intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngữ văn: Cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:54

0
90
lượt xem
22
download

Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngữ văn: Cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngữ văn: Cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ bao gồm những nội dung về những vấn đề về thời đại, cuộc đời và tác phẩm của Hồ Xuân Hương liên quan đến cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ; cái nhìn của Hồ Xuân Hương trên bình diện tự nhiên; cái nhìn của Hồ Xuân Hương trên bình diện xã hội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Khoa học ngữ văn: Cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ CHUYỆN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ : 5.04.33 LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn : Giáo sư Lê Trí Viễn Người thực hiện: Nguyễn Công Danh THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 12-1997
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ CHUYỀN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM MÃ SỐ : 5.04.33 LUẬN ÁN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Người hướng dẫn: Giáo sư Lê Trí Viễn Người thực hiện: Nguyễn Công Danh THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 12-1997
  3. MỤC LỤC MỤC LỤC ............................................................................................................................ 1 T 2 T 2 LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................................... 2 T 2 2T MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 3 T 2 T 2 1. Lý do chọn đề tài: .......................................................................................................... 3 T 2 2T 2. Phạm vi nghiên cứu: ..................................................................................................... 3 T 2 2T 3. Lịch sử vấn đề: .............................................................................................................. 4 T 2 2T 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: ................................................................................................... 7 T 2 2T 5. Phương pháp nghiên cứu: .............................................................................................. 8 T 2 2T 6. Bố cục của luận án: ....................................................................................................... 8 T 2 2T CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI ĐẠI, CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA HỒ T 2 XUÂN HƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ ................................................................................................................. 9 2T 1.1 Thời Hồ Xuân Hương và số phận người phụ nữ:.......................................................... 9 T 2 T 2 1.2 Hồ Xuân Hương - một nữ thi sĩ "độc đáo vô song" một nhà thơ của phụ nữ: .............. 10 T 2 T 2 1.3 Thơ nôm truyền tụng và tập thơ "Lưu hương ký", những thi phẩm lưu truyền và tâm T 2 huyết của Hồ Xuân Hương: ............................................................................................. 13 2T 1.3.1 Thơ nôm truyền tụng: ......................................................................................... 13 T 2 2T 1.3.2 Tập thơ "Lưu hương ký": .................................................................................... 14 T 2 2T CHƯƠNG 2: CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG TRÊN BÌNH DIỆN TỰ NHIÊN ....... 17 T 2 T 2 CHƯƠNG 3: CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG TRÊN BÌNH DIỆN XÃ HỘI ............ 27 T 2 T 2 KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 46 T 2 2T TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................... 48 T 2 2T 1
  4. LỜI CẢM ƠN Luận án này được hoàn thành với sự giúp đỡ của quý thày giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp, đặc biệt là với sự hướng dẫn rất tận tình của Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Lê Trí Viễn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn. 2
  5. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Văn học là nhân học. Con người vừa là đối tượng vừa là mục đích của văn học. Nghiên cứu cái nhìn của của một. nhà thơ thông qua tác phẩm của họ bao giờ cũng là vấn đề hết. sức được quan tâm và mang tính thời sự trong lý luận phê bình văn học. Bởi vì thái độ đối với con người nói chung đặc biệt đối với người phụ nữ nói riêng luôn có thể là thước đo giá trị đích thực của một tác phẩm văn học, của một tác giả. Hồ Xuân Hương và thơ của nữ thi sĩ là một hiện tượng văn học dặc biệt đã được các nhà nghiên cứu đánh giá khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Tìm hiểu, nghiên cứu cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ của một nhả thơ nữ viết về phụ nữ trong tình hình phê bình nghiên cứu có những ý kiến trái ngược nhau như thế quả là việc làm lý thú, hữu ích để góp phần trả lại giá trị cho thơ Hồ Xuân Hương và vị trí của nữ sĩ trong văn đàn dân tộc như Thôn Văn đã khẳng định trong bài tựa "Thơ Hồ Xuân Hương " do Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Văn nghệ Hà Nội xuất bản năm 1982: "Bởi những gì Hồ Xuân Hương để lại hiện đang và mãi mãi sẽ là những vì sao mới lạ lấp lánh đầy sức hấp dẫn giữa bầu trời văn học của đất nước chúng ta" Điều lý thú rất có ý nghĩa nữa là bài viết. sẽ góp thêm tiếng nói trân trọng yêu mến nhà thơ nữ nổi tiếng của dân tộc và khẳng định, phát huy vai trò vị trí của người phụ nữ trong sự nghiệp vì tiến bộ, bình đẳng và phát triển của phong trào phụ nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước . 2. Phạm vi nghiên cứu: Như chúng tôi đã trình bày ở trên, bài viết này chỉ nhằm góp thêm tiếng nói trân trọng Hồ Xuân Hương và thơ của nữ sĩ, chứ không đi vào nghiên cứu các vấn đề khác về thơ Hồ Xuân Hương. Đó là cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ. Bởi, về quan điểm.thái độ của Hồ Xuân nương đối với phụ nữ đã có nhiều ý kiến nhận định trái ngược nhau nên cần tiếp tục suy nghĩ Công việc ấy quả là không mấy dễ dàng vì về nội dung đã có ý kiến ngược nhau mà ngay danh mục thơ. văn bản thơ cũng còn là một vấn đề tồn nghi. Do hiện tượng dân gian hóa thơ Hồ Xuân Hương và Xuân Hương hoá thơ của kẻ nào dó nên có không ít bải thơ người này cho là của Hồ Xuân Hương, người kia cho là không phải. Đã có công trình nghiên cứu về phân loai. xác định những loại thơ nào đích thực là của Hồ Xuân Hương, những bài nào không, nhưng vẫn còn nhiều bàn cãi . Chúng tôi chọn cách làm là sử dụng những bài thơ trước nay vẫn được coi là thơ nôm truyện tụng của Hồ Xuân Hươg được in trong các cuốn:"Thơ Hồ Xuân Hương" của Giáo sư Nguyễn Lộc (Nhà xuất bản Văn học. 1982), "Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương" của nhóm biên tập do Giáo sư Lê Trí Viễn chủ biên 3
  6. (Nhà xuất bản Nghĩa Bình và sở Giáo dục Nghĩa Bình xuất bản, 1987) và "Hồ Xuân Hương, thơ và đời" do Lữ Huy Nguyên chịu trách nhiệm xuất bản (Nhà xuất bản Văn học, 1996). Dĩ nhiên chúng tôi cũng chỉ sử dụng những bài thật sự liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu . Đồng thời chúng tôi cũng sử dụng một số bài thơ chữ nôm và chữ Hán trong "Lưu hương ký" do Tốn Phong Thị đề lựa tháng 2 năm Giáp Tuất (tháng 3 năm 1814) để nhìn nhận được đầy đủ hơn. Bởi nhiều cứ liệu lịch sử có được hiện nay đã khổng định " Lưu hương ký" là của Hồ Xuân Hương . 3. Lịch sử vấn đề: Trong hàng trăm bài viết về cuộc đời và thơ Hồ Xuân Hương, đã có nhiều bài tuy chưa thành một chuyên đề riêng nhưng ở chỗ này chỗ khác đã đề cập về quan điểm thái độ của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ . Đọc các bài viết ấy, chúng tôi thấy nổi lên hai loai ý kiến . Loai ỷ kiến thứ nhất là đánh giá quan điểm thái độ của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ theo quan điểm phân tâm học của Phrớt. Nguyễn Văn Hanh viết : "Dục tình ngày càng tăng, càng nén lại càng bồng bột. Ngày qua tháng qua, sức dè nén dồn ép tình dục càng tăng. Vì sự cần kia càng khẩn cấp. Kết quả: Hồ Xuân Hương “khủng hoảng tình dục" (1). F 0 P T 1 T 1 P Theo ông Nguyễn Văn Hanh, ở Hồ Xuân Hương và thơ của bà, dục tình chỉ phối tất cả : tư tưởng và thơ. Ông cho rằng :"Phrớt thấy sự bất mãn về tình dục lâu ngày sẽ kết cấu ra bệnh để thay cho sự vui thích không liễu kết. Xuân Hương không bao giờ thỏa thích dục vọng, nàng bị dồn ép luôn luôn. Nàng bị bệnh thần kinh. Dục tình chiếm cả đầu óc, ám ảnh nàng. Nó nhuộm thắm các tư tưởng của nàng. Bao nhiêu thơ của Xuân Hương đều biểu lộ sự khao khát, sự bất mãn, dục tình được biến chuyển qua mỹ thuật thơ." (1). Cùng với cách nhìn P T 1 F 1 T 1 P nhận ấy, Trương Tửu cũng đã vận dụng thô bạo phân tâm học để đánh giá Hồ Xuân Hương:"Thỉên tài ấy (Hồ Xuân Hương) phát hiện ra ở ba đặt tính : Trữ tình, trào phúng, huê nguyệt. Thơ Hồ Xuân Hương trữ tình đến ai hoài, trào phúng đến chua cay, huê nguyệt đến dâm đãng (dâm đãng hiểu theo nghĩa khoa học chứ không theo nghĩa luân lý). Trong ba tính ấy, cái dâm là căn bản não trạng Xuân Hương. Hai tính kia cũng nẩy nở dưới ánh sáng của cái dâm ấy" 2F P (1) 1T .Ngay cả ông Văn Tân đã có những nhận xét rất mới mẻ về cuộc đời và thi 1T P phẩm của nữ sĩ lại vẫn có những hạn chế đáng tiếc. Ông đã phân tích ảnh hưởng của những câu đố "đố tục giảng thanh" vào thơ Hồ Xuân Hương. Đúng là có sự ảnh hưởng đó. Nhưng Nguyễn ăn Hanh - "Hồ Xuân Hương, tác phẩm, thân thế và văn tài". Nhà in Aspar, Sài Gòn, 1937. Dân ở (1) cuốn "Bình luận Văn học", Nhà xuất bản Tổng hợp - Khánh Hòa, 1992, trang 38 Trương Tửu - Văn nghệ bình dãn Việt nam Văn hóa mới xuất bản, 1951 ở Liên khu IV. Dẫn ở cuốn Thơ Hồ (1) Xuân Hương. Trường Đại Học Sư Phạm TP.HỒ Chí Minh ấn hành, năm 1989, trang 3. 4
  7. ông lại cho rằng" Cái dâm và cái tục ở nông dân trong rất nhiều trường hợp chỉ là những chất liệu dùng để cười giải trí hoặc để nhạo báng bọn phong kiến", còn"ở Hồ Xuân Hương, dâm và tục đã đi vào ý thức tư tưởng và đã biên thành một phương tiện nghệ thuật mầu nhiệm, vì ở Xuân Hương dâm và tục gặp một khu đất màu mỡ thuận tiện cho sự phát triển. Sự khủng hoang tình dục luôn luôn sôi sục và trầm trọng ở con người rất mực đa tình là Xuân Hương. Dâm và tục đã ăn sâu vào ý thức, tư tưởng của Xuân Hương, chi phôi hầu hết thi phẩm của Xuân Hương, giúp cho Xuân Hương viết nên những vần kiệt tác, độc đáo, làm cho Xuân Hương nhìn ra đời thấy cái gì cũng là dâm và tục, gặp bài cứ cái gì cũng có thể gán cho những ý dâm và tục" (2) 3F P 1T Viết như thế, ông Văn Tân cũng đã rơi vào cách đánh giá Hồ Xuân Hương dưới ảnh hưởng của phân tâm học Phrớt. Chúng tôi thấy cần phải nhìn nhận lại khi đánh giá Hồ Xuân Hương nhìn nhận cho đúng người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương. Chúng Lôi đồng ý với ý kiến của ông Nguyễn Văn Trung cho rằng : "Không thể dùng phân tâm học của Phrớt dể tìm hiểu thơ được gán cho Hồ Xuân Hương vì đó là ngộ nhận mà các nhà phê bình đã mắc phải" (3). Vì cũng theo ông Nguyễn Văn Trung : "Trong trường hợp thơ tục được gán cho Hồ 4F P T 1 T 1 P Xuân Hương, quả thật ý thơ, bày tỏ một bất mãn vì dục tính không được thực hiện do số phận làm lẽ, góa bụa, do hoàn cảnh tập quán xã hội ngăn chặn, cấm đoán ... Nhưng sự bất mãn đó không liên quan gì đến hiện tượng ẩn ức của Phrớ" (1). "Ấn ức" mà ông Trung nói ở đây là F 5 P T 1 T 1 P cách bộc lộ vô ý thức của ước muốn bị kiềm chế, bị ngăn chặn. Chúng đã biết phân tâm học của Phrớt là khoa học của cái vô thức tâm thần. Phrớt không cho rằng ý thức là cái cấu thành bản chất của tâm thần mà cho rằng vô thức là cái bản chất của tâm thần quyết định cuộc sống tâm thần, chi phối họat động của con người ở cái vô thức chứa đựng những ham muốn , những đòi hỏi , những nhu cầu của con người. Trong những nhu cầu này, Phrớt coi libido (tức là bản năng tình dục) là nhu cầu quyết định nhất. Đó là những quan điểm sai lầm của Phrớt. Nhận thức luận Mác xít đã khẳng định vai trò quyết định của tư duy , của lý trí , của ý thức trong sáng tạo nghệ thuật cũng như trong đời sống tinh thần nói chung chúng ta cũng đã biết tình dục là một bản năng của lòai người nhưng tình yêu của con người là một thứ tình cảm mang tính xã hội , mang tính văn hóa hình thành trên những tình cảm nghĩa vụ . đạo đức đẹp đẽ mà chỉ riêng con người mới có . Cho nên theo chúng tôi, chúng ta phải tránh việc vận dụng thiên lệch phân tâm học của Phrớt để nghiên cứu , đánh giá Hồ Xuân Hương và người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương. (2) Văn Tân - "Hồ Xuân Hương với các' giới phụ nữ, văn học và giáo dục"- Nhà xuất bản Sông Lô, Hà Nội, 1955, trang 27. (3) Nguyễn Văn Trung :"Lược khảo văn học III, Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn 1968. trang 173. (1) Nguyễn Văn Trung :"Lược khảo văn học III, Nam Sơn xuất bản, Sài Gòn 1968, trang 173. 5
  8. Loại ý kiến thứ hai là ý kiến của các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp so sánh lịch sử để phân tích , đánh giá quan điểm của Hồ Xuân Hương về phụ nữ. Các bài viết theo loạ ý kiến này ở những mức độ khác nhau đều đã khẳng định cái nhìn theo phương pháp ấy là đúng đắn. Hoa Bằng trong bài viết của mình , đã phân tích tư tưởng chống phong kiến, chống nam quyền, chống những thành kiến khinh nữ của xã hội đương thời để tôn xứng Hồ Xuân Hương là "Nhà thơ cách mạng". (1) Nhà thơ Xuân Diệu từ sự cảm nhận thơ Hồ Xuân Hương với lòng 6F P 1T 1T P yêu mến và trân trọng nhà thơ nữ độc đáo của dân tộc. đã đề cao Xuân Hương là mội người phụ nữ "không đàn bà và rất đàn bà" (2), là một "thiên tài kỳ nữ" (3) .Cũng cần phải nói như F 7 P T 1 T 1 P F 8 P T 1 T 1 P Đặng Thanh Lê là Xuân Diệu trong bài viết nói trên của mình đã có chỗ đề cao quá đáng tiếng nói bản năng nhục cảm trong thơ Hồ Xuân Hương khi ông có sức vẽ ra trước mắt mọi người cái hình ảnh "Bô cu lởm ngổm bò trên bụng" mà Xuân Diệu cho là "kỳ lạ" là "tuyệt diệu" (4) là "vô hạn sâu sắc" (4) . Nhìn nhận khách quan, ông Trần Thanh Mai đã chia thơ Hồ 9F P T 1 T 1 P 0F P 1T 1T P Xuân Hương ra làm ba loai : "Một loại gồm những bài có tính tư tưởng cao và có phương pháp nghệ thuật thanh nhã, một loại gồm những bài có yếu tố tục , những yếu tố đó nhằm mục đích yêu cầu tiến bộ đả kích một tầng lớp nào, một thói hư tật xấu nào, hoặc nói lên mội ý chí vươn lên của con người và loạii thứ ba gồm những bài có tính khiêu gợi không lành mạnh , những bài có yếu tố dâm" (5) . Ông cho rằng trên mức độ này hay mức độ khác, nhân F P 1T 1T P tố tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương là có thật" (5), nhưng theo ông "nó là một hiện tượng F 2 P T 1 T 1 P xã hội , không phải là một. biểu hiện bệnh thái". Như vậy, ông Trần Thanh Mai đã không né tránh những hạn chế của thơ Hồ Xuân Hương nhưng không rơi vào phân tâm học. Giáo sư Nguyễn Lộc đã có nhận xét rất thú vị : "Hồ Xuân Hương là một người đầu tiên đưa vào văn học giai đoan này" cô gái bình dân lừ cốt cách cho đến hình hài "thân em vừa trắng lại vừa tròn. Bảy nổi, ba chìm với nước non". Những cô gái ấy , đối với họ cái quí nhất là sự hồn nhiên là sống thỏai mái , không bị ràng buộc câu thúc bởi bất cứ một thế lực nào" Hồ Xuân Hương đề cao những người phụ nữ ấy. Đó là nhân vật trung tâm , có mặt hay dấu mặt trong hầu hết các bài thơ của bà và nhà thơ nhìn đời cũng chính bằng đôi mắt của những người phụ Hoa bằng :"Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng". Nhà xuất bản Bốn Phương Sài gòn. 1951. (1) (3) Xuân Diệu "Hô Xuân Hương - bà chúa thơ nôm" . Nhà xuất bản phổ Thông, 196. Dân ở cuốt cuốn các nhà (2) thơ cổ điển Việt Nam. Nhà xuất bản văn học 1987, trang 352 vả 373. Đặng Thanh Lê "Góp thêm một tiếng, nói trong việc đánh giá thơ Hồ Xuân Hương", Tạp chí Ngliiên Cứu (4) Văn Học số 3 - l963. Trần Thanh Mai "Thử bàn lại vấn đề tục và dâm trong thơ Hồ Xuân Hương" trong cuốn luận văn học" Nhà (5) xuất bản Tổng hợp Khánh Hòa. 1942 trang 41,42. 6
  9. nữ ấy, nên bao giờ bà cũng tinh tường , sắc sảo và nghịch ngợm" F 3 P T 1 (1) T 1 P . Ý kiến của giáo sư Nguyễn Lộc gợi cho chúng tôi suy nghĩ là phải nghiên cứu cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ bằng cái nhìn của người phụ nữ bình dân chứ không phải bằng cái nhìn của những đấng tu mi nam tử phong kiến. Giáo sư Lê Trí Viễn đã có các luận giải sâu sắc. Theo giáo sư , đó là thái độ trân trọng trí tuệ, tài năng, đạo đức, cả cái đẹp thể hình của chị em. Giáo sư khẳng định : "Từ sự sống gốc nguồn ấy , Hồ Xuân Hương tiến lên đứng về phía phụ nữ mà làm trạng sư cho lịch sử. Vui đi tất cả giáo điều phong kiến và nho giáo về người phụ nữ. Phải nhận thức lại, phải trả lại cho phụ nữ chân giá trị của họ về mọi mặt. Không có cái gì là nam tôn , nữ ti cả. Hất đi cái thứ bất công xã hội ấy, trở lại với cái bình đẳng trong sự sống" (2)F 4 P T 1 Nhìn nhận đánh giá về quan điểm thái độ của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ như Hoa Bằng , Xuân Diệu , Văn Tân, Trần Thanh Mai ... nhất là như giáo sư Nguyễn Lộc và giáo sư Lê Trí Viễn là hướng rất đúng cần được tiếp tục nghiên cứu để góp phần trả lại cho phụ nữ chân giá trị của họ về mọi mặt như giáo sư Lê Trí Viễn đã khuyến nghị. Nghiên cứu Hồ Xuân Hương và thi phẩm của nữ sĩ nói chung và nghiên cứu cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ nói riêng vẫn đang là vấn đề hấp dẫn những ai yêu mến nhà thơ nữ tài năng độc đáo của dân tộc. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Thực tiễn nghiên cứu về Hồ Xuân Hương cho chúng ta thấy rằng trong các công trình nghiên cứu cùa mình. các nhà nghiên cứu đều đã coi Hồ Xuân Hương là nhà thơ của phụ nữ , tiếng nói trong thơ Hồ Xuân Hương là tiếng nói của người phụ nữ . Tuy thế, vẫn có những lời đánh giá khác nhau , thậm chí trái ngược nhau. Do vậy, nhiệm vụ của luận án này phải lý giải được lại sao Hồ Xuân Hương bênh vực ca ngợi bảo vệ phụ nữ và thái độ đó bắt nguồn từ đâu ? Hồ Xuân Hương đã tiếp thu những gì ở quan niệm âm dương của Dịch học, ở văn nghệ dân gian, ở tín ngưỡng phồn thực, ở lễ thức văn hóa phồn thực của lễ hội dân gian, ở tư tưởng của thời đại được thể hiện trong văn học đương thời và ở sự phê phán tư tưởng phong kiến Nho giáo như thế nào khi nhìn nhận người phụ nữ trên cả hai bình diện tự nhiên và xã hội ? Giải đáp những câu hỏi trên, chúng tôi chỉ có một ước muốn nhỏ là góp phần làm cho mọi người tránh được cách nhìn sai lệch mà cảm nhận đúng cho lòng nhà thơ. (1) Nguyễn Lộc "Thơ Hồ Xuân Hương" Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội Xuất bản. 1986. trang 50-51. (2) Lê Trí Viễn "Thơ Hô Xuân Hương" "Trường Đại Học sư Phạm TP. Hồ Chí Minh ấn hành 1989, trang 23. 7
  10. 5. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài dặt ra yêu cầu phải góp phần nhìn nhận quan điểm của Hồ Xuân Hương đối với phụ nữ qua thơ của nữ sĩ. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu đề tài , chúng tôi chủ yếu sử đụng phương pháp lịch sử , sau dó tiến hành phân tích tổng hợp đưa ra những nhận định , đánh giá. Theo phương pháp này, chúng tôi xem xét mối liên hệ tương đồng và dị biệt giữa các yếu tố tác động đến quan điểm tư tưởng của Hồ Xuân Hương trong đó có tư tưởng tiến bộ của nhân dân về người phụ nữ trong văn nghệ dân gian, trong lễ hội dân gian , trong thơ văn các tác giả cùng thời. Chúng lôi đặt Hồ Xuân Hương vào hoàn cảnh xã hội cụ thể của giai đoan lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX để xem xét, đó là một giai đoạn lịch sử đầy biến động trong đó khởi nghĩa nông dân thành phong trào rộng lớn, mãnh liệt ; quật đổ hai tập đoàn thống trị phong kiến Đàng Ngoài - Đàng Trong, dấy lên một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa cao quý , chống lại bao nhiêu giáo điều phong kiến và Nho giáo . Trào lưu tư tưởng tiến bộ ấy của thời đại đã ảnh hưởng đến văn học. Chúng tôi cũng kế thừa những ý kiến hay trong các công trình nghiên cứu của những người đi trước , những bậc thầy của chúng tôi trước khỉ đưa ra những ý kiến khiêm tốn của mình. 6. Bố cục của luận án: Xác định lý do chọn đề tài, phạm vi nghiên cứu. lịch sử vấn đề nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu như trên, bài viết của chúng tôi được trình bày theo trình tự dưới dây : - Phần mở đầu . - Chương I : Nêu lên những vấn đề về thời đại . cuộc đời và tác phẩm của Hồ Xuân Hương liên quan đến cái nhìn của Hồ Xuân Hương đối với người phụ nữ. - Chương II : Cái nhìn của Hồ Xuân Hương trên bình diện tự nhiên. - Chương III : Cái nhìn của Hồ Xuân Hương trên bình diện xã hội. - Phần kết luận : Những ý kiến khẳng định vấn đề và ý nghĩa , tác dụng của việc nghiên cứu đề tài đối với cuộc sống hiện nay. Vấn đề vừa mang tính thời đại, vừa mang tính hiện đại. 8
  11. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THỜI ĐẠI, CUỘC ĐỜI VÀ TÁC PHẨM CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ 1.1 Thời Hồ Xuân Hương và số phận người phụ nữ: Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn xếp Hồ Xuân Hương vào giai đoạn lịch sử từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, giai đoạn lịch sử Lẽ mạt-Nguyễn sơ , một giai đoạn lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam. Chế độ phong kiến Việt Nam không còn hưng thịnh một thời như ở thế kỷ XV nữa mà nó dã bước vào thời kỳ khủng hỏang trầm trọng. Giai cấp thống trị phong kiến bộc lộ bản chất xấu xa , đồi bại và phản động của chúng. Sự tranh giành quyền lực , ngai vàng trong nội bộ giai cấp phong kiến thống trị trở nên gay gắt . Đã có cung vua lại còn phủ chúa. Đã có vua Lê lại còn chúa Trịnh. Chúa Trịnh cát cứ Đàng Ngoài , Chúa Nguyễn cát cứ Đàng Trong. Vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn , của dòng họ, các thế lực phong kiến thống trị đã đẩy đất nước vào cảnh chiến tranh liên miên "nồi da nấu thịt, cốt nhục tương tàn". Người dân lao dộng vốn đã bị bóc lột , ức hiếp , khốn khổ lại càng khốn khổ , điêu đứng. Trong khi nhân dân sống đau khổ , bọn vua chúa phong kiến ăn chơi phóng đãng. Theo "Hoàng Lê Nhất Thống Chí", tiểu thuyết lịch sử của Ngô Gia Văn phái, Lê Hiển Tông - là một ông vua bù nhìn , suốt ngày chỉ bày trò mua vui với đám cung nữ. Có kẻ đến tâu vua về tình cảnh nhà vua bị nhà chúa chèn ép quá đáng, Lê Hiển Tông chỉ đáp : "Trời sai nhà chúa phò ta. Chúa gánh cái lo ta hưởng cái vui. Mất chúa cái lo về ta, ta còn vui gì ? ". Chúa Trịnh Sâm là một người "kiêu căng , xa xỉ ". Khi mê Đặng Thị Huệ thì ăn chơi dâm đãng. Không chỉ Trịnh Sâm mà các chúa Trịnh đều tuyển vào cung hàng trăm cung nữ và giam hãm họ trong tù ngục vàng son để phục vụ cuộc sống dâm loạn của chúng, còn ông vua bán nước Lê Chiêu Thống thì người đương thời đã nói "Nước Nam ta từ khi có đế vương đến nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn củi, đê hèn đến như thế" Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến thời Lê mạt - Nguyễn sơ đã làm cho ý thức hệ phong kiến mà cốt lõi là thuyết "Tam cương , ngũ thường" của Nho giáo cũng nút rạn, đổ bể. Hoàng Lê Nhất Thống Chí có thuật lại câu chuyện Lý Trần Quán , một viên quan lớn là thầy học của Nguyễn Trang tiến cử Nguyễn Trang hộ vệ cho Đoan Nam Vương (Chúa Trịnh Tông) trốn đi thì sau khi nhận lời Trang lại đi báo tin cho quân Tây Sơn. Quán hỏi Trang :" Chúa là chúa chung của thiên hạ., ta lại là thầy của anh. Vua tôi là nghĩa lớn. Sao anh nỡ làm như thế?" Trang đáp :"Quan lớn không bảo tôi trước, khiến tôi trót lầm đến gặp chúa. Nếu chúa trốn thoát ở tay tôi , rồi nữa quân Nam đến Hỏi tội tôi , liệu quan lớn có thể biện bạch hộ được không ? Sợ thầy chưa bằng sợ giặc , yêu chúa chưa bằng yêu thân mình. Tôi không 9
  12. để quan lớn làm cho lầm lỡ đâu". Sách đã dẫn còn thuật lại" chuyện Nguyễn Cảnh Thước lột áo bào của vua như sau : "Vũ Văn Nhậm ra Bắc năm 1789, Lê Chiêu Thống bỏ chạy qua sông Như Nguyệt , vua phải nhờ viên Trấn thủ Nguyễn cảnh Thước cho đò chở qua và phải để cho Thước mở hòm lấy 40 lạng vàng còn lại của vua. Vừa qua khỏi bến, Thước lại cho người đuổi theo "lột chiếc áo ngự bào vua đang mặc, vua ứa nước mắt cởi chiếc áo ngự bào trao cho chúng ..." Lý tưởng tôn quân là nguyên tắc hàng đầu của đạo đức giáo lý phong kiến Nho giáo còn bị đổ vở như thế, còn nói gì đến "chính danh" "lễ", "nghĩa" . Đúng như Phạm Đình Hổ đã nói : Đời suy thói tệ" "thế đạo ngày một sút kém", "danh phận lung tung", không ai còn biết đâu mà phân biệt thuận với nghịch nữa" (1)Bây giờ, nạn mua quan bán tước diễn ra F 5 P T 1 T 1 P công nhiên. Người thường dù "bất tài, dốt nát nếu có đủ 2000 quan thì được bổ làm tri phủ , nộp đủ 1000 quan được bổ làm tri huyện" (2).Chế độ phong kiến vạn ác, suy đồi ấy đã đẩy bao F 6 P T 1 T 1 P người dân vô tội vào cuộc sống khốn cùng. Những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp bùng nổ mà đỉnh cao là phong trào Tây Sơn thể hiện thái độ phẫn nộ cùng cực đối với hiện thực đen tối của chế độ phong kiến , và đòi quyền sống tự do hạnh phúc cho quần chúng nhân dân. Tiếng nói chung ấy của thời đại đồng thời là tiếng nói chung trong văn học giai đoạn này, là tiếng nói của nữ sĩ Hồ Xuân Hương . Vậy "Hồ Xuân Hương , người đó là ai" (3) F 7 P T 1 1.2 Hồ Xuân Hương - một nữ thi sĩ "độc đáo vô song" (4) một nhà thơ của phụ nữ: F 8 1 Không phải ngẫu nhiên mà Hoàng Trung Thông viết : "Hồ Xuân Hương người đó là ai Người ta nói nhiều về Hồ Xuân Hương Nhưng người đó là ai ? Thật mỉa mai Không ai biết rõ Như có như không, như không như có Nàng ở làng Quỳnh Nàng lại ở phường Khán Xuân Mờ mờ tỏ tỏ Khi thì nói là con Hồ Phi Diễn Khi thì lại bảo có em là Hồ Sĩ Đống" (1) Phạm Đình Hổ :"Vũ trung lũy bút" Nhà xuất bản Hà Nội, 1960. (2) "Hoàng Lê Nhất Thống Chi"' tập I Lời giới thiệu của lần xuất bản thử 3. trang 5. (3) Hoàng Trung Thông - thay lời tựa cuốn "Hồ Xuân Hương, từ cội nguồn vào thế tục" của Đào Thái Tôn - Nhà xuất bản Giáo dục 1995 , trang 8. (4) Nguyễn Lộc - Sách đà dẫn , trang 48. 10
  13. Thật thế, tiểu sử cuộc đời Hồ Xuân Hương cho đến nay vẫn còn là một đề tài rất khó khiến các nhà nghiên cứu, e phải "mòn lưng gảy bút" (chữ Phó Giáo sư Mai Quốc Liên) , bài viết của chúng tôi không đi vào đề tài ấy mà chỉ nêu một số vấn đề xét ra có ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Xuân Hương . Thực ra, trước năm 1940, đã có nhiều người viết về tiểu sử và cuộc đời của Hồ Xuân Hương nhưng cũng chỉ là vài nét chưa đầy đủ . Đến năm 1940, với "Việt vãn giáo khoa thư" của Dương Quảng Hàm, chúng ta mới có một tiểu sử Hồ Xuân Hương với mấy nét cụ thể , ông viết : "Bà là con gái ông Hồ Phi Diễn người làng Quỳnh Đôi huyện Quỳnh Lưu , xứ Nghệ An. Nhân ông Diễn ra dạy học ở Hải Dương lấy người thiếp ở đây sinh ra bà. Thân thế của bả không có sách nào chép rõ. Nay ta chỉ xét thơ văn của bà mới biết được đại khái. Bà ở về đời Lê mạt - Nguyễn sơ, cha mất sớm, mẹ cho đi học . Học giỏi thường hay lấy thơ văn thử tài các văn nhân nho sĩ lúc bấy giờ. Có lẽ , cũng vì sự thử thách , kén chọn ấy cho nên duyên phận long đong. Sau bà lấy lẽ một ông thủ khoa làm đến tri phủ Vĩnh Tường (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú) nhưng được ít lâu sau vì gia cảnh lại phải lấy người cai tổng tục đanh là Cóc. Không bao lâu ông Tổng Cóc cũng chết. Từ bấy giờ hình như bà chán nổi số phận hẩm hiu nên thường đi chơi các nơi thắng cảnh và ngâm vịnh thơ ca để khuây khỏa nỗi buồn. Một lần hình như bà cũng muốn đi tu, nhưng một người tài tình như bà không thể giam mình trong chốn am thanh cảnh vắng nên bà lại thôi". Từ đó người ta chỉ lắp lại chữ không có ý kiến nào khác. Mãi đến sau 1954, từ Văn Tân, Trần Thanh Mại đến Hồ Tuấn Niêm mới có những phát hiện mới. Duy có một lời khẳng định của Lê Dư là người chồng của Xuân Hương là tham hiệp An Quảng chưa ai để ý. Gần đây, sau Hoàng Xuân Hãn, cuốn "Thơ Hồ Xuân Hương. Từ cội nguồn vào thế tục" của Đào Thái Tôn (Nhà xuất bản giáo dục 1995) đã nói rõ thêm về tiểu sử Hồ Xuân Hương như sau : "Hồ Xuân Hương là con Hồ Sĩ Danh (1706-1783) em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738-1786) nguyên quán làng Quỳnh Đôi. huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, Hồ Sĩ Danh đậu Hương Cống (cử nhân) năm 1732. Tuy không ra làm quan nhưng vì có con làm quan to nên ông đã được phong tặng chức Hàn lâm thừa chỉ và hàm Thái bảo. Kết hợp nguồn giai thoại và thư tịch, chúng ta có thể ứơc đoán mà không sợ lầm lẫn rằng : bà mẹ sinh ra Hồ Xuân Hương người họ Hà vốn là một cô gái xứ Bắc chỉ làm hầu thiếp của Hồ Sĩ Danh. Khi ông này mất, Hồ Xuân Hương còn quá nhỏ. Hai năm sau, Hồ Sĩ Đống cũng mất, không còn nơi nương tựa, Hồ Xuân Hương được mẹ đưa ra đất Thăng Long. Từ đấy hai mẹ con Cư ngụ2 tại phường Khán Xuân,huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây, Hà Nội bây giờ. Tại đây Hồ Xuân Hương được mẹ cho học hành, sau đó lại dời nhà về thôn Tiên Thị, tổng Tiên Túc, Huyện Thọ xương, nay là phố Lý Quốc Sư-Hà Nội, Hồ Xuân Hương có một 11
  14. ngôi nhà riêng bên Hồ Tây dặt tên là cổ Nguyệt đường (chữ cổ ghép với chữ Nguyệt thành chữ Hồ) Cổ Nguyệt đường có lẽ là phòng văn hay nơi ngồi dạy học của bà. Song chắc chắn đó là nơi đã diễn ra các cuộc bình thơ thù tiếp bạn bè . "Lưu hương ký", một tập thơ gan ruột của Hồ Xuân Hương, sẽ cho ta biết lại cổ Nguyệt đường- ngoài khách văn chương là ông cần Chánh học sĩ Nguyễn hầu tức nhà thơ Nguyễn Du nổi tiếng, tác giả Truyện Kiều, Hồ Xuân Hương còn thù tiếp nhiều bạn văn nhân khác nữa. Đó là Mai Sơn phủ, Tốn Phong Thị, Thạch Đình, Cư Đình, Chi Hiên, Thanh Liên, ông Hiệp Trấn Sơn, Nam thượng Trần Ngọc Quán, Hiệp Trấn Sơn Nam hạ Trần Quang Tỉnh... Hầu hết những người này đều để lại dấu vết trong các bài thơ xướng họa của Hồ Xuân Hương trong "Lưu hương ký" Theo chúng tôi, lý giải để xác định Hồ Xuân Hương là con của Hồ Sĩ Danh là đáng tin cậy hơn. Trước Đào Thái Tôn, ông Văn Tân và ông Trần Thanh Mại trong các bài viết của mình cũng đã xác định Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Sĩ Danh. Còn ông Dương Quảng Hàm cho Hồ Xuân Hương là con của ông Hồ Phỉ Diễn thì chúng tôi thấy còn đáng nghi vì chỉ trông vào trí nhớ của người ở nơi thôn dã chứ không dựa vào tư liệu nào. Ngay năm sinh, ngày mất của Hồ Xuân Hương cho đến bấy giờ cũng chưa được xác định. Ông Trần Thanh Mại trong bài " Trở lại vấn dề Hồ Xuân Hương" ( Tạp chí Văn học, tháng 17/06/1964) đã dựa vào năm sinh, năm mất của Hồ Sĩ Danh (1906-1983) để đoan năm sinh của Hồ Xuân Hương là vào khoảng 1755-1760 '. Ngày mất của Hồ Xuân Hương cũng chỉ biết chắc là trước năm 1842 còn cụ thể năm nào thì không rõ. Vì cũng năm 1842, Tùng Thiện vưởng Miên Thẩm (em trai của vua Thiệu Trị ) hộ giá Thiệu Trị ra Bắc, khỉ đi qua mộ Hồ Xuân Hương, có làm bài thơ "Long Biên trúc chi tự", trong đó có hai câu : Mạc hướng Xuân Hương phần thượng quá Tuyền đài do hận thác khiên ti Nghĩa là: Chớ dẫm lên mộ Xuân Hương, dưới suối vàng nàng còn ôm hận rút nhầm tơ ( duyên) Ở tác phẩm "Xuân đường đàm thoại" viết năm 1869 có chép lại một câu chuyện trong đó có nói tới một người tên là Xuân Hương làm nghề kỹ nữ vừa mới chết để lại xúc cảm khác nhau cho người đời. Chưa có cơ sở nào để nói rằng Xuân Hương này với Hồ Xuân Hương là một . 12
  15. Chính vì những chi tiết nói trên mà chúng ta thấy ở cuộc đời Hồ Xuân Hương có cái gì đó mang tính huyền thoại : " mờ mờ tỏ tỏ, như có như không, như không như có". Tuy vậy, đến nay, dựa vào các tư liệu mà chúng ta có được, chúng ta thấy có một Hồ Xuân Hương thật, một phụ nữ xuất thân trong gia đình phong kiến có học, hay thơ, tài hoa, không thuận buồm xuôi gió trong tình duyên, long đong trong đường đời với thân phận phụ nữ " bảy nổi ba chìm", "hẩm hiu", nhưng không cam chịu,không an phận. Hồ Xuân Hương luôn muốn hất tung một cái gì đó đang đè nặng, trói buộc quyền sống tự do,quyền được hưởng hạnh phúc của phụ nữ . Hồ Xuân Hương làm thơ chữ nôm và chữ Hán để "tự tình", để bênh vực người phụ nữ. Hồ Xuân Hương là nhà thơ của phụ nữ . 1.3 Thơ nôm truyền tụng và tập thơ "Lưu hương ký", những thi phẩm lưu truyền và tâm huyết của Hồ Xuân Hương: 1.3.1 Thơ nôm truyền tụng: Lần đầu tiên, thơ Hồ Xuân Hương được sưu tập, xuất bản bằng chữ quốc ngữ là tập "Hồ Xuân Hương thi tập" (Nhà xuất bản Xuân Lan, Hà Nội, 1913). Phải sưu tập thơ nôm truyền tụng vì như Đào Thái Tôn, người có công nghiên cứu văn bản thơ Hồ Xuân Hương dã nêu ý kiến : "Trong một thời gian rất dài, thơ Hồ Xuân Hương chỉ tồn tại trong ký ức của mọi người và lưu hành bằng con đường truyền miệng giống như phương thức lưu hành của văn học dân gian. Cho nên không nghi ngờ gì cả, thơ Hồ Xuân Hương hoặc nhiều hoặc ít đã bị "nhuận sắc" thêm bớt, mô phỏng, bắt chước..." (1). Gần dây nhất, Nhà xuất bản Văn học xuất F 9 P T 1 T 1 P bản tập - "Thơ Hồ Xuân Hương" -do Giáo sư Nguyễn Lộc viết lời giới thiệu vào năm 1982 và tập "Hồ Xuân Hương- thơ và đời" do Lữ Huy Nguyên viết lời giới thiệu 1996 . Ở hai tập sách này, số bài thơ nôm được tuyển chọn và giới thiệu của Nhà xuất bản Văn học và của cả hai tác giả đều được coi là của Hồ Xuân Hương, kể cả số bài thơ nôm mà ở cuốn "Thơ Hồ Xuân Hương" do giáo sư Nguyễn Lộc đưa vào phần phụ lục. Chỉ khác một cho là bài " Qua sông phụ sóng" không thấy đưa vào trong lần xuất bản năm 1996 ở cuốn "Hồ Xuân Hương-thơ và đời". Chưa rõ nguyên nhân. Phải chăng bài thơ này có một số từ tục, thô lỗ, nghỉ không phải của Hồ Xuân Hương vì Hồ Xuân Hương không dùng từ " tục" đến như thế trong thơ. Chúng tôi nghỉ có lẽ bài này không phải của Hồ Xuân Hương. Vì khi sử dụng yếu tố tục để chế giễu, đả kích một đối tượng nào đó, Hồ Xuân Hương Sử dụng thủ pháp dùng từ nói lái hoặc dùng "nghĩa ngầm" chứ không đùng từ thô tục, trần trụi như trong bài "Qua sông phụ sóng". Như chúng tôi đã xác định, ở bài viết này chúng tôi không bàn về văn bản thơ mà chỉ sử dụng những bài thơ mà Nhà xuất bản Văn học xác nhận là của Hồ (1) Đào Thái Tôn - Thơ Hồ Xuân Hương - Từ cội nguồn vào thế tục", Nhà xuất bản Giáo dục . 1995, trang 31. 13
  16. Xuân Hương để nghiên cứu vấn đề mà bài viết đặt ra. Chúng tôi thiển nghĩ Nhà xuất bản Văn học đã có cần nhắc với chức năng của mình trong việc xác đinh và tuyến thơ của Hồ Xuân Hương . 1.3.2 Tập thơ "Lưu hương ký": Tập thơ "Lưu hương ký" của Hồ Xuân Hương do Nham Giác Phu Tốn Phong Thị viết lời tựa năm 1814, từng được ông Trần Thanh Mại giới thiệu trên mặt báo năm 1964 (1) .Cụ F 0 2 P T 1 T 1 P Nguyễn Văn Tú, cử nhân Hán học, người xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định đã cung cấp cho ông Trân Thanh Mại. Ở tờ đầu có đề rõ : "Lưu hương ký,Hoan Trung, cổ Nguyệt đường Xuân Hương nữ sĩ tập". Sau khi "Lưu hương ký" được phát hiện,giữa thơ nôm truyền tụng được coi là của Hồ Xuân Hương và " Lưu hương ký là của Hồ Xuân Hương có những ý tranh luận. Hai phần thơ này có cùng là một tác gia là Hồ Xuân Hương ? Vì nếu dựa vào phong cách nhà thơ để phân loại thì quả thật có sự khác nhau. Do vậy, chưa biết lấy phần thơ nào làm "hệ quy chiếu" cho phần thơ nào. Vấn đề này là một đề tài lý thú mà Giáo sư Nguyễn Lộc và nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn đã nêu lên. ở đây, chúng tôi coi "Lưu hương ký" là của Hồ Xuân Hương để sử dụng vì rõ ràng "Lưu hương ký" đã được nhiều tư liệu khẳng dinh. Hầu hết các bài thơ trong tập thơ này là thơ xướng họa. thù tạc, phần lớn Hồ Xuân Hương làm để tặng bạn thơ của mình như : Tốn Phong Thị, Mai Sơn Phủ, Hiệp trấn Sơn Nam thượng- họ Trần, đặc biệt là cần chánh học sĩ Nguyễn hầu ở Tiên Điền (tức nhà thơ Nguyễn Du tác giả Truyện Kiều). Đây là phần thơ trữ tình biểu hiện những tình cảm đẹp của Hồ Xuân Hương trong tình bạn tình yêu, vẻ dẹp mà nữ sĩ trân trọng, ngợi ca. Nghiên cứu phần thơ này, nói như Đào Thái Tôn là "cho ta hình dung rõ nét hơn về phẩm cách cuộc đời nữ sĩ" . Con người ấy quả có một cuộc đời nhiều nét ngoài bình thường. Khi nói đến thời dại có kết lại là tiếng nói vang lên suốt mấy mươi năm oanh liệt và đau thương là tiếng phẫn nộ và đấu tranh của quần chúng bé nhỏ đã đứng lên khẳng định vai trò của mình trước lịch sử. Đứng lên bằng gươm dáo là để đòi lấy cơm áo và công lý, tự do. Đói khổ và ràng buộc là không sao chịu nổi. Phải đòi lấy quyền được sống cả vật chất lẫn linh thần. Đi đầu trong đấu tranh với bè lũ thống trị thối nát của Lê Trịnh ở Đàng Ngoai và chúa Nguyễn ở Đàng Trong trước hết là những anh hùng áo vải từ Nguyễn Hữu cầu đến Nguyễn Huệ. Nhưng bên cạnh, lịch sử còn ghi không ít lên tuổi phụ nữ tiếng tâm lừng lẫy. Trên chiến trường là những Bùi Thị Xuân , vợ ba Cai Vàng , nữ tướng người dân tộc chỉ huy đoàn voi chiến Tây Sơn. Trên văn đàn là những Đoàn Thị Điểm , Ngọc Hân , Hồ Xuân Hương, trước dó là Phạm Lam Anh (1) Trần Thanh Mai - "Bản Lưu hương ký và lai lịch phát hiện nó". Tạp chí Văn học, số 11.1964 14
  17. , về sau là Nguyễn Thị Hinh (xưa nay quen gọi là Bà Huyện Thanh Quan) ... ở lĩnh vực tiết liệt là Phan Thị Thuấn, Trương Quỳnh Như ... chắc không phải ngẫu nhiên mà nhiều phụ nữ anh hùng và tài danh. nghĩa khí như thế lại có mặt vào những thập kỷ này'. Không có lẽ nào khác ngoài tình trạng họ là tầng lớp bị áp bức nặng nề nhất, lâu đời nhất , cả bị bóc lột từ lao động đến thể xác một cách thê thảm , tàn ác nhất , bị trói buộc bới đủ thứ xiềng xích của lễ giáo. Và đến thời này, sự tình đã tới cùng cực và bùng nổ. Hồ Xuân Hương coi như là một hiện tượng khá tiêu biểu cho sự bùng nổ ấy. Trong xã hội khi thực trạng đời sống bị hãm vào mâu thuần gay gắt không cách gì điều hòa được giữa tầng lớp thống trị với quần chúng nhân dân thì từ trong quần chúng ấy sẽ có người nhạy cảm nhất hành động chống lại. xã hội sẽ cho họ là con người "nổi loạn" , và nếu kẻ ấy là nhà văn thì lịch sử vãn học cũng gọi họ là một tâm hồn "nổi loạn". Hiểu như vậy. nữ" sĩ họ Hồ e cũng là mội trái tim đồng điệu. Cuộc dời còn nhiều sương mù bao phủ như của nữ sĩ đang còn thiếu cân bằng lắm chỗ. Tiếng là con danh giá khoa hoạn nhưng là phận con bậc thiếp , hầu, khi cảnh gia đình sa sút ắt mẹ con phải bồng bế nhau ra đi sống cuộc đời lỡ nọ, lỡ kia, hụt hẩng, khó bình thường. Trong lời tựa của mình , Tốn Phong khi nhắc đến điểm tung tích Xuân Hương nghe có giọng vừa kính nể vừa e ngại, bới cớ khi nhắc tới không ích gì mà có thể gợi lên những điều không vui. Hại thay, Xuân Hương lại thông minh , sắc sảo hơn người, có tài lớn. Đặc biệt có bản lĩnh vượt xa bạn khăn yếm. Truyền là Xuân Hương được học ít vì mẹ nghèo, nhưng sức uyên thâm chữ Hán thì riêng một vài điển tích trong Liêu Trai Xuân Hương dùng rất đắt trong thơ chữ Hán đủ làm bằng chứng. Sống một mình với mẹ già, chưa chồng con gì mà nhà đón đến hàng loạt bạn thơ, bạn tình mà toan là trí thức bậc cao và quan lo cả, đã là lạ. Lại coi mình ngang hàng với họ , ngang vai chữ nghĩa, thơ phú, có khi còn sắc sảo hơn họ, nhưng trong chiều sâu và là thực tế đau xót của nữ nhi thì dù sao cũng không trốn dược phận gái và chưa chổng của mình. nên vẫn có gì đó mất cân bằng trong tư cách, trong tâm hồn khiến vui cười bên ngoài mà buồn bên trong. Nếu kể đến chuyện duyên nợ chồng con, tin một điều chắc chắn nhất là Xuân Hương lấy lẽ Trần Phúc Hiển tham hiệp An Quảng, sống hạnh phúc với nhau được vài năm thì chồng bị tử hình vì một tội chẳng sạch sẽ gì , thực tế đó quá ư phủ phàng, khiến tâm hồn Xuân Hương không đến điên loạn là may, còn hụt hẩng , chới với rồi lập lại được thăng bằng để sống được thật không dễ gì. Phận số như vậy nhà thơ làm sao không thương mình và nhìn quanh chị em , làm sao không thương cho tất cả. Làm thơ cho mình và làm thơ cho chị em rất ân tình là rõ. 40 bài "thơ Hồ Xuân Hương" của giáo sư Nguyễn Lộc (Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội 1987) có đến 15
  18. 22 bài thơ nói về phụ nữ. Còn "Lưu hương ký" thì toàn bộ là một tập thơ tình yêu. là mọi nỗi lòng của tác giả trong trường tình. Như vậy nữ sĩ là nhà thơ của phụ nữ là thực tế. Hai mươi hai bài ấy chưa bao trùm mọi tình cảm chị em từng gặp phải trong đời nhưng cũng không ít những cảnh ngộ đáng thương. Có điểm vui và tinh nghịch bởi người thợ vẽ vô tình, có điệu dở dang nên hóa dũng cảm thách thức , có nỗi đau mất mát, có lời khuyên vợ chồng đứt gãy, có nhìn đá thành người có cô đơn khuya khoắt trốnq canh dờn, có lời than số phận bập bềnh, có nỗi trống vắng sau cuộc vui xuân ... Đâu đâu cũng tấm lòng chia sẽ , đằm thám , nhân hậu. Mội đằng thương thì lại một đằng ghét. Ghét bọn giả đạo đức dù là quân tử. sư hay quan. Đó là lời nói về phụ nữ. Còn 18 bài thơ kia là những gì ? toàn là cảnh thiên nhiên, vật thiên nhiên , vật dùng trong nhà. Nhưng sao lại ghép vào đấy một hình ảnh ngầm rất kỳ lạ, khiến người đọc liên tưởng lôi thôi đến này nọ. Lại dùng một ngôn ngữ còn kỳ lạ hơn. Tất cả điều như bất bình thường các nhà nghiên cứu trái ý nhau là chỗ này, đồng thanh ca tụng tài nghệ dùng tiếng việt cũng ở đây. Có kẻ muốn thấy một cái gì quá mức thì lại lạc đường. Phải chăng ở đây còn có một sự mất cân bằng ở một dạng khác ? Và đó là một trạng thái "bệnh hậu" sau "trận đau" thập tử nhất sinh cho đời mình. trận đau không bao giờ lành được. Có phải mấy điều trên đây rút ra từ thời đại , từ cuộc đời. từ thơ của Xuân Hương là "phẩm cách cuộc đời" nữ sĩ, cuộc đời một nhà thơ phụ nữ "độc đáo vô song" ?. 16
  19. CHƯƠNG 2: CÁI NHÌN CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG TRÊN BÌNH DIỆN TỰ NHIÊN Đối với phụ nữ, Hồ Xuân Hương có một cái nhìn riêng, không giống ai. Cái nhìn ấy bắt nguồn từ thời đại nhà thơ sống và từ cuộc đời mình, như trên kia đã nói qua. Về tính chất, đó là cái nhìn nhân đạo chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác Lênin coi con người "không chỉ là một sinh thế tự nhiên mà còn là một sinh thể tự nhiên có tính người, tức là tồn lại cho chính nó". Do dó, con người "phải biểu lộ và khẳng định như là một sinh thể đặc chủng trong tồn tại của nó và trong tri thức của nó" Trường Chinh cũng viết. : "Chủ nghĩa nhân đạo cộng sản chủ nghĩa phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của con người, tin ở phẩm chất và lý trí của con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển tự do và tòan diện . làm cho con người thực sự làm chủ vận mệnh của mình và làm chủ tự nhiên" 2F P 1T (1) . Cũng nói theo sách ấy và hiểu một cách dơn giản thì "trong từng hình thái 1T P xã hội, bất kỳ cái gì tôn trọng, tin tưởng, ca ngợi, đề cao , bảo vệ, phát huy, phát triển con người , cái đó là nhân đạo , còn ngược lại là vô nhân đạo (2). Hiểu như vậy thì con người vừa F 2 P T 1 T 1 P là sinh thể tự nhiên đồng thời là một sinh thể xã hội. cho nên , có thể xem xét cái nhìn nhân đạo chủ nghĩa ở hai bình diện tự nhiên và bình diện xã hội . Cái nhìn trên bình diện tự nhiên đối với phụ nữ sẽ được xem xét trong mối quan hệ âm dương , trong tín ngưỡng phồn thực và trong sự sống nói chung. Kinh Dịch xây dựng trên quan niệm âm dương. Quan niệm âm dương của người Trung Hoa làm cơ sở cho triết học cổ Trung Hoa, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống dân tộc Trung Hoa hàng mấy nghìn năm nay. Trong sự giao lưu văn hóa, do hoàn cảnh địa lý lịch sử, quan niệm âm dương của Dịch học cũng đã ảnh hưởng đến đời sống văn hóa của nước ta. Theo Nguyễn Hiến Lê trong cuốn "Kinh Dịch đạo của người quân tử" (Nhà xuất bản Văn học, 1994) thì các nhà nguyên ngữ học Trung Hoa đã cho biết chữ Dương và chữ. Âm có hình thức và nghĩa mới đầu như sau : Chữ Dương ban đầu : Chữ Dương bây giờ : Bên trái là sườn núi, bên phải là mặt trời lên khỏi chân trời dưới là những tia nắng. Chữ Dương chỉ ánh nắng, chỉ phía sáng. Chữ Âm ban đầu : (1) Mác Anghcn, trích lác phẩm thời kỳ đầu trang 550 -598. Dẫn theo cuốn Đặc điểm có tính qui luật của lịch sử văn học Việt Nam - Lê Trí viên Đại Học sư Phạm Xuất bản 1984. trang 185. (2) Dẫn theo sách Đặc điểm có tính qui luật ... trang 185. 17
  20. Chữ Âm bây giờ : Bên trái là sưởi núi, bên phải phía trên là nóc nhà phía dưới là đám mây Chữ Âm chỉ phía mặt trời bị che khuất không có ánh sáng, chỉ phía tối. Phía có ánh sáng thì ấm áp, cây cối tươi tốt. phía không có ánh nắng thì lạnh lẽo, cây cối không phát triển, do đó âm dương từ cái nghĩa tối sáng chuyển qua nghĩa lạnh nóng, đêm ngày, mùa đông mùa hè, mặt trăng mặt trời, chết sống, yến mạnh. mềm cứng, giống cái giống đực ... Theo quan niệm trong kinh Dịch, nguồn gốc của vũ trụ là Thái cực. Thái cực có nghĩa là lớn hơn hết, cao hơn hết, trước hơn hết. Nó là cái khí Liên nhiên, một thứ linh căn bất sinh bất diệt, huyền diệu, trong đó tiềm phục hai nguyên tố ngược nhau về tính chất : Âm và Dương. Đây là quan niệm tiến bộ so với quan niệm cho rằng Thượng Đế sinh ra và làm chủ vũ trụ. Như vậy Âm Dương được thống nhất mới thành vũ trụ. Đó cũng là nhất nguyên luận trong quan niệm về vũ trụ của Dịch. Âm Dương tuy tương phản nhưng cũng tương ứng, tương cầu. tương giao. có tương giao mới có tương thôi. tương ma, Lương thế để tương thành : có cái này thì mới có cái kia, có cái này thì cái kia mới làm tròn nhiệm vụ của nó trong vũ trụ, trong đó sự tương giao là quan trọng nhất : giống đực giống cái cả trời đất nữa (vì trời đất cũng là âm dương) có giao cảm với nhau rồi mới có vạn vật, vạn vật mới sinh nở biến hóa được . Cho nên không thể có dương mà không có âm, không thể có sống mà không có chết, có giống đực mà không có giống cái . Phải có đủ cả hai thì mới thành một hiện tượng được, mới thành vũ trụ được. Một trong những vấn đề mà Dịch quan tâm tới nhất. là vấn đề nam nữ, vợ chồng. Vì nó là "thíên địa chi đại nghĩa " có âm dương, nam nữ, mới có vợ chồng, gia đình và xã hội. Tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy nữ sĩ có tiếp nhận quan niệm âm dương, nhìn nhận phụ nữ trong quan niệm âm dương của Dịch học. Chúng ta có thể cảm nhận một điều là nữ sĩ thường nói về người phụ nữ trong quan hệ với người đàn ông ở các bình diện khác nhau. Trước hết là thơ nữ sĩ nói về chuyện giao phối giữa nam giới với phụ nữ . Nói trực tiếp là nói "Năm thì mười họa hay chăng chớ. Một tháng đôi lần có cũng không" nói gián tiếp là nói bằng các "nghĩa ngầm" qua các bài thơ nói về sự việc : Đánh đu, Dệt cửu, Trống thưng, Đá ông Chồng bà Chồng ... Chính ở điểm này mà có một số người cho rằng Hồ Xuân Hương "khủng hoang tình dục". Họ cho rằng Hồ Xuân Hương trẻ đẹp. đầy sức sống nhưng tình duyên trác trở, thèm khát nhục dục, mà viết nên những bài thơ dâm ấy, kỳ thực không phải như thế. Không có sự tương giao giữa âm và dương. 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản