BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

---***---

NGUYỄN THỊ BÍCH DIỆP

DỊCH VỤ CẢNG BIỂN VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ CẢNG BIỂN

Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC

TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế

Mã số:

60.31.07

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NHƯ TIẾN

HÀ NỘI 6-2005

MỤC LỤC

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CẢNG BIỂN VÀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN.................. 1

1.1 Khái quát chung về cảng biển .......................................................... 1

1.1.1 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của cảng biển ............. 1

1.1.2 Phân loại cảng biển .......................................................... 2

1.1.3 Trang thiết bị và các chỉ tiêu hoạt động của cảng biển ...... 3

1.1.4 Hệ thống cảng biển Việt nam ............................................ 5

1.2 Các dịch vụ cảng biển ...................................................................... 9

1.2.1 Khái niệm dịch vụ cảng biển ............................................ 9

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ cảng biển ....................................... 15

1.2.3 Phân loại dịch vụ cảng biển .............................................. 16

1.2.4 Vai trò, tác dụng của dịch vụ cảng biển ............................ 17

1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ cảng biển của một số nước trên thế

giới và khu vực ...................................................................................... 20

1.3.1 Singapore ........................................................................... 20

1.3.2 Trung Quốc ........................................................................ 25

1.3.3 Thái Lan ............................................................................. 29

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CẢNG BIỂN Ở VIỆT NAM ......................... 31

2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ở cảng

Việt Nam ......................................................................................... 31

2.1.1 Pháp luật quốc tế ............................................................... 31

2.1.2 Pháp luật Việt Nam .......................................................... 32

2.2 Dịch vụ cảng biển ở Việt Nam ........................................................ 34

2.2.1 Quá trình hình thành hoạt động dịch vụ cảng biển tại Việt

Nam .......................................................................................... 34

2.2.2 Tình hình thị trường dịch vụ cảng biển hiện nay ................ 39

2.3 Những vấn đề rút ra qua các hoạt động kinh doanh dịch vụ ở cảng

Việt Nam .............................................................................................. 57

2.3.1. Những ưu điểm ................................................................ 57

2.3.2. Những hạn chế................................................................. 58

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CẢNG

BIỂN Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KTQT ............... 61

3.1 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong hoạt động kinh doanh dịch

vụ cảng biển .......................................................................................... 61

3.1.1 Tính tất yếu của quá trình hội nhập ................................... 61

3.1.2 Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở

Việt Nam ................................................................................... 63

3.2 Định hướng của Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế-xã hội

nói chung và kinh doanh dịch vụ cảng biển nói riêng ........................... 63

3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ cảng biển ở Việt

Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT.................................................. 65

3.3.1 Các giải pháp về phía Nhà nước ........................................ 65

3.3.2 Các giải pháp về phía Hiệp hội ......................................... 76

3.3.3 Các giải pháp về phía doanh nghiệp .................................. 78

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với ưu điểm nằm gần trục đường hàng hải quốc tế, vận tải đường biển đóng

vai trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá ngoại thương của Việt Nam.

Trong những năm gần đây, do chính sách mở cửa của Nhà nước và tốc độ tăng

trưởng cao của nền kinh tế quốc dân nên lượng hàng hoá thông qua các cảng biển

Việt Nam đã không ngừng tăng lên. Chỉ tính riêng từ năm 1999 đến năm 2004,

lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua cảng biển Việt Nam đã tăng từ khoảng

17.425 nghìn tấn (năm 1999), lên khoảng 21.900 nghìn tấn (năm 2000), và 127,7

triệu tấn (năm 2004). Số lượt tàu biển cập các cảng để bốc dỡ hàng hoá cũng nhiều

hơn. Nhu cầu phục vụ cho các tàu cũng vì vậy tăng nhanh.

Mặc dù sản lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thông qua cảng biển Việt Nam

tăng rất nhanh, nhất là hàng Container, nhưng phần lớn các cảng vẫn chưa sử dụng

hết năng lực của mình. Vị trí cảng, chất lượng phương tiện và thiết bị cũng như cách

bố trí mặt bằng sản xuất trong cảng và hệ thống giao thông vận tải sau cảng là

những yếu tố làm tăng thời gian tàu đỗ tại cảng, giảm năng suất xếp dỡ, giảm khả

năng thu hút tàu biển vào làm hàng tại cảng Việt Nam so với các cảng khác trong

khu vực.

Hơn nữa chính hệ thống cảng biển cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết: độc

quyền trong bốc xếp, độc quyền trong dịch vụ hoa tiêu, tốn thời gian chờ đợi để tàu

vào luồng. Hệ thống cơ sở hạ tầng và thiết bị của cảng nói chung đã lạc hậu, sử

dụng quá lâu và không được đầu tư đổi mới, các thiết bị có thể hỏng bất kỳ lúc nào

và công việc sửa chữa kéo dài. Còn thiếu nhiều thiết bị phù hợp với công việc trong

nhà kho (xe nâng hạ ...), các vật liệu khác phục vụ công tác xếp dỡ rất cũ và thiếu

(neo, thừng...). Do thiếu các thiết bị phù hợp nên ở các xưởng sửa chữa, công việc

sửa chữa thường kéo dài từ 5 đến 7 ngày... Ngoài ra, chi phí cảng khá cao (phí cầu

cảng, cước bốc dỡ, phí lưu kho bãi, cước phí lai dắt cầu cảng, phí buộc cởi dây...).

Các cảng địa phương sử dụng nhân công có kỹ thuật bốc xếp kém nên gây tổn thất

rất nhiều cho hàng hóa.

Với chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hoá

mậu dịch, Việt Nam đã là thành viên của APEC, ASEAN, tham gia AFTA, ký kết

Hiệp định thương mại Việt-Mỹ và tương lai không xa sẽ là thành viên của WTO.

Một trong những yêu cầu bắt buộc là phải dần dần xoá bỏ độc quyền, nâng cao chất

lượng hàng hoá dịch vụ, nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại

phù hợp với thông lệ quốc tế. Như vậy, nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển cũng

là một nhiệm vụ cần phải sớm thực hiện. Dịch vụ ở cảng được cải thiện sẽ thu hút

nhiều tàu vào làm hàng và như vậy cảng lại có điều kiện để cung cấp và mở rộng

các dịch vụ của mình.

Xuất phát từ ý nghĩa của dịch vụ cảng biển nên việc nghiên cứu các dịch vụ

và phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa mang

tính thực tiễn cao. Chính vì vậy tôi chọn “Dịch vụ cảng biển và phát triển dịch vụ

cảng biển ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT” làm đề tài luận văn

thạc sỹ kinh tế của mình.

2. Tình hình nghiên cứu

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có một vài đề tài nghiên cứu về

cảng biển và dịch vụ cảng biển, như đề tài “ Nghiên cứu các giải pháp tăng năng

lực cạnh tranh của ngành Hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”

của PGS.TS Đinh Ngọc Viện – Tổng Công ty Hàng hải Việt nam làm chủ nhiệm đề

tài. Có thể nói, chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách cụ thể và mang tính hệ

thống cả về mặt lý luận và thực tiễn các dịch vụ cảng biển và đưa ra được những

giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ đó trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Do vậy, mặc dù có những mối liên hệ mật thiết trong cách tiếp cận vấn đề với

những nghiên cứu đã có nhưng về mặt nội dung, đối tượng nghiên cứu không trùng

với bất kỳ một luận văn thạc sỹ nào đã được công bố.

3. Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hoá lý luận về cảng biển và các dịch vụ cảng biển, đưa ra ví dụ

điển hình về mô hình cảng biển có các dịch vụ phát triển của một số nước trên thế

giới. Trên cơ sở đó tìm ra giải pháp nhằm phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam

đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn đưa ra được

- Lý luận về cảng biển và dịch vụ cảng biển.

- Thực trạng dịch vụ cảng biển ở Việt Nam.

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ cảng biển ở Việt Nam

đáp ứng yêu cầu hội nhập KTQT.

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cảng biển và dịch vụ cảng biển, các

chính sách của Nhà nước về cảng biển, các hoạt động của cảng biển và dịch vụ cảng

biển.

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các dịch vụ cảng

biển. Các giải pháp cũng chỉ xoay quanh vấn đề nêu trên.

6. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

Lênin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng

tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp thống kê, đối

chiếu, so sánh, phân tích và tổng hợp, phương pháp khái quát và hệ thống….

Bảng 2.1: Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển qua các năm

Loại hình Năm 2000 Năm 2002 Năm 2004 (tính đến tháng 5/2004)

Số lượng Số lượng Cơ cấu (%) Số lượng Cơ cấu (%) doanh nghiệp Tỷ lệ % tăng so với năm 2000 Cơ cấu (%) Tỷ lệ % tăng so với năm 2000 Tỷ lệ % tăng so với năm 2002

DNNN 105 75.00 56.84 101.90 51.74 69.52 -16.04 212 178

Công ty 26 18.57 31.64 353.85 30.52 303.85 -11.02 118 105 TNHH

4 1

Công ty 5.00 32 8.58 357.14 56 16.28 700.00 75.00 7 cổ phần

DNTN 1.61 200.00 50.00 -50.00 6 2 1.43 3 0.87

Công ty 6 0 0.00 2 0.58 1.61 - - -66.67 liên doanh

Cộng 140 100.00 373 100.00 166.43 344 100.00 145.71 -7.77

Nguồn: Cục Hàng hải Việt nam - năm 2004

(DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước; TNHH: Trách nhiệm hữu hạn; DNTN: Doanh nghiệp tư nhân)

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 1.1: Công nghệ và thiết bị cảng Hải Phòng

Bảng 1.2: Năng lực tiếp nhận tàu của cảng Hải Phòng

Bảng 1.3: Định mức xếp dỡ hàng hoá cảng Hải Phòng

Bảng 1.4: Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO

Bảng 1.5: Danh sách 10 cảng Container lớn nhất thế giới

Bảng 1.6: Cơ cấu hành chính của cảng Singapore

Bảng 1.7: Cơ cấu hành chính của cảng Thượng Hải

Bảng 2.1: Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển qua các năm

Bảng 2.2: Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải

Bảng 2.3: Lượng hàng hoá thông qua các cảng Việt Nam

Bảng 2.4: Năng suất và thiết bị xếp dỡ tại một vài cảng biển Việt Nam

Bảng 2.5: Trị giá xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam (triệu US$)

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 10 năm (%)

Bảng 3.2: Cơ cấu GDP của Việt Nam (%)

Bảng 3.3: Hệ thống quản lý dịch vụ cảng biển

Bảng 3.4: Mô hình quản lý cảng biển

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. Các chữ viết tắt

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

APEC Asia Pacific Economic Hợp tác kinh tế Châu á - Thái

Cooperation Bình Dương

ASEAN Association of South-East Hiệp hội các nước Đông Nam á

Asian Nations

CFS Container Freight Station Trạm đóng gói hàng lẻ

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa CHXHCN

CY Container Yard Bãi container

DNNN Doanh nghiệp Nhà nước

DNTN Doanh nghiệp tư nhân

DWT Deadweight Tonnage Trọng tải toàn phần

EU

European Union

Liên minh Châu Âu

GATS General Agreement on Hiệp định chung về Thương mại

Trade Related Services Dịch vụ

GATT General Agreement on Hiệp định chung về thuế quan và

Tariffs and Trade mậu dịch

Gross Domestic Products Tổng sản phẩm quốc nội GDP

Gross Register Tonnage Tổng dung tích GRT

GTVT Giao thông vận tải

Most Favoured Nation Tối huệ quốc MFN

NT National Treatment Đối xử quốc gia

Non-Vessel Operating Kinh doanh vận tải không tàu NVOCC Common Carrier

Trách nhiệm hữu hạn TNHH

Thành phố Hồ Chí Minh Tp.HCM

Xuất nhập khẩu XNK

World Econmic Forum Diễn đàn kinh tế thế giới WEF

World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới WTO

2. Ký hiệu

[]: Tham khảo theo thứ tự tài liệu trong Danh mục tài liệu tham khảo

1

CHƢƠNG I

TỔNG QUAN VỀ CẢNG BIỂN VÀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN

1.1 Khái quát chung về cảng biển

Vận tải biển (hàng hải) là một bộ phận của ngành sản xuất vận tải. Mặc dù

có những đặc trưng khác biệt với các phương thức vận tải khác nhưng nó không thể

không gắn liền một cách thống nhất với các phương thức đó. Vận tải biển đóng vai

trò rất quan trọng trong vận chuyển hàng hoá ngoại thương. Năm 1997 khối lượng

hàng hoá vận chuyển bằng đường biển tăng 4,1% so với năm 1996 và đạt 4.953

triệu tấn, trong khi đó khối lượng hàng hoá luân chuyển tăng 3,6% đạt 21.413 tỷ

tấn/hải lý. Đóng góp vào sự tăng trưởng đó là vai trò không nhỏ của cảng biển.

1.1.1 Khái niệm, chức năng và nhiệm vụ của cảng biển

1.1.1.1 Khái niệm cảng biển

Theo Điều 57 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam (năm 1990) thì cảng biển là cảng

được mở ra để tàu biển ra, vào hoạt động.

Theo định nghĩa của Quy chế Giơnevơ ngày 9/12/1923 thì “Những cảng

thường thường có tàu biển ra vào và dùng cho ngoại thương được gọi là cảng biển”.

Như vậy, chỉ những cảng nào có tàu biển ra vào thường thường và dùng cho buôn

bán đối ngoại mới được gọi là cảng biển. Cảng biển là một bộ phận lãnh thổ quốc

gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển, có quy chế pháp lý như nội

thuỷ.

Cảng biển cũng được hiểu là tổng hợp những công trình và thiết bị kỹ thuật

nhằm đảm bảo thuận lợi cho tàu tiến hành công tác bốc xếp hàng hoá và các quá

trình khác, là đầu mối giao thông quan trọng của một nước.

Cảng biển gồm hai khu là khu đất và khu nước:

Khu nước của cảng gồm: Lạch tàu vào cảng; khu nước dùng cho tàu quay

vòng khi ra vào cảng; khu nước dùng cho tàu chờ đợi ra vào cảng (chờ đợi bốc xếp

hay chờ đợi ra khơi); khu nước dùng cho tàu bốc xếp hàng hóa và đi lại ở ngay sát

với đường bờ; khu nước dùng cho tàu bốc xếp hàng ngay trên nước.

Khu đất của cảng gồm khu trước bến và khu sau bến:

- Khu trước bến của cảng hàng hoá và cảng khách không giống nhau:

2

+ Đối với cảng hàng hoá, khu trước bến là khu đất liền kề với khu

nước bao gồm tuyến bến, thiết bị bốc xếp, đường cần trục và đường giao thông

trước bến, khu kho bãi chứa hàng hoá.

+ Đối với cảng khách, khu trước bến gồm tuyến bến và nhà ga hành

khách.

- Khu sau bến gồm tuyến bốc xếp hàng sau kho; khu kho hàng bảo quản dài

hạn; các toà nhà phục vụ cho sản xuất.

1.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của cảng biển

*) Vì cảng biển là nơi tàu biển ra, vào hoạt động nên cảng biển có hai chức

năng là phục vụ tàu biển và phục vụ hàng hoá.

- Phục vụ tàu biển: Cảng là nơi ra vào, neo đậu của tàu, là nơi cung cấp các

dịch vụ đưa đón tàu ra vào, lai dắt, cung ứng dầu mỡ, nước ngọt, vệ sinh, sửa chữa

tàu…

- Phục vụ hàng hoá: Cảng phải làm nhiệm vụ xếp dỡ, giao nhận, chuyển tải,

bảo quản, lưu kho tái chế, đóng gói, phân phối hàng hoá xuất nhập khẩu. Cảng còn

là nơi tiến hành các thủ tục XNK, là nơi bắt đầu, tiếp tục hoặc kết thúc quá trình vận

tải…

*) Cảng biển Việt nam có các nhiệm vụ và quyền hạn sau:

- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển của cảng biển trong phạm vi trách

nhiệm.

- Phối hợp hoạt động của các tổ chức, cơ quan thực hiện chức năng quản lý

Nhà nước chuyên ngành tại cảng biển.

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo an

toàn cảng và luồng ra vào cảng.

- Phối hợp với các cơ quan thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hoặc

xử lý sự cố ô nhiễm môi trường.

- Cấp giấy phép cho tàu ra vào cảng và thực hiện các yêu cầu về bắt giữ, tạm

giữ hàng hải.

- Yêu cầu các cá nhân, cơ quan hữu quan cung cấp các thông tin, tài liệu để

thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của cảng…

1.1.2 Phân loại cảng biển

1.1.2.1 Theo công dụng, cảng biển có thể phân chia thành các loại sau:

- Cảng quân sự

3

- Cảng dân sự: Cảng giao thông, cảng thương nghiệp, cảng chuyên dụng

(cảng cá, cảng vui chơi, cảng khách du lịch, cảng hàng lỏng, cảng hàng rời, cảng

container…)

- Cảng trú ẩn

- Cảng cấp nhiên liệu

1.1.2.2 Theo ý nghĩa kinh tế giao thông, có các loại cảng sau:

- Cảng quốc tế

- Cảng trong nước

- Cảng địa phương

1.1.2.3 Theo lượng hàng của cảng, có các loại cảng sau đây:

- Cảng cấp I (Khi H > 25m)

- Cảng cấp II (Khi 25m H > 20m)

- Cảng cấp III (Khi 20m H > 10m)

- Cảng cấp IV (Khi 10m H) (H là chiều cao bến)

1.1.2.4 Hiện nay, ở Việt Nam, theo phân cấp quản lý, hệ thống cảng biển

được phân chia như sau:

- Cảng tổng hợp do Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) quản lý - 09 cảng, với

tổng chiều dài tuyến bến là 9,918 km;

- Cảng chuyên dụng do các Bộ, Ngành quản lý – 51 cảng, với tổng chiều dài

tuyến bến là 5,689 km;

- Cảng do địa phương quản lý - 31 cảng, với tổng chiều dài tuyến bến là

5,020 km;

- Cảng của các liên doanh – 28 cảng, với tổng chiều dài tuyến bến là

4,990km;

Như vậy cả nước có khoảng hơn 110 cảng (tính theo chủ thể cảng), với tổng

chiều dài tuyến mép bến là 25,617km. Ngoài ra, còn có 104 bến phao (trong đó có

87 bến phao cho tàu trên 10.000 tấn) để bốc xếp hàng trực tiếp sang các phương tiện

thuỷ nội địa hoặc giảm mớn nước của tàu do luồng tàu vào cảng không đủ độ

sâu.[37]

1.1.3 Trang thiết bị và các chỉ tiêu hoạt động của cảng biển

1.1.3.1 Trang thiết bị của cảng biển, gồm:

4

- Trang thiết bị phục vụ tàu ra vào, neo đậu gồm: Cầu tàu, luồng lạch, kè, đập

chắn sóng, phao, trạm hoa tiêu, hệ thống thông tin, tín hiệu…

-Trang thiết bị phục vụ vận chuyển, xếp dỡ hàng hoá gồm: Cần cẩu các loại

(dàn, cổng trên ray hoặc cẩu di động trên bánh lốp, bánh xích); xe nâng hàng; máy

bơm hút hàng rời, hàng lỏng; băng chuyền; toa xe tự đổ; ô tô; đầu máy kéo;

Chassis; Container; Pallet…

Bảng 1.1: Công nghệ và thiết bị cảng Hải Phòng

Cần trục bờ chạy trên ray Sức nâng từ 5 đến 40 tấn

Xếp dỡ nâng hàng Sức nâng từ 3,5 đến 45 tấn

Xe cẩu di động Sức nâng 50 tấn

Cần cẩu nổi Sức nâng từ 10 và 80 tấn

Sức nâng 40 tấn, năng suất 25 Container Cần cẩu dàn xếp dỡ Container tại cầu /giờ tàu

Cân điện tử 80 tấn

Tàu hỗ trợ lai dắt Công suất từ 510 đến 3.200cv

Dây chuyền tự động đóng bao hàng rời Công suất 4.000 tấn / ngày

Nguồn: http://www.haiphongport.com.vn

- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ bảo quản, lưu kho hàng hoá gồm: Hệ thống

kho (kho có mái che cho hàng bách hoá tổng hợp, kho lạnh cho các loại hàng yêu

cầu bảo quản ở nhiệt độ thấp, silô cho hàng hạt), bãi, kho ngoại quan, bể chứa dầu,

bãi Container (CY), trạm đóng gói hàng lẻ (CFS)…

- Trang thiết bị phục vụ việc điều hành, quản lý tàu bè và công tác hành

chính của cảng: các công trình nhà làm việc và sinh hoạt, mạng lưới hệ thống giao

thông nội bộ, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, phòng chống cháy nổ…

- Ngoài ra, trong cảng còn có xưởng sửa chữa thiết bị máy móc và bộ phận

bảo dưỡng duy tu công trình cảng; có công trình nâng, sửa chữa tàu và đội tàu dịch

vụ của cảng.

1.1.3.2 Các chỉ tiêu hoạt động của cảng biển

Để đánh giá một cảng hoạt động tốt hay không tốt, hiện đại hay không hiện

đại phải căn cứ vào các chỉ tiêu sau:

- Số lượng tàu hoặc tổng dung tích (Gross Register Tonnage-GRT) hoặc

trọng tải toàn phần (Deadweight Tonnage - DWT) ra vào cảng trong một năm. Chỉ

5

tiêu này phản ánh độ lớn, mức độ nhộn nhịp của một cảng, chẳng hạn cảng

Rotterdam là cảng lớn nhất thế giới, hàng năm có 30.000 tàu biển và 170.000 tàu

sông ra vào. Cảng Sài Gòn, Hải Phòng mỗi năm có khoảng 2.000 tàu ra vào.

- Số lượng tàu có thể cùng tiến hành xếp dỡ trong cùng một thời gian. Cảng

Cái Lân đủ sức tiếp nhận đồng thời 3 tàu có trọng tải 40.000 DWT.

- Khối lượng hàng hoá xếp dỡ trong một năm. Chỉ tiêu này phản ánh độ lớn,

mức độ hiện đại, năng suất xếp dỡ của một cảng. Chỉ tiêu này ở cảng Rotterdam là

300 triệu tấn/năm; ở cảng Kobe là 136 triệu tấn/năm; ở cảng Yokohama là 114 triệu

tấn/năm; ở cảng Sài Gòn là 15 triệu tấn/năm.

- Mức xếp dỡ hàng hoá của cảng, tức là khả năng xếp dỡ hàng hoá của cảng,

thể hiện bằng khối lượng từng loại hàng hoá mà cảng có thể xếp dỡ trong một ngày.

Chỉ tiêu này nói lên mức độ cơ giới hoá, năng suất xếp dỡ của một cảng. Chỉ tiêu

này của cảng Hải Phòng là 11.000 tấn/ngày; của cảng Sài Gòn là 1.500 - 2.500

tấn/ngày/tàu đối với hàng đóng bao, 3.500 - 5.000 tấn/ngày/tàu đối với hàng rời,

thiết bị; 30 TEU/giờ đối với hàng Container. [14]

- Chi phí xếp dỡ hàng hoá, cảng phí, phí lai dắt, hoa tiêu, cầu bến làm hàng

(THC)… phản ánh năng suất lao động, trình độ quản lý của cảng.

- Khả năng chứa hàng của kho bãi cảng. Chỉ tiêu này thể hiện bằng số diện tích (m2), vòng quay hàng hoá của kho bãi cảng, sức chứa của CY, CFS … phản

ánh mức độ quy mô của cảng.

6

Bảng 1.2: Năng lực tiếp nhận tàu của cảng Hải Phòng

Tổng số 11 cầu với tổng chiều dài 1.705m

Khu vực cảng chính Bốc xếp đồng thời được 11 tàu với năng lực thông qua 6 triệu

tấn / năm

Bến Container Tổng số 4 cầu với tổng chiều dài 500m

Chùa Vẽ Bốc xếp đồng thời được 4 tàu với năng lực thông qua 7.500

tấn/tuần

Có 3 phao

Bến nổi Bạch Đằng Bốc xếp đồng thời được 3 tàu với năng lực thông qua 500.000

tấn / năm

Khu vực Hạ Long Có 7 vị trí neo

- Hòn Gai Bốc xếp đồng thời được 7 tàu với năng lực thông qua 1 triệu

tấn / năm.

Nguồn: http://www.haiphongport.com.vn

1.1.4 Hệ thống cảng biển Việt Nam

Việt Nam nằm dọc gần một phần ba chiều dài của biển Đông, nằm ở giữa

khu vực Đông Nam Á (ASEAN) quanh năm có ánh nắng mặt trời, nằm ở giữa các

con rồng Châu Á (Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore). Khoảng 80%

lượng hàng xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam là do vận tải biển đảm nhận. Nếu

trong năm 1990 đóng góp của XNK vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) chỉ là 42%

thì đến năm 1999, tỷ lệ này đã là 81% GDP. Thêm vào đó, giá trị của số lượng

ngoại tệ do XNK mang về và những tác động trực tiếp, gián tiếp của nguồn vốn này

đối với nền kinh tế Việt Nam sẽ không thể thực hiện nổi nếu không có hệ thống các

cảng biển Việt Nam. Với chiều dài trên 3200 km đường bờ biển từ Móng Cái đến

Hà Tiên, Việt Nam có khoảng hơn 110 cảng trực thuộc sự quản lý của nhiều ngành

như: Giao thông vận tải (GTVT), Thuỷ sản, Dầu khí, Quân đội, Địa phương… Và

với tổng chiều dài tuyến mép bến của toàn bộ hệ thống cảng là 25.617 mét và 104

bến phao bốc xếp hàng trực tiếp sang các phương tiện thuỷ nội địa, hệ thống cảng

biển Việt Nam đảm nhận đến 90% khối lượng hàng khô qua các cảng toàn quốc với

nhịp độ tăng bình quân 12,5%/năm. Năm 2004 lượng hàng hoá qua cảng biển là

127,7 triệu tấn (năm 1995 là 36 triệu tấn), số lượng tàu ra vào cảng biển Việt Nam

là 74.527 lượt. Ngành Hàng hải đang có kế hoạch phát triển và mở rộng hệ thống

7

cảng biển, xây dựng các cảng nước sâu, cảng chuyên dụng lớn và các cảng đầu mối

quốc tế và khu vực, nhất là đối với Lào, Campuchia, Đông Bắc Thái Lan và miền

Nam Trung Quốc với mục tiêu đưa lượng hàng hoá qua hệ thống cảng biển lên

khoảng 250 triệu tấn vào năm 2010. [5],[11]

Hệ thống cảng biển Việt Nam hiện nay gồm 3 khu vực chính:

1.1.4.1 Khu vực phía Bắc (từ Quảng Ninh đến Ninh Bình)

Khu vực này gồm các cảng ở Quảng Ninh (Cẩm Phả, Cửa Ông, Hòn Gai, Cái

Lân, cảng Xăng dầu B12); ở Hải Phòng (Hải Phòng, Thượng Lý, Hải Đăng…); ở

Thái Bình (cảng Diêm Điền).

Cảng Hải Phòng là cảng lớn nhất miền Bắc, có chiều dài cầu cảng 2.567 mét, diện tích kho 52.052 mét vuông (m2), hàng năm có thể xếp dỡ 5 - 5,5 triệu tấn hàng

hoá. Tuy nhiên, cảng có luồng sa bồi rất lớn nên chỉ tiếp nhận được tàu 6.000-7.000

DWT. Hiện tại, theo kế hoạch của Bộ GTVT, cảng Hải Phòng đang triển khai dự án

nâng cấp giai đoạn 2 mở một luồng tàu mới qua đảo Hà Nam ra cửa Lạch Huyện

với độ sâu –5,5m đến –7,5m vào giữa năm 2005 và xây dựng thêm một số bến xếp

dỡ hàng Container, hàng chuyên dụng cho tàu 10.000 DWT, đưa năng lực thông

qua của cảng tăng hơn mức hiện tại.

Bảng 1.3: Định mức xếp dỡ hàng hoá cảng Hải Phòng

(Theo Quyết định số 236/TGĐ ngày 10/12/2002 của Tổng Giám đốc Cảng)

Loại tàu có Loại tàu có GRT >5.000 và Loại tàu có

<13.000T GRT > 13.000T GRT < 5.000T

Hàng Hàng TT Nhóm hàng Hàng nhập Hàng xuất Hàng nhập nhập xuất

1. Hàng rời 1300- 1200- 1500- 2000 3300 3000 1500- 2000-

2000 3500 3000 4500 4000 5000

2. Hàng bao, 1200- 1200- 1000- 1500- 1500- 2000- 2000- 2500-

bịch 2000 2000 3000 4000 3000 4000 5000 6000

3. Sắt thép 2000- 1200 2500- 3000- - - 3000- 4000

2500 3000 3500 4000

4. Hàng thùng 1000 1000 1200 - 1200 - - -

8

5. Hàng bách 1000 800- 1000- 1000- 1200 1200 - -

hoá 1000 1200 1200

6. Các loại xe 100 50 120- - 100- - - -

500 500 lăn bánh

(C/ngày/tàu

)

7. Container

- Tàu <500 TEU 500 Container / ngày – tàu

- Tàu 500 TEU 800 Container / ngày – tàu

Nguồn: http//www.haiphongport.com.vn

Cảng Cái Lân - Quảng Ninh là một cảng nước sâu hiện đại nhất Việt Nam,

được nhà nước đầu tư gần 1.400 tỷ đồng. Hiện nay cảng đã hoàn thành và đưa vào

khai thác. Lần đầu tiên, nước ta có một cảng có độ sâu trước bến –13m đủ sức tiếp

nhận đồng thời 3 tàu có trọng tải 40.000 DWT. Đây cũng là cảng đầu tiên hoạt động

thí điểm dưới hình thức cho thuê quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng. Cục Hàng hải

được chỉ định thay mặt Bộ GTVT là đại diện chủ sở hữu tài sản của Nhà nước làm

bên cho thuê và cảng Quảng Ninh là doanh nghiệp khai thác cảng làm bên thuê

(Đây là đơn vị đã trúng thầu với giá bỏ thầu là 600 triệu đồng). Mô hình quản lý này

đã được Chính phủ phê duyệt ngày 06/11/2003 (Quyết định của Thủ tướng Chính

phủ số 228/2003/QĐ-TTg) [5], [11]

1.1.4.2 Khu vực miền Trung (từ Thanh Hoá đến Bình Thuận)

Khu vực này gồm các cảng Cửa Lò, Bến Thuỷ (Nghệ An), Xuân Hải (Hà

Tĩnh), Gianh (Quảng Bình), Thuận An (Thừa Thiên - Huế), Tiên Sa, Sông Hàn (Đà

Nẵng), Sa Kỳ (Quảng Ngãi), Nha Trang, Ba Ngòi, Hòn Khói, Đầm Mơn (Khánh

Hoà), Quy Nhơn, Thị Nại (Bình Định). Ở khu vực này sẽ xây dựng mới các cảng

Nghi Sơn (Thanh Hoá), Vũng Áng, Thạch Khê (Hà Tĩnh), Cửa Việt (Quảng Trị),

Liên Chiểu, Chân Mây (Đà Nẵng), Dung Quất (Quảng Ngãi), Vân Phong (Khánh

Hoà).

Cảng Tiên Sa - Đà Nẵng là cảng bốc xếp hàng hoá với 2 bến nhô được xây

dựng từ năm 1965, mỗi bến dài 186m, rộng từ 27,3 đến 29,3m và có độ sâu khu

nước –11m và một bến liền bờ dài 165m với độ sâu khu nước –12m. Dự án mở rộng

9

phần cảng và đê chắn sóng đã hoàn thành và đã được đưa vào khai thác nâng công

suất thiết kế lên trên 3 triệu tấn/năm.[5],[37]

1.1.4.3 Khu vực phía Nam (từ Đồng Nai đến cực Nam)

Khu vực này gồm các nhóm cảng sau:

- Nhóm cảng Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM): Khu vực này hiện có 20

cảng đang khai thác thuộc 15 đơn vị chủ quản, trong đó có 3 cảng lớn nhất là Sài

Gòn (Tổng Công ty Hàng Hải Việt nam), Tân Cảng (Công ty Tân Cảng Quân đội),

Bến Nghé (Tp. HCM) chiếm tới 90% khối lượng hàng hoá thông qua trên địa bàn

Tp. HCM. Ngoài ra, còn có các cảng như: cảng Xăng dầu Nhà Bè (Petechim,

B.P.Petro, EIF Gas), cảng Cát Lái, cảng Tân Thuận Đông, cảng Container quốc tế

(Lotus), VICT…

Cảng Sài Gòn do Pháp đầu tư xây dựng từ năm 1860 gồm 3 khu vực xếp dỡ:

Nhà Rồng, Khánh Hội, Tân Thuận. Hiện tại cảng có 15 cầu tàu với tổng chiều dài 2.670 mét, 15 bến phao, 27 kho với diện tích 75.000 m2 và 222.569 m2 bãi hàng.

Cảng Sài Gòn có công suất xếp dỡ 15 triệu tấn/năm (năm 2000 là 9,7 triệu tấn), có

thể tiếp nhận một lần 30 tàu, có thể tiếp nhận được tàu 30.000 DWT với chiều dài

230 mét và mớn nước 12 mét.

Tân Cảng có vị trí tại cửa ngõ trung tâm Tp.HCM, với 1.200 mét cầu cảng.

Tại đây mỗi tháng giải phóng trên 100 chuyến tàu Container quốc tế, xếp dỡ trên

70.000 TEU hàng hoá các loại. [40]

Bến Nghé là cảng Container hiện đại có 820 mét cầu cảng với 5 bãi

Container, tổng diện tích 8 ha, hàng năm có thể xếp dỡ 2,3 triệu tấn hàng, trong đó

gần 18.000 TEU.

- Nhóm cảng Vũng Tàu-Thị Vải: gồm các cảng Cát Lở, cảng Dịch vụ dầu

khí, cảng Vietsopetro, cảng Gò Dầu A, cảng Phú Mỹ…Một tập đoàn cảng lớn trên

sông Cái Mép – Thị Vải đang được hình thành cho phép tàu Container có trọng tải

80.000 DWT ra vào làm hàng. [5]

- Nhóm cảng thuộc đồng bằng Sông Cửu Long bao gồm: Cần Thơ, Mỹ Tho,

Đồng Tháp, Hòn Chuông… trong đó cảng Cần Thơ đóng vai trò quan trọng hơn cả.

Cảng Cần Thơ nằm trên sông Hậu, có vùng nước trước cảng rộng và sâu, có chiều

dài cầu cảng 144 mét, mớn nước 8 mét, có khả năng tiếp nhận tàu trên 5.000 DWT.

[14]

10

1.2 Các dịch vụ cảng biển

Theo quan điểm hiện nay, vận tải nói chung, vận tải biển nói riêng là một

loại hình dịch vụ. Dịch vụ ở đây cần phải hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các

hoạt động hàng hải. Như đã nêu ở trên, hàng hải là một bộ phận của ngành sản xuất

vận tải. Hệ thống của quá trình sản xuất hàng hải bao gồm: quá trình vận chuyển,

quá trình xếp dỡ, quá trình phục vụ cho hai quá trình chủ yếu đó. Trong những năm

gần đây, do tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên toàn cầu nên mậu dịch quốc tế phát

triển mạnh, lượng hàng hoá thông qua các cảng biển không ngừng được tăng lên và

vì vậy, dịch vụ cảng biển phục vụ cho tàu và hàng hoá cũng tăng nhanh.

1.2.1 Khái niệm dịch vụ cảng biển

Để hiểu rõ dịch vụ cảng biển, chúng ta sẽ bắt đầu từ việc tìm hiểu khái niệm

về dịch vụ nói chung.

1.2.1.1 Khái niệm dịch vụ

Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về dịch vụ được chấp nhận trên

phạm vi toàn cầu. Tính vô hình và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp

của các loại hình dịch vụ làm cho việc định nghĩa dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn

nữa, các quốc gia khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau, phụ thuộc

vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Để thấy rõ hơn sự khó khăn trong

việc đưa ra khái niệm dịch vụ, chúng ta có thể thấy ngay cả trong Hiệp định chung

về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade Related Services - GATS)

cũng chỉ đưa ra khái niệm dịch vụ bằng cách liệt kê dịch vụ thành 12 ngành chính

và 155 phân ngành khác nhau. Theo phân loại của GATS, các ngành dịch vụ chính

là: dịch vụ kinh doanh, dịch vụ liên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân

phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, các dịch vụ liên quan

đến sức khỏe và các dịch vụ xã hội, các dịch vụ du lịch và liên quan đến du lịch, các

dịch vụ giải trí và thể thao, các dịch vụ vận tải, các dịch vụ khác. [13]

Ở Việt Nam, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam - Trung tâm biên soạn Từ

điển Bách khoa Việt Nam năm 1995, dịch vụ được định nghĩa như sau: Dịch vụ là

những hoạt động phục vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu sản xuất, kinh doanh và

sinh hoạt. Tùy theo trường hợp, dịch vụ bao gồm: một công việc ít nhiều chuyên

môn hoá, việc sử dụng hẳn hay tạm thời một tài sản, việc sử dụng phối hợp một tài

sản lâu bền và sản phẩm của một công việc, cho vay vốn... Sản xuất, kinh doanh và

dịch vụ tác động lẫn nhau chặt chẽ. Dịch vụ là một điều kiện để phát triển sản xuất,

11

kinh doanh. Sự phát triển dịch vụ hợp lý, có chất lượng cao là một biểu hiện của

nền kinh tế phát triển và một xã hội văn minh.

Do ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn nên hoạt động dịch vụ trở thành lĩnh vực

kinh tế quan trọng, giữ vai trò to lớn trong cơ cấu kinh tế của các quốc gia có tốc độ

phát triển cao. Theo OECD, một nền kinh tế phát triển có tỷ trọng dịch vụ khoảng

70% GDP và cũng khoảng trên dưới 70% lao động hoạt động trong lĩnh vực dịch

vụ. Tỷ trọng dịch vụ trong nền kinh tế Mỹ chiếm tới 85% GDP, Hồng Kông là

73,7%. [13]

Cũng tại Từ điển Bách khoa Việt Nam, chúng ta còn gặp khái niệm dịch vụ

kinh tế đối ngoại. Dịch vụ kinh tế đối ngoại được định nghĩa là những hoạt động

thúc đẩy, hỗ trợ các hoạt động ngoại thương, hợp tác sản xuất, hợp tác kinh tế kỹ

thuật với nước ngoài, đầu tư, tín dụng, du lịch quốc tế và phục vụ khách hàng trong

các lĩnh vực nói trên. Dịch vụ kinh tế đối ngoại bao gồm những dịch vụ gần hoặc

kèm theo các hoạt động kinh tế đối ngoại nói trên; bảo hiểm, vận chuyển hàng hoá

xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, thông tin thương mại, bưu điện, viễn thông, bảo

hành, sửa chữa, lắp ráp máy móc xuất nhập khẩu, cung ứng sửa chữa tàu biển, dịch

vụ hàng hải, dịch vụ hàng không, môi giới, tư vấn trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại

cũng như hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu vô hình như xuất khẩu lao động,

chuyển kiều hối về nước…

1.2.1.2 Khái niệm dịch vụ cảng biển

Theo quan điểm truyền thống, nhiệm vụ chính của cảng là xếp dỡ hàng hoá.

Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh của cảng được mở rộng, ngoài việc xếp dỡ hàng

hoá cảng còn thay mặt chủ tàu, chủ hàng làm nhiều dịch vụ khác liên quan đến hàng

hoá như phân phối và giám sát việc vận chuyển hàng hoá đến tận tay người tiêu

dùng cuối cùng- trở thành trung tâm logistics.

Trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm chung nào

về dịch vụ cảng biển. Do đặc điểm chung của loại hình dịch vụ cũng như tính đa

dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng,

cộng với cách giải thích khác nhau giữa các quốc gia nên việc đưa ra định nghĩa

chung nhất cho loại hình dịch vụ này càng khó khăn. Chúng ta xem xét khái niệm

dịch vụ cảng biển trên phạm vi bao quát của Tổ chức thương mại thế giới (World

Trade Organization – WTO), của Liên minh Châu Âu (European Union – EU) và

trên phạm vi hẹp hơn tại một vài quốc gia cụ thể.

12

*) Theo WTO: Tại vòng đàm phán Uruguay, Hiệp định chung về Thương

mại Dịch vụ (General Agreement on Trade Related Services–GATS) đã được đưa

ra thương thảo lần đầu tiên. Hiệp định này đưa ra khái niệm về các lĩnh vực dịch vụ

bằng cách liệt kê các ngành, phân ngành, nhóm, phân nhóm. Danh sách phân loại

các ngành dịch vụ vận tải được WTO chính thức đưa ra vào ngày 10/7/1991 được

liệt kê trong Bảng 1.4.

Trong danh mục ở trang sau, ngoài vận tải hành khách và vận tải hàng hoá,

các dịch vụ còn lại đều được xem là dịch vụ cảng biển. Riêng đối với mục f, việc cụ

thể hoá các loại hình có trong dịch vụ này do các thành viên tự soạn thảo. Như vậy,

WTO không đưa ra khái niệm cụ thể về dịch vụ cảng biển mà chỉ xác định vị trí

dịch vụ cảng biển nằm trong nhóm dịch vụ vận tải biển, xem nó như một phần của

dịch vụ vận tải biển.

Bảng 1.4: Dịch vụ vận tải biển theo phân loại của WTO

Ngành Số phân loại trung tâm (CPC)

……..

II. Dịch vụ vận tải

A. Dịch vụ vận tải biển

a. Vận tải hành khách 7211

b. Vận tải hàng hoá 7212

c. Cho thuê tàu (có cả thuyền viên) 7213

d. Bảo dưỡng và sửa chữa tàu 8868

e. Lai dắt và kéo tàu 7214

f. Các dịch vụ hỗ trợ cho vận tải 745 biển

Nguồn: WTO Secretariat

*) Theo EU: Trong lộ trình thực hiện GATS, EU đã gửi các bản yêu cầu tới

các thành viên, chi tiết hoá các loại hình hỗ trợ cho vận tải biển kèm theo các định

nghĩa như sau:

- Dịch vụ xếp dỡ hàng hoá: là dịch vụ thực hiện bởi các công ty xếp dỡ, kể cả

công ty điều độ kho bãi nhưng không bao gồm các dịch vụ do lực lượng công nhân

bốc xếp ở bến cảng trực tiếp thực hiện khi lực lượng này được tổ chức độc lập với

13

các công ty xếp dỡ và điều độ bãi. Dịch vụ này bao gồm việc tổ chức và giám sát

quá trình:

+ xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi tàu;

+ xếp hàng hoá vào và dỡ hàng hoá ra khỏi sà lan;

+ nhận hàng hoặc gửi hàng và bảo quản hàng hoá an toàn trước khi

gửi hàng hoặc sau khi dỡ hàng.

- Dịch vụ lưu kho hàng hoá: là dịch vụ cho thuê kho bãi để chứa hàng tại khu

vực cảng.

- Dịch vụ khai báo hải quan (hay dịch vụ môi giới hải quan): là dịch vụ trong

đó một bên thay mặt một bên khác làm các thủ tục hải quan liên quan đến việc xuất,

nhập khẩu hoặc vận tải chở suốt của hàng hoá.

- Dịch vụ kinh doanh kho, bãi Container: là dịch vụ lưu bãi Container tại khu

vực cảng hoặc nội địa nhằm mục đích đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi Container,

sửa chữa và chuẩn bị Container sẵn sàng cho việc vận chuyển.

- Dịch vụ đại lý hàng hải: là dịch vụ làm đại lý đại diện cho quyền lợi thương

mại của một hay nhiều hãng tàu trong khu vực địa lý xác định nhằm các mục đích

sau:

+ Thay mặt hãng tàu thực hiện việc marketing và kinh doanh dịch vụ

vận tải và các dịch vụ liên quan từ việc báo giá đến việc lập hoá đơn, phát hành vận

đơn, nhận và kinh doanh lại các dịch vụ cần thiết, chuẩn bị chứng từ, cung cấp

thông tin thương mại.

+ Thay mặt hãng tàu thu hồi tàu và tiếp nhận hàng hoá khi có yêu cầu.

*) Theo Trung Quốc: Ngày 11/12/2001, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành

Nghị định 335 để điều chỉnh những quan hệ pháp lý liên quan tới các nghiệp vụ

kinh doanh vận tải biển quốc tế và các dịch vụ ở các cảng biển Trung Quốc, có hiệu

lực từ ngày 01/01/2002. Theo quy định tại Điều 2 của Nghị định này, dịch vụ cảng

biển bao gồm:

- Đại lý hàng hải quốc tế;

- Quản lý tàu;

- Xếp dỡ hàng hoá;

- Kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu;

- Các dịch vụ giao nhận hàng lẻ;

- Các dịch vụ giao nhận ở bãi Container;

14

- Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu;

- Dịch vụ khác.

*) Khái niệm dịch vụ cảng biển của Việt Nam: Theo quy định tại Điều 1 của

Nghị định số 10/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/3/2001 về điều kiện

kinh doanh dịch vụ hàng hải thì dịch vụ hàng hải bao gồm 9 loại hình sau đây:

- Dịch vụ đại lý tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây theo sự

uỷ thác của chủ tàu:

+ Làm thủ tục cho tàu vào và ra cảng với các cơ quan có thẩm quyền;

+ Thu xếp tàu lai dắt; thu xếp hoa tiêu dẫn tàu; bố trí cầu bến, nơi neo

đậu tàu để thực hiện việc bốc, dỡ hàng hoá; đưa, đón khách lên, xuống tàu;

+ Thông báo những thông tin cần thiết cho các bên có liên quan đến

tàu, hàng hoá và hành khách, chuẩn bị các tài liệu, giấy tờ về hàng hoá và hành

khách, thu xếp giao hàng cho người nhận hàng;

+ Làm các thủ tục hải quan, biên phòng có liên quan đến tàu và các

thủ tục về bốc dỡ hàng hoá, hành khách lên, xuống tàu;

+ Thực hiện việc thu hộ, trả hộ tiền cước, tiền bồi thường, thanh toán

tiền thưởng, phạt giải phóng tàu và các khoản tiền khác;

+ Thu xếp việc cung ứng cho tàu biển tại cảng;

+ Ký kết hợp đồng thuê tàu, làm thủ tục giao nhận tàu và thuyền viên;

+ Ký kết hợp đồng vận chuyển, hợp đồng bốc dỡ hàng hoá;

+ Thực hiện các thủ tục có liên quan đến tranh chấp hàng hải;

+ Giải quyết các công việc khác theo uỷ quyền.

- Dịch vụ đại lý vận tải đường biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau

đây theo sự uỷ thác của chủ hàng:

+ Tổ chức và tiến hành các công việc phục vụ quá trình vận chuyển,

giao nhận hàng hoá, vận chuyển hành khách và hành lý trên cơ sở hợp đồng vận

chuyển bằng đường biển hoặc hợp đồng vận tải đa phương thức;

+ Cho thuê, nhận thuê hộ phương tiện vận tải biển, thiết bị bốc dỡ,

kho tàng, bến bãi, cầu tàu và các thiết bị chuyên dùng hàng hải khác;

+ Làm đại lý Container;

+ Giải quyết các công việc khác theo uỷ quyền.

- Dịch vụ môi giới hàng hải: là dịch vụ thực hiện các công việc sau:

15

+ Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá,

hành khách và hành lý;

+ Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng bảo hiểm hàng hoá;

+ Làm trung gian trong việc ký kết hợp đồng cho thuê tàu, hợp đồng

mua bán tàu, hợp đồng lai dắt, hợp đồng thuê và cho thuê thuyền viên;

+ Làm trung gian trong việc ký kết các hợp đồng khác có liên quan

đến hoạt động hàng hải do người uỷ thác yêu cầu theo từng hợp đồng cụ thể.

- Dịch vụ cung ứng tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc sau đây có

liên quan đến tàu biển:

+ Cung cấp cho tàu biển lương thực, thực phẩm, nước ngọt, vật tư,

thiết bị, nhiên liệu, dầu nhờn, vật liệu chèn lót, ngăn cách hàng;

+ Cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu về đời sống, chăm sóc y tế,

vui chơi, giải trí của hành khách và thuyền viên, tổ chức đưa đón, xuất nhập cảnh,

chuyển đổi thuyền viên.

- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá: là dịch vụ thực hiện kiểm đếm số lượng hàng

hoá thực tế khi giao nhận với tàu biển hoặc các phương tiện khác theo uỷ thác của

người giao hàng, người nhận hàng hoặc người vận chuyển.

- Dịch vụ lai dắt tàu biển: là dịch vụ thực hiện tác nghiệp lai, kéo, đẩy hoặc

hỗ trợ tàu biển và các phương tiện nổi khác trên biển hoặc tại vùng nước liên quan

đến cảng biển mà tàu biển được phép vào, ra hoạt động.

- Dịch vụ sửa chữa tàu biển tại cảng: là dịch vụ thực hiện các công việc sửa

chữa và bảo dưỡng tàu biển khi tàu đỗ tại cảng.

- Dịch vụ vệ sinh tàu biển: là dịch vụ thực hiện các công việc thu gom và xử

lý rác thải, dầu thải, chất thải khác từ tàu biển khi tàu neo, đậu tại cảng.

- Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển: là dịch vụ thực hiện các công việc

bốc, dỡ hàng hoá tại cảng theo quy trình công nghệ bốc, dỡ từng loại hàng.

Bên cạnh những loại dịch vụ đã được nêu trên đây, hiện nay có một số dịch

vụ khác bước đầu đã xâm nhập vào Việt Nam, đó là:

- Dịch vụ trung chuyển Container quốc tế: Là dịch vụ trung chuyển

Container khi Container được dỡ từ tàu thủy đưa vào khu vực cảng trung chuyển

trong một thời gian nhất định và sau đó được bốc lên tàu thủy khác để vận chuyển

tới cảng khác.

16

- Dịch vụ logistics (dịch vụ tiếp vận): Theo cách tiếp cận của Hội đồng quản

lý logistics ở Mỹ (The Council of Logistics Management-CLM), khái niệm logistics

được hiểu là một bộ phận của dây chuyền cung ứng, tiến hành lập ra kế hoạch, thực

hiện và kiểm soát công việc chu chuyển và lưu kho hàng hoá, cùng các dịch vụ và

thông tin có liên quan từ địa điểm xuất phát (0) đến nơi tiêu dùng (D) một cách hiệu

quả nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng.

- Dịch vụ kinh doanh vận tải không có tàu (NVOCC):

+ Theo Nghị định 335 của Trung Quốc thì NVOCC là người vận tải

nhận hàng từ người gửi hàng, cấp phát vận đơn hoặc chứng từ khác của riêng mình,

thu xếp quá trình vận chuyển thông qua các hãng tàu quốc tế và chịu trách nhiệm

trước khách hàng như là người chuyên chở thực sự.

+ Theo luật Anh, common carrier là người vận tải nào đó công bố dịch

vụ vận chuyển hàng hoá giữa các cảng trên một tuyến đường đã định và phải nhận

chở tất cả mọi loại hàng hoá, trừ hàng nguy hiểm, với một giá cước phải chăng hợp

lý.

- Dịch vụ kho bãi hàng hải (Maritime Cargo Warehousing Services) là dịch

vụ cho thuê kho bãi để chứa hàng.

Như vậy, dịch vụ cảng biển là một trong những dịch vụ kinh tế đối ngoại, nó

không chỉ là dịch vụ hàng hải mà còn bao gồm các dịch vụ khác. Chúng ta có thể

tóm tắt “dịch vụ cảng biển là những hoạt động kinh doanh phục vụ cho vận tải

biển”, nó bao gồm các hoạt động kinh doanh khai thác cảng và các dịch vụ hàng

hải.

1.2.2 Đặc điểm của dịch vụ cảng biển

Dịch vụ cảng biển là một ngành dịch vụ nên mang đầy đủ đặc điểm chung

của dịch vụ, đó là:

- Dịch vụ mang tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ “là

những thứ mà khi đem bán không thể rơi vào chân bạn”. Quá trình sản xuất hàng

hoá tạo ra những sản phẩm hữu hình có tính chất cơ, lý, hoá học … nhất định, có

tiêu chuẩn về kỹ thuật cụ thể và do đó có thể sản xuất theo tiêu chuẩn hoá. Khác với

hàng hoá, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất bằng những vật phẩm

cụ thể, không nhìn thấy được và do đó không thể xác định chất lượng dịch vụ trực

tiếp bằng những chỉ tiêu được lượng hoá.

17

- Quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng

thời: Trong nền kinh tế hàng hoá, sản xuất hàng hoá tách khỏi lưu thông và tiêu

dùng. Do đó, hàng hoá có thể lưu kho để dự trữ, có thể vận chuyển đi nơi khác theo

nhu cầu của thị trường. Khác với hàng hoá, quá trình cung ứng dịch vụ gắn liền với

tiêu dùng dịch vụ. Ví dụ với dịch vụ tư vấn đầu tư, khi chuyên gia về đầu tư tư vấn

cho khách hàng cũng là lúc khách hàng tiếp nhận và tiêu dùng xong dịch vụ tư vấn

do người chuyên gia này cung ứng.

- Không thể lưu trữ được dịch vụ: Sự khác biệt này là do sản xuất và tiêu

dùng dịch vụ diễn ra đồng thời nên không thể sản xuất dịch vụ hàng loạt và lưu trữ

trong kho sau đó mới tiêu dùng.

Ngoài ra, theo đúc kết của các nhà kinh tế, dịch vụ cảng biển còn có các đặc

điểm riêng như sau:

- Không đòi hỏi nhiều vốn;

- Có tốc độ xoay vòng vốn nhanh;

- Có tỷ suất lợi nhuận cao.

1.2.3 Phân loại dịch vụ cảng biển

1.2.3.1 Căn cứ vào đối tượng phục vụ: dịch vụ cảng biển có thể chia thành

các loại sau:

*) Các dịch vụ cảng biển liên quan đến tàu:

- Dịch vụ đại lý tàu biển

- Dịch vụ cung ứng tàu biển

- Dịch vụ sửa chữa tàu biển

- Dịch vụ lai dắt tàu biển

- Dịch vụ vệ sinh tàu biển

*) Các dịch vụ cảng biển liên quan đến hàng hoá :

- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá

- Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển

- Dịch vụ kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu

- Dịch vụ giao nhận hàng lẻ

- Dịch vụ lưu kho hàng hoá

- Dịch vụ khai báo hải quan

*) Các dịch vụ tổng hợp:

- Dịch vụ đại lý hàng hải (hay dịch vụ đại lý vận tải đường biển)

18

- Dịch vụ môi giới hàng hải

- Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu

1.2.3.2 Căn cứ vào tính chất dịch vụ: có các loại dịch vụ cảng biển sau:

*) Các dịch vụ cảng biển mang tính trực tiếp:

- Dịch vụ cung ứng tàu biển

- Dịch vụ sửa chữa tàu biển

- Dịch vụ lai dắt tàu biển

- Dịch vụ vệ sinh tàu biển

- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá

- Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển

- Dịch vụ lưu kho hàng hoá

- Dịch vụ kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu…

*) Các dịch vụ cảng biển mang tính trung gian:

- Dịch vụ đại lý tàu biển

- Dịch vụ đại lý hàng hải

- Dịch vụ môi giới hàng hải

- Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu…

1.2.3.3 Căn cứ vào phạm vi hoạt động: có các loại dịch vụ sau:

*) Các dịch vụ thực hiện ngay tại cảng:

- Dịch vụ cung ứng tàu biển

- Dịch vụ sửa chữa tàu biển

- Dịch vụ lai dắt tàu biển

- Dịch vụ vệ sinh tàu biển

- Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá

- Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển …

*) Các dịch vụ có thể thực hiện ngoài cảng:

- Dịch vụ đại lý tàu biển

- Dịch vụ đại lý hàng hải

- Dịch vụ môi giới hàng hải

- Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu

- Dịch vụ kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu…

19

1.2.4 Vai trò, tác dụng của dịch vụ cảng biển

1.2.4.1 Dịch vụ cảng biển là bộ phận không thể thiếu trong vận tải biển,

đóng vai trò “hậu cần” hỗ trợ cho vận tải biển.

Dịch vụ cảng biển ra đời nhằm mục đích phục vụ cho vận tải biển. Đây là vai

trò cơ bản nhất của dịch vụ này.

Dịch vụ cảng biển đa dạng về loại hình đáp ứng được các nhu cầu cần thiết

và ngày càng gia tăng của vận tải biển.

Thuở xa xưa, khi khối lượng hàng hoá chuyên chở bằng đường biển chưa

nhiều, sức chở của tàu còn nhỏ và kỹ thuật thông tin liên lạc còn thấp, công việc

thuê tàu chuyên chở hàng hoá trong ngành vận tải thường được tiến hành trực tiếp

giữa chủ tàu và khách hàng. Thời gian trôi đi, ngành vận tải biển thế giới phát triển

không ngừng, đội thương thuyền của thế giới tăng lên nhanh chóng về số lượng và

chủng loại, khối lượng hàng chuyên chở trên một chuyến tàu đã lên tới con số hàng

vạn, hàng triệu.. Trong bối cảnh đó, nếu hàng trăm ngàn chủ tàu cứ tự mình đi tìm

hàng chuyên chở và hàng vạn thương nhân trên thế giới cứ tự mình đi tìm kiếm loại

tàu thích hợp với loại hàng hoá của mình thì sẽ xảy ra tình trạng hỗn loạn trên thị

trường thuê tàu, không thúc đẩy mậu dịch thế giới phát triển. Ngày nay, việc quản

lý một con tàu cỡ vạn tấn không phải là đơn giản. Chủ tàu phải tốn nhiều công sức,

thì giờ để quản lý kỹ thuật, quản lý thuyền viên, nghiên cứu luật lệ quốc tế, đảm bảo

cho việc duy tu bảo dưỡng con tàu được tốt, tuổi thọ của nó được kéo dài, hoạt động

được nhiều ngày trong một năm… Chính vì vậy, chủ tàu không có điều kiện và khả

năng tìm được những nguồn hàng thích hợp, có giá cước hấp dẫn. Chủ hàng cũng

khó lòng tìm được loại tàu ưng ý mà không có sự giúp đỡ của bên thứ ba – những

người nắm rõ thủ tục, luật lệ và tập quán ở cảng cũng như tình hình tàu cần cho thuê

và những người nào có hàng cần vận chuyển. Sự ra đời của dịch vụ đại lý và môi

giới hàng hải là quá trình khách quan tất yếu trong ngành vận tải biển với vai trò

chắp nối giữa chủ tàu và chủ hàng – những người có thể không bao giờ tiếp xúc với

nhau và hầu như không gặp nhau.

Sau khi đã có sự thống nhất giữa chủ tàu và chủ hàng, hàng hoá muốn

chuyên chở từ nơi này đến nơi khác bằng đường biển thì cần phải được kiểm tra số

lượng và sắp xếp lên tàu một cách phù hợp. Đến nơi lại cần được dỡ ra khỏi tàu,

kiểm tra lại xem có tổn thất gì hay không. Từ đó dịch vụ kiểm đếm và bốc dỡ hàng

hoá ra đời.

20

Khi tàu chạy trên biển thì cần phải có nhiên liệu, thuyền viên cần lương thực,

thực phẩm, nước ngọt… Những nhu cầu này được đáp ứng bởi dịch vụ cung ứng

tàu biển.

Khi vào vùng cảng khó đi, gặp những nơi có luồng lạch quanh co, cần phải

có hoa tiêu dẫn tàu hoặc tàu khác lai, kéo. Nhiệm vụ này được thực hiện bởi dịch vụ

lai dắt tàu biển.

Sau một hành trình dài trên biển, tàu cập cảng, phát sinh nhu cầu vệ sinh, xử

lý chất thải, bảo dưỡng tàu hoặc sửa chữa nếu có chỗ bị hư hại. Dịch vụ vệ sinh và

sửa chữa tàu biển ra đời nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu đó.

1.2.4.2 Dịch vụ cảng biển phát triển góp phần thúc đẩy vận tải biển phát

triển.

Dịch vụ cảng biển và vận tải biển có mối quan hệ tương hỗ tạo điều kiện cho

nhau cùng phát triển. Dịch vụ cảng biển làm tròn nhiệm vụ “hậu cần”, tổ chức tốt

các hoạt động làm tăng khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác, nhờ vậy sẽ thu

hút thêm được lượng tàu lớn về các cảng trong nước, làm tăng sản lượng khai thác

của cảng, thúc đẩy ngành hàng hải phát triển. Ngành hàng hải phát triển sẽ mở rộng

thị trường cho dịch vụ cảng biển, tạo điều kiện giúp dịch vụ cảng biển tiếp tục phát

triển.

1.2.4.3 Dịch vụ cảng biển tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đặc biệt là

ngoại tệ.

Doanh thu từ dịch vụ cảng biển sẽ đóng góp cho ngân sách Nhà nước thông

qua hệ thống thuế, phí và lệ phí. Ngoài ra, một lượng lớn đối tượng phục vụ của

dịch vụ cảng biển là các hãng tàu, đội tàu nước ngoài, nhờ vậy dịch vụ cảng biển

đóng góp một lượng ngoại tệ không nhỏ thông qua hình thức xuất khẩu tại chỗ.

1.2.4.4 Dịch vụ cảng biển góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao

động, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Dịch vụ cảng biển ra đời và phát triển thu hút một lực lượng lao động đáng

kể từ lao động thủ công đến lao động có kỹ thuật cao, giúp giải quyết vấn đề việc

làm tại các quốc gia. Dịch vụ cảng biển vẫn đang trong giai đoạn phát triển nên sẽ

còn tiếp tục thu hút thêm lao động và tạo ra nhiều ngành nghề mới. Mức lương cũng

được cải thiện nhờ vào doanh thu ngày một tăng của dịch vụ cảng biển. Đời sống

người lao động nhờ vậy được nâng cao.

1.2.4.5 Dịch vụ cảng biển góp phần cân đối cơ cấu kinh tế.

21

Hiện nay, phần lớn dân số nước ta vẫn hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp

(khoảng 80%). Đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước là thực hiện công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, biến nước ta từ một nước nông nghiệp đang phát triển

thành một nước có nền kinh tế tiên tiến. Một nền kinh tế tiên tiến là một nền kinh tế

có cơ cấu hợp lý về ngành nghề và lực lượng lao động. Dịch vụ cảng biển phát triển

nâng cao vị trí của ngành dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân, giúp chuyển dịch cơ

cấu lao dộng theo xu hướng của các nước công nghiệp phát triển.

1.2.4.6 Dịch vụ cảng biển tham gia vào xu thế tự do hoá thương mại dịch vụ,

góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập của ngành hàng hải và nền kinh tế đất nước.

Dịch vụ cảng biển là một bộ phận không thể tách rời của vận tải biển. Hội

nhập quốc tế về dịch vụ cảng biển là một phần trong quá trình hội nhập của ngành

hàng hải. Thực hiện tốt hội nhập dịch vụ cảng biển là cơ sở, nền tảng giúp ngành

hàng hải tiếp tục hội nhập sâu rộng hơn và có hiệu quả hơn vào xu thế toàn cầu hoá,

tự do hoá thương mại dịch vụ. Hàng hải là một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng

của nền kinh tế quốc dân, góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất

của xã hội được liên tục thông qua việc vận chuyển cung ứng nguyên nhiên vật liệu,

bán thành phẩm và lao động phục vụ sản xuất. Thành quả về hội nhập của ngành

hàng hải có đóng góp to lớn trong quá trình hội nhập của cả nền kinh tế.

Nhìn chung, trong bối cảnh hiện nay, dịch vụ cảng biển giữ một vai trò ngày

càng quan trọng trong khối vận tải biển. Mặc dù vận tải biển ra đời trước, kéo theo

sự xuất hiện của dịch vụ cảng biển, song, nếu không có dịch vụ cảng biển phát triển

thì vận tải biển khó mà hoạt động một cách nhịp nhàng và thuận lợi được.

1.3 Kinh nghiệm phát triển dịch vụ cảng biển của một số nƣớc trên thế giới và

khu vực

1.3.1 Singapore

1.3.1.1 Vai trò của Chính phủ và chiến lược quản lý bằng công nghệ thông tin.

Đề cập đến kinh nghiệm phát triển dịch vụ cảng biển của Singapore không

thể không nói tới vai trò của Chính phủ trong việc quản lý, quy hoạch và phát triển

hệ thống dịch vụ cảng biển.

Chính phủ Singapore đã từng được bầu chọn là chính phủ giỏi nhất trên thế

giới trong cuộc khảo sát của công ty tư vấn BERI (Mỹ) được tổ chức hàng năm.

Cuộc khảo sát được tiến hành dựa trên 4 yếu tố: đặc điểm chính trị và cơ cấu lãnh

đạo đất nước; chính sách quản lý tài chính; chính sách kinh tế vĩ mô; yếu tố xã hội

22

và bên ngoài. Trên thực tế, Singapore là một trong những nước có khả năng cạnh

tranh nhất Châu Á (Năm 2004, theo Diễn đàn kinh tế thế giới -WEF thì Singapore

được xếp thứ 7 trên thế giới về chỉ số cạnh tranh tăng trưởng và xếp thứ 2 ở Châu Á

sau Đài Loan). Đã từ lâu, nước này nhận thấy lĩnh vực dịch vụ, trong đó có lĩnh vực

dịch vụ cảng biển, là cơ sở hạ tầng và đã hoàn tất xúc tiến lĩnh vực này.

Chính phủ Singapore chủ trương tạo ra sự giàu có hơn là phân phối lại nó.

Công nhân được khuyến khích tự lực, tạo ra nhân công có nghề nghiệp được trả

lương cao hơn ở tất cả các cấp. Chính phủ chú trọng phát triển tài năng và nguồn

nhân lực, nhấn mạnh giáo dục và đào tạo, cải thiện môi trường, ủng hộ kinh doanh:

các doanh nghiệp giữ dịch vụ cơ sở hạ tầng được hưởng tỷ lệ thuế ở mức thấp,

khuyến khích tối đa để tạo ra sự giàu có. Chính phủ chịu trách nhiệm đối với các

khu vực vượt quá phạm vi khu vực tư nhân, kế hoạch hoá nguồn nhân lực, đầu tư cơ

sở hạ tầng, góp vốn vào các dự án đặc biệt lớn, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong các

cụm ngành. Bắt đầu từ năm 1972, các nhà lãnh đạo cảng Singapore quyết định mở

khu bến Tanjong Pagar để bốc dỡ Container với 3 cầu tàu cho tàu Container cập

cảng. Đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn khi mà lượng hàng Container qua cảng

tăng từ 100.000 TEU vào cuối những năm 70 lên 1 triệu TEU vào năm 1982 và đến

năm 1997 đã đạt 14,135 triệu TEU.

Đặc biệt, Chính phủ Singapore rất quan tâm đến việc củng cố chiều sâu nền

tảng công nghệ. Điển hình như trong việc quản lý cảng biển Singapore, công nghệ

thông tin đã, đang và sẽ tiếp tục giữ vai trò ngày càng quan trọng. Cảng Singapore

là 1 trong 10 cảng hàng đầu thế giới.

23

Bảng 1.5: Danh sách 10 cảng Container lớn nhất thế giới

TT Cảng Năm 1996 TEU Năm 1997 TEU Nƣớc / khu vực

13.460.343 1 Hong Kong 14.567.231 PRC

12.943.900 2 Singapore 14.135.300 Singapore

5.063.048 3 Kaohsiung 5.693.339 Đài loan

4.971.449 4 Rotterdam 5.494.655 Hà Lan

4.725.206 5 Pusan 5.233.880 Hàn Quốc

3.517.784 6 New York 4.127.568 USA

3.007.425 7 Long Beach 3.504.603 USA

3.054.320 8 Hamburg 3.337.477 Đức

2.653.909 9 Antwerp 2.969.189 Bỉ

2.683.027 10 Los Angeles 2.959.715 USA

Nguồn: ISL, Cơ sở dữ liệu về cảng, 1997

Sản lượng hàng đến cảng ngày càng tăng nhanh dẫn đến việc quản lý và khai

thác cảng biển của Singapore chịu rất nhiều áp lực. Việc bố trí tàu lai dắt, cầu tàu,

bến bãi và bố trí nhân lực phục vụ cho các hoạt động khai thác của cảng 24

giờ/ngày và 7 ngày/tuần đã khiến guồng máy phục vụ phải hoạt động hết công suất.

Gánh nặng của công tác điều hành, quản lý bắt đầu trở nên quá tải đối với đội ngũ

nhân viên tại cảng. Nếu tiếp tục khai thác theo phương pháp cũ như trước thì thời

gian bốc dỡ, thời gian thông quan… sẽ bị kéo dài dẫn đến các tàu sẽ có xu hướng

ghé vào các cảng lân cận. Vì vậy, Ban lãnh đạo Cảng đã quyết định đưa công nghệ

thông tin vào khâu quản lý và khai thác cảng để nâng cao hiệu quả của công tác này.

Năm 1997, cảng Singapore đầu tư và lắp đặt hệ thống thông tin quản lý điều hành

cảng. Chính hệ thống này đã giúp cảng Singapore cạnh tranh hiệu quả và trở thành

một đối thủ đáng gờm của các cảng trong khu vực và quốc tế. Hệ thống này gồm 4

hệ thống thành phần hỗ trợ nhau, đó là CITOS, BOXNET, PORTNET và FAST-

CONNECT.

- CITOS: được sử dụng để lập kế hoạch bố trí sử dụng cầu tàu, bến bãi, thiết

bị, nhân lực và điều hành toàn bộ công tác bốc dỡ Container. Từ trung tâm máy tính

điều hành của bến Container, các mệnh lệnh được chuyển đến các thiết bị đang khai

thác thông qua hệ thống dịch chuyển dữ liệu không dây tức thời. Với CITOS, cảng

Singapore đã trở thành cảng có tốc độ giải phóng tàu nhanh nhất thế giới.

24

- BOXNET: là một hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), được sử dụng để

hướng dẫn các công ty vận tải đường bộ đưa phương tiện vận tải đến rút hàng / chở

hàng ra khỏi cảng, hướng dẫn các công ty này điều hành số lượng phương tiện cần

thiết đến cảng và tập kết đúng khu vực.

- PORTNET: cũng là một EDI giúp các nhà quản lý cảng liên hệ với chủ

hàng thông qua thông tin điện tử và giao tiếp điện tử 24 giờ/ngày. Nhờ có

PORTNET, các chủ hàng nhận thông tin từ cảng một cách thuận tiện và nhanh

chóng, đồng thời có thể đưa ra các yêu cầu về công việc cho cảng hoàn toàn dưới

dạng giao dịch điện tử.

- FAST-CONNECT: có chức năng giảm thiểu thời gian tiêu tốn tại các khu

vực đầu mối chuyển tải Container. Kể từ khi sử dụng FAST-CONNECT, tại khu

vực trung chuyển, thời gian điều tàu giữa hai lượt kế nhau đã giảm từ 8 giờ xuống

chỉ còn 2 giờ.

Các chủ tàu trên các tuyến viễn dương đánh giá cao việc đầu tư của

Singapore vào công nghệ thông tin. Bằng việc xây dựng hệ thống này, Singapore đã

tạo nên một sự khác biệt so với dây chuyền cung cấp dịch vụ trong ngành hàng hải

thế giới. Đặc biệt là các chủ tàu trên tuyến hàng hải Châu Á - Thái Bình Dương, họ

chọn Singapore dù họ biết rằng có thể phải trả giá cao hơn nhưng bù lại chất lượng

và thời gian thực hiện các dịch vụ của Singapore khó có đối tác nào sánh kịp. [43]

Nhờ vậy, cảng Singapore hiện đã trở thành một trong những cảng trung

chuyển quốc tế khổng lồ. Hiện tại, cảng đã có 6 khu bến Container, phục vụ hơn

2.000 tàu chuyên tuyến, mỗi ngày tiếp nhận hơn 60 tàu Container đến bốc dỡ với

hơn 45.000 TEU thông qua.

Từ năm 1999 đến năm 2003, cảng Singapore đã 4 lần liên tiếp đạt danh hiệu

“ cảng Container xuất sắc nhất” và “cảng Container có tốc độ khai thác cao

nhất”của Lloy’d List Maritime Asia Award. 13 lần liên tiếp (từ năm 1988) cảng

được tạp chí AFIA (Asian Freight and Supply Chain Award) bình chọn là “ Nhà

khai thác cảng Container giỏi nhất Châu Á” và 14 lần liên tiếp (từ năm 1988) đạt

danh hiệu “Cảng biển xuất sắc nhất Châu Á”… Bàn về thành công này, các nhà

lãnh đạo cảng Singapore đã nhất trí rằng: chìa khoá cho sự thành công của cảng

Singapore ngày nay chính là việc sử dụng công nghệ thông tin trong công tác quản

lý và khai thác cảng. Nhờ đó, cảng mới đáp ứng phù hợp với tốc độ phát triển của vận

tải biển thế giới.

25

1.3.1.2 Mô hình quản lý dịch vụ cảng biển

Trong việc quản lý cảng biển và các dịch vụ cảng biển hiện nay, Singapore

áp dụng 2 mô hình:

- Mô hình quản lý theo kiểu chủ cảng: Theo mô hình này, cơ quan quản lý

cảng sở hữu và bảo trì các công trình cảng nhưng không tham gia vào các dịch vụ

tại cảng cũng như khai thác bến. Nói cách khác, cơ quan quản lý cảng là người sở

hữu và bảo trì các công trình cảng nhưng cho khu vực tư nhân thuê để thực hiện các

dịch vụ tại cảng như bốc xếp, giao nhận, lưu kho hàng hoá …

- Mô hình thương mại hoá: Đây là mô hình thương mại hoá về quản lý cảng.

Theo mô hình này, một công ty thương mại sở hữu và tự khai thác các công trình

cảng hoặc giao cho một đơn vị khác thuê để khai thác.

Trước năm 1997, cảng Singapore (PSA) là chính quyền cảng công trực thuộc

Chính phủ Singapore. PSA sở hữu các phương tiện cảng biển, quản lý và kiểm soát

mọi lĩnh vực kinh doanh khai thác bến cảng. Để việc kinh doanh khai thác có hiệu

quả hơn, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh gay gắt trong khu vực, từ 01/01/1997, công ty

cảng biển PSA đã được hình thành bằng cách công ty hoá cảng Singapore. Việc

công ty hoá PSA bao gồm việc chuyển cảng Singapore từ vị trí là một cơ quan của

Chính phủ thành một thực thể độc lập và tư nhân nhưng chính phủ sở hữu toàn bộ.

Theo đó, một công ty hoàn toàn của Nhà nước (Công ty Temasek Holdings) sở hữu

100% cổ phần của công ty PSA. Công ty PSA khai thác các bến Container tại Brani,

Keppel và Tanjiong Pagar, đây là ba khu vực làm hàng chính ở Singapore.

Bảng 1.6: Cơ cấu hành chính của cảng Singapore đƣợc tóm tắt theo sơ đồ sau

Cục hàng hải và cảng biển (MPA)

Chính quyền cảng

Chủ sở hữu thực sự của các bến Container và phương tiện cảng

Công ty trách nhiệm hữu hạn cảng biển PSA

* Người kinh doanh khai thác bến Container độc lập và tư nhân

* Công ty Container do Chính phủ Singapore sở hữu 100% vốn

Bến Brani Bến Keppel Bến Tanjiong

26

PSA rất chú trọng vào cơ sở vật chất để nâng cao hơn nữa chất lượng dịch

vụ. Để nâng cao khả năng cạnh tranh, PSA tập trung vào việc phát triển năng lực

công nghệ thông tin để khách hàng có thể truy cập được thông tin từ toàn bộ mạng

lưới này, tiết kiệm một phần không nhỏ chi phí quản lý và nhân sự cho khách hàng

của mình.

Cảng Singapore còn có khu buôn bán tự do đi vào hoạt động từ năm 1969.

Tại các khu trên, có nhiều thiết bị và dịch vụ vận chuyển hàng vào kho và tái xuất

hàng hoá sau khi kiểm tra và đóng thuế với những thủ tục hải quan tối thiểu.

Trong chính sách cạnh tranh với các cảng trong khu vực, Singapore lấy chất

lượng dịch vụ làm động lực cho cạnh tranh chứ không phải giảm giá dịch vụ.

Như vậy, chiến lược phát triển dịch vụ cảng biển của Singapore có thể tóm

gọn như sau: chú trọng đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng và hệ thống quản lý sử

dụng công nghệ thông tin tối tân, cung cấp dịch vụ với chất lượng tốt nhất cho dù

giá cả có thể cao hơn so với các nước khác trong khu vực.

1.3.2 Trung Quốc

Không giống như các nước đang phát triển khác, trong 2 thập niên qua,

Trung Quốc đã cải thiện các hoạt động thương mại và phát triển của mình. Nhiều

nước đang phát triển, đặc biệt là những nước tiến hành cải cách tự do hoá thương

mại, đã phải trải qua một giai đoạn suy thoái cán cân thương mại với nước ngoài và

suy giảm tốc độ phát triển kinh tế. Nhưng Trung Quốc thì không. Trong khoảng

thời gian một thập kỷ trước khi gia nhập WTO, thương mại hàng hoá và dịch vụ của

Trung Quốc đã đạt tốc độ phát triển đến 2 con số, gấp 2 lần so với tốc độ phát triển

trung bình của thế giới. Đối với Trung Quốc, gia nhập WTO đồng nghĩa với tự do

hoá thương mại và mở cửa nền kinh tế cho các đối thủ cạnh tranh nước ngoài lớn

mạnh hơn.

1.3.2.1 Cam kết của Trung Quốc về tự do hoá trong lĩnh vực dịch vụ cảng

biển

Trong các cam kết tự do hoá dịch vụ cảng biển của Trung Quốc tại WTO,

nổi bật lên các cam kết sau đây về:

27

- Không hạn chế về mở cửa thị trường đối với mode 1 (cung cấp dịch vụ qua

biên giới) và mode 2 (tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài).

- Không hạn chế về ưu đãi quốc gia cho các nhà cung cấp dịch vụ vận tải

biển với mode 1 và mode 2.

- Về mở cửa thị trường (mode 3-hiện diện thương mại), Trung Quốc cho

phép thành lập công ty để khai thác tàu biển treo cờ Trung Quốc theo các hình thức:

Công ty hàng hải liên doanh với vốn góp bên ngoài không quá 49%, Chủ tịch Hội

đồng quản trị và Tổng giám đốc công ty liên doanh do phía Trung Quốc chỉ định.

Trung Quốc chưa cam kết gì về các hình thức hiện diện thương mại.

Các cam kết tự do hoá trên đây của Trung Quốc cho thấy Trung Quốc đã mở

cửa thị trường dịch vụ vận tải biển nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng rất

mạnh mẽ (trừ mode 4-di chuyển thể nhân). Trung Quốc đối xử với người cung cấp

dịch vụ nước ngoài như đối với nhà cung cấp dịch vụ Trung Quốc.

1.3.2.2 Sự chuẩn bị về mặt pháp luật

Để có thể thực hiện tối đa các cam kết của mình, một trong những công việc

Trung Quốc tiến hành đầu tiên là chuẩn bị các điều kiện pháp luật, trong đó có việc

rà soát, sửa đổi, thực thi pháp luật, xây dựng và tăng cường năng lực thiết chế để

đàm phán và thực thi các cam kết WTO của mình. Đó là:

Trung Quốc đã có sự chuẩn bị các điều kiện pháp lý và quyết tâm cao để gia

nhập và thực thi các cam kết WTO. Nhiều văn bản pháp luật được ban hành trước

khi gia nhập WTO nhưng đã tính đến các yêu cầu của WTO nhằm hạn chế việc phải

sửa đổi sau khi gia nhập. Một số văn bản pháp luật được soạn thảo và ban hành khi

lộ trình thực hiện các cam kết WTO chưa tới nhưng có quy định thời gian thực hiện

đúng với lộ trình để tăng cường tính dự đoán của quy định, cũng như tận dụng thời

gian chuyển đổi tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp chuẩn bị

trước. Cách làm này của Trung Quốc đặc biệt thích hợp đối với những quốc gia có

truyền thống làm luật là sửa đổi, bổ sung và ban hành mới theo từng văn bản giống

như Việt Nam.

Việc rà soát pháp luật phục vụ gia nhập WTO được tiến hành sâu rộng ở cả

cấp Trung ương và địa phương đã giúp các cơ quan của Trung Quốc có được bức

tranh toàn cảnh về nhu cầu và hướng xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Từ kinh

nghiệm của Trung Quốc, có thể thấy công việc rà soát pháp luật là công việc thường

28

xuyên phải được tiến hành, ngay cả sau khi gia nhập WTO và nên giao cho một cơ

quan chịu trách nhiệm.

Trung Quốc đã đạt được những thành tích rất khả quan trong việc minh bạch

hoá các văn bản pháp luật mới ban hành. Quy định của Chính phủ (ban hành tháng

12 năm 2001) yêu cầu đăng tất cả các quy định pháp luật mới ban hành 30 ngày

trước khi thi hành và ngay lập tức quy định trên có hiệu lực: tất cả các văn bản pháp

luật đều được đăng trước ngày có hiệu lực thi hành. Đây được coi là một bước tiến

lớn trong việc minh bạch hoá pháp luật tại Trung Quốc so với trước khi gia nhập

WTO. Hơn nữa, các văn bản pháp luật mới này thường không chỉ được đăng trên

các tạp chí chính thức mà còn được đăng cả trên Internet.

Các cam kết liên quan tới rà soát và điều chỉnh pháp luật của Trung Quốc

được đánh giá là thực hiện tốt so với thực tiễn thi hành các quy định pháp luật. Có

lẽ, Trung Quốc đã học được kinh nghiệm của nhiều nước tham gia WTO và bài học

từ các vụ việc tranh chấp được giải quyết trong WTO: các nước rất ít hay gần như

không còn sử dụng các biện pháp thương mại không phù hợp với WTO. Như vào

tháng 8 năm 2002, Trung Quốc ban hành văn bản pháp luật quy định rất chặt chẽ

điều kiện kinh doanh dịch vụ giao nhận, tiếp vận, trong đó chỉ cho phép liên doanh

trong lĩnh vực này ở 8 thành phố chứ không phải toàn quốc. Trước đó, theo cam kết

của Trung Quốc khi gia nhập WTO, nước này đồng ý cho phép nước ngoài liên

doanh trong các dịch vụ trên, năm 2004 cho phép nước ngoài lập công ty 100% vốn

của họ. Quy định này bị coi là hạn chế hoạt động của các công ty nước ngoài kinh

doanh trong lĩnh vực trên và cấm họ không được hoạt động ở các khu vực ngoài 8

thành phố đó. Do vậy, quy định này đã bị nhiều đối tác nước ngoài phản đối mạnh

mẽ.

Trong quá trình thực hiện các cam kết WTO, Trung Quốc đã chịu sức ép rất

lớn của các nước thành viên WTO, kể cả việc theo dõi, giám sát và tham vấn song

phương và đa phương mỗi khi có vấn đề bất đồng về việc thi hành. Vì vậy, Trung

Quốc cần phải có đội ngũ chuyên gia giỏi, đủ năng lực để tham vấn, thảo luận và

lập luận bảo vệ quan điểm của mình trước các ý kiến của nước khác.

1.3.2.3 Mô hình quản lý dịch vụ cảng biển

29

Về quản lý Nhà nước, Trung Quốc hiện đang áp dụng 2 mô hình:

- Mô hình tổng công ty nhà nước quản lý trực tiếp: Theo mô hình này, cơ

quan quản lý cảng sở hữu và bảo trì những công trình cảng, phát triển cơ sở hạ tầng

cảng, khai thác các bến và cung cấp dịch vụ xếp dỡ hàng hoá và các dịch vụ khác tại

cảng. Cơ quan quản lý cảng đồng thời còn quản lý trực tiếp lực lượng lao động tại

cảng.

- Mô hình quản lý theo kiểu chủ cảng: (đã nêu ở phần 1.3.1 Singapore)

Tất cả các cảng biển của Trung Quốc do Chính phủ Trung ương sở hữu và

quản lý. Bộ GTVT quản lý tất cả các cảng biển trong cả nước. Ở cấp địa phương,

các chính quyền cảng ở mỗi tỉnh thành liên quan chịu trách nhiệm về các chức năng

hàng hải như cảng vụ, hoa tiêu. Lấy cảng Container Thượng Hải làm thí dụ: Văn

phòng cảng Thượng Hải là chính quyền cảng, đảm bảo các vấn đề quản lý nhà nước

về hàng hải. Tuy có mức độ nhưng văn phòng cũng tham gia vào việc kinh doanh,

khai thác các bến Container thông qua công ty trách nhiệm hữu hạn bến Container

Thượng Hải (SCT). Đây là liên doanh giữa chính quyền Thượng Hải và công ty

trách nhiệm hữu hạn Hutchison Whampoa. Theo đó, SCT là một người khai thác

độc lập, được đồng tổ chức- giữa một cơ quan nhà nước và một công ty tư nhân.

SCT khai thác ở 3 bến Container là Zhang Hua Bang, Jun Gong Lu và Bao Shan.

Mô hình tổ chức cảng Container được thể hiện ở sơ đồ sau:

Bảng 1.7: Cơ cấu hành chính của cảng Thƣợng Hải

Văn phòng chính phủ

Chính quyền cảng Thượng Hải

Công ty trách nhiệm hữu hạn bến cảng Container Thượng Hải

Là liên doanh giữa văn phòng cảng Thượng Hải và công ty trách nhiệm hữu

hạn Hutchison Whampoa

Chủ sở hữu và người khai thác các bến cảng Container và các phương tiện

cảng ở Thượng Hải

Bến Jun Gong Lu Bến Bao Shan Bến Zhang Hua Bang

30

Dịch vụ vận tải biển, trong đó có dịch vụ cảng biển là một trong những lĩnh

vực dịch vụ đầu tiên Trung Quốc chọn để tham gia đàm phán về thương mại dịch vụ

tại vòng đàm phán Uruguay. Kể từ ngày 01/5/2001, Trung Quốc chấm dứt việc điều

hành giá cước dịch vụ này. Chính sách này ảnh hưởng tích cực đến các hãng tàu,

đại lý, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển trong nước cũng như nước

ngoài. Nó thể hiện sự tin tưởng của các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc vào

một thị trường vận tải biển quốc gia đã thực sự vững mạnh. Các công ty được quyền

chủ động điều chỉnh giá cước nội địa và quốc tế phù hợp với thị trường, đặc thù của

công ty, với điều kiện các mức cước trên phải được niêm yết công khai trước khi áp

dụng 30 ngày. Kế hoạch 5 năm (2001-2005) của Trung Quốc đã xác định thiết lập

một thị trường tự do, cạnh tranh lành mạnh và thống nhất trên phạm vi toàn quốc,

phù hợp với tiến trình gia nhập WTO. Trung Quốc dành sự ưu đãi, không phân biệt

đối xử với các tàu nước ngoài khi đến cảng biển Trung Quốc. Trung Quốc ký kết

các hiệp định song phương về vận tải biển với 56 quốc gia, khoảng 200 dự án cảng

có vốn đầu tư nước ngoài đang được thực hiện. Thêm vào đó, các chính sách mềm

dẻo, thủ tục hành chính đơn giản sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hãng tàu

nước ngoài khi đến Trung Quốc. Nhờ vậy, các cảng biển Trung Quốc đang được

chọn làm điểm đến của các hãng vận tải biển nước ngoài, giống như các quốc gia

tiên tiến trên thế giới.

Tóm lại, chiến lược hội nhập về dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biển nói

riêng của Trung Quốc là chuẩn bị tốt hệ thống pháp luật làm cơ sở cho hội nhập,

tận dụng lợi thế nhân công rẻ, được nhà nước đầu tư lớn, chính sách mềm dẻo, thủ

tục hành chính đơn giản.

1.3.3 Thái Lan

Mô hình quản lý Nhà nước của Thái Lan tương tự như của Trung Quốc. Thái

Lan áp dụng 2 mô hình là: tổng công ty nhà nước quản lý trực tiếp và quản lý theo

kiểu chủ cảng. Chính quyền cảng Thái Lan đã xây dựng các cơ sở hạ tầng chính như

bến đậu tàu, luồng ra vào cảng… ở các bến. Kể từ khi Chính phủ có chính sách

khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân nhằm đạt được hiệu quả cao và cạnh

31

tranh quốc tế thì những bến Container được tư nhân hoá. Việc khai thác các bến

Container được giao cho khu vực tư nhân thông qua các hợp đồng cho thuê với

chính quyền cảng, bao gồm các công ty quốc tế. Về nguyên tắc, ở cảng Bangkok,

chính quyền cảng không cho các công ty tư nhân thuê khai thác toàn bộ cơ sở hạ

tầng cảng thông qua hợp đồng thuê mà trực tiếp quản lý và khai thác các bến. Khu

vực tư nhân chỉ tham gia vào một số dịch vụ như bốc xếp hàng hoá. Tuy nhiên,

cảng Bangkok đang cố gắng quản lý và khai thác ngày một hiệu quả hơn. Việc khai

thác các bến Container ngày nay được giao cho khu vực tư nhân quốc tế. Sự tham

gia của khu vực tư nhân vào khai thác cảng có 6 mục tiên cơ bản:

- Giảm bớt gánh nặng của Chính phủ trong việc đầu tư phát triển cảng.

- Tăng năng lực của phương tiện cảng.

- Áp dụng hiệu quả cao hơn thông qua cạnh tranh bình đẳng.

- Cung cấp dịch vụ chất lượng cao với giá rẻ hơn cho người sử dụng.

- Chuyển giao và áp dụng công nghệ cao.

- Khuyến khích thực hiện nhanh công việc.

Với đà tăng trưởng 7-8%/năm trong gần một thập niên qua, Thái Lan được

thế giới thừa nhận là có một nền kinh tế năng động và giàu tiềm năng. Sự phát triển

của nền kinh tế Thái Lan khiến lượng hàng hoá xuất nhập khẩu ngày một tăng lên.

Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của ngành vận tải đặc biệt là vận tải biển, lực lượng chủ

công của ngành vận tải Thái Lan. Thị trường rộng lớn là một yếu tố quan trọng kích

thích sự phát triển của ngành Hàng hải. Bên cạnh đó, vị trí địa lý và điều kiện tự

nhiên của Thái Lan cho phép nước này có thể xây dựng đội tàu biển, hệ thống cảng

biển và dịch vụ cảng biển sánh ngang với các nước có nền hàng hải tiên tiến trong

khu vực và thế giới. Tuy nhiên, những gì ngành hàng hải nước này làm được còn

quá nhỏ bé so với nhu cầu mà sự phát triển kinh tế đòi hỏi. Nhận thức được điều

này, từ hơn một thập niên qua, chính phủ Thái Lan rất chú trọng đầu tư phát triển

ngành hàng hải thông qua nhiều chính sách và biện pháp như: hiện đại hoá cơ sở hạ

tầng (bến cảng, kho bãi, phương tiện bốc dỡ…), đơn giản hoá thủ tục hành chính,

khuyến khích phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt chính phủ rất quan tâm đến các

chính sách tài chính như thuế và cho vay ưu đãi. Chính phủ cũng đẩy mạnh đầu tư

dài hạn cho ngành hàng hải, tìm các nguồn tài trợ với lãi suất thấp để tăng đầu tư

phát triển ngành này.

32

Như vậy, chiến lược phát triển dịch vụ cảng biển mà Thái Lan đang theo

đuổi là: san sẻ bớt một phần cho khu vực kinh tế tư nhân, tiến tới chính quyền chỉ

quản lý về mặt vĩ mô và rút về phía sau hậu thuẫn.

Tóm lại, dịch vụ cảng biển đang ngày càng giữ một vai trò quan trọng trong

khối vận tải biển. Mặc dù vận tải biển ra đời trước, kéo theo sự ra đời của dịch vụ

cảng biển. Song, nếu không có dịch vụ cảng biển thì vận tải biển khó mà hoạt động

thuận lợi và phát triển như hiện nay. Singapore, Trung Quốc, Thái Lan… là những

nước có mô hình dịch vụ cảng biển phát triển. Trên cơ sở phân tích những thành

công của các nước, Việt Nam học hỏi được những kinh nghiệm quý báu và sẽ áp

dụng linh hoạt vào từng hoạt động cụ thể.

31

CHƢƠNG II

THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CẢNG BIỂN Ở VIỆT NAM

2.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh dịch vụ ở cảng Việt Nam

2.1.1 Pháp luật quốc tế

Do yếu tố đặc thù, ngành Hàng hải Việt Nam là một trong những ngành sớm

thiết lập các mối quan hệ song phương và đa phương với các nước, các tổ chức

Quốc tế trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam là thành viên của Tổ chức Hàng

hải Quốc tế (IMO), Hiệp hội Hải đăng Quốc tế (IALA), Tổ chức Vệ tinh Hàng hải

Quốc tế (INMARSAT), Hiệp định COSPAS-SARSAT và đã ký được 17 hiệp định

hàng hải song phương với các nước, là thành viên của các tổ chức ASEAN, APEC

và Thỏa thuận về Kiểm tra Nhà nuớc Cảng biển Khu vực Châu Á - Thái Bình

Dương (TOKYO MOU).

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia 12 công ước Quốc tế về hàng hải của IMO

và INMARSAT, trong đó có:

- COLREG 72: Công ước quy tắc quốc tế phòng ngừa va chạm tàu thuyền

trên biển. Việt Nam phê chuẩn công ước ngày 18.12.1990 và có hiệu lực từ ngày

18.3.1991.

- Công ước MARPOL ngày 02.11.1973 về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973-

1978, có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 18.3.1991.

- Công ước MARPOL 73/78: Quy định cụ thể các biện pháp phòng chống ô

nhiễm biển từ tàu, tạo điều kiện thuận lợi cho tàu mang cờ của quốc gia vào các

cảng biển trên thế giới.

- IMO-SOLAR: Công ước về cứu hộ trên biển, Luân Đôn ngày 01.11.1974.

Có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 18.3.1991.

- Công ước về mớn nước năm 1976.

- Công ước tránh đâm va, 1978, có lực với Việt Nam từ ngày 18.12.1990.

- VNCLOS 1982: Công ước Luật biển 1982 - được ký kết ngày 10.12.1982

tại Môngtêgơ Bay, Giamaica. Đến 16.11.1994 Công ước có hiệu lực. Việt Nam là

nước thứ 64 phê chuẩn công ước này thông qua Nghị quyết của Quốc hội ngày

23.6.1994.

Vừa qua, Cục Hàng hải Việt Nam đã đề xuất với Bộ GTVT và Chính phủ ký

kết, gia nhập công ước Nghị định thư 1992, sửa đổi Công ước quốc tế về giới hạn

32

trách nhiệm dân sự đối với các thiệt hại do ô nhiễm dầu năm 1969 (viết tắt là CLC

92), Công ước về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải

1988 (SUA 1988), và triển khai thành công Nghị định thư của SOLAR 74/78 về bộ

luật an ninh cho tàu và bến cảng, đang xúc tiến triển khai việc ký kết gia nhập Công

ước quốc tế về tạo thuận lợi trong vận tải biển (FAL 65). [27]

Đến nay, Việt Nam đã gia nhập các Hiệp định có liên quan về dịch vụ trong

lĩnh vực hàng hải của các nước ASEAN:

- Hiệp định tạo điều kiện thuận lợi cho việc tìm kiếm tàu biển bị nạn và cứu

người sống sót của tàu biển bị nạn: Ký ngày 15/5/1975

- Hiệp định khung ASEAN về thương mại dịch vụ: Ký ngày 15/12/1995

- Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA): ký ngày 07/10/1998

- Hiệp định khung ASEAN về tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hoá quá cảnh:

ký ngày 16/12/1998. [49]

2.1.2 Pháp luật Việt Nam

2.1.2.1 Bộ luật Hàng hải Việt Nam

Pháp luật về hàng hải của Việt Nam được xây dựng trong thời kỳ nền kinh tế

chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường. Bộ luật Hàng hải đã

được xây dựng trong bối cảnh đất nước có sự chuyển biến sâu sắc từ nền kinh tế kế

hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Vì vậy, chiến lược phát triển kinh

tế của Đảng và Nhà nước đã được phản ánh trong Bộ luật Hàng hải của Việt Nam.

Bộ luật Hàng hải trong quá trình xây dựng có tham khảo những văn bản pháp

luật tương tự của các nước trong khu vực và trên thế giới cũng như một số công ước

về hàng hải. So sánh Bộ luật Hàng hải Việt Nam với bộ luật tương tự của các nước

cũng như các công ước quốc tế về hàng hải, chúng ta nhận thấy rằng các thuật ngữ,

khái niệm, định nghĩa … mà chúng ta sử dụng tương đối thống nhất. Một số điều

khoản quy định trong Bộ Luật Hàng hải gần như chúng ta trích dẫn các điều khoản

của các Công ước quốc tế về hàng hải, ví dụ như một số điều khoản chương V (Hợp

đồng vận chuyển hàng hoá), chương X, chương XIII, chương XIV…

Như vậy, các điều khoản quy định trong Bộ luật Hàng hải Việt Nam về cơ

bản không khác nhiều so với luật tương tự của các nước cũng như các Công ước

quốc tế về Hàng hải hiện nay. Có nghĩa là trong quá trình hội nhập, những xung đột

về pháp luật hàng hải giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ

hạn chế đi rất nhiều.

33

Bộ luật Hàng hải Việt Nam được khởi thảo xây dựng từ năm 1985, qua nhiều

lần sửa đổi và bổ sung, ngày 30/03/1990 Bộ luật đã được Quốc hội Việt Nam thông

qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/1991. Bộ luật Hàng hải Việt Nam được áp

dụng đối với những quan hệ pháp luật phát sinh từ các hoạt động liên quan đến việc

sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học – kỹ thuật, văn

hoá, thể thao, xã hội và công vụ Nhà nước, gọi chung là hoạt động hàng hải.

Dịch vụ cảng biển là các hoạt động dịch vụ phục vụ cho hoạt động hàng hải

nên chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Hàng hải.

Quốc hội khóa XI – Kỳ họp thứ 7 vừa qua đã thông qua Bộ luật Hàng hải

Việt Nam sửa đổi (Bộ luật 2005). Dự án Bộ luật Hàng hải Việt Nam (sửa đổi) là

một công việc khó khăn và phức tạp, được thực hiện trong gần 6 năm (1999-2005).

Đây là dự án được chuẩn bị công phu, đảm bảo đúng tiến độ nhờ sự cố gắng, tích

cực của Ban soạn thảo và Tổ biên tập.

2.1.2.2 Luật Thương mại

Luật Thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực thi hành kể

từ ngày 01/01/1998.

Luật Thương mại là cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần

theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ

nghĩa. Phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại rất rộng, gồm tất cả các hành vi

thương mại (trong đó có cung ứng dịch vụ), xác định địa vị pháp lý của thương

nhân và quy định những nguyên tắc, chuẩn mực trong hoạt động thương mại tại

Việt Nam. Đối tượng áp dụng của Luật Thương mại là thương nhân hoạt động

thương mại tại Việt Nam gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng

ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập thường xuyên.

Hoạt động của dịch vụ cảng biển phải tuân theo các nguyên tắc, chuẩn mực

trong hoạt động thương mại của Luật Thương mại.

2.1.2.3 Luật doanh nghiệp

Luật Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá IX, kỳ

họp thứ 5 thông qua ngày 12/6/1999 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2000.

Luật doanh nghiệp ra đời vào thời điểm mà nền kinh tế thị trường ở nước ta

đang hình thành và phát triển, các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tế trong đó có dịch vụ cảng biển được Đảng và Nhà nước quan tâm, khuyến khích.

34

Hoạt động dịch vụ cảng biển chịu sự điều chỉnh của luật doanh nghiệp về

việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

cảng biển.

2.1.2.4 Nghị định số 10/2001/NĐ-CP

Nghị định số 10/2001/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải được

Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 19/2/2001. Tất cả các doanh

nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải phải tuân theo quy định của Nghị định này

cũng như hệ thống pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế có liên quan mà

nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Sự ra đời của Nghị định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho lĩnh vực

kinh doanh dịch vụ cảng biển, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của đất nước.

2.1.2.5 Các văn bản pháp luật khác

- Thông tư liên tịch 08/2004/TTLT-BTM-BTC-BGTVT của Bộ Thương mại,

Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải ngày 17/12/2004 về việc hướng dẫn thực hiện

dịch vụ trung chuyển Container quốc tế tại các cảng biển Việt Nam.

- Quyết định 100/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 24/12/2004 về việc

quy định tỷ lệ chi và nộp phí, lệ phí hàng hải cho cơ quan, tổ chức thu phí, lệ phí.

- Nghị định số160/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/12/2003 về quản lý

hoạt động hàng hải tại cảng biển và các khu vực hàng hải ở Việt Nam.

- Quyết định số 88/2004/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày

19/11/2004 ban hành biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải.

- Quyết định số 1381/2004/QĐ của Giám đốc Cảng Sài Gòn ngày

22/12/2004 ban hành biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải …

2.2 Dịch vụ cảng biển ở Việt Nam

2.2.1 Quá trình hình thành hoạt động dịch vụ cảng biển tại Việt Nam

Dịch vụ cảng biển đã ra đời khá lâu ở Việt Nam. Ngay từ khi Hải Phòng giải

phóng (12/5/1945), tàu các nước xã hội chủ nghĩa (Ba Lan, Liên Xô, Trung Quốc)

đã vào cảng Hải Phòng xếp dỡ hàng hoá và dịch vụ đại lý tàu biển đã ra đời. Hoạt

động này chính thức được đánh dấu bởi Nghị định 15/CP do Thủ tướng Phạm Văn

Đồng ký vào năm 1960 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của đại lý tàu biển.

Khi còn nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, mỗi loại hình dịch vụ cảng biển

chỉ được giao cho một công ty Nhà nước đảm nhận mang tính độc quyền, mọi chỉ

tiêu kế hoạch và một số trang thiết bị đều do Nhà nước đầu tư. Thuận lợi lúc bấy

35

giờ là “một mình, một sân” không cần phải tốn nhiều công sức nhưng vẫn mang lại

hiệu quả kinh tế.

Sau năm 1991, khi đất nước có sự đổi mới, bắt đầu chuyển sang nền kinh tế

thị trường, các thành phần kinh tế khác tuy có tham gia kinh doanh nhưng còn rất ít.

Vì bị các “rào cản” do cơ chế, chính sách chậm đổi mới nên đã hạn chế sự phát triển

cả về số lượng và chất lượng của hoạt động dịch vụ cảng biển.

Từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000), cùng với Nghị định số

10/2001/NĐ-CP (19/03/2001) của Chính phủ về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng

hải ra đời, nhiều doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế ở khắp mọi miền đất

nước, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố có cảng biển đã đăng ký hành nghề kinh doanh

dịch vụ cảng biển.

Đặc điểm của các hoạt động dịch vụ ở cảng biển Việt Nam:

• Phát triển mạnh, đa dạng, nhiều thành phần

Những năm 1980 trở về trước, các hoạt động dịch vụ cảng biển ở nước ta

chủ yếu tập trung ở một số lĩnh vực và do các doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ.

Việc tiếp xúc với người nước ngoài được kiểm tra giám sát hết sức chặt chẽ nên các

hoạt động dịch vụ cảng biển mang tính chất gần như độc quyền của một số ít doanh

nghiệp. Dịch vụ đại lý tàu biển ở thời điểm đó chỉ có một mình VOSA, hoạt động

thuê tàu và môi giới hàng hải chỉ có VIETFRATCH, giao nhận kho vận ngoại

thương là VINATRANS, VIETALCO làm dịch vụ kiểm đếm, cung ứng tàu biển ở

các cảng là một vài đơn vị của các địa phương có cảng.

Trong những năm gần đây, do chính sách mở cửa của kinh tế thị trường và

tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân nên lượng hàng thông qua các cảng

biển Việt Nam đã không ngừng được tăng lên. Số lượt tàu biển cập các cảng để bốc

dỡ hàng hoá cũng nhiều hơn. Vì vậy, nhu cầu phục vụ cho các tàu cũng tăng lên.

Những yếu tố đó làm cho các hoạt động dịch vụ cảng biển có điều kiện phát triển

mạnh mẽ. Các hoạt động này trở nên sôi động, muôn hình vạn trạng ở hầu hết các

loại hình dịch vụ với nhiều doanh nghiệp thuộc đủ mọi thành phần kinh tế tham gia.

Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 1998, tổng số doanh nghiệp trong lĩnh vực

kinh doanh dịch vụ cảng biển khoảng 170 doanh nghiệp, hiện nay con số này là 344

doanh nghiệp. Chỉ tính riêng hoạt động đại lý tàu biển ở Hải Phòng đã có đến 80

doanh nghiệp.[37]

36

Tuy Nhà nước chưa cho phép người nước ngoài hành nghề dịch vụ cảng biển

ở Việt Nam, song bằng nhiều hình thức thông qua các văn phòng đại diện ở Việt

Nam hoặc các công ty của Việt Nam, họ đã tìm mọi cách để luồn lách hoạt động

dưới các hình thức khác nhau.

Loại hình dịch vụ cảng biển có nhiều doanh nghiệp tham gia hoạt động nhất

là: dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ đại lý vận tải đường biển.

• Cạnh tranh một cách quyết liệt

Hiện nay, số lượng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển quá

nhiều lại không do một Bộ chuyên ngành (không có một cơ quan chuyên ngành)

quản lý đã gây nên tình trạng lộn xộn, tạo điều kiện cho những kẻ xấu giả danh để

kinh doanh dịch vụ cảng biển. Một số doanh nghiệp hoặc chi nhánh có hoạt động

kinh doanh dịch vụ cảng biển nhưng không đăng ký với cơ quan có thẩm quyền dẫn

đến các cơ quan quản lý Nhà nước không thể quản lý, kiểm tra giám sát được các

hoạt động của các doanh nghiệp, gây thất thu cho ngân sách Nhà nước, làm giảm uy

tín của các hoạt động dịch vụ cảng biển với chủ tàu nước ngoài tại Việt Nam.

Từ khoảng giữa năm 1994, trên sông Sài Gòn xuất hiện lác đác những chiếc

phao của các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn… Mỗi phao được

đầu tư tối đa ba tỉ đồng, neo trên sông bằng khối bê tông nặng thả ngầm. Cứ hai

phao kèm hai phía tàu, như vậy đã có thể dỡ hàng xuống sà lan và ngược lại. Hiện

nay, có trên 40 phao kiểu như vậy. “Chủ phao chặn đón đầu, giá bốc dỡ chào rẻ,

những chủ tàu hàng nhỏ chọn họ nên không cần phải vào cầu cảng”. Ông Nguyễn

Văn Minh, Phó Tổng giám đốc Cảng Sài Gòn than thở rằng: “Mỗi năm, hơn ba triệu

tấn hàng hoá đã bị các phao tư nhân hẫng tay trên của cảng Sài Gòn, lượng hàng ấy

chiếm hơn một phần ba tổng số lượng hàng thông qua cảng Sài Gòn hàng năm”.

Clinker, gạo là hai mặt hàng cảng Sài Gòn đã bị chia sẻ thị phần xếp dỡ. [23]

Do thị phần dịch vụ cảng biển ở Việt Nam có hạn mà các doanh nghiệp làm

dịch vụ lại quá đông gây nên tình trạng cạnh tranh nhau một cách gay gắt. Để thu

hút khách hàng nhiều doanh nghiệp đã hạ giá cước, phí đại lý dịch vụ cho khách

hàng nước ngoài, tăng tỷ lệ hoa hồng phí cho các đối tượng ăn chia gây thất thu

thuế cước, thuế làm dịch vụ cảng biển cho các hãng tàu nước ngoài. Cảng Đồng Nai

cũng gặp cảnh tương tự cảng Sài Gòn nhưng vì hoa hồng thấp. “Chủ phao, cảng nhỏ

của tư nhân… chi hoa hồng cho người dắt mối (dẫn tàu đến bốc dỡ) rất cao, có khi

lên tới 30% phí xếp dỡ. Cứ thế, những người dắt mối luôn thuyết phục chủ hàng ngả

37

về phía họ, dù những cảng này không mua bảo hiểm, chất lượng phục vụ kém….

Các doanh nghiệp Nhà nước, nhiều quy định ràng buộc, không thể theo nổi”. Ông

Cao Tiến Thụ, Giám đốc cảng Hải Phòng cũng lên tiếng: “Cảng thi nhau mọc ra,

chỉ cần vài tỉ đồng, thậm chí vài trăm triệu đồng, tư nhân cũng cho ra đời được một

cảng – có khi chỉ như một cái bến. Giá bốc dỡ chúng tôi đưa ra, họ lấy làm mốc và

cứ thế họ giảm xuống từ 10-40%”. Chi phí đầu tư rẻ, nhân công không cần trình độ

cao, nên chuyện đại hạ giá của những cảng tư nhân không có gì đáng ngạc nhiên.

[23]

Nhiều doanh nghiệp tìm cách trốn thuế, gây thất thu cho ngân sách. Đơn cử:

trong khi SHIPCHANCO Hải Phòng phải mua nước kinh doanh của Công ty cấp thoát nước với giá 5.500đ/m3, bán cho tàu nước ngoài với giá 2,5USD/m3 thì ở một vài xí nghiệp dịch vụ khác mua nước với giá sản xuất chỉ có 2.500đ/m3 và họ bán chỉ với giá 1USD/m3. Trước mặt chủ tàu, các nhân viên thi nhau nói xấu, bóc mẽ

nhau. Cứ người này xuống giá 5đ, thì người khác xuống giá 3đ, 2đ. Thậm chí có

trường hợp phá nhau, không ăn được thì đạp đổ, xuống giá rẻ một cách kỷ lục để

giành được khách hàng, còn có làm được hay không, có hiệu quả hay không thì

không mấy ai tính đến. Nhiều người am hiểu về ngành hàng hải đều có chung một

nhận xét rằng: Hiện thời có quá nhiều doanh nghiệp dịch vụ thuộc mọi thành phần

kinh tế và biện pháp chủ yếu mà các đơn vị sử dụng là giảm giá. Theo Nghị định

73, Nhà nước không còn quản lý mức phí dịch vụ mà giao cho các doanh nghiệp

cảng tự quyết định hơn một năm nay. Hệ quả, cước bốc dỡ một Container 20 feet,

trước đây theo quy định là 57USD, nay đã giảm xuống dưới 45USD, thậm chí như

một cảng ở Đồng bằng Sông Cửu Long, giá bốc dỡ một Container hàng thuỷ sản

20feet chỉ trên 20USD.[23]

Sự giảm giá như trên chỉ có lợi cho phía nước ngoài. Để được làm đại lý,

một số doanh nghiệp của ta sẵn sàng chấp nhận phí rẻ mạt của các hãng tàu khi ký

hợp đồng.

Đối với hàng hoá nội địa và hàng hoá xuất nhập khẩu thì hầu như các cảng

biển Việt Nam không bị tranh chấp với các đối tác bên ngoài. Cạnh tranh và hội

nhập trong lĩnh vực cảng biển chủ yếu đặt ra đối với hoạt động vận tải trung chuyển

và quá cảnh. Tính đến lúc này, ngoại trừ một số lượng hàng hoá quá cảnh không lớn

lắm cho Lào, Campuchia và càng ít hơn cho Trung Quốc thì vận tải hàng hoá trung

chuyển và quá cảnh bằng đường biển của nước ta hầu như chưa có (xin mở ngoặc

38

để nói rõ thêm là tuy chúng ta có thu gom được một lượng dầu thô từ Indonexia về

tập kết tại vịnh Vân Phong, song ở đây chúng ta mới làm tốt và có hiệu quả về

chuyển tải xăng dầu nhập khẩu chứ chưa phải là một cảng trung chuyển dầu quốc

tế).[29]

Sự cạnh tranh của một số hãng tàu Container Việt Nam tham gia dịch vụ

khai thác cảng theo phương thức xếp dỡ tàu Container ngoài phao, kết hợp với các

ICD và phương thức vận tải Container bằng sà lan để bốc dỡ hàng với năng suất

thấp và giá dịch vụ trọn gói rẻ, tách khỏi các bến cảng hiện có, ảnh hưởng không

nhỏ đến tiềm năng phát triển của khối cảng, kìm hãm tốc độ phát triển cảng nước

sâu hiện đại để cạnh tranh hàng Container trung chuyển trong khu vực. [12]

• Trình độ nghề nghiệp và năng lực kinh doanh ở nhiều doanh nghiệp còn yếu.

Hoạt động dịch vụ cảng biển tuy không cần nhiều vốn nhưng điều đó không

có nghĩa là các đơn vị không phải đầu tư. Cụ thể là phải thường xuyên nâng cao

năng lực cho cán bộ cũng như trang bị hệ thống vi tính, kho bãi và các thiết bị vận

chuyển.

Do thường xuyên phải tiếp xúc với tàu nước ngoài nên dịch vụ cảng biển

không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế thông thường mà còn liên quan đến các

vấn đề đối ngoại, văn hoá, an ninh. Vì vậy, một nhân viên khi tuyển vào làm việc

phải được lựa chọn kỹ càng về chuyên môn, nghiệp vụ, lý lịch, thái độ chính trị.

Tốc độ các cuộc mua bán diễn ra ngày một nhanh chóng, đòi hỏi người làm

công tác dịch vụ cảng biển phải làm việc chính xác, có chất lượng để giảm thiểu tối

đa những sai sót. Ngày càng có nhiều đại lý tham gia vào chương trình đảm bảo

chất lượng (Quality assurance), bởi vì tham gia vào chương trình này là điều kiện

đảm bảo để được các hãng chọn làm đại lý và làm tăng thêm giá trị phục vụ của họ.

Để có thể làm được điều này, người đại lý phải có được xác nhận của nhiều công ty

lớn, kèm theo một nguồn tài liệu đầy đủ về họ và phải hiểu rõ văn hoá kinh doanh

của các nước. Ngoài việc đảm bảo chất lượng, còn có những chương trình của

UNCTAD quy định tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu cho người đại lý và ISO9002

được chọn là tiêu chuẩn chứng minh chất lượng phục vụ cao.

• Chất lượng dịch vụ chưa cao, hiệu quả kinh doanh thấp

Ngày nay tốc độ làm hàng của các con tàu hiện đại nhanh hơn rất nhiều so

với trước, do đó thời gian đậu tại cảng cũng ít đi. Điều này làm cho chủ tàu rất hài

lòng, song ngược lại, đấy lại là mối lo với người cung cấp dịch vụ cho tàu vì rất

nhiều dịch vụ sẽ bị cắt giảm. Tàu hiện đại có diện tích lớn hơn, do đó chứa được

39

nhiều lượng dự trữ hơn, cần lượng thuyền viên ít hơn và vì vậy không cần nhiều các

dịch vụ tại cảng.

Trong những năm qua, thực tế cho thấy các dịch vụ cảng biển liên quan đến

phục vụ Container và đại lý tàu biển tương đối đảm bảo chất lượng và có hiệu quả.

Nhóm dịch vụ cung ứng tàu biển và xuất nhập khẩu những năm gần đây có nhiều

khó khăn, chất lượng phục vụ thấp, chưa đảm bảo kịp thời về thời gian và hiệu quả

kinh doanh kém. Đặc biệt là dịch vụ cung ứng tàu biển. Quy trình cấp hàng lên tàu

thường bị nhiều doanh nghiệp bỏ qua một vài công đoạn nên không ít trường hợp

hàng hoá xếp xuống tàu không đảm bảo chất lượng, có trường hợp rau quả, thực

phẩm đã phải bỏ đi vì chất lượng kém. Điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến những

doanh nghiệp đã nhiều năm làm ăn chân chính và làm mất uy tín của các cảng biển

Việt Nam. Phương tiện để hoạt động cung ứng của nhiều doanh nghiệp, nhất là các

doanh nghiệp ngoài quốc doanh rất thô sơ. Họ dùng cả những phương tiện thô sơ

nhất mang hàng thẳng từ chợ lên tàu, trong khi phương tiện và cơ sở vật chất của

một số đơn vị đang có sẵn lại không được sử dụng hết công suất. Có doanh nghiệp, với khả năng cung cấp nước 700-1000m3/ngày, nhưng có tháng chỉ cấp được 400- 500m3. Hàng chục sà lan cấp nước chuyên dụng không hoạt động gây nên tình trạng lãng phí rất lớn cho các doanh nghiệp và Nhà nước.

2.2.2 Tình hình thị trường dịch vụ cảng biển hiện nay

2.2.2.1 Tình hình chung

Thời gian qua do nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp nên tổng chiều dài tuyến

mép bến được xây dựng chưa đáp ứng với kết quả tính toán dự báo. Có nhiều cảng

đã phải hoạt động trong tình trạng quá tải như cảng xuất than Cẩm Phả, cảng Nghi

Sơn, cảng Quy Nhơn, Tân Cảng … Cảng không đủ bến cho tàu neo đậu làm hàng

và lãng phí rất lớn do phải chờ đợi ngoài khu neo đậu. Đặc biệt, có những công

trình do nhu cầu cấp bách đã phải đưa vào khai thác khi chưa hoàn thành tất cả các

hạng mục như cảng Cái Lân, Nghi Sơn, Cửa Lò, Chân Mây, Tiên Sa-Đà Nẵng, Nha

Trang, Quy Nhơn…

Trên thực tế, ở nhiều nơi có rất nhiều tầu của các doanh nghiệp trong và

ngoài quốc doanh hiện nay không có bến đỗ hoặc 2,3 chiếc phải đỗ cập mạn nhau

tại bến. Xét về góc độ an toàn trong điều kiện thời tiết bất lợi, đây cũng là một vấn

đề lớn. Hiện tại vốn đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển chỉ chiếm 3,5% vốn đầu tư

vào toàn bộ kết cấu hạ tầng GTVT.[5]

40

Đầu tư phát triển cảng biển khác với đầu tư phát triển các lĩnh vực hàng hải

khác, đó là đòi hỏi một nguồn vốn lớn, nhất là đối với những cảng biển hiện đại.

Chẳng hạn, với cảng Sài Gòn, đầu tư trang thiết bị tính đến nay cũng lên tới 1.200 tỉ

đồng. Riêng một cầu cảng, mức đầu tư lên đến 30 tỉ đồng. Trong khi đó, cơ chế đầu

tư và thu hồi vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng cảng biển hiện nay bị phân tán, manh

mún, chưa đảm bảo nguyên tắc thu hồi vốn của người đầu tư. Với cơ chế quản lý

cảng biển như hiện nay, hệ thống cảng biển do nhiều chủ thể quản lý, cảng thuộc

trung ương, cảng thuộc địa phương, cảng thuộc các Bộ, ngành và có cảng của liên

doanh với nước ngoài. Trừ các cảng của các liên doanh, các cảng còn lại được đầu

tư bằng ngân sách Nhà nước. Với cơ chế quản lý cảng phân tán như hiện nay, việc

đầu tư vốn của Nhà nước vào các cảng bị phân tán, việc quản lý vốn đầu tư cho phát

triển cảng biển chưa chặt chẽ, chưa tính được hiệu quả của đồng vốn bỏ ra và chưa

tập trung được nguồn vốn nhà nước để ưu tiên phát triển những cảng trọng điểm,

hiện đại. Với số lượng khoảng 110 cảng trên cả nước (chưa kể các cảng tạm, phao

… tư nhân), dẫn đến có nhiều cảng rất lâu không đón được tàu hàng nào. Riêng các

cảng thuộc VPA, năng lực còn thừa bình quân một phần ba so với lượng hàng xuất

nhập khẩu hiện nay.

Hệ thống cảng biển hiện nay chưa đủ điều kiện phục vụ những tàu trên

30.000 DWT. Nhiều cảng có tên trong danh sách cảng biển Việt Nam nhưng chỉ đủ

năng lực tiếp nhận tàu dưới 1.000 DWT. Chính việc đầu tư chú trọng về lượng đã

sinh ra tình trạng này.[22]

2.2.2.1.1 Phát triển mạnh mẽ về số lượng

Tính từ năm 2000, tức là từ khi Luật doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000),

hoạt động dịch vụ cảng biển đã có điều kiện để phát triển. Số lượng các doanh

nghiệp dịch vụ cảng biển thuộc mọi thành phần kinh tế tăng nhanh.

Qua bảng số liệu ở trang sau, có thể thấy tốc độ gia tăng số lượng doanh

nghiệp là rất nhanh, đặc biệt là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như công ty

TNHH, công ty cổ phần, DNTN. So với năm 2000, số lượng doanh nghiệp thuộc

các thành phần kinh tế đều tăng nhanh. Tuy nhiên, năm 2004, số lượng doanh

nghiệp trong một số thành phần kinh tế lại có xu thế giảm so với năm 2002 (trừ

công ty cổ phần). Điều này có thể được lý giải như sau:

- Số lượng DNNN giảm, công ty cổ phần tăng do tác động của quá trình cổ

phần hoá các DNNN.

41

- Số lượng các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế khác giảm do cạnh

tranh trên thị trường ngày một gay gắt, không phải doanh nghiệp nào lập ra cũng có

thể hoạt động kinh doanh có hiệu quả và tồn tại được.

- Do xu hướng sáp nhập, liên kết để gia tăng nội lực và khả năng cạnh tranh.

Chỉ tính riêng 9 loại hình dịch vụ theo Nghị định số 10/2001/NĐ-CP thì số

lượng các ngành nghề cũng tăng lên rất nhanh.

Các loại hình dịch vụ cảng biển rất đa dạng về ngành nghề. Một doanh

nghiệp có thể lựa chọn một hay nhiều ngành nghề để kinh doanh, và có thể hoạt

động trong một hay nhiều lĩnh vực dịch vụ khác nhau. Vì thế có doanh nghiệp ôm

đồm quá nhiều, dẫn đến tình trạng kinh doanh dàn trải, manh mún, không thể tập

trung đầu tư về cơ sở vật chất và nhân lực.

Một mặt việc ra đời nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển tạo

nên một sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường, nó thúc đẩy các doanh nghiệp phải

không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, đầu tư trang thiết bị, đào tạo đội ngũ

nhân viên về chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ để có thể đáp ứng được yêu cầu

của khách hàng trong và ngoài nước. Mặt khác, nó cũng tạo nhiều tiêu cực trong

lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cảng biển.

Bảng 2.2: Số lƣợng các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ hàng hải

Số lƣợng ngành nghề

TT Tên dịch vụ Năm 2000 Đến 5/2004 % tăng so với 2000

1 Đại lý tàu biển 66 249 277,27

2 Đại lý vận tải đường biển 41 167 307,32

3 Môi giới hàng hải 66 209 216,67

4 Cung ứng tàu biển 19 112 489,47

5 Kiểm đếm hàng hoá 16 108 575,00

6 Lai dắt tàu biển 30 50 66,67

7 Sửa chữa tàu biển tại cảng 20 70 250,00

8 Vệ sinh tàu biển 26 37 42,31

9 Xếp dỡ hàng hoá tại cảng 55 88 60,00

Tổng cộng 339 1090 221,54

Nguồn: Báo cáo tổng kết (Cục Hàng hải Việt Nam - Năm 2004)

2.2.2.1.2 Về giá cả

42

Thị trường dịch vụ chưa phát triển đồng thời số doanh nghiệp cung cấp dịch

vụ lại quá đông và không phải doanh nghiệp nào cũng có nội lực thật sự đã tạo nên

tình trạng cạnh tranh không lành mạnh mà tiêu biểu là giảm giá dịch vụ một cách

tuỳ tiện để lôi kéo khách hàng.

Về phí xếp dỡ, đại lý phí, giá kiểm kiện, cung ứng … thì Việt Nam thấp hơn

so với các nước trong khu vực, nhưng phí hoa tiêu, phí luồng lạch thì cao do hầu hết

các cảng biển của Việt Nam ở trên sông, nằm xa cửa biển. Báo chí cũng thường kêu

ca giá dịch vụ cảng biển theo quy định của Việt Nam cao hơn khu vực, làm tăng giá

bán các hàng hoá Việt Nam, ảnh hưởng đến giá cạnh tranh. Bộ Tài chính chỉ cho

phép đơn vị kinh doanh dịch vụ cảng biển được xem xét giảm 10-15% giá biểu.

Song trên thực tế, để giành giật khách hàng, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

cảng biển sẵn sàng hạ giá thấp hơn quy định, thậm chí có công ty tư nhân sẵn sàng

giảm giá 30-40% hoặc hơn thế nữa. Ví dụ như giá bốc xếp Container được quy định

trong Quyết định 85/2000/QĐ-BVGCP ngày 10/11/2000 là 57USD/Container

20feet, 85USD/Container 40feet, nhưng thực tế không đơn vị nào thu theo giá này

mà thường thu ở mức 49-61USD, trường hợp Container đi thẳng ra cầu tàu thì mức

thu chỉ còn 30-37USD… Như vậy các hãng tàu nước ngoài chỉ phải trả cho các đơn

vị kinh doanh bốc xếp ở mức khoảng 35-45USD/TEU, song họ lại thu của chủ hàng

Việt Nam là 57USD/TEU, viện cớ rằng là Uỷ ban Vật giá Chính phủ quy định như

thế. Sự giảm giá này không những đem lại lợi ích cho phía nước ngoài mà còn gián

tiếp gây thiệt hại cho các chủ hàng Việt Nam.

Hiện nay, giá cả dịch vụ cảng biển không thuộc danh mục hàng hoá dịch vụ

do Nhà nước quy định mà thuộc thẩm quyền của các đơn vị kinh doanh dịch vụ

cảng biển (Công văn 1171/TC-QLG ngày 06/02/2004 của Bộ Tài chính). Trước đó,

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/2004/NQ-CP ngày 12/01/2004. Tinh thần

cơ bản của các công văn trên là từ nay Chính phủ không quản lý giá dịch vụ cảng

biển nữa, các công ty làm dịch vụ cảng biển tham khảo các biểu giá ban hành trước

đây kết hợp với tình hình thực tế để tự ban hành giá của mình, sau đó báo cáo về Bộ

Tài chính, mục đích qua cạnh tranh để giảm giá dịch vụ cảng biển và phấn đấu đến

năm 2005 giá dịch vụ cảng biển Việt Nam ở mức ngang bằng với mức giá trung

bình của dịch vụ cùng loại trong khu vực.

Nhìn vào bức tranh tổng thể hoạt động vận tải biển nói chung ở các cảng

Việt Nam cùng với lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam thấy rằng có đến 70-75%

43

lượng hàng XNK là do các tàu nước ngoài chuyên chở, mà đối tượng của hoạt động

dịch vụ cảng biển là các hãng tàu biển nước ngoài. Mối lo ngại việc thả nổi giá dịch

vụ cảng biển để gây nên cạnh tranh giảm giá thì người hưởng ở đây là người nước

ngoài chứ không phải các doanh nghiệp Việt Nam không phải là không có căn cứ.

Vấn đề giá cả do đó càng trở nên bức xúc hơn.

Thêm vào đó, hiện tại các cảng biển vẫn áp dụng chính sách hai giá đối với

tàu vận tải nội địa và tàu vận tải quốc tế. Phí và lệ phí hàng hải áp dụng cho tàu vận

tải nội địa thấp hơn từ 3-8 lần so với phí và lệ phí áp dụng cho tàu vận tải quốc tế.

Do hiện nay các chủ tàu nước ngoài không được phép vận tải nội địa, chính sách hai

giá này gián tiếp tạo sự bất đẳng giữa các hãng tàu Việt Nam và hãng tàu nước

ngoài, làm giảm sự hấp dẫn của các cảng biển Việt Nam.

Về mức phí, trước năm 1998, do hoàn cảnh nên khi xây đựng mức phí,

Chính phủ cho phép Cục Hàng hải Việt Nam xây dựng cao hơn các nước trong khu

vực khoảng 2,6 lần. Sau nhiều lần giảm, hiện nay mức phí của Việt Nam vẫn cao

hơn với các nước trong khu vực khoảng 30%. Cục Hàng hải đang trình Bộ GTVT

xin giảm tiếp 15%. Theo các tổ chức nước ngoài đánh giá, mức phí cảng biển của

Việt Nam chỉ cao hơn mức trung bình của các nước trong khu vực một chút. Vấn đề

cốt lõi là các khoản phí ngầm quá lớn và nhiều.

Hiện tại, ở cảng Việt Nam có quá nhiều loại phí, mỗi loại lại do một cơ quan

quản lý, mỗi cơ quan lại công bố một giá, chưa kể tình trạng công bố một đằng

nhưng lại làm một nẻo.

2.2.2.1.3 Về chất lượng

Theo ghi nhận của các cơ quan Nhà nước, đa số các chủ tàu và chủ hàng

đánh giá là từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực và Nghị định số 10/2001/NĐ-CP

được ban hành, về cơ bản, chất lượng của các loại hình dịch vụ đã được thị trường

chấp nhận. Trình độ chuyên môn của cán bộ, nhân viên trực tiếp làm các dịch vụ đã

được cải thiện và đáp ứng được yêu cầu của các chủ tàu, chủ hàng và đặc biệt là đối

với tàu nước ngoài đến làm hàng tại cảng Việt Nam.

Song, trên thực tế, do kinh doanh dịch vụ cảng biển không cần bỏ vốn đầu tư

nhiều mà xoay vòng vốn lại nhanh, lợi nhuận lại hấp dẫn và chắc ăn nên các doanh

nghiệp đã đổ xô vào lĩnh vực này, kể cả một số cá nhân, tổ chức không có trụ sở,

không đăng ký chức năng, không có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng… cũng

“nhảy” ra làm dịch vụ. Bên cạnh đó, do mối quan hệ giữa cơ quan đăng ký kinh

44

doanh và cơ quan quản lý chuyên ngành chưa nhịp nhàng, một số cơ quan có quyền

cấp phép thành lập doanh nghiệp, nhưng một cơ quan khác lại chịu trách nhiệm đi

kiểm tra hoạt động của nó, nên đã xảy ra tình trạng công ty tư nhân chỉ có 2-3 người

mà trong đăng ký hoạt động kinh doanh có đến 50 mục, dài đến 3 trang giấy, cả

năm cũng không tham gia hoạt động gì về ngành nghề mình đã đăng ký. Lợi dụng

kẽ hở này, các doanh nghiệp nước ngoài sử dụng các doanh nghiệp Việt Nam làm

bình phong để gián tiếp khai thác thị trường Việt Nam mà không phải mất thêm một

khoản chi phí nào. Nhiều doanh nghiệp trình độ nghề nghiệp, ngoại ngữ và năng lực

kinh doanh còn quá yếu, không có vốn, không có thị trường nên chấp nhận thụ động

làm đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài thay vì chủ động nắm bắt thông tin thị

trường, khách hàng. Việc một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ nhưng không

đăng ký với cơ quan thẩm quyền về ngành nghề kinh doanh dẫn đến việc các cơ

quan Nhà nước không thể quản lý, kiểm tra giám sát, gây thất thu cho Ngân sách

Nhà nước và quản lý chất lượng lỏng lẻo.

Hệ quả tất yếu là chất lượng cung cấp dịch vụ không những không tăng theo

số lượng mà còn có xu hướng giảm. Trừ một số DNNN đã hoạt động lâu năm, nhìn

chung, chất lượng dịch vụ còn thấp, hiệu quả chưa cao.

2.2.2.1.4 Về thủ tục hành chính

Tuy đã được cải cách phần nào nhưng hiện tại, các thủ tục hành chính tại

cảng biển Việt Nam vẫn bị xếp vào danh sách nhiêu khê trong khu vực. Tình trạng

này đã và đang làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.

Trước kia, để vào được cảng, chủ tàu phải qua 9 cửa. Mà tại 9 cửa đó, chỗ

nào cũng rườm rà và phức tạp. Thực hiện chế độ một cửa, tình trạng trên đã đỡ

nhiều. Nhưng, trong các khâu: tàu đến cảng, tàu ở cảng và tàu đi khỏi cảng, Việt

Nam mới chỉ làm được khâu đến và đi khỏi cảng, rút thời gian làm thủ tục từ 2 tiếng

xuống còn 30 phút. Tuy nhiên, so với khu vực, hoạt động của cảng còn phải điều

chỉnh nhiều. Ở các nước, người ta chỉ mất có mấy phút để làm thủ tục cho việc này.

Thời gian tàu lưu lại cảng là một vấn đề phức tạp. Trong cảng có nhiều bộ phận

khác nhau mà bộ phận nào, cơ quan nào cũng có quyền nên mỗi bộ phận, mỗi cơ

quan đều “sáng tác” ra một loại giấy tờ. Các loại giấy tờ này, cho đến giờ cũng

chưa thể thống kê được. Chưa hết, tàu đang đứng ở đây, bảo không an toàn, thế là

toàn bộ số người trên tàu buộc phải cứ nằm im tại chỗ, không được lên bờ. Rồi yêu

cầu chuyển cầu tàu. Khi chuyển cầu tàu là phải lấy hoa tiêu, tốn kém nhiều thứ.

45

Việc cải cách thủ tục hành chính có liên quan đến quyền lợi cực kỳ lớn của

một vài bộ phận khác, như hải quan, kiểm dịch y tế cảng… Việc chỉ có thể được

giải quyết khi ta tiến hành đánh lại số cảng, số tàu và mã hàng cho trùng với GATT.

Việc này không khó, chỉ là thủ tục hành chính. Nếu đánh số theo GATT thì mọi

việc sẽ trở nên đơn giản. Chẳng hạn, mặt hàng lương thực có mã 0042, khi nhập

chữ lương thực thì máy tính sẽ hiện lên mã đó và tính thuế được ngay, định giá theo

đúng hoá đơn.

2.2.2.2 Hoạt động cụ thể của các dịch vụ tại cảng Việt Nam

Dịch vụ cung ứng tàu biển

Trong những năm gần đây, giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ

cung ứng tàu biển cũng phát triển không ngừng, song hoạt động của nó khá lộn xộn.

Nhờ sự thông thoáng của Luật Doanh nghiệp, nên việc thành lập và đăng ký

kinh doanh hầu như không gặp phải khó khăn vướng mắc gì. Chỉ cần chưa đầy 2

tuần lễ (nếu thuê dịch vụ còn nhanh hơn) đã có thể hoàn chỉnh mọi thủ tục pháp lý

hành chính để hành nghề.

Thực tế là doanh nghiệp kinh doanh cung ứng tàu biển thành lập nhiều

nhưng hiệu quả chung lại rất thấp. Sự cạnh tranh giành bán hàng cho tàu của các

nhân viên cung ứng đã tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí còn

gây mất trật tự an ninh và mỹ quan nơi cửa khẩu, làm mất uy tín về chất lượng cung

ứng tàu biển. Nếu như ở nước ngoài, khi một tàu cần cung cấp một hàng hoá hay

dịch vụ nào đó thì họ sẽ yêu cầu đại lý. Đại lý sẽ báo cho một đơn vị cung ứng tàu

biển lên tàu. Nhưng ở Việt Nam, ngay sau khi tàu cập cầu, được làm thủ tục nhập

cảnh thì hàng đoàn các nhân viên nữ ở các công ty cung ứng tàu biển khác nhau lên

tàu, xếp hàng chờ gặp thuyền trưởng, sỹ quan tàu làm công tác “tiếp thị”. Nhiều

thuyền trưởng phàn nàn rằng sau một đêm căng thẳng đi từ phao số 0 vào cập cầu

và làm thủ tục nên muốn nghỉ ngơi mà không thể yên. Hơn nữa, các đơn vị cung

ứng tàu biển chỉ cạnh tranh nhau về giá cung cấp mà thôi, còn chất lượng có được

như lời quảng cáo tiếp thị hay không thì không thể biết và so sánh được. Điển hình

như việc cung ứng thực phẩm: trong môi trường tự do cạnh tranh, nhiều mặt hàng

được chào bán cho tàu gần bằng giá chợ. Muốn không lỗ hoặc có lãi chút ít, thì

người bán phải gian dối. Sự việc này chỉ được nhà tàu phát hiện sau khi tàu đã rời

cảng và nhà bếp cần dùng đến những hàng này. Đây là con đường ngắn nhất làm

phương hại đến uy tín hoạt động cung ứng tàu biển tại các cảng Việt Nam. Một số

46

tàu nước ngoài đã bộc lộ sự bất tín nhiệm và nói với nhau sẽ không mua hàng thực

phẩm của Việt Nam nữa, và hậu quả là:

- Nhà nước bị mất một lượng ngoại tệ không nhỏ.

- Lợi ích kinh tế đem về cho doanh nghiệp nhỏ.

- Người lao động đương nhiên không thể được hưởng những quyền lợi chân

chính do Luật lao động mang lại.

Theo số liệu thống kê, lưu lượng tàu đến các cảng Việt Nam năm 2003 là

25.448 chiếc, bình quân số tàu ngoại có trọng tải lớn chiếm 65-70%, khả năng tiếp

nhận lượng cung ứng cao. Tuy nhiên, lượng cung ứng trên tất cả các mặt hiện nay

cho tàu biển còn rất thấp (nếu có nhận cung ứng của Việt Nam cũng chỉ với số

lượng hạn chế). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên nhưng tựu trung lại

là những nguyên nhân chính sau đây:

+ Các hoạt động cung ứng dịch vụ phân tán, tản mạn và manh mún, nhiều

đơn vị, tổ chức cùng tham gia trong một khu vực gây nên sự cạnh tranh hỗn loạn về

giá cả; mặt khác, chất lượng phục vụ chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng,

làm mất dần thị trường dẫn đến thua thiệt cho ngành, cho quốc gia.

+ Giá cả không ổn định, nhiều mức giá khác nhau. Các doanh nghiệp thường

tự động nâng hoặc hạ giá để giành đơn hàng của tàu, đại lý làm cho các đơn vị khác

gặp khó khăn. Các tàu nội địa thường tự đi mua, ít khi mua qua các cơ sở cung ứng

tàu biển.

+ Giá cả còn chưa phù hợp với mặt bằng thị trường khu vực, riêng nhiên liệu

là mặt hàng có nhu cầu cung ứng khối lượng lớn thì hiện nay giá cung ứng còn

chênh lệch lớn so với các cảng biển quốc tế cùng khu vực, đặc biệt là cảng

Singapore: giá dầu cấp tại cảng Việt Nam thường cao hơn khoảng từ 20-40% do có

quá nhiều cấp kinh doanh trung gian nên giá bị đội lên, chưa có chính sách ưu đãi

đối với nhiên liệu cấp cho tàu biển trong và ngoài nước. Do vậy, có tình trạng tàu

Việt Nam khi chạy tuyến nước ngoài thường mua dầu rồi bán lại cho các đơn vị

kinh doanh cung ứng nhiên liệu trong nước tại các cảng để lấy chênh lệch giá.

+ Các mặt hàng cung ứng về thực phẩm chưa đảm bảo tiêu chuẩn hàng hoá

xuất khẩu; các khâu đóng gói và bảo quản chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh thực phẩm

cho người nước ngoài, làm hạn chế rất nhiều đến lượng cung ứng cho tàu ngoại.

Dịch vụ lai dắt tàu biển

47

Do đặc thù của cảng biển Việt Nam: Quy mô cảng biển thuộc loại vừa và

nhỏ. Độ sâu luồng vào cảng hạn chế, luồng dài khúc khuỷu, có những luồng vào

trên 100 km như cảng Mỹ Thới 160km, cảng Vĩnh Long 140km. Một số luồng vào

cảng bị cạn do sa bồi lớn như cảng Hải Phòng, cửa Định An, cảng Cần Thơ…và

quy định pháp luật hàng hải Việt Nam sử dụng hoa tiêu là bắt buộc nên hoạt động

hoa tiêu có điều kiện phát triển.

Trước năm 1945, dịch vụ hoa tiêu hàng hải (HTHH) ở khu vực phía Bắc, mà

chủ yếu là bến Sáu Kho (tiền thân của cảng Hải Phòng) do người Pháp đảm nhận.

Cách đây 51 năm, ngày 20/5/1954, chỉ sau 7 ngày TP. Hải Phòng được giải phóng,

hai hoa tiêu Việt Nam là Nguyễn Văn Hoá và Nguyễn Y Nết trong đội hình tiếp

quản Hải Phòng, lần đầu tiên dẫn hai tàu quốc tịch Pháp cập cảng Hải Phòng an

toàn trước sự ngạc nhiên và khâm phục của thuyền trưởng người Pháp. Sự kiện này

là mốc son đánh dấu sự ra đời của HTHH Việt Nam. Sau khi tiếp quản TP. Hải

Phòng, tổ chức HTHH là một bộ phận của Ty Hoa đăng kiểm trực thuộc cảng Hải

Phòng. Do yêu cầu phát triển, bộ phận Hải đăng (Bảo đảm an toàn hàng hải Việt

Nam hiện nay) và bộ phận Đăng kiểm tách khỏi cảng Hải Phòng thành những đơn

vị độc lập; HTHH là một bộ phận của Ty Cảng vụ-Hoa tiêu trực thuộc cảng Hải

Phòng. Từ năm 1975 đến năm 1991, HTHH là một bộ phận của Ty Cảng vụ-Hoa

tiêu trực thuộc các cảng Hải Phòng, Quảng Ninh, Bến Thuỷ, Sài Gòn, Đà Nẵng…

Từ năm 1991, Ty cảng vụ – Hoa tiêu lần lượt tách khỏi các cảng để trở thành các

cảng vụ hàng hải và các đơn vị hoa tiêu hoạt động độc lập, trực thuộc Liên Hiệp

hàng hải Việt Nam (nay là Cục Hàng hải Việt Nam).

51 năm đã trôi qua, từ đội ngũ hoa tiêu ban đầu chỉ có 6 người với cơ sở vật

chất hầu như bằng không ngày ấy, bây giờ đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh

với hàng trăm hoa tiêu đạt trình độ ngang tầm khu vực và thế giới, dẫn dắt hàng

triệu lượt tàu ra vào cảng Việt Nam. Trong 51 năm trưởng thành và phát triển, hoa

tiêu hàng hải Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng cho công cuộc đổi mới và

phát triển của ngành hàng hải Việt Nam.

Trong năm 2003, chỉ tính riêng Công ty Hoa tiêu khu vực II đã dẫn được

5.503 lượt tàu an toàn, thu phí hoa tiêu tăng 600%, nộp ngân sách tăng 1168% so

với năm 1992.[46]

Về mặt tổ chức, hiện nay HTHH trên phạm vi cả nước bao gồm các đơn vị

sau:

48

- Công ty hoa tiêu khu vực I: Được thành lập tháng 8/1991, là DNNN hoạt

động công ích có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập, trực thuộc Cục Hàng hải

Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho các tàu ra,

vào và di chuyển tại các cảng khu vực phía Nam gồm: các cảng thuộc khu vực TP

HCM, các cảng thuộc khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu và tỉnh Đồng Nai, các cảng Mỹ

Tho, Vĩnh Thái, Đồng Tháp – trên sông Tiền, các trạm xuất khẩu dầu thô tại thềm

lục địa phía Nam; tàu quá cảnh đi Campuchia qua tuyến sông Tiền.

- Công ty hoa tiêu khu vực II: Được thành lập tháng 10/1991, là DNNN hoạt

động công ích có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập, trực thuộc Cục Hàng hải

Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho các tàu ra,

vào và di chuyển tại vùng nước các cảng biển thuộc khu vực Hải Phòng, Thanh

Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.

- Công ty hoa tiêu khu vực III: Được thành lập 1992, là DNNN hoạt động

công ích có tư cách pháp nhân hạch toán độc lập, trực thuộc Cục Hàng hải Việt

Nam. Nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho các tàu ra, vào

và di chuyển tại vùng nước các cảng biển thuộc khu vực Quảng Ninh.

- Công ty hoa tiêu khu vực IV: Là DNNN hoạt động công ích có tư cách pháp

nhân hạch toán độc lập, trực thuộc Cục Hàng hải Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu là

cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho các tàu ra, vào và di chuyển tại vùng nước

các cảng biển thuộc khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long.

- Hoa tiêu Nha Trang: Là một bộ phận của cảng vụ Nha Trang thuộc Cục

Hàng hải Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu là cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho

các tàu ra, vào và di chuyển tại vùng nước các cảng biển thuộc khu vực Nha Trang

– Khánh Hoà.

- Xí nghiệp hoa tiêu Vũng Tàu: Là một đơn vị của Công ty vận tải và thương

mại Vũng Tàu trực thuộc UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhiệm vụ chủ yếu là

cung cấp dịch vụ Hoa tiêu hàng hải cho các tàu ra, vào và di chuyển tại vùng nước

các cảng biển thuộc khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu.

Như vậy, hiện nay có 7 đơn vị hoa tiêu hoạt động ở 7 khu vực khác nhau trên

phạm vi cả nước, trong đó 5 DNNN có tư cách pháp nhân đầy đủ, hạch toán độc

lập, cơ quan chủ quản là Cục Hàng hải Việt Nam; 1 đơn vị tổ chức phụ thuộc không

có tư cách pháp nhân, đơn vị chủ quản là một cơ quan quản lý Nhà nước thuộc Cục

49

Hàng hải Việt Nam; 1 đơn vị là một xí nghiệp thành phần không có tư cách pháp

nhân của một công ty Nhà nước trực thuộc địa phương.

Các đơn vị hoa tiêu có nhiệm vụ cung ứng dịch vụ hoa tiêu hàng hải cho các

tàu biển trong nước và nước ngoài theo quy định của Luật hàng hải Việt Nam. Đây

là một dịch vụ công nhằm đạt mục tiêu bảo đảm an toàn hàng hải, quốc phòng, an

ninh và môi trường. Dịch vụ công này không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Các Công ty

HTHH là DNNN hoạt động công ích, hạch toán độc lập theo Nghị định 56, được coi

nguồn thu phí hoa tiêu theo quy định của Nhà nước là doanh thu, phần chênh lệch

còn lại (nếu có) phải nộp vào ngân sách Nhà nước, trường hợp thu không đủ chi thì

được Nhà nước cấp bù.[25]

Hiện nay cả nước có khoảng 171 hoa tiêu các hạng. Theo đánh giá của các

chuyên gia thì trình độ HTHH của Việt Nam là ngang bằng với hoa tiêu các nước

trong khu vực, trong khi đó việc dẫn tàu của hoa tiêu Việt Nam gặp nhiều khó khăn

hơn đồng nghiệp ở các nước khác do thường xuyên phải làm việc trong điều kiện

thời tiết khắc nghiệt với cơ sở vật chất còn thiếu thốn. Hơn nữa, việc tận dụng quá

mức chiều rộng, độ sâu luồng, chiều dài cầu cảng cùng với những hoạt động không

tuân theo các quy tắc về trật tự an toàn giao thông của những phương tiện thuỷ nội

địa ở nhiều tuyến luồng thuộc vùng hoa tiêu hoạt động đã gây không ít khó khăn

cho hoạt động nghiệp vụ của hoa tiêu khi mà số lượng tàu ra vào cảng biển Việt

Nam ngày càng tăng nhanh.

Có thể nói những năm gần đây, HTHH Việt Nam đã có những bước phát

triển đáng kể, đáp ứng được công tác dẫn tàu ra vào các cảng, góp phần vào sự tăng

trưởng kinh tế đất nước. Lớp hoa tiêu mới có trình độ ngoại ngữ khá, làm tốt nhiệm

vụ trên các tàu nước ngoài. Không những thế, họ còn thừa hưởng những kinh

nghiệm dẫn tàu quý báu của thế hệ hoa tiêu đi trước. Nhằm đáp ứng yêu cầu phát

triển hội nhập quốc tế của ngành hoa tiêu và nâng cao trình độ cho hoa tiêu, có công

ty còn mạnh dạn đưa các hoa tiêu đi tu nghiệp ở các nước có ngành hoa tiêu hàng

hải phát triển trên thế giới như Pháp, Úc.

Tuy nhiên, hoạt động của HTHH Việt Nam hiện nay vẫn chưa ổn định. Trình

độ hoa tiêu ở các công ty không đồng đều. Nước ta có bờ biển dài, hệ thống cảng

biển khá phát triển, nhưng luồng tàu biển ra vào ở các khu vực lại đa dạng và phức

tạp. Lượng tàu biển ra vào chỉ tập trung ở các khu vực chính như Quảng Ninh, Hải

Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hoa tiêu ở cảng nhỏ ít tàu ra vào không có điều kiện tiếp

50

cận, thực tập dẫn tàu trên những tàu lớn, hiện đại và học tập nâng cao trình độ

chuyên môn. Vì vậy, trình độ hoa tiêu cũng như điều kiện dẫn tàu ở các khu vực có

sự chênh lệch đáng kể, hoạt động còn thiếu sự thống nhất, trang thiết bị phục vụ đưa

đón hoa tiêu còn thiếu và lạc hậu, đó là chưa kể hoa tiêu dẫn tàu khu vực Quy

Nhơn, Nha Trang còn nằm chung trong các tổ chức cảng vụ và xí nghiệp hoa tiêu

trực thuộc Vũng Tàu Ship, đảm nhận công tác dẫn tàu tại các cảng khu vực Bà Rịa

– Vũng Tàu và một phần tỉnh Đồng Nai.

Tại Hội nghị vận tải và dịch vụ hàng hải năm 2004 do Bộ GTVT và Cục

Hàng hải tổ chức, có ý kiến cho rằng: “Trong cơ chế thị trường và sự nghiệp đổi

mới ngày nay, sẽ thật không công bằng nếu như các đơn vị dịch vụ khác nai lưng ra

để cạnh tranh kiếm việc làm thì công ty hoa tiêu chẳng phải lo lắng gì cả mà vẫn

đầy đủ công việc”. Thực chất, hoa tiêu hàng hải là một nghề đặc thù mà vai trò của

người hoa tiêu luôn gắn liền với sự an toàn của con tàu, hàng hoá, thảm hoạ về hàng

hải và môi trường biển. Nó không cho phép người hoa tiêu tách rời những yêu cầu,

chuẩn mực nghề nghiệp vì lợi nhuận. Việc mở rộng sự cạnh tranh dịch vụ hoa tiêu

không giới hạn cho phép chủ tàu gây sức ép lên những người cung cấp dịch vụ hoa

tiêu mà bản thân nó chính là một tai nạn đang rình rập. Thực tế cho thấy, nếu ở bất

cứ quốc gia nào có nhiều doanh nghiệp hoa tiêu cùng cạnh tranh trong lĩnh vực dẫn

tàu – vì lợi nhuận họ đã giảm giá thành, hạ thấp các chuẩn mực dẫn tàu như sử dụng

các tàu hỗ trợ có sức đẩy yếu, hoa tiêu có trình độ hạn chế, chấp nhận dẫn tàu trong

điều kiện kém an toàn… đã dẫn đến nhiều tai nạn hàng hải nghiêm trọng.

Những bất cập về tổ chức và hoạt động HTHH cần được xem xét, tháo gỡ:

+ Mô hình tổ chức hoa tiêu hiện nay chứa đựng nhiều bất cập với mục tiêu,

yêu cầu của kế hoạch sắp xếp lại DNNN của Bộ GTVT đã được Chính phủ phê

duyệt.

+ Sẽ rất khó khăn trong việc thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các

đơn vị hoa tiêu hiện nay về các lĩnh vực: kiểm soát hiện tượng biến độc quyền Nhà

nước thành độc quyền doanh nghiệp, thực hiện các chế độ chính sách với người lao

động….

+ Sẽ không giải quyết được việc tự cân đối, tự điều chỉnh về tài chính, về số

lượng cũng như chất lượng lao động HTHH.

+ Sẽ không thuận lợi khi cần thay đổi về phí hoa tiêu cho phù hợp với thông

lệ quốc tế và khu vực. Phí hoa tiêu của Việt Nam chỉ dựa vào hai biến số cơ bản là

51

cự ly dẫn tàu và dung tích toàn phần của tàu (GT). Phí hoa tiêu của nước ngoài dựa

trên các tham số sau: Chỉ số nói lên độ lớn của con tàu, chiều dài hành trình của tàu

sử dụng dịch vụ hoa tiêu, thời gian làm việc của hoa tiêu trên tàu, phí tính đến sự

khó khăn trong dẫn dắt các loại tàu, phí trả cho phương tiên đưa đón hoa tiêu, phí

hoa tiêu tối thiểu…

+ Sẽ rất khó khăn khi ngành Hàng hải Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu

của Bộ luật quốc tế về an ninh tàu và bến cảng (ISPS) đã có hiệu lực thi hành từ

01/7/2004.

Tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội Hoa tiêu hàng hải thế giới ở

Acapulco – Mexico tháng 7/2001, Chủ tịch Hiệp hội, Ông Michel Pouliot đã gửi

thông điệp của Hiệp hội tới các nhà chức trách ở mọi nơi, đó là: “Để có được một

thể chế hàng hải an toàn và có tính cạnh tranh nhất thì dịch vụ hoa tiêu phải được

cung cấp bởi các đơn vị công ích độc lập, có thẩm quyền”.

Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá

Mấy năm qua, lượng hàng hoá thông qua các cảng biển đều tăng, năm sau

cao hơn năm trước.

Sản lượng bốc dỡ tăng lên nhanh chóng kể cả hàng rời lẫn hàng Container,

tốc độ tăng trung bình là 12,86%/năm. Chất lượng phục vụ cũng đã tốt hơn trước

nhiều. Song, việc quy hoạch và phát triển cảng còn chậm so với yêu cầu phát triển

kinh tế của đất nước.

Bảng 2.3: Lƣợng hàng hoá thông qua các cảng Việt Nam

Lƣợng hàng hoá thông qua

% tăng của năm sau % tăng của năm sau Năm Tấn Container so với năm trước so với năm trước

2003 63.879 1.534.122 22,40 13,59

2002 56.238 1.253.362 15,10 14,64

2001 49.058 1.088.935 6,00 10,39

2000 44.440 1.027.341 11,76 12,83

1999 39.388 919.264

Nguồn: http//www.vpa.org.vn

Để xếp dỡ một khối lượng hàng hoá lớn thông qua cảng, cần phải trang bị hệ

thống cầu tàu với quy mô chuyên môn hoá cao, đầu tư các phương tiện xếp dỡ hiện

52

đại, nhiều kho bãi bảo quản, chế biến, đóng gói, phân loại hàng hoá thuận tiện và

đáng tin cậy. Phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng trang thiết bị đồng bộ như vậy thì

mới bảo đảm cho hoạt động xếp dỡ được thông suốt và hiệu quả.

Hệ thống cảng biển bao gồm các phương tiện, trang thiết bị bốc dỡ đã được

xây dựng từ lâu nhưng không được đầu tư nâng cấp thường xuyên nên bị xuống

cấp. Các thiết bị bốc xếp lạc hậu, cũ kĩ nên năng suất bốc xếp thấp. Mức độ hiện đại

hoá thấp, các thiết bị chuyên dụng để bốc xếp Container còn thiếu, dẫn đến thời

gian giải phóng tàu kéo dài. Những năm gần đây, với chính sách mở cửa, kinh tế

phát triển nhanh dẫn đến lượng hàng tăng lên một cách đáng kể, xuất hiện tình trạng

đầu tư một cách ồ ạt, thiếu đồng bộ, không mang theo một quy hoạch thống nhất.

Một số dự án đầu tư đã mang lại hiệu quả kinh tế thực sự nhưng có không ít dự án

không mang lại hiệu quả kinh tế đã đề ra. Cơ sở vật chất tăng về số lượng nhưng

chưa đạt độ cần thiết cả về số lượng lẫn chất lượng. Có nhiều cảng biển nhưng chưa

có các cảng đủ sức thu hút hàng hoá khu vực. Hầu hết các cảng xây dựng nằm sâu

trong nội địa với luồng lạch chỉ cho phép tàu có trọng tải không quá 3 vạn tấn vào

cảng. Mới chỉ có một số bến cảng có thiết bị xếp dỡ đạt mức giải phóng tàu nhanh

ngang với một số nước trong khu vực. Do cạnh tranh trong kinh doanh cung ứng

dịch vụ, giá cước vận tải và bốc xếp bị giảm nhiều ảnh hưởng đến doanh thu và hoạt

động của các doanh nghiệp.

Phần lớn các công trình kho bãi được xây dựng từ rất lâu đang bị xuống cấp,

tải trọng khai thác thấp, đặc biệt còn thiếu bến Container, bến chuyên dùng cho tàu

trên 20.000 DWT. Các trang thiết bị bốc xếp có năng suất thấp và tiêu tốn nhiều

năng lượng do quá cũ. Các cầu cảng chỉ đạt năng suất 1.300-1.600 T/m, chỉ bằng

khoảng 40-50% so với các cảng của các nước trong khu vực, riêng cảng do địa

phương quản lý chỉ đạt mức 20-25%. Mức độ hiện đại hoá thấp, các thiết bị chuyên

dùng bốc xếp Container thiếu nên thời gian tàu nằm chờ ở cảng kéo dài.[48]

Kỷ lục về tốc độ giải phóng tàu nhanh của thế giới hiện nay thuộc về bến

Maesk Sealand của cảng Tanjung Pelepas (Malaysia), đạt khoảng 340 Container/giờ

sử dụng 8 cẩu bờ chuyên dùng. Trong khi đó, năng suất làm Container ngoài phao

hiện nay tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 8-15 Container/giờ sử dụng 2 cẩu tàu/sà lan,

chỉ bằng 1/3 năng suất xếp dỡ tại cầu cảng và chậm hơn khoảng 23 lần so với mức

kỷ lục của Malaysia.[18]

53

Theo như tổng kết của ALMEC (1997), những yếu tố sau về CSHT và thiết

bị máy móc cảng biển khiến cho năng suất và hiệu quả xếp dỡ hàng hoá thấp:

- Các thiết bị có thể hỏng bất kỳ lúc nào và thời gian sửa chữa kéo dài.

- Nhiều thiết bị không được sửa chữa cẩn thận vẫn tiếp tục sử dụng.

- Thiếu nhiều các thiết bị phù hợp với công việc trong nhà kho: xe nâng hạ…

- Sử dụng cần cẩu của tàu nhiều hơn là cần cẩu của cảng để loại trừ việc sử

dụng các thiết bị cảng không phù hợp.

- Các vật liệu khác cho công tác xếp dỡ như dây thừng, chão, neo … rất cũ

và thiếu.

Do thiếu nhiều các thiết bị phù hợp, nên ở các xưởng sửa chữa, công việc sửa

chữa nhỏ kéo dài từ 5 -7 ngày và đối với sửa chữa lớn phải mất tới 3 tháng. Trong

thực tế, phần lớn các cảng vẫn không đáp ứng được nhu cầu sửa chữa các thiết bị

xếp dỡ chủ yếu. Tuy nhiên, một vấn đề mà các cảng tiến hành mua sắm thiết bị xếp

dỡ hiện đại là các thiết bị mới mua không thể bảo dưỡng tốt nếu thiếu kiến thức,

thiếu cán bộ/công nhân kỹ thuật và vật liệu phụ tùng thay thế. Theo đánh giá của

ông Đinh Ngọc Viện - nguyên Chủ tịch HĐQT Vinalines: “ Năng lực thông qua của

các cảng Việt Nam vẫn còn thừa gấp đôi so với lượng hàng hóa xuất nhập khẩu hiện

nay. Năng lực thực tế có thể cao hơn nếu các cảng có thêm trang thiết bị làm hàng

hiện đại, có đủ mặt bằng sản xuất và giao thông hậu phương được thông suốt”.

Đối với hàng Container, khu vực phía nam đảm nhận khoảng từ 50-60% sản

lượng của cả nước. Chỉ trong thời gian ngắn, ở khu vực Tp.HCM đã xuất hiện nhiều

cầu cảng Container do các đơn vị quản lý khác nhau. Các cầu cảng ra sức cạnh

tranh với nhau nên dẫn đến sự khai thác lộn xộn. So với năm 1993, sản lượng của

cảng Sài Gòn năm 1994 giảm hẳn (45%) do hàng Container chuyển sang Tân Cảng.

Sản lượng của cảng Bến Nghé rất thấp, nhưng cũng không tăng lên được do sự xuất

hiện của VICT. Theo thông tin thì một nửa các thiết bị của 4 cảng Container đều

không được sử dụng hết. Đây thật là một sự đầu tư lãng phí và đó là kết quả tất yếu

của việc không có một cơ quan quản lý cảng thống nhất cũng như không có một

chính sách quy hoạch phát triển cảng cụ thể.

54

Bảng 2.4: Năng suất và thiết bị xếp dỡ tại một vài cảng biển Việt Nam

Đơn vị sửa Cảng Năng suất ngày Các thiết bị chính chữa/b.dƣỡng

1. Hải Hàng bao: 800 tấn 27 cẩu jib (5-16t) Xí nghiệp sửa chữa với

Phòng Hàng B.hoá: 450 tấn 6 cẩu di động (25-28t) 275 lao động.

Sắt/thép: 1000- 39 xe nâng hàng(1-32t)

1200t

B.quân: (1998) 68 xe tải (5-12t)

10.000-20.000t/ngày 89 trailer

2. Cái Lân Không rõ 4 cẩu Không rõ

1 xe nâng hạ

1 ôtô

3. Cửa Lò Gỗ: 360t 4 cẩu crawler (5-60t) Xưởng sửa chữa nhỏ

Than: 300t 6 cẩu ôtô (5-25t)

Phân: 240t 3 xe nâng hàng (5t)

Quặng: 300t 32 ôtô tải

Container: 1200t/đội 7 trailer

4.Đà Nẵng Hàng gỗ: 10.000t 16 xe cẩu (5-80t) Xưởng sửa chữa lơn và

(1997) trong 3 ngày 16 xe nâng hàng (2- nhỏ với 49 lao động

42t)

3 dây chuyền (0,4-0,6t)

20 xe tải (8-20t)

19 trailer (8-40t)

Nguồn: ALMEC, Nghiên cứu quy hoạch khôi phục và phát triển vận tải ven biển

Việt Nam, 1997

Dịch vụ trung chuyển Container quốc tế

Kể từ khi thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức dịch vụ

trung chuyển Container ở các cảng biển Việt Nam, cảng Bến Nghé là đơn vị đầu

tiên thực hiện thí điểm loại hình dịch vụ này. Đến tháng 7/2001, cảng Sài Gòn và

cảng Hải Phòng, đến tháng 10/2002 Tân Cảng Sài Gòn được Chính phủ cho phép

thực hiện thí điểm.

55

Sau hai năm thực hiện thí điểm, số lượng Container trung chuyển tại cảng

Bến Nghé còn khá khiêm tốn. Cảng Sài Gòn tuy có một số lợi thế hơn so với những

cảng khác trong khu vực, nhưng số lượng Container trung chuyển tại đây tính hết

năm 2003 cũng chỉ đạt trên 7.000 TEU. Cảng Hải Phòng là đơn vị có sản lượng

Container trung chuyển cao hơn cả - gần 9.000 TEU. Cảng đã cố gắng vượt qua

những khó khăn về luồng lạch để thực hiện tốt dịch vụ này. Mặc dù triển khai thí

điểm loại hình dịch vụ này muộn hơn so với một số cảng khác nhưng Tân Cảng có

tốc độ tăng trưởng khá cao, khoảng 5.200 TEU trong năm 2003.

Tuy nhiên, việc thực hiện thí điểm dịch vụ trung chuyển tại một số cảng của

Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn. Hơn nữa, một số cảng Việt Nam không nằm kề

các tuyến hàng hải quốc tế, lại có khó khăn về luồng lạch nên tàu Container trọng

tải lớn không vào cảng được. Ngoài ra, các cảng biển Việt Nam phải chịu sự cạnh

tranh quyết liệt từ các cảng trong khu vực như cảng Singapore, Hồng Kông…

Trong khi đó, chính sách của Việt Nam chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho loại

hình dịch vụ này phát triển, đặc biệt là các quy định về thủ tục hải quan đối với

hàng Container trung chuyển tại các cảng biển Việt Nam.

Dịch vụ trung chuyển hàng Container là một trong những loại hình dịch vụ

khá phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia hàng hải

phát triển. Tuy kết quả chưa như mong muốn, nhưng đã khẳng định loại hình dịch

vụ này phù hợp và có khả năng phát triển mạnh trong tương lai tại một số cảng của

Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của một số hãng tàu trong và ngoài nước, góp phần tăng

thu ngoại tệ, tạo điều kiện để nước ta chủ động hội nhập khu vực và thế giới. Để

phát triển loại hình dịch vụ này trong thời gian tới, Chính phủ cần có chính sách

khuyến khích, tạo điều kiện cho các cảng kinh doanh mà không cần có giấy phép

riêng cho từng doanh nghiệp cảng. Song song là đổi mới cải cách thủ tục hành

chính, như sửa đổi các quy định về thủ tục hải quan đối với hàng Container trung

chuyển tại các cảng theo hướng không cần làm thủ tục hải quan. Hàng hoá đóng

trong Container trung chuyển bị tổn thất, mất mát thì người vận chuyển và cảng tự

thoả thuận biện pháp giải quyết (như đóng gói, giám định lại mà không cần thông

báo với cơ quan hải quan); hỗ trợ về thuê đất, giảm thuế đối với các hoạt động đầu

tư vào lĩnh vực dịch vụ cảng biển và trung chuyển hàng hoá, cho vay với lãi suất ưu

đãi… Ngoài ra, Bộ Thương mại, Bộ tài chính, Bộ Giao thông vận tải cần nhanh

chóng nghiên cứu, soạn thảo và ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện

56

dịch vụ trung chuyển hàng Container, như cần làm rõ khái niệm trung chuyển hàng

hoá. Đặc biệt Chính phủ cần khuyến khích các cảng tự đầu tư cơ sở hạ tầng, thực

hiện liên doanh liên kết trong và ngoài nước nhằm phát triển mạnh mẽ dịch vụ này.

[29]

Về việc xây dựng cảng trung chuyển Container quốc tế tại Việt Nam: Mặc

dù có dự báo khả quan như trong 10-15 năm tới lượng Container qua các cảng vùng

Đông Nam Á sẽ tăng lên gấp 7 lần. Nhưng đó là dự đoán trước khi có khủng hoảng

tài chính trong khu vực và khối lượng vận chuyển này dựa trên tính toán vận

chuyển nội vùng chứ không phải phát triển do trao đổi giữa các châu lục. Thực tế,

cảng Laem Chabang và cảng Klang hoạt động chưa hiệu quả, đang phải dùng các

hình thức khuyến mãi (miễn phí 6 tháng) để thu hút khách hàng. Đó là điều cần phải

suy nghĩ khi xây dựng cảng trung chuyển tại Việt Nam.

Theo đánh giá của tập đoàn tư vấn BCEOM (Pháp) thì nếu có một cảng nước

sâu làm nhiệm vụ trung chuyển Container tại khu vực miền Trung Việt Nam thì có

thể giành được khoảng 30% lượng hàng từ hai cảng Hồng Kông và Singapore tới

các cảng ASEAN. Cũng vẫn theo báo cáo của BCEOM thì số lượng 30% đó nếu

được chuyển tải tại một cảng ở miền Trung sẽ không giảm được nhiều chi phí và

thời gian lắm nếu so với điều kiện vận chuyển hiện nay tại Hồng Kông và

Singapore. Trên thực tế khối lượng hàng được trung chuyển tại Việt Nam phụ thuộc

rất nhiều vào chiến lược khai thác của các cảng trong khu vực.

Có thể thấy đối với nước ta, nên xây dựng một cảng trung chuyển Container

quốc tế ở miền Trung (vì các điều kiện tự nhiên thuận lợi, gần các tuyến hàng hải

quốc tế Viễn Đông – Châu Âu và Viễn Đông – Đông Nam Á, không cạnh tranh với

các cảng đã được đầu tư ở hai khu kinh tế trọng điểm Bắc – Nam, gắn với một khu

Xét về điều kiện tự nhiên, vịnh Vân Phong là địa điểm lý tưởng cho việc xây kinh tế mở để được áp dụng chính sách thông thoáng…)

dựng cảng nước sâu. Hiện tại, vùng này đã được phép làm trung chuyển dầu trên

biển, đã có nhà máy sửa chữa tàu biển Huyndai – Vinashin lớn nhất Đông Nam Á.

Việc phát triển các dịch vụ cảng biển đang được xúc tiến mạnh mẽ là tiền đề cho

công nghiệp hàng hải ở đây phát triển. Tỉnh Khánh Hoà cũng đang chủ trương xin

Chính phủ cho làm khu kinh tế mở tại vùng này, như vậy ở đây hội tụ khá đầy đủ

điều kiện cho một cảng trung chuyển Container quốc tế ra đời.

57

2.3 Những vấn đề rút ra qua các hoạt động kinh doanh dịch vụ ở cảng Việt

Từ những phân tích trên đây, hoạt động kinh doanh dịch vụ cảng biển Việt Nam

Nam có những ưu điểm và hạn chế chính như sau:

2.3.1 Những ưu điểm:

- Hoạt động dịch vụ cảng biển được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Chính

phủ. Chính điều này đã là động lực thúc đẩy hoạt động dịch vụ cảng biển phát triển

không ngừng trong những năm qua. Được sự chỉ đạo của Chính phủ, môi trường

pháp lý đã dần dần được hoàn thiện, điều này được minh chứng bởi Bộ Luật Hàng

hải sau một thời gian sửa đổi đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khoá XI

(kỳ họp thứ 7) thông qua. Bộ luật Hàng hải Việt Nam sửa đổi (Bộ luật 2005) đáp

ứng được những yêu cầu phát triển của ngành hàng hải nói chung và dịch vụ cảng

biển nói riêng trong thời kỳ mới. Bên cạnh đó, các cảng cũng được quan tâm đầu tư

mở rộng và nâng cấp nhằm theo kịp xu thế chung. Trong vài ba năm tới, để khắc

phục tình trạng thiếu các bến Container và đáp ứng nhu cầu trước mắt, Thủ tướng

Chính phủ đã phê duyệt đầu tư một số dự án cảng biển, trong đó có các bến bốc xếp

Container: cảng Cái Lân (1 bến cho tàu 1.500 TEU), Hải Phòng (1 bến cho tàu 600

TEU), cảng Đà Nẵng (1 bến cho tàu 1.500 TEU), và cảng Bến Nghé (1 bến cho tàu

1.000 TEU), giai đoạn II của cảng VICT thêm 3 bến cho tàu 1.000 TEU.

- Số lượng các doanh nghiệp tham gia thị trường dịch vụ này ngày một tăng

lên, nguồn thu cho ngân sách Nhà nước cũng vì vậy được tăng thêm.

Số lượng doanh nghiệp dịch vụ cảng biển thuộc các thành phần kinh tế tăng

nhanh. Tính đến tháng 5/2004, con số này là 344 doanh nghiệp, tăng 129,33% so

với năm 2000.

Số lượng ngành nghề trong các loại hình dịch vụ cảng biển cũng tăng. Tại

thời điểm năm 2000 chỉ có 339 ngành nghề thì tính đến 5/2004 đã là 1090 ngành

nghề, tăng 221,53%.

- Các doanh nghiệp đã có tiến bộ trong việc đầu tư công nghệ tiên tiến hiện

đại để đạt năng suất khai thác cao và quản lý có hiệu quả, đưa hoạt động của hệ

thống cảng biển Việt Nam hoà nhập chung với cộng đồng hàng hải quốc tế, năng

suất khai thác tương đương với năng suất của các nước trong khu vực. Cảng Hải

Phòng trong năm 2000 đã đầu tư thêm 2 cần cẩu Sokol sức nâng 32 tấn/chiếc để bốc

xếp hàng nặng, đồng thời trong năm 2001 đưa thêm 2 cần cẩu Gantry và 4 cẩu bãi

58

RTG để làm hàng Container tại cảng Chùa Vẽ. Ngoài ra, cảng Hải Phòng còn đầu

tư một số thiết bị vận tải bộ và đầu kéo để làm hàng Container. Doanh nghiệp đã và

đang tìm cách tổ chức khép kín dây chuyền sản xuất kinh doanh của mình bằng

cách tự đầu tư tàu, xây dựng bến cảng và kinh doanh các dịch vụ.

Bảng 2.5: Trị giá xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam (triệu US$)

Ngành dịch vụ

Thực hiện 2003 6 tháng đầu năm 2004

Tổng xuất khẩu dịch vụ

4666 346 40 183 0,7 0,1 46 62 14 225 61 48 23 26 10 57 196 2 194 1592 164 27 26 2090 2750 230 24 124 0,3 0,3 26 36 19 137 38 27 20 13 4 35 33 0,5 32 1068 68 17 15 1183

1. Dịch vụ vận tải hàng không Vận tải hàng hóa Vận tải hành khách Cung cấp suất ăn cho các hãng nước ngoài Cho thuê đội bay Dịch vụ tại cảng hàng không Điều hành bay Dịch vụ hàng không khác 2. Dịch vụ vận tải biển Chở hàng cho chủ hàng nước ngoài Vận chuyển giữa các cảng nước ngoài Cho nước ngoài thuê tàu Bốc xếp hàng hóa Cho thuê thuyền viên Dịch vụ cảng và bảo đảm hàng hải 3. Dịch vụ bưu chính viễn thông Dịch vụ bưu chính Dịch vụ viễn thông 4. Dịch vụ du lịch 5. Dịch vụ tài chính 6. Dịch vụ bảo hiểm 7. Dịch vụ chính phủ 8. Dịch vụ khác Nguồn: Nghiên cứu kinh tế tháng 2- 2005

2.3.2 Những hạn chế:

-Việt Nam có quá nhiều cảng biển, không có một cơ quan quản lý thống nhất

gây nên tình trạng lộn xộn trong hoạt động dịch vụ cảng biển, “mạnh ai nấy làm”.

59

- Đầu tư cảng biển tràn lan dẫn đến việc “cảng thiếu vẫn thiếu và cảng thừa

vẫn thừa”. Phần lớn cảng biển Việt Nam lại nằm sâu trong các cửa sông: Cụm cảng

Sài Gòn cách phao số 0 (Thiềng Liềng) tới 130 km, cảng Hải Phòng, Cái Lân tính

từ phao số 0 cũng đều cách xa đến 20-70 km. Chính vì vậy mà độ sâu luồng chạy

tàu, chiều rộng và bán kính quay trở tàu rất hạn chế. Các yếu tố thời tiết, kỹ thuật

cũng hạn chế khả năng tiếp cận của tàu với cảng. Do vậy có thể nói, với xu thế kích

thước ngày càng lớn của đội tàu thế giới thì khả năng tàu biển đến cảng biển Việt

Nam bị hạn chế và không thuận lợi. Cảng có khả năng tiếp nhận tàu 15.000-30.000

DWT không nhiều (4 cảng). Điều đó có nghĩa là thời gian tàu đỗ làm hàng tại cảng

lâu hơn.

- Về cơ sở vật chất kỹ thuật (cầu cảng, kho bãi, thiết bị): So với các nước

trong khu vực, hệ thống cơ sở hạ tầng và thiết bị của cảng biển nói chung đã lạc

hậu, sử dụng quá lâu và không được đầu tư đổi mới. Cho đến nay, một vài cảng lớn

như Hải Phòng, Sài Gòn, VICT… đã có những trang thiết bị hiện đại cho xếp dỡ

hàng hoá nhưng hầu hết các cảng còn lại, các thiết bị xếp dỡ đều đã cũ kỹ và lạc

hậu, với hơn 15 – 20 năm khai thác. Cảng VICT có thiết bị khá nhất với 2 dàn cẩu

Gantry, nhưng cũng chỉ có 300m cầu tàu. Cảng Hải Phòng, có 25 cẩu nhưng 20 cẩu

có độ dài khai thác trên 20 năm. Do vậy, nhìn chung công tác xếp dỡ hàng hoá tại

cảng biển không hiệu quả và năng suất thấp.

Hệ thống GTVT hậu phương của các cảng biển cũng rất lạc hậu, không

tương xứng với yêu cầu thông qua cảng trong tình hình hiện nay. Tại cảng Cái Lân,

tuyến đường sắt tiếp nối cảng chưa kết nối được; tuyến đường bộ duy nhất-Quốc lộ

18 đang được nâng cấp. Cụm cảng Sài Gòn và đặc biệt là cảng Sài Gòn, tuyến vận

tải phía sau chỉ dựa vào đường bộ-ôtô tải thì lại bị vây quanh bằng một đô thị chật

cứng. Ô tô chỉ có thể rút hàng vào ban đêm nên năng lực thông qua cảng đã bị hạn

chế rất nhiều. Duy nhất chỉ có cảng Hải Phòng có tuyến đường sắt và quốc lộ 5 mới

đưa vào khai thác là cảng có hệ thống tuyến đường GTVT địa phương khả quan hơn

cả. Tuy nhiên, tần suất hoạt động cao và mật độ của các xe chở Container trên tuyến

đường này đã gây nên tình trạng xuống cấp nhanh của các tuyến đường.

Diện tích đất đai kho bãi cho phát triển và mở rộng cảng rất hạn chế, do phần

lớn các cảng chính đều bị bao bọc bởi khu đô thị chật hẹp và đông đúc.

- Giá dịch vụ cảng biển thả nổi, không thống nhất. Hiện nay, giá cả dịch vụ

cảng biển không thuộc danh mục hàng hoá dịch vụ do Nhà nước quy định mà thuộc

thẩm quyền của các đơn vị kinh doanh dịch vụ cảng biển. Thị trường dịch vụ chưa

60

phát triển đồng thời số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ lại quá đông đã tạo nên tình

trạng cạnh tranh không lành mạnh mà tiêu biểu là giảm giá dịch vụ một cách tuỳ

tiện.

- Thủ tục hành chính rườm rà. Tuy đã được cải cách phần nào nhưng hiện tại,

các thủ tục hành chính và phí cảng biển Việt Nam vẫn bị xếp vào danh sách nhiêu

khê và cao nhất trong khu vực. Tình trạng này đã và đang làm giảm sức cạnh tranh

của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.

- Chất lượng dịch vụ thấp. Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đến việc bán được

hàng còn chất lượng hàng như thế nào, họ không cần biết.

- Hoạt động marketing yếu. Việc khuếch trương, quảng cáo là một trong

những hoạt động quan trọng nhằm cung cấp được nhiều hàng hoá, dịch vụ. Các

doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển tại Việt Nam vẫn chưa quan tâm đúng

mức tới hoạt động này.

- Các cảng biển ở Việt Nam đều có xu thế tập trung vào các hoạt động

thương mại: ví dụ như xếp dỡ và kho bãi. Đây là xu thế ngược với xu thế quản lý

cảng biển thế giới – cảng là trung tâm phân phối dịch vụ trọn gói – trung tâm phân

phối hậu cần. Hiện nay, các hãng tàu thường có khuynh hướng đến thẳng với chủ

hàng và việc thực hiện điều này cũng không phải là chuyện khó với sự trợ giúp của

hệ thống thông tin và mạng Internet. Tuy nhiên, những mối quan hệ gắn bó từ lâu

với các hãng tàu cùng những kinh nghiệm ngành nghề và những kiến thức chuyên

môn về địa phận cảng, sự am hiểu về phong tục, tập quán của từng địa phương được

coi là các giá trị truyền thống không gì có thể thay đổi được cho dù phương tiện có

hiện đại đến đâu cũng chỉ giúp cho thông tin giữa các bên nhanh chóng hơn mà thôi.

Nhận rõ lợi thế này, các nhà làm dịch vụ có xu hướng hình thành hệ thống dịch vụ

hoàn chỉnh, hiện đại hoá và đơn giản mọi quy trình để có thể nhận dịch vụ một cách

trọn gói. Trong đại lý vận tải đa phương thức phải thực hiện “door to door” mặc dù

dịch vụ này phải qua rất nhiều công đoạn với nhiều hình thức vận tải khác nhau.

Trong quy trình bốc xếp của cảng Container hiện đại là thực hiện khâu bao thầu

dịch vụ khép kín trọn gói các công đoạn cho việc xếp dỡ Container…

Tóm lại, qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, hoạt động dịch vụ

cảng biển ở Việt Nam đã có những bước tiến cả về cơ sở pháp lý, số lượng và chất

lượng dịch vụ. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, dịch vụ cảng biển không

tránh khỏi vẫn còn những mặt hạn chế, tiêu cực. Trong tiến trình hội nhập hiện nay

cũng như để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

61

nước cần phải khắc phục những mặt hạn chế, tiêu cực đó đồng thời phải củng cố,

phát huy những mặt tích cực để dịch vụ cảng biển trở thành một trong những động lực thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

61

CHƢƠNG III

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CẢNG BIỂN

Ở VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP KTQT

3.1 Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong hoạt động kinh doanh dịch vụ cảng biển

3.1.1 Tính tất yếu của quá trình hội nhập

3.1.1.1 Những xu hướng phát triển chủ yếu chi phối nền kinh tế thế giới.

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã

chịu sự tác động của một loạt những xu thế mới, trong đó nổi bật lên là xu thế phát

triển mang tính bùng nổ của cách mạnh khoa học và công nghệ, xu thế quốc tế hoá

đời sống kinh tế thế giới và xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt lập sang

hợp tác với sự ưu tiên các nguồn lực cho phát triển kinh tế. Những xu thế này phản

ánh động lực, trạng thái và phương thức của sự phát triển nền kinh tế thế giới.

Chúng hiện đang và sẽ còn giữ vai trò chủ yếu trong định hướng phát triển của nền

kinh tế thế giới nói chung và sự phát triển kinh tế của từng quốc gia nói riêng.

- Xu thế phát triển mang tính bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học- kỹ

thuật hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ tin học, vật liệu mới, quản lý… đã

làm cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. Một đặc điểm lớn của sự phát

triển kinh tế thế giới từ thập kỷ 90 đến nay là tin học hoá kinh tế thế giới. Đây vừa

là sản phẩm của cuộc điều chỉnh lớn về chiến lược của các nước thời kỳ hậu chiến

tranh lạnh, vừa là xu thế phát triển tất yếu của cuộc cách mạng tin học.

- Xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới: Thương mại quốc tế phát triển

mạnh mẽ và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế của thế

giới. Nếu như năm 1980 doanh số mậu dịch hàng hoá thế giới là 2.000 tỷ USD, thì

đến năm 1998 con số này là 5.225 tỷ USD. Cùng với sự phát triển của thương mại

là sự phát triển của tài chính – tiền tệ và đầu tư quốc tế. Vai trò của các công ty

xuyên quốc gia ngày càng được nâng cao, ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của

nền kinh tế thế giới. Để có thể sinh tồn và phát triển trong cuộc cạnh tranh quốc tế

gay gắt, các công ty xuyên quốc gia thi hành phương châm kinh doanh “lấy thế giới

làm nhà máy của mình, lấy các nước làm phân xưởng của mình”. Nhằm thông qua

phân công quốc tế để lợi dụng ưu thế kỹ thuật, tiền vốn, sức lao động và thị trường

các nước. Chính sự phân công lao động quốc tế sâu sắc, vai trò và tầm hoạt động

62

mới của các công ty xuyên quốc gia đã thúc đẩy quốc tế hoá sản xuất, quốc tế hoá

nền kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng. [14]

- Ngày nay, hoà bình, hợp tác đã ngày càng càng trở thành xu thế chính thay

cho sự đối đầu, chạy đua vũ trang giữa các thế lực, giữa các siêu cường. Thay cho

một nền kinh tế phát triển trong sự đối đầu và chiến tranh lạnh, hiệu quả thấp, thế

giới đang xây dựng nền kinh tế với những chính sách hợp tác, hội nhập quốc tế sâu

rộng, trong đó chú trọng đến hiệu quả và tăng sức cạnh tranh cho các nền kinh tế.

3.1.1.2 Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá

Khi toàn cầu hoá đang trở thành một xu hướng tất yếu thì yêu cầu hội nhập

nền kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới

của quá trình phát triển kinh tế thị trường, phản ánh trình độ phát triển cao của lực

lượng sản xuất, phân công lao động quốc tế và việc quốc tế hoá trở nên phổ biến.

Đặc điểm quan trọng của toàn cầu hoá là nền kinh tế thế giới tồn tại và phát triển

như một chỉnh thể, trong đó nền kinh tế của các quốc gia chỉ là các bộ phận có quan

hệ tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú. Không thể phủ

nhận rằng, bất kỳ một quốc gia nào khi tham gia vào kinh tế quốc tế đều có thể thu

được lợi ích nếu quốc gia đó tập trung vào việc sản xuất và xuất khẩu những sản

phẩm thể hiện mối tương quan thuận lợi hơn về mặt chi phí so với các quốc gia

khác sản xuất những sản phẩm tương tự. Do vậy, chỉ có những quốc gia bắt kịp với

xu thế này, biết tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức mới có thể đứng vững và phát

triển. Quốc gia nào không thực hiện hội nhập tức là đã tự loại mình ra ngoài lề sự

phát triển. Nói cách khác, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một tất yếu khách

quan. Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được hiểu đơn thuần là

những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường. Chẳng hạn, Hiệp định chung về

thuế quan và thương mại (GATT) trong suốt 38 năm ròng, qua 7 vòng đàm phán

cũng chỉ tập chung vào đàm phán giảm thuế. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay

được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định

chế tài chính quốc tế, thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại, đầu tư. Như

vậy, hội nhập và toàn cầu hoá sẽ dẫn đến một hệ quả trực tiếp là xuất hiện những

nền kinh tế không biên giới, giữa các nền kinh tế sẽ hình thành và phát triển các

quan hệ tạo ra thế phụ thuộc lẫn nhau. Các quốc gia phải chấp nhận sự phụ thuộc

lẫn nhau ở hầu hết các lĩnh vực kinh tế trên cơ sở cùng có lợi.

63

3.1.2 Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở Việt Nam

Trào lưu hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đang nổi lên như một tất yếu

khách quan. Là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển ở Đông Nam Á, Việt

Nam không thể đứng ngoài một quá trình chung đang diễn ra khắp toàn cầu.

Từ nhiều năm qua, do nhận thức rõ vị trí và điều kiện phát triển kinh tế của

mình, nhận thức được những cơ hội và thách thức đặt ra đối với Việt Nam trong quá

trình hội nhập kinh tế – thương mại khu vực và quốc tế, Đảng ta đã chủ trương: “

Phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo

hướng mở cửa và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới”.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII - Đảng Cộng sản Việt Nam (năm

1996), chỉ rõ: “… Trong hoàn cảnh mới, chúng ta chủ trương xây dựng một nền

kinh tế mở, đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, hướng mạnh

về xuất khẩu … Điều chỉnh cơ cấu thị trường để vừa hội nhập khu vực, vừa hội

nhập quốc tế, xử lý đúng đắn lợi ích giữa ta với các đối tác, chủ động tham gia cộng

đồng thương mại thế giới, các diễn đàn, các tổ chức, các định chế quốc tế một cách

có chọn lọc với bước đi thích hợp” (Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII).[7]

3.2 Định hƣớng của Nhà nƣớc Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế - xã hội nói

chung và kinh doanh dịch vụ cảng biển nói riêng

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của nước ta giai đoạn 2001-2010 mà Đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định mục tiêu là đưa GDP năm

2010 lên gấp đôi năm 2000; tỷ trọng trong GDP của nông-lâm-nghiệp là 16-17%,

công nghiệp là 40-41%, dịch vụ là 42-43%. Ngày 23/9/2004, Thủ tướng Chính phủ

đã có Chỉ thị 33/2004/CT-TTG về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội

(KT-XH) 5 năm 2006-2010. Kế hoạch này đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện và

sâu sắc hơn các hoạt động KT-XH gắn với hội nhập kinh tế quốc tế.

Kế hoạch đặt lên hàng đầu chất lượng của sự phát triển: tăng trưởng kinh tế

nhanh và sức cạnh tranh cao…phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, đầu tư nhiều

hơn cho phát triển nguồn nhân lực,…

*) Yêu cầu của kế hoạch: Các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương

cần:

64

- Xem xét, điều chỉnh các quy hoạch phát triển sản phẩm… quy hoạch phát

triển KT-XH vùng, lãnh thổ phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường…

- Các mục tiêu kế hoạch cần tính đến nước ta đã đến thời kỳ hội nhập đủ vào

khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và bước đầu Tổ chức thương mại thế giới

(WTO), phải cạnh tranh gay gắt trong sự hợp tác song phương và đa phương đa

dạng hơn.

- Tập trung nhiều hơn vào các mục tiêu chất lượng tăng trưởng.

- Giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất, nhất là sức sản xuất thuộc các thành

phần kinh tế ngoài Nhà nước. Phát huy tối đa nguồn lực trong nước, tranh thủ cao

nhất các nguồn lực bên ngoài, sử dụng hiệu quả mọi nguồn vốn cho phát triển.

*) Mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010:

- Phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, tạo chuyển

biến mạnh về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ.

- Tạo mọi điều kiện để hội nhập ở mức sâu và cao hơn với kinh tế khu vực và

thế giới …

*) Định hướng phát triển và nhiệm vụ chủ yếu:

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn 5 năm

trước và có bước chuẩn bị cho 5 năm tiếp theo. Đưa GDP năm 2010 bình quân đầu

người gấp đôi năm 2000.

- Tập trung khai thác thế mạnh của các ngành dịch vụ còn nhiều tiềm năng.

- Hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả

DNNN. Đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN, kể cả các Tổng Công ty và các doanh

nghiệp lớn.

- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân.

- Thực hiện đầy đủ và hiệu quả các cam kết với lộ trình hội nhập kinh tế

quốc tế đã ký kết, trước hết là cam kết trong khuôn khổ AFTA và WTO... Sửa đổi

và xây dựng kịp thời các văn bản pháp luật phù hợp với yêu cầu hội nhập.

- Coi trọng việc huy động vốn cho đầu tư phát triển. Khai thác tối đa và sử

dụng có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển lực lượng sản

xuất và hạ tầng KT-XH.

- Tạo bước chuyển biến toàn diện và sâu sắc trong cải cách hành chính, đẩy

lùi tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân. [33]

65

Bảng 3.1: Tốc độ tăng trƣởng GDP của Việt Nam trong 10 năm (%)

Tốc độ tăng Tốc độ tăng Năm Năm

1995 9.54 2000 6.79

1996 9.34 2001 6.89

1997 8.15 2002 7.08

1998 5.76 2003 7.26

1999 4.77 2004 7.69

Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam Xuân Ất Dậu

Riêng năm 2005, kế hoạch ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng 39% trong GDP.

Đối với khu vực dịch vụ, chiến lược đã đặt ra những phương hướng, nhiệm

vụ chủ yếu, gồm: “phát triển mạnh thương mại, nâng cao năng lực và chất lượng

hoạt động để mở rộng thị trường trong nước và hội nhập quốc tế có hiệu quả…”

Đối với ngành Hàng hải nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng, chiến lược cũng

chỉ rõ là: xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển, phát huy thế mạnh của một

quốc gia ven biển, khai thác có hiệu quả các cảng biển …, phát triển các loại hình

dịch vụ. Phát triển và hiện đại một số cảng biển quan trọng, như: Hải Phòng, Sài

Gòn, Cửa Lò, Đà Nẵng, Quy Nhơn… nâng tổng năng lực thông qua hệ thống cảng

biển lên 45 triệu tấn/năm. [26]

Bảng 3.2: Cơ cấu GDP của Việt Nam (%)

Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản Công nhiệp, XD Dịch vụ Năm

2001 23.2 38.1 38.6

2002 23.0 38.5 38.5

2003 21.8 40.0 38.2

2004 21.7 40.1 38.2

2005(KH) 19.0 42.0 39.0

Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Kinh tế Việt Nam và thế giới 2003-2004

66

3.3 Một số giải pháp nhằm phát triển các dịch vụ cảng biển ở Việt Nam đáp

ứng yêu cầu hội nhập KTQT

3.3.1 Các giải pháp về phía Nhà nước

3.3.1.1 Tích cực hoàn thiện hệ thống pháp luật

Việt Nam tiến hành hội nhập kinh tế trong điều kiện hệ thống pháp luật và

các chính sách quản lý kinh tế – thương mại chưa hoàn chỉnh.

Cho đến nay, hệ thống pháp luật của Việt Nam tuy có nhiều nỗ lực đổi mới

nhưng vẫn còn nhiều điều bất cập, hệ thống chính sách chưa đồng bộ. Đặc biệt,

những biện pháp, chính sách tạo lợi thế cho kinh tế và thương mại nước nhà được

các tổ chức quốc tế thừa nhận thì ta lại chưa có, như: chế độ đãi ngộ quốc gia. Mặt

khác, trong quá trình xây dựng luật pháp và chính sách kinh tế, Việt Nam còn sử

dụng các biện pháp hành chính nên quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, thường

xuyên phải điều chỉnh, thay đổi dẫn đến tính hiệu lực của các chính sách kinh tế

không cao và ở nhiều điểm các chính sách kinh tế chưa đi vào đời sống kinh doanh

của các doanh nhiệp. Chẳng hạn, Nghị định 10/2001/NĐ-CP chỉ nêu ra 9 loại dịch

vụ cảng biển. Trong thời gian tới, Chính phủ cần phải xem xét để có những quy

định liên quan đến 3 loại hình mới xâm nhập vào Việt Nam.

Từ trước đến nay, quản lý nhà nước chuyên ngành đối với dịch vụ cảng biển

được điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác

nhau: hàng hải, thương mại, tài chính, xuất nhập cảnh… Tất cả các văn bản quy

phạm pháp luật nói trên đều có nội dung liên quan đến các hoạt động hàng hải nên

không tránh khỏi sự chồng chéo, mâu thuẫn và tất nhiên chưa phù hợp với với quy

định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Kinh nghiệm cho thấy, nếu hệ thống pháp luật được xây dựng đồng bộ, theo

đúng kỹ thuật quốc tế sẽ là công cụ hữu hiệu giúp khắc phục dần những yếu kém

của dịch vụ và doanh nghiệp trong quá trình tham gia thương mại quốc tế và nâng

cao sức cạnh tranh của chính mình. Trong thời gian trước mắt, chúng ta cần điều

chỉnh hệ thống pháp luật và các chính sách thương mại cho phù hợp với thông lệ

quốc tế và các nguyên tắc của WTO, xử lý một cách thích hợp, cân đối giữa bảo hộ

và khuyến khích cạnh tranh lành mạnh để doanh nghiệp Việt Nam thích nghi dần

với thực tế cạnh tranh gay gắt ở phạm vi trong nước và trên trường quốc tế. Chẳng

hạn, Luật Thương mại là một trong những nguồn luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ

cảng biển nhưng lại không đề cập cụ thể đến thương mại dịch vụ quốc tế cũng như

67

một loạt những vấn đề cơ bản trong thương mại quốc tế như vấn đề đối xử tối huệ

quốc (MFN), đãi ngộ quốc gia (NT), trợ cấp, các biện pháp tự vệ, đối kháng chống

phá giá…

Ngoài ra, cần đẩy mạnh phổ biến thông tin, nâng cao kiến thức về những vấn

đề của WTO cũng như nội dung điều chỉnh chính sách và bản chào về hàng hoá và

dịch vụ cho các doanh nghiệp. Hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao hiểu biết về nội

dung và tác động của các cam kết của Việt Nam trong WTO.

Cần tiến hành thường xuyên cơ chế tham vấn và đối thoại chính sách giữa

Chính phủ và doanh nghiệp.

3.3.1.2 Chấn chỉnh cơ chế quản lý nhà nước về dịch vụ cảng biển theo hướng

thống nhất quản lý.

Công việc này đòi hỏi phải đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan quản

lý Nhà nước về Hàng hải. Hiện nay, cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý của cơ quan

quản lý Nhà nước về hàng hải ở nước ta hết sức cồng kềnh và phức tạp. Nhiều cơ

quan, tổ chức cùng tham gia vào nhiệm vụ quản lý Nhà nước về hàng hải. Như

chúng ta đã biết, ở Việt Nam các cảng biển chịu sự quản lý của rất nhiều cơ quan,

điều này dẫn đến việc đầu tư tràn lan, không có hiệu quả. Rất cần có một sự quản lý

thống nhất để các dịch vụ cảng biển có điều kiện phát triển.

Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển chịu sự quản lý trực tiếp về

chuyên ngành hàng hải của Cảng vụ địa phương. Cảng vụ chịu sự chỉ đạo và hướng

dẫn của Cục Hàng hải Việt Nam. Cục Hàng hải là cơ quan quản lý Nhà nước về

chuyên ngành hàng hải trong phạm vi cả nước, bao gồm hoạt động hàng hải của các

đơn vị do Cục trực tiếp quản lý, do các Bộ, ngành khác ở Trung ương, Uỷ ban Nhân

dân địa phương quản lý, hoạt động hàng hải của các tổ chức và cá nhân, kể cả tổ

chức và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Cục Hàng hải chịu sự

lãnh đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải và chịu sự quản lý Nhà

nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những lĩnh vực có

liên quan.

68

Bảng 3.3: Hệ thống quản lý dịch vụ cảng biển

Chính phủ

Bộ Giao thông Vận tải Bộ Kế hoạch Đầu tư

Cục Hàng hải Việt Nam

Sở Kế hoạch Đầu tư tỉnh, thành phố

Cảng vụ Hàng hải

Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển

3.3.1.3 Đẩy mạnh việc thực hiện chương trình cải cách nền hành chính nhà

nước của Đảng và Chính phủ, lấy thủ tục hành chính làm khâu đột phá.

Khâu đột phá ở đây là cải cách thủ tục hành chính tại các cảng biển trong cả

nước, trong đó có thủ tục cho tàu ra vào, rời cảng biển Việt Nam, xin giấy phép xây

dựng cảng biển … Việc làm này đã và đang được thực hiện thành công tại một số

cảng biển lớn, như: cảng biển khu vực Tp.HCM, Hải Phòng , Đà Nẵng…Trong

tương lai gần, cải cách thủ thục hành chính tại các cảng biển phải được tiến hành

đồng loạt và đồng bộ nhằm góp phần thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế thế giới

và khu vực mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

Cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hành chính trong ngành hàng hải tức

là thực hiện tinh giản bộ máy quản lý hành chính theo lộ trình mà Chính phủ đã đề

ta từ những năm cuối thế kỷ XX, nhằm tạo ra cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hành

chính về hàng hải gọn nhẹ, khoa học, hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đối với

Ngành trong phạm vi cả nước.

Cải cách thủ tục hành chính xóa bỏ những thủ tục rườm rà, không còn phù

hợp với thực tế, đang gây cản trở hoặc phát sinh tiêu cực không đáng có; hình thành

quy trình, cung cách làm việc tiên tiến và tăng cường phối hợp quản lý giữa các cơ

quan quản lý Nhà nước về dịch vụ cảng biển. Ví dụ: Nghị định 160/2003/NĐ-CP

ngày 18/12/2003 về “Quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển và khu vực hàng hải

của Việt Nam” giải quyết thủ tục vào, rời cảng theo hướng “một đầu mối” đã giảm

phiền hà và tạo điều kiện thuận lợi, nhanh chóng cho tàu trong việc khai báo thủ

69

tục, trình nộp các giấy tờ, giúp chủ tàu tiết kiệm thời gian và chi phí. Ngành hàng

hải đã triển khai thành công thí điểm về cải cách hành chính, áp dụng chế độ một

cửa thủ tục tại cảng biển khu vực Tp.HCM

3.3.1.4 Quy hoạch phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng cảng, khối vận tải và dịch

vụ cảng biển.

Như đã đề cập về vai trò của dịch vụ cảng biển, dịch vụ cảng biển và vận tải

biển có mối quan hệ tương hỗ. Vận tải biển phát triển mở rộng thị trường cho dịch

vụ cảng biển phát triển và đến lượt mình, dịch vụ cảng biển lại tác động ngược trở

lại vận tải biển, thúc đẩy vận tải biển phát triển. Cảng biển đóng vai trò rất quan

trọng trong dây chuyền hoạt động của ngành hàng hải nói riêng và nền kinh tế nói

chung. Hoạt động của cảng biển không chỉ đáp ứng nhu cầu vận tải mà còn lên quan

đến nhiều lĩnh vực khác như buôn bán, giao dịch, bảo hiểm, luật pháp, tài chính,

ngân hàng và du lịch… Phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển là điều kiện cần để ngành

hàng hải phát triển. Do vậy, để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, Hàng hải Việt

Nam cần một chiến lược đầu tư có tính đột phá, tập trung và đồng bộ trên cả ba mặt

trận: vận tải biển, dịch vụ cảng biển và cơ sở hạ tầng cảng biển.

Chẳng hạn, muốn khai thác hiệu quả và lâu dài cảng Cái Lân, cần khẩn

trương đầu tư xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long vì hiện nay Quốc lộ 18 đã

gần quá tải, xây dựng hơn 10 km đường sắt từ ga Hạ Long vào Cảng và hoà mạng

khổ đường từ Kép về Hạ Long với hệ thống đường sắt cả nước; quy hoạch bãi ôtô

tập kết chờ nhận, trả hàng của cảng Cái Lân và các nhà máy trong khu vực. Việc

quy hoạch và san lấp mặt bằng các khu công nghiệp xung quanh vịnh Cửa Lục phải

đảm bảo không làm sa bồi luồng, vùng nước cảng Cái Lân; dành khu vực neo đậu

cho phương tiện thuỷ nội địa chờ rút hàng tại cảng với số lượng lớn tại khu vực

này.[32]

Là kết cấu hạ tầng giao thông vận tải, cảng biển phải được đầu tư xây dựng

trước một bước phù hợp với dự báo và quy hoạch đã được phê duyệt. Xây dựng

cảng đòi hỏi phải có sự khảo sát kỹ điều kiện tự nhiên như khí tượng-thuỷ-hải văn,

địa chất, địa hình trên biển trong điều kiện khó khăn phức tạp. Chỉ riêng thời gian

khảo sát, nghiên cứu và thiết kế để xây dựng cảng thường mất 4-5 năm (có trường

hợp phải mất hàng chục năm như cảng Cái Lân, cảng Hải Phòng, cảng Cái Mép –

Thị Vải, luồng vào cửa Định An…). Công tác thi công xây dựng cảng, nạo vét khu

nước và luồng lạch là một công tác không đơn giản. Thời gian thi công một công

70

trình được thực hiện từ 3 đến 5 năm tuỳ thuộc vào quy mô. Sau khi đưa vào khai

thác thường phải mất từ 2-3 năm cảng mới đạt công suất thiết kế. Với những đặc

điểm về công tác nghiên cứu, xây dựng và khai thác cảng biển nêu trên, nếu không

chủ động triển khai các công tác chuẩn bị thì hệ thống cảng biển Việt Nam sẽ không

đáp ứng được nhu cầu vận tải.

Các dự án cảng phải được nghiên cứu với mục tiêu dài hạn với tầm nhìn vài

chục năm, có trường hợp hàng trăm năm (như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn…).

Tuy nhiên, công tác đầu tư xây dựng phải được phân kỳ thành nhiều bước phù hợp

với tình hình phát triển kinh tế của đất nước và tình hình phân bổ vốn. Tất cả các

hạng mục công trình khi vừa hoàn thành đều đưa vào khai thác. Trên thực tế đã xảy

ra tình trạng tàu sắp hàng chờ vào bến như ở cảng than Cẩm Phả, cảng Nghi Sơn,

cảng Quy Nhơn… dẫn đến lãng phí rất lớn. Thiếu bến, mỗi ngày tàu chờ chi phí là

7.000-8.000 USD (cho tàu 10.000 tấn). Theo kinh tế vận tải biển: bến chờ tàu chứ

không phải tàu chờ bến.

Đội tàu vận tải biển Việt Nam có 880 tàu với tổng trọng tải hơn 2,5 triệu tấn,

chỉ chiếm khoảng 15% thị phần vận tải (ký trực tiếp với các nhà XNK Việt Nam) số

lượng hàng hoá XNK. Như vậy, số lượng tàu nước ngoài đến Việt Nam không phải

là nhỏ. Để tàu nước ngoài phải chờ thiệt hại sẽ rất lớn và điều đặc biệt quan trọng là

cảng biển Việt Nam sẽ mất tính hấp dẫn trong con mắt của bạn bè quốc tế.

Trên thực tế, hệ thống cảng biển Việt Nam còn chưa đủ bến và để đáp ứng

lượng hàng theo dự báo đến năm 2010 xấp xỉ 250 triệu tấn, hệ thống cảng biển Việt

Nam sẽ còn thiếu rất nhiều bến.

Để cảng biển đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện

đại hoá đất nước, kiến nghị Chính phủ tập trung đầu tư các cảng chính chủ lực đạt

tiêu chuẩn quốc tế với trang thiết bị hiện đại để bốc dỡ hàng hoá phục vụ vùng kinh

tế trọng điểm ở ba miền và cảng trung chuyển Container quốc tế. Đồng thời áp dụng

quy chế đấu thầu lựa chọn nhà khai thác và cho thuê kết cấu hạ tầng đối với các

cảng trên nguyên tắc người nào đầu tư xây dựng người đó được thu hồi vốn và lãi

suất từ việc kinh doanh khai thác cảng biển. Để hạn chế sự đầu tư dàn trải, kém hiệu

quả và sự thất thoát trong công tác đầu tư xây dựng, các cảng địa phương và cảng

chuyên dụng được xây bằng các nguồn vốn huy động dựa trên cơ sở tính toán hiệu

quả kinh tế và tài chính.

71

3.3.1.5 Đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh về giá cả và chất lượng

dịch vụ

Trong nền kinh tế thị trường, giá dịch vụ cảng biển được hình thành theo quy

luật cung - cầu, đóng vai trò tích cực trong việc giữ quan hệ cân bằng trong dịch vụ

cảng biển. Ảnh hưởng của yếu tố quốc tế đến giá cả tuỳ thuộc vào loại dịch vụ. Với

những loại dịch vụ bắt buộc phải thực hiện tại Việt Nam (đại lý tàu biển, lai dắt, vệ

sinh tàu biển, kiểm đếm hàng), chỉ thực hiện giá quy định của các hiệp định song

phương (nếu có), còn lại cần thiết phải quy định giá tối thiểu (giá sàn) để tránh việc

cạnh tranh hạ giá giữa các doanh nghiệp trong nước làm thiệt hại đến thu nhập của

các doanh nghiệp và thất thu ngân sách, làm lợi về tài chính cho phía nước ngoài.

Các loại dịch vụ không bắt buộc phải thực hiện tại Việt Nam (cung ứng vật tư, thực

phẩm, nước ngọt, sửa chữa), giá cả sẽ do các bên thoả thuận, vì nếu quy định sẽ có

hai khả năng: một là quá thấp – sẽ làm lợi cho phía nước ngoài, hai là quá cao –

khách hàng nước ngoài sẽ không thực hiện tại Việt Nam, và tất nhiên Việt Nam sẽ

không tận dụng được nguồn thu này.

Dựa vào mức độ quản lý Nhà nước đối với giá dịch vụ cảng biển trong nền

kinh tế thị trường có thể chia thành 3 loại giá dịch vụ: giá do thị trường điều tiết

(không giới hạn), giá có quy định mức thấp nhất (giá sàn), giá có quy định mức cao

nhất (giá trần). Nhà nước có những quy định về quản lý giá riêng cho từng loại.

- Giá do thị trường điều tiết: Áp dụng cho các loại dịch vụ như cung ứng tàu

biển, sửa chữa tàu biển …

- Giá có quy định mức thấp nhất: Áp dụng cho loại hình dịch vụ như đại lý

tàu biển.

- Giá có quy định mức cao nhất: Áp dụng cho loại hình dịch vụ nào xét thấy

cần phải điều chỉnh tại thời điểm có biến động lớn.

Nhà nước không chủ trương độc quyền trong lĩnh vực dịch vụ cảng biển

nhưng hoàn toàn ủng hộ việc quản lý, điều tiết thị trường bằng các biện pháp hành

chính nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh qua việc phá giá, chèn ép các doanh

nghiệp dịch vụ cảng biển của ta gây thất thu lớn cho Nhà nước.

Hiện nay, Nhà nước không quản lý giá dịch vụ cảng biển mà để các công ty

làm dịch vụ cảng biển tham khảo biểu giá ban hành trước đây kết hợp với tình hình

thực tế để tự ban hành giá của mình, sau đó báo cáo về Bộ Tài chính. Song, vẫn nên

phối hợp với các Hiệp hội để kiểm tra đảm bảo việc thực hiện giá cả cạnh tranh lành

72

mạnh và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Có thể để các loại giá dịch vụ cho các doanh

nghiệp và khách hàng tự thoả thuận, tự điều tiết với nhau thông qua các hợp đồng

tập thể giữa các Hiệp hội ngành nghề.

3.3.1.6 Thống nhất, tạo lập và cập nhật một cơ sở dữ liệu hoàn thiện theo

từng mặt quản lý.

Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện chưa có một hệ thống

thông tin hiện đại để đáp ứng linh hoạt với những đổi thay của kinh tế thị trường và

yêu cầu của quá trình hội nhập. Đây là thách thức không nhỏ của Việt Nam. Nếu

thiếu một hệ thống thông tin hiện đại, các doanh nghiệp sẽ không nắm bắt được tình

hình và các diễn biến của thị trường quốc tế để có thể chọn lựa những cơ may cho

chính mình. Vấn đề trước mắt là phải thiết lập hệ thống thông tin hiện đại để thông

tin có thể đến với doanh nghiệp theo con đường ngắn nhất, tiết kiệm nhất và hiệu

quả nhất.

* Trước hết, xác định những thông tin cần thiết ở mức độ tối thiểu cần thu

thập đối với các loại hình dịch vụ cảng biển gồm 2 mảng lớn:

- Thông tin từ các doanh nghiệp và thị trường trong nước

- Thông tin về hoạt động dịch vụ cảng biển khu vưc và quốc tế.

* Tổ chức thu thập thông tin định kỳ trước tiên đối với các công ty lớn, có

ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của ngành.

* Tin học hoá và nâng cao khả năng phân tích số liệu của đội ngũ chuyên

viên, chuyên gia.

* Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ chuyên làm nhiệm vụ thu thập, xử lý thông

tin kinh tế chuyên ngành (từ cấp Cục đến Cảng vụ hàng hải). Tăng cường năng lực

phân tích thống kê định lượng và định tính.

3.3.1.7 Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Trong hội nhập thương mại quốc tế, con người là yếu tố quyết định sự thất

bại hay thành công của hội nhập. Cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch về đào tạo, bồi

dưỡng, phát triển và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức và các nguồn nhân lực

khác. Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn ngạch các chức danh, định mức lao động…

trong hoạt động hàng hải. Hiện tại, trình độ của cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ

của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu do quá trình hội nhập đặt ra. Việt Nam

chưa có được đội ngũ cán bộ tinh thông về chuyên môn, nghiệp vụ, giỏi về ngoại

73

ngữ và năng lực quản lý, hiểu rõ phong tục tập quán của đối tác để có thể phản ứng

nhanh trước các vấn đề về hội nhập thương mại.

Tuy có lợi thế về giá nhân công rẻ, lực lượng lao động dồi dào nhưng vấn đề

nổi cộm là trình độ tay nghề của lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của

các doanh nghiệp có sử dụng công nghệ cao.

Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu của hội nhập kinh tế khu

vực và quốc tế cần được các doanh nghiệp và Nhà nước quan tâm đối với mọi đối

tượng, kể cả đội ngũ công nhân lành nghề, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ quốc

tế và các cán bộ quản lý trong doanh nghiệp và các cơ quan quản lý Nhà nước. Cần

có các trung tâm đào tạo và tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo Việt Nam học tập

kinh nghiệp của các cơ sở đào tạo hàng hải của các nước có truyền thống, giàu kinh

nghiệm. Nhà nước cần tổ chức và khuyến khích cho nhân viên, cán bộ của ngành

hàng hải được đi học hoặc thực tập ở nước ngoài để có thể lĩnh hội được những kiến

thức cập nhật nhất của thế giới. Trong công tác tuyển chọn cán bộ, công chức phải

thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước, thực hiện nghiêm phương

châm “việc chọn người” và tránh “người chọn việc”.

3.3.1.8 Nghiên cứu, ký kết các hiệp định, công ước quốc tế có lợi cho phát

triển hàng hải.

Cho đến nay, Việt Nam đã ký 12 công ước quốc tế về hàng hải, tham gia

thoả thuận khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (Tokyo MOU) và 14 hiệp định hàng

hải với các nước trên thế giới. Hơn nữa, Việt Nam đang chuẩn bị lộ trình để gia

nhập WTO, vào sân chơi chung AFTA. Hàng hải vốn được coi là một trong những

ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước không có lý do gì để “đứng ngoài cuộc”. Việt

Nam sẽ còn phải ký kết rất nhiều hiệp định song phương với các nước thành viên

nhằm cụ thể hoá các cam kết trong bản chào đối với WTO. Do vậy, cần phải nghiên

cứu trước các hiệp định, công ước quốc tế đã được thông qua giữa các quốc gia đó

để có bước đi phù hợp và bảo đảm quyền lợi trong quá trình hội nhập.

Do hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và hội nhập hàng hải nói riêng đang là

một xu thế nên tự do hoá dịch vụ cảng biển cũng là một yêu cầu của hội nhập.

Tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế, dịch vụ cảng biển trở thành thương mại dịch

vụ, không còn đơn thuần là dịch vụ thông thường. Thương mại dịch vụ cảng biển

nằm trong quá trình tự do hoá thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ theo các

yêu cầu nghiêm ngặt của WTO.

74

Quá trình tự do hoá thương mại dịch vụ cảng biển đòi hỏi phải mở cửa thị

trường dịch vụ hàng hải Việt Nam và dành ưu đãi quốc gia cho các nhà cung cấp

dịch vụ nước ngoài bên cạnh đãi ngộ tối huệ quốc. Thực hiện mở cửa thị trường

dịch vụ và dành ưu đãi quốc gia là quá trình các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

cảng biển Việt Nam mất đi sự bảo hộ và trợ cấp của Nhà nước.

Việc mở cửa thị trường và dành ưu đãi quốc gia được thực hiện qua 4 hình

thức cung cấp dịch vụ: Cung cấp dịch vụ qua biên giới (Mode 1); tiêu dùng dịch vụ

ở nước ngoài (Mode 2); hiện diện thương mại (Mode 3); di chuyển thể nhân (Mode

4).

Việt Nam tham gia vào vòng đàm phán về mở cửa ngành vận tải biển trong

khuôn khổ thoả thuận khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và đã đưa ra các cam kết:

cho phép hãng tàu nước ngoài mở văn phòng đại diện tại Việt Nam, các công ty tàu

biển nước ngoài sử dụng đại lý tàu biển Việt Nam để được cung cấp các dịch vụ

liên quan, các công ty liên doanh được phép cung cấp dịch vụ vận tải hành khách,

hàng hoá nhưng phần vốn góp của bên nước ngoài không quá 49%; các dịch vụ

cảng biển được cung cấp bởi các doanh nghiệp Việt Nam đối với tàu biển nước

ngoài trên nguyên tắc đến trước phục vụ trước và không có sự phân biệt đối xử…

Trong 4 hình thức cung cấp dịch vụ cảng biển đó, các nước thành viên WTO

rất quan tâm đến hình thức hiện diện thương mại (liên doanh, công ty vốn 100% của

người cung cấp dịch vụ nước ngoài, công ty con, chi nhánh…) và di chuyển thể

nhân (đưa người của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam làm việc).

WTO cũng như ASEAN yêu cầu các quốc gia thành viên tiến hành từng bước thực

hiện tự do hoá các dịch vụ cảng biển sau đây: dịch vụ kéo đẩy tàu, dịch vụ cho thuê

tàu có thuyền viên, dịch vụ sửa chữa phương tiện vận tải, dịch vụ khác (xếp dỡ hàng

hoá, lưu kho bãi, dịch vụ đại lý tàu biển, dịch vụ giao nhận…)

Tham gia các vòng đàm phán trong khuôn khổ AFAS và GATS về dịch vụ

vận tải biển, Việt Nam đã mở cửa thị trường vận tải quốc tế cho Mode 1 và Mode 2.

Đối với Mode 3, các hãng tàu nước ngoài được phép thành lập văn phòng đại diện

tại Việt Nam và thành lập công ty liên doanh với phần vốn góp không quá 49% tổng

vốn điều lệ của công ty và chỉ được kinh doanh vận tải biển quốc tế. Đối với Mođe

4, Việt Nam có quy định thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ Việt

Nam, nhưng có quy định hạn chế số lượng.

75

Hiện nay, Việt Nam chưa cam kết Mode 3 đối với các dịch vụ hàng hải phụ

trợ. Đối với Mode 3, các doanh nghiệp nước ngoài được thành lập công ty liên

doanh tại Việt Nam với tỷ lệ góp vốn pháp định tại Việt Nam không quá 49%, trừ

dịch vụ đại lý tàu biển và lai dắt tàu biển.

3.3.1.9 Với các dịch vụ được tiến hành tại cảng, Nhà nước cần đưa ra mô

hình quản lý và khai thác cảng biển hiệu quả nhất.

Hiện tồn tại ba mô hình quản lý cảng biển điển hình trên thế giới:

- Mô hình chủ cảng (Landlord): Nhà nước là chủ sở hữu về vùng đất, luồng

ra vào và cho các công ty giao nhận thuê cầu bến để khai thác. Trong mô hình quản

lý này thì Nhà nước chỉ cung cấp kết cấu hạ tầng. Đây là một mô hình quản lý cảng

điển hình phổ biến trên thế giới hiện nay.

- Mô hình cảng công cụ (Tool-port): Nhà nước sẽ cung cấp cả kết cấu thượng

tầng và kết cấu hạ tầng của cảng để cho các công ty giao nhận quản lý khai thác bốc

xếp hàng hoá.

- Mô hình cảng dịch vụ (Service-port): Nhà nước cung cấp tất cả kết cấu hạ

tầng, kết cấu thượng tầng, các trang thiết bị khác và các dịch vụ liên quan đến hoạt

động quản lý khai thác cảng. Đây là mô hình được áp dụng trong thời kỳ trước đây,

còn hiện nay mô hình này đã được các nước chuyển sang mô hình chủ cảng hoặc

mô hình cảng công cụ vì những hạn chế nhất định của nó. Tuy nhiên, Singapore là

một trường hợp hy hữu trên thế giới đã áp dụng mô hình này rất thành công cho đến

năm 1997 trước khi chuyển sang áp dụng mô hình khác.

Bảng 3.4: Mô hình quản lý cảng biển

Trách nhiệm của Nhà nước

Mô hình quản lý Kết cấu hạ tầng Kết cấu thượng tầng Giao nhận

Chủ cảng (landlord) Có Không Không

Công cụ (tool) Có Có Không

Dịch vụ (service) Có Có Có

Những lợi ích cơ bản của mô hình chủ cảng:

- Nhà nước quản lý chặt chẽ quy hoạch xây dựng phát triển cảng, tận dụng

tối đa tiềm năng thiên nhiên ưu đãi của quốc gia, cân đối hài hoà trong việc phát

triển kinh tế của khu vực và của cả nước. Tránh được việc đầu tư tràn lan, dàn trải,

76

gây lãng phí và làm giảm tính cạnh tranh hoặc tạo ra sự cạnh tranh không lành

mạnh giữa các nhà khai thác cảng.

- Giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng

cảng biển, đồng thời tận dụng khai thác tối đa mọi nguồn lực trong nước.

- Gắn chặt quyền lợi thiết thực của nhà khai thác cảng với hoạt động của

cảng nhằm nâng cao trách nhiệm của người khai thác cảng đối với Nhà nước. Từ đó

yêu cầu các nhà khai thác cảng phải năng động, sáng tạo trong quản lý, khai thác

cảng.

- Nâng cao tính chuyên môn hoá trong quản lý, khai thác cảng và tận dụng

tối đa nguồn lực, trí tuệ của nhà khai thác cảng.

- Giành quyền chủ động cho nhà khai thác cảng trong việc quản lý khai thác

và quyết định đầu tư những thiết bị cần thiết phục vụ cho cảng. Đồng thời khuyến

khích nhà khai thác cảng đa dạng hoá loại hình dịch vụ và nâng cao chất lượng phục

vụ để thu hút khách hàng.

- Tránh sự độc quyền, tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các nhà

khai thác cảng trong lĩnh vực hoạt động quản lý, khai thác cảng.

Ở Việt Nam hiện nay, chủ yếu vẫn áp dụng mô hình cảng dịch vụ. Thực tế

thấy rằng trong những năm gần đây, các tỉnh, các địa phương xác định được vai trò

quan trọng của cảng biển nên hầu hết ở khu vực địa lý nào có điều kiện mở cảng là

địa phương tìm mọi cách để được Nhà nước cho phép đầu tư xây dựng cảng. Điều

này dẫn đến các cảng được đầu tư dàn trải, không đồng bộ nên hiệu quả đầu tư còn

thấp. Có nhiều cảng đầu tư xong đưa vào khai thác không đem lại hiệu quả kinh tế.

Nhà nước bỏ tiền ngân sách ra để đầu tư cảng biển sau đó giao lại nguồn vốn này

cho DNNN quản lý khai thác. Như vậy tiền vốn đầu tư cơ sở hạ tầng (một khoản

không nhỏ) hầu như không được thu hồi lại, trong khi ngân sách Nhà nước còn quá

eo hẹp, nhiều công trình trọng điểm cần được sử dụng nguồn ngân sách để đầu tư

nhằm cải thiển mức sống cho nhân dân.

Với những ưu điểm của mô hình quản lý chủ cảng, Thủ tướng Chính phủ đã

quyết định cho thí điểm áp dụng cơ chế cho thuê kết cấu hạ tầng cảng Cái Lân

(Quyết định số 228/2003/QĐ-TTg ngày 06/11/2003). Với phương thức này, Nhà

nước thống nhất quản lý hệ thống cảng biển. Nguồn vốn đầu tư sẽ được thu hồi và

cảng biển sẽ được khai thác tối đa nhằm đạt được hiệu quả cao nhất.[45]

3.3.2 Các giải pháp về phía Hiệp hội

77

3.3.2.1 Tiếp tục đẩy mạnh việc tập hợp và bảo vệ quyền lợi hội viên.

Đối với ngành dịch vụ cảng biển, hiện nay chúng ta có 4 Hiệp hội ngành

nghề: Hiệp hội chủ tàu Việt Nam (Vietnam Shipowners Association), Hiệp hội cảng

biển Việt Nam (Vietnam Ports Association -VPA ), Hiệp hội đại lý môi giới hàng

hải Việt Nam (Vietnam Ship Agents and Brokers Association-VISABA) và Hiệp

hội giao nhận kho vận Việt Nam (Vietnam Freight Forwarders Association -

VIFFAS).

Trong thời gian qua các Hiệp hội này đã tích cực hoạt động, đại diện cho

quyền lợi của hội viên trong các hoạt động kinh doanh trong và ngoài nước. Tuy

nhiên, trong việc thực hiện các chức năng quan trọng này, các Hiệp hội còn nhiều

hạn chế, do đó chưa tập hợp hết được các doanh nghiệp tham gia Hiệp hội. Cần phải

tuyên truyền phổ biến cho doanh nghiệp thấy sự cần thiết phải đoàn kết, liên kết lại

trong một hiệp hội để đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp.

Hiệp hội cần xử lý việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các hội viên và

điều hoà quyền lợi của hội viên, đồng thời đẩy mạnh việc kết nạp hội viên mới.

3.3.2.2 Thống nhất về mặt nghiệp vụ và phương hướng chiến lược lâu dài.

Hiệp hội là một tổ chức tự nguyện liên kết nghề nghiệp của các đơn vị hoạt

động trong lĩnh vực này để cùng nhau hợp tác, liên kết, hỗ trợ và giúp đỡ nhau trong

việc phát triển nghề nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh, hoà đồng và cộng tác

với các đồng nghiệp trên thế giới, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế đối

ngoại, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Hiệp hội cần khắc phục tình trạng phân tán, thiếu liên kết, tạo mối quan hệ

hợp tác, liên kết trong và ngoài nước để nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết các

vấn đề nghiệp vụ quản lý, kinh tế, kỹ thuật của ngành.

Bên cạnh đó, hiệp hội nên chủ động tư vấn cho các hội viên các vấn đề

vướng mắc về nghiệp vụ.

Xử lý việc cạnh tranh không lành mạnh của các hội viên nhằm nhằm tăng

khả năng cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài.

3.3.2.3 Thực hiện tốt vai trò tư vấn cho Nhà nước về quản lý dịch vụ cảng

biển.

Hiệp hội cần tích cực phát huy vai trò tư vấn cho Nhà nước ban hành các

chính sách liên quan đến ngành nghề, giúp quản lý có hiệu quả về mặt Nhà nước đối

với hoạt động kinh doanh dịch vụ cảng biển; tham gia ý kiến vào các văn bản pháp

78

quy liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển từ khi

soạn thảo để đảm bảo tính khả thi của pháp luật; mạnh dạn đề xuất với Chính phủ

chịu trách nhiệm thoả thuận ban hành các loại giá dịch vụ cảng biển trên cơ sở định

hình các nguyên tắc chung của Chính phủ.

3.3.2.4 Phát huy vai trò tư vấn cho doanh nghiệp.

Hiệp hội nên thường xuyên tư vấn cho doanh nghiệp về pháp lý quốc tế,

thông tin thị trường, trước hết là thông tin chiến lược, mở rộng thị trường nhằm bảo

vệ lợi ích của hội viên khi gặp rào cản và tranh chấp thương mại quốc tế.

3.3.2.5 Củng cố về mặt tổ chức và phương pháp hoạt động

Trong 4 Hiệp hội ngành nghề dịch vụ cảng biển nêu trên, chỉ có Hiệp hội

giao nhận kho vận là có bộ phận chuyên trách thường trực hưởng lương, còn 3 Hiệp

hội khác chủ yếu là kiêm nhiệm, vì thế đã hạn chế hiệu quả hoạt động của Hiệp hội.

Do đó, các Hiệp hội nên có bộ phận chuyên trách thường trực có trang bị tốt, giải

quyết kịp thời các vấn đề hàng ngày, vì ban chấp hành Hiệp hội là cán bộ kiêm

nhiệm ít có thời gian hoạt động. Bộ phận thường trực hưởng lương của Hiệp hội

trên cơ sở đóng góp của Hội viên và thu nhập của Hiệp hội. Ngoài Ban chấp hành,

Hiệp hội có thể mở rộng, mời các cán bộ có kinh nghiệm, đang công tác hoặc nghỉ

công tác, tham gia vào ban chuyên môn của Hiệp hội để có thể đóng góp cho Hiệp

hội.

Ngoài ra, hiệp hội còn có thể mở rộng quan hệ với các Hiệp hội ngành nghề

trong khu vực và thế giới để trao đổi, nắm bắt thông tin cho hội viên và tranh thủ hỗ

trợ kỹ thuật đào tạo cho hội viên.

Nhìn chung, trong việc phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển,

yếu tố quyết định là ý chí phấn đấu và nỗ lực của doanh nghiệp. Song, vai trò của

Hiệp hội ngành nghề trong cộng đồng doanh nghiệp nếu phát huy tốt sẽ phát huy

mạnh mẽ sự phát triển của doanh nghiệp.

3.3.2.6 Giúp doanh nghiệp đào tạo và đào tạo lại cán bộ.

Việc đào tạo và đào tạo lại, nâng cao trình độ nghiệp vụ, quản lý, ngoại ngữ

cho cấn bộ, trong việc tìm đối tác nước ngoài.

3.3.3 Các giải pháp về phía doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển

Việt Nam được đánh giá là cạnh tranh có điều kiện, tức là chưa đủ sức để cạnh

79

tranh tự do, bình đẳng với các doanh nghiệp cùng ngành trong khu vực. Hiện nay,

hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá là có quy mô nhỏ, vốn ít, khả

năng tổ chức thị trường yếu, vẫn cón tư tưởng ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước…

Trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế ngày càng phát triển cả về bề rộng và

chiều sâu, nếu không tổ chức sắp xếp lại, tăng cường khả năng tích tụ và tập trung

vốn, hoàn thiện cơ chế quản lý và các định chế tài chính … thì các doanh nghiệp

Việt Nam sẽ khó có thể đứng vững trong cạnh tranh.

Hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt, tạo thêm nhiều cơ hội để thâm nhập thị

trường quốc tế, đồng thời Việt Nam phải mở cửa thị trường cho dịch vụ của các

quốc gia khác thâm nhập vào theo nguyên tắc “có đi, có lại”. Trước xu thế của quá

trình hội nhập kinh tế, nếu dịch vụ của Việt Nam không thay đổi về chất thì chắc

chắn sẽ không có chỗ đứng trên sân nhà. Điều đó cũng có nghĩa là ngành dịch vụ

non trẻ của Việt Nam sẽ khó có cơ hội vươn ra thị trường quốc tế trong điều kiện

cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Để khắc phục tình trạng trên, doanh nghiệp cần

quan tâm đến những biện pháp sau:

3.3.3.1 Nâng cao chất lượng dịch vụ

Trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay khi giá cả không

còn là vấn đề tiên quyết trong cạnh tranh thì chất lượng của hàng hoá, dịch vụ lại là

vấn đề then chốt. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển Việt Nam hiện

nay mới chỉ quan tâm đến việc tìm mọi cách để “bán được hàng” mà chưa quan tâm

đến chất lượng “hàng” khi đến tay người tiêu dùng ra sao. Có rất nhiều trường hợp

khi khách hàng có nhu cầu sử dụng tiếp dịch vụ cảng biển đã không nhận dịch vụ

do các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp mặc dù giá chào thấp. Chính vì vậy, việc

nâng cao chất lượng dịch vụ phải được các doanh nghiệp đặt lên hàng đầu, không

chỉ dịch vụ trong khi bán hàng mà còn cả các dịch vụ sau bán hàng nữa. Mô hình

kinh doanh thành công tại cảng Singapore là một ví dụ điển hình về việc chất lượng

dịch vụ tốt trong khi giá cả cao.

80

3.3.3.2 Đa dạng hoá các dịch vụ cung cấp

Hiện nay các hãng tàu lớn có khuynh hướng muốn bán thẳng sản phẩm vận

tải của mình cho người có hàng chứ không thông qua người trung gian như trước và

họ hy vọng việc làm này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế to lớn hơn. Do được trợ giúp

bởi các hệ thống thông tin điện tử trực tuyến hiện đại, các chủ hàng có thể dễ dàng

đến với chủ tàu. Khách hàng chỉ cần truy cập Internet là có thể book hàng, đồng

thời cũng có thể kiểm tra theo dõi hàng hoá đã gửi hiện đang ở đâu mà không cần

phải thông qua người thứ ba. Khi các hãng tàu đảm nhận hầu hết các công việc khai

thác con tàu thì người làm dịch vụ cảng biển cảm thấy như mình bị ném ra khỏi

cuộc chơi. Họ có nguy cơ bị mất đi quyền cung cấp dịch vụ cho các hãng tàu lớn

đồng nghĩa với việc mất đi những khoản thu nhập lớn khó có gì bù đắp được. Trước

một thực trạng khách quan như vậy, để tồn tại và phát triển đòi hỏi dịch vụ cảng

biển phải có những thay đổi lớn lao cả về lượng và về chất.

Như chúng ta đã biết, các hãng làm dịch vụ trên thế giới hiện nay, đã làm đại

lý tàu là làm luôn cả đại lý vận tải, đại lý thuê tàu và môi giới hàng hoá. Làm dịch

vụ cung ứng là làm thêm các dịch vụ khác như đại lý tàu, đại lý du lịch, sửa chữa…

với phương châm đa dạng hoá để tồn tại, các dịch vụ hỗ trợ nhau trong một chu

trình kép kín.

Tất cả các doanh nghiệp có khả năng phát triển được đều phảI đa dạng hoá

các dịch vụ, dịch vụ này sẽ hỗ trợ cho dịch vụ kia trong một chu trình công nghiệp

khép kín, đồng thời làm cho doanh nghiệp có thể thích ứng được đối với những tình

huống xấu nhất khi bị giành giật thị phần-phương châm “đa dạng hoá để tồn tại”.

3.3.3.3 Tăng cường hoạt động marketing

Trong cuộc canh tranh rất gay gắt hiện nay, để tồn tại và phát triển các

doanh nghiệp còn phải quan tâm nhiều đến công tác khuếch trương, quảng cáo.

Chất lượng dịch vụ có thể tốt, giá cả hợp lý… nhưng không có ai biết tới thì cũng

không thể “bán” được hàng. Hoạt động marketing có thể thông qua các phương tiện

thông tin đại chúng (báo, truyền hình…), Internet (xây dựng trang WEB, quảng cáo

trên các báo điện tử…), qua các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài…

3.3.3.4 Đổi mới tổ chức quản lý

Trong thời gian gần đây, ở Việt Nam xuất hiện một khái niệm mới về mô

hình quản lý doanh nghiệp, đó là mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Mô hình này

đã được áp dụng từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới.

81

Thực chất của mô hình này là doanh nghiệp hoạt động với cơ cấu một công

ty độc lập, giữ vai trò là công ty mẹ, ở vị trí trung tâm, điều hành chi phối một số

công ty vệ tinh và các chi nhánh. Quan hệ của công ty mẹ đối với các công ty con

(công ty vệ tinh) khác với quan hệ chi nhánh, là quan hệ giữa chủ đầu tư và doanh

nghiệp được đầu tư bằng 100% tổng số vốn hoặc chỉ một tỷ lệ nhất định nhưng nắm

quyền kiểm soát toàn bộ công ty con. Công ty mẹ chỉ đạo công ty con các vấn đề

mang tính chiến lược lâu dài và chỉ can thiệp trực tiếp vào công việc kinh doanh của

công ty con trong trường hợp thật cần thiết.

Địa vị pháp lý của các công ty trong mô hình doanh nghiệp này đều là những

pháp nhân độc lập. Ưu điểm của mô hình này là giảm tối thiểu bộ máy quản lý do

công ty mẹ không phải trực tiếp điều hành quản lý các hoạt động kinh doanh bằng

tài sản của mình. Và một vấn đề quan trọng nữa là giữa công ty mẹ, các công ty

con, cũng như giữa các công ty con với nhau, sẽ không có cạnh tranh đối đầu, vì sự

phân bổ chức năng kinh doanh trong nội bộ của cả doanh nghiệp này đã được tính

toán một cách khoa học và hợp lý về ngành nghề kinh doanh, địa bàn kinh doanh,

có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau về nguồn khách hàng, các vấn đề khác có liên quan đến

kinh doanh của từng thành viên.

3.3.3.5 Áp dụng công nghệ thông tin và đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất.

Công nghệ thông tin có một vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển

nền kinh tế. Đưa các ứng dụng công nghệ thông tin đang là xu hướng của mọi lĩnh

vực hoạt động. Đây là một cuộc cách mạng khoa học công nghệ lớn, làm thay đổi

bộ mặt thế giới. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của cuộc cách mạng này, ngày

17/10/2000, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 58/CT/TW về đẩy mạnh

ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá.

Trong quá trình hội nhập với thế giới, mạng máy tính toàn cầu sẽ mang lại

nhiều lợi ích cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng

biển nói riêng, đặc biệt trong lĩnh vực quảng cáo tiếp thị khách hàng.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin, trước hết phải tận dụng nguồn nội lực,

trong đó nguồn nhân lực phải được đặt lên hàng đầu. Các doanh nghiệp phải lựa

chọn người để xây dựng và phát triển các phần mềm sát với thực tế của doanh

nghiệp. Nên chăng chỉ chọn 1 đến 2 kỹ sư tin học để họ đảm nhận phần hệ thống,

quản trị mạng, còn đại bộ phận là đào tạo người làm trong doanh nghiệp.

82

Có nguồn nhân lực, tuỳ thuộc vào khả năng tài chính, doanh nghiệp nên

trang bị những thiết bị thiết yếu nhất để xử lý được những công việc quan trọng

trước mắt. Với những công việc phải 2, 3 năm nữa mới có thể tiến hành nếu quy mô

doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa nên mua sắm thiết bị trước, vì thiết bị hàng năm

hạ giá rất nhiều mà tài chính lại không dư dật lắm.

Củng cố phát triển cơ sở hạ tầng, tài sản cố định, phương tiện máy móc có

thể thực hiện bằng nhiều hình thức:

- Phục hồi, duy trì mạng kỹ thuật, nâng cấp đáp ứng nhu cầu tiến bộ kỹ thuật.

- Tự trang, tự chế những thiết bị chuyên dụng doanh nghiệp tự sản xuất

được.

- Đầu tư mua sắm mới phương tiện, máy móc thiết bị hiện đại khi đã có thị

trường.

3.3.3.6 Thực hiện tốt các chính sách về lao động

*) Về đào tạo lao động

Đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp dưới các hình thức:

• Đào tạo để nâng cao trình độ, năng lực của người lao động trong các doanh

nghiệp thông qua:

- Giảng dạy bổ túc nghề nghiệp, thi nâng cấp, nâng bậc hàng năm.

- Cử cán bộ công nhân viên đến các trường trung, đại học tu nghiệp nâng cao

trình độ.

• Đào tạo mới nguồn lao động tuyển dụng từ các trường trung, đại học,

chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu trình độ doanh nghiệp cần.

Vấn đề bức xúc cần quan tâm đào tạo ngay là: Ngoại ngữ, tin học và marketing.

*) Về cải tiến môi trường lao động

- Quan tâm đến công tác an toàn lao động, quán triệt pháp lệnh an toàn lao

động của Nhà nước.

- Thực hiện quy chế dân chủ tạo điều kiện cho lãnh đạo công ty nâng cao

được hiệu lực, hiệu quả điều hành công việc, hạn chế và ngăn chặn được tình trạng

dân chủ cực đoan hay dân chủ tuỳ ý.

- Xây dựng nội quy, quy chế rõ ràng, minh bạch.

- Gìn giữ đoàn kết nội bộ với tinh thần thẳng thắn xây dựng giúp củng cố,

phát triển tổ chức ngày càng lớn mạnh cũng như quy mô hoạt động ngày càng được

rộng mở.

83

- Tổ chức kiểm tra chéo giữa các phòng ban nghiệp vụ nhằm nâng cao tinh

thần trách nhiệm của người lao động đối với công việc chuyên môn.

- Duy trì đều đặn các tiêu chuẩn và bình bầu các danh hiệu thi đua cho cá

nhân và tập thể, có thể thực hiện 6 tháng / lần. Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể, lãnh

đạo công ty cùng các đoàn thể phát động phong trào thi đua để hưởng ứng những

chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.

- Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động trên cơ sở đẩy

mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả lao động để người lao động được yên tâm công

tác.

3.3.3.7 Liên kết, liên doanh tạo sức mạnh

Trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp hoạt

động một cách độc lập sẽ rất khó tạo được ưu thế nổi trội. Việc phối hợp giữa các

doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty là một biện

pháp hữu hiệu và rất quan trọng để tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực của mỗi doanh

nghiệp, giảm chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ. Khi đó, lợi ích của từng doanh

nghiệp sẽ tốt hơn khi hoạt động độc lập và tạo được sức mạnh chung.

3.3.3.8 Nghiên cứu kỹ các quy định của WTO

Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các quy định của WTO và chuẩn bị cho

mình năng lực cần thiết để có thể tham gia vào việc tham vấn chính sách với các cơ

quan chính phủ cũng như không bị động tại “sân chơi chung” khi Việt Nam chính

thức gia nhập tổ chức này.

Tóm lại, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là một xu thế tất yếu khách

quan hiện nay. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển tại Việt Nam chỉ có

thể hội nhập, sánh vai cùng các doanh nghiệp trong khu vực và trên thế giới khi

cung cấp các dịch vụ ngang bằng và thậm chí còn phải tốt hơn các dịch vụ của họ.

Để làm được điều này, rất cần sự quan tâm, chỉ đạo của các Cấp, các Ngành, các

Hiệp hội ngành nghề và quan trọng nhất là sự nỗ lực vươn lên của mỗi doanh

nghiệp, cần tập trung trí tuệ, đổi mới, nâng cao trình đội quản lý, chớp thời cơ, tiết

kiệm thời gian trong lộ trình hội nhập.

84

KẾT LUẬN

Những đóng góp chính của đề tài luận văn “Dịch vụ cảng biển và phát triển

dịch vụ cảng biển ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” thể hiện

qua các kết quả thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu mà tác giả tóm tắt như

sau:

1. Luận văn hệ thống hoá một cách khái quát về khái niệm, chức năng và

nhiệm vụ của cảng biển, đặc điểm của hệ thống cảng biển Việt Nam hiện nay. Từ

những phân tích, luận văn cho thấy hệ thống cảng biển Việt Nam đang đóng vai trò

ngày càng quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế.

2. Các nước khác nhau có cách hiểu về dịch vụ không giống nhau nên việc

đưa ra khái niệm chung nhất về dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng là

rất khó khăn. Từ việc nghiên cứu khái niệm dịch vụ cảng biển của WTO, EU và

Trung Quốc, các quy định của Việt Nam về dịch vụ hàng hải và xuất phát từ tình

hình thực tế tại Việt Nam hiện nay, luận văn đưa khái niệm chung nhất về dịch vụ

cảng biển và phân loại các dịch vụ này. Dịch vụ cảng biển đóng vai trò “hậu cần”

hỗ trợ và góp phần thúc đẩy vận tải biển phát triển. Bên cạnh đó, nguồn thu cho

ngân sách Nhà nước cũng tăng lên, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống, chất lượng cuộc

sống được cải thiện... cũng nhờ một phần vào các hoạt động dịch vụ cảng biển.

Dịch vụ này còn đóng vai trò trong việc thúc đẩy quá trình hội nhập của ngành hàng

hải nói riêng và của nền kinh tế nói chung.

3. Từ những quốc gia điển hình trong khu vực có dịch vụ cảng biển phát

triển là Singapore, Trung Quốc, Thái Lan, luận văn chỉ ra rằng để hoạt động dịch vụ

này phát triển hơn nữa, Việt Nam cần quan tâm đến đầu tư cơ sở hạ tầng, cung cấp

dịch vụ chất lượng tốt, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách thủ tục hành chính....

4. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan. Một quốc gia

không thể phát triển nếu không tham gia vào “sân chơi chung” này. Với việc gia

nhập các tổ chức quốc tế và khu vực (ASEAN, APEC, AFTA...), Việt Nam đã

không đứng ngoài cuộc chơi. Tính đến nay, trên lĩnh vực hàng hải nói riêng, Việt

Nam đã gia nhập rất nhiều công ước và hiệp định hàng hải. Đây là những nguồn

luật rất quan trọng điều chỉnh các hoạt động dịch vụ cảng biển Việt Nam. Bên cạnh

đó, Nhà nước Việt Nam cũng đã và đang cố gắng dần hoàn thiện hệ thống pháp luật

phục vụ cho quá trình hội nhập, đặc biệt trong thời gian tới khi Việt Nam gia nhập

85

WTO. Việc Quốc hội khóa XI (Kỳ họp thứ 7) đã thông qua Bộ luật Hàng hải Việt

Nam sửa đổi là một minh chứng sinh động. Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ

cảng biển Việt Nam sẽ được hoạt động trong môi trường thuận lợi hơn.

5. Thời gian qua, được sự khuyến khích của Nhà nước, dịch vụ cảng biển có

điều kiện phát triển và không ngừng gia tăng về số lượng doanh nghiệp và ngành

nghề. Song sự gia tăng về chất lượng không tỷ lệ thuận với số lượng. Do cảng biển

Việt Nam có nhiều cơ quan quản lý nên ảnh hưởng đến hoạt động dịch vụ cảng

biển. Các hoạt động kinh doanh còn lộn xộn, “mạnh ai nấy làm”, chất lượng dịch vụ

chưa cao, hiệu quả kinh doanh thấp...

6. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra định hướng phát triển kinh tế xã

hội nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng. Để đạt được mục tiêu của kế hoạch,

rất cần sự nỗ lực của tất cả các Cấp, Ngành và quan trọng hơn là từ chính bản thân

các doanh nghiệp.

7. Từ lý luận và thực tiễn, luận văn kiến nghị các giải pháp nhằm phát triển

các dịch vụ cảng biển ở Việt Nam.

- Về phía Nhà nước: Cần chấn chỉnh, hợp lý hóa, tập trung hóa quản lý Nhà

nước về dịch vụ cảng biển, tạo điều kiện cho hoạt động dịch vụ cảng biển; cần có

những chính sách thông thoáng phù hợp với yêu cầu tự do hóa thương mại dịch vụ

nhưng phải xem xét, nghiên cứu kỹ để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến ngành

dịch vụ này.

- Về phía Hiệp hội: Cần phát huy tích cực các vai trò liên kết, hỗ trợ, tư vấn

và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên.

- Về phía doanh nghiệp: Cần phải xác định nâng cao năng lực cạnh tranh

không phải thông qua giá cả mà bằng chất lượng, tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở

vật chất, nâng cao trình độ lao động, cải thiện chất lượng dịch cụ cảng biển.

Thị trường dịch vụ cảng biển hiện nay đang phát triển nhanh, đó là dấu hiệu

đáng mừng. Có thể ví nó như một bức tranh phong phú, đa dạng, nhiều màu sắc.

Song, bên cạnh những sắc màu tươi sáng, rực rỡ còn đây đó những mảng màu xám

tối, làm hạn chế vẻ đẹp của bức tranh. Nhanh chóng xóa đi những mảng màu xám

này hay chính là khắc phục những yếu kém, tiêu cực trong lĩnh vực kinh doanh dịch

vụ cảng biển sẽ góp phần làm cho thị trường trở nên lành mạnh, hoạt động bình

đẳng và ổn định để phấn đấu đạt được mục tiêu cuối cùng là “ An toàn, tiện lợi,

86

nhanh chóng, văn minh, lịch sự và hiệu quả”, góp phần tích cực vào công cuộc xây

dựng và đổi mới kinh tế của đất nước.

Hà nội, tháng 6/2005

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tài liệu tiếng Việt

[1] Nguyễn Việt Anh (2005), “Vai trò của một số nhân tố tiêu biểu tham gia

hoạt động thương mại hàng hải”, Tạp chí biển Việt Nam, (1/2005), tr.75-

77,79.

[2] “Bàn về vấn đề cảng mở và xây dựng quy chế cảng mở tại Việt Nam”, Tạp

chí hàng hải Việt Nam, (6/2004), tr.24-26.

[3] Hà Đức Bàng (2004), “Làm gì để hàng hải Việt Nam đủ sức cạnh tranh và

hội nhập”, Tạp chí GTVT, (8/2004), tr.13-15,23.

[4] Tạ Hoà Bình (2004), “Nhiệm vụ chủ yếu của Bộ luật hàng hải Việt Nam là

phải tạo ra được một bộ khung pháp lý về hàng hải ”, Tạp chí Hàng hải

Việt Nam, (5/2004), tr.10-13.

[5] Thanh Bình (2005), “Tốc độ tăng trưởng hàng hoá thông qua cảng biển

nhanh hơn tốc độ đầu tư xây dựng cảng biển”, Báo GTVT, (Xuân Ất DËu),

tr.40.

[6] Thái Văn Cách (2004), “Sửa đổi Bộ luật Hàng hải Việt Nam là đòi hỏi tất

yếu”, Tạp chí hàng hải Việt Nam, (7/2004), tr.29-30.

[7] “Chỉ thị về Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 –

2010”, Kinh tế và Dự báo, (9/2004), tr.1-3.

[8] Nguyễn Văn Chương (2004), “Tầm quan trọng của hệ thống Logistics”,

Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (8/2004), tr.21-23.

[9] Nguyễn Văn Chương (2004), “Quản lý quy hoạch phát triển hệ thống cảng

biển quốc gia”, Tạp chí GTVT, (10/2004), tr.11&13.

[10] Đỗ Hữu Cầu (2004), “Mô hình Hoa tiêu hiện nay - Những bất cập cần đổi

mới, sắp xếp lại”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (9/2004), tr.7-8.

[11] Chương trình thời sự - Đài THVN – 27/2/2005)

[12] Báo Nhân Dân (2004), “Sửa đổi của Bộ luật Hàng hải”, (19/11/2004), tr.3.

[13] Lê Đăng Doanh (2005). “Tầm quan trọng của ngành dịch vụ và quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế,

(2/2005), tr.3-17

[14] Nguyễn Hồng Đàm (2003), “Vận tải và giao nhận trong ngoại thương”,

NXB GTVT Hà Nội 2003

[15] Trần Đình (2005), “Cả nước dấn bước tới đích”, Thời báo kinh tế Việt

Nam, (Xuân Ất DËu - 4/2/2005), tr.8.

[16] Hải Đường (2004), “Ghi nhận từ một hội nghị thuyền viên”, Tạp chí Hàng

hải Việt Nam, (1/2004), tr.19-20.

[17] http://www.haiphongport.com.vn

[18] http://www.csg.com.vn (2004), “Phí cảng biển Việt Nam”, (18/11/2004)

[19] Duyên Hải (2004), “Công ty cổ phần Đoạn Xá: Hiệu quả sau 3 năm thực

hiện cổ phần hoá”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (11/2004), tr.18-19.

[20] Nguyễn Thu Hằng (2004), “Chuyển dịch cơ cấu các ngành dịch vụ ở Việt

Nam ”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, (9/2004), tr.26-36.

[21] Nguyễn Văn Hiền (2004), “Hàng hải Việt Nam trong chiến lược phát triển

bền vững ”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (1/2004), tr.8-9-26-27.

[22] Nguyễn Ngọc Huệ (2004), “Cảng biển Việt Nam thừa hay thiếu”, Tạp chí

Hàng hải Việt Nam, (12/2004), tr.5-9.

[23] Hồ Hùng – Thời báo kinh tế Sài Gòn – 18/11/2004

[24] Trần Hào Hùng (2004), “Cam kết quốc tế của Việt Nam về mở cửa thị

trường dịch vụ”, Kinh tế và Dự báo, (9/2004), tr.5-7,13.

[25] “Nghị định 160 đi vào cuộc sống sẽ tạo nên những chuyển biến tích cực, cơ

bản”, Tạp chí hàng hải Việt Nam, (4/2004), tr.16-17.

[26] “Ngành hàng hải Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập quốc tế và khu

vực”, Tạp chí GTVT, (8/2004), tr.24-25,35.

[27] Ngành hàng hải trước ngưỡng cửa hội nhập quốc tế và khu vực, Tạp chí

GTVT, Số 1+2/2005

[28] Dương Ngọc (2005), “Ngũ giác – Mục tiêu đẹp lên”, Thời báo kinh tế Việt

Nam, (Xuân Ất DËu - 4/2/2005), tr.12.

[29] Hoàng Long (2004), “Tổng kết thực hiện thí điểm dịch vụ trung chuyển

Container tại Việt Nam”, Tạp chí hàng hải Việt Nam, (7/2004), tr.28.

[30] Hồng Minh (2004), “VINALINES – Những giải pháp cạnh tranh trước yêu

cầu hội nhập quốc tế”, Tạp chí hàng hải Việt Nam, (6/2004), tr.34-35.

[31] Nguyễn Văn Minh (2004), “Trách nhiệm của người giao nhận kho vận

dưới con mắt nhà bảo hiểm”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (10/2004), tr.56-

59.

[32] Bảo Khanh (2004), “Cảng biển Việt Nam trên đường hội nhập”, Tạp chí

Hàng hải Việt Nam, (1/2004), tr.13-14.

[33] Mai Văn Khang (2004), “Phát triển nguồn lực thuyền viên hàng hải Việt

Nam”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (10/2004), tr.17-19.

[34] Trần Văn On (2004), “VPA- Một tổ chức liên kết nghề nghiệp của cảng

biển Việt Nam”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (11/2004), tr.7-9.

[35] Nguyễn Văn Phúc (2004), “Kinh tế cảng biển khu vực Quảng Ninh”, Tạp

Chí hàng hải, (8/2004)

[36] Mai Phương (2004), “Phát huy nội lực đầu tư xây dựng cảng Đình Vũ”,

Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (1/2004), tr.14-15.

[37] Vũ Thế Quang (2005), “Hàng hải Việt Nam – 40 năm một chặng đường

phát triển”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (1+2/2005), tr.11-15.

[38] Phạm Thiết Quát (2004), “Một số giải pháp nhằm tăng thị phần vận tải”,

Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (10/2004), tr.27-29.

[39] Sổ tay pháp lý cho người đi biển – NXB Chính trị quốc gia- Bộ ngoại giao

– Ban biên giới – 2002

[40] Tạp chí hải quan (2005), số (1+2/2005), tr.C

[41] Võ Nhật Thăng (2004), “Một số kiến nghị về việc hoàn thiện các văn bản

luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ đại lý vận tải đường biển tại Việt Nam”,

Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (12/2004), tr.31-35.

[42] Duy Thắng (2004), “Mô hình quản lý, khai thác cảng biển trong tương lai”,

Tạp chí hàng hải Việt Nam, (4/2004), tr.19-20.

[43] Nguyễn Thanh Thuỷ (2004), “Vai trò của công nghệ thông tin trong quản

lý cảng biển Singapore ”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (5/2004), tr.50-51.

[44] Nguyễn Hoàng Tiệm (2004), “Một số vấn đề về kinh doanh vận tải biển và

dịch vụ hàng hải sau 4 năm thi hành luật doanh nghiệp”, Tạp chí Hàng hải

Việt Nam, (9/2004), tr.15-19.

[45] Chu Quang Thứ (2004), “Hợp đồng thuê quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng

cảng Cái Lân đánh dấu một bước phát triển mới của ngành hàng hải ”, Tạp

chí Hàng hải Việt Nam, (8/2004), tr.3-4.

[46] Tổ chức kỷ niệm ngày truyền thống hoa tiêu Việt Nam - Tạp chí Hàng hải

Việt Nam , (7/2004)

[47] Nguyễn Tương (2004), “Vận tải biển Việt Nam trong quá trình hội nhập

khu vực và thế giới”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (9/2004), tr.23-26,36.

[48] Đinh Ngọc Viện (2002), “Nghiên cứu các giải pháp tăng năng lực cạnh

tranh của ngành hàng hải Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế”, NXB

GTVT Hà nội, 2002.

[49] Đinh Ngọc Viện (2004), “Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở Việt Nam:

Tiến trình, thời cơ và thách thức”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam, (1/2004),

tr.33-35.

[50] Đặng Công Xưởng (2004), “Kinh nghiệm quản lý và khai thác kết cấu hạ

tầng cảng biển của các quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam,

(11/2004), tr.24-26.

[51] Kim Yến (2004), “VPA sau 10 năm nhìn lại”, Tạp chí Hàng hải Việt Nam,

(9/2004), tr.21-22.

2. Tài liệu tiếng Anh

[52] The UNCTAD secretariat (2003), Review of Marine Transport 2003

[53] MPA (2004), Singapore port performance 2003

[54] “Uruguay Round and Post-Uruguay Round negotiations in marine transport

services”, Annual report 1996, page 127

[55] The WTO Secretariat (1991), Services sectoral classification list