apartheid, sự dã man bạo tàn trong đàn áp giết chóc lên đến cực điểm, đó là một thời sắt thép. Bà Curren, vị giáo sư văn chương cổ điển ở Cape Town bị ung

56

thư đang nằm chờ chết. Bà chỉ có một người con gái duy nhất nhưng cô ta vì kinh tởm chủ nghĩa Apartheid nên bỏ sang định cư ở Mỹ. Sống cô độc tuyệt vọng trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, bà động lòng trắc ẩn khi một người đàn ông vô gia cư nghiện ngập xuất hiện trước cửa nhà và bà cho người này vào tạm trú. Cũng trong thời gian này đứa con trai của người quản gia tên là Bheki có liên hệ với quân nổi loạn bỗng nhiên mất tích. Curren giúp đỡ người quản gia đi tìm con, bà được chứng kiến cảnh cả thành phố của người Phi châu da đen bị thiêu trụi và thi thể của Bheki đầy vết đạn. Một thời gian sau, một đứa bạn của Bheki xin tá túc trốn tránh trong nhà và bị bọn mật vụ của chính quyền da trắng giết chết. Trong phẫn nộ, tuyệt vọng, bà Curren vẫn phải đối diện với mọi biến cố lịch sử của “thời đại sắt” bên cạnh kẻ đồng hành duy nhất là người đàn ông vô gia cư nghiện ngập, kẻ đã tự nguyện sẽ gửi đi lá thư cuối cùng bà Curren viết cho người con gái trước khi vĩnh biệt cuộc đời.

Thế giới vẫn tưởng Nam Phi là trường hợp hòa giải chủng tộc gương mẫu, nhưng huyền thoại Apartheid/hậu Apartheid đã cho thấy Nam Phi là quốc gia phân ly cực độ và nhiều tội ác chủng tộc nhất. Ngay trong cộng đồng người da trắng gốc Hòa Lan, sự bất an ám ảnh mọi người(17). Ranh giới cách ly giữa người trắng và người đen, giữa người đen khác chủng tộc nhau, giữa người Afrikaners và người Anh vẫn tồn tại… Cảnh sát và tòa án tham nhũng, chính quyền bất lực. Ở Nam Phi, hậu Apartheid bạo lực trở thành một thứ văn hóa. Không chấp nhận uy quyền của chính quyền vẫn tồn tại ở đây.

(17) Tâm lý không tin tưởng vào sự bảo vệ của chính quyền sau khi nạn Apartheid bị xóa làm cho người da trắng co cụm lại để tự bảo vệ. Giới chức chính quyền tham nhũng, cảnh sát hối lộ giết người như băng đảng. Trong năm 2012 tại thành phố Durban báo chí ghi nhận có 30 sĩ quan cảnh sát bị truy tố về 116 tội đủ loại trong đó có 28 vụ giết người. Tại Nam Phi, nghề làm thám tử tư là nghề phát đạt nhất. Người da trắng thuê các hãng bảo vệ tư nhân để bảo vệ mình mặc dù gia đình họ sống trong những khu riêng biệt kín cổng cao tường bao bọc bởi ụ bê tông và dây kẽm gai. Năm 2012, có 411.000 người hành nghề bảo vệ các gia đình người trắng, nhiều gấp hai lần số cảnh sát quốc gia [188].

Trong tiểu thuyết Tuổi sắt đá không ít lần nhà văn Coetzee để cho bà Curren miêu tả trực diện khuôn mặt các chính trị gia ở Nam Phi qua lời tâm sự trong một bức thư viết cho con gái: “Nhìn những khuôn mặt bệ vệ, trơ tráo, đã quá quen từ thuở bé, mẹ cảm thấy tối sầm, muốn nôn mửa. Đó là bọn con trai xưa kia toàn ngồi cuối lớp, mặt mũi vênh váo, ngu ngốc, nay lớn lên đề bạt thành những kẻ cai trị đất nước” [96, tr.36]. Đó là những nhà cầm quyền không có trái tim, chiếm đoạt, cướp bóc người dân bằng bạo lực. Điều này làm cho Curren cảm thấy buồn nôn. Thông điệp của chính quyền quyền lực Nam Phi là không thay đổi: “chúng biến con người thành đá” [96, tr.37]. Tất cả bọn chúng đều là những tên áp bức, ác ôn, tra tấn, giết người. “Tướng G., Bộ trưởng M. có tài sản ở Paraguay… Bọn người gốc Nam Phi ở Paraguay bắt tay với bọn người gốc Nam Phi ở Patagonia sống lưu vong, bọn bụng phệ, vợ béo tròn,… có két sắt đựng tiền gửi ở Rosario” [96, tr.154,155]. Là quốc gia đang trên đường tiến hóa, nhưng tiến hóa giật lùi, trong cảm nhận của Curren, Nam Phi mới có nhiều cái xấu với “những cặp mắt mờ đi, kéo màng mỗi lúc một dầy, trong khi bọn khám phá đất đai, bọn thực dân, chuẩn bị trở lại những đáy sâu ấy” [96, tr.154]. Hóa ra một Nam Phi cuối những năm cuối thế kỷ XX đầy sự phức tạp,

57

bất công, chỉ có sự thay đổi nhà cầm quyền, và chính phủ càng ngày càng xấu xa, nham nhũng, hưởng lạc hơn trước kia.

Ở đất nước này con người sống không phải là mình. Với Curren, 16 năm cô độc bà nhận ra, Nam Phi không là nơi thuộc về mình. Khác hẳn với con gái bà đang sống ở Mĩ, nơi “một phụ nữ đã tìm thấy chính mình” [96, tr.40]. Quốc gia có Mũi Hảo Vọng chứa đựng nhiều điều trái ngược nhau, đất nước đang cháy âm ỉ. Nơi diễn ra bạo lực, không khí bệnh viện sôi động hơn bao giờ hết. Máu trở thành nỗi ám ảnh con người: “Đất nước này có thiếu gì máu đâu… Đất nước này đã uống hàng sông máu mà có bao giờ biết chán đâu” [96, tr.75]. Người dân nơi đây bị chia rẽ ranh giới nghiêm ngặt, bị bắn chết bất kì lúc nào nếu bị phát hiện “đất nước này không bình thường đâu nhé. Nhân dân không thể tùy ý đi lại” [96, tr.91]. Trước kia các khu phố vào ban đêm vẫn làm việc, còn giờ thì không. Bao trùm không gian là sự im lặng đến căng thẳng chuẩn bị cho trận bắn nhau sắp xảy đến.

Curren, nhân vật chính của tác phẩm đam mê và hiểu biết âm nhạc, giáo sư kinh điển tại một trường đại học, bị bệnh ung thư giai đoạn cuối, hông đau, tim đập nhanh, miệng đắng ngắt. “Tôi bị ung thư. Tôi bị ung thư vì tích lũy những ô nhục phải chịu đựng trong cuộc sống” [96, tr.176]. Căn bệnh ung thư của bà có nhiều điểm tương đồng với chế độ chính trị Nam Phi lúc này. Trong giai đoạn cuối của chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid, đất nước đang biểu hiện đỉnh điểm những ung nhọt của nó. Curren tự nhận mình đã sống quá lâu: “chỉ còn cái chết bị thiêu sống mới là cái chết xứng đáng”, cũng như Nam Phi “đã đến lúc phải vứt nó vào lửa, phải chấm dứt, phải cho nó mọc lên từ đống tro tàn” [96, tr.78]. Con người nơi đây xấu xí, tối tăm, lờ đờ “Nam Phi là con chó săn già xấu tính nằm lim dim ở lối vào, chờ đến lúc chết” [96, tr.85]. Curren hi vọng sẽ có một đất nước đổi tên làm lại từ đầu.

Khi nói về máu, Curren thừa nhận đã hơn hai chục năm nay mình đã không có máu: “căn bệnh cắn nát người, người mẹ đã khô rồi, không có máu, từ từ lạnh toát” [96, tr.77]. Máu thế hệ của bà cũng như Nam Phi trước kia không đổ. Bây giờ là máu của Bheki, của John, của thế hệ sắt đá đang lên. Như một thông điệp ẩn dụ về đất nước: phải thay máu cho Nam Phi, phải thay đổi chế độ chính trị mới cho Nam Phi. Gần cuối tác phẩm Curren dần dần nhận ra sự đổ máu phi lí, nên đã khuyên cảnh sát bỏ súng xuống và quay trở về nhà. “Tại sao các anh không bỏ súng xuống mà về nhà đi, về tất cả đi” [96, tr.129]. Nhưng đáp lại câu trả lời của cảnh sát là: “Không!”. Cuối cùng trong bà cũng như trong lòng đất nước Nam Phi có điều gì đó vượt qua bệnh ung thư để hoài nghi về tương lai: “Điều làm tôi muốn nổ tung không phải là tình trạng của tôi, bệnh của tôi, mà một cái gì rất khác” [96, tr.149].

Đa số tiểu thuyết của Coetzee có dung lượng ngắn, phản ánh một cách khô khốc, chân thực bức tranh hiện thực Nam Phi. Đó cũng là nguyên nhân một thời kì ông bị chính phủ kiểm soát, lên án gắt gao và buộc ông phải định cư tại Australia. Tác phẩm của Coetzee chỉ mô tả mà không hướng tới sự giải quyết, số phận của nhân vật tồn tại theo bản năng sinh tồn trên mảnh đất chính trị khắc nghiệt. Tuy nhiên, ẩn đằng sau giọng điệu lạnh lùng đến khủng khiếp ấy người đọc vẫn nhận ra

58

những trang viết hướng đến sự sống, bám riết cuộc đời mãnh liệt, khát khao(18). Trong cơn bạo bệnh, nhưng Curren vẫn luôn hướng về người con ở rất xa, thương yêu đứa con vô điều kiện, dù cho có đôi lúc đã hoài nghi về tình cảm của người con dành cho bà. “Mẹ không thể sống mà không có con, cũng không thể chết mà không có con” [96, tr.169]. Giữa khung cảnh hỗn loạn, giết chóc, Curren cưu mang và cho một người vô gia cư ở chung; hoảng hốt đòi kiện cảnh sát khi Bheki bị thương. Đứa trẻ mười lăm tuổi vốn bà không ưa, và bạn của nó là John, nhưng trước cái chết bi thảm khi đang mặc đồng phục học sinh đã làm cho bà bị ám ảnh; cho lũ mèo trú ngụ trong nhà… Tất cả những việc làm của bà đều xuất phát từ tình người dù mong manh, vô nghĩa nhưng đã làm cho tiểu thuyết của Coetzee trở nên ấm áp. Và hơn hết, Curren luôn hướng đến sự sống. “Trong tôi không chỉ có cái chết. Còn có cả sự sống nữa. Nhưng chết thì mạnh, còn sự sống thì yếu. Nhiệm vụ của tôi là giữ lấy sự sống, phải giữ cho nó sống” [96, tr.177]. Phải chăng đây cũng chính như Nam Phi, trong đổ nát, khủng hoảng, đâu đó vẫn còn niềm tin vào tương lai, vào một quốc gia được lập lại trật tự, xóa bỏ chế độ Apartheid theo tôn chỉ đúng nhất.

Văn chương của Coetzee vẫn là thứ văn chương đầy hoài nghi, đau đớn, nhưng cũng giống như trong Ruồng bỏ, ở Tuổi sắt đá con người vẫn ẩn hiện đâu đó chút an ủi mỏng manh của tình thương yêu. Những ngày cuối cùng khi kẻ lang thang, vô gia cư và một người sắp chết bị bệnh ung thư ở cạnh nhau, họ trò chuyện đôi câu, họ làm vài việc lặt vặt, và họ nằm ngủ chung trên một chiếc giường. Hơi ấm vẫn len lỏi ở đâu đó, trong căn nhà, giữa cái chết, sự tàn phá và sự đau đớn. Hành trình đi đến cái chết của Curren tuyệt nhiên không phải là hành trình ruồng bỏ cuộc đời và con người. Nó là hành trình của sự thật. Là hành trình để nhìn nhận lại tất thảy những vùng đã qua của một con người trong cuộc đời giữa khung cảnh rối ren của Apartheid.

Tồn tại dưới hình thức là một câu chuyện tự vấn riêng tư của một người đàn bà già cả, nhưng lại khắc khoải bày phơi tất thảy những biến động phức tạp của một đất nước, nơi mọi giá trị va chạm với nhau khốc liệt. “Nơi nền văn minh phát triển một cách nhân danh, chỉ có sự man rợ của thời kì sắt đá, sự lạnh lẽo của thời kì sắt đá là sự hiện tồn có thật nhất. Đó là một cuộc chiến, và Coetzee đã không ngừng đấu tranh trong cuộc chiến ấy, bởi những sáng tác của mình” [131]. Ông không phải viết để ngợi ca chủ nghĩa anh hùng, điều mà con người thường nhân danh khi có sự xung đột, ông viết để tìm kiếm sự an ủi trong hoài nghi. Sự an ủi cho những đau khổ mà mỗi con người hàng ngày phải chịu đựng, hàng ngày phải chứng kiến.

(18) Điều này ngược lại với các sáng tác của F.Kafka, S.Becket.

Ruồng bỏ viết về thời đại mới ở Nam Phi sau khi chính quyền Apartheid sụp đổ với nhiều tệ nạn: tranh giành đất đai, hiếp dâm, tội ác, thiếu sự bảo vệ của cảnh sát và sự phân biệt chủng tộc hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau. Tiểu thuyết phơi bày tình trạng căng thẳng của một quốc gia mà sự xung đột chủng tộc vẫn còn tiếp diễn, lần này giữa người da đen ở thế mạnh và người da trắng ở thế yếu. Kết thúc câu chuyện khi một trí thức da trắng chấp nhận giải pháp của con mình là chấp nhận bị cướp bóc và im lặng. Một cô gái da trắng bằng lòng sống chung với người

59

da đen, xây dựng một cuộc sống mới, giản dị tại nông thôn. Xã hội Nam Phi đang cố gắng xây dựng lại niềm tin giữa bao đổ nát qua hình ảnh một Lucy hy sinh và một David giác ngộ về nhu cầu hòa hợp chủng tộc và quên quá khứ để xây dựng một tương lai hoàn toàn mới.

Có một câu hỏi đặt ra là: tại sao Lucy phải im lặng, không phản kháng và cô im lặng cho cái gì? Không ai và không có một yếu tố đặc biệt nào bó buộc cô phải ở lại vùng đất bất an này. Cô bị hãm hiếp và không đi tố cáo, không phá thai. Hơn nữa, đứa con trong bụng cô lại là da đen, da màu. Kẻ hãm hiếp là ba người đàn ông da đen không đe dọa hay ép buộc Lucy điều gì. Họ cũng không cần sự có mặt của cô tại vùng đất hoang mạc này. Cuối cùng Lucy trở thành cô gái da trắng, bỏ hết mọi thứ kể cả đất đai, nông trại, chấp nhận cuộc sống lao động của một người nông dân bình thường sống bên cạnh những người da đen bản xứ. Theo Gerald Karfman, chủ tịch Ban Giám khảo giải Booker năm 1999, Ruồng bỏ là một ẩn dụ về một cái gì đang xảy ra cho nhân loại trong kỷ nguyên hậu thuộc địa - kỷ nguyên trong đó người da màu vươn lên ngang hàng với người da trắng. Trong một nghĩa nào đó, theo ông, đó là một tác phẩm thiên niên kỷ vì nó mang chúng ta xuyên suốt thế kỷ XX, thế kỷ mà trong đó, nguồn suối quyền hành sẽ chuyển ra khỏi châu Âu. Lucy, David hay những biến cố trong truyện đều mang tính ẩn dụ, ngụ ngôn cho một vấn đề trong xã hội Nam Phi mà Coetzee muốn đề cập. Xuyên suốt tiểu thuyết, câu chuyện được kể một cách tự nhiên, không có chỗ nào ông bày tỏ hẳn ra quan điểm của mình. Nếu cần bày tỏ một thái độ nào đó, ông viết kiểu câu rất ngắn gọn, từ ngữ chọn lọc. Như câu sau: She makes the offer as if he were a visitor. Good. Visitorship, visitation: a new footing, a new start. Hiểu sâu sắc tình hình chính trị, xã hội của một quốc gia đặc biệt như Nam Phi, người đọc mới hiểu được hết ý nghĩa của từ “visitor” mà Lucy dùng để ám chỉ cha mình trong câu văn này. Từ nhiều thập kỷ nay người da trắng thiểu số là chủ nhân của đất nước này, cai trị đa số dân da đen giống như cai trị những người nô lệ. Họ cướp đất đai, tài sản, khai thác tài nguyên biến Nam Phi trở thành thuộc địa của người Hòa Lan. Sau khi chế độ Apartheid sụp đổ, người da trắng trở về vị trí thực tế của họ: là những kẻ ở nhờ. Trong thực tế, nếu muốn, người dân Nam Phi da đen vẫn có quyền yêu cầu những người da trắng rời khỏi đất nước họ. Nhưng người dân Nam Phi noi theo tinh thần dân chủ và độ lượng của Mandela, tiếp tục cho người da trắng ở lại Nam Phi như là một bộ phận cấu thành dân tộc. David tượng trưng cho cuộc đổi đời của người da trắng: từ vị thế một chủ nhân thành người khách trọ. Lucy tượng trưng cho sự chấp nhận hiện thực: không thể nào quay ngược lịch sử.

Cũng như nhiều nhà văn hậu hiện đại khác, văn chương Coetzee kiệm lời, thông qua các hình tượng xây dựng những biểu tượng mang tính khái quát. Không chỉ ngụ ngôn về các kiểu con người trong xã hội, tiểu thuyết của ông còn khái quát về vấn đề chính trị ở Nam Phi. Không lên án trực tiếp bằng những phát ngôn về chế độ Apartheid cũng không gay gắt chỉ trích mặt trái của hậu Apartheid, bằng các ngụ ngôn đen được ông xây dựng đã phần nào lột tả bản chất chính trị xã hội Nam Phi bạo lực, rối ren. Không chỉ người da đen mà người da trắng trong chế độ phân rẽ cũng chịu những tác động tiêu cực từ các chính sách tàn bạo của chính phủ. Hài

60

hước, mỉa mai, Coetzee châm biếm kín đáo nhưng sâu sắc Apartheid. Với ông, mọi sự phân biệt dù nhỏ nhất cũng là tội ác. 2.3. Diễn ngôn “kẻ mạnh”, “kẻ khác”

Chủ nghĩa hậu thực dân là nhà một phân nhánh của lý thuyết hậu hiện đại nhắc đến các khái niệm, lý thuyết về triết học và văn học trong đó hàm chứa các “di sản” do sự cai trị của chế độ chính trị thực dân. Với ý nghĩa này, nền văn học hậu thực dân có thể được xem là một nhánh của văn học hậu hiện đại với những liên quan đến chính trị, văn hóa của các nước thuộc địa đế quốc.

Lý thuyết hậu thực dân ra đời vào khoảng đầu thập niên 1990 ảnh hưởng từ công trình Orientalism (Đông Phương luận) của Edward W. Said, xuất bản lần đầu năm 1978. Trong đó, Said giải mã quan hệ quyền lực giữa phương Ðông và phương Tây qua các hình thức diễn ngôn, chủ yếu qua việc sáng tạo nên khái niệm “phương Ðông” như một “cái Khác” (Other) so với phương Tây. Các lý thuyết gia tiêu biểu của thuyết hậu thuộc địa trong văn hóa, văn học chủ yếu là những người có nguồn gốc từ các nước thuộc địa cũ như E. Said (Palestine), H. Bhabha, G. Spivak (Ấn Độ), Trịnh Thị Minh Hà (Việt Nam),... hoặc những nhà nghiên cứu phương Tây như F. Jameson, J. Culler (Mỹ), W. Benjamin (Đức)… Cũng có không ít tên tuổi từ các thuộc địa định cư nghĩa là những thuộc địa được hình thành chủ yếu do những người di dân đến từ mẫu quốc như I. Adam (Canada), H. Tiffin (Australia),...

“Vấn đề trung tâm của các nền văn hoá và văn học hậu thực dân là quan niệm về “cái khác” (otherness). “Cái khác” khác với sự khác biệt (difference) vì “cái khác” bao gồm cả sự khác biệt lẫn bản sắc. “Cái khác”, tự nó, là một bản sắc và bản sắc ấy được hình thành chủ yếu trên sự phân biệt với những bản sắc khác đang chiếm giữ vị trí trung tâm. Nó là một thứ con rơi: vừa được sinh ra vừa bị từ bỏ” [164]. Nó được tạo lập từ bảng giá trị mà nó luôn luôn tìm cách phủ nhận: nếu thực dân là trật tự, văn minh, duy lý, hùng mạnh, đẹp đẽ và tốt lành thì thuộc địa lại là hỗn loạn, mông muội, cảm tính, yếu ớt, xấu xí và xấu xa. Sự phủ nhận ấy được thực hiện ở thế yếu, do đó, không bao giờ thực sự triệt để. Tính chất phân vân ấy làm cho người thuộc địa không những là những “cái khác” so với thực dân mà còn là những “cái khác” so với chính quá khứ của họ. Bởi vậy, dân tộc thuộc địa nào cũng, một mặt, ngưỡng vọng quá khứ, mặt khác, họ lại thấy rất rõ trong quá khứ ấy có vô số khuyết điểm cần được khắc phục. Hậu quả là quá khứ chỉ được khôi phục từng mảnh. Với những mảnh vụn ấy, người ta không thể tái tạo được cả lịch sử: người dân thuộc địa, do đó, có thể nói là có rất nhiều quá khứ nhưng lại không có lịch sử.

Bên cạnh ý niệm về “cái khác” là tính chất đề kháng. Một trong những biểu hiện quan trọng nhất của tính chất đề kháng của các dân tộc thuộc địa là sự ra đời của chủ nghĩa quốc gia. Nằm ở trung tâm của chủ nghĩa quốc gia là ý niệm về bản sắc dân tộc. Trong nỗ lực xây dựng bản sắc dân tộc, các dân tộc thuộc địa thường loay hoay giữa sức đề kháng trước áp lực của văn hoá thực dân và những quyến rũ của tính hiện đại vốn gắn liền với nền văn hoá ấy, giữa hiện thực bản xứ và bảng giá trị xem chừng có tính sang cả và phổ quát ở Tây phương. Có thể xem thế áp đảo của các bảng giá trị này là một trong những chiến thắng lớn lao nhất của chủ nghĩa thực dân: nó biến khái niệm Tây phương từ một thực thể địa lý thành một phạm trù tâm

61

lý để với nó, người ta sẽ thấy phương Tây ở mọi nơi, thành cả thế giới văn minh, hơn nữa, thành mẫu mực của văn minh. 2.3.1. Diễn ngôn “kẻ mạnh” - người da trắng và mặc cảm phạm tội

Từ những gợi ý lí thuyết về quyền lực/ tri thức (diễn ngôn) của Foucault, Edward W. Said đề xuất một hướng tiếp cận mới để nhận thức về quyền lực thực dân. Trong công trình Đông phương luận (Orientalism), E. Said cho rằng quyền lực của thực dân được hiểu mềm dẻo hơn nhưng cũng để lại những ám ảnh lâu dài hơn: không phải là sức mạnh đàn áp, thống trị mà là sức mạnh được thực hiện nhờ vào việc kiến tạo một diễn ngôn (tri thức) về phương Đông. Ông cũng nhấn mạnh những miêu tả (representations) về phương Đông trong các văn bản phương Tây đã kiến tạo một sự lưỡng phân giữa châu Âu và Kẻ khác (Others) trong đó châu Âu giữ vai trò trung tâm với những ưu thế vượt trội. Theo đó: phương Tây là lí trí, văn minh, năng động, nam tính đối lập với một phương Đông: phi lí trí, lạc hậu, tĩnh tại, nữ tính...

“Theo E. Said: “Phương Tây luôn ở vị thế “trung tâm”, trong khi phương Đông là ngoại biên, “khác biệt””. “Khác biệt” theo nghĩa thua kém về mọi phương diện, tạo nên sự đối lập như ánh sáng và bóng tối” [152]. Một cách nhìn như vậy là hoàn toàn phi lý vì đó chỉ là sản phẩm của sự “bịa đặt” mang ý đồ tăm tối của phương Tây bị nhất quán chi phối bởi cái nhìn nặng tính thực dân mà thôi. Đặc tính nhược tiểu của thuộc địa và đặc tính văn minh của thực dân vốn không phải là những căn tính có sẵn, tất cả là sản phẩm của diễn ngôn - diễn ngôn thuộc địa. Và khi khẳng định nhược tiểu là thuộc tính của thuộc địa, văn minh là thuộc tính của thực dân, thì có nghĩa là đằng sau diễn ngôn đó chắc chắn có sự chi phối của quyền lực. Đầu tiên có thể dễ nhận thấy nhất đó là sự áp đặt ngôn ngữ. Đã có nhiều cuộc biểu tình đẫm máu diễn ra ở Nam Phi, kể cả trong trường học nhằm phản đối sự áp đặt của chính quyền lên ngôn ngữ bản địa [xem phụ lục 6].

Ta có thể thấy tiểu thuyết của Coetzee có thể chia thành hai giai đoạn sáng tác. Giai đoạn Apartheid quyền lực chính trị, xã hội thuộc về thiểu số người da trắng. Phản ánh cục diện này tiêu biểu có các tiểu thuyết như Giữa miền đất ấy, Đợi bọn mọi, Cuộc đời và thời đại của Michael K... Thời kì hậu Aparthied, cấu trúc quyền lực thuộc về đa số người da đen và không hẳn thuộc về người da đen bản địa. Mô tả hiện thực này có các tiểu thuyết tiêu biểu như Tuổi sắt đá, đặc biệt trong Ruồng bỏ...

Giữa miền đất ấy là quyền uy của Bass thể hiện khi bóc lột sức lao động nô lệ người da đen Hendrik, cưỡng hiếp Anna - vợ của Hendrik. Tiểu thuyết được thuật lại từ căn phòng ngủ ngột ngạt của Magda. Đây là nhân vật kể chuyện không đáng tin cậy, có nghĩa là người đọc không thể chắc chắn những gì đang diễn ra xung quanh. Bằng quyền lực của ông chủ da trắng, Bass đã hãm hiếp Anna. Magda biết được cha cô và Anna ngoại tình trong phòng ngủ của trang trại, đã lấy súng và bắn chết cha cô. Không có cha để quản lý đất đai, thức ăn bắt đầu cạn kiệt. Hendrik yêu cầu được trả tiền về các khoản nợ. Magda trả tiền cho anh ta bằng vật phẩm từ tài sản trước đây của cha cô. Trong trang trại, Hendrik, Anna dần dần cân bằng quyền lực với Magda và bắt đầu chiếm các quyền điều hành công việc ở nông trại. Sau

62

một loạt các cuộc cãi vã, Hendrik đã cưỡng hiếp Magda. Như một cuộc trả tù của người da đen đối với người da trắng. Khi những người đàn ông da trắng từ các trang trại gần đó đến tìm cha của Magda, Hendrik và Anna bỏ trốn khỏi nông trại vì sợ rằng họ sẽ đổ lỗi cho cái chết của Bass. Cuốn tiểu thuyết kết thúc với cảnh Magda bị cô lập trong trang trại có dãy nhà hình chữ H, từ từ chết đói và dường như phát điên, khi cô cố gắng liên lạc với những chiếc máy bay đang bắt đầu bay trên sa mạc mỗi ngày. Sợ cô đơn, trống vắng, mất liên hệ với thế giới bên ngoài là dụ ngôn cho mặc cảm phạm tội của người da trắng.

Ngay từ những sáng tác đầu tiên, Coetzee đặt ra mối quan hệ giữa người da đen và da trắng cũng như vị thế và sự thay đổi vị thế của họ trong từng giai đoạn lịch sử. Đợi bọn mọi là tiểu thuyết thuộc loại cỡ nhỏ đặt ra những hoài nghi về quyền lực người da trắng thời đại Apartheid. Những câu hỏi lớn thẳng thắn, gay gắt mà Coetzee lồng vào câu chuyện huyễn tưởng này: Cái thiện, cái ác? Bản chất con người? Bản chất văn minh? Đâu mới đích thực là dã man? Liệu tự cho rằng mình là văn minh có văn minh khi áp đặt thô bạo những chuẩn mực lên người có cách sống khác, hoặc đối xử họ như kẻ thù? Tất cả được Coetzee thể hiện dưới hình thức ngụ ngôn đen vừa trực diện, vừa ám ảnh.

Thời kì Apartheid, Nam Phi nói riêng, các dân tộc bị áp bức bởi chế độ phân biệt chủng tộc ở một số nước trên thế giới nói chung trở nên hỗn loạn, đầy hoài nghi. Cướp bóc, bắt tù, đánh đập vô cớ, các bé gái bị hiếp dâm, sự xuất hiện đột ngột và ra đi vội vã vô định của nhóm tộc người… Tất cả bao bọc không khí đầy những lo sợ và bất ổn. Chính phủ có nhiều cuộc truy lùng, càn quét để hòng tìm ra nguyên nhân và tiêu diệt mọi rợ. Vị Quan tòa là kẻ duy nhất “nhạy cảm với nỗi đau của con người” [94, tr.18] cũng không thể ngăn nổi những trận tra tấn, bắt người dã man của đại tá Joll. “Một trận ẩu đả đã xảy ra sau đó khiến tù nhân bị đập mạnh vào tường. Nỗ lực phục hồi cho anh ta bất thành” [94, tr.20]. Bị những trận đánh khủng khiếp, cuối cùng họ đã nhận tội mà không hiểu bản chất của những lời khai ấy: “rằng đồng bọn trong bộ tộc đang trang bị vũ khí, để vào mùa xuân tất cả sẽ tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại Chính phủ”. Sau lời khai của cậu bé bị bắt khi đi theo với ông của mình thăm bệnh một người trong gia đình, có thể sẽ có giết chóc. Chính phủ sẽ xuất binh đánh bộ lạc “họ hàng của cháu sẽ chết, thậm chí có thể là bố mẹ cháu và các anh chị em cháu nữa” [94, tr.29]. Đại tá Joll bắt các tù nhân đem về giam giữ trong các nhà tù bẩn thỉu và bị tra tấn. Họ nung các thanh sắt trong than cho đến khi nóng lên rồi chích vào da thịt. Cô gái mọi bị đốt mù mắt và cha của cô ta bị tra tấn đến chết. “Máu dính bết trên bộ râu màu xám. Bờ môi dập nát và bị kéo xệch xuống, để lộ ra những cái răng gãy lìa. Một mắt ông trợn ngược lên, hốc mắt bên kia chỉ còn là một cái lỗ đầy máu” [94, tr.25]. Cô gái may mắn thoát chết, được vị Quan tòa nhân ái cưu mang, chăm sóc cho ở lại bên cạnh, trong phòng của ông và đưa trở về với bộ tộc trong một hành trình đầy khắc nghiệt của thời tiết vùng biên giới. Sự đánh đổi mạng sống của mình và những người đi cùng, tấm lòng của vị Quan tòa biết lo lắng cho cuộc đời con người như một niềm an ủi. Ông tìm cách để bảo vệ tù nhân vì ông biết chắc chắn họ không liên quan và không biết gì về bọn mọi. “Đừng! Đừng! Đừng! Khi tôi quay sang đại tá Joll… Tôi chỉ vào

63

ông ta. “Ông”, tôi gào lên. Hãy nói hết tất cả… Ông đang tha hóa những người này” [94, tr.221]. Cuối cùng, vị Quan tòa đã bị bắt và kết tội liên lạc với bọn mọi, giao tiếp với họ để chống lại Chính phủ. Từng tin tưởng, trung thành tuyệt đối với Đế chế nhưng lúc này vị Quan tòa trở thành tội nhân bị giam giữ, đánh đập, tra khảo. Xã hội Nam Phi thời Apartheid hỗn mang, ranh giới giữa lòng nhân ái và tội ác thật mong manh. Số phận con người từ kẻ chỉ huy, trông coi công lý đến tù nhân bị buộc tội trở nên khó phân biệt.

Chính phủ hoàn toàn không lấy được thông tin gì về bọn mọi nên đã cử thêm một “nhóm lính nghĩa vụ mới để thay thế những người vừa hoàn thành ba năm nghĩa vụ ở biên giới và sẵn sàng trở về nhà” [94, tr.27]. Toán lính được dẫn đầu bởi một viên chỉ huy trẻ, người sẽ gia nhập bộ tham mưu ở đây. Bằng sự trung thành và niềm tin tuyệt đối vào Đế chế, viên chỉ huy mong muốn sẽ sớm đạt kết quả là tìm ra sự hiện diện của mọi rợ. Trong lúc di chuyển đến đây anh ta cảm nhận lũ mọi theo đuôi từ xa. Nhưng toán lính đã không nhận ra bất kì thông tin nào, đã có ba người trong họ đào ngũ. Lúc đầu, tất cả mọi người đều quy kết trách nhiệm về sự mất tích cho bọn mọi nhưng đã có nhóm người phát hiện họ bị chết trong sa mạc giá lạnh khi cố gắng tẩu thoát khỏi cuộc chiến này.

Nền văn minh do Đế chế sáng tạo với mong muốn áp đặt lên con người vùng biên ải xa xôi và bọn mọi rợ. Nhưng rõ ràng các nhân vật trong Đợi bọn mọi hoàn toàn không tin tưởng vào nó. Họ không tìm cách vào lâu đài như các nhân vật của Franz Kafka mà tìm cách sống được trên chính mảnh đất quê hương mình. Châu Phi là châu Phi, đó là chân lí. Mọi sự vay mượn, áp đặt đều không thể xóa được bản sắc của xứ sở này. Cũng thế, mọi chuẩn mực văn hóa của châu Âu cũng không thể là chuẩn mực của họ. Một sự bí ẩn đầy quyến rũ, song cũng đầy thách thức trên vùng đất bao la bề bộn tang thương mà nói như Doris Lessing (Nobel văn học 2007) là “không thể nào lí giải nổi”.

Giai đoạn hậu Apartheid khi quyền lực về tay người da đen, một trong những vấn đề nan giải của Nam Phi phải đối diện là sự đàn áp ngược của người da đen đối với người da trắng(19). Về phương diện là chủ nhân, cai trị nhưng chính bản thân họ cũng không được tự do. Con người mất khả năng, mất quyền năng được đối thoại với thế giới xung quanh. Không chỉ người da đen mà người da trắng cũng rơi vào bi kịch. Trên thực tế thì người da trắng hiện nay vẫn giữ được vị thế giàu có và một số địa vị nhất định trong xã hội. Tuy nhiên, có một bộ phận người da trắng do những thay đổi trong cấu trúc chính trị lẫn kinh tế đã đẩy họ vào tình trạng “phân biệt chủng tộc ngược”. Không nhà cửa, thuốc men, giáo dục, không nước sinh hoạt và cả các quyền cơ bản cũng không có...

(19) Các nhà nghiên cứu thống kê vào năm 2010, ước tính có khoảng 450.000 trong tổng số 4,5 triệu người da trắng của Nam Phi sống dưới mức nghèo đói. 100.000 người hiện đang phải vật lộn chỉ để tồn tại ở những nơi như Công viên Coronation này, một khu lán trại làm từ các nhà lưu động cũ. Hiện khu trại có hơn 400 người da trắng [186].

Tiểu thuyết Ruồng bỏ đã phản ánh khốc liệt bi kịch người da trắng trên đất Phi châu. Tác phẩm đã xây dựng những chuỗi bi kịch đầy đau đớn của David, đến mức ông hoài nghi tất cả hiện thực đang diễn ra. Hơn ai hết, David thấu hiểu một cách sâu sắc sự phi lí của cuộc sống. Ông đã từng phản kháng lại hiện thực bằng

64

cách kiêu hãnh trước những lời thoá mạ của đồng nghiệp, chấp nhận vứt bỏ chức vị; trước cuộc trả thù của người da đen ông khuyên con gái từ bỏ trang trại và ra đi… Nhưng cuối cùng, David hoàn toàn bất lực và cô đơn trong vòng luẩn quẩn, không lối thoát. Ông nhận thấy sự bẽ bàng, chua xót trong công việc ở trại nuôi động vật gây cảm giác rờn rợn, kinh hoàng khi hàng ngày phải vuốt ve những con vật tàn tật, sắp chết. Kết thúc cuộc đời của ông bằng sự song hành với một con chó. “Đó là một con chó đực tơ có một cái chân trái sau bị liệt, cứ phải kéo lê” [96, tr.279]. David có tình cảm đặc biệt với nó. Ông dành tất cả niềm đam mê nghệ thuật và tình thương yêu cho nó trước khi linh hồn nó rời khỏi thể xác. Ông chơi đàn banjo cho nó nghe và cảm thấy nó cũng yêu âm nhạc, “trong lúc ông bật dây đàn, nó ngồi thẳng dậy, nghếch đầu, lắng nghe” [96, tr.280]. Là nhà văn nhạy cảm với thân phận con người, Coetzee để hình ảnh một vị giáo sư danh giá cạnh một con chó bệnh tật như một ẩn dụ cho kiếp nhân sinh đầy ô nhục trong xã hội hậu hiện đại. Bi kịch bản năng tính dục, ruồng bỏ, cô đơn… là hiện thực nhức buốt đang tồn tại ở Nam Phi nói riêng và trên thế giới nói chung. Ruồng bỏ không chỉ xây dựng nên những bi kịch cá nhân mà còn của cả xã hội. Bao trùm tiểu thuyết là không khí hòa bình, các luật cấm đoán được phá bỏ, nhưng chưa bao giờ như lúc này, Nam Phi rơi vào thế cực hỗn mang như những năm đầu thập kỉ 90.

Thời kì phi chính phủ, chủ nghĩa báo thù áp đặt lên trên luật pháp, cấu trúc đời sống tan rã, nơi bản lề của lịch sử con người bị lợi dụng để thanh toán lẫn nhau. Những cuộc truy lùng, bạo động, tàn sát của người da đen đối với người da trắng; người da trắng sống tha hương, bị đe dọa, bị ruồng bỏ. Như vậy, không chỉ người da đen chịu tác động trực tiếp bởi chế độ phân rẽ mà người da trắng cũng gặp không ít bi kịch. Họ bị truy lùng, xua đuổi, báo thù bất cứ ở đâu. Mặc cảm phạm tội thường trực, ám ảnh họ. Người da trắng rơi vào trạng thái kẻ yếu, kẻ khác. Cấu trúc quyền lực xã hội mới thay đổi sau khi Apartheid sụp đổ không theo xu thế tốt đẹp hơn mà xuất hiện thêm nhiều mâu thuẫn, xung đột khác. Sự khủng hoảng chính trị của đất nước đa chủng tộc, đa văn hóa Nam Phi là thách thức mới cho tổng thống Nelson Mandela khi ông lên nắm chính quyền. 2.3.2. Diễn ngôn “kẻ khác” - người da đen bản xứ và mặc cảm trả thù

Cảm quan hậu thuộc địa gắn với khái niệm tính nước đôi. “Tính chất nước đôi (ambivalence) vốn là một thuật ngữ trong chuyên ngành phân tích tâm lý để chỉ sự dao động liên tục giữa mong muốn một điều và mong muốn thứ trái ngược với nó. Thuật ngữ này cũng diễn tả một cảm giác diễn ra đồng thời vừa yêu thích vừa căm ghét một sự vật, một con người hay một hành động nào đó” [164]. Vì sao văn hóa, văn chương các nước thuộc địa lại có tính nước đôi? Về phía chủ thể thực dân, một mặt “…cách thức diễn ngôn thuộc địa kiến tạo nên chủ thể thuộc địa cũng mang tính nước đôi, vì nó vừa mang tính chất bóc lột lại vừa có tính chất nuôi dưỡng. Thực dân bằng diễn ngôn thuộc địa luôn muốn tạo ra những chủ thể phục tùng tái diễn lại những giả định, thói quen, giá trị - có nghĩa là bắt chước nó” [164]. Thêm nữa, cũng theo Homi K. Bhabha, bởi vì thực dân không bao giờ muốn thuộc địa trở thành bản sao chính xác của mình, một điều quá mạo hiểm với thực dân. Còn về phía chủ thể thuộc địa thì sao? Chủ thể thuộc địa không bao giờ hoàn toàn chống đối thực dân một cách đơn giản. Mặt khác, chủ thể thuộc địa nhằm “bắt chước” thực dân với xu hướng “gần với sự nhạo báng” để “khiến cho diễn ngôn

65

thuộc địa thoát khỏi tầm kiểm soát của thực dân”. Nói gọn lại, tính nước đôi “làm xáo trộn mối quan hệ đơn giản giữa thực dân và thuộc địa” nhằm “làm mất đi quyền thống trị rõ ràng của thực dân”, thể hiện rõ xu hướng thực dân và xu hướng thuộc địa vốn là hai cặp phạm trù mâu thuẫn trong sự ràng buộc biện chứng với nhau.

Một thực tế diễn ra dưới thời của tổng thống Nelson Mandela: cuộc sống của người Nam Phi da trắng hiện rất tốt đẹp và vì thế, nhiều người lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra với họ khi Mandela mất. Theo website SA Breaking News, một bộ phận người Nam Phi da trắng hiện đang sống trong tâm trạng nơm nớp lo âu khi nghĩ đến ngày Mandela qua đời. Người ta bắt gặp trên các website nhiều câu thể hiện nỗi sợ đó, như: “Người da đen sẽ thảm sát người da trắng sau khi Mandela mất”, “Người dân Nam Phi lo sợ Mandela mất đi”, “Liệu người da trắng có bị diệt chủng ở Nam Phi sau khi Mandela qua đời?”… Thậm chí, các tổ chức cực hữu đã cảnh báo người da trắng hãy sẵn sàng và có kế hoạch trước để bảo vệ gia đình mình. Nhiều nơi trên thế giới như Úc, Anh và Mỹ đã đưa tin về nỗi sợ hãi của người da trắng ở nước này về Nam Phi thời hậu Apartheid. Và điều này đã ám ảnh người da trắng xuyên suốt các tác phẩm của Coetzee cũng như các nhà văn Nam Phi đương thời.

Khi chưa trở thành nhà văn đạt giải Nobel, dưới thời tổng thống Thabo Mbeki (1999-2008), Coetzee bị chính phủ và các nhà phê bình đương thời lên án gay gắt vì phản ánh tình trạng phân rẽ vào bạo lực của Nam Phi. Đến khi giành giải Nobel Văn học 2003 cái nhìn về nhà văn lưu vong này đã có nhiều chuyển biến. Tuy nhiên, giới nghiên cứu cũng như nhà chức trách chính phủ Nam Phi vẫn không hài lòng về thái độ ngoại cuộc của Coetzee. Họ cho rằng, ông đã đẩy tình trạng xã hội trở nên cực đoan trước bạn đọc thế giới. Một trong những vấn đề được quan tâm chính là sự trả thù của người da đen và tính chất lưỡng phân nửa vời của các phong trào đấu tranh chống Apartheid triệt để. Những nỗ lực đấu tranh, cải cách xã hội của giới chính trị gia Nam Phi là có thật, tiêu biểu là cuộc đấu tranh không mệt mỏi của Nelson Mandela. Tuy nhiên, những gì Nam Phi có được vẫn chưa thực sự làm hài lòng người dân và nhân dân tiến bộ trên thế giới về một cuộc bình đẳng đen - trắng. Hậu Apartheid, xã hội Nam Phi đối diện với thực trạng phức tạp: sự trả thù của người da đen. Người da đen thanh toán các mâu thuẫn trên mọi phương diện. Năm 1999, tiểu thuyết Ruồng bỏ ra đời đã gây nên làn sóng nhìn nhận lại cuộc chiến chống phân biệt chủng tộc ngược. Đây là tác phẩm khơi dậy niềm cảm hứng cho nhiều nhà làm phim [xem thêm tài liệu 191]. Phản kháng bằng bạo lực là cách người da đen trả thù người da trắng. Giáo sư David bị đuổi khỏi trường Đại học Cape Town về sống cùng con gái Lucy. Ở đây nông trại của con gái ông bị những người da đen lạ mặt đốt phá và cưỡng hiếp. Ông đã có những động thái về việc kiện những kẻ da đen của David nhưng Lucy đã ngăn cản. Việc giữ lại cái thai và hiến đất cho Petrus là cách duy nhất để người da trắng như Lucy và cha cô có thể tồn tại ở sa mạc khô cằn, nơi những chính sách hòa giải của đảng ANC không thể vươn tới. Còn Tuổi sắt đá có hình thức đấu tranh vũ trang bạo động và có tổ chức hơn của người da đen chống lại chính phủ và tiêu diệt người da trắng. Tuy nhiên, cuộc chiến thất bại. Người da đen vẫn chưa thực sự có những tổ chức thực sự để cầm quyền, lãnh đạo một tầng lớp mới trưởng thành - tuổi sắt đá - những thiếu niên như Bheki, John và những người bạn “đồng chí” của cậu ta.

66

Có một hình thức đấu tranh khác để trả thù người da trắng: im lặng. Im lặng, ngoại cuộc, quay lưng lại với cuộc sống văn minh là cách Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K trả thù chế độ phân biệt chủng tộc. Michael K chấp nhận làm giấy thông hành để được rời thành phố là cách anh ta chấp nhận thể chế chính trị thủ tục với nhiều ràng buộc. Khi bị từ chối, anh ta tự chế tạo một chiếc xe để đẩy bà Anna về vùng nông thôn. Tuy nhiên Michael K không dễ để vượt qua hàng rào quân sự cũng như các chốt chặn kiểm tra. Trở về nông thôn, sau khi rải tro - hài cốt mẹ xuống sông, anh ta sống cuộc sống thực vật, tách biệt với thế giới bên ngoài. Với hình dạng của cái môi chẻ - hạn chế giao tiếp, một tâm hồn khiếm khuyết, Michael K im lặng và cả xã hội cũng im lặng trước cuộc đời của anh. Cuộc chiến của người da đen chưa kết thúc, quyền bình đẳng vẫn còn là câu chuyện phía trước, bi kịch và mặc cảm đấu tranh trả thù của người da đen vẫn còn tiếp tục.

Chủ nghĩa thực dân là một quá trình trong đó nhóm những người thống trị sử dụng quyền lực tối cao, thống trị của họ đối với người dân thuộc địa thông qua các phương tiện khai thác, suy thoái và tra tấn. Với mục đích xây dựng khối đoàn kết dân tộc, áp đặt bản sắc thực dân da trắng, chủ nghĩa thực dân dùng quyền lực đế quốc bằng cách bóc lột và xâm phạm người dân thuộc địa về kinh tế, văn hóa, coi thường truyền thống xứ thuộc địa, thay thế giá trị và văn hóa bằng các giá trị riêng của các nước chính quốc. Ở Nam Phi, trong quá trình xâm lược, cai trị các nước chính quốc Hòa Lan, Anh... đã tác động đến văn hóa, làm thay đổi những giá trị căn bản của quốc gia đa văn hóa này. Đặc biệt nhất là thời kì Apartheid và hậu Apartheid đặt ra mối quan hệ giữa: chủ nhân - nô lệ và kẻ tha hóa. Giai đoạn Apartheid, quyền lực ở trong tay thiểu số người da trắng, như vậy chủ nhân là da trắng và nô lệ là da đen, da đen là kẻ tha hóa. Khi chế độ Apartheid sụp đổ thì quyền lực ở trong tay người da đen, như vậy chủ nhân là da đen và ngược lại nô lệ là da trắng - kẻ bị khước từ, da trắng là kẻ tha hóa. Nhưng không hẳn như vậy, một Nam Phi đa chủng tộc và cuộc đấu tranh chống Apartheid nửa vời đã dẫn đến cấu trúc mối quan hệ ba thành tố này không rạch ròi, không đơn giản như nhiều người nhầm tưởng. Dưới những trang văn lạnh lùng của Coetzee xã hội Nam Phi hiện lên với nhiều trái ngược, phi lí mà chỉ có những người trong cuộc thấu hiểu nhất. Khi bàn về nội dung mối quan hệ chủ nhân, nô lệ và kẻ tha hóa chúng tôi nhận thấy bản chất như sau:

Thứ nhất, người da đen vừa nạn nhân nhưng đồng thời là chủ mưu gây ra cái ác. Trong 6 tiểu thuyết chúng tôi khảo sát có hai tác phẩm được đặt từ điểm nhìn là người da đen: Cuộc đời và thời đại Michael K và Người chậm. Michael K là nạn nhân điển hình của chế độ phân biệt chủng tộc gay gắt, khốc liệt nhất. Không chỉ bị kiểm duyệt, giam giữ, ngăn cách/ ngăn cản công việc cũng như hành trình anh ta đưa mẹ/ thi hài mẹ về vùng nông thôn mà còn bị ngăn cách giữa hành trạng từ con người đến con người. Bị khiếm khuyết cả thể xác lẫn tinh thần, nhưng Michael K vẫn chống chọi lại thể chế chính trị nhà nước Nam Phi, chống lại lực lượng cảnh sát kiểm duyệt bằng cách sống đời sống hoang dã như côn trùng, im lặng để phản kháng. Vì im lặng để phản kháng - cách đấu tranh của kẻ yếu làm cho cái ác trở nên tàn bạo hơn. Điều đó đã tiếp thêm sức mạnh cho cái ác, chủ nô. Tiểu thuyết Người chậm được viết ở giai đoạn khi Coetzee đã là công dân của Australia, không phản ánh mâu thuẫn gay gắt giữa đen và trắng, giữa chủ nô và nô lệ nhưng thông qua

67

hành trình Paul Rayment đi tìm bản chất cái gì là tốt, cái gì là xấu? Điều gì là quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta? Được yêu thương hay được chăm sóc có ý nghĩa hơn? Định nghĩa ra sao nơi ta gọi là “tổ ấm”? lại biểu hiện sự tha hóa khủng khiếp nhất của con người trước thời cuộc.

Thứ hai, mối quan hệ của ba thành tố: sám hối (repentance), oan trái (scapegoats), sự trừng phạt (retribution) xuất hiện trở thành cấu trúc xã hội. Trong tiểu thuyết Ruồng bỏ, mặc dù giáo sư David ít nhất ở một khía cạnh nào đó của lương tâm, ông ta đã sám hối về những gì đã gây ra cho sinh viên Melanie, tuy nhiên, khi về trang trại của con gái Lucy, David bị người da đen trả thù lại như những gì ông ta đã từng gây ra trước đó. Nhà cửa bị thiêu đốt; con gái bị những tên da đen hãm hiếp; Lucy quyết không bỏ cái thai... tất cả là biểu tượng cho luật nhân - quả, báo ứng mà vị giáo sư này phải gánh chịu.

Thứ ba, người da trắng là kẻ gây ra cái ác, phạm tội và là nạn nhân của người da đen và chính bản thân mình. Giữa miền đất ấy là câu chuyện xoay quanh bốn nhân vật: Magda, Bass, Hendrik và Anna... Bass và Magda là người da trắng, là ông chủ của nông trại. Hendrik và Anna là người da đen là nô lệ làm thuê cho Bass. Theo câu chuyện của Magda - NKC không đáng tin cậy, cha của cô, Bass, đã hiếp dâm Anna, là vợ của Hendrik. Như vậy, Bass, ông chủ da trắng vừa bóc lột sức lao động của người da đen (thông qua Hendrik) và đe dọa đời sống tinh thần của anh ta. Bass đại diện cho kiểu người da trắng gây ra cái ác, kẻ phạm tội. Nhưng Magda lại bị Hendrik hiếp dâm để trả thù và chính cô đã nổ súng giết chết cha mình. Kết thúc tác phẩm Hendrik và Anna, người da đen rời bỏ nông trại để lại Magda một mình với sự kiệt quệ về kinh tế và cô đơn giữa sa mạc hoang vắng. Magda vừa là kẻ gây ra tội ác vừa là nạn nhân của người da đen và chính bản thân cô. Bi kịch của người da trắng dưới trang văn của Coetzee buộc bạn đọc phải nghiền ngẫm về hiện thực Nam Phi khác xa với những gì dư luận thế giới lầm tưởng.

Thứ tư, đàn ông và phụ nữ (men and women), đen và trắng (black and white), con người và động vật (human and animal) v,v... là các cặp quan hệ nhị nguyên được Coetzee đặt ra trong hầu hết các tiểu thuyết của ông. Tất cả tác phẩm của ông đều phản ánh một góc nhìn nào đó về thực trạng này. Nếu các nhà hậu hiện đại xem các cặp nhị nguyên mang tính đồng thời thì Coetzee không đưa ra giải pháp nào mà chỉ mô tả dưới hình thức để ngỏ, gợi mở từ một kẻ ngoại cuộc. Ông không bênh vực da đen cũng không lên án da trắng, không bênh vực đàn ông da trắng, lên án đàn ông da đen, không đề cao con người và hạ thấp con vật... Tất cả mọi sự đánh giá, nhận xét đều thuộc về chúng ta.

Đợi bọn mọi là tiểu thuyết độc đáo thứ ba của Coetzee. Sau khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã nhận được giải thưởng James Tait Black Memorial Prize, The Geoffrey Faber Award, và The CNA Literary Prize (1980). Tác phẩm kể về những kẻ mọi rợ không thể biết hoặc không tồn tại. Trên thực tế, cuốn tiểu thuyết không giải thích một cách rõ ràng về lịch sử Nam Phi, đúng hơn là nó ngụ ngôn đen về chế độ Apartheid ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Bối cảnh của cuốn tiểu thuyết là một địa điểm không xác định, nơi độc giả được lắng nghe câu chuyện từ giọng kể của vị thẩm phán/vị quan tòa không tên. Các vấn đề nhị nguyên: ông chủ/nô lệ, kẻ tra tấn/người bị tra tấn, bản thân/người khác được đặt ra trong tiểu thuyết. Tiêu đề của cuốn tiểu thuyết tạo ra cảm giác xáo trộn và đau đớn. Tác phẩm mở đầu với sự xuất

68

hiện của Đại tá Joll với một nhóm binh sĩ từ Cục ba đến để tuyên bố sự vượt trội/ưu việt của họ đối với những kẻ man rợ vô hình. Khởi đầu là một cuộc chạm trán giữa người thực dân/thuộc địa, kẻ áp bức/bị áp bức.

Nỗ lực bền bỉ của Đế chế ba, mà kẻ đại diện là Đại tá Joll là áp đặt về một tên gọi là: man rợ, kẻ thù, cái khác, v.v… và sự chống lại/tiêu diệt bọn mọi. Để chứng tỏ vị thế là một quốc gia, văn hóa ưu việt và văn minh, Đế chế cố gắng xác nhận sự tồn tại của người bản địa cư dân của khu vực. Trên thực tế, trong bất kì cuộc tấn công được báo cáo hoặc các trường hợp hãm hiếp, cướp bóc ở trong thị trấn, ngay lập tức Đế chế quy trách nhiệm cho bọn mọi mà không có bất kỳ bằng chứng nào. Mặc dù những kẻ man rợ gần như vô hình trong khu vực của thị trấn, những người lính của Đế quốc đều tra tấn, đàn áp người dân thậm chí kể cả người đi câu cá, họ tin rằng đó là những kẻ man rợ. Theo đuổi những kẻ man rợ để chứng minh quyền lực thực dân, Đại tá Joll và binh lính của mình bắt giữ mười hai tù nhân, tin rằng họ đang lên kế hoạch tấn công Đế chế. Đại tá Joll đưa các tù nhân ra quảng trường thị trấn để chứng minh sự tồn tại của những kẻ man rợ. Lần lượt cúi xuống từng tù nhân, anh ta chà một nắm bụi vào tấm lưng trần của họ và viết một từ bằng một que than: ENEMY (kẻ thù). Nhưng những dấu vết để lại của than đang bị xóa ngay sau khi được ghi. Nó chứng minh rằng để xóa sự tồn tại của người khác trong lịch sử của các cường quốc là không thể. Đây là kết quả của nỗi sợ không tên đe dọa mọi đế chế muốn chinh phục những nơi khác trên thế giới.

Trong phần đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, các cuộc tra tấn được thảo luận với vị quan tòa, nhưng phần sau của tác phẩm, Đại tá Joll, một kẻ tàn nhẫn đã thẩm vấn người bản địa trong thị trấn, gán cho họ là những kẻ man rợ. Ông nghĩ rằng, chúng là mối đe dọa lớn đối với thị trấn và sự tồn tại của Đế chế. Cách thẩm vấn của Đại tá Joll bằng cách sử dụng tra tấn cũng chính là quá trình xâm lược của các nước chính quốc vào thuộc địa, giữa người tra tấn vào người bị tra tấn, người thực dân vào người thuộc địa, cái tôi vào cái khác, v.v. Đại tá Joll dường như đã tìm thấy niềm vui trong công việc khủng khiếp của mình. Còn các nạn nhân bị tra tấn và đàn áp sẽ phải thú nhận với bất cứ điều gì khi nỗi đau quá sức chịu đựng. Tra tấn có khả năng hạn chế, ngăn chặn tiếng nói phản kháng của nạn nhân không thể thanh minh cho bản thân mình nữa. Từ đó, những người bị tra tấn trở nên thụ động và không phản kháng, họ thiếu khả năng tự bảo vệ. Bằng nhiều cách khác nhau, kể cả đánh vào tâm lí, Đại tá Joll thẩm vấn một người cha và một đứa trẻ, bị buộc tội hỗ trợ các cuộc tấn công man rợ. Kết thúc, họ nhận tội dù không biết hậu quả tiếp theo là gì, đơn giản vì họ không có sức phản kháng. Điều này đã là cho vị Quan tòa bị sốc “họ nói với ta rằng cháu đã nhận tội. Rằng cháu và ông già đó cùng những gã khác nữa ở bộ tộc của cháu đã ăn trộm cừu và ngựa. Cháu đã khai rằng đồng bọn trong bộ tộc đang trang bị vũ khí, để vào mùa xuân tất cả sẽ tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại Chính phủ” [94, tr.29]. Trong thị trấn, vị Quan tòa là người hiểu rõ nhất về tình hình chính trị ở nơi trị trấn biên ải xa xôi này. Mặc dù thuộc về xã hội thống trị của người da trắng, vị Quan tòa lại sống hòa bình, gần gũi với người bản địa trong thị trấn. Trong báo cáo về tình hình của thị trấn, ông đã khẳng định với Đại tá Joll: “Không có nhiều tội ác ở đây. Chúng tôi đang bình yên ở đây, chúng tôi không có kẻ thù nào. Sự tồn tại của những kẻ man rợ, mà bị Đế quốc sợ hãi, là mơ hồ” [94, tr.89]. Liên quan đến sự tồn tại của những kẻ mọi rợ trong thị trấn của

69

mình, vị Quan tòa cho rằng đó chỉ là chứng sợ bọn mọi mà do bản thân chúng ta vẽ ra và bị kích động bởi những lời đồn. “Tôi đã kín đáo quan sát thấy, thời nào cũng có một giai đoạn người ta bị kích động bởi chứng sợ bọn mọi. Không một phụ nữ nào sống dọc biên giới mà chưa từng mơ thấy một bàn tay mọi rợ đen đúa từ dưới giường thò lên tóm chặt lấy mắt cá chân họ, chẳng có người đàn ông nào tự dọa mình bằng cách tưởng tượng ra cảnh những tên mọi đen đang chè chén no say trong nhà họ, đập vỡ bát đĩa, châm lửa đốt trụi rèm cửa, và cưỡng hiếp con gái họ. Những giấc mơ này là hệ quả của cuộc sống quá mức an nhàn [94, tr.25]. Các cuộc tấn công và những kẻ man rợ vô hình luôn được mong đợi trong thị trấn mặc dù chưa ai từng nhìn thấy. Nói chung, chính quốc luôn muốn các nhóm xã hội sống tách biệt với nhau vì họ sợ sự hợp nhất của các nhóm này sẽ là mối đe dọa cho sự tồn tại quyền lực của họ. Mặc dù vị Quan tòa là một thành viên của đế chế và ông đã phụ trách trong thị trấn trong nhiều năm, nhưng ông không cho rằng sự hợp nhất của các bộ lạc man rợ là nguy hiểm.

Có thể nói, Đợi bọn mọi là tiểu thuyết mang tính huyền ảo nhưng đã lộn trái nền văn minh da trắng, phương Tây. Tồn tại là một câu chuyện ngụ ngôn đen về Nam Phi những năm cuối thế kỷ XX, tác phẩm đã phơi bày sự bỉ ổi của chính quyền nhà nước nhằm che giấu tội ác chế độ Apartheid.

Tóm lại, sau khi chế độ Apartheid sụp đổ, tưởng chừng cấu trúc xã hội sẽ trở về trạng thái hòa bình. Nhưng không, Nam Phi đối diện với những mâu thuẫn, khủng hoảng mới, đặc biệt là tâm lí trả thù của người da đen. Bạo lực trở nên thường trực đến mức chính phủ không thể kiểm soát. Người da đen sẵn sàng trả đũa bất cứ người da trắng nào trên đất Nam Phi đôi khi không bắt nguồn từ những mâu thuẫn mà từ tâm thức lịch sử. Tiểu kết chƣơng 2

Coetzee là nhà văn của Nam Phi, Australia hay của phương Tây hậu hiện đại thì tâm thức căn cốt bám rễ trong sáng tác ông luôn mang âm hưởng của người dân đất nước Cầu Vồng với thân phận thuộc địa. Nỗi đau về một quốc gia đen bị áp đặt bởi một văn hóa phương Tây xa lạ luôn chống chọi khắc nghiệt. Không thỏa hiệp, cũng không đả phá gay gắt, cách chấp nhận thuộc địa và hậu thuộc địa của các nhân vật trong sáng tác của Coetzee đã giải mã cơ bản căn tính con người Nam Phi. Đặc điểm hậu hiện đại độc đáo trong sáng tác của Coetzee khi viết về Apartheid là thái độ lưỡng phân của ông. Thời kì Apartheid, quan niệm “trắng” xấu, “đen” tốt nhưng ông không bênh vực “đen”, lên án “trắng”. Thời kì hậu Aparthied, “đen” xấu, “trắng” tốt, Coetzee vẫn giữ thái độ trung tính. Không ca ngợi, cũng không đả phá, bởi ông xem sự phân biệt chia rẽ đã là tội ác. Một trong những nội dung quan trọng trong sáng tác của ông khi nhìn từ tâm thức thực dân và hậu thực dân chính là cảm thức lưu vong. Vốn không phải là người dân tộc Phi cho nên dù ông sống trên Nam Phi thì sâu kín trong con người ấy vẫn hoài niệm về nguồn gốc khác. Trở thành nhà văn của thế giới phương Tây như chính bản thân ông từng nhận về mình cũng là một phương cách, Coetzee thông báo về sự lưu vong của mình. Năm 2006, chính thức được Australia cấp căn cước và làm giáo sư danh dự tại Trường Đại học Adelaide (biểu tượng của tri thức Úc), nhưng đằng sau con người lạnh lùng, ít nói, tưởng chừng như vô cảm lại chất chứa cảm thức tìm kiếm quê hương thực thụ của mình.

70

Chƣơng 3 ĐẶC TRƢNG HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE NHÌN TỪ PHƢƠNG DIỆN NHÂN VẬT

Theo các nhà tiểu thuyết hiện đại/hậu hiện đại thì xã hội văn minh chỉ có bề mặt, không có bề sâu; thực tại chỉ là thế giới hư ảo được xây dựng từ trí tưởng tượng. Vì thế, tiểu thuyết hiện đại/hậu hiện đại mở ra bối cảnh mà nhân vật nào cũng tồn tại những điều âu lo, đổ vỡ, cô đơn, tha hoá, bất tín… Mỗi chân dung là một tấm gương phản chiếu thân phận con người, có giá trị kích thích suy ngẫm lớn lao. Khi nghiên cứu hiện tượng tiểu thuyết của Coetzee chúng tôi nhận thấy, vấn đề nhân vật, thân phận con người luôn được ông quan tâm đổi mới, cách tân, lạ hóa trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Bởi suy cho cùng, các phương diện của nghệ thuật tự sự đều quy về nhân vật. Nhân vật là vấn đề trọng tâm của văn bản nghệ thuật gắn liền với quá trình sáng tạo của nhà văn. Cuối cùng, văn học hướng đến phần cốt lõi nhất là con người, vì con người mà nghệ thuật sáng tạo. Nhân vật của Coetzee gắn với cảm thức thực dân/hậu thực dân. Đó là kiểu người đàn ông da trắng mang mặc cảm tội lỗi; đàn ông da đen với tâm lí báo thù; phụ nữ da trắng bị bỏ rơi, già nua, cô đơn; phụ nữ da đen nô lệ im lặng, nhẫn nhục. Kiểu con người khiếm khuyết, chấn thương, hay đó là những người già cô đơn, bệnh tật trở thành vấn đề được Coetzee quan tâm trong hệ thống sáng tác của mình [xem thêm Phụ lục 3]. Tuy nhiên, trong luận án này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát một số kiểu con người hậu hiện đại như con người phi lí mang ý thức phản tỉnh; con người mang triết lí trải nghiệm hiện sinh; con người hoài nghi, cô đơn. Thông qua kiểu con người này, nhà văn thể hiện những dụ ngôn đen về chính trị ở Nam Phi cuối thế kỉ XX, đầu XXI; con người mất khả năng đối thoại, mất kết nối với thế giới bên ngoài; con người chấn thương, khiếm khuyết; kiểu con người xanh hóa vũ trụ trong hành trình trở về với cội nguồn thiên nhiên, ngập tràn tình yêu thương… Đặc biệt là sự quan tâm của Coetzee đối với các nhân vật nữ da trắng và da đen. Từ tiếng nói bênh vực của người trong cuộc, ông phát biểu về quyền của phụ nữ thuộc địa nói riêng, trên toàn thế giới nói chung. 3.1. Kiểu con ngƣời phi lí, hoài nghi hậu hiện đại gắn với cảm thức hậu thực dân

Nhân vật của chủ nghĩa hậu hiện đại có những nét đặc trưng riêng, mang dấu ấn của thời đại hậu công nghiệp. Đó là kiểu “nhân vật lạc loài, cô đơn chủ yếu gắn cảm thức lưu vong, thậm chí ngay trong ngôi nhà của mình và giữa người thân của mình; nhân vật nổi loạn, dấn thân gắn với phản ứng về điều kiện và hoàn cảnh sống, nhưng hơn hết là sự phản ứng các giá trị truyền thống; nhân vật tự nhận thức thể hiện sự trải nghiệm cuộc đời với những sai lầm, ngộ nhận; nhân vật tha hóa là những biến thái xấu của những dục vọng, những ham muốn không có giới hạn; nhân vật đồng tính; nhân vật điên khùng, là thế giới của những kẻ bị bỏ rơi, dạng bị quản lí hồ sơ nhân thân, nhà văn xây dựng kiểu nhân vật này để bộc lộ quan niệm về một thế giới không hoàn tất, bất bình đẳng và bất an; kiểu nhân vật tâm linh, siêu thực” [24, tr.92]. Đó là kiểu con người nhận thức rất rõ hoàn cảnh sống nhưng lại

71

không lí giải nổi nguyên nhân của những bi kịch. Họ rơi vào trạng thái phi lí, tuyệt vọng, mất niềm tin… Từ những kiểu nhân vật trên chúng ta có thể nhận thấy quan niệm về con người trong tự sự hậu hiện đại đã có những thay đổi. Nhân vật của Coetzee rơi vào trạng thái phi lí, không giải thích nổi lí do về sự tồn tại của mình cũng như bản chất của cuộc chiến phân biệt chủng tộc. Hàng loạt câu hỏi đặt ra nhức nhối cho xã hội và cho chính bản thân mình. 3.1.1. Con người phi lí mang ý thức phản tỉnh

Một trong những di sản của cuộc đụng độ thực dân ở các nước thuộc địa là sự mất mát lịch sử và ký ức văn hóa dân tộc. Nam Phi là quốc gia không nằm ngoài quy luật đó. Thực dân và những hậu quả của nó để lại cho con người, xã hội rất to lớn. Hàng loạt các vấn đề nảy sinh, nhất là vấn đề thân phận con người trong mối quan hệ với thời đại mới. Mặc dù là kẻ ngoại cuộc, xem mình không liên quan đến lịch sử, không để lịch sử chi phối, điều khiển nhưng tiểu thuyết của Coetzee vẫn da diết, nhức nhối các vấn đề chính trị, văn hóa Nam Phi thời Apartheid và hậu Apartheid. Khác với thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Marcel Proust, James Joyce, Franz Kafka, William Faulkner, Ernest Hemingway… các nhân vật của Coetzee như đang bước ra từ thế giới hoang dã, xa lạ, khép kín của dân tộc Nam Phi để lạc vào một mê cung bạo lực, thối rữa đạo đức, ác mộng... Tạp chí Baltimore Sun (Mỹ) cho rằng “Tất cả các trang viết của Coetzee là đều giống nhau trong việc tập trung miêu tả một nhân vật trung tâm. Chưa một nhân cách nào được trực tiếp đưa ra, tuy nhiên có vài cảnh huống được xây dựng lên làm cho người đọc phải suy nghĩ về nó”. Trong mỗi cuốn tiểu thuyết của mình, Coetzee chỉ cố công xây dựng một nhân vật chính với số phận đặc biệt để rọi sáng sự cô đơn, bị ruồng bỏ làm rõ mặc cảm lưu vong đớn đau và tình thế bi đát của con người thời hậu hiện đại, tiêu biểu cho các vấn đề xã hội Nam Phi đương đại.

Trong hầu hết các tác phẩm, Coetzee chọn cho mình tư thế của một kẻ ngoại cuộc, một quan sát viên thầm lặng trước mọi diễn biến của câu chuyện. Tất cả nhân vật trong sáng tác của ông đều dần trở thành một người thừa trong quá trình tha nhân hóa đầy nghiệt ngã. Ở đấy cuộc chiến đấu giành lấy niềm tin vào cuộc sống, vào lý tưởng luôn đi đến một kết cục bi quan nhất. Các nhân vật Coetzee xây dựng đi qua hết sự kiện này đến biến cố khác và từ từ trở thành một kẻ vô tích sự, mất hết niềm tin và lý tưởng, tồn tại ở cấp độ tối giản nhất của cuộc sống. Điều đặc biệt là trong hành trình ấy họ chính là nạn nhân của thời cuộc, lịch sử, chính trị, chế độ và là nạn nhân của chính mình. Họ chấp nhận tất cả mọi phi lí trong đời sống mà không có ý định chống lại. Đó là kiểu con người phi lí mang ý thức phản tỉnh, cảnh tỉnh về tình trạng xã hội phân rẽ. Coetzee xây dựng kiểu con người này mang ý nghĩa biểu tượng, khái quát, ngụ ngôn về một trạng thái xã hội nhất định. Tuy nhiên, con người trong tiểu thuyết của Coetzee không rơi vào trạng thái hư vô, tuyệt vọng mà vẫn luôn hành trình tìm kiếm bản thể mang triết lí trải nghiệm hiện sinh. Có lẽ, đây là điểm khác biệt về kiểu con người trong sáng tác của Coetzee với các nhà văn hậu hiện đại khác cùng thời.

72

3.1.1.1. Con người ngụ ngôn đen về đất nước Nam Phi Các nhân vật của Coetzee xây dựng được xem là những phúng dụ đen về đất nước, xã hội Nam Phi đương đại. Bệnh ung thư của bà già Curren trong Tuổi sắt đá ẩn dụ cho thể chế chính trị Nam Phi thời kì cuối của chủ nghĩa Apartheid. Đó là tình trạng lâm nguy, bế tắc trong bạo lực giữa người da trắng và người da đen. Sự cô đơn, bị bỏ rơi của Magda trong Giữa miền đất ấy chính là Nam Phi đang bị cả thế giới quay lưng, bỏ rơi, giờ đây chỉ còn vết tích hoang tàn của hoang mạc. Vị Quan tòa trong Đợi bọn mọi biểu tượng cho những phi lí, huyền ảo, hoang tưởng của Nam Phi về một thể chế chính trị có thể tiêu diệt bọn mọi rợ - người da đen hạ đẳng. Michael K với hành trình tìm kiếm bản thể cô đơn trong việc xác lập nhân vị của mình trong Cuộc đời và thời đại của Michael K đã khái quát một Nam Phi rộng lớn với những con đường dẫn đến bi kịch: bi kịch bị bỏ rơi, dị dạng, khiếm khuyết. Mọi giá trị của con người đều vô nghĩa trước thế lực tàn bạo của chiến tranh. David Lurie tiêu biểu cho bi kịch bị ruồng bỏ của người trí thức trong tiểu thuyết cùng tên...

Với tiểu thuyết Tuổi sắt đá, bên cạnh cuộc đời số phận của bà già Curren bị mắc bệnh ung thư bị bỏ rơi cô đơn, lạc lõng giữa bối cảnh chính trị khủng hoảng Nam Phi, Coetzee còn xây dựng nhiều biểu tượng về xã hội và con người thời kì Aparthied. Ngay nhan đề của tiểu thuyết là một ngụ ý của Coetzee. Age of Iron - Tuổi sắt đá là tuổi trẻ của Nam Phi đang lên với ý thức hệ mới. Trong cảm nhận của Curren, đây là độ tuổi thay vì ngoan ngoãn đến trường là những đứa trẻ độc ác, bạo động, căm ghét nghiện rượu, đốt trường học chống lại chính phủ bằng vũ trang có tổ chức. “Chính bọn da trắng đã biến chúng thành độc ác” [96, tr.59]. Con người và cuộc đời của Curren - người già da trắng cũng là một kiểu ngụ ngôn cho xã hội Nam Phi. Curren là “một bà già, ốm đau, xấu xí, cố bám lấy những gì còn lại. Một người bức xúc với cái chết đang đến từ từ, càng muốn sống” [96, tr.65]. Chế độ Apartheid những năm 90 của thế kỷ XX cũng như vậy: già nua, chứa trong mình những ung nhọt mâu thuẫn, càng cố gắng cải thiện các chính sách xã hội càng đi vào ngõ cụt. Nam Phi là quốc gia đang cháy âm ỉ. Sự chia rẽ dẫn đến tình trạng bất công cực độ “quần áo của ông chủ ngân hàng bị cháy thì người ta đem chuyện ấy ra cười đùa, nhưng một kẻ ăn xin bị đốt chết thì chẳng ai nói đến” [96, tr.47]. Curren nhận thấy tình trạng bệnh ung thư của mình càng lúc càng nặng, tâm lí của bà cũng bất ổn hơn khi biết rằng Nam Phi cũng đang đi đến hồi kết của nó. “Lớn lên quái gở, ra đời nhầm lúc, là dấu hiệu mình đã quá thời. Đất nước này cũng vậy. Đã đến lúc phải vứt nó vào lửa, phải chấm dứt, phải cho nó mọc lên từ đống tro tàn” [96, tr.78]. Ở quốc gia chia rẽ này, Curren chỉ còn mối liên hệ duy nhất với thế giới bên ngoài là cô con gái mà bà rất yêu thương. Tuy nhiên, sợi dây liên kết đó lỏng lẻo đến mức bà không cảm nhận được nó, đôi lúc bà nghi ngờ về mối quan hệ này. Curren cho rằng “mẹ không thể sống mà không có con, cũng không thể chết mà không có con”, nhưng qua những bức thư bà thấy “không có tình yêu, hoặc ít nhất là không đủ để có thể biến tình yêu thành cuộc sống” [96, tr.169]. Sự liên kết rời rạc giữa mẹ con bà Curren cũng chính là ẩn dụ cho mối quan hệ của các thành phần trong xã hội. Hệ quả của tình trạng chia rẽ kéo dài hơn nửa thế kỷ đã đẩy Nam Phi

73

đến sự khủng hoảng phân chia, không thể hòa giải. Thực tế lịch sử đã chứng minh, mối liên kết giữa châu Phi với thế giới bên ngoài rất hạn chế. Phải đến những năm cuối thế kỷ XX thế giới mới công nhận sự trỗi dậy của lục địa đen.

Trong hầu hết tiểu thuyết, Coetzee không miêu tả sự tha hóa về mặt đạo đức, sự băng hoại về mặt nhân cách mà điều khiến ông đau đáu trở đi trở lại nhiều nhất chính là sự tha hóa về mặt xã hội. Tất cả họ đều bị xã hội và thời đại mình đang sống đào thải vô nghĩa lí. Họ mất hết niềm tin và trách nhiệm công dân, mất hết khả năng ý thức về vai trò của mình trong cộng đồng. Nhưng suy cho cùng, họ đều là nạn nhân của xã hội đầy rẫy bất công, phi lí. Trong Cuộc đời và thời đại của Michael K, cuốn thứ nhất trong hai cuốn được giải thưởng Booker là một ví dụ điển hình. Cuộc đời của K là cuộc đời của một kẻ đứng bên lề xã hội. Thời đại của K là thời chiến tranh giữa những người cầm quyền da trắng và quân du kích đấu tranh lật đổ chính quyền độc tài Apartheid. Micheal K là một người Phi châu vô danh nào đó, mang khuyết tật bẩm sinh cả về thể xác lẫn tinh thần, có một đời sống mà như không sống.

Trong xã hội hậu hiện đại khi tất cả mọi niềm tin đổ vỡ, các giá trị đạo đức đảo lộn đến tận gốc rễ, những câu hỏi như: Ta là ai? Ta đến từ đâu? Vì sao ta tồn tại trở thành những chất vấn thường trực. Cũng như các nhà văn hậu hiện đại khác, Coetzee luôn trăn trở trước các câu hỏi: trách nhiệm của cá nhân đối với người khác là gì? (Cuộc đời và thời đại Michael K); nơi nào là tổ ấm? được chăm sóc và được yêu thương cái nào quan trọng hơn? (Tuổi sắt đá); cuộc sống đích thực là ở đâu? (Giữa miền đất ấy); được bảo vệ và khát khao dục vọng đâu là ranh giới? (Đợi bọn mọi); đạo đức hay công lí sẽ chiến thắng? (Ruồng bỏ)...

Chính việc biến mình thành thụ động, hiện hữu tiêu cực để thoát ra khỏi sự áp đặt của thời đại, nhân vật của Coetzee được xem là đốm sáng nhân bản cuối cùng của con người hậu hiện đại. Với Ruồng bỏ, câu chuyện của một giáo sư ngôn ngữ do quan hệ tình dục với một nữ sinh viên mà trở thành thất sủng, bị ruồng bỏ. Từ đó ông đã trôi dạt vào rất nhiều biến cố khác nhau. Từ một giáo sư đại học đầy tâm huyết ông trở thành một kẻ yếu thế, một người hoàn toàn bất lực ngay cả với những hành vi của chính mình. Tự nguyện chấp nhận án kỷ luật của nhà trường cũng như không đem đơn đi kiện về vụ việc con gái mình bị hãm hiếp. Trái - phải, trắng - đen trở nên mờ nhòe trước hoàn cảnh sống. Hay đó là Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K đã rời bỏ tất cả để thu mình sống ở vùng đất xa xôi, dựa vào thiên nhiên để tồn tại qua ngày. Anh mất hết niềm tin vào thời đại mình đang sống. Không hi vọng, không niềm tin, Michael K im lặng bỏ trốn khỏi xã hội loài người.

Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K là nhân vật ngụ ngôn, biểu tượng cho kiểu con người thiểu năng, ngây ngô, nhưng giàu tình người trong xã hội hậu hiện đại. Kiểu nhân vật này chúng ta từng bắt gặp trong các sáng tác của Albert Camus trong một dạng thái khác, dạng phi lí hiện sinh chủ nghĩa… Mersault trong Người xa lạ cũng là một kiểu nhân vật phi lí, dửng dưng, thờ ơ, biểu tượng cho một dạng thái xã hội. “Không nghĩa lý gì” - Mersault nói như thế về rất nhiều sự kiện xảy ra xung quanh mình. Hắn là một kẻ đơn giản, thuần chất, có gì nói nấy, và bởi thế trở thành “người xa lạ”. Mersault xa lạ với chính mình, đứng ngoài lề xã

74

hội, chối bỏ lối sống của xã hội lúc bấy giờ. Michael K không tỏ thái độ trực tiếp mà bằng hình thức im lặng và chạy trốn của một kẻ ngây ngô, tự nhiên. Mersault gây khó chịu cho những người xung quanh khi không hề nhỏ một giọt nước mắt hay tỏ chút đau khổ trong đám tang mẹ. Ngay sau đám tang, hắn đi chơi với một cô gái và lên giường luôn cùng cô ta. Chi tiết này hoàn toàn trái ngược với Michael K. Michael K yêu thương Anna K một cách tận tụy, hết mình. Trong khi Mersault gây ra một cái chết gần như hoàn toàn vô cớ, trong một vụ xung đột có liên quan đến một người bạn. Một người Ả rập chìa dao trước mặt, mà hắn tình cờ lại mang súng. Ánh nắng mặt trời như thiêu đốt, khiến hắn mất bình tĩnh và đã bóp cò. Một vụ hạ sát hoàn toàn vô nghĩa, chẳng hề có động cơ cụ thể. Kẻ giết người có thể bào chữa rằng mình chỉ tự vệ, nhưng Mersault quá thật thà: hắn chỉ kể lại sự việc đúng như những gì nó đã diễn ra. Nghĩa là, bản thân hắn cũng không rõ vì sao mình lại bóp cò. Sau đó Mersault bị điều tra. Hắn không hề phản ứng như những tên tội phạm khác: thà chết vì án tử, chứ không nói dối. Mersault chọn cách sống trung thực thay vì giả vờ ăn năn, đau khổ. Tính cách trung thực, sống bằng bản năng tự nhiên của Mersault lại rất giống với Michael K. Chỉ có khác ở chỗ, Mersault là kiểu con người có trí tuệ, hiểu biết, còn Michael K lại thiểu năng đầy tính nguyên sơ… Có thể nói Mersault và Michael K là những nhân vật điển hình, đại diện cho một kiểu người trong xã hội đầy phi lí, hoài nghi, giá trị sự thật, bản năng bị coi nhẹ.

Tóm lại, mỗi nhân vật hoặc sự kiện trong tiểu thuyết của Coetzee được ông xây dựng mang tính biểu tượng cho một kiểu con người, trạng thái nào đó của xã hội hậu hiện đại mà chúng ta có thể bắt gặp bất kì quốc gia trên thế giới.

3.1.1.2. Con người mang triết lí trải nghiệm hiện sinh Coetzee khéo léo xây dựng hình tượng những con người từng trải, nếm đủ mùi vị của cuộc sống. Khi đã đạt đến “độ chín” nhất định, họ trở thành phát ngôn viên thay cho nhà văn những suy tư, nhận định đậm chất triết lí về cuộc đời. Trước tiên là triết lí về sự hữu hạn của thời gian và đời người. Trong tiểu thuyết Người chậm, khi đã ngoài năm mươi tuổi, Paul Rayment ý thức sâu sắc rằng: “Đồng hồ thì đứng yên, còn thời gian thì không” [98, tr.21]. Do vậy, ông quan niệm con người cần sống đúng nghĩa, sống lạc quan và biết tận dụng mọi cơ hội trong cuộc sống: “Số phận đem cơ hội đến, còn ta phải tận dụng cơ hội mình có. Không được rên rỉ, không được than phiền” [98, tr.78]. Tiếp đến là triết lí về ý nghĩa và sức mạnh của tình thương trong cuộc sống. Trong tiểu thuyết Tuổi sắt đá, bà Curren là người có đời sống nội tâm khá sâu sắc. Curren là giáo sư văn chương cổ điển đã nghỉ hưu, vốn có con gái nhưng phải sống trong cảnh cô đơn, lẻ loi vì đứa con gái bỏ quê hương sang định cư ở Mỹ. Chứng kiến cảnh bất công, bạo lực trong xã hội, bà chán nản và thất vọng về cuộc sống hiện tại. Dù vậy, bà vẫn tin tưởng vào sức mạnh tình thương trong cuộc sống. Bà quan niệm tình thương, sự cưu mang lẫn nhau là điều quan trọng để gắn kết con người với con người: “Mẹ đã ngã xuống và anh ta đã kịp đỡ mẹ. Khi đến đây, không phải anh ta ngã mà được mẹ nâng đỡ đâu. Bây giờ thì mẹ hiểu không phải mẹ ngã và anh ta nâng đỡ, mà cả hai cùng ngã vào nhau, lảo đảo đứng dậy và từ đó đã tin cậy nhau” [96, tr.240]... Dễ thấy con người trong tiểu thuyết của Coetzee mang nhiều ẩn ức và hoài nghi cuộc đời, song họ không bi quan

75

mà luôn có cái nhìn lạc quan trong cuộc sống, thậm chí khi nói về cái chết. Suy nghĩ của con người về cái chết cũng đậm chất triết lí. Con người quan niệm chết là điều tất nhiên trong cuộc đời và họ đón nhận cái chết với một tinh thần khá lạc quan: “Nếu chết chẳng là gì ngoài một trò bịp bợm, biết đâu cũng hay ho như trò chơi chữ, nếu cái chết chỉ là tiếng nấc đúng lúc sau đó sự sống tiếp tục như trước kia, thì sao phải rối rít om sòm? Liệu con người có được khước từ sự bất tử này, định mệnh đáng thương này?” [96, tr.177]. Con người quan niệm chết chỉ đơn thuần là sự chuyển giao và do vậy, con người vẫn “sống” mãi: “Mẹ sẽ không chết, mẹ vẫn sống mãi trong con” [96, tr.93], “Nhưng khi có đứa con trong mình, thì ta cho nó cuộc sống của ta, nhất là với đứa con đầu lòng. Cuộc sống không còn đi với mình nữa, không còn là của mình nữa, mà là của đứa bé. Vì thế thật sự là ta không chết, ta chỉ đơn giản chuyển giao cuộc sống, cuộc sống đã có một lúc ở trong ta nay để lại sau” [96, tr.93]. Con người trong tiểu thuyết Coetzee luôn cất lên những tiếng nói đậm chất triết lí về cuộc đời và con người. Tiếng nói ấy được đúc kết từ sự trải nghiệm, trăn trở của cá nhân trước những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống.

Một trong những đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Coetzee là xây dựng nhân vật từ vị trí của chủ nhân trượt sang một vị thế khác. Các nhân vật chủ nhân trong tiểu thuyết của ông đều bị mất quyền năng của “kẻ mạnh”. Họ trở thành những người giàu tình thương, bảo vệ “kẻ khác”, nếu có đấu tranh thì yếu ớt. Vị Quan tòa trong Đợi bọn mọi ban đầu đại diện cho “kẻ mạnh”, cho Đế chế mà ông phục vụ, nhưng sau đó đã chuyển sang vị thế của người khác, bảo vệ bọn mọi rợ, cô gái của tộc người không văn minh. Dám đánh đổi tất cả, từ quyền lợi, địa vị và tính mạng để bảo vệ một nhóm người man rợ ở vùng biên ải xa xôi với thủ đô là biểu hiện đẹp nhất của tình người mà nhà văn Nam Phi Coetzee khám phá, tìm kiếm. Giáo sư David Lurie trong Ruồng bỏ thuộc về tầng lớp tri thức, đại diện cho trí tuệ, văn minh da trắng bị đẩy đến nỗi điếm nhục phải rời bỏ trường Đại học, trở về trang trại nông thôn hoang sơ, tăm tối lánh nạn. Từ vị thế chủ nhân da trắng, có trình độ trí thức cao dù ông đang giảng dạy ngôn ngữ hiện đại và phụ giảng thông tin - một môn học chẳng lấy gì làm hấp dẫn, thậm chí vô lí bị đẩy xuống thành kẻ vô gia cư (không công việc, không gia đình, không nhà cửa...) đứng về phía những kẻ yếu lên tiếng bênh vực họ. Dù kết quả kiện cáo của ông thất bại, nhưng đó là cách ông phản ứng lại bạo lực và vô lí trong xã hội Nam Phi.

Từ lý thuyết của chủ nghĩa thuộc địa và hậu thuộc địa, “kẻ mạnh” là kẻ nắm giữ quyền lực cai trị đối với kẻ khác. Tuy nhiên, giữa Nam Phi rộng lớn và khắc nghiệt, thể chế chính trị không như dư luận thế giới trông thấy, ở đó ranh giới mập mờ kẻ mạnh và kẻ yếu không rõ ràng. Chỉ có bạo lực, trả thù và cướp bóc trở thành văn hóa hiện hữu. Ông chủ và nô lệ trở thành những kẻ tha hóa. Tha hóa của người da trắng như một hình thức sám hối của con người hậu Apartheid.

Con người mang bi kịch tinh thần với những phi lí, tha hóa trong tiểu thuyết của Coetzee còn thể hiện ở sự lưỡng phân, đấu tranh gay gắt giữa: tội lỗi và trách nhiệm, tự do và trách nhiệm (guilt and responsibility and freedom and responsibility). Trước những tình thế va chạm giữa tốt - xấu, chính nghĩa - phi nghĩa,... các nhân vật đều tỏ thái độ hoài nghi. Hành động theo bản năng kiểu con người hậu hiện đại là

76

biểu hiện cách họ sống giữa Nam Phi nhiều phi lí. Các thái cực vô thức - hữu thức, tâm hồn - thể xác, bản năng - tâm linh luôn đặt trong tình thế khó giải quyết nhất. Cuối cùng, Giáo sư David trong Ruồng bỏ không cắt bỏ được cái ấy - cái dương vật của mình, các cuộc tình vẫn diễn ra, niềm cám dỗ của khoái lạc vẫn song hành với lòng tự trọng. Vấn đề tính dục được tác giả trình bày một cách tự nhiên, mọi hành động của nhân vật đều diễn ra bằng sự lôi kéo, thôi thúc mãnh liệt của tiếng gọi khoái lạc. Một sự kiện lớn nhất đánh dấu bi kịch của cuộc đời nhân vật, đó là mối quan hệ của giáo sư David và cô sinh viên Melanie bị tố giác. Hội đồng trường Đại học Cape Town đưa ông ra kỷ luật vi phạm vào điều 3.1, chính xác như lời đưa tin của tờ báo Argus là: “Một giáo sư phải ra trước trước Hội đồng kỷ luật vì tội quấy rối tình dục”. Thực chất của Hội đồng, đó chỉ là một hình thức hạ nhục danh dự đồng nghiệp. Các thành viên của Hội đồng kỷ luật không chỉ muốn ở ông lời thú tội, mà còn tò mò muốn biết chuyện đó xảy ra như thế nào - chuyện thầm kín giữa giáo sư và cô sinh viên. Bằng mọi cách, họ dồn đồng nghiệp đến chân tường, trong lúc ông chỉ nhận thấy một tội lỗi duy nhất: “Tôi là một tín đồ của thần Eros (tội đồ của tình yêu)”. Ông yêu Melanie chân thành và say đắm, và ông không cho rằng đó là một tội lỗi. Một mặt, Melanie là nạn nhân của phiên tòa, chứ không hẳn hoàn toàn là nạn nhân của David. Cô bị cưỡng bức ký vào đơn kiện. Có một bàn tay vô hình nào đó đứng sau vụ kiện này, mà giáo sư David Lurie không thể hình dung được. Như vậy, có thể thấy bằng cách đẩy nhân vật vào hoàn cảnh với tình thế tiến thoái lưỡng nan, mọi quyết định thuộc về bản năng con người hậu hiện đại.

Có thể nói, hầu hết các nhân vật của Coetzee đều bị dồn đẩy đến những cảnh huống phi lí trớ trêu. Magda không hiểu được tại sao cô lại sống ở nơi hoang mạc khô cằn này? Cách nào để chống lại sự cô độc ở đây? Vị Quan tòa không hiểu rõ mục đích cuối cùng của chính phủ truy lùng người mọi rợ để khép tội họ chống phá cướp bóc hay còn một nguyên ngân nào khác? Michael K lại càng không hiểu các trạm kiểm soát, thủ tục giấy tờ thông hành lập ra để làm gì khi có những con người như anh chẳng thể làm hại được ai trong xã hội? Curren đặt ra các nghi vấn về chiến tranh đen - trắng? Rút cuộc cảnh sát và chính phủ đã làm gì cho cuộc sống của nhân dân? Paul Rayment cảm thấy phi lí, đau đớn tột cùng khi nhận thấy ông thật vô dụng, không gia đình, không quê hương, không tình yêu thương,... Nhân vật của Coetzee ý thức rất rõ về hoàn cảnh sống của mình. Họ đối diện với bạo lực, phi lí để nói lên tiếng nói phản tỉnh xã hội, phản tỉnh lương tri trong mỗi cá nhân mình. Tuy nhiên, tất cả đều trơ trọi, trống rỗng, vô vọng, không hạnh phúc, không tương lai. Mọi cố gắng lí giải, đối thoại của các nhân vật đều vô nghĩa. 3.1.2. Con người hoài nghi, cô đơn

Bậc thầy của Coetzee là Franz Kafka. Trong các tiểu thuyết tiêu biểu, chúng ta nhận thấy nhân vật trung tâm của Kafka đều mang ám ảnh về nỗi lo âu, sự tha hóa, lưu đày và cái chết. Từ Hóa thân (1915), Vụ án (1925) đến Lâu đài (1926) đều mang nỗi cô đơn trong thời gian hiện đại. Cô đơn đến mức khát khao được tìm đến nơi nào đó nhưng rốt cuộc họ bị chặn lại trước cửa pháp luật hay trước cổng tòa lâu đài. Họ xuất hiện trong một thế giới kỳ lạ hay một hoàn cảnh trớ trêu, hài hước nào đó. Thế giới mà họ tồn tại ấy trở nên quái dị và lạ lẫm đối với họ từ lúc xảy ra biến

77

cố cho đến lúc chết. Thường các nhân vật đều rơi vào trạng thái cô đơn và không tìm thấy mục đích, ý nghĩa của sự sống mà họ đã từng phải trải qua. Trong Vụ án, Josef K. bị bắt mà không biết nguyên nhân vì sao; đạc điền K trong Lâu đài được mời đến làm việc mà không làm sao vào được nơi đó; trong Hóa thân, Gregor Samsa tỉnh giấc thì thấy mình không là người nữa mà biến thành một con bọ xấu xí, ghê rợn. Đặc biệt, Kafka thành công trong việc thể hiện nỗi cô đơn của con người trong thời gian và không gian quen thuộc. Nỗi cô đơn về thời gian được thể hiện rõ trong nhiều tác phẩm. Đó chính là nỗi cô đơn của con người khi buộc phải từ giã quá khứ, đứng trước thực tại và đối diện với tương lai bấp bênh đầy bí ẩn. Con người trở nên hoang mang, cảm thấy bất ổn và lo sợ. Trong tác phẩm của Kafka, các nhân vật càng cô đơn thì càng khao khát làm được điều mà họ muốn. Nhưng rồi như con người sa lầy, họ càng cựa quậy thì lại càng lún sâu hơn so với lúc ban đầu. Nhân vật của Kafka bị chặn trước cửa pháp luật, trước lâu đài,… bởi những lí do không thể nào lý giải được. Thật ra, Kafka đã dùng cái không có lí để thể hiện cái có lí. Cái có lí kia tồn tại với giá trị thật của nó bởi nó xuất hiện trong khung cảnh hiện thực mà tất cả mọi điều luôn trở nên vô lí lúc nào không biết. Ông thể hiện cái không có lí là để cho con người thấy được xã hội, hiện thực. Kafka sử dụng hình tượng chứ không dùng khái niệm và lý luận để lý giải, chứng minh. Đây cũng chính là điểm khác với Coetzee. Ông luôn trung thành với tính cách thẳng thắn của mình nên để cho nhân vật nói thẳng mọi cảm giác nếu không muốn nói là đôi khi còn thể hiện khá lộ liễu. Ông không đánh đố, không muốn dùng hình ảnh mà để cho nhân vật của mình thốt thành lời.

Văn chương hậu hiện đại thường xây kiểu nhân vật cô đơn, hoài nghi, luôn khát khao đi tìm bản ngã và ý nghĩa cuộc đời. Đây là kiểu nhân tiêu biểu nhất trong tiểu thuyết của Murakami (Nhật Bản). Trong Rừng Na-uy, Watanabe hoài nghi tất cả các giá trị, hoài nghi về đời sống tình cảm của con người. Kizuki và Naoko còn cực đoan hơn, họ không thể chấp nhận thực tế nên đã tự tử. Kizuki tự tử khi anh mới 17 tuổi vì không thể giải thích được những bí ẩn về thân xác. Anh rơi vào sự cô đơn tuyệt đối và đã tìm đến cái chết để giải toả cho những ẩn ức sâu kín đó. Naoko cuối cùng cũng tự tử vì cảm thấy cô đơn, trống rỗng trong tâm hồn, không thể hòa nhập với thế giới. Cũng viết về kiểu con người này, nhưng trong Phía Nam biên giới, phía Tây mặt trời, nhà văn lại có cách nhìn khác. Hajime luôn có cảm giác cô độc, lẻ loi vì mình là con một. Dù có một cuộc sống hạnh phúc nhưng anh luôn thấy thiếu vắng, mải mê theo đuổi một bóng hình trong quá khứ, theo đuổi một cái gì đó thật vô hình như ảo ảnh... Shimamoto-san thì không thể quên được người bạn thời niên thiếu, điều đó thôi thúc cô tìm lại Hajime, khao khát được sống đúng nghĩa với tình yêu dù chỉ một lần.

Không quá rợn ngợp như kiểu con người cô đơn, hoài nghi trong xã hội hậu công nghiệp Nhật Bản, nhà văn Coetzee cũng xây dựng kiểu nhân vật này với những đặc trưng của xã hội Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc. Trạng thái cô đơn, hoài nghi của nhân vật trong tác phẩm của Coetzee xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Có thể chia con người mang nỗi cô đơn trong các tác phẩm của ông gồm cô đơn về không gian địa lí, thời gian vật lí. Nhân vật Magda (Giữa miền

78

đất ấy) cô đơn vì thấy mình cô độc, trống vắng, nhỏ bé trước không gian Phi châu rộng lớn, lạnh lẽo và thời gian lặp lại đơn điệu, tẻ nhạt; Paul Rayment (Người chậm) cô đơn vì sống giữa căn nhà không người thân hay ít người thân như Curren (Tuổi sắt đá). Nỗi cô đơn của Michael K (Cuộc sống và thời đại của Michael K) còn là cô đơn vì bị xua đuổi và rượt đuổi từ không gian này đến không gian khác.

Bản chất chung của những nỗi cô đơn trên là cảm giác của con người thấy trống vắng, lạc lõng, cần sự sẻ chia của người cùng máu mủ, ruột thịt. Họ cần sự che chở, bảo vệ của người thân. Bà già Curren sống xa con gái, mang chứng bệnh ung thư, không có ai bên cạnh. Bà như một dấu chấm trống không giữa bối cảnh Nam Phi bạo lực, chết chóc. Hàng ngày bà viết thư cho con gái để tâm sự những chuyện đã, đang diễn ra nhưng thực chất là bà viết cho chính bà. Bà giãi bày tâm sự, kể lể trên trang giấy là cách bà có thể cảm thấy thoải mái mong lấy được chút sức mạnh để vượt qua những nỗi đau mà bệnh tật hành hạ thân xác. Còn Magda, cô gái mồ côi mẹ, không có người tâm sự thì suốt ngày quan sát nông trại, cuộc sống bó hẹp trong ngôi nhà hình chữ H, hồi tưởng về những chuyện đã qua, liên tưởng về những điều sắp xảy đến. Cô mắc chứng bệnh hoang tưởng cho nên những sự kiện chắp vá lộn xộn. Cô không còn mẹ, sống với người cha khắc nghiệt nên cuộc sống bị giam hãm trong cô đơn, chỉ biết mơ mộng, tưởng tượng và khát khao giữa chốn Phi châu rộng lớn đơn lạnh. Đó là nỗi cô đơn của một cô gái bị dồn nén về tâm sinh lí. Cảm giác cô đơn của Magda không chỉ vì thiếu tình thương của người mẹ mà còn vì không gian tối tăm, giữa cuộc sống không bạn bè, không người thân yêu chia sẻ. Công việc hằng ngày của cô quanh quẩn bên bếp núc nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa và phục vụ người cha cứ lặp đi lặp lại. Đối với người thân duy nhất là cha, cô chỉ có cảm giác sợ hãi chứ không là là chỗ dựa được che chở. Magda nhận thấy: “có lẽ không chỉ có gian bếp vắng người, cái chảo lạnh, những dãy đồ đồng bóng loáng và sự vắng mặt - hai sự vắng mặt, ba sự vắng mặt, bốn sự vắng mặt, cha tôi đẻ ra sự vắng mặt. Ông đi đến đâu là để lại sau mình sự vắng mặt. Sự vắng mặt của ông, trên tất cả - một sự hiện diện lạnh tanh, u tối, tự nó là một sự dằn vặt, một cái bóng linh hoạt làm lạnh giá con tim” [93, tr.73]. Cô thấy cần “phải có nhiều cách khác để lấp đầy sự trống rỗng chứ không phải là phủi bụi, quét dọn, đánh xi sàn nhà” [93, tr.222]. Nỗi cô đơn về không gian cùng với thân phận khổ đau, bất lực đẩy Magda đến tuyệt vọng. “Những đau khổ, ghen tuông, cô đơn có chỗ của chúng trong đêm Phi châu không?” [93, tr.23]; “Quá nhiều bất hạnh, quá nhiều cô đơn đã biến tôi thành con vật” [93, tr.102]. Cô đã nhận ra “cái tôi coi là sự đau khổ, chỉ là sự cô độc, bắt đầu mất dần” [93, tr.110]. Chính vì vậy, Magda muốn lấp đầy những khoảng không vắng lặng trong đêm khuya của Phi châu bằng những giấc mơ về đàn ông và lấp đầy sự nhàm chán đơn điệu của cuộc sống bằng những tưởng tượng hãi hùng. Cô đã biến đời mình thành câu chuyện hư cấu vì buồn phiền và tẻ nhạt.

Con người trong tiểu thuyết Coetzee thường cô đơn, bị bỏ rơi lạc lõng, xa lạ với thực tại đời sống. Một trong những nguyên nhân xuất phát từ phía cộng đồng ruồng bỏ, xa lánh với nhiều lí do khác nhau. Trong tiểu thuyết Tuổi sắt đá, Vercueil là một kẻ vô gia cư, nghiện rượu, hình ảnh tiêu biểu cho con người cô đơn, lạc lõng. Vốn là một thủy thủ lành nghề, nhưng sau tai nạn, Vercueil bị tật nguyền và không

79

thể tiếp tục công việc. Không có việc, anh trở thành người lang thang sống trong “một cuộc sống không tình thương, không giới hạn” [96, tr.29]. Trong suy nghĩ của Florence, “anh ta sống ở đây nhưng là đồ bỏ đi, đồ vô tích sự” [96, tr.28]. Với bà Curren, người đã động lòng thương và cưu mang anh, thì anh ta “chỉ như loại côn trùng nấp trong khe tường, chờ lúc tối đèn bò ra sục sạo” [96, tr.8]. Michael K trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K cũng là nhân vật tiêu biểu cho hình tượng con người cô đơn, lạc lõng, bị xua đuổi, bỏ rơi. Đúng như tên gọi Cuộc đời và thời đại của Michael K, tiểu thuyết này là câu chuyện về cuộc đời và thời đại của nhân vật chính Michael K. Ngay từ khi sinh ra, Michael K đã là một đứa bé khiếm khuyết: “Môi nó cong lên như chân con sên, còn lỗ mũi trái thì hở toang hoác”, “nó không ngậm lại được và chỗ thịt đỏ tươi trông rõ mồn một”, “đứa hài nhi không sao bú được, mà miệng thì lúc nào cũng khóc đòi ăn” [95, tr.13]. Cùng với vẻ ngoài khiếm khuyết ấy là “đầu óc chậm hiểu” [95, tr.14] do suy nhược, vì thế Michael K bị chuyển đến Trung tâm Huis Norenius, sống hết thời thơ ấu cùng với những đứa trẻ không may mắn và mắc những bệnh khác nhau. Lớn lên, Michael K làm việc ở bộ phận Công viên cây xanh và chính thức trở thành một người thợ làm vườn. Thời đại của Michael K là thời chiến tranh giữa những người cầm quyền da trắng và quân du kích đấu tranh lật đổ chính quyền độc tài Apartheid tại Nam Phi. Sau khi mẹ chết, Michael K bị bắt và bị đưa vào trại tập trung với sự xa lánh và miệt thị của cộng đồng: “Họ nói là chúng ta mang bệnh tật. Không vệ sinh. Không đạo đức. Một ổ xấu xa, gồm một lũ cả đàn ông lẫn đàn bà” [95, tr.149]. Với mọi người, Michael K thuộc về một thế giới khác: “Anh ta không thuộc về thế giới của chúng ta. Anh ta sống trong thế giới của riêng anh ta” [95, tr.250]. Sống ở trại tập trung, Michael K bị xem là một sinh vật thừa, hoang dã và vô hại bởi “cậu đui mù, cậu không thấy được thực tế quanh cậu” [95, tr.142]. Có thể xem K biểu tượng cho sự vô nghĩa về thân phận con người cô đơn ở Nam Phi thời đại Apartheid. Anh ta trôi dạt từ không gian này đến không gian khác đều không ảnh hưởng đến xã hội loài người. Nhưng như một sự phi lí, K lại phải chạy trốn để mất tích khỏi xã hội loài người.

Bên cạnh con người mang cảm giác cô đơn, lạc lõng vì bị cộng đồng ruồng bỏ và xa lánh, nhân vật trong tiểu thuyết Coetzee còn tự ý thức bản thân họ không thể hòa nhập với thực tại đời sống, đành chấp nhận lẩn tránh để cô đơn, trốn chạy. Họ vốn là những trí thức có vị trí ảnh hưởng nhất định trong xã hội nhưng đã hết thời, bị thất thế, sa cơ hoặc sống lạc điệu, không hòa nhập với thực tại. Ý thức bản thân lạc lõng và thừa thãi trong cuộc sống dẫn họ rơi vào bi kịch, chịu nhiều đau khổ và giằng xé.

David Lurie trong tiểu thuyết Ruồng bỏ là kiểu con người ngụ ngôn cho tầng lớp trí thức hết thời, người già thừa thãi trong xã hội. Trước kia, ông là giáo sư dạy ngôn ngữ hiện đại nhưng “từ khi ngôn ngữ cổ điển và hiện đại bị cuộc hợp lý hóa vĩ đại bóp chết, ông là giáo sư phụ giảng môn Thông tin” [97, tr.8]. Chuyên môn bị “bóp chết”, ông vẫn tiếp tục việc giảng dạy vì “nó cho ông một kế sinh nhai; nó cũng cho ông sự nhún nhường, giúp ông hiểu ông là ai trên cõi đời này” [97, tr.10]. Sau khi mối quan hệ giữa ông và nữ sinh viên Melanie bị tố giác, ông bị hạ nhục và xúc phạm nhân phẩm. Tại phiên chất vấn, “họ quay tròn quanh ông giống những

80

người đi săn dồn con thú vào một góc và không biết giết nó bằng cách nào” [97, tr.78]. David bị tách khỏi cộng đồng, ông chính thức rơi vào bi kịch với nỗi ám ảnh bị ruồng bỏ. Bị ruồng bỏ ở Cape Town, David đến trang trại động vật để sinh sống với con gái. Ông thấm thía bi kịch, chua xót hoàn cảnh mà thốt lên: “Thật là nhục… giống như một con chó” [97, tr.267]. Và cuối cùng, “tôi bỏ nó” [97, tr.287]. David từ bỏ con chó hay đang từ bỏ chính ông? Có lẽ đều như nhau bởi cả hai đều là những mảnh đời cô đơn, lạc lõng giữa xã hội bất công.

Trong tiểu thuyết Tuổi sắt đá, Curren cũng là con người như thế. Suốt cuộc đời bà chứng kiến và chống lại sự tàn bạo của chế độ phân biệt chủng tộc. Bà đã chứng kiến một vụ đốt phá thị trấn của người da đen, nơi ấy bà thấy xác đứa con trai người giúp việc. Một thiếu niên da đen trốn chạy trong nhà bà cũng bị các lực lượng an ninh bắn giết. Mặc dù bà đã cố can ngăn nhưng đành bất lực vì bà “không có tiếng nói” [96, tr.108]. Nỗi thất vọng tràn ngập trong lòng, bà cảm tưởng mình là người vô hình trong xã hội: “Một ảo ảnh sẽ bất ngờ đem mẹ đi khỏi ngôi nhà trống này, để mặt trời chiếu qua cửa sổ vào chiếc phòng không, hoặc đem mẹ tới vịnh Giả Tạo có nền trời xanh trong veo, phẳng lặng, đến một thế giới mẹ đã sống cả đời nhưng trong đó không có mẹ” [96, tr.16]. Bà nghĩ mình thuộc về một thế giới khác, một thế giới có tình thương. Bà nghĩ: “Tôi thuộc về cái gì đã thành xưa cũ” [96, tr.44]. Bà cô đơn, lạc lõng ở nơi bà sinh sống, ngay đất nước bà. Dù đang sống trên quê hương, song bà vẫn chua xót thốt lên: “Tôi là dân biệt xứ” [96, tr.136]... Nhìn chung, Coetzee chiêm nghiệm khá sâu sắc về con người hiện đại. Con người hoài nghi về sự tồn tại cá nhân, cô đơn, lạc lõng và không hòa nhập với thực tại. Do vậy, con người trong tiểu thuyết của ông thường đau khổ, giằng xé và rơi dần vào bi kịch. Đó là điều mà nhà văn trăn trở và muốn triết luận với bạn đọc.

Con người hoài nghi chiếm vị trí chủ đạo trong tiểu thuyết của Coetzee. Khi niềm tin đổ vỡ, con người hoài nghi tất cả, thậm chí hoài nghi chính mình. Con người trong tiểu thuyết của ông thường băn khoăn, trăn trở về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong tiểu thuyết Người chậm, Paul Rayment là nhân vật phát ngôn thay cho nhà văn về những vấn đề cần suy ngẫm, luận bàn. Trong cuộc sống của mỗi người, điều gì là quan trọng nhất? “Tổ ấm” là gì? Được yêu thương hay được chăm nom, điều nào tốt đẹp hơn? Ở tuổi sáu mươi, một tai nạn bất ngờ ập đến, Paul nhìn lại quãng đời đã qua và nghĩ đến gia đình. Paul có cha, mẹ và một chị gái nhưng ông không chắc mình đã có gia đình bởi “những người ấy đang sống cuộc đời của mình, còn ông thì đã sinh ra nhưng chưa chết” [98, tr.16]. Paul có thể xác định rõ rằng mình không có vợ và con cái. Mặc dù Paul đã từng kết hôn nhưng người bạn đời ấy đã không còn là của ông, vì “bà đã trốn vào cuộc đời của mình” [98, tr.17]. Paul hoài nghi về hai tiếng “gia đình”, về thứ gọi là “tổ ấm”, “vậy lần này mình thuộc về đâu? [98, tr.273]. Paul hoài nghi cuộc sống thực tại. Mất một chân, Paul rơi vào một cuộc sống bị hạn chế nhưng “một cuộc sống bị hạn chế thì không đáng sống chăng?” [98, tr.40]. Trong tiểu thuyết Đợi bọn mọi, viên Quan tòa hoài nghi về Đế chế, về ý nghĩa công việc mà ông thực hiện bấy lâu. Trong nhiều thập kỷ, viên Quan tòa là người đầy tớ trung thành của Đế chế, hàng ngày đốt thời gian ở vùng biên giới để quản lý đất công, giám sát việc đồn trú và lo nhiều việc khác cho Đế chế. Trong cuộc chiến giữa Đế chế với tộc người mọi, ông có vị trí khá quan trọng.

81

Thế nhưng, khi trực tiếp chứng kiến biết bao cảnh tàn bạo và bất công với tù nhân chiến tranh, viên Quan tòa xót thương cho họ và hoài nghi về bản chất của Đế chế. Viên Quan tòa tự hỏi có gì khác nhau giữa Đế chế với tộc người mọi kia khi những con người mang danh văn minh lại thực hiện những hành động dã man, phi nhân tính. Họ là những “con chó rừng của Đế chế đội lốt cừu” [94, tr.155]. Hoài nghi về bản chất của Đế chế, viên Quan tòa hoài nghi về bản chất con người: “Tôi cảm thấy bản thân cũng đang thắc mắc liệu ông ta có tiến hành nghi lễ rửa tội riêng sau những khung cửa đóng chặt trước khi trở về dùng bữa với những người khác hay không hoặc phải chăng Cục đã tạo ra một giống người mới có thể sống thanh thản giữa những tội lỗi bẩn thỉu và sự vô tội?” [94, tr.33]. Hoài nghi thực tại, con người trong tiểu thuyết Coetzee luôn tìm cách lí giải những thắc mắc của bản thân. Càng đi sâu lí giải vấn đề, họ càng gặp nhiều vướng mắc, thậm chí rơi dần vào bi kịch tinh thần. Không chỉ hoài nghi mọi thứ xung quanh, con người còn hoài nghi chính mình. Vị giáo sư David Lurie (Ruồng bỏ), viên Quan tòa (Đợi bọn mọi), nhà nhiếp ảnh Paul Rayment, nữ văn sĩ Elizabeth Costello (Người chậm), người thợ làm vườn Michael K (Cuộc đời và thời đại của Michael K) đều hoài nghi về sự tồn tại của cá nhân trong xã hội. Niềm tin tuyệt đối của con người bị phá vỡ, đứt gãy và phân mảnh. Con người giờ đây không tròn vẹn, không đủ đầy, mà là những phiến vỡ phi trung tâm được đặt gần nhau nhưng lại bất lực trong việc làm tròn lẫn nhau. Khắc họa con người hoài nghi, Coetzee vừa muốn phản ánh hiện thực, vừa muốn nghiền ngẫm hiện thực. Ông mang đến một thế giới rạn nứt, vỡ vụn, bất tín và hoài nghi về các giá trị nhân bản trong việc giải quyết các xung đột xã hội. 3.2. Kiểu con ngƣời bị ruồng bỏ, bị chấn thƣơng gắn với cảm thức lƣu vong 3.2.1. Con người bị ruồng bỏ

Bi kịch lớn nhất của con người trong tiểu thuyết của Coetzee đó là bị ruồng bỏ, xa lánh. Không chỉ xảy ra với người da đen mà cả người da trắng cũng vậy. Đó là những người bị đẩy đến trạng thái cô đơn, mất kết nối với thế giới bên ngoài. Cuối cùng họ rơi vào trạng thái mê sảng. Trong trạng thái mê sảng, các nhân vật của Coetzee cố gắng đối thoại với xung quanh, độc thoại với chính mình để khẳng định sự tồn tại.

3.2.1.1. Con người độc thoại, mê sảng

(20) Hoàng Ngọc Tuấn dịch từ Nguyên tác: “Postmodernism and Literature, or: Word Salad Days, 1960-90″, trong The Icon Critical Dictionary of Postmodern Thought, ed. Stuart Sim (Cambridge: Icon Books, 1998), [192].

Con người độc thoại, mê sảng là kiểu con người bị mất phương hướng, không có khả năng suy nghĩ rõ ràng, rơi vào trạng thái lưỡng phân trong những cảnh huống tỉnh táo nhất. Tính cách đa nghi hoang tưởng (paranoia), hay nguy cơ bị chìm ngập hoàn toàn vào hệ thống của người khác, thường được cảm nhận một cách nhạy bén bởi những nhân vật chính (dramatis personae) trong tác phẩm hư cấu hậu hiện đại. “Lối viết hậu hiện đại phản ánh những mối lo lắng mang tính đa nghi hoang tưởng bằng nhiều cách, gồm có: sự hoài nghi đối với những gì cố định, đối với việc bị hạn chế trong bất cứ nơi chốn nào hay danh tính nào, sự tin chắc rằng xã hội âm mưu chống lại cá nhân, và sự bội tăng của những mưu đồ tự tạo để chống lại kế hoạch của những người khác(20)”.

82

Nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee dường như bị rơi vào trạng thái mê sảng khi đối diện với hiện thực chính trị Nam Phi. Bà già Curren trong Tuổi sắt đá ngập chìm trong nỗi nhớ con da diết, mất phương hướng giữa đen và trắng, giữa thực tại và bệnh tật, giữa những thanh niên da đen bạo động và đội quân cảnh sát bảo vệ người da trắng. Vị Quan tòa trong Đợi bọn mọi nhận ra ở vùng biên ải xa xôi không hề tồn tại cái gọi là bọn mọi như Đế chế mà ông đang phục vụ săn lùng. Phi lí, huyễn tưởng buộc vị Quan tòa này chấp nhận các cuộc săn lùng để rồi nhận lại những kết quả mà ngay từ đầu ông đã biết trước. Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K trở thành kẻ cô độc nhất thế gian trong hành trình tìm kiếm bản thể và kết nối với xã hội bên ngoài. Cách Michael K im lặng để rơi vào trạng thái lưỡng phân không biết sẽ phải lựa chọn cách sống nào? Ở đâu? Thành phố hay nông thôn? Sống hay không sống? Sống như thế nào giữa sự bủa vây của chiến tranh, bạo lực phi lí? Magda trong Giữa miền đất ấy càng hoảng loạn hơn khi đối diện với cuộc xung đột đen - trắng xảy ra. Cô bị mất phương hướng tâm trí khi sống cô độc trong nông trang lạnh lẽo không có tình thương.

Nếu như Michael K đã làm người đọc không khỏi thương hại thì nhân vật Magda trong Giữa miền đất ấy cũng gây xót xa khi là nhân vật đại diện cho những bất lực, cho một nỗi cô đơn khác. Cô gái Magda không bất hạnh và cô đơn theo kiểu Michael K mà cô đơn ngay trong tư tưởng, linh hồn của mình. Chính sự bất lực, bực dọc dồn ép tâm sinh lý làm cô trở thành một con bệnh tâm thần. Xuất thân là con gái của một ông chủ chuyên quyền da trắng, Magda lại là cầu nối ôn hòa của mối quan hệ giữa nô lệ và người làm chủ da trắng. Đứng ở ranh giới của sự mâu thuẫn ấy, cô gái đã giãi bày ra những u uất của một người da trắng mang tâm trạng buồn chán và bất lực như một người phục dịch da màu. Tâm trạng buồn chán của cô trước tiên xuất phát từ cuộc sống cô lẻ của một cô gái mồ côi mẹ, mất anh trai, không được nhận lấy chút tình cảm yêu thương, quan tâm của người thân. Tuổi thơ của cô là những chuỗi ngày buồn. Cô chỉ là con bé cau có, tóc loăn xoăn, sống cùng với lũ con của bọn đầy tớ: “Tôi lớn lên giữa lũ con của các gia nhân. Xưa kia, tôi nói năng như chúng, ngôn ngữ của tôi đã thay đổi. Tôi chơi các trò chơi của chúng: đất, sỏi, gậy” [93, tr.17]. Cô gái còn phải sống những ngày nhàm chán đến đáng sợ ở mảnh đất sa mạc xa xôi, hẻo lánh. Hàng ngày, cô cùng những người làm công cho cha làm những việc bếp núc. Đêm đến, cô lại lủi thủi giam mình trong chốn riêng tư tối tăm của bốn bức tường hiu quạnh để nghiền ngẫm những bức xúc, u uất của cơ thể, của cuộc sống. Cô không có tuổi thanh xuân, cái cô sở hữu chỉ là sự héo gầy của một gái già trinh tiết. Cô luôn tưởng tượng ra những tương lai mù mịt của mình: “Trong cái xà lim ẩn cư, tôi trở thành mụ già điên, hình ảnh của mình sau này, quần áo rách rưới gớm ghiếc, lưng gù bướu, chân khoèo đầy chai cứng như sừng. Một cái miệng tuôn ra những câu lảm nhảm, cái ngáp buồn chán, chẳng có gì xảy ra cả, một giọng nói khô khan hùa theo những màu mè điên rồ kia mà chỉ đêm sâu mới có thể dung thứ.” [93, tr.20]. Cô gái như luôn thấy trước viễn cảnh đáng buồn của mình vì cô đã ý thức được hiện tại không mấy tốt đẹp của mình. Cô đơn, cô độc luôn vây hãm lấy cô. Cô tự nhủ “sẽ vui biết bao, nếu được là một cô gái xấu xí bình thường, thừa kế cái xấu xí một cách bình thản, đầu óc rỗng tuếch, chỉ có mong muốn duy

83

nhất là lấy chồng, sẵn sàng hiến cả thể chất lẫn tâm hồn cho người đàn ông đầu tiên nào muốn nàng, dù đó là một anh chàng bán hàng rong hay một giáo sư dạy ngôn ngữ Latinh lưu động, sinh cho anh ta sáu đứa con gái, chịu đựng những đòn mắng chửi của anh ta, sống cuộc đời tăm tối và xứng đáng thay vì việc tôi cứ đứng soi mình trong gương, tì xuống khuỷu tay, trong lúc xung quanh tối sầm những đám mây của định mệnh” [93, tr.46]. Bất lực thay, cô nhận ra mình là một người phụ nữ nhưng không thể thực hiện được chức năng của một người đàn bà: “Tôi là một cái bao, một cái dạ con, che chở cho cái bên trong rỗng tuếch. Sự hiện diện của tôi trên thế giới này không phải là sự hiện diện của một lưỡi dao rạch gió, cũng không phải là sự hiện diện của một kiến trúc có mắt, theo kiểu cha tôi, nó là một cái lỗ, một cái lỗ bao quanh là một cơ thể… Tôi có ý thức rằng giữa cặp đùi có một cái lỗ mà tôi không thể lấp đầy, cũng như cái lỗ thứ hai mà nó dẫn tới. Đôi khi tôi tự thuyết phục nếu tôi là một con số không, đó là vì tôi là một người đàn bà” [93, tr.80]. Với nhiều nguyên nhân để dẫn đến một Magda hoảng loạn, điên khùng, mê sảng chính là không thể trở thành phụ nữ đúng nghĩa.

Cách miêu tả của tác giả cũng phần nào thể hiện nỗi bực dọc, bất lực của nhân vật. Cô không chỉ nếm trải nỗi đau của một thân thể tiều tụy, một người đàn bà không biết đến đàn ông, không có con cái mà còn thấy đơn lạnh giữa miền đất sa mạc hoang vắng. Cô chỉ biết “tôi tồn tại trong một thân hình, ở trong một ngôi nhà, không một cử chỉ nào của tôi có thể mở ra thế giới cho tôi vào đời. Tôi là một dòng thác tiếng động chảy vào vũ trụ, vốn là một hằng hà vô số những hạt nhỏ đang khóc than, rên rỉ, nghiến răng” [93, tr.23]. Vì vậy, nỗi cô đơn của cô còn là sự trống trải, vắng vẻ của không gian cô đang sống: “Tôi tiếp tục giả định rằng chúng tôi có hàng xóm, mà không để ý rằng chẳng có dấu vết của người hàng xóm nào” [93, tr.80]. Không gian buồn chán đến mức cô tự nghiền ngẫm, tức giận một mình: “Giữa bốn bức tường, cơn điên giận của tôi biết nhằm vào đâu. Bị dội lại từ những mảng thạch cao, từ nền nhà lát gạch, từ những tấm ván, từ những mảnh giấy màu, cơn giận dữ tràn lên, dội lại chính tôi, dính vào da, thấm vào người” [93, tr.81].

Những gì diễn ra với nhân vật chỉ là nỗi chán chường, lo sợ, tức giận cùng những ước ao, khát khao thầm kín. Chính điều đó khiến người đọc tự cảm được nỗi cô đơn mà nhân vật đang trải qua. Dưới con mắt của kẻ bệnh tâm thần, mọi việc được diễn tả theo nhiều trạng huống khác nhau. Tuy nhiên, dù trạng huống nào thì kết quả của sự việc tưởng tượng vẫn không chút sáng sủa. Nhân vật như chìm hẳn trong một mê cung ngôn ngữ những ngột ngạt, bực dọc, than thở, chán nản. Điều duy nhất có thể giúp nhân vật bám víu vào cuộc sống chỉ có thể là những ảo ảnh, những tưởng tượng mong lấp đầy những cái trống vắng, những cái lỗ rỗng tuếch kia. Cách kết thúc lửng câu chuyện cùng với suy nghĩ của nhân vật đã cho chúng ta suy đoán được số phận của cô: “Tôi đã lựa chọn chính số phận mình, trong mọi lúc, là được chết ở đây, trong mảnh vườn hoa đá này… trong một không gian rung ngân tiếng vọng của những bài ca tôi đã có thể viết, nhưng không bao giờ viết, vì rằng, (tôi nghĩ thế), tiếng đó dễ dàng quá” [93, tr.258].

Để tạo nên kiểu con người độc thoại, mê sảng với nỗi cô đơn cùng cực, Coetzee đã đẩy nhân vật vào không gian chật chội, quen thuộc, lặp lại, nhàm chán.

84

Hình thức trên chúng ta bắt gặp trong sáng tác của bậc tiền bối Kafka. Nhà văn người Tiệp Khắc này cũng xây dựng không gian đóng kín, chật hẹp và thời gian không ánh sáng, sử dụng những màu sắc tối tăm hoặc nhạt nhòa tê buốt để diễn tả tính trạng cô đơn, tuyệt vọng, không thể cứu vãn của con người. Trong Lâu đài, Vụ án, Kafka sử dụng nhiều yếu tố như: đường phố, nhà trọ, tòa án, ngân hàng, khu văn phòng, các toa tàu, chức danh nghề nghiệp, gian phòng ngủ… Tất cả các chất liệu này được nhà văn làm cho biến dạng đi, tổ chức lại theo kiểu quái dị, ngột ngạt, khác hẳn với đời sống thực. Kết hợp các yếu tố huyền ảo như: người biến thành bọ, con người có khả năng biến hình, con đường hun hút dẫn đến lâu đài… không gian chật hẹp này đã đẩy con người đến tình trạng lạc lõng, cô đơn, bơ vơ, xa lạ, phi lí nhất có thể. Tương tự như trong Giữa miền đất ấy, Coetzee xây dựng nên không gian ngôi nhà hình chữ H khép kín, quẩn quanh, lặp lại quen thuộc. Nhân vật chỉ di chuyển từ khu bếp vào phòng ngủ, từ hàng lang đến chỗ khoảng đất mà Magda có thể thấy người làm công. Thế giới bên ngoài ngôi nhà chỉ xuất hiện trong trí tưởng tượng của cô. Giữa hoang mạc rộng lớn của cát, bụi, ruồi, mùi hôi… Magda trở thành kẻ cô đơn nhất thế gian. Cô đơn đên mức các cuộc hội thoại giữa cô với cha mình, giữa cô và người làm công chỉ diễn ra khi cần thiết. Tuy nhiên, không gian trong tiểu thuyết của Coetzee là không gian sống thật, không bị biến dạng, không phi lí, méo mó. Tất cả hiện ra như một Nam Phi vốn có.

Có thể nói độc thoại, mê sảng là kiểu nhân vật của văn chương hậu hiện đại khi bị đẩy đến mức tột cùng của cô đơn, bế tắc. Dù chưa phải là tuyệt vọng như các nhân vật trong sáng tác của Kafka, Beckett, nhưng người đọc vẫn nhận thấy nhân vật của Coetzee có những bi quan, chán chường trong cuộc vật lộn khẳng định nhân vị của mình ở hoang mạc Nam Phi.

3.2.1.2. Con người mất kết nối với thế giới bên ngoài Con người hậu hiện đại bị đẩy ra khỏi trục quỹ đạo của sự sống, họ tìm cách bấu víu để xác định lại phương hướng, nhưng càng tìm kiếm càng thấy cô đơn, lạc lõng, càng mất kết nối. Các nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee đều mất kết nối với thế giới bên ngoài căn nhà, nông trang, con đường, đất nước khác. Ngay chính với tâm hồn của mình họ cũng trở nên vô định.

Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K tìm mọi cách kết nối với bên ngoài xã hội loài người để có thể đưa tro cốt của mẹ mình về vùng nông thôn để an táng. Nhưng tất cả đều từ chối hoặc im lặng. Không ai cấp giấy thông hành cho anh đi qua những tuyến đường đầy binh lính và súng đạn. Anh tìm mọi cách để nhận sự hỗ trợ xung quanh, nhưng đều mất hút. Cuối cùng anh đành chấp nhận tự bản thân mình thoát khỏi thành phố. Hành trình trở về nông thôn của anh cũng là hành trình anh kết nối với xung quanh nhưng tất cả đều vô nghĩa, ngay cả bản thân anh. Anh cũng không muốn kết nối với quá khứ của mình, không gia đình, không người thân thích, không điểm đến cụ thể, không công việc... Tất cả đều rơi vào trạng thái hư vô, để rồi K sống theo tự nhiên như cỏ cây, côn trùng,...

Trong tiểu thuyết Giữa miền đất ấy, nhân vật chính là cô gái già Magda bị đẩy vào cảnh huống cô đơn, lạc lõng, khao khát sự thừa nhận từ cha cô. “Cha tôi không thèm quan tâm đến” [93, tr.9]. Cha cô không chú ý đến cô, nhưng có quan hệ

85

tình cảm với Klein Anna. Magda giết cha mình và cố gắng điều hành trang trại, nhưng cô phát hiện ra rằng điều đó không giải quyết được vấn đề cô đơn của mình. Magda bị cô lập giữa Nam Phi rộng lớn. Xung quanh Magda không có một người nào để nói chuyện, giao tiếp. Ngoài cha của mình, hai người làm công trong trang trại là Hendrik và Klein Anna, cô không còn ai hết. Những cuộc hội thoại chỉ dừng lại trong công việc, ngắn, khô khốc. Cô cảm thấy không có kết nối. Giữa hoang mạc rộng lớn, “tôi chỉ là một đại lượng hư vô, một sự trống rỗng mà hướng về nó tất cả đều nghiêng ngả, chìm đắm, một sự nhiễu loạn trong không khí, ngột ngạt, xám xịt như một làn hơi lạnh giá, quay cuồng trong những hành lang bỏ không, thù hận” [93, tr.9,10]. Magda cố giãy giụa giữa căn nhà hình chữ H để đấu tranh chống lại sự cô đơn, “nếu cần, tôi đấu tranh để khỏi trở thành kẻ bị lịch sử lãng quên” [93, tr.12]. Tuy nhiên, cô càng phản kháng, càng tìm mọi cách kết nối thì dường như ở đây đều quay lưng lại bằng sự thờ ơ của những người xung quanh, buộc phải hài lòng giam mình trong cái bẫy của những cơn điên giận. Tự nhận mình là “một cô gái già có trái tim cuồng loạn, chẳng thuộc về nơi đâu” [93, tr.13], Magda bất lực thấy cuộc đời của mình đáng thương, tẻ nhạt, ảm đạm, một câu chuyện ngớ ngẩn, trong ngõ cụt, chẳng biết tí gì đến những dị bản sung sướng.

Một trong những hàng rào ngăn cản phân cách giữa Magda với thế giới bên ngoài là ngôn ngữ. Thuở ấu thơ, cô lớn lên cùng với đám gia nhân, chơi các trò chơi với chúng: đất, roi, gậy nhưng “những từ ngữ của tôi không giống những từ ngữ thông dụng giữa con người” [93, tr.19]. Ngôn ngữ là phương tiện duy nhất để cô kết nối với loài người, với môi trường xung quanh, tuy nhiên “từ ngữ của tôi trở nên méo mó, mù mờ, ngôn ngữ đích thực là ngôn ngữ của dấu hiệu, những biểu hiện trên khuôn mặt hay đôi tay, tư thế của vai hay chân, những sắc thái âm thanh hay những tiếng kêu, những quãng lặng” [93, tr.19]. Magda mò mẫm trong đêm tối ngôn ngữ để tìm sự thấu hiểu, đồng cảm, giao cảm với cuộc đời những hố sâu ngăn cách quá lớn không cho phép cô chạm ngưỡng cuộc đời. Miệng lảm nhảm thứ ngôn ngữ vô nghĩa kèm theo “một giọng nói khô khan hùa theo những màu mè điên rồ mà chỉ đêm sâu mới có thể dung thứ” [93, tr.20].

Hàng rào ngăn cản Magda không thể kết nối với môi trường bên ngoài tất nhiên chính là tình trạng bất bình đẳng kéo dài. Trên cùng một trang nhật kí, cô mô tả sự tách rời khỏi những người bạn chơi của mình (chương 16). Mặc cảm lớn nhất của Magda về sự thiếu vắng đến không thể hiểu được. “Không có giấc mơ về một thời vàng son nhuốm vẻ u sầu, huyền thoại về một thiên đường đã mất, kỉ niệm bi đát về sự bị đuổi đi, tôi sẽ sống sót thế nào trong sự dằn vặt bởi một nỗi thiếu vắng không thể nào hiểu được” [93, tr.18].

Magda, với mong muốn thay đổi cuộc đời của mình để giao tiếp với thế giới bên ngoài, cô đã giết chết cha mình. Nhưng giết người nắm quyền lực không làm thay đổi cấu trúc quyền lực. Trong cuộc hội thoại giữa cô với Anna (ở chương 203), khi chỉ có hai người phụ nữ trong căn nhà hình chữ H, Magda hỏi “cô không muốn ngủ trên một cái giường đích thực ư?” và Anna đáp lại là “không, thưa cô”. Magda muốn Anna gọi mình là Magda chứ không phải là “Cô Magda” nhưng Anna trả lời: “Không, thưa cô, tôi không thể”. Tất cả mọi nỗ lực để giao tiếp, kết nối, giao cảm

86

của Magda thất bại, cô sống cô đơn, lạc lõng giữa Nam Phi da đen rộng lớn, ngăn cách. Bởi trong xã hội Apartheid của Nam Phi, một người da trắng được sinh ra với những đặc quyền đáng kinh ngạc, với nhiều quyền hơn bất kỳ người da đen nào. Và Magda thuộc về da trắng quyền lực.

Một trong những đặc điểm lịch sử trong xã hội Apartheid là tồn tại các mối quan hệ: da trắng - nam giới - phụ nữ - da đen. Được sắp xếp theo thứ tự sau: nam giới da trắng, phụ nữ da trắng, nam giới da đen, phụ nữ da đen. Magda đã nhầm lẫn giữa quyền lực nam giới da trắng và phụ nữ da trắng. Những tưởng sau khi cha cô chết, quyền lực sẽ nằm trong tay cô, với ước muốn làm chủ trang trại, giao tiếp với xã hội bên ngoài. Nhưng bi kịch đã xảy ra vì Magda đã không tuân theo một tư tưởng quyền lực ở đây. Và cũng có thể, Magda một lần nữa không nhận ra rằng cô có cả một hệ thống sức mạnh để hỗ trợ mình. Hệ thống Apartheid làm cho diễn ngôn này có thể xảy ra. Cả Hendrik và Anna đều là sản phẩm của hệ thống quyền lực: da đen. Nếu không vâng lời, tuân thủ quy định họ sẽ bị trừng phạt. Nhưng trong hệ thống phân cấp, sau nam giới da trắng là nam giới da đen chứ không phải là phụ nữ da trắng. Cho nên, Magda đã bị Hendrik trả thù, cưỡng đoạt, dồn đẩy cô đến trắng tay. Như vậy, với những nỗ lực liên kết với xã hội bên ngoài mãnh liệt của Magda, nhưng cuối cùng cô đã thất bại đau đớn, bi kịch đẩy đến cao trào. Kết thúc tiểu thuyết là câu hỏi đầy đau đớn của cô: “Tôi đến đây làm gì, trên miền biên cương hoang dã này?” [93, tr.257]. Ở đâu đó có câu trả lời, nhưng không may mắn cho Magda cô đã không tìm thấy đáp án trong những quyển sách có đáp án. Những trang tiểu thuyết của Coetzee luôn đặt nhân vật của mình vào những hoàn cảnh buộc họ phải tự di chuyển đến miền kết nối, nhưng tất cả rơi vào những bi kịch mất hút trong thời gian xa vắng, không gian mênh mông của Nam Phi.

Không chỉ riêng Magda, Michael K, vị Quan tòa không tên trong Đợi bọn mọi cuối cùng cũng trắng tay giữa cuộc đời: không gia đình, quê hương, công việc không rõ mục đích... Làm việc trung thành cho Đế chế với hi vọng xác định vị trí của mình trong xã hội, nhưng Đế chế đã nghi ngờ anh, những người da đen mọi rợ không tin tưởng anh. Bà Curren trong Tuổi sắt đá chỉ có duy nhất một người con gái đang sống ở Mỹ. Cách bà viết thư cho cô con gái là để nối kết với thế giới bên ngoài lãnh thổ Nam Phi. Nhưng những bức thư ấy không rõ có đến được Mỹ hay không bà không quan tâm. Bạn đọc nhận ra những bức thư ấy là do bà viết cho chính bà. Giáo sư David trong Ruồng bỏ bị xã hội đẩy về nông thôn hoang vu; làm công việc tẻ nhạt vô nghĩa là thiêu hủy những con vật già, sắp chết; làm bạn với một chú chó... Đúng như tiêu đề của tiểu thuyết Disgrace, David Lurie mất kết nối hoàn toàn với xã hội loài người. Paul Rayment trong Người chậm trở thành con người thừa, vô dụng khi bị cắt đi một chân sau vụ tai nạn giao thông. Paul là ẩn dụ cho một kiểu con người thừa trong xã hội: bệnh tật, già nua, lưu vong... Như vậy, có thể thấy các nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee dù tồn tại dưới nhiều dạng thức khác nhau nhưng họ đều là những kẻ khuyết thiếu, mất kết nối với xã hội bên ngoài. Đây là sản phẩm của những hệ lụy do chế độ Apartheid để lại.

87

3.2.2. Con người bị chấn thương

Con người khiếm khuyết, chấn thương là kiểu con người của văn chương hậu hiện đại. Không phải đến Coetzee mới là nhà văn đầu tiên xây dựng kiểu nhân vật này, văn chương từ xưa đến nay dụng tâm miêu tả họ như một ngụ ngôn. Đến thời kì hậu hiện đại, con người chấn thương mang những đặc trưng riêng biệt. Hầu hết, con người trong tiểu thuyết của Coetzee đều mang trên mình những khiếm khuyết về thể chất và dị khuyết về tinh thần. Magda - một gái già trinh tiết trong Giữa miền đất ấy khao khát được một lần làm người phụ nữ với những điên loạn, ảo tưởng về tinh thần. David Lurie trong Ruồng bỏ với khao khát tình dục mãnh liệt nhưng vợ chết, bị đuổi khỏi trường đại học vì bị tố cáo quan hệ bất chính với sinh viên. Bà già Curren trong Tuổi sắt đá bị bệnh ung thư giai đoạn cuối đang nỗ lực kết nối với con gái của mình ở Mỹ và những người da đen xung quanh nơi bà sinh sống. Vị Quan tòa không tên trong Đợi bọn mọi dám chống lại những chỉ thị của Cục ba để bảo vệ một cô gái mọi và đưa cô gái ấy về với tộc người của cô ta ở vùng biên giới xa xôi. Đặc biệt nhất là Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K và Paul Rayment trong Người chậm, đó là những con người vừa khiếm khuyết, chấn thương về thể chất mà còn về tinh thần, tâm hồn.

Đúng như tên gọi của “Cuộc đời và thời đại của Michael K” - cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về cuộc đời và thời đại của nhân vật chính Michael K. Âm tiết trơ trọi của cái tên nhân vật nhắc cho chúng ta nhớ đến trong văn học đã từng có một Josef K. của Kafka. Tuy nhiên, đằng sau chữ Michael K không có dấu chấm, nghĩa là không phải một cái tên viết tắt như kiểu Josef K. trước đây. Cuộc đời của Michael K là cuộc đời của một kẻ đứng bên lề, chơ vơ, thiếu hụt những yếu tố cấu thành dù là những yếu tố rất giản dị. Thời đại của Michael K là thời chiến tranh giữa những người cầm quyền da trắng và quân du kích đấu tranh lật đổ chính quyền độc tài Apartheid tại Nam Phi.

Và Michael K là ai? Một con người trôi dạt từ một đất nước bị chia cắt bởi nội chiến tới chỗ chẳng còn gì hơn là cuộc sinh tồn trắng trợn, bị bắt và quản thúc, rồi lang thang và lẩn trốn... Một con người từ khi sinh ra đến lúc lớn lên chỉ biết đến bà mẹ Anna K - một người giúp việc gia đình cho đến khi chết vẫn đeo đẳng ước muốn trở về một nông trại xa xôi nơi bà đã sinh ra. Michael K chưa bao giờ biết đến hay thắc mắc về người cha: “Anh kể rất nhiều về mẹ anh nhưng chưa bao giờ đả động đến cha anh” [95, tr.220]. Theo trí nhớ mẹ anh thì: “Sau khi sinh đứa con đầu lòng, bà chuyển đến Cape Town. Bà sinh đứa con thứ hai với người chồng khác, đứa thứ ba bị chết rồi mới đến Michael” [95, tr.14]. Tuy vậy, Michael K cũng chẳng bao giờ băn khoăn xem những người anh em, những người họ hàng của mình hiện ra sao và đang ở đâu... Rõ ràng những chi tiết nói cho chúng ta về quê hương, gia đình người thân... để cấu thành lịch sử cá nhân của nhân vật Michael K là những nét rất sơ sài. Những chi tiết ít ỏi được nhắc đến không cho phép anh hiện lên với tư cách của một con người hoàn thiện, anh là Michael K một con người khiếm khuyết. Michael K từ khi ra đời đã mang khiếm khuyết bẩm sinh về thể chất: “có cái môi thỏ”, “môi bé cuộn lên như chân con sên, lỗ mũi bên trái há hoác”, “cái miệng không ngậm lại được và lớp thịt hồng hồng cứ phơi ra”, “đứa trẻ không thể bú và khóc ngằn ngặt vì

88

đói” [95, tr.7]. Cùng với khiếm khuyết bẩm sinh ấy là khiếm khuyết do suy nhược, do thoái hoá, do những áp lực từ cuộc sống dội lên hình hài tội nghiệp, đáng thương của Michael K. Sau chuỗi ngày lang bạt khắp các trại tập trung, vượt qua những rào kiểm duyệt, để tìm lấy một vùng hẻo lánh mà duy trì đời sống của một sinh vật: Sự lớn lên của Michael K là sự lớn lên của “một con thỏ bị khâu vào xác con bò” [95, tr.259]. Anh là thanh niên nhưng có sức vóc “yếu như một đứa trẻ sơ sinh” [95, tr.229] và mang hình hài của một ông già. “Ông già có đủ mọi dấu hiệu thiếu ăn lâu dài: da nứt nẻ, chân tay đau nhức, lợi chảy máu. Các khớp xương nhô ra, ông già chỉ còn chưa đến bốn chục kilôgam. Dù trông như một ông già, anh quả quyết mới 31 tuổi” [95, tr.3]. Cơ thể càng ngày càng bị thủ tiêu hoặc suy giảm những chức năng quan trọng - những tiền đề để Michael K có thể trở thành một cơ thể hoàn chỉnh như người bình thường. “Ba mươi nhăm kilogam cả da và xương [95, tr.246]; “mình gầy như một cái que cời than” [95, tr.284] và ngay chính anh cũng lo ngại: “Có những giai đoạn dài anh chìm trong trạng thái rầu rĩ, quá mệt mỏi nên không thể dứt khỏi giấc ngủ. Anh có thể cảm thấy cơ thể mình tàn tạ dần. Anh đang quên cả hít thở, anh tự nhủ và đặt lên trái tim: xa lắm, như ở một vùng khác, anh cảm thấy một sự duỗi ra, đóng vào yếu ớt” [95, tr.187]. Con người Michael K tàn tạ như một cỗ máy cũ rệu rã, mà chi tiết nào cũng chứa đựng những nguy cơ hỏng hóc khoét sâu vào lỗ hổng, sự khiếm khuyết vốn đã tồn tại từ khi xuất hiện.

Bên cạnh đó, Michael K còn bị khiếm khuyết về tâm hồn, tinh thần. Đằng sau “thân hình gầy như một cái que cời than” là “một đầu óc ngớ ngẩn” [95, tr.284]; đằng sau “mặt mũi xấu xí” là “trí óc chậm phát triển” [95, tr.8]. Bản thân anh cũng nhận ra sự ngu ngơ, ngờ nghệch như một tiền định, một định mệnh: “mình đã câm lặng và ngu ngơ từ lúc ban đầu, mình sẽ câm lặng và ngu ngơ đến lúc chót” [95, tr.284]. Anh có những hành động bất thường, ngờ nghệch của một kẻ thiểu năng: “lủi thủi khuân vác”, “băn khoăn nhớ lại”, “đào đá san đất”, “vùi thức ăn duy nhất của mình vào đất”, “vượt rào chạy trốn”, “mải miết chạy khắp các quả đồi để bắt được một con dê đực”, “suốt ngày anh không ăn hoặc thấy không muốn ăn, nhưng anh chú ý thấy mình làm việc chậm hơn và trong lúc mải mê đứng hoặc quỳ trước công trình của mình, đầu óc anh để tận đâu đâu” [95, tr.160]... Đây là những hành động được thực hiện bằng những xung lực bản năng, tự phát. Nó gần với hành động của những loài vật - những loại bò sát không sức mạnh, ít cơ hội vươn lên tiếp cận với ánh sáng mặt trời, lầm lũi sống một cuộc đời riêng của nó. Như một dụng ý nghệ thuật: trong tác phẩm rất nhiều lần Coetzee tiến hành so sánh, liên tưởng nhân vật Michael K với các con vật rất đa dạng, nhiều chủng loại khác nhau. Loài vật được Coetzee sử dụng để so sánh với Michael K là: sên, giun, kiến, chuột, thằn lằn, côn trùng, sóc, mối,... hầu hết là những con vật nhỏ bé, sống một đời sống trườn, bò, bấu víu lầm lũi. Nếu có thể so sánh với: diều hâu, gấu, khỉ, cá mập, chó... (những con vật vốn có chút sức mạnh, hung dữ...) thì nhân vật lại chỉ được nhìn ở khía cạnh hoang dã, mạnh mẽ có sức chống đỡ với môi trường. Michael K mang trong mình những phẩm chất vừa hoang dã, bé nhỏ vừa đáng thương, đáng ghét… Tất cả vẽ nên một chân dung khiếm khuyết mọi thứ đến mờ nhạt giữa cuộc đời.

89

Một trong những điểm đáng chú ý trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K đó là Coetzee đi sâu vào ngõ ngách tâm lí thầm kín bên trong của nhân vật để khám phá bằng những đoạn độc thoại nội tâm, những lời miêu tả tâm lí nhân vật đầy ám ảnh. Đó là những lúc Michael K sống trong tình trạng mê sảng, mụ mẫm, băn khoăn, nửa thức nửa ngủ hay khi thả trí tưởng tượng theo một linh hồn phiêu diêu, mặc định, phi lí. Michael K có những lúc “không vui cũng chẳng buồn khi chẳng có việc gì làm, mọi sự như nhau mà thôi. Anh có thể nằm suốt buổi chiều, mở mắt nhìn trừng trừng vào những múi trên mái tôn và những vạch gỉ; tâm trí anh không nghĩ lan man, anh chẳng nhìn thấy gì ngoài tấm sắt, những đường vạch không biến thành hoa văn hay những hình tưởng tượng” [95, tr.183]. Coetzee đã để nhân vật Robert nói về sự khiếm khuyết của Michael K như sau: “Cậu là một đứa trẻ - Robert nói - Cậu đã ngủ suốt đời. Bây giờ là lúc cậu tỉnh giấc. Sao cậu không nghĩ họ đang bố thí cho cậu, cậu và bọn trẻ con? Vì họ cho cậu là vô hại, cậu đui mù, cậu không thấy thực tế quanh cậu” [95, tr.142]. Hiện diện trong suốt cuốn tiểu thuyết là cuộc đời nhân vật Michael K - một cuộc đời của con người khiếm khuyết làm cho người đọc ám ảnh khôn nguôi; vừa lo sợ cho nhân vật, vừa lo sợ cho chính loài người trước nguy cơ yếu ớt, ngớ ngẩn đến thảm hại. Vì Michael K khiếm khuyết thể năng nên không có sức vóc. Vì Michael K khiếm khuyết trí năng nên không có vũ khí nhanh nhạy của tư duy. Bởi vậy anh ta bước vào cuộc sống đầy bất an, như biểu hiện của một số phận bất hạnh - mất thăng bằng - lạc vào xã hội loài người. Như cách người bác sỹ chăm sóc cho K đã chiêm nghiệm: “Với tôi, Michaels lúc nào cũng như một người vừa lăn lộn với một vốc đầy đất, vã lên người, đắp thành hình dạng một người thô sơ, tạo nên một hoặc hai sai lỗi (cái miệng và không nghi ngờ gì nữa, cả đầu óc); bỏ quên một hoặc hai chi tiết (tình dục) nhưng dù thế nào đi nữa cuối cùng cũng tạo thành một số phận bé nhỏ” [95, tr.254].

Bằng thái độ ngoại cuộc, đôi khi tàn nhẫn đến khốc liệt, Coetzee đã cho Michael K đi vào trang sách chân thật như cuộc sống vốn có của anh ta. Đó là những con người lịch sử không thể nghiền nát, bóp méo, không thể chia cắt không thể cộng trừ - thêm bớt... nhưng nghiệt ngã thay đó là những hình hài, những nhân dạng khiếm khuyết. Cuộc đời của Michael K phải chăng cũng là hình ảnh ẩn dụ sâu sắc về kiểu con người hậu hiện đại - con người bất toàn, không trọn vẹn. Có lẽ vì thế mà trong phần II rất nhiều chỗ Coetzee đã gọi Michael là Michaels (thêm s số nhiều), liệu đó có phải là sự nhân lên những thân phận như K ở xã hội hậu hiện đại? Không chỉ riêng Michael K mà Paul Rayment trong Người chậm cũng rơi vào trường hợp tương tự, nhưng nguồn gốc xuất phát khiếm khuyết của hai nhân vật này khác nhau. Nếu K bị bẩm sinh, thì Paul lại xuất phát từ một tai nạn. Từ sự thiếu khuyết về thể chất đã dẫn anh đến những mặc cảm tâm hồn. Biểu hiện quyền năng làm người của một người đàn ông chính là sinh lí. Khi bị cắt bỏ một khúc chân, ông nghĩ mình trở thành “đồ bỏ đi, là cứt sắt, kẻ vô ích”. Paul băn khoăn liệu ông có tinh trùng, có đủ ham muốn xác thịt để đưa tinh trùng vào đúng chỗ không? May mắn hơn Michael K, Paul sau khi bị khiếm khuyết cơ thể ít nhất anh tìm thấy được một chút niềm an ủi từ người đàn bà gốc Croatia. Marianna đã đem lại trong ông những

90

khoái cảm tình dục tưởng sẽ chết đi khi ông bị cắt chân. Dục năng trỗi dậy trong Paul là hình thức anh khẳng định sự tồn tại con người của mình.

Paul Rayment còn là một kẻ lưu vong về tinh thần. Ở Australia nhưng ông không phải là công dân của đất nước này. Sinh ra ở Pháp, nhưng cũng không phải là người Pháp. Paul trống rỗng, cô đơn trong thế giới khép kín của căn hộ cô lập. Ông cũng không theo tôn giáo nào “để nhà thờ lại phía sau”. Hàng loạt các khái niệm cấu thành con người cũng trở nên hoang vắng: quê hương, gia đình, con cái. Ông có chị gái, cha, mẹ, nhưng “cả ba người ấy có phải là gia đình ông không?”. Ông đã từng kết hôn một lần, nhưng người bạn đời ấy đã trốn khỏi ông. Ông chưa từng có con: “không con giống như sự rồ dại, rồ dại khủng khiếp, thậm chí là tội lỗi”. Câu hỏi nhức buốt nhất mà ông từng băn khoăn: “Vậy lần này mình thuộc về đâu?”; “Người Pháp không có tổ ấm. Tôi không có nhà ở Pháp. Rõ ràng là không. Tôi không là chúng ta của bất cứ ai” [124, tr.263].

Có thể nói con người trong tiểu thuyết của Coetzee khiếm khuyết cả thể chất lẫn tinh thần nhưng không có nghĩa họ bị hoàn cảnh đánh gục ngã. Đâu đó, những con người ấy vẫn kiên trì đứng lên vượt quá, dù khó khăn đến bất lực. Kháng cự có khi là im lặng như Michael K nhưng đó là phương cách cuối cùng các nhân vật của họ viết tên mình giữa cuộc đời phi lí, bất công, bạo lực. 3.3. Kiểu con ngƣời tính dục, khao khát tự do và hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái 3.3.1. Con người tính dục, khao khát tự do

Tính dục không chỉ là sex đơn thuần, đó là sự trải nghiệm thể xác, tâm hồn của cá nhân con người. Có lẽ tính dục là bản năng cao nhất và đẹp nhất của con người dưới trang văn của Coetzee. Mỗi nhân vật mang những chức năng tính dục khác nhau và mang tính biểu tượng cao. Tính dục là phần bản năng tất yếu trong đời sống con người (Cuộc đời và thời đại của Michael K, Ruồng bỏ). Tính dục đóng vai trò như sợi dây vô hình níu kéo, ràng buộc và chi phối nhận thức của con người (Giữa miền đất ấy, Tuổi sắt đá). Tính dục là sự nếm trải thân phận cay đắng, khổ nhục và sự lệch chuẩn về giá trị quyền lực (Đợi bọn mọi). Mang mặc cảm lưu vong, nhân vật mang cảm thức tính dục còn là phương tiện để họ gợi nhắc về cội nguồn quê hương (Người chậm).

Viết về con người với những vấn đề tính dục, Coetzee khai thác giá trị sâu thẳm bên trong họ với phần bản năng vốn có, đồng thời bóc trần bản chất thực tại xã hội. Có thể thấy các nhân vật trong tiểu thuyết của ông luôn có những khát khao năng lực tình dục mãnh liệt. Trong tiểu thuyết Người chậm, Paul Rayment, nhiếp ảnh gia bị mất một chân vì tai nạn giao thông, dù đi lại bất tiện nhưng vẫn có những khao khát thầm kín với nữ điều dưỡng Marijana. David Lurie trong Ruồng bỏ đã li hôn, dù đã năm mươi hai tuổi nhưng vẫn thường xuyên quan hệ với các du khách trong quán rượu, gái điếm, sinh viên và người đàn bà ở trại thú y để giải quyết nhu cầu sinh lí. Coetzee quan niệm tình dục là phần thiết yếu của cuộc sống, là niềm vui, là khoái cảm cá nhân cần được thỏa mãn. Ông cho rằng tính dục là nhân tính tự nhiên của con người. Do vậy, con người tính dục trong tiểu thuyết của ông được phản ảnh một cách chân thực và “trần trụi” như nó vốn có, đặc biệt sex đậm chất văn minh, nhân bản.

91

Trước hết, con người tính dục trong tiểu thuyết của Coetzee gắn liền với những khát khao hòa hợp nhu cầu ái ân với tình yêu đúng nghĩa. Giáo sư David Lurie (Ruồng bỏ), nhà nhiếp ảnh gia Paul Rayment, nữ văn sĩ bí ẩn Elizabeth Costello (Người chậm), vị Quan tòa (Đợi bọn mọi), Magda (Giữa miền đất ấy)... đều có những khao khát tình dục gắn với một tình yêu thực sự. Kể cả nhân vật khiếm khuyết cả thể xác lẫn trí năng như Michael K, Coetzee vẫn dành riêng cho con người ngoại biên ấy những trang viết về tính dục thật đẹp với bản năng sinh học vừa thú vị vừa kích thích. Mỗi tiểu thuyết của Coetzee có những trạng thái tình dục khác nhau. Magda khao khát tình dục đến cháy bỏng bởi cô chưa bao giờ biết đến mùi vị của người đàn ông. Nhìn thấy thân hình của cha, trong cô dấy lên bản năng của một người phụ nữ. Ranh giới của không gian và bối cảnh chính trị phân biệt chủng tộc đã khiến cô trở thành gái già trinh tiết với những hoảng loạn tinh thần. Vượt qua ranh giới của Apatheid, vị Quan tòa cưu mang, yêu thương cô gái mọi vô điều kiện. Trong căn phòng nơi ông cho cô gái mọi trú ẩn không còn ranh giới màu da đen - trắng, ở đó chỉ còn tồn tại của nhục thể, tình yêu thương cháy bỏng, nồng nàn. Paul Rayment say đắm yêu Marijana dù đối diện với nhiều thử thách, bị cấm đoán... Có thể nói, các nhân vật của Coetzee không bị tha hóa, hủy bại mà họ viết nên những trang tính dục đẹp nhất về thể xác lẫn tinh thần. Khai thác mảnh vỡ tính dục của con người, Coetzee thể hiện cái nhìn nhân văn sâu sắc bởi nếu tình dục ổn định trong hệ giá trị tôn vinh con người, đánh thức năng lực tiềm ẩn của con người, truyền cho con người năng lực và ý nghĩa cuộc sống, đặc biệt nếu tình dục được bao bọc bởi những cảm xúc thiêng liêng thì đó là một thứ tình dục mang giá trị mĩ học và nhân văn.

Trong Đợi bọn mọi, vị Quan tòa luôn nghĩ đến cô gái mọi không tên đang làm phụ bếp cho ông. Ông nghĩ về thân xác cô và nghĩ về tình cảm của ông dành cho cô. Vì chưa hiểu rõ những dao động trong tâm hồn mình nên “thân thể cô và tôi như tan ra, nhẹ như mây khói, không có trọng tâm và xoay tròn trong một cơn lốc nơi này rồi đông đặc lại ở một nơi khác hay dày lên ở đâu đó, nhưng thường thì phẳng lì và trống rỗng” [94, tr.77]. Trong Ruồng bỏ, David Lurie là nhân vật có những khát khao tình dục rất mãnh liệt. Ông quan hệ với rất nhiều phụ nữ nhưng không chỉ đơn thuần là thỏa mãn nhu cầu ham muốn của bản thân, tất nhiên ông cũng “không sưu tập đàn bà” [97, tr.42]. Ông tìm đến Soraya vào ngày thứ năm hàng tuần là để lấp đầy những ngày vô nghĩa khác, để làm mát hơn cái sa mạc khô cằn trong tâm hồn mình. Ông đến với Melanie là vì thân hình nhỏ nhắn và khêu gợi của cô, đồng thời còn vì tình thương yêu, che chở thật lớn lao: “Ông liếc trộm Melanie. Thường ngày cô là người ghi chép chăm chỉ. Hôm nay trông cô gầy gò và kiệt sức. Bất chấp bản thân, trái tim ông thắt lại vì cô. Con chim nhỏ tội nghiệp, ta phải ôm ghì em vào ngực, ông nghĩ” [97, tr.42]. Con người tính dục trong tiểu thuyết của ông là con người bản năng, con người tự nhiên với những khát khao trần thế. Khi phản ánh phần bản năng tính dục, Coetzee không chỉ đơn thuần đề cập đến nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người, mà quan trọng hơn, ông khai phá đời sống tâm lí và những ẩn ức sâu thẳm của con người. David Lurie đã kết luận về bản năng của con người mạnh mẽ, sâu sắc, nhân bản: “không con vật nào nhận trừng phạt vì

92

đã tuân theo bản năng” [97, tr.120]. Coetzee bộc lộ cái nhìn trân trọng đối với những khát vọng chân chính của con người: khát vọng sẻ chia, có được những giây phút thăng hoa với sự giao hòa giữa tình dục và tình yêu. Trong quan niệm của Coetzee, nếu phá vỡ sự giao hòa giữa tâm hồn và thể xác thì con người chẳng khác gì là chiếc máy của bản năng, và khi ấy con người sẽ tồn tại trong nỗi cô đơn, trống rỗng bởi mỗi cá nhân đang hiện hữu như một thế giới biệt lập, khép kín. Đó là những điều giản dị hiện sinh trong cuộc sống của con người với tính nhân bản và nhân văn sâu sắc.

Văn học hiện đại, hậu hiện đại đặt ra vấn đề tính dục như một nhu cầu tồn tại của nhân loại. Một số nhà tiểu thuyết lãng mạn đã xem tình dục là đỉnh cao của cảm xúc yêu đương và cấu thành tính thẩm mỹ. Các nhà văn hiện thực viết về tình dục nhằm bóc trần con người thực với bản năng vốn có. Các thuyết gia hậu hiện đại như Kafka, Márquez, Faulkner, Hemingway,... khai thác chủ đề tình dục với nhiều ý đồ khác nhau, nhưng có thể nhận thấy đây là kênh để nhà văn xác lập nhân vị con người thú vị và hấp dẫn nhất. Coetzee khai thác thành công đời sống tình dục của nhân vật còn nhằm biểu đạt những vấn đề lớn của đời sống xã hội Nam Phi.

Trong Ruồng bỏ, Coetzee miêu tả kĩ, chậm các cense làm tình của giáo sư David và cô gái điếm: “Ông vuốt ve tấm thân màu nâu, vàng óng, không hề rám ánh nắng mặt trời của cô; ông duỗi người cô ra, hôn lên ngực…” [97, tr.5]. Cảnh ông với sinh viên: “Thân thể cô trọn vẹn, mộc mạc, hoàn hảo theo cách riêng; dù thụ động từ đầu đến cuối, ông thấy cuộc làm tình thật thích thú, thích thú đến nỗi sau khoái cảm tột đỉnh, ông chìm vào trạng thái lãng quên đờ đẫn” [97, tr.29]. Và giữa ông và Bev Shaw: “Ông cởi quần lót, rồi chui vào cạnh bà, đưa tay lướt khắp người bà…” [97, tr.199]. Trong Giữa miền đất ấy cũng vật, đó là cảnh làm tình của Magda và Hendrik: “Gã lột quần lót của tôi, xé ra… Tôi cứng rắn như một vỏ ốc khép kín, và tôi lại khép lại, nữa, nữa và nữa… Tôi nâng chân, cứng người kêu lên xấu hổ” [93, tr.199]; giữa Hendrik và Klein Anna: “Cô ta hạ chân xuống, quấn chặt váy quanh người và giấu mặt vào tường” [93, tr.145]… Tất cả được Coetzee chọn lựa đưa vào trang văn của mình, vừa nóng bỏng vừa chân thực, vừa rạo rực mà không kém phần hấp dẫn. Tình dục nâng vẻ đẹp của con người đến si mê.

Nhiều yếu tố nhục dục thể xác xuất hiện khắp nơi trong tác phẩm của Coetzee. Đó là suy nghĩ của Magda khi nhìn về bộ phận sinh dục của cha cô: “Con “giống” bé hơn tôi tưởng, gần như bị che lấp giữa đám lông rậm tối màu, loăn xoăn đến tận rốn. Chú bé mềm oặt, con cá ươn, lùn tịt, đứa con trai ẽo ợt bị giam hãm nhiều năm trong hầm tối chỉ được nuôi bằng bánh mì và nước lã…” [93, tr.131]. Giáo sư David đã nhớ về Melanie với “bộ ngực cô nhỏ nhắn, gọn gàng, đầu vú dựng đứng, bụng cô mịn màng, phẳng lì” [7, tr.97]. Cô gái có những hành động nhạy cảm với Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K: “Cô cúi xuống và ngậm lấy cái của anh. Anh muốn đẩy cô ra nhưng những ngón tay anh chùn lại vì những sợi tóc chết cứng đơ trên bộ tóc giả. Và thế là người anh chùng lại, anh tự cho phép mình mê man trong lúc đầu óc quay cuồng và trong sự cuồng nhiệt ướt át xa xăm” [95, tr.189]. Hơn nữa, tình dục còn đặt ra một vấn đề liên quan đến ranh giới đen - trắng, quyền lực kẻ mạnh và kẻ khác. Như vậy, sex còn mang ngụ ngôn cho một trạng thái xã hội. Ông

93

chủ Bass có được Klein Anna có thể coi như một sự chiếm hữu thể xác của ông chủ đàn ông da trắng với phụ nữ nô lệ da đen. Vị giáo sư được xem là đáng kính luôn tôn thờ và chạy theo cái đẹp thân thể của nhiều phụ nữ, săn tìm không mệt mỏi với tư cách một tín đồ trung thành của thần Eros quan hệ với sinh viên da đen, sẵn sàng ngủ với Bev Shaw - người phụ nữ da đen xấu xí, thấp kém biểu tượng cho sự xâm phạm thân xác, quyền lực xã hội của đàn ông, trí thức da trắng đối với da đen… Một người da trắng, có quyền hành trong tay như vị Quan tòa không được phép bảo vệ, gần gũi và quan hệ xác thịt với phụ nữ da đen, nhưng trong tiểu thuyết Đợi bọn mọi đã ngụ ngôn cho một trạng thái khác của xã hội Nam Phi. Tình yêu, tình dục xóa nhòa mọi ranh giới của phân rẽ. Bên cạnh đó, tình dục trong xã hội phân chia giai cấp, chủng tộc còn mang ý nghĩa chiếm hữu, ngự trị. Đàn ông da trắng có quyền được quan hệ với mọi loại phụ nữ trong xã hội. Còn đàn ông da đen không được phép quan hệ với phụ nữ da trắng. Vì vậy, trong Giữa miền đất ấy sau khi Hendrik hãm hiếp Magda đã phải bỏ trốn khỏi nông trại. Về sau, khi người da trắng yếu thế, đàn ông da đen cưỡng hiếp phụ nữ da trắng là để trả thù nỗi đau chủng tộc như trường hợp Lucy trong Ruồng bỏ bị nhóm người đàn ông da đen hãm hiếp và mang thai… Bên cạnh đó, Coetzee cũng dành nhiều trang viết để miêu tả những ái ân thể xác tự do mang vẻ đẹp thẩm mĩ.

Như vậy, dù thời đại nào, chế độ có tồn tại hay không thì quan hệ tình dục hầu như vẫn được tự do. Chính xác hơn, tình dục đã thực sự chi phối con người. Sức mạnh của nó lớn đến mức có thể làm giáo sư thà chịu nhục nhã để thỏa mãn nhu cầu của mình. Ông chủ Bass tìm đến Klein Anna da đen dù ban ngày ông quyền uy và phân biệt đến vậy: “Cha tôi trao đổi những từ cấm kỵ với Klein Anna. Không cần phải rời khỏi phòng tôi cũng biết điều đó. “Chúng mình” ông nói với cô, “hai chúng mình”… Làm thế nào mà tôi có thể tiếp tục nói chuyện với Hendrik, nếu họ đã làm sa đọa công cụ ngôn ngữ của tôi” [93, tr.70]. Một mặt đó là sự chinh phục, cưỡng chế của ông chủ da trắng đối với phụ nữ da đen, mặt khác sự ái ân nhục cảm đã xóa nhòa ranh giới phân biệt chủng tộc, nó nhường chỗ cho bản năng của con người. “Ông cởi quần áo của cô, đặt cô nằm dài trên cái chiếu xơ dừa của Hendrik. Cô để mặc cho ông làm, mềm nhũn trong vòng tay ông” [93, tr.71]. Bass đã “bẻ gãy mọi luật lệ” [93, tr.71] để chiếm hữu Anna. Như vậy, trong quan hệ tình dục bản chất của tự do được thể hiện, không phân biệt màu da, đẳng cấp chủng tộc, vị trí xã hội. Đồng thời cũng có thể xem những cuộc ái ân này là hãm hiếp. Sở dĩ chúng ta phỏng đoán như vậy bởi NKC - Magda mô tả sự việc không đáng tin cậy. Vì vậy, mối quan hệ này còn dụ ngôn cho quyền lực của đàn ông da trắng đối với da đen không chỉ ở phạm vị cưỡng bức lao động mà còn biến phụ nữ da đen thành công cụ tình dục. Sau này, Hendrik đã trả thù Bass bằng cách hãm hiếp Magda. Hành động này không chỉ vượt qua hàng rào chia rẽ mà còn báo hiệu về sự đổ vỡ của chủ nghĩa Apartheid.

Cuộc sống tình dục của con người thêm đẹp và ý nghĩa nếu đảm bảo những yếu tố: tính tự nguyện, sẵn sàng, đồng thuận, bình đẳng và tôn trọng. Tự nguyện trong quan hệ tình dục luôn phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai bên cho dù là đã kết hôn hay chưa. Mỗi người tham gia vào quan hệ tình dục đều có thể quyết định thực hiện hay chấm dứt hành vi này một cách tự do mà không bị ép buộc bởi

94

bạo lực, tình cảm hay tài chính. Điều này có nghĩa là mọi người đều có quyền hoàn toàn tự quyết định trước khi tham gia vào bất cứ hành vi tình dục nào. Cô sinh viên của David hầu như không chống đối lại hành động của David nhưng sự tình nguyện chưa cao. Tính chất lấp lửng này tạo nên một cảnh huống khó quy tội. Tính sẵn sàng được thể hiện ở sự chuẩn bị sẵn sàng về cả tâm lý và thể chất. Yếu tố này lại không được đảm bảo đối với cô sinh viên. Những lần quan hệ của giáo sư và cô sinh viên đều được Coetzee miêu tả cô đang trong tư thế bị động, chưa sẵn sàng, cho nên ở một khía cạnh nào đó David Lurie đã vi phạm. Bị kết tội và đuổi việc, điều này cho thấy mối tương quan giữa đàn ông da trắng và phụ nữ da đen đã có sự thay đổi. Những năm cuối của chế độ Apartheid đã cho thấy các quyền của người da đen bắt đầu được xây dựng, người da trắng đang đối diện với sự thanh trừng, trả thù của người da đen.

Chủ đề tự do là vấn đề trung tâm trong các sáng tác của nhà văn Nam Phi lúc bấy giờ. Trong xã hội Apartheid, nhân vật chính là những người da đen sống bị ràng buộc, không có bình quyền tự do. Người da đen không được kết hôn với người da trắng (Lễ cưới dưới bóng cây thánh giá của N.Thiongo). Người da đen cũng không được yêu và kết bạn với người da trắng (Đường ranh giới trải nhựa của Viera Luandino). Tất cả những sinh hoạt trong đời sống họ cũng phân biệt, tạo ranh giới kẻ giàu sang người hèn mọn. Người da đen phải làm thuê, làm nô lệ phục vụ cho người da trắng. Trong Giữa miền đất ấy, Coetzee cũng dựng lại câu chuyện về mối quan hệ giữa ông chủ Bass và người nô lệ da đen Hendrix. Ông chủ đã hãm hiếp cô vợ trẻ của Hendrix. Hendrik trả thù bằng cách cưỡng hiếp Madga. Hành động này không chỉ là báo thù mà còn biểu tượng của khát vọng tự do. Còn trong Tuổi sắt đá, Florence có một con trai tên Bheki. Bheki và bạn của nó - những đứa trẻ đã bỏ lại sau lưng tuổi niên thiếu, những đứa trẻ nghiêm nghị, khắt khe, không biết cười, không biết chơi đùa - tham gia vào cuộc đấu tranh chiến đấu cho tự do “Phải tiêu diệt chế độ apácthai, hay tôi phải đi học, cái nào quan trọng hơn?” [96, tr.82]. Khẩu hiệu của bọn trẻ là: “Tự do hay là chết!” [96, tr.82]. Nhân vật bà mẹ đã ý thức được nỗi đau phân biệt màu da, dù là muộn màng vì “Về chuyện rắc rối ở các trường học, không thấy đài, ti vi hay báo chí đả động gì hết... Búp bê? Cuộc sống của búp bê? Phải chăng tôi đã sống như thế?” [96, tr.132]. Bà thực sự đau lòng và bất lực khi nói về tự do với thượng đế: “Ông Vercueil, tôi chẳng biết gì về tự do hết. Tôi và Bheki và bạn nó cũng chẳng biết gì. Có lẽ tự do luôn luôn là cái người ta không tưởng tượng được. Tuy nhiên, hễ thấy không tự do là người ta biết ngay, phải thế không? Bheki không tự do và nó cũng biết thế. Anh cũng không tự do. Ít nhất là không tự do trên trái đất này, tôi cũng vậy. Tôi sinh ra là nô lệ và chắc chắn sẽ chết như một tên nô lệ. Một cuộc sống trong xiềng xích, một cái chết trong xiềng xích. Đó là một phần của cái giá phải trả, không được phàn nàn, thắc mắc” [96, tr.74]. Đấu tranh chống lại cảnh sát, chính quyền nhà nước Aparthied là sứ mạng của tuổi trẻ Nam Phi đang lên giành quyền tự do.

Bị kìm hãm trong vòng vây của sự quản thúc, Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K cũng ao ước được tự do trong cuộc sống của mình. Thời đại của anh đang sống là lúc đất nước bị chia cắt bởi nội chiến. Anh bị bắt, bị đưa vào

95

các trại lao động tập trung. Cả cuộc đời cứ phải sống lang thang và lẩn trốn. Một con người từ khi sinh ra đến lúc lớn lên chỉ biết đến bà mẹ Anna K - một người giúp việc gia đình cho đến khi chết vẫn đeo đẳng ước muốn trở về một nông trại xa xôi nơi bà đã sinh ra. Anh ao ước có được một cuộc sống dù giản đơn theo kiểu tồn tại của một sinh vật nhưng cũng quá đỗi khó khăn. Tự do ở đây được hiểu là nhà ở, tự do là được chọn đường đi, sự được di chuyển, được thức ăn, được nước uống… Anh đã từ chối tất cả những ân sủng khác để chọn tự do cho dù anh đang lâm vào tình trạng sắp chết. Cuộc tranh luận giữa bác sĩ và nhân viên điều tra Noel đã nói về Michael K như sau: “Nếu hắn ta sắp chết, nếu hắn nhịn ăn cho chết thì cứ để hắn chết. Thế là đơn giản nhất. - Đây không phải là chuyện chết - Tôi nói - Không phải anh ta muốn chết. Anh ta chỉ không ưa đồ ăn ở đây thôi. Rất không ưa. Thậm chí anh ta không ăn cả thức ăn cho trẻ. Có lẽ anh ta chỉ ăn miếng bánh của tự do. Một sự im lặng ngượng ngập len vào giữa chúng tôi” [95, tr.158]. Kiểu tự do mà Michael K muốn nó luôn thường trực thành ước nguyện trong anh bằng hành động cụ thể. Anh sẽ gieo trên thảo nguyên bao la ở châu Phi những hạt giống bí đỏ, ngô… để chúng mọc lên ngập tràn, hồn nhiên dưới bầu trời tự do.

Tuy nhiên, đó chỉ mới là tự do về vật chất. Coetzee còn viết về tự do tinh thần thông qua các tác phẩm Giữa miền đất ấy và Ruồng bỏ. Sống cuộc sống tẻ nhạt, quanh quẩn, cô gái Magda lại có thể tự do suy tưởng bao nhiêu câu chuyện để tự do lấp đầy những ngày buồn chán trong cuộc sống của mình. Cô có thể tưởng tượng ra đủ thứ mà về mặt thực tế đang bị cuộc sống hiện tại và chế độ phân biệt chủng tộc đang ngăn cách. Nhân vật David dù bị ngăn cấm hành vi sai trái bằng cách nhận hình phạt truất chức vẫn có thể tự do suy nghĩ, hình dung về những bộ phận nhạy cảm trên thân thể của cô sinh viên mà ông đã từng ân ái: “Một hồi nhớ về cô gái chợt đến trong trí ông: bộ ngực cô nhỏ nhắn, gọn gàng, đầu vú dựng đứng, bụng cô mịn màng, phẳng lì. Một làn sóng khát khao chạy khắp người ông” [96, tr.87]. Tự do ở đây không phải là một loại quyền được trao tặng bởi bất kỳ ai, bất kỳ lực lượng nào mà nó là tài sản tự nhiên của con người.

Điều này có nghĩa là tự do không phải là không gian cho phép, không một nhà nước nào có quyền ban phát tự do cho con người. Đó là sự cảm nhận, tự do bên trong, tự do về tinh thần. Tự do muôn hình muôn vẻ và thiêng liêng đến mức không có định kiến nào trói buộc được nó, hễ bị kìm kẹp bởi định kiến là con người mất tự do. Do đó, David Lurie đã chọn con đường thực hiện suy nghĩ về quyền tự do cá nhân của mình. Ông đến với nhu cầu sinh lí tình dục của mình theo bản năng. Ông luôn tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó với suy nghĩ rằng mình tự do. Tuy nhiên, dù các nhân vật có thể suy nghĩ tự do nhưng vẫn bao hàm một hành vi che giấu không dám công khai. Điều này lại cho thấy sự hạn chế về mặt tự do của con người. Vì tự do thật sự là tự do cả hai mặt bên ngoài và bên trong. Phân tích suy nghĩ và hành động của các nhân vật này, chúng ta cũng có thể định nghĩa rằng tự do là quá trình dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi.

Ý nghĩ và hành vi là hai thành tố căn bản của tự do, đó là tự do nhận thức và tự do hành động. Con người tự do là con người được tự do nhận thức và tự do hành động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chúng ta biết rằng, thể hiện sống của con

96

người là hành động, nhưng thể hiện sống của cái trước hành động là ý nghĩ. Tự do nhận thức là nền tảng để con người đi tới tự do hành động. Không có tự do nhận thức, con người không thể có tự do hành động bởi vì khi ấy, con người luôn vấp phải các ranh giới về mặt nhận thức, do vậy, con người sẽ cảm thấy bị hạn chế, bị mất tự do ngay từ trong ý nghĩ chứ không chỉ trong hành vi của mình. Theo lí luận này thì Magda chưa tự do vì cô chỉ mới dám nghĩ. Cô nghĩ mình sẽ có quan hệ với anh chàng da đen, làm vợ anh ta. Nghĩ mình sẽ giết cha để chấm dứt chuỗi ngày tù túng, sợ hãi. Những suy nghĩ và hành động của Magda được Coetzee miêu tả như một kẻ bệnh tâm thần không xác định được suy nghĩ và hành vi. Còn giáo sư David trong Ruồng bỏ có thể xem là tự do khi ông nghĩ đến tình dục và thực hiện điều đó theo nhu cầu. Nhưng mối quan hệ của ông với sinh viên lại bị kiện và ông phải nhận hình phạt buộc thôi việc. Ông đã thực hiện hành vi tự do nhưng lại bị định tội. Như vậy, khái niệm tự do đã thay đổi theo quyền lực của chế độ phân biệt chủng tộc. 3.3.2. Con người hành trình trở về thiên nhiên gắn với cảm thức sinh thái

3.3.2.1. Con người hành trình trở về cội nguồn thiên nhiên Trong những năm gần đây, Coetzee trở thành một nhà phê bình chính trị lên án về sự tàn sát, hủy diệt động vật và ủng hộ phong trào bảo vệ quyền động vật. Trong một bài phát biểu, thay mặt ông Hugo Weaving(21) tại Sydney vào ngày 22 tháng 2 năm 2007, Coetzee đã lên tiếng để chống lại ngành chăn nuôi hiện đại. Sự kiện này cho thấy, ông là nhà văn có ý thức trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, tự nhiên. Trong cuộc sống sinh hoạt cá nhân, ông là người ăn chay trường. Năm 2014, Coetzee muốn trở thành ứng cử viên trong cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu cho Đảng Động vật Hà Lan. Tuy nhiên, ông đã bị hội đồng bầu cử Hà Lan bác bỏ với lập luận rằng ông phải chứng minh cư trú hợp pháp tại Liên minh châu Âu. Dù bị từ chối, nhưng những nỗ lực trong cuộc sống đời thường và công việc đang theo đuổi, ông đã khẳng định khát vọng, ước muốn bảo vệ sinh thái của nhà văn Nam Phi này.

Coetzee có khá nhiều tiểu thuyết liên quan đến các vấn đề về động vật và phúc lợi động vật, có thể kể đến: The Lives of Animals (Cuộc sống của động vật), Giữa miền đất ấy, Ruồng bỏ, Elizabeth Costello, Cuộc đời và thời đại của Michael K,... The Lives of Animals (1999) là tập hợp các bài giảng của bà Elizabeth Costello - nhân vật hư cấu, là hình bóng của nhà văn Coetzee. Thông qua các buổi thuyết trình trong hội thảo văn học hàng năm của Đại học Appleton (giống như Coetzee đã được mời đến Princeton), bà không giảng bài về văn học hay viết lách, mà nói về sự đối xử, hủy diệt của con người đối với động vật.

(21) Là một diễn viên kịch người Úc, nổi tiếng trong vai các bộ phim: Ma trận, Chúa tể của những chiếc nhẫn, The Hobbit… Năm 2004, ông là đại sứ cho tổ chức bảo vệ động vật ở quốc gia này (Voicless).

Tiểu thuyết Ruồng bỏ là tiếng nói bảo vệ động vật trực tiếp của Coetzee. David Lurie sau khi rời khỏi trường Đại học Cape Town đã về vùng nông thôn cùng con gái Lucy của mình. Ở đây, ông hòa mình với cuộc sống đầy gió cát của hoang mạc. Làm việc tại một bệnh viện có biển đề tên: “LIÊN ĐOÀN BẢO VỆ ĐỘNG VẬT” W.O 1529. Đó là nơi làm việc của Bev Shaw và những tình nguyện viên, với

97

mục đích chữa lành các vết thương các con vật bị thương hoặc bỏ rơi như: mèo, dê, chim, đặc biệt là chó... Trong cuộc hội thoại giữa David và Bev Shaw, người đọc nhận thấy thái độ bất mãn với hành động ăn thịt động vật của con người. “Ở đất nước này, chúng ta ăn nhiều loại động vật... Hình như điều đó làm chúng ta xấu đi nhiều. Tôi không biết chúng ta bào chữa cho hành động ấy ra sao với chúng” [97, tr.109]. Sau một thời gian làm việc, David nhận ra Bev cũng như một thầy tế, và trại chăm sóc, bảo vệ động vật chỉ là nơi giết chết những con vật tật nguyền, với mong muốn giảm thiểu cái chết đau đớn. “Bev Shaw không phải là một bác sĩ thú y mà là một thầy tế, đầy những vật hiến tế của Thời đại Mới, cố gắng một cách lố bịch giảm nhẹ gánh nặng của những con vật đang đau đớn của Phi châu” [97, tr.112]. Và những con chó được đem đến đây là để được triệt sản. Giáo sư David chọn lấy một chú chó tật nguyền để làm bạn. Cướp bóc trở thành “chuyện xảy ra hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, ở từng phần trên đất nước này”, con người trở nên bất ổn. Mọi điểm tựa, niềm tin vào trật tự xã hội đều đổ vỡ, con người trở về với thiên nhiên, động vật tìm niềm an ủi. Nhưng “Hai mươi ba. Chỉ còn lại một con chó tơ, con chó yêu âm nhạc, ngẫu nhiên tha thẩn theo sau bè bạn vào bệnh viện, vào phòng mổ có cái bàn mặt kẽm, vẫn còn vương vấn một thứ múi hỗn tạp, gồm cả cái mùi nó chưa bao giờ gặp trong đời: mùi thở hắt ra, cái mùi nhẹ nhàng, ngắn ngủi của linh hồn được giải thoát” [97, tr.285, 286]. Động vật ở đây có thể biểu tượng cho số phận Nam Phi rơi vào những bi kịch. Bi kịch bị ruồng bỏ - bị đẩy vào các bệnh viện để chết một cách nhẹ nhàng, không đau đớn.

Khước từ, chối bỏ và bị ruồng bỏ đời sống ở thành phố, cuộc sống của vật chất, bạo lực, trả thù, đồng tiền và quyền lực, các nhân vật của Coetzee có những cuộc hành trình trở về với thiên nhiên để khẳng định cội nguồn sự sống ở nông thôn. Trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K, nhà văn Nam Phi đã để cho Michael K có nhiều điểm tương trùng với sinh thái. Hành trình trở về nông thôn của K chính là hành trình trở về với thiên nhiên, cỏ cây, côn trùng, đất đá. Nghề nghiệp của Michael K là một người thợ làm vườn, là người chăm sóc, bảo vệ thế giới thực vật trong thành phố. Kể cả những khiếm khuyến trên cơ thể cũng như thiếu hụt về tính cách tinh thần của K cũng được so sánh với thế giới động vật là giun, dế, ốc sên...

Là nhà văn đứng về phía thiên nhiên sinh thái để cất tiếng nói bảo vệ môi trường, cho nên không ít những trang viết của Coetzee ngập tràn cảnh sắc thiên nhiên Nam Phi đặc trưng. Đó là những sa mạc bỏng rát của gió cát, là những con đường chạy tít tắp,... Trong Giữa miền đất ấy, bên cạnh những trang viết viết hoang mạc khô cằn của bụi bặm và hôi hám thì có nhiều đoạn văn Coetzee dành sự tài hoa trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên. Thiên nhiên dưới con mắt quan sát của Magda nhuốm đầy tâm trạng, nó chuyển tải một phần tính cách con người của cô: “Tôi ngắm cảnh mặt trời lặn đỏ ối pha mầu son, mầu hồng, mầu tím, mầu cam, màu đỏ máu, tôi thở dài, cúi đầu, rơi lệ, nhưng giọt nước mắt của hoàng hôn, khóc cho chính mình, khóc cho cuộc đời mà tôi chưa hề sống, cho niềm vui và thiện ý tốt đẹp của một tấm thân từ nay đã thành cát bụi, khô héo, mạch đập chậm dần [93, tr.86]. Trong Đợi bọn mọi, sau khi trốn thoát được cảnh bị tra tấn, Coetzee đã để cho “tôi”

98

cảm nhận, hòa lẫn vào vẻ đẹp của thiên nhiên mà không hề có bọn mọi nào ở đây cả. “Chân trời phía trước đã nhuốm một màu xám, hòa vào dòng nước xám trên mặt hồ. Đằng sau tôi, mặt trời đang lặn xuống trong những vệt sáng ánh vàng và đỏ thẫm... Đây là một thế giới mà tôi biết rõ, yêu thương, và không muốn rời đi” [94, tr.269]. Nhân vật Vercueil - người đàn ông vô gia cư trong tiểu thuyết Tuổi sắt đá được Coetzee miêu tả nhiều lần trong sự đối sánh với các con vật, có khi đó là con bọ hung, con chó, con cua... Cũng giống như Michael K, nhân vật này được so sánh với những con vật nhỏ bé, vô nghĩa, không có hại, có khi là kẻ bị hại trong giống loài động vật. Đặt nhân vật ngang hàng với động vật không phải đến văn chương hậu hiện đại mới có, nhưng Coetzee cũng như các nhà văn thế kỉ XXI xem đó là một tín hiệu thẩm mĩ với nhiều mục đích khác nhau. Không hẳn là hạ thấp con người, mà có thể đây là hình thức cho nhân vật trải nghiệm cuộc sống như động vật, thực vật của nhà văn để từ đó thức tỉnh bạn đọc về vị trí vai trò của con người đối với thiên nhiên. Có thể nói, thiên nhiên lấp lánh dưới trang văn của Coetzee mang vẻ đẹp rất khó trộn lẫn bất cứ nhà văn nào trên thế giới. Xen lẫn các yếu tố thiên nhiên, động vật vào tiểu thuyết của mình một mặt Coetzee ca ngợi vẻ đẹp nó, đồng thời lên án gay gắt loài người đã xâm chiếm, đối xử bạc đãi với người mẹ thiên nhiên.

3.3.2.2. Con người gieo hạt giống tình thương yêu

Giọng điệu lạnh lùng, chua chát đến mức khô khốc bao trùm tiểu thuyết của Coetzee, tuy nhiên nhà văn vẫn dành những trang viết đẹp về thiên nhiên và tình yêu thương con người dành cho nhau. Có lẽ một sứ mệnh mà Coetzee mang đến cho bạn đọc thế kỉ XXI với những bộn bề bất tín đó là tình người mong manh còn sót lại. Nếu thiên nhiên và con người trong tiểu thuyết của Beckett, Kafka lạnh lùng đến phi lí. Tình yêu thương không có địa hạt gieo giống thì ngược lại trong tác phẩm của Coetzee vẫn lấp lánh tình người hướng đến tương lai, sự sống dù rất mơ hồ, trống rỗng.

Trong Tuổi sắt đá, Coetzee đã để cho Curren kể lại những sự kiện thay đổi cuộc sống trong những ngày cuối cùng của bà chiến đấu với căn bệnh ung thư dưới hình thức một lá thư gửi cho cô con gái đang sống ở nước ngoài. Cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh ở Cape Town, Nam Phi (1986-1989) - thời kỳ chia rẽ, bất công, bạo lực và những cuộc nổi dậy của người da đen. Bà Curren, người đã sống cuộc sống tương đối yên tĩnh, bị vướng vào sự xáo trộn khi bà đưa ông Vercueil, một người đàn ông vô gia cư và một con chó vào nhà. Những thay đổi đó đã tác động, làm xáo trộn cuộc sống thường nhật của bà Curren trong những ngày cuối cùng. Từ một bà già thờ ơ, cô lập, đến một người tích cực tham gia hăng hái, can thiệp sâu vào thế giới xung quanh. Tất cả xuất phát từ trái tim tình yêu thương chăng?

Bà Curren được miêu tả là một người phụ nữ có cảm xúc sâu sắc và chân thành. Bao trùm bức thư cũng là cuốn tiểu thuyết về cuộc đời là tình yêu thương vô điều kiện của bà dành cho cô con gái - vừa là người thân, mà cả người lạ nữa. “Mẹ thèm khát được thấy con ở đây biết chừng nào, để con ôm mẹ, an ủi mẹ!” [96, tr.7]. Một mình bị cô lập ở đất nước phân biệt chủng tộc, bà dành toàn bộ nguồn năng lượng cho đứa con gái duy nhất. “Sống! Con là cuộc sống của mẹ; mẹ yêu con như

99

yêu bản thân cuộc sống” [96, tr.8]. Con gái của bà đã rời bỏ Nam Phi ra đi năm 1976 sang định cư ở Mỹ, lấy một anh chồng người Mỹ và sinh được hai cháu. Trong cuộc hội thoại của bà với người đàn ông vô gia cư, chúng ta thấy được tình yêu của bà lớn biết nhường nào: “con là da thịt của da thịt mẹ” [96, tr.15]. Curren dành nhiều thời gian và tâm sức nhớ về con gái, một khao khát mãnh liệt, nhưng rõ ràng không được đáp lại để rồi từ từ chuyển sang sự oán giận đối với đứa con duy nhất của mình vì đã bỏ rơi bà. Cô đơn đến tận cùng nhưng bà vẫn yêu cuộc sống vì trong cuộc sống bà nhận ra mình còn có một người con gái. “Mặc dầu bao nhiêu tăm tối, thất vọng, điên khùng, mẹ vẫn không thể nào từ bỏ tình yêu đối với cuộc sống” [96, tr.17]. Các nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee đều có điểm chung là dù bị đẩy đến tận cùng của cô đơn, cô lập và đau đớn những họ vẫn không thôi hi vọng, dù hi vọng về phía trước đôi lúc mờ mịt, vô định.

Đối với Bheki và bạn của cậu ta, ban đầu bà Curren tỏ thái độ và cảm giác khinh miệt, khó chịu và không thể hiểu được suy nghĩ của hai đứa. “Còn trẻ măng mà sao chúng coi rẻ tuổi niên thiếu, coi rẻ thời buổi kì diệu, coi rẻ thời tâm hồn chúng đang độ lớn. Tâm hồn và các bộ phận trong cơ thể chúng như đã tàn tạ, không phát triển” [96, tr.10]. Không chỉ tuổi trẻ da đen đang rơi vào tình trạng khủng hoảng mà cả những đứa trẻ da trắng phái bên kia ranh giới. “Đâu còn những đứa trẻ đáng yêu, tóc vàng, ngây thơ, mặt mày rạng rỡ dịu dàng như các thiên thần. Những gì chưa ra đời cũng bị lãng quên ở ngay nơi chúng sống” [96, tr.10]. Mặc dù bà bị nguyền rủa vì không thể cho John và Bheki tình yêu thương, nhưng khi gặp nạn chính bà đã ra sức bảo vệ chúng trước hiểm họa đe dọa đến tính mạng của chúng. Bà đã đau đớn khi ôm lấy John khi không cứu được nó khỏi mũi súng cảnh sát ngay ở trong nhà mình.

Trong bức thư của mình, ban đầu, bà Curren mô tả ông Vercueil chẳng khác gì một kẻ vô chủ ô uế, nhặt rác và đã để anh ta ở lại trên đường đi. Sau đó, anh ta đã trở lại nhà của bà và tham gia vào cuộc sống của bà như một thành viên trong gia đình. Thậm chí cuối cùng bà còn chia sẻ giường ngủ cùng với anh ta. Bà học cách chăm sóc và yêu thương anh. Mặc dù ông Vercueil không sẵn sàng đáp trả tình cảm ấy. Cuối cùng như một lẽ tự nhiên, bà Curren đầu hàng với mong muốn để cho tình yêu hiện tại của mình được tự do trôi qua và nắm lấy cơ hội để tình yêu được trao, như một con chó yêu thương. “Như con cua bò đã lâu ngày, mệt mỏi, gấp càng lại, cả cái đau trong người cũng ngủ nốt. Tôi lại chìm vào bóng tối” [96, tr.197]. Mong muốn cuối cùng của bà về một cái ôm cũng được thực hiện bởi ông Vercueil. “Anh ta đưa tay ra ôm mẹ, giữ mẹ rất chặt, khiến mẹ thở dốc. Cái ôm đó chẳng có chút gì gọi là nồng ấm” [96, tr.243]. Dù chỉ là sự tiếp xúc về thể xác nhưng đã an ủi rất nhiều cho cuộc đời dài dằng dặc với căn bệnh ung thư của bà. Sống trong không khí của chế độ Apartheid, Curren bị cô lập giữa vòng vây bảo vệ của cảnh sát. Cuộc đời của bà tẻ nhạt, vô nghĩa, lặng lẽ. Bà tự cứu mình bằng cách từ bỏ địa vị bản thân, sự ích kỷ, sống đúng sự thật tâm hồn và lương mình.

Trong thời gian ở Guguletu tìm kiếm John, bà đã nhận thức được bi kịch thực sự của cuộc chiến và ảnh hưởng của nó đối với người dân. Bà cảm thấy đồng cảm thực sự với những người liên quan và thừa nhận họ là những người đang đau

100

khổ. Bà muốn rời bỏ đất nước này như con gái của mình. Rất nhiều lần diễn ngôn của bà đều xoay quanh chuyện con gái của bà rời khỏi đất nước. Bà thừa nhận về sự cần có Vercueil bên cạnh để thoát khỏi sự cô đơn, bạo lực chứ không phải đội cảnh sát của chính phủ. “Đã đến lúc cuối rồi, mẹ chẳng còn nghi ngờ gì anh ta nữa. Trong anh ta vẫn còn lảng vảng một chút gì lo lắng cho mẹ…” [96, tr.240]. Hai con người này cần vào tình yêu thương để nương tựa vào nhau giữa khung cảnh hỗn loạn của Nam Phi. “Mẹ cần anh ta có mặt, an ủi, giúp đỡ, nhưng anh ta cũng cần mẹ giúp” [96, tr.240]. Con người trong tiểu thuyết của Coetzee luôn hướng vào tình thế nương tựa, dựa dẫm vào nhau, lấy nền tảng của tình yêu để thắp sáng tâm hồn con người. Dù nghiệt ngã, nhiều đau đớn với bi kịch phân rẽ, nhưng đọng lại trong lòng bạn đọc vẫn là những trang viết thấm đẫm tình yêu thương con người.

Lúc đầu bà Curren tin vào hệ thống chính trị của nhà nước và đội quân cảnh sát sẽ bảo vệ bà nhưng cuối cùng bà tránh xa những nhân viên cảnh sát mà bà đã từng tin tưởng trước những hành động bất công của họ đối với cư dân vùng Guguletu. Bà từng nhờ họ giúp đỡ, họ hoàn toàn nhận thức được sự tàn bạo của cuộc chiến. Tuy nhiên, sau khi ông Thabane cho bà nhận thấy cái chết và sự hủy diệt cộng đồng da đen của cảnh sát bà đã nỗ lực để lên án cảnh sát và chính quyền nhà nước. Bà không thờ ơ với chiến tranh và xem đó là một phần cuộc sống của bà, giống như cuộc sống của bà là một phần của nó. Bà tách mình khỏi nó và đứng về phía người da đen đấu tranh chống lại bất công, phân biệt. Có thể nói, bà Curren là kiểu con người tiêu biểu sống trong thời kì bạo lực của Nam Phi với những phản ánh chân thực nhất về cuộc chiến đen - trắng. Mặc dù tiếng nói đấu tranh của bà yếu ớt nhưng nó chứng minh cái gì thuộc về tình yêu thương luôn chiến thắng.

Người chậm đặt Paul Rayment vào hoàn cảnh đặc biệt: bị tai nạn và phải cắt bỏ một chân. Từ tình huống này câu chuyện được mở ra với nhiều mối quan hệ, con người hậu hiện đại có cơ hội bộc lộ bản chất của mình. Người gây tai nạn cho Paul Rayment là Wayne Blight, một thanh niên thích phóng xe ào ào, lao thẳng vào ông và hệ quả là ông phải vào viện. Sau khi gây tai nạn, Wayne Blight tìm mọi cách để thoái thác vì lo sợ bị kiện tụng, bồi thường, “đeo bộ mặt tỏ ra kính trọng, dò dẫm tìm lời ra vẻ hối lỗi”. Khi nằm viện, Paul Rayment phải nhận lấy thái độ dửng dưng, lạnh lùng: “ông phát hiện dưới vẻ nhanh nhẹn của họ sự thờ ơ với số phận của ông và người bạn đồng hành… Ông cũng cảm thấy sự thờ ơ ấy dưới sự quan tâm, ân cần của viên bác sĩ trẻ Hansen” [98, tr.19]. Cảm giác lạnh lẽo bao trùm không gian bệnh viện, bác sĩ dửng dưng một cách vô ý thức như thể muốn cho các bệnh nhân biết rằng họ chẳng để lại gì cho đám đông nên chẳng cần tính đến.

Một vấn đề đặt ra trong Người chậm đó là chăm sóc y tế, đặc biệt là người già mắc bệnh. Đa số bác sĩ cho rằng người già là những phế phẩm của xã hội nên không muốn uổng phí công sức chữa trị. Bác sĩ Hansen tự ý quyết định cắt bỏ một phần chân của ông Paul Rayment mà không cố gắng giữ lại nó vì anh ta cho rằng tuổi của ông đã cao và tỉ lệ phẫu thuật thành công rất thấp. Hơn nữa thái độ thờ ơ, vô cảm của các y bác sĩ ẩn sau những hành động tưởng chừng như ân cần là một bức tranh khác của con người trong xã hội hậu hiện đại. Cách chăm sóc người già tàn tật như những đứa trẻ của “cô bảo mẫu” Sheena là biểu hiện của sự giả dối nơi công cộng. Họ làm vì tiền, vì trách nhiệm xã hội chứ không xuất phát từ tình người: “sao ông không an lòng với cuộc sống bị hạn chế, bình thường trong cái thành phố

101

chẳng mấy thân thiện với người già cả ốm yếu” [98, tr.37]. Đây là lí do để Coetzee căm ghét sự giả dối, đặc biệt là những thứ nhân danh đạo đức. Không bằng một thái độ gay gắt, ông ngầm tố cáo kiểu xã hội hậu hiện đại lừa bịp, giả tạo của một số bộ phận người.

Hàng xóm của Paul Rayment là những cô gái người Singapore không đáp lại lời chào của ông. Họ không nhận ra sự tồn tại của ông, người nào biết người ấy. Cuộc sống hiện đại làm cho con người mất niềm tin ở nhau. Các nghi thức xã giao đều bị loại bỏ để thay thế cho lối sống ích kỷ cá nhân. Con người sống không cần bất kỳ một mối quan hệ xã hội nào, không cần sự giúp đỡ từ những người xung quanh. Thế hệ trẻ lớn lên trong thời đại của kỹ thuật máy móc đã làm giảm đến mức tối đa tình cảm giữa con người với con người, thiếu niềm tin, không kính trọng người đi trước. Tất cả điều đó biểu hiện tình trạng phi nhân tính trong xã hội hậu hiện đại. Vì thế mỗi trang viết của Coetzee không dừng lại miêu tả sự tha hóa về mặt đạo đức của cá nhân mà ông muốn mở rộng phản ánh sự tha hóa về mặt xã hội. Bằng thái độ không thỏa hiệp, ông đánh thẳng vào lớp người vụ lợi, xã hội đểu giả, thói an ủi, vỗ về của nền văn minh phương Tây.

Những chuỗi ngày sau khi ra viện thật sự khó khăn khi Paul Rayment phải chấp nhận một cuộc sống mới hoàn toàn khác trước. Phải nhờ đến sự trợ giúp của người khác - những nữ nhân viên điều dưỡng. Rồi tình yêu đến khi ông gặp Marijana, dù muộn màng đối với một ông già sáu mươi tuổi. Tình yêu ấy tràn ngập trong tâm hồn ông và mãnh liệt không thua kém gì tình yêu của tuổi trẻ. Nó đã thức dậy trong ông những khát khao thầm kín, làm cho cuộc sống của ông trở nên có ý nghĩ hơn dù chỉ là tình yêu từ một phía. Marijana xuất hiện như một sự cứu cánh đối với cuộc đời của Paul Rayment. “Nụ cười của Marijana vương vấn trong trí ông, dẫn đến một sự thay đổi mong mỏi thôi thúc. Mọi sự buồn rầu, mọi bóng mây u ám tan ngay lập tức… Ông còn mua cả hoa, làm căn phòng buồn tẻ sáng bừng… Ông muốn yêu, muốn thương mến chị và các con chị” [98, tr.99]. Cô đối xử với ông không như với một đứa trẻ mà với một sự ân cần thật sự, một sự giúp đỡ cần thiết đối với những con người hiện tại mất phần thân thể và bị thiếu hụt một chức năng nào trên cơ thể. Marijana đối xử với ông bằng một sự tôn trọng và am hiểu tâm lí sâu sắc. Cô nấu nướng, chăm sóc, tập cho ông đi và quan trọng là cô trò chuyện cùng ông như một người bạn chứ không phải đối xử với ông như với trẻ nhỏ mà Sheena hay bà Madeleine đã làm ở lớp tập phục hồi chức năng.

Xây dựng nhân vật Paul Rayment, nhà văn Coetzee gửi gắm đến con người hậu hiện đại bức thông điệp: trong xã hội đen nhuốc của đồng tiền vật chất, thứ quý giá nhất để làm thành con người là tình thương yêu. Bằng một cách lạnh lùng, ông gieo vào lòng độc giả niềm tin vào cuộc sống, hi vọng ở tương lai, về tình người còn hiện hữu đâu đó. Dù còn nhiều khó khăn bất hạnh trong cuộc sống nhưng Paul Rayment hay Marijana đã có những phút giây sống thật đẹp, ngập tràn yêu thương. Chất xúc tác ấy giúp người đọc có quyền hi vọng vào bản thể con người hậu hiện đại.

Tiểu thuyết của Coetzee luôn đưa con người sát lại gần nhau bằng tình yêu thương, dù còn nhiều ngăn cách, nhiều phân biệt. Trong Đợi bọn mọi, dù bị ngăn cách giữa hai giai tầng khác nhau, đối lập với nhau về chủng tộc màu da, nhưng vị Quan tòa đem lòng yêu cô gái mọi trong sáng, lấy tính mạng, địa vị của mình để

102

bảo vệ cho cô. Giáo sư David Lurie trong Ruồng bỏ yêu chân thành sinh viên Melanie Isaacs. Mặc dù ông cách cô đến ba chục tuổi, cô lại là sinh viên của ông, được ông dạy dỗ. Nhưng rượu, văn chương và những bản xônat đã đem ái tình của ông đến với Melanie. “Ông làm tình với cô trên sàn phòng khách, trong tiếng mưa tí tách đập vào cửa sổ” [97, tr.29]. Vũ điệu của tình ái thân để không chỉ có ở bản năng sinh học mà nó còn xuất phát từ tình yêu của David dành cho Melanie. Đó được xem là những khúc ca đẹp nhất của tình yêu. Có thể nói, văn chương của Coetzee này luôn chất chứa tình cảm và mạch ngầm yêu thương, kết nối con người với con người bằng tình yêu đồng loại, tình yêu trần thế.

Tiểu kết chƣơng 3

Điểm chung nổi bật trong tiểu thuyết của Coetzee là kiểu nhân vật bị tổn thương, cô đơn, hoài nghi trong cuộc sống. Và để thực hiện ý đồ của mình, tác giả đã đưa người đọc vào hoàn cảnh con người mang những nỗi đau phi lí khác nhau từ tinh thần đến thể xác. Các tác phẩm ông xây dựng không lặp lại hai lần, nên mỗi nhân vật mang trong mình những bi kịch riêng, không trộn lẫn. Và trong mỗi bi kịch lại chất chứa những nỗi niềm chua chát riêng làm bật rõ những góc khuất của con người hậu hiện đại. Từ những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy, con người trong tiểu thuyết của Coetzee có những đặc trưng như: đó là con người phi lí với những dụ ngôn đen bi đát, hài hước về chính trị, xã hội Nam Phi đương thời. Mỗi một kiểu nhân vật biểu tượng cho một dạng thái xã hội của Nam Phi trong và sau chế độ Apartheid. Một gái già trinh tiết bị bỏ rơi giữa miền đất hoang mạc u tối (Giữa miền đất ấy), một nhóm cư dân bị bỏ quên của đế chế (Đợi bọn mọi), một người già tàn phế bị từ chối được yêu thương (Người chậm), một vị giáo sư danh giá tại một trường đại học nổi tiếng bị đuổi việc, bị trả thù (Ruồng bỏ), một bà già bị bệnh ung thư và cuộc sống lay lắt với người đàn ông vô gia cư (Tuổi sắt đá)... Mỗi con người trong tiểu thuyết của Coetzee vẽ ra một mảng tối xám xịt của Nam Phi dưới chế độ Aparthied tàn khốc, đẫm máu, li tán, chia rẽ. Đó là những con người hoài nghi, cô đơn, lạc lõng giữa Nam Phi rộng lớn. Quốc gia có những chia rẽ đen - trắng, giàu - nghèo, ông chủ - nô lệ cực độ đẩy con người vào bi kịch cô đơn, ruồng bỏ. Họ hoài nghi về xã hội, mọi thứ tồn tại xung quanh, ngay cả bản thân mình. Các nghi vấn về sự tồn tại và ý nghĩa được đặt ra, nhưng tất cả mọi lí giải đều bất lực. Con người độc thoại với trạng thái mê sảng cắt nghĩa việc mình đến đây có ý nghĩa gì? Đâu mới thực sự là tình yêu thương, sự kết nối?... Cố gắng tìm kiếm để kết nối với thế giới bên ngoài, nhưng con người trong tiểu thuyết của Coetzee đều lạc lõng, bơ vơ trong gia đình, môi trường sống xã hội. Tình trạng Apartheid/hậu Apartheid xô đẩy con người trở thành một ốc đảo tinh thần giữa Nam Phi hoang vu. Mặc dù nhận thức rất rõ những bi kịch của mình, nhưng con người trong tiểu thuyết của Coetzee không rơi vào trạng thái hư vô, mất hút phi lí mà trong họ đều nhen nhóm tình yêu thương đồng loại, gắn bó tha thiết với sinh thái. Bên cạnh đó, kiểu con người lưu vong, nhân vật nữ cũng là một đặc trưng nổi bật trong hệ thống sáng tác của Coetzee. Tuy nhiên, do khuôn khổ của luận án chúng tôi chưa thể triển khai trong Chương 3 này. Hi vọng ở công trình nghiên cứu khác chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ hơn.

103

Chƣơng 4 KỸ THUẬT TRẦN THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU THUYẾT CỦA COETZEE

Ở Chương 4, luận án khai thác tiểu thuyết của Coetzee từ kỹ thuật trần thuật để từ đó khẳng định đặc trưng độc đáo của riêng ông cũng như văn chương hậu hiện đại nói chung. Chúng tôi tập trung làm rõ một số vấn đề như người kể chuyện (NKC); điểm nhìn trần thuật; kết cấu không, thời gian; giọng điệu; siêu hư cấu; thủ pháp giản lược... Thoạt nhìn, người đọc dễ lầm tưởng tiểu thuyết của ông được kể theo ngôi thứ nhất và thứ ba truyền thống. Tuy nhiên, với kỹ thuật xử lí điểm nhìn trần thuật đã hạn định khả năng thống trị văn bản của NKC. Tính chất lưỡng lự ngôi kể giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba là một đặc điểm thú vị trong tiểu thuyết của Coetzee, giúp ông tạo nên tiếng nói đa thanh, khả năng đối thoại được mở rộng. Được khoác lên giọng điệu lạnh lùng, ngoại cuộc, đặc biệt tiểu thuyết của Coetzee được tổ chức điểm nhìn đa tuyến có khả năng bao quát bức tranh xã hội Nam Phi lại vừa có thể đi sâu vào ngõ ngách bi kịch của con người đương đại. 4.1. Kỹ thuật sử dụng ngƣời kể chuyện trong tiểu thuyết của Coetzee

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Coetzee mang những đặc trưng của nghệ thuật trần thuật hậu hiện đại. Ông được xem là người nghệ sĩ có sự đa dạng và cách tân về hình thức kể chuyện từ việc xác lập hình tượng NKC đến điểm nhìn nghệ thuật cũng như cách thức tổ chức truyện kể. Nhìn tổng quan rất dễ nhầm lẫn một nhà văn Nam Phi dễ dãi trong cách kể chuyện, tưởng chừng như rất cổ điển, nhưng ẩn giấu đằng sau đó là những dụng ý nghệ thuật của tác giả. 4.1.1. Người kể chuyện và tính chất lưỡng phân ngôi kể

thuyết mới (tiếng Pháp: Nouveau

là một

roman)

phong

trào

học

văn

(22) Tiểu vào khoảng 1950 tới 1970 ở Pháp của một nhóm các tác giả chu yếu thuộc nhà xuất bản Minuit. Thuật ngữ này được đưa ra lần đầu tiên với ý nghĩa tiêu cực bởi nhà phê bình Émile Henriot trong một bài trên báo Le Monde ngày 22 tháng 5 năm 1957 để phê bình tiểu thuyết Jalousie của Alain Robbe-Grillet. Trong đó, Samuel Beckett là nhà văn ảnh hưởng sâu sắc đến sáng tác của Coetzee.

Trong văn chương hậu hiện đại nhà văn coi trọng cách kể phi tuyến tính hơn cách kể tuyến tính. Nguyên nhân có thể bắt nguồn từ trong cuộc sống đương đại, tốc độ ngày càng “chóng mặt”, thông tin ngày càng nhiều và liên tục mới… Trong môi trường như vậy, cách kể “tuyến tính” không còn thích hợp nữa. Cách kể tuyến tính được thay bằng “phi tuyến tính”. Ở đó thế giới nghệ thuật trong tác phẩm bị “đứt gãy” cả không gian và thời gian; những hình tượng con người bị “vỡ gãy” cả về hình thể và bộ mặt tinh thần; đường đời của nhân vật - nếu như họ có một con đường - cũng như những tuyến của cốt truyện - nếu như có một cốt truyện - bị đứt gãy, hàng trăm mảnh, đoạn văng ra có khi lại bị xáo trộn như trong chiêm bao. Độc giả quen với cách kể thông thường tuyến tính rất khó theo dõi nội dung câu chuyện. Tính từ Tiểu thuyết mới(22) đến nay, có ba hiện tượng đánh dấu sự thay đổi kỹ thuật trần thuật trên thế giới. Hiện tượng thứ nhất: sự phá vỡ tính chất thống ngự

104

của NKC ngôi thứ nhất, bởi một kỹ thuật trần thuật tinh vi, được gọi là tính chất lưỡng lự giữa ngôi kể thứ nhất và thứ ba. Hiện tượng thứ hai: sự dung nạp đa chủ thể trần thuật và sự bình đẳng vị thế trần thuật trong cấu trúc văn bản. Hiện tượng thứ ba: kiểu tự thuật “đánh tráo” chủ thể trần thuật - một đặc tính mới của tiểu thuyết hậu hiện đại. Bàn về hiện tượng thứ ba này, theo Trần Huyền Sâm “bằng việc “đánh tráo” chủ thể trần thuật, nó vẫn giữ được gần như cơ bản tính chất của thể loại tiểu thuyết tự truyện nhưng hình thức “xưng danh” trần thuật không phải ở ngôi thứ nhất, mà là ngôi thứ ba. Kiểu trần thuật này tạo ra tính chất lưỡng phân rất khó nắm bắt giữa tính chất trần thuật chủ quan và khách quan trong cấu trúc văn bản” [76, tr.223].

Theo lí thuyết tự sự học, câu chuyện trong tác phẩm có khi nhân vật ngôi thứ nhất kể, nhưng cũng có khi chính tác giả hàm ẩn ngôi thứ ba kể. Hầu hết tiểu thuyết của Coetzee được kể ở ngôi thứ nhất đều có tính chất lưỡng phân ngôi kể. Đôi lúc, bạn đọc khó nhận ra đó là lời trần thuật của nhân vật hay của tác giả hàm ẩn. Điều này đã tạo tính chất cân bằng vị trí kể chuyện, đồng thời tạo ra giọng điệu khách quan cho tác phẩm. Trong Đợi bọn mọi, NKC là vị Quan tòa, trần thuật theo ngôi thứ nhất. Câu chuyện được diễn tiến qua hành động, cảm nhận, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật vị Quan tòa. Như vậy, vị Quan tòa là nhân vật hành động, là chủ thể của hành động được kể lại, là chủ ngữ trong câu và thuộc về hiện thực thể hiện trong tác phẩm. Tuy nhiên, vị Quan tòa không phải là NKC dạng toàn tri, biết hết mọi câu chuyện. Ở đây, NKC ngôi thứ nhất có vai trò ngang bằng nhân vật, đứng đằng sau nhân vật và các sự kiện để kể. Đôi chỗ, NKC có vai trò trần thuật nhỏ hơn so với nhân vật. Không thấy người nói chỉ thấy người trình bày, nghĩa là phải có người ghi chép lại tất cả những sự kiện mà NKC ngôi thứ nhất không trực tiếp chứng kiến. Đây là hình thức đánh tráo, mập mờ chủ thể trần thuật trong tiểu thuyết hậu hiện đại.

Có thể nói, ở Đợi bọn mọi, trên tinh thần cách tân tiểu thuyết thể kỷ XX, tác giả hoài nghi, bất tín với hiện thực nên NKC đã ngầm ẩn đặt ra những băn khoăn trăn trở, nghi vấn thắc mắc về thân phận con người và thời đại. Đây là cơ hội để người đọc cùng trao đổi, đối thoại và cùng đồng sáng tạo. Theo bước chân NKC, độc giả sẽ tiến sâu vào thâm cung của nhân vật, khám phá con người trong con người của đời sống hiện tồn. NKC trình bày, cung cấp thực trạng cuộc sống man rợ ở vùng biên ải. “Thực vậy, con người sinh ra không phải để sống đơn độc!... Cuộc sống dã man đã biến tôi thành như vậy” [94, tr.170]. Một chế độ đầy rẫy sự bất công, vô lý, tàn nhẫn. Coetzee luôn trăn trở, băn khoăn về hai chữ “công lý” liệu có tồn tại ở đây không? “Đút đầu mình vào máy chém còn dễ hơn đòi công lý cho bọn mọi” [94, tr.224]. Ở một diễn biến khác, vị Quan tòa một lần nữa có những lời nói hết sức châm biếm với chuẩn úy Mandel: “Hãy nhớ rằng, cả đời tôi cũng sống tuân thủ pháp luật, tôi nắm rõ các quy trình của nó, tôi hiểu rằng sự thi công lý thường rất mù mờ. Tôi chỉ đang cố lý giải. Tôi cố hiểu rõ phạm vi cuộc sống của anh… Nếu là anh, tôi cứ nhủ, đôi bàn tay tôi sẽ đầy cảm giác dơ bẩn đến mức ngộp thở…” [94, tr.258]. NKC nói về kí tự của bọn mọi: “Nhìn này, chỉ có một kí tự duy nhất. Nó là từ chiến tranh, trong ngôn ngữ của người mọi, nhưng nó cũng có nghĩa khác

105

nữa. Nó có thể hiểu là sự báo thù, nếu ông xoay ngược lại như thế này, nó còn có thể đọc là công lý” [94, tr.231]. Thông qua chi tiết này có thể thấy, nhà văn đã thâm nhập sâu vào tác phẩm cùng với NKC ngôi thứ nhất đưa ra những nhận xét về một vấn đề. Đây là hình thức Coetzee tạo ra sự đa nghĩa cho ngôn ngữ đồng thời xây dựng nên những ngụ ngôn chính trị. Chiến tranh biểu tượng của đau thương, trái khoáy, vô lí. Báo thù xảy ra là điều tất yếu. Công lý là đích đến của mọi cuộc đụng độ chiến tranh. Không chỉ nhân vật tôi mà tất cả con người nơi vùng biên ải luôn khao khát hướng về sự sống bình yên. “Tôi muốn sống. Như mọi người đều muốn sống. Sống, sống và sống. Bất chấp mọi chuyện”. Và sống nhưng sống như thế nào, đó là câu hỏi mà nhà văn đặt ra tiếp theo cho độc giả, thông qua lời nhân vật tôi - NKC. “Trong năm nay, liệu tôi có thực sự tận hưởng sự tự do vô tận khi hơn bao giờ hết, tôi thực sự làm chủ cuộc sống của mình để tiếp tục sống theo ý mình.” [94, tr.166]; “Đôi khi nỗi khát khao được tiếp xúc với con người chế ngự tôi mạnh mẽ đến mức tôi buột miệng rên lên. Tôi đã mong đợi biết bao cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với cậu bé mỗi sáng và tối, đó là tất cả những gì tôi có! Nằm trong tay phụ nữ trên một chiếc giường tử tế, có thức ăn ngon, được tản bộ dưới ánh nắng mặt trời, những điều này dường như quan trọng hơn nhiều so với quyền sự xác định ai là bạn ai là thu mà không cần cảnh sát chỉ bảo” [94, tr.200]. Như vậy, vị thế NKC và nhân vật ngang bằng nhau trong câu chuyện kể, đôi lúc vị thế trần thuật của NKC nhỏ hơn nhân vật. Việc tham gia của nhà văn vào các đoạn tranh luận về một vấn đề tạo ra tiếng nói đa thanh cho văn bản.

Bên cạnh Tuổi sắt đá thì tiểu thuyết Giữa miền đất ấy cũng được kể ở ngôi thứ nhất đồng sự. Toàn bộ câu chuyện ở nông trang, trong ngôi nhà hình chữ H được kể bởi Magda. Tác phẩm được đánh số gồm 266 đoản khúc như những mảnh ghép lộn xộn về kí ức vụn vỡ của cô. Đó là kí ức của Magda về lần đầu tiên cha cô đưa một người phụ nữ về nhà; kí ức về người mẹ mà cô không còn nhớ được nữa; về Hendrik, Klein Anna; về người cha cộc cằn, thô lỗ, một trang phong lưu; về tuổi thơ lớn lên với bọn trẻ da đen; về thiên nhiên sa mạc; về những ngày tháng lặp lại nhàm chán... Tất cả được Magda kể đứt quãng trong sự khủng hoảng tinh thần. Tuy nhiên, Magda không thống ngự toàn bộ văn bản kể, mà xen vào đó là ngôi kể của tác giả hàm ẩn. Bằng cách này, nhà văn đã can dự sâu vào các chi tiết để nhận xét, bình phẩm, nhất là các sự việc liên quan đến các nhân vật xung quanh...

Hình thức lưỡng phân ngôi kể là đặc điểm trần thuật chung của văn chương hậu hiện đại. Nó cho phép tác phẩm dung nạp vào đó nhiều tiếng nói khác nhau, khi là NKC ngôi thứ nhất, khi là nhà văn ẩn tàng, nhiều điểm nhìn khác nhau... từ đó tạo ra nhiều tầng bậc ý nghĩa. Thông qua đó, tác giả đã kín đáo lồng vào những triết lý cuộc đời, những bài học nhân sinh về quyền tự do, quyền được sống của con người. Hơn nữa, nhờ vậy mà nhân vật - NKC ngôi thứ nhất đã được chứng kiến những hậu quả khốn cùng của chế độ Apartheid.

Điểm thú vị về hình tượng NKC trong một số tiểu thuyết của Coetzee đó là xây dựng kiểu NKC dị sự hạn định với thủ pháp đánh tráo chủ thể trần thuật. Theo quan điểm của Lyotard, thế kỉ XXI văn chương không có gì được gọi là văn bản hay tác phẩm nữa mà chỉ có một “mớ chữ”, một sự trải chữ trên bề mặt của văn bản.

106

Điều này cũng thể hiện rõ quan niệm hậu hiện đại của ông, đó là không còn tồn tại văn bản lớn nữa mà chỉ có những vi bản thức (hình thức tồn tại của vi văn bản), tức là những mảng ý nghĩa, mảng đối thoại, những câu nói, những câu đang nghĩ. Tác phẩm trở thành một thứ văn bản cho phép người đọc toàn quyền nhảy từ điểm này đến điểm khác hết sức tự do. Quan niệm tiểu thuyết là những vi văn bản, tiểu thuyết như một trò chơi thể hiện rõ nhất ở nghệ thuật trần thuật hỗn độn, lắp ghép phi logic. Trong nhiều tiểu thuyết, nhân vật bị tẩy trắng, không gian nhòe mờ, thời gian đảo lộn, phi thực. Chối bỏ đại tự sự, hậu hiện đại khước từ vai trò toàn tri của NKC ở ngôi thứ ba, NKC ngôi thứ nhất không còn đóng vai trò kể chuyện như trước nữa. Theo Kundera, người coi tiểu thuyết như một trò chơi cộng hưởng giữa những “thành viên” cùng tham gia trò chơi đó là tác giả, văn bản và độc giả cho rằng: “trong lãnh địa của tiểu thuyết, người ta không khẳng định đâu là lãnh địa của trò chơi và của những giả thuyết. Sự chiêm nghiệm tiểu thuyết, do vậy trong bản thân của nó là có tính nghi vấn, giả thuyết” [54, tr.83]. Tiểu thuyết hậu hiện đại xem văn bản là một trò chơi xuất hiện kiểu NKC không đáng tin cậy với tâm thế bất tín nhận thức. Cái nhận thức được coi là bề nổi của tiểu thuyết và nó được coi là mảnh đất của tưởng tượng và đối thoại. Trên một phương diện nào đó, cái bất tín nhận thức tương ứng việc khước từ điểm nhìn toàn tri với NKC ngôi thứ ba “thượng đế” trong tiểu thuyết. Và việc dung nạp trong văn bản đa chủ thể trần thuật trở thành sự lựa chọn để lí giải mọi khía cạnh ngóc ngách của cuộc sống, đồng thời bộc lộ cái nhìn đa chiều và thái độ nghi ngờ về chân lí của nhà văn.

Nhìn bề ngoài tiểu thuyết của Coetzee, người đọc hay lầm tưởng đó là ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba truyền thống, nhưng vị trí, quyền hạn trần thuật câu chuyện đã thay đổi theo hình thức hậu hiện đại. Là nhà văn với những ngụ ngôn lớn về đạo đức con người, Coetzee chưa bao giờ phán xét việc đúng - sai, tốt - xấu của con người, cho nên với thủ pháp đa chủ thể trần thuật, ông đã đẩy câu chuyện ra giữa ánh sáng, buộc người đọc phải can dự để phán xét các phân luồng đạo đức - nơi va chạm mang tính lựa chọn khốc liệt của con người.

Dựa vào lý thuyết tự sự học, chúng tôi nhận thấy người trần thuật trong Ruồng bỏ là NKC dị sự ẩn tàng, giấu mặt, đứng ngoài câu chuyện thuật lại tấn bi kịch giữa ý thức danh dự và tiếng gọi tình dục của vị giáo sư David. Như một camera trần thuật lại từng sự kiện, biến cố của nhân vật một cách chi tiết, khách quan. Lối kể này làm cho câu chuyện trở nên khách quan, tạo độ tin cậy cao. NKC có vai trò thuật truyện, truyền đạt thông tin, bao quát câu chuyện và đồng thời bộc lộ được tư tưởng quan điểm của nhà văn về hiện thực được nói đến. Vấn đề về người tri thức trong xã hội hậu hiện đại, đặc biệt nhất và cuộc xung đột giữa bản năng con người và những chuẩn mực của giá trị đạo đức được Coetzee phản ánh nhức nhối trên từng câu chữ.

NKC ngôi thứ 3, dị sự chỉ kể những việc mà nhân vật chính chứng kiến và trải qua, sự dịch chuyển không gian từ thành phố Cape Town về trang trại ở nông thôn của tác phẩm cũng chính là sự dịch chuyển của cuộc sống nhân vật. Tuy nhiên, điểm nhìn lại được đặt vào nhân vật chính của câu chuyện là giáo sư David. Vì vậy, chúng ta xác định đây là NKC dị sự hạn định. Thực chất đây là kiểu đánh tráo chủ

107

thể trần thuật - một kĩ thuật đặc sắc của văn chương hậu hiện đại. Kiểu trần thuật dạng này, NKC bị hạn chế điểm nhìn, không xen vào những bình luận, nhận xét. Nhưng nhờ kĩ thuật đánh tráo, NKC có thể đi sâu vào thế giới nội tâm bên trong của nhân vật và như một kẻ ngoại cuộc không bàn luận vấn đề, tất cả được phơi bày trên văn bản. Tầng sâu văn bản đều do bạn đọc kiến tạo ý nghĩa cho riêng mình. Trong Ruồng bỏ, nhờ điểm nhìn bên trong nhân vật, NKC hiểu rõ khao khát bản năng tình dục đàn ông của David “mỗi tuần chỉ 90 phút có đàn bà cũng đủ làm ông hạnh phúc” [97, tr.11]. Trong cảnh làm tình của David với cô sinh viên Melanie, NKC được đặt điểm nhìn vào nhân vật chính để nói lên những cảm xúc của mình. Cuộc làm tình hưng phấn đến nỗi sau khoái cảm tuyệt đỉnh ông rơi vào trạng thái lãng quên, đờ đẫn. David luôn sống đúng với bản năng của mình: “một khoảnh khắc nổi bật trong ý nghĩ của ông là lúc cô quặp chân lên mông ông, kéo ông lại gần hơn, ông cảm thấy trào lên một niềm vui, niềm khao khát” [97, tr.14]. Như vậy, có thể nói nhờ kiểu trần thuật này mà NKC có thể đi sâu vào những thầm kín, ham muốn bản năng tính dục rất “con người” của giáo sư David.

Ngoài ra, với hình tượng NKC dị sự hạn định, nhà văn để cho nhân vật có những cuộc đối thoại ngầm. Nhờ vậy mà tác phẩm trở thành tiếng nói đa thanh, dung nạp nhiều dạng ngôn ngữ đối thoại khác nhau. David đã rất nhiều lần đối thoại với bản thân mình. Lúc đối thoại với Issac (cha của Melanie), David đã giấu kín những suy nghĩ của mình: “Tôi là con sâu trong quả táo, đáng lẽ ông phải nói thế. Làm sao tôi có thể giúp ông được khi tôi chính là nguồn cơn nỗi phiền muộn của ông” [97, tr.28]. Hay khi đối thoại với Lucy, ông cũng đã kịp chôn chặt ý nghĩ: “bố là bề tôi trung thành của thần Eros! Ông muốn nói như thế. Đấy là một vị thần đã hành động thông qua bố” [97, tr.36]. Có thể nói, đối thoại ngầm của nhân vật cũng là một thủ pháp hữu hiệu để nhường vai trần thuật trong kể chuyện. Như vậy, tác giả đã ẩn dấu đi một cái tôi tự thuật để nhân vật phát ngôn những quan điểm của mình một cách chân thành, kín đáo và tế nhị. Tiểu thuyết đã xây dựng những chuỗi bi kịch đầy đau đớn của David, đến mức ông hoài nghi tất cả hiện thực đang diễn ra. Hơn ai hết, David thấu hiểu một cách sâu sắc sự phi lí của cuộc sống. Ông đã từng phản kháng lại hiện thực bằng cách kiêu hãnh trước những lời thoái mạ của đồng nghiệp, chấp nhận vứt bỏ chức vị; trước cuộc trả thù của người da đen ông khuyên con gái từ bỏ trang trại và ra đi… Nhưng cuối cùng, David hoàn toàn bất lực và cô đơn trong vòng luẩn quẩn, không lối thoát. Ông nhận thấy sự bẽ bàng, chua xót trong công việc ở trại nuôi động vật gây cảm giác rờn rợn, kinh hoàng khi hàng ngày phải vuốt ve những con vật tàn tật, sắp chết. Kết thúc cuộc đời của ông bằng sự song hành với số phận của một con chó. Đó là một con chó đực tơ có một cái chân trái sau bị liệt, cứ phải kéo lê. David có tình cảm đặc biệt với nó, dành tất cả niềm đam mê nghệ thuật và tình thương yêu trước khi linh hồn nó giật khỏi thể xác. Ông chơi đàn banjo cho nó nghe và cảm thấy nó cũng yêu âm nhạc, “lúc ông bật dây đàn, nó ngồi thẳng dậy, nghếch đầu, lắng nghe” [97, tr.280]. Là nhà văn nhạy cảm với thân phận con người, Coetzee đã để hình ảnh một vị giáo sư danh giá cạnh một con chó như một ẩn dụ với kiếp nhân sinh đầy ô nhục trong xã hội hậu hiện đại.

108

Bi kịch bản năng tính dục, bi kịch ruồng bỏ, bi kịch cô đơn… tất cả là hiện thực nhức buốt đang tồn tại ở Nam Phi nói riêng và trên thế giới nói chung.

Với kĩ thuật sử dụng NKC dị sự hạn định, đặt điểm nhìn vào bên trong nhân vật, Coetzee đã có cơ hội phơi bày tất cả những bi kịch đau đớn nhất của vị giáo sư danh giá David và con người, xã hội Nam Phi thời hậu Apartheid. Ruồng bỏ không chỉ khái quát nên những bi kịch cá nhân mà còn của cả thể chế chính trị xã hội lúc bấy giờ. Bao trùm là không khí hòa bình, các luật cấm đoán được phá bỏ, nhưng chưa bao giờ như lúc này, Nam Phi rơi vào thế cực bất ổn như những năm đầu thập kỉ 90. Thời kì phi chính phủ, chủ nghĩa báo thù áp đặt lên trên luật pháp, cấu trúc đời sống tan rã, nơi bản lề của lịch sử con người bị lợi dụng để thanh toán lẫn nhau. Những cuộc truy lùng, bạo động, tàn sát của người da đen đối với người da trắng; người da trắng sống tha hương để hiện tồn, bị đe dọa, bị ruồng bỏ. Sự hỗn loạn của đất nước đa chủng tộc, đa văn hóa trở thành cục diện thách thức mới cho tổng thống Nelson Mandela.

Khi chuyển thể Ruồng bỏ thành phim truyền hình, đạo diễn đã lựa chọn John Malkovich - diễn viên có ngoại hình rất giống với Coetzee. Người xem có thể tìm thấy rất nhiều điểm tương đồng giữa tác giả và nhân vật [190]. Phải chăng Ruồng bỏ còn là một Coetzee ngoài đời với nhiều nỗi đau của con người mang cảm thức lưu vong. Diary of a Bad Year (Nhật ký một năm tồi tệ - 2007) là một dạng tiểu thuyết tự truyện. Trong đó nhân vật chính là Senor C - người gần như là hiện thân của chính nhà văn - một cây bút trung tuổi người Nam Phi di cư đến sống ở Australia. Senor C (C viết tắt của chữ cái đầu trong tên của ông) như là dạng hóa thân của Coetzee.

Một trong những nghệ thuật trần thuật độc đáo của văn chương hậu hiện đại đó là đánh tráo chủ thể trần thuật, có nghĩa là vẫn giữ được đặc tính tự thuật, nhưng không sử dụng ngôi thứ nhất xưng tôi, mà dồn vai trần thuật này cho ngôi kể thứ ba. Theo Trần Huyền Sâm, điều này giúp “tác giả vẫn giữ được khoảng cách giữa nhân vật và người kể chuyện, nhưng vẫn có thể bộc lộ một cách tận cùng những gì mà cá nhân mình “nếm trải”, những gì thuộc về thầm kín, riêng tư. Thủ pháp - “đánh tráo” này sẽ giúp tác giả ẩn giấu được cái tôi tự thuật. Cái tôi đó không cần phô bày trực diện, không cần “lột mặt nạ” như trong thể loại tiểu thuyết tự thuật, hay thể loại ký” [76, tr.223].

Ruồng bỏ là tiểu thuyết được kể ở ngôi thứ ba, nhưng toàn bộ trung tâm trần thuật lại được tổ chức thông qua nhân vật chính - NKC đồng sự. Tất cả những sự kiện, tình tiết nhân vật trong câu chuyện được kể qua hành trình ruồng bỏ của David từ thành phố về nông thôn, từ nông thôn về thành phố và kết thúc khi ông trở về nông thôn. Tác giả hướng nhân vật vào những hành trình nhận diện bản thân ở những môi trường khác nhau từ đó thể hiện bi kịch của một cá nhân và bi kịch của xã. Thời gian trong tác phẩm bị xáo trộn, câu chuyên được kể theo lớp không gian. Và trong đó, giọng điệu trần thuật mang tính chất của một cuốn tiểu thuyết tự truyện: tự thuật, hồi nhớ thông qua sự chiêm nghiệm, nếm trải của một nhân vật chính bị đầy từ vị thế thượng đẳng sang hạ đẳng (xã hội), từ vị thế của một kẻ ban ơn sang kẻ chịu ơn (tình dục). David tồn tại khép kín trong tâm trạng cá thể, các

109

mối quan hệ với các nhân vật khác cũng chỉ nhằm làm sáng tỏ và tô đậm thêm những khát vọng thầm kín, riêng tư của ông. Trung tâm trần thuật của tác phẩm được tổ chức thông qua kí ức nếm trải của nhân vật. Hình tượng nhân vật trung tâm trong tác phẩm ám ảnh người đọc ngay từ những lời giới thiệu đầu tiên. “Trong suy nghĩ của ông, một người đàn ông năm mươi hai tuổi, đã ly hôn như ông đã giải quyết vấn đề tình dục như thế là khá tốt. Cứ đến chiều thứ Năm, ông lái xe đến Green Point. Đúng hai giờ chiều, ông bấm chuông ở lối vào biệt thực Windsor, xưng tên và bước vào. Soraya đợi ông bên cửa căn hộ số 113. Ông vào thẳng buồng ngủ, căn phòng tỏa ánh sáng dịu dàng và có mùi dễ chịu, rồi ông cởi áo quần. Soraya từ phòng tắm ra, buông rơi áo choàng và trườn lên giường cạnh ông” [97, tr.5]. Cuồng nhiệt, mạnh mẽ, cháy bỏng, từ đây những rắc rối xảy đến với ông. David nếm trải từ vị trí của một trí thức quyền lực đến thân phận bị ruồng bỏ, làm bạn với những con chó đang đợi ngày thiêu hủy; từ vị thế của kẻ hãm hiếp người khác đến cảm nhận đau đớn trước cảnh con gái mình bị kẻ khác hãm hiếp. Toàn bộ tác phẩm là tâm trạng của David dằn vặt giữa bản năng của người đàn ông và ý muốn cắt bỏ dương vật, giữa tội lỗi và hậu quả của hận thù... Với hình thức đánh tráo chủ thể trần thuật, câu chuyện trở nên khách quan nhưng đồng thời nhân vật vẫn có thể bộc lộ tâm trạng giằng xé của mình dễ dàng. Xét về đặc điểm trần thuật, nhân vật “ông” - ngôi thứ ba, thực ra là nhân vật xưng “tôi”- ngôi thứ nhất. Và nếu chúng ta thay đổi ngôi trần thuật từ ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất, thì điểm nhìn trần thuật và giọng điệu trần thuật vẫn không có gì thay đổi. Bởi vì, tất cả thế giới nghệ thuật trong câu chuyện đều đặt dưới cái nhìn, sự đánh giá, phán xét trực tiếp của nhân vật chứ không hề bị chi phối bởi nhân vật kể chuyện toàn tri. Lí thuyết Genette gọi người trần thuật ở trong những tác phẩm như thế là người kể chuyện dị sự - hạn định. Tức là ở đây vẫn sử dụng hình thức trần thuật ngôi thứ ba, giấu mặt nhưng không đóng vai trò thượng đế. Chủ thể trần thuật có giọng điệu tự thuật, hướng nội về những điều xảy ra thầm kín trong bi kịch cá nhân. Nhân vật “ông” nếu chúng ta hoán đổi thành nhân vật “tôi” chính là người tự thuật thì sẽ hiện lên đầy đủ đặc tính của kiểu nhân vật trung tâm trong thể loại tự truyện. Đặc tính này giúp Coetzee chuyển tải bi kịch cá nhân đau đớn của David, đồng thời vẫn giữ được thái độ khách quan của NKC ngôi thứ ba.

Hoán đổi ngôi kể không phải là kỹ thuật mới của văn chương hậu hiện đại. Trong thời kì hiện đại các tiểu thuyết gia để sử dụng kỹ thuật này như một phương tiện để đối thoại câu chuyện ở nhiều chiều kích khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay với những thay đổi trong quan điểm mỹ học về cuộc sống, các nhà văn hậu hiện đại xem kỹ thuật này là phương tiện để tạo vị thế ngang bằng, sự phân rã trong nghệ thuật trần thuật. Từ đó, cấu trúc văn bản trở nên rời rạc, các phân mảnh chắp nối, hỗn độn tạo nên trật tự phi tuyến tính, một kiểu trò chơi độc đáo trong văn chương.

Tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K có hình thức luân chuyển NKC độc đáo. Tác phẩm được chia thành 3 chương. NKC của chương 1 và 3 thuộc ngôi thứ 3 dị sự hạn định, đứng ngoài câu chuyện kể về hành trình của K từ thành thị về nông thôn và cuộc chạy trốn chiến tranh của anh khỏi các trại tập trung lao động. Ở chương 2, NKC là ngôi 1 can dự vào câu chuyện cuộc đời của K, là vị bác

110

sĩ chăm sóc bệnh cho K trong một trại tập trung lao động. Với vai trò là một bác sĩ nên ông có thể phỏng đoán tình trạng bệnh của Michael K, đồng thời hiểu được nhưng ngóc ngách tâm lí của anh. Michael K trong cảm nhận của NKC ngôi 1 “anh ta là người có đầu óc mềm yếu, người đã vô tình trôi giạt vào khu vực chiến tranh và không có ý thức chạy trốn khỏi đó” [95, tr.230]. Vị bác sĩ này nhận Michael K là bạn, một người bạn thực sự vì ông rất quan tâm đến K. Vì muốn truy tìm nguyên nhân anh có mặt trong cuộc chiến này nên đã truy vấn Michael K, nhưng càng hỏi, vị bác sĩ này càng bất lực. K tuyệt thực để không phải trả lời các câu hỏi. Hàng loạt băn khoăn của vị bác sĩ này cũng chính là của bạn đọc. Michael K “không phải là người lính, anh là một nhân vật làm trò cười, một thằng hề, một người gỗ. Công việc của anh ở trại này là gì?” [95, tr.262]. Đồng thời, cũng từ NKC ngôi thứ 1 này đã cung cấp cho bạn đọc nhiều thông tin về cuộc sống của K từ thức ăn, thói quen lối sống, đến ước mơ của anh ta. Bỏ lại cuộc sống phía sau, đặt chiến tranh bên ngoài cuộc đời mình, Michael K đã đánh thức trong mỗi chúng ta về khát vọng tự do, nguyên thủy, hòa bình. Lối sống của K đã tác động lớn đến vị bác sĩ và Noel, khiến cho cả hai người “bắt chước Michael và đi tiếp cuộc hành trình tới một nơi yên tĩnh hơn của xứ sở, ví như khúc sông Karoo xa vắng chẳng hạn” [95, tr.282]. Vị bác sĩ này nhận ra rằng “đây là thời điểm tốt cho ông ấy và cho tôi rời bỏ cái pháo đài - đây chính là những gì Ban Đảo sẽ trở thành - để lại sau lưng những tù nhân canh giữ nhưng tù nhân, người ốm chăm sóc người ốm” [95, tr.282]. Tự đưa mình về ngoại biên của xã hội, cuộc đời của Michael K đã chứng minh: nếu Nam Phi còn chia rẽ, xã hội loài người sẽ không chạm được tới anh. Có thể xem tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K là tiếng nói phản tỉnh của Coetzee về tình trạng chiến tranh, bạo lực, bất công ở Nam Phi lúc bấy giờ.

Có thể nói, hoán đổi chủ thể trần thuật là hình thức độc đáo trong tiểu thuyết của Coetzee. Nó cho phép nhà văn khái quát được bi kịch của cá nhân, khám phá được chiều sâu của cuộc sống, đặc biệt là những đối cực của giá trị con người và bi kịch xã hội, đồng thời đối thoại được với bạn đọc mọi thế hệ. 4.1.2. Điểm nhìn đa chiều và người kể chuyện không đáng tin cậy

Điểm nhìn trong nghệ thuật tự sự là sự bắt đầu của một phương thức phát ngôn, để từ đó toàn bộ văn bản nghệ thuật được hiển lộ. Cấu trúc văn bản gắn với sự triển khai các điểm nhìn từ một phía hay từ nhiều phía. Tự sự đa điểm nhìn đã được áp dụng trong tiểu thuyết hiện thực, tiểu thuyết hiện đại và tiếp tục được phát huy trong tiểu thuyết hậu hiện đại, nhưng có sự khác nhau giữa chúng về mô hình và phân cấp chức năng. Trong tiểu thuyết hiện thực và tiểu thuyết hiện đại, mô hình truyện kể mang tính chủ định, nghĩa là có sự xác định cụ thể về nhân vật, sự kiện, mối quan hệ giữa văn bản nghệ thuật và thực tại được xem là có chủ đích rõ ràng; việc phân cấp chức năng NKC, phân cấp chức năng nhân vật có sự khu biệt, sự bảo toàn vai trò chức năng được tuân thủ để không phá vỡ cấu trúc truyện kể. Trong tiểu thuyết hậu hiện đại, mô hình truyện kể mang tính giả định, hình thức truyện kể tạo ra sự mơ hồ về nhân vật và sự kiện, do nhà văn không chú trọng tính tương đồng trong mối quan hệ giữa văn bản và hiện thực, đồng thời việc phân cấp chức năng

111

cũng bị xóa bỏ. Vì vậy, trong tiểu thuyết hậu hiện đại, tự sự đa điểm nhìn có khi là xáo trộn điểm nhìn nghệ thuật.

Tự sự ngôi thứ nhất theo điểm nhìn đa chiều là hình thức tự sự mà ở đó điểm nhìn không bị hạn chế trong giới hạn phạm vi ý thức của một người kể chuyện xưng “tôi”, mà có sự dịch chuyển trên hai hay nhiều người kể chuyện. Những cái “tôi” này không phải là sự phân thân của một cái “tôi” nào đó thành những cái “tôi” tưởng tượng. Chúng tồn tại với tư cách là những chủ thể độc lập, có tiếng nói riêng, mang quan điểm riêng. Nói cách khác, mỗi cái “tôi” đều được miêu tả như một ý thức. Có thể gọi đây là tự sự đa chủ thể. Sáng tạo cái “tôi” kể chuyện trong văn bản tự sự, đôi khi nhà văn phải đối diện với những khó khăn, thử thách không nhỏ. Điều này đã được nhà nghiên cứu Susan E. Lanser(23) khái quát thành luận điểm triết học “tâm trí tha nhân” (other minds) trong trần thuật ngôi thứ nhất: “Về mặt nhận thức luận, những người kể chuyện ngôi thứ nhất bị giới hạn bởi những giới hạn con người: họ không thể ở hai nơi cùng một lúc, không biết điều gì sẽ xảy ra trong tương lai, họ (trong hoàn cảnh bình thường) không thể kể lại câu chuyện về chính cái chết của mình và họ có thể không bao giờ biết chắc chắn những nhân vật khác nghĩ hoặc tưởng tượng những gì (vấn đề ý nghĩ của người khác)” [74, tr.43].

(23) Là giáo sư văn học so sánh của trường Đại học Brandeis (Mỹ) nghiên cứu các lĩnh vực : lý thuyết tự sự và tiểu thuyết; lịch sử giới và tính dục; lý thuyết nữ quyền... Bà là tác giả cuốn Fictions of Authority: Women Writers and Narrative Voice.

Để khắc phục những hạn chế của hình thức kể chuyện ngôi thứ nhất trong việc bao quát, khám phá hiện thực và bản chất con người, các nhà văn đã sáng tạo ra nhiều chiến lược tự sự độc đáo, như phối hợp hình thức kể chuyện ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, sự dịch chuyển điểm nhìn, hay lồng vào những bức thư, sử dụng tin tức từ báo chí và đặc biệt là tổ chức nhiều người kể đan xen. Văn chương đương đại đã có nhiều nhà văn thành công trong việc xây dựng kiểu điểm nhìn đa chiều như Orhan Pamuk (Tên tôi là đỏ - 12 người kể chuyện), Sơn Táp (Thiếu nữ đánh cờ vây - 2 người kể chuyện, Hoàng đế và giai nhân - 3 người kể chuyện)… Tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K có 2 NKC điển hình cho hình thức trần thuật ở trên. Chương 1 và 2 được kể bởi người NKC ngôi thứ ba ẩn tàng, còn chương 2 được kể bởi NKC ngôi thứ nhất - vị bác sĩ chăm sóc bệnh cho Michael K, vì vậy điểm nhìn trần thuật luân phiên hoán đổi cho nhau. Với hình thức thay đổi điểm nhìn/camera quan sát đã giúp nhà văn khai thác nhiều khía cạnh đời sống của K cũng như thời đại anh đang sống. Đồng thời, chương 2 điểm nhìn đặt vào vị bác sĩ chăm sóc bệnh cho K đã làm cho các thông tin, các chỉ số bệnh cũng như đời sống sinh học của anh trở nên khách quan, sinh động hơn. Nếu NKC ngôi thứ ba ở chương 1 và 3, điểm nhìn đặt bên ngoài, Michael K được miêu tả với hành trình trở về nông thôn với không khí lạnh lùng, đôi khi tàn nhẫn thì ở chương 2 với việc đặt điểm nhìn vào nhân vật vị bác sĩ, văn chương của Coetzee trở nên ấm áp tình người hơn. Có thể xem đây là đặc trưng phong cách Coetzee: bằng nhiều hình thức khác nhau ông nhập cuộc vào các tình thế của nhân vật để khám phá vẻ đẹp con người trong những bi kịch đau đớn nhất.

112

Tuy nhiên, trường hợp của Coetzee thì hình thức luân phiên người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật không phổ biến. Điểm nhìn đa chiều trong tiểu thuyết của ông xảy ra từ nguyên nhân lấp lửng trong ngôi kể chuyện. Câu chuyện được kể ở ngôi thứ nhất, nhưng hình thức đánh tráo chủ thể trần thuật đã cho phép NKC hàm ẩn xen vào câu chuyện, từ đó tạo ra hai điểm nhìn trần thuật. Đối với tiểu thuyết được kể ở ngôi thứ ba nhưng hạn chế điểm nhìn của nhân vật, vì thế câu chuyện cũng có hai điểm nhìn trần thuật. Đối với tiểu thuyết của Coetzee, để thấy được điều này là không dễ. Sở dĩ như vậy là vì trên bề mặt văn bản, rất dễ lầm tưởng câu chuyện chỉ được kể một ngôi thứ nhất hoặc thứ ba đơn thuần. Vì thế, khám phá kiểu điểm nhìn đa tuyến trong tiểu thuyết của ông, giúp chúng ta khám phá sâu sắc bi kịch con người và xã hội Nam Phi cũng như thấy được nghệ thuật kể chuyện độc đáo của văn chương hậu hiện đại.

Ruồng bỏ, Người chậm được kể ở ngôi thứ ba dị sự hạn định. NKC là tác giả hàm ẩn, đứng ngoài văn bản, cấu trúc truyện kể. Điểm nhìn trần thuật được đặt hoàn toàn vào nhân vật chính. Đối với Coetzee, mỗi tiểu thuyết ông chỉ xây dựng một nhân vật chính đồng thời là nhân vật trung tâm. Từ điểm nhìn của nhân vật trung tâm, toàn bộ thế giới hiện thực cuộc sống được hiện ra trong sự nếm trải, quan sát của họ. Cũng từ điểm nhìn đặt vào nhân vật trung tâm, NKC có điều kiện khám phá sâu đời sống nội tâm với những bi kịch thầm kín. Đồng thời, với kĩ thuật đánh tráo chủ thể trần thuật, NKC trong tiểu thuyết của Coetzee lưỡng lự ngôi thứ ba và ngôi thứ nhất, cho nên chúng ta còn xác lập thêm một điểm nhìn trần thuật, đó là điểm nhìn của nhà văn, tác giả. Như vậy, đối với các tiểu thuyết kể ở ngôi thứ ba xuất hiện ba điểm nhìn: điểm nhìn nhân vật; điểm nhìn NKC ngôi thứ 3 hạn định; điểm nhìn của tác giả - nhà văn. Trong Người chậm, điểm nhìn thứ nhất được đặt vào Paul Rayment. Toàn bộ câu chuyện về sự kiện bị tai nạn, đến việc ông quyết định không lắp chân giả, đem lòng yêu Marijana... được Rayment kể trong cảm nhận của một kẻ lưu vong, chấn thương. Bên cạnh đó, là điểm nhìn của NKC ngôi thứ ba, đồng thời xen lẫn vào đó là điểm nhìn của nhà văn thông qua Rayment và bà Costello. Paul Rayment là hình bóng về tuổi già, lưu vọng, khiếm khuyết; Costello ẩn dụ cho công việc viết văn của Coetzee. Người chậm là một hình thức tự thuật của Coetzee trong thời gian ông là công dân của nước Úc: tha hương, cô đơn, day dứt.

Các tiểu thuyết Giữa miền đất ấy, Đợi bọn mọi, Tuổi sắt đá được kể ở ngôi thứ nhất đồng sự, như vậy điểm nhìn được đặt vào nhân vật trung tâm của câu chuyện. Mọi biến cố về cuộc đời, số phận và xã hội Nam Phi đều được nhìn từ điểm nhìn nhân vật “tôi”. Tuy nhiên, với hình thức lưỡng lự ngôi kể chuyện giữa ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, tiểu thuyết được kể ngôi thứ nhất còn xuất hiện điểm nhìn tác giả hàm ẩn. Trong Đợi bọn mọi, nhiều lần tác giả hàm ẩn thay NKC ngôi thứ nhất quan sát và nhận xét về tình xã hội. “Ở thủ đô, người ta lo ngại rằng có thể những bộ lạc mọi rợ ở phía bắc và phía tây cuối cùng sẽ hợp nhất lại với nhau. Các sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu được cử đi thị sát quanh vùng biên giới. Một vài đơn vị đóng quân được được củng cố vững chắc hơn” [93, tr.26]. Đoạn văn này cho thấy, có thể là do vị Quan tòa kể, cũng có thể là của tác giả hàm ẩn. Nhưng bạn đọc có thể xác định là lời kể của NKC hàm ẩn. Cho nên có thể thấy điểm nhìn của tác giả

113

hàm ẩn đã cũng cấp cho bạn đọc thêm về lượng thông tin về tình hình xã hội ở vùng biên giới sắp xảy ra. Hình thức điểm nhìn đa tuyến đã đem lại hiệu quả khi ngôi kể chuyện bị nhiều hạn chế. Đây là cách xử lí của văn chương hậu hiện đại, tạo ra nhiều điểm nhìn, điểm quan sát có biên độ rộng. Từ đó bối cảnh xã hội cũng như tâm tư sâu kín của nhân vật được bộc lộ một cách dễ dàng.

Theo Từ điển thuật ngữ Văn học, “người trần thuật không đáng tin cậy là người trần thuật hoặc không bày tỏ thái độ đánh giá sự kiện, hoặc cố ý im lặng không nói rõ các mối quan hệ nhân quả khiến cho việc lý giải bị mơ hồ, hoặc cố tình bỏ sót một số chi tiết, hoặc kể những điều không liên quan tới sự việc chính, hoặc sử dụng một giọng điệu không phù hợp, hoặc tỏ ra hoàn toàn không hiểu,…” [41, tr.221]. Hiện tượng trần thuật không đáng tin cậy thể hiện ở sự xung khắc giữa trần thuật và các ý thức chủ thể khác, cho nên ý thức của người trần thuật buộc phải điều chỉnh. Các tác phẩm như Kẻ sát nhân (Hemingway), Lâu đài, Vụ án (Kafka)... tiêu biểu cho người trần thuật không đáng tin cậy. Loại người trần thuật này buộc người đọc phải phát huy tính năng động, trí tưởng tượng cao độ để lý giải tác phẩm. Trong tiểu thuyết của Coetzee xuất hiện kiểu NKC ngôi thứ nhất không đáng tin cậy với những mê sảng, điên loạn về tinh thần. Trong Giữa miền đất ấy, NKC là nhân vật chính của tác phẩm kể lại những nếm trải của mình và những người trong gia đình. Chọn ngôi kể thứ nhất, câu chuyện lôi cuốn người đọc bởi cách kể chuyện lan man dưới hình thức ghi chép như nhật kí. Bằng cách kể đó, cô gái già Magda đã dẫn người đọc vào câu chuyện vừa đậm chất hiện thực lại vừa huyễn tưởng như thế giới của giấc mơ. Nhân vật luôn cố gắng thổ lộ một cách chân thành những suy nghĩ của mình bằng cách đánh số và ghi lại những sự việc ngẫu nhiên, những suy nghĩ chắp vá hoang tưởng của mình. Sở dĩ Magda là NKC không đáng tin cậy vì có nhiều sự kiện, chi tiết có thể do cô tưởng tượng ra. Bản thân cô nhận ra mình bị khủng hoảng tinh thần, bị điên, bị ám ảnh bởi không gian tù bức ở đây. “Trong cái xà lim ẩn cư, tôi trở thành mụ già điên... Một cái miệng tuôn ra những câu lảm nhảm, cái ngáp buồn chán...” [93, tr.20]. Cho nên chi tiết giết cha của mình chưa hẳn chính xác là do cô gây nên. Ở đoản khúc 25 và 26, Magda kể lại hành động cô giết cha mình và người nhân tình bằng chiếc rìu. Từ đoản khúc 27 đến 32 là những tưởng tượng lan man về cuộc sống đơn độc, cô hoàn toàn bình thản trước cái chết của hai người. Khúc 33, Magda miêu tả cụ thể, chi tiết cha cô và người nhân tình trong trạng thái từ từ chết một cách lạnh lùng. Tồn tại giữa những con người trong ngôi nhà này là im lặng và các mối quan hệ rời rạc đến mức không thể cấu thành sự sống. Ở đây, độc thoại trở thành phương tiện giao tiếp duy nhất đạt hiệu quả. “Cuộc độc thoại của tôi là một nhà tù còn kín bưng hơn những bức tường của trang trại, cằn cỗi hơn những hòn đá trong sa mạc” [93, tr.28]. Hoặc ở đoản khúc 67 và 68, cuộc gặp gỡ của Bass và Klein Anna vào ban trước có thể do Magda nhìn thấy hoặc do bản thân cô giả định. Không chỉ những sự kiện, hành động của các nhân vật khác mà cả đời sống tinh thần, nhưng suy nghĩ có thể do Magda phỏng chiếu và quy định. Khi nói về bản chất của bí mật và lòng oán hận giữa người da đen và da trắng, Magda cho rằng “chúng tôi sống phơi trần ra trước mắt cú vọ của nhau... Những oán hận của chúng tôi vùi sâu trong lòng... Nếu chúng tôi hé môi thì có nghĩa là

114

trong lòng chúng tôi có cái gì đó có nguy cơ nổ tung. Chúng tôi tìm đối tượng làm mình giận giữ, khi cơn điên giận của chúng tôi không còn giới hạn nữa. Những tên đầy tớ sợ những cơn giận dữ của cha tôi, nhưng cơn giận quá mức, bao giờ cũng vượt quá nguyên cớ” [93, tr.65].

Như vậy, có thể thấy bằng hình thức sử dụng NKC không đáng tin cậy, các sự kiện của câu chuyện bị xáo trộn, tạo nên những trạng thái tâm thần chắp vá như bản chất của hậu hiện đại. Đồng thời, đây là phương cách hữu hiệu để Coetzee thể hiện những rối loạn mê sảng, hoảng loạn, điên khùng của con người hậu hiện đại. 4.2. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không - thời gian trong tiểu thuyết của Coetzee 4.2.1. Kỹ thuật trần thuật thời gian gắn với hành trình trải nghiệm từ trung tâm đến ngoại vi

4.2.1.1. Hành trình từ thành phố về nông thôn, sa mạc và thân phận bị ruồng bỏ Có một đặc điểm khá thú vị về nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee, đó là hành trình di chuyển không gian từ nơi này đến nơi ở khác. Tiêu biểu có Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K và David Lurie trong Ruồng bỏ.

Trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K, con đường Michael K đi, về mặt không gian địa lý đó là sự dịch chuyển giữa thành phố và nông thôn. Nếu xem đó không gian văn hóa được coi là sự vận động từ trung tâm đến ngoại vi, càng đi xa trung tâm thì lại càng gần với ngoại vi hơn. Với các nhà văn hậu hiện như Coetzee thì ngoại vi lại chính là trung tâm của phản ánh, để qua đó nhà văn nói lên những bi kịch của thân phận con người, đặc biệt là con người trong thời đại bất ổn. Phải chăng, hành trình trở về với nông thôn của Michael K cũng là chuyến đi tìm lại ý nghĩa đích thực của cuộc sống giống như Agnes` trong Sự bất tử của Milan Kundera. Sau khi đã thuyết phục được mẹ mình để rời thành phố trên chiếc xe cút kít do chính bản thân anh tự tạo với mong ước một cuộc sống tốt hơn cho Anna K. Hành trình chạy trốn vất vả, gian nan hơn nhiều với những gì bản thân Michael K nghĩ. Con đường mà Michael đang xảy ra chiến tranh đang: “anh đi theo con đường tắt ngắn nhất, qua vùng bị tàn phá quanh khu nhiên liệu… những cái vỏ nhà kho cháy xém đen năm ngoái vẫn còn bị những đội quân đường phố của thành phố chiếm lĩnh” [95, tr.43]. Michael K và Anna đang chạy trốn chiến tranh nhưng thật nghiệt ngã khi đi đến đâu chiến tranh theo họ đến đó. Mặc dù chẳng hiểu gì về cuộc chiến nhưng anh cũng bị hút vào vòng xoáy đó. Để có thể rời thành phố, Michael K cần nhiều thời gian, giấy phép nhưng bệnh tình của mẹ anh càng ngày càng tồi tệ. Chính luật lệ ngăn cách đã gò bó con người và thậm chí đang giết chết những con người vô tội. Michael càng khốn khổ, tuyệt vọng hơn khi mẹ anh qua đời. Michael K trở thành kẻ cô độc nhất trên thế gian, anh như rơi xuống vực sâu: “co quắp như một con mèo” [95, tr.63]. Lúc Michael K cảm thấy tuyệt vời nhất là khi anh thực sự đã đến được nơi anh muốn, đó là quê hương của mẹ anh. Michael K sống thu mình vào ốc đảo của bản thân: “anh có thể hiểu rằng con người ta nhẽ ra phải lui về sống ở đây và lấy sự im lặng chạy dài hàng dặm đường để làm hàng rào che chở cho mình; anh có thể hiểu rằng nhẽ ra họ muốn để lại cho con cháu của mình một sự đặc ân về im lặng một cách vĩnh cửu” [95, tr.89]. Về với ngoại vi nông

115

thôn, K cảm thấy như mình sống lại một lần nữa: “Vậy mà khi anh di chuyển quanh cánh đồng của mình, anh thấy một niềm vui sâu sắc trong cơ thể mình. Những bước đi nhẹ hẳn, đến nỗi cứ như lướt đi trên mặt đất. Dường như có thể bay được kể cả tinh thần lẫn thể xác” [95, tr.183]. Đó là nơi anh “cảm thấy như đứng ở nhà mình” [95, tr.178]. Trở về với thiên nhiên, K cảm thấy như trở về với nơi bình yên nhất, tìm thấy cảm giác của một người làm vườn. Hòa mình vào thiên nhiên hoang sơ, K giúp bạn đọc nhận ra một điều mà làm cho những con người lành lặn trong xã hội hậu hiện đại cảm thấy giật mình: “Những gì mọc ra là để cho tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta là con em của đất mà” [95, tr.245].

Rời xa thành phố K tách mình khỏi thế giới của loài người. “Nếu nhân vật của Kafka đào hang hoặc thu mình để chạy trốn nỗi sợ hãi, để chiêm nghiệm về cuộc sống bên ngoài và bản thể của mình thì nhân vật của Coetzee đào hang để chống lại nền văn minh, để sống cuộc sống phù hợp với thể trạng và trí tuệ của mình” [14, tr.60]. Michael K ăn tất cả cỏ cây, động vật do mình kiếm được: “ở trong núi, anh đi bộ loanh quanh để lật những hòn đá lên, gậm nhấm những rễ cây và củ. Có lần anh phá một tổ kiến và lần lượt ăn những con ấu trùng. Thịt chúng như thịt cá” [95, tr.125]. Anh không thể ăn đồ ăn của loài người. “Thìa đầu tiên chưa kịp đưa vào miệng thì anh đã nôn ọe ra” [95, tr.129]. Trở về với cuộc sống như cây cỏ, côn trùng K có cuộc sống tự do nhưng lại không thể làm chủ được số phận, tương lai của chính mình. Anh mơ hồ cảm thấy rằng: “thật đáng thương biết bao khi phải sống vào thời buổi như thế này, khiến con người ta phải sẵn sàng sống như một con thú” [95, tr.178]. Trên hành trình thoát khỏi ánh đèn rực rỡ của thành phố, K nhận ra cuộc sống thật đó tối tăm, không lối thoát, không hi vọng. “Người ta muốn sống cũng không thể sống trong một ngôi nhà có ánh đèn bên cửa sổ. Anh ta phải sống trong hang hốc và ban ngày phải ẩn náu che thân. Con người ta phải sống sao để không vương lại một dấu vết gì. Đấy là điều đã xảy ra” [95, tr.178,179]. Đó là tình trạng của K và cũng là tình cảnh nhân dân Nam Phi trong chiến tranh khi họ không tìm thấy lối thoát cho bản thân. Coetzee đã vẽ ra một không gian mà trong đó: “con người là một tạo vật nhỏ bé, giữa những tạo vật khác, trong một khung cảnh rộng lớn” [95, tr.60].

Hành trình của Michael K là một cuộc chạy trốn tốc lực để thoát khỏi tất cả, kể cả xã hội loài người. Coetzee đã chẩn đoán cho căn bệnh hậu thiên niên kỷ, một sự khủng hoảng hãi hùng của con người trong xã hội bạo lực, chiến tranh phi lí. Con người rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng và xem cuộc sống chỉ là tạm bợ. Michael K cũng như David trong Ruồng bỏ, rời bỏ thành phố để trở về với miền quê thanh bình, hoang mạc xa xôi. Nhưng những nơi đó đều không dung chứa và họ trở nên lạc lõng, bơ vơ. Cả Michael K và David đã quay trở lại thành phố thêm một lần nữa để tìm kiếm điều gì đó. Cuối cùng cả hai đều trở về lại nông thôn, hoang mạc và chấp nhận cuộc sống đen tối ở đó.

Trở về nông thôn của Michael, Coetzee đã thắp lên tia hi vọng cho bạn đọc ở hành trình sinh thái của một con người. Bởi, có thể trong văn chương hậu hiện đại không chỉ có những đổ vỡ, hoài nghi mà còn có sự sống và tái sinh. Sự tái sinh trong Cuộc đời và thời đại Michael K được thể hiện thông qua các biểu tượng: lửa,

116

nước, đất và hạt giống… Lửa được nhắc tới lúc Michael đảm bảo cho sinh hoạt và sự sống của mình: “Anh nhóm lửa và nướng một con thằn lằn mà anh lấy đá ném được” [95, tr.121]. Lửa tái sinh và còn là hủy diệt: “Họ đứng đó độ một giờ đồng hồ, nhìn ngọn lửa cháy bùng như một vòi phun nước, lúc như tắt lúc lại sáng rực lên. Có những lúc mọi người chắc chắn là đã nghe thấy những tiếng kêu gào, và tiếng lửa cháy lan hàng dặm trên thảo nguyên trống rỗng” [95, tr.163]. Với ngọn lửa, Michael đã tạo ra thức ăn cho bản thân nhưng cũng là ngọn lửa đã thiêu rụi mọi thứ vốn dĩ tồn tại cho sự sống của con người. Nếu lửa xuất hiện trong tác phẩm cả với ý nghĩa hồi sinh và hủy diệt thì nước và đất lại gắn liền với nhau, quyện vào nhau để tạo ra sự hồi sinh cho thiên nhiên và con người. “Nước trong tiềm thức con người có ý nghĩa rất quan trọng. Những ý nghĩa tượng trưng của nước có thể quy về ba chủ đề chiếm ưu thế: nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh” còn đất: “Đất: cứng cáp đục thô ổn định rộng rãi ngập tràn cây cối nuôi sống muôn loài đất như người Mẹ có sức sản sinh và tái sinh bền bỉ trong một nhịp điệu âm thầm và bao dung” [168]. Trong Cuộc đời và thời đại của Michael K, anh đã kết hợp nước và đất để gieo những bí ngô. Chính các yếu tố đó giúp anh tồn tại giữa vùng nông thôn hoang vu. Mẹ Đất vĩ đại của loài người đã dung thức cho K lúc anh xa lánh xã hội loài người. Hành trình trở về với ngoại vi của K, Coetzee đặt ra một vấn đề khẩn thiết: Thiên nhiên và con người là hai sinh thể hòa quyện vào nhau, có mối quan hệ biện chứng, thiên nhiên cứu sống con người và ngược lại. Một ẩn dụ cũng là thông điệp cao cả của Coetzee đó là: hãy bảo vệ đất, nước, lửa; bảo vệ thiên nhiên, để hành tinh của loài người được sống như nguyên thủy của nó.

Không chỉ hành trình của Michael K mà sự dịch chuyển của David Lurie trong Ruồng bỏ cũng là là một ngụ ngôn đen hấp dẫn. Từ thành phố Cape Town, nơi ông làm công tác giảng dạy cho một trường đại học danh giá, David bị đẩy về nông thôn sa mạc. Từ vị thế của một trí thức da trắng “uy quyền”, ông buộc phải rời thành phố sau khi Hội đồng trường kỷ luật và đuổi việc để trở thành kẻ lang thang tìm về nông trại của Lucy tìm nơi nương náu. Chúng ta có thể thấy, David ở hoàn cảnh bị động nhưng tư thế chủ động hành động. Ông ý thức rất rõ việc trở về nông thôn lần này. Hành trình thứ hai là quá trình ông từ nông thôn về lại thành phố Cape Town để nói lời xin lỗi với Melanie nhưng thất bại, trở lại căn phòng từ sinh sống để lấy đồ đạc thì đã bị cướp phá. Có thể xem lúc này, David có thể mất niềm tin vào chính quyền của chính phủ sau sự kiện con gái ông bị hãm hiếp và cướp bóc, nhưng ông vẫn làm chủ được hành động. Tuy nhiên, hành trình từ thành phố trở lại thành phố của David hoàn toàn bị động. Ông quay trở lại nông thôn như một kẻ mộng du. Đi để đi, trở về để trở về, David hoàn toàn mất phương hướng. Có thể thấy hành trình của ông biểu tượng cho quá trình người da trắng trên đất Nam Phi trượt từ trung tâm đến ngoại vị, từ vị thế chủ nhân sang vị trí ngoại biên. Như một hài hước đen, Coetzee muốn bạn đọc nhận ra, quốc gia này không thuộc về người da đen cũng không hẳn là của người da trắng.

4.2.1.2. Hành trình vượt qua ranh giới phân biệt chủng tộc Apartheid là một chế độ chính trị phân biệt da đen và da trắng hà khắc khủng khiếp ở châu Phi nói chung và Nam Phi nói riêng [xem thêm Phụ lục 9]. Nhưng không khí chính trị căng thẳng trong tiểu thuyết của Coetzee không bạo lực đẫm

117

máu, tàn khốc như các nhà văn Nam Phi cùng thời. Bằng hình thức gián tiếp và nghệ thuật kể chuyện độc đáo, ông mô tả hiện thực khách quan, chân thực ở một góc độ khác của Nam Phi. Mâu thuẫn giữa da trắng và da đen được giải quyết bằng bạo lực và những tấm biển, con đường ngăn cách. Nhưng đâu đó trong tiểu thuyết của Coetzee, người đọc lại phát hiện ra những con đường mà nơi đó người da trắng và da đen có điểm gặp gỡ, xáo trộn. Tuy không rõ ràng nhưng bằng thứ tình yêu thương, lòng trắc ẩn, cảm giác tội lỗi đã xóa nhòa ranh giới giữa đen trắng để trở về trạng thái hiện sinh của con người.

Không ít tác phẩm, nhân vật chính, nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết của Coetzee là người da trắng. Tuy nhiên, người da trắng hầu hết không nắm quyền lực thượng đẳng, quyền lực cai trị. Bass và cô con gái da trắng trong Giữa miền đất ấy bị tước đoạt quyền lực, mất đất đai và bị cô lập giữa châu Phi da đen; bà già Curren trong Tuổi sắt đá bị bệnh ung thư sống cô đơn với những người vô gia cư trong khung cảnh hỗn loạn căng thẳng giữa chính phủ và người da đen mới nổi dậy; giáo sư David Lurie trong Ruồng bỏ bị đuổi khỏi trường, rời thành phố về nương náu nông trại hẻo lánh của con gái Lucy; vị Quan tòa luống tuổi trong Đợi bọn mọi nhận nhiệm vụ truy tìm bọn mọi rợ phá hoại cuộc sống nơi vùng biên giới của đất nước sống cô đơn, mất niềm tin vào Đế chế mà anh ta từng phục tùng... Các nhân vật da trắng đều có một cuộc hành trình vô hình: vượt qua ranh giới Apartheid mà chính phủ Nam Phi đặt ra.

(24) Người Voortrekkers đã có công rất lớn trong việc mở rộng Nam Phi như ngày hôm nay. Sau này đài tưởng niệm được xây dựng để kỷ niệm sự kiện người Voortrekkers (Boer) đã rời thuộc địa Cape giữa năm 1835 và 1854, tìm vùng đất mới dưới sự thống trị của thực dân Anh. Khi lên nắm quyền, Đảng Đại hội dân tộc Phi ANC đã từng rất muốn đập bỏ di tích này bởi với người da trắng đài tưởng niệm là minh chứng của chiến thắng lịch sử, còn với người da đen, đó là vật chứng cho sự thất bại [189].

Tiểu thuyết Tuổi sắt đá (1990) được viết giữa lúc chính trị, xã hội Apartheid căng thẳng tột độ, tạo nên những mâu thuẫn trái chiều trên văn đàn Nam Phi. Nhan đề là một ngụ ngôn đen của Coetzee khi nói về một nhóm/ độ tuổi người trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Tuổi sắt đá không phải là thời đại đồ đá, đồ sắt mà là tuổi trẻ da đen của Nam Phi. Có thể hiểu, đây là tuổi sắp đến, trưởng thành, cứng rắn, mạnh mẽ, dám đối đầu để chống lại người da trắng. Sắt ở đây đại diện cho lối sống thô bạo và tàn độc của một nhóm người mà Curren và người da trắng ở Cape Town phải đối diện. Trong mắt của Curren, đó là tuổi không có tình thương, không đến trường, độc ác, bạo lực, “trái tim chúng đã biến thành đá” [96, tr.60]. Một thế hệ tuổi trẻ không biết cười, không biết khóc, “chỉ giơ nắm đấm như giơ búa” [96, tr.61]. Không còn người da trắng “cuồng tín thuyết giáo cho chế độ cũ, chế độ kỉ luật, lao động, tuân thủ, hi sinh, chết chóc”; không còn những thế hệ Voortrekkers(24) “lớp trẻ Phi châu nghiêm nghị, cứng rắn, hành quân hát những bài ca yêu nước, chào cờ và nguyện chết cho tổ quốc” [96, tr.61] mà là một tầng lớp mới trỗi dậy chống lại, trả thù người da trắng. Florence tự hào về những đứa trẻ này, còn Curren lại hoài nghi về sự “sắt đá” của chúng. Khi tranh luận với Florence, Curren nghĩ: Children of iron, I thought. Florence herself, too, not unlike iron. The age of iron. After which comes the age of bronze. How long, how long before the softer ages return in their cycle, the age of clay, the age of earth? A Spartan matron

118

iron-hearted, bearing warrior sons for the nation?… (Tôi suy nghĩ về đám trẻ được gọi là sắt đá ấy. Bản thân Florence đâu phải là sắt đá. Cái tuổi sắt đá. Sau này là tuổi đồng chắc? Bao lâu nữa thì cái tuổi mềm yếu sẽ trở lại chu kì của nó, trở lại tuổi đất sét, tuổi trái đất? Một bà mẹ khắc khổ, có trái tim sắt đá, đẻ những đứa con là chiến binh của dân tộc?) [96, tr.61]. Tuổi sắt đá Nam Phi sẽ đi về đâu?

Bà Curren thực sự nghĩ rằng sự tàn bạo không phải xuất hiện ở một số ít người tham gia đấu tranh chống chính phủ mà là một phần rất lớn trong bản chất của người dân ở Cape Town. Đặc biệt nhất là tuổi trẻ của đất nước “còn trẻ măng mà sao chúng coi rẻ tuổi niên thiếu, coi rẻ thời buổi kỳ diệu, coi rẻ thời tâm hồn chúng đang độ lớn” [96, tr.10]. Không chỉ thanh niên da đen mà da trắng cũng vậy “còn những anh em da trắng của chúng bên kia ranh giới chia cắt cũng thế, mỗi ngày càng chui rúc và ngủ kỹ trong kén” [96, tr.10]. Tuy nhiên, bà cũng nhấn mạnh rằng giống như mọi thời đại khác trong lịch sử, thời điểm tàn bạo và phân biệt chủng tộc này cuối cùng sẽ kết thúc. Cuốn tiểu thuyết là nơi Coetzee tập hợp các chủ đề quan trọng của xã hội lúc bấy giờ: già, chết, người giải tội là anh hùng, quyền lực kể chuyện, ý nghĩa của tự do, sự thống nhất của con người, các mối quan hệ gia đình và vị trí của người tự do da trắng ở Apartheid Nam Phi… Bà già Curren người da trắng đã có cuộc vượt qua ranh giới để đến với người da đen. Bà chấp nhận cưu mang một người vô gia cư, cho anh ta ở trong nhà, cho anh ta tiền, ăn và uống rượu… Quan tâm đến đời sống của gia đình người quản gia Florence, bảo vệ Bheki và John trước cuộc truy sát của cảnh sát… Như vậy, người đọc có thể thấy ranh giới giữa người da đen và da trắng được xóa nhòa, chỉ tồn tại thứ duy nhất là tình người. Hẳn vậy mà tiểu thuyết của ông dù mô tả ở phương diện nào thì lấp lánh đằng sau vẫn là tình cảm của con người dành cho con người, niềm tin, hi vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.

Không chỉ riêng Tuổi sắt đá bạn đọc mới thấy được sự xóa nhòa ranh giới phân biệt chủng tộc. Trong Đợi bọn mọi, một vị Quan tòa da trắng thực hiện truy tìm bọn mọi theo mệnh lệnh của Đế chế, nhưng anh ta đã bảo vệ và thương yêu một cô gái da đen trong đoàn người mà tất cả đều cho là bọn mọi rợ. Trong sáng, thấm đẫm tình người xen lẫn tình yêu, vị Quan tòa đã giúp cô gái vượt qua sa mạc, đầm lầy gian khổ để trở về với bộ tộc của cô. Hành động của anh ta đã phá vỡ ranh giới phân biệt văn mình và mọi rợ, da trắng và da đen. Trong Ruồng bỏ, David Lurie được xem là ẩn dụ cho sự giao thoa hai miền đen - trắng. David đã quan hệ với cô sinh viên da màu, chấp nhận án kỉ luật của nhà trường, trở về nông thôn sống xen lẫn với những người da đen. Bị người da đen trả thù và im lặng, quan hệ tình dục với một người phụ nữ da đen xấu xí trong một trại bảo vệ động vật… Tất cả các hành động của David đã làm mờ đi lằn ranh đen - trắng trên đất Nam Phi. Còn trường hợp của Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K lại là hiện tượng đặc biệt. K là người nông dân làm vườn Nam Phi da đen. Đối với anh, văn minh, chiến tranh, chế độ phân biệt chủng tộc không thể chạm tới. Bằng hình thức xa lánh xã hội, sống như cây cỏ thiên nhiên, dường như Apartheid đã không thể làm gì đối với K. Như vậy, có thể thấy khi nghiên cứu tiểu thuyết của Coetzee, hành

119

trình các nhân vật vượt qua những ranh giới ngăn cấm của chế độ Apartheid được xem là một điểm độc đáo, hấp dẫn đối với bạn đọc. 4.2.2. Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không gian vòng tròn mê cung và thời gian phân mảnh đồng hiện

4.2.2.1. Trần thuật gắn với tọa độ không gian vòng tròn mê cung

Trong tiểu thuyết của Coetzee tồn tại những cuộc hành trình của các nhân vật đầy phi lí đậm chất Beckett, Kafka... Những mê lộ của Kafka gắn liền với một vũ trụ - nơi điểm trung tâm nhạt nhòa, hư ảo, dường như không có thật. Tính lập lờ của điểm trung tâm khiến không gian trong tác phẩm có lúc trở thành một khối hỗn độn. Sống trong không gian như vậy, con người hoang mang, lo sợ và hoàn toàn mất phương hướng. Trạng thái âu lo, bất an ấy toát lên khi nhân vật mãi đứng trước cánh cổng cách ngăn giữa mình và thế giới. Ở hầu hết sáng tác của Haruki Murakami thế giới thực tại và kì ảo của giấc mơ, trí tưởng tượng đan xen nhau. Trong Xứ sở diệu kỳ tàn bạo và chốn tận cùng thế giới, tác giả dụng công miêu tả phòng thí nghiệm sau thác nước vừa như thật nhưng cũng vừa hoang đường với bọn ma đen, với con người có khả năng tắt âm thanh, lấy kí ức ra khỏi hộp xương sọ… Ở Kafka bên bờ biển, căn phòng ở thư viện Komura cũng vừa thực vừa ảo. Đó là nơi ngày xưa người yêu của Saeki từng sống nhưng từ khi Kafka chuyển về đây, căn phòng lại là nơi chứng kiến mối tình của Kafka và linh hồn Saeki. Cứ đêm đêm, linh hồn cô gái 15 tuổi Saeki lại hiện về ngắm bức tranh Kafka bên bờ biển, còn Kafka lại ngắm nhìn nàng và yêu say đắm linh hồn ấy. Đặc biệt nhất là trong văn chương của Gabriel García Márquez, thế giới hiện thực và huyền ảo đan xen vào nhau giúp trí tưởng tượng của bạn đọc phong phú mà hơn hết đã phản ánh các trạng thái cô đơn, hoài nghi của con người hậu hiện đại châu Mỹ Latin.

Tuy nhiên trong tiểu thuyết Coetzee không như vậy, vũ trụ đến và đi của các nhân vật đều rõ ràng, mục đích và hành trình rõ ràng, nhưng hành trạng lại phi lí, mờ nhòe trong từng chi tiết. Với việc cho các nhân vật di chuyển từ không gian này qua không gian khác trên đất nước Nam Phi hoang mạc, Coetzee đã để nhân vật trong tiểu thuyết của mình quẩn quanh với bi kịch bế tắc.

Có thể thấy tác phẩm của Coetzee, các nhân vật đều trải qua những hành trình vòng tròn bế tắc, tuyệt vọng. Không đau đớn, tuyệt vọng đến khủng khiếp như trong các tiểu thuyết của Kafka, nhưng bằng cách đặt nhân vật vào những trạng huống khó khăn buộc phải lựa chọn, nhân vật của Coetzee thường rơi vào trạng thái quẩn quanh, không lối thoát. Magda trong Giữa miền đất ấy sau những nỗ lực đấu tranh để thay đổi quyền lực nơi nông trại hoang vắng. Cha bị bắn chết, cô bị Hendrik đe dọa rồi bỏ rơi cô giữa miền đất huyễn tưởng. Vị Quan tòa trong Đợi bọn mọi đấu tranh để bảo vệ một cô gái da đen và chứng minh với Đại tá Joll về sự không tồn tại “bọn mọi” như Đế chế kết luận. Khi đội quân rút khỏi vùng biên ải, cuộc sống thường nhật trở lại với những ngày quẩn quanh, tẻ nhạt. Bà Curren trong Tuổi sắt đá rã rời, kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần. Cuộc đời của bà trong những ngày cuối cùng là để đợi cái chết ập đến trong cô đơn, trơ trọi. Giáo sư David trong Ruồng bỏ cuối cùng đành chấp nhận rời bỏ thành phố trở về với nông trại của con gái. Trong một nỗ lực trở lại thành phố thêm một lần nữa, nhưng

120

David Lurie đã thất bại. Thành phố không chấp nhận ông khi nhà trường kết luận ông phạm tội quan hệ bất chính với sinh viên. Làm việc trong Liên đoàn bảo vệ động vật nhưng thực chất là trại tiêu hủy động vật nhưng vẫn không thoát khỏi cuộc truy lùng báo thù của người da đen... Tất cả các nhân vật của Coetzee đều bị hoàn cảnh chính trị Aparthied bủa vây buộc phải lựa chọn, mỗi lựa chọn đều đi đến những bế tắc, quẩn quanh.

Hành trình đầy phi lí của Michael K trong Cuộc đời và thời đại của Michael K có nhiều điểm giống với Gregor Samsa trong Lâu đài của Kafka. Đó là hành trình vô định, đi nhưng không biết đích xác bao giờ tới. Tuy nhiên, con đường trở về nông thôn Hoàng Tử Albert của Michael K là rất rõ ràng, có địa điểm, có phương hướng, khác với hành trình tìm kiếm căn phòng của Gregor Samsa. Mục đích đi của Samsa là không có, còn Michael K là rõ ràng...

Michael K đã trốn chạy tất cả để ước mong quay trở về vùng quê yên tĩnh, sống cuộc đời như côn trùng, nhưng con người đã đưa anh về với xã hội. Họ xem đó là sự cứu vớt anh khi anh đang chết dần chết mòn. Nhưng rút cuộc họ nhận ra rằng: “anh ta là một hòn đá, một hòn sỏi nằm yên lặng... Anh ta đã đi qua những cơ sở, những trại tập trung, bệnh viện và có trời mới biết được còn có gì khác không nữa. Anh ta đi xuyên suốt trong lòng cuộc chiến tranh. Một sinh vật chưa được sinh ra, mà cũng chưa đang sinh ra” [95, tr.237,238]. Michael K là người bất hạnh, bất hạnh đến nỗi anh đặt chân đến đâu cũng có chiến tranh đến đó nhưng với K không biết chiến tranh là gì và vì sao cuộc chiến đó tồn tại: “tôi không can dự đến chiến tranh” [95, tr.243] nhưng chính “họ” đã buộc anh dấn thân vào đó: “anh có can dự chứ, dù anh có thích nó hay không” [95, tr.243]. Như bản năng, anh tìm cách chạy trốn khỏi bệnh viện để trở về với bụi cây tiếp tục cuộc sống của chính mình dù luật pháp có tàn độc, hà khắc đến đâu và: “tôi kêu gọi anh, anh Michael K, hãy quy phục!” [95, tr.267] thì anh vẫn vậy, là: “một sinh vật bị bỏ lại từ thời tiền sử” [95, tr.266] đã chạy trốn. Nhưng xét cho cùng thì: “anh ta không phải là một anh hùng, mà cũng không giả đò làm vậy, thậm chí cũng không phải là anh hùng khi tuyệt thực. Thật ra anh ta hoàn toàn không kháng cự” [95, tr.285] và cuộc tẩu thoát của K đã chứng tỏ một điều mà Coetzee đã đưa ra thấm đẫm tinh thần dân tộc: “ông đã đề xuất một cái nhìn mới về tự do, dân chủ rằng mọi thiện chí hay độc ác đối với con người suy cho cùng đều là vật cản trước cuộc sống tự do của họ” [95, tr.61]. Nếu David trong Ruồng bỏ chạy trốn thành phố với những lời dị nghị, bản án đạo đức của xã hội đưa ra thì Michael lại tỏ ra phi lý khi chạy trốn sự quan tâm của con người nhưng đằng sau sự phi lý đó ẩn chứa những điều vô cùng có lý.

Giờ đây, anh không quay về với trang trại Visagie nữa mà anh tìm đến ánh điện thành phố, nơi anh cảm thấy: “yên tĩnh trên mảnh đất quen thuộc” [95, tr.295] và chỉ lúc này anh mới cảm thấy những điều mà anh chưa từng thấy: “anh có cảm giác là có cái gì đó bên trong con người mình đang trôi khỏi mình. Cái gì đang trôi khỏi người thì anh không biết, nhưng anh cũng có cảm giác mà trước đây anh đã có trong người, nó cứng và căng như sợi chão, ướt sũng và giống sợi” [95, tr.305]. Một cảm giác mới như là một bắt đầu mới cho K trong phần đời còn lại của chính mình.

121

Cả cuộc đời của Michael dường như đi tìm sự chấp nhận khi anh liên tục bị chối bỏ về cả thể xác lẫn tinh thần. Anh không được đất đai ở Visagie dung chứa giờ đây anh quay lại với thành phố nơi anh đã bỏ đi để mong tìm thấy được sự thừa nhận. Bởi vì đơn giản nơi đây anh được chia sẻ: “Họ muốn mình mở rộng cõi lòng và kể cho họ nghe về cuộc đời sống trong lồng. Họ muốn được nghe về tất cả những cái lồng mà mình sống trong đó, cứ như con vẹt Úc hoặc là một con chuột trắng hoặc là một con khỉ” [95, tr.310]. Phải chăng đó là lý do mà anh thấy thoải mái nhẹ nhàng và cũng là lúc anh thấy mình được sống như một con người thực sự. Giờ đây Michael K đã dám nói về mình: “nó làm anh hồi hộp quá, anh thấy sốt ruột quá, sự thật, sự thật về tôi. Tôi là một người làm vườn” [95, tr.311]. Đó là tự do và hạnh phúc của anh và con đường mà K chạy trốn cũng chính là con đường mà anh đi tìm bản ngã của chính mình. Hành trình chạy trốn của Michael K là sự thoát xác khỏi trung tâm để quay trở về với ngoại vi rồi quay về điểm bắt đầu, đó cũng là không gian vòng tròn trong sự bình yên và thống khổ của cuộc đời con người.

Coetzee đã xây dựng trong tác phẩm những không gian khác nhau nhưng không gian con đường vận động của K trong hành trình chạy trốn chiến tranh và tìm kiếm tự do của mình đã nói lên một thực tại hỗn độn mà ở đó tự do của con người như là một chứng chỉ phải được cấp phép và hành trình của những con người đó lại càng lên án thực tại phi lý. Dù họ có muốn tách ra khỏi thế giới của con người, sống trong những hang cùng ngõ hẻm thì cuối cùng bản thân những con người đó cũng không thoát được mê cung của thực tại. Đó là vòng tròn của những khổ đau, quẩn quanh của con người. Coetzee đã tài tình vẽ ra trong trí tưởng tượng của người đọc một xa lộ của những mê cung. Nhờ vào việc xây dựng không gian trên hành trình tồn tại của nhân vật, Coetzee không những lên án hiện thực mà thông qua đó còn cảnh cáo con người rằng: cuộc sống là những mê cung và những ai muốn tự do thực sự cần phải có bản lĩnh để vượt qua nó.

4.2.2.2. Trần thuật gắn với tọa độ thời gian phân mảnh, đồng hiện Về mặt hình thức, tính phân mảnh của tiểu thuyết hiện đại/hậu hiện đại thể hiện ở việc phân chia văn bản truyện thành những chương đoạn có đánh số thứ tự. Đây là cách thức mà Kundera (Tiệp Khắc) đã làm trong một số cuốn tiểu thuyết của mình, khi xem việc viết là một trò chơi sáng tạo. Cách chia cuốn tiểu thuyết thành từng chương đoạn như vậy, Kundera cho là việc phát âm rành rọt của tiểu thuyết.

Với kiểu chơi này, tác giả/NKC thường chỉ làm một thao tác là sắp xếp những mảnh ghép ngỡ như không liên hệ với nhau nhưng lại là những mẩu chuyện nhỏ hoàn chỉnh khi được xâu chuỗi, và cùng thuộc về một câu chuyện duy nhất của chỉnh thể truyện kể. Ở nhiều tác phẩm, tính chất lắp ghép, phi tuyến tính thể hiện rõ qua sự độc lập giữa các chương với những sự kiện bị tách rời, những câu chuyện bị bỏ lửng. Với lối trần thuật lắp ghép cấu trúc lập thể, việc rút gọn hoặc đảo lộn trật tự các thành phần của truyện hầu như không làm tổn hại đến kết cấu văn bản. Đây chính là một trong những kiểu kết cấu thể hiện rõ những cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại. Xây dựng cấu trúc phân mảnh, nhà văn nhằm thể hiện những đổ vỡ, tan rã của đời sống hiện nay. Các nhà tiểu thuyết không chỉ nhận diện sự đổ vỡ trên bề mặt xã hội mà còn đi sâu vào những đổ vỡ trong tâm hồn con người. Kết

122

cấu phân mảnh tạo nên cấu trúc hỗn độn, nhưng là cái “hỗn độn bề ngoài”, kích thích tư duy sáng tạo ở người đọc. Kiểu cấu trúc phi trung tâm hướng vào những mảnh vỡ, câu chuyện không đầu không cuối khiến người đọc phải ngẫm nghĩ về bản chất hơn là chỉ để biết những sự kiện diễn ra trong đời sống. Trong nhiều tiểu thuyết, nghệ thuật lắp ghép không lộ rõ trên bề mặt văn bản với những đường biên lộ diện, mà cách cắt dán chìm vào mạch ngầm văn bản.

Văn chương hậu hiện đại với những tính chất phóng khoáng đã phá vỡ cấu trúc của văn học truyền thống. Những đặc trưng của văn học truyền thống không đủ sức để thể hiện hết hỗn mang trong tâm thế của con người lúc bấy giờ - tâm thế bất an, lo lắng và hoài nghi. Từ đó: “kết cấu lắp ghép, phân mảnh trở thành phương thức nghệ thuật đắc dụng của các tiểu thuyết gia hiện đại” [9, tr.54]. Nhưng lắp ghép, phân mảnh của hậu hiện đại không chỉ đơn thuần là sự xáo trộn, đứt quãng mà đằng sau đó là cả một hiện thực mới được phản ánh.

Tiểu thuyết của Coetzee tiêu biểu cho hình thức cấu trúc phân mảnh, lắp ghép. Giữa miền đất ấy gồm 266 đoản khúc dài ngắn khác nhau. Không được sắp xếp theo nội dung của sự việc mà là những đứt nối trong suy nghĩ hoang tưởng của Magda. Với lợi thế của kiểu kết cấu này, Magda - NKC ngôi thứ nhất thỏa sức kể bất cứ điều gì cô nhìn thấy hoặc nhớ đến. Có cả những giấc mơ hoang tưởng cũng được xen vào... Tất cả làm cho biên độ sự kiện không bị gò bó mà trở nên linh hoạt hơn. Vừa có thể phản ánh bức tranh cuộc sống người da trắng trong các nông trại dưới chế độ Aparthied vừa có thể đi sâu khám phá tâm lí bất ổn của Magda - gái già trinh tiết với mặc cảm thân phận ruồng bỏ. Đợi bọn mọi được chia thành 6 chương theo hình thức đánh số. NKC ngôi thứ nhất đồng sự hạn định, điểm nhìn trần thuật đặt vào nhân vật xưng tôi, câu chuyện được kể bởi hai tuyến nội dung cơ bản. Hành trình đưa cô gái da đen về với bộ tộc của họ và cuộc đấu tranh của vị Quan tòa với Đại tá Joll để khẳng định ở đây không có bọn mọi nào cả. Những vụ cướp bóc chỉ là những ảo tưởng, là cái cớ để chính phủ truy bắt, đánh đập người da đen. Xen vào hai nội dung cơ bản là những trang văn hấp dẫn của Coetzee viết về vẻ đẹp của thân xác, tình yêu mà vị Quan tòa dành cho cô gái mọi rợ.

Tuổi sắt đá được chia thành 4 chương xen lẫn vào hình thức bức thư của một người mẹ già viết cho người con gái đang định cư ở Mỹ. Tác phẩm đã phản ánh chân thực thời kì “tuổi sắt đá” Nam Phi đang lên chống lại chế độ Apartheid. Bên cạnh đó là câu chuyện bị ruồng bỏ của người da trắng trên đất Phi châu. Hai nội dung này mặc dù được đánh số nhưng không tách biệt nhau mà được kể lồng vào những điều trông thấy, suy nghĩ của Curren - NKC ngôi thứ nhất đồng sự. Tiểu thuyết Ruồng bỏ được chia thành 24 chương, Người chậm là 30 chương... Như vậy, có thể thấy kiểu kết cấu phân mảnh, lắp ghép là hình thức phổ biến trong tiểu thuyết của Coetzee. Một mặt có tác dụng kể được những phân mảnh của sự việc đứt quãng tiện lợi, mặt khác cũng ngầm thể hiện những bi kịch vụn vỡ của con người hậu hiện đại. Con người và cuộc sống trong văn chương hậu hiện đại rời rạc, lẻ loi.

Cuộc đời và thời đại của Michael K được chia thành ba chương. Mỗi chương được kể lại có dung lượng khác nhau. Nếu như ở chương một nhà văn chủ yếu kể lại hành trình Michael K tìm về với huyện Hoàng tử Albert với những khó khăn, vất

123

vả. K “không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo” [95, tr.84]. Anh đối mặt với những sợ hãi: “họ có đánh hơi thấy mình sợ hãi” [95, tr.78], “nỗi lo âu đi trên đường cái” [95, tr.89]. Trong chương này, các sự kiện không được kể theo trình tự mà nhảy cóc, đứt quãng về thời gian. Đang kể sự kiện Michael làm việc cho bộ phận công viên cây xanh lúc anh mười lăm tuổi. Rồi đột nhiên chuyển qua “một buổi sáng muộn vào tháng Sáu, đó là lúc Michael K đã ba mươi mốt tuổi” [95, tr.15]. Trong chương hai, Coetzee kể về K trong trại tập trung lao động và nỗ lực cố gắng của anh để thoát ra ngoài. Chương cuối cùng kể về Michael K đào tẩu để quay lại thành phố nơi có những ánh đèn nhấp nháy. Ba chương kể về K với ba hành trình, mục đích trong ba không gian khác nhau. Nhân vật đi từ Trung tâm Huis Norenius đến nhà ông bà Buhrmanns tiếp đến là nhà Visagie cuối cùng là không gian trại tập trung Jakkalsdrif, quay trở lại thành phố. K cố gắng rời bỏ, xa lánh rồi lại trở về. Hành trình của K như một vòng tròn quẩn quanh, bế tắc.

Kỹ thuật trần thuật gắn với tọa độ không, thời gian đồng hiện cũng là một hình thức độc đáo xuất hiện phổ biến trong tiểu thuyết của Coetzee nói riêng và văn chương hậu hiện đại nói chung. Hình thức này có thể đan xen nhiều tuyến truyện khác nhau cùng một lúc, số phận nhân vật được giới thiệu ở nhiều không gian và thời gian. Trong tiểu thuyết hậu hiện đại, cấu trúc đồng hiện được sử dụng đậm đặc nhằm tạo ra nhiều lớp không gian khác nhau xuất hiện cùng một lúc đồng thời có thể xây dựng không gian tâm thức của nhân vật với những hoảng loạn bệnh lí. Với kỹ thuật xử lí kết cấu đồng hiện đã giúp câu chuyện trong quá khứ - hiện tại - tương lai của K hiện lên đan xen trong Cuộc đời và thời đại của Michael K. Câu chuyện bắt đầu kể tóm tắt về sự ra đời của K với những khiếm khuyết trên cơ thể và chuyện anh ta quyết định làm chiếc xe cút kít để chở Anna K về huyện Hoàng tử Albert. Hành trình Michael K đưa mẹ của mình từ thành phố Cape Town về nông thôn được kể đan xen từ quá khứ đến hiện tại của hai mẹ con K. Đồng thời, giúp bạn đọc thấy được các không gian khác nhau, đó là không gian hành chính nơi công quyền làm việc, không gian đổ nát trong căn nhà mẹ con K đang trú ngụ, không gian những con đường, không gian của bờ biển... Mặc dù câu chuyện được kể ở ngôi thứ 3, nhưng với hình thức đồng hiện, nhà văn có thể đi sâu khám phá đời sống tâm lí của K dễ dàng.

Giữa miền đất ấy cũng là tiểu thuyết tiêu biểu cho kiểu kết cấu đồng hiện. Những đoản khúc vụn vỡ, cho phép Magda kể một cách tự do thoải mái về cuộc sống nông trang có ngôi nhà hình chữ H và đời sống cảm xúc của cô. Bị “giam hãm” giữa sa mạc khô cằn, việc tiếp xúc với thế giới bên ngoài đối với Magda là điều rất khó khăn. Tuy nhiên, hình thức đồng hiện cùng với ảo giác huyễn tưởng của gái già trinh tiết, Magda đã kể được nhiều vấn đề xảy ra xung quanh cô. Đồng hiện kết hợp với những mảnh vỡ, lắp ghép tạo nhiều chiều kích trong hiện thực đời sống, không chỉ hiện thực khách quan mà cả đời sống tâm lí. Với dòng ý thức đứt quãng, Magda kể đan xen giữa hiện tại với quá khứ, nhờ vậy tiểu thuyết của Coetzee buộc người đọc phải theo dõi trên từng trang viết.

Sự đồng hiện các lớp không - thời gian kết hợp với đồng hiện các bình diện tâm lí khiến hình tượng văn học trở nên mơ hồ, đa nghĩa, gia tăng tính đối thoại.

124

Mặt khác, với kiểu kết cấu này cho phép nhà văn phơi bày nhiều vấn đề trong cuộc sống. Coetzee là nhà văn ít khi đưa ra những kết luận về con người và xã hội hậu hiện đại. Hình thức phơi bày, đồng hiện mọi mặt trong đời sống để bạn đọc cảm nhận chính là đặc trưng riêng trong tiểu thuyết của Coetzee. 4.3. Các kỹ thuật trần thuật khác trong tiểu thuyết của Coetzee 4.3.1. Siêu hư cấu trong tiểu thuyết của Coetzee

Siêu hư cấu (metafiction) là một thuật ngữ được nhà phê bình William H. Gass tạo ra trong tác phẩm của mình Hư cấu và những hình tượng của đời sống (Fiction and Figures of Life) vào năm 1970. Ở đó, Gass tiến hành mô tả lối sử dụng siêu hư cấu xem như đó là hệ quả của một cách hiểu tốt hơn về hoàn cảnh đương đại, chính hoàn cảnh này đã đặt ra những thách thức đối với hư cấu theo lối truyền thống, theo đó xuất hiện hai vấn đề lý thuyết nổi cộm đó là tính tự phản tư (self-reflexivity) và tính bất định hình thức (formal uncertainty). Hai vấn đề này cũng đã được Patricia Waugh nhắc đến ở trong tác phẩm trứ danh bàn về siêu hư cấu có tên Siêu hư cấu - Lý thuyết và thực hành về lối viết truyện tự ý thức (Metafiction - The Theory and Practice of Self-Conscious Fiction, 1984). Tuy nhiên, theo Waugh, sự nhận thức ngày một gia tăng hiện nay về các cấp độ “siêu” (meta) của diễn ngôn và kinh nghiệm như siêu chính trị học, siêu tu từ học và siêu khán trường một phần là hệ quả của sự tự ý thức (self-consciousness)gia tăng về mặt xã hội và văn hóa. Qua đó, yếu tố tự ý thức được Waugh xem như là một yếu tố chủ đạo để xác định đặc tính của nền văn hóa đương đại ngang bằng với yếu tố tự phản tư. Từ đó, Waugh tiến hành định nghĩa siêu hư cấu như sau: Siêu hư cấu (metafiction) là thuật ngữ được đề ra để chỉ lối viết hướng sự chú ý một cách tự ý thức và có hệ thống đến vị thế như là một thể giả lập từ đó đề ra mối quan hệ giữa hư cấu và thực tại.

Khi bàn về lí thuyết Siêu hư cấu, Phạm Ngọc Lan cho rằng đây là trò chơi: “tiểu thuyết bắt chước một tiểu thuyết khác hơn là bắt chước thực tại” [168]. Siêu hư cấu không chỉ là suy tư về hiện thực, bản thể người viết, mà nó là sự suy tư, cắt nghĩa về lối viết, quan niệm nghệ thuật, là một thể nghiệm cho những sáng tạo văn học. Nhà văn trong các tác phẩm siêu hư cấu thường viết về chính quá trình viết nên tác phẩm của anh ta, một tự sự về tự sự, hư cấu về chính những hư cấu. Patricia Waugh cho rằng “nghiên cứu lý thuyết hư cấu thông qua chính việc viết ra tác phẩm hư cấu” [168].

Trong Siêu hư cấu như một trò chơi cấu trúc trong tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI, Thái Phan Vàng Anh cho rằng: “những cuốn tiểu thuyết hiện đại/hậu hiện đại viết về nhà tiểu thuyết với những vấn đề trong việc viết tiểu thuyết, trong một chừng mực nhất định, có thể được xem là có tính chất siêu hư cấu/siêu tiểu thuyết, khi chúng bàn luận về bản chất của sự hư cấu/tiểu thuyết. Một cách phổ biến hơn, khái niệm siêu hư cấu được dùng để chỉ những tác phẩm thể hiện sự tự ý thức về chính nó như một hình thức hư cấu. Ở đó, nhà văn giải thích, chỉ dẫn cho độc giả cách thức tổ chức tác phẩm, chứng tỏ bản thân đang tự chơi một trò chơi cấu trúc, trên một hiện thực được hư cấu, công khai sự “bất tín nhận thức” và mời gọi độc giả cùng tham gia vào trò chơi” [194]. Ý thức rõ về tính trò chơi, tiểu thuyết hiện

125

đại/hậu hiện đại không chỉ làm nên sự hư cấu mà còn mô tả quá trình thực hiện sự hư cấu ấy. Từ tinh thần hư cấu về hư cấu, tiểu thuyết siêu hư cấu không chỉ tăng gấp hai lần mà khiến tính hư cấu được nhân bội vô giới hạn. Ranh giới giữa thực tại và thực tại siêu hư cấu được giãn rộng. Những nỗ lực tìm kiếm mối quan hệ giữa hiện thực và tính hư cấu của văn học trong các cách đọc truyền thống trở nên không còn quan trọng với cách đọc hiện đại/hậu hiện đại, khi tiểu thuyết trở thành trò chơi siêu hư cấu, với một diễn ngôn hiện thực siêu hư cấu trong văn bản.

Siêu hư cấu trong văn học trước hết là sự phủ định lại tính hư cấu nhờ những yếu tố “như là thật”. Sự nhòe mờ hư thực (chuyện hư cấu có vẻ xác thực trong khi những yếu tố thực lại được hư cấu hóa) đã biến văn học trở thành trò chơi tự trong bản chất. Hiện thực trong tiểu thuyết siêu hư cấu, do vậy, sau khi đã được đẩy đến “giới hạn độ” của sự hư cấu lại quay trở lại với hiện thực của chính nó. Tính chất nước đôi của sự thực và hư cấu chính là điểm thú vị nhất của trò chơi siêu hư cấu, đối với cả tác giả, nhân vật - tác giả và độc giả trong tư cách những người cùng thực hiện “sự chơi”. Trò chơi siêu hư cấu tự nó lại hướng đến sự giải kiến tạo siêu hư cấu nhằm kiến tạo ẩn dụ (metaphorical construction) về một hiện thực của tiểu thuyết.

Siêu hư cấu là lối viết đặc trưng của văn chương hậu hiện đại, xuất hiện dưới nhiều dạng thái khác nhau như: kiểu người kể chuyện dựng nên câu chuyện trong Thất lạc nơi hí trường của Barth, việc in ấn trong Người lữ hành của B.S. Johnson, các cấu trúc hộp kiểu Trung Quốc trong Cuốn sổ vàng của Doris Lessing, Điều hão huyền của John Barth, tháo dỡ toàn bộ sự tổ chức không gian và thời gian trần thuật trong Một vài câu văn được chọn lọc của B.S. Johnson; hồi quy vô tận trong Watt của Beckett; giải nhân cách hóa (dehumanization) về nhân vật, về sự giễu nhại kép... trong Cầu vồng của lực hấp dẫn của Pynchon... Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino (Italia) là một trong những siêu tiểu thuyết hậu hiện đại làm cho thế giới thực tại lẫn thế giới hư cấu hiện lên như là kiến tạo, giả tượng, nhưng theo một cách rất khác biệt so với nhiều siêu tiểu thuyết hậu hiện đại khác. Tiểu thuyết nhưng lại có lối hành văn như một tập hợp những bài tiểu luận. Thông qua một câu chuyện hư cấu về những câu chuyện hư cấu khác, Italo Calvino còn lồng vào đó những đoạn triết lí thâm trầm về sự đọc, sự viết, về vai trò của độc giả, của tác giả, và của sách. Ở đây, lằn ranh phân chia giữa độc giả, tác giả, nhân vật bị xoá bỏ, người đọc cũng chính là nhân vật chính, còn tác giả cũng chính là người đọc. Đây là một tác phẩm của những sự khởi đầu, tập hợp bao gồm mười sự khởi đầu của mười cuốn tiểu thuyết khác nhau mà chúng ta không bao giờ biết được phần kết thúc. Mười mảnh rời này được nối lại với nhau thông qua một câu chuyện mà trong đó chúng ta như là một người lữ khách đang làm là đi tìm một tác phẩm hoàn chỉnh, một văn bản thực thụ mà dường như đang ở đâu đó. Italo Calvino đã phá vỡ mọi quy định của một cuốn tiểu thuyết truyền thống. Bên trong cuốn tiểu thuyết này lại xuất hiện những cuốn tiểu thuyết khác, rồi lần lượt mỗi cuốn tiểu thuyết xuất hiện bên trong đó lại bị ngắt quãng, việc ngắt quãng đó có chức năng như là một lối ẩn dụ mở rộng, sự bỏ lửng trong giao tiếp văn chương. Có thể nói Nếu một đêm đông có người lữ khách của Italo Calvino là tiểu thuyết tiêu biểu cho ý niệm tác phẩm mở mà Umberto Eco đã nêu ra vào năm 1962 trong Opera aperta

126

(Tác phẩm mở), rằng những thông điệp trong những tác phẩm hoàn toàn mập mờ và người đọc phải tham gia một cách chủ động hơn vào quá trình diễn giải và sáng tạo. Đối với Coetzee, siêu hư cấu cũng là thủ pháp quen thuộc trong văn chương của ông. Trong 6 tiểu thuyết được chuyển dịch tại Việt Nam, chỉ có Người chậm biểu hện rõ nét nhất. Tuy nhiên, ở luận án này, chúng tôi đưa nội dung Siêu hư cấu vào nhằm để nhận mạnh, đây là trò chơi phổ biến, xuất hiện nhiều trong sáng tác của Coetzee.

Với Foe, Coetzee được xem là nhà văn tiến gần lối viết tiểu thuyết hậu hiện đại thông qua hình thức siêu hư cấu. Tác phẩm là lời kể của nhân vật nữ có tên là Susan Barton, một người phụ nữ bị đắm tàu và cuối cùng dạt đến hòn đảo của Robinson Crusoe, nơi đó cô kết bạn với Crusoe và Thứ Sáu. Crusoe chết, Barton và Thứ Sáu được cứu sống; cuối cùng họ về nước Anh, đi tìm Foe. Ý tưởng của nhân vật trung tâm là tìm được tác giả Robinson Crusoe và đề nghị ông viết câu chuyện của cô ta. Cô ta sẽ trở thành nàng thơ còn ông sẽ trở thành nhà văn. Chiếm phần lớn cuốn tiểu thuyết là diễn ngôn về hành động viết thay vì câu chuyện. Mối quan tâm thực sự của câu chuyện nằm ở cuộc tranh luận về sự viết lách và những nguồn cảm hứng của nó. Vì vậy, bạn đọc xem cuốn sách như là một cuộc tranh luận về viết lách được hư cấu hóa hơn là một tiểu thuyết. Nhan đề tác phẩm là Foe - ba chữ cuối của nhà văn Daniel Defoe, người khai sinh nhân vật Robinson Crusoe. Đây là một hình thức nhại quen thuộc của văn chương hậu hiện đại. Tuy ngưỡng mộ Daniel Defoe nhưng Coetzee cũng nhận ra những giới hạn, những thiếu sót của nhà văn này về nghệ thuật viết tiểu thuyết [xem thêm tài liệu 185].

Coetzee vốn rất ngưỡng mộ Dostoyevsky, bằng việc thay đổi cái khung của tiểu thuyết, pha trộn giữa thể loại tiểu sử và tiểu thuyết, dùng một phần tiểu sử của Dostoyevsky với thế giới tiểu thuyết của ông để viết The Master of Petersburg. Elizabeth Costello, tác phẩm mới nhất của Coetzee xuất bản trước khi được trao giải thưởng Văn chương Nobel 2003 là một quyển sách không hấp dẫn lớp độc giả bình dân. Dưới cái tựa sách chính Elizabeth Costello, ông ghi tựa đề phụ “Eight Lessons” (Tám bài giảng). Cuốn sách được viết theo lối pha trộn hai thể loại văn chương luận văn và tiểu thuyết. Phần hư cấu tiểu thuyết là câu chuyện của nhân vật Elizabeth Costello. Theo lời người kể chuyện, bà là một nhà văn nữ Úc, ngoại lục tuần, tác giả của 9 quyển tiểu thuyết, 2 tập thơ, 1 cuốn biên khảo về đời sống chim chóc, và có nhiều bài báo. Elizabeth Costello lập gia đình hai lần, có hai con một trai một gái, mỗi đứa một cha khác nhau. Người con trai tên John là một giáo sư Vật lý và Thiên văn tại Đại học Massachusetts, có vợ cũng là một giáo sư Triết học. Tác phẩm đáng lưu ý của Elizabeth Costello là cuốn “The House on Eccles Street”, trong đó nhân vật chính là Marion Bloom, vợ của Leopold Bloom là nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết lừng danh “Ullysses” của James Joyce. Truyện xảy ra khi Elizabeth Costello được Đại học Altona College ở Williamstown, Pennsylvania trao tặng giải thưởng văn chương Stowe Award và làm một chuyến đi xa để dự buổi lễ trao giải thưởng vào đầu xuân 1995 nhân tiện ghé thăm con trai và con dâu.

Trong suốt Eight Lessons (Tám bài giảng), qua nhân vật Elizabeth Costello, Coetzee trình bày rất nhiều vấn đề từ văn chương tới triết học, ngôn ngữ, lịch sử v.v... Với những độc giả đã quen thuộc với ông thì tác phẩm này được xem là một

127

cuốn tự truyện. Giành giải Booker Prize hai lần ông đều không đi nhận thưởng. Cho nên Coetzee đã xây dựng nên nhân vật Elizabeth Costello để có dịp lên tiếng, bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình. Dù là Elizabeth Costello hay Coetzee thì ngôn từ thông minh sắc sảo, trào lộng cay đắng về con người, về văn chương, lịch sử vẫn là giọng điệu phê phán triệt để trong sáng tác của ông. Nếu cho rằng Elizabeth Costello là một cuốn sách thất bại về sức hút độc giả thì có lẽ đây là một thất bại cố tình của Coetzee: kể từ đây ông sẽ không còn viết tiểu thuyết nữa? Nhưng Coetzee là một nhà văn rất khó tiên đoán hành vi của ông. Quả thực là sau đó, Coetzee tiếp tục cho ra đời các tiểu thuyết gây chấn động dư luận: Người chậm (2005), Diary of a Bad Year (2008), The Childhood of Jesus (2013), The Schooldays of Jesus (2016). Điều này càng chứng tỏ, Coetzee không chỉ là một nhà văn tài năng mà còn bí ẩn.

Nhân vật Elizabeth Costello còn xuất hiện trong tiểu thuyết nổi tiếng Người chậm. Bà xuất hiện với vị trí là nhân vật chính trong tác phẩm, là người theo dõi Paul Rayment khi ông bắt đầu bị tai nạn và phải cắt lìa một chân. Ban đầu là cuộc gặp gỡ giữa ông và Elizabeth Costello thông qua các cuộc gọi điện thoại. Elizabeth Costello là một nhà văn mà Rayment từng tiếp xúc thông qua một số bài báo liên quan đến sinh thái học và quyền lợi của động vật. Bà từng là nhà văn nổi tiếng, giờ thì không còn nữa. Chính phương tiện truyền thông đã thay đổi quá nhiều và đẩy thế hệ các nhà văn như bà sang một quỹ đạo mới. Quá trình sáng tạo của bà cho thấy sự kiên trì, quyết liệt của một người nghệ sĩ. Thông qua nhân vật này, nhà văn Coetzee gửi gắm những thông điệp văn chương về quá trình sáng tạo cũng như số phận của các tác phẩm văn học trong bối cảnh hiện nay.

Siêu hư cấu là một đặc trưng thú vị trong văn chương của Coetzee. Bởi, bên cạnh ông là một nhà văn thì Coetzee còn là nhà lý luận phê bình văn học nổi tiếng về các tiểu thuyết gia tiền bối. Vì thế, trong không ít tiểu thuyết của mình, ông trực tiếp đôi khi là gián tiếp thể hiện, bày tỏ quan niệm sáng tạo của người nghệ sĩ. Người chậm đặt ra sứ mệnh về việc khám phá hiện thực cuộc sống cũng như những chấn thương thể xác của con người. Elizabeth Costello nêu cao tinh thần phê bình thẳng thắn trong văn chương. The Lives of Animals đề cập đến mối quan hệ của văn chương đối với thế giới động vật. Văn chương phải là tiếng nói bảo vệ thiên nhiên mạnh mẽ, kiên cường. Là nhà văn kín tiếng, không muốn bộc lộ quan điểm cá nhân của mình trực tiếp, nên Coetzee đã khai thác hiệu quả thủ pháp siêu hư cấu. Thông qua các nhân vật là người nghệ sĩ (nhà văn, nhà báo, nhà sinh vật học…), ông thể hiện quan điểm của mình về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nhất là thân phận con người và thế giới thiên nhiên sinh thái. Do dung lượng luận án, ở một công trình tiếp theo chúng tôi sẽ làm rõ vấn đề trên tường minh hơn. 4.3.2. Kỹ thuật sử dụng giọng điệu hoài nghi, chua chát

Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Giọng điệu mang nội dung khái quát tác phẩm, phù hợp với đối tượng được miêu tả. Trong một tác phẩm thường có nhiều giọng điệu khác nhau trên cơ sở một giọng điệu cơ bản chủ đạo. “Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mĩ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm đến bạn đọc” [41, tr.134]. Trong tiểu thuyết của Coetzee chúng ta dễ nhận ra rất nhiều giọng điệu khác nhau, với nhiều kiểu phối bè đa dạng. Điều này

128

tạo nên một Coetzee rất riêng biệt, không trộn lẫn. Tuy nhiên ở đây chúng tôi xác định giọng điệu chủ âm bao trùm trong tiểu thuyết của Coetzee là hoài nghi, chua chát, mỉa mai mang sắc thái hài hước đen. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, đây là nhà văn của lối viết tối giản, kiệm lời, bỏ qua những chi tiết rườm rà nên văn chương của Coetzee hàm súc tột độ. Đây cũng là lí do mà NKC trong sáng tác của ông ít khi can dự vào nội dung câu chuyện mà chỉ kể lại bằng một sắc thái lạnh lùng, nhiều khi bỡn cợt trước số phận của con người. Thứ hai, là nhà văn không có niềm tin vào những giá trị đạo đức của thể chế chính trị Nam Phi đem lại cũng như nền văn minh châu Âu áp đặt lên quốc gia này. Thân phận con người trở nên vô nghĩa lí trước thời cuộc. Thứ ba, là nhà văn mang thân phận lưu vong, từng bị Nam Phi từ chối quốc tịch, định cư tại Australia, thỉnh giảng và giảng dạy nhiều nơi trên thế giới cùng với cảm thức Do Thái gợi dậy trong ông những hoài nghi, mặc cảm về thời gian lẫn không gian và thân phận con người... Vì thế, trong mỗi trang văn của Coetzee, giọng điệu hoài nghi, cô đơn với mặc cảm thân phận chua chát luôn bao trùm trong các tiểu thuyết.

Giọng điệu của NKC dù ở ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba, kể cả những ngôi kể theo hình thức đánh tráo chủ thể trần thuật đều mang mặc cảm hoài nghi, cô đơn, đau đớn. Mỗi nhân vật - NKC của ông đều bị đẩy đến những trạng thái tâm thần bất ổn do dư chấn của xã hội gây nên. Đó là những tổn thương không bao giờ có thể lành lặn.

Trong Giữa miền đất ấy, Madga - NKC ngôi thứ nhất bị đẩy vào một cảnh huống khắc nghiệt, khi mất mẹ và phải sống chung với cha. Hàng ngày phải chứng kiến cảnh cha ân ái với người tình da màu khiến cô căm phẫn. Madga bắt đầu rơi vào những trạng thái hoảng loạn, triền miên với những ám ảnh về việc giết người, được bật lên bởi một nỗi cô đơn cực đoan. Madga không còn gì ngoài việc truy lùng và hành hạ tâm trí. Triền miên tháng ngày tồn tại ở hoang mạc là quá trình cô đi tìm hình ảnh người mẹ đã mất dần trong trí nhớ, tìm cách giao tiếp với cha cô và thế giới bên ngoài, làm thay đổi cuộc sống nông trại. Nhưng tất cả đều thất bại, cô rơi vào trạng thái hoài nghi cuộc đời và thân phận của mình, mất phương hướng, cô đơn đến tột cùng. Madga cùng với Giữa miền đất ấy là điểm bắt đầu để Coetzee tạo dựng thánh địa văn chương của mình - thánh địa của một thế giới tâm thần hoài nghi, cô độc.

Đạt đến đỉnh cao của sự hoài nghi, cô đơn đến đau đớn có lẽ phải kể đến Cuộc đời và thời đại của Michael K, tác phẩm đã đem đến cho Coetzee giải Booker vào năm 1983. Câu chuyện được kể ở ngôi thứ ba ẩn tàng, NKC đứng ngoài truyện kể kể về cuộc đời của K. Michael K là một người đàn ông khiếm khuyết, kiếm sống bằng nghề làm vườn. Sau khi mẹ chết, anh tự tay thiêu xác mẹ rồi đào một cái hang giữa một khu đất bỏ hoang và sống qua ngày bằng trái cây để rồi khi chiến tranh ập đến, anh bị bắt vì bị nghi ngờ giúp đỡ những kẻ nổi loạn. Michael K bị tra tấn, hành hạ rất dã man. Ở cuốn tiểu thuyết này, Coetzee đã đặt nhân vật của mình vào rất nhiều bi kịch. Ngay việc sống trong hang cũng giống như là việc bị tước đi đời sống đơn giản nhất của loài người, K sống trong cảnh cô đơn, trong giữa hoang dã, và rồi bị rơi vào sự hành hạ của con người. Dửng dưng đến chua chát,

129

Coetzee không hề nương tay đối với nhân vật của mình, mà càng đẩy K vào trạng thái của những đau đớn, như là cuộc truy vấn cuối cùng, tước đoạt tất thảy mọi niềm tin của con người. Có thể nói, sau nhân vật K. của Kafka, Michael K của Coetzee chính là nhân vật gây nên sự ám ảnh về thế giới tăm tối, và thân phận bi thương cùng sự hoài nghi của loài người.

Chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của những nhà văn lớn như Dostoyevsky, Kafka, Faulkner, Coetzee cũng đã xây dựng cho mình một thế giới văn chương ngoài lề, nhưng đôi lúc ông lại thâm nhập sâu xa vào thế giới nội tâm của con người mà bày phơi một thế giới tâm thần hoảng loạn, cô đơn và đau đớn nhất của loài người.

Cảm thức đau đớn, hoài nghi và giọng điệu cô đơn chua chát của Coetzee được truyền tải bằng một thứ văn chương đầy huyền ảo và thơ mộng. Chính điều này đã tạo nên nét đặc sắc cho những tác phẩm của ông. Viết về sự nghiệt ngã đến đau lòng, nhưng thủ pháp chính mà ông sử dụng lại là thêu dệt huyền ảo. Trong tác phẩm Đợi bọn mọi, Coetzee đã viết nên một câu chuyện hoang đường. Lấy bối cảnh là một đế quốc giả tưởng không tên. Người phụ trách cai quản một vùng đất biên giới là nhân vật thẩm phán, một vị Quan tòa. Đặc trách về an ninh có Đại tá Joll, một kẻ lạnh lùng và vô cảm.

Với giọng điệu chua chát, mỉa mai mang sắc thái hài hước đen, Coetzee miêu tả cuộc sống của những con người tồn tại trong đế quốc ấy, với những trạng thái tâm hồn giằng co và tranh đấu, với những hủy hoại và sa ngã, thanh trừng và thương tổn. Ông đã tạo nên một tấm gương soi chiếu vô cùng sắc nét đến đời sống hiện thực của loài người dưới chế độ Apartheid nói riêng trong chiến tranh nói chung. Tạo dựng một không khí hoang đường nhưng câu chuyện của Coetzee lại phản ánh một thế giới đầy hiện thực, đầy nội tâm của con người.

Coetzee thường viết những tiểu thuyết ngắn, kìm nén, ngôn ngữ chuẩn xác, không có sự dư thừa. Tạo dựng không khí vừa thơ mộng vừa ngột ngạt, khiến cho ý tứ, cảm thức đặc trưng trong sáng tác của ông luôn được thể hiện một cách sắc nét. Điển hình cho sự đau đớn nên thơ trong tiểu thuyết của ông có lẽ là Ruồng bỏ. Tác phẩm này đặt nhân vật vào một vùng sống đầy hoang dã, thậm chí là man rợ. Vùng đất đó được tạo dựng nên vô cùng lộng lẫy với những vùng mặt trời rực đỏ, những quãng đường bụi đỏ tít tắp. Giữa hoang dã ấy, Coetzee buộc nhân vật của ông phải đối diện với những mất mát khắc nghiệt với những lựa chọn mang tính loại trừ. Nhưng ở đâu đó, trong Ruồng bỏ, chất thơ, nhạc, điện ảnh thấm đẫm qua từng trang viết. Sự hoài nghi vẫn hiện tồn trên từng trang viết nhưng dường như với tác phẩm này, sự an ủi đã lấp ló đâu đó, ẩn giấu đâu đó sau những tổn thương sâu cùng mà các nhân vật phải chịu đựng.

Chi tiết phiên tòa kết tội giáo sư David Lurie trong Ruồng bỏ có nhiều điểm giống và khác với phiên tòa trong tác phẩm Vụ án của Kafka. Trong thế giới của Vụ án, những yếu tố bình thường của cuộc sống cũng trở nên quái lạ, bất thường, phi lý; ranh giới giữa thực – ảo trở nên hết sức mơ hồ, biến ảo, khiến không chỉ nhân vật mà ngay chính độc giả cũng dễ nảy sinh cảm giác hoang mang khó phân định thực mơ. Ở đó, vụ án Joseph K dính phải được huyền thoại hóa ngay từ những trang đầu tiên, từ bối cảnh, những tình tiết phát triển vụ án, cách thức bộ máy tòa án vận

130

hành… Còn trong Ruồng bỏ không có thế giới ảo, toàn bộ câu chuyện diễn ra bằng việc thật, con người thật, chỉ mỗi cách tra khảo là phi lí.

Joseph K trong Vụ án bị vướng vào một vụ án mà kẻ kết tội anh là một tòa án, song lại hiện lên như thế lực siêu hình, càng tim lại càng chẳng thấy. Thế lực đó biến mọi điều phi lý đều trở thành có lý, đạp lên mọi chuẩn mực thông thường trong quy trình xét hỏi xử kiện thông thường. Hai kẻ canh gác xông vào căn hộ Joseph K thuê mà không một lời giải thích, chỉ nói rằng anh có tội, anh phải theo một vụ án. Song tội danh của anh là gì, chúng không hề nói. Mọi giấy tờ tùy thân anh đưa ra nhằm chứng minh mình vô tội, hai kẻ đó cũng không thèm ngó ngàng đến. Còn giáo sư David biết rõ tội của mình, Hội đồng kỉ luật được thành lập là những người cùng công tác với ông. Chỉ có điểm khác biệt khi kết tội. David sẵn sàng nhận tội, nhưng các thành viên vẫn tiếp tục tra hỏi và không muốn ông nhận tội quá dễ dàng.

Bản chất vụ án lẫn phiên tòa, tòa án của Joseph K cũng là một thứ gì đó hết sức mơ hồ, hoang đường. Anh bị kết án, những kẻ kết án anh đều xác định vụ án của anh cực kỳ nghiêm trọng nhưng Joseph K vẫn “có tự do”, được tại ngoại, vẫn được đi làm và sống một cuộc đời bình thường. Phiên tòa K tham dự mà đến cuối cùng nó có thực là phiên tòa khi những người phụ trách lại chẳng hiểu gì về vụ án họ xét xử. Ai kết án, kết án vì tội gì, tại vì sao lại kết án. Tất cả bí ẩn đó đều chỉ được giải đáp bằng một lời đáp hết sức hờ hững: Joseph K cần phải đi hỏi cấp trên. Nhưng cấp trên lại có cấp trên cao nữa và đến cuối cùng, cấp trên ấy mãi mãi là một bí ẩn cao vời vắng mặt. Trong khi phiên tòa trong Ruồng bỏ rất rõ ràng, ai kết án và tội án là gì đều cụ thể… Cuối cùng David bị đuổi khỏi trường Đại học.

Danh tính của con người ở vụ án của Joseph K cũng đặc biệt mơ hồ. Một kẻ thợ mộc tên Lanz do Joseph K tự tưởng tượng ra bỗng dưng được thừa nhận là có tồn tại, sự thiếu tên gọi của các quan tòa, thẩm phán làm cho người đọc như cảm tưởng: anh có thể là anh, nhưng cũng có thể là bất cứ ai trong tòa án ấy. Danh tính, thứ để gọi tên một con người, cuối cùng cũng trở nên nhòe mờ trong thế giới hư thực, hiện thực nhưng nhuốm màu huyền ảo mà Kafka tạo dựng lên. Trong khi đó, Coetzee lại xây dựng nên phiên tòa tất cả đều hiện lên rõ ràng, cụ thể từng chi tiết. Chỉ có điều, tất cả mọi thứ trong phiên tòa phi lí từ con người, mục đích đến cách xử án…

Một điều đặc biệt trong văn chương của Coetzee chính là khả năng đi sâu vào khai mở những ngóc ngách tâm thần của con người. Không đơn giản là bày phô những tâm tư tình cảm, mà Coetzee còn nhuần nhuyễn diễn giải những kín đáo nhất, hoang mang, tự vấn tăm tối nhất của con người.

Madga, Michael K, David Lurie,... hay rất nhiều những nhân vật khác của Coetzee tạo nên đã tiếp nối những phi lý nghi hoặc suốt đời của con người, nỗi cô đơn, đau đớn mà cũng lộng lẫy của con người, cùng với Kafka, Albert Camus, George Orwell... Và như thế, văn chương dù như Coetzee đã nói, rằng không có sức mạnh an ủi, không có khả năng cứu rỗi, vẫn cứ tồn tại như thế. Việc an ủi hay cứu rỗi, có lẽ nằm ở phía độc giả.

131

4.3.3. Trò chơi nhại, lối viết tự truyện tiểu sử và thủ pháp giản lược

Coetzee được xem là một nhà chơi nhạc bằng ngôn ngữ, tước bỏ tính đa cảm (không phải là cảm xúc) của ngôn ngữ đem đến cho người đọc hệ thống ngôn ngữ văn chương sắc lạnh, chắc chắn, kiệm lời đến mức tối giản. Hình thức ngôn ngữ để thể hiện được điều này chính là sự chuyển đổi từ ngôn ngữ đối thoại sang ngôn ngữ độc thoại. Hình thức này được thể hiện qua một số tiểu thuyết như: Tuổi sắt đá, Giữa miền đất ấy, Cuộc đời và thời đại của Michael K... Khi con người mất quyền năng đối thoại, độc thoại là hình thức duy nhất để sinh tồn giữa sa mạc châu Phi hoang vắng. Điều này có thể lí giải từ các nguyên nhân sau: Thứ nhất, vốn là một nhà tin học, toán học, kí hiệu học nên từ ngữ trong văn chương của Coetzee được tiết chế, tính toán tỉ mỉ trong từng tiết điệu ngôn ngữ. Thứ hai, bản năng sinh tồn của con người lên tiếng giữa miền u tối Nam Phi. Đối thoại không có ý nghĩa giúp họ thoát khỏi cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu, lạc lõng, cô đơn ở quốc gia bị ranh giới đen - trắng phân biệt. Thứ ba, Coetzee đã trao cho nhân vật một đặc quyền để tồn tại: Quyền im lặng.

Tiểu thuyết Giữa miền đất ấy đặt ra hàng loạt câu hỏi nghi vấn. Đã bao giờ bạn tự hình dung mình là một người đàn bà già trinh tiết mặc đồ đen bị người ta bỏ quên một cách lạc lõng, bỏ quên như một đôi giày cũ quẳng chỏng chơ nơi xó tối? Đã bao giờ bạn có cảm giác như mình đang bị kéo lê suốt một cuộc đời lầm lụi, không ánh sáng, không tình thương, thậm chí không có cả tình thân, không giao tiếp, kết nối với thế giới bên ngoài. Mọi sinh hoạt trong ngôi nhà hình chữ H tồn tại ở dạng độc thoại? Tưởng chừng sẽ không có người nào như vậy, thế nhưng trong văn chương của Coetzee, bạn đọc đã gặp một người đàn bà như thế, người đàn bà héo khô đến tận ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, trong ảo ảnh, trong cô đơn, vùi lấp…

Trong Giữa miền đất ấy, Coetzee đem bạn đọc đến với một hoang mạc xa xôi, đến với trang trại xứ Nam Phi, nơi mà những con người sinh ra, lớn lên, rồi tàn lụi… Ở nơi ấy, ngập tràn nỗi cô đơn, cô đơn trong sự rộng lớn không cùng. Hình như, càng bao la vũ trụ, con người ta càng nhận thấy mình nhỏ bé đến không ngờ. Nơi thiên nhiên ngổn ngang đá cuội, nơi lũ - người và lũ - côn - trùng cùng nhau phô bày những bản năng sinh tồn một cách “trần trụi”, “bẩn thỉu” và “nghiệt ngã”, nhưng cũng mơ màng như một giấc chiêm bao… Ở giữa miền đất hoang mạc lẻ loi, chúng ta bắt gặp bốn con người với những tính cách, lối sống cho riêng mình. Có thể âm thầm, buông xuôi, biếng hèn và đôi khi cũng dữ dằn, say mê rồi ngập tràn bạo lực. Họ ẩn dụ, biểu tượng cho con người, xã hội Nam Phi đương thời, nơi mà những ông chủ thực dân bóc lột người nô lệ bản địa, người da trắng đàn áp người da đen, đàn ông da đen báo thù phụ nữ da trắng, nơi mà số phận người, nhất là người phụ nữ lệ thuộc, lắt lay tủi hổ, bi kịch cô đơn. Đó còn là bi kịch của một ông chủ chuyên quyền da trắng, sống cô đơn, thèm khát trong những tháng ngày chinh phục thuộc địa. Bass dan díu với nô lệ Anna - cô vợ trẻ của Hendrix thì đột nhiên bị bắn chết trong phòng. Bạn nghĩ xem phát súng ấy từ đâu? Từ người chồng Anna ghen tuông giận dữ? Từ Anna uất ức? Không - là Magda - là con gái ruột của người đàn ông ấy. Đứa con gái đã bịt kín xác cha trong một căn phòng hôi hám với tiếng kêu

132

của bầy ruồi nhặng… Cuốn tiểu thuyết chỉ hơn 200 trang nhưng chứa đựng cả một tấn bi kịch lớn lao và khủng khiếp về con người, chủng tộc, thuộc địa.

Người đọc có cảm giác ngạt thở trên từng trang sách của Coetzee. Bao trùm tiểu thuyết là không khí ngột ngạt của gió cát, của hoang mạc hôi mùi động vật và các mối quan hệ: cha - con, ông chủ - nô lệ, người tình - tình nhân, kẻ hiếp dâm - kẻ bị hiếp dâm. Vẫn là giọng văn điềm tĩnh nhưng dữ dội, Coetzee đem đến không khí xung đột căng thẳng thời đại Aparthied. Ông thận trọng đến từng chi tiết, tình huống, cảm xúc của nhân vật qua các phân đoạn trong tiểu thuyết. Tuổi xuân của Magda - từ một người con gái rồi trở thành người đàn bà già trinh tiết trôi đi trong bốn bức tường, giữa những mơ ước hão huyền không có nơi bám víu... Giết cha những tưởng sẽ thay đổi được cấu trúc quyền lực trong nhà, nhưng không ngờ Magda càng trở nên cô độc. Từ địa vị chủ nhân, cô trở thành con nợ. Madga bị cưỡng đoạt tài sản dưới tay Hendrik - chồng Anna. Như để thỏa mãn hận thù đối với Bass, hắn hãm hiếp cô. Hendrik là dụ ngôn cho kiểu người đàn ông da đen bản năng, mặc cảm trả thù, cô đơn. Phần cuối tiểu thuyết, người đọc bắt gặp những hành động bạo lực mang tính bản năng. Hình như tại miền đất ấy, con người bị ràng buộc bởi bản năng thù hận và khát khao quay quắt được thoát khỏi bạo lực. Ẩn trong tâm hồn họ là mảnh đất hoang vu liêu tịch, không mầm sống. Có lẽ Thượng đế cũng đã bỏ quên họ mất rồi…

Có thể nói, Giữa miền đất ấy được viết bằng thứ văn chương giàu có và rợn ngợp, bởi giọng điệu chua xót đắng cay. Đây là tác phẩm đã xóa nhòa mọi ranh giới giữa hiện thực và tưởng tượng, nó đưa bạn đọc đến với những ốc đảo trơ trọi do những con người kiêu ngạo, tự ti vẽ ra và nhốt mình vào đấy. Họ chối bỏ thế giới của loài người, như một thứ côn trùng ăn đêm sợ buổi mai thức giấc. Những tâm tư của Magda - người đàn bà cô độc ám ảnh trong nỗi day dứt xót xa: “Tôi là một cái bao da, một cái dạ con, che chở cho cái bên trong rỗng tuếch. Sự hiện diện của tôi trên thế giới này không phải là sự hiện diện của một lưỡi dao rạch gió, cũng không phải là sự hiện diện của một tượng đài kiến trúc có mắt, nó - là một cái lỗ - một cái lỗ bao quanh là một cơ thể” [93, tr.89]. Nam Phi không thuộc về cô cũng không thuộc về bất cứ ông chủ da trắng nào. Nam Phi da đen là của người da đen đang trả thù những gì mà người da trắng áp đặt lên quốc gia họ. Cuộc khủng hoảng Apartheid là biểu hiện cho thể chế chính trị quốc gia cầu vồng này rơi vào tình trạng chia rẽ và bạo lực. Nam Phi không thuộc về ai, ở đó chỉ có những bi kịch. “Hoang mạc không chỉ ở châu Phi xa xôi mà nó mịt mùng hoang vắng ngay khi chúng ta kiệt cùng về niềm tin và khát vọng sống trên cõi đời này!” [93, tr.97]… Nơi này, mọi quyền năng được đối thoại đều bị thủ tiêu. Tiểu thuyết Giữa miền đất ấy đã chạm đến tận cùng nỗi cô đơn, chạm đến tận cùng bản năng, những bản năng đôi khi vượt khỏi tầm kiểm soát, nhưng vẫn là thứ bản năng không thể chối từ…

Với tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K, Coetzee đã đẩy sự chối từ ý nghĩa tới một ranh giới mới, và qua đó mở cửa cho một cuộc đối thoại bên ngoài những công thức bị áp chế bởi ý thức hệ hoặc những quy ước tầm phào. Michael K là một kẻ độc hành khiếm khuyết - với cái môi sứt, trôi dạt từ một đất nước bị chia cắt bởi nội chiến tới chỗ chẳng còn gì hơn là cuộc sinh tồn trắng trợn,

133

bị bắt và quản thúc, rồi được thả, nhưng tất cả những điều đó đều quá không quan trọng để được sự chú ý nghiêm túc của ai đó. Và câu hỏi đặt ra là, điều gì sẽ xảy ra nếu như số đông chúng ta đều là những kẻ “ăn giun” như vậy?

Chính sự im lặng của Coetzee lại tác động mạnh đến ý thức người đọc. Một cách tàn nhẫn, ông bắt độc giả phải đối diện với các tình thế tiến thoái lưỡng nan và phải lựa chọn giữa hai cái cùng tồi tệ. So sánh cái không thể so sánh, đó là tinh thần của tiểu thuyết Ruồng bỏ, cuốn sách đã giúp tác giả của nó đứng vào danh sách những người có sách bán chạy nhất thế giới và lần thứ hai đoạt giải Booker (1999). Chỗ này là chuyện một giáo sư văn học bị đẩy tới tỉnh lẻ vì quan hệ tình dục với một nữ sinh viên; chỗ kia là chuyện con gái ông ta bị cưỡng hiếp bởi ba tên da đen ngay tại trang trại của mình, và không những từ chối báo cảnh sát mà còn giữ nuôi đứa con… Mọi câu chuyện được phơi bày trong im lặng, mọi phán quyết thuộc về bạn đọc.

4.3.3.1. Trò chơi nhại và lối viết tự truyện tiểu sử (Autre-biography) Theo Linda Hutcheon trong công trình A Theory of Parody, parody (nhại) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ đại là parodia, từ này gồm hai thành tố: tiền tố para (đối lại hoặc bên cạnh) và danh từ oide (bài hát). Nhại có nghĩa là một bài hát được đối lập lại một bài khác, hoặc một bài hát được hát bên cạnh một bài khác mà không có ý nghĩa ngược lại. Nhại vừa là dạng thức đối lập giữa các văn bản, vừa là đề xuất về mối liên hệ gần gũi thay vì đối lập, ý nghĩa thứ hai có tính chất mở rộng lĩnh vực thực hành của nhại. Hutcheon đưa ra một thuật ngữ trung tính để tránh việc nhất thiết phải bao gồm quan niệm về giễu cợt như trong các trò đùa cợt, khôi hài: “Nhại, do đó, trong quá trình chuyển hóa - văn cảnh hóa và sự lộn ngược có tính chất mỉa mai của nó, là một lặp lại với khác biệt” [116, tr.32]. Về bản chất và chức năng, Hutcheon xem những cuộc tấn công vào nhại là sức mạnh kéo dài của “mĩ học lãng mạn trong đó tôn vinh thiên tài, sự độc đáo, tính cá nhân” [116, tr.4]. Nhại cho ta một phiên bản bị kiểm soát và giới hạn của sự kích hoạt quá khứ bằng việc cung cấp cho nó một văn bản mới, thường là có tính châm biếm. Nhại không chỉ là sự bắt chước có tính chế giễu, mà còn là một bài học của nghệ thuật hiện đại. Nhại hiện đại có sự đa dạng các chủ ý của nó như mỉa mai, vui đùa, chế nhạo. Bản chất và chức năng của nhại là một dạng thức bắt chước, như nó được đặc trưng bởi sự đảo ngược mỉa mai, không làm tổn hại tới văn bản bị nhại. Đó là sự lặp lại với tính chất phê bình, đánh dấu sự khác biệt hơn là sự tương tự.

Mục đích của đặc tính nhại là hướng tới văn bản, một tác phẩm nghệ thuật hoặc một diễn ngôn mã hóa khác, không nhằm phủ nhận những ám chỉ xã hội và ý thức hệ của chúng. Về phạm vi, nhại bao gồm: nhại thể loại với các mẫu thức quy ước của nó, nhại phong cách của một thời kì hay một trào lưu, nhại một nghệ sĩ đặc thù, nhại một tác phẩm riêng lẻ hay một phần của nó, nhại các mẫu thức mĩ học đặc trưng trong toàn bộ nghệ thuật của một nghệ sĩ. Theo Gérard Genette, nhại như một sự chuyển dạng tối giản của một văn bản khác, phạm vi nhại chỉ giới hạn với những văn bản ngắn như bài thơ, thành ngữ, chơi chữ, nhan đề.

Vậy, nhại là thủ pháp đặc biệt của việc sử dụng chất liệu quá khứ, nó không hề liên quan đến ăn cắp hay đạo. Đây là kho báu cho những nghệ sĩ lớn khai thác và

134

sáng tạo, đặc biệt là các nghệ sĩ hài. Nhại không nhất thiết phải có mục đích chế giễu, nó còn có thể để học. Tiểu thuyết Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami là cánh cửa mở ra một thế giới khác và khẳng định sự tồn tại của một thế giới song song với thế giới hiện hữu, đó là thế giới vô thức. Con người sẽ thiếu sót nếu không khai thác những tầng sâu của thế giới này bên cạnh thế giới hữu thức. Nếu một nhà văn có trích dẫn từ một tác phẩm trước đó, có nghĩa là tác phẩm trước đó đang cùng hiện diện ở văn bản mà nhà văn đang sáng tạo. Trích dẫn là một cách hiện diện, còn nhại là có sự bắt chước một phần hoặc toàn bộ một văn bản nào đó có chủ đích chuyển hóa cái có sẵn. Trong nghệ thuật điện ảnh, Charlie Chaplin và Ernst Lubitsch đã nhại rất thành công khi chế giễu lãnh tụ Đức Quốc xã Adolf Hitler. Loạt phim Star wars của George Lucas là một cách nhại những phim truyền hình dài tập truyền thống theo phong cách khoa học giả tưởng. Nhại và giễu thường hướng vào các chi tiết của một hiện tượng để khái quát thành hình tượng. Năm 2001, The wind done gone nhại Gone with the wind (Cuốn theo chiều gió - Margaret Mitchell), kể lại cùng câu chuyện nhưng dưới cái nhìn của các nô lệ Scarlett O‟Hara, đã phải ra tòa để giải quyết. Các nhà văn đương đại sử dụng nhại để làm chất liệu tạo tiếng cười cho tác phẩm của mình và làm phong phú thêm văn học quá khứ. Nhại và giễu nhại là một đặc trưng nổi bật trong tiểu thuyết của Coetzee nói riêng, của các nhà văn hậu hiện đại nói chung, nó tạo nên một hiện thực vừa giống vừa không giống thật, vừa nghiêm túc vừa không nghiêm túc, thật như đùa và đùa như thật.

Ảnh hưởng Dostoyevsky nên Coetzee công khai bằng cách viết một cuốn tiểu thuyết về ông. Master of Petersburg (1994) kể lại những tháng ngày đầy biến động của cuộc đời nhà văn Nga vào năm 1869, ba năm sau khi Tội ác và trừng phạt được viết. Câu chuyện kể lại Dostoyevsky trở về từ nước Đức lưu vong đến Petersburg để điều tra vụ tự tử của con trai mình, Pavel - 20 tuổi. Cuốn tiểu thuyết gợi về nền văn học Nga thế kỷ 19 và một phần nào phong cách văn chương của Dostoyevsky. Coetzee cũng là một người rất ngưỡng mộ nhà văn Nga vĩ đại này. Trong khi Dostoyevsky ngoài đời thực đã mất đứa con trai mới sinh với người vợ thứ hai vào khoảng thời gian này và Coetzee ngoài đời thực cũng mất đứa con trai 23 tuổi của mình vì một tai nạn bí ẩn tương tự như bốn năm của Pavel trước khi cuốn tiểu thuyết này được xuất bản.

Tiểu thuyết Foe (Kẻ thù -1986) kể lại câu chuyện về Robinson Crusoe dựa trên tiểu thuyết Robinson Crusoe của Daniel Defoe (Anh). Một người phụ nữ tên Susan Barton đáp xuống hòn đảo của Crusoe nơi cô tìm thấy người bị bỏ rơi cũ sống cùng thứ Sáu, một cựu nô lệ câm. Crusoe chết trên đường đến Anh và Barton thuê nhà văn Daniel Defoe viết lại để biến câu chuyện thành một cuốn sách bán chạy nhất. Barton được xem là một đại diện cho khuynh hướng phê bình nữ quyền, và Thứ Sáu là đại diện cho lý thuyết hậu thuộc địa. Nhân vật có phần trùng lặp của nhà văn Defoe đã làm cho câu chuyện trở nên thú vị, vừa lạ vừa quen.

Trong Elizabeth Costello (2003), nhân vật ẩn dụ cho Coetzee, một tiểu thuyết gia người Úc già nua với tính cách gai góc, mối quan hệ rắc rối với những người thân còn sống của cô. Nhân vật Elizabeth Costello xuất hiện lần đầu tiên trong tiểu thuyết ngắn The Lives of Animal (1999) khi bà trình bày hai bài phát biểu

135

tại một trường đại học Mỹ để nhận giải thưởng. Thật thú vị, hai bài phát biểu này đã được Coetzee thực hiện tại Princeton trước khi cuốn sách này được xuất bản. Điều chú ý và gây tranh cãi nhất trong các bài phát biểu này là khi nhân vật so sánh hệ thống nông nghiệp hiện đại và sự đau khổ mà nó gây ra như thảm họa Holocaust. Chúng ta đã biết, Coetzee là một nhà văn ăn chay trường và luôn lên tiếng để bảo vệ quyền động vật. Trong các bài tiểu luận và các bài xã luận dưới tên riêng của mình, ông đưa ra những lập luận cho sự vô đạo đức của các trang trại và lò mổ, và ông thể hiện mối quan tâm của mình về động vật trong một số tiểu thuyết khác (chẳng hạn như đối xử với những con chó trong Ruồng bỏ).

Trong cuốn tiểu thuyết này, nhân vật Elizabeth Costello xuất hiện với tư cách là nhân vật trung tâm. Viết là niềm đam mê của Elizabeth và cô đang đứng trước một giải thưởng văn học mang lại cả uy tín và tiền mặt. Khi cô nhận giải thưởng, bài phát biểu của cô lại tập trung vào một câu chuyện nhuốm màu Kafka. Đám đông hoan nghênh bài phát biểu của cô mặc dù họ không hoàn toàn chắc chắn là hiểu nó. Con trai của Elizabeth, John, đang đi du lịch và cũng có mặt tại lễ trao giải này. Khi Elizabeth được yêu cầu thuyết trình về cuốn tiểu thuyết đương đại trên tàu du lịch, cô tình cờ gặp Emmanuel Ergudu. Emmanuel, cũng là một nhà văn, đã từng là người yêu của Elizabeth. Anh ta nói với Elizabeth về các nhà văn châu Phi và những khó khăn mà họ khiến độc giả ở thế giới phương Tây khó kết nối với các tác phẩm của họ. Elizabeth không nghĩ rằng các nhà văn châu Phi cần tiếp cận khán giả phương Tây mà họ nên tập trung vào việc tiếp cận khán giả châu Phi. Theo bà, các nhà văn viết cho khán giả nơi mà họ thuộc về quê hương đó.

Elizabeth có nhiều buổi nói chuyện với công chúng, bạn đọc về mối quan hệ giữa Holocaust và vấn đề giết mổ động vật. Độc giả đã sốc về điều đó. Ý kiến của Elizabeth về chủ đề này gây ra sự nhầm lẫn không chỉ cho độc giả mà còn cho chính bản thân mình. Sau mười hai năm trôi qua, Elizabeth tạm nghỉ nói chuyện trước công chúng để thăm chị gái Blanche, một nữ tu sống ở Châu Phi. Chuyến thăm của họ không suôn sẻ, và họ đã có nhiều tranh luận. Blanche ủng hộ nhà thờ và giáo điều của giáo lý. Elizabeth, lại thích giá trị nhân văn và bảo vệ những chủ đề đó cũng như người Hy Lạp cổ đại. Cuối cùng, họ không tìm được tiếng nói chung, vì họ thuộc hai giai tầng xã hội và công việc khác nhau. Khi trở về nhà, Elizabeth không thể quên các vấn đề trong cuộc thảo luận với Blanche.

Elizabeth trở lại mạch bài giảng, cuốn sách được cấu trúc xung quanh những cuộc nói chuyện này. Lần này, cô được mời nói về chủ đề xấu xa. Cô chuẩn bị nói về Paul West, người đã nghiên cứu và viết về những người đàn ông đã lên kế hoạch ám sát Adolf Hitler nhưng đã bị xử tử trước khi họ có thể hoàn thành hành động. Elizabeth nói về cách cô ấy không chấp nhận công việc của West vì nó đón nhận bóng tối vào cuộc sống của chính anh ta. Khi điều đó xảy ra, West dự kiến sẽ phát biểu tại một hội nghị, vì vậy Elizabeth tự hỏi liệu cô có nên trích dẫn công việc của người khác thay vì của anh ta không? Thay vì thay đổi chiến thuật, Elizabeth quyết định đối đầu với West.

Nhân vật hư cấu Elizabeth Costello cũng xuất hiện trong tác phẩm khác của Coetzee như tiểu thuyết Người chậm. Lần này bà chuyển từ vị trí trung tâm

136

câu chuyện sang nhân vật phụ nhưng lại có tác động rất lớn đến suy nghĩ, hành động cũng như tư tưởng của Paul Rayment khi anh ta bị tai nạn và trong quá trình phục hồi.

Như vậy, có thể nói hình thức nhại, mô phỏng lại văn bản, câu chuyện của các nhà văn trước đó, Coetzee đã mở rộng nhiều biên độ, chiều kích suy nghĩ của bạn đọc về thân phận con người đương đại. Đến tiểu thuyết Việt Nam có khá nhiều nhà văn sử dụng trò chơi nhại như một đặc trưng hậu hiện đại. Có giễu nhại nhân vật, giễu nhại cốt truyện, giễu nhại giọng điệu, giễu nhại văn phong... Điều đó khẳng định sáng tác của các nhà văn Việt Nam hoàn toàn bắt kịp với xu thế chung của văn chương thế giới đương đại. Có nhại cấu trúc tác phẩm trong SBC là săn bắt chuột của Hồ Anh Thái; nhại một chi tiết về ý nghĩa cuộc đời trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh; nhại về sự ra đời của một con người trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài… Hiện nay xuất hiện nhiều nhà văn tiêu biểu như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Nguyễn Việt Hà, Mạc Can... mà các sáng tác của họ có nhiều dấu ấn hậu hiện đại, điều đó đã khẳng định vị thế của văn học Việt Nam. Đáng chú ý là hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp, trò chơi nhại, giải thiêng được ông khai thác triệt để tạo ra tiếng nói châm biếm, mỉa mai hài hước mà sâu cay... Tương tự như Coetzee, nhại trong tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp “ít khi gắn với tiếng cười” [14, tr.203]. Tuy nhiên, ở Nguyễn Huy Thiệp “không có sự hả hê trong tiếng cười bởi những nhận xét cay nghiệt, chua xót trực tiếp trong đối thoại của các nhân vật” [14, tr.203] thì trong tiểu thuyết của Coetzee lại là thái độ dửng dưng, ngoại cuộc, không gay gắt, tự bản thân chi tiết đó đã là nhại rồi.

Bên cạnh nhại, trong quá trình sáng tạo văn chương, Coetzee còn sử dụng hình thức tự truyện tiểu sử (Autre-biography(25)) để viết về cuộc đời mình. Bộ ba tự truyện: Boyhood, Youth, Summertime(26) phần nào giúp bạn đọc nhận diện một Coetzee u ẩn, khác biệt, cá tính. Boyhood, Youth được viết dưới dạng tự sự ngôi thứ ba nhằm tạo một khoảng cách giữa con người nhà văn và bản ngã ấu thời cũng như thời thanh niên cho nên người đọc dễ nắm bắt những sự kiện. Nhưng đến Summertime thì Coetzee đã cách tân thể loại tự truyện tiểu sử, thay vì kể lại những biến cố sự kiện lại dùng kỹ thuật thuyết thoại (narration) của văn chương hậu hiện đại cho nên khó đọc hơn so với hai quyển trước.

(25) Xem thêm: Amy Louise Parish (2017), Strange Intimacies: Autre-biography, Failure and the Body in J.M. Coetzee and Paul Auster, luận án tiến sĩ được bảo vệ tại UNSW, Sydney, Australia. (26) Bộ ba tự truyện Boyhood (Tuổi thơ - 1997), Youth (Tuổi trẻ - 2002), Summertime (Mùa hè - 2009) được chuyển dịch ở Việt Nam vào tháng 1 năm 2020 có tên Những cảnh đời tỉnh lẻ (Hương Châu dịch) do công ty Phuongnambook ấn hành.

Boyhood (Tuổi thơ - 1997) mở ra tại một thị trấn nhỏ ở Nam Phi vào những năm 1940, độc giả gặp gỡ John, một cậu bé không thoải mái, xung khắc với cha mình và bị cản trở bởi tình yêu vô điều kiện của mẹ. Đến Youth (Tuổi trẻ - 2002), cậu bé John, lúc này là sinh viên khoa Toán của Đại học Cape Town, đã sẵn sàng trốn khỏi quê hương, vì ngưỡng mộ mà tìm đến châu Âu và cố gắng trở thành một nghệ sĩ. Tuy nhiên, ở London, anh vỡ mộng, rồi trở thành một lập trình viên máy

137

tính cho hãng IBM, có những cuộc tình đớn đau, sống trong căn hộ ẩm ướt, buồn tẻ và bị ám ảnh bởi sự cô đơn, nỗi dằn vặt vì không thể sáng tác thơ.

Coetzee có một lối viết tự truyện/tiểu sử rất khác lạ so với các nhà văn nổi tiếng trước đó. Ông có ý định vượt ra ngoài biên giới, sự phân chia thể loại văn chương bằng cách tiểu thuyết hóa tiểu sử của mình dưới nhiều hình thức, trộn lẫn hư và thực, sự kiện và hư cấu. Khác với lối viết của hai quyển tự truyện trước, Summertime (Mùa hè - 2009) kể lại phương cách viết tiểu sử của Vincent: một mặt anh trích dẫn những đoạn do Coetzee viết trong các cuốn sổ ghi chép để lại, mặt khác anh thực hiện năm cuộc phỏng vấn các nhân vật có liên hệ trực tiếp với nhà văn đã mất này. Nhân vật được tác giả hư cấu có tên là Vincent, một nhà viết tiểu sử trẻ người Anh viết về Coetzee sau khi đã chết (Coetzee hiện còn sống ở Adelaide, nên giả thiết này có thể coi như một dự phóng tương lai về một cuốn tiểu sử sẽ được viết về ông). Trở ngại đầu tiên Vincent gặp phải là thông tin về Coetzee do giới văn chương báo chí rất hiếm hoi, vì ông có một đời sống rất riêng tư, kín đáo, gần như quy ẩn.

Summertime được kể về John những năm 70, khi ông trở về Phi châu sau những năm sống ở Mỹ để hoàn tất bằng tiến sĩ và đi dạy học. Về lại Cape Town, John sống với người cha. Trong khi kiếm một chân dạy đại học, John làm việc trong trang trại hoang tàn của cha, bắt đầu viết văn và xuất bản những quyển tiểu thuyết đầu tiên. Qua những cuốn sổ ghi chép và những bài phỏng vấn do Vincent thu thập và xếp đặt, người đọc mường tượng được chân dung một nhà văn luôn phải đương đầu với hai trở ngại: một là, làm sao có thể hòa giải giữa những giá trị văn hóa, trí thức và đạo đức của mình với bối cảnh thực tại sống dưới chế độ kỳ thị chủng tộc Apartheid thời đó ở Nam Phi; hai là, làm sao có thể tạo được mối quan hệ gần gũi, ý nghĩa với phụ nữ.

Nhờ đọc những cuốn sổ ghi chú của nhà văn quá cố J.M. Coetzee, Vincent đã tìm cách tiếp cận và phỏng vấn những nhân vật có liên hệ khá thân thiết với nhà văn trong khoảng thời gian từ 1972 tới 1977 - giai đoạn sau khi ông bị trục xuất khỏi Mỹ vì đã tham dự vào những cuộc biểu tình phản chiến và cho xuất bản cuốn In the Heart of the Country. Chọn giai đoạn này vì Vincent tin rằng đó là khoảng thời gian quan trọng nhất khi nhà văn trải qua tình trạng bế tắc cá nhân sống trong một xứ sở bị chính trị làm suy đồi và đây là lúc nghiệp văn chương tầm vóc chín muồi.

Có 5 nhân vật Vincent đã thực hiện phỏng vấn là: nữ tâm lý gia lâm sàng - Julia Frankl; cô em họ thân thiết hồi nhỏ nhà văn đã phải lòng - Margot Jonker; nữ vũ sư người Brazil mà Coetzee rất hâm mộ - Adriana Nascimento; cựu giáo sư đồng nghiệp - Martin J.; và một nữ giáo sư đồng nghiệp khác nhà văn đã có một cuộc dan díu tình cảm ngắn ngủi - Sophie Denoel. Tuy đây là những nhân chứng sống nhưng thông tin do Vincent thực hiện và biên tập có mức độ đáng tin rất thấp vì những người được phỏng vấn đôi khi có thái độ bất hợp tác, hơn nữa chỉ nói nhiều về những chuyện không trực tiếp liên hệ tới nhà văn. Bên cạnh đó, những bài phỏng vấn được Vincent tự ý biên tập theo ý mình và đôi khi bị người được phỏng vấn phản bác. Chung cuộc, những thông tin và sự kiện trong các cuộc phỏng vấn này không những không soi sáng được gì mà còn rất lộn xộn. Các ý trái nghịch nhau nên người đọc không biết gì thêm về cuộc đời nhà văn và có thể hiểu sai Coetzee.

138

Tuy nhiên cũng có những nội dung thú vị, đó là bài phỏng vấn Margot Jonker, người có cái nhìn thiện cảm và am hiểu nhà văn, đưa ra những suy nghĩ của mình về tâm thức lưu đày của Coetzee cũng như sự thiếu thoải mái của nhà văn khi sống chung với gia đình. Trong đó Margot có một thắc mắc và đây cũng là băn khoăn của bạn đọc: không hiểu thực sự anh ấy có cho mình là một người Phi châu hay không? Và cũng không biết có bao nhiêu người Phi châu chịu chấp nhận anh ấy là đồng hương?

Vẫn lối hành văn giản dị mà chất chứa sức nặng của cả cuộc đời, nhà văn đoạt giải Nobel 2003, Coetzee mang đến cho bạn đọc bộ ba tự truyện với áng văn chao đảo giữa thực tại và hư cấu, đặc biệt nhất là dù ở không gian địa lí hay khoảng thời gian nào trong cuộc đời, cảm thức về gia đình đổ vỡ, ngột ngạt và ám ảnh lưu vong luôn thường trực trong ông. Có thể nói bộ ba tự truyện là một bức chân dung hài hước mà đau đớn về cuộc đời người nghệ sĩ, dưới ngòi bút của một trong những nhà văn vĩ đại nhất thế giới.

4.3.3.2. Văn phong tiết chế tột độ - Lối viết tối giản Trước khi là nhà văn, Coetzee đã là một học giả nghiêm túc. Ông tốt nghiệp hai ngành cùng lúc tại Đại học Cape Town. Sau đó, Coetzee chuyển sang Anh và nhận việc làm việc cho một công ty computer. Ông nhận bằng tiến sĩ tại trường Đại học Texas năm 1969. Có lẽ chất toán trong văn chương của ông đã ngấm trên từng trang văn. Mỗi câu chữ của ông viết cũng như các chi tiết được xây dựng trong tác phẩm đều ở dạng tỉnh lược nhất, phát huy sức mạnh lớn nhất. Để có lối viết tối giản này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Thứ nhất, Coetzee chịu ảnh hưởng trực tiếp lối viết của các nhà văn bậc thầy đi trước như: Kafka, Beckett... Thứ hai, khi viết Coetzee chối từ mọi cắt nghĩa về các phạm trù đạo đức: tốt - xấu, thiện - ác mà đi sâu vào tâm lí con người với những cuộc đấu tranh, va chạm mang tính lựa chọn. Các lựa chọn của con người đều bộc lộ quan điểm đạo đức, thẩm mĩ của xã hội Nam Phi đương thời. Cho nên mọi sự lí giải thuộc về độc giả, ông chỉ có một nhiệm vụ là phơi bày thực trạng, mọi sự lựa chọn đều thuộc quyền của nhân vật và bạn đọc. Thứ ba, Coetzee đã tuyên bố rằng “những đoạn ngắn” kể lại cuốn tiểu thuyết bị ảnh hưởng cơ bản bởi các phương thức biểu diễn phim ảnh và nhiếp ảnh. Thứ tư, một điều độc đáo ở Coetzee đó là ông xây dựng trên văn bản một đặc quyền cho nhân vật: Nhân vật có quyền im lặng. Ông nhận ra rằng sự im lặng có thể là một sự khẳng định quyền lực áp đảo. Các nhân vật trong tiểu thuyết của ông thường tiết lộ sức mạnh của họ không phải thông qua giao tiếp, mà qua sự im lặng. Coetzee đã sử dụng kỹ thuật này tối đa để trốn tránh các câu hỏi mang tính trực tiếp.

Văn phong của Coetzee trong Ruồng bỏ trực tiếp, trần trụi, không màu mè làm rối trí bạn đọc bằng ngôn từ hoa mĩ. Có người cho rằng chữ nghĩa của Coetzee giống như phong cảnh trơ trụi của Nam Phi. Sự thành công của thứ ngôn từ này làm cho người đọc phải suy nghĩ xa hơn những gì đọc được trên trang giấy. Thêm vào đấy, những con chữ trơ trụi này chuyên chở một giọng kể của một kẻ tách mình khỏi mọi sự việc, biến cố. Chính ở điểm này, nhà nghiên cứu Salman Rushdie cho rằng văn chương của ông đã không cho ngôn ngữ nở hoa, nghĩa là Coetzee không có niềm tin và tình yêu dành cho ngôn ngữ. Quả thực khi đọc Ruồng bỏ, người đọc

139

có cảm tưởng hụt hẫng vào một thế giới mà trong đó con người không thể hiểu nổi chính mình cũng như ý nghĩa nhân sinh thời kì hậu hiện đại.

- Thủ pháp giản lược Paul Ingendaay(27) cho rằng Coetzee đặt vị trí thẩm mỹ cao hơn chính trị hoặc thiện ý. Ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ở Đại học về đề tài phong cách tản văn của Beckett năm 1969. Phải chăng chính ông đã học được trong văn học hiện đại phép mã hóa, phúng dụ và tinh giản. Rõ ràng, qua nhiều tác phẩm của Coetzee chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy một đặc điểm về độ dài của tác phẩm. Những tác phẩm của ông đều có dung lượng vừa phải nếu không muốn nói là ngắn so với các tác phẩm nổi tiếng của nhiều nhà văn khác. Tác phẩm của ông có một lối viết riêng rất đặc biệt. Ông viết như một nhà bình luận văn học, nhưng cũng như một tiểu thuyết gia dày dạn. Vì thế, tuy dung lượng tác phẩm ngắn nhưng không hề làm giảm sút sức hấp dẫn của tác phẩm cũng như những ý nghĩa mà nhà văn muốn chuyển tải đến người tiếp nhận. Ngược lại, chính những tác phẩm cô đọng này đã nhanh chóng len lỏi vào tầng suy nghĩ của bạn đọc, để lại cho họ những ấn tượng sâu đậm, bền lâu hơn. Nếu như văn chương của Coetzee và Franz Kafka đều được đánh giá là khó đọc vì sự hoài nghi ngôn ngữ thì phép giản lược đã giúp người đọc có được một lợi thế trong việc duy trì liên tục sự đọc mà không mỏi trí, nhàm chán.

Các tiểu thuyết của Coetzee có dung lượng vừa phải, thường không quá bốn trăm trang (bản dịch tiếng Việt): Ruồng bỏ có 287 trang (tiếng Anh: 218 trang), Giữa miền đất ấy có 258 trang (tiếng Anh: 139 trang), Cuộc đời và thời đại của Michael K có 314 trang (tiếng Anh: 184 trang), Người chậm có 363 trang (tiếng Anh: 272 trang), Đợi bọn mọi có 332 trang (tiếng Anh: 156 trang)… Sự cô đọng thể hiện qua cách viết văn tài tình của tác giả. Đó là kết cấu chặt chẽ, cẩn trọng, kiệm lời nhưng hết sức rõ ràng. Điều này đã khiến một số nhà nghiên cứu về Coetzee băn khoăn đặt câu hỏi về sự khác biệt giữa truyện vừa và tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết ngắn và truyện ngắn kéo dài. Thực ra, Coetzee đã có những tác phẩm mang dung lượng của thể loại ngoài tiểu thuyết. Cách viết của ông còn được so sánh với Milan Kundera ở lối viết tinh giản, tiết kiệm tối đa trong việc xử lý chất liệu ngôn ngữ. Ruồng bỏ được nhiều người đánh giá là cuốn tiểu thuyết giản lược trong kĩ thuật của văn chương hậu hiện đại.

(27) Nhà phê bình văn học Paul Ingendaay sinh năm 1961 ở Cologne (Đức), nghiên cứu môn ngữ văn Anh và ngữ văn Tây Ban Nha ở Colone, Dublin và Munich. Năm 1997, nhận giải thưởng Alfred-Kerr về phê bình văn học. Từ năm 1998, ông là phóng viên văn hóa của nhật báo Frankfurter Allgmeine ở Madrid.

Coetzee không phải là nhà văn bị ngôn ngữ làm cho sáo mòn mà là người luôn truy tìm ngôn ngữ. Ông không chỉ hoài nghi thế giới hình tượng mà còn hoài nghi về ngôn ngữ. Chính sự hoài nghi này làm ông suy nghĩ phải hết sức cẩn trọng trong cách chọn lọc ngôn ngữ để diễn đạt. Bằng chứng sự hoài nghi này thể hiện ở chỗ trong quá trình viết, thỉnh thoảng Coetzee giải thích. Tác giả muốn người đọc cảm nhận được nội dung mà ông đang chuyển tải đôi khi vượt quá sức nặng của

140

ngôn ngữ. Điều này góp phần thể hiện sự bất lực của con người trước những cảnh tượng, hiện thực chứ không phải đem lại sự hạn chế về mặt ý nghĩa trong thế giới ngôn từ của nhà văn. Trên nền của sự hoài nghi, Coetzee rất thận trọng khi triển khai ngôn từ. Trong nhiều tác phẩm, chúng ta thấy được lí lẽ của nhà văn sắc bén và chặt chẽ. Bên cạnh đó, nhà văn còn để cho nhân vật siêu hư cấu của mình luôn ý thức về cách dùng từ. Điều này cho thấy, cách thể hiện trách nhiệm ngôn ngữ của nhà văn rất cao. Trong Người chậm, cách nói của Paul Rayment là một ví dụ: “trong giây lát, ông hình dung đang lăn bánh xuống đường Magill, cái cờ đuôi nheo phất phới trên đầu nhắc toàn thế giới hãy khoan dung với ông. Một cái xe đẩy trẻ con, nó gần giống như thế, một cái xe đẩy với một đứa “trẻ con già” tóc hoa râm cưỡi trên đó” [98, tr.352]. Sự cẩn trọng và kỹ lưỡng thể hiện qua từng từ ngữ mà tác giả dùng mô tả trạng thái, diễn đạt sự việc cũng như cách in nghiêng, in đậm thể hiện rất rõ ràng trong hình thức trình bày. “Rốt cuộc, vì tôi không có con cái và không có may mắn được làm cha. Không con là sai lầm lớn nhất trong đời tôi, tôi có thể nói với bà như thế. Vì vậy, trái tim tôi luôn đau dớn. Trong lòng tôi luôn có một điều cầu mong” [98, tr.212]. Ngoài ra ý thức về cách sử dụng ngôn ngữ còn thể hiện ở chỗ tác giả thường đề cập đến việc không có ngôn ngữ để biểu đạt vấn đề đang nói “rồi ông gặp Marijana, và trái tim ông biến đổi. Nó không còn là trái tim quen thuộc của ông nữa. Giờ đây nó nhức nhối cùng Marijana, Marijana và mọi thứ thuộc về chị. Chị đã chuyên tâm với ông, nên trái tim ông muốn đền đáp. Đền đáp không giống như trả nợ, ông sẽ chú thích thêm vào. Hãy tha thứ cho bài học ngôn ngữ này, tôi cũng cảm nhận theo cách của mình, tôi cũng ở trên mảnh đất xa lạ” [98, tr.225]. Điều này nhằm tạo cảm giác tự do, khơi gợi tưởng tượng, cảm xúc thật cho độc giả. Giản lược, mờ hóa (declearisation) là những thủ pháp tiêu biểu của văn chương hậu hiện đại nhằm mục đích khai thác khả năng đồng sáng tạo của bạn đọc, thể hiện thái độ tôn trọng độc giả của nhà văn. Không chỉ đến Coetzee giản lược, mờ hóa mới được khai thác, mà đã xuất hiện các tác giả tiêu biểu sử dụng trò chơi này như: J. Joyce, W. Faulkner, F. Kafka, S. Beckett, E. Ionesco... Tuy nhiên mỗi nhà văn họ sử dụng trò chơi này khác nhau. Cách làm giản lược, mờ hóa nhân vật của F. Kafka bằng thủ pháp huyền ảo. “Có lúc ông cho một con khỉ nói tiếng người, diễn thuyết trước các bậc trí thức ở viện hàn lâm (Báo cáo gửi Viện hàn lâm). Nhưng cũng có lúc ông để cho con người biến dạng thành côn trùng để nhận thức, đối thoại lại bản thể con người trong lốt hình hài quái dị đó (Biến dạng)” [14, tr.106]. Còn trong tiểu thuyết của Coetzee, ông giản lược, mờ hóa bằng cách không trực tiếp miêu tả nhân vật hoặc sự kiện chi tiết mà chỉ được cảm nhận thông qua nhân vật khác. Trong Ruồng bỏ, Coetzee không miêu tả trực tiếp cảnh Lucy bị hãm hiếp, tất cả chi tiết đó được cảm nhận qua nỗi đau tột cùng của David; trong Tuổi sắt đá, trận khủng bố, giết hại của cảnh sát đối với một nhóm người da đen chỉ được người ta kể lại và sự chứng kiến cảnh tan tác khi bà Curren đến đó; cảnh bọn mọi cướp bóc, phá hoại người dân nơi thị trấn cũng không được miêu tả mà chỉ là thông

141

qua lời đồn chuyền tai nhau trong Đợi bọn mọi... Như vậy, thông qua thủ pháp giản lược, mờ hóa nhà văn tạo ra nhiều khoảng trống cho bạn đọc suy nghĩ để đưa ra kết luận. Chân lí cuối cùng không thuộc về nhà văn. Chính điều này khiến Coetzee trở thành kẻ ngoại cuộc triệt để.

Đối với Coetzee cũng như các nhà văn hậu hiện đại khác, phép giản lược trước hết là một nghệ thuật cần thiết để dẫn dắt độc giả vào thế giới một cách nhanh chóng nhất. Từ lâu các nhà lí luận, phê bình đã thống nhất việc không tách rời giữa nội dung và hình thức nghệ thuậ trong một tác phẩm. Tất nhiên, tiểu thuyết của Coetzee hấp dẫn bạn đọc cũng dựa trên những nguyên tắc ấy. Với phong cách kiệm lời, câu văn ngắn gọn, nên nội dung biểu đạt trong văn chương của Coetzee thể hiện qua từng câu chữ sắc bén, tinh tế, giàu tính biểu tượng. Thông cáo báo chí của Ban thư ký Viện Hàn lâm Thụy Điển cũng khẳng định: “tiểu thuyết của Coetzee đặc trưng bởi lối hành văn tinh tế, những câu thoại giàu trí tưởng tượng và sự tài hoa trong phân tích” [178]. Đây cũng chính là một trong những tiêu chí giúp Coetzee đạt giải thưởng Nobel Văn học danh giá năm 2003.

Có thể nói, trò chơi nhại, lối viết tự truyện tiểu sử và lối hành văn giản lược được xem là những thủ pháp độc đáo trong tiểu thuyết của Coetzee. Với trò chơi nhại, ông đã mở rộng biên độ về các vấn đề như: vai trò, mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với cuộc sống (Master of Petersburg, Foe), đánh giá lại một khía cạnh lịch sử (Elizabeth Costello), sinh thái và an nguy sinh thái trước sự xâm hại của con người (The Lives of Animal)... Nhại tạo ra tiếng nói đa thanh cho văn bản, nó giúp bạn đọc có cảm giác vừa lạ vừa quen, tạo ra cái nhìn nhiều chiều về một hiện tượng trong cuộc sống. Tự truyện tiểu sử là thủ pháp của văn chương hậu hiện đại nó cho phép nhà văn tự viết về bản thân mình theo lối biên niên sử. Dưới trang văn tiểu sử của Coetzee, người đọc bắt gặp một nhà văn Coetzee vừa nghiêm khắc, khó hiểu, lại vừa nhiệt huyết, tràn ngập tình yêu thương. Lối viết tối giản và thủ pháp giản lược làm cho tiểu thuyết của ông vừa có độ nén vừa gợi ra những miền suy tưởng. Nó không chỉ cho phép nhà văn không trực tiếp bộc lộ quan điểm cá nhân mà còn giúp văn phong trở nên khô khốc, dồn nén. Biểu tượng, ngụ ngôn đen được Coetzee khai thác hiệu quả giúp bạn đọc có cái nhìn đầy đủ về cuộc sống con người cũng như nền thể chế chính trị xã hội Nam Phi thời kì Apartheid/hậu Apartheid.

Tiểu kết chƣơng 4

Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Coetzee, chúng tôi nhận thấy mỗi tiểu thuyết được Coetzee lựa chọn người kể chuyện khác nhau tạo ra những nét độc đáo, hấp dẫn mang màu sắc đặc trưng của văn chương hậu hiện đại. Có một đặc ân mà Coetzee trao cho nhân vật đó là quyền im lặng. Im lặng không phải là để chấp nhận thực tại mà là một hình thức đấu tranh cao hơn. Magda im lặng để chấp nhận cuộc đảo lộn vị thế chủ nô và nô lệ nơi nông trại hẻo lánh Beru (Giữa miền đất ấy); giáo sư David Lurie im lặng không cáo buộc nhóm người da đen đã hãm hiếp

142

con gái của mình để sống chung với khung cảnh bạo lực vùng nông thôn, im lặng rời trường Đại học về làm việc tại trại chăm sóc động vật mà thực chất là thiêu hủy những con vật tàn phế (Ruồng bỏ); im lặng vị Quan tòa để một lực lượng quân đội Đế chế ba đến truy lùng bọn mọi mà thực chất chỉ là những cuộc tra tấn vô căn cứ (Đợi bọn mọi)... Sự im lặng hay chính quyền năng đối thoại của con người bị đánh cắp? Các nhân vật trong sáng tác của Coetzee luôn nỗ lực tìm kiếm cơ hội để kết nối với thế giới xã hội. Nhưng tất cả đều vô nghĩa, bi kịch bị ruồng bỏ trở thành phổ biến và đỉnh điểm hơn khi chính bản thân họ cũng không có kết nối với bản thân mình. Kiểu trần thuật gắn với thời gian hành trình trải nghiệm và phân mảnh, đồng hiện lôi cuốn bạn đọc vào những chuyến “du hành” của nhân vật. Quá trình đi từ vùng đất này qua chỗ ở khác theo hình xoáy trôn ốc, nhân vật của Coetzee trở nên bất lực giữa Nam Phi rộng lớn. Với thủ pháp giản lược trong ngôn ngữ và kỹ thuật trần thuật kiểu “tảng băng trôi” của Hemingway, văn chương của Coetzee trở nên khô khốc, lạnh lùng, mê hoặc. Bao trùm trong tiểu thuyết của ông là giọng điệu hoài nghi, chua chát đã phản ánh những mâu thuẫn giằng co trong nội tâm của nhân vật trước những va đập của cuộc sống. Siêu hư cấu là kĩ thuật truyện lồng truyện của văn chương hậu hiện đại nói chung, Coetzee vận dụng thủ thuật độc đáo này để gián tiếp bày tỏ thái độ, tư tưởng, lập trường của mình về quá trình sáng tạo văn chương trong bối cảnh Nam Phi phức tạp về xã hội, rối ren về chính trị...

143

KẾT LUẬN 1. Có thể nói, sự ra đời của chủ nghĩa hậu hiện đại đã tác động sâu sắc đến đời sống văn chương thế kỷ XX, XXI. Tuy có nhiều bất đồng, chưa đi đến những kết luận cuối cùng về nguồn gốc, thuật ngữ cũng như đặc thù của nó, nhưng các nhà lý luận phê bình văn học hậu hiện đại đều thống nhất dựa trên cơ sở triết học ngôn ngữ, với sự đề cao các tiểu tự sự, vi văn bản, vai trò mới của người đọc, tính chất trò chơi của ngôn ngữ, cái biểu đạt, cảm quan hỗn độn, mảnh ghép, pha trộn và liên ngành... Trong quá trình nghiên cứu tiểu thuyết của nhà văn Coetzee, chúng tôi thấy đây là nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI mang cảm thức hậu thực dân, lưu vong. Coetzee là một hiện tượng độc đáo của văn chương Nam Phi đương đại. Vượt qua biên giới của một quốc gia, ông trở thành nhà văn của thế giới. Tiểu thuyết cũng như lối phê bình Coetzee có đặc trưng riêng của tư duy hậu hiện đại. Chọn cho mình lối viết gần giống với cổ điển, hiện đại, bằng các thủ pháp khác nhau, tiểu thuyết của Coetzee được đánh giá cao ở tầm tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Trong mỗi tiểu thuyết của ông, người đọc thấy một miền đất, không gian cụ thể ở Nam Phi nhưng chúng ta cũng bắt gặp điều đó ở bất cứ kỳ nơi đâu. Thân phận con người Nam Phi trong bối cảnh lịch sử đầy biến động cũng chính là thân phận của mỗi chúng ta trong mọi thời đại. Với nghệ thuật trần thuật giản dị, truyền thống đến bất ngờ nhưng Coetzee lại phá vỡ quy tắc của các phương pháp sáng tác trước đó, tạo nên một phong cách tiểu thuyết đặc sắc, khó trộn lẫn với bất kỳ ai. Văn chương của Coetzee không hấp dẫn người đọc ở sự tân kì quá mới lạ trong nghệ thuật mà ở những đặc trưng hậu hiện đại nhằm phơi bày về thân phận con người trong bối cảnh lịch sử giao tranh giữa đen - trắng, chính nghĩa - phi nghĩa, im lặng - lên tiếng, đạo đức - giả dối, đàn ông - phụ nữ...

2. Coetzee sáng tạo bằng những trải nghiệm và cảm nhận về hiện thực, về cuộc đời và con người. Trong nhiều cuộc phỏng vấn ông thường im, lảng tránh trước những câu hỏi liên quan đến vấn đề riêng tư. Những lúc ấy, ông đều yêu cầu ngược lại rằng hãy đọc lại tác phẩm thêm một lần nữa. Tác phẩm viết về những vấn đề xã hội như nhiều nhà văn khác nhưng ông tìm ra giá trị mới từ những mối quan hệ, giới hạn xen lẫn giữa các khái niệm: tự do, đạo đức, tính dục, sự cô đơn, bản năng nguyên thủy, thỏa hiệp thực tại… Ông phá vỡ cái cũ, biến nó thành những mảnh vỡ trong tác phẩm. Trong hành động phá vỡ, ông đặt ra vấn đề phải xây dựng lại cái mới từ mảnh vỡ cũ. Cái mới được sản sinh ra là cách suy nghĩ, nhìn nhận mới về các giá trị hành động đạo đức, về những luật lệ, chế độ xã hội. Thông qua những ngụ ngôn, hài hước đen, biểu tượng, tiểu thuyết của Coetzee đặt ra nhiều vấn đề xã hội, chính trị Nam Phi lúc bấy giờ. Sự thay đổi chế độ xã hội, xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc có thật sự làm xã hội ổn định và phát triển; cách hành xử của người đại diện cho chính quyền có thật sự đem lại lợi ích cho người dân; con người đối xử với nhau trong xã hội hiện đại còn thậm tệ hơn con vật thì liệu có tạo ra và duy trì được một nền văn minh như loài người kỳ vọng? Như vậy, chủ đề trong tiểu thuyết của ông đóng vai trò rất lớn trong việc góp phần làm cho tác phẩm có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm nên tên tuổi của Coetzee

144

trên văn đàn thế giới đương đại. Tiểu thuyết của Coetzee là thế giới của bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và những bất hạnh nhân sinh khác. Nó là hậu quả trực tiếp của chế độ phân biệt chủng tộc hà khắc, của chiến tranh thực dân. Bức tranh bạo lực Nam Phi tuy không đẫm máu như trong sáng tác của các nhà văn cùng thời, nhưng Coetzee đã vẽ nên hệ quả bạo lực tàn khốc, khắc nghiệt từ các cuộc chiến đó mang lại. Trong bối cảnh buộc phải lựa chọn trong tình thế cả hai đều xấu như nhau, con người trong tiểu thuyết của Coetzee tiễn thoái lưỡng nan, bất lực trước thời cuộc, họ phó mặc hoàn cảnh. Không chỉ da đen mà người da trắng với quyền lực của kẻ mạnh cũng rơi vào bi kịch. Mối quan hệ chủ nhân - nô lệ - kẻ tha hóa hoán đổi/trượt từ vị trí này qua tình thế khác. Người da trắng không còn văn minh mà mang cảm giác tội lỗi, người da đen không mọi rợ mà mang cảm thức trả thù... Tất cả bao trùm không khí chính trị ngột ngạt ở Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc. Có một thực tế, hậu phân biệt chủng tộc, quốc gia Cầu Vồng này tình trạng chia rẽ không bớt căng thẳng. Xã hội Nam Phi không chỉ dừng lại mâu thuẫn đen - trắng mà xuất hiện nhiều xung đột mới không kém phần gay gắt: giàu - nghèo, bản địa - lưu vong, chủ nhân - nô lệ, tội lỗi - ân huệ... Mọi tình huống được giải quyết bằng bạo lực. Bạo lực trở thành văn hóa ở Nam Phi. Mặc dù có nhiều nỗ lực của chính phủ, đảng ANC, vị lãnh đạo tài ba Nelson Mandela nhưng người da đen vẫn chưa thoát khỏi chế độ phân biệt triệt để. Những hậu quả của chế độ cũ để lại vẫn còn ám ảnh đến ngày hôm nay.

3. Trung tâm của văn chương mọi thời đại là giải quyết vấn đề về con người. Tiểu thuyết của Coetzee xây dựng với nhiều kiểu con người khác nhau. Mặc dù là nhà văn da trắng nhưng Coetzee không đứng về một phía để miêu tả. Tất cả được khách quan hóa, thái độ ngoại cuộc đã giúp ông xây dựng các kiểu nhân vật da đen và da trắng độc đáo, không lặp lại. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Coetzee đều là những kẻ bất hạnh, bệnh tật, bị tổn thương cả thể chất lẫn tinh thần, không có kết nối với thế giới bên ngoài. Họ cô đơn, lẻ loi, lạc lõng trong hành trình tìm kiếm bản thể chính mình. Từ Magda, vị Quan tòa không tên, Michael K, giáo sư David Lurie đến Paul Rayment đều hoài nghi về thời cuộc mình đang tồn tại. Mỗi nhân vật đặt ra những câu hỏi lớn cho bản thân mình và cho xã hội: Nam Phi có phải là quê hương (Magda)? Bản chất của mọi rợ là gì (vị Quan tòa)? Ý nghĩa của tình yêu thương và thể chế xã hội cái nào có ý nghĩa nhất với chúng ta (Michael K)? Tri thức da trắng và sự báo thù của người da đen đến khi nào đến hồi kết (David Lurie)? Việc được chăm sóc và tình yêu có nghĩa gì như thế nào với con người (Paul Rayment)?... Hành trình truy tìm căn cước cho bản thân của họ đều thất bại, buộc phải im lặng chấp nhận lưu vong. Tha nhân ở một quốc gia xa lạ và ngay cả trên chính quê hương mình. Magda trơ trọi giữa sa mạc rộng lớn bởi Nam Phi không thuộc về cô gái da trắng như cô. Vị Quan tòa không biết tương lai của mình và thị trấn ông quản lí sẽ đi về đâu. Michael K vô tri, vô giác tìm cách xa lánh xã hội loài người. Anh trở thành kẻ lưu vong ngay trong chính tâm hồn mình. David đành chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu, thô tục ở nông trang xa xôi. Và nơi đây cũng không dành cho người trí thức da trắng bị kỉ luật, ruồng bỏ như ông... Tất cả các nhân vật của Coetzee đều nỗ lực kết nối với bên ngoài, nhưng thất bại. Họ vừa là kẻ

145

bị xã hội đẩy trượt ra vùng ngoại biên, đồng thời họ cũng tự mình trở thành kẻ bên lề. Không chỉ mang bi kịch khiếm khuyết, bệnh tật thân thể (Michael K, Paul Rayment, Curren) mà các nhân vật của ông còn bị chấn thương tinh thần (Magda hoang tưởng, Curren bệnh tật, David bị ruồng bỏ...). Tuy nhiên, điểm sáng làm nên điều kì diệu về con người trong tiểu thuyết của Coetzee đó là: dù bị dồn đẩy đến mức tột cùng của bi kịch họ vẫn nhen lên ở cuối con đường về sự sống, lương tri, tính nhân loại. Bên cạnh thân phận con người trong xã hội Nam Phi dưới chế độ Aparthied và hậu Apartheid, tiểu thuyết của Coetzee còn phản ánh hàng loạt các cặp nhị nguyên nổi cộm: da trắng - da đen, quyền lực thượng đẳng và kẻ bị truy sát, chủ nhân và nô lệ, bạo lực và hãm hiếp, bỏ trốn và hoài nghi, lên tiếng và im lặng, tồn tại và hủy diệt…

4. Ở chương 4, chúng tôi khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết của Coetzee như: vấn đề NKC, điểm nhìn trần thuật, giọng điệu, kết cấu, thủ pháp tối giản... từ đó khẳng định Coetzee là nhà văn hậu hiện đại tiêu biểu thế kỷ XXI. Trong 6 cuốn tiểu thuyết chúng tôi khảo sát đều có 6 người kể chuyện khác nhau từ lứa tuổi, nghề nghiệp, tính cách, màu da, giai tầng... Từ đó, điểm nhìn của nhân vật về hiện thực đời sống Nam Phi được trải rộng ở nhiều vị trí, thời điểm khác nhau. Vì thế mà bức tranh xã hội rộng lớn được nhìn ở nhiều chiều kích. Một giáo sư dạy ngôn ngữ da trắng, có học vấn, có vị trí nhất định trong giới trí thức Nam Phi (Ruồng bỏ), một vị Quan tòa đã luống tuổi da trắng phục vụ cho Đế chế nhưng lại đang bảo vệ bọn mọi rợ (Đợi bọn mọi), một người đàn ông đã có tuổi da đen, một ngày kia bị tai nạn phải cắt đi một cái chân (Người chậm)... Với nhiều kiểu nhân vật khác nhau, tiểu thuyết của Coetzee đã khái quát mọi mặt trong đời sống xã hội Nam Phi đương đại. Đặc biệt là sự nhập vai vào hai nhân vật nữ, bà già da trắng Curren bị bệnh ung thư, sống cô đơn, lay lắt trong khung cảnh bạo lực của chính trị Nam Phi (Tuổi sắt đá) và cô gái già da trắng vẫn còn trinh tiết sống nơi hoang mạc hẻo lánh (Giữa miền đất ấy). Các tiểu thuyết của Coetzee có các chiến lược trần thuật khác nhau. Ruồng bỏ, Giữa miền đất ấy, Cuộc đời và thời đại của Michael K, được kể ở ngôi thứ ba hàm ẩn và được chia thành các chương ngắn. Nhìn chung kiểu trần thuật này gần giống với văn chương cổ điển, hiện đại, nhưng bằng các thủ pháp khác nhau, Coetzee đã đem đến cho bạn đọc lối trần thuật đánh tráo chủ thể trần thuật hậu hiện đại độc đáo, hấp dẫn. Ba tiểu thuyết còn lại được kể ở ngôi thứ nhất đồng sự hạn định, Giữa miền đất ấy được chia thành 266 đoản khúc, Người chậm gồm ba mươi chương, Tuổi sắt đá có 4 chương. Với việc không lặp lại trong cách kể đã làm cho tiểu thuyết của Coetzee hấp dẫn hơn bao giờ hết. Kiểu trần thuật trên trục hành trình trải nghiệm và phân mảnh đồng hiện là hai kiểu trần thuật tiêu biểu trong 6 tiểu thuyết của Coetzee mà chúng tôi khảo sát. Mỗi một nhân vật trong sáng tác của ông đi khắp đất nước Nam Phi để khẳng định sự tồn tại của mình theo hình xoáy trôn ốc. Trong xã hội bạo lực trở thành văn hóa, con người trở nên bất tín mọi giá trị văn minh vĩnh cửu và cả chính bản thân mình, cho nên hiện sinh trở thành vấn đề trung tâm trong sáng của Coetzee. Siêu hư cấu là một hình thức độc đáo trong văn chương hậu hiện đại nói chung và Coetzee nói riêng. Là nhà văn kín tiếng, ít khi xuất hiện trước công chúng, nên ông để tác phẩm tự nó bộc lộ quan

146

điểm bằng hình thức siêu hư cấu. Nhân vật Elizabeth Costello xuất hiện tần số cao trong các tiểu thuyết đã thay ông đối thoại các vấn đề về văn chương, chính trị, xã hội. Dưới hình thức là một nhà văn nữ, xuất hiện có khi là nhân vật chính, có khi là nhân vật phụ, bà nói lên tiếng nói nghệ thuật cũng như hành trình sáng tạo của nhà văn trong bối cảnh chính trị Nam Phi hậu chia rẽ và thân phận lưu vong ở nước ngoài. Bao trùm trong tiểu thuyết của Coetzee là giọng điệu mang mặc cảm hoài nghi, cô đơn với những bi kịch chua chát, đau đớn. Đây cũng là giọng điệu chung của văn chương hậu hiện đại. Khi mọi giá trị chân lí sụp đổ, con người bất tín trước thực tại, hoài nghi trở thành tâm lí chung của nhân loại. Càng hoài nghi, con người càng cô đơn trước thời cuộc. Mọi giải phẫu chỉ đem đến cảm giác rợn ngợp, khủng hoảng, mất niềm tin. Xây dựng bi kịch con người hậu hiện đại, văn chương của Coetzee không dài dòng với những phân tích, mô tả, tất cả được viết bằng lối hành văn giản lược, tiết chế đến kiệt cùng. Không màu mè, hoa mĩ, văn chương của ông tinh giản trên từng trang viết với cốt yếu ghi lại chân thực nhất bức tranh đen tối về thân phận và con người Nam Phi dưới chế độ Aparthied và những hậu quả của nó để lại.

Nhìn chung các nghiên cứu về tiểu thuyết của Coetzee trên thế giới rất phong phú, có nhiều công trình gắn liền với những tên tuổi hàng đầu trong giới phê bình hậu hiện đại. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Coetzee chưa nhiều, chưa toàn diện. Trong phạm vi có hạn của một luận án Tiến sĩ Văn học, chúng tôi chỉ dừng lại ở những đặc trưng hậu hiện đại trong 6 tiểu thuyết được dịch ra tiếng Việt của nhà văn Coetzee. Tiểu thuyết của ông còn nhiều vấn đề cần được tìm tòi, khai thác từ các góc độ khác như: thân phận con người từ lí thuyết phê bình nữ quyền da đen, văn hóa bạo lực, sinh thái học trong tiểu thuyết hư cấu, liên văn hóa và câu chuyện lịch sử Nam Phi hậu Aparthied, bạo lực tính dục và thân phận con người, động vật và con người chấn thương, ngôn ngữ thống trị,… Hi vọng trong những công trình tiếp theo, chúng tôi sẽ cố gắng khai thác sâu hơn các vấn đề trên để mở rộng biên độ. Trong quá trình nghiên cứu, luận án khó tránh khỏi những thiếu sót; một mặt, về phía khách quan, hậu hiện đại là một lý thuyết ở thì hiện tại chưa hoàn thành, cần có thời gian để sàng lọc, thể nghiệm; mặt khác, về phía chủ quan, sự khiêm tốn về ngoại ngữ khiến chúng tôi không thể tham chiếu bản dịch và nguyên tác của Coetzeet. Tuy nhiên, với tất cả sự cố gắng của mình, chúng tôi hi vọng đây là công trình tham khảo có ích, góp phần mở ra cái nhìn đa chiều về tiểu thuyết của Coetzee ở Việt Nam.

147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

I. Các bài báo liên quan trực tiếp đến Luận án 1. Chu Đình Kiên (2017), “Hình tượng người kể chuyện trong tiểu thuyết Giữa miền đất ấy và Ruồng bỏ của J.M. Coetzee”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia, Trường ĐHSP Huế, tr.166-tr.171.

2. Chu Đình Kiên (2017), “Văn hóa hậu Apartheid trong Đợi bọn mọi của

J.M.Coetzee”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 6A, Tập 126, tr.13-23.

3. Chu Đình Kiên (2017), “Con người hậu hiện đại trong tiểu thuyết Người chậm của John Maxwell Coetzee”, Kỷ yếu Hội nghị khoa học Trẻ 2017, Trường Đại học Sư phạm Huế, tr.94-101.

4. Chu Đình Kiên (2018), “Tiểu thuyết Ruồng bỏ của John Maxwell Coetzee từ góc nhìn hậu thực dân”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế, tr.44-52.

5. Chu Đình Kiên (2019), “Hình tượng nhân vật nữ trong tiểu thuyết của John Maxwell Coetzee từ lý thuyết phê bình nữ quyền thuộc địa”, Hội thảo khoa học Quốc gia, Đại học Sư phạm, Đại học Huế, tr.894-902.

6. Chu Đình Kiên (2019), “Con người hậu hiện đại trong tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, số 33 (02), tr.45-52.

7. Chu Đình Kiên (2019), “Chế độ Apartheid trong Tuổi sắt đá của John Maxwell Coetzee”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, số 34 (03), tr.66-72. II. Các bài báo liên quan gián tiếp đến Luận án 8. Chu Đình Kiên (2015), “Vấn đề Do Thái trong hai tác phẩm Những kẻ thiện tâm (Jonathan Littell) và Không số phận (Kertész Imre) từ góc nhìn của thuyết tương đối văn hóa và vị chủng văn hóa”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 06, Tập 105, tr.101-113.

9. Chu Đình Kiên (2017), “Vấn đề chiến tranh trong tiểu thuyết Không số phận của Kertész Imre từ góc nhìn văn hóa - lịch sử”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 6B, Tập 126, tr.167-176.

10. Chu Đình Kiên (2018), “Cảm quan hậu hiện đại trong tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh”, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, Số 6C, Tập 127, tr.123-135.

148

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Tài liệu văn bản TIẾNG VIỆT 1. Thái Phan Vàng Anh (2010), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương

đại, Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

2. Thái Phan Vàng Anh (2017), Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI - Lạ hóa một

cuộc chơi, Nxb Đại học Huế, Huế.

3. Phan Tuấn Anh (2016), Nghệ thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết Gabriel García

Márquez, Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

4. Phạm Tuấn Anh (2015), Đa văn bản trong tiểu thuyết Ruồng bỏ của John

Maxwell Coetzee, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, (48), tr 51-55.

5. Phạm Tuấn Anh (2017), Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết John Maxwell Coetzee, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, (41), tr 78-83. 6. Đào Tuấn Ảnh (2005), “Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện

đại”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (8).

7. Appignanesi Richard và… (2006), Nhập môn chủ nghĩa hậu hiện đại (Trần Tiễn

Cao Đăng dịch), Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

8. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân (sưu tầm và biên soạn) (2003), Văn học hậu hiện

đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

9. Bakhtin M. (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường

viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.

10. Barthes R. (1997), Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Hội Nhà

văn, Hà Nội.

11. Barthes R. (2008), Những huyền thoại, Nxb Tri thức, Hà Nội. 12. Lê Huy Bắc (2004), Phê bình - Lý luận văn học Anh Mỹ (tập 1), Nxb Giáo dục,

Hà Nội.

13. Lê Huy Bắc (2006), Nghệ thuật Franz Kafka, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 14. Lê Huy Bắc (2013), Văn học hậu hiện đại, lí thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học

sư phạm, Hà Nội.

15. Lê Huy Bắc (2013), Phê bình văn học hậu hiện đại Việt Nam, Nxb Tri thức, Hà

Nội.

16. Lê Huy Bắc (Chủ biên) (2015), Đặc trưng truyện ngắn hậu hiện đại Hoa Kỳ,

Nxb Văn học, Hà Nội.

17. Lê Huy Bắc (2019), Ký hiệu và liên ký hiệu, Nxb Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh,

Tp.Hồ Chí Minh.

18. Diễm Cơ (2004), “Hậu hiện đại”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (8), tr.89-108. 19. Nguyễn Văn Dân (2006), Văn học phi lí, Nxb Văn hoá thông tin, Trung tâm văn

hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

20. Nguyễn Văn Dân (2003), Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là hiện tượng chồng chéo khái niệm (trong sách Văn học hậu hiện đại thế giới - những vấn đề lý thuyết), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

149

21. Nguyễn Văn Dân (2012), “Ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại đến văn học nghệ

thuật trên thế giới và Việt Nam”, Tạp chí Văn học nước ngoài, (8).

22. Trương Đăng Dung (2011), “Khoa học văn học hiện đại, hậu hiện đại”, Tạp chí

Nghiên cứu Văn học, (8), tr.12-25.

23. Trương Đăng Dung (2012), “Tri thức và ngôn ngữ trong tinh thần hậu hiện đại”,

Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (1), tr. 3-14.

24. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

25. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội.

26. Nguyễn Hồng Dũng (2016), Ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 - 2010, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học, Huế.

27. Diamond Jared (2007), Súng, vi trùng và thép - định mệnh của các xã hội loài

người (Trần Tiễn Cao Đăng dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.

28. Đoàn Ánh Dương (2010), “Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 9, tr.107-119.

29. Daniel Defoe (2018), Robinson Crusoe (Nguyễn Thành Long dịch), Nxb Kim

Đồng, Hà Nội.

30. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết Phương Tây hiện đại,

Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

31. Trần Thiện Đạo (2008), Từ chủ nghĩa hiện sinh tới thuyết cấu trúc, Nxb Tri

thức, Hà Nội.

32. Trịnh Bá Đĩnh (2002), Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Nxb Văn học, Hà Nội. 33. Eco Umberto (2004), Đi tìm sự thật biết cười, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội. 34. Freeland Cynthia (2009), Thế mà là nghệ thuật ư?, Nxb Tri thức, Hà Nội. 35. Friedman Thomas Loren (2008), Thế giới phẳng, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. 36. Friedman Thomas Loren (2009), Nóng, phẳng, chật, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh. 37. Freud Sigmund (2004), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật, Nxb Văn hóa

thông tin, Hà Nội.

38. Freud Sigmund (2005), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ (Ngụy Hữu Tâm dịch với sự cộng tác của Nguyễn Hữu Khôi, Phan Bá), Nxb Thế giới, Hà Nội.

39. Heidegger Martin (2004), Tác phẩm triết học (Trương Đăng Dung và… dịch),

Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

40. Hồ Thế Hà (2014), Tiếp nhận cấu trúc văn chương, Nxb Văn học, Hà Nội. 41. Lê Bá Hán và… (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 42. Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2010), Trần thuật hậu hiện đại trong Ruồng bỏ của

J.M.Coetzee, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội.

43. Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2014), Đặc trưng bút pháp hậu hiện đại trong tiểu

thuyết của Paul Auster, Luận án tiến sĩ, Viện Văn học.

150

44. Lê Thị Diễm Hằng (2012), Yếu tố hậu hiện đại trong Biên niên kí chim vặn dây cót của Haruki Murakami (trong sách Nghiên cứu và dạy học Ngữ văn), Nxb Đại học Huế.

45. Lê Thị Thúy Hằng (2016), Nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ

1986 đến 2010, Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học, Huế.

46. Trần Thái Học (chủ biên) (2014), Văn chương & tiếp nhận, Nxb Văn học,

Hà Nội.

47. Trần Quỳnh Hương (2007), “Dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học

đương đại Trung Quốc”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, (12), tr.79-92.

48. Lê Thị Hường (2012), Người chậm của Coetzee - Từ lí thuyết hậu hiện đại

(trong sách Nghiên cứu và dạy học Ngữ văn), Nxb Đại học Huế, Huế.

49. Honderich Ted (chủ biên) (2002), Hành trình cùng triết học (Lưu Văn Huy

dịch), Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

50. Hungtington Samuel (2005), Sự va chạm của các nền văn minh (Nguyễn

Phương Sửu và... dịch), Nxb Lao động, Hà Nội.

51. Konrat N.I. (1997), Phương Đông và phương Tây (Trịnh Bá Đĩnh dịch), Nxb

Giáo dục, Hà nội.

52. Ilin I.P. và E.A. Tzurgaova (chủ biên) (2003), Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20 (Đào Tuấn Ảnh dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

53. Kafka Franz, (2003), Kafka Franz tuyển tập tác phẩm, Nxb Hội Nhà văn, Trung

tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

54. Kundera Milan (2001), Nghệ thuật tiểu thuyết (Nguyên Ngọc dịch), Nxb Văn

hóa Thông tin, Hà Nội.

55. Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Huế (2012), Nghiên cứu và dạy học Ngữ văn,

Nxb Đại học Huế, Huế.

56. Khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm Huế (2019), Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn

học và Giới, Nxb Đại học Huế, Huế.

57. Khoa Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội (2013), Văn học hậu hiện đại - Lý

thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

58. M.B.Khapchenco (2002), Những vấn đề lý luận và phương pháp luận nghiên

cứu văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

59. Lotman I.U.M. (2004), Cấu trúc văn bản nghệ thuật (Trần Ngọc Vương và…

dịch), Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

60. Phương Lựu (1999), Mười trường phái lí luận phê bình văn học Phương Tây

hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

61. Phương Lựu (2001), Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Văn

học, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội.

62. Phương Lựu (chủ biên) và… (2006), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 63. Phương Lựu (2011), Lý thuyết văn học hậu hiện đại, Nxb Đại học Sư phạm, Hà

Nội.

64. Lyotard Jean Francois (2007), Hoàn cảnh hậu hiện đại, (Ngân Xuyên dịch, Bùi

Văn Nam Sơn hiệu đính và giới thiệu), Nxb Tri thức, Hà Nội.

151

65. Liviu Petrescu (2013), Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại, (Lê Nguyên Cẩn dịch

và giới thiệu), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

66. Bửu Nam (2016) Các trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại và sự tiếp biến, vận dụng ở Việt Nam (chuyên luận), Nxb Đại học Huế, Huế. 67. Lương Hằng Nga (2008), Nhân vật dị biệt Michael K trong tiểu thuyết của

Coetzee, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

68. Lã Nguyên (2007), “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, 12, tr.11-38.

69. Lã Nguyên (2019), Phê bình kí hiệu học, đọc văn như là hành trình tái thiết

ngôn ngữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

70. Huỳnh Như Phương (2007), Trường phái hình thức Nga, Nxb Đại học Quốc gia

Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.

71. Nguyễn Hưng Quốc (2010), Văn học Việt Nam thời toàn cầu hóa, Nxb Văn

Mới, USA.

72. Nguyễn Minh Quân (2012), “Chủ nghĩa hậu hiện đại: những khái niệm căn

bản”, Tạp chí Văn nghệ quân đội, 30/9/2012.

73. Trần Đình Sử (2005), Trần Đình Sử tuyển tập (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 74. Trần Đình Sử (chủ biên) (2004), Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử

(tập 1, 2), Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.

75. Said Edward Wadie (2014), Đông phương luận (Lưu Đoàn Huynh và… dịch),

Nxb Tri thức, Hà Nội.

76. Trần Huyền Sâm (2008), Kiểu tự sự đánh tráo chủ thể trần thuật trong tiểu thuyết hậu hiện đại (trong sách Tự sự học, phần 2), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội. 77. Trần Huyền Sâm (2007), “Bi kịch Ruồng bỏ trong tiểu thuyết cùng tên của John

Maxwell Coetzee”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học (3).

78. Trần Huyền Sâm (biên soạn và giới thiệu) (2010), Những vấn đề lý luận văn học

phương Tây hiện đại - tự sự học kinh điển, Nxb Văn học, Hà Nội.

79. Trần Huyền Sâm (2016), Tiểu thuyết phương Tây hiện đại và các hướng tiếp

cận, Nxb Văn học - Trung tâm nghiên cứu quốc học, Hà Nội.

80. Bùi Văn Nam Sơn, Lyotard với tâm thức và hoàn cảnh hậu hiện đại (trong sách

Hoàn cảnh hậu hiện đại, Ngân Xuyên dịch), Nxb Tri thức, Hà Nội.

81. Trần Quang Thái (2006), Chủ nghĩa hậu hiện đại, các vấn đề nhận thức luận,

Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.

82. Lộc Phương Thủy (chủ biên) (2007), Lý luận - phê bình văn học thế giới thế kỉ

XX (2 tập), Nxb Giáo dục, Đà Nẵng.

83. Nguyễn Thị Ngọc Thủy (2012), Nhân vật mảnh vỡ David Lurie trong Ruồng bỏ

của Coetzee, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐHSP Hà Nội.

84. Phùng Gia Thế (2016), Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam đương đại - giai đoạn 1986 - 2012, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

85. Nguyễn Thành và… (2013), Văn học hậu hiện đại - diễn giải và tiếp nhận, Nxb

Văn học, Hà Nội.

152

86. Nguyễn Văn Thuấn (2013), Liên văn bản trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp,

Luận án Tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội.

87. Đỗ Lai Thúy (2004), Phân tâm học và văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thông tin,

Hà Nội.

88. Đỗ Lai Thúy (2011), Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình

văn học Việt Nam, một cái nhìn lịch sử), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

89. Đỗ Lai Thúy (2007), Phê bình văn học từ mắt nhìn hậu hiện đại, Tạp chí Văn

hóa nghệ thuật, tr.24.

90. Nguyễn Thị Tịnh Thy (2012), Cần nhìn lại một số vấn đề về chủ nghĩa hậu hiện đại qua truyện ngắn Bốn bề bờ bụi của Akutagawa Ryunosuke (trong sách Nghiên cứu và dạy học Ngữ văn), Nxb Đại học Huế, Huế.

91. Phùng Văn Tửu (2017), Cách tân nghệ thuật văn học phương Tây, Nxb Khoa

học Xã hội, Hà Nội.

92. Bùi Thanh Truyền (chủ biên) (2019), Phê bình sinh thái với văn xuôi Nam Bộ,

Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh.

DANH MỤC CÁC TÁC PHẨM CỦA J.M.COETZEE ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN 93. J.M. Coetzee (2005), Giữa miền đất ấy (In the Heart of the Country) (Song Kha

dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

94. J.M. Coetzee (2014), Đợi bọn mọi (Waiting for the Barbarians) (Crimson Mai

và Phương Văn dịch), Nxb Văn học, Hà Nội.

95. J.M. Coetzee (2004), Cuộc đời và thời đại của Michael K (Life and Times of

Michael K) (Thanh Vân dịch), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.

96. J.M. Coetzee (2004), Tuổi sắt đá (Age of Iron) (Anh Thư dịch), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 97. J.M. Coetzee (2004), Ruồng bỏ (Disgrace) (Thanh Vân dịch), Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 98. J.M. Coetzee (2008), Người chậm (Slow man) (Thanh Vân dịch), Nxb Văn học,

Hà Nội. TIẾNG ANH 99. Attridge, Derek (2004), J. M. Coetzee and the Ethics of Reading, Chicago:

University of Chicago Press.

100. Attwell, David (1993), J.M. Coetzee - South Africa and the Politics of Writing,

Oxford University Press.

101. Terry Eagleton, Literary Theory, An Introduction, Minnesota, 1996, p.201. 102. Ashley B. Harrington (2013), The myth of the criminal and animal

subjecthoodin J.M. Coetzee’s Disgrace, Florida Atlantic University.

103. Beressem, Hanjo (1988), “Foe. The Corruption of words”, Matatu 2.3-4: 222-235. 104. Barnard, Rita (19, November, 2009). “Coetzee in/and Afrikaans”. Journal of

Literary Studies. 25 (4): 84–105.

153

105. Beek, Sabrina van (July, 2011) , The End of Apartheid: a Shift in Power Relations in South Africa and the Novels of J.M. Coetzee and Nadine Gordimer, MA Thesis Western Literature and Culture, Utrecht University. 106. Thomas Bonnice (2001), “Coetzee‟s Disgrace (1999) and postcolonial power”,

Acta Scientiarum, Maringá, 23 (1): 87-92.

107. Imene Belamri (2014-2015), Writing Post-Apartheid South Africa: Rape, Sexism and Masculinity in J.M Coetzee’s Disgrace, University of Amar Telidji-Laghouat, Algeria.

108. Carusi, Annamaria (1989). “Foe: The Narrative and Power.” Journal of

Literary Studies, 5.2 (June): 134-144.

109. Gallagher, Susan (1991), A Story of South Africa: J. M. Coetzee’s Fiction in

Context, Cambridge, Mass.: Harvard University Press.

110. Shadi Neimneh, Fatima Muhaidat (2012), “The Ecological Thought of J. M. Coetzee: The Case of Life and Times of Michael K”, Studies in Literature and Language, Vol. 4, No. 1,2012, pp. 12-19.

111. Shadi Neimneh (2014), “Postcolonial feminism: silence and stotytelling in J.M. Coetzee‟s Foe”, Journal of Language and Literature, Vol.5, No.2. 112. Shadi Neimneh (2014), “Coetzee's Postmodern Bodies: Disgrace between in Language

Human and Animal Bodies”, Theory and Practice Studies 4(8):1569-1575.

113. Shadi Neimneh (2014), “The visceral allegory of Waiting for the Barbarians: A Postmodern Re-reading of J. M. Coetzee‟s Apartheid Novels”, Published by The Johns Hopkins University Press, Callaloo, Volume 37, Number 3, Summer 2014, pp. 692-709 (Article).

114. De Smet, Sebastiaan (2009), J.M. Coetzee's Disgrace and Foe: an Analysis of

Postmodern and Political Representation, Universiteit Gent.

115. Donadio, Rachel (3 January 2013), “Disgrace: JM Coetzee humiliates himself in Johannesburg. Or does he?”. Daily Maverick. Archived from the original on 12 January 2013.

116. Epstein, M (1999), On the place of Postmoderism in Postmordernity in the book Russian Postmodernism: New perspectives on Post-Soviet Culture. New York, Oxford: Berghalm Books, pp. 456-468.

117. Huggan, Graham, and Stephen Watson, eds (1996), Critical Perspectives on J.

M. Coetzee. New York: St. Martin‟s Press.

118. Hatice Elif Diler and Derya Emir (2010), A Postcolonial Analysis of J.M. Coetzee’s Two Novels: Waiting for the Barbarians and Life and Times of Michael K, Dumlupınar Üniversitesi, Fen-Edebiyat Fakültesi, Batı Dilleri ve Edebiyatı Bölümü.

119. Hutcheon, L. (2000), A Theory of Parody: The teachings of Twentieth

Century Art Forms. University of Illinois Press.

120. Hutcheon, L. (2002), The politics of Postmodernism, London; New York:

Routledge.

154

121. John T. Irwin (1996), Doubling and Incest/Repetition and Revenge: A

Speculative Reading of Faulkner, JHU Press, London, England.

122. Kossew, Sue, ed (1998). Critical Essays on J. M. Coetzee. New York: G. K.

Hall.

123. Manfred Jahn (2005), Narratology: A guide to the theory of narrative, English

Department, University of Cologne.

124. Malan Rian (2003), “Only the Big Questions, A South African writer refects on his country's new Nobel laureate” (tạm dịch Chỉ những vấn nạn lớn, một nhà văn Nam Phi ngẫm nghĩ về người đồng hương vừa được giải Nobel), Tuần báo Time, số 13.10.2003, ấn bản Canada, tr.66.

125. Moses, Michael Valdez (1993), “The mark of Empire: Writing, History and

torture in Coetzee's Waiting for the Barbarians.” Kenyon Revie v15n1: 115-127.

126. Poyner, Jane, ed (2006). J. M. Coetzee and the Idea of the Public

Intellectual. Athens: Ohio University Press.

127. Price, Jonathan (April 2012). J.M. Coetzee. Emory University. Retrieved 12

January 2014.

128. Greta Olson (2014), “„Like a Dog‟: Rituals of Animal Degradation in J.M. Coetzee‟s Disgrace and Abu Ghraib Prison”, Journal of Narrative Theory 44.1: 116–156.

129. Smart, B. (1990) Modernity, Postmodernity and Present in Turner, B. S.

(1991) Theories of Modernity and Postmodernity. London: SAGE Publ, p.17.

130. Wright, Laura (2006), “Writing “Out of all the Camps”: J. M. Coetzee‟s

Narratives of Displacement”. New York: Routledge.

131. Woolman, Lee J (April 1993), “Books Worth Teaching Even Though They J. M. the Barbarians by for

Have Proven Controversial-Waiting Coetzee”, English Journal v82n4: 87

132. World Literature Today “An Interview with J. M. Coetzee.” v70, n1 (Winter

1996) : 107

133. Ihab Hassan (1998), “Toward a Concept of Postmodernism, in Postmodern American Fiction”, A Norton Anthology, New York, W. W. Norton & Co. 134. Paul Ingendaay, Wege, die zur Schlachtbank führen, Frankfurter Allgemeine

Zeitung, số 230, trang 37, ngày truy cập: 04/10/2003.

135. Joanna Stolarek (April 2015), “Political, Social and Cultural aspects of racism in post-apartheid South Africa in John Maxwell Coetzee‟s Disgrace”, Siedlce University of Natural Sciences and Humanities, Poland.

136. Joanna Stolarek (2013), “Problems of multiculturalism and multi-ethnicity in the Republic of South Africa in John Maxwell Coetzee‟s selected works”, Siedlce University of Natural Sciences and Humanities, Poland.

137. Jean-François Lyotard (1984), The Postmodern Condition: A Report on Knowledge, trans. from the French by Geoff Bennington and Brian Massumi, Forward by Fredric Jameson, Manchester University Press.

138. Ania Loomba (2000), Colonialism/Postcolonialism, Routledge, tr. 68-69.

155

139. Jameson, F. (1984) Postmodernism, or the Cultural Logic of Late

Capitalism. New Left Review 146.

140. Suadah Jasim Salih, Lajiman Janoory (June 2019), “On Feminism and Identity in J.M. Coetzee Literature: A Critical Analysis from Post- Colonial Perspective”, Malaysian Journal of Social Sciences and Humanities, Volume 4, Issue 3.

141. Fisher, Laura, L (1988), “Colonization and Feminism in J.M. Coetzee‟s In the Heart of the Country, Waiting for the Barbarians and Foe”, Tennessee: University of Tennessee Press.

142. Michael C N Urbasch (1988), The postmodernist text in contemporary South Africa: A defence of J.M. Coetzee, Master of arts in South African literature, University of Natal, Durban.

143. VanZanten Gallagher, Susan (1991), “A Story Of South Africa: J.M. Coetzee's

Fiction in Context”, Cambridge. Harvard University Press.

144. Wright, Laura (2006), “Writing “Out of All the Camps”: J.M. Coetzee's

Narratives of Displacement”. New York. Routledge. P.6.

145. Edward W. Said (1993), Culture and Imperialism, London, Vintage. 146. Leela Gandhi, St Leonards (1998), Postcolonial Theory: A Critical

Introduction, NSW, Australia, Allen & Unwin.

147. Ian-Malcolm Rijsdijk (2014), “(Dis)placed: place and identity in the film

Disgrace”, African Cinema Unit Yearbook Vol. 1.

148. Robert J. C. Young (2003), Postcolonialism, a Very Short Introduction, Oxford

University Press.

149. Urban (November 12, 2016), Anthropology, Multiculturalism's Double-Bind:

Creating Inclusivity, Cosmopolitanism and Difference, Routledge; 1 edition.

150. V Pradeep Raj, “Select novels of J.M. Coetzee:a postcolonial perspective”,

Lecturer in English, JNTUH College of Engineering, Karimnagar, AP. India.

B. Trang web 151. Ali, Atteqa (Hoàng Ngọc Tuấn dịch), Chủ nghĩa hậu hiện đại: Những sự phát và Bangladesh, thuật ở Pakistan trong mỹ gần đây

triển http://www.tienve.org.

152. Lê Thị Vân Anh, Tính chất nước đôi và mầm mống phá hủy nhãn quan thực “Đông Dương”, về Việt Nam trong phim tính bộ

dân http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?

153. Đào Tuấn Ảnh, Quan niệm thực tại và con người trong văn học hậu hiện đại, https://phebinhvanhoc.com.vn/quan-niem-thuc-tai-va-con-nguoi-trong-van- hoc-hau-hien-dai, ngày truy cập 2/6/2012.

154. Đăng Bẩy, Cảm hứng hiệp sĩ mặt buồn, http://www.daibieunhandan.vn, ngày

truy cập 13/4/2015.

155. Phạm Tấn Xuân Cao, Tính hư cấu của văn chương trong chân trời siêu hư

cấu, http://tapchisonghuong.com.vn, ngày truy cập 17/2/2016.

156. Phạm Tấn Xuân Cao, Dẫn nhập vào lý thuyết siêu hư cấu của Patricia Waugh,

http://tapchisonghuong.com.vn, ngày truy cập 6/4/2018.

156

157. Nguyễn Thị Minh Duyên, Nhân vật trong tiểu thuyết của J.M.Coetzee,

http://www.vanchuongviet.org, ngày truy cập 15/9/2009.

158. Đào Trung Đạo, Kẻ ngoại cuộc, http://www.gio-o.com/DaoTrungDao, 2003. 159. Vương Trung Hiếu, Văn chương hậu hiện đại, http://damau.org, ngày truy cập

8/8/2013.

160. Hoàng Ngọc Hiến, Tiếp nhận những cách tân của chủ nghĩa hiện đại & chủ

nghĩa hậu hiện đại, http://tapchisonghuong.com.vn, ngày truy cập 16/7/2008.

161. Đỗ Đức Hiểu, Văn học sinh thái và lí luận phê bình sinh thái (3),

http://nguvan.hnue.edu.vn, ngày truy cập 11/12/2016.

162. Mai Hiền, Nhà văn John Maxwell Coetzee - Ẩn sĩ phong lưu,

http://vnca.cand.com.vn, ngày truy cập 16/11/2009.

163. Trần Nghi Hoàng, Phá vỡ và tái tạo: J.M. Coetzee và Giải Nobel Văn học

2003, https://kontumquetoi.com, ngày truy cập 27/4/2017.

164. Fredric Jameson, Văn học các nước thế giới thứ ba trong kỷ nguyên của chủ nghĩa tư bản đa quốc gia, https://phebinhvanhoc.com.vn, ngày truy cập 05/03/2016.

165. Giải Nobel văn học 2003: “Đường đến lò sát sinh” (Đinh Bá Anh dịch), https://wege, die zur schlachtbank fuhren, Frankfuter Allgemeine Zeitung, số 230, 2003.

166. Thuỵ Khuê, Hậu hiện đại, http://www.thuykhue.free.fr/tk03/hhd.html, ngày

truy cập 8/2003.

167. Cao Kim Lan, Người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác

giả, https://phebinhvanhoc.com.vn, ngày truy cập 16/4/2012.

168. Phạm Ngọc Lan, Lý thuyết siêu hư cấu, http://hcmup.edu.vn, ngày truy cập

1/6/2017.

169. Phạm Ngọc Lan, Vàng lửa của Nguyễn Huy Thiệp như một dụ ngôn về lịch sử và quá trình viết lại lịch sử, http://www.vanhoanghean.com.vn, ngày truy cập 4/9/2010.

170. Phong Linh, Hành trình bị ruồng bỏ của một con người, https://vnwriter.net,

ngày truy cập 10/3/2017.

171. Lã Nguyên, Lí thuyết và phê bình văn học đương đại: từ cấu trúc đến giải cấu

trúc, http://vanhoc - ngonngu.edu.vn, ngày truy cập 9/9/2012.

172. Inrasara, Hậu hiện đại & Thơ hậu hiện đại Việt: Một phác họa,

https://www.vanchuongviet.org, ngày truy cập 21/1/2008.

173. N.D. Tamarchenko, Nguyên ngôn (Lã Dụ

dịch), https://phebinhvanhoc.com.vn/du-ngon/ (dịch từ nguồn: Поэтика//Словарь актуальных терминов и понятий.- Изд. Кулагиной, Intrada.- 2008. Cтр. 187-188), ngày truy cập 04/02/2015.

thời kỳ hậu-Apartheid,

174. Trần Hữu Thục, Văn chương Nam Phi https://damau.org, ngày truy cập 9/12/2006.

175. Trần Hữu Thục, John Maxwell Coetzee - nỗi đau là chân lí, https://damau.org,

ngày truy cập 4/3/2010.

157

176. Thủy Nguyệt, Thế giới văn chương hoài nghi và tăm tối của J.M.Coetzee,

https://news.zing.vn, ngày truy cập 27/6/2017.

177. Nguyễn Hưng Quốc, Các lí thuyết phê bình văn học (11): Chủ nghĩa hậu hiện

đại, http://www.tienve.org, ngày truy cập 1/1/2009.

178. Nguyễn Hưng Quốc, Chủ nghĩa hậu thực dân, http://www.tienve.org, ngày

truy cập 1/1/2009.

179. Trần Đình Sử, Phê bình sinh thái tinh thần trong nghiên cứu văn học hiện nay,

http://www.vanhoanghean.com.vn, ngày truy cập 8/4/2015.

180. Tường Phạm, Tình trạng bạo lực tiếp tục gia tăng ở Nam Phi,

https://anninhthudo.vn, ngày truy cập 29/9/2018. tốt nẩy mầm 181. Nguyễn Khắc Phê, Lòng từ tình yêu trong trắng,

http://www.vanchuongviet.org, ngày truy cập 18/8/2009.

182. Diêu Lan Phương, Tản mạn về hậu hiện đại và đại tự sự trong văn học Việt

Nam, http://www.khoavanhoc.edu.vn, ngày truy cập 7/4/2010.

183. Leong Yew, The New Black Literature in South Africa, University Scholars Singapore, Programme, University National of

http://www.postcolonialweb.org/sa/blacksalit.html, June 24, 2002.

184. https://www.nobelprize.org/prizes/literature/2003/press-release/ (Trần Tiễn Cao

Đăng chuyển ngữ).

185. J.M. Coetzee, Stranger Shores/Literary Essays 1986-1999, chapter 2 “Daniel

Defoe, Robinson Crusoe, p.17.

186. Phan Anh (tổng hợp Theo Reuters), Người da trắng Nam Phi trong "nạn" phân

biệt chủng tộc ngược, https://dantri.com.vn/the-gioi/nguoi-da-trang-nam-phi-

trong-nan-phan-biet-chung-toc-nguoc, ngày truy cập: 31/03/2010.

187. Trần Nga, 10% dân số Nam Phi bị nhiễm HIV, https://vov.vn/the-gioi/10-dan-

so-nam-phi-bi-nhiem-hiv-294740.vov, ngày truy cập: 30/11/2013.

188. https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/Nam-Phi-sau-cuoc-cach-mang-chong-

ky-thi-chung-toc-Apartheid, ngày truy cập: 18/03/2013.

189. Phương Thảo (tổng hợp), Voortrekker - dấu ấn “bộ lạc trắng” tại Nam Phi,

https://vnexpress.net/voortrekker-dau-an-bo-lac-trang-tai-nam-phi, ngày truy

cập: 18/7/2013.

190. Đường link phim Ruồng bỏ, Desgracia CD1 Película Completa en Español

Latino, https://www.youtube.com/watch?v=8DfXeyMu1IQ.

191. Hoàng Phong Tuấn (dịch), Chủ nghĩa hậu hiện đại và Văn học,

https://bookhunterclub.com/chu-nghia-hau-hien-dai-va-van-hoc. (tổng hợp), Chế độ A-pac-thai 192. Trần Thanh Huyền (Apartheid),

http://nghiencuuquocte.org, ngày truy cập: 24/11/2014.

158

PHỤ LỤC

P.0

Phụ lục 1 Tiểu sử nhà văn Coetzee

Nhà văn John Maxell Coetzee sinh ngày 09 tháng 02 năm 1940, tại Cape Town, Nam Phi. Là người con đầu trong gia đình có hai anh em. Mẹ là một giáo viên tiểu học, cha là một luật sư có thời gian phục vụ trong quân đội Nam Phi, Bắc Phi và Ý từ năm 1941 - 1945. Mặc dù cha mẹ không phải là người Anh, nhưng ngôn ngữ Anh được sử dụng trong gia đình như thứ ngôn ngữ chính thức.

Thuở nhỏ Coetzee học tiểu học tại thành phố Cape Town và trong các thị trấn gần Worcester. Năm 1956, ông vào học trường trung học ở Cape Town của một dòng tu Công giáo (Marist Brothers).

Năm 1957, vào học trường Đại học Cape Town. Năm 1960 và 1961 tốt nghiệp và nhận bằng danh dự hai chuyên ngành Tiếng Anh và Toán học. Từ 1962 - 1965 sống tại Anh, làm lập trình viên cho máy tính và nghiên cứu luận án về nhà văn Anh Ford Madox Ford.

Năm 1963 ông kết hôn với Philippa Jubber (1939-1991), và họ có hai con:

Nicolas (1966-1989) và Gisela (sinh năm 1968).

Năm 1965, Coetzee vào học trường Đại học Texas tại Austin. Năm 1968, tốt nghiệp tiến sĩ bằng tiếng Anh, ngôn ngữ học, và ngôn ngữ Đức. Luận án tiến sĩ của ông viết về việc dùng máy tính trong phân tích các tiểu thuyết của Samuel Beckett.

Trong ba năm (1968 - 1971), Coetzee làm giáo sư phụ giảng môn tiếng Anh tại Đại học bang New York. Ông để lại ấn tượng cho các sinh viên và đồng nghiệp như một học giả khiêm tốn, nhũn nhặn và rất coi trọng ngôn ngữ. Sau khi đơn xin thường trú Hoa Kỳ bị từ chối, ông trở về Nam Phi. Từ năm 1972 đến 2000, giữ nhiều chức vụ khác nhau tại Đại học Cape Town, cuối cùng là giáo sư văn học chính thức của trường.

Từ 1984 đến 2003 ông dạy thường xuyên tại Hoa Kỳ: Đại học bang New York, Đại học Johns Hopkins, Đại học Harvard, Đại học Stanford và Đại học Chicago, nơi mà trong sáu năm ông là thành viên của Ủy ban Tư tưởng Xã hội.

Coetzee bắt đầu viết tiểu thuyết năm 1969. Tác phẩm đầu tiên Dusklands, xuất bản tại Nam Phi năm 1974. Giữa miền đất ấy (1977) đoạt giải văn chương Nam Phi, giải CNA, và xuất bản tại Anh và Mỹ. Đợi bọn mọi (1980) được bạn đọc quốc tế ngợi khen. Danh tiếng của ông được khẳng định từ tiểu thuyết Cuộc đời và thời đại của Michael K (1983), đoạt giải Booker. Kế đó là Foe (1986), Tuổi sắt đá (1990), The Master of Petersburg (1994), đặt biệt là tiểu thuyết Ruồng bỏ (1999) đã giúp Coetzee đoạt giải Booker một lần nữa.

P.1

Coetzee viết ba cuốn hồi ký tiểu thuyết là Boyhood (1997), Youth (2002) và Summertime (2009). The Lives of Animals (1999) là một tập thuyết trình về tiểu thuyết, sau đó cho in chung với Elizabeth Costello (2003). White writing (1988) là một bộ tiểu luận về văn chương và văn hóa Nam Phi. Doubling the Point (1992) gồm những bài tiểu luận và phỏng vấn với giáo sư David Attwell. Giving Offense (1996) là một nghiên cứu về vấn đề văn chương. Stranger Shores (2001) là tập hợp những tiểu luận văn chương sau này.

Coetzee còn là một phiên dịch viên văn chương Hà Lan và tiếng Afrikaans sang tiếng Anh. Năm 2002, ông di cư sang Australia, sống với người vợ sau là Dorothy Driver ở Adelaide (miền nam nước Úc), nơi ông giữ một chức vụ danh dự tại Đại học Adelaide.

* Tác giả Chu Đình Kiên tổng hợp và dịch từ các trang web: - http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2003/coetzee-

bio.html

- https://en.wikipedia.org/wiki/J._M._Coetzee - https://donostiabookclub.blogspot.com/2017/12/notes-on-jm-coetzee.html ***

P.2

Phụ lục 2 Biên mục các tác phẩm của Coetzee

* Tiểu thuyết (Novels) 1. J.M.Coetzee (1974), Dusklands, Penguin Group USA. 2. J.M.Coetzee (1977), In the Heart of the Country, Harper & Row (US) Secker &

Warburg (UK), South Africa.

3. J.M.Coetzee (1980), Waiting for the Barbarians, Secker & Warburg, South

Africa.

4. J.M.Coetzee (1983), Life and Times of Michael K, Ravan Press (Johannesburg),

South Africa.

5. J.M.Coetzee (1986), Foe, Viking Press, South Africa. 6. J.M.Coetzee (1990), Age of iron, Secker & Warburg, South Africa. 7. J.M.Coetzee (1994), The Master of Petersburg, Secker & Warburg, South Africa. 8. J.M.Coetzee (1999), Disgrace, Secker & Warburg, South Africa. 9. J.M.Coetzee (1999), The Lives of Animals, Princeton University Press, United

States.

10. J.M.Coetzee (2003), Elizabeth Costello, Secker & Warburg, Australia. 11. J.M.Coetzee (2005), Slow man, Secker & Warburg, South Africa. 12. J.M.Coetzee (2007-2008), Diary of a Bad Year, Text Publishing, Australia. 13. J.M.Coetzee (2013), The Childhood of Jesus, Jonathan Cape; Viking Press (U.S.

edition), Australia.

13. J.M.Coetzee (2016), The Schooldays of Jesus, Harvill Secker (UK). (Đây là cuốn tiểu thuyết thứ 13, viết từ tiểu thuyết The Childhood of Jesus xuất bản

năm 2013).

* Hồi ký, tự truyện (Autobiography) 14. J.M.Coetzee (1997), Boyhood, Secker & Warburg, South Africa. 15. J.M.Coetzee (2002), Youth, Secker & Warburg, South Africa. 16. J.M.Coetzee (2009), Summertime, Harvill Secker (UK), South Africa. * Các phỏng vấn và thƣ từ về tiểu thuyết, văn chƣơng, văn hóa Nam Phi

(Criticism and letters)

17. J.M.Coetzee (1988), White writing, (số ISBN: 978090270006). 18. J.M.Coetzee (1992), Doubling the Point, (Phỏng vấn bởi David Attwell) (số

ISBN: 9780674215184).

19. J.M.Coetzee (1996), Giving Offense 20. J.M.Coetzee (2001), Stranger Shores

P.3

21. J.M.Coetzee (2007), Inner workings 22. J.M.Coetzee (2013), Here and Now, * Chuyển thể kịch bản (Adaptations) 23. Tiểu thuyết In the Heart of the Country chuyển thành kịch bản mang tên

Dust (film, 1985)

24. The Lives of Animals (TV film, 2002) 25. Waiting for the Barbarians (opera, 2006) 26. Disgrace (film, 2008) 27. Slow Man (opera, 2014)

P.4

Phụ lục 3 Bảng thống kê đặc điểm nhân vật đƣợc khảo sát trong luận án

Tác phẩm / Giới tính / Đặc điểm trần thuật/ năm xuất Nhân vật Chủng tộc Đặc điểm nhân vật Độ tuổi kiểu nhân vật bản

- Là người kể chuyện - Mắc bệnh hoang tưởng, khủng hoảng tinh

ngôi thứ nhất đồng sự thần. Mất mẹ khi còn nhỏ, sống với người cha Nữ / trung Magda Da trắng hạn định. nghiêm khắc, tàn độc. niên, già - Kiểu nhân vật già, bị - Bị giam hãm cả thể xác lẫn tinh thần trong

bỏ rơi, thù hận. ngôi nhà hình chữ H ở nông trang xa xôi.

- Cha ruột của Magda. Có kahr nghi chính cô

- Kiểu nhân vật ông đã bắn chết ông.

Bass Nam / già Da trắng chủ da trắng bóc lột - Tàn độc, khắc nghiệt, biểu tượng cho quyền Giữa miền

thời kì thực dân. lực của người đàn ông da trắng bóc lột, ngạo

mạn. đất ấy (1977)

- Người làm công/ nô lệ trong nông trang của Magda. - Hãm hiếp Magda để trả thù cha cô. Hendrik Da đen Nam/ trung niên - Kiểu nhân vật nô lệ đàn ông da đen bị bóc lột thời kì thực dân. - Thường trực cảm

thức báo thù.

Anna Da đen Nữ/ trung niên - Kiểu nhân vật phụ nữ nô lệ da đen bị bóc lột - Vợ của Hendrik, biểu tượng cho người phụ nữ da đen.

P.5

Tác phẩm / Giới tính / Đặc điểm trần thuật/ năm xuất Nhân vật Chủng tộc Đặc điểm nhân vật Độ tuổi kiểu nhân vật bản

cả thể xác lẫn tinh thần

thời kì thực dân.

- Người kể chuyện - Làm nhiệm vụ bảo vệ người dân ở thị trấn

ngôi thứ nhất đồng sự biên giới. Có lòng tốt, bảo vệ cô gái mọi khỏi

hạn định những trận tra tấn, đánh đập và trực tiếp đưa Vị Quan Nam/ Da trắng - Kiểu nhân vật đại cô trở về bộ tộc. tòa trung niên diện cho thể chế nhà - Làm việc trung thành cho Đế chế, khi bị

nước, quyền lực của phát hiện bảo vệ bọn mọi, ông bị tra tấn, đánh

“kẻ mạnh”. dập dã man.

- Bị khép tội cướp bóc, đốt phá vùng biên giới - Kiểu nhân phụ nữ nô nên cô cùng với bộ tộc của mình bị cảnh sát, Đợi bọn mọi (1980) lệ da đen bị bóc lột cả Cô gái mọi Nữ / thiếu Da đen rợ nữ

thể xác lẫn tinh thần thời kì thực dân. chính phủ bắt bớ, tra tấn. Là nhân vật dụ ngôn cho người phụ nữ da đen trong thời kì Apartheid.

Đại tá Joll Da trắng Nam / trung niên

- Kiểu nhân vật đại diện cho thể chế nhà nước, quyền lực của - Đại diện cho quyền lực, sức mạnh và phi lí Đế chế, chính phủ nhà nước. Thiếu úy Nam / Da trắng “kẻ mạnh”. Mandel trung niên

Michael K Da đen Nam / trung niên - Người kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn - K khiếm khuyết thể xác lẫn tâm hồn, sống nguyên thủy là cách để anh xa lánh xã hội Cuộc đời và thời đại

P.6

Tác phẩm / Giới tính / Đặc điểm trần thuật/ năm xuất Nhân vật Chủng tộc Đặc điểm nhân vật Độ tuổi kiểu nhân vật bản

trần thuật được đặt vào loài người. của

nhân vật Michael K. - Có tình yêu thương vô bờ bến đối với mẹ.

Michael K (1983) - Kiểu nhân vật khiếm

khuyết thể xác và trí

tuệ, sống theo bản

năng nguyên thủy tự

nhiên.

- Kiểu nhân vật phụ nữ - Là mẹ của Michael K, bị chết vì bệnh phù Anna K Nữ / già Da đen già, da đen, bệnh tật. thủng giai đoạn cuối.

- Người kể chuyện - Bị bệnh ung thư nặng. Có một người con gái

ngôi thứ nhất đồng sự duy nhất nhưng đã bỏ quê hương và sinh sống

Curren Nữ / già Da trắng

Tuổi sắt đá (1990) hạn định. - Kiểu nhân vật phụ nữ già, da trắng, bệnh tật, cô đơn, bị bỏ rơi. tại Mỹ từ 1976. - Là một trí thức da trắng sống trong hoàn cảnh chiến tranh, cuộc sống của bà có nhiều xáo trộn như người da đen.

Vercueil Nam / già Da đen Là người đàn ông vô gia cư, nghiện rượu… được Curren cưu mang trong những ngày cô - Kiểu nhân vật già, da đen, bị bỏ rơi, cô đơn. đơn cuối đời.

Nam / già (bảy mươi Da trắng - Người kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn - Giáo sư của trường Đại học Cape Town có đời sống tình dục cao. Sau khi bị kết tội quan Ruồng bỏ (1999) David Lurie hai tuổi) trần thuật được đặt vào hệ bất chính với sinh viên, ông bị đuổi khỏi

P.7

Tác phẩm / Giới tính / Đặc điểm trần thuật/ năm xuất Nhân vật Chủng tộc Đặc điểm nhân vật Độ tuổi kiểu nhân vật bản

nhân vật David. trường.

- Kiểu nhân vật già, da - Trở về nông trại của con gái, chứng kiến

trắng, trí thức, bị ruồng cảnh những người da đen đốt phá nhà cửa và

bỏ, cô đơn. hãm hiếp con gái mình, ông hoàn toàn bất

lực.

Con gái của David, sống một mình ở nông

- Kiểu nhân vật nữ, da trại. Sau khi bị những thanh niên da đen hãm Nữ / trung Lucy Da trắng trắng, bị cướp bóc thể hiếp, cô quyết định giữ lại cái thai và chuyển niên xác và tài sản. nhượng một phần đất đai cho Petrus để nhận

được sự bảo vệ.

- Là sinh viên của giáo sư David. Cô đại diện Melanie Nữ / thiếu - Kiểu nhân vật nữ da Da đen nữ đen bị hãm hiếp. cho người phụ nữ da đen nói chung trong xã hội.

Paul Người gốc - Người kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn trần thuật được đặt vào Paul vật nhân Là một nhiếp ảnh gia bị tại nạn xe đạp phải cắt bỏ một chân. Ông là kiểu nhân vật đại diện cho tầng lớp người già, bệnh tật, vô nghĩa. Thông qua nhân vật này, Coetzee đặt Nam / già Rayment Pháp Rayment. ra vấn đề y tế, sức khỏe của người già trở nên Ngƣời chậm (2005) cần thiết, nhất là trong xã hội hậu hiện đại.

- Kiểu nhân vật già, bị chấn thương thể xác,

bệnh tật, lưu vong.

P.8

Tác phẩm / Giới tính / Đặc điểm trần thuật/ năm xuất Nhân vật Chủng tộc Đặc điểm nhân vật Độ tuổi kiểu nhân vật bản

Nữ / luống Người gốc - Kiểu nhân vật nữ lưu Là người chăm sóc, giúp đỡ để Paul phục hồi Marijana tuổi Croatia vong sau vụ tai nạn.

Kiểu nhân vật hư cấu để tạo ra tiếng nói đối Nữ / già Elizabeth - Kiểu nhân vật nữ già, thoại về các vấn đề chính trị, xã hội, sức (trạc 60 Costello từng trải khỏe, kiểu con người thừa, lưu vọng, nghệ tuổi) thuật…

P.9

Phụ lục 4

Một số thông tin về quốc gia Nam Phi

1. Thủ đô: đây là quốc gia duy nhất trên thế giới có 3 thủ đô

- Thủ đô hành chính: Pretoria, nay đổi tên là Tshwane

- Thủ đô lập pháp: Cape Town

- Thủ đô tư pháp: Bloemfontein

2. Ngôn ngữ: Nam Phi tồn tại 11 ngôn ngữ chính thức

Afrikaans Tiếng Anh

L‟isindebele

Le sesotho sa Lebowa

Le sesotho

Le siswati (swati)

Le xitsonga

Le setswana

Le tshivenda

L'isixhosa (xhosa)

L'isizoulou (zoulou)

3. Tôn giáo:

- 80% dân số theo Thiên chúa giáo

- 20% dân số theo các đạo khác: Hindu, Hồi giáo, Do Thái giáo, Phật giáo, tôn

giáo truyền thống châu Phi

4. Cơ cấu chủng tộc: (theo thống kê vào năm 2016)

- 79,5% người Phi da đen

- 9% người da trắng - 9% người da màu

- 2,5% người gốc Á, Ấn Độ)

P.9

Phụ lục 5 Diễn văn giới thiệu giải Nobel Văn chƣơng 2003 (Per Wästberg, nhà văn, ủy viên Viện Hàn lâm Thụy Điển giới thiệu tác phẩm của J.M. Coetzee tại Lễ trao giải Nobel Văn học 2003)

Stockholm, 10/12/2003 “... bằng vô số dạng thức, khắc họa sự liên lụy đến là kỳ lạ của kẻ đứng

ngoài cuộc” - trích Thông báo giải Nobel. Tâu Hoàng thượng và Hoàng hậu, Kính thưa chư vị Hoàng gia, Kính thưa các vị đăng quang giải Nobel, Thưa quý bà, quý ông, Viết có nghĩa là đánh thức những tiếng nói phản tỉnh trong chính mình và dám đối thoại với những tiếng nói đó. Sự hấp dẫn hiểm nghèo của cái ngã nội tại, đó là chủ đề của John Coetzee: giác quan và thân thể những con người, cái phần sâu kín của châu Phi. “Hình dung cái không thể hình dung” là bổn phận của nhà văn. Là một nhà ngụ ngôn hậu hiện đại, Coetzee biết rõ rằng những tiểu thuyết nào không cầu mong bắt chước thực tại mới chính là những tiểu thuyết có khả năng thuyết phục mạnh mẽ nhất, rằng thực tại quả thật hiện hữu.

Coetzee nhìn thấu qua những bộ dạng tục tĩu và sự hào nhoáng giả dối của lịch sử, mang tiếng nói cho những kẻ buộc phải câm miệng, những người bị khinh miệt. Điềm tĩnh nhưng ương ngạnh, ông bảo vệ giá trị đạo đức của thơ ca, văn chương và tưởng tượng. Không có những cái đó, chúng ta tự bịt mắt mình và trở thành những kẻ quan liêu của tâm hồn.

Các nhân vật của John Coetzee tìm nơi nương náu ngoài lãnh giới của quyền lực. Life and Times of Michael K (Cuộc đời và thời đại của Michael K) mô tả giấc mơ của một cá nhân vượt ngoài cái cơ cấu đồng hiện hữu của cõi người. Michael K. là một con người trong trắng, nhìn thế giới từ một khoảng cách xa vô tận. Mặc dù phải hứng chịu bạo lực của chuyên quyền phân biệt chủng tộc, nhưng, bằng sự thụ động của mình, anh vẫn có một thứ tự do làm bẽ mặt cả chế độ apartheid lẫn lực lượng du kích, đơn giản vì anh không muốn bất cứ cái gì, dù chiến tranh hay cách mạng, quyền lực hay tiền bạc.

Waiting for the Barbarians (Đợi bọn mọi) là câu chuyện tình bức bối về [một kẻ] muốn sở hữu một người khác và lộn trái người đó từ trong ra ngoài như thể cô ta là một câu đố cần được giải. Bất cứ ai từng nhận ra mối đe dọa của chế độ toàn trị và cảm thấy nỗi khao khát sở hữu một người khác đều có thể học từ những ngụ ngôn đen của Coetzee. Với sự cụ thể tới cùng và nỗi tuyệt vọng được khép vào kỷ

P.10

luật ngôn từ (verbally disciplined desperation), ông giải quyết một trong những vấn nạn lớn của nhiều thời đại: thấu hiểu những động lực của sự bạo tàn, tra tấn và bất công.

Ai là kẻ viết, ai là kẻ nắm quyền lực bằng cách cầm bút trong tay? Thân phận người da đen liệu có thể được mô tả bởi một người da trắng không? Trong tiểu thuyết Foe (Kẻ thù), Thứ Sáu là một người châu Phi đã bị Defoe làm mất tính người. Ban cho Thứ Sáu quyền nói, ấy là thực dân hóa anh ta và tước đoạt nốt những gì còn lại từ tính toàn vẹn của anh ta. Cô gái trong Đợi bọn mọi nói một thứ tiếng không ai hiểu và bị tra tấn đến mù mắt; Michael bị sứt môi, còn Thứ Sáu bị cắt lưỡi. Cuộc đời anh ta được thuật lại bởi Susan Barton: nghĩa là, thông qua “văn của người da trắng”, như tựa đề một trong các tác phẩm của Coetzee.

Dù chúng ta cố gắng đến mức nào để nắm giữ Michael và Thứ Sáu, Coetzee đã khiến họ không thể bị vấy bẩn bởi sự diễn dịch. Họ vẫn im lặng. Nhưng giữa các dòng chữ, trong những gì không được nói ra, có một sự tinh cất cảm xúc vốn ít gặp trong văn chương đương đại.

Coetzee có lần đã nói: Huyền thoại về kẻ sống sót trên hoang đảo, đó là câu chuyện duy nhất có [trên đời này]. Một số tác phẩm của ông đề cập tới những nỗi cô đơn tương tự. Liệu có thể đứng ngoài lịch sử không? Liệu trên đời có thứ tự do thoát khỏi sự chuyên chế của quyền lực không? Trong tiểu thuyết đầu tay của Coetzee, Dusklands (Miền đất hoàng hôn), nhân vật Jacobus Coetzee nói: “Tôi không ưa bọn tòng phạm. Lạy Chúa, hãy cho tôi ở một mình”; anh ta lấy làm mừng khi bị bỏ rơi. Nhưng anh ta vẫn là công cụ của lịch sử, và cái buộc những người bản địa phải coi trọng anh ta là cái bạo lực ưu thắng của anh ta. Tuy nhiên, anh ta vẫn tự hỏi liệu những người da đen có đang sống trong một thế giới tốt đẹp giống với tưởng tượng của anh ta không: “Có lẽ ta đã giết chết một cái gì đó vô giá”.

Tác phẩm của Coetzee như một sợi dây kéo căng qua khung cảnh một nước Nam Phi thù địch. Bà Curren trong Age of Iron (Tuổi sắt đá) đã chứng kiến những hành vi khủng khiếp nhưng không thể buộc tội chúng bằng lời của kẻ khác. Ngay bản thân Coetzee cũng không thể ký những kháng thư hoặc tham gia các cuộc vận động chính trị.

Trong cuốn tiểu thuyết phản không tưởng Disgrace (Ruồng bỏ), David Lurie không đạt nổi tới tính sáng tạo và tự do chừng nào anh ta chưa bị tước bỏ toàn bộ phẩm giá, khốn khổ vì nỗi hổ thẹn của chính mình và nỗi điếm nhục của lịch sử. Trong tác phẩm này, Coetzee tổng kết các chủ đề của ông: chủng tộc và giới tính, sở hữu và bạo lực, sự đồng lõa về đạo đức và chính trị của tất cả mọi người trên cái ranh giới nơi những thứ ngôn ngữ của giải phóng và hòa giải hoàn toàn không có ý nghĩa gì.

P.11

Mỗi cuốn sách mới của Coetzee đều khác với những tác phẩm trước đó của ông một cách đáng kinh ngạc. Ông xâm nhập vào những không gian “trắng” (uninhabited spaces) của độc giả. Trong các tiểu sử tự thuật, ông phá hủy không thương tiếc những tự thể trước đó của mình. Trong tiểu luận, tiểu thuyết Elizabeth Costello, với sự hài hước và mai mỉa bất kham, ông kết hợp văn tự sự đương đại và huyền thoại, triết học và những chuyện tầm phào. Thưa ngài John Coetzee kính mến! Tác phẩm của ngài giới hạn về số chữ nhưng phạm vi thì vô hạn. Những gì tôi đã nói bằng tiếng Thụy Điển với mọi người có mặt ở đây thì lại tốn quá nhiều lời: “Đừng nghe tôi, hãy về nhà mà đọc; một số hình ảnh sẽ ở lại cùng bạn mãi mãi”.

Trong đời thực, ngài vừa mới di chuyển dọc theo đường vĩ tuyến nối liền Cape Town và Adelaide. Ngài có thể đã rời Nam Phi; nhưng Nam Phi khó lòng rời bỏ ngài. Với Viện Hàn lâm Thụy Điển, cội rễ dân tộc không quan trọng; chúng tôi không thừa nhận cái mà ở châu Âu thường được gọi là ngoại biên trong văn chương.

Tự thân ngài là Sự thật và Ủy ban Hòa Giải, bắt đầu từ những lời căn bản nhất cho những vấn đề sâu xa nhất của chúng ta. Ngài đã đào sâu xuống mảnh đất của thân phận con người với sự tàn bạo và nỗi cô đơn của nó, khiến chúng tôi sửng sốt và cảm thấy bất an. Ngài đã lên tiếng cho những kẻ nằm ngoài cái tôn ti trật tự của kẻ mạnh. Với sự trung thực trí thức và cảm xúc đậm đặc, bằng một thứ văn xuôi chính xác đến lạnh lùng, ngài đã lột mặt nạ nền văn minh của chúng ta, làm phơi bày bộ dạng của cái ác.

Thay mặt Viện Hàn lâm Thụy Điển, tôi xin nhiệt liệt chúc mừng ngài và kính

mời ngài lên nhận Giải Nobel Văn chương năm nay từ tay Hoàng thượng.

Trần Tiễn Cao Đăng chuyển ngữ (nguồn : http://nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2003/presentation- speech.html)

P.12

Phụ lục 6 Nữ nhà báo Michelle Faul, Trƣởng văn phòng châu Phi của hãng thông tấn AP kể lại câu chuyện kinh hoàng về chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi

(Nữ nhà báo Michelle Faul (ngoài cùng bên phải) cùng mẹ và các em lúc còn nhỏ) Đó là vào thập niên 1960, mẹ tôi và 3 chị em tôi là những người lai da đen sống ở Zimbabwe (hồi đó có tên gọi là Rhodesia). Một hôm bà quyết định đưa cả 3 chị em tôi tới thăm họ hàng ở Nam Phi, đất nước khét tiếng với chế độ phân biệt chủng tộc apartheid trong thời kỳ đó.

Mặc dù ở Rhodesia cũng có tình trạng phân biệt chủng tộc, nhưng không ở đâu mà nạn phân biệt màu da lại khủng khiếp và được thừa nhận công khai bằng luật pháp và quy định như ở Nam Phi, nơi những người da đen bị coi là những con người hạ đẳng, thậm chí không được coi là con người.

Mẹ tôi quyết định tự mình lái xe đến Nam Phi, vì hồi đó việc đi tàu hỏa của một bà mẹ đơn thân cùng 3 đứa con và rất nhiều hành lý lỉnh kỉnh là rất khó khăn.

P.13

Ngoài ra việc đi tàu cũng rất bất tiện đối với người da đen, bởi khi đi đến nửa đường, chúng tôi sẽ phải chuyển sang một đoàn tàu chỉ dành riêng cho người da đen của Nam Phi.

Hành trình lái xe từ Rhodesia tới Nam Phi cũng sẽ vô cùng gian nan, bởi chúng tôi sẽ phải đi liên tục suốt nhiều giờ không nghỉ bởi các nhà trọ và khách sạn chỉ phục vụ người da trắng. Mẹ tôi cũng phải mang theo rất nhiều đồ ăn, nước uống vì bà không chấp nhận việc phải vào các nhà hàng bằng cửa sau, còn cửa trước chỉ dành riêng cho người da trắng.

Khi chúng tôi dừng lại tại một trạm xăng, người chủ ở đó đã kiên quyết không đưa chìa khóa nhà vệ sinh cho chúng tôi, với lý do rằng nhà vệ sinh công cộng đó chỉ dành cho người da trắng. Quá tức giận và bất mãn, mẹ đã ra lệnh cho 3 đứa trẻ chúng tôi tè một cách công khai ngay trước trạm xăng. Chúng tôi đã sợ hãi khóc òa nhưng vẫn phải làm theo mệnh lệnh của mẹ.

Trong những ngày đó, người ta không gọi là “người da đen” hay “người da trắng” như ngày nay. Ở Nam Phi, người da đen được gọi là “người Phi”, còn chúng tôi được gọi là “da mầu” để chỉ sắc tộc lai, còn người da trắng được gọi là “người Âu”.

Tuy nhiên ranh giới này nhiều khi không được phân biệt rõ ràng. Nam Phi có một hệ thống xác định chủng tộc rất điên rồ, trong đó họ có những biện pháp phân biệt “người Phi” hay “người Âu” rất quái gở. Chẳng hạn như nếu “hình lưỡi liềm” trên móng tay bạn ngả sang màu tím chứ không phải màu trắng, điều đó có nghĩa bạn là “người Phi”.

Ngoài ra họ còn có một phép thử để xác định chủng tộc, đó là đặt một chiếc bút chì lên trên tóc. Nếu chiếc bút chì bị giữ lại, chứng tỏ bạn thuộc chủng tộc da đen tóc xoăn, còn nếu chiếc bút chì trượt xuống, bạn có thể được coi là người da trắng.

Dưới những quy định quái gở này của chế độ apartheid, người Trung Quốc bị coi là “da mầu” mặc dù họ có tóc thẳng, trong khi đó người Nhật Bản lại được coi là da trắng.

Những người da đen muốn được xác định là “da mầu” cũng phải trải qua bài kiểm tra bút chì này: Nếu chiếc bút chì rơi ra khi bạn lắc lắc đầu, bạn có thể trở thành người da mầu.

Hàng chục ngàn người đã thay đổi chủng tộc của mình theo cách này. Đôi khi việc thay đổi chủng tộc này không phải là tự nguyện, và nó dẫn tới bi kịch gia đình ly tán nếu một người được coi là không cùng chủng tộc với các thành viên khác trong gia đình. Trong thời kỳ đó, nhiều anh em, bố mẹ, con cái đã bị chia cắt chỉ vì có màu tóc khác nhau.

P.14

Tôi nhớ mãi nỗi đau mà gia đình tôi từng phải chịu đựng khi một người dì của tôi được coi là “người da trắng”. Người bà của tôi đã nhớ lại giây phút đứa con gái do mình dứt ruột đẻ ra lạnh lùng bước qua mặt bà ở trên phố và giả vờ như không quen biết bà. Nhưng bà vẫn bảo với tôi với nỗi đau hằn sâu trong đáy mắt: “Đó là những gì dì ấy phải làm để có cuộc sống tốt đẹp hơn cho dì ấy và con cái.”

Là người da trắng, bạn sẽ được chăm sóc y tế tốt hơn, con cái bạn được phép

tới trước, và bạn có thể sống bất cứ nơi nào mình muốn.

Trong khi đó, người da đen bị dồn vào các khu ổ chuột trong thành phố nếu họ có thể kiếm được việc làm ở đây. Nếu không có việc làm, những chiếc lều lụp xụp của họ sẽ bị xe ủi san bằng, và họ sẽ bị cưỡng chế trở về quê. Đó chính là cốt lõi của chính sách apartheid, hay còn gọi là “sự phân biệt”.

Tấm biển đề phòng người da đen của chính quyền apartheid Nam Phi Những gì khiến tôi nhớ nhất chính là sự ti tiện đến ngu xuẩn của chế độ apartheid hơn là những biện pháp bạo lực dã man mà nhà nước Nam Phi áp dụng để duy trì chính sách đó.

Nếu bạn là người da trắng, bạn có thể xin được những việc làm mà người da đen không bao giờ mơ tới được. Những nghề “cao quý” nhất mà người da đen có thể làm là giáo viên (giống như mẹ tôi), y tá và bác sĩ chuyên điều trị cho người da đen, ngoài ra còn có nghề luật sư, nghề đã được Mandela lựa chọn với niềm tin rằng ông có thể dùng lý lẽ và tranh luận để chấm dứt chế độ apartheid.

Sau khi mẹ tôi kết hôn với một người da trắng, chúng tôi chuyển tới Anh. Tôi vẫn nhớ mãi chuyến tàu cập cảng Southampton. Trên chuyến tàu tới London, khi nhìn thấy những người da trắng làm công việc tay chân bình thường, tôi đã thốt lên với mẹ: “Mẹ nhìn những người Âu đang nhặt rác kìa!” Đó quả là một bất ngờ quá lớn đối với tôi.

P.15

Nhiều năm sau, khi trở lại Nam Phi với tấm hộ chiếu Anh, tôi được coi là một “người da trắng danh dự”, đồng nghĩa với việc tôi được ở trong khách sạn dành cho người da trắng, ăn trong nhà hàng của người da trắng, vào rạp chiếu phim và những địa điểm khác dành riêng cho người da trắng khi xuất trình cuốn hộ chiếu này. Tuy nhiên tôi vẫn không được phép đặt chân tới các bãi biển phân biệt chủng tộc.

Lần đầu tiên trong đời tôi phát hiện ra rằng Johannesburg không chỉ là những khu ổ chuột bẩn thỉu, trơ trọi với những mái nhà lụp xụp chật chội, mà ở đó còn có những khu vực xanh tươi dành cho người da trắng với những con đường lát gạch và vỉa hè sạch sẽ, những ngôi nhà cùng mảnh vườn tươi tốt, những hồ bơi và sân tennis sang trọng.

Những người da đen làm việc trong các cơ ngơi này phải được phép sống trong các “khu đầy tớ” ở cuối vườn, và giấy phép này phải được gắn vào cuốn “sổ thông hành” đầy tính kỳ thị chủng tộc. Nếu không có cuốn sổ này, họ sẽ phải rời khỏi khu dành cho người da trắng trước khi màn đêm buông xuống.

Về giáo dục, chính quyền phân biệt chủng tộc ở Nam Phi đã thông qua một điều luật tuyên bố ngôn ngữ Afrikaans có nguồn gốc từ tiếng Hà Lan là ngôn ngữ “tối thượng” ở đất nước này và ép buộc học sinh, sinh viên phải sử dụng nó thay cho tiếng Anh.

Phong trào phản đối “ngôn ngữ của kẻ áp bức” này đã dẫn đến cuộc nổi dậy năm 1976 ở Soweto, nơi cảnh sát Nam Phi đã nổ súng vào 15.000 sinh viên đang diễu hành hòa bình. Hình ảnh về sự dã man của chính quyền Nam Phi này đã được lan truyền trên khắp thế giới, tạo ra một bước ngoặt lịch sử dẫn tới sự sụp đổ của chế độ apartheid, mở ra thời kỳ hòa hợp dân tộc dưới sự dẫn dắt của nhà lãnh đạo Nelson Mandela.

Khi chế độ phân biệt chủng tộc đầy man rợ và tàn bạo đó sụp đổ, chúng tôi đều rất băn khoăn trước chính sách hòa hợp dân tộc và không trả thù người da trắng của Mandela. Khi người anh hùng dân tộc của Nam Phi này ra đi, chúng tôi có thể tự hào rằng mình đã thực hiện đúng tôn chỉ mà nhà lãnh đạo vĩ đại này đã đề ra, đó là “tha thứ nhưng không quên lãng”.

(nguồn:http://khampha.vn/tin-quoc-te/su-tan-bao-cua-che-do-apartheid-o-

nam-phi-c5a147863.html, ngày truy cập:10/12/2013)

P.16

Phục lục 7 Bức ảnh gây sốc về chế độ Apartheid

Một bức ảnh được chụp trong cuộc biểu tình năm 1976 của các học sinh tại Soweto, Johannesburg (Nam Phi) không chỉ khiến số phận của 3 con người thay đổi mà còn bóc trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid với cả thế giới. Năm 1976, chính phủ Nam Phi ra quyết định tất cả học sinh da màu tại nước này chỉ được dạy bằng tiếng Afrikaans và tiếng Anh. Đối với cô bé 15 tuổi Antoinette Sithole, đó là thông tin gây choáng váng bởi Afrikaans là thứ tiếng có nguồn gốc từ thực dân Hà Lan tại Nam Phi.

Do vậy, Sithole và 20.000 học sinh khác tại các trường trung học ở Soweto đã bí mật lên kế hoạch biểu tình. Các em viết biểu ngữ, tập các bài hát về tự do. Về nhà, Sithole háo hức là phẳng phiu bộ đồng phục, nhét các áp phích vào cặp. Còn cậu em trai 13 tuổi Hector Pieterson nhìn chị gái với vẻ ghen tị bởi các học sinh nhỏ tuổi hơn không được tham gia. Vào sáng sớm lạnh lẽo và u ám ngày 16/6/1976, Sithole đến địa điểm hẹn trước để tham gia cuộc biểu tình.

Mặc dù được lên kế hoạch bí mật nhưng thông tin về sự kiện này vẫn bị rò rỉ tới báo giới. Sam Nzima, phóng viên ảnh 42 tuổi của tờ The World được cử đến địa điểm để đưa tin. Nzima được nhận vào The World tại Johannesburg vào năm 1968 do đây là tờ báo của người da màu, viết bởi người da màu và phát hành cho người da màu. Các phóng viên của The World chỉ được phỏng vấn người da màu và bị cấm đưa tin về người da trắng.

Bức ảnh nổi tiếng về vụ việc tại Soweto.

P.17

Nzima đến Soweto từ khoảng 6 giờ sáng, khi đó các học sinh đã chuẩn bị sẵn sàng. Ngay từ đầu, Nzima linh tính về điều không hay sẽ xảy ra. Hầu hết các học sinh còn quá non nớt. Nzima từng chứng kiến nhiều lần cảnh sát của chế độ Apartheid ra tay và anh biết rằng các học sinh sẽ bị bắt hoặc sát hại bởi khi đó chưa có súng bắn đạn cao su mà cảnh sát chỉ dùng đạn thật.

Vài giờ sau, hàng nghìn học sinh tràn đến Soweto. Đột nhiên, có tiếng nổ và khí ga ngập ngụa đường phố. Cảnh sát ùa ra các nẻo đường, ập vào nhà người dân. Đôi mắt của Sithole bỏng rát. Từ nơi ẩn náu, cô nhìn thấy cậu em trai Hector ở bên kia đường. Sithole vẫy tay, hét lên yêu cầu cậu bé đứng yên tại chỗ.

Nzima khi đó đứng ở khu vực giữa hai phe và quan sát thấy những nhân viên an ninh da trắng đã nổ súng vào đám đông học sinh. Rồi Nzima thấy một cậu bé ngã xuống trong làn đạn.

Về phần Sithole, cô đã lạc mất em trai. Bỗng Sithole nhìn thấy một thanh niên chạy qua, trên tay anh ta là cậu bé bị trúng đạn đã ngất lịm. Sithole nhận ra đôi giày quen thuộc của cậu em trai bé nhỏ. Cảm thấy bất an, Sithole tuyệt vọng đuổi theo người thanh niên lạ mặt và nhận thấy trên mặt em trai Hector có vết máu. Một chiếc xe ô tô dừng lại giúp đưa Hector đến trạm xá gần nhất nhưng mọi việc đã quá muộn, cậu bé đã trút hơi thở cuối cùng.

Hai năm sau Sithole mới biết tên chàng trai đã cố gắng cứu giúp Hector, đó là Mbuyisa Makhubo (18 tuổi). Mbuyisa đã tốt nghiệp và không tham gia cuộc biểu tình nhưng anh cũng biết về sự kiện này qua bạn bè. Vụ nổ súng xảy ra khi Mbuyisa đang ở nhà và anh liền lao ra ngoài để giúp đỡ.

Từ thời điểm cảnh sát da trắng nổ súng cho tới khi Hector được đưa lên xe, Nzima đã chụp được 6 bức ảnh. Nzima biết cảnh sát đã chú ý do vậy phóng viên ảnh này nhanh trí giấu cuộn phim vào tất rồi thay thế một cuộn phim mới vào máy ảnh. Đúng như Nzima linh tính, cảnh sát đã bắt anh phải mở máy ảnh, trình mọi cuộn phim rồi phá hủy chúng.

Khi phim được rửa thành ảnh, đã có tranh cãi xảy ra trong ban biên tập của The World về việc có nên đăng bức ảnh hay không. Trong bức ảnh là Mbuyisa với gương mặt xót xa, trên tay bế cậu bé Hector đang đẫm máu, bên cạnh họ là Sithole đầy đau khổ.

Nzima nhớ lại rằng một biên tập viên lo lắng nói: “Nếu chúng ta dùng bức ảnh này, nội chiến có thể bùng phát tại Nam Phi”. Nhưng những người khác lại khẳng định không có từ ngữ nào chân thực hơn bức ảnh này để miêu tả về tình hình ở Soweto. Trẻ em đã bị cảnh sát chế độ Apartheid sát hại. Cuối cùng ban biên tập The World quyết định đăng bức ảnh. Đã có khoảng 170 người thiệt mạng trong vụ cảnh sát nổ súng vào học sinh tại Soweto.

P.18

Không lâu sau, bức ảnh của Nzima đã xuất hiện trên trang nhất của các tờ báo từ New York tới Moskva. Thế giới nhận ra bộ mặt thật của chế độ Apartheid. Chính phủ Mỹ liền chỉ trích vụ nổ súng vào học sinh ở Soweto trong khi các nhà hoạt động trên khắp thế giới kêu gọi trừng phạt kinh tế, phản đối chế độ Apartheid ở Nam Phi. Vụ biểu tình ở Soweto đã gieo hạt giống dân chủ tại Nam Phi bởi sau đó những cuộc trấn áp của người da trắng cầm quyền với phong trào biểu tình của người da màu đã gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ. Năm 1994, chế độ Apartheid sụp đổ, cuộc tổng tuyển cử đa chủng tộc của Nam Phi đã chọn ra chính trị gia kiệt xuất Nelson Mandela làm tổng thống da màu đầu tiên của nước này.

Sau này Sithole hồi tưởng lại: “Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng đó sẽ là cột mốc thay đổi. Cuộc biểu tình có mục đích phản đối việc dùng tiếng Afrikaans trong trường học nhưng nó đã khiến nhiều nước khác phải „nhíu mày‟ bởi làm thế nào mà một đứa trẻ lại bị giết vì đòi quyền lợi của mình?”.

Sau khi bức ảnh gây “bão‟ trong cộng đồng quốc tế, số phận của Nzima, Sithole và Makhubo có những thay đổi mang tính bước ngoặt. Nzima bị cảnh sát gây khó dễ, họ còn ra mệnh lệnh: “Bất cứ lúc nào phát hiện Nzima chụp ảnh hãy bắn anh ta, giết anh ta”. Nzima ngay lập tức nghỉ việc và phải chạy trốn về quê nhà ở Lillydale. Anh không bao giờ chụp ảnh nữa. Chính phủ của chế độ Apartheid 2 năm sau đó ra lệnh đóng cửa tờ báo The World và khám xét tòa soạn này.

Còn Mbuyisa thì rối bời và buồn bã về cái chết của cậu bé Hector. Sau này, cảnh sát còn buộc tội Mbuyisa sắp đặt cho bức ảnh để “bôi nhọ” chính phủ. Mbuyisa chìm sâu vào trầm cảm rồi bỏ nhà ra đi. Lần cuối cùng gia đình Mbuyisa nghe về anh là vào năm 1978 khi anh gửi một bức thư từ Nigeria cho biết đang lên kế hoạch đi bộ tới Jamaica.

Hàng năm, Nzima vẫn gặp gỡ với những học sinh Nam Phi để kể lại cho các em về vụ việc ở Soweto. Còn Sithole giúp đỡ thành lập và vận hành bảo tàng Hector Pieterson. Đến nay, cả Nzima và Sithole đều cảm thấy day dứt về sự biến mất của Mbuyisa.

(nguồn:https://baotintuc.vn/ho-so/buc-anh-gay-soc-ve-che-do-apartheid- 20161011215431076.htm, ngày truy cập: 12/10/2016)

P.19

Phụ lục 8 Những hình ảnh về chế độ Apartheid ở Nam Phi năm 1978 do nhiếp ảnh gia Iran A. Abbas thực hiện

Bà vú người da đen hộ tống bé gái da trắng đến trường ở ngoại ô thủ đô Pretoria. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

P.20

Trong một trung tâm giam giữ gần Pretoria, nơi có khoảng 5.000 tù nhân da đen và 290 cai ngục da trắng. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Những người phục vụ da đen cắt cỏ và chơi đùa với đứa trẻ của ông chủ da trắng tại một nông trại ở thị trấn Mooi River. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

P.21

Nhân công da đen bên ông chủ da trắng tại trang trại cừu ở thị trấn Mooi River. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Các căn nhà tạm bợ của người da đen ở khu ổ chuột Crossroads, thành phố Cape Town, Nam Phi năm 1978. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

P.22

Người nông dân da đen trên đồn điền ngày mùa của người da trắng gần thành phố Durban. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

Giáo sư Tobia, người đứng đầu Khoa Giải phẫu học của Đại học Wits ở Johannesburg bên bộ sưu tập da mặt do ông lột từ những người Nam Phi bản địa. Ảnh: A. Abbas/ Magnum Photos.

P.23

Sĩ quan da trắng hướng dẫn học viên gốc Ấn của “Tiểu đoàn Ấn Độ” trong buổi huấn luyện quân sự ở thành phố Durban, nơi tập trung nhiều người Ấn Độ ở Nam Phi. Dưới chế độ Apartheid, người Ấn bị xếp vào hạng “không phải da trắng” và chịu nhiều phân biệt đối xử.

P.24

Phụ lục 9 Phân biệt chủng tộc tại Nam Phi đƣợc ghi lại bằng drone (nguồn: https://news.zing.vn/phan-biet-chung-toc-tai-nam-phi-duoc-ghi-lai-bang- drone-post659515.html, ngày truy cập 21/6/2016)

Nhiếp ảnh gia Johnny Miller bằng chiếc flycam (drone) của mình quyết định

ghi lại những hình ảm mang đậm tính phân biệt chủng tộc ở Nam Phi từ trên cao.

Gần 50 năm qua, phân biệt chủng tộc vẫn tồn tại ở Nam Phi. Chủ nghĩa Apartheid

vẫn len lỏi vào cuộc sống nơi đây. Từ việc quy hoạch cơ sở hạ tầng, đường xá, sông ngòi và những cánh đồng có chức năng như những “vùng đệm” để phân biệt định

ranh giới giữa khu vực người da trắng và da màu.

Sự khác biệt giữa khu nghỉ dưỡng Strand và thị trấn Nomzamo, Cape Town, Nam Phi. “Thành phố thể hiện sự bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc nhất thế giới”.

P.25

Hình ảnh ở khu Sweet Home, Cape Town, Nam Phi. Theo báo cáo của Global Perspectives, đây là khu vực có tỷ lệ thất nghiệp lên tới 70%.

Ngoại ô Masiphumelele và khu biệt thự hồ Michelle, Cape Town.

Với sức ép từ chính quyền, nhiều người dân bản địa buộc phải rời xa quê

hương sống trong những khu nhà ổ chuột nhường chỗ cho người da trắng giàu có.

P.26

Dù việc kỳ thị màu da không còn hợp pháp trên đất nước này, nhưng số phận của nhiều người dân vẫn còn gắn chặt với các khu nhà bằng mái tôn, trong những khu vực khô cằn cát sỏi, cách xa thành phố.

Khu nhà trái phép Imizamo ở vịnh Hout, Cape Town bên cạnh khu phố trên bờ biển Đại Tây Dương, gần núi Table - khu vực trung tâm được mặc định thuộc quyền sở hữu của nhóm người da trắng giàu có.

P.27

Sân Golf Papwa Sewgolum ở Durban, Nam Phi. Nhiếp ảnh gia chia sẻ: “Đôi khi có những cộng đồng người nghèo, bằng cách này hay cách khác, tồn tại ngay giữa khu vực của những người giàu”.

Ở Nam Phi, việc dùng thiết bị bay tự lái được xem là hợp pháp nếu nó không sử dụng cho mục đích thương mại.

P.28

Những bức hình sau khi được chia sẻ tới hàng trăm ngàn người trên khắp thế giới, đã làm dấy lên một làn sóng phản ứng dữ dội về phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng xã hội.

Con người thường sợ hãi những thứ mình không biết. Họ sợ những người nói tiếng nói khác họ, có màu da khác họ, sống trong nền văn hóa khác họ. Miller cho rằng nỗi sợ này hình thành dựa trên các yếu tố hoàn cảnh và lịch sử. Tuy nhiên, mọi việc đang dần thay đổi từng ngày.

P.29

Phụ lục 10 Bài diễn từ của John Maxwell (J.M.) Coetzee tại buổi Lễ trao giải thƣởng Nobel 2003 tổ chức tại Stockholm, Thụy Điển

Ông chủ và gã hầu Coetzee, J.M. “Nhưng hãy trở lại với gã đồng hành mới của tôi. Tôi thích gã biết bao, và đã dày công dạy gã tất cả những điều cần thiết để gã trở thành một người hữu dụng và khéo léo, nhất là để gã có thể nói chuyện với tôi và hiểu tôi. Gã là tên học trò sáng dạ nhất trên đời.”

Daniel Defoe, Robinson Crusoe Boston là một thị trấn đẹp bên bờ biển Lincolnshire, gã hầu của chàng viết. Ở đây có tháp chuông nhà thờ cao nhất nước Anh, dân hoa tiêu thường lấy đó làm mốc dẫn đường cho tàu thuyền. Quanh thị trấn là một vùng đầm lầy, vạc nhiều vô kể. Đó là một loài hung điểu, chúng thường cất tiếng kêu nặng nề, trầm thống, vang rền như tiếng vọng một khẩu súng, đến nỗi cách xa hai dặm còn nghe thấy.

Vùng đầm lầy này còn là nơi cư ngụ của nhiều loài chim khác, gã hầu của chàng viết, nào là vịt trời, mòng két, vịt trời Bắc Cực. Và để bắt lũ chim này, những người dân vùng đầm lầy (thường gọi là Fen-men) nuôi và thuần hóa những con vịt mà họ gọi là vịt mồi.

Fens là những dải đầm lầy dài. Những dải đầm lầy như vậy có ở khắp mọi nơi, châu Âu và thế giới, nhưng ở những nơi khác chúng không được gọi là Fens. Fen là một từ tiếng Anh, một từ không di cư.

Những con vịt mồi vùng Lincolnshire đó được nuôi trong những ao riêng, gã hầu của chàng viết. Người ta thuần hóa chúng bằng cách tự tay cho chúng ăn. Rồi khi mùa tới chúng được gửi ra nước ngoài, đến Hà Lan và Đức. Ở đó chúng gặp những con chim khác cùng loài, và khi chứng kiến cảnh lũ chim Hà Lan và Đức kia sống khốn khổ thế nào bởi những dòng sông xứ đó đóng băng vào mùa đông còn đồng ruộng thì bị tuyết phủ dày, chúng bèn mách bảo đám đồng loại đáng thương kia - bằng một thứ ngôn ngữ mà bọn kia có thể hiểu - rằng ở nước Anh quê chúng, mọi sự đều khác: vịt nước Anh sống ở những bờ biển ê hề thức ăn, thủy triều thoải mái ùa vào vào các dòng sông; có hồ, có suối, có cả ao lộ thiên lẫn ao có mái che; lại có những thửa ruộng đầy ắp lúa mì mà những người mót lúa để lại; và không hề có băng tuyết, có chăng thì chỉ rất ít.

Bằng cách mời chào ấy - được diễn đạt bằng ngôn ngữ của loài vịt - những con vịt mồi đã dụ dỗ được cơ man nào là bọn chim này và bắt cóc chúng, nếu có thể nói vậy, gã hầu của chàng viết. Chúng đưa lũ chim từ Hà Lan và Đức băng qua

P.30

biển, về Anh, về những cái ao ở vùng đầm lầy Lincolnshire. Dọc đường chúng vẫn không thôi quàng quạc và cạp cạp với bọn kia bằng ngôn ngữ của loài vịt rằng đấy chính là những cái ao mà chúng đã kể, rằng ở đây từ rày về sau, bọn kia sẽ được sống yên bình.

Và trong khi chúng đang bận rộn với lũ chim mới đến thì những người dân đầm lầy, chủ của những con vịt mồi kia, liền rón rén lại gần những chỗ nấp dựng bằng sậy trên đầm lầy rồi bí mật vãi từng vốc lúa mì lên mặt nước; lũ vịt mồi liền sà xuống những hạt lúa nọ, kéo theo sau cả bầy khách phương xa. Cứ thế suốt hai ba ngày liền, chúng vừa không thôi mời gọi rằng ở nước Anh người ta sống thoải mái đến nhường nào, vừa dẫn đám khách vào những lối đi ngày mỗi hẹp, mỗi lúc một gần tới chỗ người ta đã giăng lưới sẵn.

Thế rồi chủ những con vịt mồi liền thả chó ra, bọn chó này đã được huấn luyện tuyệt hảo để bơi đuổi theo lũ chim, vừa bơi vừa sủa. Hoảng hốt đến cùng cực bởi cái sinh vật khủng khiếp này, lũ chim chực bay lên, nhưng lưới giăng kín ở bên trên buộc chúng phải sà xuống nước, thế là chúng buộc phải bơi dưới tấm lưới nếu không muốn bỏ mạng. Nhưng lưới càng lúc càng thít chặt như một cái túi, và bọn chủ vịt mồi đã chực sẵn ở miệng túi để túm cổ lôi ra từng con một. Bọn vịt mồi được vuốt ve khen ngợi. Còn những vị khách của chúng thì bị người ta đập chết ngay tại chỗ, vặt lông đem bán hàng trăm con, thậm chí hàng ngàn con.

Tất cả những sự kiện này về Lincolnshire đã được gã hầu của chàng chép lại bằng nét chữ rõ, nhanh, với những ngòi bút mà gã vót mỗi ngày bằng chiếc dao nhỏ trước khi sang trang mới.

Ở Halifax - gã hầu của chàng viết - có một dụng cụ hành hình mà tới thời Vua James mới bị dẹp bỏ; nó vận hành như thế này: người ta kê đầu kẻ bị kết án lên chiếc đà ngang hay cái lỗ máy chém; sau đó đao phủ bật cái chốt giữ thanh dao nặng. Thanh dao trượt xuống dọc theo một cái khung cao bằng cánh cửa nhà thờ và cứa đứt đầu kẻ kia, gọn như dao của anh hàng thịt.

Nhưng ở Halifax người ta đồn rằng nếu từ lúc cái chốt bật ra cho đến lúc thanh dao rơi xuống mà kẻ bị kết án có thể bật dậy chạy xuống đồi, bơi qua sông mà đao phủ không bắt lại kịp, gã sẽ được tha mạng. Nhưng suốt ngần ấy năm cỗ máy đứng lù lù ở Halifax, điều đó chưa bao giờ xảy ra.

Chàng (lúc này không phải gã hầu của chàng mà chính chàng) đang ngồi trong căn phòng của mình bên cảng Bristol và đọc những điều trên. Chàng đã già đi, hầu như có thể nói giờ đây chàng đã là một ông già. Da mặt chàng, vốn gần như đen sạm vì mặt trời nhiệt đới trước khi chàng làm một chiếc ô bằng lá cọ hay lá palmetto để che nắng, nay đã nhợt nhạt hơn nhưng vẫn còn rám nâu như giấy da thuộc; trên mũi chàng có một vết bỏng vì nắng chẳng bao giờ lành.

P.31

Chiếc ô vẫn còn đó trong phòng chàng, dựng ở một góc, nhưng con vẹt đã về đây cùng chàng thì không còn nữa. Robin tội nghiệp! Nó thường đậu trên vai chàng và kêu toáng lên, Robinson Crusoe tội nghiệp! Ai sẽ cứu chàng Robin tội nghiệp? Vợ chàng chịu không thấu lời than van của con vẹt từ sáng đến tối: Robin tội nghiệp. Em sẽ vặn cổ nó, nàng nói, nhưng nàng không đủ can đảm để làm vậy.

Khi trở về Anh quốc từ hòn đảo của chàng cùng con vẹt, chiếc ô và cái hòm đầy châu báu, có một dạo chàng sống cuộc đời bình lặng với người vợ cũ ở cơ ngơi chàng mua tại Huntington bởi chàng đã thành người giàu có, lại càng giàu hơn sau khi cho in cuốn sách kể lại những cuộc phiêu lưu của chàng. Song những năm tháng sống trên đảo, sau đó là những năm chu du cùng với gã hầu của chàng là Thứ Sáu (Thứ Sáu tội nghiệp, chàng tự than vãn, quạc quạc, vì con vẹt chẳng bao giờ muốn kêu tên Thứ Sáu, nó chỉ kêu tên của chàng) đã khiến chàng cảm thấy cuộc sống của một địa chủ thật buồn tẻ. Và, nói thật, cuộc sống vợ chồng cũng khiến chàng thất vọng đau đớn. Chàng ngày một năng lui tới chỗ tàu ngựa, đến chỗ những con ngựa của chàng mà, may thay, không biết nói huyên thuyên mà chỉ hí lên dịu dàng khi chàng đến để tỏ ra chúng biết chàng là ai, sau đó lại im lặng.

Ở đảo, hồi Thứ Sáu chưa đến, chàng đã quen sống một cuộc sống lặng lẽ, giờ đây chàng cảm thấy thế giới này quá nhiều lời. Nằm trên giường bên vợ, chàng cảm thấy như có một trận mưa sỏi trút lên đầu, rào rào lạo xạo không dứt trong khi chàng chỉ muốn một điều duy nhất là được ngủ.

Thế nên khi vợ chàng trút linh hồn, chàng để tang nhưng không buồn khổ. Chàng chôn cất nàng, đợi một thời gian cho phải phép rồi thuê căn phòng này ở khu The Jolly Tar (Thủy thủ vui nhộn) bên cảng Bristol, chỉ mang theo chiếc ô lấy từ hòn đảo đã khiến chàng nổi tiếng cùng con vẹt chết bám trên song và vài vật dụng cần thiết; quyền cai quản cơ ngơi ở Huntington, chàng để lại cho con trai. Và từ đó chàng sống một mình ở đây, ngày lại ngày thơ thẩn trên các kè sông và bến nổi, miệng ngậm tẩu đăm đắm nhìn ra biển về phía tây bởi mắt chàng còn tốt lắm. Bữa ăn chàng sai mang lên tận phòng bởi chàng chẳng còn hứng thú gì việc giao du với thiên hạ, chàng đã quen với sự cô đơn trên đảo rồi.

Chàng không đọc gì, chàng không còn thú đọc nữa; nhưng bằng việc ghi chép lại những chuyến phiêu lưu, thói quen viết đã hình thành ở chàng; đó cũng là một thú giải trí vui vui. Buổi chiều trong ánh nến chàng lấy giấy ra, vót ngòi bút rồi viết một hai trang về gã hầu của chàng, kẻ vẫn gửi những bản tường thuật cho chàng về chuyện những con chim mồi vùng Lincolnshire và về cỗ máy hành hình ở Halifax mà người ta có thể thoát chết nếu trước khi lưỡi dao đáng sợ rơi xuống người ta có thể bật dậy chạy xuống đồi, và về nhiều thứ khác nữa. Đi tới đâu gã

P.32

cũng gửi những bản tường thuật, ấy là việc hàng đầu của gã, anh bạn luôn bận rộn của chàng.

Trong khi tha thẩn dọc bức tường bến cảng mà nghĩ ngợi về cỗ máy ở Halifax, chàng - Robin, kẻ mà con vẹt thường gọi là Robin tội nghiệp - thả một hòn sỏi rồi lắng nghe. Một giây, không tới một giây, nó chạm mặt nước. Ân sủng của Chúa thì nhanh, nhưng cái lưỡi dao to gộc bằng thép tôi kia, nặng hơn một hòn sỏi và tra mỡ bò, chẳng lẽ nó không thể nhanh hơn sao? Có bao giờ ta tránh nó được? Và giống người nào có thể lăng xăng chạy suốt từ đầu nọ tới đầu kia vương quốc, từ cảnh chết này tới cảnh chết kia (đập đầu, cắt cổ) và gửi hết bản tường thuật này tới bản tường thuật nọ?

Một người của công việc, chàng thầm nghĩ. Cứ để gã là người của công việc, là nhà buôn hạt giống hay da thuộc chẳng hạn; hoặc là nhà sản xuất và cung cấp ngói lợp ở bất cứ nơi nào có nhiều đất sét, như ở Wapping chẳng hạn, và phải đi lại nhiều để lo việc làm ăn. Cứ cho gã giàu có, cho gã một cô vợ yêu thương gã, không lắm mồm và đẻ con cho gã, chủ yếu là con gái; cho gã hạnh phúc vừa phải; thế rồi hãy khiến cho hạnh phúc của gã đột ngột chấm dứt. Một mùa đông nọ dòng Thames dâng cao, lò nung gạch, cửa hàng hạt giống hay xưởng thuộc da đều bị lũ cuốn trôi; gã hầu của chàng bị khánh kiệt, những chủ nợ bâu vào gã như ruồi như quạ, gã phải bỏ nhà, bỏ vợ con, phải cải trang và mai danh ẩn tích, nương náu ở khu ổ chuột tồi tàn nhất của Beggars Lane. Và tất cả điều đó - sóng nước, sạt nghiệp, trốn chui trốn nhủi, không xu dính túi, áo quần tổ đỉa và nỗi cô đơn - hãy để cho tất cả trở thành hồi ảnh về vụ đắm tàu và hòn đảo nơi mà chàng - Robin tội nghiệp - đã bị tách lìa khỏi cuộc đời suốt hai mươi sáu năm cho đến khi chàng hầu như hóa điên (mà thật ra, ai dám nói chàng đã không điên, ở mức độ nào đó?).

Hoặc hãy cho gã là người thợ làm yên ngựa có nhà, có cửa hàng và xưởng thợ ở Whitechapel, có một nốt ruồi trên cằm và một cô vợ yêu gã, không lắm mồm và đẻ con cho gã, chủ yếu là con gái và mang lại cho gã nhiều hạnh phúc, cho tới khi bệnh dịch ập xuống thành phố, đó là năm 1665 khi mà trận hỏa hoạn lớn ở London chưa xảy ra. Bệnh dịch ập xuống London: mỗi ngày, từ giáo xứ này qua giáo xứ nọ, số người chết tăng dần, cả người giàu lẫn kẻ nghèo, bởi bệnh dịch không phân biệt tình cảnh của người này với người kia, toàn bộ mớ của cải của tay thợ làm yên ngựa này cũng không thể cứu được gã. Gã gửi vợ con về quê rồi âm thầm lập kế hoạch chạy trốn cho chính mình, nhưng rồi gã lại chẳng làm gì. Gã mở hú họa Kinh thánh ra và đọc: Mi sẽ không sợ nỗi khủng khiếp của bóng đêm; không sợ tên bay vào ban ngày, không sợ bệnh dịch lảng vảng trong bóng tối, không sợ tai ương hoành hành lúc giữa trưa. Ngàn lần sẽ rơi bên cạnh mi, vạn lần sẽ rơi bên phải mi, nhưng sẽ không rơi trúng mi.

P.33

Nhờ tín hiệu chỉ dẫn rõ ràng này, gã vững lòng ở lại thành London bệnh dịch và bắt tay viết những bản tường thuật. Tôi gặp một đám người ngoài đường, gã viết, và chính giữa đám đông đó, một người đàn bà đột nhiên chỉ tay lên trời. Nhìn kìa, bà ta kêu lên, một thiên thần áo trắng đang múa thanh kiếm lửa! Và đám người nhìn nhau đồng tình, Ừ, đúng vậy, họ nói: một thiên thần cầm kiếm! Nhưng tay thợ làm yên ngựa không nhìn thấy thiên thần, cũng không thấy kiếm. Gã chỉ nhìn thấy một đám mây có hình thù kỳ lạ, một phía bị mặt trời chiếu sáng hơn phía kia.

Đó là một hóa thân! Người đàn bà gào lên khắp nơi; nhưng dù cố lắm gã

cũng chẳng nhìn thấy hóa thân nào. Gã viết vậy trong bản tường thuật.

Một ngày khác, gã hầu của chàng, vốn là thợ làm yên ngựa nhưng đang chẳng có việc gì làm, đi dạo dọc bờ sông ở Wapping và thấy một thiếu phụ đứng trước cửa nhà gọi một người đàn ông đang chèo một chiếc thuyền đánh cá nhỏ: Robert! Robert!, thiếu phụ gọi. Gã nhìn thấy người đàn ông chèo thuyền vào bờ, lấy ra khỏi thuyền một bao tải, đặt lên một tảng đá bên bờ sông rồi lại chèo thuyền đi. Thiếu phụ đi xuống sông, nhận chiếc bao tải vác lên nhà, vẻ sầu khổ hằn sâu trên mặt.

Gã hầu của chàng liền làm quen và bắt chuyện với người đàn ông. Robert kể rằng ông ta là chồng của thiếu phụ và chiếc bao tải là lương thực cả tuần cho vợ con, cả thịt, bánh mì và bơ; nhưng ông không dám lại gần họ bởi vì tất cả bọn họ đều bị dịch hạch; điều đó làm ông đau đớn. Và tất cả - hình ảnh người chồng Robert và người vợ giữ liên hệ với nhau bằng những tiếng gọi qua sóng nước, và chiếc bao tải để lại trên bờ - tự nó đã nói lên tất cả, nhưng đồng thời nó cũng là hồi ảnh về nỗi cô đơn của chính chàng, Robinson trên đảo hoang, trong những giờ tuyệt vọng đen tối nhất đã cất tiếng gọi qua sóng nước gửi tới những người thân yêu ở nước Anh với hy vọng họ sẽ cứu chàng, cũng như những lần khác chàng đã bơi ra chiếc tàu chìm để kiếm thức ăn.

Một bản tường thuật khác về thời kỳ khốn khổ này. Một người đàn ông không chịu nổi những cơn đau hành hạ ở vùng bẹn và dưới thắt lưng, những biểu hiện của bệnh dịch hạch, đã gần như phát rồ, ở truồng tô hô lao ra đường về hướng Harrow Alley ở Whitechapel, nơi mà người thợ làm yên ngựa - gã hầu của chàng - chứng kiến cảnh ông ta dậm chân, nhảy cào cào và làm hàng nghìn động tác kỳ quặc khác, trong khi vợ con ông ta chạy theo gọi ông về nhà. Kiểu dậm chân và nhảy cào cào này là hồi ảnh về chính sự dậm chân và nhảy cào cào của chàng sau thảm họa đắm tàu, khi chàng đã hết hơi tìm dấu vết đồng đội trên bãi cát mà chẳng thấy gì ngoài hai chiếc giày lệch đôi và hiểu rằng chỉ mỗi mình chàng dạt vào một hòn đảo hoang vu, rằng chàng sẽ chết và chẳng mong gì được cứu.

P.34

(Nhưng chàng còn hát thầm điều chi nữa, chàng ngạc nhiên tự hỏi, chàng trai khốn khổ này, ngoài sự chàng bị bỏ rơi? Chàng gọi gì qua những đại dương, những tháng năm, từ ngọn lửa riêng của chàng?)

Cách đó một năm, chàng - Robinson - đã trả 2 đồng guinea cho một người đi biển để mua một con vẹt mà theo lời ông ta kể lại thì ông ta đã mang nó về từ Brazil. Con vẹt này tuy không lộng lẫy như con vẹt yêu quý (trước đây – ND) của chàng nhưng vẫn tuyệt đẹp với bộ cánh xanh, chiếc mỏ đỏ, và nếu tin lời người đi biển thì nó rất háu nói. Và quả thực, khi về nhà vẹt ta luôn đậu trên chiếc song dành cho nó trong phòng khách, với một sợi dây xích buộc ở chân đề phòng nó bay mất, và kêu lên: Poll tội nghiệp! Poll tội nghiệp!, cứ như vậy lặp đi lặp lại tới lúc chàng phải nhốt nó vào lồng. Có điều, không thể bày cho nói một từ nào khác, như Robin tội nghiệp! chẳng hạn, hẳn vì nó đã quá già rồi.

Chàng Poll tội nghiệp phóng mắt qua khung cửa hẹp tới những đợt sóng biển, và qua những đợt sóng biển tới những vồng xám nổi lên trên Thái Bình Dương: Đó là hòn đảo gì vậy, mà lạnh lẽo, mà u buồn, nơi mà ta đã dạt đến? Chàng Poll tội nghiệp tự hỏi. Trong giờ ta lâm nạn, người đã ở đâu, hỡi vị cứu tinh của ta?

Một người đàn ông ngủ trước thềm cửa một nhà dân ở Cripplegate (lại một bản tường thuật nữa từ gã hầu của chàng) bởi ông ta đã say xỉn và đêm đã khuya. Những chiếc xe chở xác lê bánh (chúng ta vẫn đang ở vào năm dịch hạch) và những người hàng xóm đặt người đàn ông lên xe cạnh những xác chết; họ nghĩ rằng ông đã tắt thở. Rồi chiếc xe lăn tới nghĩa địa ở Mountmill, và người đánh xe, mặt che kín mít để tránh lây bệnh, xốc người đàn ông định ném vào hố chôn. Thế là ông ta tỉnh dậy và chống cự trong cơn hoảng loạn. Tôi đang ở đâu? - Người đàn ông hỏi. Ngươi bị chôn tới nơi rồi, cùng với lũ người chết - Người đánh xe nói. Tức là tôi đã chết rồi ư? - Người đàn ông hỏi. Và đó cũng lại là một hồi ảnh về tình cảnh của chàng lúc ở trên hoang đảo.

Một vài người dân thành London vẫn tiếp tục công việc của họ; họ cho rằng mình khỏe mạnh và sẽ qua khỏi cơn dịch. Nhưng họ đều bị nhiễm dịch hạch trong máu: nếu bệnh nhập vào tim, họ sẽ chết ngay lập tức như bị sét đánh vậy, gã hầu của chàng viết. Và đó là một ẩn dụ về tự thể đời sống, toàn thể đời sống. Một sự chuẩn bị cần thiết. Chúng ta cần chuẩn bị cho cái chết một cách thích đáng, nếu không chúng ta sẽ bị quật ngã tại chính nơi chúng ta đang đứng. Cũng như chàng, Robinson, phải nhận ra điều đó khi một ngày kia chàng đột nhiên phát hiện ra một dấu chân người trên hòn đảo của chàng. Đó là một dấu vết, và vì thế, một tín hiệu, về một bàn chân, về một con người. Nhưng đó còn là một tín hiệu cho nhiều thứ

P.35

khác nữa. Tín hiệu ấy nói cho mi biết rằng mi không cô độc; và còn nữa: Dù mi có dong buồm đến đâu, dù mi có ẩn náu ở chốn nào, người ta cũng sẽ lần ra mi.

Gã hầu của chàng viết: trong năm dịch hạch nhiều người vì kinh hoảng đã bỏ lại tất cả, nhà cửa, vợ con để chạy càng xa thành London càng tốt. Khi nạn dịch qua đi, họ đều bị mọi người nguyền rủa vì sự trốn chạy hèn nhát. Nhưng, gã hầu của chàng viết, chúng ta đã quên rằng cần phải dũng cảm như thế nào để chống lại dịch hạch. Đó không đơn giản là lòng dũng cảm của người lính siết chặt vũ khí trên tay mà tấn công kẻ thù: đó còn như thể tấn công chính Thần chết trên lưng con ngựa tái nhợt của hắn.

Ngay cả lúc phong độ nhất, con vẹt yêu quý của hai người cũng không nói một lời nào không phải do chủ của nó dạy. Thế thì bằng cách nào mà kẻ này, gã hầu của chàng - vốn cũng là một thứ vẹt và không được yêu quý lắm - lại có thể viết hay như, hoặc thậm chí hay hơn ông chủ của y? Bởi kẻ này, gã hầu của chàng, dùng bút rất khéo, điều đó không thể phủ nhận. Như thể tấn công chính Thần chết trên lưng con ngựa tái nhợt của hắn. Ngược lại, chàng chỉ khéo léo trong việc tính toán và làm sổ sách như đã học ở môn kế toán chứ không phải trong việc chữ nghĩa. Chính Thần chết trên lưng con ngựa tái nhợt của hắn – chàng không thể nghĩ ra những từ như vậy. Chỉ khi chàng phó mặc hoàn toàn cho gã hầu của chàng thì mới xuất hiện những từ như vậy.

Và những con vịt mồi: chàng, Robinson, đã biết gì về những con vịt mồi? Không biết gì hết, cho tới khi gã hầu của chàng gửi cho chàng những bản tường thuật. Những con vịt mồi ở vùng đầm lầy Lincolnshire, cỗ máy hành hình lớn ở Halifax: Những lời kể về chuyến chu du vòng quanh đảo Anh mà gã hầu của chàng hình như đã thực hiện, một hồi ảnh về chuyến du lịch của chàng quanh hòn đảo của mình trên chiếc thuyền tự đóng, chuyến du lịch chỉ ra rằng có một phía khác xa hơn của hòn đảo, rậm rạp, tối tăm, khô cằn, phía mà về sau chàng không bao giờ trở lại mặc dù những nhà thuộc địa tương lai, nếu đến được hòn đảo ấy, hẳn họ sẽ khai phá và cư ngụ trên đó; và đấy cũng là một ẩn dụ về phía tối của linh hồn và của ánh sáng.

Và khi đám đạo văn và bọn bắt chước nhảy xổ vào câu chuyện trên đảo của chàng và cung cấp cho đại chúng câu chuyện bịa đặt về cuộc đời của một kẻ bị bỏ rơi trên đảo, chàng thấy bọn chúng không hơn gì một lũ ăn thịt người, bọn xô vào ăn thịt chàng, tức là cuộc đời chàng; và chàng cũng chẳng thèm nghĩ tới việc nói ra điều này nữa. Khi tôi chống lại bọn ăn thịt người, cái lũ muốn đánh đập, nướng thịt và nuốt sống tôi, chàng viết, tôi đã nghĩ rằng mình đang chống lại chính sự việc đó. Tôi không hề biết rằng, chàng viết, bọn ăn thịt người này chỉ là một hình ảnh tượng trưng cho một thứ lòng tham còn ma quỷ hơn, thứ gặm mòn chính bản chất của sự thật.

P.36

Nhưng, nghĩ ngợi thêm chút nữa, thì một nỗi đồng cảm với lũ bắt chước đó từ từ dâng lên trong lòng chàng. Bởi với chàng bây giờ dường như chỉ có vài ba câu chuyện trên thế giới; và nếu như lớp trẻ bị cấm cướp bóc của người xưa, họ sẽ phải im lặng mãi mãi.

Chàng đã kể về cuộc thám hiểu hoang đảo của mình như vậy, rằng một đêm chàng đã thức dậy trong nỗi kinh hoàng và tin chắc rằng quỷ sứ trong bộ dạng một con chó lớn đang đè lên người chàng ở trên giường. Thế là chàng vùng dậy, cầm con dao mổ vịt, chém sang trái huơ sang phải để tự vệ trong khi con vẹt tội nghiệp ngủ bên cạnh chàng kêu lên khiếp sợ. Phải nhiều ngày sau đó chàng mới nhận ra rằng không phải chó cũng chẳng phải quỷ sứ đã đè lên chàng, ấy chỉ vì chàng đã chìm vào một cơn bóng đè và bởi không thể cựa quậy chân, chàng đã cho rằng một sinh vật nào đó đang ngủ đè lên chân chàng. Và bài học rút ra từ trường hợp này là: dường như mọi khổ đau, kể cả chứng liệt rung, đều đến từ quỷ sứ, là tự thân quỷ sứ; rằng mối tai họa gây ra bởi dịch bệnh có thể xem là hình ảnh tượng trưng cho mối tai họa gây ra bởi quỷ sứ, hoặc gây ra bởi một con chó trong hình ảnh tượng trưng cho quỷ sứ và ngược lại, tai họa được tượng trưng bằng một căn bệnh như trong câu chuyện dịch hạch của người thợ làm yên ngựa; và rằng bởi vậy không kẻ nào viết chuyện về một trong hai - về quỷ sứ hoặc về dịch hạch - lại có thể bị kết án một cách bộp chộp là kẻ giả mạo hay thằng ăn cắp.

Khi nhiều năm trước đây chàng quyết định viết lại câu chuyện trên đảo của mình, chàng nhận ra rằng câu chữ không đến với chàng và quản bút không tuân theo chàng, ngay những ngón tay chàng cũng cứng đờ và rời rã. Nhưng ngày qua ngày, cứ từng bước, từng bước, chàng làm chủ được việc viết lách, cho tới khi chàng cùng Thứ Sáu thám hiểm lên phương Bắc băng giá thì những trang văn của chàng cũng thoát ra nhẹ nhàng từ quản bút, hầu như không cần suy nghĩ.

Khả năng viết dễ dàng này, tiếc thay, đã bỏ rơi chàng. Mỗi khi ngồi vào chiếc bàn viết nhỏ kê trước cửa sổ nhìn ra cảng Bristol, bàn tay chàng có vẻ thật vụng về và quản bút lạ lẫm với chàng hơn bao giờ hết.

Liệu gã, cái kẻ khác kia, gã hầu của chàng, có thấy việc viết lách dễ dàng hơn không? Những câu chuyện về vịt trời, cỗ máy hành hình và thành London trong thời gian dịch hạch được viết thật trôi chảy; nhưng đó cũng từng là những câu chuyện của chính chàng. Có thể chàng đã đánh giá sai người đó, người đàn ông nhỏ thó linh hoạt với bước đi nhanh nhẹn có nốt ruồi trên cằm. Có thể lúc này, cũng như chàng, trong một căn phòng thuê đâu đó trên vương quốc rộng lớn này, gã đang ngồi một mình, nhúng rồi lại nhúng ngòi bút, đầy nghi hoặc, do dự và suy đi tính lại.

P.37

Phải phác họa chân dung họ thế nào, người đàn ông này và chàng? Ông chủ và nô lệ ư? Anh em, anh em sinh đôi ư? Chiến hữu ư? Hay kẻ thù? Chàng phải tìm cho kẻ đồng hành vô danh này cái tên nào, kẻ từng ở bên chàng qua các buổi tối hay thậm chí thâu đêm, kẻ chỉ vắng mặt vào ban ngày khi chàng, Robin, đi dọc các bến thuyền để tuần tra xem có thuyền nào mới cập bến không, còn gã hầu của chàng rong ruổi khắp vương quốc và cũng tiến hành những cuộc du khảo của y?

Liệu trong cuộc du hành của mình người đàn ông này có tới Bristol không? Chàng khao khát được gặp mặt người đó, bắt tay người đó, đi dọc bến tàu với gã và lắng nghe gã kể về cuộc viếng thăm phía bắc tối tăm của hòn đảo hoặc những cuộc phiêu lưu của gã trong việc viết lách. Nhưng chàng sợ rằng sẽ không có cuộc gặp nào, không phải trong cuộc đời này. Nếu phải lựa chọn một hình ảnh cho hai người, gã hầu của chàng và chàng, chàng sẽ viết rằng họ như hai con tàu dong buồm về hai hướng khác nhau, một về hướng tây và một về hướng đông. Hoặc đúng hơn, chàng và gã như những thủy thủ làm nhiệm vụ kéo dây buồm, một kẻ trên con tàu chạy hướng tây, một kẻ trên con tàu chạy hướng đông. Tàu của họ chạy ngang qua nhau, cách nhau một tiếng gọi. Nhưng mặt biển thì dữ dội, thời tiết giông tố; nước bắn vào mắt họ, tay họ nóng rẫy vì dây chão, và thế là họ đi qua nhau nhưng đều bận rộn đến nỗi thậm chí không thể vẫy tay nhau.

Đinh Bá Anh và Trần Tiễn Cao Đăng dịch từ bản tiếng Anh

P.38

Phụ lục 11 Hình ảnh trang bìa các tiểu thuyết (bằng tiếng Anh) đƣợc chúng tôi khảo sát trong luận án

P.39