Bản luận cứ bào cha vụ án hình sự “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công
dân”
Kính thưa Hội Đồng Xét Xử, Viện Kiểm Sát nhân dân TP.HCM đã có
cáo trạng 1704/KSĐT-TA truyu ttrước toà bị cáo D về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của công dân” theo khoản 3 điều 157 Bộ Luật Hình
Sự nước CHXHCN Việt Nam. I. Nhân thân bị cáo:
- D sinh năm 1959 tại S. Thường trú tại số -/– ấp T, D, tỉnh S (nay thuộc tỉnh
B). Quốc tịch: Việt Nam. Trình đvăn hoá: 6/12. Bản thân gia đình thuộc
thành phn nhân dân lao động. Không có tiền án tiền sự.
- Quá trình bản thân bị cáo: Từ 1975-1978: là CB-CNV thuộc quân đoàn -, t
1988-1993: tchức chơi hụi, đến tháng 03/1993: không trả được nợ btrốn
về địa phương L và D. Bị bắt giam cứu từ ngày 03/12/1996.
Tổng số nợ chiếm đoạt của 28 chủ nợ và hụi viên chưa trả được (chưa kể lãi)
gồm 149.600.000 đồng, 2.550 USD và 24 chỉ vàng 24K.
II. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo D và số tài sản do D chiếm đoạt, VKS
Nhân dân TP.HCM đã đnghị áp dụng khoản 3 điều 157 Bộ Luật Hình S
về tội danh “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.
III. Phần biện hộ:
Việc VKS Nhân dân Thành phtruy tố bcáo D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản của công n” theo điều 157 Bộ Luật Hình Ssở. đây,
chúng tôi muốn nêu ra vấn đmức đphạm tội, mà theo chúng tôi nếu áp
dụng khoản 3 điều 157 thì quá nặng đối với hành vi phạm tội của bị cáo,
bởi vì các lsau đây:
1. Do trình độ n hoá thấp, lại thiếu kinh nghiệm về hoạt động kinh tế (dù
chỉ gói gọn trong hoạt động “chơi hụi”), bị cáo D đã chấp nhận lãi sut vay từ
5%-7%, 10%/ tháng thậm cđến 15%,20%/tháng, điều tất yếu dẫn đến phá
sản mà thôi. ngay c doanh nghiệp lớn chỉ vay Ngân hàng với lãi suất
trước đây 2,1%/tháng rồi 1,8%/tháng và hiện nay 1,2-1,4% tháng phục v
SXKD đã phải lỗ hàng 100 tđồng, trong khi bcáo D vay vốn chỉ để
thuần tuý chơi hụi và phục vụ tiêu dùng sinh hot, thì con đường phá sản
là tất yếu, không tránh được. Hành vi rồ dại đó xuất phát từ sthiếu trình
độ, không kinh nghiệm, tính toán sai lầm hơn một sự cố ý lừa đo
hay chmưu lừa đảo. Từ sự tính toán non kém, sai lầm đã dẫn D trượt
dài xuống hố nợ nần, cho đến khi mất khả năng chi trả b các chủ nợ bao
vây đành phải tính đến con đường chng đặng dường là “Tẩu vi thượng
sách”.
Trong thời gian trốn tránh, bị cáo đã biết hối hận bằng việc nỗ lực lao động
bằng nghề chẽ tâm nhang đsống bằng chính sức lao động của mình. Điu
này chứng minh bị cáo D là ksa cơ lỡ bước vì hậu quả “Những ldại
của một phụ nữ ít học hơn một k chủ u lừa đảo hay lừa đảo
chuyên nghiệp.
2. Bản thân bị cáo trong giai đoạn đầu chơi hụi đã nlực, giữ được chữ tín
bằng cách trả vốn, lãi sòng phng cho các hụi viên và chnợ, nên mới
được k đông đảo bà con địa phương tin cậy và sẳn sàng đóng hụi hoặc
cho vay. Thậm chí ckhi gặp khó khăn mất khnăng chi trả, bcáo D cũng
đã tnguyện bán chính căn nhà đang của mình để hoàn trcác món
nlớn, k cả đưa c xe gắn máy cho chủ nợ xiết nợ, trừ nợ. Hành động
đó chứng tỏ thiện chí, thật m nỗ lực trả nợ chkhông phải ctình lừa
gạt, trốn nợ, chng qua đường cùng của stính toán non kém, rồ dại
nên bế tt, bí đường giải quyết, phải lánh mặt, trốn nợ mà thôi.
3. Mặt khác các ch nợ của bị cáo D, một phần nào đó do hấp dẫn bởi lãi suất
bcáo D chấp nhận, đã nh hay cý cho bị cáo D vay với lãi suất rất
nặng từ 5% đến 20%/tháng. Thậm chí trường hợp bị cáo D đã vay với lãi
suất đến 30%/tháng, đúng là khoản lãi cắt cổ. Tôi cũng xin lỗi các bà con ch
nợ những người bị hại có mặt tại phiên toà này dừng buồn, là hành vi cho vay
với lãi suất quá cao đó tình vi phạm điều 171 BLuật Hình Svề
“Tội cho vay nặng lãi”. Đó cũng là một trong nhng nguyên nhân khách
quan đẩy nhanh b cáo D vào con đường cùng, phi vay trả nợ cuốn
chiếu không lối ra, đặt bị cáo D vào một chọn lựa duy nhất “chẳng đặng
đừng” là trn chạy nợ, đi vào con đường phạm pp.
Ngay việc càng vsau, bị cáo D còn phải chấp nhận vay nvới lãi sut
ngày càng cao chứng tỏ ý chí của bị cáo là muốn trả nợ chứ không phải
ctình gạt nợ, nhưng rõ ràng “lực bất tòng tâm,bcáo đã “sai con
toán bán con trâu không còn cu vãn nổi con đường phạm pháp. Tình
trạng tâm của bị cáo trong q trình phạm pháp đã “lỡleo lưng cọp
không trt xuống được”, lỡ phóng theo lao phải theo lao.
4. Bị cáo D thuộc thành phần nhân dân lao động, chưa có tiền án tiền sự, trình
độ văn hoá thấp, phạm pháp một phần do thiếu hiểu biết, mù quáng chạy theo
cái lợi trước mắt, đáng được chiếu cố của luật pháp. Chính bản thân bị cáo
cũng bị các con n lừa gạt chiếm đoạt trên 55.000.000 đồng (trong đó
37.000.000 đồng nợ vay và 17.500.000 nhụi) chiếm tlệ 25% tổng số nợ
mà bị cáo chiếm đoạt, chng tỏ bị cáo D vừa là thủ phạm vừa là nn nhân
của tệ nạn hụi hè bt hợp pháp, ngoài vòng kiểm soátcủa luật pháp Nhà
nước.
các ltrên, chúng tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chiếu cố theo điều 38
BLuật Hình Svề “Những tình tiết giảm nhẹ” khoản 1 điểm “d” và
điểm “g” để có thể áp dụng mức độ hình phạt theo khoản 2 thay khon 3
của điều 157 theo cáo trạng của VKSNDTP.
Với trách nhiệm bảo vệ thân chủ của mình, vi ch luật sư, tôi trân trọng
kiến nghị Hội đồng Xét xử quan tâm chiếu cố cho bị cáo về mức đhình phạt
phù hp, giảm nhhợp để tạo điu kiện cho bị cáo cơ hội phấn đấu sửa
chữa tốt khắc phc sai phạm của mình đtrở thành mt công dân tốt của đất
nước.
Trân trọng cảm ơn Hội đồng Xét xử.
Lawyer.
Ký tên
Bản luận cứ vụ đòi nợ”
Tôi là lut sư ……………, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh,
được sự yêu cầu ca nguyên đơn dân sự là Bà E, Việt kiều Mỹ, tôi được
thực hiện việc bào chữa bảo vệ quyền lợi của thân chủ tôi trong vụ “ Đòi
nợ ” đối với bị đơn dân sự là Ông S.
CỘNG HÒA XÃ HI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—oO õ Oo
TP.Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2005
BẢN LUẬN CỨ
Kính thưa Quí Toà ,
Tôi luật …………….., thuộc Đoàn luật Thành phố Hồ Chí Minh,
được sự yêu cầu của nguyên đơn dân sự là E, Vit kiều Mỹ, tôi được thực
hiện việc bào chữa bảo vệ quyền lợi của thân ch tôi trong vụ Đòi n đối
với bị đơn dân sự là Ông S.
Tôi xin được trình bày nội dung v việc như sau:
Nguyên vào đầu năm 1999, thân chủ tôi là E, vViệt Nam thăm gia
đình cùng với ý định thăm dò tình hình kinh tế xã hội, sắp xếp nhà cửa với
mục đích để xin hồi hương về hẳn Việt Nam để sinh sống và hoạt động sản
xuất kinh doanh. Nhưng do vào thời điểm nầy, Chính ph Việt Nam chưa