intTypePromotion=1

Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2020

Chia sẻ: Kim Kim | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

0
58
lượt xem
17
download

Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2020

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kinh doanh là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ...) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời cao nhất....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2020

  1. Đề tài: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2020
  2. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2001- 2020 CHƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP I.BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP Hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ II, có thể coi là thời kỳ tăng trởng kinh tế nhanh nhất của chủ nghĩa t bản . Tất cả các nớc công nghiệp chính trong giai đoạn này đều trải qua mọt giai đoạn tăng trởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp. Đây cũng là lý do đa học thuyết của J. Keynes- Nhà kinh tế học ngời Mỹ (1883-1946) trở thành một t tởng kinh tế phổ biến rộng rãi ở các trung tâm quyền lực của thế giới t bản . Thế nhng, với các cú sốc dầu lửa thập kỷ 70s đã mở đầu cho sự sụp đổ của một giai đoạn tăng trởng đầy ấn tợng trớc đây.Đã có rất nhiều những thay đổi mang tính chất cơ cấu trong nền kinh tế thế giới. Sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp và dịch vụ tạo ra một thị trờng lao động vói giá nhân công tăng và sự lớn mạnh của các tổ chức nghiệp đoàn. Bên cạnh các nớc công nghiệp phát triển phơng Tây, Nhật Bản xuất hiện với t ccách là một trung tâm kinh tế lớn của thế giới. Các nớc mới công nghiệp hoá ở Đông á và Đông nam á ciếm vị trí hàng đầu trên một số thị trờng thế giới nh : dệt may, điện tử dân dụng, đóng tàu và sắt thép. Những thay đổi này đã làm phong phú hơn cho bức tranh công nghiệp thế giới. Tăng trởng nhanh chóng trong giai đoạn 1970 đã che dấu một thực tế là các nền kinh tế t bản có nhiều điểm khác nhau về hệ thống chính sách kinh tế . Trớc những thay đổi ở tren, đi kèm với sự chấm dứt của thời kỳ tăng trởng nhanh với lạm phát và thất nghiệp thấp, các nớc công nghiệp phát triển đã buộc phải điều chỉnh t tởng kinh tế chủ đạo, xuất hiện rất nhiều các cố gắng tìm kiếm những phơng thức can thiệp của Chính phủ . Một trong những cố gắng đó đợc thể hiện qua thuật ngữ “Chính sách công nghiệp ”. Mặc dù chính sách công nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với một số nớc công nghiệp phát triển nh Nhật Bản, Pháp và các nớc NIC Châu á nh: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapo thời kỳ sau Chiến tranh thế giới II, song cho đến cuối những năm 1970 khái niệm ít đợc nhắc đến trên phơng diện lý thuyết. Những ngời ủng hộ chính sách công nghiệp chủ yếu tập trung vào xem xét chính sách công nghiệp trên khía cạnh các vấn đề chính sách
  3. thực thế mà không nghiên cứu nhiều về nền tảng lý thuyết của chính sách công nghiệp . Thc tế này dẫn đến tình trạng ngay cả những ngời ủng hộ rất mạnh mẽ chính sách công nghiệp cũng không thể mô tả thực tế chính sách công nghiệp vận hành nh thế nào. II. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 1.Khái niệm về chính sách phát triển công nghiệp 1.1. Các quan điểm . Chính sách công nghiệp là một khái niệm gây nhiều tranh cãi. Chỉ xét riêng ở Nhật Bản đã có những quan điểm bất đồng về chính sách công nghiệp. a. Quan điểm của Trezise(1983). Ông là một trong những ngời phản đối công nghiệp công nghiệp và cho rằng trợ cấp của Chính phủ và các khoản vay u đãi cho khu vực doanh nghi ệp Nhật Bản là nhỏ hơn tơng đối so vơí một quyết định thành công của Nhật Bản. b. Quan điểm của Reich(1982). Là một trong những học giả ủng hộ rất mạnh mẽ quan điểm về chính sách công nghiệp ở Mỹ .Theo quan điểm của ông, chính sách công nghiệp bao gồm những nội dung sau: + Các chính sách đối với những khu vực công nghiệp đợc u tiên . + Chính sách phát triển nguồn nhân lực + Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng + Chính sách phát triển vùng c. Quan điểm của Pinder(1982) Nội dung của chính sách công nghiệp gồm: + Các chính sách trợ giúp phát triển công nghiệp + Các u đãi về tài chính cho đầu t + Chơng trình đầu t công cộng + Dự trữ của khu vực công cộng + Trợ cấp tài chính cho R & D + Chống độc quyền + Lập luận ngàn công nghi ệp non trẻ + Các biện pháp khuyến khích u đãi các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ + Chính sách phát triển vùng + Các biện pháp bảo hộ mậu dịch 1.2. Khái niệm chính sách phát triển công nghiệp Trên phơng diện lý thuyết, chính sách công nghiệp đợc xem xét dới nhiều góc độ khác nhau. Một chính sách công nghiệp có thể có phạm vi tổng quát hay mục tiêu cụ thể, nhấn mạnh vào sử dụng các công cụ theo chiều dọc hay chiều ngang, và có thể có tác dụng tiêu cực hoặc tích cực đối với tăng trởng kinh tế .
  4. Một chính sách công nghi ệp có phạm vi rộng nhằm vào khuyến khích tất cả các ngành công nghiệp , trong khi đó một chính sách công nghiệp có phạm vi hẹp thì chỉ tập trung vào một hay một số khu vực công nghiệp đợc lựa chọn theo những tiêu thức nhất định . Nh vậy, chính sách phát triển công nghiệp đợc hiểu là sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của Chính phủ hớng vào những ngành nhất định để đạt đợc những ngành nhất định để đạt đợc mục tiêu cụ thể (Mục tiêu này có thể là tăng trởng, xây dựng năng lực cạnh tranh, tạo công ăn việc làm). Chính sách công nghiệp thờng đợc thể hiện dới dạng tổ chức ngành, chọn ngành u tiên, chính sách tài chính và tín dụng (thuế, tợ cấp, đầu t trực tiếp của Nhà nớc, tín dụng u đãi) đối với ngành, chính sách phát triển nguồn nhân lc của ngành, chính sách tăng tỷ lệ nội địa hoá các sản phẩm của ngành, chính sách đầu t nớc ngoài vào các ngành, chính sách kinh tế đối với các ngành , chính sách đối với các khu vực chế xuất và khu công nghiệp tập trung. 2. Nội dung và mục tiêu của chính sách phát triển công nghi ệp . 2.1 Nội dung Một là, chính sách phát triển công nghiệp bao gồm toàn bộ những hoạt động hoạch định của một nớc ngằm phát triển công nghiệp, liên quan tới những hoạt động hoạch dịnh này là những vấn đề điều chỉnh cơ cấu sản xuất và đầu t , hiện đại hoá và cải tổ cơ cấu công nghiệp, chính sách thị trờng và xuất nhập khẩu , chính sách khuyến khích R & D , chính sách đối với sản xuất quy mô nhỏ và các chính sách có liên quan đến phát triển nguồn lực và năng lợng. Hai là, trong chính sách công nghiệp cần định rõ các ngành công nghiệp cụ thể sẽ đợc khuyến khích và dành cho nhừng lĩnh vực này những u tiên khác nhau trong một thời gian nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nớc vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và tăng trởng kinh tế . Ba là, xây dựng đồng bộ hệ thống các phơng tiện khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp đã dợc lựa chọn . Liên quan đến các phơng tiện này là khuyến khích về tài chính, xây dựng hệ thống kiểm soát thích hợp hỗ trợ hoạt động R & D, đặc biệt quan tâm tới các mục tiêu và kế hoạch dài hạn ,... 2.2. Mục tiêu. Vấn đề có ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp. Phần lớn ở các nớc khi xây dựng chính sách phát triển công nghiệp thờng đa ra nhiều mục tiêu. Tuy nhiên, có thể nêu lên 2 mục tiêu chính là : phát triển công nghiệp cân đối và công bằng. - Phát triển công nghiệp cân đối đòi hỏi phải đảm bảo đợc sự cân đối giữa ngành công nghiệp, giữa các địa phơng và vùng lãnh thổ. Hầu hết các nớc trong quá trình phát
  5. triển công nghiệp đều không tập trung đầu t quá mức vào một ngành công nghiệp nào và tìm cách để duy trì đợc các thị trờng có khả năng cạnh tranh lớn. Ngoài ra, mục tiêu phát triển cân đối còn đợc thể hiện ở chỗ : Bên cạnh các trung tâm công nghiệp của các thành phố lớn, nhiều nớc ddax khuyến khích phát triển các vùng nông thôn và coi việc định vị lại công nghiệp nh là phơng tiện quan trọng cho mục tiêu này. Để thiết lầp đợc một cơ cấu công nghiệp cân đối, các cớc chú ý vào hai vấn đề là thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp quy mô nhỏ và lựa chọn, phát triển một số ngành công nghiệp mũi mhọn. - Mục tiêu công bằng là một trong hai mục tiêu chính của chính sách công nghi ệp. Nó bao gồm các mặt nh công bằng xã hội và công bằng giữa các nhà đầu t trong và ngoài nớc. Việc thực hiện mục tiêu này có ý ngiã đảm bảo cho sự phát triển bền vững của công nghi ệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Ngoài hai mục tiêu trên còn có những mục tiêu khác nh: đảm bảo “chất lợng cuộc sống” thông qua việc thiết lập các quy tắc xã hội để kiểm soát ô nhiễm và chất thải, ban hạnh luật về lơng thực, thực phẩm, hoặc cũng có nớc đặt mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp là nhằm tăng thu nhập về ngoại hối nhằm cải thiện cán cân thanh toán. Trong những năm gần đây, gới xu thế gia tăng về hội mhaapj kinh tế, các nớc còn coi mục tiêu tăng cờng hợp tác kinh tế với thế giới và khu vực là mục tiêu của chính sách phát triển công nghiệp… 3. Trọng tâm của chính sách phát triển công nghiệp. Chính sách công nghiệp đặt trọng tâm vào phát triển khu vực chế tạo của nền kinh tế. Những ngời ủng hộ chính sách công nghiệp cho rằng hiện tợng phi công nghiệp hoá ở Anh và Mỹ trong khoảng 3 thập kỷ qua xuất phát từ việc coi nhẹ vai trò của khu vực chế tạo, lam giảm đóng góp của khu vực này vào GDP và tạo công ăn việc làm cho ngời lao động. Theo Cohen và Zysman (1987): với tầm quan trọng của khu vực chế tạo thì đây là một sự sai lầm về định hớng chính sách. Thêm vào đó, các biện pháp điều chỉnh kinh tế vĩ mô có thể lầ cha đủ để có thể thúc đẩy sự phát triển của khu vực chế tạo vì đối với tăng trởng năng suất của khu vực này, sự phân bổ vốn còn có ý nghĩa quan trọng hơn là tổng giá trị vốn đầu t. Chính vì vậy, Chính phủ cần can thiệp trực tiếp để thúc đẩy phát triển công nghiệp. Tuy nhiên, đó cũng là trong tâm gây nhiều tranh cãi. Những ngời phản đối quan điển chính sách công nghiệp cho rằng tăng trởng kinh tế trong thời kỳ hậu công nghiệp ở các nớc t bản phát triển đặt trọng tâm vào khu vực dịch vụ, dịch vụ trở thành trung tâm của các hoạt động kinh tế. Vì vậy, các biện pháp can thiệp của Chính phủ theo hớng u tiên khu vực công nghiệp mà không tập trung cho phát triển khu vực dịch vụ không nhngx là không cần thiết mà còn có ảnh hởng tiêu cực đối với nền kinh tế.
