BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH ________________________________ NGOÂ ÑÌNH VAÂN NHI ÑAËC ÑIEÅM TRUYEÄN VIEÁT CHO THIEÁU NHI CUÛA PHAÏM HOÅ
Chuyeân ngaønh: Vaên hoïc Vieät Nam Maõ soá: 60 22 34
LUAÄN VAÊN THAÏC SÓ VAÊN HOÏC
NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC TS. NGUYEÃN THÒ HOÀNG HAØ
Thaønh phoá Hoà Chí Minh – 2008
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi chân thành cảm ơn các thầy cô và cán bộ của Phòng Khoa học công nghệ
và Sau Đại Học trường Đại học Sư Phạm TPHCM đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong suốt quá trình học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn các cán bộ của Thư viện trường Đại học Sư Phạm TPHCM, thư
viện tỉnh Đồng Nai đã hỗ trợ tận tình cho tôi trong việc tìm kiếm tư liệu nghiên cứu để
hoàn thành tốt luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả quý thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 16 chuyên
ngành Văn học Việt Nam.
Tôi cũng hết lòng biết ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình và bạn bè. Đó chính là
nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, tôi vô cùng tri ân sự hướng dẫn tận tình và theo dõi sát sao đầy tinh thần trách
nhiệm cùng lòng thương mến của Tiến sỹ Nguyễn Thị Hồng Hà trong suốt quá trình tôi
thực hiện luận văn này.
Cuối cùng tôi muốn gởi lời cảm ơn đến toàn bộ quý thầy cô của khoa Ngữ Văn trường
Đại học Sư Phạm TPHCM, những người có vai trò rất lớn trong suốt quá trình tôi theo
học tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học thiếu nhi từ lâu đã trở thành “một bộ phận có vị trí đặc biệt trong mỗi nền văn học dân
tộc” [48, tr.7]. Nó được xem là hành trang quan trọng cho trẻ em trên suốt đường đời, bởi lẽ những gì lưu
giữ trong thời niên thiếu rất khó phai mờ. Véra C.Barclay - một nữ trưởng hướng đạo, chuyên ngành về
Sói con - trong lúc nghiên cứu phương pháp hướng đạo để giúp hình thành tính cách cho trẻ lứa tuổi 8-12,
đã kết luận một số điều có liên quan đến văn học cho thiếu nhi như sau: “Trong trái tim mỗi trẻ em đều có
cái mà ta gọi là bản năng về sự huyền diệu và sự kì lạ… Chính là trong khi nghe chuyện mà em nhỏ giải
được cơn khát cái huyền diệu, bởi vì, nhờ câu chuyện ấy, em có thể ngao du trong thế giới của truyền
thuyết và hút đầy bầu phổi không khí phấn khởi của nó” [80, tr.47]. Cũng theo Véra C.Barclay, những câu
chuyện mà trẻ em được đọc, được nghe kể từ thuở nhỏ là thức ăn tưởng tượng: “em nhỏ, khi nghe một câu
chuyện, sẽ hấp thu những ý nghĩ và tích tụ chúng trong trí nhớ, một ngày mưa nào đó, chúng quay trở lại
làm cho vui lên và tô màu sắc cho cuộc sống âm u, cho tới khi lại có một câu chuyện khác, đến lượt nó,
chiếu cái chùm ánh sáng của nó với một sắc thái khác nữa vào cái cảnh bé nhỏ âm u của lí trí em nhỏ”
[80, tr.48]. Thực tế, không ai không thừa nhận vai trò của văn học thiếu nhi đối với việc bồi dưỡng tâm
hồn, cao hơn là xây dựng nhân cách cho các thế hệ trẻ thơ. Không ít người trưởng thành đã khẳng định:
những cuốn sách quan trọng nhất đời ta chính là những cuốn đọc từ thời thơ ấu. Mikhain Ilin - nhà văn
Nga chuyên viết truyện khoa học cho thiếu nhi - từng thổ lộ tâm sự: “Trước khi kể chuyện tôi bắt đầu viết
văn như thế nào, tôi muốn kể cho các bạn biết tôi đã bắt đầu đọc sách như thế nào” [53, tr.50] . Còn
Assen Bossev - nhà văn Bugari, tác giả của 60 tập truyện ngắn và thơ viết cho thiếu nhi - khẳng định:
“Những cuốn sách hay đều là người bạn đường vĩnh viễn của tuổi nhỏ; chính chúng cho trẻ con đôi cánh
để bay lên mà chinh phục cuộc sống” [4, tr.47 ]. Và chúng ta hãy xem ý nghĩa lớn lao của việc nghe thầy
đọc thơ đối với tâm hồn, trí tưởng tượng và tình cảm của một chú bé 9 tuổi người Việt Nam:
“Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà
Mái chèo nghe vọng sông xa
Êm êm nghe tiếng của bà năm xưa
Nghe trăng thở động tàu dừa
Rào rào nghe chuyển cơn mưa giữa trời
Thêm yêu tiếng hát nụ cười
Nghe thơ em thấy đất trời đẹp ra”.
( Nghe thầy đọc thơ - Trần Đăng Khoa)
Có thể thấy những vần thơ người thầy đọc đã tác động sâu sắc và mãnh liệt đến thế giới tâm hồn
tuổi nhỏ của Trần Đăng Khoa - “thần đồng thơ ca”, “là hiện tượng đặc biệt trong văn học Việt Nam nói
chung, văn học thiếu nhi nói riêng” [48, tr.175]. Những vần thơ đã làm sống dậy một không gian tràn
ngập âm thanh, màu sắc của thiên nhiên, cuộc sống thường ngày, khơi gợi lên kí ức về một miền sâu thẳm
của những câu chuyện cổ và thế giới tình người tha thiết. Rõ ràng, văn học dành cho thiếu nhi là một bộ
phận quan trọng, không thể thiếu đối với hành trình đầu đời của bất cứ một người nào. Bởi vậy, còn trẻ
em thì vẫn còn cần văn học dành cho thiếu nhi, và còn rất cần những công trình nghiên cứu về bộ phận
văn học ấy. Đó chính là lí do thứ nhất khi chúng tôi quyết định lựa chọn mảng văn học thiếu nhi Việt Nam
làm đề tài nghiên cứu.
Trong bài viết Phác thảo 50 năm văn học thiếu nhi [71, tr.11-16], Vân Thanh - một người có bề
dày nghiên cứu văn học trẻ em - đã gọi tên một số cây đa cây đề trong sự nghiệp sáng tác cho thiếu nhi
Việt Nam: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng, Phạm Hổ. Nhà nghiên cứu ấy viết bài trên vào tháng
9 năm 1995. Tính đến hôm nay, việc xác định những gương mặt tiêu biểu của văn học thiếu nhi như thế đã
có thêm 13 năm kiểm nghiệm tính chính xác. Dẫu rằng từ bấy đến nay, bộ phận văn học thiếu nhi đã có
thêm nhiều cây bút mới. Hơn nữa, văn học dành cho thiếu nhi cũng đã trải qua khá nhiều những thăng
trầm, thử thách, nhất là trong thời kì hiện đại, nó dễ bị lãng quên bởi trẻ em đang bị hút vào những thú vui
văn hóa mới. Tuy nhiên, những sáng tác của các nhà văn như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Võ Quảng
và Phạm Hổ vẫn để lại không ít ấn tượng sâu sắc trong tâm trí của bạn đọc thiếu nhi. Chúng tôi cho rằng
việc đánh giá, ghi nhận lại vị trí của những cây bút tâm huyết dành cho nền văn học thiếu nhi nước nhà là
việc làm cần thiết, trong đó không thể không kể đến một gương mặt quen thuộc mà thiếu nhi Việt Nam rất
mến yêu: Phạm Hổ.
Sinh thời, Phạm Hổ thường hay nói đến một khát vọng giản dị nhưng mãnh liệt của mình là được
làm bạn với trẻ con. Ông đã sáng tác trên cả ba địa hạt: thơ, văn xuôi, kịch và để lại một sự nghiệp văn
học dành cho trẻ em khá dày dặn. Nhiều nhà nghiên cứu đã tỏ ra rất chú trọng đến bộ phận thơ ca viết cho
thiếu nhi của Phạm Hổ. Tuy nhiên, gia tài văn chương của Phạm Hổ không chỉ có thơ, mảng truyện viết
cho thiếu nhi của ông cũng cần được nghiên cứu kĩ càng. Có như vậy, chúng ta mới đánh giá được hết
những đóng góp của Phạm Hổ đối với nền văn học thiếu nhi Việt Nam hiện đại.
Ngoài ra, người viết cũng ghi nhận một yêu cầu xuất phát từ thực tiễn: nền văn học hiện đại Việt
Nam dành cho thiếu nhi không chỉ đứng trước cuộc thử thách cạnh tranh với những “thú vui” đa dạng
khác của thời buổi công nghệ như internet, điện thoại di động mà còn “bất lực” trước sự xâm chiếm của
những tác phẩm văn học thiếu nhi nước ngoài. Một thực tế buộc nhiều nhà văn Việt Nam phải suy nghĩ:
truyện tranh nước ngoài đang là sản phẩm văn hóa được nhiều bạn nhỏ lựa chọn hoặc mảng truyện chữ
trong nước dẫu từng được đánh giá là có truyền thống mạnh mẽ, nay cũng đang nhường thị trường cho các
tác phẩm nước ngoài. Hiện tượng thiếu nhi Việt Nam say sưa Đôrêmon trước kia và Harry Potter gần đây
là những ví dụ điển hình. Trong cuộc hội thảo “Văn học thiếu nhi thời hiện đại” do hội nhà văn TPHCM
tổ chức vào ngày 28/10/2005, nhiều cây bút thừa nhận văn học thiếu nhi trong nước đang rơi vào thời kì
suy thoái. Các nhà văn có tâm huyết đã bàn luận phương cách tháo gỡ nhưng kết thúc hội thảo, kết luận
chỉ có thể là trông chờ sự thay đổi. Nhà văn Trần Hoài Dương - một người dành cả cuộc đời gắn bó với
công việc sáng tác văn học cho trẻ em - nhận xét về tình hình phát triển văn học thiếu nhi Việt Nam như
sau: “Đội ngũ sáng tác trên diện rộng, đông đảo. Tuy nhiên, những tác giả có cá tính, bản sắc riêng thì
hiếm. Người viết trẻ lại không có ý định theo đuổi đến cùng con đường viết văn cho thiếu nhi. Lớp trẻ
chưa đột biến, lớp già như tôi thì gần hết vốn, mệt mỏi và khó bắt kịp đời sống hiện đại. Phải thừa nhận là
chúng ta có một nền văn học thiếu nhi, nhưng suốt mấy chục năm nay, nó vẫn còn mang nhiều tính mô
phạm, giáo điều. Đúng, tốt đẹp, tính giáo dục cao nhưng lại thiếu những điều cơ bản: chất kì diệu, yếu tố
mơ mộng, bay bổng, tưởng tượng phong phú… những thứ mà trẻ con rất cần”. Có thể thấy rằng: việc đáp
ứng nhu cầu đọc văn Việt Nam của thiếu nhi Việt Nam đang được đặt ra khá bức thiết. Và tất nhiên, cùng
với nó là hàng loạt những vấn đề xoay quanh việc nhà văn phải viết thế nào để lôi cuốn những độc giả nhỏ
tuổi. Chúng tôi nghĩ rằng, việc nghiên cứu sáng tác của những cây bút tiêu biểu viết cho thiếu nhi cũng là
một trong những cách góp phần tìm kiếm một hướng đi hiệu quả cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam hiện
nay.
Với tất cả những suy nghĩ trên cộng thêm niềm yêu quý Phạm Hổ - một người đã từng gieo vào
tâm hồn bé thơ của người viết những rung động cảm xúc khó phai mờ - người viết quyết định chọn đề tài
luận văn là: Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nhìn trên bình diện sâu, các công trình nghiên cứu về văn học thiếu nhi nước ta không phải ít và
cũng không ít các nhà nghiên cứu dành phần lớn tâm huyết, thời gian của đời mình cho công việc phê
bình những sáng tác dành cho thiếu nhi Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta buộc phải so sánh và thừa nhận
rằng độ chênh lệch giữa đầu tư nghiên cứu bộ phận văn học thiếu nhi so với việc nghiên cứu những tác
giả, tác phẩm viết cho người lớn là quá lớn. Năm 2002, Hội đồng văn học thiếu nhi kết hợp với nhà xuất
bản Từ điển bách khoa Hà Nội nuôi ý định làm một bộ Bách Khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam gồm 4
tập:
Tập một: Tổng quan về văn học thiếu nhi Việt Nam.
Tập hai: Thơ ca văn học thiếu nhi Việt Nam (tuyển).
Tập ba: Văn xuôi văn học thiếu nhi Việt Nam (tuyển).
Tập bốn: Từ điển tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam.
Dự định tốt đẹp ấy đến hôm nay đã đem đến cho ngành nghiên cứu văn học một thành quả đẹp. Đó
là sự ra đời tập một của bộ bách khoa thư văn học thiếu nhi với gần 500 trang giấy in. Đây được xem là
công trình nghiên cứu về văn học trẻ em dày dặn nhất ở nước ta hiện nay.
Có nhiều nguyên nhân khiến cho mảng nghiên cứu văn học thiếu nhi thiếu bề rộng lẫn bề sâu so
với các bộ phận nghiên cứu văn học khác. Nhưng có lẽ lí do lớn nhất là thiếu độc giả của phê bình văn học
thiếu nhi. Thực tế trên dẫn đến hệ quả là khu vực nghiên cứu văn học thiếu nhi còn rất nhiều khoảng
trống.
Từ tình hình chung đó, dẫu được đánh giá là cây bút tiêu biểu của nền văn học thiếu nhi Việt Nam,
Phạm Hổ và các sáng tác của ông cũng chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Nhiều bài viết và công
trình nghiên cứu tập trung vào mảng thơ ca của Phạm Hổ: Phạm Hổ và tuổi thơ của Vân Thanh (Bách
khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội, trang 269), Người ở xứ thần tiên
của Trần Đăng Khoa (Tuyển tập Phạm Hổ, NXB Văn học, trang 3), Thiên nhiên trong thơ viết cho thiếu
nhi của Phạm Hổ của Phạm Phương Liên (internet), Phạm Hổ thơ viết cho lứa tuổi nhi đồng của Lê Nhật
Ký (Thông báo khoa học, Đại học Quy Nhơn, số 31)… Trong khi đó, mảng truyện viết cho thiếu nhi của
Phạm Hổ chưa được quan tâm thỏa đáng.
Ngay trong các giáo trình giảng dạy cho sinh viên như Văn học thiếu nhi Việt Nam (PTS Trần Đức
Ngôn chủ biên, Trường ĐHSP HN I, 1995), phần viết về Phạm Hổ khoảng 8 trang thì có đến 6 trang viết
về thơ, phần truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ chỉ được đánh giá trên diện rộng, bề mặt. Tuy nhiên,
chúng tôi vẫn ghi nhận một số nhận xét để làm cơ sở cho việc nghiên cứu của mình: “Mỗi câu chuyện của
Phạm Hổ là sự tích một loài cây hoa, quả. Ông giới thiệu cho các em những đặc điểm bề ngoài, tính chất,
tác dụng của chúng và thái độ của con người đối với chúng. Ông giải thích nguồn gốc xuất hiện của
chúng và lí do những cái tên chúng mang” [60, tr.72]. Quan trọng hơn, người biên soạn sách đã đề cập
đến bề sâu và ý nghĩa của những câu chuyện mà Phạm Hổ viết: “Sự tích hoa quả bao giờ cũng được gắn
với một phương diện nào đó trong cuộc sống con người, hoặc gắn với những số phận con người có thực.
Qua những câu chuyện cảm động ấy, nhà văn đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người, hướng
các em tới tình yêu thương nhằm giảm đi những điều xấu, điều ác” [60, tr.73].
Đến năm 2003, Giáo trình văn học trẻ em của Lã Thị Bắc Lý đã được nhà xuất bản Đại học Sư
Phạm Hà Nội ấn hành để phục vụ cho sinh viên các khoa Giáo dục mầm non, Giáo dục đặc biệt. Đây được
xem là một công trình nghiên cứu khá chuẩn, cung cấp những kiến thức cơ bản về nền văn học thiếu nhi
Việt Nam và giới thiệu thêm những tinh hoa văn học trẻ em của nước ngoài. Đọc chương giới thiệu một
số tác giả Việt Nam tiêu biểu, chúng tôi nhận thấy người nghiên cứu đã thể hiện rõ công phu để nắm bắt
được đặc điểm, giá trị nổi bật trong những sáng tác của Võ Quảng, Tô Hoài từ mảng thơ ca đến văn xuôi,
từ nội dung đến nghệ thuật… Riêng với Phạm Hổ, nhà nghiên cứu cũng quan tâm nhiều hơn đến mảng thơ
ca, từ khảo sát Nội dung chủ đạo trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ đến tìm hiểu Đặc sắc về nghệ
thuật thơ Phạm Hổ viết cho trẻ em. Nhưng đến mảng văn xuôi, Lã Thị Bắc Lý chỉ đánh giá khái quát về
tập Chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ. Điều đáng ghi nhận nhất ở đây là: người nghiên cứu đã xác
định thể loại nổi bật trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ: cổ tích hiện đại (còn gọi là cổ tích mới).
Thật ra, vấn đề thể loại đã từng được Lã Thị Bắc Lý tìm hiểu khá sâu sắc trong công trình Truyện
viết cho thiếu nhi sau 1975 (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2000). Công trình thể hiện cái nhìn khái quát
của người nghiên cứu về nền văn học thiếu nhi Việt Nam sau chiến tranh, nhất là tác giả có ý thức tìm
kiếm những đổi mới trong quan niệm sáng tác, hình tượng nhân vật và hàng loạt các vấn đề có liên quan
đến nền văn học trẻ em thời hòa bình. Trong đó, Lã Thị Bắc Lý nhấn mạnh đến việc gia tăng các thể loại
mới so với nền văn học thiếu nhi thời kì 1945-1975, trong đó có thể loại truyện cổ tích hiện đại. Khi bàn
đến thể loại này, người nghiên cứu đánh giá: “vấn đề sáng tác cổ tích mới được nhiều nhà văn quan tâm
hơn, trong đó, Phạm Hổ là người đầu tiên đã mạnh dạn thể nghiệm sáng tác truyện cổ tích cho các em”
[48, tr.118]. Sau đó, khi đi sâu tìm hiểu các đặc điểm nổi bật của thể loại cổ tích mới ấy trên các bình diện:
không gian - thời gian, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ…, người nghiên cứu thường xuyên lấy truyện viết
cho thiếu nhi của Phạm Hổ làm dẫn chứng và phân tích khá kĩ. Tuy nhiên, Truyện viết cho thiếu nhi sau
1975 chưa thể được coi là một công trình chuyên tâm nghiên cứu mảng truyện viết cho thiếu nhi của
Phạm Hổ.
Trong khung thời gian một năm tích cực tìm kiếm tư liệu từ các nguồn khác nhau, chúng tôi nhận
thấy bài viết chuyên tâm đầu tiên về văn xuôi của Phạm Hổ là tham luận Phạm Hổ với những “Chuyện
hoa, chuyện quả” của anh của nhà văn Nguyên Ngọc trong cuộc hội thảo về ba nhà văn chuyên viết cho
thiếu nhi năm 1986. Khi ấy, số lượng truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ còn khá mỏng (Chuyện hoa,
chuyện quả ra đời mới hai tập), nhưng trong tham luận Nguyên Ngọc đã có những đánh giá khá sắc sảo về
nội dung chính trong truyện của Phạm Hổ: “Dường như tác giả Chuyện hoa chuyện quả đang muốn đưa
ra một lý thuyết khác về nguồn gốc muôn loài. Anh nói với các em: Các em ạ, thế giới quanh ta muôn vẻ
kì lạ kì diệu như vậy, tất cả là do con người làm ra cả đấy. Nguồn gốc của muôn loài chính là ở tình yêu,
tình thương và lòng tốt của con người”. Ngoài ra, Nguyên Ngọc còn tìm thấy những điểm rất thú vị trong
truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ: “Hình như văn học ta ít lâu nay, cả văn học viết cho các em, bận
bịu chính đáng vì những vấn đề xã hội lớn, mà chừng có hơi xao lãng về thiên nhiên chăng? Anh Phạm
Hổ đã giải quyết mối quan hệ đó theo cách của anh: tìm thấy xã hội, những vấn đề xã hội trong chính
thiên nhiên”. Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn chế của một tham luận đọc tại hội nghị, Nguyên Ngọc chưa
có điều kiện khơi mạch suy nghĩ rộng và sâu hơn nữa về nội dung tư tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi
của Phạm Hổ. Bài viết của ông thiên về đánh giá nội dung mà chưa quan tâm đến bình diện hình thức
nghệ thuật trong những sáng tác ấy.
Bài viết thứ hai tỏ ra một hướng khẳng định rõ hơn về vị trí của Phạm Hổ trong mảng văn xuôi là
bài Đóng góp của Phạm Hổ cho một thể loại văn học thiếu nhi của Phạm Bá Tân - giảng viên trường Cao
đẳng sư phạm Nghệ An, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 9-2004. Người nghiên cứu xác định
ngay từ đầu mục đích của mình là “muốn tìm hiểu, nghiên cứu, giới thiệu cho giáo sinh, sinh viên những
vẻ đẹp phong phú và giàu có của văn xuôi viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ” [69, tr.123]. Người nghiên
cứu khá tâm đắc khi phát hiện ra rằng: “tình thương đầm ấm cùng với tình yêu thiên nhiên, cây cỏ, tình
yêu trẻ thơ và vốn văn hóa dân gian giàu có đã giúp Phạm Hổ sáng tạo được những thiên huyền thoại về
các loài hoa và quả; hình tượng cây quả, cây hoa trong truyện của Phạm Hổ chính là hình tượng có tính
ẩn dụ về nhiều loại người, nhiều phẩm chất và tính độc đáo của người đời” [69, tr.124]. Tuy nhiên, kết
luận của Phạm Bá Tân được xây dựng trên một phạm vi nghiên cứu còn hạn chế vì chủ yếu tìm hiểu qua
18 câu chuyện của Phạm Hổ trong tập Quả tim bằng ngọc. Trong khi đó gia tài văn xuôi của Phạm Hổ
hơn gấp 3 lần như thế…
Chúng tôi cũng tìm được hai bài viết ngắn của giảng viên Lê Nhật Ký (trường Đại học Quy Nhơn)
về văn xuôi của Phạm Hổ, một bài đăng trên thông báo khoa học của trường (số 5-2005) với nhan đề:
Phạm Hổ - người kể chuyện cổ tích về hoa quả và bài thứ hai là Phạm Hổ - một lối đi riêng trong truyện
cổ viết lại trên trang web Văn học quê nhà
(http://www.toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/view.aspn=2314). Lê Nhật Ký tỏ ra rất tâm đắc với
mảng văn xuôi của Phạm Hổ, nhất là những điểm độc đáo thể hiện sự sáng tạo một lối đi riêng của tác giả
trong mảng truyện viết theo kiểu cổ tích hiện đại. Qua tìm hiểu câu chuyện Ngựa thần từ đâu đến của
Phạm Hổ, người nghiên cứu khẳng định: “Nghệ thuật truyện cổ viết lại cho phép nhà văn sáng tạo, nhào
nặn cốt truyện trên tinh thần thời đại mình. Từ hình tượng rất quen thuộc trong truyền thuyết dân gian,
nhà văn Phạm Hổ đã phát triển, xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật trọn vẹn, khuyến khích bạn
đọc tuổi thơ kiếm tìm, khám phá, cắt nghĩa các giá trị dân gian tưởng đã ổn định, bất di bất dịch”. Hoặc
khảo sát hai truyện ngắn nằm cùng trong một chuỗi là Lửa vàng, lửa trắng và Lửa vàng, lửa trắng, lửa
nâu, Lê Nhật Ký đánh giá cao Phạm Hổ vì cho đến nay “trong phạm vi văn học thiếu nhi, gần như chỉ có
Phạm Hổ dấn thân vào loại truyện viết tiếp” (dựa vào kết thúc truyện dân gian có sẵn rồi viết một truyện
mới trên cơ sở đảm bảo tính lôgíc về sự phát triển của nội dung câu chuyện). Những kết luận của Lê Nhật
Ký giúp chúng tôi một lần nữa có thêm cơ sở để khẳng định hướng đi của mình là đúng đắn. Phạm Hổ đã
chủ tâm tìm một lối đi riêng cho mình khi viết truyện cho thiếu nhi. Và lối đi ấy cần được trân trọng và
đầu tư nghiên cứu để có thể đánh giá đúng mức.
Nói tóm lại, chúng tôi không phải là người đầu tiên tìm hiểu mảng văn xuôi của Phạm Hổ. Nhiều
nhà nghiên cứu có thâm niên và tâm huyết đã ít nhiều mở ra các hướng đi mà chúng tôi dựa vào đó làm cơ
sở nền tảng cho những suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, có thể nói, chúng tôi là người đầu tiên mạnh dạn
xem truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là đối tượng để nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống.
3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Để có thể kết luận về đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi cho rằng phải xem
xét đầy đủ các câu chuyện trong gia tài truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Chỉ tính trên tên các truyện
ngắn đã được in sách (chúng tôi không kể tên tập truyện vì qua những lần xuất bản, tái bản, việc sắp xếp
khác nhau nên không chính xác trong thống kê số lượng truyện viết của tác giả), Phạm Hổ viết khoảng 54
truyện cho thiếu nhi. Tuy nhiên, trong quá trình phân loại, chúng tôi nhận thấy 2 truyện Viết thư cho cha
(1959) và Khẩu súng người ông (1960) nằm chung một nhóm truyện viết trong hoàn cảnh chiến tranh;
truyện Những chú sẻ con (1988) thuộc thể loại đồng thoại, còn lại 51 câu chuyện thuộc 3 dạng: truyện cổ
tích mới, truyện cổ viết lại, truyện cổ viết tiếp. Vì vậy, chúng tôi quyết định khoanh vùng 51 truyện có
cùng điểm chung là mang hơi hướng của truyện cổ dân gian, trong đó có 47 truyện thuộc 6 tập truyện mà
Phạm Hổ đặt tên chung là Chuyện hoa chuyện quả cùng viết về sự tích các loài hoa và loài quả thu hút sự
chú ý của chúng tôi nhiều nhất.
Với tỉ lệ 47/54 truyện ngắn, chúng tôi cho rằng phạm vi nghiên cứu khảo sát như thế cũng khá ổn,
bởi nó chiếm trên 87% gia tài văn xuôi viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Hơn nữa 47 câu chuyện ấy, Phạm
Hổ đã dày công viết trên 20 năm (1972-1995). Điều đó cho thấy 47 câu chuyện này là một hướng viết
truyện đầy tâm huyết của Phạm Hổ dành cho trẻ em nước nhà.
Và chúng tôi chủ yếu sẽ khảo sát 47 truyện ngắn thuộc tập Chuyện hoa, chuyện quả của Phạm Hổ
để tìm hiểu đặc điểm về cảm hứng tư tưởng và nghệ thuật kể chuyện cho thiếu nhi của nhà văn.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học sau:
4.1. Phương pháp hệ thống.
Chúng tôi đặt đối tượng nghiên cứu của mình: truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ vào hệ thống
những sáng tác đa dạng của nhà văn ấy bao gồm cả thơ, truyện và kịch. Ngoài ra, chúng tôi tìm mối liên
hệ giữa sáng tác của Phạm Hổ và các tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi của các nhà văn Việt Nam
khác.
4.2. Phương pháp thống kê.
Khi thực hiện luận văn này, người viết sẽ thống kê để xác định những hiện tượng mang tính phổ
biến, thường xuất hiện trong 47 truyện ngắn của Phạm Hổ.
4.3. Phương pháp phân tích và tổng hợp.
Chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích như một công cụ để tìm hiểu cụ thể một đặc điểm nào đó
về nội dung và nghệ thuật trong truyện của Phạm Hổ.
Tuy nhiên, phân tích cần đi liền với tổng hợp vì như thế các kết luận không mang tính ngẫu nhiên,
vụn vặt mà thể hiện sự đánh giá mang tính khái quát và thuyết phục hơn.
4.4. Phương pháp so sánh.
Chúng tôi so sánh truyện của Phạm Hổ với các tác phẩm của những nhà văn khác cùng viết thể
loại truyện cổ tích hiện đại như: Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng…
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN.
Qua luận văn Đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi cố gắng cung cấp cái
nhìn hệ thống và toàn diện về mảng truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ. Qua đó, luận văn góp phần
khẳng định đóng góp không nhỏ của Phạm Hổ vào bộ phận văn xuôi Việt Nam hiện đại dành cho trẻ em,
nhất là ở thể loại cổ tích mới.
Ngoài ra, trong hoàn cảnh văn hóa nghe nhìn tràn ngập đang làm mất đi thú đọc sách nơi thiếu nhi,
nhất là các tác phẩm văn học trong nước dành cho thiếu nhi hiện nay chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu
thưởng thức của trẻ em, thì việc nhìn nhận, tìm hiểu, đánh giá sáng tác của một tác giả từng có ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống tâm hồn nhiều thế hệ tuổi thơ như Phạm Hổ, theo chúng tôi, cũng là một trong
những cách gợi mở hướng sáng tác cho các nhà văn viết truyện thiếu nhi hiện nay.
Mặt khác, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ là một đóng góp cho ngành lí luận, nghiên cứu văn học
thiếu nhi vốn còn đang có nhiều bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức.
6. BỐ CỤC LUẬN VĂN.
Luận văn gồm năm phần chính: Ngoài phần dẫn luận và kết luận, phần nội dung được chia thành ba
chương dựa trên nội dung nghiên cứu:
Chương 1: Phạm Hổ và quan niệm sáng tác của ông.
Chương 2: Cảm hứng tư tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ.
Chương 3: Nghệ thuật kể chuyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ.
Chương 1: PHẠM HỔ VÀ QUAN NIỆM SÁNG TÁC
1.1. Tiểu sử và sự nghiệp sáng tác.
1.1.1. Tiểu sử.
1.1.1.1. Phạm Hổ - cuộc đời.
Vào ngày 28 tháng 11 năm 1926, xã Nhơn An (ngày trước gọi là xã Thanh Liêm), huyện An Nhơn,
tỉnh Bình Định đón chào sự ra đời của một “chú bé”mang cái tên rất dữ: Phạm Hổ (sau này, Phạm Hổ còn
lấy bút danh là Hồ Huy). Lần theo kí ức của Phạm Hổ, chúng ta thấy rằng làng quê nghèo và không yên ả
của những năm tuổi thơ ấy đã để lại trong tâm trí Phạm Hổ những tình cảm thân thương dịu ngọt. Phạm
Hổ sống xa quê hơn 50 năm - hoàn cảnh này là một thôi thúc, tạo nên chiều sâu cho mảng sáng tác với
cảm hứng tình yêu quê hương trong sáng tác của ông. Mỗi khi có dịp viết về miền đất và con người Bình
Định, Phạm Hổ luôn tỏ ra say sưa với những tình cảm quê hương ngọt ngào, nhất là khi nó gắn liền với
những kí ức tuổi thơ trong trẻo, mộc mạc mà thấm sâu trong lòng ông (xem phụ lục).
Năm 1943, Phạm Hổ đỗ thành chung nhưng vì bị tai nạn nên không thể ra Huế học ban tú tài
trường Quốc học Huế. Ông làm thư kí công nhật cho tòa sứ Quy Nhơn để giúp đỡ mẹ nuôi các em và tự
học để thi tú tài.
Cách mạng tháng Tám thành công - theo lời tự thuật của Phạm Hổ - cái duyên nghiệp với văn học
nghệ thuật mới bắt đầu, dẫu rằng ông vốn say mê văn học từ nhỏ. Làm thư kí thường trực ở Chi hội văn
hóa Cứu Quốc do nhà thơ Trần Mai Ninh phụ trách rồi dự học lớp hội họa kháng chiến liên khu 5 do họa
sĩ Nguyễn Đỗ Cung chủ nhiệm, rồi đi thực tế sáng tác ở miền tây Bình Định (vùng giáp cận An Khê),
Phạm Hổ vừa vẽ vừa làm thơ, và như ông thừa nhận có khi mê làm thơ hơn vẽ. Đến đầu năm 1950, Phạm
Hổ được cử đi dự hội nghị Văn học toàn quốc ở Việt Bắc với tư cách là một nhà thơ trẻ liên khu 5.
Trong khoảng thời gian 1952-1953, Phạm Hổ có “hai năm vàng” (chữ dùng của Phạm Hổ) ở quê,
ông vừa làm công tác văn hóa thông tin vừa thâm nhập sâu vào thực tế đời sống để có thể hiểu thế nào là
nông dân, thế nào là chân lấm tay bùn, thế nào là đầu tắt mặt tối… Phạm Hổ xem đó là những tư liệu cần
thiết để một nhà văn sáng tác phục vụ nhân dân.
Tháng 1-1954 Phạm Hổ có mặt ở Hà Nội và làm công tác đối ngoại ở Hội Văn nghệ Trung ương.
Năm 1957, ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam ngay khóa đầu tiên. Cũng trong thời gian này,
Phạm Hổ cùng với các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài thành lập nhà xuất bản Kim Đồng - cơ quan
chuyên trách ấn hành những tác phẩm dành riêng cho thiếu nhi.
Trong những năm chống Mĩ, Phạm Hổ làm việc trong nhiều cương vị ở nhà xuất bản Kim Đồng,
nhà xuất bản Hội nhà văn, báo Văn nghệ… Ông đi nhiều nơi, có khi vào cả tuyến lửa Quảng Bình, Vĩnh
Linh để lấy tài liệu sáng tác. Đất nước thống nhất, Phạm Hổ vẫn tiếp tục đi nhiều nơi và sáng tác, nhất là
sáng tác cho thiếu nhi Việt Nam.
Năm 1983, Phạm Hổ là Chủ tịch hội đồng văn học thiếu nhi của Hội nhà văn Việt Nam. Năm 1995,
ông về hưu nhưng vẫn tiếp tục viết cho các độc giả nhỏ tuổi thân yêu và cho cả người lớn.
Ngày 4 tháng 5 năm 2007, Phạm Hổ qua đời ở tuổi 81. Song, hình như với thiếu nhi Việt Nam, ông
già tóc bạc ấy vẫn mãi là người bạn thân thiết của tuổi nhỏ.
1.1.1.2. Phạm Hổ - chân dung trong lòng người.
Trong sự liên tưởng của Trần Đăng Khoa, Phạm Hổ không chỉ là một con người trần thế, với mùi
mồ hôi trần tục, cùng cái ốm, cái đau, cái hắt hơi, sổ mũi - những cái bệnh, cái tật thông dụng của cõi
phàm trần mà ông còn là một món quà đặc biệt mà Tạo hoá đã thửa riêng để trao tặng các đấng con trẻ
[38, tr.3].
Dường như đã từ rất lâu, không kịp hiểu xem bắt nguồn từ duyên cớ gì, cái tên Phạm Hổ hiện lên
trong tâm trí của người đọc, nhất là trẻ em, không phải là tuổi tác, quê quán hay cuộc đời hoạt động nghệ
thuật, hay cả các chức vụ mà ông từng đảm trách hoặc các danh hiệu vinh hiển mà ông được phong tặng.
Ông thường được các em thiếu nhi định danh bằng tên tác phẩm: nhà thơ "Chú bò tìm bạn", bác "Chuyện
hoa, chuyện quả". Nhà văn Nguyên Ngọc có lần đã kể câu chuyện về đứa con gái nhỏ tuổi của mình: “…
Anh Phạm Hổ đến chơi nhà tôi vào lúc cháu bé mới lên mười tuổi đi học về. Cháu đã gặp bác Phạm Hổ
mấy lần. Tôi hỏi: Con biết ai đây không? Cháu trả lời: “Cháu chào bác Chuyện hoa chuyện quả ạ !”
Phạm Hổ - đó là con người không có tuổi. Tâm hồn ông chưa hề già cỗi dẫu rằng sức khỏe và màu
tóc vẫn “xuôi theo” quy luật hạn hẹp của thời gian trần thế. Có lẽ vì vậy mà Phạm Hổ mới có thể kết bạn
với trẻ thơ lâu đến vậy, và kì lạ hơn là trẻ thơ cũng không thấy “chán” anh rồi chú rồi bác hay cả ông
Phạm Hổ.
Trần Đăng Khoa gọi Phạm Hổ là “người ở xứ thần tiên” [38, tr.3]. Trong đôi mắt trẻ thơ, Phạm Hổ
là chủ nhân một kho báu những điều màu nhiệm, lạ kì về thế giới thiên nhiên. Ông mở ra cánh cổng với
biết bao điều huyền diệu và từng bước nâng cánh cho biết bao con diều ước mơ của tuổi thơ.
Người ta hình dung về chân dung của Phạm Hổ như sau: khuôn mặt nhân hậu, hiền lành. Cái tên
của ông dường như chỉ là sự ngụy trang bên ngoài - nhưng nó không làm các bạn nhỏ xa lánh mà ngược
lại, thiếu nhi càng thấy yêu mến cái tên ấy hơn, yêu mến con người ấy hơn.
Nhân hậu và cũng rất tinh nghịch - Phạm Hổ có cái tinh nghịch rất hồn nhiên của trẻ em. Phạm Hổ
có cái nhìn riêng về thế giới thiên nhiên và cuộc sống mà từ cái nhìn ấy, người ta phát hiện ra nụ cười
đáng yêu, trẻ trung của ông. Thế giới vô tri vô giác qua lăng kính Phạm Hổ bỗng dưng sinh động và trở
thành những người bạn hết sức lạ lùng. Đó là những con vật ngộ nghĩnh đáng yêu (Những người bạn nhỏ).
Đó là những cây cối trong vườn dâng hoa thơm trái ngọt (Bạn trong vườn). Đó là đồ vật quen thuộc bình
thường trong cuộc sống nhưng lại là những người bạn im lặng (Những người bạn im lặng). Cái tinh
nghịch của Phạm Hổ luôn làm người ta thấy lạ lùng. Để mỗi lần “tiếp xúc” với ông lại là một lần người
đọc xuýt xoa vì sự thú vị…
Cho nên, mượn lời của Bê-lin-xki để nói thì Phạm Hổ quả là “người lạ quen biết” của tất cả chúng
ta, nhất là đối với thiếu nhi Việt Nam. Phạm Hổ đứng đó, vừa quen vừa lạ. Thân quen, gần gũi nhưng
không tạo cảm giác nhàm chán vì phải gặp mãi con người ấy. Xa lạ nhưng không khiến người tiếp xúc
phải kiêng dè đề phòng. Với Phạm Hổ, một nải chuối vừa bỗng nhiên vừa hợp lí trở thành bàn tay trẻ, quả
loòng boong là hiện thân của trái tim đau đớn của người mẹ yêu con, quả bưởi là kết quả của hiện tượng
“tép lên cây” (Chuyện hoa, chuyện quả). Tuy nhiên, điều ý nghĩa nhất mà Phạm Hổ muốn nói với thiếu
nhi là: sự ra đời của muôn loài trên trái đất này đều bắt nguồn từ tình yêu, nhất là từ tình yêu thương dành
cho trẻ em.
Phạm Hổ cũng là con người giản dị. Trước hết là giản dị trong cách ông đối diện với đời. Nhà văn
Phạm Sông Hồng - con gái của Phạm Hổ có lần kể câu chuyện về cha mình như sau: “Ông thích trồng
phong lan. Lần nọ sáng ra tỉnh dậy, kẻ trộm đã khiêng mất giò hoa mới nở. Ngẩn ra vì buồn và tiếc, ông
bèn lụi hụi ngồi viết lên tờ giấy “Lấy cây của người khác là không tốt” rồi găm vào từng chiếc giỏ. “Ba
làm thế làm gì. Tối trời kẻ trộm không thể đọc được, mà giấy tờ thì có giá trị gì”. “Sao con lại mất lòng tin
về con người như vậy. Đọc được mảnh giấy của ba, người ta không nỡ đâu”. Sáng sau ra, bao nhiêu giò
phong lan mất nốt, mất cả hoa lẫn giấy.”(!!!)
Tuy nhiên, chúng ta phải nói nhiều đến sự giản dị trong cách Phạm Hổ chọn lấy những người bạn
tuổi nhỏ để yêu thương và nhất là giản dị trong khát vọng nghệ thuật của một người lấy văn chương làm
duyên nghiệp. Ông từng viết:
“Tôi làm những bài thơ nho nhỏ
Như những hòn bi xanh đỏ các em chơi
Như những quả quýt, quả na
Các em tay bóc vỏ, miệng cười.
Suốt đời tôi chỉ mơ
Được làm cho các em
Những bài thơ nho nhỏ
Như những hòn bi xanh đỏ các em chơi.”
(Những bài thơ nhỏ)
Khát vọng ấy của Phạm Hổ không phải dễ thực hiện. Cho nên hóa ra điều tưởng chừng như rất giản
dị ấy mà đã lấy đi cả một đời người hơn 80 năm của Phạm Hổ. Sự giản dị ấy không đồng nghĩa với sự đơn
giản hay tầm thường! Bởi Phạm Hổ đã làm được một điều giản dị mà vô cùng ý nghĩa đối với cuộc đời:
cho đi tất cả tình yêu của trái tim và nhận về biết bao yêu thương trân trọng.
Tựu trung, để nói về chân dung Phạm Hổ một cách ngắn gọn nhất, không có đánh giá nào chính
xác bằng nhận định: Phạm Hổ - người yêu trẻ.
1.1.2. Sự nghiệp sáng tác.
Phạm Hổ sáng tác nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết cho cả người lớn và trẻ em. Sự
phong phú trong thể loại và số lượng dày dặn của tác phẩm ít nhiều chứng minh cây bút Phạm Hổ có
nguồn tiềm lực sáng tạo dồi dào và khá linh động.
Viết cho người lớn, Phạm Hổ có những tác phẩm khá đặc sắc như: Cây bánh tét của người cô,
Người vợ lẽ, Vườn xoan (truyện ngắn), Những ô cửa những ngả đường (thơ)…
Tuy nhiên, nói đến Phạm Hổ trước hết và hơn hết phải nói đến sự đóng góp của ông cho nền văn
học thiếu nhi nước nhà. Hơn 60 năm cầm bút vì tình yêu trẻ, Phạm Hổ đã để lại khoảng trên 20 tập thơ, 9
tập truyện và 4 vở kịch tặng riêng các em [49, tr.102].
Những tác phẩm chính:
Thơ:
Em tre (1948)
Chú bò tìm bạn (1957)
Em thích em yêu (1958)
Những người bạn nhỏ (1960)
Bạn trong vườn (1967)
Từ không đến mười (1973)
Mẹ, mẹ ơi, cô bảo (1980)
Những người bạn im lặng (1984)
Đỗ trắng đỗ đen (1991)
Cháu chọn hạt nào (1992)
Câu chuyện về Miu trắng (1993)
Truyện:
Viết thư cho cha (1959)
Khẩu súng người ông (1960)
Cất nhà giữa hồ (1964)
Chuyện hoa, chuyện quả (tập một, 1974)
Lửa vàng, lửa trắng (1976)
Chuyện hoa chuyện quả (tập hai, 1982)
Tiếng sáo và con rắn (Chuyện hoa - chuyện quả, tập ba, 1985)
Ngựa thần từ đâu đến (1986)
Những chú sẻ con (1988)
Hai vợ chồng và con voi quý (Chuyện hoa - chuyện quả, tập bốn, 1988)
Chim lưu ly (Chuyện hoa - chuyện quả, tập năm, 1990)
Quả tim bằng ngọc (Chuyện hoa - chuyện quả, tuyển chọn, 1993)
Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu (1993)
Kịch:
Nàng tiên nhỏ thành Ốc (1981)
Tìm gặp lại anh (1981)
Người gái hầu của Mị Châu (1984)
Mị Châu và chiếc áo lông ngỗng (1984)
Phạm Hổ đã được trao tặng các giải thưởng văn học:
Giải A trong các cuộc vận động sáng tác cho thiếu nhi với các tập thơ “Chú bò tìm bạn”
(1957-1958), “Chú vịt bông”(1967-1968).
Giải thưởng chính thức về thơ viết cho thiếu nhi của hội đồng văn học thiếu nhi, Hội nhà
văn Việt Nam với tập thơ “Những người bạn im lặng” (1985).
Giải thưởng cuộc thi sáng tác kịch bản cho thiếu nhi do Hội nghệ sĩ sân khấu tổ chức với vở
kịch “Nàng tiên nhỏ thành Ốc” (1986).
Với những đóng góp quan trọng cho nền văn học thiếu nhi, Phạm Hổ xứng đáng với Giải thưởng
Nhà nước về văn học nghệ thuật ( đợt I-2001).
1.2. Quan niệm sáng tác của Phạm Hổ.
1.2.1. Về thiên chức: nhà văn của thiếu nhi.
Phạm Hổ không chỉ viết cho trẻ em, ông cũng có nhiều sáng tác dành cho người lớn. Song, như
một duyên nợ, bạn đọc vẫn biết về ông trước hết, với tư cách của một nhà văn, nhà thơ của thiếu nhi. Tất
nhiên, không phải chỉ vì ngay trong kháng chiến chống Pháp, Phạm Hổ đã trực tiếp làm sách "Hoa kháng
chiến" phục vụ thiếu niên, nhi đồng. Hay chỉ vì sáng tác đầu tay của ông cũng là về thiếu nhi và viết cho
thiếu nhi (Sáng trăng kể chuyện, Em vẽ Bác Hồ). Hoặc do bài thơ được xem là tiêu biểu và được biết đến
nhiều nhất của ông - bài Chú bò tìm bạn - cũng là tác phẩm dành cho trẻ em. Và dĩ nhiên cũng không phải
chỉ vì ông đã từng giữ cương vị Chủ tịch hội đồng văn học thiếu nhi Việt Nam. Mà trên hết, Phạm Hổ là
nhà văn, nhà thơ của thiếu nhi bởi vì ông dành nhiều tâm huyết cho sự nghiệp làm bạn với trẻ con. Ông đã
từng tâm sự: “Đối với tôi, được sống và viết cho các em là một hạnh phúc. Tôi đem lòng tôi yêu các em để
thể hiện lòng tôi yêu Đảng, yêu nhân dân, đất nước” [43].
Và chính tình yêu ấy là nền tảng cho quan điểm sáng tác văn học của Phạm Hổ.
Luôn ý thức để trở thành người bạn của thiếu nhi, dẫu biết “Viết cho trẻ em là một công việc khó
nhọc" (L.Tônxtôi), Phạm Hổ đã xác định rõ đối tượng sáng tác và tiếp nhận với những đặc điểm tâm sinh
lí và ý thức thẩm mĩ riêng. Trong bài viết “Làm sao để viết cho các em hay hơn” đăng trên Tạp chí văn
học (số 5-1993), Phạm Hổ khẳng định hai nhiệm vụ cần làm song song của văn học cho trẻ em:
(1) Góp phần giải quyết những vấn đề trước mắt, nóng hổi của cuộc sống, của xã hội.
(2) Trang bị cho các em những tình cảm, tư tưởng về lâu về dài: lòng nhân ái, tình yêu thương quê
hương, lòng trung thực…
Như vậy, quan niệm sáng tác của Phạm Hổ không chỉ thể hiện tâm huyết của ông dành cho tuổi thơ
mà còn thể hiện sự nhận thức đúng đắn về vai trò của văn học trong việc chuẩn bị trước cho thiếu nhi
những hành trang cần thiết về nhiều mặt để có thể tự tin bước vào đời. Không chỉ chú trọng đến những bài
học cuộc sống thực tế, Phạm Hổ thấy được tầm quan trọng của việc bồi dưỡng tâm hồn cho thiếu nhi. Do
đó, bằng lối đi riêng của mình, Phạm Hổ khẳng định văn học chính là món ăn tinh thần cần thiết cho các
em. Văn học tạo ra dưỡng chất quan trọng trong việc bồi bổ những tình cảm cơ bản, nuôi dưỡng bản chất
tươi mát, hồn nhiên và các phẩm chất quý báu khác cho trẻ như khả năng nhận diện, đánh giá, năng lực
tưởng tượng, biết ước mơ, biết quan tâm đến cuộc sống chung quanh… Nói khác đi, Phạm Hổ luôn chủ
trương văn học viết cho các em tập trung vào việc làm thế nào để có thể đánh thức được những tình cảm
cao quý trong lòng, thức dậy những tiềm năng quan trọng của trẻ về khả năng quan sát thế giới để từ đó
biết sống và sống tốt hơn.
Nói tóm lại, với Phạm Hổ, viết văn cho thiếu nhi là một thiên chức khó khăn nhưng cực kì nghiêm
túc và có ý nghĩa lớn. Nó đòi hỏi nhà văn phải có trái tim yêu thương và tâm huyết với sự nghiệp chăm
sóc vườn cây tâm hồn cho thiếu nhi các thế hệ.
1.2.2. Về thế mạnh của nhà văn.
Trong một lần trò chuyện với các em thiếu nhi ở Cung văn hóa Hà Nội, Phạm Hổ đã kể lại sự kiện
xoay xung quanh một tập truyện nổi tiếng khắp thế giới: truyện Nấu bếp đêm của nhà văn Ba Lan Mô-rit-
xơ Xen-đắc, như sau: “Một trung tâm nghiên cứu lớn ở Mĩ đã nhờ hàng trăm người tham gia vào việc tìm
hiểu vì sao mà tác giả lại có thể viết hay đến như vậy. Họ điều tra ở các bạn đọc nhỏ tuổi - điều tra rất kín
đáo, không hề cho các em biết là mình được điều tra bằng cách bí mật đặt máy ghi âm rồi thu nhặt những
ý kiến của các em một cách rất thoải mái, tự nhiên. Họ khéo léo điều tra cả tác giả thông qua các nhà báo,
nhà văn đến phỏng vấn trò chuyện. Họ đặt ra rất nhiều câu hỏi một cách cũng thật thân mật và nhẹ nhàng,
trong đó có những câu rất vui: “Tại sao tác giả lại chọn ba người nấu bếp đêm (làm bánh mì) mà không là
hai người hoặc bốn người, năm người ?” Tác giả Mô-rit-xơ Xen-đắc đã vui vẻ trả lời đại khái như sau: Có
lẽ, ngày xưa bố tôi là thợ may; ông ngồi ở giữa và có hai người ngồi phụ việc ở hai bên, vì vậy mà con số
ba người, trong ý nghĩ tôi từ bé đến lớn là con số tốt nhất, đẹp nhất, hay nhất. Cho nên khi tôi viết Nấu
bếp đêm, không cần nghĩ ngợi, tôi đã chọn con số ba người. Với câu hỏi “Tại sao tác giả lại chọn cái lọ
đựng sữa mà không dùng cái bình đựng sữa ?”, Mô-rit-xơ Xen-đắc cũng trả lời na ná như vậy: “Có lẽ vì
lúc bé, mẹ tôi hay dùng cái lọ chứ không dùng cái bình để cho tôi ăn sữa...”
Sau khi kể câu chuyện ấy, Phạm Hổ đã kết luận: “Tác giả viết hay vì tác giả đã viết những gì mình
thuộc nhất, những gì đã thành máu thịt của chính mình” [54, tr.38]. Bài học về nghệ thuật kể chuyện dạy
cho các em thiếu nhi thật ra cũng chính là quan điểm sáng tác của Phạm Hổ.
Những tác phẩm của Phạm Hổ luôn cho người đọc, nhất là trẻ con, cái cảm giác quen thuộc và rất
máu thịt với mình. Có được cảm giác ấy, hẳn nhiên là nhờ công truyền đạt của tác giả. Bởi như một quy
luật tự nhiên, người viết ra nó như viết cái điều máu thịt của chính mình nên mới có khả năng khiến cho
người đọc có sự tương cảm đẹp đẽ và gần gũi ấy. Cho nên, có thể nói, với Phạm Hổ, viết về cuộc sống với
các chất liệu quen thuộc là một trong những cách thể hiện cái máu thịt của mình. Người đọc thường bắt
gặp hình ảnh những cây cà rốt, bắp cải, cây dứa, cây dừa đến na, ổi, sung, roi, thị, táo… hay những con
vật thân thuộc: chó, mèo, gà, bê, bò, chuồn chuồn, vịt, ngỗng... trong sáng tác của Phạm Hổ. Nhà văn luôn
chú ý phát huy thế mạnh trong quan sát, miêu tả, trong chọn lựa chất liệu và phát triển hình ảnh quen
thuộc ấy vào cuộc sống riêng của từng tác phẩm.
Có lần Phạm Hổ đã nói về lí do “Vì sao chọn chất liệu cây khế là hay ?” “Theo tôi nghĩ vì cây khế
đúng là cây của nhà nghèo. Vị chua của khế là vị chua rẻ tiền hơn các vị chua khác, như chanh chẳng
hạn: Chợ chiều nhiều khế ế chanh, nhiều cô gái góa nên anh chàng ràng (ca dao). Như thế rõ ràng khế
chỉ là những cô gái góa, còn chanh mới là những cô gái chưa chồng…” [54, tr.29]. Qua suy nghĩ của tác
giả, chúng ta bắt gặp sự trăn trở về nghệ thuật một cách nghiêm chỉnh của một nhà văn trong quá trình thai
nghén những tác phẩm văn chương. Con đường sáng tạo của Phạm Hổ, rõ ràng, không phải là con đường
của sự dễ dãi.
Như một mao mạch dẫn nước tự nhiên từ rễ lên thân, lên lá, lên ngọn ở cây cối, cái máu thịt - cũng
là thế mạnh của một nhà văn sẽ được hấp thụ để tạo nên cá tính sáng tạo độc đáo và hấp dẫn của riêng họ.
Phạm Hổ từng quan niệm: “Sáng tác mỗi người có một phong cách riêng, một lối làm riêng biệt để đi đến
có hiệu quả nhất, còn tùy theo cái tạng của từng người” [26, tr.29].
Dẫn chứng riêng về đề tài loài vật trong thơ viết cho thiếu nhi, chúng ta không thể không thừa nhận
rằng Võ Quảng viết về loài vật có phần phong phú hơn so với Phạm Hổ. Tuy nhiên, nếu trong mỗi bài thơ
viết về con vật, Võ Quảng luôn chú ý tạo ra một bản hợp xướng với nhiều tiếng hát, lời ca như Anh Đom
đóm, Phải chung màu lại…(cho nên thế giới loài vật trong thơ Võ Quảng đông đúc, phong phú với đom
đóm, bồ chao, chẫu chàng, châu chấu voi, bói cá) thì Phạm Hổ chủ trương qua những dòng thơ ngắn gọn,
giản dị, nhưng chạm khắc vào thời gian, vào lòng người chân dung những con vật tinh nghịch thông minh,
thơ ngây như con trẻ. Thế giới loài vật trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ thật ngộ nghĩnh đáng
yêu. Từ những con vật thật thân quen: chó, mèo, gà, bê, bò, chuồn chuồn, vịt, ngỗng... nhà thơ đã thổi vào
đó một sự sống tươi non mang hơi thở, tâm hồn và khát vọng trẻ thơ. Chú bê háu đói suốt ngày nũng mẹ
(Bê đòi bú), Sáo ăn na rơi hột mà đâu có biết “chính na sáo trồng” (Sáo ăn na). Thỏ gọi điện thoại nghe rõ
tiếng mèo nhưng vẫn lo lắng “nhỡ đứa khác thì sao” (Thỏ dùng máy nói). Ngỗng đọc sách ngược lại cứ
tưởng xuôi (Ngỗng và vịt)... Mỗi loài vật vừa mang nét đặc trưng giống loài vừa được nhân cách hóa
thành những người bạn tinh nghịch, vui nhộn của bé.
Chúng tôi xin nói thêm về ý thức sáng tạo trong văn chương của Phạm Hổ ở thể loại truyện. Thông
thường, khi viết lại truyện cổ dân gian, các nhà văn thường khai thác nguyên vẹn hay toàn bộ cốt truyện
(Tô Hoài viết Đảo hoang, Nhà Chữ, Chuyện nỏ thần; Nguyễn Huy Tưởng viết Con cóc là cậu ông trời,
Truyện bánh chưng). Phạm Hổ không theo cách này, ông chỉ lấy một hình tượng hay dựa vào kết truyện
rồi tạo ra một tác phẩm mới. Chúng ta có thể thấy rõ sự sáng tạo của Phạm Hổ khi đọc Ngựa thần từ đâu
tới. Truyện này có liên quan đến truyền thuyết quen thuộc: Thánh Gióng. Bao thế hệ tuổi thơ Việt Nam đã
tiếp nhận một điều rõ ràng từ truyền thuyết ấy: ngựa sắt là do nhà vua làm theo yêu cầu của cậu bé làng
Gióng. Phạm Hổ viết khác. Câu chuyện bắt đầu từ việc hai cha con ở một vùng núi xa xôi quyết đưa con
ngựa hồng về xuôi cho Thánh Gióng ra trận. Chú ngựa hồng sau khi bị giết đã hóa thành ngựa đất, rồi nhờ
giọt máu của cụ già, nhờ ăn sắt uống lửa của nhân dân mà trở thành ngựa thần. Có thể thấy, vẫn là nội
dung đề cao lòng yêu nước của nhân dân nhưng cách viết của Phạm Hổ là một khám phá mới từ các giá trị
dân gian tưởng đã ổn định, bất di bất dịch.
1.2.3. Về cái tình trong viết văn.
Phạm Hổ thuộc vào số các nhà văn không mấy khi công khai phát biểu về quan niệm sáng tác của
mình. Song, thông qua những suy nghĩ, cũng như các bài học mà ông viết riêng cho những bạn đọc thiếu
nhi, chúng ta thấy được quan niệm sáng tác của chính tác giả.
Trong một lần giới thiệu cách viết văn, dựa vào đoạn văn Cây Hà Nội trích trong tác phẩm Cảnh
sắc và hương vị đất nước của Nguyễn Tuân, Phạm Hổ đã có lời bình như sau: “Ngày nào chúng ta cũng
thấy cây, nhưng mấy ai đã sống với cây, có tình với cây như tác giả (Nguyễn Tuân). Có sống với cây mới
thấy màu xanh cây ta thật nhiều cung bậc từ xanh nhờ đến xanh đen. Có tình với cây mới thấy mỗi cái cây
in bóng xuống đường nhựa kia cũng là một kiếp sống, mỗi năm có những nỗi buồn, nỗi vui” [54, tr.72].
Và Phạm Hổ kết luận ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa như sau: “Mới biết, văn hay thường xuất phát từ cái
tình” [54, tr.72].
Nói người cũng là nói mình, Phạm Hổ học tập nơi Nguyễn Tuân hay chính bản thân ông rất tâm
đắc với chữ tình trong văn chương nghệ thuật nên mới có cái nhìn đầy thiện cảm đối với tác giả họ
Nguyễn ấy? Rõ ràng, nếu không có cái tình sâu nặng với những gì mình viết ra, chắc khó lòng một nghệ sĩ
như Phạm Hổ sống trọn vẹn với thế giới văn chương mà ông tâm huyết. Cái tình trong viết văn là chất
sống nuôi dưỡng cái cây tâm hồn. Nó tạo nên dưỡng chất say mê, cảm hứng nhiệt thành và cả tấm lòng
trân trọng với những đối tượng mà tác giả quan sát và đem vào trang văn.
Như vậy, Phạm Hổ luôn cho rằng: một nhà văn khi viết không chỉ có tài mà còn phải có cái tâm,
cái tình. Cái tài thể hiện trên câu chữ, qua tài năng sáng tác, qua cá tính sáng tạo của tác giả. Cái tình thì
ẩn hiện phía sau, phía trong, nó là cảm xúc, tình cảm chân thành đối với những gì mình viết ra. Đây là một
quan niệm đúng đắn, bởi lẽ văn hay thường có sức lay động lòng người. Và muốn lay động lòng người, tất
yếu lòng mình phải thật sự xúc động với những gì mình viết ra. Phạm Hổ đã ý thức được rằng: văn học là
chuyện đi từ trái tim đến trái tim.
Trong muôn vạn cung bậc của cái tình trong sáng tác, Phạm Hổ đặc biệt lưu ý đến cái tình dân
tộc, cái tâm đối với quê hương của một nhà văn Việt Nam khi cầm bút. Phạm Hổ từng nói: “Tôi mong
rằng khi sáng tác ra những câu chuyện, khi tạo tình huống, khi tìm chi tiết chất liệu, khi chọn giọng kể
ngôn ngữ, có lẽ chúng ta nên chú ý đến cái tính cách Việt Nam, cái chất tâm hồn Việt Nam, cái hương vị
Việt Nam” [54, tr.36].
Thật vậy, qua các sáng tác của Phạm Hổ, người đọc dễ dàng nhận ra cái chất Việt Nam, cái hương
vị Việt Nam ẩn hiện qua từng câu chữ, ý tưởng, từ cách gọi tên nhân vật đến lối tư duy quen thuộc vừa
đầy tình nghĩa vừa mộc mạc của cha ông. Nói riêng về thế giới thiên nhiên, bằng cái tình tha thiết mãnh
liệt với đất nước, bằng lòng yêu con trẻ sâu nặng, Phạm Hổ đã tạo ra trong thơ mình một thế giới loài cây
mang đậm phong vị Việt Nam. Hơn 30 loài cây được nhắc đến trong tập thơ Chú bò tìm bạn, từ cây cà rốt,
bắp cải, cây dứa, cây dừa đến na, ổi, sung, roi, thị, táo… cây nào, trái nào cũng bước ra từ cuộc sống gắn
bó với nhân dân lao động Việt Nam. Trong tập Chuyện hoa chuyện quả, thế giới cây quả được Phạm Hổ
hình dung qua tâm hồn của một người Việt Nam hết lòng yêu quê hương. Mỗi cách gọi tên, mỗi cách
miêu tả, mỗi cách kể chuyện của Phạm Hổ đều phù hợp với lối tư duy và suy nghĩ của người dân nước
mình. Có thể chính cái chất Việt Nam trong sáng tác của Phạm Hổ đã làm nên cái tình quen thuộc, đậm
đà.
Đọc truyện của Phạm Hổ, chúng ta như được sống trong một không gian quê hương, cũng là sống
trong cái tình dân tộc của nhà văn khi tạo dựng nên những hình ảnh thân quen đó: “Ông thầy dạy đàn cảm
thấy dễ chịu khi ngồi trong nhà nhìn ra vườn. Khúc lượn của con sông ở đây càng ngắm kĩ càng thấy đẹp.
Những cây sung và những lùm tre ở bờ bên kia xanh biếc, um tùm soi bóng xuống dòng sông nhìn nửa hư,
nửa thực như trong tranh vẽ. Xa xa là những rặng núi xanh mờ tím nhạt như trong mơ.” (Cây đàn và bầu
rượu của người thầy)
Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Muốn hiểu tác phẩm của nhà văn, trước hết phải hiểu quan điểm nghệ
thuật của ông” [50, tr.17]. Với Phạm Hổ, tuy không có những phát biểu mang tính lí luận nhưng ông cũng
để lại những quan điểm sáng tác có ý nghĩa. Phạm Hổ có khuynh hướng cụ thể hóa, hiện thực hóa những
nỗi niềm, những suy nghĩ, những quan niệm của mình thành những bài học thiết thực cho thiếu nhi khi
viết văn và xem nó như sự trăn trở của người có tâm huyết đối với sự phát triển văn học thiếu nhi nước
nhà.
Như vậy, Phạm Hổ xác định rõ các vấn đề đặt ra với công việc viết văn, trong tư cách một nhà văn
coi trọng thiên chức viết văn cho trẻ em. Vì vậy, hiểu quan niệm của Phạm Hổ là cách chúng ta hiểu thêm
về văn chương của ông, nhất là hiểu được cảm hứng tư tưởng và những sáng tạo trong nghệ thuật kể
chuyện của Phạm Hổ với thể loại truyện cho thiếu nhi.
Chương 2: CẢM HỨNG TƯ TƯỞNG TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU
NHI CỦA PHẠM HỔ
Sáng tác văn học thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần và mỗi tác phẩm được xem là đứa con tinh thần
của người cầm bút. Mỗi tác phẩm ra đời đều bắt nguồn từ một cảm xúc, tình cảm và tư duy nghệ thuật
nhất định. Chúng tôi gọi trạng thái cảm xúc, tâm lí, tình cảm làm nảy nở tư duy nghệ thuật sáng tạo của
nhà văn là cảm hứng. Cảm hứng ấy không chỉ chi phối quá trình sáng tác của nhà văn mà còn ảnh hưởng
lớn đến các lớp nội dung của tác phẩm. Có thể thấy, niềm say mê với thiên nhiên cây cỏ và tình yêu dành
cho thiếu nhi là nguồn cảm hứng quan trọng trong truyện của Phạm Hổ. Chính Phạm Hổ cũng có lần thổ
lộ rất chân thành về nguồn cảm hứng sáng tác của mình: “Cách đây khoảng 40 năm, cây rừng Trường Sơn
đã làm tôi ngẩn ngơ. Có những cây to nhìn đến phát ngợp... Lại có những cây bé tí teo như cây rêu mà
cũng có đủ rễ, đủ ngọn… Cây đứng, cây bò, cây leo, cây cuộn... Và không biết bao nhiêu hoa rừng, quả
rừng, màu sắc lạ, hình dáng không ngờ… Cây rừng gợi nhớ đến vườn… Thích quá, yêu quá, tôi rất muốn
viết về cây, về hoa và quả” [34, tr.2].
Tuy nhiên, cảm hứng của nhà văn không phải là những tình cảm nhợt nhạt, những cảm xúc bằng
phẳng mà đó phải là sự xúc cảm mãnh liệt, một tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng, là cảm hứng tư tưởng.
Trong truyện của Phạm Hổ, cảm hứng tư tưởng thể hiện rõ qua cách nhà văn lí giải thế giới bằng cái nhìn
của người yêu trẻ.
2.1. Những nguồn cảm hứng chính trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ.
2.1.1. Cảm hứng về huyền thoại của thiên nhiên.
Thiên nhiên vốn là thế giới đầy kì diệu và có sức hấp dẫn bao đời nay. Thiên nhiên luôn tỏa ra một
sức cuốn hút khiến người ta mê say và khám phá nó. Tất nhiên, mỗi người mỗi kiểu, mỗi người mỗi
khuynh hướng. Phạm Hổ từng quan niệm thiên nhiên là một nhân vật không thể thiếu trong sáng tác
cho các em. Với thơ, Phạm Hổ cũng đã từng làm những cuộc du hành vào thiên nhiên để khám phá ra biết
bao điều lạ lùng mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống. Thiên nhiên hiện lên vừa gần gũi thân thiết, vừa
đa dạng sắc màu với bao nét kỳ thú, bất ngờ, phản chiếu tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, tấm lòng thiết tha trân
trọng tuổi thơ và khát vọng hướng về cái đẹp của Phạm Hổ.
Trong thơ Phạm Hổ, mỗi loài cây đều được hiện lên với vẻ đẹp riêng, có quả to, quả nhỏ, “quả đơm
trên ngọn”, “quả nằm dưới chân”. Đó là những hoa hồng, hoa cúc, hoa thiên lý... rực rỡ sắc màu, hương
thơm ngào ngạt tô điểm cho bốn mùa. Đó là sắc màu của hoa được nhà thơ nói đến một cách giản dị qua
bài Đất và hoa: “Đào đỏ, mai vàng. Bìm xanh cúc tím”. Hay đó là cảnh hồ sen trong mát yên lành “Trăm
nghìn. Cửa lụa. Xinh tươi. Sáng hồng”. Đó cũng là thế giới rau, củ, quả với những nét hấp dẫn riêng ngọt
ngào, mời gọi: củ cà rốt với dáng điệu: “Cà đỏ. Lá xanh”, khế với năm cánh “vàng treo lóng lánh”. Bắp
cải xanh mang vẻ đẹp hồn nhiên của tuổi thơ “Bắp cải xanh. Xanh mát mắt. Lá cải sắp. Sắp vòng tròn.
Bắp cải non . Nằm ngủ giữa”.
Tuy nhiên, cảm hứng về thiên nhiên trong thơ của Phạm Hổ chỉ dừng lại ở việc khám phá vẻ đẹp tự
nhiên của cây, hoa, trái. Phạm Hổ không lí giải, không tô vẽ thêm, tác giả chỉ cho thiên nhiên hiện lên như
chính chiếc áo mà tạo hóa đã khoác sẵn bao đời nay cho nó. Nhưng với truyện thì khác, Phạm Hổ không
miêu tả lại thiên nhiên một cách đơn thuần mà nhà văn đi kể lại quá trình hoài thai ra chúng như cuộc
hành trình tìm về với huyền thoại xa xưa của tổ tiên loài người. Nghĩa là Phạm Hổ đã đem tư duy huyền
thoại hóa, cổ tích hóa những hình ảnh thiên nhiên vốn hết sức quen thuộc. Vì thế, thiên nhiên trong truyện
của Phạm Hổ trở thành một nguồn cảm hứng tươi mới, sinh động.
Cảm hứng về huyền thoại của thiên nhiên trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ bắt nguồn
từ đôi mắt và tấm lòng “trẻ thơ” của ông. Một đôi mắt luôn mở rộng khám phá những điều người lớn vốn
cho là hiển nhiên. Một tấm lòng thích nghĩ về chiều sâu của những hiện tượng thô mộc, đời thường. Đọc
truyện của Phạm Hổ, chúng tôi như bắt gặp lại cái nhìn của cha ông ta ngày trước trong những câu chuyện
thần thoại sống động về thế giới tự nhiên. Cả khối vũ trụ hỗn mang ngày nào nhờ có bàn tay sắp đặt của
các vị thần mà trở nên trật tự: Thần Trụ Trời, thần Mưa, thần Sấm, thần Lửa, thần Biển... Các vị thần ấy
đã tạo ra biết bao công trình thiên nhiên, các hiện tượng kì diệu cho trái đất này. Cái nhìn sơ khai của tổ
tiên ta về thế giới lúc ấy phản ánh lòng ham muốn khám phá thế giới trong tất cả các chiều kích từ vĩ đại
đến đơn giản nhất, từ quá trình hình thành đến khi nó trở thành quy luật quen thuộc trong cuộc sống.
Phạm Hổ học tập cha ông trong lối tư duy đó nên thiên nhiên trong truyện viết cho thiếu nhi của
nhà văn được nhìn như một thế giới huyền thoại như vậy. Ở đó, câu chuyện các loài cây được sáng tạo
vừa kì lạ nhưng cũng vừa hợp lí. Phạm Hổ đã tạo dựng nên hệ thống gia phả thần Cây vừa nhân hậu vừa
vui tính. Nhưng khác với cách tưởng tượng kì vĩ hóa của tác giả dân gian khi sáng tạo thần thoại, Phạm
Hổ không miêu tả dáng vẻ thần thánh hay những việc làm phi thường của thần Cây. Trong nhiều câu
chuyện, thần Cây hiện ra rất đời thường, nhân hậu. Thần Cây có tên, có gia đình, và cũng có những suy
tính như một ông bố thời hiện đại muốn làm vui lòng những đứa con thân yêu của mình. Với chức trách
sáng tạo ra những loài hoa quả, thần Tiêu Ly -con út của thần Cây - không thực hiện bằng các phép thuật
như các vị thần khác trong thần thoại mà ông tiến hành bằng đôi bàn tay khéo léo của mình. Ông nặn ra
một loài quả mới có hình dạng giống bàn tay xếp xoay tròn để xua đuổi con chim ác và sau này bàn tay ấy
trở thành những nải chuối “giống cây mang đầy tình yêu thương con trẻ của Tiêu Ly” (Những bàn tay
nhiều ngón). Rồi từ quả chuối ấy, thần Tiêu Ly cho thêm vị chua và lấy lưỡi dao vót bằng cật tre làm
thành các khía như hình ngôi sao. Vậy là trẻ em hôm nay có trái khế (Quả có nhiều khía).
Trong hành trình tìm về với nguồn gốc ra đời của các loài cây quả, Phạm Hổ đã tạo dựng lên cả
một thế giới của những vị thần sáng tạo các loài hoa quả. Đó là thần Cây, thần Tiêu Ly (con trai thần
Cây), thần Trang Ly (cháu út của thần Cây), thần Tiêu Châu (con gái thần Tiêu Ly)… Các vị thần ấy
không có chiếc áo màu nhiệm có thể tàng hình, không có cây đũa thần có thể hô biến mọi thứ, họ chỉ có
một tấm lòng luôn quan tâm đến những sở thích của con trẻ và những nhu cầu, mong ước của con người.
Và từ đó, họ sáng tạo nên những loài hoa quả. Người viết bỗng nhớ đến những câu thơ của Xuân Quỳnh
trong Truyện cổ tích về loài người:
“Muốn trẻ con được tắm
Sông bắt đầu làm sông
Sông cần đến mênh mông
Biển có từ thuở đó
…
Biết trẻ con khao khát
Chuyện ngày xưa, ngày sau
Không hiểu là từ đâu
Mà bà về ở đó”.
Theo Kinh Thánh, thượng đế tạo ra cây trong ngày thứ ba. Mọi tôn giáo đều coi cây là “ngôi nhà”
của thánh thần. Với Phật giáo, Đức Như Lai đã ngồi tu dưới gốc cây bồ đề. Đạo Thiên Chúa cũng “trồng”
các loại cây trong khu vườn Địa Đàng của Đức Chúa Trời. Như vậy, hẳn là cây đã có mặt trên trái đất này
từ rất lâu. Khoa học hiện đại tính toán được cây đã có mặt từ 410 triệu năm nay. Nhưng có lẽ, với nhiều
thiếu nhi Việt Nam, cây cối xuất hiện bắt đầu từ cái ngày xửa, ngày xưa trong truyện của Phạm Hổ.
Phạm Hổ đã dệt nên những huyền thoại về các loài hoa, quả không theo bất cứ một truyền thuyết
tôn giáo nào mà theo cách tư duy nghệ thuật riêng của mình. Ông đi lần về cái thời ban đầu của từng
giống cây quả để xem vì đâu nó lại xuất hiện. Qua mỗi câu chuyện, Phạm Hổ đem đến cho bạn đọc một sự
tích về thiên nhiên. Chúng ta có thể khẳng định: lối cổ tích hóa nguồn gốc cây quả là nguồn cảm hứng
lớn trong sáng tác của nhà văn Phạm Hổ. Tất nhiên, người lớn chúng ta ai cũng biết các loài hoa quả
trong thiên nhiên đều có quá trình phát sinh, phát triển với những đặc điểm giống loài nhất định. Nhưng
đó dường như không phải là nhiệm vụ của văn chương, của các nghệ sĩ ngôn từ, mà đó là nhiệm vụ của
các nhà sinh vật học. Còn nhà văn, họ miêu tả quá trình hình thành phát triển của cây cối theo cách riêng
của họ.
Nói riêng về huyền thoại các loài hoa, nhà văn Phạm Hổ đã khiến không ít người đọc sửng sốt bởi
cái nhìn và cách lí giải nguồn gốc ra đời của chúng. Sự xuất hiện của hoa thiên lí hôm nay là cả một câu
chuyện huyền thoại về tình cảm vợ chồng của cô gái tên Lý. Câu chuyện bắt đầu từ tiếng sáo có sức hấp
dẫn của người chồng đến mức: “có một con rắn lục mê tiếng sáo của chàng, đã quyết tâm tu luyện cho
thành người để dành chàng làm chồng”. Con rắn ấy giả dạng y hệt cô vợ tên Lý từ vẻ mặt, lời nói, dáng
đứng, dáng đi. Việc thật giả chỉ trắng đen rõ ràng khi người vợ thật nhận ra chồng mình từ nghìn dặm theo
triết lí hết sức giản đơn nhưng không kém phần sắc sảo của dân gian: “Lia thia quen chậu, vợ chồng quen
hơi”. Người vợ giả hiện nguyên hình là con rắn, còn vợ chồng người thổi sáo đoàn tụ trong hạnh phúc: vợ
gội đầu, chồng thổi sáo. Truyện kết thúc thật bất ngờ: “Có con chim gì thả rơi bên chân người vợ một
chùm hoa màu xanh phơn phớt vàng có mùi thơm thoang thoảng. Đêm đến mùi hoa càng thơm hơn.
Người vợ liền bảo chồng đặt bông hoa bên cạnh cửa sổ để có gió, hương hoa càng bay khắp nhà. Sáng
hôm sau, thức dậy, cả hai vợ chồng đều lạ lùng thấy bông hoa đã kết liền vào một loài cây dây leo, mọc ở
cạnh cửa sổ. Và sau đó, không phải chỉ có một chùm hoa, mà rất nhiều chùm hoa khác lại nở tiếp theo.
Hoa xanh phớt vàng hình giống như ông sao năm cánh, hương thơm dịu ngọt”. Đó là hoa thiên lí, loài hoa
có nguồn gốc huyền thoại về tình cảm vợ chồng: “Thiên lí là vạn dặm, nghìn dặm mà vẫn nhận ra được
chồng mình...” (Tiếng sáo và con rắn).
Hoặc như cách Phạm Hổ hình dung về nguồn gốc ra đời của loài hoa dâm bụt. Đó là câu chuyện
cảm động về hai anh em Cành và Búp. Cành là anh, khỏe mạnh. Búp là em, bị liệt hai chân. Với tình
thương em tha thiết, Cành đi tìm Bụt để Bụt giúp em mình hết bệnh. Bụt thử thách Cành từ việc hi sinh
tấm áo đỏ đẹp nhất của mình đến việc sẽ phải thế chân cho Búp nếu muốn em lành bệnh. Cành chấp nhận
và vượt qua thử thách ấy bằng một tình yêu thương chân thành, mạnh mẽ. Kết cục câu chuyện là hình ảnh
ra đời một loài hoa mang sắc đỏ yêu thương của tình anh em: “Bụt cầm cái ô con (vốn được may từ tấm
áo của Cành) đi ra ngõ rồi chấm chấm cái ô lên bụi cây, lá xanh biếc, nơi đêm trước Cành đã dấu cái ô
vào trong. Bụt chấm đến đâu thì hoa vụt hiện ra đến đấy, một loài hoa mới hình giống cái ô, màu đỏ thắm
nhìn rất vui và rất hội hè...” (Cái ô đỏ).
Phạm Hổ quan niệm rằng: mỗi sự vật đều có một trang sử dài về sự hình thành và phát triển. Ông
đã nhìn từng loài hoa dưới góc độ của tình cảm thẩm mĩ, của cảm xúc thẩm mĩ trong mối quan hệ nhiều
mặt với đời sống tinh thần của con người. Vậy là mỗi loài hoa, qua cảm hứng huyền thoại của nhà văn,
đều chứa một khúc nhạc riêng, một vẻ đẹp riêng. Con cua lửa là huyền thoại về hoa gọng vó. Với Phạm
Hổ, đó là loài hoa mọc lên từ mộ cụ già nghèo làm nghề câu cá ven sông. Đây là loài hoa kì lạ vì: “nhìn từ
xa hoa cứ như những chùm lửa đang cháy và như muốn bay lên, bay lên thật cao... Cánh hoa lại cong lên
như những cái gọng vó” (Con cua lửa). Em bé hái củi và chú hươu con là huyền thoại của hoa đại. Đó là
loài hoa ra đời từ tình nghĩa thủy chung son sắt của đôi bạn nhỏ: chú bé và hươu con. Loài hoa minh
chứng cho sự chờ đợi: “Có người bảo chữ Đại là do chữ đợi, chờ đợi mà có. Cây hoa Đại, lá to giống tai
hươu, cành giống sừng hươu... Những bông hoa cũng giống con mắt hươu đang mở tròn, mở to, để trông
ngóng chờ đợi” (Em bé hái củi và chú hươu con). Những thanh gươm xanh của năm người học trò nghèo
mà ông thầy dạy võ trao cho lúc lên đường đánh giặc là huyền thoại của hoa phượng ngày nay. Màu đỏ
của hoa phượng được lí giải như một huyền thoại đẹp về tình nghĩa thầy trò: “Hoa đỏ như muốn nói với
mọi người rằng: tuy chết đi nhưng năm người con vẫn yêu thương người bố nuôi và hằng năm đến mùa
giỗ bố, họ mặc áo đỏ để tưởng nhớ người đã khuất” (Những thanh gươm xanh).
Mỗi loài hoa có sự tích của nó, và quả cũng thế. Cảm hứng huyền thoại về thiên nhiên đã chi phối
cái nhìn của Phạm Hổ đối với tất cả các loài quả mà ông cho rằng trẻ con rất thích. Quả roi dưới cái nhìn
của Phạm Hổ là những con ốc kì lạ. Phải chăng vì thoáng nhìn quả roi, nhà văn thấy chúng giống như
những con ốc? Ngày xưa, học trò đi học thường bị thầy đánh roi vì nhác học hoặc vô lễ… Bấy nhiêu chi
tiết đó đã mang lại sức gợi cho tác giả về huyền thoại ra đời của quả roi ngày nay. Nó bắt đầu từ câu
chuyện một người thầy giỏi với phương pháp dạy lạ lùng: “Tôi không phạt bằng roi. Tôi có con ốc này
thay cho roi nên gọi là ốc roi. Tự nó sẽ khen và chê rất công bằng. Học giỏi thì nó sẽ sáng lên như đèn và
giúp cho các anh thành đạt. Học kém thì nó sẽ đen dần lại như cục than và chỉ có đem vứt xó”. Tên học
trò nhà giàu nhác học lại ngỗ ngược, ganh tị, thủ đoạn có kết cục đáng đời: “Con ốc của thằng con lão nhà
giàu thì đen ngòm như một hòn than xỉ. Ngày hôm sau không nén được giận, nó liền bứt con ốc ra và vứt
luôn xuống ao. Ngực nó bỗng đau nhói lên ở chỗ con ốc hay nằm trước kia, và liền đó, nó ngã lăn ra, hộc
máu, chết ngay tức khắc”. Còn hai người học trò nghèo chăm học, tử tế thì thành công: họ đỗ đạt và nối
tiếp con đường đi dạy của người thầy để giúp ích cho đời. Khi họ chết: “không hiểu vì sao từ mộ của họ
bỗng mọc lên hai mầm cây rất đẹp, rất hiền… Cây ở mộ người con gái giả trai thì quả màu hồng, còn cây
ở mộ người con trai thì quả màu trắng”. Phạm Hổ đã tìm đúng lôgíc của hiện thực bởi quả roi ngoài đời
có cả roi đỏ và roi trắng. Nhưng điều quan trọng hơn là: một thứ quả ngon đã được hoài thai từ một câu
chuyện đẹp.
Một trong những huyền thoại lí thú nhất mà Phạm Hổ kể cho thiếu nhi nghe là sự ra đời của quả
bưởi. Ai là người khai sinh ra quả bưởi với những tép nước vừa ngon vừa bổ ấy? Phạm Hổ lại dẫn người
đọc vào thế giới ngày xưa, thời có một tên giặc hung ác thích uống trái La - một thứ quả hình tròn, cùi bọc
ngoài xốp như bông, ở trong có những cái túi chứa đầy một thứ nước hơi chua chua ngọt ngọt. Và cái thời
có năm anh chị em nhà kia nổi tiếng về tài và đức: anh cả giỏi rèn vũ khí, người anh hai giỏi đọc thơ văn,
cô em thứ ba có tài may vá, người anh thứ tư có tài bơi lội và bắt cá, người em út có tài bắn giỏi. Để có thể
giết chết tên giặc hung bạo đem lại cuộc sống bình yên cho người dân hiền lành, năm anh chị em đã viết
một lời sấm đe dọa tên tướng giặc: Tép lên cây, mày đứt cổ. Tép đời nào có thể lên cây - tên giặc tự trấn
an mình. Thế mà tép lên cây thật. Năm anh em tài giỏi đã đem tép từ ngoài sông vào trái La và khâu lại
một cách khéo léo nhằm gây tâm lí hoang mang lo sợ cho tên giặc và nhân đó giết được hắn. Câu chuyện
kết thúc bằng chi tiết thú vị: “Quá vui sướng vì trừ được giặc dữ, có mấy quả La mà cô em thứ ba khâu và
treo sẵn để đón đợi tên giặc, bị bà con bỏ quên trên cây. Sau đó một thời gian, tình cờ hái xuống bổ ra, ai
cũng ngạc nhiên thấy những con tép ở trong các múi nước không hỏng đi mà lại tươi tắn, sáng trong”. Bà
con đã lấy tên của cô em thứ ba đặt cho loại quả ấy: quả bưởi có từ đó.
Người ta bảo Phạm Hổ là người mê cây, mê hoa, mê quả. Quả là như thế, nếu không mê, nhà văn
không thể gom thâu đủ đầy trí tưởng tượng và tấm lòng nhiệt tình để dệt nên những thiên huyền thoại kì lạ
vừa bí ẩn vừa sinh động về các loài cây quả. Cây nhãn được ra đời từ câu chuyện lạ lùng về đôi mắt bị
hỏng chôn dưới đất mười ngày tưới sữa, mười ngày tưới mật của chú rồng con (Em bé và Rồng con). Quả
loòng boong - một giống quả ở vùng miền Trung chỉ lớn hơn quả hồng bì một tí, da vàng mát, cùi nhìn
trong như ngọc - được trổ ra từ cành cây mọc trên xác trái tim nhỏ máu của hai mẹ con người đi ở. Trái
tim đỏ máu vì bị nhà chủ cào cấu hành hạ, nên trái loòng boong cũng in hình dấu tích ấy: “quả nào cũng
có một cái dấu như dấu móng tay ai đó bấm vào” (Quả tim bằng ngọc). Quả mơ là kết quả mĩ mãn của
một hành trình đi tìm hạnh phúc thủy chung son sắt trong tình yêu của chàng trai đối với cô gái trong câu
chuyện cổ tích Cây một quả. Quả bông vải ra đời từ quá trình thử thách gian nan mà cô bé nhà nghèo phải
đối diện với cô công chúa xấu xa, độc ác và nham hiểm (Chuyện Nàng Mây).
Trong lĩnh vực sáng tác cho thiếu nhi, nếu Tô Hoài có thế mạnh khi miêu tả loài vật (Dế Mèn phiêu
lưu kí, Con gà ri, Đôi ri đá, O chuột, Con mèo lười, Ò ó o, Đàn chim gáy) thì với Phạm Hổ, những tác
phẩm viết về các loài cây hoa, cây quả có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Với mô hình mở đầu bằng một
huyền thoại và kết thúc là một loài hoa hoặc loài quả ra đời, Phạm Hổ đã viết nên những trang sử về quá
trình hoài thai vừa kì lạ vừa hấp dẫn của thế giới tự nhiên. Thiên nhiên vạn vật dưới cái nhìn của Phạm Hổ
như được khoác thêm một chiếc áo mới, mỗi loài hoa loài quả bỗng dưng có thêm một cuộc đời trước đó,
trước khi nó trổ thành thiên nhiên thơm thảo cho cuộc đời hôm nay. Những huyền thoại mà Phạm Hổ kể
cho thiếu nhi nghe giúp các em nhận ra ý nghĩa, giá trị của những loài cây cỏ vốn hết sức bình dị, quen
thuộc đối với cuộc đời. Ngoài ra, sự tích của hoa của cây cũng là sự tích về những cuộc đời đẹp. Huyền
thoại của thiên nhiên cũng là huyền thoại của cuộc sống con người với biết bao điều kì diệu và ăm ắp ý
nghĩa nhân văn. Các chi tiết kì ảo trong mỗi câu chuyện của Phạm Hổ tỏ ra hữu ích trong việc bồi đắp
thêm cho các em cái nhìn phong phú đầy mơ mộng và ít nhiều kích thích khả năng sáng tạo của các em
trước thế giới tự nhiên. Quan trọng hơn, mỗi loài hoa loài quả, qua cách kể của Phạm Hổ, mang thêm
những thông điệp nội dung mới về cuộc đời. Phải chăng đằng sau mỗi huyền thoại về thiên nhiên chính
là một huyền thoại đẹp về tình người mà nhà văn muốn gởi gắm đến các bạn đọc nhỏ tuổi? Cho nên
nếu chỉ nói rằng Phạm Hổ mê cây, mê hoa, mê quả thì sẽ là chưa đủ. Trên hết, Phạm Hổ mê con người mà
nhất là những con người trong sáng, thơ ngây nhỏ tuổi.
2.1.2. Cảm hứng về thế giới tình cảm, tâm hồn, trí tuệ của tuổi thơ.
Như đã nói Phạm Hổ mê cây, mê hoa, mê quả nhưng sâu đậm hơn hết là đam mê các em thiếu nhi.
Vì vậy, bên cạnh những câu chuyện cổ tích hiện đại về các loài hoa loài quả, Phạm Hổ đã viết về chính
những đối tượng mà ông dành tình yêu mến tha thiết: trẻ em. Có thể nói, các em thiếu nhi đã trở thành
nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận và mãnh liệt nhất đối với Phạm Hổ. Cho nên, dẫu ông viết về điều gì,
viết về ai đi chăng nữa thì tâm điểm của muôn mảng màu tô vẽ trong bức tranh bằng ngôn từ vẫn chỉ là để
làm nổi bật lên chân dung tình cảm, tâm hồn, trí tuệ của các thế hệ trẻ thơ.
Thật vậy, đọc truyện của Phạm Hổ, người ta luôn nhận ra rằng: đằng sau một thế giới nhiều điều kì
diệu lãng mạn chỉ có trong tưởng tượng của trẻ thơ vẫn có một sợi dây níu giữ với mặt đất hôm qua, hôm
nay và cả ngày mai. Đó chính là những hình ảnh rất thật, rất đáng yêu về thế giới tâm hồn của trẻ em Việt
Nam nói riêng và thiếu nhi trên khắp nơi nói chung. Với Phạm Hổ, những buồn vui, những khao khát, mơ
tưởng, những tình cảm yêu ghét của tuổi thơ rất đáng được quan tâm. Bởi lẽ, nó là cội nguồn cho việc
hình thành nhân cách và thế giới tâm hồn - tinh thần sau này, khi những lớp trẻ thơ ấy trở thành người lớn.
Cho nên, khi viết về đời sống trẻ thơ trong truyện của mình, nhà văn tỏ ra rất thận trọng - sự thận trọng
của một cây bút ý thức rõ trách nhiệm và có lương tâm nghề nghiệp.
Đọc truyện Phạm Hổ viết cho thiếu nhi, chúng ta rất ít khi bắt gặp chân dung bên ngoài của các em.
Nhà văn tỏ ra không chú tâm nhiều đến việc miêu tả dáng vẻ, ngoại hình đáng yêu của các nhân vật thiếu
nhi. Nếu có miêu tả, ông cũng chỉ mượn nét đẹp bên ngoài ấy như một chiếc cầu nối dẫn dắt vào thế giới
tâm hồn trong trẻo, đẹp đẽ của trẻ em mà thôi. Như trong Chuyện nàng Mây, chân dung của cô bé Mây
được nhà văn miêu tả như sau: “Mây nghèo nhưng xinh đẹp vô cùng. Da cô trắng mịn, đôi môi cô đỏ hồng
như hai cánh hoa đào vừa nở buổi tinh mơ, đôi mắt cô trong và đen như mắt chim, tóc cô lúc nào cũng
đen huyền và óng ánh như vuốt nước. Cô ăn mặc lúc nào cũng đơn sơ, nhưng sắc đẹp cô không vì thế mà
giảm đi”. Đối nghịch với vẻ đẹp hiền hậu của Mây là vẻ xấu xí của cô công chúa nhỏ Thanh Hoa - cô bé
xấu chỉ vì vẻ mặt luôn cau có, khó chịu và tính tình độc ác… Qua cách miêu tả chân dung nhân vật, Phạm
Hổ muốn nói với các bạn đọc thân thiết rằng: vẻ đẹp bên ngoài của con người là sự biểu lộ cụ thể của vẻ
đẹp bên trong, chính vẻ đẹp tâm hồn, tính cách sẽ quyết định nét đẹp của nhan sắc, hình hài.
Khi sáng tác, Phạm Hổ có nhạy cảm đặc biệt trong việc viết về thế giới tâm hồn của con người,
nhất là tâm hồn của các em thiếu nhi. Ông say sưa xây dựng những chân dung tâm hồn trong sáng, tinh
khiết của tuổi thơ. Với ông, đó là thế giới ngự trị của những tình cảm thiêng liêng, cao đẹp vừa chân thành
vừa tha thiết. Đó là thế giới của những điều giản dị nhưng lại có khả năng đánh thức những tiềm năng
nhân cách vĩ đại cho con người. Bởi truyện của Phạm Hổ đưa người đọc về với những cội nguồn tình cảm
nhân bản như tình cảm gia đình, tình bạn bè, tình làng xóm quê hương, tình thầy trò… Đó cũng là thế giới
của những ước mơ bay bổng tuyệt diệu, thế giới của những khám phá lạ lùng, kì thú.
Trước hết, nhà văn Phạm Hổ dẫn dắt những người bạn nhỏ tuổi của mình vào thế giới của đời sống
tình cảm gia đình. Sau đây là một thống kê nhỏ trong tập truyện Chuyện hoa chuyện quả của Phạm Hổ:
ST Tác phẩm Tình Tình Tình Tình Tình Tình Đề tài
T cảm bạn thầy làng yêu yêu khác
gia trò xóm, thiên
đình quê nhiên
hương loài
vật
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
1 Những bàn tay X nhiều ngón
2 Cây chanh quả X vàng
3 Cây một quả X
4 Tiếng sáo và X con rắn
5 Quả tim bằng X ngọc
6 Những con ốc kì X lạ
7 Cái ô đỏ X
8 Ruột vàng, hạt X lắm
9 Em bé và Rồng X con
10 Chuyện nàng X Mây
11 Những thanh X gươm xanh
12 Con cua lửa X
13 Cô bé và ông X táo
14 Ba chiếc áo ba X màu
15 Em bé hái củi và X chú hươu con
16 Tép lên cây X
17 Một người con X có hiếu
18 Chim Lưu Ly X
19 Cái kéo kì lạ X
20 Cô em gái biết X lo xa
21 Người ăn trộm X đi nhầm nhà
22 Cô gái thêu tài
và chàng trai dệt X
giỏi
23 Hai ông cháu và X túp lều dột nát
24 Mùi hương kì lạ X
25 Những bông hoa X hình mũi kim
26 Ngôi đền đỏ X
27 Những người X con hiếu thảo
28 Hai vợ chồng và X con voi quý
29 Những bông hoa
X mới nở ở Hồ
Thơm
30 Cô gái bán trầm X hương
31 Dòng sữa của X người chị
32 Màu áo, màu X
hoa
33 Cơm cho chó ăn X
34 Ăn lá mà nhả ra X vàng
35 Hai anh em nhà X trăm mắt
36 Người mẹ nghèo X ít gạo nhiều con
37 Cây lạ quả ngon X
38 Em bé hay cười X
39 Cây đàn và bầu
X rượu của người
thầy
40 Quả có nhiều X khía
41 Của quý trong X lòng đá
42 Những quả ổi X biết kêu
43 Cái áo choàng X lông cáo
44 Khóm dứa lá X không gai
45 Chọn rể quý X
46 Hạt ngày, hạt X đêm
47 Bài thi nhập học X
Tổng 23/47 4/47 2/47 3/47 10/47 2/47 3/47
Qua thống kê nhỏ ở trên, chúng ta nhận thấy tỉ lệ các câu chuyện viết về đề tài tình cảm gia đình
chiếm phần nhiều trong sáng tác dành cho thiếu nhi của Phạm Hổ: 23/47 truyện. Với trẻ em, không gì gần
gũi và thân thiết bằng gia đình, và cũng có biết bao điều thú vị nảy sinh từ môi trường ấy. Phạm Hổ dẫn
dắt người đọc khám phá những điều thú vị về không gian quen thuộc ấy. Nhà văn luôn biết tạo ra những
tình huống đặc biệt để tình yêu thương tự nó thể hiện một cách ý nghĩa nhất, trọn vẹn nhất.
Với trẻ em, tình yêu thương không cần và không nên chỉ được diễn giải bằng những lí thuyết suông
mà phải là những hành động rất cụ thể trong những hoàn cảnh cũng rất cụ thể. Đó là tình huống thương
tâm khi người mẹ thấy con mình bị người chủ đánh: “Một hôm, em bé gái bị ốm nặng nằm liệt không dậy
nổi. Người mẹ thương con, thỉnh thoảng lại lén vào thăm. Tên nhà giàu thấy được, hắn nắm lấy tay em bé
giật mạnh một cái và lôi dậy bắt đi làm. Hắn vừa bỏ tay ra thì em bé ngã khuỵu xuống. Tên nhà giàu càng
tức giận. Hắn chộp luôn cái roi mây và quật vào lưng em mấy cái. Em bé và người mẹ cùng thét lên. Mà
kì lạ quá, tên nhà giàu quật bao nhiêu lằn roi trên lưng đứa con thì bấy nhiêu lằn roi cũng hiện lên trên
lưng bà mẹ” (Quả tim bằng ngọc). Phạm Hổ đã miêu tả mối tương cảm mẫu tử thật thiêng liêng. Nối kết
giữa mẹ và con là sợi dây yêu thương - sợi dây có khả năng chống chọi lại với cái Ác và muôn ngàn nỗi
đau khổ của cuộc đời. Người ta có thể chia cách mọi thứ trong cuộc đời trừ tình cảm sâu sắc của con
người, nhất là tình mẹ con. Hoặc trong truyện Những người con hiếu thảo, Phạm Hổ kể chuyện một người
con gái nhỏ đi tìm thuốc cho mẹ, dẫu bị kẻ Ác chặt đứt cả mười ngón chân và mười ngón tay, cô vẫn cố
gắng đứng lên đem thuốc về cho mẹ rồi mới tắt thở. Cô gái ấy chết nhưng lòng vẫn không nguôi thương
nhớ mẹ nên cô hóa thân thành cây dừa với dòng nước ngọt mát, mỗi lần thấy mẹ, cây lại cất tiếng hát:
“Con sống không nuôi được mẹ
Chết đi xin hóa thành cây này
Lá cây lợp nhà mẹ ở
Bẹ cây than củi đốt thay
Mẹ hái quả xanh xuống bổ
Nước trong mẹ đỡ khát ngay
Mẹ cạy lớp cơm ruột trắng
Thay cơm mà sống qua ngày
Mẹ tước vỏ đem xe sợi
Võng mềm đưa giấc ngủ say”.
Vẫn biết cuộc đời với sinh lão bệnh tử có quy luật riêng của nó mà người thường không dễ can dự
theo ý muốn. Nhưng, bên cạnh những điều khắc nghiệt không dễ thay đổi của cuộc đời, nhà văn giúp
chúng ta hình dung cuộc sống còn biết bao điều kì diệu nảy sinh trên cơ sở tình yêu thương. Vì vậy, hành
động và sự hóa thân của người con hiếu thảo trong câu chuyện có vẻ không thật nhưng nó vẫn khiến người
đọc xúc động. Tác giả đã truyền lửa niềm tin cho thiếu nhi về giá trị của tình yêu thương trong cuộc đời.
Trẻ em có lẽ từng được đọc rất nhiều câu chuyện cảm động về tình mẫu tử nhưng sẽ khó lòng quên được
những chi tiết ấn tượng về trái tim người mẹ trong Quả tim bằng ngọc hay tiếng lòng ngân nga của người
con hiếu thảo hát cho mẹ nghe trong Những người con hiếu thảo.
Ông bà ta từng dạy “Anh em như thể tay chân. Anh em đùm bọc hai thân vui vầy”. Phạm Hổ đã cụ
thể hóa nội dung lời dạy ấy bằng những câu chuyện về tình anh em đầy ý nghĩa. Tình huyết thống yêu
thương chỉ được khẳng định khi nó được đặt trong những hoàn cảnh thử thách ngặt nghèo bởi vì càng trải
qua chông gai, giá trị vững bền của tình cảm càng chứng tỏ chất vàng mười tuyệt đẹp. Đó là hoàn cảnh khi
Bụt thử thách Cành hi sinh tấm áo đẹp của mình để may chiếc ô đỏ rước Bụt đến nhà chữa bệnh cho em
trai. Và khó khăn nhất là khi Bụt bảo Cành phải đổi bàn chân cho em thì Búp mới đi lại được như những
đứa trẻ khác. Nhân vật Cành không phải không đắn đo: “Cành nhìn Bụt chằm chằm rồi nhìn xuống đôi
chân mình. Lần này thì Cành thấy lo thật. Rồi Cành sẽ không còn được đi lại, không còn được rong chơi”.
Nhưng tình thương lớn hơn nỗi sợ: “Cành quả quyết: Thưa Bụt, dẫu sao thì cháu cũng đã được đi lại, bơi,
trèo bao nhiêu năm nay rồi. Còn em cháu thì nó chưa hề biết được những cái thú ấy. Cháu đã lớn, dù có
bị liệt, cháu sẽ còn có cách này hay cách khác. Còn em cháu thì nó bé quá, nó khổ quá…” (Cái ô đỏ).
Người đọc không thể ngờ một đứa trẻ hồn nhiên, vô tư, ngây thơ như Cành lại có tình thương em mãnh
liệt đến thế.
Những câu chuyện về tình cảm gia đình trong truyện của Phạm Hổ đã tạo lập nên một thế giới tình
cảm giàu đẹp, phong phú và mang giá trị nhân bản tươi sáng. Nó có ý nghĩa lớn đối với thế giới tâm hồn
của bất cứ người nào khi trải qua thời thơ ấu để được lớn khôn trong cuộc sống sau này. Tác giả Phạm Hổ
có biệt tài trong miêu tả những tình huống gây xúc động lòng người. Nguồn cảm hứng về tình người tuôn
chảy dào dạt trong những câu chuyện kể của Phạm Hổ. Hầu như không có mẩu chuyện nào không đem lại
cho các em những khoảnh khắc tình yêu có giá trị thiết thực cho tuổi nhỏ hôm nay và người lớn ngày mai.
Bên cạnh tình cảm gia đình, Phạm Hổ cũng viết về tình bạn, tình thầy trò trong các truyện ngắn của
mình. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi lẽ đối với trẻ em, ngoài không gian tình cảm quen thuộc của mái ấm gia
đình, các em có xu hướng vươn tới những tình cảm đẹp tươi với các bạn đồng trang lứa. Tuy nhiên, so với
các nhà văn viết truyện cho thiếu nhi khác thì cảm hứng về đề tài tình bạn của tuổi nhỏ không phải là thế
mạnh trong truyện của Phạm Hổ. Dẫu vậy, đọc truyện của Phạm Hổ, chúng ta sẽ lấy làm thú vị bởi những
tình bạn rất dễ thương của các nhân vật trẻ em với thiên nhiên xung quanh. Tâm hồn tuổi thơ nhạy cảm -
cái nhạy cảm mà người lớn không thể có được - thể hiện qua việc trẻ em luôn có thiên hướng trò chuyện
với cỏ cây, hoa lá, chim muông… Bắt được nguồn cảm hứng ấy, nhà văn Phạm Hổ kể cho các bạn đọc
nhỏ tuổi của mình những câu chuyện về tình bạn hết sức chân thành và đẹp đẽ. Cảm động nhất, có lẽ phải
nói đến hai truyện Em bé và Rồng con, Em bé hái củi và chú hươu con. Chân tình của con người dành cho
người bạn loài vật được miêu tả hết sức giản dị qua sự quan tâm, an ủi, vỗ về… Còn loài vật, làm bạn với
con người bằng sự cảm thông chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Và điều ý nghĩa nhất mà tác giả chuyển tải trong
những câu chuyện về tình bạn chính là thông điệp: muốn có tình bạn đẹp phải biết yêu thương một cách
chân thành.
Ngoài ra, trong truyện Những thanh gươm xanh, Những con ốc kì lạ, đi qua lớp tình tiết kì ảo,
người đọc đến với thế giới tình cảm thầy trò nồng nàn và thấm đượm chân tình. Người thầy không chỉ
truyền thụ cho học trò những “bồ chữ” kiến thức mà còn truyền “lửa” tình người giúp học trò lớn khôn
trong tâm hồn và nhân cách. Học trò biết ơn thầy không phải qua những lời “dạ thưa” mà còn biết sống có
ích đúng như bài học làm người mà thầy đã dạy.
Phạm Hổ luôn chú ý khai thác thế giới tình cảm của tuổi thơ, nhất là những cung bậc yêu thương
mà bất kì đứa trẻ nào cũng cần có và khát khao có. Vì vậy những truyện ngắn Phạm Hổ viết cho thiếu nhi
có cái sức hấp dẫn đối với lứa tuổi thần tiên là điều dễ hiểu. Phạm Hổ đã xây dựng thiên đường tình cảm
của các em bằng chính những rung động chân thực, bằng những ước mơ tuyệt đẹp trong lòng của một
người biết dõi theo và lắng nghe tiếng lòng của con trẻ. Có đôi lúc, chúng ta như bắt gặp Phạm Hổ hoá
thân vào vai các nhân vật để “rộng đường” viết về những điều yêu thương cho trẻ em.
Thế giới tâm hồn của trẻ em không chỉ phong phú bởi những tình cảm mang ý nghĩa nhân bản đối
với cuộc sống mà nó còn lung linh và ngời tỏ màu sắc diệu kì bởi những ước mơ khám phá và khát vọng
hành động của lứa tuổi thần tiên, nhất là khi các em biết hòa nhập với cuộc sống thiên nhiên xung quanh.
Trong những chuyến hành trình về với thế giới thiên nhiên, Phạm Hổ tỏ ra thích thú khi phát hiện ra rằng:
tâm hồn trẻ thơ dễ hòa nhập, giao cảm với thiên nhiên bởi cả hai đều có phẩm chất trong trẻo, tinh nguyên.
Cái nhìn trong truyện của Phạm Hổ là cái nhìn của trẻ con về thế giới tự nhiên. Đó là cái nhìn gần gũi,
thân thiện và bình đẳng. Nó không phải là cái nhìn mang khát vọng chế ngự để làm chủ thế giới tự nhiên
như của người lớn mà đó chỉ là mong mỏi tìm hiểu, trả lời cho sự có mặt của các hiện tượng trong tự
nhiên, từ nắng mưa, nóng rét, núi sông đến nguồn gốc ra đời của muôn loài cây lá…Vì vậy, có thể thấy
rằng, mỗi trang viết của Phạm Hổ là mỗi trang ước mơ khám phá và khát vọng hành động theo tư duy và
suy nghĩ của những tâm hồn trẻ thơ. Một cậu bé khoảng chừng mười tuổi vì thương bà phải chịu lạnh vào
mùa đông mà quyết tâm tìm mua cho bằng được: “cái kéo có thể cắt được…nắng mang về cất giữ, dệt
thành chăn nắng cho bà đắp vào những đêm lạnh” (Cái kéo kì lạ). Ước mơ ấy sẽ chẳng bao giờ xuất hiện
trong “vùng suy nghĩ” của người lớn. Ước mơ ấy lạ kì nhưng nó là khát khao có thật trong trí nghĩ của lứa
tuổi thơ ngây. Chẳng phải vạn vật trong đôi mắt và suy nghĩ của trẻ em hiện lên đều có những sự diệu kì
như vậy hay sao? Phạm Hổ đã để cho cậu bé ấy tự do hành động theo đúng khát vọng của mình. Cậu bé
tìm đến một ông lão bán kéo nổi tiếng - thực ra là hiện thân của ông Bụt - để mua cái kéo có một không
hai ấy. Cậu được ông lão tặng cái kéo kèm những câu thơ thần chú linh thiêng. Trở về nhà, cậu bé đã làm
được một việc lạ lùng:
“Một buổi trưa, đang ngồi bần thần nhìn mấy tia nắng từ mái nhà tranh dột nát rọi xuống nền nhà,
chú bé bỗng reo lên: ôi! Đúng là nắng chảy thành sợi kia rồi! Chú bé liền chạy đi lấy cái sàng gạo, rồi
leo lên mái nhà. Chú bới chỗ mái tranh bị dột nát cho rộng ra rồi đặt cái sàng vào đó. Mặt trời rọi xuống,
cái sàng có bao nhiêu lỗ thì có bấy nhiêu tia nắng rọi xuống, nhìn cứ vàng óng. Chú bé liền đem cái kéo
của ông cụ cho thử cắt những sợi nắng xem có cắt được không. Lạ lùng chưa, những sợi nắng theo nhau
rơi xuống cứ óng ánh, lấp lánh…”
Tuổi thơ thường được gọi là tuổi thần tiên vì đó là tuổi của ước mơ, tuổi của những khát vọng. Tất
nhiên, không ít người lớn chúng ta quen nhìn và đánh giá những ước mơ khát vọng của các em là không
tưởng, là xa vời. Nhưng với trẻ em, đó là những khát vọng mãnh liệt có khả năng ươm mầm cho niềm tin
vào cuộc sống, vào tương lai. Có một người tin vào những ước mơ ấy và sẵn lòng giúp đỡ cho những
người bạn nhỏ tuổi thực hiện những mong ước kì diệu ấy. Người đó chính là Phạm Hổ. Các em muốn gặp
Bụt (Cái ô đỏ)? Các em muốn biến một hòn đá có hình dạng con voi thành một con voi thật (Hai vợ chồng
và con voi quý)? Các em muốn có một tấm gương có phép lạ: “Ai soi vào mà tươi cười thì sẽ được sống
lâu… Ngược lại ai soi vào mà nhăn nhó thì sẽ chết sớm” hoặc muốn: “biến ngắn thành dài, biến đen
thành trắng, biến buồn thành vui” (Chuyện nàng Mây)? Các em muốn nói chuyện với các lực lượng thần
kì như thần Cây, ông Táo (Cô bé và ông Táo)? Hay các em muốn tép leo lên cây (Tép lên cây)?… Có thể
nói, cảm hứng tư tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ chính là cảm hứng về thế giới của
những ước mơ có vẻ kì khôi ấy. Cái đẹp trong tư tưởng nghệ thuật của Phạm Hổ tỏa ra từ cái đẹp của
những điều lạ lùng nhưng đáng yêu ấy.
Trong câu chuyện Cô bé và ông Táo, nhân vật chính là một đứa bé gái nhỏ tuổi nhưng giàu tình
yêu thương. Cô không chỉ yêu bố mẹ của mình mà còn dành cả tình thương cho ba ông Táo bằng đá núi
ngày đêm chịu khói lửa để nấu cơm, hầm ngô, nướng thịt cho mọi người ăn. Một lần vì thương ba ông
Táo, cô bé năm tuổi ấy đã làm một hành động rất dễ thương: “lấy một gáo nước to dội luôn lên đầu ba
ông”. Sau đó, cô trở thành người bạn nhỏ của ông Táo và lâu lâu cô không quên đặt vào bếp lửa một con
cá chép rồi khấn: “Cháu xin gửi biếu ông con cá chép để thỉnh thoảng ông cưỡi đi chơi”. Việc làm của em
gái nhỏ năm tuổi thật hồn nhiên nhưng nó phản ánh đúng tâm lí tình cảm của tuổi ngây thơ. Các em vẫn
thường nghĩ gì làm nấy. Một hòn đá vô tri vô giác đối với các em cũng trở thành vật có linh hồn, biết đau,
biết buồn. Phạm Hổ đã bắt đúng suy nghĩ và cách hành xử của trẻ nhỏ. Các em có những hành động lạ
lùng nhưng đó là những hành động bắt nguồn từ một niềm tin mãnh liệt vào những điều tốt lành nhất của
cuộc sống.
Thế giới tâm hồn trẻ em được phản ánh trong truyện của Phạm Hổ không chỉ là thế giới của những
tình cảm nhân bản phong phú, những ước mơ và khát vọng khám phá, hành động; đó còn là thế giới song
hành giữa đôi mắt nhìn đời và cái đầu biết nghĩ. Phạm Hổ tỏ ra rất thích thú khi đi vào thế giới trí tuệ
của trẻ em. Những suy nghĩ và quan niệm về cuộc đời của chúng không phải lúc nào cũng non nớt, ngây
ngô. Trẻ em có trí phán đoán và xem xét riêng, có lí luận riêng và đôi khi làm cho người lớn hết sức bất
ngờ, ngỡ ngàng rồi thán phục. Đọc truyện Một người con có hiếu, chúng ta bắt gặp một cậu bé thông minh
lém lỉnh trong cuộc đối đầu với tên nhà giàu đần độn để kiếm tiền về chữa bệnh cho cha. Em làm sống lại
người đã chết bằng một bức vẽ với lí luận: “Người chết thì phải nhắm mắt. Mắt ông cụ vẫn mở to thế này,
sao lại bảo là chết! Và người chết thì làm sao cười được”. Vào ngày giỗ mẹ, em mong muốn có một cành
hoa để dâng cho mẹ vui nhưng đang mùa cây khô, lá vàng nên em không tìm đâu ra một nhánh hoa. Thế
rồi em bé đã nghĩ ra ngay cách để có hoa: “Em chọn những lá lúa to đẹp nhất, cắt ra thành những sợi thật
nhỏ rồi bó túm lại, bên dưới thắt thật chặt, còn bên trên thì cho xòe ra. Em lấy kéo tỉa thật đẹp, thật
tròn…”. Đó chính là hoa vạn thọ hôm nay. Hoặc trong truyện Bài thi nhập học, người đọc không chỉ cảm
động về ý chí và lòng ham học của nhân vật cậu bé mà còn thán phục trước trí tuệ của cậu. Người thầy đã
thử thách cậu học trò nhỏ bằng một bài thi hóc búa qua bốn bức tranh. Bức thứ nhất vẽ một đôi đũa, bức
thứ hai vẽ một cái nhà, bức thứ ba vẽ một vườn rau có mấy quả mướp treo lủng lẳng, bức thứ tư vẽ cây
nến đang cháy. Trước câu đố của thầy, cậu bé đã rất thông minh để liên kết tất cả các chi tiết và tìm ra câu
trả lời có ý nghĩa nhất: “Ăn bằng đũa thì chỉ có con người; loài vật ở hang, ở hốc, cất nhà mà ở chỉ có con
người; cây cỏ không trồng cũng mọc được, nhưng trồng thành vườn rau, vườn quả, chỉ có con người; loài
vật ăn rồi lo ngủ, biết học chỉ có con người. Vì vậy, bài của cụ tóm lại chỉ có một chữ: người! Và ý cụ là
muốn dạy bảo chúng con phải nhớ mình là người, và học trước hết là để làm người”.
Tóm lại, cảm hứng tư tưởng trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ đã được cụ thể hóa qua
một số đề tài hấp dẫn và ít nhiều thể hiện một hướng đi mới của tác giả trong tư cách người bạn văn của
thiếu nhi. Bằng những huyền thoại về các loài cây trái quen thuộc trong cuộc sống, Phạm Hổ đã mở ra
trước mắt thiếu nhi một thế giới độc đáo với những khám phá mới lạ, kì diệu. Điều sâu sắc nhất mà nhà
văn đem đến cho trẻ em chính là ý nghĩa của quá trình khai sinh các loài hoa quả trong thế giới tự nhiên.
Phạm Hổ khẳng định: mọi thứ bắt đầu từ cội nguồn của tình yêu thương con người, mỗi loài hoa trái của
hôm nay là hóa thân của những tình cảm đẹp đẽ, thiêng liêng trong quá khứ của tổ tiên cha ông. Ngoài ra,
Phạm Hổ cũng khá thành công trong việc dựng nên chân dung tâm hồn của tuổi thơ, nhất là thế giới tình
cảm hết sức phong phú và cao đẹp cùng với những ước mơ, khát vọng khám phá của trẻ thơ. Phạm Hổ
còn cho người đọc thấy rằng trẻ em không chỉ ngây thơ, hồn nhiên, chúng có cách suy nghĩ và lí luận
riêng của mình mà người lớn không thể không ngạc nhiên trước những lôgíc mà trẻ nắm bắt được từ thực
tế cuộc sống, kiểu như:
“Mẹ ơi! Mẹ bảo quả táo trên cây chín đỏ là nhờ mặt trời. Thế thì củ cải lớn lên trong lòng đất vì
sao mà đỏ?
Mẹ ơi! Mẹ bảo gà trống gáy là trời sáng, thế sao gà trống chết rồi mà trời vẫn sáng?
Mẹ bảo con không nên hỏi mẹ như vậy, vì làm mẹ thì không bao giờ sai. Vậy thì con cũng sẽ không
bao giờ sai, vì sau này con cũng sẽ làm mẹ”.
( Hỏi - Giả Bình Ao)
2.2. Sự lí giải thế giới theo con mắt người yêu trẻ
Tìm hiểu cảm hứng tư tưởng của một nhà văn, nếu chỉ dừng lại ở việc khám phá những nguồn cảm
hứng chính thể hiện trong tác phẩm thì chúng ta chỉ thấy được bề mặt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn ấy.
Chiều sâu tư tưởng của tác giả chủ yếu nằm trong mạch suy ngẫm hay cách lí giải cuộc sống của người
cầm bút. Nhất là qua cách lí giải, người đọc có thể nhận thấy bề sâu nội dung của tác phẩm cũng như khả
năng nắm bắt vấn đề của người viết. Ngoài ra, chiều sâu của sự lí giải tạo nên sức hấp dẫn cũng như khả
năng thuyết phục người đọc về các vấn đề được tác giả nêu trong tác phẩm.
Sáng tác cho thiếu nhi, các nhà văn càng cẩn trọng trong việc thể hiện cách lí giải đối với những
nội dung muốn gởi đến đối tượng thưởng thức có tâm hồn đặc biệt nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng ấy. Bởi
lẽ, trước bức tranh cuộc sống nhà văn miêu tả trong tác phẩm, người lớn có thể tin và không tin hoặc ngay
cả khi tin nhưng với lí trí đủ sáng suốt, họ biết cách nhận thức và hành động cho phù hợp. Còn trẻ em,
chúng tin vào những gì nhà văn viết, chúng sẵn sàng làm theo những gì mà các nhân vật của nhà văn đã
làm…Vì vậy, trong mỗi câu chuyện cho thiếu nhi, là người viết có trách nhiệm, các tác giả phải thật sự để
tâm đến cách lí giải đối với những gì đã viết ra. Phạm Hổ là nhà văn có ý thức trách nhiệm như thế.
Truyện ngắn cho thiếu nhi của Phạm Hổ, nhìn bên ngoài là cách nhà văn lí giải về sự hình thành
thế giới tự nhiên, nhưng điều cốt lõi là tác giả thể hiện quan điểm về cuộc sống hiện thực - cuộc sống mà
bạn đọc thiếu nhi của ông từng ngày đang đối diện. Cách lí giải của một nhà văn thông thường biểu hiện ở
hai phương diện: hoặc là qua lời thuyết minh của tác giả, mượn lời của nhân vật; hoặc là qua lôgíc của sự
miêu tả (tức qua hình tượng, qua sự sắp xếp các sự kiện, tình tiết… trong tác phẩm).
Song, lí giải về thiên nhiên là việc làm không dễ. Làm sao có thể đi tìm lời thuyết minh cho thế giới
muôn loài khi mà hằng ngày, hằng giờ nó đã hiện diện như thế, hiển nhiên, khách quan giữa cuộc đời?
Nếu tác giả không lí giải thì muôn loài cây cối vẫn phát triển, vạn vật vẫn cứ sinh sôi nảy nở. Vậy phải
chăng việc làm của nhà văn Phạm Hổ là thừa?
Chúng ta, tất nhiên trong đó có người viết - những người lớn với một sự chủ quan lớn lao đã yên trí
tin rằng mọi sự trong cuộc sống đều đã rõ ràng, đã được cắt nghĩa xong xuôi. Và dường như đó cũng là
một căn bệnh của người lớn, căn bệnh chủ quan vì thiếu mất chất ngạc nhiên tươi tắn của những tâm hồn
tuổi thơ. Phạm Hổ không giống như chúng ta, ông không mắc căn bệnh ấy bởi “vẫn giữ được cho mình,
tâm hồn và ngòi bút mình cái ngạc nhiên, ngơ ngác trẻ dại của tuổi thơ” [57, tr.17]. Phạm Hổ tỏ ra tin ở
những câu hỏi về cuộc sống của các em, trân trọng cả những thắc mắc đôi khi ngớ ngẩn và quấy rầy ấy.
Và thế là cả hành trình văn chương của Phạm Hổ chính là hành trình đi tìm lời giải đáp về thế giới tự
nhiên cũng là thế giới cuộc đời cho con trẻ.
Không lí giải thế giới từ vụ nổ vũ trụ đầu tiên, không dựa vào thuyết tiến hóa quy luật cạnh tranh
sinh tồn của Đác-uyn, nhà văn Phạm Hổ đưa ra một lí thuyết khác về nguồn gốc ra đời của muôn loài.
Bằng những câu chuyện của mình, Phạm Hổ đưa ra lời giải đáp cho thiếu nhi về thế giới mà các em đang
thắc mắc: mọi thứ kì diệu nhất trong cuộc sống hôm nay đều do chính bàn tay con người tạo dựng ra,
nguồn gốc của muôn loài chính là ở tình yêu, tình thương và lòng tốt của con người.
Phạm Hổ cho rằng thế giới ban đầu sẽ chẳng thể có được điều gì nếu thiếu đi những trái tim yêu
thương. Vị thần Cây cũng chẳng thể sáng tạo nên những loài hoa quả tuyệt vời đến thế nếu không có niềm
yêu mến con trẻ. Hoa vạn thọ chẳng thể xuất hiện nếu không có lòng hiếu thảo cảm động của người con
trai hết lòng yêu mẹ (Một người con có hiếu). Hoa đào ra đời từ tình yêu chung thủy son sắt giữa cô gái
thêu tài và chàng trai dệt giỏi (Cô gái thêu tài và chàng trai dệt giỏi). Cây bông lau là hình dáng mái tóc
bạc của một cụ già có tình yêu hồn hậu dành cho những loài chim có giọng hót hay (Chim lưu ly). Cây tre
là hóa thân của tình người chở che cho nhau trong những lúc khó khăn ngặt nghèo (Hai ông cháu và túp
lều dột nát). Quả bưởi là kết quả của tình đoàn kết anh em và tấm lòng yêu làng xóm tha thiết của những
con người biết gắn bó niềm hạnh phúc của riêng mình với sự tồn vong của quê hương lúc giặc đến xâm
lược (Tép lên cây). Quả nhãn là hóa thân của tình bạn đẹp đẽ giữa chú bé nhỏ và loài rồng (Em bé và rồng
con)… Với cách lí giải rất có duyên, có tình, Phạm Hổ khiến cho các bạn đọc nhỏ tuổi thấy được giá trị
của tình yêu thương trong cuộc sống. Chính tình yêu của con người đã làm nảy sinh muôn vạn loài hoa,
muôn nghìn loài quả. Và phải chăng, cũng chính nhờ tình yêu ấy mà mỗi loài hoa thêm đẹp hơn, rực rỡ
hơn, mỗi loài quả thêm ngọt hơn và dinh dưỡng hơn cho đời sống vật chất lẫn tinh thần của chúng ta hôm
nay?
Như vậy, những huyền thoại về thiên nhiên trong truyện của Phạm Hổ một mặt rất thơ mộng, đắm
say, đậm chất cổ tích, nhưng mặt khác những huyền thoại ấy không xa rời cuộc sống của con người. Ý
nghĩa nhân bản của mỗi câu chuyện huyền thoại mà Phạm Hổ dệt nên trong truyện viết cho thiếu nhi bắt
nguồn từ sự lí giải rất sâu sắc của tác giả về thế giới loài người. Trong cách thuyết minh về thiên nhiên,
Phạm Hổ khẳng định mọi vật trong vũ trụ này nảy sinh, bắt đầu khai sinh từ cái nôi tình của con người.
Và cái tình ấy muốn hiển hiện giữa cuộc đời hôm nay cũng đã phải trải qua biết bao cuộc đấu tranh gian
khổ. Trong cuộc đấu tranh dài lâu ấy, mỗi lần cái thiện thắng cái ác, lòng trung hiếu thắng sự bạc bẽo vô
ơn, tình thương thắng thù hận, sự quên mình thắng thói ích kỉ, sự siêng năng thắng thói lười nhác, sự hiền
lành thắng sự hung hăng… thì một loài hoa đẹp, một thứ quả ngon ra đời. Rõ ràng, đây là lí thuyết mới
của Phạm Hổ - một thứ lí thuyết chinh phục trẻ em bằng những tình cảm nhân bản đang dần hình thành
trong tâm hồn, nhân cách của chúng theo từng bước trưởng thành. Tuy nhiên, bắt nguồn từ điểm nhìn
nào Phạm Hổ lại có cách lí giải như thế về thiên nhiên? Điểm nhìn nào lại có khả năng thuyết phục các
bạn đọc nhỏ tuổi? Làm thế nào Phạm Hổ có thể “đi” vào được thế giới suy tưởng của trẻ em?
Câu trả lời chỉ có thể là vì Phạm Hổ đứng ở điểm nhìn của trẻ em để tìm hiểu, khám phá, nhất là
để lí giải muôn nghìn dáng vẻ diệu kì của vạn vật xung quanh lứa tuổi thần tiên ấy.
Thật vậy, Phạm Hổ đã xuất phát từ chính trẻ em chứ không phải từ ý đồ áp đặt của người lớn. Trẻ
em đóng vai trò như một điểm nhìn để tác giả tự do tái hiện, cảm nhận, đánh giá, lí giải về tất cả những gì
mà chúng quan tâm theo cách riêng và hơn nữa là có ý nghĩa đối với cuộc sống của chúng. Điểm nhìn ấy
là tâm hồn trẻ thơ trong sáng với những rung động vốn dĩ rất cao quý của trái tim non nớt - trái tim chưa
bị nhiễu bởi bất cứ một thứ lí thuyết hay những định kiến cứng nhắc và khô cằn nào. Cuộc sống xoay
quanh cái nhìn trẻ thơ là cuộc sống được lọc qua ánh sáng của tâm hồn: trong sáng như dòng suối đầu
nguồn, hồn nhiên vô tư như mây trắng trên bầu trời sáng mùa thu. Ở đó, không có chỗ cho những cái ác,
cái xấu làm chủ. Ở đó, người hiền phải được hóa thân thành những hoa trái để lại vị ngon ngọt, thơm tho
cho cuộc đời. Ở đó, cái ác cũng hóa thân nhưng chỉ có thể biến thành loài hoa, loài quả bị người đời chê
bai, ghét bỏ. Ở đó, mọi thứ được trẻ em cảm nhận bằng lăng kính của những khát khao kì diệu, lạ lùng và
tất nhiên cũng có cái lôgíc của nó, nhưng đây là cái lôgíc do chính trẻ em nhận thức được chứ không phải
lôgíc của tư duy khoa học.
Trong khi thuyết minh sự ra đời của quả khế, Phạm Hổ đã lấy điểm nhìn có phần ngô nghê của trẻ
em để viết nên một sự tích không kém phần thú vị. Tất nhiên đấy là cái ngô nghê mà trẻ em rất thích thú,
còn người lớn nếu có đọc đến cũng mỉm cười mà không nỡ lòng trách mắng lối suy luận non nớt nhưng dễ
thương ấy. Quả khế ra đời trên cái nền ban đầu của quả chuối đã bị chín nẫu. Đúng là chuyện không
tưởng... Vậy mà lại rất hợp lí bởi quả chuối không ngọt mà lại có vị chua, và vị chua là lạ đó gợi ý cho
thần Tiêu Ly sáng tạo ra loài quả có nhiều khía, nhìn lạ mắt như những ngôi sao. Thần Tiêu Ly đã tạo ra
quả khế vì tình yêu dành cho đứa con út giàu cảm xúc, hay mơ mộng, thích tưởng tượng. Còn Phạm Hổ,
ông đã để cho Tiêu Châu - nhân vật trẻ con ấy nói lên cách lí giải lôgíc theo khát khao của mình: “Con và
bạn con rất thích các ngôi sao. Nhưng nay thì bạn con theo gia đình đi xa, không ở đây nữa rồi. Trước khi
đi, bạn con có nói với con rằng: Dù ở đâu, cứ tối đến, con với bạn con cứ nhìn lên các ngôi sao là coi như
sẽ gặp nhau, vì vậy con muốn lần này cha tạo cho con một loài quả hình có nhiều cánh như ông sao và
khi cắt ngang thân quả từng lát để ăn, con lại sẽ có được rất nhiều hình giống như các ông sao nhỏ”
(Quả có nhiều khía).
Cho dù ngày hôm nay, khoa học - cùng với trí tuệ tuyệt vời của con người - có thể giải thích thế
giới, giải thích nguồn gốc của vũ trụ, của thiên nhiên và sự sống một cách chính xác, nhưng trẻ em thì bao
giờ cũng muốn tìm hiểu mọi sự tích theo sức tưởng tượng của riêng mình. Cách giải thích của Phạm Hổ
ở mức độ nào đó không đi đúng tinh thần khách quan của khoa học đời sống nhưng cách lí giải ấy mãi
được trẻ em yêu thích. Người lớn cũng không thể phản đối vì nó nói đúng cái lôgíc của trẻ con.
Lấy điểm nhìn từ trẻ em, Phạm Hổ còn viết một số truyện ngắn về tình yêu. Tất nhiên, đã là những
câu chuyện tình yêu hẳn nó phải có những cung bậc tình cảm thương nhớ sầu cảm… như bất cứ một câu
chuyện tình nào dành cho người lớn. Vậy phải chăng Phạm Hổ đã quá vội vàng khi lứa tuổi của các em
chưa nên để lòng vướng bận suy nghĩ về vấn đề đó?
Trong một tiểu luận phê bình, Thạch Lam đã từng nhấn mạnh: “Người ta chớ lầm tưởng là viết cho
trẻ con thì viết thế nào cũng được. Chúng ta chớ quên là trẻ con có lí luận và trí quan sát của riêng nó,
nhiều khi xác đáng và tinh tường hơn của người lớn. Trẻ con nhìn đời bằng con mắt mới, và trí xét đoán
trong sạch, chưa bị những tập quán làm mờ… Viết cho trẻ đọc, trước hết là đứng thay vào chỗ trẻ, và tự
làm mình trẻ lại, tìm lại cái trí tò mò tỉ mỉ, cái lí luận thẳng thẳn, và nhất là cái độc lập tự do lạ lùng của
trí não trẻ con” [71, tr.227]. Tuy nhiên, không thể để các em “bé” mãi được, viết cho thiếu nhi còn cần
phải đặt ra việc làm sao khi trẻ tiếp xúc với tác phẩm, trẻ có thể tự nâng cao khả năng trình độ nhận thức
và cảm xúc thẩm mĩ. Điều đó có nghĩa là: viết cho thiếu nhi, các nhà văn không phải chỉ đi vào những đề
tài gợi lên nét trong sáng, ngây ngô, hồn nhiên như tâm hồn của người tiếp nhận. Trẻ em cần được biết và
có quyền được biết những mặt khác, thậm chí là cả mặt trái của cuộc đời mà sau này các em, dẫu muốn
dẫu không, vẫn phải đối diện. Do đó, có thể các em chưa cần biết những cảm xúc dạt dào, say đắm của
tình yêu nhưng các em cần hiểu được bản chất quan trọng và giá trị đích thực của tình cảm đẹp đẽ ấy.
Vì vậy, dẫu biết rằng các em còn thơ ngây song việc hiểu thêm về phẩm chất đẹp của tình yêu
trong thế giới con người, theo chúng tôi, là một việc làm cần thiết. Tất nhiên, viết cho thiếu nhi, màu sắc
tình yêu cần phải được tô vẽ và lí giải một cách hợp lí, phù hợp với lứa tuổi. Qua một số truyện như: Màu
áo màu hoa, Cây một quả, Ba chiếc áo ba màu, Cô gái thêu tài và chàng trai dệt giỏi…, Phạm Hổ đã giúp
các bạn đọc nhỏ tuổi hình dung về thế giới tình yêu của người lớn. Cái hay của Phạm Hổ là ông biết trộn
lẫn cái nhìn sâu sắc của người lớn với cách nhận thức trong sáng nhưng không hề giản đơn của những tâm
hồn tuổi thơ. Trong truyện Cây một quả, nhà văn miêu tả hành trình tìm kiếm và khẳng định tình yêu bất
tử của chàng trai nghèo. Con đường tình yêu chân chính, cao đẹp không trải nhiều thảm hoa với hương sắc
rực rỡ như không ít người thường nghĩ. Phạm Hổ muốn nói với các em rằng: chỉ khi nào trải qua những
thử thách, nhiều lúc hết sức gian nan, thậm chí có thể trong khoảnh khắc nào đó rất dễ nản lòng, nhưng
bản chất tình yêu là cây một quả, là sự thủy chung, là cái tình trọn vẹn trước sau. Truyện có sự xuất hiện
của lực lượng thần kì (bà Tiên Nhân Hậu) nhưng chàng trai đã chinh phục trái tim của cô gái và sự bằng
lòng của bố mẹ cô gái không bằng bất cứ một thứ phép màu nhiệm nào mà bằng tấm lòng rất mực chung
tình. Hoặc trong truyện Màu áo màu hoa, tác giả lí giải tình yêu rất giản dị: “Không thương nhau thì mới
quên được nhau, chứ đã thương nhau rồi thì dẫu cách xa trăm sông, trăm núi vẫn gần nhau thôi”.
Rõ ràng, với cách viết về tình yêu như thế, Phạm Hổ chưa từng vi phạm nguyên tắc sáng tạo cho
trẻ. Ông vừa gọi đúng tên bản chất của tình yêu để trẻ có thể hình dung trong tương lai, vừa không làm
xáo trộn tâm hồn vốn non nớt, hồn nhiên, thơ ngây của chúng.
Tựu trung, dẫu viết về bất cứ đề tài nào, dẫu cảm hứng đi từ các nguồn khác nhau, truyện viết cho
thiếu nhi của Phạm Hổ vẫn quy tụ về một điểm nhìn, một chỗ đứng. Điểm nhìn của đôi mắt trẻ thơ trong
sáng khi nhìn đời, chỗ đứng của người yêu và hiểu những khát vọng trong lòng con trẻ. Đó là nét đẹp
trong tình yêu mà người viết dành cho đối tượng thưởng thức. Cách lí giải thế giới thiên nhiên, thế giới
tình cảm, thế giới cuộc đời của Phạm Hổ đều được soi chiếu thông qua lăng kính của tình yêu trẻ. Quán
triệt điều này trong hầu hết các câu chuyện viết cho thiếu nhi, quả là một việc làm không dễ dàng, nếu như
nó không thật sự xuất phát từ trái tim của một người giàu tình yêu thương trẻ em như trái tim của nhà văn
Phạm Hổ.
Chương 3: NGHỆ THUẬT KỂ CHUYỆN CHO THIẾU NHI CỦA PHẠM HỔ
3.1. Nghệ thuật dựng truyện
Trước khi tìm hiểu nghệ thuật dựng truyện của Phạm Hổ, chúng ta thử xem xét cách kể của câu
chuyện sau:
“ Ngày xưa, thế giới còn hỗn loạn, bát nháo.
Một hôm, ngồi buồn, trời bèn tí toáy nặn ra trái đất. Thương trái đất tối tăm, trời làm thêm mặt
trời, mặt trăng, rồi vô số các vì sao. Thấy trái đất được chiếu sáng mà vẫn cứ đen đủi, xấu xí, trời liền phủ
cho nó một thảm cây xanh.
Chán cảnh đất đá, cây cối cứ im lìm như chết, trời lại nặn thêm hàng đàn hàng lũ động vật. Xong
việc, trời định bỏ đi, nhưng bỗng nghĩ lại: bỏ mặc cả giang sơn gấm vóc thế kia thì uổng quá! Hay là cho
chúng một tên quản lí? Và trời vội vã làm ra con người!
Nhưng ngay hôm đầu, người đã than phiền với trời : động vật có chân còn tự đi kiếm mồi mà ăn,
còn thực vật không có chân thì ăn gì? Trời suy nghĩ một lát rồi phán: “Chôn rễ nó xuống đất, để rễ hút
nước, chuyển lên cho lá. Lá hút thêm khí trời rồi hòa với nước để tự làm ra cái cho cỏ cây ăn”
Người làm theo lời trời dặn, đem trồng cây xuống đất. Rễ cần cù hút nước. Hút một lúc thấy mệt và
đói, rễ đòi lá cho ăn. Lá chăm chỉ hít khí trời đã lâu, đang sốt ruột chờ rễ chuyển nước lên. Nghe rễ làu
bàu, lá quát “Nước chẳng chuyển lên, lấy gì hòa với khí trời, mà làm ra cái ăn? Mày tưởng tao no hả?”
Rễ nghĩ ra, cười thầm rồi đấu dịu: “Thì xin lỗi vậy! Nhưng thức ăn nặng, mày đổ chảy xuống thì
dễ. Nước cũng nặng, tao làm sao đổ ngược lên cho mày hở lá? Tao vừa thấm hút vừa đùn đẩy cũng chỉ
dồn được nước lên khoảng nửa mét là mệt thôi”
Lá cũng bí liền dấm dẳng: “Cứ bảo thằng thân giải quyết. Việc chúng mày, chúng mày lo”
Thân nãy giờ ngồi nghe, liền phân trần: “Thì tớ chẳng lo xong phần tớ là gì? Toàn ống dẫn loại
xịn, đã xếp cẩn thận thành những bó riêng rẽ rồi đấy nhé. Đây bó gỗ để dẫn nước lên. Còn đây bó “libe”
để dẫn thức ăn lỏng xuống. Thôi đừng cãi nhau nữa. Cái hóc búa là bơm nước lên. Tao sẽ dùng sức “mao
dẫn”. Nếu ống thật bé, riêng tao sẽ đưa nước lên được khoảng 1.5 m, nhưng chỉ thế thôi đấy nhé”
Lá thừ người suy nghĩ. Một lát sau, lá bảo: “Thôi được, phần còn lại để tụi tao lo. Ê, họ hàng nhà
lá, có tí nước nào thì cho bốc hơi ngay đi để tạo sức “lôi cuốn” mạnh. Nước vốn có sẵn sức kết dính. Hút
được nước nằm ở trên lên, cả cột nước trong ống dẫn sẽ lên theo. Nào”.
Thế là hàng trăm, hàng ngàn chiếc lá trên cây làm theo răm rắp và bốc hơi xả láng…” [44, tr.5-
6].
Nếu so sánh giữa cách trình bày khoa học về quá trình sinh trưởng của cây với cách kể trên, con
đường nào dễ dàng chinh phục người đọc, nhất là người đọc thiếu nhi hơn? Rõ ràng, với những cách nói,
cách mô tả, cách kể khác nhau, hiệu quả đem đến cho bạn đọc là không đồng nhất. Với cách kể chuyện
như trên, thiên nhiên trong sự nhận thức của trẻ em sẽ là một thế giới sống động và hết sức kì lạ, thú vị,
hấp dẫn và lôi cuốn. Với cách kể ấy, người viết sẽ tìm được con đường ngắn nhất đi vào tư duy nhận thức
lẫn thế giới tình cảm của lứa tuổi nhiều mơ mộng, thích tưởng tượng và say mê khám phá thế giới kì thú
xung quanh mình.
Dẫn dắt dài như thế, người viết thực ra chỉ muốn khẳng định một điều: có nhiều phương thức để kể
một câu chuyện cho trẻ em, nhưng tài năng của một nhà văn thiếu nhi nằm ở tài chinh phục sự háo hức,
quan tâm của các bạn đọc nhỏ tuổi ấy. Vì vậy, chúng ta không thể không nói tới nghệ thuật dựng truyện
độc đáo, lôi cuốn của nhà văn viết cho thiếu nhi ấy.
Tìm hiểu nghệ thuật dựng truyện của Phạm Hổ, trước hết, chúng tôi quan tâm nhiều đến cách tác
giả lựa chọn thể loại văn xuôi để chuyển tải cảm hứng tư tưởng mà chúng tôi đã tìm hiểu trong chương 2.
Bởi với từng thể loại, cách dựng truyện của nhà văn theo đó có những đặc điểm riêng. Với nguồn cảm
hứng phong phú giàu có về thế giới thiên nhiên vừa quen thuộc vừa bí ẩn xung quanh lứa tuổi thần tiên,
Phạm Hổ có thể chọn lối viết đồng thoại quen thuộc mà các nhà văn khác như: Tô Hoài, Võ Quảng, Vũ
Tú Nam, Phong Thu… đã từng lựa chọn. Bởi đồng thoại vốn là một thể loại khá đặc biệt của văn học, có
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và yếu tố tưởng tượng. Điều cốt yếu là nhân vật chính của đồng
thoại thường là động vật, thực vật hoặc những vật vô tri, vô giác nhưng được mang tính cách “người”, do
đó, nhà văn sẽ rất thuận lợi khi chuyển tải cảm hứng tư tưởng về huyền thoại của tự nhiên. Phạm Hổ đã
từng viết truyện đồng thoại Những chú sẻ con (1988) nhưng đó không phải là sự lựa chọn mang tâm huyết
cả đời của nhà văn Phạm Hổ. Thể loại Phạm Hổ theo đuổi nhiều năm như một niềm đam mê là thể loại cổ
tích - loại cổ tích hiện đại.
“Truyện cổ tích hiện đại là thể loại văn học có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố dân gian và
yếu tố hiện đại. Các tác giả đã dùng hình thức dân gian để trình bày một vấn đề, một nội dung mới, hiện
đại” [48, tr.115]. Truyện cổ tích hiện đại có ba xu hướng: viết lại những câu chuyện cổ tích dân gian, viết
tiếp truyện dân gian và sáng tác những câu chuyện cổ tích mới. Khái niệm truyện cổ tích hiện đại được
dùng để phân biệt với truyện cổ tích dân gian. Và vì cổ tích dân gian ra đời trong lòng văn hóa dân gian
thuở xưa nên những câu chuyện cổ tích được viết trong thời hiện đại hôm nay còn được gọi là cổ tích mới.
Nhà văn Phạm Hổ cũng thử mình trên cả ba hướng: Ngựa thần từ đâu đến (xu hướng viết lại), Lửa vàng,
lửa trắng và Lửa vàng, lửa trắng, lửa nâu (xu hướng viết tiếp), Chuyện hoa, chuyện quả (cổ tích mới).
Truyện cổ tích vốn là một thể loại chiếm ưu thế cả về số lượng và vị trí tiêu biểu của nó trong loại
hình những sáng tác dân gian tự sự. Rất nhiều câu chuyện cổ tích dân gian đã từng làm chủ thế giới tâm
hồn của các bạn đọc thiếu nhi. Và từ rất lâu, truyện cổ tích trở thành nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ
thơ của mỗi dân tộc… Nhưng cổ tích dân gian ra đời từ thời xa xưa, nó có còn cần chăng cho thời đại
khoa học kĩ thuật phát triển? V.Ia. Prốp - một nhà folklore học Xô Viết đã khẳng định: “Sự không phù hợp
với hiện thực, bản thân điều bịa đặt đã đem lại một khoái cảm đặc biệt. Trong truyện cổ tích thần kì, hiện
thực bị lộn trái ra một cách có chủ tâm. Và đối với nhân dân, toàn bộ vẻ đẹp của truyện cổ tích là ở chỗ
đó” [71, tr.69].
Chọn thể loại cổ tích, Phạm Hổ có tính chăng đến việc giải thích thế giới theo kiểu hoang đường và
huyền hoặc sẽ ảnh hưởng không tốt đến sự nhận thức thế giới theo tinh thần khoa học chính xác của trẻ
em? Câu hỏi này quả là một vấn đề quan trọng đặt ra không chỉ cho riêng Phạm Hổ mà còn cho tất cả
những nhà văn đang muốn tìm lại thế giới cổ tích cho tuổi thơ qua những sáng tác của mình.
Thực ra, chọn cách dựng truyện theo lối cổ tích, Phạm Hổ đã cương quyết khẳng định: yếu tố kì
diệu, hoang đường trong truyện cổ tích đáp ứng nhu cầu chính đáng về mặt tinh thần của tuổi ấu thơ và nó
hoàn toàn không đi ngược với tinh thần khoa học. Bởi với những đặc trưng riêng của thể loại, truyện cổ
tích thật sự góp phần làm nảy sinh và nuôi dưỡng lòng nhân hậu, tính trung thực, lòng say mê lí tưởng và
óc tưởng tượng của trẻ em. Cho nên, viết những câu chuyện cổ tích mới, Phạm Hổ đã “bắt” được nhu cầu
tinh thần chính đáng ấy của tuổi thơ.
Thật ra, Phạm Hổ không phải là nhà văn sáng tạo ra kiểu dựng truyện theo lối cổ tích hóa. Trẻ em
trên thế giới đã từng say sưa nhiều với những câu chuyện cổ tích hiện đại của Perôn (Pháp), của anh em
Grim (Đức), của Aphanaxêep (Nga)... và nhất là những câu chuyện tuyệt vời như Cô bé bán diêm hay Nữ
thần băng giá, Chú lính chì dũng cảm… của nhà viết cổ tích thiên tài An-đec-xen (Đan Mạch). Ở Việt
Nam, Phạm Hổ cũng không phải là nhà văn duy nhất viết thể loại cổ tích mới này. Tú Mỡ đã từng viết lại
truyện Tấm Cám. Bạn đọc Việt Nam cũng chưa quên câu chuyện cổ tích mới Con cóc là cậu ông trời hay
Tìm mẹ của Nguyễn Huy Tưởng. Sau 1975, một cây bút thân thiết của thiếu nhi là nhà văn Tô Hoài đã cho
ra đời bộ ba câu chuyện Đảo hoang, Chuyện nỏ thần, Nhà Chử. Đó là những câu chuyện được viết theo
xu hướng mượn cổ tích dân gian để viết lại. Tô Hoài đã giúp thiếu nhi Việt Nam vén tấm màn huyền thoại
để biết về sự thật cuộc sống và con người thuở xa xưa. Tuy nhiên, nếu Tô Hoài khai thác lịch sử gắn với
màu sắc kì ảo có tính chất huyền thoại thì Phạm Hổ là nhà văn đầu tiên mạnh dạn thể nghiệm con đường
sáng tác cổ tích mới cho thiếu nhi. Hơn hai mươi năm (1972-1995), Phạm Hổ miệt mài và say sưa đi tìm
sự tích của muôn loài cây lá quanh chúng ta, Phạm Hổ tặng cho thiếu nhi Việt Nam 47 câu chuyện cổ tích
mới.
Một khi mượn cách triển khai mạch truyện theo lối cổ tích hóa, Phạm Hổ không thể không chú ý
đến những đặc trưng cơ bản của cách kể chuyện dân gian như cách xây dựng cốt truyện, không gian - thời
gian, các mô típ quen thuộc. Truyện cổ tích vốn được định danh là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự
nên “thuộc tính của nó là xây dựng trên những trục cốt truyện” [55, tr.129]. Và cốt truyện của truyện kể
dân gian có những đặc trưng riêng, không giống cốt truyện trong truyện ngắn hay tiểu thuyết cận - hiện
đại. Truyện dân gian thường sử dụng những công thức có sẵn trong kho tàng văn liệu dân gian như các
kiểu mở đầu, các kiểu kết thúc và hàng loạt những mô típ nghệ thuật có sẵn. Theo Tăng Kim Ngân: dưới
cái nhìn Hình thái học truyện cổ tích của Prốp thì cấu tạo của truyện cổ tích được xác định như sau: một
tai họa nào đó xảy ra - người ta cần sự giúp đỡ của nhân vật - nhân vật lên đường tìm kiếm - dọc đường
anh ta gặp một người nào đó, người này thử thách nhân vật và ban cho anh ta phương tiện thần kì - nhờ
phương tiện thần kì, anh ta tìm thấy đối tượng của mình - nhân vật trở về được ban thưởng [55, tr.112].
Cũng dưới cái nhìn hình thái truyện cổ tích như thế, chúng tôi tạm xây dựng mô hình cấu tạo cốt
truyện trong truyện của Phạm Hổ như sau: nhân vật gặp tai họa - nhân vật gặp gỡ lực lượng thần kì - nhân
vật vượt qua thử thách - kết thúc bằng sự hóa thân. (Trong phụ lục 2, chúng tôi đã khảo sát một số truyện
để làm dẫn chứng)
Có thể thấy, cách dựng truyện của Phạm Hổ rất gần gũi với cách cấu tạo cốt truyện của cổ tích dân
gian. Nhà văn học tập ở dân gian nghệ thuật tạo dựng xung đột để dẫn tới những diễn biến hợp lí của sự ra
đời huyền thoại các loài cây quả và cây hoa. Tuy nhiên, là một nhà văn hiện đại, ngay trong tạo dựng cốt
truyện, Phạm Hổ đã thể hiện những cách tân trong lối viết sự tích về thiên nhiên.
Trước hết, Phạm Hổ thể hiện một lối viết cổ tích mới mẻ khi ông chủ tâm phân tích và mô tả để tạo
dựng tình huống trong những câu chuyện của mình. Trong truyện của Phạm Hổ, cốt truyện đã được lược
đi, tác giả ít quan tâm tới tình tiết mà có thiên hướng tạo dựng những cảnh huống - tức những tình huống
ngoại cảnh để dẫn đưa người đọc vào thế giới tâm trạng và ý nghĩ của nhân vật. Trong truyện Cái áo
choàng lông cáo, để nhân vật Quỳnh trong buổi đầu tìm hiểu về chàng Cao, nhà văn tạo dựng cảnh huống:
Quỳnh bất chợt nghe giọng hát của Cao:
“Núi có bao nhiêu ngọn, rừng có bao nhiêu cây, chỉ có tôi đây, quanh năm suốt tháng đêm ngày
một thân… Giọng hát buồn buồn nghe một lần không thể nào quên nổi. Người nghe thấy mình như có dự
phần vào việc làm cho anh đau khổ”.
Khoảnh khắc vô tình nghe tiếng hát chứa nhiều tâm sự của chàng trai trẻ đã khiến trái tim cô gái
giàu tình cảm như Quỳnh xúc động. Khoảnh khắc tri âm tri kỉ ấy cũng là phút dạo đầu chắp cánh cho một
mối tình đẹp song cũng chứa ít nhiều dự cảm cho một kết thúc buồn. Và quả thật, mạch truyện theo tình
huống trên đã phát triển một cách rất hợp lí về câu chuyện cuộc đời nhiều bất hạnh của Cao lẫn Quỳnh.
Hay trong truyện Cây đàn và bầu rượu của người thầy, Phạm Hổ đã xây dựng một cảnh huống xúc
động để thể hiện nỗi lòng của người thầy dạy đàn cô đơn: “Đêm hôm sau là đêm rằm. Bầu trời trong vắt.
Trăng sáng đầy trời. Ông ngồi một mình trên bãi cát ven sông. Sông sáng rực dưới ánh trăng. Không
bóng một con đò…Trăng sáng. Rượu ngon. Ông vừa đánh đàn vừa thấy mình như đang chơi vơi giữa
lưng trời, ở trên mặt con sông sáng rực ánh trăng...”. Không gian trong vắt và sáng rực, tấm lòng người
thầy dạy đàn cũng sáng rực như vậy. Chỉ có điều, không gian càng sáng thì người thầy càng thấy lạnh khi
nhìn lại cuộc đời trôi dạt lênh đênh không một mái nhà. Không phải ngẫu nhiên khi Phạm Hổ tạo dựng
một không gian “cực tĩnh” như vậy. Tất cả như ngưng đọng để tiếng đàn của thầy đánh lên thêm vang
vọng, ai oán và thê lương. Tiếng đàn hay tiếng lòng cô đơn đang trải ra cùng trăng nước rộng lớn:
“Đời tôi
Cả cuộc đời tôi
Suốt cuộc đời tôi
Một đám mây trôi
Một cánh chim giữa trời
Một tiếng đàn vừa khóc vừa cười
Một chiếc lá cứ xoay tròn không chịu
Bao giờ lá chạm đất?
Bao giờ chim bay khuất?
Bao giờ mây ngừng trôi?
Ai ơi!
Đàn ơi!
Đời ơi!”.
Mặt khác, trong lúc dựng truyện, Phạm Hổ luôn hướng tới đối tượng trung thành là các bạn đọc
nhỏ tuổi của mình. Vì vậy, trong hầu hết truyện viết cho thiếu nhi, khi xây dựng tình huống, tác giả đều
thêm những chi tiết nghệ thuật có vai trò là bước đệm cho sự phát triển của mạch truyện về sau. Phạm Hổ
đặt ra những tình huống ứng nghiệm nhằm giúp trẻ em nhận thức được lôgíc của cuộc sống. Trong câu
chuyện Màu áo màu hoa, nhân vật Sinh vì chạy theo lượm những đồng tiền vàng mà sém chút rơi xuống
vực sâu. Bà Tiên Nhân Hậu đã kịp thời thức tỉnh anh rằng đó chỉ là hạnh phúc ảo ảnh, rằng hạnh phúc
thực luôn ở bên cạnh mình và do chính bàn tay mình tạo dựng. Bà tiên đã dặn Sinh: “Ta chỉ cứu một lần
thôi. Lần sau con phải biết tự cứu mình. Đừng để cho những cái xấu nó làm mờ mắt mình và lôi mình đi
theo nó”. Sinh đã thề hứa với nhân vật Nhài và thậm chí còn nói ra lời nguyền: “Anh mà quên lời thề thì
anh sẽ mù hai mắt”. Và quả là sau này, Sinh đã chạy theo đam mê của quyền lực, giàu sang mà quên đi
mối thâm tình thuở hàn vi nên lời thề đã ứng nghiệm: “Lúc đầu Sinh uất lắm, không chịu nghe lời ông
chú. Nhưng đến lúc ông ta dẫn Sinh đi gặp người con gái nhà giàu mà ông định dạm hỏi cho anh thì anh
bắt đầu nao núng. Và mỗi ngày qua, như một cái cây bị lỏng gốc, Sinh cứ bị ông chú lôi kéo ngả dần về
phía ông. Cuối cùng thì anh đồng ý cưới cô vợ xinh đẹp và giàu có kia. Cũng là lúc anh bắt đầu quên hẳn
Nhài. Ngay sau khi anh nhận lời lấy vợ thì bỗng nhiên hai con mắt anh mờ đi, không còn trông thấy gì
nữa. Anh biết bà tiên đã trừng phạt anh vì anh đã quên lời thề với Nhài năm nào”.
Ngoài ra, như chúng ta đã biết, hình thức đặc trưng của truyện cổ tích là không gian - thời gian khá
đặc biệt. Không gian, thời gian trong truyện cổ tích xưa thường mang tính phiếm chỉ và thường đó là một
cõi xa xăm, mờ ảo, thực thực, hư hư. Cổ tích hiện đại của Phạm Hổ cũng bắt đầu bằng cái khung thời gian
quen thuộc ấy. Phạm Hổ dẫn dắt bạn đọc đi vào thế giới cổ tích bằng cách bước vào một trường thời gian
quá khứ thật xa xăm. Đó là : “Ngày xưa, rất xưa” (Những bàn tay nhiều ngón), “Ngày xưa… xưa... xưa...
ở tại một nước nọ có…” (Bài thi nhập học), “Ngày xưa, xưa lắm...” (Hạt ngày, hạt đêm), “Ngày xửa, ngày
xưa” (Chọn rể quý), “Ngày xưa...”(Những quả ổi biết kêu)… Tuy nhiên, nếu thời gian trong cổ tích xưa
“không vận động, cũng không biến đổi” [13, tr.45] thì thời gian trong cổ tích mới của Phạm Hổ luôn
động, chuyển dịch theo lôgíc của thời gian đời thường. Cách dựng truyện theo khung thời gian chuyển
động của Phạm Hổ là cách ông thuyết phục thiếu nhi tin vào những gì đã diễn ra. Trẻ em ngây thơ, hồn
nhiên thật nhưng để “dụ” chúng thì không phải giản đơn. Nhà văn không muốn và không thể đánh lừa trẻ
rằng thời gian đời người là vĩnh viễn, rằng con người sẽ không già đi dù trải qua bao thử thách. Cho nên,
chàng trai trong truyện Cây một quả ra đi tìm hạnh phúc phải trải qua thời gian dài trên đường đầy gió bụi
chông gai. Nhà văn không vội vàng đưa chàng “bay vụt” qua ba năm như tác giả dân gian trong những
câu chuyện cổ tích thường làm “Thấm thoát đã ba năm, anh trai cày làm thuê cho lão phú nông...” (Cây
tre trăm đốt). Chàng trai trong truyện Cây một quả của Phạm Hổ mỗi ngày đều nếm cái đắng chát của
cuộc sống vất vả, lẻ loi: “Anh đi hết ngày này sang ngày nọ, hết tháng này sang tháng kia. Mùa xuân chim
én chỉ đường. Mùa hạ tiếng chim cuốc mách lối. Mùa thu có chim gáy. Mùa đông đã có chim két… Anh
đi, đi mãi, đi từ cái ấm áp của mùa xuân đến cái oi bức của mùa hè, từ cái mát mẻ của mùa thu đến cái
gió rét của mùa đông”. Tất nhiên, thời gian ba năm mà chàng trai trải qua vẫn là thời gian phiếm chỉ -
thời gian tượng trưng cho quá trình thử thách tấm lòng chân tình thủy chung một dạ của chàng. Song, với
cách miêu tả của Phạm Hổ, người đọc hiểu được đó là thời gian thử thách thật sự mà chàng trai phải trải
qua bằng cả mồ hôi và nước mắt. Nó không dễ dàng với bất cứ ai thiếu lòng kiên trì và trái tim chân
thành. Vì vậy, hạnh phúc mà chàng đạt được mới có ý nghĩ lớn lao, bởi thực tế không có một thứ quả nào
có khả năng làm nguôi ngoai hận thù, chỉ có quả tim chân tình làm người ta cảm động.
Hoặc trong truyện Bài thi nhập học, cậu bé học trò thông minh tầm sư học đạo phải trải qua một
quãng đường xa ứng với thời gian đủ làm người khác phải nản chí: “Cậu đã đi mấy ngày đường mà hỏi ai,
ai cũng bảo hãy còn xa… Đến ngày thứ mười, ngôi nhà của ông thầy mới hiện ra trước mặt… Cậu bé
ngồi ngoài hiên, chờ người để hỏi. Chờ từ trưa cho đến xế chiều. Mệt quá, cậu bé nằm xuống ngủ thiếp,
quên cả chuyện đem gói cơm nắm từ lúc sáng ra ăn. Hương hoa ngâu, hoa đại bay sang, thơm phảng
phất. Tiếng khánh gió khua cứ kêu lanh canh, lanh canh…”. Như vậy, thời gian trong truyện của Phạm
Hổ là thời gian vận chuyển theo lôgíc của thời gian thực tế, thời gian vật lí của cuộc sống mà thiếu nhi đã
ít nhiều ý thức được. Và lối miêu tả thời gian trôi chảy chậm chạp từng phút từng giây hay dồn nén thời
gian khi cần thiết là thủ pháp độc đáo của những cây bút viết truyện ngắn hiện đại.
Trong cái khung lớn là thời gian của quá khứ xa xăm, mờ ảo, xưa xưa, nhưng với cách dựng truyện
mới, Phạm Hổ đưa ý thức thời gian của người hiện đại vào trong truyện. Trong quan niệm tổng quát về
thế giới của người xưa, ý niệm về thời gian thường không xác định, nếu có, thời gian chỉ hiểu theo một
cách tương đối. Còn Phạm Hổ - người viết cổ tích mới - miêu tả thời gian rất cụ thể: sáng, trưa, chiều tối,
một ngày, một năm… Chẳng hạn như: “Đêm yên tĩnh đến kì lạ. Nếu không có con chim gì đó lúc lúc lại
kêu lên, cậu bé sẽ có cảm giác như gian nhà đang trôi nổi trên lưng trời và trên đời này chỉ có ông cụ
cùng cậu với mùa hương hoa ngâu, hoa đại, với tiếng khánh cứ kêu lanh canh, lanh canh như đang to nhỏ
với nhau điều gì. Ông cụ ở phòng ngoài vẫn thức ngồi đọc sách bên cạnh ngọn đèn dầu. Đến khuya ông
cụ mới đi nằm. Sáng ra, cậu bé dậy sớm định đi nấu nước pha trà cho ông cụ thì thấy ông cụ đã uống
xong và đang chuẩn bị đi đâu” (Bài thi nhập học).
Ngoài ra, một nét độc đáo nữa trong cách xây dựng thời gian trong truyện của Phạm Hổ là thời gian
tâm trạng. Trong cổ tích xưa, không gian - thời gian được xem đơn giản như một cái nền mà trên đó số
phận, hành động của nhân vật chính được diễn ra. Còn trong truyện của Phạm Hổ, thời gian vận động theo
diễn biến tâm trạng của nhân vật. Trong tác phẩm Chuyện nàng Mây, thời gian dài lê thê, triền miên trong
nỗi nhớ nhà, nhớ đến người cô thân yêu, nhớ bà con làng xóm của nàng Mây. Hoặc trong câu chuyện Cô
gái thêu tài và chàng trai dệt giỏi, thời gian như được ngưng đọng với tâm trạng tha thiết yêu thương và
nhớ chồng của cô gái: “Cô gái đẹp trên đường về cung, nhớ mẹ, nhớ người yêu, không ăn không ngủ.
Nàng cởi chiếc áo đẹp ra ngắm để nguôi nhớ mẹ và người thương. Nhưng càng ngắm, nhớ thương càng
dạt dào. Nàng bỗng nhớ ra một cách để gởi lòng mình về với mẹ, với người yêu. Nàng cắt tất cả những
bông hoa thêu trên áo và gởi cho gió mang về. Nàng năn nỉ với gió: Gió ơi, gió hãy mang những bông
hoa này, hãy mang tình yêu của ta về cho mẹ và người chồng yêu dấu của ta, gió nhé. Gió bay khắp bốn
phương trời, nhưng vì có lời nàng nhắn nhủ nên nó mang đầy đủ những bông hoa bay thẳng về nhà chàng
trai”. Hay trong truyện Ba chiếc áo ba màu, với nỗi lòng: “hi vọng một ngày nào đó chàng trai sẽ hiểu
mình và yêu mình”, thời gian đối với cô gái là nỗi ngóng chờ đẵng đằng. Để ngày qua ngày, tháng qua
tháng, năm qua năm, cô gửi tình yêu đơn phương ấy vào ba chiếc áo dệt bằng ba thứ màu mà chàng thi sĩ
cô yêu thương rất thích. Nếu thời gian của cô gái trong Ba chiếc áo ba màu là thời gian hi vọng thì dòng
thời gian tâm trạng được Phạm Hổ thể hiện khéo léo trong Mùi hương kì lạ lại là thời gian của nỗi niềm
tuyệt vọng. Mỗi đêm đối với cô Mộc trong câu chuyện là mỗi đêm đáng sợ vì con quỷ Bùn Đen đến đe
dọa bắt cô phải thuận lấy hắn làm chồng. Cô nhớ người yêu, nhớ nhà; cô tìm kiếm chung quanh một thứ
ánh sáng có thể làm cho con quỷ sợ; cô trò chuyện với vạn vật xung quanh cho mau hết đêm… Một đêm,
rồi lại hai đêm, ba đêm… Nỗi tuyệt vọng theo thời gian dần dần xâm chiếm lấy cô Mộc… Và đến đêm thứ
tư, không có ánh sao sáng, cô cũng không còn nước mắt để khóc, cô đã thắt cổ tự tử để không bị con quỷ
làm nhục.
Nói tóm lại, đúng như lời nhận định của một nhà nghiên cứu văn học thiếu nhi lâu năm đã nói:
“Thời gian tâm trạng làm cho những tình tiết, những sự kiện và nhân vật trở nên gần gũi gắn bó với hiện
thực hiện hữu hơn, nó làm cho cái ngày xửa, ngày xưa không gợi về một cõi vô thực, hoang đường mà chỉ
là chất keo kết dính giữa quá khứ và hiện tại, đủ tạo nên màu sắc hư ảo hấp dẫn trẻ thơ” [48, tr.120].
Tiếp theo, chúng tôi muốn nói đến không gian nghệ thuật trong truyện của Phạm Hổ. Vẫn là không
gian của một làng nọ, vùng kia rất phiếm chỉ, nhưng người đọc tìm thấy bóng dáng của cuộc sống thường
nhật vừa gần gũi vừa thân quen trong các câu chuyện của tác giả. Nói cách khác, không gian nghệ thuật
trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ không mang tính chất huyền bí, xa lạ. Đó thường là bối cảnh
sinh hoạt đời thường: chuyện học hành, thi cử của học trò; chuyện dệt vải, chăn tằm, thêu thùa, may vá;
chuyện săn bắn; chuyện uống rượu gảy đàn dưới trăng… Phạm Hổ vẫn tạo ra những không gian “thiêng” -
nơi các vị thần ngự trị, nhưng các vị thần “sống” không khác mấy so với người thường. Thần Tiêu Ly vẫn
chăm sóc và tạo ra những trò chơi để đứa con gái bé bỏng của mình vui vẻ (Quả có nhiều khía, Những bàn
tay nhiều ngón...). Thần Trang Ly đi lại giữa hai không gian trần thế và không gian thần tiên vừa như một
cuộc dạo chơi vừa như đi làm việc (Tiếng sáo và con rắn, Những bông hoa hình mũi kim...). Có thể nói,
với cách dựng không gian như thế, truyện cổ tích hiện đại của Phạm Hổ rất đậm đà màu sắc thế sự. Con
người trong thế giới ấy vẫn phải lo cái ăn, cái mặc, lo kiếm sống mỗi ngày. Con người trong thế giới đó
không chỉ chứng kiến những điều kì ảo, có khát vọng làm những việc phi thường mà còn phải đối diện với
biết bao lo toan cho cuộc sống thường nhật, rồi sau những giờ phút mệt mỏi vì công việc, con người có thể
thả mình trong những thú vui như nghe đàn, nghe tiếng chim hót, ngắm cây để khuây khỏa tinh thần.
Ngoài ra, không gian trong nhiều câu chuyện của Phạm Hổ là hình ảnh cụ thể về quê hương
đất nước Việt Nam. Phạm Hổ hay nói đến cái tình dân tộc nên cái tình ấy đã được cụ thể hóa một cách
thiết thực và xúc động nhất. Thiếu nhi Việt Nam, khi đọc truyện của nhà văn Phạm Hổ, sẽ được sống đúng
với không khí thiên nhiên, đất trời quê hương. Đó là hình ảnh làng quê, sông nước Việt: “Khúc lượn của
con sông ở đây càng ngắm kĩ càng thấy đẹp. Những cây sung và những lùm tre ở bờ bên kia xanh biếc, um
tùm soi bóng xuống dòng sông nhìn nửa hư, nửa thực như trong tranh vẽ. Xa xa là những rặng núi xanh
mờ tím nhạt như trong mơ” (Cây đàn và bầu rượu của người thầy). Đó là không gian vườn tược quen
thuộc trong đời sống người Việt: “Ông đào một giếng lớn ở giữa khu vườn. Ông trồng xung quanh giếng
những loại môn quý, lá to cọng tím hồng. Hai bên đường từ cái cổng vào đỏ rực hoa râm bụt” (Cây lạ
quả ngon). Đó là hình ảnh đầm sen gần gũi, bình dị: “Người chèo thuyền dẫn hai bố con ra đầu mũi
thuyền và chỉ tay xuống nước. Ở đấy có hai bông hoa rất to, rất đẹp đang tựa vào nhau cùng với cái lá cứ
rập rờn trên mặt hồ, nước đang gợn lăn tăn. Một bông màu trắng, một bông màu hồng. Cánh hoa giống
như những chiếc hài lụa xinh xắn xếp thành hình thêu. Còn lá thì xanh mát tròn như cái nón quai thao mà
các cô gái trong vùng thường đội” (Những bông hoa mới ở hồ Thơm). Đó còn là không gian thờ cúng tâm
linh của người Việt: “Bà con trong vùng thương tiếc cô gái mảnh khảnh, da trắng mát đã chết đi để cứu
bà con khắp các vùng gần xa khỏi tai họa lớn. Bà con dựng một cái am nhỏ để tưởng nhớ cô. Bà con
thường đem hoa đến trồng quanh am” (Cô gái bán trầm hương).
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
Với khuynh hướng làm sống lại thế giới cổ tích mới trong truyện, Phạm Hổ cũng xây dựng một hệ
thống nhân vật quen thuộc thường xuất hiện trong những câu chuyện thần tiên mà tuổi nhỏ yêu thích.
Khảo sát truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy có sự xuất hiện của các kiểu nhân
vật chính sau:
+ Kiểu nhân vật mồ côi
+ Kiểu nhân vật đi ở
+ Kiểu nhân vật nhà nghèo
+ Kiểu nhân vật có tài
Đây là những nhân vật có mặt trong rất nhiều câu chuyện cổ dân gian, nó trở thành những người
bạn thân quen đối với những ai từng say mê cổ tích, nhất là đối với trẻ em. Xây dựng các kiểu nhân vật
như thế, Phạm Hổ một lần nữa làm sống lại gương mặt của những con người mà trẻ em thương mến.
Trong dáng dấp của cô Mây (Chuyện nàng Mây), các em như tìm lại bóng hình của cô Tấm hiền lành ngồi
khóc khi bị mẹ con Cám ức hiếp. Cảnh cô gái tên Mộc bị tên quỷ Bùn Đen giam hãm (Mùi hương kì lạ)
gợi các em nhớ về nàng công chúa bị chằn tinh bắt đang tuyệt vọng dưới hang sâu trong truyện cổ tích
Thạch Sanh… Trẻ em vốn say mê những điều mới lạ, nhưng trẻ em vẫn rất trung thành với những gì mà
các em đã từng thích thú. Đối với thiếu nhi thời hiện đại, các em thông minh và nhận thức cuộc sống khá
sớm, nhưng dẫu có trưởng thành hơn bao nhiêu, các em vẫn rất cần được nuôi dưỡng trong bầu không khí
tưởng tượng tuyệt vời của cổ tích - nơi các em gặp gỡ những người hiền như Tấm, dũng mãnh như Thạch
Sanh, siêng năng cần cù như chàng Khoai…
Về căn bản, cách xây dựng nhân vật trong truyện của Phạm Hổ rất gần gũi với thi pháp xây
dựng nhân vật trong truyện cổ tích dân gian. Đó là việc phân chia nhân vật thành hai tuyến Thiện – Ác
rất rõ ràng: nhân vật tốt thì tốt tới mức lí tưởng, nhân vật xấu thì xấu cũng đến mức lí tưởng. Các nhân vật
chính trong truyện của Phạm Hổ hầu hết là người đứng về phe Thiện: hai mẹ con em bé (Quả tim bằng
ngọc), nàng Mây (Chuyện nàng Mây), chàng trai (Cây một quả), cô Mộc (Mùi hương kì lạ), em bé và
người bà (Cái kéo kì lạ)… Các nhân vật Thiện ấy đều mang những phẩm chất đạo đức tiêu biểu theo quan
niệm về con người mà nhân dân ta đã từng khoác lên cho các nhân vật trong cổ tích dân gian. Đó là những
con người hiền lành, nhân hậu hết mực. Đó là những con người cần cù, siêng năng, thật thà, tốt bụng…
Với kiểu tính cách “thuần khiết” ấy, Phạm Hổ dễ dàng xây dựng con đường số phận cho các nhân vật của
mình theo kiểu số phận mà các nhân vật cổ tích thường trải qua: gặp tai ương bất hạnh, khó khăn - trải qua
thử thách - cuối cùng được đền bù xứng đáng.
Ngoài ra, truyện của Phạm Hổ còn có sự xuất hiện của những kiểu nhân vật cổ tích mới. Phạm Hổ
tỏ ra không quan tâm đến kiểu nhân vật đứa con riêng hay người đội lốt vật, nhân vật dị dạng - kiểu nhân
vật đặc trưng trong cổ tích dân gian. Tác giả thích xây dựng những nhân vật có tài. Nhưng điều đáng nói
là những nhân vật có tài trong truyện của Phạm Hổ không giống các nhân vật kì tài trong truyện cổ tích
dân gian. Kiểu người dũng sĩ và có tài “lạ” không nằm trong trường sáng tạo của Phạm Hổ. Với ông, nhân
vật tài năng không ăn nhiều, chạy giỏi, bay cao, thấy xa hay biết hô mưa gọi gió... Nói chính xác hơn,
nhân vật có tài của Phạm Hổ là những con người “giỏi” chuyên về một lĩnh vực nào đó. Đó là cô gái
thêu tài và chàng trai dệt giỏi (Cô gái thêu tài và chàng trai dệt giỏi). Đó là chàng họa sĩ có tài vẽ những ý
nghĩ và mơ ước của người đối diện (Ngôi đền đỏ). Đó là người đánh đàn hay đến nỗi “người ham nói
chuyện đến mấy cũng phải dừng lại để nghe”, trong mỗi điệu đàn “đủ các điệu vui, buồn, hờn, giận, trách
móc, an ủi, van lơn của đủ các loại người ở trên đời” (Cây đàn và bầu rượu của người thầy). Đặc biệt
hơn cả là kiểu nhân vật có tài văn chương. Chàng trai trong truyện Chiếc áo ba màu được cô gái đem
lòng yêu mến bởi chàng có tài làm thơ hay và viết chữ đẹp. Khi chàng làm thơ về đám mây trắng thì cô
muốn may tấm áo màu trắng như mây để mặc, khi chàng họa vần về cây liễu, cô gái liền tìm mặc chiếc áo
màu xanh… Hay trong truyện Cây một quả, chàng trẻ tuổi cũng không có gia tài gì ngoài gia tài tâm hồn
của một thi sĩ. Trên con đường đi tìm thứ quả hạnh phúc cho mình, chàng đã tự viết lên những vần thơ nỗi
niềm:
“Mùa xuân chim én chỉ đường
Mùa hạ tiếng chim cuốc mách lối
Mùa thu đã có chim cu gáy
Mùa đông đã có chim két”.
Ngoài ra, nhà văn Phạm Hổ còn xây dựng một kiểu nhân vật rất “mới”, đó là kiểu nhân vật “có
đam mê”. Đây là kiểu nhân vật có một niềm ham thích về một lĩnh vực nào đó, ham thích đến độ say sưa
và có khi còn sẵn sàng “trả giá” rất đắt cho niềm đam mê đó. Trong truyện Cây lạ quả ngon, Phạm Hổ xây
dựng nhân vật ông cụ nổi tiếng là mê làm vườn: “Nghe ở đâu có cây lạ quả ngon, ông đều lặn lội đi tìm
mua về… Với ông cụ, một giống cây lạ quả ngon là một niềm vui, một nguồn hạnh phúc…”. Niềm đam
mê ấy biến ông trở thành một nghệ nhân đích thực với tấm lòng rộng mở với cây cỏ thiên nhiên: “Hai bên
đường từ cái cổng đỏ rực hoa râm bụt vào ông trồng hai cây chuối. Ông biết cách trồng sao cho hai cây
chuối cùng ra hoa, cùng kết buồng, cùng hướng về một phía như để chào mừng người đi ra, đi vào”. Hoặc
trong truyện Của quý trong lòng đá, có hai gia đình kia chuyên làm nghề đá để kiếm sống. Nghề đục đẽo
đá vốn rất khó nhọc, thế nhưng vì chàng trai có một niềm đam mê với đá, đặc biệt là thích đục đá dưới
trăng nên mọi nỗi mệt nhọc nhờ đó tiêu tan. Trong truyện Chim Lưu Ly, Phạm Hổ xây dựng nhân vật cụ
già rất yêu chim, nhất là những loài chim có tiếng hót hay: “Cụ đã yêu và đã sống với những tiếng hót ấy
từ lúc tóc còn để trái đào. Bây giờ thì tóc cụ đã bạc trắng. Với những loài chim hót hay, hầu như cụ thuộc
tính nết của từng loài”. Trong thời đại hôm nay, khi các nhà giáo dục đang đặt ra bài học về tình yêu thiên
nhiên, loài vật cho trẻ em, những câu chuyện như thế này phải chăng có ý nghĩa thiết thực rất nhiều?
Quay trở lại với nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng
ta thấy rằng: nếu trong trí tưởng tượng của người bình dân xưa, để có thể thực hiện ước mơ một cuộc sống
giàu sang hạnh phúc, họ thường dựng nên những nhân vật khác lạ: hoặc có ngoại hình kì dị hoặc có sức
mạnh siêu phàm. Còn Phạm Hổ, nhân vật trong truyện cổ tích mới của ông hiện lên cụ thể, chân thực từ
diện mạo đến tính cách, hành động. Đó là những con người đời thường từ nguồn gốc ra đời, hoàn cảnh
sinh sống đến vóc dáng và cả tính cách, nỗi niềm. Nhân vật của Phạm Hổ là những người lao động khỏe
khoắn, cần mẫn. Cô em gái với phẩm chất thường thấy của người phụ nữ phương Đông: chịu thương chịu
khó, luôn lo xa để tích trữ phòng khi có việc (Cô em gái biết lo xa xa). Chàng trai trong truyện Của quý
trong lòng đá có phẩm chất cần mẫn, kiên trì, khéo léo của một người thợ thủ công. Ngay cả đến các vị
thần, khi muốn tạo ra một loài hoa, loài quả nào, họ cũng phải suy tính, cũng phải làm bằng đôi tay của
chính mình chứ không “hô biến” như các vị thần tiên trong truyện cổ tích cũ. Cách đặt tên cho các nhân
vật của tác giả cũng hết sức giản dị. Ngoài các nhân vật như chàng trai, cô gái nghèo, em bé … nhân vật
có tên trong truyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ luôn gợi lên trong lòng người đọc cái gì đó rất đỗi bình
thường và thân thương. Đó là Cành, Búp, Bưởi, Mây, Mít, Bí, Ngô, Nhài, Sinh, Xanh, Lửa, ông Chín
Mồm, Trà, Mộc, Cao, Tắc, Quỳnh…
Không có phép biến hóa siêu phàm, nhân vật chính trong truyện của Phạm Hổ bền bỉ đấu tranh với
cái ác, cái xấu. Trong quá trình gian nan ấy, các nhân vật không thụ động ngồi chờ đợi sự giúp đỡ của
thần linh. Vì vậy, đặc điểm chung của các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn Phạm
Hổ là những con người chủ động vượt lên trên hoàn cảnh. Chú bé Cành trong truyện Cái ô đỏ được sự
giúp đỡ của Bụt nhưng chính chú phải: “cả đêm hôm ấy, giấu mẹ, giấu em, Cành lấy cái áo đỏ còn mới
toanh của mình, đem ra cắt thành nhiều mảnh, rồi khâu lại... vót tre làm gọng, làm cần, rồi khâu vào
thành một cái ô”. Hoặc nhân vật em bé trong Một người con có hiếu biết dùng trí thông minh và lém lỉnh
để đối đầu với tên nhà giàu ngu dốt và tham lam để có tiền thang thuốc cho người cha. Hay cậu học trò
ham học phải tự mình tìm kiếm câu trả lời cho lời đố hóc búa của người thầy trong Bài thi nhập học…
Trong khi nhân vật của truyện cổ tích dân gian được xây dựng gắn liền với các hành động thì trong
truyện cổ tích mới của Phạm Hổ, nhân vật không chỉ có hành động mà còn có tâm trạng. Mỗi câu chuyện
hiện lên một chân dung con người với những nỗi niềm chẳng ai giống ai. Nói một cách khác, nhân vật
trong truyện của Phạm Hổ ít nhiều được cá tính hóa. Cùng mô típ người con hiếu thảo nhưng nếu em bé
nghèo dùng sự lanh lẹ của trí tuệ để kiếm tiền mua thuốc cho cha (Một người con có hiếu) thì cô Xanh
trong truyện Những người con hiếu thảo đánh liều bơi sang vườn cây thuốc của tên chúa Chín Mồm độc
ác để lấy cắp mấy lá thuốc quý về chữa bệnh cho mẹ. Dẫu đã bị bắt, bị chặt đứt mười ngón chân, ngón tay
nhưng cô Xanh vẫn cố gắng chạy về gặp mẹ: “Về đến nhà, kiệt sức rồi, cô ngã xuống và chỉ nói được mấy
tiếng: thuốc đây rồi...! Mẹ ơi…! Con... chết…mất”. Cùng bị đẩy vào hoàn cảnh tuyệt vọng nhưng nỗi niềm
của cô Mây (Chuyện nàng Mây) khác với tâm trạng của cô Mộc (Mùi hương kì lạ) và nhân vật cô chị
trong Những bông hoa mới ở hồ Thơm. Mây vừa lo sợ trước thủ đoạn của công chúa Thanh Hoa, vừa tủi
thân khi nhìn khắp hoàng cung rộng lớn không thấy một bóng dáng người thân quen. Cô mang tâm trạng
lo lắng nhưng cũng đầy quyết tâm vượt qua những thử thách mà nàng công chúa độc ác bày ra. Tận sâu
thẳm, lòng Mây vẫn không nguôi cháy lên hi vọng một ngày được trở về làng quê thương mến. Còn cô
Mộc lại mang tâm trạng khác, niềm hi vọng mỗi ngày mỗi tắt trong lòng. Cô không chỉ tủi thân mà thật sự
hoảng hốt, lo sợ đến cực độ mỗi khi đêm xuống. Cô trò chuyện với đá, với sao, với mọi vật bằng tâm lí
yếu ớt của một cô gái bị đẩy vào hoàn cảnh mà bản thân cô biết rằng khó lòng thoát được. Còn nhân vật
cô chị trong Những bông hoa mới ở hồ Thơm lại đầy tự tin. Cô biết nén nỗi đau mất em, dùng lí trí soi xét
mọi việc, thậm chí tính toán vuông tròn để tìm cách trả thù cho em và nhất là tự cứu lấy chính mình.
Có thể khẳng định: kiểu nhân vật tâm trạng, kiểu nhân vật được cá tính hóa trong cổ tích mới của
Phạm Hổ, ở mức độ nào đó, rất gần với các kiểu nhân vật trong văn xuôi hiện đại.
Viết truyện cổ tích hiện đại, Phạm Hổ không thể không xây dựng các nhân vật vốn được xếp vào
tuyến lực lượng thần kì như Bụt, tiên, thần… Chỉ có điều, các nhân vật thần kì trong truyện viết cho thiếu
nhi của Phạm Hổ ít nhiều xa rời xứ sở linh thiêng, kì lạ của họ mà bước vào cuộc sống trần gian quen
thuộc, gần gũi, đời thường - nơi các bạn đọc nhỏ tuổi có thể bắt gặp đâu đó trong cuộc sống của chính
mình. Phạm Hổ không để họ xuất hiện đột ngột trong làn khói trắng, họ cũng không cầm chiếc đũa thần
hay cây phất trần nhiều quyền phép biến hóa. Có khi họ mặc chiếc áo đời thường. Đó là ông lão bán kéo
trong truyện Cái kéo kì lạ. Không phải ai có tiền là ông bán; khi bán, ông nhìn sâu vào đôi mắt người mua
và đọc được mục đích của họ. Ông đã bán cây kéo có thể cắt từng sợi nắng cho em bé nghèo có lòng
thương bà. Ông còn dự đoán trước những tình huống có thể xảy ra nên truyền cho em bé mấy câu thơ như
những lời thần chú linh thiêng:
“Kéo cắt một lần
Biến mất liền tay
Nắng chảy thành sợi
Cắt ngay! Cắt ngay!
Cái chăn toàn nắng
Ấ m đêm ấm ngày
Chăn truyền hơi ấm
Nhà ấy, nhà này
Nắng chui xuống đất
Trở về, lung lay…”.
. Rõ ràng, ông bán kéo xuất hiện trong truyện với vai trò như một ông bụt - một ông bụt giữa đời
thường. Hoặc nhân vật bà lão quét vườn trong truyện Chuyện nàng Mây, mỗi lần Mây gặp thử thách khó
khăn, mỗi lần người con gái hiền lành ấy buồn, bà lão lại đến. Nhưng bà không chỉ cách cho Mây làm sao
chiến thắng, cũng không giúp Mây trừng trị nàng công chúa ác độc. Bà chỉ vỗ về, an ủi hay đơn giản là
lắng nghe nỗi buồn của người con gái bất hạnh ấy. Thế nhưng chính bà đã truyền cho Mây một sức mạnh
lạ kì - sức mạnh của niềm tin: “Bà tin là người tốt lúc nào cũng gặp may. Ở hiền lúc nào cũng gặp lành”.
Bà lão làm vườn chính là bà tiên giữa cuộc sống đời thường.
Ngoài ra, các nhân vật thần kì trong truyện cổ tích mới của Phạm Hổ còn có đặc điểm: họ là những
vị thần rất hài hước. Xem cách nhân vật Bụt đối thoại với Cành, các em có lẽ sẽ cười rất thích thú, vì các
em không thể ngờ Bụt lại có khả năng dí dỏm đáng yêu đến thế:
“… Bụt khẽ gật đầu rồi nói: Bụt sẽ đến nhà cháu để chữa bệnh cho em cháu. Nhưng bệnh của em
cháu thì phải chữa vào lúc mặt trời đứng bóng. Mà đường đi từ đây về nhà cháu thì xa quá, trời nắng, Bụt
không đi nổi.
Cành nhìn Bụt ngơ ngác: Cháu tưởng với Bụt thì nắng Bụt cũng có thể làm phép cho hết nắng, mưa
thì Bụt cũng làm phép cho hết mưa…
Bụt cười đáp: Mấy ngày nay, Bụt mất hết cả các thứ phép này rồi!
Thưa Bụt, vậy Bụt bảo cháu cần làm gì?
Cháu hãy khâu cho Bụt một cái ô nhỏ bằng vải đỏ để Bụt che cho đỡ nắng...”
(Cái ô đỏ)
So với những câu chuyện cổ tích cổ xưa, truyện của Phạm Hổ có một kiểu nhân vật chính khá
đặc biệt, đó là nhân vật thiếu nhi. Và có thể nói, đây chính là một trong những điều khiến tác phẩm của
Phạm Hổ có khả năng hấp dẫn người đọc. Còn gì thú vị cho bằng khi đọc sách, các bạn đọc tuổi nhỏ lại có
dịp nhìn thấy mình trong đó. Thật vậy, các em được gặp lại chính mình trên những trang văn của Phạm
Hổ. Dưới cái nhìn của nhà văn, trẻ em trở thành trung tâm của bức tranh thiên nhiên và cuộc sống. Đó là
những đứa trẻ với khát vọng mãnh liệt cùng những ý nghĩ táo bạo có khả năng làm thay đổi thế giới. Trẻ
em muốn tái tạo thế giới theo cách của chúng và không muốn bị ràng buộc bởi bất cứ một thứ lí thuyết
khô khan, khuôn mẫu nào.
Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh khi viết Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đã miêu tả một trò chơi tuổi nhỏ
hết sức lạ lùng nhưng hấp dẫn. Đó là trò “đặt tên cho thế giới”, nhân vật cu Mùi thành thật: “Chúng tôi
muốn thay đổi một cách gọi, thậm chí nếu được đặt lại tên cho cả thế giới, chỉ với một mục đích hết sức
tốt đẹp là làm cho thế giới mới mẻ tinh khôi như được sinh ra lần nữa... Bọn nhóc chúng tôi cần một thế
giới non trẻ và giàu có của riêng mình” [6, tr.55]. Nguyễn Nhật Ánh viết những dòng ấy đầu năm 2008,
còn Phạm Hổ, ông đã cho trẻ em một thế giới sáng tạo của riêng mình. Nhân vật thiếu nhi trong truyện
của Phạm Hổ không chơi trò đặt lại tên cho thế giới mà sáng tạo lại cả thế giới theo khát vọng và trí tưởng
tượng của chúng. Nhân vật thiếu nhi trong hầu hết các truyện ngắn của Phạm Hổ là nhân vật sáng tạo:
lấy áo màu đỏ cắt may thành cái ô đỏ che nắng (Cái ô đỏ); lấy mắt rồng đã hư chôn sâu dưới đất, mười
ngày tưới sữa, mười ngày tưới mật để mọc thành cây (Em bé và rồng con); làm sống lại người đã chết
bằng một bức vẽ chân dung (Một người con hiếu thảo). Với Phạm Hổ, thế giới này được sáng tạo ra vì trẻ
con và trẻ con được quyền sáng tạo ra những cái gì chúng thích. Như vậy, có thể nói, nhân vật thiếu nhi
trong truyện của Phạm Hổ có vai trò như một điểm nhìn để tái hiện, sáng tạo, cảm nhận, đánh giá và giải
thích thế giới.
3.3. Nghệ thuật trần thuật
Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, G.N.Pôxpêlốp đã khẳng định: “Đóng vai trò quyết định trong
loại văn học tự sự là sự trần thuật, tức là một câu chuyện về các sự kiện xảy ra, được kể từ phía người
khác” [16, tr.263]. Từ ý kiến trên, chúng tôi hiểu rằng, tìm hiểu một tác phẩm tự sự, không thể không
quan tâm nghệ thuật trần thuật của nó. Có thể thấy rằng: việc “kể cái gì” và “kể như thế nào” có một
khoảng cách khá xa, và mức độ chinh phục người đọc - nhất là bạn đọc thiếu nhi, nghiêng nhiều về phía
trả lời câu hỏi thứ hai.
Bàn đến nghệ thuật trần thuật, chúng tôi quan tâm nhiều đến điểm nhìn trần thuật. Chúng tôi hiểu
điểm nhìn trần thuật là vị trí mà từ đó người trần thuật nhìn ra và miêu tả mọi sự kiện trong tác phẩm. Về
đại thể, chúng tôi chia thành hai loại điểm nhìn trần thuật.
(1) Điểm nhìn trần thuật bên ngoài: Người trần thuật đứng ở bên ngoài quan sát và miêu tả, tách mình
ra khỏi mọi biến cố và các nhân vật. Người trần thuật đứng từ góc độ khách quan, ít biểu thị thái độ, tình
cảm hay cách đánh giá đối với những gì đang diễn ra trong tác phẩm. Ở trường hợp này, người trần thuật
xem như mình chứng kiến tất cả những gì mình thuật lại.
(2) Điểm nhìn trần thuật bên trong: Người trần thuật đặt vị trí quan sát và miêu tả ở một đối tượng nhân
vật nào đó trong tác phẩm. Từ góc nhìn chủ quan của nhân vật đó, người trần thuật kể lại những cảm xúc,
tình cảm, thái độ của chính nhân vật đó đối với những gì đang diễn ra xung quanh nhân vật. Khi đặt điểm
nhìn bên trong nhân vật, người trần thuật thể hiện khả năng nhập vai và lúc đó người trần thuật bị chi phối
bởi tất cả quan điểm, tư tưởng... thuộc về nhân vật đó.
Khảo sát 47 truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi thu được kết quả như sau:
1) Điểm nhìn trần thuật bên ngoài: 20/47, chiếm 42.5%.
(2) Điểm nhìn trần thuật bên trong: 27/ 47 chiếm 57.5%.
Như đã xác định: truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là loại truyện cổ tích mới. Và truyện cổ
tích vốn được đánh giá là một trong những hình thức nghệ thuật tự sự đầu tiên. Vì vậy, cách trần thuật của
truyện cổ tích nói như G.N.Pôxpêlốp là rất giản dị, bởi: “ở đây không hề nói gì về môi trường hành động,
về đặc điểm tính cách nhân vật, về cảm xúc của chúng. Các suy nghĩ và ý định được chỉ ra cô đọng và
thoáng qua. Các hành động chỉ được gọi tên ra: chỉ có những chi tiết hành vi nhân vật thật cần thiết để
hiểu hành động đang diễn ra” [16, tr.268]. Điều đó không có nghĩa: chúng ta đọc cổ tích xưa thì không
thấy hấp dẫn. Mỗi hình thức nghệ thuật gắn liền với thời đại sản sinh ra nó, gắn với nhu cầu sáng tạo và
thưởng thức của nó.
Khi viết cổ tích mới, Phạm Hổ cũng thừa kế lối trần thuật từ điểm nhìn bên ngoài của truyện cổ tích
dân gian. Ông cũng đóng vai một người trần thuật khách quan đã chứng kiến và thuật lại đúng như tiến
trình vốn có của câu chuyện. Cách kể như vậy, tất nhiên, đem lại hiệu quả là gây dựng một lòng tin cần
thiết cho bạn đọc với những gì đã diễn ra. Người đọc không nhìn thấy sự xuất hiện của người trần thuật
trong câu chuyện, không nhìn thấy bàn tay can dự của người ấy vào những thay đổi của mạch truyện.
Trong truyện Cơm cho chó ăn, người trần thuật đứng bên ngoài quan sát mọi hành vi cử chỉ, và tâm địa
của người chị dâu khi người chú và đứa em chồng đến thăm. Các hành động của người chị không được
phân tích mà chỉ được gọi tên ra một cách khách quan: trách móc chồng, nói xấu em chồng, xua đuổi chú,
lấy cơm cho chó ăn. Kết thúc truyện, người trần thuật cũng lặng lẽ kể lại hậu quả mà người chị dâu phải
chịu như một điều tất yếu của số phận một người độc ác:
“Cô ta vào bếp, lấy cơm rồi mang đi cho chó ăn. Trời chuyển mưa, sấm sét đùng đùng. Cô ta ra
cổng, định gọi tìm chó thì Trời sai Thiên Lôi đánh cô ta chết ngay ở cổng. Cô ta ngã vật xuống bờ đường.
Ít lâu sau, ở đấy mọc lên một thứ cây lá hôi hôi, nhưng những con chó sau khi đẻ, rất thích tìm đến ăn.
Người ta bảo vì loài chó biết là cái kẻ bị trời đánh kia, vẫn đang cầm trong tay một thứ chó có thể ăn
được. Và cũng vì vậy mà người ta gọi cây ấy là cây chó đẻ”.
Tuy nhiên, so với truyện cổ tích dân gian Việt Nam, Phạm Hổ đã đa dạng hóa điểm nhìn trần thuật
bên ngoài ấy bằng nhiều cách khác nhau. Đang khi người trần thuật ẩn mình, nhà văn đột ngột cho nhân
vật xưng “tôi” xuất hiện đối thoại giả định với người đọc. Như trong truyện Hai anh em nhà trăm mắt,
đang khách quan thuật lại quá trình tạo ra quả Na, quả Dứa, tác giả đột nhiên cho người kể chuyện xưng
tôi hỏi chuyện người đọc và trả lời:
“ ... Chắc các em sẽ hỏi: Nhưng tại sao quả Dứa lại chín vàng mà quả Na thì lúc chín vẫn xanh?
Tại sao ruột Dứa thì vàng mà múi Na thì trắng? Theo chỗ tôi được nghe kể lại thì Trang Ly đã cho quả
Dứa chín vàng… Nhưng quả na thì Trang Ly muốn lúc chín vẫn cứ xanh mát như màu những tảng đá xếp
nên cái vọng gác hình tròn của cô Na ngày trước…”.
Có thể nói, cách chêm vào hình tượng người kể chuyện hiển ngôn với kiểu đối thoại cùng người
đọc trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là một điểm khá đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của
ông. Vì với điểm nhìn trần thuật bên ngoài, người trần thuật hiện lên khá lạnh lùng, mà điều đó rất khó
“dỗ” trẻ con, bởi đứa trẻ nào cũng thích ăn kẹo, thích thái độ thân tình. Phạm Hổ vừa đảm bảo cái nhìn
khách quan, vừa không khiến trẻ cảm thấy xa lạ với người mà chúng đang chú tâm nghe.
Với điểm nhìn trần thuật bên ngoài, người trần thuật luôn cố tình tạo ra một khoảng cách đối với
câu chuyện nhưng vì thế dễ dẫn đến khoảng cách giữa người trần thuật và người đọc. Phạm Hổ đã vượt ra
khỏi khoảng cách giữa người trần thuật và thiếu nhi bằng cách xen vào những lời bình luận - thuật ngữ
văn học hiện đại gọi là trữ tình ngoại đề. Trữ tình ngoại đề vốn là một trong những yếu tố ngoài cốt
truyện, nó thuộc ngôn ngữ người kể chuyện và cũng là phương tiện quan trọng giúp tác giả soi sáng thêm
nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Khảo sát truyện ngắn của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy dẫu là điểm nhìn bên trong hay bên ngoài,
nhà văn thích chêm vào truyện những đoạn trữ tình ngoại đề ở cuối mỗi truyện: 22/47 truyện. Những đoạn
trữ tình ngoại đề như một cách tác giả tâm tình với người đọc của mình, một mặt thể hiện cảm hứng tư
tưởng của ông, một mặt giúp các em định hướng tâm hồn, nhân cách trong cuộc sống.
Trong truyện Những bàn tay nhiều ngón, đoạn kết chính là lời người kể chuyện nói thêm với bạn
đọc: “Vì sao mà những bàn tay chuối đến nay không phải chỉ có năm ngón, năm quả mà có khi đến hàng
chục, hàng hai chục thì điều ấy rất dễ hiểu: thấy các em ưa thích ăn chuối, nên các bàn tay chuối tự động
sinh thêm ngón, thêm quả cho các em vui lòng. Và đó cũng là một cách cây muốn tỏ ra mình rất hiểu bụng
người đã tạo nên cây. Đó là lòng yêu con, yêu trẻ của Tiêu Ly, người con út của Thần Cây”. Có thể coi
đây là lời tỏ bày quan điểm của tác giả về ngọn nguồn của mọi sáng tạo trong thế giới: mọi công trình
được khám phá, phát minh, sáng tạo chỉ thật sự có giá trị, có ý nghĩa khi nó xuất phát từ tình yêu đối với
con người, nhất là với trẻ em. Và hoàn toàn có thể nói, ngay cả việc nhà văn viết ra câu chuyện này cho
thiếu nhi cũng là để các em thấy được tình thương nồng hậu của người viết đối với chúng.
Hoặc trong truyện ngắn Khóm dứa lá không gai, sau khi kể về quá trình hình thành nên loài hoa
Ngọc Trai, Phạm Hổ đã viết thêm những dòng suy nghĩ vượt qua biên giới của cốt truyện như sau: “Cây
hoa ấy ngày nay, người trồng hoa thường gọi là hoa Ngọc Trai. Còn người dân thường, nhất là dân ở
biển thì gọi là hoa Hến. Dù hến hay ngọc trai thì đó vẫn là sinh vật, là báu vật của biển xanh sóng vỗ
trùng trùng, đêm ngày không ngớt sinh sôi ra tôm cá và những con trai biển. Những con trai biển này vỏ
bên trong như một chân trời đang lúc rạng đông, và nhiều con bị thương tích còn có thể cho chúng ta
những viên ngọc quý”.
Như vậy, đằng sau những câu chuyện hấp dẫn, Phạm Hổ đã đem đến những thông điệp cụ thể về
cách nhìn đời, cách gọi tên giá trị của vạn vật trong thế giới hiện đại hôm nay. Những lời bình luận
ngoại đề của Phạm Hổ, dẫu ít dẫu nhiều, sẽ khơi gợi sự hiểu biết cần thiết về Chân - Thiện - Mĩ trong
thế giới thẩm mĩ cho thiếu nhi.
Với cách chêm xen những đoạn trữ tình ngoại đề như vậy, Phạm Hổ đã ít nhiều “lạ hóa” lối trần
thuật quen thuộc trong cổ tích dân gian Việt Nam, làm cho những truyện ngắn của ông đích thực là cổ tích
mới. Chúng tôi nhận thấy Phạm Hổ đã kế thừa cách trần thuật của một người kể chuyện cổ tích rất nổi
tiếng trên thế giới, An-đéc-xen. Người kể chuyện thiên tài ấy cũng thường kết thúc những câu chuyện của
mình bằng những thông điệp nằm ngoài cốt truyện, kiểu như: “Tội nghiệp cho chim! Khi chim còn sống và
ca hát, người ta quên, để mặc nó chết vì đói khát trong lồng; chết rồi người ta mới khóc thương, ban cho
những nghi lễ đầy vinh dự. Mảnh cỏ cùng bông hoa cúc trắng bị người ta quẳng lẫn vào đám bụi ngoài
đường cái; chẳng ai nghĩ đến kẻ đã tha thiết yêu thương con chim non” (Bông cúc trắng).
Nói tóm lại, khi viết cổ tích mới, Phạm Hổ cũng thừa kế lối trần thuật từ điểm nhìn bên ngoài của
truyện cổ tích dân gian nhưng ông đã làm “mới” bằng nhiều cách. Chúng tôi cho rằng hoàn toàn có thể
khẳng định đây là một lối trần thuật cổ tích đầy sáng tạo. Nó làm cho truyện không xa quá so với những
câu chuyện cổ tích một thời từng làm say mê thiếu nhi, nhưng cũng không quá “cũ” để người đọc mất
hứng thú.
So với Tô Hoài và Nguyễn Huy Tưởng - những cây bút từng viết lại một số truyện cổ tích, tác giả
Phạm Hổ chú ý nhiều đến việc khai triển điểm nhìn trần thuật bên trong.
Phạm Hổ thường đi vào thế giới nội tâm của các nhân vật và tái hiện các hiện tượng cuộc sống từ
góc nhìn của nhân vật đó. Với điểm nhìn bên trong nhân vật, tác giả để cho các nhân vật nói lên tiếng nói
của chính mình - lời độc thoại nội tâm. Trong truyện Cây đàn và bầu rượu của người thầy, tác giả tỏ ra
rất tinh tế khi miêu tả cảm xúc và tâm trạng của nhân vật người thầy nhiều đau khổ khi đứng trước vẻ xinh
đẹp, tươi trẻ của cô gái học trò. Triển khai điểm nhìn từ nhân vật này, Phạm Hổ đã khá thành công khi
giấu đi cảm xúc của người trần thuật, tràn lên trang giấy là tâm sự phức tạp, bối rối của người thầy: “Ông
thầy dạy đàn cảm thấy dễ chịu khi ngồi trong nhà nhìn ra vườn. Khúc lượn của con sông ở đây càng ngắm
kĩ càng thấy đẹp. Những cây sung và những lùm tre ở bờ bên kia xanh biếc, um tùm soi bóng xuống dòng
sông nhìn nửa hư, nửa thực như trong tranh vẽ. Xa xa là những rặng núi xanh mờ tím nhạt như trong mơ.
Ông càng sững sờ khi chủ nhà gọi con gái của mình ra chào khách quý. Cô gái có một vẻ đẹp hiếm có.
Không lộng lẫy mà càng nhìn càng thấy lạ và cao quý. Nhưng giải thích vì sao lại thế, thì cũng thật khó.
Do màu tóc đen và mềm của cô ư? Do đôi mắt hiền lành, đen sáng nằm hơi xa nhau và đôi chân mày
thanh như vẽ ư? Hay là do đôi môi hồng nhẹ và tươi mát? Hay là do dáng người thon thả mà tròn trĩnh
như được nặn bằng một thứ bột tinh chất và mịn màng?”. Một con người từng chịu nhiều thương tổn từ
cuộc sống gia đình như người thầy dạy đàn ấy bỗng trỗi dậy niềm khát khao về niềm hạnh phúc ấm êm.
Nhưng ông biết rằng điều đó là không thể, ông bối rối và âu lo khi nghĩ về khoảng cách tuổi tác, ông xấu
hổ khi lòng mình hay nghĩ vẩn vơ về một niềm hạnh phúc không thể có thực... Tâm lí nhân vật ông thầy
được Phạm Hổ miêu tả khá chi tiết, sinh động bởi nhân vật không phải được quan sát từ bên ngoài mà từ
những suy tư, cảm xúc bên trong. Phạm Hổ cho nhân vật tự nhận thức tình cảm, tâm trạng mình và tự nói
lên bằng ngôn ngữ của chính nhân vật.
Với điểm nhìn bên trong, người kể chuyện Phạm Hổ ẩn mình rất khéo còn các nhân vật hiện lên
trong tác phẩm thì vô cùng sống động. Biệt tài của Phạm Hổ là ông xoay chuyển điểm nhìn từ các nhân
vật một cách rất linh hoạt. Không chỉ chọn điểm nhìn từ hệ thống các nhân vật chính diện, tác giả không
ngần ngại đi vào thế giới tâm tư, suy nghĩ của các nhân vật phản diện. Tác giả cũng cho bọn chúng cất lên
tiếng nói của chính mình, qua đó làm rõ hơn về bản chất của chúng. Như nhân vật mụ phù thủy trong
truyện Những bông hoa mới ở hồ Thơm, sau khi cướp được chiếc túi quý của hai chị em cô gái nhà nghèo,
mụ ta miên man suy nghĩ về tương lai huy hoàng của mình. Nhà văn không đứng từ góc độ người kể
chuyện để miêu tả mụ phù thủy, nhà văn hòa lời độc thoại nội tâm của nhân vật và lời thuyết minh tâm lí
của mình thành lời văn nửa trực tiếp: “Mụ ta hí hửng lắm. Với cái túi quý này mụ sẽ kiếm ra vàng ra bạc
dễ như chơi. Mụ ta xuống thuyến bảo lính đưa mình về. Ra giữa hồ, mụ ta định mở cái túi ra xem. Mụ
hoảng hồn khi thấy cái túi cứ dính chặt vào da thịt mụ, sau đó mụ thấy đau ở ngực và cái đau mỗi lúc một
tăng lên. Mụ kêu la rên rĩ, cố giật cái túi kia ra khỏi cổ. Bỗng mụ kêu thét lên một tiếng rồi ngã luôn
xuống hồ”.
Khảo sát truyện ngắn viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy nhà văn rất thích sử
dụng kiểu lời văn nửa trực tiếp (27/47 truyện). Thật ra đó là “lời của người trần thuật nhưng lại thấm
nhuần từ vựng, ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của lời nói nhân vật, thấm nhuần ngữ điệu tình cảm và suy
nghĩ của nhân vật” [16, tr.274]. Phạm Hổ tỏ ra là người nhập vai rất tốt. Có khi Phạm Hổ vào vai và cất
tiếng nói, nhìn nhận cuộc sống theo lối của một lão nhà giàu độc ác: “Lão ta có đến năm vợ nhưng lần này
là lần đầu lão có một đứa con, mà lại là con trai. Trách gì lão không sướng phát điên lên. Thôi thì hết giết
gà lão lại mổ lợn. Hết mổ lợn lão lại hạ bò. Nhưng lão hết sức lo lắng khi biết rằng người vợ thứ năm bị
tắt sữa…” (Dòng sữa của người chị). Có khi ông lại nhập vai người mẹ đi tìm loài cây có thể đem lại sữa
cho các con: “Bà mẹ lại đến một bờ vực sâu thẳm, vách dựng đứng. Làm thế nào để sang được bờ vực bên
kia? Bà mẹ nhìn quanh. Trời cao. Vực thẳm nhìn ngợp đến ghê người. Thôi đành liều mà bám đá tụt
xuống dần” (Hạt ngày, hạt đêm). Thú vị không kém là lúc nhà văn nhập vai một anh chàng lười nhác mà
lại tham ăn, sống ở chùa mà cứ tưởng tượng được chén ngon: “Một đêm, nằm không ngủ được, anh bỗng
nghe tiếng gà gáy. Món thịt gà luộc hiện ra trước mắt anh với đĩa muối tiêu trộn với lá chanh thái chỉ.
Thịt gà vừa trắng thơm vừa ngọt lịm, muối tiêu mặn mà, cay nồng, lá chanh vừa thơm vừa mát… Anh ta
thèm quá cứ phải nuốt nước bọt đến bao nhiêu bận... Nhưng thịt gà thì lấy đâu ra... Anh ta bỗng ngồi dậy.
Ừ hay đấy! Không có thịt thì ăn tạm trứng vậy. Ôi! Những quả trứng luộc vừa thơm vừa bùi, đã ngọt lại
béo… Lòng đỏ nằm giữa lòng trắng, bẻ đôi ra như mặt trời nằm giữa đám mây...” (Những quả ổi biết
kêu).
Ngoài việc hòa nhập giọng người kể với giọng của nhân vật thành lời văn nửa trực tiếp, Phạm Hổ
còn rất chú ý đến việc thay đổi liên tục điểm nhìn trần thuật với chủ ý đem lại một cách kể chuyện hấp dẫn
với thiếu nhi. Nói cách ngắn gọn, qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy truyện viết cho thiếu nhi của Phạm
Hổ có xu hướng linh động hóa điểm nhìn trần thuật bên trong các nhân vật. Nhà văn di chuyển điểm
nhìn trần thuật từ nhân vật này sang nhân vật khác, làm nổi rõ cảm xúc, nhận thức tư duy và cả giọng nói
bên trong của mỗi nhân vật. Đây là một biểu hiện cụ thể của tính “hiện đại” trong truyện cổ tích mới mà
Phạm Hổ viết dành cho thiếu nhi. Mỗi nhân vật có cái nhìn riêng đối với một sự việc, hiện tượng, sự kiện
trước mắt mình, vì vậy việc linh động hóa điểm nhìn trần thuật từ các nhân vật là cách tác giả để cho nhân
vật tự hiện lên với tất cả các nét cá tính, đặc điểm của chính mình. Nhà văn không phải chạy theo thuyết
minh tất cả mọi hành động tốt xấu theo kiểu cổ tích cũ, nhà văn chừa ra những khoảng trắng để cho người
đọc tự suy nghĩ và đánh giá. Và theo chúng tôi, điều này rất cần thiết với đối tượng thiếu nhi - bạn đọc tác
phẩm của Phạm Hổ - lứa tuổi đang dần hình thành tư duy nhận thức và phê phán cuộc sống. Và tất nhiên,
một tác dụng không nhỏ của cách thay đổi điểm nhìn trần thuật trong truyện là nó làm cho tác phẩm đa
giọng điệu. Các truyện ngắn có cái khung sườn chung là cổ tích nhưng mỗi tác phẩm có cách trần thuật
riêng, mang dấu ấn sáng tạo của một ngòi bút không mệt mỏi trong hoạt động sáng tạo vì tình yêu con trẻ.
Chúng tôi xin đi vào một truyện ngắn có điểm nhìn trần thuật linh động khá đặc sắc của Phạm Hổ.
Đó là truyện Em bé hái củi và chú hươu con. Truyện kể về một em bé nghèo xa mẹ đi ở cho một lão đồ tể,
em gặp và kết bạn cùng một chú hươu con. Sau vì sợ chủ bắt hươu, hai người bạn nhỏ đành chia tay với
một lời hẹn sau này gặp lại. Theo thời gian, chú bé nhỏ lớn lên, lập gia đình và có con. Nhân một hôm trở
về chốn cũ, chú mới biết chuyện hươu con ngày ấy đã từng chờ đợi mình và hóa thân thành một loài cây
mà cành lá rất giống sừng hươu... Cốt truyện khá giản dị với đề tài tình bạn song nét hấp dẫn nằm ở nghệ
thuật trần thuật của Phạm Hổ. Ban đầu, nhà văn quy chiếu mọi cái nhìn từ phía nhân vật chú bé nhà
nghèo. Em cảm nhận về cuộc sống của một đứa con nhà nghèo không được sống gần mẹ, xúc động khi
thấy một chú hươu lạc đàn phải xa mẹ như mình: “Em vẫn nhìn quanh và mong đợi hươu mẹ trở lại để
cho hươu con được gặp và sống với mẹ. Mình cũng còn thích sống gần mẹ nữa là”. Khi lão đồ tể xuất
hiện, điểm nhìn trần thuật thay đổi và được đặt ở nhân vật “thèm thịt hươu” này: “Hôm sau, lão đồ tể đưa
người đưa chó lên thật. Nhưng lùng sục mãi không thấy hươu đâu, lão đành hậm hực trở về. Không thấy
xác em bé, lão cũng hơi lo lo, không biết là thú rừng đã ăn thịt hay em bé đã sống lại”. Khi kể đến đoạn
em bé chạy trốn cùng người chú, điểm nhìn trần thuật lại được quay trở về, đặt ở nhân vật cậu bé: “Đêm
đó, em bé cứ ngồi ở đầu mũi thuyền nhìn lên ngả núi cao... Hươu con ơi! Hươu chờ ta nhé! Ta sẽ về, sẽ
đưa hươu về sống với mẹ con ta... Đường về quê mẹ xa quá, em càng thấy thương mẹ gấp bội... Hết
thương mẹ, em lại nhớ đến hươu, nhưng em cứ tin là chú hươu bây giờ đã lớn và đã nhập đàn sống với
đồng loại của nó. Và chắc nó đã quên mình”. Và người kể chuyện chỉ dẫn dắt một câu ngắn gọn: “Nhưng
hươu kia không quên” rồi ẩn mình để lại điểm nhìn trần thuật cho nhân vật hươu con: “Hươu vẫn nhớ
người bạn, người chủ nhỏ của mình. Hươu chỉ lạ sao loài người lại khác nhau như vậy. Người thì tốt như
em bé. Người thì ác như cái lão đánh em và hai cái tên cứ chực đuổi bắt cho được hươu… Từ xa hươu cứ
tưởng trong đấy có em bé... Hươu liền đi về phía ngôi chùa. Nhưng hươu cũng nghĩ chưa chắc đã là cậu
bé, nếu không cậu ấy đã đi tìm gặp mình. Dù sao cũng cứ đến gần xem…”. Khi người bạn trưởng thành
đem con về thăm mộ mẹ, nghe câu chuyện về chú hươu chết vì chờ đợi mình, dòng cảm xúc từ nhân vật
này chảy tràn và trở thành mạch chính của câu chuyện: “…Thì ra chú vẫn nhớ mình. Lớn lên vẫn nhớ. Và
chờ đợi mình về nữa”. Như vậy, mạch truyện liên kết nhau không chỉ bằng các sự kiện theo tiến trình thời
gian mà còn theo mạch vận động tâm trạng xuất phát từ điểm nhìn của các nhân vật. Cách linh động hóa
điểm nhìn trần thuật bên trong nhân vật của Phạm Hổ làm mạch truyện phát triển khá nhịp nhàng và lôi
cuốn.
Tóm lại, khi nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng
tôi cố gắng ứng dụng những kết luận có giá trị của tự sự học - một nhánh của thi pháp học hiện đại chuyên
nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề có liên quan. Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn,
chúng tôi chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát điểm nhìn trần thuật trong tác phẩm của Phạm Hổ.
Từ những kết quả thu được, chúng tôi hoàn toàn có thể đưa ra nhận định về phương thức trần thuật
chủ yếu trong văn xuôi viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ như sau: 100% truyện có phương thức trần thuật
khách quan. Dẫu trong hai truyện Hai ông cháu và túp lều dột nát, Hai anh em nhà trăm mắt có sự xuất
hiện của nhân vật xưng tôi nhưng đó chỉ là cách nhà văn dẫn dắt mạch truyện theo lối đối thoại giả định
với người đọc. Nhân vật xưng tôi không phải là người hiện hữu trong thế giới các nhân vật đang hoạt động
trong tác phẩm, không tham gia vào các biến cố của câu chuyện. Điều đó có nghĩa là không có một truyện
ngắn viết cho thiếu nhi nào của Phạm Hổ được tiến hành theo phương thức trần thuật chủ quan.
Đây có phải là một thiếu sót của Phạm Hổ chăng?
Khi chọn một phương thức trần thuật, bất cứ một nhà văn nào cũng phải lựa chọn hình thức phù
hợp nhất với nội dung tư tưởng muốn truyền tải tới người đọc. Phạm Hổ muốn sáng tạo lại một thế giới cổ
tích về thiên nhiên, nhà văn cần phải đẩy lùi mọi sự kiện về cái thuở ngày xửa ngày xưa. Quá khứ xa xăm
bí ẩn và nhiều điều kì diệu ấy cần được khám phá như một thế giới bên ngoài người kể lẫn người nghe và
chỉ được kiểm tra ở kết quả cuối cùng là hôm nay, người đọc thiếu nhi nhìn thấy những gì từ cuộc sống
thiên nhiên thực tế. Phương thức trần thuật khách quan phát huy tác dụng của nó trong việc tạo ra lớp màn
huyền ảo cần thiết cho cổ tích và cho cả niềm tin của người đang nghe cổ tích.
Với phương thức trần thuật khách quan, Phạm Hổ tạo ra hai dạng người trần thuật trong truyện viết
cho thiếu nhi :
(1) Dạng người trần thuật lạnh lùng : 20/47 truyện.
(2) Dạng người trần thuật hòa mình với nhân vật : 27/47 truyện.
Trong nghệ thuật trần thuật còn một số khía cạnh khác rất đáng lưu ý như : kết cấu trần thuật, lời
văn trần thuật… nhưng chúng tôi hẹn một lúc khác sẽ tìm hiểu kĩ hơn.
3.4. Giọng điệu
Trong cuốn Nhà văn hiện đại Việt Nam, Vũ Ngọc Phan đã từng bàn về văn học thiếu nhi, ông viết:
“Văn viết cho trẻ con là một thứ văn khó viết. Chẳng những phải sáng suốt, ngây thơ mà cần có giọng kể
chuyện ngọt ngào nữa” [71, tr.52]. Thật vậy, “giọng điệu trong truyện là cảm nhận đầu tiên và cũng là ấn
tượng cuối cùng, dư vị cuối cùng của người đọc (nghe) truyện ” [ 19, tr.166].
Khảo sát truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy nhà văn luôn có khuynh
hướng trẻ hóa giọng điệu. Khác với Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng - những cây bút này khi viết lại truyện
cổ tích thường tạo một giọng kể điềm đạm, bình thản, ung dung của một người lớn đang kể chuyện cho trẻ
- Phạm Hổ kể chuyện bằng giọng của một người bạn trẻ vừa thủ thỉ tâm tình vừa lôi cuốn người đối diện
vào câu chuyện của mình. Giọng kể của Phạm Hổ hồn nhiên, vô tư và đôi khi ngây thơ như giọng của
những người bạn nhỏ tuổi đang trò chuyện cùng nhau. Điều đó lí giải vì sao trẻ em khi đọc truyện của
Phạm Hổ như bắt gặp tiếng nói của chính mình và bạn bè của mình, còn người lớn khi đọc truyện viết cho
thiếu nhi của Phạm Hổ thì nhìn thấy giọng nói của một thời ấu thơ mà mình đã trải qua.
Có thể thấy, Phạm Hổ đã thay giọng trầm ấm của người già khi kể chuyện cổ tích (chuyện đời xưa
thường được kể bằng giọng của bà) bằng giọng của một người trẻ. Sự lựa chọn của Phạm Hổ nói lên điều
gì ? Nguyễn Thái Hòa khi bàn về giọng kể trong truyện cổ dân gian từng cho rằng: “Truyện cổ phải được
người già kể lại, phải là giọng của người già thì có vẻ thực hơn, thấm hơn là một người trẻ kể cổ tích.
Dường như người già kể, ta cảm được khoảng cách thời gian hơn là người trẻ, dường như thấy được
khoảng cách xa vời, hay nói cách khác là người nghe ý thức được thời gian và sự chân thực của truyện
qua sự tin cậy vào người kể mà hiểu được truyện” [19, tr.166]. Chúng tôi không cho rằng ý kiến trên hoàn
toàn đúng. Chúng tôi không phủ nhận việc nghe giọng người già kể chuyện cổ tích thì mức độ tin cậy rất
cao. Nhưng chất lượng niềm tin vào câu chuyện được nghe lẽ nào chỉ phụ thuộc vào tuổi tác của người
kể? Điều quan trọng là những bài học ý nghĩa của cuộc sống mà câu chuyện đó đúc kết được. Nghe kể về
cuộc đời Tấm, Thạch Sanh, Sọ Dừa…, ông bà chắc hẳn không đòi hỏi con cháu phải tin rằng có một cô
Tấm hiền lành như thế, có một Thạch Sanh dũng cảm tốt bụng như thế, có một Sọ Dừa xấu xí như thế.
Điều họ muốn truyền đạt cho chúng ta là: hãy tin ở hiền gặp lành, gieo nhân nào gặt quả đó… Cho nên
mượn giọng kể của một người già thực chất là mượn hình thức những lời dạy bảo yêu thương ngọt ngào.
Cái cảm và cái thấm khi nghe giọng người già kể chuyện chính là ở vị ngọt truyền tải từ tình yêu thương
mà đứa trẻ cảm nhận được, thế nên niềm tin cậy tất yếu được nâng cao. (Ai lại chẳng tin khi biết rằng
người đang kể chuyện cho mình nghe rất yêu thương mình).
Vì vậy, chúng tôi cho rằng không thể nói việc Phạm Hổ lấy giọng của một người trẻ để kể chuyện
cổ tích hiện đại làm mỏng đi niềm tin của người nghe, người đọc. Đó chẳng qua là cách ông rút ngắn
khoảng cách giữa người kể và người nghe - người đọc, giữa câu chuyện được kể với hiện thực mà từng
ngày người đọc đang đối diện. Với giọng kể của một người trẻ, Phạm Hổ dễ dàng tạo ra một cuộc trò
chuyện thân mật, vừa kể mà như vừa lắng nghe để nắm bắt tâm lí tình cảm của người nghe, khi cần thiết
thì dừng lại để lí giải ngay những điều thắc mắc.
Giọng điệu trẻ hóa trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ được biểu hiện khá đa dạng. Trước
hết là ở cách nhà văn sử dụng cấu trúc luyến láy kiểu nhấn mạnh ý rất đáng yêu của trẻ con. Chẳng hạn
như: “Thật ra cái anh con nhà giàu này không muốn học một tí nào. Vì anh ta thấy giàu có đã thừa đủ để
sung sướng rồi”, “Còn anh con nhà giàu thì học đâu quên đấy vì anh mải say mê rượu chè, trai gái”
(Những con ốc kì lạ); “Ngày xưa xưa xưa, có hai người trẻ tuổi nhà ở kề nhau nhưng tính tình khác hẳn
nhau. Anh tên là Mít rất chịu khó chịu khổ làm ăn. Còn anh tên là Bí thì lười ơi là lười. Và đã lười lại còn
tham ăn hết mức” (Ruội vàng hạt lắm); “Có hai rồi, cô ta lại muốn có ba. Có ba rồi, cô ta lại muốn có
bốn. Có một trăm, cô liền nghĩ tới chuyện phải có một nghìn” (Cơm cho chó ăn).
Trẻ thơ rất hay thắc mắc và thắc mắc thì hay hỏi. Nắm bắt tâm lí ấy, nhà văn Phạm Hổ đã tạo ra
giọng kể rất trẻ cho truyện bằng việc sử dụng rất nhiều câu hỏi ngay trong dòng trần thuật và dòng tâm lí
của nhân vật. Những kiểu câu hỏi như sau: “Ngày hôm đó ông già bỗng bắt gặp trên đường một gốc mía
khá to. Lạ thật, ngày trước thì một cái ngọn mía, bây giờ lại một gốc mía, mà giữa ngày đói, sao ai lại để
rơi cái gốc mía đẹp như thế này? ”, “Loài cây mới mọc từ cái gốc mía bị kiến đục rỗng ruột, ngày nay ta
gọi là cây Tre. Có lẽ do cái tên cây che mưa che nắng mà ra chăng? Che, che rồi dần dần đọc chệch
thành tre, tre” (Hai ông cháu và túp lều dột nát); “Ông cụ nghe con nói trúng ý mình, lòng rất vui nhưng
cũng rất lo. Liệu con có làm được công việc nguy hiểm và quan trọng này không ?”, “Hắn biết rằng: cô
gái chưa mê hắn thì vẫn có thể làm hại hắn được. Biết đâu người con gái này lại chẳng đến trả thù cho
cha mẹ mình, cho anh em mình ?” (Cô gái bán trầm hương); “Chắc các em sẽ hỏi : Nhưng tại sao quả
Dứa lại chín vàng mà quả Na thì lúc chín vẫn xanh. Tại sao ruột dứa thì vàng mà múi na thì trắng? Và có
em sẽ hỏi: Thế Trang Ly không tạo một giống cây nào giống anh bạn hơi nhát gan của anh Dứa và cô Na
ư ?” (Hai anh em nhà trăm mắt); “Vậy thì làm thế nào để cho giống cây mới của mình không bị con chim
ác kia đánh cắp được ?” (Những bàn tay nhiều ngón).
Giọng điệu trẻ hóa trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ còn được tác giả tạo ra nhờ giá trị
biểu cảm mà hệ thống các từ ngữ cảm thán và kiểu câu cảm mang lại. Các yếu tố ấy làm thành cái giọng
ngạc nhiên, thú vị của trẻ con. Những từ ngữ như : chao ôi, ôi, trời hỡi, ồ… xuất hiện giữa dòng trần thuật
của câu chuyện gợi chúng ta hình dung về những biểu hiện tình cảm của trẻ con khi chúng đứng trước một
tình huống nào đó của cuộc sống. Người lớn hay có thói quen che giấu xúc cảm nhưng con trẻ thì không,
cảm xúc của trẻ luôn tuôn chảy tự nhiên, chân thật, sinh động trong từng nét mặt, cử chỉ và nhất là giọng
nói. Phạm Hổ không nhại giọng của trẻ mà ông nói bằng giọng của trẻ một cách tự nhiên, thân mật. Chẳng
hạn như: “Người trai trẻ bỗng dừng lại và giụi mắt: Ồ! Sao như ta đã từng đến nơi này! Thôi, thế là ba
năm anh đi, anh lại vòng trở về đúng chỗ ngày trước, trở về với con suối Trăm Năm” (Cây một quả); “Mà
kìa, sao lại có người xinh đẹp như vậy hỡi trời” (Chuyện nàng Mây); “Chao, tiếng hót của nó nghe mới lạ
lùng làm sao! Nghe như thương, như khóc” (Quả tim bằng ngọc); “Cô bỗng khóc nấc lên. Ôi! Cứ tưởng
mất hẳn bông hoa, xa mãi nó rồi. Vậy mà bây giờ nó lại đang ở trong tay cô” (Của quý trong lòng đá);
“Ừ! hay đấy! Không có thịt thì ăn tạm trứng vậy. Ôi những quả trứng luộc, vừa bùi vừa thơm, đã ngọt lại
béo! ” (Những quả ổi biết kêu).
Theo chúng tôi, việc Phạm Hổ quyết định chọn giọng điệu trẻ hóa có lẽ bắt nguồn từ ý định muốn
xóa đi ranh giới ngăn cách giữa người kể và người nghe người đọc. Cảm giác thân tình, hồn nhiên, tự
nhiên, chân thật trong giọng kể ấy rất thích hợp với gu thưởng thức của trẻ em. Và đó cũng là cách Phạm
Hổ lạ hóa những câu chuyện cổ tích, đem thêm hương vị lạ cho món ăn cổ tích truyền thống mà các em
vốn rất say mê.
Không chỉ như thế, Phạm Hổ còn kết hợp trong giọng kể của mình hai chất giọng trái ngược nhau:
vừa hồn nhiên, ngây thơ rất trẻ vừa triết lí, suy tư rất già. Giọng kể trong truyện viết cho thiếu nhi của
Phạm Hổ đủ “trẻ” để trẻ em như soi bóng thấy mình nhưng vừa đủ “già” để cho bạn đọc nhỏ tuổi nhận
thức các vấn đề quan trọng thiết thực của cuộc sống. Tuy nhiên, nhà văn Phạm Hổ không lên giọng giáo
huấn, không quá trang nghiêm, giọng điệu triết lí nhưng gần gũi, suy tư nhưng rất tự nhiên.
Giọng điệu triết lí của Phạm Hổ trong các câu chuyện thường xuất hiện nhẹ nhàng trong dòng trần
thuật của tác giả như những dấu chấm lửng cần thiết để bạn đọc dừng lại và suy tư cùng nhà văn. Ví dụ
trong truyện Tiếng sáo và con rắn, sau khi hai vợ chồng đoàn tụ, người chồng lấy cây sáo trúc ra thổi,
Phạm Hổ trong lúc miêu tả âm thanh ấy đã viết những câu văn khiến người đọc phải nghĩ suy: “Tiếng sáo
của chàng nghe réo rắt như tiếng của chim, của trời, của sông, của nước nhưng nổi lên rõ hơn cả là tiếng
của con người vui mừng được sống trong lẽ phải và tình thương. Ai nghe cũng ngơ ngẩn say mê”. Có lẽ
với lứa tuổi của mình, sẽ có em không thích tiếng sáo hoặc cũng có em chưa từng nghe âm thanh ấy,
nhưng qua cách vừa kể vừa ngẫm của mình, tác giả giúp bạn đọc nhỏ tuổi hình dung về loại âm thanh
mang giá trị hạnh phúc - thứ nhạc điệu của lẽ phải và tình thương. Hoặc trong truyện Hai anh em nhà
trăm mắt, Phạm Hổ đã kết thúc truyện bằng những lời bình luận với giọng triết lí rất nhẹ nhàng nhưng sâu
sắc: “Có một giống Dứa Dại bên cạnh cây Dứa rất quý kia. Dứa Dại cũng có quả. Quả nó còn to hơn quả
dứa quý là khác, nhưng trăm con mắt của quả Dứa Dại thì đều nhắm tịt cả lại vì lo sợ, và ruột của nó thì
chỉ những xơ là xơ, vô vị và vô ích”. Nhà văn muốn nhắn nhủ với các em nhỏ rằng không nên là Dứa Dại,
dẫu to dẫu cũng có trăm mắt, nhưng không làm được gì có ích cho đời nên rồi cũng sẽ bị bỏ quên.
Giọng điệu triết lí của Phạm Hổ không chỉ thể hiện ở lời trần thuật - lời văn bình luận trữ tình mà
còn nằm trong cấu trúc của tác phẩm với cách khai triển và sắp đặt chi tiết giàu ý nghĩa. Truyện Quả tim
bằng ngọc mở đầu bằng cảnh hai mẹ con nhà nghèo đi ở cho phú hộ, sau những lúc làm việc mệt nhọc:
“hai mẹ con chỉ thấy sung sướng khi đêm đến được nằm bên nhau trên mảnh chiếu rách”. Rồi một hôm,
vì không vừa lòng, tên chủ đã lấy cái roi mây quật vào lưng em bé: “mà kì lạ quá, tên nhà giàu quật bao
nhiêu lằn roi trên lưng đứa con thì bấy nhiêu lằn roi cũng hiện lên trên lưng người mẹ. Từ đó tên nhà giàu
đánh con đau ở đâu thì người mẹ đau ở đó, đánh người mẹ đau ở đâu thì đứa con đau ở đó”. Và sau đó, vì
cứu một chú chim họa mi, hai mẹ con bị tên chủ gian ác giết chết, nhưng điều kì lạ và cũng là điều đáng
suy ngẫm là: “Hai mẹ con chết giống y như nhau, ngực cũng bị một vết thương đâm thủng vào đúng tim
và bao nhiêu máu ở tim như đều chảy hết ra ngoài”. Phạm Hổ không cần dùng bất kì một câu văn bình
luận nào, chất triết lí trong lời văn của ông tự nhiên thể hiện như cái cách ông nói về chân lí tình mẫu tử.
Phạm Hổ buộc mọi người phải suy ngẫm về sợi dây thần giao cách cảm vừa thiêng liêng vừa diệu kì giữa
mẹ và con. Phạm Hổ không viết như Êxênin: “Chỉ mẹ là niềm vui, ánh sáng diệu kì. Chỉ mình mẹ nâng
con vững bước” (Thư gửi mẹ), cũng không khẳng định như Chế Lan Viên: “Con dẫu lớn vẫn là con của
mẹ. Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Con cò), thế nhưng câu chuyện của ông đã đủ nói lên tất cả nội
dung vĩ đại và quan trọng ấy trong cuộc sống mỗi con người.
Nói tóm lại, tìm hiểu nghệ thuật kể chuyện cho thiếu nhi của Phạm Hổ là một hành trình tìm kiếm
hương thơm và âm sắc trong vườn văn mà Phạm Hổ bằng tình yêu dành cho trẻ đã cố công trồng trọt
chăm bón. Bước vào khu vườn ấy, người đọc lắng nghe được giọng điệu hồn nhiên, ngây thơ của trẻ và
lắng nghe được cả những suy tư triết lí cần có cho cuộc đời rộng bước của các em khi trưởng thành. Có
thể nói, việc kết hợp trong truyện hai giọng điệu dường như trái ngược với nhau như thế là một thành
công đáng trân trọng của Phạm Hổ. Tất nhiên sẽ có nhiều người nghĩ đó là cách triết lí theo kiểu trẻ con
của Phạm Hổ (!?). Nhưng thật ra, người lớn chúng ta chắc cũng cần phải rất nhiều lần nhỏ lại để được
cảm nhận được những ý vị lớn lao, ý nghĩa sâu sắc mà giọng điệu triết lí của Phạm Hổ đem đến cho thiếu
nhi. Nói như họa sĩ thiên tài Picasso là: “Cần có thời gian lâu dài để trở nên trẻ”.
Theo chúng tôi, giọng triết lí trong truyện của Phạm Hổ rất giống với giọng mà Tago - nhà thơ lớn
của trẻ em Ấn Độ nói riêng và thiếu nhi thế giới nói chung - người đã trao cho trẻ em cái quyền suy nghĩ
về cuộc đời kiểu trẻ con của chúng :
“Nhưng con biết trò chơi khác hay hơn.
Con là sóng, và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ,
Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.
Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào”.
( Mây và sóng)
Rõ ràng, đứa trẻ trong bài thơ của Ta-go không chiêm nghiệm theo kiểu của Béc-na-sô: “Trong tất
cả các kì quan, kì quan đẹp nhất là trái tim người mẹ” nhưng triết lí đơn giản rất trẻ con ấy buộc nhiều
người lớn phải thừa nhận: không ở đâu hạnh phúc cho bằng ở bên cạnh mẹ.
Gần gũi hơn, chúng ta bắt gặp ở giọng điệu triết lí trong văn xuôi của Phạm Hổ cái chất thơ ngọt
ngào, trong trẻo tự nhiên như mạch suối chảy ra những suy tư mà nhà văn muốn trẻ uống lấy: “Cây sung
nhiều quả như bà mẹ xưa nhiều con. Quả sung có từ gốc lên đến cành như đàn con xưa bám lấy mẹ từ
chân đến vai. Cây sung nghèo túng không tham lam lúc nào cũng rủ bóng xuống che mát cho người cho
cá. Quả sung cũng giống như bầu sữa lúc căng và nhựa sung lúc nào cũng trắng như sữa” (Người mẹ
nghèo ít gạo nhiều con). Như vậy, chỉ mượn hình ảnh cây sung mà nói được biển đời tình mẫu tử. Người
viết chợt nhớ tới cách định nghĩa cũng là triết lí về tình yêu mẹ của một chú bé nhỏ tuổi trong thơ Xuân
Quỳnh :
“À mẹ ơi, có con dế
Luôn trong bao diêm con đây
Mở ra là con thấy ngay
Con yêu mẹ bằng con dế”
(Con yêu m ẹ)
Thật hồn nhiên và cũng thấm thía biết bao...
KẾT LUẬN
1. Truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ là một phần đáng kể trong gia tài văn chương của tác giả. Với
hai nguồn cảm hứng lớn là cảm hứng về huyền thoại của thiên nhiên và cảm hứng về thế giới tình cảm,
tâm hồn, trí tuệ của tuổi thơ, Phạm Hổ đã thể hiện rõ tâm huyết và tình yêu của mình dành cho thiếu nhi
Việt Nam.
1.1. Phạm Hổ không miêu tả lại thiên nhiên một cách đơn thuần mà nhà văn đi kể lại quá trình hoài thai
ra chúng như một cuộc hành trình tìm về với huyền thoại xa xưa của tổ tiên loài người. Nghĩa là Phạm Hổ
đã huyền thoại hóa, cổ tích hóa những hình ảnh thiên nhiên vốn hết sức quen thuộc trong cuộc sống chúng
ta hôm nay. Với mô hình mở đầu bằng một huyền thoại và kết thúc là một loài hoa hoặc loài quả ra đời,
Phạm Hổ đã viết nên những trang sử về quá trình hoài thai vừa kì lạ vừa hấp dẫn của thế giới tự nhiên.
Thiên nhiên vạn vật dưới cái nhìn của Phạm Hổ như được khoác thêm một chiếc áo mới, mỗi loài hoa loài
quả bỗng dưng có thêm một cuộc đời trước đó, trước khi nó trổ thành thiên nhiên thơm thảo cho cuộc đời
hôm nay.
1.2. Phạm Hổ mê cây, mê hoa, mê quả nhưng sâu đậm hơn hết là đam mê các em thiếu nhi. Nhà văn viết
nhiều về đời sống tình cảm của tuổi thơ, nhất là những tình cảm gia đình. Bên cạnh đó, ông cũng sáng tác
những huyền thoại đẹp về tình bạn, tình yêu, tình thầy trò… Thế giới tâm hồn của thiếu nhi còn được
Phạm Hổ miêu tả thông qua những ước mơ khám phá và khát vọng hành động kì lạ của lứa tuổi thần tiên,
nhất là khi các em biết hòa nhập với cuộc sống thiên nhiên xung quanh. Phạm Hổ cũng rất quan tâm khi đi
vào thế giới tư duy, trí tuệ của trẻ em. Trong nhiều câu chuyện, Phạm Hổ khẳng định: những suy nghĩ và
quan niệm về cuộc đời của trẻ con không phải lúc nào cũng non nớt, ngây ngô. Các em có trí phán đoán
và xem xét riêng, có lí luận riêng và đôi khi làm cho người lớn hết sức bất ngờ, ngỡ ngàng rồi thán phục.
2. Bằng những câu chuyện của mình, Phạm Hổ đưa ra lời giải đáp cho thiếu nhi về thế giới mà các em
đang thắc mắc: mọi thứ kì diệu nhất trong cuộc sống hôm nay đều do chính bàn tay con người tạo dựng
nên, nguồn gốc của muôn loài chính là ở tình yêu, tình thương và lòng nhân hậu của con người. Mỗi lần
cái thiện thắng cái ác, lòng trung hiếu thắng sự bạc bẽo vô ơn, tình thương thắng thù hận, thái độ quên
mình thắng thói ích kỉ, tính siêng năng thắng thói lười nhác, sự hiền lành thắng sự hung hăng… thì một
loài hoa đẹp, một thứ quả ngon ra đời. Trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, trẻ em đóng vai trò
như một điểm nhìn để tác giả tự do tái hiện, cảm nhận, đánh giá, lí giải về tất cả những gì mà các em quan
tâm theo cách của riêng chúng.
3. Về nghệ thuật, truyện của Phạm Hổ có những đặc điểm đáng lưu ý sau:
3.1. Thể loại tác giả viết nhiều nhất là cổ tích hiện đại (87%), vì vậy cách dựng truyện của Phạm Hổ rất
gần gũi với cách cấu tạo cốt truyện của cổ tích dân gian. Dưới cái nhìn hình thái học truyện cổ tích của V.
Propp, chúng tôi tạm xây dựng mô hình cấu tạo cốt truyện trong truyện của Phạm Hổ như sau: nhân vật
gặp tai họa - nhân vật gặp gỡ lực lượng thần kì - nhân vật vượt qua thử thách- kết thúc bằng sự hóa thân.
3.2. Phạm Hổ có những cách tân trong lối viết sự tích khá độc đáo và rất mới. Nhà văn chủ tâm phân tích
và mô tả để tạo dựng tình huống trong những câu chuyện đồng thời sáng tạo những chi tiết nghệ thuật có
vai trò là bước đệm cho sự phát triển của mạch truyện về sau. Phạm Hổ đưa ý thức thời gian của người
hiện đại vào trong truyện cổ tích. Đó là thời gian cụ thể, chuyển động theo mạch tâm trạng của nhân vật.
Không gian nghệ thuật trong truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ cũng không huyền bí, xa lạ, không
phiếm chỉ, mà là bối cảnh sinh hoạt đời thường, là hình ảnh cụ thể về quê hương đất nước Việt Nam.
3.3. Cách xây dựng nhân vật trong truyện của Phạm Hổ rất gần gũi với thi pháp xây dựng nhân vật trong
truyện cổ tích dân gian. Nhưng bên cạnh các kiểu nhân vật quen thuộc thường thấy trong cổ tích xưa,
Phạm Hổ sáng tạo một số kiểu nhân vật cổ tích mới: kiểu nhân vật có tài văn chương, kiểu nhân vật “có
đam mê”, nhân vật thiếu nhi. Đặc điểm chung của các nhân vật trong truyện viết cho thiếu nhi của nhà văn
Phạm Hổ là những con người chủ động vượt lên trên hoàn cảnh, ít nhiều được cá tính hóa, nỗi niềm hóa.
Còn các nhân vật thần kì như Bụt, Tiên… hiện lên gần gũi, quen thuộc, bình dị, đời thường.
3.4. Truyện cổ tích hiện đại của Phạm Hổ được trần thuật ở ngôi thứ ba (100% truyện), có 2 truyện xuất
hiện người trần thuật ngôi thứ nhất xưng “tôi” (Hai ông cháu và túp lều dột nát, Hai anh em nhà trăm
mắt), nhưng đó chỉ là thủ pháp dẫn dắt, cách trò chuyện tâm tình giả định với bạn đọc, không phải là
phương thức trần thuật chủ quan. Khảo sát truyện ngắn của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy dẫu là điểm
nhìn trần thuật bên trong hay bên ngoài, nhà văn thích chêm vào những đoạn trữ tình ngoại đề ở cuối mỗi
truyện (22/ 47 truyện) và sử dụng kiểu lời văn nửa trực tiếp (27/47 truyện). Ngoài ra, Phạm Hổ có xu
hướng linh động hóa điểm nhìn trần thuật bên trong các nhân vật. Nhà văn di chuyển điểm nhìn trần thuật
từ nhân vật này sang nhân vật khác nhằm làm nổi rõ cảm xúc, nhận thức, tư duy và cả giọng nói bên trong
của mỗi nhân vật.
3.5. Khác với Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng - những cây bút này khi viết lại truyện cổ tích thường tạo một
giọng kể điềm đạm, bình thản, ung dung của một người lớn đang kể chuyện cho trẻ - Phạm Hổ kể chuyện
cho thiếu nhi bằng giọng của một người rất trẻ. Trẻ nhưng không non, bởi bên cạnh giọng kể của một
người trẻ là giọng triết lí, suy tư sâu sắc và thấm thía.
4. Tìm hiểu đặc điểm truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi nhận thấy những đóng góp không
nhỏ của nhà văn vào mảng văn xuôi Việt Nam hiện đại dành cho thiếu nhi:
4.1. Phạm Hổ đã dựng nên một thế giới thiên nhiên đẹp đẽ được ra đời từ tình yêu thương của con người.
Bài học về tình yêu cây cỏ, tình nhân ái trong truyện của ông có ý nghĩa lớn trong việc bồi dưỡng những
phẩm chất nhân bản cho các thế hệ trẻ thơ.
4.2. Phạm Hổ làm sống lại thế giới cổ tích - một món ăn tinh thần hấp dẫn mà trẻ em lúc nào cũng thích.
Cổ tích mới của Phạm Hổ vừa quen nhưng vừa lạ. Những câu chuyện ấy không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu
thưởng thức của trẻ mà còn đem lại các giá trị thẩm mĩ có khả năng rung động những tâm hồn trẻ thơ.
4.3. So với các cây bút cùng thời, Phạm Hổ đã chọn một lối đi riêng khi ông dành phần lớn tâm huyết để
sáng tác cổ tích mới. Quan trọng là tác giả đã có những cách tân trong lối viết sự tích cho thiếu nhi thời
hiện đại. Đây là một hướng đi cần ghi nhận và gợi mở một khuynh hướng sáng tác cho các nhà văn hôm
nay.
5. Tìm hiểu truyện của Phạm Hổ, chúng tôi cũng có những điều băn khoăn sau:
5.1. So với nhu cầu thưởng thức và sự rộng mở của các phương diện khác nhau trong cuộc sống hiện nay
mà thiếu nhi Việt Nam đang đối diện thì truyện của Phạm Hổ còn hạn chế nội dung về thực tế và về các
mối quan hệ phức tạp nhiều mặt của đời sống, nhất là thiếu tính cập nhật thời sự và tâm sinh lí trẻ em thời
hiện đại.
5.2. Ai cũng biết, yếu tố tưởng tượng vô cùng cần thiết đối với văn học thiếu nhi. Truyện của Phạm Hổ
không thiếu những yếu tố tưởng tượng nhưng vì nhà văn cố bám vào hiện thực để miêu tả, lí giải sự ra đời
của thiên nhiên hoa quả nên sự tung hoành của trí tưởng tượng còn bị hạn chế. Nói cách khác, chuyện
đánh thức tâm hồn bay bổng, kích thích ở các em khát vọng sáng tạo, Phạm Hổ chỉ mới làm được một
phần, phần còn lại sẽ là chuyện để dành cho các nhà văn hôm nay.
5.3. Cổ tích dân gian có mô hình chung vì nó là sản phẩm của thời đại riêng “một đi không trở lại”. Cổ
tích hiện đại cần những cốt truyện vừa giữ được chất cổ tích nhưng cũng vừa đa dạng và sáng tạo hơn.
Làm thế nào mỗi câu chuyện phải là một thế giới có nét hấp dẫn riêng, lôi cuốn riêng đối với bạn đọc
thiếu nhi? Câu trả lời vẫn là: “trông chờ các nhà văn trong tương lai” (Trần Hoài Dương).
6. Từ việc tìm hiểu truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, chúng tôi có những đề xuất nhỏ xem như
những gợi mở cho hướng sáng tác của các nhà văn viết cho thiếu nhi hôm nay:
6.1. Văn học dân gian luôn là một kho tư liệu quý cho các nhà văn học tập và phát huy tính sáng tạo phù
hợp với yêu cầu thưởng thức của mỗi thời đại. Không chỉ riêng truyện cổ tích, các thể loại khác như thần
thoại, truyền thuyết, truyện cười, truyện ngụ ngôn… vẫn còn nhiều khoảng trống hấp dẫn chờ bàn tay làm
mới của các nhà văn.
6.2. “Viết cho trẻ là một bài tập khó” (Phan Thị Vàng Anh). Cái khó nảy sinh khi người cầm bút không
biết đứng ở điểm nào để có thể thuyết phục được trẻ. Không ít nhà văn bắt lấy cảm xúc và tình cảm trong
tuổi thơ của chính mình để sáng tác. Có tác giả đứng trên quan điểm người lớn viết truyện nhằm bảo ban
trẻ… Vấn đề cần thiết là làm thế nào cho trẻ thấy được người viết hiểu thế giới của chúng theo cách của
chúng? Nhà văn cần phải đứng vào vị trí của trẻ để hiểu tất cả những khát vọng cũng như nhu cầu cần
thiết của chúng. Có như vậy, tác phẩm mới thực sự hấp dẫn con trẻ.
6.3. Một tác phẩm hay là tác phẩm mà trong ấy trẻ em bắt gặp cả một thế giới đầy hành động, màu sắc,
âm thanh, sự biến ảo… Trẻ em không thích những trò chơi bày sẵn mà muốn tham gia vào trò chơi ấy,
dẫu chỉ là trong tưởng tượng. Người viết cần bắt đúng tâm lí của trẻ em như tò mò, thích quan sát, nghe
ngóng, hồi hộp, phỏng đoán, phiêu lưu…
6.4. Mỗi tác phẩm viết cho thiếu nhi cần có một đời sống với môi trường thẩm mĩ, đạo đức lành mạnh.
Nhưng tất cả những nội dung giáo dục tích cực ấy phải được chuyển tải một cách không gượng ép. Nhà
văn cần học thái độ tôn trọng bạn đọc thiếu nhi.
7. Trong lúc nghiên cứu, chúng tôi cố gắng đánh giá một cách hệ thống, khách quan và toàn diện mảng
truyện viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ, nhưng chắc sẽ còn nhiều vấn đề cần phải được bàn bạc và suy
nghĩ sâu hơn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A. Li-Kum (2000), Thế giới quanh ta - Kiến thức bách khoa phổ thông dành cho trẻ em, tập một, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
2. An-đéc-xen (2005), Truyện cổ An-đec-xen, Nxb Văn học, Hà Nội.
3. Tạ Duy Anh (2000), Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí, Nxb Thanh niên, Tp.Hồ Chí Minh.
4. Assen Bossev (1995), “Janko - nhạc sĩ và tình hữu nghị”, Tạp chí Văn học 5/1995, tr.47- 48.
5. Nguyễn Nhật Ánh (2005), Truyện cổ tích dành cho người lớn, Nxb Kim Đồng, Tp.Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Nhật Ánh (2007), Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh.
7. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
8. Hoàng Văn Cẩn (2006), Dạy học tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí
Minh.
9. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1, tập 2 (in lần 8), Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
10. Nguyễn Đình Chỉnh (2006), Sư phạm học tiểu học, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh.
11. Vũ Khắc Chương (2000), Nghệ thuật kể chuyện trong tác phẩm Nam Cao, Nxb Văn học, Hà Nội.
12. Chu Xuân Diên, “Truyện cổ tích dưới mắt nhà khoa học”, Tạp chí nghiên cứu văn học dân gian số 11/
2000.
13. Chu Xuân Diên (1995), Thi pháp truyện cổ tích, Nxb Giáo Dục, Tp.Hồ Chí Minh.
14. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình lí luận văn học, phần tác phẩm văn học, Nxb Đại học quốc gia ,
Tp.Hồ Chí Minh.
15. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
16. G.N. Pôxpêlôp (1998), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
17. Lê Đạt, Lê Minh Hà (2006), Truyện cổ viết lại, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh.
18. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
19. Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh.
20. Tô Hoài (1993), “Văn học cho thiếu nhi hôm nay”, Tạp chí văn học số 5/1993, tr.4.
21. Tô Hoài (1998), Tuyển tập văn học thiếu nhi, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội.
22. Tô Hoài (1998), Ba chuyện cổ tích (Đảo Hoang, Nhà Chữ, Chuyện nỏ thần), hai tập, Nxb Kim Đồng,
Tp.Hồ Chí Minh.
23. Phạm Hổ (1962), Vườn xoan, Nxb Văn học, Hà Nội.
24. Phạm Hổ (1982), Những ô cửa những ngả đường, Nxb tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội.
25. Phạm Hổ (1990), Người vợ lẽ, Nxb Tổng hợp, Bình Định.
26. Phạm Hổ (1993), “Làm sao để viết cho các em hay hơn”, Tạp chí văn học số 5/1993, tr.29-31.
27. Phạm Hổ (1994), Lửa vàng lửa trắng lửa nâu, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
28. Phạm Hổ (1995), Cất nhà giữa hồ, Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
29. Phạm Hổ (1995), Tuyển tập Chuyện hoa chuyện quả, Nxb Phụ Nữ, Hà Nội.
30. Phạm Hổ (1998), Lời cầu xin cuối cùng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
30. Phạm Hổ (2000), Chú bò tìm bạn, Nxb Kim Đồng, Tp.Hồ Chí Minh.
32. Phạm Hổ (2001), Nàng tiên nhỏ thành ốc (kịch), Nxb Kim Đồng, Hà Nội.
33. Phạm Hổ (2003), Cây bánh tét của người cô, Nxb Kim Đồng, Tp.Hồ Chí Minh.
34. Phạm Hổ (2005), Chuyện hoa chuyện quả, Nxb Kim Đồng, Tp.Hồ Chí Minh.
35. Mộng Huyền (1996), Truyện cổ tích thế giới chọn lọc, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
36. Trần Mạnh Hưởng (2005), Luyện tập về cảm thụ văn học ở tiểu học, Nxb Giáo dục, Tp.HCM.
37. Hoài Khánh, Nhà thơ Phạm Hổ trong kí ức của tôi, hoaikhanh.vnweblogs.com.
38. Trần Đăng Khoa (tuyển chọn), Tế Hanh (giới thiệu) (1999), Tuyển tập Phạm Hổ, Nxb Văn học, Hà
Nội.
39. Lê Nhật Ký (2005), “Phạm Hổ - người kể chuyện cổ tích về hoa quả”, Thông báo khoa học, ĐH Quy
Nhơn số 5/ 2005, tr.15-18.
40. Lê Nhật Ký (2005), “Phạm Hổ thơ viết cho lứa tuổi nhi đồng”, Thông báo khoa học, Đại học Quy
Nhơn, số 31/ 2005, tr.12-15.
41. Lê Nhật Ký (2006), Phạm Hổ - Một lối đi riêng trong truyện cổ viết lại,
http://www.toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/view.aspn=2314.
42. Viết Linh (2005), H.C. An-đec-xen Người kể chuyện thiên tài (truyện), Nxb Thanh Niên, Tp.Hồ Chí
Minh.
43. Phạm Phương Liên, Thiên nhiên trong thơ viết cho thiếu nhi của Phạm Hổ,
http://vnthuquan.net/diendan/printable.aspx?m=221358.
44. Lê Quang Long - Nguyễn Thị Thanh Huyền (1994), Chuyện lạ có thật về thực vật, Nxb Giáo dục,
Tp.Hồ Chí Minh.
45. Lê Quang Long (2006), Từ điển tranh về các loài cây, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh.
46. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và
giảng dạy, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh.
47. Phương Lựu (1997), Lí luận văn học, tái bản lần thứ 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
48. Lã Thị Bắc Lý (2000), Truyện viết cho thiếu nhi sau năm 1975, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
49. Lã Thị Bắc Lý (2003), Giáo trình văn học trẻ em, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
50. Nguyễn Đăng Mạnh (2002), Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, tái bản lần 3, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
51. M.B.Khrapchenko (2002), Những vấn đề lí luận và phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Đại
học quốc gia, Hà Nội.
52. Gia Mạnh ( 2006), Truyện cổ tích về các loài cây, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
53. Mikhai Ilin (1995), “Tôi đã trở thành nhà văn viết cho thiếu nhi như thế nào?”, Tạp chí văn học
5/1995, tr.50.
54. Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển (2004), Văn miêu tả và kể chuyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
55. Tăng Kim Ngân (1994), Cổ tích thần kì người Việt - đặc điểm cấu tạo cốt truyện, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội.
56. Nguyên Ngọc (1986), “Phạm Hổ với Chuyện hoa, chuyện quả của anh”, tham luận hội thảo về ba nhà
văn chuyên viết cho thiếu nhi Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Phạm Hổ tại Hà Nội năm 1986.
57. Nguyên Ngọc (1995), “Viết cho trẻ em hôm nay càng khó hơn”, Tạp chí văn học số 5/1993, tr.3- 4.
58. Hữu Ngọc (dịch) (1983), Truyện cổ Grim, Nxb Văn học, Hà Nội.
59. Mai Ngọc (tuyển) (2005), Truyện cổ tích hay nhất thế giới viết cho thiếu nhi, Nxb Văn hóa thông tin,
Hà Nội.
60. Trần Đức Ngôn (1996), Văn học thiếu nhi Việt Nam, Nxb Trường ĐHSP I, Hà Nội.
61. Vương Trí Nhàn (1980), Sổ tay người viết truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam,
Hà Nội.
62. Nhiều tác giả (1993), “Văn học cho thiếu nhi trên thế giới”, Tạp chí văn học số 5/1993, tr.60-63.
63. Nhiều tác giả (1999), Nghệ thuật kể chuyện cho trẻ, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
64. Nhiều tác giả (2001), Hoàng tử mặt trời: Trên những nẻo đường cổ tích, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
65. Nhiều tác giả (2002), Văn học và phương pháp cho trẻ tiếp xúc với văn học, Giáo trình đào tạo giáo
viên THSP mầm non, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
66. Rô-đa-ri Gian-ni (2000), Truyện cổ tích hiện đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.
67. Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
68. Trần Đình Sử (1993), Một số vấn đề thi pháp học hiện đại, tài liệu BDTX chu kì 1992-1996 cho giáo
viên văn cấp 2 phổ thông, Nxb Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội.
69. Phạm Bá Tân (2004), “Đóng góp của Phạm Hổ cho một thể loại văn học thiếu nhi”, Nghiên cứu văn
học số 9/2004, tr.42-46.
70. Vân Thanh (1982), Truyện viết cho thiếu nhi dưới chế độ mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
71. Vân Thanh, Nguyên An (2002), Bách khoa thư văn học thiếu nhi Việt Nam, tập một, Nxb Từ điển
bách khoa, Hà Nội.
72. Phương Thảo (tuyển) (2003), Truyện cổ tích về những loài hoa, Nxb Giáo dục, Tp.HCM.
73. Nguyễn Quang Thân (1993), “Văn học hành trang đường đời cho trẻ thơ”, Tạp chí văn học số 5-1993,
tr.6-7.
74. Phong Thu (2005), Tuyển tập truyện viết cho thiếu nhi từ sau cách mạng tháng 8, Nxb Giáo dục,
Tp.Hồ Chí Minh.
75. Phong Thu (2006), Truyện ngắn dành cho tuổi nhi đồng, Nxb Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh.
76. Nguyễn Huy Tưởng (1966), Tìm mẹ, Nxb Văn học, Hà Nội.
77. Nguyễn Huy Tưởng (2004), Truyện viết cho thiếu nhi, Nxb Thanh Niên, Tp.Hồ Chí Minh.
78. Tzvetan Todorov (2005), Thi pháp văn xuôi, Nxb ĐH sư phạm, Hà Nội.
79. Hồng Vân (1996), Chuyện cổ tích cho em, Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh.
80. Véra C. Barclay (1993), “Truyện cho trẻ em”, Tạp chí văn học số 5/1993, tr.49.
81. V.IA. Prốpp (2003), Tuyển tập V.IA.PROPP, tập 1, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
PHỤ LỤC 1
CÁC TÁC PHẨM CỦA PHẠM HỔ ĐƯỢC KHẢO SÁT.
1. Những bàn tay nhiều ngón
2. Cây chanh quả vàng
3. Cây một quả
4. Tiếng sáo và con rắn
5. Quả tim bằng ngọc
6. Những con ốc kì lạ
7. Cái ô đỏ
8. Ruột vàng hạt lắm
9. Em bé và Rồng con
10. Chuyện nàng Mây
11. Những thanh gươm xanh
12. Con cua lửa
13. Cô bé và ông Táo
14. Ba chiếc áo ba màu
15. Em bé hái củi và chú hươu con
16. Tép lên cây
17. Một người con có hiếu
18. Chim Lưu Ly
19. Cái kéo kì lạ
20. Cô em gái biết lo xa
21. Người ăn trộm đi nhầm nhà
22. Cô gái thêu tài và chàng trai dệt giỏi
23. Hai ông cháu và túp lều dột nát
24. Mùi hương kì lạ
25. Những bông hoa hình mũi kim
26. Ngôi đền đỏ
27. Những người con hiếu thảo
28. Hai vợ chồng và con voi quý
29. Những bông hoa mới ở Hồ Thơm
30. Cô gái bán trầm hương
31. Dòng sữa của người chị
32. Màu áo, màu hoa
33. Cơm cho chó ăn
34. Ăn lá mà nhả ra vàng
35. Hai anh em nhà trăm mắt
36. Người mẹ nghèo ít gạo nhiều con
37. Cây lạ quả ngon
38. Em bé hay cười
39. Cây đàn và bầu rượu của người thầy
40. Quả có nhiều khía
41. Của quý trong lòng đá
42. Những quả ổi biết kêu
43. Cái áo choàng lông cáo
44. Khóm dứa lá không gai
45. Chọn rể quý
46. Hạt ngày, hạt đêm
47. Bài thi nhập học
PHỤ LỤC 2
KHẢO SÁT MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHẠM HỔ THEO MÔ HÌNH CẤU TẠO CỐT TRUYỆN.
Truyện Nhân vật gặp tai Nhân vật gặp gỡ Nhân vật vượt Kết thúc bằng
họa hoặc thử lực lượng thần kì. qua tai họa, thử sự hóa thân.
thách. thách.
(1) (2) (3) (4)
- Cuộc thi tìm - Giống cây - Cây chuối. Những
giống cây mới. được đứng giải bàn tay
- Con chim ác mổ nhất. nhiều
phá quả quý. ngón
- Giặc dữ kéo tới, - Quất xin vua đúc - Đường roi thứ - Vua ban cho Cây
tên tướng giặc có cho một cây roi sắc ba cắt ngang cổ Quất cây chanh
phép tinh. ba cạnh nhỏ như giặc. chanh quả quả
- Quất lên đường cây mây nhưng dài vàng. vàng
đuổi giặc. bằng cây tre. - Dân gian lấy
tên Quất đặt * Vua ở đây là hiện
cho cây => thân cho lực lượng
Cây quất. thần kì vì vua vốn
sở hữu một cây
chanh quả bằng
vàng.
- Anh chàng trẻ - Anh nằm mơ gặp - Sau ba năm, - Anh đem cây Cây
tuổi yêu cô gái bà cụ áo xanh chỉ anh hái được một quả về một quả
chăn tằm nhưng cho đi tìm loài quả quả quý đem trồng, quả chín
bố mẹ cô gái hạnh phúc làm tan về. vàng ươm ra
không chấp nhận. đi lòng hờn giận. - Cha mẹ cô gái trăm quả,
nghìn quả. chấp nhận mối
=> Cây mơ. duyên của hai
người.
- Con rắn lục yêu - Chàng tìm gặp - Con rắn => Hoa thiên Tiếng
người chồng nên một ông cụ nổi không nhận ra lý. sáo và
tiếng là tài giỏi người chồng con rắn biến thành hình
người vợ để lừa trong việc tìm ra nên hiện
chàng. chuyện phải trái ở nguyên hình.
trên đời. - Vợ chồng
- Ba cuộc thử sống bên nhau
thách. hạnh phúc.
- Em bé người ở - Chim họa mi nói - Hai vợ chồng - Mẹ con em Quả tim
thả con chim họa tiếng người. nhà giàu chết. bé chết hóa bằng
mi của lão nhà thân thành quả ngọc
giàu. loòng boong.
- Anh học trò nhà - Người thầy cho - Cha con lão Những - Hai người
giàu ngu dốt ganh những con ốc roi nhà giàu và con ốc học trò nghèo
tị với hai người thần kì: học giỏi thì ông vua ác kì lạ chết hóa thân
học trò nghèo nó sáng lên như chết. thành cây roi.
thông minh nên đèn và giúp cho - Hai người học
tìm mọi cách hãm thành đạt. trò nghèo thành
hại bạn. đạt, lấy nhau
sống hạnh
phúc.
- Búp bị liệt, Cành - Cành gặp Bụt và - Búp và Cành - Bụt cầm ô đỏ Cái ô
muốn em hết xin Bụt giúp. được lành lặn. làm ra hoa râm đỏ
bệnh. - Bụt thử thách bụt.
- Cành lên núi tìm Cành may cái ô đỏ
Bụt. và đổi chân cho
em.
- Lũ lụt, bão, đói - Bí và Mít gặp bà - Mít vì siêng - Quả mít. Ruột
rét. tiên cho quả lạ. năng, hiền lành vàng
- Bí và Mít đi tìm nên có giống hạt lắm
thức ăn. hạt trồng ăn
ngon ngọt.
- Bí vì lười - Quả bí ngô.
biếng nên chỉ
có giống hạt ăn
có mùi hôi
nồng.
- Tên ăn cướp và - Bà Tiên ở núi - Rồng con - Cây nhãn. Em bé
con quạ tinh cướp Ngũ Sắc chỉ : chôn sáng mắt. và rồng
con mắt của rồng. mắt rồng một gang con
- Em bé phải tìm tay, mười ngày
lại đôi mắt cho tưới sữa, mười
rồng con. ngày tưới mật.
- Nàng Mây hiền - Bà cụ trông vườn - Nàng Mây Chuyện - Quả bông
lành bị công chúa cho lời khuyên. hoàn thành nàng vải.
Thanh Hoa ganh - Ốc nhỏ, nhện nhiệm vụ và trở Mây
ghét. nâu, nhện ông, ong nên xinh đẹp
- Ba thử thách: chúa và ong vàng hơn.
làm bèo đen thành giúp nàng Mây. - Công chúa vì
trắng như mây, tức giận nên
chắp rễ bèo thành càng xấu xí và
sợi chỉ dài, nhét chết.
cuộn chỉ dài vào
vỏ quả hồng.
- Con quái vật đầu - ông Táo. - Quái vật bị - Cô bé chết Cô bé
người mình báo tiêu diệt nhưng hóa thân thành và ông
và đầu người cô bé chết. hoa mai vàng. táo
mình trăn xuất
hiện quấy nhiễu
cuộc sống người
dân.
- Cô bé thay cha
nhận lời giúp đỡ
bà con làng xóm
trừ quái vật.
- Lão đồ tể muốn - Chú hươu cứu - Lão đồ tể - Hươu chết Em bé
bắt chú hươu, sống em bé. chết. trong chờ đợi hái củi
người bạn của em * Hươu là lực - Em bé trưởng và hóa thân và chú
bé nghèo. lượng thần kì vì có thành, lập gia thành cây hoa hươu
- Cậu bé bị lão khả năng cứu sống đình sống hạnh đại. con
chủ truy đuổi và em bé, hiểu được phúc.
tìm cách giết hại. tiếng người.
- Tướng giặc hung - Năm anh chị em - Tên tướng - Tên cô em Tép lên
ác giết hại người tài giỏi: anh cả rèn giặc bị tiêu thứ ba đặt tên cây
dân vô tội và anh giỏi, anh hai giỏi diệt. cho thứ quả kì
cả. thơ văn, cô em thư diệu: quả bưởi.
- Bốn anh quyết ba khâu vá giỏi,
tâm giết giặc. anh tư có tài bơi
lội, em út tài bắn
giỏi.
- Chú bé muốn - Ông lão bán kéo - Em bé cắt - Cây hoa cải Cái kéo
mua cái kéo cắt và lời dặn thần kì. được nắng sưởi vàng. kì lạ
nắng để sưởi ấm ấm cho bà và
cho bà qua mùa mọi người.
đông lạnh giá.
(1)Lời thách cưới: (1) Én dẫn đường, Cô gái (1) Cô gái nhận
dệt mười thước chàng trai gặp bà thêu tài lời lấy chàng
lụa không một chỗ Tiên lo việc thêu và trai.
đứt nối và tìm thùa. chàng
nhuộm một màu trai dệt
chỉ hồng trăm giỏi
năm.
(2) Tên vua độc (2) Mười bà Tiên ở (2) Tên vua - Cây hoa đào.
ác bắt cô vợ vào rặng núi Phượng, độc ác chết,
cung. Én sống lại. người vợ sống
lại.
(1) Ông lão già (1) Thần Đất hứa (1) Chú bé Hai ông
sống một mình cô giúp đỡ. nghèo xuất cháu và
đơn nghèo khổ hiện, hai ông túp lều
mong muốn có cháu sống yêu dột nát
người trò chuyện. thương gắn bó.
(2) Nạn đói xảy (2) Chú bé tìm - Cây tre.
ra, hai ông cháu được thức ăn
chia nhau tìm cái đem về thì ông
ăn. đã mất.
- Cô Mộc xinh - Đất, đá, con dơi, - Anh Trà tiêu - Thần Trang Mùi
đẹp bị quỷ Bùn ngôi sao giúp đỡ diệt quỷ và cứu Ly. hương
Đen bắt, anh Trà cô Mộc. được cô Mộc. - Cây hoa mộc. kì lạ
lên đường cứu vợ.
- Cuộc thi chọn - Chàng trai may - Cả hai cùng - Thần Trang Những
người may tài tài và cô gái may giải nhất và Ly. bông
nhất. giỏi. thành vợ - Cây hoa cỏ hoa
chồng. may. hình
mũi kim
- Hai chị em mồ - Cô em trao cho - Hai chị em Những
côi hát hay bị con chị túi thần kì làm sống lại. bông
trai vị quan to háo tên con quan hoa mới
sắc bắt giam ở hồ không thể đụng - Hoa sen ở hồ
Thơm. vào người. Thơm
- Bà chúa hồ
Thơm.
* Một số lưu ý:
+ Nếu nhân vật chính là vị thần thì không có giai đoạn 2, nếu nhân vật chính là kiểu nhân vật tài giỏi thì
họ chính là lực lượng thần kì.
+ Lực lượng thần kì có thể hiện diện trong nhiều tư cách để giúp đỡ nhân vật chính, có khi chỉ là người
bình thường nhưng sở hữu trí tuệ của thần thánh.
+ Giai đoạn 3 sau khi lực lượng ác bị tiêu diệt, có khi nhân vật chính sẽ chết nhưng đó là cái chết của
chiến thắng, nên nhân vật sẽ được hóa thân để có thể sống muôn đời.
+ Giai đoạn cuối: Truyện kết thúc bằng cách ấy tên nhân vật chính đặt cho cây hoặc hoa. Trong nhiều
chuyện, nhân vật không chết, không hóa thân mà thần Tiêu Ly, thần Trang Ly (thuộc gia phả thần Cây)
xuất hiện và tạo ra giống cây mới dựa trên nguyện vọng của các nhân vật chính.
+ Trong một vài câu chuyện, nhân vật sau khi trải qua thử thách lần một (1) lại tiếp tục gặp thử thách lần
hai (2). Theo cách gọi của V. Prốp thì truyện ấy có hai tiến trình.
PHỤ LỤC 3
THỐNG KÊ VỀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT, BÌNH LUẬN NGOẠI ĐỀ VÀ LỜI VĂN NỬA
ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
LỜI VĂN
BÌNH LUẬN
STT TRUYỆN
NỬA TRỰC
BÊN
BÊN
LINH
NGOẠI ĐỀ
TIẾP
NGOÀI
TRONG
ĐỘNG
TRỰC TIẾP TRONG TRUYỆN VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA PHẠM HỔ.
Những bàn tay 1 X X X nhiều ngón
Cây chanh quả 2 X X vàng
3 X X Cây một quả
Tiếng sáo và 4 X X con rắn
Quả tim bằng X X X X 5 ngọc
Những con ốc 6 X X kì lạ
7 X X X Cái ô đỏ
Ruột vàng hạt 8 X X lắm
Em bé và Rồng 9 X X con
Chuyện nàng 10 X X X Mây
Những thanh 11 X X gươm xanh
12 X Con cua lửa
Cô bé và ông 13 X Táo
Ba chiếc áo ba X 14 màu
Em bé hái củi
15 X X X X và chú hươu
con
16 X X Tép lên cây
Một người con 17 X X X X có hiếu
18 X X Chim Lưu Ly
19 X X Cái kéo kì lạ
Cô em gái biết 20 X lo xa
Người ăn trộm 21 X đi nhầm nhà
Cô gái thêu tài
22 X X X X và chàng trai
dệt giỏi
Hai ông cháu
X X 23 và túp lều dột
nát
Mùi hương kì 24 X X X lạ
Những bông
25 X X hoa hình mũi
kim
X 26 Ngôi đền đỏ
Những người X 27 con hiếu thảo
Hai vợ chồng 28 X X X và con voi quý
Những bông
29 X X X hoa mới ở Hồ
Thơm
30 X X X Cô gái bán
trầm hương
Dòng sữa của 31 X X người chị
Màu áo màu X 32 hoa
Cơm cho chó X 33 ăn
Ăn lá mà nhả 34 X X ra vàng
Hai anh em 35 X X nhà trăm mắt
Người mẹ
36 X nghèo ít gạo
nhiều con
Cây lạ quả 37 X X ngon
Em bé hay X X 38 cười
Cây đàn và
39 X X bầu rượu của
người thầy
Quả có nhiều
40 X khía
Của quý trong
lòng đá 41 X X X X
Những quả ổi
42 X X biết kêu
Cái áo choàng
lông cáo 43 X X X
Khóm dứa lá
X X 44 không gai
Chọn rể quý 45 X X
Hạt ngày hạt
đêm 46 X X
Bài thi nhập
X X X 47 học
TỔNG 20/47 27/47 6/47 22/47 27/47
PHỤ LỤC 4
HỒI ỨC TUỔI THƠ
Hồi còn bé, lắm khi mùa hè chưa về, chúng tôi, lũ nhóc trong xóm, đã có ý mong chờ các cô ấy đến, các
cô bán xu xoa ấy mà!
Và khi nghe có tiếng gọi ở cổng trước hay ở phía sau nhà "Xu xoa ơi! Xu xoa!" là mấy anh em chúng tôi
mừng rơn, chạy đi xin tiền ăn xu xoa. Nhưng cũng đôi khi, mùa hè đến rồi, mà chẳng thấy bóng dáng cô
bán xu xoa đâu cả. Xu xoa có lẽ là món ăn ngon nhất và rẻ nhất trong mấy tháng hè nóng bức. Và hình
như trời sinh ra các cô ấy để đi bán xu xoa. Tôi chưa hề thấy trong suốt tuổi nhỏ của mình một người đàn
ông nào đi bán xu xoa cả. Chỉ lác đác có vài bác gái, tuổi không cao lắm, cũng đi bán xu xoa thôi.
Bây giờ nhớ lại tôi mới đoán là, đi bán xu xoa, cần nhất là phải có hai bàn tay thật mềm, thật dẻo.
Mà đàn ông thì làm sao có được đôi bàn tay mềm dẻo như các cô. Buổi trưa hôm ấy, mấy anh em chúng
tôi đang nằm ngủ lơ mơ trên cái chõng lớn kê gần ngay bên cửa sổ thì bất ngờ em gái tôi bỗng chồm dậy,
lay lay tay tôi và bảo, vẻ xúc động:
- Anh Mười ơi! Nghe kia kìa!
Tôi chồm dậy theo nó và hướng tai ra phía cổng trước nhà tôi. Những tiếng "loách - xoách! loách -
xoách" từ phía đó vẳng đến nghe rất rõ. Đúng là tiếng dao đang cắt xu xoa! Cả bốn anh chị em chúng tôi
cùng kéo nhau chạy ra ngõ giữa trời nắng rồi rẽ vào cái đường luồng nhà bác Trảy... Đường luồng nhà
bác Trảy gần như suốt ngày được bóng tre che mát. Cô bán xu xoa đã có mặt ở đó từ lúc nào. Vây quanh
cô đã có bốn năm người, con nít có, người lớn có người đang bưng bát xu xoa ăn, người đang đợi...
Gánh hàng cô bán xu xoa thật đơn giản, gọn gàng. Nhưng không phải là nhẹ đâu nhé. Tôi đã có lần thử
nhấc lên mà không nhấc nổi. Trong cái quang đầu gánh bên này là một cái nồi bầu bằng đất nung chín,
nửa dưới chín tím, nửa trên chín đỏ. Hai phần ba cái nồi bầu bầu đựng nước trong veo, trong đó khi dỡ
các nắp ra sẽ thấy nổi lơ lửng, những tảng xu xoa mầu trắng đục. Trong cái quang đầu gánh bên kia là
một cái thúng, to hơn cái nồi bầu đựng xu xoa một chút. Trong cái thúng lại có một cái chậu đựng nước,
trên mặt nước nổi lềnh bềnh đoạn lá chuối non cho nước đỡ sóng sánh khi gánh đi. Trên mặt thúng là
một cái mẹt, và chung quanh là những cái bát nằm úp sấp trông rất ngoan ngoãn. Kìa cô bán xu xoa đang
một tay cầm cái tô và con dao, một tay ngửa ra, chọc xuống nước để rình đón lấy một tảng xu xoa vui vẻ
trôi nằm trong lòng bàn tay cô bán xu xoa. Một tảng, hai tảng rồi ba tảng. Những tảng xu xoa rời khỏi
mặt nước nằm rung nhẹ trong lòng bàn tay trắng muốt của cô bán xu xoa, sung sướng như những đứa bé
ngụp lặn ở dưới nước, được trồi người lên đứng thở không khí một cách thoải mái và hứng thú. Bàn tay
cô bán xu xoa vừa thả mấy tảng xu xoa vào lòng cái tô, đã nhanh nhẹn cầm lấy con dao sắc và nhọn
chém những nhát thật nhanh, thật gọn và rất dứt khoát vào các tảng xu xoa, tiếng "loách xoách!" lập tức
nổi lên. Con dao như bay múa nhìn thật vui và đẹp mắt.
Và lạ lùng chưa, mấy tảng xu xoa vừa trắng đục đã biến ra thành rất nhiều mảnh xu xoa bé nhỏ nhìn
trong suốt tưởng như có thể nhìn từ bên này sang bên kia được. Cô bán xu xoa bây giờ mới đặt nhanh
con dao nhỏ lên mặt cái mẹt rồi đưa tay mở cái nắp hũ đựng đường mật. Từ trong lòng hũ nhô lên hiện ra
một cái vồ con bằng gỗ bé tẹo... chung quanh cái vồ con ấy lai láng những mật đường; chúng tụ lại, chảy
thành một dòng mật mầu vàng óng như cánh kiến. Cô bán xu xoa lại khéo léo dùng cái vồ rải mật lên tô
xu xoa, vẽ những vòng tròn lớn, nhỏ rồi những đường dài ngoằn ngoèo nhìn rất lạ mắt. Nhìn tô xu xoa đã
thấy muốn kề môi húp luôn. Phải, ăn xu xoa người ta không cần đến thìa, dĩa gì cả, cứ bưng mà húp dần
bát xu xoa cho đến hết. Nhìn cách mọi người ăn xu xoa thật là vui, ai cũng như biến thành trẻ con: mật
đường cứ bám lấy quanh mồm, già trẻ đều phải thè lưỡi ra liếm quanh môi cho sạch. Mật đường có khi
dính cả vào râu các cụ già. Có cụ ăn xong phải xin cô bán hàng một tô nước để rửa râu cho sạch. Xu xoa
mát và thơm. Hương vị có thoảng một chút mùi tanh rất quen thuộc và hiền lành của biển.
Mọi người đang vui vẻ ăn xu xoa, bỗng có tiếng hát trong cổng nhà bác Trắc vẳng ra:
“Xu xoa ít vốn nhiều lời
Anh về bỏ vợ, theo người bán xoa”.
Mọi người cùng cười ồ cả lên.
Cụ già lớn tuổi nhất trong đám ăn xu xoa liền cất giọng hỏi:
- Đứa nào hát đó? Có giỏi thì ra đây hát cho cô bán xoa nghe luôn.
Một anh thanh niên cao lớn từ trong ngõ nhà bác Trắc đi ra. Anh liền hò lên một lần nữa:
“Xu xoa ít vốn nhiều lời
Anh về bỏ vợ, theo người bán xoa”.
Cô bán xoa liền nhoẻn miệng cười rồi nói luôn:
- Chưa vợ thì còn theo được chứ có vợ rồi thì không ai cho theo đâu! Đừng có mà hòng!
Mọi người lại cười ồ lên lần nữa. Đấy, ăn xu xoa cạnh cái ngon, còn có những câu vui như vậy đó. Làm
sao xa quê mà không nhớ xu xoa! Cũng các cô xu xoa kể chuyện cho nghe thì để có xu xoa cho các cô
gánh đi bán ở các làng gần biển, phải có người đi ra biển, lặn lội đi vớt những đám rong biển tên gọi là
rau câu. Và vì công việc nặng nhọc, người đi vớt rau câu, phần lớn là đàn ông...
Sau này lớn lên, sống xa làng quê, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nhớ đến cái món xu xoa được ăn dưới
bóng mát các lùm tre, buổi trưa xế, hiu hiu có ngọn gió biển từ xa thổi về.
Chúng tôi lại được ăn một thứ xu xoa cao cấp tên gọi đông sương. Vâng, đông sương là từ xu xoa, người
ta tinh chế ra. Đông sương ăn cũng rất ngon và rất sang. Nhưng theo tôi nó thua xu xoa ở cái chỗ, ăn
đông sương không còn thấy thoảng cái mùi tanh rất quen thân của biển, không được có dịp để nhớ lại
những người đàn ông đi vớt rau câu ở ven biển và các cô gái làng quê gánh xu xoa đi bán xu xoa có đôi
bàn tay mềm mại, trắng muốt cùng tiếng loách xoách, loách xoách vang lên dưới các lùm tre...
Và cuối cùng là câu hát:
“Xu xoa ít vốn nhiều lời
Anh về bỏ vợ, theo người bán xoa”.
mà ở quê tôi, hầu như ai ai cũng thuộc.
Nửa đêm tỉnh giấc. Tôi không còn nhớ rõ lần ấy có phải đúng là lần đầu tiên tôi ra ngủ trên bãi biển Quy
Nhơn hay không. Chỉ biết chắc chắn đó là lần đầu tiên giữa đêm khuya, tôi đã thức giấc một mình trước
biển. Đêm ấy tôi ôm cái chiếu con được cuộn tròn đi theo anh Tề. Anh Tề làm thợ ở một ga-ra ô-tô gần
đấy và rất quen thân với tôi.
Chúng tôi ra hơi muộn. Tôi phải học bài cho xong, mùa thi sắp tới. Anh Tề phải thức làm thêm vì có một
cái xe con cần phải sửa xong gấp. Phần lớn những người ra ngủ biển vẫn còn thức.
Tiếng rao "Ai đậu phộng rang!". "Ai chè đỗ đen!" nổi lên ở đây, ở kia giọng con gái, con trai xen lẫn.
Đậu phộng rang thường được gói vào trong một cái bao giấy cuộn tròn giống hình một con ốc nhọn lớn.
Chè đỗ đen có pha tí gừng cay cay, thơm thơm, ngồi trên cát, có gió thổi lộng, không hiểu sao ăn thấy
ngon hơn ở nhà rất nhiều.
Tôi trải chiếc chiếu nhỏ bên cạnh chiếc chiếu anh Tề. Cát trắng chỉ đợi có thế. Cứ trải chiếu xuống là đã
thấy cát tràn vào ở bốn góc chiếu. Hình như cát cũng thích được ngồi, được nằm trên chiếu!
Nhiều tốp trẻ bắt còng đêm, đang xách đuốc đuổi theo những con vật bé bỏng hay hoảng sợ, nhất là khi
thấy có ánh lửa. Chúng gọi nhau, la hét ầm ỹ. Thỉnh thoảng lại reo to lên khi bắt được một chú còng.
Anh Tề nằm xuống một lúc là ngủ say. Tôi ngủ sau anh nhưng cũng chẳng biết rõ là sau bao lâu. Tôi giật
mình thức giấc. Điều đầu tiên tôi cảm nhận được là gió đang thổi mát bên trên người tôi và hình như chỉ
có mình tôi thức dậy.
Tôi nằm im nhắm mắt mà vẫn nghe thấy được cái trống trải, vắng lặng kỳ lạ ở quanh mình. Chính cái
trống trải, vắng lặng ấy lại làm tôi tỉnh ngủ hẳn. Tôi từ từ ngồi dậy.
Dưới kia, cách tôi chừng vài chục bước, những con sóng vẫn ra ra, vào vào, hết xuống lại lên và vẫn vỗ ì
ầm lúc to, lúc nhỏ... Gió từ ngoài khơi xa lồng lộng thổi vào nghe rõ hơn, như thấy được cả hình dáng
của luồng gió chạy. Những cây phi lao, cây dừa ở phía trong kia, sát đường xe chạy, ngọn đong đưa, cây
này reo, cây kia múa... Trên khoảng không vốn đã cao rộng, giờ này như càng kéo lên cao, nên càng thấy
vời vợi bao la... Trên đó, những vì sao vẫn đang nhấp nháy như đang bận nghĩ điều gì... Thì ra ban đêm,
chỉ có con người ngủ, còn vạn vật đều thức.
Tôi bỗng cảm thấy hơi buồn và rờn rợn...
Tất cả những gì gần gũi sống động, tiếng rao bán đậu phộng, chè đỗ đen, tiếng đám trẻ reo bắt còng đêm
mà tôi vừa thấy, vừa nghe cách đây chẳng bao lâu cả, lúc này đều như đã lùi đến tận đâu đâu, xa lắm,
không thể nào với tới được nữa. Tất cả đều lại như chưa từng có, hoặc đều như đã chết hết cả rồi...
Tôi càng thấy rợn hơn.
Tôi vội đưa tay sờ lấy vai anh Tề. Vai anh âm ấm. Lập tức tôi thấy đỡ sợ hẳn đi và yên tâm trở lại. Tôi lại
ngồi im, lắng nghe tiếng sóng, tiếng gió. Tôi chợt cảm nhận ra một đôi điều mới khác...
Hình như ngoài những gì tôi thường thấy, thường nghe, còn có những gì khác nữa mà chỉ lúc này sóng
mới tâm sự, gió mới thầm thì... Khơi gợi biết bao là kỷ niệm... với chỉ những ai đang thức giữa đêm
khuya. Mà hiện giờ chỉ có tôi đang thức giấc giữa đêm khuya.
Tôi bỗng cảm thấy hay hay và vui vui. Người tôi cứ lâng lâng như có thể bay mãi lên cao, có thể tan ra,
tan ra hòa vào trong trời, trong biển... Cùng một lúc, tôi cảm đoán rất rõ điều này: Nếu bây giờ tất cả mọi
người đang ngủ vùng thức dậy, thậm chí chỉ cần một mình anh Tề thức dậy, tôi sẽ lập tức không còn
được những cảm giác rất mới lạ, rất thú vị mà tôi vừa nói trên...
Sau này, sống nhiều năm tháng hơn trong đời một con người, mỗi lần nhớ lại cái đêm ngủ trên bãi biển
Quy Nhơn, giữa khuya thức giấc một mình, tôi lại nghiệm ra rằng: con người rất sợ cô đơn, thậm chí có
thể chết vì cô đơn, nhưng cũng có những giây phút con người rất cần đến sự cô đơn, và thích ngồi một
mình, đi dạo một mình, ngủ một mình... để có được cảm giác mình nghe được đất trời và những gì cao
lớn rõ hơn, và cũng từ đó, tự nghe thấy được mình rõ hơn...
Gió biển Quy Nhơn. Lúc còn bé, tôi nghe mọi người thường gọi Quy Nhơn là Giã. Xuống Quy Nhơn thì
nói là xuống Giã. Thuở ấy, tôi học ở trường làng. Lâu lâu tôi mới được theo má tôi đi xuống Giã một
chuyến. Mỗi lần được đi tôi vui sướng vô cùng.
Chúng tôi thường đi xe ngựa. Chiếc xe nhìn khá cao so với tôi, lại cứ hơi chúc nghiêng ra phía sau nên
người lên xe ngồi cứ giơ tay bíu lấy một chỗ nào đó ở phía trước, cho khỏi bị tụt lùi. Từ Bình Định
xuống Giã, tôi thấy khá xa. Người đánh xe ngựa lúc lúc lại tróc tróc lưỡi để giục ngựa chạy nhanh và
thỉnh thoảng lại cho cái gốc của cây roi mây chạm vào cái bánh xe đang lăn gấp. Lập tức những tiếng
"lách cách, lách cách" kêu rất đều, rất to vang lên nghe thật vui. Người đi phía trước xe vội vàng dạt
ngay qua một bên, nhường đường cho xe chạy.
Lần ấy xe chúng tôi vừa chạy đến Phủ Mới thì ai đó ngồi ở phía trước bỗng thốt lên:
- Tới đây thì nghe thấy gió dưới Giã thổi lên rồi đó. Mát chưa!
Tôi và mọi người trên xe đều thấy mát. Và chú ý nhìn, tôi thấy tóc ai cũng bay phơ phất ra phía sau, nhìn
rất hay. Mấy phút sau, lại cũng cái giọng lúc nãy cất lên:
- Bây giờ cứ thử liếm môi mà coi! Có phải thấy mằn mặn không? Muối trong gió biển đó!
Tôi và mọi người lại liếm môi và thấy có vị mặn thật. Tôi càng thích và phục người nào đó đã mách
chúng tôi - mách những điều tuy giản dị mà lại rất thú vị kia.
Từ đó về sau, mỗi lần xuống Giã, tôi lại mong chóng đến Phủ Mới để được hưởng cái mát của ngọn gió
biển từ Giã thổi lên. Tôi có cảm giác như ngọn gió từ dưới đó đã cố tình chạy lên tận đây để đón mừng
tất cả những ai xuống thăm Giã...
Về sau lớn lên cũng có khi tôi nghĩ: chưa chắc đến Phủ Mới, người xuống Giã mới đón nghe được làn
gió mát kia. Mà có thể sớm hơn cũng nên. Mặc dù thế, tôi vẫn cứ muốn nghe theo đúng cái lời mách mà
tôi đã được biết lần đầu lúc còn bé và vẫn cứ muốn xem như là phải đến Phủ Mới nghe thấy cái mát của
ngọn gió từ Giã chạy lên.
Sau này tôi được xuống ở hẳn dưới Quy Nhơn để ăn học. Suốt ngày đêm tôi được sống trong ngọn gió
biển và nghe tiếng sóng vỗ lúc nhỏ, lúc to vì nhà tôi ở ngay sát biển.
Tôi đã sống rất nhiều năm trong ngọn gió ấy, với rất nhiều kỷ niệm, vui cũng có, buồn cũng có...
Nhưng điều rất lạ là bây giờ, cứ mỗi lần nhắc đến gió biển Quy Nhơn, không hiểu sao tôi vẫn cứ nhớ đến
cái cảm giác lâng lâng ở trong người khi gặp được ngọn gió từ dưới Giã chạy lên đến tận Phủ Mới để
đón tất cả những ai xuống thăm Giã. Và mãi mãi, tôi thầm cảm ơn ai đó đã mách cho tôi được biết cái
điều rất bình thường nhưng lại rất gợi cảm này.
Chắc người đó cũng không hề ngờ rằng trong đời mình với một câu nói tưởng như không đâu đã gieo
vào lòng đứa bé là tôi, một kỷ niệm suốt đời nhớ mãi…
Phạm Hổ