ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
TRẦN NGỌC THÚY
THỰC TRẠNG VÀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU
Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC
HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC
TRẦN NGỌC THÚY
THỰC TRẠNG VÀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU
Ở NGƯỜI DÂN TỘC DAO TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC
HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC
Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.01.63
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA
THÁI NGUYÊN, NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian em học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Y Dược Thái
Nguyên, em luôn nhận được sự dạy bảo, hướng dẫn tận tình và sự tạo điều kiện
tối đa của các thầy giáo, cô giáo và người thân.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, bộ phận sau đại học, khoa y tế
công cộng trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện từ việc trang bị
kiến thức qua các môn học đến cách thu thập, xử lý số liệu làm luận văn.
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị
Quỳnh Hoa – Phó khoa y tế công cộng, trưởng bộ môn Sức khỏe môi trường,
Sức khỏe nghề nghiệp, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên là người hướng
dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ủy ban nhân dân, trạm y tế các xã Phan Thanh,
Vũ Nông, Ca Thành huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đặc biệt là các ông/ bà
chủ tịch ủy ban, các trạm trưởng trạm y tế, nhân viên y tế thôn bản và toàn bộ
các hộ gia đình người dân tộc Dao đã hợp tác, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
cho tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn.
Và cuối cùng để có được kết quả này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè
trong lớp cao học K18 khóa học 2014 – 2016, bố mẹ tôi, chồng con tôi và những
người thân trong gia đình đã kịp thời động viên tôi về tinh thần và hỗ trợ về vật
chất để giúp tôi hoàn thành khóa học và luận văn này.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Trần Ngọc Thúy
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: “Thực trạng và sử dụng nhà tiêu ở người dân
tộc Dao tại một số xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là do tự bản thân
tôi thực hiện. Tất cả những số liệu trong đề tài do tôi tham gia thu thập, kết quả
trong luận văn này là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu
nào khác.
Tôi xin đảm bảo tính khách quan, trung thực của các số liệu và kết quả xử
lý trong nghiên cứu này.
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016
Tác giả
Trần Ngọc Thúy
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ y tế BYT
Hộ gia đình HGĐ
Knowledge Attitude Practice: Kiến thức, thái độ, KAP
thực hành
Hợp vệ sinh HVS
Mục tiêu quốc gia MTQG
Trung học sơ sở THCS
Trung học phổ thông THPT
TC, CĐ, ĐH Trung cấp, Cao đẳng, Đại học
Trung tâm y tế TTYT
Vệ sinh môi trường VSMT
Ủy ban nhân dân UBND
Y tế thôn bản YTTB
World Health Organization: tổ chức y tế thế giới WHO
World Toilet Organization: hội nhà vệ sinh thế giới WTO
MỤC LỤC
Trang ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................. 3
1.1. Một số khái niệm ........................................................................................ 3
1.1.1. Khái niệm về môi trường .......................................................................... 3
1.1.2. Định nghĩa sức khỏe .................................................................................. 3
1.1.3. Khái niệm sức khỏe môi trường ................................................................. 3
1.1.4. Khái niệm về nhà tiêu ............................................................................... 3
1.2. Thực trạng sử dụng nhà tiêu hiện nay ..................................................... 4
1.2.1. Tầm quan trọng của việc xử lý phân và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh ...... 4
1.2.2. Những quy định của nhà tiêu hợp vệ sinh .................................................. 6
1.2.2.1.Những quy định chung ............................................................................ 6
1.2.2.2.Những quy định về xây dựng, sử dụng và bảo quản đối với các loại
nhà tiêu ................................................................................................................ 9
1.2.3. Thực trạng sử dụng nhà tiêu trên thế giới ................................................. 12
1.2.4. Thực trạng sử dụng nhà tiêu ở Việt Nam ................................................. 14
1.3. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình
1.3.1. Nguồn lực, hoạt động của các cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh
môi trường ........................................................................................................... 18
1.3.2. Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể ................................................ 19
1.3.3. Về phía người dân. .................................................................................... 20
1.3.3.1.Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân .......................................... 20
1.3.3.2. Phong tục tập quán, thói quen của cộng đồng người dân tộc Dao ......... 21
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................ 23
2.1. Đối tƣợng, địa điểm, thời gian nghiên cứu ............................................. 23
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 23
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu ................................................................................ 23
2.1.3. Thời gian nghiên cứu ............................................................................... 24
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 24
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 24
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu........................................................... 24
2.2.2.1.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ....................................................... 24
2.2.2.2.Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính ........................................................... 25
2.3. Các chỉ số nghiên cứu ................................................................................ 26
2.3.1. Thực trạng sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình ...................................... 26
2.3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
tộc Dao ................................................................................................................ 26
2.3.2.1. Về phía nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương
trình vệ sinh môi trường ..................................................................................... 26
2.3.2.2. Về phía các ban ngành đoàn thể của xã ................................................. 26
2.3.2.3. Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân ......................................... 26
2.4. Phƣơng pháp thu thập thông tin .............................................................. 27
2.4.1. Phỏng vấn ................................................................................................. 27
2.4.2. Quan sát .................................................................................................... 27
2.4.3. Phỏng vấn sâu ............................................................................................ 27
2.4.4. Thảo luận nhóm ........................................................................................ 27
2.5. Cách đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành .......................................... 27
2.5.1. KAP của người dân tộc Dao ..................................................................... 27
2.5.2. Cách phân loại nhà tiêu ............................................................................ 28
2.6. Phương pháp xử lý số liệu .......................................................................... 28
2.7. Sai số và hạn chế sai số ................................................................................ 29
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu ........................................................................... 29
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 30
3.1. Thực trạng và sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở 3 xã huyện Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng ............................................................................................ 30
3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .................................................................. 38
Chƣơng 4: BÀN LUẬN .................................................................................... 51
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 65
KHUYẾN NGHỊ ............................................................................................... 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 68
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ...................................... 30
Bảng 3.2 Tỷ lệ các loại nhà tiêu HGĐ đang sử dụng tại huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng ................................................................................. 32
Bảng 3.3 Đánh giá việc sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình tại 3 xã, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .......................................................... 32
Bảng 3.4 Tỷ lệ loại nhà tiêu hai ngăn HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .......................................................... 33
Bảng 3.5 Tỷ lệ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi HGĐ đang sử dụng tại 3
xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ......................................... 33
Bảng 3.6 Tỷ lệ loại nhà tiêu thấm dội nước HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .......................................................... 34
Bảng 3.7 Tỷ lệ loại nhà tiêu tự hoại HGĐ đang sử dụng tại 3 xã, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .......................................................... 34
Bảng 3.8 Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan
sát đối với nhà tiêu hai ngăn tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
...................................................................................................... 35
Bảng 3.9 Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan
sát đối với nhà tiêu thấm dội nước tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng ................................................................................................ 37
Bảng 3.10 Số lượng cán bộ y tế chuyên trách chương trình vệ sinh môi trường
ở 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ................................... 38
Bảng 3.11 Số lượng cán bộ trạm y tế, y tế thôn bản thực hiện chương trình vệ
sinh môi trường ở 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ....... 38
Bảng 3.12 Tỷ lệ các cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường được tập
huấn về vệ sinh môi trường ............................................................ 39
Bảng 3.13 Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường của xã đã
thực hiện truyền thông về về sinh môi trường ................................ 39
Bảng 3.14 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Phan Thanh,
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ............................................... 40
Bảng 3.15 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Vũ Nông, huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .......................................................... 40
Bảng 3.16 Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Ca Thành,
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ............................................... 41
Bảng 3.17 Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu tại 3 xã, huyện Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng ........................................................................ 45
Bảng 3.18 Thái độ của người dân về vấn đề không có nhà tiêu ảnh hưởng đến
sức khỏe con người và môi trường xung quanh ............................. 45
Bảng 3.19 Thái độ của người dân về vấn đề mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng
....................................................................................................... 46
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu ..................................... 31
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ các hộ gia đình có nhà tiêu tại 3 xã, huyện Nguyên bình,
tỉnh Cao Bằng ............................................................................ 31
Biểu đồ 3.3 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu hai ngăn ........... 46
Biểu đồ 3.4 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước .. 47
Biểu đồ 3.5 Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu tự hoại .............. 47
DANH MỤC HỘP KẾT QUẢ ĐỊNH TÍNH
Hộp 3.1 Ảnh hưởng của nguồn lực và hoạt động của cán bộ y tế đến việc sử
dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã, huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng ................................................................................... 42
Hộp 3.2 Nhu cầu tập huấn về vệ sinh môi trường để nâng cao hiệu quả truyền
thông nhằm làm tăng tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân ............. 43
Hộp 3.3 Ảnh hưởng của sự quan tâm của ban ngành đoàn thể đến việc sử
dụng nhà tiêu của người dân ............................................................. 44
Hộp 3.4 Ảnh hưởng của kiến thức đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
........................................................................................................... 48
Hộp 3.5 Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến việc sử dụng nhà tiêu của
người dân tộc Dao tại 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng .... 49
1
Môi trường sống đã và đang trở thành một trong những vấn đề được quan
tâm nhất và cũng là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại. Bởi lẽ,
môi trường sống gắn bó hữu cơ với cuộc sống của con người, chịu ảnh hưởng
trực tiếp từ quá trình hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người cũng như với
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Sự ô nhiễm của môi trường sống đã
dẫn đến những hiểm họa sinh thái tiềm tàng, mà hậu quả chưa thể nào lường
trước được. Vì thế vệ sinh môi trường là một trong những vấn đề được quan
ĐẶT VẤN ĐỀ
tâm không chỉ ở phạm vi một quốc gia mà đang là vấn đề được quan tâm trên
phạm vi toàn thế giới bởi tầm quan trọng của nó đến sức khỏe con người [23].
Vệ sinh môi trường bao gồm rất nhiều vấn đề như vấn đề về nước sạch,
xử lý rác thải, … nhưng vấn đề sử dụng nhà tiêu đặc biệt được quan tâm nhất
là ở những vùng nông thôn. Ở đó vệ sinh môi trường còn kém, các công trình
vệ sinh còn đơn sơ, chưa đúng tiêu chuẩn, chất thải của người và gia súc chưa
được xử lý đúng cách, chưa đảm bảo vệ sinh, tập quán dùng phân người và
gia súc để bón ruộng và hoa màu vẫn còn tồn tại góp phần làm phát tán mầm
bệnh ra môi trường xung quanh đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người dân.
nhiễm bệnh tật cho con người. Nếu không được quản lý, xử lý đúng kỹ thuật,
phân người sẽ là nguồn lan truyền vi sinh vật gây bệnh và ký sinh trùng đường
ruột ra môi trường bên ngoài, lây bệnh nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng [23].
Bởi phân người từ lâu đã được biết đến là nguồn gây ô nhiễm môi trường, truyền
Nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng nhà tiêu cho thấy số HGĐ có
nhà tiêu và số HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS còn chiếm tỷ lệ thấp. Theo kết quả
nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn thì tỷ lệ HGĐ người Dao ở huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên có nhà tiêu chiếm 29,4%, tỷ lệ số HGĐ có nhà tiêu hai ngăn
2
chiếm 11,4%, nhà tiêu tự hoại 2,0%, nhà tiêu thấm dội nước 0,6% và tỷ lệ
HGĐ có nhà tiêu HVS mới chỉ đạt 16,7% [54].
Nguyên Bình là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Cao Bằng, địa
hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nền
kinh tế phát triển chậm. Tại đây chủ yếu có các dân tộc Tày, Nùng, H’mong,
Dao sinh sống, trong đó người Dao chiếm tỉ lệ 60%. Theo báo cáo thống kê
cho biết tỉ lệ các hộ gia đình có nhà tiêu năm 2013 (29%) và năm 2014 (31%).
Các nhà tiêu hầu hết không đảm bảo vệ sinh. Phần lớn những hộ gia đình
không có nhà tiêu họ thường đi ra ngoài vườn hay bờ suối, bụi cây. Kèm theo
đó là trình độ học vấn còn thấp và họ vẫn giữ những phong thục tập quán lạc
hậu. Chính bởi những phong tục tập quán của cộng đồng người dân tộc nói
chung và cộng đồng người dân tộc Dao nói riêng còn nhiều lạc hậu như vậy
nên đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng sử dụng nhà tiêu của người dân ở
các vùng miền và cũng đã thống kê được tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân
ở các tỉnh thành. Nhưng tại sao cho đến nay tỷ lệ sử dụng nhà tiêu HVS vẫn
còn thấp. Thực trạng sử dụng nhà tiêu của cộng đồng người Dao ở Cao Bằng
cụ thể như thế nào, có khác cộng đồng người Dao ở những nơi khác hay
không. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
tộc Dao. Để trả lời những vấn đề đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực
trạng và sử dụng nhà tiêu ở ngƣời dân tộc Dao tại một số xã thuộc huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”, với các mục tiêu:
1. Đánh giá thực trạng và sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã
thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm 2015.
2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người
dân tộc Dao tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm
2015.
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về môi trường
Môi trường là toàn thể hoàn cảnh tự nhiên (đất, nước, không khí, ánh
sáng, vi sinh vật…), hoàn cảnh xã hội (phong tục tín ngưỡng, sinh hoạt, văn
hóa, nghề nghiệp, gia đình,…) tạo thành những điều kiện sống bao quanh con
người, có ảnh hưởng đến đời sống và sức khỏe con người [14].
1.1.2. Định nghĩa về sức khỏe
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Sức khỏe là trạng thái thoải mái cả
về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh
hay tật.” [14]
1.1.3. Khái niệm sức khỏe môi trường
Sức khỏe môi trường là “Trạng thái sức khỏe của con người liên quan
và chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh” [14].
1.1.4. Khái niệm về nhà tiêu
- Nhà tiêu là hệ thống thu nhận, xử lý tại chỗ phân và nước tiểu của con
người. Việc sử dụng nhà tiêu HVS và xử lý phân đúng kỹ thuật sẽ là thay đổi
theo chiều hướng tốt mô hình bệnh tật ở nông thôn cũng như cải thiện được
môi trường đang ngày một ô nhiễm [14].
- Nguyên tắc xử lý phân: tập trung, cách ly, biến thành vô hại và không làm ô
nhiễm môi trường đất – nước- không khí.
- Yêu cầu đối với một nhà tiêu HVS [14]:
+ Không làm nhiễm bẩn đất xung quanh
+ Không làm nhiễm bẩn các nguồn nước dùng để ăn uống và sinh hoạt
+ Không có mùi hôi thối, không làm hấp dẫn côn trùng
+ Không để cho ruồi nhặng tiếp xúc với phân
+ Vị trí xử lý phân phải sạch sẽ, dễ thoát nước, kín
4
+ Dễ sử dụng bảo quản và dễ sửa chữa
+ Phương pháp xử lý đơn giản, giá thành hạ
+ Phù hợp với điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán từng địa phương
+ Được người dân chấp nhận và tham gia.
1.2. Thực trạng sử dụng nhà tiêu
1.2.1. Tầm quan trọng của việc xử lý phân và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh
Nhu cầu bài tiết của con người không thể thiếu được trong sự sống của
mình. Với lượng phân người hàng ngày thải ra môi trường là hàng chục ngàn
tấn đã và đang góp phần làm ô nhiễm môi trường ở các mức độ khác nhau.
Việc quản lý, thu gom và xử lý không HVS sẽ là hiểm họa của rất nhiều bệnh
tật đối với con người. Mặt khác trong phân người chứa rất nhiều mầm bệnh
gây nguy hiểm cho sức khỏe của cộng đồng (trên 50 loại vi khuẩn gây bệnh
có trong phân người), nếu không được thu gom và xử lý HVS sẽ gây ô nhiễm
nguồn nước, ô nhiễm thực phẩm, ô nhiễm môi trường xung quanh và gây nên
nhiều loại bệnh tật trong đó có bệnh tiêu chảy, giun sán, ngoài da, phụ khoa,
mắt và các bệnh khác. Trên toàn thế giới hàng năm có gần 2 tỷ người bị lây
nhiễm ký sinh trùng đường ruột (giun đũa, giun tóc và giun móc) [51]. Chỉ
tính riêng bệnh tiêu chảy cũng chiếm 4,1% gánh nặng bệnh tật và gây tử vong
cho 1,8 triệu người mỗi năm trên toàn cầu (tính cả bệnh tả). Ước tính, 88%
trường hợp này qui cho việc sử dụng nước không an toàn, thiếu nhà tiêu HVS
và hành vi vệ sinh kém [27]. Ở Việt Nam, ước tính các bệnh liên quan tới
nước và vệ sinh chiếm 7,5% gánh nặng bệnh tật [9].
Môi trường nước là trung gian lây truyền các mầm bệnh, đặc biệt là các
bệnh lây truyền theo đường phân - miệng và có thể gây ra những vụ dịch lớn
ảnh hưởng đến sức khỏe người dân. Sử dụng nước sinh hoạt và nhà tiêu
không HVS làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật của người dân và ảnh hưởng trực tiếp
đến môi trường sống của cộng đồng. Nước bị nhiễm phân được phát hiện qua
5
việc xét nghiệm nước tìm thấy sự có mặt của các vi khuẩn đường ruột, đặc
biệt là Escherichia Coli. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long việc sử dụng loại
cầu tiêu ao cá đã gây ô nhiễm nặng nề cho tất cả các nguồn nước bề mặt.
Một trong những yếu tố quan trọng của môi trường sống là đất. Các
thành phần vật lý, hóa học của đất liên quan trực tiếp đến sức khỏe của con
người. Đất là nơi trồng trọt, cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm hàng
ngày của con người. Môi trường đất bị ô nhiễm do quản lý phân người không
tốt có thể thông qua nguồn cung cấp thực phẩm hàng ngày, bụi bặm hoặc qua
tay của người nhiễm bẩn không rửa để gây bệnh cho con người [23].
Tình trạng quản lý phân người không tốt trong đó có việc sử dụng các
loại nhà tiêu không HVS hay không sử dụng nhà tiêu ở một số HGĐ đã gây ô
nhiễm đất, nước, không khí, làm cho ruồi nhặng phát triển, phát tán các loại vi
sinh vật và ký sinh trùng gây bệnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
cộng đồng.
Bên cạnh đó, ở các vùng nông thôn, tập quán sử dụng phân người trong
sản xuất nông nghiệp đã có từ xa xưa và cho đến nay ở nhiều vùng vẫn còn
sử dụng. Phân người có đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây trồng phát triển
và có thể thay thế được nhiều loại phân bón hóa học khác. Sử dụng phân
người để làm phân bón cho cây trồng vừa tiết kiệm được đầu tư sản xuất, vừa
tránh được thoái hóa đất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc sử dụng phân người
chưa được xử lý đúng lại là một trong những nguồn ô nhiễm nhất là mối nguy
hại trực tiếp cho sức khỏe của người nông dân và lan truyền các mầm bệnh
nguy hiểm cho cộng đồng. Theo kết quả nghiên cứu tại Thái Nguyên của
Hoàng Anh Tuấn cho thấy số hộ gia đình có sử dụng phân để bón ruộng và
hoa màu là 90,2%, trong đó số HGĐ sử dụng phân ủ chỉ có 17,1% [54]. Theo
nghiên cứu khác của Hoàng Thị Thu Hà cho thấy số HGĐ sử dụng phân để
6
bón ruộng chiếm tỉ lệ 49% lại rơi vào những HGĐ không có nhà tiêu hoặc có
nhà tiêu nhưng không HVS, còn đối với các HGĐ có nhà tiêu HVS thì 100%
không sử dụng phân bón ruộng [54].
Việt Nam là một nước nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có
nhiệt độ cao và độ ẩm lớn, đặc điểm khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều bất kỳ mùa
nào cũng có khả năng làm cho mầm bệnh là trứng giun sán có khả năng phát
triển. Như vậy ở đất, nước, không khí, thực phẩm đều có mặt của các loại ký
sinh trùng gây bệnh đường ruột cho người. Điều đó chứng tỏ việc sử dụng
nhà tiêu HVS, quản lý và xử lý phân còn nhằm mục đích làm giảm sự ô
nhiễm môi trường và giảm sự ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người
dân.
Trong thời gian qua Việt Nam đang gặp phải những thách thức rất lớn
trong việc khống chế các dịch bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa. Để hạn
chế được tình trạng ô nhiễm môi trường, giảm tỉ lệ mắc bệnh, dịch liên quan
đến phân, nước, từng bước cải thiện và nâng cao sức khỏe cộng đồng cần tập
trung đẩy mạnh các hành vi vệ sinh cá nhân và đặc biệt là quản lý tốt các
nguồn phân thông qua việc xây dựng và sử dụng các loại nhà tiêu HVS cũng
như sử dụng phân đúng cách trong sản xuất nông nghiệp.
1.2.2. Những quy định của nhà tiêu hợp vệ sinh
1.2.2.1.Những quy định chung
Tiêu chuẩn ngành về nhà tiêu HVS theo quyết định 08/2005/QĐ- BYT
ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT) [11] và theo thông
tư số 27/2011/TT – BYT ngày 24/6/2011 quy định bốn loại nhà tiêu HVS bao
gồm: nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà
tiêu thấm dội nước và nhà tiêu tự hoại dùng cho HGĐ. Các nhà tiêu này được
quy định là loại nhà tiêu HVS về mặt kỹ thuật và đảm bảo các yêu cầu sau:
7
a) Cô lập được phân người, ngăn không cho phân chưa được xử lý tiếp
xúc với người, động vật và côn trùng.
b) Có khả năng tiêu diệt được tác nhân gây bệnh có trong phân (vius, vi
khuẩn, đơn bào, trứng giun, sán) và không làm ô nhiễm môi trường xung
quanh.
Các nội dung, quy định này quy định tình trạng vệ sinh của nhà tiêu.
Các yêu cầu về thiết kế, vật liệu, kích thước, kĩ thuật xây dựng, độ bền và các
khía cạnh khác của nhà tiêu tuân theo hướng dẫn của BYT. Quy định này áp
dụng để kiểm tra, giám sát, đánh giá và phân loại tình trạng vệ sinh của các
loại nhà tiêu HVS được quy định trong quyết định này. Một số loại nhà tiêu
HVS như:
Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ: là nhà tiêu có hai ngăn kín, ở một thời
điểm chỉ sử dụng một trong hai ngăn, có cả phân và tro trong ngăn sử dụng
(nước tiểu tách riêng). Khi một trong hai ngăn đầy sẽ được đậy kín để ủ,
thường ủ ít nhất 6 tháng trước khi được dùng làm phân bón ruộng.
Nhà tiêu tự hoại: là nhà tiêu đảm bảo tốt nhất quá trình thu gom phân,
cô lập và tái sinh phân với các ngăn chứa, ngăn lắng và ngăn lọc. Loại nhà
tiêu này đảm bảo tốt nhất và không gây ô nhiễm môi trường. Các nhà ven
sông cần sử dụng loại nhà tiêu này để hạn chế ô nhiễm nguồn nước. Tuy
nhiên loại này tương đối đắt tiền [11].
8
Nhà tiêu thấm dội nước: là nhà tiêu đơn giản được sử dụng phổ biến ở
vùng nông thôn. Nhà tiêu gồm phần nhà xí có tường bao quanh, bệ có hố, ống
xi phông để tạo hút nước và ống dẫn phân. Bể chứa phân có một ngăn, trên
thành hố có lỗ thấm để cho nước dư thừa từ hố thấm lọc qua lớp đất xung
quanh làm sạch chất ô nhiễm. Sử dụng loại nhà tiêu này cần phải dội nước
cho mỗi lần đi vệ sinh để đưa phân xuống hố và tạo nút nước chống mùi hôi.
Nhưng không nên dùng loại nhà tiêu này ở vùng trũng, dễ ngập nước hay
vùng khan hiếm nước.
Nhà tiêu chìm có ống thông hơi: là loại nhà tiêu sử dụng vi khuẩn kị khí
để phân hủy phân. Sau khi đi vệ sinh, phân người sẽ rơi xuống hố còn nước
tiểu được dẫn ra ngoài bằng rãnh thoát. Sau mỗi lần đi phân được ủ bằng chất
độn (tro bếp, mùn cưa, vôi bột hoặc đất bột). Chất độn sẽ làm khô phân, tạo
môi trường không thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh. Ống thông hơi góp phần
giảm mùi hôi trong nhà tiêu, thoát nhanh hơi nước trong hố phân và khống
chế ruồi nhặng. Loại nhà tiêu này có ưu điểm chi phí rẻ, dễ sử dụng và bảo
quản đặc biệt thích hơp cho những HGĐ có hạn chế về nước dùng. Tuy nhiên
có nhược điểm là vẫn còn mùi khó chịu, có thể làm ô nhiễm nguồn nước và
không sử dụng được ở nơi đất chật, người đông, vùng ngập nước.
9
Tiêu chuẩn vệ sinh theo quyết định số 08/2005/QĐ-BYT do BYT ban
hành lần đầu tiên ngày 11/3/2005 [11] gồm có bốn loại nhà tiêu HVS là nhà
tiêu hai ngăn, nhà tiêu thấm dội nước, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu chìm có ống
thông hơi. Nhà tiêu Bioga cũng là một dạng của nhà tiêu tự hoại, nên cũng
được xếp là nhà tiêu HVS. Nhà tiêu bể khí sinh học Bioga dùng để lưu trữ và
phân hủy chất thải của con người, vật nuôi đồng thời tạo ra khí sinh học từ
quá trình phân hủy kị khí chất thải. Loại nhà tiêu này có ưu điểm sạch sẽ, dễ
cọ rửa, không gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra nó còn tạo nguồn nguyên
liệu để HGĐ sử dụng thay thế cho chất đốt. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là
chi phí đầu tư ban đầu lớn và đòi hỏi khối lượng phân đầu vào phải đủ
ngưỡng và cần bổ sung liên tục nên chỉ có thể thích hợp cho các HGĐ sử
dụng chăn nuôi với mô hình lớn.
1.2.2.2.Những quy định về xây dựng, sử dụng và bảo quản đối với các loại
nhà tiêu [11], [13]
* Nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ
Quy định về xây dựng:
a) Tường ngăn chứa phân kín, không bị rò rỉ, thấm nước
b) Cửa lấy mùn phân được trát kín bằng vật liệu không thấm nước
10
c) Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nước tiểu
d) Có nắp đậy hai lỗ tiêu
e) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa
f) Ống thông hơi (đối với nhà tiêu hai ngăn có ống thông hơi) có đường
kính ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất 40cm và có lưới chắn
ruồi.
Quy định về sử dụng và bảo quản:
a) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác
b) Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu hoặc cho vào dụng cụ chứa có đậy nắp
c) Không có mùi hôi thối
d) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu
e) Không sử dụng đồng thời hai ngăn
f) Có đủ chất độn và bỏ chất độn vào lỗ tiêu sau mỗi lần đi tiêu
g) Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước (nếu có) và dụng cụ chứa
nước tiểu
h) Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng
i) Lỗ tiêu ngăn đang sử dụng luôn được đậy kín, ngăn ủ được trát kín
* Nhà tiêu chìm có ống thông hơi [11]
Quy định về xây dựng:
a) Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng
b) Cách nguồn nước ăn uống sinh hoạt từ 10m trở lên
c) Mặt sàn, máng và rãnh dẫn nước tiểu nhẵn, không đọng nươc tiểu
d) Miệng hố phân cao hơn mặt đất xung quanh ít nhất 20cm
e) Có nắp đậy lỗ tiêu
f) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa
g) ống thông hơi có đường kính ít nhất 9cm, cao hơn mái nhà tiêu ít nhất
40cm và có lưới chắn ruồi.
11
Quy định về sử dụng và bảo quản:
a) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác
b) Giấy bẩn bỏ vào lỗ tiêu
c) Không có mùi hôi thối
d) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu
e) Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước nước tiểu
f) Lỗ tiêu thường xuyên được đậy kín.
* Nhà tiêu thấm dội nước [13]
Quy định về xây dưng:
a) Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng
b) Cách nguồn nước ăn uống sinh hoạt từ 10m trở lên
c) Bể chứa phân không bị lún, sụt, thành bể cao hơn mặt đất ít nhất 20cm
d) Nắp bể chứa phân được chát kín, không bị rạn nứt
e) Mặt sàn nhà tiêu phẳng nhẵn, không đọng nước
f) Bệ xí có nút nước
g) Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không thấm, tràn ra mặt
đất
Quy định chung về bảo quản:
a) Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy
b) Không có mùi hôi thối
c) Sàn nhà tiêu sạch, không có giấy, rác
d) Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ
chứa giấy bẩn có nắp đậy
e) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu
f) Bệ xí sạch, không dính, đọng phân
g) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa
* Nhà tiêu tự hoại [13]
12
Quy định về xây dưng:
a) Bể xử lý gồm 3 ngăn
b) Bể chứa phân không bị lún, sụt
c) Nắp bể chứa phân được trát kín, không bị rạn nứt
d) Mặt sàn nhà tiêu phẳng nhẵn, không đọng nước
e) Bệ xí có nút nước
f) Có ống thông hơi
Quy định về sử dụng và bảo quản
a) Có đủ nước dội, dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy
b) Không có mùi hôi thối
c) Nước từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm, không chảy tự do ra
xung quanh
d) Sàn nhà tiêu sạch, không có rêu trơn, giấy, rác
e) Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (nếu là giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng cụ
chứa giấy bẩn có nắp đậy
f) Không có ruồi hoặc côn trùng trong nhà tiêu
g) Bệ xí sạch, không dính, đọng phân
h) Nhà tiêu được che chắn kín, ngăn được nước mưa.
1.2.3.Thực trạng sử dụng nhà tiêu trên thế giới
Theo báo cáo đánh giá tỷ lệ bao phủ nhà tiêu HVS của WHO năm 2002
vẫn còn 42% dân số thế giới (2,6 tỷ người) không được tiếp cận với nhà tiêu
HVS ở các thành phố của Châu Phi và Châu Đại Dương là thấp nhất, Châu
Mỹ Latinh, vùng Caribe và Châu Á có phạm vi bao phủ cao hơn. Châu Âu và
Bắc Mỹ có phạm vi bao phủ cao nhất. Tại Châu Á, các nước đang phát triển,
tỷ lệ dân số sử dụng nhà tiêu dội nước tăng nhanh hơn so với các khu vực
khác (43,5%). Khoảng ½ dân số của các thành phố thuộc Châu Đại Dương sử
dụng nhà tiêu tự hoại trong khi tỷ lệ này tại các thành phố lớn của Châu Mỹ
13
Latinh và vùng Caribê là ¼. Tại Châu Phi nhà tiêu tự hoại rất phổ biến, nhưng
tỷ lệ dân số sử dụng nhà tiêu đào hố (22,4%) hoặc nhà tiêu chìm có ống thông
hơi (13,6%) cao hơn Châu Á và Thái Bình Dương [71].
Theo thống kê của Salabh International, một tố chức phi chính phủ
chuyên tài chợ cho các chương trình dịch tễ, thì ngay tại Ấn Độ có tới 700
triệu người dân không có nhà tiêu. Tình trạng này dẫn đến họ phải “loại bỏ”
cặn bã trong cơ thể bừa bãi ngoài môi trường, một điều kiện thuận lợi cho
bệnh tật lây lan. Phụ nữ phải hứng chịu nhiều bất tiện hơn khi không có nhà
tiêu, vì họ phải “đi” vào lúc trước hoặc sau khi mặt trời lặn.
Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc, có tới 2,4 tỷ người trên
toàn thế giới không có nhà tiêu. Chính vì thế nguồn gây ô nhiễm nước chủ
yếu ở các nước đang phát triển là phân người. Tình trạng này tạo điều kiện
cho vi khuẩn, kí sinh trùng và virus xâm nhập vào nước uống và gây bệnh. Ở
các con sông lớn tại Châu Á lượng vi khuẩn nguy hiểm có nguồn gốc từ phân
người cao gấp 50 lần mức cho phép của WHO. Do thiếu nhà tiêu sạch sẽ, trẻ
em tại các vùng nông thôn ở các nước đang phát triển rất dễ bị mắc các bệnh
đường tiêu hóa và truyền nhiễm [62].
Để cải thiện tình hình sử dụng nhà tiêu HVS còn thấp trên thế giới,
ngày 19 tháng 11 năm 2001, Hội Nhà vệ sinh Thế giới (World Toilet
Organization – WTO) đã được thành lập tại Singapore, đất nước sạch nhất
hành tinh, với sự tham gia của các tổ chức có liên quan đến vệ sinh từ hơn 20
nước trên thế giới như Anh, Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Philipine,… nhằm
nâng cao nhận thức và mối quan tâm của các tổ chức và các quốc gia về vệ
sinh, cũng như tăng cường hợp tác, giúp đỡ để cải thiện vấn đề vệ sinh toàn
cầu [23].
14
Các chuyên gia cho rằng nhà tiêu nói riêng và điều kiện vệ sinh nói
chung là những vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển của một dân tộc.
Trong nhiều trường hợp, chúng còn quan trọng hơn cả vấn đề phát triển kinh
tế.
1.2.4. Thực trạng sử dụng nhà tiêu ở Việt Nam
Theo báo cáo kết quả thực hiện chương trình MTQG nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn năm 2013 của bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn số 1377 BC- BNN- TCTL tỷ lệ hộ có nhà tiêu HVS phân bố không đồng
đều giữa các vùng, vẫn có những vùng vẫn chưa đạt được tỉ lệ 60% như mục
tiêu của chương trình đề ra, thậm chí có những vùng tỉ lệ nhà tiêu HVS chưa
đạt đến 50%. Khu vực miền núi phía bắc (47%), đồng bằng sông hồng (71%),
khu vực bắc trung bộ (52%), vùng duyên hải miền trung (70%), tây nguyên
(49%), đông nam bộ (84%), đồng bằng sông cửu long (46%) [9].
Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn tại tỉnh Thái Nguyên
năm 2014 thì số HGĐ người dân tộc Dao có nhà tiêu đạt 29,4%, tỷ lệ HGĐ
không có nhà tiêu chiếm 70,6% nhưng số nhà tiêu HVS chỉ có 5%. Những
HGĐ không có nhà tiêu thì đa số họ phóng uế ra rừng, ruộng, vườn (68,1%),
thậm chí họ còn đi vệ sinh nhờ nhà hàng xóm (2,5%) [54]. Hay một nghiên
cứu khác tại xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thì con số đó
chỉ là 79,2% và 4% [28].
Theo nghiên cứu của Phạm Sĩ Hưng trên đối tượng là người dân tộc
Sán Dìu tại tỉnh Vĩnh Phúc thì tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu đạt 77,9% và tỷ lệ
hộ gia đình không có nhà tiêu là 22,1%. Người dân tộc Sán Dìu ở đây không
có nhà tiêu họ thường đi vệ sinh ra vườn (4,3%), đi vệ sinh ra đồng
(4,3%), và đặc biệt là họ đi vệ sinh nhờ nhà hàng xóm chiếm tỷ lệ cao
(82,7%) [27].
15
Tại một số vùng núi phía Bắc, không những tỉ lệ nhà tiêu HVS còn thấp
hơn so với cả nước mà còn nhiều HGĐ không có nhà tiêu. Theo nghiên cứu
của Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn tại 4 xã thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
Nguyên tỉ lệ HGĐ không có nhà tiêu là 33,03%, tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS
là 19% [59]. Theo một nghiên cứu năm 2009 của Hoàng Thái Sơn số HGĐ có
nhà tiêu ở huyện Phổ Yên – Thái nguyên chiếm tỉ lệ khá cao trong số các
HGĐ được điều tra là 97,5% [43]. Còn một nghiên cứu khác ở xã Ôn Lương,
huyện Phú Lương số HGĐ có nhà tiêu cũng chiếm tỉ lệ tương đương ở huyện
Phổ Yên (93,15%) [56]. Tuy nhiên nhìn lại tỉ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS thì con
số ấy lại có sự chênh lệch khá lớn giữa hai huyện, tại Phổ Yên là 74,4%, còn
ở xã Ôn Lương, huyện Phú Lương chỉ đạt 13,74%. Điều đó có thể cho ta thấy
sự phân bố theo khu vực địa lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi sử
dụng nhà tiêu HVS của người dân.
Đối với các HGĐ có nhà tiêu thì không hẳn là gia đình nào cũng sử
dụng cùng loại nhà tiêu, mỗi gia đình có những lựa chọn riêng phù hợp với
hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế và thói quen sinh hoạt. Theo kết quả
nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn thì các loại nhà tiêu mà các độ gia đình
người Dao ở Thái Nguyên sử dụng gồm có nhà tiêu một ngăn 11,7%, nhà tiêu
hai ngăn 11,4%, nhà tiêu chìm có ống thông hơi 2,6%, nhà tiêu tự hoại 2,0%,
nhà tiêu đào 2,6%, các loại nhà tiêu khác như thùng, cầu … (1,1%) [54].
Theo kết quả một nghiên cứu khác của Lê Văn Tuấn, Võ Thị Mai tại
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên những loại nhà tiêu được sử dụng ở đây
gồm nhà tiêu một ngăn 8,5%, nhà tiêu hai ngăn 9,7%, nhà tiêu tự hoại 0,1%,
nhà tiêu đào 70,4% [56].
Cũng được thực hiện ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nghiên
cứu của Mai Đình Đức và Lê Văn Tuấn cho thấy loại nhà tiêu đang sử dụng
16
của các HGĐ chủ yếu là nhà tiêu đào 70,29%, còn các loại nhà tiêu khác
chiếm tỷ lệ thấp, nhà tiêu một ngăn 11,5%, nhà tiêu hai ngăn 16,61%, nhà tiêu
tự hoại và bán tự hoại 1,60% [17].
Theo khảo sát thực trạng nhà tiêu hợp vệ sinh ở các hộ gia đình tại xã
Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai năm 2011 của Trần Đỗ Hùng
cho thấy tỷ lệ hộ gia đình không có nhà tiêu và có nhà tiêu nhưng không hợp
vệ sinh là 25,2%. Trong đó tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hai ngăn là
6,8%, nhà tiêu chìm có ống thông hơi là 16,6%, nhà tiêu thấm dội nước
43,1%, nhà tiêu tự hoại 8,3% [26]. Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thanh
Hương tại tỉnh Hải Dương hầu hết các hộ gia đình sử dụng loại nhà tiêu một
ngăn 36,2%, nhưng đây không phải loại nhà tiêu hợp vệ sinh. Các loại nhà
tiêu khác tỷ lệ người dân sử dụng thấp hơn: nhà tiêu hai ngăn 25,6%, nhà tiêu
tự hoại, thấm dội nước 33,1% và cũng có điểm tương đồng so với các nghiên
cứu khác đó là những hộ gia đình không có nhà tiêu thì họ đi nhờ nhà hàng
xóm chiếm tỷ lệ là 3,3% [29].
Mặc dù có nhiều hộ gia đình đã có nhà tiêu nhưng không phải gia đình
nào cũng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Theo kết quả nghiên cứu của Trần
Đắc Phu tại năm tỉnh miền núi phía bắc thì tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu rất
cao 97,3% nhưng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt
69,7%. Trong đó tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hai ngăn là 10,7%, nhà
tiêu thấm dội nước 1,2%, nhà tiêu tự hoại 55,7% [39].
Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Thanh Huệ tại tỉnh Hưng Yên tỷ
lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu đạt 98,7%, tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh là 23,7%.
Trong đó tỷ lệ sử dụng nhà tiêu tự hoại là 18,5%, nhà tiêu thấm dội nước
0,5%, nhà tiêu hai ngăn 2,6%, nhà tiêu một ngăn 33,6%, và loại nhà tiêu cầu,
thùng 41,4% [25]. Qua kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù tỷ lệ hộ gia đình
17
sử dụng nhà tiêu khá cao nhưng tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh lại thấp. Những loại
nhà tiêu không hợp vệ sinh vẫn có thể gây ra bệnh tật cho người sử dụng. Do
đó cần tuyên truyền, vận động người dân để làm tăng tỷ lệ sử dụng nhà tiêu
hợp vệ sinh.
Như vậy những loại nhà tiêu mà các HGĐ sử dụng rất đa dạng nhưng
chủ yếu họ sử dụng những loại nhà tiêu không hợp vệ sinh. Theo tiêu chuẩn
ngành về nhà tiêu HVS theo quyết định 08/2005/QĐ- BYT ngày 11 tháng 3
năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế (BYT) quy định bốn loại nhà tiêu HVS bao
gồm: nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu chìm có ống thông hơi, nhà
tiêu thấm dội nước và nhà tiêu tự hoại dùng cho HGĐ thì các kết quả nghiên
cứu của các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ HGĐ sử dụng các loại nhà tiêu
HVS còn rất thấp, phần lớn những HGĐ có nhà tiêu đều sử dụng những loại
nhà tiêu không HVS, điển hình là nhà tiêu đào luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong
các nghiên cứu. Còn những loai nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu hai ngăn hay nhà
tiêu chìm có ống thông hơi chiếm tỷ lệ rất thấp. Tỷ lệ HGĐ người Dao ở Thái
Nguyên có nhà tiêu HVS chỉ đạt 16,7%, trong số đó tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu
HVS sử dụng đúng chỉ chiếm 5,0% [54].
Nguyên Bình là một huyện miền núi thuộc tỉnh Cao Bằng, địa hình chủ
yếu là đồi núi chia cắt phức tạp, trình độ dân trí không đồng đều, nền kinh tế
phát triển chậm, dân số 39695 người chủ yếu là người Dao sinh sống. Nhìn
chung tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu còn rất thấp (29%). So sánh với tỷ lệ HGĐ
người Dao có nhà tiêu ở Thái Nguyên (29,4%) thì tỷ lệ HGĐ người Dao có
nhà tiêu ở Cao Bằng thấp hơn. Mong muốn rằng qua đề tài nghiên cứu này sẽ
thể hiện rõ được một bức tranh sinh động về thực trạng sử dụng các loại nhà
tiêu của người dân. Qua đó trong tương lai sẽ đưa ra những giải pháp phù hợp
nhằm làm thay đổi quan niệm cũng như thói quen sử dụng nhà tiêu của người
dân để làm sao cho tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu HVS sẽ ngày càng tăng lên. Bởi
18
chính việc cải tiến vệ sinh và đặc biệt là nhà tiêu là yếu tố ngăn chặn bệnh
truyền nhiễm và gia tăng tuổi thọ của người dân. Sự gia tăng tuổi thọ của
người dân chính là cải tiến môi trường vệ sinh công cộng và nhà tiêu chứ
không phải nhờ đến các thiết bị y khoa hiện đại hay thuốc men đắt tiền tăng
tuổi thọ và cải tiến chất lượng cuộc sống. Do đó chúng ta cần nhận thức rằng
nhà tiêu là một phương tiện phòng chống bệnh rất quan trọng ở các nước đang
phát triển như nước ta.
1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình
1.3.1. Nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh
môi trường
Ngoài vấn đề khám chữa bệnh cho nhân dân thì các trạm y tế cần lập kế
hoạch hoạt động cụ thể về chương trình vệ sinh môi trường. Đảm bảo số
lượng cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường, thường xuyên tổ
chức những buổi truyền thông cũng như tuyên truyền người dân thực hiện lối
sống văn minh, giữ vệ sinh môi trường sạch đẹp. Như vậy không những làm
đẹp cho quang cảnh xóm bản mà vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo sức khỏe
cho nhân dân.
Một trong những vấn đề của chương trình vệ sinh môi trường không thể
không kể đến việc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân. Việc sử dụng
các loại nhà tiêu không hợp vệ sinh hay việc không có nhà tiêu là thực trạng
đang rất phổ biến tại các vùng nông thôn và đặc biệt là tại các xóm bản người
Dao. Vậy lúc này vai trò của các cán bộ y tế rất quan trọng trong việc tuyên
truyền, vận động người dân sử dụng các loại nhà tiêu hợp vệ sinh. Cán bộ y tế
truyền thông đến người dân thông qua các buổi truyền thông trực tiếp hay qua
các phương tiện như sách báo, đài, ti vi, loa phát thanh,… Những buổi truyền
thông cần có nội dung cụ thể tập trung vào vấn đề sử dụng nhà tiêu của người
dân để họ thấy được những lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu đối với sức khỏe
19
của bản thân, gia đình và cả cộng đồng. Từ đó tránh được các loại bệnh tật do
ô nhiễm môi trường nói chung và do việc không sử dụng nhà tiêu nói riêng
gây ra. Tuy nhiên do cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, họ còn
bận rộn nhiều việc đồng áng, rất khó có thể thường xuyên tham dự các buổi
truyền thông. Chính vì vậy các cán bộ y tế cần có kế hoạch cụ thể về thời gian
để người dân sắp xếp thời gian và công việc đồng áng để đến tham dự. Bên
cạnh đó các cán bộ y tế cũng cần được tập huấn để cập nhật cũng như nâng
cao kiến thức về vệ sinh môi trường và kĩ năng truyền thông nhằm phục vụ tốt
hơn cho công tác vận động người dân thay đổi thói quen thường ngày gây ảnh
hưởng đến sức khỏe của bản thân cũng như sức khỏe cộng đồng.
1.3.2. Sự quan tâm của các ban ngành, đoàn thể
Việc sử dụng nhà tiêu của người dân như thế nào là do nhận thức của
từng cá nhân cũng như những thói quen của từng hộ gia đình. Việc thay đổi
những thói quen đó rất khó, không dễ dàng có thể thay đổi được. Do đó vai
trò của các ban ngành đoàn thể như UBND, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội
cựu chiến binh, trạm y tế, … là rất quan trọng trong việc truyền thông giáo
dục sức khỏe, nâng cao kiến thức và thái độ của người dân về vệ sinh môi
trường nói chung và việc sử dụng nhà tiêu HVS nói riêng. Cần tổ chức những
buổi nói chuyện về vấn đề sử dụng nhà tiêu HVS và tác hại của việc sử dụng
nhà tiêu không HVS gây ra, mà tác hại cần kể đến đầu tiên là tình trạng mắc
các bệnh giun đường ruột. Ngoài ra việc không sử dụng nhà tiêu còn gây ra
nhiều bệnh khác như bệnh tả, lị thương hàn, các bệnh về da, … Đưa ra những
hình ảnh, những thông tin về các loại giun, các trường hợp đã nhiễm giun ở
những địa phương khác. Bên cạnh việc tuyên truyền thì các cấp lãnh đạo cần
kết hợp với trạm y tế tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người dân, xét
nghiệm xác định mức độ nhiễm giun, cấp phát thuốc tẩy giun định kỳ. Sau khi
khám sức khỏe biết được mức độ nhiễm giun của bản thân và hiểu được ảnh
20
hưởng của việc nhiễm giun đến sức khỏe và kết hợp với công tác tuyên truyền
thì mới có thể tác động làm thay đổi thói quen của người dân.
Tổ chức những buổi nói chuyện hay sinh hoạt tập thể tại các xóm bản
người Dao cũng là những cơ hội để lãnh đạo các cấp cũng như các ban ngành
đoàn thể được gần với dân hơn, hiểu được tâm tư nguyện vọng người dân, và
tìm hiểu lý do tại sao mà tỷ lệ người dân sử dụng nhà tiêu còn thấp. Từ đó
việc tác động đến từng cá nhân người dân cũng như các hộ gia đình nhằm
thay đổi thói quen trước đây liên quan đến việc sử dụng nhà tiêu sẽ trở nên dễ
dàng hơn. Qua đó sẽ làm tăng tỷ lệ số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu
1.3.3. Về phía người dân
1.3.3.1. Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
Sự thiếu hụt về kiến thức vệ sinh là một trở ngại rất lớn đến việc sử
dụng nhà tiêu của người dân. Khi người dân có hành vi sức khỏe tốt nghĩa là
họ có kiến thức về vệ sinh. Do đó có kiến thức tốt, thái độ tốt thì việc thực
hành trong vấn đề sử dụng nhà tiêu sẽ tốt.
Đã có nhiều nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
về việc sử dụng nhà tiêu. Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn về
kiến thức VSMT của người Dao tại Thái Nguyên thì chỉ có 38,1% số người
kể tên được các loại nhà tiêu HVS, 28,6% xây dựng nhà tiêu HVS và chỉ có
16,7% HGĐ có nhà tiêu HVS. Và KAP về VSMT của người Dao có kiến thức
đúng 59%, thái độ đúng 95%, thực hành đúng 7% [54]. Về hành vi sử dụng
phân bón ruộng thì có đến 90,2% HGĐ có sử dụng phân bón, số HGĐ sử
dụng phân ủ chỉ có 17,1% [54]. Còn trong nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng cho
thấy kiến thức của người dân về nhà tiêu hợp vệ sinh là: kiến thức không
đúng 54,7%, kiến thức đúng 42,6%, [26].
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đình Thắng kiến thức, thái độ,
thực hành của người Dao ở xã Hợp Tiến – Thái Nguyên thì KAP của người
21
dân về quản lý phân là: kiến thức tốt 22,95%, thái độ tốt 18,58%, thực hành
tốt 12,02% [49]. Cũng thực hiện tại tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu của Phạm
Trung Kiên cho thấy KAP của người dân về quản lý phân thấp hơn so với
nghiên cứu của Phạm Đình Thắng: kiến thức tốt 20,2%, thái độ tốt 19,2%,
thực hành tốt 10,7% [31].
Nghiên cứu của Ngô Thị Nhu cho thấy kiến thức của người dân về tác
hại của nhà tiêu không HVS là ảnh hưởng đến môi trường 48,1%, mắc bệnh
tiêu chảy 68,7%, mắc các bệnh giun sán 65,5%, các ảnh hưởng khác 3,8%,
chỉ có 3,1% người dân không biết tác hại của nhà tiêu không HVS [35].
Nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn về KAP của người dân trong việc
quản lý phân cho thấy số người dân có kiến thức tốt về quản lý phân chiếm tỷ
lệ thấp 1,2%, tỷ lệ thái độ tốt cao hơn một chút 35,7% nhưng tỷ lệ thực hành
tốt cũng thấp 9,2%, trong khi đó tỷ lệ kiến thức kém chiếm đến 73%, tỷ lệ
thực hành kém 27,2%, còn về thái độ đa số người dân có thái độ về quản lý
phân ở mức độ trung bình 57,8% [54].
Qua đó ta thấy được thực sự kiến thức, thái độ, thực hành của người
dân về VSMT chưa tốt, thói quen canh tác vẫn còn lạc hậu, gây ô nhiễm môi
trường, không những ảnh hưởng đến sức khỏe của từng cá nhân mà còn ảnh
hưởng đến cả cộng đồng.
1.3.3.2. Phong tục tập quán, thói quen của cộng đồng người dân tộc Dao
Người Dao thường sống ở những nơi thung lũng, đồi thấp hoặc quanh
chân núi, dọc khe suối, nơi đầu nguồn nước. Họ sống thành từng cụm, từng
bản nhỏ riêng và thường tụ tập xung quanh người có thần quyền. Có hai loại
hình xóm bản người Dao:
- Xóm bản cư trú phân tán: với những nhóm người Dao du canh du cư
thường từ 5 – 10 hộ. Kiểu xóm bản này cản trở phong trào tổ chức sản xuất,
xây dựng đời sống kinh tế, văn hóa và chăm sóc sức khỏe.
22
- Xóm bản cư trú tập trung: thường ở những nơi đã định canh định cư hoặc
du canh – định cư. Mỗi xóm bản có từ 20 – 30 hộ liền kề với nhau, kiểu xóm
bản này thuận lợi cho lối làm ăn tập thể nhưng khó đảm bảo vệ sinh chung, dễ
mắc dịch bệnh.
Những thói quen, phong tục tập quán có ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ
HGĐ sử dụng nhà tiêu HVS. Ở những vùng nông thôn người dân hầu như
không có thói quen sử dụng nhà tiêu HVS, họ cho rằng việc sử dụng những
loại nhà tiêu tạm bợ như nhà tiêu đào, hay nhà tiêu cầu là vấn đề bình thường,
thậm chí họ còn đi ra ngoài rừng, bụi cây, bờ suối đó là những vùng xa nhà thì
vệ sinh hơn là việc đi vệ sinh trong nhà tiêu. Quan niệm và thói quen đóng vai
trò quan trọng trong việc chấp nhận sử dụng nhà tiêu hay không. Thậm chí có
những hộ gia đình mặc dù đã có nhà tiêu nhưng do ảnh hưởng từ thói quen
thường ngày mà họ không sử dụng đến nhà tiêu đó mà vẫn lựa chọn cách đi ra
những chỗ thoáng mát như bìa rừng. Việc thay đổi thói quen và quan niệm
của người dân là rất khó khăn. Nếu không được truyền thông và hiểu rõ sự
nguy hại của việc đi vệ sinh bừa bãi đến sức khỏe bản thân và sức khỏe cộng
đồng thì sẽ rất khó để họ chấp nhận thay đổi.
23
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chủ HGĐ người Dao đang sinh sống ở ba xã thuộc huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng
- Nhà tiêu của HGĐ có người được phỏng vấn
- Cán bộ trạm y tế xã
- Nhân viên YTTB của các xóm bản của xã nghiên cứu
- Cán bộ chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
Nguyên Bình là một huyện có nhiều người dân tộc Dao sinh sống nhất
trong tất cả các huyện của tỉnh Cao Bằng. Đây là huyện miền núi thuộc phía
đông bắc tỉnh Cao bằng địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp. Phía bắc
giáp xã Thái học huyện Thông Nông, phía nam giáp xã Pắc Miều huyện Bảo
Lạc, phía tây giáp các xóm bản người Nùng Lũng Vài của xã Thể Dục, phía
đông là xã Minh Thanh. Diện tích đất tự nhiên là 83979 Ha, chủ yếu là đất
nông nghiệp và lâm nghiệp, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 63522 Ha
chiếm 75,68%. Kinh tế chậm phát triển, cuộc sống của nhân dân còn gặp rất
nhiều khó khăn. Toàn huyện có 13 xã và một thị trấn, trong đó xã Vũ Nông,
Phan Thanh, Ca Thành là ba xã có người dân tộc Dao chiếm tỷ lệ cao từ, 58%
- 90%. Tại các xã người dân sống lẻ tẻ tại những sườn núi cao nên việc tiếp
cận với các thông tin về việc sử dụng nhà tiêu còn nhiều hạn chế. Đại bộ phận
nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện chủ yếu tham gia sản xuất nông, lâm
nghiệp cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn. Ở các xã người dân tộc Dao
chiếm tỉ lệ rất lớn, cụ thể:
24
Xã Vũ Nông là một xã gần trung tâm thị trấn nhất, xã có tổng dân số là
1953 người với 354 hộ gia đình, trong đó có 314 hộ người dân tộc Dao, chiếm
tỉ lệ 90%.
Xã Phan Thanh cách trung tâm thị trấn 14km. Xã có tổng dân số là
3440 người với 527 hộ gia đình, trong đó có 352 hộ người dân tộc Dao, chiếm
tỉ lệ 72%.
Xã Ca Thành là một xã miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn, ở vùng
sâu vùng xa. Xã có tổng dân số là 3154 người với 518 hộ gia đình, trong đó
có 293 hộ người dân tộc Dao, chiếm tỉ lệ 58%.
2.1.3.Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 04 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016
2.2.Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu
2.2.1.Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu kết hợp
Phương pháp nghiên cứu mô tả thiết kế cắt ngang kết hợp định tính
2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
* Công thức cỡ mẫu: sử dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính 1 tỉ lệ của quần
thể [18], [19]
Trong đó:
p: Tỉ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu, p= 0,347 (theo kết quả tỉ lệ HGĐ sử dụng
(1-α/2) =1,96
Z2 nhà tiêu là 34,7% trong nghiên cứu của Lê Văn Thái năm 2014 [47]. (1-α/2) : hệ số giới hạn tin cậy, chọn mức tin cậy 95% → Z2
d: độ chính xác mong muốn, chọn d= 0,0347
Áp dụng công thức tính:
25
n =
= 722 hộ gia đình
Từ công thức tính được cỡ mẫu tối thiểu là 722 hộ gia đình. Để dự phòng
sai số ta cộng thêm 20% .
Thực tế tổng số hộ gia đình người Dao tôi lấy được vào nghiên cứu là 897 hộ
* Kĩ thuật chọn mẫu
- Chọn xã: chọn chủ đích 3 xã tại huyện Nguyên Bình theo tiêu chí: xã có tỷ
lệ các hộ gia đình là người dân tộc Dao chiếm tỉ lệ cao. Trong tất cả các xã có
người Dao sinh sống chọn 3 xã có số người Dao cao nhất
- Chọn HGĐ: chọn chủ đích, chọn tất cả các hộ gia đình người dân tộc Dao ở
các xã nghiên cứu.
2.2.2.2.Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm tìm hiểu phong tục tập quán
của người dân tộc Dao liên quan đến hành vi sử dụng nhà tiêu và xử lý phân.
Sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể về vần đề này như thế nào, hoạt
động truyền thông của các cán bộ y tế về vấn đề sử dụng nhà tiêu của người
dân và những lý do nào làm cho tỷ lệ người dân sử dụng nhà tiêu thấp.
- Thảo luận nhóm: tiến hành hai cuộc thảo luận nhóm
+ Nhóm lãnh đạo cộng đồng: chọn mỗi tổ chức đoàn thể một người tham gia
nhóm thảo luận, bao gồm lãnh đạo Đảng ủy, UBND, hội phụ nữ, đoàn thanh
niên, hội nông dân, trạm y tế, số người tham gia thảo luận là 8 người.
+ Nhóm người dân đại diện cho cộng đồng người Dao: chọn 8 người Dao là
chủ HGĐ hoặc người có vai trò quyết định trong gia đình, trong đó có 4
người trong gia đình họ có nhà tiêu tốt, 4 người mà gia đình họ có nhà tiêu
kém vệ sinh hoặc không có nhà tiêu.
26
- Phỏng vấn sâu: tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu đối với các cán bộ y tế tại
các trạm y tế thuộc các xã nghiên cứu. Người được chọn phỏng vấn là trạm
trưởng trạm y tế.
2.3.Các chỉ số nghiên cứu
2.3.1.Thực trạng sử dụng nhà tiêu tại các hộ gia đình
- Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: tỷ lệ số hộ gia đình người Dao
- Tỷ lệ các loại nhà tiêu HGĐ đang sử dụng
- Tỷ lệ loại nhà tiêu hai ngăn HGĐ đang sử dụng
- Tỷ lệ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi HGĐ đang sử dụng
- Tỷ lệ loại nhà tiêu thấm dội nước HGĐ đang sử dụng
- Tỷ lệ loại nhà tiêu tự hoại HGĐ đang sử dụng
- Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan sát đối
với nhà tiêu hai ngăn
- Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm quan sát đối
với nhà tiêu thấm dội nước
2.3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
tộc Dao
2.3.2.1.Nguồn lực, hoạt động thực hiện chương trình vệ sinh môi trường
- Về nhân lực: số lượng, cơ cấu, trình độ chuyên môn của cán bộ huyện, trạm
y tế, y tế thôn bản thực hiện chương trình vệ sinh môi trường.
- Về cơ sở vật chất: trang thiết bị cho hoạt động chương trình vệ sinh môi
trường của huyện, xã.
- Về hoạt động: cách triển khai chương trình vệ sinh môi trường của xã (số
buổi truyền thông, cách thức truyền thông…)
2.3.2.2.Về phía các ban ngành đoàn thể của xã
- Lý do sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh ở địa phương?
27
- Các phong tục tập quán có ảnh hưởng đến sử dụng nhà tiêu không hợp vệ
sinh của người dân?
2.3.2.3. Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
- Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu HVS
- Thái độ của người dân về việc mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng
- Thực hành của người dân về sử dụng các loại nhà tiêu hai ngăn, thấm dội
nước, tự hoại
- Phong tục tập quán ảnh hưởng đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
2.4. Phƣơng pháp thu thập thông tin
2.4.1. Phỏng vấn
Phỏng vấn trực tiếp HGĐ theo mẫu phiếu điều tra (phụ lục 1).
2.4.2. Quan sát
Điều tra viên quan sát đánh giá nhà tiêu tại các hộ gia đình dựa vào
bảng kiểm theo “Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia về nhà tiêu - điều kiện đảm bảo
hợp vệ sinh” quy định tại thông tư số 27/2011/TT- BYT ban hành ngày
24/06/2011 của Bộ Y tế (phụ lục 1).
2.4.3. Phỏng vấn sâu
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với đối tượng được phỏng vấn là
trạm trưởng trạm y tế nhằm tìm hiểu những phong tục tập quán, những yếu tố
văn hóa có liên quan đến vấn đề sử dụng nhà tiêu của người Dao (phụ lục4).
2.4.4. Thảo luận nhóm
Tiến hành hai cuộc thảo luận nhóm: nhóm lãnh đạo cộng đồng và nhóm
đại diện cho cộng đồng người dân tộc Dao (phụ lục 5,6)
2.5. Cách đánh giá
2.5.1. KAP của ngƣời dân tộc Dao
- Kiến thức: chia làm 3 mức (phụ lục 3)
Tốt: trả lời đúng trên 80% các câu hỏi
28
Trung bình: trả lời đúng từ 50- 80 % các câu hỏi
Kém: trả lời đúng < 50% các câu hỏi
- Thái độ: đánh giá 2 mức (phụ lục 3)
Đồng ý
Không đồng ý
- Thực hành: Đúng và chưa đúng (phụ lục 3)
2.5.2. Cách phân loại nhà tiêu
- Loại nhà tiêu hợp vệ sinh: nhà tiêu hai ngăn, chìm có ống thông hơi, thấm
dội nước, tự hoại
- Loại nhà tiêu không hợp vệ sinh: nhà tiêu một ngăn, nhà tiêu đào, nhà tiêu
cầu, nhà tiêu xả thẳng xuống ao.
- Nhà tiêu hai ngăn hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất 4
tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu hai ngăn
- Nhà tiêu chìm có ống thông hơi hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và
đạt ít nhất 4 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu
chìm có ống thông hơi
- Nhà tiêu thấm dội nước hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít
nhất 3 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu thấm
dội nước
- Nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh: Đạt đầy đủ các tiêu chí chính và đạt ít nhất 3
tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu tự hoại
2.6. Phƣơng pháp xử lý số liệu
- Nghiên cứu định lượng: xử lý số liệu trên phần mềm Epidata, SPSS 18.0
- Nghiên cứu định tính: gỡ băng, ghi chép lại dưới dạng hộp kết quả và nhận
định kết quả
2.7. Sai số và hạn chế sai số
29
- Tập huấn cho điều tra viên trước khi điều tra, có giám sát viên tham gia
giám sát
- Thực hiện thu thập thông tin phỏng vấn, quan sát nhà tiêu hộ gia đình theo
bảng kiểm có sự thống nhất cách điều tra giữa các cán bộ điều tra
- Các đối tượng không nói được tiếng kinh thì cần có người phiên dịch của địa
phương hỗ trợ phiên dịch.
2.8. Đạo đức trong nghiên cứu
- Điều tra, phỏng vấn những đối tượng tự nguyện đồng ý tham gia nghiên
cứu, sẵn sàng hợp tác tốt, cam kết giữ bí mật thông tin được cung cấp.
- Nghiên cứu này được thông báo cho chính quyền địa phương về quy mô,
thời gian tiến hành và cam kết không có bất cứ ảnh hưởng nào đến phong tục,
tập quán hay sức khỏe cộng đồng
- Trong quá trình nghiên cứu không gây ra bất cứ một hậu quả xấu nào
- Đề tài được thông qua hội đồng bảo vệ đề cương của trường Đại học Y
Dược Thái Nguyên
30
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thực trạng và sử dụng nhà tiêu của ngƣời dân tộc Dao ở 3 xã thuộc
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu là chủ HGĐ dân tộc
Dao tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Thông tin chung về đối tượng Số lượng Tỉ lệ %
Tuổi < 25 23 2,6
25- 59 800 89,2
≥ 60 74 8,2
Giới Nam 834 93
Nữ 63 7
Trình độ học Mù chữ 103 11,5
vấn Biết đọc, biết viết 537 59,9
Tiểu học 254 28,3
THCS 3 0,3
THPT 0 0
TC, CĐ, ĐH 0 0
* Nhận xét:
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong độ tuổi 25- 59 (89,2%), trong đó tỷ lệ
chủ hộ là nam giới chiếm đa số (93%).
- Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu nhìn chung còn rất thấp. Chủ
yếu người dân ở đây chỉ biết đọc, biết viết (59,9%). Trình độ tiểu học
(28,3%), THCS (0,3%). Tỷ lệ mù chữ còn khá cao (11,5%) và không có
người dân nào đạt trình độ THPT, trung cấp, cao đẳng, đại học (0%).
31
Nghề nghiệp
99
Nghề nghiệp
0.8
0.1
0.1
100 90 80 70 60 50 40 30 20 10 0
Khác
Nông dân
Công nhân
Cán bộ, công chức
Biểu đồ 3.1: Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
* Nhận xét:
Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu này chủ yếu là
nông dân (99%). Những ngành nghề khác chiếm tỷ lệ rất thấp: công nhân
(0,1%), cán bộ công chức (0,1%), khác (0,7%), buôn bán (0%). Điều này phù
43.90%
Có nhà tiêu
56.10%
Không có nhà tiêu
hợp với địa bàn nghiên cứu vì đây là vùng nông thôn.
Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ các HGĐ có nhà tiêu tại 3 xã thuộc huyện Nguyên bình,
tỉnh Cao Bằng
* Nhận xét: Tỷ lệ HGĐ có nhà tiêu là 56,1%, tỷ lệ HGĐ không có nhà tiêu là
43,9%.
32
Bảng 3.2. Tỷ lệ các loại nhà tiêu HGĐ đang sử dụng tại 3 xã thuộc huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Loại nhà tiêu Số lượng Tỷ lệ %
Hai ngăn 51 10,1
Nhà tiêu chìm có ống thông hơi 3 0,6
Thấm dội nước 45 8,9
Tự hoại 4 0,8
Nhà tiêu đào 400 79,5
Tổng 503 100
* Nhận xét: Trong các loại nhà tiêu mà các hộ gia đình đang sử dụng thì loại
nhà tiêu đào là chủ yếu (79,5%), tuy nhiên loại nhà tiêu này không thuộc một
trong số bốn loại nhà tiêu hợp vệ sinh. Các loại nhà tiêu khác chiếm tỷ lệ
thấp: nhà tiêu hai ngăn (10,1%), nhà tiêu thấm dội nước (8,9%), nhà tiêu chìm
có ống thông hơi (0,6%), nhà tiêu tự hoại (0,8%).
Bảng 3.3. Đánh giá việc sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình tại 3 xã
thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Nhà tiêu Số lượng Tỷ lệ %
Hợp vệ sinh 45 8,9
Không hợp vệ sinh 458 91,1
Tổng 503 100
* Nhận xét: Trong số các hộ gia đình có nhà tiêu thì số hộ gia đình sử dụng
nhà tiêu hợp vệ sinh chiếm tỷ lệ còn khá thấp, chỉ chiếm 8,9%, tỷ lệ nhà tiêu
không hợp vệ sinh là 91,1%
33
Bảng 3.4. Tỷ lệ loại nhà tiêu hai ngăn HGĐ đang sử dụng tại 3 xã thuộc
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Nhà tiêu hai ngăn Số lượng Tỷ lệ %
Hợp vệ sinh 12 23,5
Không hợp vệ sinh 39 76,5
Tổng số 51 100
* Nhận xét: Đối với loại nhà tiêu hai ngăn tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng nhà
tiêu hợp vệ sinh là 23,5%
Bảng 3.5. Tỷ lệ loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi HGĐ đang sử dụng tại
3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Nhà tiêu chìm có ống thông hơi Số lượng Tỷ lệ %
Hợp vệ sinh 3 100
Không hợp vệ sinh 0 0
Tổng số 3 100
* Nhận xét: Đối với loại nhà tiêu chìm có ống thông hơi chỉ có 3 hộ gia đình
sử dụng và cả 3 nhà tiêu này hợp vệ sinh, chiếm tỷ lệ 100%.
34
Bảng 3.6. Tỷ lệ loại nhà tiêu thấm dội nước HGĐ đang sử dụng tại 3 xã
thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Nhà tiêu thấm dội nước Số lượng Tỷ lệ %
Hợp vệ sinh 29 64,4
Không hợp vệ sinh 16 36,6
Tổng số 45 100
* Nhận xét: Đối với loại thấm dội nước tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng nhà tiêu
hợp vệ sinh là 64,4%
Bảng 3.7. Tỷ lệ loại nhà tiêu tự hoại HGĐ đang sử dụng tại 3 xã thuộc
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Nhà tiêu tự hoại Số lượng Tỷ lệ %
Hợp vệ sinh 1 25
Không hợp vệ sinh 3 75
Tổng số 4 100
* Nhận xét: Đối với loại nhà tiêu tự hoại chỉ có 4 hộ gia đình sử dụng và có 1
nhà tiêu hợp vệ sinh, chiếm tỷ lệ 25%
35
Bảng 3.8. Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm
quan sát đối với nhà tiêu hai ngăn tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh
Cao Bằng
STT Tiêu chí đánh giá việc sử dụng nhà tiêu Số lượng Tỷ lệ %
Tiêu chí chính
1 Có nắp đậy cả 2 lỗ tiêu 29 56,9
2 Lỗ tiêu được đậy kín 32 62,7
3 Không sử dụng đồng thời 2 ngăn 25 49
4 Có đủ chất độn và thường xuyên đổ chất độn 36 70,6 sau mỗi lần đi đại tiện
5 Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng 17 33,3
6 Không có mùi hôi, thối 50 98
7 Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước 51 100 dội, nước tiểu
Tiêu chí phụ
1 Mặt sàn và rãnh dẫn nước tiểu sạch, không 20 29,2 đọng nước
2 Giấy bẩn được bỏ vào lỗ tiêu hoặc thùng 16 31,4 chứa có nắp đậy
3 Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu 46 90,2
4 Vệ sinh xung quanh sạch sẽ 47 92,2
5 Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng 51 100
* Nhận xét:
- Trong số 7 tiêu chí chính về sử dụng nhà tiêu hai ngăn theo quy định của Bộ
Y tế có 5 tiêu chí đạt trên 50%, trong đó có một tiêu chí đạt 100% đó là không
có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước dội, nước tiểu. Tuy nhiên tiêu chí quan
36
trọng về sử dụng nhà tiêu đó là không sử dụng đồng thời hai ngăn đạt tỷ lệ
dưới 50% (49%)
- Trong số 5 tiêu chí phụ về sử dụng nhà tiêu hai ngăn theo quy định của Bộ
Y tế có 3 tiêu chí đạt trên 50%, trong đó có một tiêu chí đạt 100%, đó là được
che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng. Tuy nhiên tiêu chí quan trọng trong
vấn đề sử dụng nhà tiêu đó là mặt sàn và rãnh nước tiểu sạch, không đọng
nước lại chiếm tỷ lệ thấp nhất (29,2%).
37
Bảng 3.9. Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu theo tiêu chí đánh giá bảng kiểm
quan sát đối với nhà tiêu thấm dội nước tại 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình,
tỉnh Cao Bằng
STT Tiêu chí đánh giá việc sử dụng nhà tiêu Số lượng Tỷ lệ %
Tiêu chí chính
1 Có đủ nước dội 43 95,6
2 Dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy 45 100
3 Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân 39 86,7 không thấm, tràn ra mặt đất
4 Không có mùi hôi 40 88,9
Tiêu chí phụ
1 Mặt sàn nhà tiêu không trơn, không đọng nước, 38 84,4 không có rác, giấy bẩn
2 Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (giấy tự tiêu) hoặc bỏ 35 77,8 vào dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy
3 Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu 11 24,4
4 Bệ xí sạch, không dính đọng phân 43 95,6
5 Được che chắn kín đáo, ngăn được nước mưa, 44 87,8 nắng
6 Vệ sinh xung quanh sạch sẽ 13 28,9
* Nhận xét:
- Trong số 4 tiêu chí chính về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước theo quy định
của Bộ Y tế tất cả các tiêu chí đạt tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ trên 50%
- Trong số 6 tiêu chí phụ về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước theo quy định của
Bộ Y tế hầu hết các tiêu chí đạt tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên có hai
tiêu chí quan trọng về sử dụng nhà tiêu còn chiếm tỷ lệ thấp đó là không có
ruồi, côn trùng trong nhà tiêu (24,4%) và vệ sinh xung quanh sạch sẽ (28,9%).
38
3.2. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng nhà tiêu của ngƣời dân tộc
Dao tại ba xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
3.2.1. Nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương trình vệ sinh
môi trường
Bảng 3.10. Số lượng cán bộ y tế chuyên trách chương trình vệ sinh môi
trường ở 3 xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Cán bộ y tế Số lượng Tỷ lệ %
Xã Phan Thanh 1/15 6,7
Xã Vũ Nông 1/13 7,7
Xã Ca Thành 1/16 6,3
* Nhận xét: Tỷ lệ cán bộ y tế chuyên trách chương trình vệ sinh môi trường ở
3 xã tương đương nhau, tỷ lệ cán bộ ở xã Phan Thanh là 6,7%, xã Vũ Nông
7,7%, xã Ca Thành 6,3%.
Bảng 3.11. Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia chương trình vệ sinh môi trường ở 3
xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
SL cán bộ Cán bộ y tế xã Y tế thôn bản
Xã Tỷ lệ % Tỷ lệ % SL SL
Xã Phan Thanh 2/4 50 6/11 54,5
Xã Vũ Nông 1/3 33,3 6/10 60
Xã Ca Thành 2/5 40 5/11 45,4
* Nhận xét: Tỷ lệ cán bộ y tế xã và y tế thôn bản tham gia chương trình vệ
sinh môi trường ở các xã tương đương nhau. Tỷ lệ cán bộ xã và tỷ lệ y tế thôn
bản ở xã Phan Thanh là 50% và 54,5%. Xã Vũ Nông 33,3% và 60%, xã Ca
Thành 40% và 45,4%
39
Bảng 3.12. Tỷ lệ các cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường được
tập huấn về vệ sinh môi trường
Cán bộ y tế xã Y tế thôn bản SL cán bộ
Xã Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Xã Phan Thanh 1/4 25 3/6 50
Xã Vũ Nông 1/3 33,3 3/6 50
Xã Ca Thành 1/5 20 3/5 60
* Nhận xét: Tỷ lệ cán bộ y tế xã và y tế thôn bản tham gia chương trình vệ
sinh môi trường được tập huấn về vệ sinh môi trường ở các xã tương đương
nhau. Tỷ lệ cán bộ xã và tỷ lệ y tế thôn bản được tập huấn ở xã Phan Thanh là
25% và 50%. Xã Vũ Nông 33,3% và 50%, xã Ca Thành 20% và 60%
Bảng 3.13. Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia công tác vệ sinh môi trường của xã đã
thực hiện truyền thông về về sinh môi trường
Cán bộ Số lượng Tỷ lệ %
Xã Phan Thanh 8/15 53,3
Xã Vũ Nông 7/13 53,8
Xã Ca Thành 7/16 43,8
* Nhận xét: Hầu hết các cán bộ y tế đều tham gia công tác vệ sinh môi trường
và đã thực hiện truyền thông đến người dân về vệ sinh môi trường. Tỷ lệ
truyền thông của các cán bộ y tế tương đương nhau ở cả 3 xã. Phan thanh
(53,3%), Vũ Nông (53,8%), Ca Thành (43,8%).
40
Bảng 3.14. Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Phan
Thanh, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Trình độ Số lượng
Bác sĩ 1
Y sĩ 1
Điều dưỡng 1
Nữ hộ sinh 1
Tổng 4
* Nhận xét: Số lượng cán bộ y tế với trình độ chuyên môn như vậy của các
cán bộ y tế xã Phan Thanh là thiếu so với chuẩn theo TT 08/2007/TTLT -
BYT- BNV, biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho một trạm y tế xã. Tại xã Phan
Thanh mới chỉ có 4 cán bộ y tế xã
Bảng 3.15. Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Vũ Nông,
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Trình độ Số lượng
Bác sĩ 1
Y sĩ 1
Điều dưỡng 0
Nữ hộ sinh 1
Tổng 3
* Nhận xét: Số lượng cán bộ y tế với trình độ chuyên môn như vậy của các
cán bộ y tế xã Vũ Nông là thiếu so với chuẩn theo TT 08/2007/TTLT - BYT-
BNV, biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho một trạm y tế xã. Tại xã Vũ Nông
mới chỉ có 3 cán bộ y tế xã
41
Bảng 3.16. Phân bố trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại xã Ca Thành,
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Trình độ Số lượng
Bác sĩ 1
Y sĩ 2
Điều dưỡng 1
Nữ hộ sinh 1
Tổng 5
* Nhận xét: Số lượng cán bộ y tế với trình độ chuyên môn như vậy của các
cán bộ y tế xã Ca Thành là đủ so với chuẩn theo TT 08/2007/TTLT - BYT-
BNV, biên chế tối thiểu: 5 biên chế cho một trạm y tế xã. Tại xã Ca Thành
hiện đã có 5 cán bộ y tế xã
* Kết quả nghiên cứu định tính
Qua cuộc phỏng vấn sâu với trạm trưởng trạm y tế các xã Phan Thanh,
Vũ Nông, Ca Thành các ý kiến cho thấy rằng tuy mỗi xã đều có một cán bộ
chuyên trách công tác vệ sinh môi trường nhưng tổng số lượng cán bộ y tế ở
mỗi xã còn thiếu theo tiêu chuẩn. Hàng tháng cán bộ chuyên phụ trách
chương trình vệ sinh môi trường cùng các cán bộ tại trạm tổ chức các buổi
truyền thông sức khỏe trực tiếp đến người dân. Tuy nhiên do số lượng cán bộ
y tế còn thiếu và trong các buổi truyền thông vẫn lồng ghép nhiều nội dung
trong đó có vấn đề sử dụng nhà tiêu. Bên cạnh đó còn có truyền thông gián
tiếp qua sách báo, tivi, đài, panô, áp phích nhưng trang thiết bị truyền thông
còn thiếu thốn, hệ thống loa phát thanh ở mỗi xã còn ít và chưa đảm bảo chất
lượng nên hiệu quả truyền thông chưa cao. Kèm theo đó là kiến thức của
người dân còn kém, và cuộc sống của người dân còn khó khăn nên đối với họ
vấn đề sử dụng nhà tiêu hay không sử dụng cũng không quan trọng bằng cái
42
ăn cái mặc hàng ngày. Hàng ngày họ làm việc kiếm tiền cũng chỉ đủ lo cho
những sinh hoạt trong gia đình nên không còn khả năng để làm nhà tiêu. Các
ý kiến được thể hiện ở hộp 3.1 dưới đây:
Hộp 3.1: Ảnh hưởng của nguồn lực và hoạt động của cán bộ y tế đến việc sử
dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng
“Chúng tôi vẫn thực hiện các buổi truyền thông về vấn đề sử dụng
nhà tiêu, nhưng chỉ lồng ghép với các chương trình khác. Nhưng cuộc
sống của người dân ở địa phương còn khó khăn lắm, chỉ biết con trâu đi
trước cái cày theo sau. Họ lo cái ăn cái mặc đã vất vả lắm rồi, các hộ gia
đình còn nghèo đói nên họ không có khả năng xây dựng nhà tiêu”.
(Bà Đ. T. H – Trạm trưởng trạm y tế xã …)
“Tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân còn thấp một phần là do
nguồn lực của chúng tôi còn thiếu do đó việc tổ chức thực hiện công tác
truyền thông chưa được tốt. Mặc dù chúng tôi tổ chức được 168 buổi
truyền thông trực tiếp trong một năm nhưng lồng ghép nhiều nội dung.
Bên cạnh đó trang thiết bị truyền thông còn thiếu thốn quá”.
(Bà Đ. T. H – Trạm trưởng trạm y tế xã …)
“Bên cạnh các buổi truyền thông trực tiếp chúng tôi còn tổ chức
truyền thông gián tiếp qua sách báo, pa nô, áp phích nhưng số lượng cán
bộ y tế xã còn thiếu và số lượng sách báo còn ít, nhiều người dân lại
không biết đọc chữ họ chỉ xem tranh ảnh thôi, vì thế mà hiệu quả truyền
thông chưa cao”.
(Bà T. T. H – trạm trưởng trạm y tế xã …)
43
Do hiện tại hiệu quả truyền thông sức khỏe đến người dân chưa cao và
tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân còn thấp nên hầu hết các cán bộ y tế đều
có nhu cầu được đi tập huấn để cập nhật thêm nhiều kiến thức mới cũng như
học hỏi cách thức truyền thông để đạt được hiệu quả truyền thông cao nhất. Ý
kiến của cán bộ y tế được thể hiện ở hộp 3.2 dưới đây:
Hộp 3.2: Nhu cầu tập huấn về vệ sinh môi trường để nâng cao hiệu quả
truyền thông nhằm làm tăng tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân
“Chúng tôi có nhu cầu được tập huấn thêm về vệ sinh môi trường
nói chung và vấn đề sử dụng nhà tiêu nói riêng để nâng cao kỹ năng
truyền thông. Tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân còn thấp ngoài lý do
kiến thức của người dân kém còn có thể do cách thức truyền thông của
chúng tôi phối hợp nhiều nội dung truyền thông nên người dân không
lĩnh hội được”.
(Bà Đ. T. H – Trạm trưởng trạm y tế xã …)
3.2.2. Sự quan tâm của ban ngành đoàn thể
Các ban ngành đoàn thể tại đây như lãnh đạo ủy ban xã, hội phụ nữ,
đoàn thanh niên,…cũng có quan tâm đến vấn đề vệ sinh môi trường nói chung
và vấn đề sử dụng nhà tiêu nói riêng của người dân tộc Dao tại địa phương.
Tuy nhiên sự quan tâm đó cũng chưa thực sự sát sao vì cuộc sống của người
dân ở đây còn khó khăn nên còn nhiều vấn đề khác cần được quan tâm ưu tiên
hơn. Các đoàn thể có phối hợp với cơ quan y tế tổ chức các buổi truyền thông
về các vấn đề sức khỏe có lồng ghép vấn đề sử dụng nhà tiêu, tuyên truyền
những lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu. Tuy nhiên số buổi truyền thông còn ít
và do kiến thức của người dân còn kém, điều kiện kinh tế còn khó khăn và các
buổi truyền thông chỉ được lồng ghép với các chương trình khác mà không có
44
buổi truyền thông riêng về nội dung sử dụng nhà tiêu nên tỷ lệ sử dụng nhà
tiêu của người dân vẫn còn thấp, thể hiện qua các ý kiến thể hiện ở hộp 3.3
dưới đây:
Hộp 3.3: Ảnh hưởng của sự quan tâm của ban ngành đoàn thể đến việc sử
dụng nhà tiêu của người dân
“Mặc dù được Đảng và nhà nước quan tâm đến tình trạng sử
dụng nhà tiêu của người dân nhưng đa số các hộ gia đình không sử dụng
nhà tiêu. Chính vì thế mà tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân ở đây còn
rất thấp”.
(Bà H. T. H – Phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã…)
“Tôi công tác bên đoàn thể, là chủ tịch hội phụ nữ. Tôi cũng có
phối hợp với các ban ngành tuyên truyền vận động người dân sử dụng
nhà tiêu nhưng quả thực sự quan tâm đó cũng chưa tận tình, chu đáo.
Bên cạnh đó trình độ dân trí của người dân còn thấp, phong tục tập quán
còn lạc hậu, vận động, tuyên truyền nhưng người dân không làm nhà vệ
sinh ”.
(Bà N. T. T - Chủ tịch hội phụ nữ xã …)
“Chúng ta nên tiếp tục phối hợp với các ban ngành đoàn thể, lồng
ghép trong các hoạt động của xóm để toàn thể nhân dân biết được tầm
quan trọng của việc sử dụng nhà tiêu. Ngoài ra các cơ quan chuyên môn
cấp trên cũng quan tâm hơn nữa đến công tác nâng cấp đường giao
thông để người dân vận chuyển vật liệu để xây dựng nhà tiêu”.
(Bà T. T. T – Cán bộ tư pháp, xã…)
45
3.2.3. Về phía người dân
3.2.3.1. Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
Bảng 3.17. Kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu tại 3 xã thuộc
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Kiến thức Số lượng Tỷ lệ %
4 0,4 Tốt
8 0,9 Trung bình
885 98,7 Kém
897 100 Tổng số
* Nhận xét: Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về sử dụng nhà tiêu còn rất
kém, kiến thức kém chiếm tới 98,7%, kiến thức trung bình (0,9%), kiến thức
tốt chiếm 0,4%.
Bảng 3.18. Thái độ của người dân về vấn đề không có nhà tiêu ảnh hưởng
đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh
Thái độ Số lượng Tỷ lệ %
Đồng ý 336 37,5
Không đồng ý 561 62,5
Tổng số 897 100
* Nhận xét: Thái độ của người dân khi được hỏi hầu hết là không đồng ý với
ý kiến 62,5%, thái độ rất đồng ý 37,5%
46
Bảng 3.19. Thái độ của người dân về vấn đề mỗi gia đình cần có nhà tiêu
riêng
Thái độ Số lượng Tỷ lệ %
Đồng ý 301 33,6
Không đồng ý 596 66,4
Tổng số 897 100
* Nhận xét: Khi được hỏi về vấn đề mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng thì hầu
hết người dân có thái độ không đồng ý, chiếm tỷ lệ 66,4%, còn thái độ đồng
23.50%
Thực hành đúng
76.50%
Thực hành chưa đúng
ý chỉ đạt 33,6%
Biểu đồ 3.3: Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu hai ngăn
* Nhận xét: Tỷ lệ thực hành đúng của người dân về sử dụng nhà tiêu hai ngăn
là 23,5%, thực hành chưa đúng là 76,5%
47
36.60%
Thực hành đúng
64.40%
Thực hành chưa đúng
Biểu đồ 3.4: Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước
* Nhận xét: Tỷ lệ thực hành đúng của người dân về sử dụng nhà tiêu thấm dội
25%
Thực hành đúng
75%
Thực hành chưa đúng
nước là 64,4%, thực hành chưa đúng là 36,6%
Biểu đồ 3.5: Thực hành của người dân về sử dụng nhà tiêu tự hoại
* Nhận xét: Tỷ lệ thực hành đúng của người dân về sử dụng nhà tiêu tự hoại
là 25%, thực hành chưa đúng là 75%
48
*Kết quả nghiên cứu định tính
Tại các cuộc thảo luận nhóm với nhóm đại diện chính quyền, tổ chức
đoàn thể và cuộc thảo luận nhóm với đại diện hộ gia đình người dân tộc Dao,
hầu hết các ý kiến cho rằng kiến thức của người dân còn kém, họ chưa biết
nhiều đến các loại nhà tiêu. Trình độ học vấn cũng thấp, hầu như chỉ biết đọc
biết viết, thậm chí là mù chữ. Tiêu biểu là các ý kiến trong hộp 3.4 như sau:
Hộp 3.4: Ảnh hưởng của kiến thức đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân
“Trình độ văn hóa còn thấp, chủ yếu là biết đọc, biết viết, tỷ lệ mù
chữ còn cao, phong tục tập quán còn lạc hậu, điều kiện kinh tế còn khó
khăn, còn trông chờ nhà nước hỗ trợ. Các ban ngành đoàn thể có quan
tâm và tuyên truyền lợi ích của sử dụng nhà tiêu nhưng người dân không
am hiểu được”.
(B. P. V – Cán bộ phòng thương binh xã hội, xã…)
“Chị cũng được nghe các buổi truyền thông trực tiếp nhưng không
biết mấy. Ở nhà có ti vi nhưng chỉ lấy tai để nghe thôi, không biết chữ.
Có sách báo nhưng chỉ nhìn tranh thôi, chữ chị cũng không biết đọc”.
(B. M. M – một người dân tộc Dao ở xã …)
49
3.2.3.2. Phong tục tập quán, thói quen của cộng đồng người dân tộc Dao
Qua thảo luận nhóm với người dân và lãnh đạo cộng đồng hầu hết các ý
kiến cho thấy phong tục tập quán của người dân nơi đây còn lạc hậu, những
thói quen cũ vẫn được người dân duy trì cho đến nay. Đó là một trong các yếu
tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở đây còn
thấp. Tại cuộc thảo luận tiêu biểu có ý kiến thể hiện ở hộp 3.5 dưới đây:
Hộp 3.5: Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến việc sử dụng nhà tiêu của
người dân tộc Dao, tại 3 xã, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
“Các hộ gia đình không sử dụng nhà tiêu nguyên nhân chủ yếu là
do phong tục tập quán lạc hậu, họ thích đi vệ sinh ở những nơi rộng rãi.
Bên cạnh đó còn do địa bàn rộng, điều kiện tự nhiên khó khăn, địa hình
đồi núi phức tạp nên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng sử dụng
nhà tiêu của người dân”.
(Bà H. T. H - Phó chủ tịch ủy ban nhân dân xã…)
“Nhà tôi không có nhà tiêu, chúng tôi đi vệ sinh ở rừng trúc, bờ
suối, hốc đá. Vì là do phong tục tập quán cha ông chúng tôi đi như thế
này quen rồi nên bây giờ chúng tôi đi như thế này cũng quen rồi. Chúng
tôi đi như thế này thấy tiện hơn, thoáng mát, thoải mái hơn nhiều. Nếu
bây giờ có nhà vệ sinh chúng tôi cũng không đi quen”.
(Chị Đ. M. G – Trưởng xóm…, xã…)
Để tìm hiểu rõ hơn phong tục tập quán của người dân tộc Dao, bên
cạnh việc thực hiện cuộc thảo luận nhóm với nhóm đại diện cho các hộ gia
đình người Dao tôi còn tiến hành cuộc phỏng vấn sâu trạm trưởng trạm y tế
xã Phan Thanh. Qua cuộc phỏng vấn tôi nhận thấy rằng tỷ lệ các hộ gia đình
sử dụng nhà tiêu còn thấp do ảnh hưởng nhiều từ phong tục tập quán quá lạc
50
hậu từ thời cha ông cho đến bây giờ cũng không thay đổi được, kết quả thể
hiện ở hộp 3.5 dưới đây:
Hộp 3.6: Ảnh hưởng của phong tục tập quán đến việc sử dụng nhà tiêu của
người dân
“Tỷ lệ các hộ gia đình sử dụng nhà tiêu còn rất thấp do phong tục
tập quán còn quá lạc hậu, quan niệm cũ kĩ là đi ở những chỗ rộng rãi,
thoáng mát nên hầu hết những gia đình không có nhà tiêu thường đi vệ
sinh ở bờ suối, bụi cây”.
(Bà Đ. T. H – Trạm trưởng trạm y tế xã …)
51
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng và sử dụng nhà tiêu của ngƣời dân tộc Dao huyện
Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
4.1.1. Đặc điểm chung của địa điểm nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
Nguyên bình là một huyện miền núi thuộc phía đông bắc tỉnh Cao bằng
địa hình chủ yếu là đồi núi chia cắt phức tạp, diện tích đất tự nhiên chủ yếu là
đất nông nghiệp và lâm nghiệp, kinh tế chậm phát triển, cuộc sống của nhân
dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Toàn huyện có 13 xã và 1 thị trấn, trong đó
xã Vũ Nông, Phan Thanh, Ca Thành là ba xã đại diện cho ba khu vực địa lý
của huyện và ở các xã người dân tộc Dao chiếm tỉ lệ rất lớn, họ vẫn giữ
những phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt còn lạc hậu, trình độ dân trí
thấp hơn so với các dân tộc khác như kinh, tày, nùng, … trong huyện, cụ thể:
Xã Vũ Nông là một xã gần trung tâm thị trấn nhất, xã có tổng dân số là
1953 người với 354 hộ gia đình, trong đó có 314 hộ người dân tộc Dao, chiếm
tỉ lệ 90%.
Xã Phan Thanh xa trung tâm thị trấn. Xã có tổng dân số là 3440 người
với 527 hộ gia đình, trong đó có 352 hộ người dân tộc dao, chiếm tỉ lệ 72%.
Xã Ca Thành là một xã miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn, ở vùng
sâu vùng xa. Xã có tổng dân số là 3154 người với 518 hộ gia đình, trong đó
có 298 hộ người dân tộc dao, chiếm tỉ lệ 58%.
Tại các xã người dân sống lẻ tẻ tại những sườn núi cao nên việc tiếp
cận với các thông tin về việc sử dụng nhà tiêu còn nhiều hạn chế. Đại bộ phận
nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện chủ yếu tham gia sản xuất nông, lâm
nghiệp cuộc sống còn gặp rất nhiều khó khăn. Theo kết quả nghiên cứu của
tôi tỷ lệ người dân tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm đến 99%, chỉ có một
tỷ lệ rất nhỏ người dân tham gia vào các ngành nghề khác như công nhân
(0,1%), cán bộ công chức (0,1%), buôn bán (0%) (theo kết quả bảng 3.1). Tỷ
52
lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Nhu với tỷ lệ nông dân là
73,8% [35]. Điều này cho thấy người dân tộc Dao ở đây chưa có điều kiện
thay đổi cuộc sống, thoát khỏi truyền thống xưa nay của ông cha họ, họ vẫn
duy trì cuộc sống với ruộng vườn, nương rẫy, con trâu, cái cày mà không
tham gia các ngành nghề khác vừa để nâng cao hiểu biết cũng góp phần tăng
thêm thu nhập để cuộc sống tốt hơn.
Thành phần giới của chủ hộ trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
nam chiếm đa số (93%). Thành phần giới của chủ hộ cũng là vấn đề cần
nghiên cứu vì nó liên quan đến văn hóa gia đình Á đông. Trong đó có vấn đề
về vai trò chủ hộ trong việc quyết định các công việc liên quan đến xây dựng
các công trình của gia đình cũng như các công trình vệ sinh và các công trình
liên quan đến sức khỏe. Việc chủ hộ là giới nam chiếm đa số có thể là yếu tố
thuận lợi cho việc triển khai thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục sức
khỏe, việc quyết định thực hiện thay đổi hành vi có thuận lợi vì vai trò quyết
định của đàn ông trong văn hóa gia đình Á đông truyền thống.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu trong độ tuổi lao động, từ 25- 59 tuổi
chiếm 89,2%, độ tuổi trên 60 chiếm 8,2% và dưới 25 tuổi chỉ chiếm 2,6% với
trình độ học vấn còn thấp. Hầu hết người dân chỉ biết đọc, biết viết (59,9%),
trình độ tiểu học chiếm 28,3%, trình độ THCS 0,3%, mù chữ chiếm đến
11,5% và không có người dân nào đạt trình độ THPT và trung cấp, cao đẳng,
đại học. Điều này cũng phù hợp với một huyện miền núi với điều kiện kinh tế
khó khăn như vậy. Tuy nhiên, so với một nghiên cứu khác cũng trên đối
tượng là người dân tộc thiểu số cụ thể là người dân tộc Mông tại tỉnh Thái
Nguyên của Lê Văn Thái thì trình độ học vấn của đối tượng trong nghiên cứu
của tôi thấp hơn, trình độ THCS (9,3%), THPT (0,9%) [47]. Và cũng thấp
hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Nhu THCS 42%, THPT 18,6%, đại học
7,3% và không có người dân nào mù chữ [35]. Trình độ học vấn thấp có ảnh
53
hưởng rất lớn đến công tác chăm sóc sức khỏe và tiếp cận với các dịch vụ y
tế, việc cập nhật kiến thức về vệ sinh môi trường đặc biệt là kiến thức về việc
sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, những bệnh tật gây ra do không sử dụng nhà
tiêu, từ đó mới đưa những biện pháp bảo vệ và nâng cao sức khỏe.
4.1.2. Thực trạng về sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại 3 xã ở
huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
4.1.2.1. Thực trạng hộ gia đình có và không có nhà tiêu
Từ trước đến nay, đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành nhằm tìm
hiểu về vấn để xây dựng và sử dụng nhà tiêu, đặc biệt là nhà tiêu hợp vệ sinh,
về giải quyết vấn đề ảnh hưởng của phân người đến sức khỏe con người, cũng
như tìm hiểu mô hình bệnh tật ở các vùng khác nhau liên quan đến tỷ lệ và
tình trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh. Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều giải
pháp và nhằm cải thiện mô hình bệnh tật liên quan đến phân người. Đảng,
Nhà nước, ngành y tế cũng đã có nhiều chủ trương, đề ra biện pháp nhằm tăng
tỷ lệ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân. Tuy nhiên qua nhiều nghiên
cứu trước đây, vấn đề xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh là rất khó khăn. Tỷ lệ
nhà tiêu hợp vệ sinh nhìn chung vẫn còn thấp, nhất là các khu vực nông thôn,
vùng sâu, vùng cao.
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu ở các xã
nghiên cứu là 56,1%. Kết quả nghiên cứu của tôi thấp hơn so với kết quả của
nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thái trên đối tượng người dân tộc Mông tại
huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (63,7%) [47]. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu
trong nghiên cứu của tôi cũng thấp hơn khi so sánh với kết quả nghiên cứu
của Ngô Thị Nhu tại huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình (94,9%) [35]. So sánh với
nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn trên đối tượng người dân tộc Dao tỉnh Thái
Nguyên cho kết quả tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu đạt 29,4% [54] thì tỷ lệ hộ
gia đình có nhà tiêu trong nghiên cứu của tôi cao hơn. Kết quả trong nghiên
54
cứu của Hoàng Thị Thu Hà tại tỉnh Thái Nguyên thì tỷ lệ này lại cao hơn
(91%) [23]. Khi so sánh với kết quả Tổng điều tra về nông thôn, nông nghiệp
và thủy sản với kết quả tỷ lệ số hộ có nhà tiêu là 88,8% năm 2006 và 91,4%
năm 2011 [25] thì tỷ lệ có nhà tiêu tại hai xã nghiên cứu của tôi cũng thấp
hơn.
Từ kết quả nghiên cứu và so sánh trên cho thấy: Tỷ lệ hộ gia đình có
nhà tiêu trong nghiên cứu của tôi hầu như là thấp hơn so với các nghiên cứu
khác kể cả khi so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với các nghiên cứu
trong phạm vi địa bàn rộng lớn, đa dạng như kết quả tổng điều tra về nông
thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 hoặc các nghiên cứu ở những địa
điểm khác nhau trong tỉnh Thái Nguyên hay trong các tỉnh thành khác. Qua
nghiên cứu có thể thấy vị trí địa lý, tình hình kinh tế xã hội, cũng như quan
niệm của cộng đồng người dân có ảnh hưởng lớn đến khả năng thực hành
về chăm sóc sức khoẻ. Vấn đề này góp phần khẳng định giải pháp cải thiện
tình hình yếu kém về xây dựng và sử dụng công trình vệ sinh. Do đó để nâng
cao sức khỏe cho cộng đồng dân cư phải thông qua việc nâng cao đời sống
kinh tế kết hợp với tăng cường công tác giáo dục nâng cao nhận thức người
dân.
4.1.2.2. Thực trạng các loại nhà tiêu đang sử dụng tại các hộ gia đình người
dân tộc Dao, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề nhà tiêu hợp vệ sinh, ảnh
hưởng của việc không sử dụng nhà tiêu đến sức khỏe cộng đồng. Đảng, Nhà
nước và Bộ y tế cũng có nhiều chủ trương, chính sách cải thiện điều kiện vệ
sinh cho các dân tộc ở miền núi. Tuy nhiên vấn đề sử dụng nhà tiêu hợp vệ
sinh của nhiều vùng miền vẫn còn khác nhau.
Trong nghiên cứu của tôi tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là 56,1%, trong
đó tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh chỉ đạt 8,9%. Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên
55
cứu của Lê Văn Thái trên đối tượng người dân tộc Mông ở Thái Nguyên
(34,7%) [47]. So với nghiên cứu của Hoàng Anh Tuấn thì tỷ lệ này vẫn thấp
hơn (16,7%) [54]. Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn trên đối
tượng người dân ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái nguyên thì tỷ lệ hộ gia đình có
nhà tiêu hợp vệ sinh là 74,4% [43] cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của
tôi. So với kết quả nghiên cứu của Phạm Trung Kiên trên đối tượng người dân
tộc thiểu số tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên thì tỷ lệ hộ gia đình có nhà
tiêu hợp vệ sinh đạt 10,5% [31], tỷ lệ này tuy thấp nhưng vẫn cao hơn so với
nghiên cứu của tôi. Và nếu so với kết quả Tổng điều tra về nông thôn, nông
nghiệp và thủy sản năm 2006 với kết quả tỷ lệ số hộ có nhà tiêu là 88,8% và
nhà tiêu hợp vệ sinh là 47% [63] thì tỷ lệ có nhà tiêu và có nhà tiêu hợp vệ
sinh trong nghiên cứu của tôi cũng vẫn thấp hơn. Như vậy qua kết quả nghiên
cứu và so sánh với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác thực hiện trên
những đối tượng dù là có những nét tương đồng nhau về dân tộc, trình độ học
vấn, hay là ở những khu vực địa lý khác nhau thì tỷ lệ các hộ gia đình có nhà
tiêu hợp vệ sinh trong nghiên cứu của tôi vẫn thấp hơn. Đó là do kiến thức
của người dân ở các xã nghiên cứu của tôi còn kém, phong tục tập quán tiếp
nối thừ thời cha ông còn quá lạc hậu, họ thích đi vệ sinh ở những chỗ thoáng
mát, rộng rãi. Bên cạnh đó về phía cán bộ y tế, mặc dù số lượng đủ nhưng
hiệu quả truyền thông chưa cao do lồng ghép nhiều chương trình trong một
buổi truyền thông nên người dân không lĩnh hội được.
Trong số 56,1% hộ gia đình có nhà tiêu thì thực tế các hộ gia đình
người dân tộc Dao tại đây hầu hết chỉ làm được và sử dụng nhà tiêu đào
(79,5%), đây không phải nhà tiêu hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quy định của bộ
y tế. Các loại nhà tiêu khác thuộc loại nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của
Bộ y tế được người dân ở đây sử dụng rất ít, chủ yếu là nhà tiêu thấm dội
nước (64,4%), nhà tiêu hai ngăn (26,7%), còn hai loại nhà tiêu còn lại tỷ lệ
56
người dân sử dụng rất ít: nhà tiêu chìm có ống thông hơi (6,7%), đặc biệt thấp
là nhà tiêu tự hoại, tỷ lệ người dân sử dụng chỉ đạt 2,2%. So với kết quả
nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hà thì tỷ lệ người dân sử dụng các loại nhà
tiêu hợp vệ sinh cao hơn: nhà tiêu tự hoại 47%, hai ngăn 32%, thấm dội nước
1% [23].
Trong nghiên cứu có 10,1% hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hai ngăn
nhưng khi xét các tiêu chí của nhà tiêu hợp vệ sinh thì chỉ có 12 nhà tiêu hợp
vệ sinh chiếm tỷ lệ 23,7%. Cụ thể, trong số 7 tiêu chí chính về sử dụng nhà
tiêu hai ngăn theo quy định của Bộ Y tế có 5 tiêu chí đạt trên 50%, trong đó
có một tiêu chí đạt 100% đó là không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước dội,
nước tiểu. Tuy nhiên tiêu chí quan trọng về sử dụng nhà tiêu đó là không sử
dụng đồng thời hai ngăn đạt tỷ lệ dưới 50% (49%). Trong số 5 tiêu chí phụ về
sử dụng nhà tiêu hai ngăn theo quy định của Bộ Y tế có 3 tiêu chí đạt trên
50%, có một tiêu chí đạt 100%, đó là được che chắn kín đáo, ngăn được mưa
nắng. Tuy nhiên tiêu chí quan trọng trong vấn đề sử dụng nhà tiêu đó là mặt
sàn và rãnh nước tiểu sạch, không đọng nước lại chiếm tỷ lệ thấp nhất
(29,2%). So với nghiên cứu của Lê Văn Thái khi đánh giá các tiêu chí của nhà
tiêu hai ngăn thì tỷ lệ các tiêu chí đạt cũng tương đương trong nghiên cứu của
tôi, có 6 tiêu chí có tỷ lệ đạt trên 50%, còn 9 tiêu chí có tỷ lệ hộ đạt thấp, thấp
nhất là hai tiêu chí không có mùi hôi thối (11,8%), không có ruồi hoặc côn
trùng trong nhà tiêu (11,8%) [47]. Hai tiêu chí đạt tỷ lệ thấp vẫn là tiêu chí về
quá trình sử dụng nhà tiêu của người dân. Việc giữ gìn nhà tiêu của gia đình
sạch sẽ, mặt sàn sạch, không đọng nước là việc mỗi thành viên trong gia đình
hoàn toàn có thể làm được. Tuy nhiên vẫn còn những hộ gia đình chưa thực
hiện được tiêu chí này thì nên xem lại thói quen sinh hoạt và ý thức khi sử
dụng nhà tiêu. Việc hộ gia đình có nhà tiêu là điều rất tốt, nhưng khi đã xây
dựng được nhà tiêu của gia đình mình rồi thì vấn đề là sử dụng làm sao cho
57
nhà tiêu luôn sạch sẽ, đạt tiêu chuẩn là nhà tiêu hợp vệ sinh thì là vấn đề càng
được quan tâm.
Đối với loại nhà tiêu thấm dội nước cũng tương tự như vậy, tổng số 45
hộ gia đình có nhà tiêu chiếm tỷ lệ 8,9% nhưng chỉ có 29 nhà tiêu hợp vệ sinh
chiếm tỷ lệ 64,4%. Trong số 10 tiêu chí về sử dụng nhà tiêu thấm dội nước
theo quy định của Bộ Y tế hầu hết các tiêu chí đạt tiêu chuẩn chiếm tỷ lệ cao,
trong đó có tiêu chí đạt 100%, đó là dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy.
Tuy nhiên có hai tiêu chí đạt tiêu chuẩn còn chiếm tỷ lệ thấp đó là không có
ruồi, côn trùng trong nhà tiêu (24,4%) và vệ sinh xung quanh sạch sẽ (28,9%).
Vẫn là hai tiêu chí về quá trình sử dụng mà người dân vẫn chưa thực hiện
được.
Đối với nhà tiêu tự hoại và nhà tiêu chìm có ống thông hơi thì số hộ gia
đình sử dụng loại nhà tiêu này tuy ít nhưng đó hầu hết đều đạt tiêu chuẩn theo
quy định của bộ y tế và qua quan sát được đánh giá là nhà tiêu hợp vệ sinh. Số
hộ gia đình sử dụng nhà tiêu chìm có ống thông hơi là 3 thì cả 3 đều được
đánh giá là nhà tiêu hợp vệ sinh. Và có 1 trên 4 nhà tiêu tự hoại được đánh giá
là nhà tiêu hợp vệ sinh. Qua đó ta thấy rằng việc có nhà tiêu nhưng sử dụng
nhà tiêu không hợp vệ sinh cũng vẫn gây ra những tác hại cho người sử dụng.
Bởi khi các hộ gia đình đã đầu tư xây dựng được nhà tiêu nhưng không thực
hiện đầy đủ các tiêu chí vệ sinh thì nhà tiêu của họ vẫn có nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và những người
xung quanh.
4.2.Một số yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng nhà tiêu của các hộ gia
đình nghiên cứu
4.2.1. Yếu tố nguồn lực, hoạt động của cán bộ y tế thực hiện chương trình
vệ sinh môi trường
58
Các cán bộ y tế cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc có sử dụng nhà
tiêu hay không của người dân. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc khám
chữa bệnh, truyền thông giáo dục nâng cao sức khỏe cho người dân trong toàn
xã trong đó có vấn đề vệ sinh môi trường, sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh tránh
làm ô nhiễm môi trường xung quanh và sức khỏe cộng đồng.
Theo kết quả nghiên cứu thì số lượng cán bộ y tế ở các xã phụ trách
chương trình vệ sinh môi trường là tương đương nhau. Tỷ lệ cán bộ phụ trách
chương trình vệ sinh môi trường ở xã Phan Thanh là 6,7%, xã Vũ Nông là
7,7%, xã Ca Thành là 7,3%. Khi tổ chức các buổi truyền thông ngoài cán bộ
phụ trách vấn đề vệ sinh môi trường thì các cán bộ trong trạm cũng tham gia.
Tỷ lệ cán bộ tham gia chương trình vệ sinh môi trường ở xã Phan Thanh là
50%, xã Vũ Nông 33,3%, xã Ca Thành 40%. Trong tổng số các cán bộ y tế ở
các xã thì số lượng cán bộ y tế thôn bản cũng khá đông. Xã Phan Thanh có 11
cán bộ, xã Vũ Nông có 10 cán bộ và xã Ca Thành có 11 cán bộ. Trong đó tỷ
lệ y tế thôn bản tham gia chương trình vệ sinh môi trường ở các xã Phan
Thanh là 54,5%, xã Vũ Nông 60%, xã Ca Thành 45,4%. Đội ngũ cán bộ y tế
thôn bản cũng có vai trò quan trọng trong việc đưa thông tin về vấn đề sức
khỏe đến từng người dân. Các cán bộ y tế ở các xã đều được tham dự các buổi
tập huấn về vệ sinh môi trường, lĩnh hội những cập nhật mới về các vấn đề vệ
sinh môi trường để triển khai đến người dân. Tuy nhiên trình độ của cán bộ y
tế ở các xã cũng chưa thực sự cao, mỗi xã chỉ có một bác sĩ, một hoặc hai y sĩ,
điều dưỡng. Theo thông tư 08/2007/TTLT – BYT- BNV thì số lượng cán bộ y
tế ở các trạm y tế xã như vậy là còn thiếu so với mức biên chế tối thiểu cần có
cho mỗi trạm y tế xã. Ở những nơi vùng sâu vùng xa, trình độ dân trí còn
thấp, địa bàn rộng lớn, chia cắt phức tạp nếu có đủ cán bộ y tế thì vấn đề
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân sẽ được thực hiện tốt hơn. Điều này cũng
gây ảnh hưởng phần nào đến công tác khám chữa bệnh cũng như tuyên truyền
59
các vấn đề sức khỏe đến người dân mà cụ thể là vấn đề sử dụng nhà tiêu của
người dân tộc Dao ở địa phương.
Huy động cộng đồng hay xã hội hoá sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm. Huy động cộng đồng
tham gia truyền thông VSMT là một sáng kiến hưởng ứng chủ trương này của
Đảng và Nhà nước. Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác TT-GDSK
nói chung và VSMT nói riêng. Đây cũng là lẽ tất yếu bởi vì khi tuyên truyền,
giáo dục cho mọi người hiểu thì chắc chắn họ sẽ thực hiện tốt hơn rất nhiều
so với khi họ chưa hiểu hoặc là hiểu chưa đầy đủ. Mặt khác công tác VSMT
liên quan đến tất cả mọi người và mọi gia đình trong xã hội vì vậy việc xã hội
hoá công tác này là điều rất cần thiết. Trong thực tế khi triển khai trên một địa
bàn rộng lớn và phức tạp muốn đạt được kết quả tốt thì phải lồng ghép với các
chương trình trên cùng địa bàn và duy trì các hoạt động liên tục. Các cán bộ y
tế ở các xã đã tiến hành được nhiều buổi truyền thông bằng nhiều hình thức
cho nhiều lượt người nghe.
Trong năm 2015 các cán bộ y tế xã cũng đã thực hiện các buổi truyền
thông sức khỏe. Bằng các phương pháp truyền thông trực tiếp hay các phương
tiện truyền thông gián tiếp như tivi, đài, sách, báo, pa nô, áp phích các cán bộ
đã truyền thông được đến người dân những kiến thức về vệ sinh môi trường,
kiến thức về sử dụng nhà tiêu và lồng ghép với một số hoạt động truyền thông
khác của xã.
Các cán bộ y tế ở các xã cũng đã thực hiện các buổi truyền thông về vệ
sinh môi trường, vấn đề sử dụng nhà tiêu đến từng người dân. Bên cạnh
những hoạt động đã thực hiện được các cán bộ vẫn muốn được học hỏi và thu
nhận nhiều thông tin mới để triển khai đến người dân. Qua kết quả nghiên cứu
tôi thấy các cán bộ y tế ở các xã đều có nhu cầu được tập huấn về vệ sinh môi
trường bởi có lẽ qua nhiều thời gian triển khai truyền thông nhưng tỷ lệ người
60
dân sử dụng nhà tiêu vẫn rất thấp, đặc biệt số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu
hợp vệ sinh lại càng thấp hơn. Đó là do cách thức tổ chức truyền thông chưa
phù hợp và trong một buổi truyền thông các cán bộ y tế phối hợp nhiều nội
dung. Bên cạnh đó các cán bộ y tế ở các xã cũng có nhu cầu được tập huấn về
các bệnh tật do do ô nhiễm môi trường gây ra và cách phòng chống bởi bệnh
tật gây ảnh hưởng trực tiệp đến sức khỏe, từ đó ảnh hưởng đến khả năng lao
động, kinh tế của chính bản thân và gia đình các hộ gia đình. Từ sự ảnh
hưởng của bệnh tật như vậy các cán bộ sẽ có các biện pháp tác động trở lại
người dân làm sao để giữ gìn vệ sinh môi trường sạch sẽ, qua đó có thể làm
tăng số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu
Như vậy yếu tố nguồn lực cũng đóng vai trò quan trọng trong vấn đề
các hộ gia đình có sử dụng nhà tiêu hay không sử dụng. Ngoài yếu tố kiến
thức, thái độ của người dân thì cúng ta cũng quan tâm đến yếu tố nguồn lực,
các hoạt động truyền thông của các cán bộ y tế. Chính qua những buổi truyền
thông dù là trực tiếp hay gián tiếp cũng góp phần giúp người dân tiếp cận
được với các thông tin về sức khỏe, giúp họ hiểu biết hơn về các vấn đề sức
khỏe nói chung, các vấn đề về vệ sinh môi trường nói riêng và đặc biệt là vấn
đề sử dụng nhà tiêu. Với nguồn lực và các hoạt động ở địa phương còn thiếu
như vậy thì hoạt động cũng như hiệu quả truyền thông cũng không cao, do đó
tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân vẫn thấp.
4.2.2.Sự quan tâm của các ban ngành đoàn thể
Bên cạnh rất nhiều vấn đề của xã, các ban ngành đoàn thể xã cũng đã
quan tâm đến vấn đề sử dụng nhà tiêu của người dân ở địa phương, nhưng sự
quan tâm cũng chưa thực sự sát sao do ở xã còn nhiều vấn đề cần được quan
tâm ưu tiên hơn. Họ phối hợp với nhau trong công tác truyền thông cũng như
vận động, tuyên truyền người dân, lồng ghép vào các buổi họp xóm để họ
hiểu được lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu. Lãnh đạo địa phương cũng mong
61
muốn lãnh đạo các cấp tỉnh, cấp bộ đề ra những chính sách hỗ trợ người dân,
quan tâm đến cuộc sống của người dân nơi vùng núi hiểm trở, khó khăn này.
Từ đó nhằm làm tăng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu. Mục đích cũng chính
là bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người dân và bảo vệ môi trường xanh,
sạch, đẹp. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân ở đây vẫn thấp do
kiến thức của người dân còn kém, họ không hiểu được tầm quan trọng cũng
như lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu. Kết hợp với yếu tố phong tục tập quán
lạc hậu, cũ kĩ vẫn còn tồn tại nên tỷ lệ sử dụng nhà tiêu của người dân ở đây
còn thấp.
4.2.3. Về phía người dân
4.2.3.1. Yếu tố kiến thức, thái độ, thực hành của người dân ảnh hưởng đến
việc sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình nghiên cứu
Đây chính là yếu tố thuộc về bản thân người dân tộc Dao. Yếu tố thuộc
về bản thân chính là kiến thức, thái độ, niềm tin, giá trị và thực hành về sử
dụng nhà tiêu.
Qua bảng 3.17 cho thấy kiến thức của đối tượng nghiên cứu về sử dụng
nhà tiêu còn rất kém. Trong đó tỷ lệ người dân được đánh giá đạt kiến thức tốt
là 0,4%, tỷ lệ kiến thức trung bình là 0,9%, còn lại 98,7% người dân chỉ đạt
mức kiến thức kém. Đây quả là một con số đáng được quan tâm khi nói đến
kiến thức của người dân tộc Dao, tỉnh Cao Bằng về sử dụng nhà tiêu. So với
kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Văn Thái nghiên cứu trên đối tượng người
dân tộc Mông ở Thái Nguyên thì tỷ lệ trong nghiên cứu của tôi thấp hơn: kiến
thức tốt 15,3%, kiến thức trung bình 35,1%, kiến thức kém 49,5% [47]. Tỷ lệ
đó cũng thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Thái Sơn: kiến thức tốt 1,2%,
kiến thức trung bình 25%, kiến thức kém 73% [43].
Trong cuộc thảo luận nhóm với nhóm đại diện người dân tộc Dao, cũng
cho thấy kiến thức của người dân về sử dụng nhà tiêu còn thấp, trình độ học
62
vấn phần lớn là chỉ biết đọc, biết viết thậm chí còn có một số người dân mù
chữ nên khi được nghe truyền thông về các vấn đề sức khỏe nói chung và vấn
đề sử dụng nhà tiêu nói riêng thì người dân không hiểu được.
Điều đáng quan tâm là còn nhiều hộ gia đình tuy có hiểu biết và có thái
độ đúng nhưng vẫn sử dụng nhà tiêu và tái sử dụng nhà tiêu không HVS. Điều
này cho thấy nếu chỉ giúp cho người dân có kiến thức và thái độ đúng là chưa
đủ mà cần có những biện pháp phối hợp để họ xây dựng, sử dụng nhà tiêu và
ủ phân HVS. Ở nước ta, từ những năm đầu thập kỷ 60, đã có phong trào xây
dựng nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ để xử lý phân người và liên tục từ đó
đến nay nhiều chương trình dự án đã đưa vào sử dụng các loại nhà tiêu HVS
khác như: tự hoại, hai ngăn ủ phân tại chỗ, thấm dội nước, chìm có ống thống
hơi. Tùy theo kinh nghiệm và thói quen, điều kiện kinh tế, điều kiện địa hình
mà người dân sử dụng các loại nhà tiêu khác nhau cho phù hợp mà vẫn đảm
bảo HVS. Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2001-2010, đặc biệt đã triển khai qua 2
giai đoạn Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn 2001-2005 và 2006-2010, tiếp tục giai đoạn 2011-2015. Mục tiêu
chính về vệ sinh của Chương trình này là phấn đấu năm 2015 có 65% số hộ
gia đình, 100% trường học và trạm y tế có nhà tiêu HVS và do Bộ Y tế chủ trì
thực hiện. Bộ Y tế phối hợp với các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế đã
nghiên cứu nhiều mô hình nhà tiêu HVS áp dụng cho các vùng miền nhằm
khuyến khích người dân xây dựng và tăng tỷ lệ nhà tiêu HVS trên phạm vi cả
nước. Bộ Y tế cũng đã ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu,
hướng dẫn các mô hình, thiết kế mẫu nhà tiêu nơi công cộng và hộ gia đình.
Tiếp tục cải tiến nhà tiêu hai ngăn và nhà tiêu dội nước đạt tiêu chuẩn HVS.
Chọn lọc và cải tiến các công nghệ truyền thống gắn với việc tiếp thu kinh
nghiệm quốc tế áp dụng các công nghệ tiên tiến .
63
Trong các tiêu chuẩn vệ sinh theo Quyết định 08/2005/QĐ-BYT ngày
11 tháng 3 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế qui định 4 loại nhà tiêu HVS
bao gồm nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu hai ngăn ủ phân tại chỗ, nhà tiêu thấm dội
nước, nhà tiêu chìm có ống thông hơi. Theo QCVN 01: 2011/BYT do Cục
Quản lý môi trường y tế biên soạn và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo
Thông tư số: 27/2011/TT - BYT ngày 24 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về qui chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu – điều kiện bảo đảm hợp vệ
sinh có nhà tiêu khô và nhà tiêu dội nước trong đó cụ thể là: nhà tiêu khô nổi,
nhà tiêu khô chìm, nhà tiêu tự hoại, nhà tiêu thấm dội nước. Cả hai Quy
chuẩn này đều không nhắc đến nhà tiêu Biogas. Nhà tiêu Biogas cũng là một
dạng của nhà tiêu tự hoại nên cũng được xếp vào loại nhà tiêu HVS. Tuy
nhiên kinh phí xây dựng nhà tiêu Biogas khá cao nên cũng chưa có nhiều hộ
gia đình xây dựng và sử dụng loại nhà tiêu này
4.2.3.2. Ảnh hưởng của phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt đến sử
dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao tại Cao Bằng
Tại các xã nghiên cứu đều thuộc vùng đồi núi chia cắt phức tạp, đi lại
khó khăn. Người dân sống ở đây từ đời này qua đời khác nên vẫn giữ những
phong tục tập quán lạc hậu từ thời cha ông. Khi xã hội ngày càng phát triển,
hội nhập những thông tin, kiến thức mới phục vụ cho cuộc sống ngày càng
hiện đại hơn thì người dân ở đây vẫn sống và sinh hoạt theo những thói quen
đã quá lạc hậu. Họ vẫn thích đi vệ sinh ở những chỗ rộng rãi, thoáng mát như
rừng trúc, bờ suối, hốc đá mà không hề ý thức đó là hành vi gây ô nhiễm môi
trường, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bản thân họ và những người
xung quanh.
Khi nói đến phong tục tập quán thì đó là một yếu tố có từ rất lâu, cha
truyền con nối từ đời này sang đời khác. Để thay đổi được những thói quen
sinh hoạt cũng như những phong tục tâp quán này quả là một điều không hề
64
dễ, nó cần cả một quá trình và tác động lên nhiều người. Như vậy đây là một
yếu tố cố ảnh hưởng lớn nhất đến việc sử dụng nhà tiêu của người dân ở địa
phương.
65
KẾT LUẬN
1. Thực trạng và sử dụng nhà tiêu của ngƣời dân tộc Dao ở 3 xã huyện
Nguyên Bình
- Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu là 56,1%
- Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng các loại nhà tiêu: hai ngăn 10,1%, chìm có ống
thông hơi 0,6%, thấm dội nước 8,9%, tự hoại 0,8%, đào 79,5%.
- Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh là 91,1%.
- Tỷ lệ HGĐ sử dụng nhà tiêu hai ngăn HVS 23,5%, nhà tiêu chìm có ống
thông hơi HVS 100%, nhà tiêu thấm dội nước HVS 64,4%, nhà tiêu tự hoại
HVS 25%.
2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến việc sử dụng nhà tiêu của ngƣời dân tộc Dao
tại ba xã ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm 2015
2.1. Nguồn lực, hoạt động thực hiện chương trình vệ sinh môi trường
- Số lượng cán bộ y tế còn thiếu theo quy định của thông tư 08/ BYT- BNV
- Các buổi truyền thông phối hợp nhiều nội dung nên hiệu quả truyền thông
chưa cao.
2.2. Các ban ngành đoàn thể
Các ban ngành đoàn thể cũng đã quan tâm đến việc sử dụng nhà tiêu
của người dân, nhưng sự quan tâm chưa thực sự sát sao
2.3. Về phía người dân
2.3.1. Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
- Kiến thức: tỷ lệ người dân có kiến thức về sử dụng nhà tiêu còn thấp. Kiến
thức tốt 0,4%, kiến thức trung bình 0,9%, kiến thức kém 98,7%
- Thái độ của người dân về việc mỗi gia đình cần có nhà tiêu riêng hầu hết là
không đồng ý chiếm tỷ lệ 66,4%, thái độ đồng ý chỉ chiếm 33,6%,
- Thực hành:
+ Sử dụng nhà tiêu hai ngăn: thực hành đúng 23,5%, chưa đúng 76,5%
66
+ Sử dụng nhà tiêu thấm dội nước: thực hành đúng 64,4%, chưa đúng 36,6%
+ Sử dụng nhà tiêu tự hoại: thực hành đúng 25%, chưa đúng 75%
2.3.2. Phong tục tập quán của người dân
Phong tục tập quán của người dân còn lạc hậu, cũ kĩ từ thời cha ông:
+ Người dân thường đi vệ sinh ở bờ suối, bụi cây, vườn trúc, hốc đá.
+ Người dân cho rằng đi vệ sinh ở những chỗ ấy tiện hơn, thoải mái, thoáng
mát hơn.
67
KHUYẾN NGHỊ
1. Bổ sung đủ số lượng cán bộ y tế cho các xã và tập huấn cho các cán bộ y tế
về cách thức truyền thông
2. Tăng cường thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của
người dân về những lợi ích của việc sử dụng nhà tiêu.
3. Cần có các nghiên cứu sâu hơn về phong tục tập quán của người dân tộc
thiểu số ở khu vực miền núi, đặc biệt là người dân tộc Dao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng việt
1. Nguyễn Thị Bình An (2013), “ Đánh giá năng lực y tế công cộng của sinh
viên và cựu sinh viên trường đại học y tế công cộng”, Tạp chí y học thực
hành 873, số 6/2013, tr.99 -100
2. Trần Lan Anh (2013), “Thực trạng nguồn nhân lực trình độ cao ngành y tế
tỉnh Yên Bái giai đoạn 2008 – 2010”, Tạp chí y học thực hành (859), số
2/2013, tr. 69-74
3. Lê Vũ Anh, Trần Hữu Bích (2005), “Nghiên cứu sinh thái đến một số đặc
điểm của xã đến bệnh mắt hột mạn tính ở trẻ em”, Tạp chí y tế công cộng,
11.2005, số 4 (4), tr. 44-49
4. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Chỉ thị số 81/2007/CT-
BNN, Về việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Nước
sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn, Hà Nội
5. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2007), Quyết định số 1467/QĐ-BY
Về việc ban hành quy chế công nhận danh hiệu “gia đình sức khỏe”, “làng
sức khỏe”, “tổ dân phố sức khỏe” và “khu dân cư sức khỏe, Hà Nội
6. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Chỉ thị số 1452/CT- BNN-
TCTL, Về việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Nước
sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012- 2015, Hà Nội
7. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Quyết định 1110/QĐ/BNN-
TCTL, Phê duyệt kết quả các hoạt động truyền thông, tập huấn và hướng dẫn
phổ biến công nghệ thuộc nguồn vốn sự nghiệp chương trình MTQG nước
sạch & VSMTNT, Hà Nội
8. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2012), Quyết định 2570/QĐ/BNN-
TCTL, Phê duyệt điều chỉnh bộ chỉ số và tài liệu hướng dẫn triển khai công
tác theo dõi- đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Hà Nội
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Báo cáo kết quả chương
trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm
2013, Hà Nội
10. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Chỉ thị số
6771/CT/BNN/KH, Về việc xây dựng kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp
nông thôn và lập kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016- 2020, Hà Nội
11. Bộ Y Tế (2005), Quyết định số 08/2005/QĐ/BYT ngày 11/03/2005, Về việc
ban hành tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu, Hà
Nội
12. Bộ Y Tế (2006), Thông tư số 15/2006/TT/BYT ngày 30/11/2006, Hướng dẫn
việc kiểm tra vệ sinh nước sạch, nước ăn uống và nhà tiêu hộ gia đình, Hà
Nội
13. Bộ Y Tế (2011), Thông tư số 27/2011/TT- BYT ngày 24/06/2011 Về việc
ban hành quy chuẩn kỷ thuật quốc gia về nhà tiêu- điều kiện bảo đảm hợp vệ
sinh, Hà Nội
14. Bài giảng môi trường độc chất, Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái
Nguyên năm 2011, tr.69,73.
15. Phan Văn Các, Nguyễn Thành Trung, Nông Thanh Sơn (2003), “Thực trạng
sức khỏe- môi trường bệnh tật, hệ thống y tế và đề xuất các giải pháp tổng
thể tăng cường chăm sóc sức khỏe cho nhân dân vùng trung tâm ATK”, Tạp
chí y học thực hành, công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ Đại học Y Khoa
Thái Nguyên (1998- 2003), (464/11/2003), tr.7- 16.
16. Lê Minh Chính, Nguyễn Thị Bình và cs (2011), “Điều kiện sống và thực
trạng công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở hai bản người dân tộc mông tại
huyện Đồng Hỷ và huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên năm 2011”, Tạp chí y
tế công cộng, 10.2011, số 21 (21), tr.50-55
17. Mai Đình Đức, Nông Văn Tuấn, Nông Thanh Sơn (2005), “ Nghiên cứu giải
pháp giáo dục thích hợp về môi trường và sức khỏe cho đồng bào dân tộc ở
xã Ôn Lương, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” Tạp chí y học thực hành
số 531- HN.KHCN Trường ĐH Y khoa Thái Nguyên- ĐH Thái Nguyên
2005, tr.271- 276.
18. Đỗ Hàm (2009), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học,
Nhà xuất bản lao động- xã hội, Hà Nội, tr.38- 65.
19. Đỗ Hàm (2014), Tiếp cận nghiên cứu khoa học y học, Nhà xuất bản Đại học
Thái Nguyên
20. Đỗ Hàm, Hoàng Khải Lập, Nguyễn Khắc Hùng và cs (1998) , “Một số nhận
xét về thực trạng môi trường sống của đồng bào dân tộc Thái và Mường ở
Sơn La và Hòa Bình”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học (1968- 1998)
tập VIII, Nhà xuất bản y học, tr.26- 31
21. Phạm Minh Khuê (2013), “Thực trạng sử dụng nguồn nước sinh hoạt của
người dân xã Vinh An, Vĩnh Bảo tỉnh Hải Phòng năm 2013”, Tạp chí y học
thực hành (914), số 4/2014, tr. 3-5
22. Hoàng Khải Lập, Nông Thanh Sơn và cs, “Đánh giá thực trạng một số đặc
điểm sự tác động và mối liên quan giữa môi trường- sức khỏe nhân dân xã
Nam Hòa- huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu
khoa học (1968- 1998), Tập IX, Nhà suất bản y học, Hà Nội, tr.17- 47.
23. Hoàng Thị Thu Hà (2012), Thực trạng nhà tiêu hợp vệ sinh hộ gia đình và
các yếu tố ảnh hưởng tại hai xã của tỉnh Thái Nguyên và Hà Nam năm 2011,
Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội.
24. Đàm Khải Hoàn, Hoàng Anh Tuấn (2010), “Nghiên cứu hành vi thực trạng
về vệ sinh môi trường và bệnh tật của người dân thị trấn Trại Cau huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành, số 12 (745), năm
2010, tr. 56 - 59.
25. Trần Thị Thanh Huệ (2009), Kiến thức thực hành về xây dựng, sử dụng bảo
quản, xử lý phân người và một số yếu tố liên quan tại xã bình Kiều, huyện
Khoái Châu tỉnh Hưng Yên năm 2009, Luận văn thạc sĩ y học, Trường Đại
học y tế công cộng
26. Trần Đỗ Hùng, Phạm Văn Tuyên (2013), “Khảo sát thực trạng hố xí hợp vệ
sinh ở các hộ gia đình của xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
năm 2011”, Tạp chí y học thực hành (874), số 6 năm 2013, tr. 102 - 105
27. Phạm Sĩ Hưng (2003), Thực trạng sử lý phân người và kiến thức, thái độ,
thực hành về sử dụng hố xí của người dân tại hai xã miện núi huyện Bình
Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2003, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường
Đại học y tế công cộng
28. Đỗ Minh Hương, Nguyễn Văn Giáp, Nguyễn Thị Quỳnh Hoa (2005),
“Nghiên cứu thực trạng kiến thức,thái độ, thực hành của người dân về sử
dụng nguồn nước và một số giải pháp can thiệp tại xã Ôn Lương huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành số 531- HN.KHCN
Trường ĐH Y khoa Thái Nguyên- ĐH Thái Nguyên 2005, tr.49- 57.
29. Lê Thị Thanh Hương, Trần Khánh Long, Trần Thị Tuyết Hạnh (2012),
“Thực trạng và khuynh hướng sử dụng nguồn nước ăn uống/ sinh hoạt và
nhà tiêu hộ gia đình tại CHILILAB, huyện Chí linh, Hải Dương, 2004 –
2010”, Tạp chí y tế công cộng, t4.2012, số 24 (24), tr. 19
30. Phạm Trung Kiên, Nguyễn Gia Khánh (2010), “Hiệu quả chương trình giáo
dục sức khỏe, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường đối với sức khỏe và
bệnh tật trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây, Kim Bảng, Hà Nam”, Tạp chí y
học thực hành, (704)- số 2/2010, tr.41
31. Phạm Trung Kiên, Đàm Khải Hoàn (2010), “Nghiên cứu huy động cộng
đồng cải thiện hành vi vệ sinh môi trường cho người dân tộc thiểu số ở vùng
đặc biệt khó khăn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực
hành (4/714/2010, tr.130
32. Vương Lan Mai, Trần Thị Mai Oanh (2013), “Thực trạng sử dụng các dich
vụ y tế của một số nhóm dân cư và một số rào cản trong tiếp cận dịch vụ y
tế”, Tạp chí y học thực hành, (876)- số 7/2013, tr.14 - 15
33. Hoàng Văn Minh, Ngyễn Hoàng Thanh, Nguyễn Việt Hùng (2011), “Lợi ích
từ việc phòng ngừa các trường hợp bệnh tiêu chảy nhờ sử dụng nước sạch và
nhà tiêu hơp vệ sinh tại xã Nhật Tân, Kim Bảng, Hà Nam”, Tạp chí y tế công
cộng 11.2011, số 22 (22), tr.61- 65
34. Phạm Thị Nga (2011), Đánh giá quá trình triển khai xây dựng mô hình nhà
tiêu hợp vệ sinh tại xã Đạo Đức, huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc năm
2011, Luận Văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng
35. Ngô Thị Nhu (2010), “Thực trạng nhà tiêu hộ gia đình, nhận thức, thực hành
của người dân về bảo quản và sử dụng nhà tiêu tại ba xã huyện Vũ Thư tỉnh
Thái Bình năm 2009”, Tạp chí y học thực hành, (11/741), tr.25- 28
36. Ngô Thị Nhu (2011), “Đánh giá thực trạng ô nhiếm môi trường không khí do
chăn nuôi gia súc, gia cầm ở hộ gia đình một số xã nông thôn tỉnh Thái Bình
năm 2010- 2011”, Tạp chí y học thực hành (792), số 1/2011, tr. 3-5
37. Ngô Thị Nhu, Đỗ Thị Thu Hiền (2013), “Thực trạng nhận thức, thực hành về
vệ sinh môi trường của người dân tại ba xã vùng nông thôn tỉnh Hải Dương
năm 2012”, Tạp chí y học thực hành (860), số 3/2013, tr. 13-17
38. Nguyễn Cảnh Phú và cs (2013), “Đánh giá kết quả hợp phần vệ sinh giai
đoạn 2006- 2011 thuộc chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh
môi trường nông thôn tại Nghệ An”, Tạp chí y học thực hành (870), số
5/2013, tr.156- 159
39. Trần Đắc Phu (2011), “Tỷ lệ nhà tiêu hộ gia đình tại năm tỉnh miền núi phía
băc”, Tạp chí y học thực hành (798), số 12/2011, tr. 57-59
40. Lê Hồng Quang (2014), Mô tả thực trạng sử dụng nhà tiêu Hợp sinh, kiến
thức, thái độ trong việc sử lý phân nguời và một số yếu tố liên quan tại xã
Nghĩa Lợi, tỉnh Yên Bái từ t10/ 2013 tới tháng 4/2014, Luận văn chuyên
khoa I, Trường đại học y tế công cộng
41. Đặng Thị Vân Quý (2013), “Thực trạng vệ sinh môi trường tại hai xã Tiên
Phong – Châu Sơn- huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam năm 2012”, Tạp chí y học
thực hành (859), số 2/2013, tr. 147-149
42. Trần Phúc Quỳnh (2015), Thực trạng sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh của các
hộ gia đình và các yếu tố liên quan tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình năm
2015, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng
43. Hoàng Thái Sơn (2010), Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh môi
trường của người dân huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên năm 2009, Luận văn
thạc sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
44. Trần Thị Minh Tâm (1998), Đánh giá kiến thức, thái độ, thưc hành của
người dân về nguồn nước sinh hoạt nhà tiêu tại quận Thanh Xuân- Hà Nội
và huyện Châu Giang- Hưng Yên năm 1998, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng,
Trường cán bộ quản lý y tế
45. Bùi Hữu Toàn (2009), Đánh giá thực trạng và nguyên nhân xây dựng, sử
dụng và bảo quản nhà tiêu hợp vệ sinh tại huyện Chương Mỹ- Hà Nội năm
2009, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công cộng
46. Nguyễn Hoàng Thanh, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Việt Hùng (2011),
“Nghiên cứu mối liên quan giữa tình hình ốm đau bệnh tật tự khai báo với
nước sạch vệ sinh môi trường tại xã hoàng Tây và Nhật Tân tại huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam”, Tạp chí y tế công cộng, số 22, tr.46.52
47. Lê Văn Thái (2014), Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng
nhà tiêu của người mông tại hai xã Thượng Nung và Tràng Xá huyện Võ
Nhai tỉnh Thái Nguyên , Chuyên đề tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp I,
chuyên ngành Y tế công cộng, Trường Đại Học Y Dược, Đại học Thái
Nguyên.
48. Phạm Văn Thành (2012), Thực trạng hiệu quả can thiệp bằng giáo dục
truyền thông cải thiện hành vi xử lý phân của người Tày tại huyện Lục Yên,
tỉnh Yên Bái, Luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II, chuyên ngành y tế công
cộng, Trường Đại học y dược Thái Nguyên
49. Nguyễn Đình Thắng (2007), Thực trạng kiến thức thái độ thực hành vệ sinh
môi trường của người Dao xã Hợp Tiến huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên,
Chuyên đề tốt nghiệp bác sĩ đa khoa, Trường Đại học y Dược Thái Nguyên
50. Đào Châu Thu, Phạm Quang Việt, Nguyễn Xuân Trường, Đào Thị Ngọc Lan
“Xử lý phân bắc tại nhà tiêu 3 ngăn tạo thành phân hữu cơ sinh học cho sản
phẩm nông nghiệp”, Tạp chí y học thực hành (789), số 10/2011
51. Nguyễn Thanh Thủy (2004), Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến tình
trạng sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình huyện Thanh Miện, tỉnh Hải
Dương năm 2004, Luận văn thạc sĩ y tế công cộng, Trường Đại học y tế công
cộng
52. Nguyễn Thị Thủy (2012), Thực trạng sử dụng nhà tiêu và kiến thức thực
hành liên quan đến bệnh giun truyền qua đất của người dân xã Phú Cường
huyện Sóc Sơn Hà Nội năm 2011, khóa luận tốt nghiệp cử nhân điều dưỡng,
trường Đại học Y Hà Nội
53. Vũ Văn Tú, Lê Thị Thanh Hương và cs (2011), “Quản lý và sử dụng phân
người và sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam” Tạp chí y tế công cộng, 11.2011,
số 22 (22), tr. 4-13
54. Hoàng Anh Tuấn (2014), Thực trạng hành vi vệ sinh môi trường của người
Dao tại một số xã đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên và thử nghiệm mô
hình can thiệp, Luận án tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.
55. Hoàng Anh Tuấn, Đàm Khải Hoàn (2014), “Hiệu quả can thiệp về vệ sinh
môi trường của người Dao tại các xã đặc biệt khó khăn huyện Võ Nhai tỉnh
Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành (924), số 7/2014, tr.58- 62.
56. Lê Văn Tuấn, Võ Thị Mai (2005), “ Thực trạng môi trường ở xã Ôn Lương
huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành số 531-
HN.KHCN Trường ĐH Y khoa Thái Nguyên- ĐH Thái Nguyên 2005, tr.219-
224.
57. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 366/QĐ- TTg ngày 31/03/2012,
Về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi
trường nông thôn giai đoạn 2012- 2015, Hà Nội
58. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 164/2006/QĐ- TTg ngày
11/07/2006, Về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,
xã an toàn khu vào diện đầu tư chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã
đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006- 2010,
Hà Nội.
59. Hạc Văn Vinh, Đàm Khải Hoàn, Đào Văn Dũng (2010), “Thực trạng sử
dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh, kiến thức, thái độ và thực hành vệ
sinh môi trường của phụ nữ (15- 49 tuổi) có con dưới 5 tuổi tại huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y tế công cộng số 16, 11/2010, tr.5
60. Hà Hải Vũ (2013), Thực trạng ba công trình vệ sinh ở huyện Thông Nông
tỉnh Cao Bằng, chuyên đề tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại
học Y Dược Thái Nguyên
61. Nguyễn Đức Vượng, Đàm Thị Tuyết (2013), “Thực trạng nguồn nhân lực
trung tâm y tế huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí y học thực hành
(869), số 5/ 2013, tr. 43- 47
Tiếng anh
62. Cathy Needham; Hoang Thi Kim; Nguyen Viet Hoa (1998), Epidemiology
of soil- tranmitted nematode infections in Ha Nam province,Viet Nam,
Tropical Medicine and International Health, 3 NO 2, pp 904 – 912
63. Do Thuy Trang; Bui Thi Thu Hien; Ka˚re Mølbak (2007), Epidemiology and
aetiology of diarrhoeal diseases in adults engaged in wastewater-fed
agriculture and aquaculture in Hanoi, Vietnam, Tropical Medicine and
International Health, pp 23 – 33
64. Do Thuy Trang; Ka˚re Mølbak; Phung Dac Cam; Anders Dalsgaard (2007),
Helminth infections among people using wastewater and human excreta in
peri-urban agriculture and aquaculture in Hanoi, Vietnam, Tropical Medicine
and International Health, pp 82 - 90
65. Le thi Thanh Xuan; Luu Ngoc Hoat; Thilde Rheinländer; Anders Dalsgaard;
Flemming Konradsen (),Sanitation behavior among schoolchildren in a
multi-ethnic area of Northern rural Vietnam, Public HealthBMC, pp 140
66. Peter Kjaer Jensen; Pham Duc Phuc; Ander Dalsgaard &Flemming
Konradsen (2005), Successful sanitation promotion musst recognize the use
of latrine water in agreculture - the example of Viet Nam, Bulletin of the
World Health Organization , pp 83
67. Peter KM Jensen; Pham D Phuc; Flemming Konradsen; Lise T Klank;
Anders Dalsgaard4 (),Survival of Ascaris eggs and hygienic quality of
human excreta in Vietnamese composting latrines, Environmental Health, pp
57
68. Phuc Pham Duc (2014), Diarrhoeal diseases among adult population in an
agricultural community Hanam province, Vietnam, with high wastewater and
excreta re-use, BMC Publich Health, pp 978
69. Phuc Pham Duc; Hung Nguyen-Viet; Jan Hattendorf; Jakob Zinsstag; Phung
Dac Cam; Peter Odermatt (2011), Risk factors for Entamoeba histolytica
infection in an agricultural community in Hanam province, Vietnam,
Parasites & Vectors, pp 102
70. Phuc Pham Duc, Hung Nguyen Viet, Jan Hattendorf (2014), Diarrhoeal
disease among adult population in an agricultural community Hanam
province, Viet Nam, with high wastewater and excreter re-use, BMC Publich
Health, pp 978
71. Thomas F Clasen; Kristof Bostoen; Wolf-Peter Schmidt (2010),
Interventions to improve disposal of human excreta for preventing diarrhoea,
The Cochrane Library, issue 6
72. Trung Vu Nguyen; Phung Le Van; Andrej Weintraub (2006), Etiology and
epidemiology of diarrhea in children in Hanoi, Vietnam, International
Journal of Infectious Diseases, pp 298 - 308
PHỤ LỤC 1
PHIẾU QUAN SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ NHÀ TIÊU HỘ GIA ĐÌNH
Mã hộ gia đình: ............
A. THÔNG TIN CHUNG
A1. Họ và tên người được phỏng vấn: …………………………. ...... Tuổi: ..........
A2. Giới: 1. Nam 2. Nữ
A3. Nghề nghiệp: 1. Nông dân 3. Buôn bán 5. Khác
2. Công nhân 4. Cán bộ công chức
A4. Trình độ học vấn: 1. Mù chữ 4. THCS (hết lớp 9)
2. Chỉ biết đọc, biết viết 5. THPT (hết lớp 12)
3. Tiểu học (hết lớp 5) 6. TC, CĐ, ĐH
A5. Quan hệ với chủ hộ: ........................................................................................
A6. Số điện thoại: ...................................................................................................
A7. Địa điểm: Xã …………………., huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
B. THỰC TRẠNG NHÀ TIÊU HỘ GIA ĐÌNH
B1. Hộ gia đình có nhà tiêu không? 1. Có ڤ 2. Không ڤ
B2. Nếu có hộ gia đình đang sử dụng loại nhà tiêu nào?
B2.1. Hai ngăn → Nếu có quan sát bảng kiểm số 1 (trang 2)
B2.2. Chìm có ống thông hơi → Nếu có quan sát bảng kiểm số 2 (trang 3)
B2.3. Thấm dội nước → Nếu có quan sát bảng kiểm số 3 (trang 4)
B2.4. Tự hoại → Nếu có quan sát bảng kiểm số 4 (trang 5)
B2.5. Loại khác: .......................................... ( ghi rõ)
* Đánh giá tiêu chuẩn về xây dựng, bảo quản và sử dụng các loại nhà tiêu theo
tiêu chuẩn ban hành kèm theo Thông tư số 15/2006/TT-BYT, ngày 30 tháng 11
1
năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế)
BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG NHÀ VỆ SINH
1. Bảng kiểm dùng cho nhà tiêu hai ngăn 2 ngăn
Đạt
Không đạt
Các tiêu chí TT
Tường ngăn chứa phân kính, không bị rò rỉ thấm nước
Tiêu chí chính
Cửa lấy phân trát kính bằng vật liệu không thấm nước
1
Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt
2
Có nắp đậy cả 2 lỗ tiêu
3
Lỗ tiêu được đậy kín
4
Không sử dụng đồng thời 2 ngăn,
5
Có đủ chất độn và thường xuyên đổ chất độn sau mỗi lần
6
đi đại tiện
Không lấy phân trong ngăn ủ ra trước 6 tháng
7
Ngăn ủ phân nắp được trát kín
8
Không có mùi hôi, thối
9
10
Cách nguồn nước, sinh hoạt từ 10 m trở lên
11 Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước dội, nước tiểu
12
Các tiêu chí phụ
Mặt sàn và rãnh dẫn nước tiểu sạch, không đọng nước
1
Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu
3 Giấy bẩn được bỏ vào lỗ tiêu hoặc thùng chứa có nắp đậy
Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu
4
Vệ sinh xung quanh sạch sẽ
5
Ống thông hơi có đường kính từ 90mm trở lên, đầu ống
6
cao hơn mái 40cm trở lên và có lưới chắn ruồi
Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng
7
8
Đánh giá: Hợp vệ sinh Không hợp vệ sinh
2
(Những nhà tiêu đạt tất cả các tiêu chí chính và từ 4 tiêu chí phụ trở lên là nhà tiêu hợp vệ sinh).
2. Bảng kiểm dùng cho nhà tiêu chìm có ống thông hơi
Đạt Không đạt
TT Các tiêu chí
Tiêu chí chính
1 Không xây dựng ở nơi thường bị ngập úng
2 Cách nguồn nước, sinh hoạt từ 10 m trở lên
3 Miệng hố phân cao hơn mặt đất ít nhất 20 cm
4 Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt
Có nắp đậy kín lỗ tiêu 5
Có đủ chất độn và thường xuyên đổ chất độn sau mỗi 6
lần đi đại tiện
7 Không có mùi hôi, thối
8 Không có bọ gậy trong dụng cụ chứa nước dội
9 ống thông hơi có đường kính từ 90mm trở lên, đặt
cao hơn mái 40cm trở lên
Các tiêu chí phụ
1 Mặt sàn và rãnh dẫn nước tiểu sạch, không đọng
nước
2 Lỗ tiêu được đậy kín
3 Giấy bẩn được bỏ vào lỗ tiêu hoặc thùng chứa có nắp
đậy
4 Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu
5 Miệng lỗ tiêu không dính phân
6 Vệ sinh xung quanh sạch sẽ
7 Được che chắn kín đáo, ngăn được mưa nắng
Đánh giá: Hợp vệ sinh Không hợp vệ sinh
(Những nhà tiêu đạt tất cả các tiêu chí chính và từ 4 tiêu chí phụ trở lên là nhà tiêu
3
hợp vệ sinh).
3. Bảng kiểm dùng cho nhà tiêu thấm dội nước
Đạt Không đạt
Các tiêu chí TT
Tiêu chí chính
Không xây ở nơi thường bị ngập úng 1
Cách nguồn nước, sinh hoạt từ 10 m trở lên 2
Bể xử lý phân không lún sụt 3
Nắp bể chứa phân được trát kính không rạn nứt 4
Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt 5
Bệ xí có nút nước 6
Có đủ nước dội 7
Dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy 8
Nước từ bể chứa phân hoặc đường dẫn phân không 9
thấm, tràn ra mặt đất
Không có mùi hôi 10
Các Tiêu chí phụ
1 Mặt sàn nhà tiêu không trơn, không đọng nước,
không có rác, giấy bẩn
2 Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào
dụng cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy
Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu 3
Bệ xí sạch, không dính đọng phân 4
Được che chắn kín đáo, ngăn được nước mưa, nắng 5
Vệ sinh xung quanh sạch sẽ 6
4
Đánh giá: Hợp vệ sinh Không hợp vệ sinh Nhà tiêu hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và từ 3 tiêu chí phụ trở lên.
4. Bảng kiểm dùng cho nhà tiêu tự hoại
TT
Đạt Không đạt
Các tiêu chí
Các tiêu chí chính
Bể xử lý gồm 3 bể
1
Bể xử lý phân không lún sụt
2
Lắp bể chứa phân được trát kín không rạn nứt
3
Mặt sàn nhẵn, phẳng, không lún, sụt
4
Bệ xí có nút nước
5
Có ống thông hơi
6
Có đủ nước dội
7
Dụng cụ chứa nước dội không có bọ gậy
8
Không có mùi hôi
9
10 Nước từ bể xử lý chảy vào cống hoặc hố thấm không chảy
tự do ra xung quanh
Các tiêu chí phụ
1 Mặt sàn nhà tiêu không trơn, không đọng nước, không có
rác, giấy bẩn
2 Giấy vệ sinh bỏ vào lỗ tiêu (giấy tự tiêu) hoặc bỏ vào dụng
cụ chứa giấy bẩn có nắp đậy
Không có ruồi, côn trùng trong nhà tiêu
3
Bệ xí sạch, không dính đọng phân
4
Được che chắn kín đáo, ngăn được nước mưa, nắng
5
Vệ sinh xung quanh sạch sẽ
6
Đánh giá: Hợp vệ sinh Không hợp vệ sinh
5
(Những nhà tiêu đạt tất cả các tiêu chí chính và từ 3 tiêu chí phụ trở lên là nhà tiêu hợp vệ sinh).
C. KIẾN THỨC THÁI ĐỘ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI ĐƯỢC
PHỎNG VẤN VỀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU
TT Câu hỏi Trả lời Ghi chú
1 KIẾN THỨC
1. Có Nếu không C1.1 Anh (chị) có biết tên các
loại nhà tiêu không? 2. Không chuyển C2
1. Hai ngăn C1.2 Nếu có anh (chị) hãy kể tên
các loại nhà tiêu? 2. Chìm có ống thông hơi
3. Thấm dội nước
4.Tự hoại
5. Đào
6. Khác
7. Không biết
1. Hai ngăn C2 Anh (chị) cho biết loại nhà
tiêu nào là nhà tiêu HVS? 2. Chìm có ống thông hơi
3.Thấm dội nước
4.Tự hoại
5. Đào
6. Khác
7. Không biết
1. Có Nếu không C3.1 Anh (chị) có biết sử dụng
nhà tiêu không HVS sẽ gây 2. Không chuyển C4
ra bệnh tật không?
1. Tiêu chảy C3.2 Nếu có anh (chị) cho biết sử
dụng nhà tiêu không HVS 2. Giun sán
sẽ gây ra những bệnh gì? 3. Viêm gan A
4. Các bệnh da
6
5. Tả, lỵ, thương hàn
1. Trên 10 mét
2. Dưới 10 mét
C4 Anh (chị) có biết nhà tiêu của gia đình phải cách nguồn nước sinh hoạt bao nhiêu mét? 3. Không biết
1. Có Nếu không
2. Không chuyển C6.1 C5.1 Anh (chị) có biết cách sử dụng đúng nhà tiêu hai ngăn không?
1. Không sử dụng đồng thời C5.2 Nếu có anh (chị) cho biết
cách sử dụng đúng nhà tiêu hai ngăn
hai ngăn như thế nào? 2. Có đủ chất độn
3. Thường xuyên đổ chất
độn sau khi đi đại tiện
4. Không biết
1. Có Nếu không C6.1 Anh (chị) có biết cách sử
dụng nhà tiêu hai ngăn để 2. Không chuyển C7.1
nhà tiêu luôn sạch sẽ
không?
1. Mặt sàn sạch C6.2 Nếu có biết thì sử dụng như
thế nào? 2. Rãnh dẫn nước tiểu
không đọng nước
3. Lỗ tiêu được đậy kín
4. Bệ xí sạch, không dính
đọng phân
5. Giấy bẩn bỏ vào thùng
có nắp đậy
6. Không biết
1. Có Nếu không C7.1 Anh (chị) có biết những tiêu
chuẩn cần có của nhà tiêu tự 2. Không chuyển C8
hoại không?
1. Có đủ nước dội C7.2 Nếu biết những tiêu chuẩn
7
cần có của nhà tiêu tự hoại 2. Bệ xí có nút nước
thì những tiêu chuẩn ấy là 3. Có ống thông hơi
gì? 4. Dụng cụ chứa nước
không có bọ gậy
5. Nước từ bể xử lý chảy
vào cống không dò rỉ ra
xung quanh
6. Không biết
Theo anh (chị) những lý do 1. Phong tục tập quán C8
nào ảnh hưởng đến việc sử 2. Kinh phí xây dựng
dụng nhà tiêu ? 3. Sự quan tâm của các lãnh
đạo địa phương, các ban
nghành đoàn thể
4. Không biết
Theo anh (chị) làm thế nào 1. Được nghe truyền thông C9
để làm tăng số hộ gia đình về những lợi ích của việc sử
sử dụng nhà tiêu? dụng nhà tiêu
2. Được hỗ trợ kinh phí
3.không biết
2 THÁI ĐỘ
Theo anh (chị) không có 1. Rất đồng ý C1
nhà tiêu có ảnh hưởng đến 2. Đồng ý
sức khỏe con người và môi 3. Bình thường
trường xung quanh không? 4. Không đồng ý
5. Rất không đồng ý
Theo anh (chị) mỗi gia đình 1. Rất đồng ý C2
có cần có nhà tiêu riêng 2. Đồng ý
không? 3. Bình thường
4. Không đồng ý
8
5. Rất không đồng ý
1. Rất đồng ý C3 Anh (chị) có ủng hộ chủ
trương làm nhà tiêu của địa 2. Đồng ý
phương không? 3. Bình thường
4. Không đồng ý
5. Rất không đồng ý
1. Rất đồng ý C4 Nếu được hỗ trợ kinh phí
anh (chị ) có xây nhà tiêu 2. Đồng ý
không? 3. Bình thường
4. Không đồng ý
5. Rất không đồng ý
3 THỰC HÀNH
Quan sát qua bảng kiểm để để đánh giá
Cao bằng, ngày…… tháng ……năm 2015
Điều tra viên Xác nhận của địa phương Chủ hộ
9
(ký, ghi rõ họ tên) (ký tên, đóng dấu) (ký, ghi rõ họ tên)
PHỤ LỤC 2
PHIẾU PHỎNG VẤN CÁN BỘ Y TẾ
Mã số phiếu: .................
Anh (chị) vui lòng cho biết những thông tin sau:
1. Họ và tên: ....................................................................... Tuổi: ..............................
2. Dân tộc: ..................................................................................................................
3. Địa chỉ công tác: .....................................................................................................
4. Trình độ văn hóa
a. Tiểu học
b. THPT
c. THCS
5. Trình độ chuyên môn
a. Bác sĩ
b. Y sĩ
c. Điều dưỡng
d. Nữ hộ sinh
e. Y tế thôn bản
6. Tại nơi công tác anh (chị) có tham gia làm công tác vệ sinh môi trường không?
a. Có
b. Không
6.1. Nếu có anh (chị) thường sử dụng phương tiện truyền thông gì?
- Tổ chức truyền thông trực tiếp Có ڤ Không ڤ
- Ti vi, đài Có ڤ Không ڤ
- Sách, báo Có ڤ Không ڤ
- Loa phát thanh Có ڤ Không ڤ
- Pa nô, áp phích Có ڤ Không ڤ
1
6.2. Số buổi truyền thông mà anh (chị) đã thực hiện trong năm 2015
.................................................................................................................................
6.3. Anh (chị) cho biết trong quá trình công tác anh (chị) có được tập huấn về công
tác vệ sinh môi trường không ?
1. Có ڤ
2. Không ڤ
6.4. Anh (chị) có nhu cầu được tập huấn về công tác vệ sinh môi trường không?
1. Có ڤ
2. Không ڤ
6.5. Nội dung anh (chị) muốn được tập huấn về vấn đề gì?
1. Sử dụng nhà tiêu
2. Sử dụng nguồn nước sạch
3. Vấn đề xử lý rác thải
4. Các bệnh tật do ô nhiễm môi trường gây ra và cách phòng chống
5. Khác: ……………………
Xin chân thành cảm ơn !
Cao Bằng, ngày ….. tháng ….. năm 2015
Cán bộ phỏng vấn Người được phỏng vấn Xác nhận của cơ quan công tác
2
(Ký tên, ghi rõ họ tên) (Ký tên, ghi rõ họ tên) (Ký tên, đóng dấu)
PHỤ LỤC 3
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ KAP CỦA NGƯỜI DÂN TỘC DAO VỀ SỬ DỤNG NHÀ TIÊU
1. Hướng dẫn cách chấm điểm kiến thức
Câu hỏi Phương án trả lời Thang điểm (điểm/ câu)
“Có” 1
C11, C121, C122, C123, C124, C125, C21, C22, C23, C24, C31, C321, C322, C323, C324, C325, C41,C42, C51, C521, C522, C523, C61, C621, C622, C623, C624, C625, C71, C721, C722, C723, C724, C725, C81, C82, C83, C91, C92
2. Hướng dẫn tính điểm kiến thức
Điểm kiến thức về các loại nhà tiêu (tổng điểm: 10) bằng tổng điểm của
các câu C11, C121, C122, C123, C124, C125, C21, C22, C23 và C24
Điểm kiến thức về bệnh bệnh gây ra do không sử dụng nhà tiêu (tổng
điểm: 6) bằng tổng điểm của các câu C31, C321, C322, C323, C324 và C325
Điểm kiến thức về khoảng cách tốt nhất khi xây dựng nhà tiêu (tổng
điểm:3) bằng tổng điểm của các câu C41 và C42
Điểm kiến thức về cách sử dụng đúng nhà tiêu (tổng điểm: 21) bằng tổng
điểm của các câu C51, C521, C522, C523, C61, C621, C622, C623, C624, C625,
C71, C721, C722, C723, C724,C725, C81, C82, C83, C91 và C92
3. Hướng dẫn cách phân loại kiến thức, thái độ, thực hành
- Kiến thức được chia làm 3 mức độ: Tốt, trung bình, kém (bảng 3.1)
Bảng 3.1: Phân loại kiến thức của người dân tộc Dao về việc sử dụng nhà tiêu
Phân loại kiến thức Tiêu chuẩn phân loại (so với tổng thang điểm)
Tốt > 80%
Trung bình 50 - 79
Kém < 50
- Về thái độ đánh giá 2 mức:
Đồng ý
Không đồng ý
- Về thực hành đánh giá 2 mức độ: đúng và chưa đúng
Để đánh giá thực hành về sử dụng nhà tiêu của người dân ta dựa vào bảng
kiểm quan sát (phụ lục 1). Đối với từng loại nhà tiêu có các tiêu chí chính và các
tiêu chí phụ để từ đó đánh giá nhà tiêu hợp vệ sinh hay không hợp vệ sinh.
Những hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh được đánh giá là thực hành
đúng và những hộ gia đình sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh được đánh giá là
thực hành chưa đúng
Đánh giá các loại nhà tiêu hợp vệ sinh hay không hợp vệ sinh theo hướng
dẫn sau:
+ Nhà tiêu hai ngăn hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất 4 tiêu
chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu hai ngăn
+ Nhà tiêu chìm có ống thông hơi hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và
đạt ít nhất 4 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu
chìm có ống thông hơi
+ Nhà tiêu thấm dội nước hợp vệ sinh: Đạt tất cả các tiêu chí chính và đạt ít nhất
3 tiêu chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu thấm dội
nước
+ Nhà tiêu tự hoại hợp vệ sinh: Đạt đầy đủ các tiêu chí chính và đạt ít nhất 3 tiêu
chí phụ trở lên trong bảng kiểm đánh giá vệ sinh của nhà tiêu tự hoại
PHỤ LỤC 4
PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU
(Đối với cán bộ y tế)
Địa điểm: Xã ……….., huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Họ và tên người phỏng vấn: ...................................................................................
Ngày….. tháng…… năm ……… phỏng vấn
A. THÔNG TIN CHUNG VỀ NGƯỜI ĐƯỢC PHỎNG VẤN
A1. Họ và tên: ............................... A2. Tuổi: ........... A3. Dân tộc: ........
A4. Giới: 1. Nam 2. Nữ
A5. Chức vụ: ......................... A6. Nơi công tác: ..........................................
A7. Trình độ học vấn:
4. THCS 1. Mù chữ
5. THPT 2. Biết đọc, biết viết
6. TC, CĐ, ĐH 3. Tiểu học
A8. Trình độ chuyên môn: .....................................................................................
B. NỘI DUNG PHỎNG VẤN
1. Đánh giá chung về tình trạng sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình người dân
tộc Dao hiện nay như thế nào?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
2. Lý do những hộ gia đình người dân tộc Dao ở địa phương không sử dụng nhà
tiêu là gì?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
3. Ai là người có vai trò quan trọng trong tuyên truyền người dân thực hiện sử
1
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
4. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhà tiêu của người Dao: văn hóa,
phong tục tập quán, điều kiện kinh tế, sự quan tâm của các cơ quan đoàn thể?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
5. Các hoạt động nào có ảnh hưởng đến sử dụng nhà tiêu của người dân?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
6. Các giải pháp nào thu hút người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
7. Những khó khăn gì khi thực hiện chương trình VSMT tại xã?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Xác nhận của địa phương Người được phỏng vấn Người phỏng vấn
2
(Ký tên, đóng dấu) (Ký tên) (Ký tên)
PHỤ LỤC 5
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM (Đại diện chính quyền và các tổ chức đoàn thể)
I. HÀNH CHÍNH 1. Hướng dẫn viên : ................................................................................................ 2. Thư ký: ............................................................................................................... 3. Thời gian: ........................................................................................................... 4. Địa điểm: ............................................................................................................ 5. Thành viên tham gia thảo luận
Họ và tên Ghi chú
STT 1 2 3 4 5 6 7 8
II. NỘI DUNG
1. Đánh giá chung về tình trạng sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình hiện nay
như thế nào?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
1. Lý do người dân ở địa phương không sử dụng nhà tiêu là gì?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
2. Ai là người có vai trò quan trọng trong tuyên truyền người dân thực hiện sử
dụng nhà tiêu hợp vệ sinh?
.................................................................................................................................
1
.................................................................................................................................
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhà tiêu của người Dao: văn hóa, phong tục tập quán, điều kiện kinh tế, sự quan tâm của các cơ quan đoàn thể ? .................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
4. Các hoạt động nào có ảnh hưởng đến sử dụng nhà tiêu của người dân?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
5. Các giải pháp nào thu hút người dân sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
6. Những ý kiến đóng góp nhằm cải thiện vấn đề sử dụng nhà tiêu ở cộng đồng?
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Thư ký (Ký tên) Hướng dẫn viên (Ký tên)
2
Xác nhận của địa phương (Ký tên, đóng dấu)
PHỤ LỤC 6
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM (Đại diện hộ gia đình người Dao)
I. HÀNH CHÍNH 1. Hướng dẫn viên : ................................................................................................. 2. Thư ký: ................................................................................................................ 3. Thời gian: ............................................................................................................. 4. Địa điểm: .............................................................................................................. 5. Thành viên tham gia thảo luận
Họ và tên Ghi chú
STT 1 2 3 4 5 6 7 8
II. NỘI DUNG
1. Nhận xét chung về tình trạng sử dụng nhà tiêu của người Dao?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
2. Những lý do mà anh (chị) không sử dụng nhà tiêu ?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
3. Không có nhà tiêu thì anh (chị) đi vệ sinh ở đâu?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
4. Tập quán sinh hoạt, thói quen canh tác của người Dao?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
5. Anh (chị) có được nghe truyền thông giáo dục về vệ sinh môi trường không?
.................................................................................................................................
Nếu đã nghe anh (chị) được nghe ở đâu (tivi, đài, loa phát thanh, cán bộ y tế hay
xem qua sách báo, panô áp phích)?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
6. Anh (chị) đã được nghe bao nhiêu buổi truyền thông về vệ sinh môi trường tại
xã? Các hoạt động truyền thông tại xã là những hoạt động gì?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
7. Ai là người có vai trò quan trọng trong thực hiện hoạt động vệ sinh môi trường
tại địa phương?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
8. Làm thế nào để thu hút người dân SD nhà tiêu HVS và quản lý phân hợp lý?
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
Hướng dẫn viên
Thư ký (Ký tên) (Ký tên)
Xác nhận của địa phương (Ký tên, đóng dấu)
PHỤ LỤC 7
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Thảo luận với nhóm đại diện HGĐ người Dao về vấn đề sử dụng nhà tiêu
Phỏng vấn trạm trưởng trạm y tế xã Phan Thanh về tình hình sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở địa phương
`
Thư ký ghi chép lại những nội dung của cuộc thảo luận
Thảo luận với nhóm cơ quan đoàn thể về vấn đề sử dụng nhà tiêu của người dân tộc Dao ở địa phương
Nhà ở của người dân tộc Dao
Đường giao thông đến xã cực kỳ khó khăn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Họ và tên học viên: TRẦN NGỌC THÚY
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Tên đề tài luận văn: Thực trạng và sử dụng nhà tiêu ở người dân tộc Dao tại một
số xã thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Chuyên ngành: Y học dự phòng . Mã số chuyên ngành: 60.72.01.63
Quyết định thành lập Hội đồng đánh giá và bảo vệ luận văn thạc sĩ số: 943/QĐ-
ĐHYD, ngày 20 tháng 5 năm 2016 của Hiệu trưởng trường ĐH Y Dược,
ĐHTN.
Họ và tên người hướng dẫn: Nguyễn Thị Quỳnh Hoa
Học hàm, học vị: Tiến sĩ
Nơi công tác: Bộ môn Sức khỏe môi trường, Sức khỏe nghề nghiệp, Trường Đại
học Y Dược Thái Nguyên
Số điện thoại liên hệ: 0915223299
NỘI DUNG GIẢI TRÌNH:
Ý kiến của học viên và Ý kiến của Hội đồng
TT
1. Ý kiến cán bộ phản biện 1: PGS.TS
Nội dung chỉnh sửa
Để đánh giá thực hành về SD
Nguyễn Quý Thái nhà tiêu của người dân ta dựa vào
- Ý kiến 1: phần thực hành nên bảng kiểm quan sát. Đối với từng
thay đúng/chưa đúng bằng loại nhà tiêu có các tiêu chí chính và
đạt/chưa đạt các tiêu chí phụ để từ đó đánh giá
nhà tiêu HVS hay không HVS .
Những HGĐ sử dụng SD HVS được
đánh giá là thực hành đúng và HGĐ
SD nhà tiêu không HVS được đánh
giá là thực hành chưa đúng
- Ý kiến 2: chú ý tới tính bảo mật Điều này khi trích dẫn ý kiến của
của thông tin khi trình bày kết quả cán bộ y tế, lãnh đạo đoàn thể cũng
định tính như ý kiến của người dân em còn để
phần họ và tên đệm, chỉ dấu tên, đây
cũng là một thiếu sót của em. Vậy
em xin sửa lại các trích dẫn trên, ví
dụ: Bà Hoàng Thị H sẽ sửa thành bà
H.T.H
2. Ý kiến cán bộ phản biện 2:
PGS.TS Nguyễn Minh Tuấn
- - Ý kiến 1: Sửa lại một số câu từ Thực trạng và sử dụng nhà tiêu ở
trong mục tiêu nghiên cứu (thêm người dân tộc Dao tại một số xã
chữ “thuộc” vào tên và mục tiêu) thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao
Bằng -
- Ý kiến 2: Trích dẫn tài liệu ở Đã sửa trích dẫn ở trang 24 là [47].
trang 24 không phải là [23] mà là
[47]
- Ý kiến 3: Cần làm rõ tiêu chí Đã sửa: Chọn chủ đích xã: trong các
chọn chủ đích xã xã thuộc huyện Nguyên Bình chọn 3
xã có người Dao sinh sống cao nhất
- Ý kiến 4: Số liệu trong kết quả Đã định dạng và đồng nhất 1 chữ số
nghiên cứu nên định dạng đồng thập phân sau dấu phẩy và dùng dấu
nhất 1 chữ số thập phân sau dấu phẩy thay cho dấu chấm trong số
phẩy và dùng dấu phẩy thay cho liệu trong kết quả nghiên cứu
dấu chấm
- Ý kiến 5: Luận văn còn một số Đã chỉnh sửa các lỗi chính tả, in ấn,
lỗi chính tả, lỗi in ấn cần chỉnh sửa các thuật ngữ chưa chính xác:
sửa, sửa một số thuật ngữ chưa thuật ngữ “luận án” trong lời cam
chính xác trong lời cam đoan và đoan, “phòng đào tạo sau đại học”
lời cảm ơn trong lời cảm ơn
- Ý kiến 6: Trong danh mục các từ Đã bổ sung trong danh mục các từ
viết tắt các chữ viết tắt tiếng anh viết tắt: các chữ viết tắt tiếng anh đã
cần có tiếng việt kèm theo. Một số có kèm theo tiếng việt. Đã chỉnh sửa
tài liệu tham khảo chưa được tài liệu tham khảo đúng fomat.
fomat theo quy định
3. Ý kiến khác của thành viên hội
đồng:
- Ý kiến của TS Nguyễn Thị Tố Em đã chỉnh sửa: không để thuật
Uyên: nhận xét kết quả không để ngữ ở nhận xét dưới các bảng kết
thuật ngữ: Qua kết quả bảng … quả
cho thấy
Để đảm bảo tính bảo mật em sẽ sửa
- Ý kiến của GS.TS Hoàng Khải lại các trích dẫn trên, ví dụ: Bà Lập: cần sửa cách viết về đạo đức Hoàng Thị H sẽ sửa thành bà H.T.H. trong nghiên cứu. Phần bàn luận Phần bàn luận em đã viết sâu hơn, cần sâu hơn đặc biệt là mục tiêu 2.
Trên đây là toàn bộ các giải trình của học viên về các ý kiến đóng góp của
các thành viên Hội đồng.
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 6 năm 2016
HỌC VIÊN Trần Ngọc Thúy CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GS.TS Hoàng Khải Lập GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN TS Nguyễn Thị Quỳnh Hoa