  6. Chính sách công nghiệp sẽ cản trở cơ chế chọn lọc tự nhiên của thị trờng và ngăn cản việc tái phân bổ các nguồn lực khan hiếm của nền kinh tế cho khu vực dịch vụ, vì vậy ảnh hởng tiêu cực đến triển vọng tăng trởng lâu dài của nên kinh tế (quan điểm của Burtơn-1983). Song sự thay đổi về cơ cấu theo hớng phát triển dịch vụ không phải chỉ đơn thuần là vì con ngời mong muốn tiêu dùng nhiều dịch vụ khi đới sống đợc cải thiện. Lý do chủ yếu nhất của sự dịch chuyển về cơ cấu này là do chi phí lạm phát tơng đối của khu vực dịch vụ tăng trởng chậm trong năng suất của khu vực này, chứ không phải là do sự dịch chuyển thật sự của nhu cẩu thị trờng về phía khu vực dịch vụ khi thu nhập gia tăng. Bên cạnh đó, xu hớng phi công nghiệp hoá quan sát đợc ở một số nớc công nghi ệp phát triển là một kết quả tất yếu trong dài hạn của sự chênh lệch năng suất lao động giữa hai khu vực này chứ không nhất thiết là do khu vực công nghiệp suy giảm sức cạnh tranh. Ngay cả các nền kinh tế hớng mạnh vào xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nh Nhật Bản, Đức cũng chịu những ảnh hởng nhất định của phi công nghiệp hoá. Nói cách khác, phi công nghiệp hoá và sự suy giảm của khu vực công nghiệp là hai khái niệm khác nhau, mặc dù sự giảm sút của khu vực công nghiệp có thể ảnh hởng đến mức độ phi công nghiệp hoá. Vì vậy, không thể kết luận rằng khu vực công nghiệp của một nền kinh tế nào đó đang xuống dốc nếu chỉ căn cứ vào những biểu hiện của phi công nghiệp hoá mà nó đang phải trải qua theo định nghĩa ở trên. 4. Tính tất yếu của chính sách công nghiệp. Chính sách bao hàm ý nghĩa có sự can thiệp của Chính phủ dới bất cứ hình thức nào. Cần phải có chính sách là vì thị trờng có những khiếm khuyết nhất định: 4.1.Do những thất bại của thị trờng và vai trò can thiệp của Chính phủ . Lý thuyết phổ biến nhất lý giải cho sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế là lý thuyết về sự thất bại của thị trờng. T tởng trong tâm của trờng phái này tập trung vào thất bại của cơ chế thị trờng trong việc cân bằng giữa chi phí và lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đồng thời cho rằng Chính phủ có thể can thiệp để khắc phục khuyết tật của thị trờng. Hàng hoá công cộng là một thất bại hay đợc nhắc đến nhất của cơ chế thị trờng. Vì tính không ngoại trừ của hàng hoá công cộng, các cá nhân luôn có đông lực thực hiện hành vi của những ngời ăn theo, ảnh hởng của vấn đề những ngời ăn theo là các hàng hoá công cộng sẽ đợc cung cấp ít hơn mức xã hội mong muốn. Vì vậy Chính phủ cần can thiệp thông qua trực tiếp cung cấp hàng hoá công cộng. Tiếp nữa, sự tồn tại của tính kinh tế nhờ quy mô có thể là một yếu tố dẫn đến những cơ cấu thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo. Trong một cơ cấu thị trờng nh vậy, mức giá cung cấp sẽ cao hơn mức giá cạnh tranh hoàn hảo dẫn đến tổn thất thặng d tiêu dùng. Phần tổn thất này đợc chuyển một phần vào thặng d sản xuất dới dạng lợi nhuận
  7. độc quyền, phần còn lại là lợi ích mất không của xã hội. Mặc dù lý thuyết “Điều tốt thứ nhì”và quan điểm cho rằng can thiệp của Chính phủ có thể là nguyên nhân của thị trờng cạnh tranh không hoàn hảo, sự tồn tại của cơ cấu thị trờng này vẫn là một lý do quan trọng biện minh cho vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trờng. 4.2. Xuất phát từ lý thuyết về sự thất bại của Chính phủ. Trong thực tế, cũng nh khả năng thị trờng tự do có những khuyết tật, sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế cũng có thể không thành công vì bản thân Chính phủ cũng có những thát baị của nó. Có hai yếu tố chính cản trở Chính phủ có thể đạt đợc mục tiêu can thiệp vào nền kinh tế. Thứ nhất, chi phí cần thiết để Chính phủ có thể thu thập đủ và xử lý tốt các thông tin về thất bại thị trờng trong nhiều trờng hợp có thể còn lớn hơn cả lợi ích mà các biện pháp khắc phục khuyết tật thị trờng mang lại. Thứ hai, vì có sự xuất hiện của việc thu thập , xử lý thông tin, sự can thiệp của Chính phủ có thể lại dẫn đến những chi phí nhất định đối với xã hội, và chi phí này cũng có thể lớn hơn lợi ích mà nó mang lại. 4.3. Lý thuyết thể chế mới về sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Nh đã phân tích trong phần trên, can thiệp của Chính phủ để khắc phục những khuyết tật củâ thị trờng sẽ dẫn đến những chi phí nhất định mà những chi phí này có thể lớn hơn cả lợi ích thu đợc từ sự can thiệp của Chính phủ. Tuy nhiên, điều đó không đủ để có thể kết luận rằng Chính phủ không thể can thiệp có hiệu quả vào nền kinh tế. Lý thuyết thể chế mới cho rằng chi phí về thông tin có thể giảm thong qua những thay đổi thichs hợp trong hệ thống tổ chức của bộ náy hành chính và trong quan niệm về giá trị của các cá nhân là thành viên của bộ váy chính quyền và xã hội. Những chi phí thu thập và xử lý thông tin sẽ có thể đợc loại bỏ thông qua việc cho phép cạnh tranh giữa các Đảng phái và sử dụng các công cụ can thiệp thích hợp. Ngoài ra, lý thuyết này còn cho rằng thị trờng không phải là một cơ chế điều phối duy nhất đối với sự can thiệp của Chính phủ vào nền kinh tế. Thị trờng,Chính phủ, các hãng, và các thể chế kinh tế khác đều có vai trò trong một cơ chế phối hợp để da ra các quyết định chính sách. Những ngời ủng hộ quan điểm này cho rằng Chính phủ có thể giải quyết vấn đề phối hợp giữa các tác nhân ở trên với chi phí thấp hơn mức chi phí phối hợp của thị trờng, thông qua việc xác lập một hệ thống quyền sở hữu phù hợp, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tái cấu trúc xã hội theo các nhóm, tầng lớp lớn, điều phối và định hớng đầu t, xây dựng tự hào và bản sắc dân tộc. 4.4. Quan điểm kinh tế chính trị.
  8. Lý thuyết thất bại thị trờng biện minh cho sự can thiệp của Chính phủ dựa trên giả định cho rằng mục tiêu của Chính phủ là phải can thiệp vào thị trờng, phục vụ lợi ích của xã hội. Quan điểm kinh tế chính trị, ở một thái cực là các nhà kinh tế Marxist, ở thái cực khác là trờng phái Chicago xuất phát từ những quan điểm khác. Chính phủ có thể có một mức độ độc lập nhất định đối với đai chúng, nhất là khi không có giai cấp nào có đủ khả năng ảnh hởng mạnh đến các quyết định chính sách. Trong tình huống này Chính phủ có thể hành động theo mục tiêu tối đa hoá nguồn thu vào ngân sách. Theo Findlay (1990), Chính phủ có thể đợc coi nh là một lực lợng độc lập đa ra các quyết định không nhất thiết phải xuất phát từ lợi ích của xã hội. Quan điểm về nhóm lợi ích coi Chính phủ nh là chiếc hộp đen mà các nhóm lợi ích trong xã hội có thể đối kháng, hay liên minh với nhau để đa ra các quyết định về chính sách. Khi một khu vực công nghiệp nào đó có tầm quan trọng đối với nền kinh tế, sức ép của nhóm lợi ích này có thể dẫn đến các quyết định về chính sách thuận lợi đối với nhóm lợi ích đó mà có thể gây phơng hại đến những nhóm lợi ích khác trong xã hội. Một số nhà kinh tế Marxist cho rằng sự tồn tại của một Nhà nớc phu thuộc chặt chẽ vào phơng thức tái sản xuất của xã hội, và vì vậy, Chính phủ phải hành động vì lợi ích của giai cấp đóng vai trò chủ đạo về kinh tế trong cấu trúc xã hội. Nói tóm lại, khác với lý thuyết về thất bại của thị trờng, quan điểm kinh tế chính trị cho rằngcp có thể có sự can thiệp vào nền kinh tế nhng có thể đơc biện minh bởi những nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm, mức độ độc lậpcủa từng hệ thống chính quyền. Từ những lý do nói trên dẫn đến nền kinh tế nói chung và lĩnh vực công nghiệp nói riêng cần phải có một chính sách để phát triển đó là Chính sách phát triển công nghi ệp. 5. Phân loại chính sách công nghi ệp . Bản thân nền công nghiệp, đối tợng của chính sách, là thực thể luôn luôn động. Hơn nữa, chính sách công nghiệp là cái luôn biến đổi từng giờ, từng phút với sự biến động của thời đại của xã hội và có rất nhiều loại đối tợng. Không có lý luận chung cho chính sách công nghiệp. Do vậy, phải phân loại chính sách công nghiệp theo mục đích, chủng loại, và tính chất. 5.1. Phân loại theo vai trò của Nhà nớc trong sự phân công giữa Nhà nớc và các doanh nghiệp. Theo cách phân loại này, chức năng của chính sách công nghiệp hớng vào 3 mục đích chính: - Hỗ trợ phát triển ngành: chính sách tạo khả năng đối kháng với doanh nghiệp t nhân (chỉ đạo hay quy chế cho pjhép công nghiệp hợp tác, bổ sung hoặc hỗ trợ đối với
  9. doanh nghi ệp t nhân). Các chính sách này khác nhau ở chỗ là dựa vào pháp luật (quyề lực hay chỉ đạo hớng dẫn, …). - Khống chế các giao dịch bất chính: Bao gồm chính sách có mục đích duy trì trật tự (chỉ đạo, ngăn cấm, cho phép) hay các chính sách có tính phán quyết hình thức (đăng ký, thông báo,…). - Dự thảo luật: gồm chính sách tạo lập môi trờng mới hay chính sách xuất phát từ thái độ thụ động tạo ra trật tự để đối phó với môi trờng mới. 5.2. Phân loại theo đối tợng mục đích của chính sách. - Các vấn đề cơ cấu công nghiệp : gồm chính sách có đối tợng là toàn bộ cơ cấu công nghiệp với chính sách có đối tợng là từng ngành (hay từng doanh nghiệp ). Chính sách điều chỉnh ngợc với các ngành suy thoái hay chính sách chấn hng cho các ngành mới (tỷ trọng công nghệ cao trong cơ cấu công nghiệp ). - Vấn đề thị trờng . + Phân biệt chính sách bổ sung khắc phục các thất vại của thị trờng với chính sách bổ ung hoàn thiện hạn chế của thị trờng. + Phân biệt chính sách điều chỉnh trật tự thị trờng bị lệch lạc (tổ chức ngành sản xuất ) với chính sách điều chỉnh yếu tố bên ngoài bị lệch lạc(môi trờng tự nhiên, quyền lợi ngời tiêu dùng). + Phân biệt chính sách ngay trong bản thân trật tự sẵn có với chính sách để tiến hành trật tự mới. - Vấn đề phát triển công nghiệp có tính chiến lợc . Cần phân biệt rõ chính sách phát triển ngành có tính chiến lợc (ngành xuất khẩu, điện tử …) với chính sách phát triển các ngành sản xuất cơ sở hạ tầng (sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu, linh kiện, phụ kiện, …). 5.3. Phân biệt theo thủ pháp chính sách ( theo cách thức để thực hiện mục tiêu ) - Vấn đề hoàn thiện cơ sở hạ tầng. + Phân biệt chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần cứng và chính sách hoàn thiện cơ sở hạ tầng phần mềm (môi trowngf công nghiệp ). + Phân biệt chính sách phát triển cơ sở hạ tầng (nh tài chính, tiền tệ, thuế…) với chính sách phát triển kỹ thuật cho phần cơ sở hạ tầng (nh nghiên cứu , quy cách hoá, chế độ quyền sở hữu công nghiệp ) và cả chính sách cơ cấu công nghiệp cơ sở hạ tầng ( nh cơ cấu sản xuất phụ tùng của các doanh nghiệp trong ngành cơ khí). - Về kế hoạch triển vọng. + Phân biệt kế hoạch mang tính chất giáo dục, nhận thức, hay mục tiêu chính sách, hay kế hoạch điều chỉnh định hớng. + Phân biệt kế hoạch đợc xây dựng bằng ý trí của Chính phủ hoặc đợc xây dựng trên cơ sở của sự thoả thuận với ngời có lieen quan.
  10. - Về phơng pháp luận. + Phân biệt chính sách bất biến, chính sách tạm thời hay chính sách khẩn cấp. + Phân biệt chính sách có tính uy quyền (chỉ huy, cơ chế,…) với các chính sách hỗ trợ (tài trợ, cho vay vốn , chế độ thuế…) hoặc chính sách có tính hoàn thiện môi trờng (nh cung cấp thông tin, đa ra quy cách, phát triển kỹ thuật,…) hay chính sách mang tính hớng đạo. Tốm lại, có thể tổng kết chính sách phát triển công nghiệp nh sau: Chính sách nhằm ảnh hởng tới cơ cấu của một nớc. Tức là một chính sách can thiệp vào hoạt động giao dịch với nớc ngoài nh : ngoại thơng, đầu t trực tiếp, chính sách hỗ trợ phát triển và bảo hộ (trợ cấp thuế) chính sách điều tiết và sử dụng nguồn lực. Các chính sách sửa chữa các thất bại của thị trờng do tính không hoàn thiện của hoạt động kỹ thuật và thông tin. Tức là một chính sách khắc phục các dạng thất bại của thị trờng bằng cách cung cấp thông tin chính xác, sử dụng các công cụ chính qua trợ cấp, thuế và chỉ đạo việc phân phối nguồn lực theo hớng mông mu ốn. Chính sách can thiệp về mặt hành chính vào tổ chức sản xuất theo từng ngành nhằm nâng cao phúc lợi kinh tế. Cụ thẻ là chính sách nhằm trực tiếp can thiệp vào cơ cấu cạnh tranh và phân bổ nguồn lực trong các nhành sản xuất thông qua hình thức liên minh giảm giá, liên minh đầu t thiết bị,… Chính sách đợc hoạch định theo yêu cầu chính trị là củ yếu chứ không phải mang tính kinh tế. Tức là chính sách bao gồm quy chế tự chủ xuất khẩu hay hiệp định đa phơng nhằm xử lý mâu thuẫn ngoại thơng. 6. Khái quát về chính sách công nghiệp của Việt Nam. Nh đã phân téch trong các phần ở trên, chính sách công nghiệp là một khái niệm rộng, phức tạp và vòn tơng đối mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới, nhất là trên phơng diện lý thuyết. Trong bối cảnh nh vậy : a. Có nên tồn tại hay không một chính sách công nghiệp của Việt Nam. b. Nếu là có tồn tại thì chính sách công nghiệp Việt Nam có thể đợc mô tả nh thế nào? C. Ảnh hởng của nó đến tăng trởng kinh tế Việt Nam (nhất là trong những năm đổi mới) nh thế nào. Trong phần này, em sẽ đi sâu tìm hiểu câu hỏi (b) trên phong diện lý thuyết, các vấn đề còn lại là nội dung nghi ên cứu của Chơng II và III- Phần thực trạng và các giải pháp. Thuật ngữ “chính sách công nghiệp” cho đến nay vẫn rất ít xuất hiện trên các pgơng tiên thông tin đại chúng của Việt Nam, cũng nh trong các công trình nghiên cứu của các tác giả nớc. Trong khi đó, một thuật ngữ khác hay đợc sử dụng có liên quan đến nội dung chính sách công nghiệp là thuật ngữ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”.
  11. Xét về bản chất, thuật ngữ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá “ ở Việt Nam bao hàm hệ thống các mục tiêu, các định hớng và hệ thống các chính sách nhằm chuyển Việt Nam từ một nớc nông nghiệp thành một nớc công nghiệp. Trong hệ thống các mục tiêu và định hớng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, vấn đề phát triển các ngành, các khu vực, các loại hình quy mô và các thành phần kinh tế chiếm vị trí quan trọng, ở đây, những vấn đề chung đợc đề cập thờng là: - Cơ cấu ngành kinh tế : công nghiệp – nông nghiệp- dịch vụ , ở đây, các cơ cấu đợc chú ý trong thiết kế chính sách là : cơ cấu công nghiệp khai thác- công nghiệp chế biến- công nghiệp điện nớc; cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi, cơ cấu các loại hình dịch vụ . - Cơ cấu gữa đo thị và nông thôn - Cơ cấu giữa quy mô doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. -Cơ cấu giữa doanh nghi ệp Nhà nớc, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Trên cơ sở các mục tiêu và định hớng phát triển công nghiệp nh vậy, phải thiết lập hệ thống các chính sách đợc sử dụng để hỗ trợ cho phát triển công nghiệp, trong đó phải kể đến một số chính sách chính nh : chính sách vốn, chính sách nguồn nhân lực, chính sách phát triển khoa học và chính sách thuế quan. Nh vậy, chính sách công nghiệp của Việt Nam có thể đợc hiể là tập hợp của các định hớng, chính sách, công cụ điều chỉnh đối với một số ngành công nghiệp để đạt đợc mục tiêu đa Việt Nam từ một nớc nông nghiệp sang một nớc công nghi ệp vào năm 2020. Nhiệm vụ của chính sách công nghiệp có thể thay đổi qua mỗi thòi kỳ nhng đều có mục tiêu chung là điều chỉnh các hoạt động cuả các khu vực công nghiệp theo chiều hớng có lợi cho sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc. Nhiệm vụ này đợc thể hiện trên hai mặt sau : Một là, tạo điều kiện thuân lợi cho các doanh nghiệp trong nớc mở rông thị trờng ra nớc ngoài, tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, khai thác triệt để lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của nền kinh tế trong nớc. Hai là, bảo vệ thị trờng nội địa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nớc đứng vững và vơn lên trong hoạt động kinh doanh quốc tế, đáp ứng cho yêu cầu tăng cờng lợi ích quốc gia. Thêm vào đó, cũng cần phải nhấn mạnh rằng cách hiểu ở các phần trên về chính sách công nghiệp là quan điểm áp dụng cho các nền kinh tế thị trờng. Rất nhiều mô tả về chính sách công nghi ệp đơc khái quát từ thực tế vận hành chính sách công nghiệp ở những nớc nh Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, là những nớc có hệ thống chính trị khác với Việt Nam và hiện đang ở trình độ phát triển cao hơn Việt Nam.
  12. Nhận định về chính sách công nghi ệp Việt Nam cần phải đợc xẽmét trong bối cảnh Việt Nam là một nền kinh tế đang chuyển đổi sang một nền kinh tế thị trờng , Chính phủ đang phải đối mặt với vấn đề cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nớc, là một trong những trọng tâm của công cuộc cải cách kinh tế ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Khu vực doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam chủ yếu tập trung trong lĩnh vực sản xuất công nghi ệp. Cải cách khu vực doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam đợc thực hiện thông qua nhiều phơng thức, bán doanh nghiệp, cổ phần hoá, cho thuê, khoán kinh doanh, sáp nhập, giải thể,… Vì vậy,mô tả chính sách công nghiệp của Việt Nam bên cạnh những đặc diểm chung của một chính sách công nghiệp theo lý thuyết cần phải đề cập đến những công cụ chính sách sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp Nhà nớc. Ngoài ra, sự tham gia của Việt Nam vào AFTA, APEC, và quá trình đàm phán về khả năng gia nhập WTO với t cách thành viên chính thức là những minh chứng mạnh mẽ đối với xu hớng tự do hoá thơng mại ở Việt Nam. Xét về môi trờng chính sách tự do hoá thơng mại vừa khuyến khích xuất khẩu nhng cũng không tạo ra các rào cản đối với nhập khẩu. Bối cảnh đó không cho phép Việt Nam có thể sử dụng các rào cản bảo hộ thuế quan và phi thuế quan để trọ giúp cho phát triển công nghiệp trong dài hạn. III. CHÍNH SÁCH CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIÊM CHO VIỆT NAM. (NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, ĐÀI LOAN). Kinh nghiệm phát triển của các nớc Đông á cho thấy chính sách công nghiệp là một công cụ hữu hiệu để các nớc Đông á xây dựng kinh tế sau sự tàn phá của chiến tranh và phát triển trở thành các nền kinh tế công nghi ệp hoá mới nh : Hàn Quốc, Đài Loan, hay nền kinh tế công nghiệp phát triển nh Nhật Bản. Chính sách công nghiệp của các nớc này có hai đặc điểm chính : 1. Tập trung vào xây dựng cơ sở kinh tế trong nớc. Với xuất phát điểm là các nền kinh tế bị tàn phá và kiệt quệ sau chiến tranh, vấn đề đặt ra đầu tiên trong chiến lợc công nghi ệp hoá ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là tái thiết nền kinh tế. Đài Loan , bắt tay vào công cuộc xây dựng lại nền kinh tế sau 1949 với việc quốc hữu hoá các cơ sở kinh tế từ tay ngời Nhật thành các doanh nghiệp Nhà nớc trong các lĩnh vực nh: tinh chế đờng, diện lực, lọc dầu. Các công ty thuộc lĩnh vực xi măng, giấy và những công ty nhỏ hơn đợc t nhân hoá, nhờ đó giúp chuyển vốn của các địa chủ từ sản xuất nông nghiệp vào khu vực công nghiệp. Đồng thời Chính phủ ủng hộ sự phát triển của các khu vực thay thế nhập khẩu bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, chú ý phát triển các công ty t nhân thông qua việc nhập khẩu máy móc thiết bị bằng nguồn viện trợ của Mỹ. Nhật Bản, nền kinh tế sau chiến tranh đang trong tình trạng đổ nát và tụt hậu khá xa về công nghệ so với các quốc gia công nghi ệp hoá. những năm đầu sau chiến tranh,
  13. chiến lợc của Mỹ đối với Nhật Bản là kiềm chế tăng trởng kinh tế. Tăng trởng nhanh của Liên Xô cũ và sự mở rộng nhanh chóng của thế giới cộng sản buộc Mỹ thay đôỉ chiến lợc đối ngoại đối với Nhật Bản. Kế hoạch Marshall do Mỹ đa ra nhằm mục tiêu hỗ trợ quá trình tái thiết Nhật Bản và Châu Âu sau chiến tranh. Các nỗ lực phát triển kinh tế của Chính phủ Nhật Bản trong thời kỳ đầu là tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp nh điên, than, sắt théo, và đong tàu. Cũng trong giai đoạn này, mộtkhuôn khổ cơ bản của chính sách ccn đã đợc xác lập với các lĩnh vực u tiên khuy ến khích về thuế, tài chính và đầu t nớc ngoài. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn quản lý chặt chẽ, phân bổ các chỉ tiêu nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu, kiểm soát về giá cả áp dụng cho các khu vực u tiên. Sự kết thúc tạm thời của căng thẳng Nam – Bắc có ảnh hởng đến nền kinh tế Hàn Quốc trên ba phơng diên : cải cách ruộng đất, chủ nghĩa dân tộc, và viện trợ của Hoa Kỳ. Chế độ địa chủ bắt đẩu bãi bỏ từ 1953. Nông dân đợc chia đất và trở thành những ngời sở hữu đất đai. Tầng lớp địa chủ bị bắt buộc phải chuyển sang các khu vực thơng mại và công nghi ệp. thêm vào đó, sự tồn tại của cơ chế quản lý sở hữu ruộng đất chặt chẽ cho phép chính quyền có thể thực thi những chính sách nhất định để áp đặt các định hơng phát triển đối với khu vực nông nghiệp. Bằng việc không chú ý đầu t phát triển nông thôn trong khi tạo ra các điều kiện thuận lợi cho khu vực công nghiệp, chính quyền Hàn Quốc trong khoảng thời gian từ 1949-1962 đã có khởng 5 triệu ngời dân từ khu vực nông thôn di dân đến các vùng thành thị làm việc trong khu vực công nghiệp. Nằm trong tổng thể chiến lợc củng cố sức mạnh của quốc gia để đối phó với các thế lực cộng sanr, phát triển công nghiệp đợc coi là một nội dung u tiên hàng đầu. Trong thời gian 1953-1958, các tập đoàn kinh tế t nhân có quy mô lớn (gọi là Cheabols) đợc thành lập với sự hậu thuẫn của chính quyền TW . Trong những năm 50s, công nghiệp Hàn Quốc chứng kiến sự tăng trởng mạnh mẽ trên cả hai lĩnh vực công nghiệp nặng(hoá chât, luyện kim…) và công nghiệp nhẹ (nh dệt may, chế biến lơng thực thực phẩm). Để đảm bảo sự tập trung ủng hộ về thể chế, chính quyền cũng sử dụng những biện pháp bạo lực và các chính sách quản lý xã hội chặt chẽ để ngăn ngừa và dẹp bỏ mội sự chống đối từ các phe phái đối lập. Sự phát triển của các Cheabols trong khu vực công nghiệp nặng và hoá chất là sự thể hiện rõ nét của một chiến lợc phát triển công nghiệp hớng nội, nhằm vào mục tiêu độc lập kinh tế. Để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu, Chính phủ Hàn Quốc duy trì chế độ tỷ giá hối đoái kép, đa ra mức tỷ giá cố định quy định riêng cho xuất khẩu và nhập khẩu. Đồng thời giảm thuế cho máy móc , thiết bị nhập khẩu.
  14. Bảng 1 - Tóm tắt các chính sách khuyến khích công nghiệp ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan. Nhật Bản Hàn Quốc Đài Loan Hợp lý hoá công Sau nội chiến Triều Công nghiệp hoá nghiệp thay thế nhập khẩu Tiên (nửa đầu thập kỷ 50) (Những năm 50) (nửa đầu thập kỷ 50) Ưu tiên đầu t nhập Phát triển và khuyến khẩu thiết bị, đầu t Điều chỉnh các khích các ngành công nghiệp thay thế nhập ngành công nghiệp vào máy móc/ các khoản cho vay của khẩu/ hệ thống trợ cấp cộng chủ công ngân hàng phát triển bằng hạn ngạch/ tỷ giá chốt (đờng, xi Nhật Bản / Miễn hối đoái kép/ miễn măng, phân hoá giảm thuế. giảm thuế cho máy học…)/ khuyến móc, nguyên liệu nhập khích công nghiệp khẩu dệt bằng hạn chế số lợng Khuyến khích phát Thời kỳ quá độ triển công nghiệp sang CNH hớng về xuất khẩu (nửa sau (nửa sau thập kỷ 50) 1950s) Bảo hộ bằng thuế Hình thành những quan với các sản ngành công nghiệp phẩm sợi tổng hợp, chủ đạo/ phát triển dệt may, hoá dầu, công nghiệp dệt và máy móc, điện tử chế biến nông sản. dân dụng/ chính sách tài chính và thuế khoá có chọn lọc/ khuyến khích áp dụng công nghệ mới Tăng trởng cao Chuyển sang công Công nghiệp hoá nghiệp hớng xuất khẩu hớng xuất khẩu (những năm 60) (những năm 60) (những năm 60) Phát triển một nên Tăng cờng sử kinh tế mở/ hợp tác Ưu tiên tăng trởng dụng vốn nớc giữa Nhà nớc và t kinh tế/ thu hút vốn ngoài (các khoản nhân/ điều chỉnh cơ đầu t nớc ngoài/ vay và đầu t trực cấu đầu t/ phối hợp khuyến khích công tiếp)/ tập trung vào các lĩnh vự c sản nghiệp sản xuất hàng
  15. xuất/ thực hiện xuất khẩu/ miễn thuế/ khu vực kinh tế t chơng trình phát triển khuyến khích phát nhân/ lập các kinh tế ngành(các triển các ngành công KCX/ mi ễn giảm giải pháp cho công nghiệp chủ đạo thông thuế/ khuyến nghiệp máy móc và qua can thiệp của khích các công ty khu vực điện tử) Chính phủ và đầu t thơng mại . cho nghiên cứu ứng dụng. Tăng trởng ổn định CNH hớng xuất CNH các ngành công nghiệp nặng, hoá chất khẩu (những năm (từ những năm 70) hớng xuất khẩu 70) Lập các kế hoạch (những năm 70) Lập kế hoạch phát tầm xa/ sử dụng cơ triển chính thức chế thị trờng / phát Kế hoạch chiến lợc cho các công ty triển các ngành sử phát triển công nghiệp Nhà nớc về sắt dụng nhiều yếu tố tri nặng, hoá chất/ tài trợ thép, hoá dầu, và thức, công nghệ cao có kiểm soát cho các đóng tàu/ hình hoạt động kinh doanh/ thành quỹ vốn đầu cho vay lãi suất đối t xã hội. với các ngành công nghiệp nặng, hoá chất và sản xuất hàng xuất khẩu/ khuyến khích mở rộng trang thiết bị trong các xí nghiệp t nhân. Tự do hoá phối hợp Khuyến khích phát triển các ngành c ác ngành công nghiệp nặng, hoá chất. công nghiệp kỹ thuật cao. (những năm 80) (những năm 80) Tự do hoá kinh tế/ t nhân hoá một số khu Xác định các vực công cộng/ tự do ngành công nghiệp hoá quản lý cốn đầu t chiến lợc/ mi ễn nớc ngoài/ tự do hoá thuế đối với các tài chính/ tiếp tục ngành điện tử và khuyến khích phát máy móc/ lãi suất triển doanh nghiệp cho vay thấp/
  16. quy mô vừa và nhỏ. khuyến khích công nghiệp ô tô. 2. Công nghiệp hoá hớng nội, thay thế nhập khẩu đợc chuyển hớng thành công nghi ệp hoá hớng ngoại, khuy ến khích xuất khẩu vào thời điểm thích hợp Đây là điểm phân biệt quyết định sự thành công của các nớc NIE so với các nền kinh tế Latin America. Chiến lợc công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã xuất hiện đầu tiên ở các nớc Mỹ Latin. Nhng do duy trì quá lâu chính sách này nên đã biểu hiện những nhợc điểm rõ rệt. Kinh nghiệm của Brazil thực hiện công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu cho thấy việc duy trì u tiên theo hớng thay thế nhập khẩu trong một khoảng thời gian dài có thể là một nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến sự thất bại của chiêns lợc công nghiệp hoá hớng nội. - Khác với Brazil, ấn Độ, NIEs và Nhật Bản đều đã thực hiện các bơc chuyển hớng ngoạn mục từ u tiên tái thiết kinh tế trong nớc thông qua thay thế nhập khẩu bằng việc chuyển u tiên phát triển sang các khu vực khuyến khích xuất khẩu vào nửa cuối thập kỷ 50(đối với Nhật Bản và Đài Loan ) và những năm đầu của thập kỷ 60 (đối với Hàn Quốc). Bảng 2- Khuyến khích công nghiệp xuất khẩu và các chính sách kuyến khích xuất khẩu ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan . Nhật Bản Hàn Quốc Đài Loan Hợp lý hoá công Sau nội chiến Triều CNH thay thế nhập nghiệp Tiên khẩu (nửa đầu thập (nửa đầu thập kỷ 50) (những năm 1950) kỷ 50) Tài trợ u đãi, trợ cấp Khuyến khích xuất Thành lập các ngành u tiên cho xuất khẩu/ khẩu cũng là 1 phần công nghiệp công cho vay với lãi suất của CNH thay thế cộng chủ đạo/ lán thấp của Ngân hàng nhập khẩu ở Hàn sóng viện trợ của Mỹ/ phát triển Nhật Bản/ Quốc/ thành lập quỹ hạn ngạch nhập khẩu thành lập Ngân hàng khuyến khích xuất để bảo hộ/ chế độ tỷ xuất khẩu Nhật Bản khẩu/ trợ cấp tín giá kép/ áp dụng hệ (1950)/ khuyến khích dụng cho xuất khẩu, thống hai giá để về thuế, khấu trừ thu trợ cấp khác cho xuất khuyến khích xuất nhập cho xuất khẩu/ khẩu. khẩu. phát triển bảo hiểm xuất khẩu/ thành lập JETRO. Khuyến khích phát Chuyển sang CNH triển công nghiệp hớng xuất khẩu. (cửa sau những năm (nửa sau những năm
  17. 50) 50) Xuất khẩu tàu biển/ Bắt đẩu xuất khẩu cho vay lãi suất thấp gạo, đờng và nông của NHPT Nhật Bản/ sản chế biến của khu khấu trừ đặc biệt cho vực công cộng/ cải các khoản thu nhập cách hệ thống tỷ giá liên quan đến giao theo hớng khuyến dịch ở nớc ngoài. khích xuất khẩu. Tăng trởng cao Chuyển sang CNH CNH hớng xuất khẩu hớng xuất khẩu (những năm 60) hoàn toàn Tự do hoá kinh tế, (những năm 60) (những năm 60) tăng sức cạnh tranh/ Khuyến khích các xí Các khoản cho vay xuất khẩu thiết bị nghiệp t nhân trong đặc biệt/ cho vay xuất máy móc/ tiếp tục các ngành CNXK/ khẩu/ triển phát cho vay lãi suất thấp các khoản trợ cấp KCX/ khuyến khích của NHPT Nhật Bản/ trực tiếp/ cho vay lãi các công ty thơng khấu trừ đặc biệt đối suất thấp/ mi ễn giảm mại/ mi ễn giảm thuế/ với xuất khẩu/ phát thuế, khấu hao theo ban hành luật đầu t/ triển thị trờng nớc gia tốc/ khuyến khích tăng cờng sử dụng ngoài/ mở rộng quy phát triển xuất khẩu vốn nớc ngoài. mô và hiệu quả hoạt sản phẩm công động JETRO nghiệp nhẹ/ thành lập KOTRA. Tăng trởng nhanh Sự tiến bộ của các của Công nghiệp ngành công nghiệp xuất khẩu xuất khẩu (những năm 70) (những năm 70) Mở rộng các khoản Củng cố các xí cho vay lãi suất thấp/ nghiệp Nhà nớc/ phát phát triển các EPZ/ triển BHXK/ hệ phá giá nội tệ/ thành thống cho vay trung lập ngân hàng XNK/ và dài hạn của NH áp dụng thuế VAT. XNK/ hiệp hội phát triển ngoại thơng. Đối phó với xung đột thơng mại (những năm 80) Hạn chế xuất khẩu tự nguyện/ các công ty phát triển đầu t kinh
  18. doanh tại Mỹ(xuất khẩu tại chỗ)/ khuyến khích thị trờng tự do. Nhật Bản Bắt đầu từ nửa cuối của thập kỷ 50, Nhật Bản đã thực hiện hàng loạt những cải tiến về công nghệ và đề ra một chính sách công nghiệp đa dạng nhằm mở rộng cơ sở công nghiệp trong nớc, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp mới, cơ cấu lại các khu vực đang giảm sút. Mục tiêu của chính sách công nghiệp trong thời kỳ này gồm hai phần: thay thế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu. Các ngành nh sợi tổng hợp, hoá dầu, máy móc, phụ tùng, điện tử đợc xác định là các khu vực u tiên và đợc hởng các u đãi của Chính phủ về miễn giảm thuế kinh doanh về thuế xuất khẩu, cho vay lãi suất thấp, cho phép nhập khẩu công nghệ nớc ngoài, và miễn phải chịu luật chống độc quyền. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản cũng chủ ý thay đổi về thể chế để khuyến khích xuất khẩu . Mục tiêu chính sách công nghiệp những năm 60 đợc bổ sung thêm nội dung bảo vệ các ngành công nghi ệp trớc những tác động của tự do hoá. Nếu nh việc bảo vệ các ngành công nghiệp này vẫn sử dụng những công cụ chính sách nh thời kỳ trớc đây thì sẽ không có sự chuyển hớng của chính sách công nghiệp. Thay vào đó, các công cụ chính sách theo chiều ngang đợc thực hiện để tăng cờng sức cạnh tranh cho công nghiệp Nhật Bản. Mục tiêu nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp Nhật Bản đợc thông qua việc Chính phủ khuyến khích việc phối hợp giữa các ngành công nghiệp, tăng cờng hợp tác, trao đổi thông tin giữa khu vực t nhân và khu vực Nhà nớc. Tuy nhiên, chính sách công nghi ệp vẫn sử dụng các công cụ theo chiều dọc đối với một vài ngành công nghiệp cụ thể nh ô tô và hoá dầu, đợc coi là những ngành có tính chiến lợc, song những công cụ theo chiều dọc này trong thực tế đã không có hiệu lực nh mong muốn. Thay vào đó, cơ chế thị trờng và sự phối hợp giữa Chính phủ với các ngành công nghiệp theo phơng châm “Chính phủ không phải là cha, Chính phủ chỉ là ngời anh trai đối với các ngành công nghiệp ”.Kết quả là, trong thời kỳ này, công nghiệp Nhật Bản đạt đợc mức tăng trởng cao cha từng có, với hệ thống kinh tế tự do đợc hình thành và củng cố vững chắc. Hàn Quốc Sự chuyển hớng từ công nghiệp hoá hớng nội sang khuyến khích các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu ở Hàn Quốc có nhiều điểm khác biệt so với Nhật Bản. Nếu nh Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu có dấu hiệu chuyển hớng từ nửa cuối 1950s và cho đến 1960s thì hầu nh các công cụ của chính sách công nghiệp đợc sử dụng đều là các công cụ chính sách theo vhiều ngang, thì Chính phủ Hàn Quốc vẫn sử dụng nhiều
  19. các công cụ chính sách theo chiều dọc ngay cả khi nền kinh tế đã bắt đầu chuyển hoứng theo hớng khuyến khích xuất khẩu. Năm 1961, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện quốc hữu hoá toàn bộ hệ thống ngân hàng. Bằng các mệnh lệnh hành chính, Chính phủ phân phối các nguồn tín dụng khan hiếm cho các ngành công nghiệp đợc u tiên. Vào đầu thập niên 70, khi chi phí nhân công ngày càng cao, Chính phủ sử dụng hệ thống tín dụng để khuyến khích các doanh nghiệp chuyển hớng đầu t mạnh vào các ngành công nghiệp nặng hớng ra xuất khẩu nh hoá chất, đóng tàu, luyện thép. Tỷ trọng của xuất khẩu hàng hoá công nghiệp nặng trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tăng lên từ 14% năm 1974 lên 60% năm1984. Đồng thời Chính phủ cũng tiếp tục sử dụng hỗ trợ tín dụng để hậu thuẫn cho các Cheabol phát triển mở rộng. Ztrong thời gian từ 1972 đến 1979 số lợng các doanh nghiệp trong nớc thuộc sở hữu các cheabol tăng từ 7,5% đến 25,4%, tốc độ tăng trởng của các cheabol trong thời kỳ này đạt 44,7% trong khi đó tốc độ tăng GDP là 10,2% . Để khuyến khích xuất khẩu chính phủ cho phép phá giá đồng tiền ở mức độ đáng kể. Năm 1961 đồng won phá giá 50%. Các biện pháp phá giá mạnh mẽ hơn vào năm 1963 và trong thời kỳ 1971 – 1972 đã có tác dụng rất quan trọng để nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Hàn Quốc trên thị trờng quốc tế. Theo đánh giá của WB, đây là một trong những biểu hiện của sự thành công của chính phủ Hàn Quốc trong việc nới lỏng dânf các hàng rào bảo hộ để làm cho nền công nghiệp trong nớc có sức cạnh tranh cao hơ n . Đồng thời chính phủ cũng rất chú ý đến phối hợp trao đổi thông tin giữa khu vực t nhân và các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô, đực biệt là cơ chế phối hợp thông qua uỷ ban kế hoạch kinh tế Hàn Quốc. Bên cạnh đó trung tâm thơng mại Hàn Quốc ( Kotra ) đợc thành lập cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các ngành xuất khẩu phát triển. Thời kỳ này chính phủ Hàn Quốc mới dần dần sử dụng ít đi các công cụ chính sách theo chiều dọc để chuyển sang sử dụng các chính sách theo chiều ngang. Vào đầu những năm 1980 chính phủ chủ yếu thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với khu vực công nghiệp thông qua việc kiểm soát các tổ chức tài chính tài trợ cho phát triển các ngành công nghiệp sanr xuất hàng xuất khẩu. Đài Loan : Bắt tay vào khuyến khích phát triển các ngành công nghi ệp hớng ra xuất khẩu vào cuối những năm 1950, sớm hơn vài năm so với Hàn Quốc. Việc nới lỏng đối với xuất nhập khẩu đợc thực hiện từ sau 1958. Chính sách tỷ giá hối đoái kép đợc thay bằng một hệ thống tỷ giá thống nhất. Đầu t nớc ngoài bắt đầu đợc chú ý vào đầu những năm 1960.
  20. Chính phủ cho phép các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đợc sử dụng các khoản tín dụng u đãi và các miễn giảm về thuế. Điểm nổi bật trong khuyến khích công nghiệp xuất khẩu của Đài Loan là việc thành lập các khu chế xuất ( EPZ ). Đài Loan là nớc thành công nhất trong việc sử dụng mô hình EPZ vào khuyến khích phát triển xuất khẩu. Kết quả của những cố gắng đã tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn với cơ sở hạ tầng hiện đại, các u đãi về thuế, thủ tục hành chính đơn giản là các lĩnh vực hành chính nh dệt, chế biến thực phẩm, công nghiệp nhẹ, linh kiện điện tử, đồ gia dụng đã phát triển nhanh chóng trong khuôn khổ các EPZ. Vào đầu những năm 1970 Đài Loan tiếp tục đẩy mạnh các ngành công nghiệp hớng vào xuất khẩu và thông qua 10 dự án xây dựng lớn ( 1973 ). Chính phủ tiếp tục tăng cờng đầu t xây dựng mới và hiện đại hoá cơ sở hạ tầng. Các ngành công nghiệp nh sắt thép, hoá dầu, đòng tầu đợc tiếp tục củng cố thông qua các khoản đầu t khổng lồ của các tập đoàn kinh tế nhà nớc. Việc u đãi phát triển cho khu vực này là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn của nền kinh tế cuôí những năm 1970 dới ảnh hởng của cú sốc dầu lửa lần thứ 2 vào năm 1979 CHƠNG II THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM I.CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM THỜI KỲ (1954- 1989). 1. Khái quát chính sách phát triển công nghiệp thời kỳ (1954-1989) 1.1. Giai đoạn (1954-1957) Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời từ tháng 9 năm 1945, nhng chỉ sau đó một thời gian ngắn, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Hiệp định Giơ-ne-vơ mới chỉ mang lại hoà bình trên nửa phía Bắc. Có thể nói, từ đây cho đến 1975, chính sách công nghiệp hoàn toàn khác nhau. Miền Bắc thực hiện cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung theo mô hình và với sự giúp đỡ của các nớc trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, Trung Quốc và các nớc Đông Âu. Trong khi đó, ở Miền Nam, với sự có mặt của Hoa Kỳ, một nền kinh tế phục vụ chiến tranh theo cơ chế thị trờng đợc kiến tạo mạnh, đặc biệt bắt đầu từ 1960. Do đó, Việt Nam tồn tại song song hai mô hình kinh tế khác nhau và tất nhiên là với hai chính sách công nghiệp khác nhau.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản