intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975)

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:78

0
77
lượt xem
33
download

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975) bao gồm những nội dung khái quát về Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa; đường lối ngoại giao của Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1975; các hoạt động trong quan hệ song phương giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Lịch sử: Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955 - 1975)

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Tiến Dũng QUAN HỆ GIỮA ĐÀI LOAN VỚI VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955 - 1975) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Thành phố Hồ Chí Minh – 2014
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phạm Tiến Dũng QUAN HỆ GIỮA ĐÀI LOAN VỚI VIỆT NAM CỘNG HÒA (1955 - 1975) Chuyên ngành: Lịch sử thế giới Mã số: 60 22 03 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ BÍCH LIÊN Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
  3. LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Hà Bích Liên đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, góp ý, chỉnh sửa luận văn cho tôi; đồng thời cô luôn là một người thầy, người đồng hành cùng tôi, cô đã động viên và khích lệ tinh thần tôi rất nhiều. Chính những điều này đã giúp tôi thực sự có động lực, niềm tin và sự trưởng thành để hoàn tất luận văn này. Tôi cũng xin được gửi tấm lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Cảnh Huệ, TS. Phan Văn Hoàng, TS. Lê Phụng Hoàng và TS. Trịnh Tiến Thuận, những người thầy đã góp ý và chỉnh sửa để luận văn hoàn chỉnh hơn. Tôi chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử đã tận tình dạy bảo tôi trong suốt quá trình học tập. Tôi chân thành cảm ơn những người bạn đã giúp đỡ cả về tài chính cũng như tinh thần tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến các anh chị phục vụ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II và các anh chị thủ thư ở Thư viện Khoa học Tổng hợp, Thư viện Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn và cung cấp tư liệu trong suốt quá trình thực hiện đề tài của tôi. Sau cùng, cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến gia đình - đã luôn là mái ấm thật sự giúp tôi trưởng thành và có được thành quả như ngày hôm nay. Xin kính dâng lên Bố tôi công trình này và con cũng đã hoàn thành được tâm nguyện của Bố. Một lần nữa, chân thành tri ân! Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 01 năm 2014 Phạm Tiến Dũng
  4. MỤC LỤC Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀI LOAN VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA .... 8 1.1. Đài Loan........................................................................................... 8 1.1.1. Lược sử Đài Loan từ năm 1949 đến nay ....................................... 8 1.1.2. Chính phủ Đài Loan ...................................................................10 1.2. Việt Nam Cộng hòa..........................................................................13 1.2.1. Giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa: 1955-1963 .....................................13 1.2.2. Giai đoạn chuyển tiếp: 1963-1967 ...............................................15 1.2.3. Giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa: 1967-1975 .......................................17 Tiểu kết chương 1 ....................................................................................19 Chương 2. ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO CỦA ĐÀI LOAN VỚI VIỆT NAM CỘNG HÒA TỪ 1955 ĐẾN 1975......................21 2.1. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa .................................................................................21 2.2. Thiết lập liên minh chống lại các nước theo hệ thống xã hội chủ nghĩa.....22 2.2.1. Hội nghị tối cao các nước “chống Cộng” .....................................22 2.2.2. Hướng đến mục tiêu chống lại chủ nghĩa xã hội của liên minh Đài Bắc và chính quyền Ngô Đình Diệm .....................................24 2.3. Không còn được Liên Hiệp Quốc công nhận và những thay đổi trong đường lối ngoại giao của Đài Loan ...........................................25 2.4. Chính sách ngoại giao trong quan hệ giữa hai bên sau Hiệp định Paris 27-01-1973 ..............................................................................32 Tiểu kết chương 2 ....................................................................................34 Chương 3. CÁC HOẠT ĐỘNG TRONG QUAN HỆ SONG PHƯƠNG
  5. GIỮA ĐÀI LOAN VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA ....................36 3.1. Quan hệ về quân sự ..........................................................................36 3.1.1. Viện trợ quân sự .........................................................................36 3.1.2. Tranh chấp trên Biển Đông bằng hoạt động quân sự và ngoại giao ...38 3.2. Quan hệ Kinh tế - thương mại ...........................................................45 3.2.1. Hội nghị kinh tế Hoa -Việt ..........................................................45 3.2.2. Trao đổi thương mại ...................................................................46 3.2.3. Thiết lập Phái bộ Nông nghiệp Trung Hoa dân quốc tại Việt Nam Cộng hòa ...........................................................................47 3.2.4. Dự thảo Hiệp định thư về phái đoàn kiến thiết Trung Hoa dân quốc tại Việt Nam Cộng hòa .......................................................49 3.2.5. Vấn đề viện trợ của Đài Loan cho Việt Nam Cộng hòa.................52 3.3. Văn hóa - Xã hội ..............................................................................53 3.3.1. Ký kết thỏa ước văn hóa giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa....53 3.3.2. Một số hoạt động văn hóa khác ...................................................55 Tiểu kết chương 3 ....................................................................................58 KẾT LUẬN ..............................................................................................60 TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................62
  6. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nửa sau thế kỷ XX, thế giới đầy những biến động. Mối quan tâm chung của nhân loại trong giai đoạn đó không phải là biến đổi khí hậu, trái đất nóng dần lên, băng tan ở Bắc cực hay ô nhiễm môi trường, mà là chiến tranh và những cuộc đối đầu giữa các quốc gia, các hệ thống chính trị. Nửa sau thế kỷ XX, thế giới chưa một ngày im tiếng súng, những cuộc nội chiến và sự can thiệp của các nước lớn làm nhiều đất nước bị phân chia giới tuyến hay chia thành hai thực thể chính trị, trong đó sự phân chia Trung Quốc - Đài Loan là một ví dụ điển hình. Nằm trong khu vực Đông Á, lãnh thổ của chính phủ Đài Loan đã từng bao trùm toàn cõi Trung Quốc sau lệnh ngưng bắn tạm thời trong cuộc nội chiến Trung Quốc. Năm 1949, sau cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở Trung Quốc toàn bộ Trung Hoa đại lục thuộc quyền kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và từ đó đến nay, chính phủ Đài Loan chỉ quản lý các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Kim Long và Mã Tổ. Vì những lý do chính trị, Đài Loan đôi khi còn được các tổ chức quốc tế gọi là "Trung Hoa Đài Bắc". Mặc dù bị gạt ra khỏi Hội Đồng bảo An Liên Hiệp Quốc và không còn được công nhận là thành viên của Liên Hiệp Quốc từ ngày 25-10-1971 nhưng Đài Loan vẫn giữ vững vị thế độc lập với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, mềm dẻo, linh hoạt trong việc hoạch định và thi hành chính sách đối ngoại của mình. Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Đài Loan đã trở thành một khu vực công nghiệp mới và được coi là một trong bốn con rồng của Châu Á về phát triển kinh tế-xã hội. Từ năm 2000 đến nay, trong mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực, Đài Loan phát triển mạnh trên phương diện hợp tác kinh tế, thương mại và văn hóa. Vì lý do đó, tìm hiểu vấn đề thuộc lĩnh vực quan hệ quốc tế của Đài Loan trong lịch sử giai đoạn
  7. 2 nửa sau thế kỷ XX sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đường lối đối ngoại của một vùng lãnh thổ vốn khá gần với chúng ta về mặt địa lý và đang có những ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt là trong thập niên 60-70, quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực nằm trong vòng xoáy của chiến tranh Lạnh, của những cuộc chiến đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, giữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và chủ nghĩa đế quốc. Quan hệ giữa Đài Loan với các nước trong khu vực cũng không đi ngoài sự ảnh hưởng đó. Do vậy, trước năm 1975, trong khu vực châu Á, Đài Loan có mối quan hệ khá thân thiết với chính quyền Việt Nam Cộng hoà trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa và xã hội. Nghiên cứu những chính sách đối ngoại hay quan hệ giữa một quốc gia, vùng lãnh thổ hay một thực thể chính trị đương thời với Việt Nam Cộng hòa là một vấn đề thuộc về khoa học lịch sử và cần được nghiên cứu một cách khách quan khoa học. Từ trong quá khứ có thể có những bài học vẫn còn giá trị với hiện tại, tương lai và lợi ích của dân tộc Việt Nam. Mặt khác, quan hệ giữa Đài Loan với các quốc gia trong khu vực ở các thời kỳ khác nhau-và trong trường hợp này là với chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn còn là mảng trống vắng, chưa được nghiên cứu ở Việt Nam và hẳn rằng vẫn còn những vấn đề khoa học cần làm sáng tỏ. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu sẽ là những vấn đề liên quan đến sự thay đổi trong quan hệ trên nhiều lĩnh vực khác nhau từ chính trị, quân sự cho đến kinh tế-thương mại và văn hóa-xã hội. Trong quá khứ quan hệ giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau và trên cở sở lợi ích của mỗi bên. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã kết thúc nhưng trong mối quan hệ đã từng có giữa hai chính thể này vẫn còn đó những hệ lụy lịch sử, mà vấn đề biển Đông và tranh
  8. 3 chấp lãnh hải trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một ví dụ. Do vậy, tìm hiểu về quan hệ đã từng xảy ra giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa cũng là góp phần hệ thống lại những sự kiện lịch sử đã xảy ra trên hai vùng đảo đó của tổ quốc Việt Nam, góp thêm những chứng cứ khoa học liên quan đến chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xuất phát từ những luận điểm trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa (1955-1975)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử thế giới của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Đây là một đề tài nghiên cứu ít được quan tâm, hầu hết các tư liệu liên quan để tìm hiểu vấn đề quan hệ giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa đều nằm trong trung tâm lưu trữ, chủ yếu là các văn bản, công văn, thư từ qua lại giữa hai bên. Nguồn tư liệu gốc chủ yếu (Trung tâm lưu trữ Quốc gia II) bao gồm 76 tài liệu, tổng cộng 454 trang, bao gồm các báo cáo, diễn văn, công điện, công văn, nghị định ở các cấp độ khẩn, thượng khẩn, mật, tối mật xung quanh các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế thương mại và văn hóa-xã hội. Một số tư liệu quan trọng tương ứng với từng lĩnh vực: Các lĩnh vực chung: - Hồ sơ số 20988 v/v bang giao Việt Nam Cộng hòa với Trung Hoa Dân Quốc năm 1955, 1965-1975, Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975); - Hồ sơ số 2130 v/v bang giao Việt Nam Cộng hòa với Trung Hoa Dân Quốc năm 1968-1975, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975). Chính trị: - Chánh sách đối ngoại của Trung Hoa Dân Quốc, hồ sơ số 1866, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị cộng hòa (1967-1975); - Hồ sơ v/v tình hình Trung Hoa Dân Quốc và chính sách ngoại giao của Trung Hoa với các nước năm 1969-1972, hồ sơ số 1866, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967-1975);
  9. 4 - Khái lược về tình hình chính trị và chính sách đối ngoại của Trung Hoa Dân Quốc, hồ sơ 2130, Phông Phủ Tổng thống đệ nhị cộng hòa (1967-1975). Quân sự: Trung Hoa gửi quân sang tham chiến tại Việt Nam, hồ sơ số 9291, Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất cộng hòa (1955-1963). Kinh tế-thương mại: Sơ lược Hội nghị kinh tế Hoa-Việt kỳ 5 sẽ tổ chức tại Taipei từ 13 đến 22/1/1968, hồ sơ số 20988, Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975). Văn hóa-xã hội: - Chấp thuận kết thỏa ước văn hóa giữa Việt Nam Cộng hòa và Trung Hoa Dân Quốc năm 1967, hồ sơ số 29698, Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975); - V/v kính gửi bản dự thảo Hiệp định thư về “Phái đoàn kiến thiết tại Trung Hoa Dân Quốc tại Việt Nam”, hồ sơ số 20820, Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975); - Công điện: Bản văn số 589/NTH/VP/DH/CD ngày 25-3-75 (ngừng lễ kết giao huynh đệ giữa tỉnh Ninh Thuận và Nghi Lan Trung Hoa Dân Quốc), hồ sơ số 20988, Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa (1954-1975). Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài mà hầu hết chỉ là mảng quan hệ giữa hai bên có liên quan đến tranh chấp trên biển Đông mới được xuất bản những năm gần đây ở Việt Nam, có thể kể đến như sau: Nguyễn Thị Minh Xuân (1999), Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa - lịch sử và hiện tại, Luận văn tốt nghiệp khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm TPHCM. Luận văn trình bày có hệ thống về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về các khía cạnh điều kiện tự nhiên, chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo này đồng thời tác giả tập trung vào diễn trình tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XX đến năm 1998. Nội dung chính là đề cập đến chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa, nên những phần có liên quan đến mối
  10. 5 quan hệ giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa cũng chỉ được đề cấp đến trong các sự kiện 1961 và 1974. Cũng với phạm vi nghiên cứu có liên quan đến những tranh chấp giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt là sự kiện 1974, một số tác giả cũng đề cập đến trong các công trình xuất bản về Hoàng Sa, Trường Sa vào những năm 2012-2013. Trong đó có thể kể đến: Đinh Kim Phúc (2012), Hoàng Sa, Trường Sa - luận cứ và sự kiện, Nxb. Thời đại; Nguyễn Việt Long (2013), Hoàng Sa, Trường Sa - các sự kiện, tư liệu lịch sử - pháp lý chính, Tập 1 (thế kỷ XV - 2000), Nxb Trẻ; Trần Công Trục (Chủ biên 2012), Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông, Nxb. Thông tin và Truyền thông; Hoàng Việt Long (2012), Lẽ phải luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Trẻ. Nói chung, các tác phẩm kể trên đều đề cập đến quá trình tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kỳ lịch sử, trong đó tập trung vào giai đoạn 1945-1975 với các bên tranh chấp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và cả Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam từ năm 1969. Học viện ngoại giao Việt Nam (2012), “Đường lưỡi bò” - một yêu sách phi lý, Nxb. Tri thức, Hà Nội. Các tác giả trình bày quá trình hình thành “đường lưỡi bò”, xem xét các quan điểm của Trung Quốc, gồm Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Đài Loan đồng thời phân tích các yêu sách của các chủ thể trên về “đường lưỡi bò”. Từ đó, tác giả kết luận yêu sách về “đường lưỡi bò” bắt đầu từ một bản đồ của Đài Loan xuất bản lần đầu vào năm 1948. Các học giả Trung Quốc đã nỗ lực tìm mọi luận cứ biện minh yêu sách này của họ còn các học giả nước ngoài đưa ra những ý kiến khách quan hơn. Dựa trên luật pháp quốc tế hiện đại, yêu sách về “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là hoàn toàn không có cơ sở và không thể coi là một vấn đề pháp luật nghiêm chỉnh. Quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa được các tác giả đề
  11. 6 cập đến trong các nội dung có liên quan đến những tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa các bên tranh chấp, trong đó có Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đài Loan, Việt Nam Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đồng thời trình bày biên niên sự kiện liên quan đến chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa xung quanh các lĩnh vực quan hệ về chính trị-quân sự, kinh tế-thương mại và văn hóa-xã hội. Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề có liên quan đến quan hệ giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa trong khoảng thời gian từ 1955-1975, tức là từ khi Đài Loan thiết lập Đặc sứ quán tại Việt Nam Cộng hòa cho đến khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa bị sụp đổ ngày 30-4-1975. 4. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Sử dụng phương pháp lịch sử để trình bày các sự kiện theo trình tự thời gian trong bối cảnh quốc tế và khu vực; phương pháp logic để phân tích so sánh đối chiếu, khái quát các vấn đề; cụ thể như phân tích vấn đề trong bối cảnh thế giới, khu vực, nội tại của mỗi quốc gia, tìm những nhân tố ngoại sinh và nội sinh chi phối vấn đề quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa. 5. Đóng góp của đề tài Trong giới hạn của đề tài luận văn thạc sĩ, người viết cố gắng hệ thống nguồn tư liệu gốc về quan hệ giữa Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa, đồng thời cung cấp các tri thức cơ bản về mối quan hệ này trong các lĩnh vực kinh tế-thương mại, văn hóa-xã hội và chính trị-quân sự trong đó có vấn đề tranh chấp Biển Đông.
  12. 7 6. Bố cục của đề tài Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục gồm 3 chương: Chương I: Khái quát về Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa Chương II: Đường lối ngoại giao của Đài Loan với Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1975 Chương III: Các hoạt động trong quan hệ song phương giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa
  13. 8 Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀI LOAN VÀ VIỆT NAM CỘNG HÒA 1.1. Đài Loan 1.1.1. Lược sử Đài Loan từ năm 1949 đến nay Năm 1949, Đảng Cộng sản Trung Quốc mở rộng phạm vi hoạt động của mình ở Trung Quốc. Ngày 19-5-1949, tư lệnh quân đội Đài Loan Garisson tuyên bố tình trạng khẩn cấp (thiết quân luật) trên toàn Đài Loan. Sau đó, một lực lượng khoảng 300 000 lính Quốc dân Đảng kéo ra Đài Loan. Khi chính quyền Quốc dân Đảng từ chối thỏa hiệp về chương trình 8 điểm của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chiến sự ác liệt đã diễn ra ở Quảng Đông (Canton) và Hạ Môn (Amoy) vào tháng 10. Sau khi Quốc dân Đảng bị đánh bại năm 1949, Tưởng Giới Thạch dời Chính phủ Trung Hoa dân quốc tới Đài Loan và tuyên bố Đài Bắc là Thủ đô lâm thời của Trung Quốc. Đi theo cuộc rút lui của Tưởng Giới Thạch là hai triệu người tị nạn từ lục địa Trung Quốc, thêm vào với dân số khoảng sáu triệu người đã sống ở hòn đảo từ trước đó. Ngày 5-1-1950, Mỹ đưa ra chính sách mà Mỹ theo đuổi trong tương lai đối với Quốc dân Đảng: “không dính líu vào cuộc nội chiến ở Trung Quốc, không cung cấp viện trợ hay cố vấn quân sự cho lực lượng Quốc dân Đảng. Thậm chí, Mỹ cũng không gộp Đài Loan vào tuyến phòng thủ của họ ở Tây Thái Bình Dương” [3, tr.77]. Năm 1950, cuộc xung đột giữa Bắc và Nam Triều Tiên đã bắt đầu xảy ra từ khi quân Nhật rút đi năm 1945, leo thang thành một cuộc chiến tranh toàn diện, và trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman một lần nữa can thiệp và phái Hạm đội 7 tới Eo biển Đài Loan để "trung lập hóa" eo biển. Theo Hiệp ước Hòa bình San Francisco, bắt đầu có hiệu lực ngày 28-4-1952, và Hiệp ước Đài Bắc, bắt đầu có hiệu lực ngày 5-8-1952, Nhật Bản chính thức rút bỏ mọi quyền, yêu
  14. 9 sách và danh nghĩa với Formosa (Đài Loan) và Pescadores (Bành Hồ), và rút bỏ mọi hiệp ước đã ký với Trung Quốc trước năm 1942. Cả hai hiệp ước đều không đề cập tới việc ai sẽ là người nắm quyền kiểm soát hòn đảo, một phần để tránh liên quan vào nội chiến Trung Quốc. Những người ủng hộ Đài Loan độc lập đã sử dụng sự thiếu sót này để đặt nghi vấn về tuyên bố của cả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và chính phủ Đài Loan về Đài Loan và cho rằng tương lai của Đài Loan phải do người dân tại đây tự quyết. Vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Mỹ Harry S.Truman đã ra lệnh cho hạm đội 7 của Mỹ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp có sự tấn công từ Trung Quốc. Ngoài ra, Mỹ còn cấp cho Đài Loan nhiều khoản viện trợ kinh tế. Ngày 3-3-1955, ngoại trưởng Geoge K.C.Yeh và ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles tiến hành đàm phán nhằm chấn chỉnh hiệp ước phòng thủ chung Trung-Mỹ ở Đài Bắc. Từ đó, tình hình nội bộ Đài Loan trở nên ổn định hơn [12 tr.30-31]. Trong thập niên 1960 và 1970, Trung Hoa dân quốc bắt đầu phát triển trở thành một nước phát triển công nghiệp hóa kỹ thuật cao, trong khi vẫn duy trì một chính phủ độc tài, độc đảng. Vì cuộc Chiến tranh Lạnh, đa số các quốc gia phương Tây và Liên Hiệp Quốc vẫn coi Trung Hoa dân quốc là chính phủ đại diện hợp pháp duy nhất của Trung Quốc cho tới tận thập niên 1970, khi đa số các nước lại quay sang công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, Đài Loan không là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Đài Loan có quan hệ ngoại giao chính thức với 23 quốc gia, chủ yếu tại Trung Mỹ và châu Phi và châu Đại Dương, gồm: Belize (1989), Burkina Faso (1994), Costa Rica (1959), Cộng hòa Dominica (1957), El Salvador (1961), Guatemala (1960), Haiti (1956), Thành Vatican (Tòa Thánh) (1942), Honduras(1965), Kiribati (2003), Malawi (1966), Quần đảo Marshall (1998), Nauru (1980,2005), Nicaragua (1990), Palau (1999), Panama (1954),
  15. 10 Paraguay (1957), Saint Kitts và Nevis (1983), Saint Vincent và Grenadines (1981), São Tomé và Príncipe (1997), Swaziland (1968), Quần đảo Solomon (1983) và Tuvalu (1979). 1.1.2. Chính phủ Đài Loan Chính phủ quốc gia đầu tiên của Đài Loan theo chế độ cộng hòa được thành lập ngày 1-1-1912, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên là Đại Tổng thống lâm thời. Đại biểu các tỉnh được gửi tới để xác nhận quyền lực của chính phủ quốc gia và sau này họ cũng tham gia thành lập nên nghị viện đầu tiên. Chính phủ quốc gia này không những không tập trung được quyền lực mà còn tồn tại trong thời gian ngắn bởi các vị tướng lĩnh kiểm soát cả các tỉnh trung tâm và miền bắc Trung Quốc. Số lượng hạn chế các đạo luật do chính phủ này thông qua gồm nghi thức chấp nhận thoái vị của nhà Thanh và một số sáng kiến kinh tế. Một thời gian ngắn sau khi Viên Thế Khải nổi lên, quyền lực của nghị viện chỉ còn là hình thức; nhiều hành động vi phạm hiến pháp của Viên Thế Khải chỉ gặp phải những phản đối mang tính hình thức. Các thành viên Quốc dân Đảng trong nghị viện sẽ nhận được 1.000 bảng Anh nếu họ từ bỏ Đảng tịch. Viên Thế Khải vẫn giữ quyền lực tại địa phương bằng cách gửi các vị tướng tới giữ chức Thống đốc các tỉnh hay giữ liên minh với những người đang nắm giữ các chức đó. Các cường quốc nước ngoài cũng bắt đầu công nhận quyền lực của Viên Thế Khải: khi Nhật Bản tới Trung Quốc với 21 yêu cầu, chính Viên Thế Khải là người xem xét chúng ngày 25-5-1915. Khi Viên Thế Khải chết, nghị viện năm 1913 được triệu tập lại để công nhận tính pháp lý cho một chính phủ mới. Tuy nhiên, quyền lực thật sự khi ấy được chuyển vào tay các lãnh đạo quân sự, tạo thành giai đoạn của các thế lực quân phiệt. Nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh là Tổng thống Đài Loan, người
  16. 11 được bầu phổ thông dân chủ với nhiệm kỳ bốn năm cùng Phó tổng thống. Tổng thống có quyền đối với năm nhánh hành chính (hay Viện): Giám sát viện, Khảo thí viện, Hành chính viện, Tư pháp viện và Lập pháp viện. Tổng thống chỉ định các thành viên của Hành chính viện vào chính phủ của mình, gồm cả một Thủ tướng, người chính thức là Chủ tịch Hành chính viện; các thành viên chịu trách nhiệm về mặt chính sách và hành chính. Cơ quan lập pháp chính là Lập pháp viện theo chế độ đơn viện với 225 ghế: 168 ghế được bầu theo hình thức phổ thống đầu phiếu; 41 ghế được chọn dựa trên tỷ lệ phiếu toàn quốc của các đảng chính trị; 8 ghế cho các khu vực bầu cử ngoài nước và 8 ghế dành cho người bản xứ dựa trên cùng tiêu chí. Các thành viên Lập pháp viện làm việc với nhiệm kỳ 3 năm. Tiền thân của Quốc hội đơn viện là Quốc dân Đại hội và đoàn bầu cử thường trực, giữ một số chức năng nghị viện, nhưng Quốc dân Đại hội đã bị xóa bỏ năm 2005 và quyền lập hiến được trao cho Lập pháp viện cùng tất cả các cử tri của nhà nước Cộng hòa thông qua trưng cầu dân ý. Tư pháp viện là cơ quan tư pháp cấp cao nhất của Đài Loan. Cơ quan này có trách nhiệm giải thích hiến pháp, các luật và các nghị định, phán quyết các vụ việc hành chính và các hoạt động công cộng. Chủ tịch và Phó chủ tịch Lập pháp viện cùng 15 Thẩm phán hình thành nên Hội đồng Đại Thẩm phán. Họ được giới thiệu và chỉ định bởi Tổng thống nhà nước Cộng hòa, với sự ưng thuận của Lập pháp viện. Tòa án cấp cao nhất-Tòa án Tối cao gồm một số nhóm dân sự và hình sự, mỗi nhóm gồm một Thẩm phán chủ tịch và bốn Thẩm phán cấp dưới, tất cả đều được chỉ định để làm việc suốt đời. Năm 1993, một tòa án hiến pháp độc lập được thành lập để giải quyết các tranh cãi hiến pháp, giám sát các hoạt động của các đảng chính trị và tăng tốc quá trình dân chủ hóa. Trong hệ thống tòa án Đài Loan không có bồi thẩm đoàn nhưng quyền được xét xử đúng luật vẫn được pháp luật bảo hộ và được tôn trọng
  17. 12 trên thực tế; nhiều vụ việc đã được nhiều thẩm phán cùng tham gia xét xử. Hệ thống chính trị Đài Loan không đi theo các mô hình truyền thống. Thủ tướng được Chính phủ lựa chọn mà không cần có sự đồng thuận từ nhánh Lập pháp, nhưng nhánh Lập pháp có thể thông qua luật mà cả Tổng thống và Thủ tướng đều không có quyền phủ quyết. Vì thế, Tổng thống và nhánh Lập pháp ít khi muốn đàm phán với nhau về việc làm luật nếu họ thuộc hai phe chính trị đối lập. Trên thực tế, kể từ khi vị Tổng thống thuộc Liên minh Phiếm Lục Trần Thủy Biển lên nắm quyền năm 2000 và việc Phiếm Lục tiếp tục nắm đa số tại Lập pháp viện, tiến trình lập pháp liên tục bị đình trệ, bởi hai bên đều không nhượng bộ. Một điểm đáng chú ý khác trong hệ thống chính trị Đài Loan; vì trước kia Đài Loan nằm dưới sự lãnh đạo của một đảng chính trị ưu thế, quyền lực thực sự của hệ thống chuyển từ chức vụ này tới chức vụ khác, phụ thuộc vào việc vị lãnh đạo quốc gia khi ấy nắm chức gì. Điều này khiến quyền hành pháp hiện tại tập trung chủ yếu trong văn phòng Tổng thống chứ không phải Thủ tướng. Thuật ngữ "đảng cầm quyền" trước kia được gán cho Quốc dân Đảng, vì đây là đảng độc tài từng kiểm soát mọi cơ quan chính phủ (đảng cầm quyền cũng có thể được áp dụng gọi cho đảng chiếm đa số trong hệ thống nghị viện). Tuy nhiên, ngày nay thuật ngữ "đảng cầm quyền" đã được sử dụng rõ ràng, riêng biệt tại Đài Loan và được dùng để gọi đảng đang nắm quyền Tổng thống. Dù vậy, điều này không hoàn toàn chính xác vì Đài Loan không có một hệ thống nghị viện, theo đó nhánh hành pháp do cùng đảng hay liên minh nắm đa số trong nhánh lập pháp nắm giữ. Thuật ngữ này hiện được sử dụng bởi Thủ tướng do Tổng thống chỉ định, vì thế quyền hành pháp thường do đảng của Tổng thống chi phối [112].
  18. 13 1.2. Việt Nam Cộng hòa 1.2.1. Giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa: 1955-1963 Ngày 7-7-1954, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm, người được Mỹ nuôi dưỡng từ lâu về nước làm Thủ tướng bù nhìn thay thế Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Tháng 9-1954, Mỹ cử tướng L.Collins sang làm đại sứ ở Sài Gòn. Tháng 11-1954, Collins đề ra kế hoạch 6 điểm để củng cố chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Kế hoạch Collins gồm những vấn đề sau: Bảo trợ chính quyền Diệm, viện trợ thẳng cho chính phủ Sài Gòn; Xây dựng quân đội Nam Việt Nam gồm 15 vạn người do Mỹ trang bị, huấn luyện; Bầu cử Quốc hội ở miền Nam Việt Nam, hợp pháp hóa chính quyền Sài Gòn; Định cư cho số người công giáo miền Bắc Việt Nam di cư vào miển Nam Việt Nam và vạch kế hoạch cải cách điền địa; Thay đổi chế độ thuế khóa, dành ưu tiên cho hàng hóa của Mỹ ở miền Nam Việt Nam; Đào tạo cán bộ hành chính cho chính quyền Sài Gòn. Mỹ ngày càng gây sức ép với Pháp hòng thay thế vai trò của Pháp ở miền Nam Việt Nam. Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị quân ngụy ở miền Nam Việt Nam cho Mỹ. Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam Việt Nam cho Ngô Đình Diệm. Ngày 17-7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức “trưng cầu dân ý”, phế truất Bảo Đại và đưa bản thân lên làm Tổng thống.
  19. 14 Sau khi lên nắm chính quyền, Ngô Đình Diệm đã xây dựng miền Nam Việt Nam thành một “quốc gia mạnh” của “thế giới tự do”, có một “đạo quân cảnh sát” và một “đạo quân sen đầm” lớn mạnh để chống cách mạng, chống cộng sản. Để tạo chỗ dựa, Ngô Đình Diệm cho thành lập “Đảng Cần lao nhân vị”, phong trào “cách mạng quốc gia”, “thanh niên cộng hòa”, “phụ nữ liên đới” từ trung ương đến địa phương nhằm tập hợp bọn phản động trong giai cấp tư sản, địa chủ, Thiên chúa giáo và những tên có hận thù với cách mạng làm hậu thuẫn cho chính quyền Diệm. Ngày 4-3-1956, Diệm tổ chức bầu “Quốc hội” và ngày 26-10-1956 cho công bố “Hiến pháp Việt Nam cộng hòa”. Đây là việc làm hoàn toàn bất hợp pháp, trái với tinh thần hiệp định Geneve nhằm biến miền Nam Việt Nam thành một “quốc gia” [7, tr.155-157]. Tuy nhiên, từ năm 1959, sự ủng hộ của Mỹ đối với chính phủ Ngô Đình Diệm giảm dần. Các chính khách Mỹ bắt đầu phàn nàn và cho rằng chế độ do Ngô Đình Diệm đứng đầu thiếu dân chủ. Kenneth Young cho rằng: “Ông Diệm từ chối tổ chức bầu cử Hội đồng Tỉnh, không chấp nhận những phần tử quốc gia chân chính, có uy tín vào chính phủ và không tạo dựng được một phong trào nhân dân khả dĩ ủng hộ ông tích cực, toàn diện. Trái lại, khuynh hướng bảo thủ và độc đoán đã đẩy ông lìa xa quần chúng. Hoa Kỳ thì tỏ ra bất lực trong việc tiên liệu chiến dịch khủng bố của cộng sản và tình hình suy sụp ở nông thôn; năm 1957 các cuộc ám sát viên chức địa phương đã là dấu hiệu một chiến tranh Đông Dương thứ hai, nhưng chính sách Hoa Kỳ vẫn không sửa đổi thích nghi mà lại cứ tiếp tục tiến hành viện trợ kinh tế ước lệ và sự viện trợ quân sự chỉ nhằm tạo dựng một quân đội qui ước” [24, tr.11]. Phong trào Phật giáo cùng phong trào đấu tranh chính trị, vũ trang ở nông thôn đã làm cho Chính phủ Ngô Đình Diệm ngày càng khủng hoảng sâu sắc, lung túng, bị động, khoét sâu mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Sài Gòn. Những nhân vật chóp bu trong giới quân sự bắt đầu đứng ra vận động
  20. 15 chống anh em Ngô Đình Diệm. Họ lập ra “Hội đồng Quân nhân cách mạng”, bàn mưu kế lật đổ Diệm-Nhu. Mỹ cũng ráo riết chuẩn bị thay ngựa giữa dòng. Ngày 1-11-1963, Mỹ ủng hộ nhóm tướng lĩnh do Dương Văn Minh cầm đầu làm cuộc đảo chính giết chết anh em Ngô Đình Diệm, hy vọng sau đảo chính sẽ ổn định được chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi để Mỹ đẩy mạnh chiến tranh xâm lược [5, tr.191]. 1.2.2. Giai đoạn chuyển tiếp: 1963-1967 Trái với ý muốn của Mỹ, sau khi nền “Đệ nhất Cộng hòa” với học thuyết “cần lao nhân vị” do Mỹ nặn ra đã bị sụp đổ, chính quyền Sài Gòn ngày càng lao sâu vào thời kỳ khủng hoảng triền miên không lối thoát [2, tr.192]. Ngày 30-1-1964, đảo chính lật đổ Dương Văn Minh do “Hội đồng quân lực” thực hiện, đứng đầu là Nguyễn Khánh. Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh. Ngày 27-8-1964, “Hội đồng quân lực” lại “chỉnh lí”, lập “tam đầu chế”: Minh - Khánh - Khiêm; Ngày 13-9-1964, đảo chính hụt do Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức cầm đầu; Năm 1964, Nguyễn Khánh lật đổ Minh - Khiêm; Ngày 20-10-1964, do sức ép của Mỹ, Nguyễn Khánh phải ra khỏi chính quyền, đưa Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ tướng; Ngày 25-1-1965, “Hội đồng quân lực” hạ Hương rồi đưa Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng; Ngày 19-2-1965, “Hội đồng quân lực” do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội; Ngày 14-6-1965, “Hội đồng quân lực” lật đổ chính quyền dân sự của Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, lập Ủy ban Quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản