ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG ANH THƯ
CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG ANH THƯ
CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
Ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan và khẳng định đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Thu Thủy. Các tài liệu và kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất cứ công trình
nào khác.
Tác giả
i
Hoàng Anh Thư
LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô
giáo - TS. Ngô Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới BGH, bạn bè, đồng
nghiệp Trường THPT Chuyên Bắc Kạn, Sở GD&ĐT Bắc Kạn cùng những
người thân yêu đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi
hoàn thành tốt khóa học này.
Tác giả
ii
Hoàng Anh Thư
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC .......................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 7
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 7
6. Cấu trúc của luận văn ...................................................................................... 8
NỘI DUNG ......................................................................................................... 9
Chương 1: CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA VÀ NHỮNG TRANG
VIẾT THỜI HẬU CHIẾN CỦA BẢO NINH ......................................... 9
1.1. Một số khái niệm liên quan ......................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm chủ đề ....................................................................................... 9
1.1.2. Khái niệm tình yêu đôi lứa ...................................................................... 11
1.2. Chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh
từ 1945 đến nay ......................................................................................... 12
1.2.1. Tình yêu đôi lứa trong văn xuôi chiến tranh từ 1945 - 1975................... 12
1.2.2. Tình yêu đôi lứa trong văn xuôi chiến tranh sau 1975 ............................ 16
1.3. Bảo Ninh và những trang viết thời hậu chiến............................................ 21
1.3.1. Tiểu sử ..................................................................................................... 21
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác ................................................................................... 22
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 26
Chương 2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG
VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH ................. 27
2.1. Tình yêu và những rung cảm trong sáng, chân thành ............................... 28
iii
2.1.1. Những rung động đầu đời ........................................................................ 28
2.1.2. Những khát khao được gắn bó bên nhau ................................................. 30
2.2. Tình yêu và nỗi đau của thân phận ............................................................ 32
2.2.1. Những mất mát đớn đau .......................................................................... 32
2.2.2. Những xót xa, nuối tiếc ........................................................................... 40
2.3. Tình yêu và những khao khát bản năng .................................................... 45
2.3.1. Những đòi hỏi bản năng lên tiếng ........................................................... 45
2.3.2. Những thèm khát về thể xác .................................................................... 49
2.4. Tình yêu và sự hi sinh vô điều kiện ........................................................... 53
2.4.1. Những hi sinh quên mình ........................................................................ 53
2.4.2. Những mối tình lặng câm ........................................................................ 55
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 58
Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN
CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ
CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH ........................................................ 59
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật ................................................................... 59
3.1.1. Xây dựng nhân vật qua ngoại hình và ngôn ngữ cơ thể .......................... 59
3.1.2. Xây dựng nhân vật qua hồi ức ................................................................. 64
3.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện ................................................................ 67
3.2.1. Xây dựng cốt truyện theo motip sự kiện: gặp gỡ - chia biệt ................... 68
3.2.2. Xây dựng cốt truyện theo dòng tâm trạng ............................................... 69
3.3. Ngôn ngữ trần thuật ................................................................................... 70
3.3.1. Ngôn ngữ trần thuật giàu chất triết lí, chất trữ tình ................................. 70
3.3.2. Từ ngữ gắn với hồi ức nhân vật ............................................................... 74
3.4. Giọng điệu trần thuật ................................................................................. 76
3.4.1. Giọng điệu ngậm ngùi, day dứt ............................................................... 76
3.4.2. Giọng điệu khách quan, lạnh lùng ........................................................... 79
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 82
PHẦN KẾT LUẬN .......................................................................................... 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 85
iv
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Sáng tác văn học là một quá trình tìm tòi sáng tạo của mỗi nhà văn.
Sau năm 1975, sự đổi mới mọi mặt của đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội đã
chắp cánh cho văn chương bay đến miền đất của sáng tạo, của tự do, vứt bỏ
mọi trói buộc. Viết về chiến tranh vẫn là dòng chảy thầm lặng nhưng khá mạnh
mẽ, với nhiều tên tuổi đã từng đi ra từ cuộc chiến. Điểm chung của những tác
phẩm này là khai thác những cách tiếp cận khác nhau, soi chiếu những góc
khuất của người lính mà trước đây chưa từng hoặc ít được đề cập. Những tác
phẩm viết về chiến tranh Việt Nam đương đại hiện lên như những “sinh thể
tinh thần”, ngoài chủ đề chính chiến tranh - hòa bình, cách mạng - phản cách
mạng, ta - địch, hậu phương - tiền tuyến còn là câu chuyện của tình yêu, ám
ảnh, hạnh phúc, tan vỡ… để từ đó hối thúc “người đọc nhận thức, suy ngẫm,
chất vấn lịch sử và hiện đại”. Những cách tiếp cận, khai thác mới về đề tài này
đã đem đến một sức hấp dẫn mới cho văn học chiến tranh thời hậu chiến.
1.2. Từ sau năm 1975 đến nay, dòng văn học viết về chiến tranh đã để lại
nhiều dấu ấn như Bến không chồng của Dương Hướng, Ăn mày dĩ vãng của Chu
Lai, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Mùa hè giá buốt của Văn Lê, Tàn đen đốm
đỏ của Phạm Ngọc Tiến, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân, Đỉnh cao hoang
vắng của Khuất Quang Thụy, Mình và họ của Nguyễn Bình Phương, Miền
hoang của Sương Nguyệt Minh, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh…
Trong số đó, Bảo Ninh là một trong những nhà văn góp phần đổi mới văn học
viết về đề tài chiến tranh, thể hiện quan niệm về sự đổi mới cách nhìn nhận chiến
tranh. Truyện ngắn Bảo Ninh thể hiện cái nhìn của một người nghĩ về chiến tranh
và viết sau chiến tranh nhưng cuộc chiến ấy vẫn đầy máu và nước mắt.
1.3. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh được coi là một cột mốc quan trọng
của văn học thời kì đổi mới. Nỗi buồn chiến tranh xuất bản lần đầu tiên năm
1990 tại Nhà xuất bản Hội Nhà văn với tên gọi Thân phận của tình yêu, trước
1
đó đã được trích đăng trên tạp chí Tác phẩm văn học của Hội. Ngay năm sau
(1991), cuốn tiểu thuyết được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải nhất (cùng
với Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không
chồng của Dương Hướng). Các nhà phê bình đánh giá đây là một trong những
tiểu thuyết cảm động nhất về chiến tranh. “Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào
mẫu số chung của nhân loại - đó là câu chuyện của thân phận, của mất mát,
của tình yêu và của chiến tranh” (Nguyễn Quang Thiều).
Nhà văn Nguyên Ngọc, người có công lớn trong việc trao giải cho Nỗi
buồn chiến tranh, đánh giá rất cao tác phẩm này. Ông viết: “Đây là cuốn tiểu
thuyết về một cuộc chiến đấu của một con người tìm lẽ sống hôm nay. Bằng
cách chiến đấu lại cuộc chiến đấu của đời mình. Cuốn sách này không mô tả
chiến tranh. Nó “mô tả” một cuộc kiếm tìm nặng nhọc chính hôm nay. Hiện
thực ở đây là hiện thực bên trong của một tâm hồn quằn quại và đầy trách
nhiệm, quằn quại vì đầy trách nhiệm. Trách nhiệm lương tâm. Cuốn sách nặng
nề này không bi quan. Vẫn thấm sâu ở đâu đó trong từng kẽ chữ của nó một âm
hưởng hi vọng tiềm tàng, chính là vì thế. Anh đi tìm, nghĩa là anh còn hi vọng”
[45]. Tác phẩm là cuốn tiểu thuyết về tình yêu bi thảm trong chiến tranh, về nỗi
buồn chiến tranh. Hai chủ đề đan cài vào nhau thật khó tách bạch riêng rẽ.
Truyện ngắn Bảo Ninh lại đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về
chiến tranh, về cuộc sống của con người trong và sau chiến tranh. Ông đã đưa
người đọc đi qua nhiều cảnh đời hết sức bình dị, tình người cảm động, xót xa
và cay đắng. Đó là kí ức về cuộc chiến với những éo le, đau khổ và vết thương
không thể hàn gắn của những cuộc đời đi qua chiến tranh. Nhưng nỗi buồn
không tuyệt vọng mà thanh lọc con người, làm cho nó “người” hơn.
1.4. Bảo Ninh - nhà văn “viết về chiến tranh như viết về tình yêu”, dường
như trong tâm hồn ông, chiến tranh là nỗi nhớ da diết, là nỗi buồn day dứt khôn
nguôi. Đọc tác phẩm của ông, ta hiểu con người đau khổ, trăn trở, nhận thức về
quá khứ, về chiến tranh, về được mất trong cuộc đời, đặc biệt là nỗi đau trong
tình yêu. Ở đó có những tình yêu trong sáng, chân thành, tình yêu gắn với lí
2
tưởng cao đẹp, có tình yêu và sự hi sinh vô điều kiện, nhưng ám ảnh nhất là
những tình yêu giằng xé đớn đau, là những vết sẹo nhức nhối không thể nào
xoa dịu.
Sau hơn ba thập niên viết văn, với không ít những thăng trầm, Bảo Ninh
với truyện ngắn Ngàn năm mây trắng được đưa vào danh mục tác phẩm tự
chọn trong chương trình Ngữ văn mới (Ban hành kèm theo Thông tư số
32/2018/TT-BGDĐT ngày 28/12 /2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo). Điều đó
càng khẳng định văn học đương đại không thể thiếu một gương mặt cá tính,
một lối viết văn độc đáo như Bảo Ninh. Với việc thực hiện đề tài này, chúng tôi
sẽ có cơ hội học tập, bổ sung và làm đầy đặn thêm kiến thức, với tâm thế “đón
đầu” chương trình giáo dục phổ thông mới. Đó là những lí do để chúng tôi lựa
chọn đề tài Chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh của
Bảo Ninh.
2. Lịch sử vấn đề
Bảo Ninh là cây bút làm nên một phần diện mạo vừa độc đáo, vừa đa dạng
cho văn học thời kì đổi mới. Sự xuất hiện của ông không ồn ào nhưng càng
ngày càng chinh phục trái tim độc giả. Người đọc bị hút vào tác phẩm của ông
bởi những câu chuyện chân thực, bởi những cảm xúc nghẹn ngào đến xót xa.
Chiến tranh và hậu chiến là đề tài bao trùm sáng tác của ông. Khác với các tác
phẩm trước năm 1975 mang tính sử thi, miêu tả chiến tranh từ góc độ cộng
đồng, Bảo Ninh miêu tả chiến tranh từ góc độ cá nhân, thân phận con người.
Làm nên tên tuổi của ông, ngoài tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, còn hàng
loạt những truyện ngắn đưa đến cái nhìn đa dạng, đầy đủ và toàn diện về chiến
tranh và hậu chiến tranh. Thời gian gần đây, tác phẩm của Bảo Ninh đã nhận
được sự quan tâm của giới sáng tác cũng như phê bình văn học đương đại.
2.1. Những nghiên cứu về chủ đề tình yêu đôi lứa trong tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh
Từ khi tác phẩm ra đời đến nay, các công trình nghiên cứu về Nỗi buồn
chiến tranh có rất nhiều. Mỗi người soi chiếu ở một góc độ khác nhau với
3
những lí giải riêng của mình. Trên bình diện tổng quát, các hướng nghiên cứu,
các vấn đề được đặt ra từ Nỗi buồn chiến tranh có thể được lí giải từ các bài
viết của: Phạm Xuân Thạch (Về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo
Ninh, Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - suy nghĩ từ những tác phẩm về chủ đề
lịch sử, Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến, từ chủ nghĩa
anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp), Trần Thanh Hà (Từ phân tâm học tìm
hiểu tính hiện đại thể hiện qua tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo
Ninh - Sông Hương, số 195, tháng 5/2005), Trần Quốc Hội (“Trình tự” trong
thời gian nghệ thuật của Ăn mày dĩ vãng và Nỗi buồn chiến tranh - tiếp cận từ lí
thuyết thời gian của Genette, Sông Hương, số 225, tháng 11/2007), Thụy Khuê
(Sóng từ trường, Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh), Đoàn Cầm Thi (Nỗi buồn
chiến tranh: tự truyện bất thành), Trần Xuân An (Thủ pháp “Dòng ý thức” với
ám ảnh về sự thật trong “Nỗi buồn chiến tranh”,... Nỗi buồn chiến tranh cũng
thu hút sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chọn làm đối tượng cho
công trình nghiên cứu của mình. Điều đó cho thấy công chúng văn học ở bộ
phận ưu tú rất đề cao những giá trị, những vấn đề nơi Nỗi buồn chiến tranh.
Đối với chủ đề tình yêu đôi lứa, tác giả Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện
đại (2000) đã khẳng định: “Trong văn học mấy chục năm nay, có thể Thân
phận của tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu thuyết về tình
yêu xót thương nhất” [23, tr.266]. Tác giả nhấn mạnh: Bên cạnh Nỗi buồn chiến
tranh được phản ánh trong tác phẩm là nỗi buồn về tình yêu. (…) Nỗi buồn
chiến tranh và nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau. Tình yêu, chiến tranh, viết tiểu
thuyết, ba nhịp đó xen kẽ, đan chéo, gây chóng mặt, bàng hoàng, nhức nhối.
Len lỏi, bao trùm và dẫn dắt tất cả các biến động của tiểu thuyết là một mối
tình đau xót, kéo dài, vang vọng, âm ỉ và nổ bùng, hủy hoại tất cả. Nguyễn
Quang Thiều, trong tạp chí Thể thao và Văn hóa, số ra ngày 28/10/2006, cho
rằng: “Nỗi buồn chiến tranh đã chạm vào mẫu số chung của nhân loại - đó là
câu chuyện của thân phận, của mất mát, của tình yêu và của chiến tranh…”.
Đoàn Cầm Thi trong bài Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt
4
Nam đương đại (2004) cũng cho rằng: “Trong Nỗi buồn chiến tranh, chiến
tranh, tình yêu, tình dục được Bảo Ninh khai thác trong mối liên quan trực tiếp
với văn học, thông qua mối ràng buộc tay ba giữa Kiên, Phương và cha Kiên,
trong khung cảnh những ngày đầu chống Mỹ”[62].
2.2. Những nghiên cứu về chủ đề tình yêu đôi lứa trong truyện ngắn Bảo Ninh
Bảo Ninh là một trong số những nhà văn có nhiều đóng góp trên hai thể
loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Bùi Việt
Thắng khẳng định: “Bảo Ninh là một trong những nhà văn có duyên với truyện
ngắn.” [15, tr.337]. Bích Thu trong Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975
cũng xem Bảo Ninh là một cây bút ấn tượng với người đọc. Trong bài “Nỗi
buồn chiến tranh” viết về chiến tranh thời hậu chiến - Từ chủ nghĩa anh hùng
đến nhu cầu đổi mới bút pháp, Phạm Xuân Thạch nhận xét truyện ngắn Bảo
Ninh “giống như những mảnh vỡ của tiểu thuyết hoặc phản chiếu, hoặc soi
sáng thế giới của tiểu thuyết” [52]. Đoàn Ánh Dương trong bài Bảo Ninh - nhìn
từ thân phận của truyện ngắn, 2009 cho rằng: “Văn Bảo Ninh là câu chuyện
đời (life narrative) của chính ông. Ở đó, kí ức cá nhân trở thành chất liệu của
hư cấu còn hư cấu xét đến cùng tượng như một lẽ viết, và vì thế, một lẽ sống”.
“Văn Bảo Ninh luôn là những cật vấn vào các vấn đề của quá khứ, về sức
mạnh ẩn tàng của nó. Nói như chính ông: “Tôi muốn nói, lẽ đời là vậy đấy. Bởi
vì là một nỗi đau nên quá khứ còn sống mãi. Và bởi nỗi đau quá khứ còn sống
mãi nên về sau ta mới có được một quãng đời êm lặng, một nếp sống bình yên,
một tư duy thư thả, một tấm lòng khoan thứ và một cảm giác có hậu với cuộc
đời cùng số phận”[13]. Mai Quốc Liên trong Đọc truyện ngắn Bảo Ninh năm
2012 đánh giá: “Một nỗi buồn, một nỗi xót xa thấm đượm những trang sách.
Những số phận rất khác nhau nhưng đều giống nhau ở sự mất mát trong chiến
tranh. Có điều là nỗi buồn ở đây không tuyệt vọng mà có hiệu ứng thanh lọc
con người, làm cho nó “người” hơn một chút. Đó có lẽ là ý nghĩa cao nhất của
những trang truyện”. [34]
5
Truyện ngắn Bảo Ninh đã được tập hợp và phát hành nhiều lần như cuốn
Truyện ngắn Bảo Ninh do Nxb Công an nhân dân năm 2004, cuốn Bảo Ninh -
Lan man trong lúc kẹt xe - Những truyện ngắn hay nhất và mới nhất của Nxb
Hội nhà văn năm 2005, cuốn Chuyện xưa kết đi, được chưa?, Nxb Văn học
năm 2009, tập Bảo Ninh - những truyện ngắn, Nxb Trẻ, năm 2013. Hầu hết đều
viết về chiến tranh, tình yêu và người lính. Có một số truyện không viết trực
tiếp về chiến tranh nhưng cũng là hệ lụy nảy sinh từ chiến tranh.
Nhiều sinh viên, học viên chọn truyện ngắn Bảo Ninh làm đối tượng
nghiên cứu cho các luận văn, luận án của mình, như Lưu Thị Thanh Trà, Đề tài
chiến tranh chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh, 2006; Lê Thị Lan Anh,
Nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh, 2007; Nguyễn Thị Lệ Nhật, Đặc sắc truyện
ngắn Bảo Ninh, 2010; Nguyễn Thị Chiến, Truyện ngắn Bảo Ninh, 2011; Bùi
Đỗ Kim Thuần, Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh, 2013; Nguyễn
Phương Nam, Truyện ngắn Bảo Ninh dưới góc nhìn thể loại, 2013;...
Nhìn chung hầu hết các công trình nghiên cứu có cái nhìn bao quát và khẳng
định những đóng góp của Bảo Ninh cho văn học Việt Nam thời đổi mới. Tuy vậy,
chưa có nghiên cứu chuyên sâu về chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về
chiến tranh của Bảo Ninh. Lưu Thị Thanh Trà trong luận văn Đề tài chiến tranh
chống Mỹ trong truyện ngắn Bảo Ninh, 2006, cũng khẳng định: “Truyện ngắn
Bảo Ninh thể hiện đề tài tình yêu từ cái nhìn đa chiều, đa diện. Mỗi truyện ngắn
đưa đến một khoảng trời riêng về tình yêu và chiến tranh.” [72, tr.43] Tác giả
muốn thể hiện hoàn cảnh của chiến tranh đã khiến cho tình yêu lứa đôi không
được vẹn tròn. Ở những mức độ khác nhau, các công trình đi trước là những gợi
mở và nguồn tham khảo quý giá để chúng tôi tiếp tục đi sâu khai thác chủ đề tình
yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh của Bảo Ninh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh của
Bảo Ninh để thấy được biểu hiện của chủ đề tình yêu đôi lứa qua lăng kính về
thân phận con người trong chiến tranh của Bảo Ninh.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng rõ một số vấn đề liên quan: chủ đề, chủ đề tình yêu đôi lứa
trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh từ 1945 đến nay, Bảo Ninh và
những trang viết thời hậu chiến.
Nghiên cứu những biểu hiện của tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về
chiến tranh của Bảo Ninh.
Nghiên cứu một số phương diện nghệ thuật thể hiện chủ đề tình yêu đôi
lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh của Bảo Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết
về chiến tranh của Bảo Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các tác phẩm:
- Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, NXB Văn học, tái bản năm 2006.
- Tập Bảo Ninh - những truyện ngắn, NXB Trẻ, năm 2013.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài Chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về chiến
tranh của Bảo Ninh, chúng tôi vận dụng các phương pháp sau đây:
5.1. Phương pháp thống kê - phân loại: Được sử dụng trong quá trình
nghiên cứu những biểu hiện tình yêu đôi lứa trong một số tác phẩm tiêu biểu
của Bảo Ninh.
5.2. Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong quá trình so sánh cách
thể hiện tình yêu đôi lứa trong sáng tác của Bảo Ninh với cách thể hiện tình yêu
đôi lứa trong sáng tác của một số nhà văn khác. Từ đó chỉ ra nét đặc sắc riêng
của Bảo Ninh.
5.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đề tài đặt đối tượng nghiên
cứu trong mối liên hệ giữa văn học với lịch sử, văn hóa, xã hội, tâm lí… để
7
đánh giá toàn diện, khách quan về giá trị tư tưởng, giá trị nghệ thuật của văn
xuôi Bảo Ninh viết về chủ đề tình yêu đôi lứa trong chiến tranh.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm
ba chương:
Chương 1: Chủ đề tình yêu đôi lứa và những trang viết thời hậu chiến của
Bảo Ninh
Chương 2: Những biểu hiện của tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về
chiến tranh của Bảo Ninh.
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện chủ đề tình yêu đôi
lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh của Bảo Ninh.
8
NỘI DUNG
Chương 1: CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA VÀ NHỮNG TRANG VIẾT
THỜI HẬU CHIẾN CỦA BẢO NINH
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Khái niệm chủ đề
Đề tài và chủ đề là những khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách
quan của nội dung tác phẩm văn học. Chủ đề là khái niệm phản ánh “vấn đề cơ
bản của tác phẩm, là phương diện chính yếu của đề tài. Khi phản ánh hiện thực
nhà văn chẳng những xác định một phạm vi đời sống mà còn tập trung soi rọi
một số vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong phạm vi đó” [38, tr.262].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thuật ngữ chủ đề được hiểu là “vấn đề cơ
bản, vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra qua nội dung cụ thể của tác
phẩm văn học” [22, tr.61].
Như vậy, chủ đề là vấn đề chủ yếu được nhà văn nêu lên trên cơ sở đề tài.
Khi phản ánh hiện thực, nhà văn chẳng những xác định một phạm vi hiện tượng
đời sống mà còn tập trung soi rọi một số vấn đề có ý nghĩa hàng đầu trong
phạm vi đó. Nếu khái niệm đề tài giải đáp câu hỏi: Tác phẩm viết về cái gì? thì
khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi: Vấn đề cơ bản của tác phẩm là gì?
Chủ đề bao giờ cũng hình thành từ ý đồ và biểu hiện trong sáng tác. Nó
bắt nguồn từ đề tài và được xây dựng trên cơ sở đề tài, nói lên chiều sâu tư
tưởng, khả năng nắm bắt nhạy bén của nhà văn đối với những vấn đề của cuộc
sống. Vì vậy, từ những đề tài cụ thể, bình thường, tác giả nêu lên những chủ đề
mang ý nghĩa khái quát to lớn sâu sắc. Trong một đề tài có thể xuất hiện một
hoặc nhiều chủ đề bởi cùng một phạm vi cụ thể của đời sống có thể tồn tại
nhiều mặt phức tạp, nhiều mâu thuẫn, nhiều tính cách, sự kiện, cảnh ngộ khác
nhau, từ đó đặt ra những vấn đề khác nhau. Ví dụ, cùng viết về bi kịch người
phụ nữ thời hậu chiến nhưng Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Bến không chồng
9
(Dương Hướng), Người còn sót lại rừng cười (Võ Thị Hảo), mỗi tác phẩm lại
đặt ra những vấn đề khác nhau. Cỏ lau ngoài vấn đề người chinh phụ đợi chồng
còn là bi kịch của những kẻ yêu nhau bị chia lìa bởi cuộc sống chứ không phải
cái chết. Bến không chồng xoáy sâu bi kịch tình yêu và những khát khao bản
năng của con người đến tận cùng và đăm đắm câu hỏi liệu có hạnh phúc nào
cho người từ chiến trận trở về? Người còn sót lại rừng cười là bi kịch của một
người phụ nữ đã ra khỏi cuộc chiến nhưng không bao giờ có thể hoà nhập với
đời thường, bi kịch của người không còn khả năng yêu. Tóm lại, chính đặc
điểm đa dạng, phong phú, phức tạp của hiện thực là nguyên nhân nảy sinh
những tác phẩm có nhiều chủ đề.
Chủ đề tác phẩm được hình thành từ những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
thông qua sự khái quát hóa chủ quan của nhà văn, có vai trò hết sức quan trọng
trong sáng tác. Nói cách khác, chủ đề là góc độ, bình diện, con đường tác giả
dẫn dắt người đọc thâm nhập tác phẩm. Chủ đề biểu hiện rõ trong việc thể hiện
bản sắc tư duy, chiều sâu tư tưởng, khả năng thâm nhập vào bản chất đời sống
của nhà văn. Chính nó bước đầu tạo ra tầm khái quát rộng lớn của tác phẩm đối
với hiện thực xã hội, từ đó tác phẩm tác động sâu sắc vào nhận thức tư tưởng
của người đọc. Chủ đề đóng vai trò rất lớn trong việc làm cho tác phẩm trở nên
quan trọng và có ảnh hưởng sâu rộng, nhất là chủ đề trong các tác phẩm lớn.
Một tác phẩm văn học có thể có nhiều chủ đề khác nhau. Trong các chủ đề
của tác phẩm, có thể phân ra chủ đề chính xuyên suốt toàn bộ tác phẩm và chủ
đề phụ, cục bộ thể hiện qua các nhân vật hoặc tình tiết riêng lẻ. Ngoài ra, có thể
có chủ đề vĩnh cửu và chủ đề mang tính lịch sử xã hội. Như vậy, những thuộc
tính chung hoặc gần gũi về chủ đề và đề tài là căn cứ tập hợp tác phẩm theo các
nhóm thể tài. Ví dụ, đề tài của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh là chiến tranh
nhưng ta thấy trong tác phẩm, các chủ đề chiến tranh, tình yêu và niềm đam mê
sáng tạo nghệ thuật xen kẽ, đan chéo vào nhau thật khó tách bạch. Hơn thế, tác
giả còn đặt ra vấn đề không kém phần quan trọng là sứ mệnh của nhà văn - sứ
10
mệnh của một người cầm bút viết văn là để nói lên tiếng nói cho thân phận con
người, thân phận tình yêu của một thế hệ lính chiến.
Chủ đề là phương diện cơ bản có tính khách quan của nội dung tác phẩm.
Nó cho thấy tác phẩm nói tới cái gì, nêu vấn đề gì của hiện thực đời sống nghĩa
là chủ đề tác phẩm do tác giả xác định nhưng lại do hiện thực quy định, có
nguồn gốc hiện thực. Sức sống một tác phẩm xét đến cùng là ở chủ đề chân
thật, có tầm quan trọng của nó. Nếu không nêu được chủ đề có tính khách quan,
hoặc nêu vấn đề một cách giả tạo sẽ khiến tác phẩm dễ bị lãng quên.
Xét về quan hệ, chủ đề có mối quan hệ mật thiết với tư tưởng tác phẩm.
Do mối quan hệ khăng khít của chủ đề và tư tưởng mà có khi người ta hiểu chủ
đề là tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Nói khác đi, chủ đề không tách rời tư
tưởng tác phẩm. Tư tưởng sẽ quy định phạm vi đề tài, tạo ra ý nghĩa chủ đề của
tác phẩm.
1.1.2. Khái niệm tình yêu đôi lứa
Tình yêu là một khái niệm đa nghĩa trong cách diễn đạt và cách hiểu khác
nhau. Tình yêu, nhất là tình yêu đôi lứa, luôn là một phạm trù bí ẩn và hấp dẫn
với con người. Vậy tình yêu đôi lứa là gì? Thật khó có thể định nghĩa một cách
chính xác nhưng đó thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn
được gắn bó của hai người khác giới.
Diane Ackerman từng nói: “Mọi người đều thừa nhận tình yêu thật tuyệt
vời và vô cùng cần thiết nhưng chưa một ai định nghĩa được tình yêu là gì?”.
Nhà thơ Xuân Diệu đã từng trăn trở: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” và
cho rằng: “Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”.
Theo Paulo Coelho: “Tình yêu là một sức mạnh hoang dại. Khi ta cố gắng điều
khiển nó, nó hủy hoại ta. Khi ta muốn nhốt nó lại, ta lại trở thành nô lệ của nó.
Khi ta cố gắng hiểu nó, nó lại làm cho ta có cảm giác mất mát và bối rối”.
Dưới góc nhìn triết học, tình yêu “là tình cảm giữa con người với con
người hướng đến chân, thiện, mỹ. Tình yêu đẹp là tình yêu mang lại hạnh phúc
và sức mạnh cho con người, giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách”.
11
Theo Từ điển tâm lí học, tình yêu đôi lứa “là sự rung cảm sâu sắc nhất
của sự thống nhất về nhiều mặt: mặt tự nhiên và xã hội, cơ thể và tinh thần,
thẩm mỹ và đạo đức, nhưng lại mang tính cá nhân mạnh mẽ. Tình yêu đôi lứa
có những đặc trưng cơ bản sau: Sự gắn bó tình cảm chặt chẽ với một người
khác giới khác; xu hướng suy nghĩ về người đó theo lối lí tưởng hóa; một sức
hấp dẫn rõ rệt về thể các mà người ta thường coi sự đụng chạm thân thể là thể
hiện sức hấp dẫn ấy” [12].
Có thể thấy, tình yêu đôi lứa là một trong những tình cảm tuyệt vời và
mãnh liệt nhất của con người. Đó là tình cảm đắm đuối, nồng nhiệt, si mê của
hai tâm hồn, hai cơ thể khao khát hòa quyện nhau. Nói cách khác, tình yêu món
quà kì diệu nhất mà Thượng đế đã ban tặng cho con người.
Khái niệm tình yêu là câu chuyện không có hồi kết bởi những nhịp rung
động đa dạng của mỗi trái tim. Chỉ biết rằng yêu là nhớ, là thương, là quan tâm
lo lắng, chăm sóc cho nhau, hạnh phúc khi được gần gũi, sẻ chia, hi sinh vì
nhau vô điều kiện.
Tình yêu đôi lứa xuất phát từ bản năng nhưng cũng là phần người nhất,
đẹp đẽ nhất. Yêu có nghĩa là đối xử với ai đó tốt hơn mọi người, tốt hơn cả
chính mình. Khi tình yêu đủ lớn sẽ luôn hướng đến đích cuối cùng là nhu cầu
được ràng buộc, gắn bó bên nhau đến trọn đời.
Trên con đường vun đắp tình yêu, chẳng rải toàn hoa hồng mà có “muôn
vời cách trở”. Nhưng đó là liều thuốc thử thách hữu ích nhất cho tình yêu. Chỉ
khi đi qua những ngày hạnh phúc, hay nếm trải cả những đắng cay, đau khổ,
người ta mới hiểu rõ hơn giá trị đích thực của tình yêu. Sông có thể cạn, đá có
thể mòn, nhưng tình yêu thì bất tử với thời gian, cả niềm đau và hạnh phúc.
1.2. Chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh từ
1945 đến nay
1.2.1. Tình yêu đôi lứa trong văn xuôi chiến tranh từ 1945 - 1975
Văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 được đặt trong hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt, đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt chống Pháp và
12
chống Mỹ. Nhiệm vụ quan trọng nhất của văn học nghệ thuật là tập trung phục
vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, phải thắp sáng niềm tin, nêu cao tinh thần chịu
đựng gian khổ hi sinh nên không nói nhiều đến chuyện hưởng thụ, còn đề tài
tình yêu, hạnh phúc cá nhân, nếu có đề cập đến cũng phải gắn với nhiệm vụ
chiến đấu.
Văn xuôi giai đoạn này không có tác phẩm nào dành riêng cho tình yêu
đôi lứa mà tình cảm riêng tư ấy hòa quyện trong tình yêu Tổ quốc thiêng liêng -
tình yêu đôi lứa mang tính sử thi. Trong những câu chuyện tình yêu thời chiến
tranh, bạn đọc có lẽ chẳng thể nào quên những mối tình đẹp đẽ, kì diệu Nguyệt
- Lãm (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu), Tnú - Mai (Rừng xà nu -
Nguyễn Trung Thành), Lữ - Hiền (Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu);
Quỳnh - Hảo (Vùng trời - Hữu Mai); Thiêm - Mẫn (Mẫn và tôi - Phan Tứ);
Ngạn - Quyên (Hòn Đất - Anh Đức); Tâm - Thành (Dưới đám mây màu cánh
vạc - Thu Bồn)... Họ đều là những nhân vật của sử thi, từ suy nghĩ đến “yêu
đương” cũng rất “sử thi”.
Trước hết, đó là tình yêu trong sáng gắn với niềm tin và lòng thủy chung
giữa mưa bom bão đạn. Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu) là một
trong số ít tác phẩm cùng thời tách riêng ra làm thành một tình khúc trong bầu
trời đầy tiếng súng. Câu chuyện là cuộc hành trình tìm kiếm tình yêu được xây
dựng trong một tình huống đặc biệt. Trên đường đi, Lãm, người lái xe, gặp cô
gái đã thầm yêu anh dù chưa một lần gặp mặt. Cô gái tên Nguyệt đã biểu hiện
lòng dũng cảm khi cùng Lãm cứu chiếc xe quân sự ra khỏi vùng bom đạn.
Chàng trai chỉ lờ mờ đoán rằng cô ở cùng chỗ với người con gái tên Nguyệt của
mình. Rồi họ chia tay trong niềm lưu luyến. Nhưng giữa họ đã nảy nở một tình
mến yêu cao thượng và trong sáng. Sự ngẫu nhiên không chỉ khiến Nguyệt -
Lãm gặp nhau mà còn gần nhau, cùng nhau vượt qua hiểm nguy, để rồi có thêm
những cảm nhận mới về nhau. Tình yêu giữa Nguyệt và Lãm tuy chưa nói
thành lời, chưa hẹn hò, nhưng họ vẫn dành cho nhau một niềm yêu thương
13
riêng trong khoảng trời riêng của mình. Niềm tin và tình yêu giúp họ đi qua
gian khổ, hướng về nhau và cùng tin vào cuộc sống.
Như một sự kì diệu, ở Nguyệt lòng thủy chung như ngọn lửa vĩnh cửu. Nó
luôn cháy nóng trong mọi không gian và tỏa sáng ngay giữa chiến trường. Nó
không hề thay đổi dù nắng mưa đời thường năm tháng và đạn bom ác liệt của
quân thù: “Tôi đứng bên bờ sông giữa cảnh một chiếc cầu đổ và lại tự hỏi : qua
bấy nhiêu năm tháng sống giữa cảnh bom đạn và tàn phá những cái quý giá đó
chính bàn tay mình xây dựng nên, vậy mà Nguyệt vẫn không quên tôi sao ?
Trong tâm hồn người con gái nhỏ bé, tình yêu và niềm tin mãnh liệt vào cuộc
sống, cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề
đứt, không thể nào tàn phá nổi ư ?” (Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh
Châu). Sợi chỉ xanh óng ánh mà Nguyễn Minh Châu nói tới đó là sự sống bất
diệt, tình yêu thách thức tử thần.
Ít lãng mạn hơn chuyện tình Nguyệt - Lãm trên tuyến lửa Trường Sơn,
tình yêu của đôi trẻ Tnú - Mai trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành) trên
mảnh đất Tây Nguyên dường như khiến họ mạnh mẽ hơn và đứng dậy đấu
tranh. Trong bản hùng ca hịch tướng sĩ thời đánh Mỹ ấy, có những khoảng lặng
dành trọn cho tình yêu của Tnú và Mai. Tình cảm của họ trong mát như nước
suối nhưng cũng mạnh mẽ, mãnh liệt như cây xà nu làng Xô man. Họ nên vợ
nên chồng và đã có một Tnú nhỏ mới ra đời. Hạnh phúc của họ đẹp tựa ánh
trăng rằm trên đỉnh núi Ngọc Linh. Nhưng những tháng ngày êm đẹp của đôi
vợ chồng trẻ quá ngắn ngủi và kết thúc trong bi thương. Kẻ thù muốn bắt Tnú
nên chúng bắt vợ con anh với ý đồ nham hiểm Bắt được con cọp cái và cọp
con, tất sẽ dụ được cọp đực trở về. Chúng đã hành hạ dã man người thiếu phụ
mới sinh con được một tháng. Với hai bàn tay trắng, Tnú đã không cứu sống
được mẹ con Mai, thậm chí không bảo vệ được chính mình. Kẻ thù đã quấn giẻ
có tẩm dầu xà nu vào mười ngón tay anh rồi châm lửa đốt...
14
Tnú chỉ còn lại đôi bàn tay tàn tật nhưng anh vẫn chiến đấu và luôn giữ
hình ảnh Mai và con trong tim. Chảy trong huyết quản của người trai cường
tráng như một cây xà nu đang độ sung sức kia là dòng máu anh hùng được
truyền lại từ thời Đam San, Xinh Nhã và sức mạnh được nuôi dưỡng bởi tình
yêu thắm thiết của Mai.Vợ con Tnú đã hi sinh nhưng tình yêu thì còn đó, bất
diệt như những cây xà nu, dù bom đạn có dội xuống, dù chịu nhiều đau thương
vẫn tràn trề nhựa sống và xanh rời rợi dưới ánh sáng mặt trời.
Người đọc cũng dễ dàng nhận ra tình yêu đôi lứa trong chiến tranh đi liền
với những mất mát, đau thương đã hòa trong tình yêu cao cả - tình yêu Tổ
quốc. Tình yêu với giá trị đích thực, với sức mạnh kì diệu của nó, trong những
năm chiến tranh đau thương, đã trở thành nguồn sức mạnh vô song cho người
ra trận và người ở lại hậu phương. Trong Dấu chân người lính (Nguyễn Minh
Châu), ta bắt gặp tình yêu tuy có lúc âm thầm, lặng lẽ nhưng tận sâu trong trái
tim vẫn là những phút giây nồng nhiệt. Mối tình Lữ và Hiền đã giúp Lữ ấp ủ
một niềm hi vọng, ngày trở về, anh sẽ thổ lộ tình cảm với Hiền.“Anh vẫn yêu
Hiền. Anh vẫn yêu cô với tất cả sự hiểu biết và từng trải của anh hiện nay trong
khói lửa. Anh đã yêu cô bắt đầu từ một tiếng hát đảm đang. Cho đến bây giờ,
tất cả tình yêu thầm kín và niềm mong mỏi anh đặt vào cô vẫn là cái tiếng hát
cô đang đem đến cho mọi người”. Tuy vậy, trên đồi 475, Lữ đã hi sinh và đem
theo tình cảm đối với Hiền đi đến bên kia thế giới. Tình yêu thầm kín ấy không
chỉ là niềm hi vọng, mà còn tiếp thêm sức mạnh để người lính vượt qua những
khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trên chiến trường khốc liệt.
Trên con đường hành quân, câu chuyện tình yêu tuy chỉ len lỏi trong
phút giây ngắn ngủi, như Lượng, một đại đội trưởng khô khan cũng đôi lúc
nghĩ đến chuyện gặp Nết, nhưng tình yêu thành động lực thúc đẩy bước chân
người lính quyết giành độc lập, là vị thuốc xoa dịu mọi nỗi đau thể chất. Cuộc
tình chớm nở không thành của Lượng và Xiêm - một người vợ có chồng theo
ngụy - đã trở thành kí ức khó quên đối với anh. Lượng đã nhớ mãi hình ảnh
15
Xiêm “đẹp trong sáng như vị nữ thần của núi rừng, càng khiến cho Lượng
yêu đời và muốn hoạt động. Tất cả những đòn tra tấn do bàn tay man rợ của
bao nhiêu tên giặc cũng trở thành vô nghĩa” (Dấu chân người lính - Nguyễn
Minh Châu). Đó là sức mạnh của tình yêu, nó mở ra trong lòng người lính
những cảm xúc dạt dào, yêu đời, yêu người và trở thành nguồn động lực mạnh
mẽ trong chiến đấu.
Những con người cầm súng mạnh mẽ, gan dạ nhưng đôi khi cũng có
khoảng lặng. Chính ủy Kinh can trường là vậy cũng có những lúc nhớ về vợ
mình, về đứa con đang ở mặt trận khác. Nỗi nhớ ấy không làm ủy mị mà càng
khích lệ tinh thần, để tay ông càng cầm chắc súng tiến lên giành tự do, vẫn phải
đối mặt với một cuộc chiến trường kỳ còn đang ở phía trước với cương vị của
một thủ trưởng, là điểm tựa vững chắc cho những người lính khác. Tất cả, những
người nơi hậu phương, nơi tiền tuyến, đều coi nhau như trong một nhà, tất cả vì
mục tiêu đuổi giặc. Thậm chí, khi yêu nhau người ta cũng coi nhau như đồng
chí: “Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí ” (Tố Hữu).
Trong chiến tranh, tình yêu như một liều thuốc hóa giải những bạo lực,
làm dịu đi những đau thương mà con người phải gánh chịu. Chiến tranh có thể
hủy diệt mọi thứ trên đường nó đi qua nhưng không thể vùi dập được tình yêu.
Tình yêu có sức mạnh, sức sống kì diệu riêng của nó, dường như trong chiến
tranh, tình yêu càng mãnh liệt hơn bao giờ hết, giúp bao người lính thêm chắc
tay súng bảo vệ Tổ quốc, giúp bao đôi lứa thêm niềm tin vào ngày mai đất
nước thống nhất.
1.2.2. Tình yêu đôi lứa trong văn xuôi chiến tranh sau 1975
Sau năm 1975, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn, “một kho chất liệu không
thể nào vơi cạn trong nghĩ suy và cảm xúc của con người” (Phong Lê). Với
nhiều nhà văn, chiến tranh vẫn là “hạt ngọc ẩn giấu” (Nguyễn Minh Châu)
càng khám phá càng thấy những “độ rung không mòn nhẵn” [9, tr.15]. Điều đó
khẳng định văn học thời bình vẫn luôn quan tâm dành cho đề tài chiến tranh và
người lính những trang viết đầy tâm huyết và chân thành.
16
Thời hậu chiến, văn học không còn phản ánh nhiều mảng màu sáng của
chiến thắng, chiến công, về vấn đề trọng đại của quốc gia dân tộc mà khoét sâu
vào mảng hiện thực màu xám của những mất mát, đau thương, những vấn đề
đời tư, thế sự gắn với thân phận cá nhân, số phận con người. Bởi thế tình yêu
đôi lứa cũng được khai thác với tất cả sự đa dạng của nó. Văn xuôi viết về tình
yêu trong chiến tranh thời hậu chiến có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như
Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Ăn
mày dĩ vãng, Phố (Chu Lai), Bến không chồng (Dương Hướng), Nỗi buồn chiến
tranh (Bảo Ninh),… Các tác giả khai thác tình yêu “đời” hơn, gần gũi, táo bạo
hơn và cũng nhiều đớn đau hơn, nhất là mối quan hệ chiến tranh - tình yêu -
tình dục.
Các nhà văn thể hiện tình yêu đôi lứa ở giai đoạn này không còn mang đôi
cánh lí tưởng cách mạng mà gắn với những bi kịch đớn đau, ám ảnh, nhất là bi
kịch ra khỏi cuộc chiến mà không thể hòa nhập với đời thường. Có thể nói
Nguyễn Minh Châu vẫn là cây bút tinh anh khi viết về chiến tranh và tình yêu.
Cỏ lau (1987) đã đem đến cho độc giả một suy ngẫm sâu sắc, một cái nhìn trực
diện về tình yêu thời hậu chiến. Câu chuyện tình yêu Lực - Thai được tái hiện
từ sự việc tại Quảng Trị, ngay sau ngày chiến thắng 30/4/1975, Lực (một sĩ
quan cao cấp của quân đội Cách mạng mà gia đình tưởng đã chết từ lâu) tình cờ
bước vào một tiệm ảnh và nhận ra chính mình trong một bức ảnh "chụp một
cặp vợ chồng mới cưới, mới được phóng đại và tô màu bằng thuốc nước, treo ở
hàng ảnh trên cao" (Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu). Cặp vợ chồng đó là Lực và
Thai, người vợ mà ông đã bỏ lại quê gần ba mươi năm trước để đi theo kháng
chiến rồi ra Bắc tập kết. Sau đó, Thai được tin ông chết (Thai nhận nhầm xác
người, tưởng đó là Lực) đã đến với Quảng nhưng không bao giờ nguôi ngoai
nỗi đau mất Lực, dù được Quảng quí trọng. Tuy vẫn yêu Thai, cảm thấy ghen
với người chồng mới của Thai, Lực chạy trốn vì không muốn ảnh hưởng đến
hạnh phúc mới của Thai. Cuối truyện, Thai tìm gặp ông, sẵn sàng bỏ gia đình
riêng để đến với ông, Lực từ chối, đau đớn nhưng quyết liệt.
17
Thai ôm giữ mối tình đầu mà sống, đi qua chiến tranh bằng những ngày
giỗ chồng đầy nước mắt. Chiến tranh kết thúc, chồng trở về bằng da bằng thịt,
nhưng chị lại mắc kẹt với người chồng đang chung sống, chơi vơi ở giữa với
những đớn đau, tê dại. Vì chiến tranh nên tình yêu ấy không thể đơm hoa kết
trái mà trở thành nỗi đau suốt đời Lực và Thai. Nó đáng sợ hơn cả cái chết, nó
là sự chia lìa tuyệt đối. Còn Lực, suốt ba mươi năm qua vẫn yêu Thai nhưng
lúc trở về Lực chỉ còn là người xa lạ. Vì vậy Lực và Thai chịu bi kịch đau đớn
và cay đắng nhất, bi kịch của những kẻ yêu nhau bị chia lìa bởi cuộc sống chứ
không phải cái chết.
Sau Nguyễn Minh Châu, Dương Hướng là nhà văn phân tích thành công
những tình cảm tế nhị, những bi kịch tình yêu - hạnh phúc do chiến tranh nảy
sinh. Đến với tiểu thuyết Bến không chồng, người đọc không khỏi xót xa trước
những bi kịch con người thời hậu chiến - bi kịch tình yêu, bi kịch những “hòn
vọng phu” thời hiện đại. Truyện bắt đầu từ lúc anh lính Nguyễn Vạn về sau
chiến thắng Điện Biên, kéo dài qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, đến giai
đoạn đất nước mới được giải phóng, tại làng Đông quê hương anh. Vạn về
trong niềm trọng vọng của mọi người. Anh xông xáo xây dựng hậu phương,
bởi thương tật khiến anh không còn đủ khả năng ra tiền tuyến nữa. Ấy vậy
mà, những hủ tục, những lề thói cũ mòn của dòng họ, của làng quê đã bóp nát
tình yêu của anh. Anh không dám vượt qua rào cản tâm lí để đến với chị
Nhân, nhưng rồi cuộc sống xô đẩy anh cùng hai người phụ nữ trong đời anh
đến những lựa chọn quyết liệt. Những người phụ nữ ở làng Đông mỗi người
đi tìm hạnh phúc theo cách của mình, nhưng thời cuộc và chiến tranh cùng
biết bao sai lầm trong tư duy một thời đã ám ảnh họ mãi ở “bến không chồng”
vừa hữu hình vừa dai dẳng trong tiềm thức. Chị Nhân không thể đến với Vạn
hay với bất kỳ ai - bởi chị là vợ, là mẹ liệt sỹ. Hai con người đáng thương ấy
sống trong sự kìm nén bất hạnh. Cả cuộc đời buộc bản thân “giữ gìn hình
ảnh”, một đời cô độc.
18
Đến Phố, Chu Lai lại đưa người đọc đến một niềm xót tiếc khác, một
ngậm ngùi cho bi kịch tình yêu thời hậu chiến. Tình yêu và hạnh phúc của Thảo
- Nam chứa nhiều cay đắng, xót xa. Tình yêu của họ được thử thách nơi hòn tên
mũi đạn, ngàn ngày đằng đẵng xa nhau. Hạnh phúc tưởng như trọn vẹn khi
Thảo “nguyên vẹn” trở về, tiền bạc dồi dào, nhà cao cửa rộng, đời sống sung
tức. Vậy mà chưa đầy năm sau, bi kịch đã giáng xuống đầu họ. Chị bỏ mạng ở
biển Sầm Sơn trong chuyến píc níc với tình nhân. Anh điên loạn, phẫn uất khi
nhận ra mình bị phản bội. Có có Niên Thảo đau đớn mất mẹ và chịu cơn thịnh
nộ của bố.
Điểm mới của tình yêu đôi lứa trong văn xuôi chiến tranh hậu chiến là tình
yêu đi liền với những khao khát tình dục. Chuyện “gối chăn” riêng tư đã được
đề cập từ Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn): "Chàng thì đi cõi xa mưa
gió/Thiếp lại về buồng cũ gối chăn" nhưng trong 30 năm chiến tranh 1945 -
1975, tình dục vẫn là một đề tài "kị húy". Những đôi lứa được xây dựng là con
người "lành mạnh" không bao giờ biết đến những khát thèm thể xác. Nay các
tác giả của Cỏ lau, Bến không chồng, Nỗi buồn chiến tranh, Người sót lại của
rừng cười,… đã mô tả đến các vùng bí hiểm nhất của con tim.
Trong Cỏ lau, Lực tìm cách khỏa lấp tình yêu với Thai bằng mối quan hệ
đặc biệt với Thơm (con gái Thai) và Huệ (con chồng Thai). Lực tìm kiếm
những dấu vết, khát khao gần gũi Thai trong Thơm và Huệ. Khi "cúi xuống bế
thốc đứa con gái nhỏ của Thai trên tay (…) hôn mãi", Lực "cảm thấy một chút
hơi hướng của (…) người đàn bà mà kí ức đầy hoang vắng của tôi còn giữ gìn
được". Bất ngờ nhất là thái độ của Huệ với Lực, khi cô đến thăm ông cùng một
người bạn - nó còn hơn cả lời tỏ tình: "Con phải lôi anh ấy đi cùng để đám bạn
con chúng nó khỏi nhấm nháy bảo với nhau rằng là con phải lòng bác (…) giá
bây giờ bác thật lòng yêu con (…) Đời con khổ lắm, bơ vơ lắm" [62]. Phải
chăng Huệ đang dần dần thay thế Thai trong Lực?
19
Dương Hướng đã khai thác bi kịch tình yêu - tình dục, những khát khao
bản năng của các nhân vật đến tận cùng. Hai mươi năm sau, khi chồng Hạnh
trở về từ chiến trường chống Mỹ, vinh quang nhưng bất lực, Hạnh đến với Vạn
trong một đêm thác loạn: "Da thịt đàn bà nần nẫn trong vòng tay và hơi thở
đầy dục vọng phả vào mặt Vạn. (…) Vạn buông thả cho thân xác tự do gây tội
lỗi, tự do rên xiết trên thân thể rừng rực của người đàn bà. Lần đầu tiên trong
đời Vạn thấy sung sướng cực độ và quên hẳn mình” [62]. Hạnh bỏ làng rồi
nhiều năm sau trở về với đứa con đã có với Vạn và ngay sau đó chứng kiến một
bi kịch mới: xấu hổ, nhục nhã, Vạn đã tìm cho mình cái chết.
Trong Bến không chồng và Cỏ lau, ta nhận ra những người lính, đằng sau
hào quang chiến thắng, là bi kịch người đàn ông khắc khổ, cô đơn, bất lực, mất
khả năng đem lại hạnh phúc cho người mình yêu, không có con hoặc chạy trốn
trách nhiệm làm cha. Nỗi đau ấy đến bao giờ mới phôi pha? Liệu có luân lí nào
cho người trở về từ chiến trận?
Với truyện ngắn Người sót lại rừng cười của Võ Thị Hảo, lần đầu tiên văn
học Việt đặt câu hỏi trực tiếp về cuộc sống tâm lí và tình dục của các nữ thanh
niên xung phong Trường Sơn trong và sau chiến tranh. Đâu là những đòi hỏi
nhục dục của họ? Ở họ ham muốn, dồn nén, cuồng loạn được thể hiện như thế
nào? Sự cô đơn đã khiến các nữ chiến binh mắc “bệnh cười”, thứ bệnh tâm lí vì
thiếu vắng đàn ông. Khi quay lại với cuộc sống thường ngày, các cô gái sống
trong tủi hổ và từ đó, nơi các cô sống mang tên “Rừng cười”. Hình ảnh các cô
gái trần truồng, điên dại, vừa cười vừa khóc vừa xé quần áo, không còn nữ tính
không biết đến bao giờ mới thôi ám ảnh người đọc.
Nhưng thành công của Người sót lại của rừng cười còn ở chỗ đã đưa được
bi kịch của Thảo đến điểm đỉnh của nó. Trong khi các cô gái khác bộc lộ, Thảo
đè nén, cất giấu tình cảm của mình. Ở cô có nhiều mặc cảm - mặc cảm tự ti của
một người đàn bà đã mất đi sắc đẹp và tuổi trẻ, mặc cảm tự tôn của kẻ đã tham
gia chiến đấu, đã hi sinh. Khi Thảo cảm thấy tự ái bị tổn thương, cô từ chối
20
Thành nhưng vẫn ngầm ngầm khát khao anh, tưởng tượng ra những "mê đắm"
của anh cùng người vợ trẻ. Ra khỏi chiến tranh, Thảo không còn khả năng yêu
và được yêu. Hơn thế nữa, ở Thảo có nhiều dấu hiệu tự hành xác. Dường như cô
chỉ tồn tại vì những nỗi đau - thể xác và tinh thần: cô bình tĩnh chịu đựng cái
nhìn "dè bỉu" của tất cả mọi người vì đã "phụ tình" Thành. Thành nhận ra Thảo
không khác gì“loài yến huyết ngoài biển khơi nhả từng hạt máu để dệt nên chiếc
tổ màu hồng quí giá. Rồi khi sức tàn lực kiệt, chim yến bay vút lên không trung,
lao mình vào vách đá nhọn hoắt cho ngực vỡ nát” [62]. Ở Thảo, yêu thương và
căm hờn, đau đớn và khoái lạc, thèm khát và dồn nén không tách rời nhau.
Có thể thấy, phần lớn các tác giả thể hiện tình yêu đôi lứa, tình dục trong
văn xuôi chiến tranh sau 1975 trên tinh thần dân chủ và nhân bản. Các nhà văn
đang cố phơi bày lên trang giấy những góc cạnh khác nhau của chiến tranh qua
những số phận cá nhân cụ thể. Đó là những số phận mang dư chấn cả về thể
xác lẫn tinh thần. Con người tự nhiên, con người bản năng có khi chống lại con
người đạo lí, con người lí trí. Nhưng trên tất cả vẫn là những khát khao đời
thường, khát vọng sống đáng được trân trọng.
1.3. Bảo Ninh và những trang viết thời hậu chiến
1.3.1. Tiểu sử
Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952 tại huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An. Bút danh của ông lấy từ tên xã Bảo Ninh, huyện Quảng
Ninh, tỉnh Quảng Bình quê ông. Ông được sinh ra trong một gia đình trí thức
lớn, là con trai của Giáo sư Hoàng Tuệ (1922 - 1999), nguyên Viện trưởng
Viện Ngôn ngữ học. Sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, cũng như
bao bạn bè cùng trang lứa, Bảo Ninh vào bộ đội năm 1969 khi mới 17 tuổi.
Người lính Bảo Ninh chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5,
trung đoàn 24, sư đoàn 10. Đây là giai đoạn mà cuộc kháng chiến chống Mỹ
của nhân dân ta diễn ra ác liệt, mạnh mẽ nhất. Năm 1975, ông giải ngũ.
Từ 1976 - 1981 học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt
21
Nam. Nhưng cuối cùng ông lại không theo chuyên ngành sinh vật mà từ 1984 -
1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du để theo nghề viết văn. Ông làm
việc tại báo Văn nghệ Trẻ và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997.
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác
Bảo Ninh ra mắt công chúng bằng truyện ngắn đầu tay Trại “Bảy chú
lùn” in trên tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1987. Đến nay, với hơn 30 năm
cầm bút, Bảo Ninh thực sự đã tạo nên một dấu ấn đậm nét trên văn đàn Việt
Nam hiện nay với một lối viết riêng, phong cách riêng khó trộn lẫn. Năm 1991,
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh (in lần đầu năm 1987 tên là Thân phận của
tình yêu) được tặng giải nhất của Hội Nhà văn Việt Nam (cùng với hai tác
phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Bến không
chồng của Dương Hướng), Bảo Ninh mới thực sự được chú ý. Nhà văn Nguyên
Ngọc ca ngợi: "Về mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi
mới". Tác phẩm được dịch sang tiếng Anh bởi Frank Palmos và Phan Thanh
Hảo, xuất bản năm 1994 với nhan đề "The Sorrow of War", được ca tụng rộng
rãi và một số nhà phê bình đánh giá là một trong những tiểu thuyết cảm động
nhất về chiến tranh.
Viết về chiến tranh thời hậu chiến, với Bảo Ninh và các nhà văn quân đội
chính là niềm khao khát, niềm hạnh phúc và say mê hay cũng là món nợ văn
chương cần phải trả đối với cuộc đời.
Cho đến nay, Bảo Ninh mới chỉ viết cuốn tiểu thuyết duy nhất Nỗi buồn
chiến tranh. Đây là một tác phẩm gần như không có cốt truyện, tình tiết rành
mạch mà chỉ là những mảng hồi ức chắp nối của nhân vật Kiên - một người
lính của tiểu đoàn 27 độc lập hoạt động trên địa bàn B3 còn sống sót - về cuộc
chiến tranh chống Mỹ đẫm máu vừa qua và về mối tình với cô bạn học trường
Bưởi tên Phương.
Tuy nhiên, có lẽ vì viết quá thật, quá chân thành và quá nhiều về mất mát
trong chiến tranh, Nỗi buồn chiến tranh sau khi đạt giải thưởng Hội Nhà văn
năm 1991 đã bị cấm xuất bản một cách không chính thức một thời gian dài tại
22
Việt Nam. Thậm chí, trong một chừng mực nào đó, người đọc dè dặt khi đề cập
đến Nỗi buồn chiến tranh. Nhưng ở chiều ngược lại, giá trị mà nó mang đã
vượt ra khỏi biên giới nước nhà, được dịch ra nhiều thứ tiếng và trở thành một
trong số ít ỏi các tiểu thuyết Việt Nam ghi được dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn
đọc thế giới. Đến nay, đây là cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Việt Nam trong
nước được in nhiều nhất ở nước ngoài. Nỗi buồn chiến tranh đã được chuyển
ngữ và giới thiệu trên gần 20 quốc gia trên thế giới. Tờ Independent, một trong
những nhật báo có uy tín của nước Anh nhận xét về cuốn tiểu thuyết của Bảo
Ninh: “Vượt ra ngoài sức tưởng tượng của người Mỹ, Nỗi buồn chiến tranh đi
ra từ chiến tranh Việt Nam đã đứng ngang hàng với cuốn tiểu thuyết chiến
tranh vĩ đại của thế kỉ Mặt trận phía tây yên tĩnh của Erich Maria Remarque -
Một cuốn sách viết về sự mất mát của tuổi trẻ, cái đẹp, một câu chuyện tình
đau đớn. Một thành quả lao động tuyệt đẹp”. Nhà văn nổi tiếng Trung Quốc
Diêm Liên Khoa còn cho rằng tiểu thuyết là “tầm cao của văn học chiến tranh
phương Đông”, “một sáng tác hiếm có của châu Á trong văn học thế giới”.
Bảo Ninh đã đem lại vinh quang cho nền văn học nước nhà bằng Giải
thưởng châu Á 2011 - Nikkei Asia Prizes. Đây là giải thưởng thường niên của
báo Kinh tế Nhật Bản dành cho những cá nhân và tập thể người châu Á có cống
hiến xuất sắc trên 3 lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật và văn hóa. Lễ trao giải diễn ra
ngày 25/5/2011 tại Tokyo, Nhật Bản. Hội đồng xét duyệt trao giải đánh giá nhà
văn Bảo Ninh là người có những đóng góp lớn trong lĩnh vực văn học với thiên
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh.
Năm 2016, với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh cũng được
vinh danh tại giải thưởng Simhun của Hàn Quốc.
Ngày 9/11/2018 tại Lễ trao giải văn học châu Á lần thứ hai (Gwangju,
Hàn Quốc), tác giả của Nỗi buồn chiến tranh tiếp tục được Ban tổ chức lễ hội
văn hóa châu Á lựa chọn để trở thành người chiến thắng giải thưởng văn học
châu Á (Asian Literature Award). Ban giám khảo đánh giá: "Bảo Ninh đã nêu
bật câu hỏi một cách sâu sắc về ý nghĩa và vết thương của chiến tranh thông qua
23
các tác phẩm của nhà văn nói chung và của kiệt tác Nỗi buồn chiến tranh (The
Sorrow of War) nói riêng. Nỗi buồn không ngừng xoáy sâu và tái tạo thực tại.
Nỗi buồn là nhân vật chính để nhà văn tiếp cận cuộc chiến từ chiều hướng mới,
góc độ mới. Đó là góc độ cá nhân, thân phận con người...” [43].
Với giới phê bình văn học trong nước, Bảo Ninh đã đem đến một món ăn
tinh thần trái với khẩu vị quen thuộc, thậm chí khó ăn, nhưng chính điều đó tạo
ra cái nhìn đa chiều, mở rộng đường cho làn sóng phê bình nhiều thú vị. “Thân
phận của tình yêu không chỉ nói về chiến tranh mà còn nói về hôm nay. Những
người lính đã kết thúc chiến tranh một cách vinh quang có đủ tư cách để nói
tiếng nói không bằng lòng với những điều tiêu cực ngày hôm nay… Để bạn đọc
biết chiến tranh có nhiều con đường, con đường nào cũng nhằm mục đích
mang lại hạnh phúc cho mọi người và bao giờ cũng phải trả giá rất đắt” (Cao
Tiến Lê). Trên một khía cạnh nhất định, Nỗi buồn chiến tranh được xem là tiểu
thuyết hay nhất của văn học Việt Nam thời kì hậu chiến.
Sau Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh hầu như chỉ viết truyện ngắn. Ở “thể
loại tự sự cỡ nhỏ” này, ông tỏ ra là một cây bút “có duyên”, ấn tượng với bạn đọc.
Trong cuốn Bảo Ninh - những truyện ngắn do NXB Trẻ ấn hành năm
2013 có 36 truyện ngắn thì có 28 truyện viết về đề tài chiến tranh và người lính:
Vô cùng xưa cũ, Ngàn năm mây trắng, Bí ẩn của làn nước, Giang, La Mác -
xây - e, Thời tiết của kí ức, Gió dại, Trại “Bảy chú lùn”, Lá thư từ Quý Sửu,
Khắc dấu mạn thuyền, Đêm trừ tịch, Ngôi sao vô danh, Hữu khuynh, Tiếng vĩ
cầm của quân xâm lăng, Rửa tay gác kiếm, Ba lẻ một, Hỏa điểm cuối cùng,
Sách cấm, Thách đấu, Người Thăng Long quê Đàng Trong, Kỳ ngộ, Quay lưng,
Tình thư, Gọi con, Hà Nội lúc không giờ, Tòa dinh thự, Đêm cuối cùng của
ngày đầu tiên. Tám truyện ngắn còn lại: Không đâu vào đâu, Cái búng, Bội
phản, Mắc cạn, Lan man trong lúc kẹt xe, Lối mòn dọc phố, Thời của xe máy,
Bi kịch con khỉ viết về đề tài khác trong cuộc sống hiện tại sau chiến tranh. Tuy
không viết trực tiếp về chiến tranh nhưng trong các tác phẩm đó người đọc vẫn
24
thấy có bóng dáng của những hệ lụy nảy sinh từ chiến tranh. Qua thống kê trên,
ta thấy viết về chiến tranh và người lính vẫn là sở trường của Bảo Ninh. Điều
này dễ lí giải bởi ông là nhà văn từng đi qua chiến tranh với tư cách người lính.
Ngoài cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận của
tình yêu) và các tập truyện ngắn, Bảo Ninh còn viết một số bài trên báo Văn
nghệ trẻ bàn về sự đổi mới của văn học như Văn học đổi mới đến từ cuộc chiến,
Nói hay viết dở. Ông khẳng định, đổi mới là nhu cầu tự thân của văn học: “Mỗi
thời mỗi khác, nhưng tựu chung đều kêu gọi và thôi thúc chúng tôi hãy khác đi,
hãy mau mau đổi mới, hãy mạnh dạn cách tân, hãy từ bỏ lối mòn trong suy
nghĩ và trong sáng tác” [48].
Bảo Ninh đã từng thú nhận bị “mệt nhoài” khi viết Nỗi buồn chiến tranh.
Có lúc ông tự nhận mình đã “hết thời”, đã “chán” văn chương. Nhưng thật ra
ông vẫn đang ấp ủ cuốn tiểu thuyết thứ hai đời mình. Chẳng ai biết cuốn sách
ấy bao giờ mới được sinh hạ. Nhưng có thể như ông “bật mí” về “cuốn tiểu
thuyết cuối cùng” đang viết dở. Vẫn đề tài chiến tranh nhưng nhân vật lại là
những người lính ở bên kia chiến tuyến...
Có thể nói, với Bảo Ninh nói riêng và một số nhà văn viết về chiến tranh
nói chung, người đọc tin rằng chừng nào những trái tim “chẳng biết đến bao
giờ (…) mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết chặt của những kỉ niệm chiến tranh”
còn đập thì chừng ấy họ vẫn viết về chiến tranh bằng tất cả trải nghiệm và cái
nhìn cá nhân chân thực, nhức nhối nhất.
25
Tiểu kết chương 1
Chủ đề là khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội
dung tác phẩm văn học, là yếu tố không thể bỏ qua khi tiếp nhận, nghiên cứu
tác phẩm văn học. Nó như kim chỉ nam định hướng người đọc hiểu được những
gì nhà văn gửi gắm qua tác phẩm. Từ chủ đề, người đọc phần nào đánh giá
được tầm vóc nhà văn và ngược lại, người đọc muốn hiểu được tác phẩm cần
nắm chắc chiếc chìa khóa chủ đề để mở cánh cửa ngôn từ bước vào thế giới
nghệ thuật của tác phẩm.
Tình yêu đôi lứa là chủ đề lớn trong văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh
từ 1945 đến nay. Tình yêu trong chiến tranh, dù phải chịu nhiều mất mát, hi
sinh, nhưng không kém phần lãng mạn. Cao cả hơn thế, tình yêu đôi lứa hòa
trong tình yêu quê hương đất nước. Tình yêu giúp con người thắp thêm niềm
tin mãnh liệt vào ngày mai tươi sáng - ngày mai chiến thắng. Tình yêu thời hậu
chiến được khai thác chủ yếu ở góc độ cá nhân, riêng tư, với những bi kịch tinh
thần dai dẳng. Tình yêu mang nỗi đau thân phận bởi những hệ lụy chiến tranh
không dễ gì có thể xoa dịu.
Bảo Ninh có nhiều trang xúc động, sâu sắc nhưng cũng nhiều trang “rợn
người”. Ông viết về một thời hậu chiến khủng hoảng sâu sắc, nghiêm trọng,
toàn diện với bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc liệt của con
người trong hiện thực. Ám ảnh chiến tranh và nỗi đau thân phận tình yêu là
thanh nam châm Bảo Ninh thu hút độc giả đương đại.
26
Chương 2
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA TÌNH YÊU ĐÔI LỨA
TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
Trong văn học thời kì đổi mới, viết về tình yêu dường như là sở trường
của nhiều tác giả như Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ,
Phạm Thị Hoài,… Nhưng đó là tình yêu thời hiện đại, nảy sinh trong hoàn cảnh
bình thường. Bảo Ninh lại quan tâm thể hiện tình yêu thời chiến. Tưởng như
chiến tranh và tình yêu khó có thể đứng cạnh nhau nhưng thực tế cho thấy nếu
chiến tranh là mất mát, hủy diệt thì tình yêu là cộng hưởng, sinh sôi. Bằng tài
năng, bằng tâm huyết, bằng chính trải nghiệm của người lính từng cầm súng
chiến đấu lăn lộn khắp chiến trường Tây Nguyên, Bảo Ninh đã đưa người đọc
đến với những câu chuyện đa sắc, đa thanh khi viết về chiến tranh, tình yêu.
Tình yêu luôn là thế giới tình cảm kì diệu bậc nhất của con người. Ta nhận
ra trong văn Bảo Ninh những cung bậc tình cảm tuyệt vời và mãnh liệt nhất của
con người khi yêu nhau. Nhưng tình yêu không đơn thuần là thương nhớ và hi
sinh, tinh thần và thể xác, chung thủy và phản bội, mà ở giữa những đối cực đó
là sự nhỏ bé, mỏng manh, bất trắc, khó lường, bi kịch tan vỡ trong đời sống
tình cảm của con người mà chiến tranh gây ra. Tình yêu được đặt trong những
thử thách và bị nghiền nát, hủy hoại theo nhiều cách. Nếu như những người đã
ngã xuống sẽ bảo toàn được mãi mãi mối tình tuyệt đẹp thì những người sống
sót trở về lại bị sốc trước thay đổi nghiệt ngã trong tình yêu.
Bên cạnh tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, trong tập Bảo Ninh - những
truyện ngắn, Nxb Trẻ, 2013 có 28/36 truyện viết về đề tài chiến tranh và người
lính, có 14 truyện ngắn lồng vào đề tài tình yêu: Bí ẩn của làn nước, Giang,
Thời tiết của kí ức, Gió dại, Trại “Bảy chú lùn”, Khắc dấu mạn thuyền, Rửa
tay gác kiếm, Sách cấm, Thách đấu, Kỳ ngộ, Quay lưng, Hà Nội lúc không giờ,
Tòa dinh thự, Tình thư. Điều này cho thấy tình yêu là một nội dung quan trọng
trong văn xuôi Bảo Ninh.
27
2.1. Tình yêu và những rung cảm trong sáng, chân thành
2.1.1. Những rung động đầu đời
Nhìn từ góc độ tâm lí học, ở lứa tuổi thanh niên mới lớn, giữa người
khác giới đã xuất hiện những cảm xúc lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, có nhu
cầu chân chính về tình yêu và tình cảm sâu sắc, có những mối tình đầu đầy lãng
mạn. Tuy nhiên, độ tuổi này mới có sự trưởng thành về sinh lí còn về tâm lí, về
xã hội, kinh nghiệm sống khá non dại. Bởi vậy, mối tình đầu giai đoạn này dễ
bị tan vỡ. Nhưng những tình cảm tình yêu nam - nữ thuở ban đầu ấy thường trở
thành những kỷ niệm đẹp, một sự tập dượt nhẹ nhàng cho mối tình đằm thắm,
sâu sắc sau này trong cuộc sống của họ.
Bảo Ninh và nhiều bạn bè cùng trang lứa xách ba lô vào chiến trường năm
17 tuổi với tinh thần “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng).
Hẳn trong lòng những người lính trẻ ấy cũng mang theo cả bóng hình người
bạn gái trong hành trang nỗi nhớ của mình “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
(Quang Dũng). Có lẽ vì thế mà nhiều nhân vật trong sáng tác viết về tình yêu
của Bảo Ninh đến với người đọc bằng dấu ấn những rung cảm tình yêu đầu đời
trong sáng, lãng mạn tuổi 17, theo thống kê có 10 nhân vật: “tôi”, Nhật Giang
(Giang), “tôi”, Duyên, Hưởng (Thách đấu), “tôi”, Thủy (Sách cấm), Giang (Hà
Nội lúc không giờ), Kiên, Phương (Nỗi buồn chiến tranh). Mối tình Kiên và
Phương trong Nỗi buồn chiến tranh trong sáng, mãnh liệt đến ngần nào. Nó bắt
đầu bằng tuổi thơ bên cạnh nhau từ những ngày chơi trò trẻ con, đi học, những
buổi tắm sông đến năm 17 tuổi đầy rạo rực khát khao. “Phương - bạn từ thuở
nhỏ của anh, mà ở nhà thì phòng sát vách, ở lớp thì cùng một bàn, ngày ngày
đèo nhau đi học - bước sang tuổi mười bảy đã vút lên trở thành một sắc đẹp
bừng cháy sân trường Bưởi.” [46, tr.146]. Tình yêu của hai cô cậu học trò
trường Bưởi trong sáng tựa ban mai, mãnh liệt bất chấp tất cả. Bất chấp thầy cô
lo lắng đến nổi giận, mặc kệ bom rơi đạn nổ, mặc kệ bao nhiêu phong trào sục
sôi tinh thần yêu nước lúc bấy giờ. “Như hình bóng, hai đứa quấn nhau, như
28
thể ở cạnh nhau bao nhiêu cũng chẳng đã, như thể chỉ tấc gang thời gian nữa
thôi là mất nhau” [46, tr.147]. Kỷ niệm với Phương ở bờ hồ vào ngày cuối
cùng trước khi Kiên lên đường chiến đấu mãi là kỉ niệm đẹp, là những giây
phút một đi không trở lại trong tâm hồn anh.
Truyện ngắn Giang là những xúc cảm đẹp của chàng binh nhì 17 tuổi và
cô nữ sinh Nhật Giang trong một lần tình cờ gặp gỡ. Chỉ thế thôi mà sau này
nhớ mãi. “Năm ấy tôi mười bảy tuổi, binh nhì, chiến sĩ của tiểu đoàn 5 tân
binh” [45, tr.25]. Trên đường trở lại đơn vị, chàng lính “đói mèm, rét run, lại
luớ quớ trượt chân ngã, tuột tung quai dép và lấm be bét”. “Khi tôi đến bên
giếng, hai thùng tôn của gánh nước đã đổ đầy, cô gái cuộn dây gầu, tra đòn
gánh vào hai móc xích, và trước khi lên gánh, cô đội lại chiếc nón mà lúc cúi
múc nước cô đã bỏ ra để ngửa bên thành giếng. Với con mắt lính 17 tuổi nhanh
như chớp tôi lườm ngay thấy tên cô nàng viết bằng mực tím ở trong vành nón,
cả tên, cả họ, cả đệm, và cả lớp học của cô nữa. Phạm Nhật Giang. 10B” [45,
tr.26]. Thế rồi Giang múc nước giúp chàng trai rửa chân. “Nhưng sự ân cần
của cô còn hơn thế. Mỗi gầu nước múc lên cô không xối cho tôi tự gột mà cúi
mình xuống, một tay nghiêng gầu nước dội nhè nhẹ, một tay cô cọ bùn đất ở
bàn chân, ngón chân, bắp chân tôi. Ngây ra, tôi đứng yên, sững lặng cảm nhận
cái ân tình hồn nhiên và bất ngờ ấy. Rất lâu, hai đứa chẳng nói gì, cô gái lặng
lẽ gột rửa cho tôi, tôi thì bất động.” [45, tr.27]. Chỉ cần một ánh nhìn lườm
nhanh, chỉ là cọ rửa chân và khoảng im lặng nhưng đó chẳng phải cảm giác xao
xuyến, bị thu hút lẫn nhau của đôi trẻ sao? Điều đó khiến Giang dám mời anh
lính vào nhà trọ chơi, giữ lại ăn cơm, dám nói dối bố đó là bạn học (bố là trung
tá, thủ trưởng một đơn vị), còn lấy xe đạp bố đưa bạn trai về đơn vị. “Con
đường đồi quạnh vắng, không ngừng uốn lượn và gấp khúc. Gió bấc lúc thuận
lúc ngược, nhưng mà tôi không thấy mệt, tôi đạp xe mải miết. Tôi chưa khi nào
đèo con gái. (…) Chưa từng bao giờ có một nữ nhi ngồi sau xe tôi, áp mình tin
cậy vào tôi như thế này. Đây là lần đầu.”[45, tr.31]. “Chia tay, tôi đã không
29
nói được một điều gì cả, đã không kịp ngỏ một lời nào.” [45, tr.32]. Câu
chuyện của đôi bạn với những cảm xúc đầu đời trong veo, tinh khiết, dù chẳng
kịp nói với nhau nhiều, thậm chí cái tên Hùng là do Giang bịa ra để “đối phó”
bố, địa chỉ của Giang “tôi” cũng không kịp hỏi rõ nhưng đã để lại trong nhau
thành kỉ niệm chẳng thể quên trong đời. Giang vẫn gửi bố tấm ảnh của mình
theo ra chiến trường với hi vọng có thể đến tay bạn trai, còn với người lính ấy
sau này vẫn gặm nhấm “nỗi đau mất mát âm thầm”.
“Tôi” và Thủy trong Sách cấm cũng đã đi qua những cơn cảm xúc run rẩy,
trạng thái rối bời thuở học trò tuổi 17 thật đáng nhớ. “Phần hồn của tôi hồi đó
thực sự là một chiến địa nóng bỏng. Tuy không phải lúc nào lửa cũng ngùn
ngụt, nhưng không bao giờ lụi, đều đều liên tục cháy âm ỉ. Những khát khao âm
thầm mà bừng rực” [45, tr.318]. Tình cảm của họ “vẫn chỉ là những cuốn sách
chuyển cho nhau qua ngăn bàn. Không gần lại được vào nhau hơn. Không một
bức thư. Không một lời. Không cả nhìn nhau” [45, tr.329]. Buổi chiều định
mệnh hôm ấy, “bom trúng thẳng vào lán học của chúng tôi (…). Non nửa lớp
10C bị vùi lấp, nhưng chỉ một mình Thủy không hồi lại được” [45, tr.330]. Có
lẽ đến lúc ấy, “tôi” mới nhận ra nỗi đau mất Thủy thấm thía đến mức nào. Sau
này, “tôi” chưa bao giờ nguôi chất vấn chính mình: “Mãi mãi tôi không bao giờ
tự cắt nghĩa nổi vì sao mà hồi đó tôi và Thủy lại phải như thế với nhau. Vì sao
chúng tôi không trực tiếp trao sách vào tay nhau” [45, tr.328].
Có thể thấy, tình yêu đầu đời luôn là kí ức đẹp trong mỗi con người. Nó
chứa đựng tất cả nét ngây thơ, vụng dại nhưng cũng không kém phần đắm say
của tuổi thanh xuân. Bảo Ninh, bằng sự tinh tế, nhạy cảm của mình, đã khiến
cho độc giả thêm một lần “chạm tay vào nỗi nhớ” mỗi khi đến với những trang
sách viết về tình đầu trong sáng như thế. Tình đầu khó bền lâu nhưng là thứ
tình cảm có sức sống mãnh liệt nhất trong sâu thẳm mỗi trái tim yêu.
2.1.2. Những khát khao được gắn bó bên nhau
Aristotle cho rằng: “Tình yêu là sự kết tinh của một tâm hồn nằm trong
hai thể xác”. Đó là trải nghiệm cảm xúc của một người về người khác giới. Nó
30
đi kèm với sự quan tâm sâu sắc dành cho đối tượng đó và khao khát ở cùng với
người mình yêu. Khao khát này mang theo khát vọng rằng người mình yêu có
cùng mong muốn ở bên mình. Họ cần có nhau để lo lắng, quan tâm, chăm sóc
cho người mình yêu. Khao khát chân chính này của những đôi lứa yêu nhau
được Bảo Ninh dành cho nhiều trang văn với ngôn ngữ vừa nồng nàn, đắm say
và cả những lo lắng, trăn trở đặt trong hoàn cảnh chiến tranh.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, những lời vương vít nồng nàn của Phương
trước khi từ giã tuổi học trò như lời ước hẹn cho Kiên thêm sức mạnh vượt
qua gian khổ trong chiến tranh “Em yêu anh. (…) Từ nay, từ tối nay, em là vợ
anh. Em sẽ đi cùng với anh. Em sẽ đưa anh tới cửa chiến tranh, xem nó ra
sao. Cho tới khi buộc phải chia lìa không cưỡng lại được thì thôi. Nhưng khi
đó hẵng hay. Còn tối nay chúng mình bên nhau để bắt đầu đi vào cuộc chiến
tranh oai hùng của anh. Cho nên đừng cần cái gì khác ngoài em, đừng sợ cái
gì hết. Và nhất là đừng có sợ thay cho em. Hãy nhớ là từ nay tới lúc đó, em là
vợ của anh” [46, tr.153].
Suốt những năm tháng chiến tranh, Kiên vẫn mang bên mình theo hình
ảnh Phương và kỉ niệm tình yêu của hai đứa. Phương vẫn đến với anh, bên cạnh
anh trong nỗi nhớ, trong những giấc mơ như thế suốt mười năm đời lính B3.
Tình yêu khi ấy với Kiên, dẫu có buồn nhưng là niềm an ủi, là niềm hạnh phúc
cứu rỗi tâm hồn anh. Ở Truông Gọi Hồn “khi phát hiện ra cuộc tình bi thảm
đầy sàm báng và tuyệt vọng của đồng đội với ba cô gái bị bỏ quên giữa rừng
sâu bên kia núi, Kiên đêm nào cũng mơ thấy Phương. Vì nhớ Phương, nhớ đến
tình yêu của mình mà Kiên đã không ngăn cấm những mối hoang tình ấy, đồng
thời tự cản mình lại để không nhập cuộc” [46, tr.156]. Có lần bị thương nằm
điều trị Kiên lại lờ mờ cảm nhận như có Phương bên cạnh mình, anh cảm thấy
hạnh phúc “Anh thều thào gọi tên nàng nhưng Phương không đáp, chỉ mỉm
cười và cúi sát xuống đặt môi trên trán anh nhờn nhợt mồ hôi. Không hề nghĩ
gì cả, không băn khoăn tự hỏi, Kiên cảm nhận sự hiện diện của Phương như
31
một niềm hạnh phúc tất nhiên và hầu như bình thản, cùng với tiếng mưa rơi,
tiếng rừng rền rĩ, tiếng đạn đại bác dội truyền trong lòng đất. Gầy yếu võ vàng,
da bọc xương, nàng vuốt ve anh với đôi bàn tay đã trở nên thô thám” [46,
tr.158]. Cô y tá mà Kiên gọi là Phương ấy không biết có phải là Phương thật
hay Liên, Liễu gì đấy, nhưng một điều có thể chắc chắn là tình yêu của Kiên
dành cho Phương thật sâu đậm và tha thiết. Tình yêu trong trắng ấy giúp anh
thoát khỏi những cái tầm thường, vượt lên trên cả những nghiệt ngã, khốc liệt
của cuộc chiến và theo anh đến sau này.
Tình yêu vừa là bản năng con người vừa là kết quả của sự gặp gỡ giữa hai
tâm hồn đồng điệu, cùng gắn bó, cùng thương yêu, vượt qua khó khăn để đi
đến hạnh phúc. Yêu nhau và khao khát đi cùng nhau trong suốt hành trình cuộc
đời luôn là ước mơ chân chính của mọi đôi lứa đang yêu.
2.2. Tình yêu và nỗi đau của thân phận
Mỗi con người có một thân phận, số phận riêng. Tình yêu cũng vậy. Trong
sáng tác của Bảo Ninh, cả tiểu thuyết và truyện ngắn, có lẽ tình yêu nảy sinh
trong hoàn cảnh chiến tranh nên nó có thân phận - thân phận của tình yêu với
những nỗi đau đầy ám ảnh.
2.2.1. Những mất mát đớn đau
Nỗi buồn chiến tranh (ban đầu có tên Thân phận tình yêu) là một tiểu
thuyết chiến tranh nghiệt ngã, tiểu thuyết tình yêu lãng mạn nhưng xót xa, đau
đớn. Những mảnh kí ức âm thầm và dang dở, những giấc mơ hiện hữu hoặc tàn
phai, trở thành niềm tự sự về nội tâm và khát vọng cá nhân, khát vọng sống và
yêu nhưng không trọn vẹn. Đỗ Đức Hiểu nhận xét: Trong văn học Việt Nam
mấy chục năm nay, có thể Thân phận tình yêu là quyển tiểu thuyết hay về tình
yêu, quyển tiểu thuyết tình yêu xót thương nhất.
Nỗi buồn chiến tranh là câu chuyện viết về cuộc đời và tình yêu những
năm trong, sau cuộc kháng chiến chống Mỹ của Kiên và Phương. Kiên, chàng
học sinh trường Bưởi, Hà Nội, mang trong mình tình yêu đẹp đẽ, trong sáng
32
với cô bạn học lớn lên bên nhau tên Phương. Rời mái trường, Kiên tình nguyện
gia nhập quân ngũ, “xếp bút nghiên theo việc đao cung” như biết bao thanh
niên cùng thời theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Ngày lên đường, vì
Kiên bị lỡ chuyến tàu cùng đồng đội, Phương đã đưa tiễn Kiên một chặng
đường dài. Trên tuyến tàu hàng ra tiền tuyến, vì bom, vì hỗn loạn, Phương bị
cưỡng bức. Ở cái tuổi 17, Kiên không thể hiểu “cái thái độ điềm nhiên khinh
nhờn và thờ ơ lãnh đạm” của Phương sau sự cố đó. Anh đã bỏ rơi Phương đi
vào cuộc chiến. Trải qua mười năm chiến đấu khốc liệt, Kiên may mắn sống sót
trở về. Tuy nhiên, vết thương trên thân thể và tâm hồn anh chẳng thể nào hàn
gắn được. Anh không thể hòa nhập với cuộc sống hòa bình. Anh, “nhà văn cấp
phường”, bắt tay vào viết tiểu thuyết, viết về chính cuộc chiến anh tham gia với
đồng đội, viết về mối tình day dứt với Phương và cả những sự thật khủng khiếp
ám ảnh suốt đời anh. Tuy vậy, người duy nhất quan tâm cuốn tiểu thuyết của
Kiên chính là người đàn bà câm sống trên tầng gác áp mái. Đêm đêm, Kiên vẫn
bị ám ảnh bởi quá khứ “mảnh đời còn lại sau mười năm bị lửa đạn của chiến
tranh vằm xé lại bị móng vuốt của tình yêu xé nát”. Trở về, gặp Phương, Kiên
muốn cùng cô quay lại cái thời yêu nhau “bất chấp tất cả, bất chấp sự khác
nhau quá lớn giữa hai đứa”. Nhưng giờ Phương đã sống buông thả, đắm mình
trong những cuộc vui cho những người đàn ông khác. Chán chường, Kiên tự
tay đốt cuốn tiểu thuyết đời mình. Anh ra đi. Mớ bản thảo như một cuộc sống
hỗn loạn mà anh để lại được người đàn bà câm gom lại và cất giữ.
Ở Nỗi buồn chiến tranh, các chủ đề chiến tranh, tình yêu và niềm đam mê
sáng tạo nghệ thuật đan cài vào nhau đớn đau, nhức nhối. Nói cách khác, thân
phận tình yêu hòa quyện với nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn nghệ thuật tạo
thành nỗi buồn nguyên khối - nỗi buồn thân phận.
Có thể thấy, ngoài dòng kí ức về chiến tranh với những ngày dài như tận
thế, những ngày mưa sầu thảm ở chiến trường, Kiên vẫn hoài nhớ về những
mối tình của đồng đội và chính mình. Ở Truông Gọi Hồn, nơi những đám hồng
33
ma nở rộ, đã có thời cất lên tiếng ma núi “Tiếng hú cất lên từ thung lũng bên
kia núi nhưng dội sang tận bên này. Tiếng hú của loài ma núi, người ta bảo
thế, nhưng Kiên thì Kiên biết ấy là tiếng gọi của tình yêu. (…) trung đội trinh
sát “Nông trường 3” đã sống một thuở yêu đương say đắm lạ lùng. Một cuồng
si bí ẩn, đầy tội lỗi và có một không hai” [46, tr.28]. Mười ba chàng lính trinh
sát và ba cô gái “cuồng si bí ẩn, đầy tội lỗi”, dan díu, chung đụng trở thành nỗi
ám ảnh đeo bám suốt đời Kiên. Bi kịch của tình yêu đầy tội lỗi, có một không
hai ấy khiến người ta vừa kinh hãi, vừa xót thương, ngờ vực và lo sợ. Những
người lính ấy còn quá trẻ. Họ không tiếc thanh xuân của mình nhưng có rất
nhiều chàng trai mà có khi chết chưa từng được yêu:
Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Đôi môi tươi đạn xé
Chưa một lần được hôn
(Phùng Quán)
Kiên thấu hiểu tất cả “Anh không tức, chỉ buồn”. Đêm nào cũng vậy “anh
nằm im lặng nghe ngóng đếm từng bước chân rón rén, để rốt cuộc được trút
một hơi thở phào mừng rằng may thay cả bọn đã bình yên trở về. (…) Kiên biết
đấy là tiếng lòng, người nam người nữ gọi truyền theo vách núi để tạm biệt
nhau và để hẹn ước” [46, tr.31]. Họ đi theo “tiếng gọi man sơ, hoang dã của
tuổi thanh xuân”, dù là sự sẻ chia những người đàn bà với nhau mà trở nên
đáng thương, xót xa hơn bao giờ hết. Nó nặng nề bóp nghẹt trái tim Kiên. Vả
chăng, chứng kiến bi kịch tình yêu nơi Truông Gọi Hồn, Kiên cũng thổn thức
nhớ Phương da diết “chính anh, về đêm…khi ngủ…những giấc mơ đậm đặc
cảm giác, nóng bỏng và ngọt lịm như mật ứa ra, trào lên lấp đầy cõi mộng mị.
(…) người con gái của thành phố quê hương lại hiện lên và bước tới với anh
trong bóng hình tiên nữ mờ ảo. Cả người gai lên, xương thịt chờn rợn, run rẩy,
rung động trong nỗi khát khao thèm muốn được hưởng độ tột cùng cảm giác
34
xúc tiếp êm ái, choáng ngợp, đáng kinh hãi với cái hình hài yêu dấu, mong
manh, mềm mại như cánh hồng ấy.” [46, tr.32].
Trên hành trình tìm lại chính mình, miền kí ức của Kiên đưa người đọc
đến với những mối tình đi qua đời anh. Có những mối tình dù chỉ ngắn ngủi,
thoảng qua những vẫn khiến độc giả không khỏi nhói đau. Mối tình để lại trong
lòng Kiên nhiều dư vị là mối tình gắn với kỉ niệm năm Kiên học lớp 10 với chị
Hạnh, ở cùng chung cư. “Hạnh hơn tuổi Kiên, hơn chừng nào chẳng biết. Chỉ
biết khi anh còn oắt con thì đám đàn ông trong phố đã nhiều tay bê bết cuộc
đời vì Hạnh” [46, tr.68]. Hạnh nhờ Kiên đào hầm trong phòng Hạnh, lần đầu
tiên trong đời Kiên chạm vào da thịt của đàn bà “Ngờ nghệch và rối loạn, run
lên vì choáng sốc, Kiên chụp lấy Hạnh, choàng ôm, hung dại hôn lên cổ, lên
vai” [46, tr.70]. Sau đó, anh tránh mặt Hạnh, tránh cả nỗi niềm đam mê đang
thôi thúc. Một thời gian sau, Kiên nhập ngũ, Hạnh vào Thanh niên xung phong.
“Ngày Kiên trở về, buồng chị đã có người khác ở. Chiếc hố sâu đào ngày nọ
chẳng còn mảy may dấu vết trên nền gạch hoa. Bỗng dưng một nỗi buồn làm
Kiên chìm ngập vào trong thời thơ ấu.” “mãi mãi trong lòng Kiên lưu giữ thầm
lặng một tình cảm biết ơn đầy tha thiết và ngậm ngùi đối với chị. Mãi mãi ấy là
niềm nuối tiếc và là một nỗi đau mất mát lớn.” [46, tr.72].
Ở Kiên, song song với nỗi buồn chiến tranh là nỗi đau về tình yêu. “Nỗi
buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình yêu,
như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát
ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay
bổng lên trong thời gian quá khứ, (…) khi dừng mắt lại thì không còn là nỗi
buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và nhất là đừng có nhớ chạm tới những
cái chết.” 42, tr.101]. Anh vẫn nhớ Đồi Mơ, có lẽ không chỉ nhớ đến mẹ Lành,
mà là day dứt “một nỗi buồn đơn giản, xót xa, choáng ngợp”, là “lời ước hẹn
buồn bã và vô vọng ngày nào” của Lan: “bỗng dưng một ngày nào anh gặp cảnh
ngộ không may, thấy đã hết ngả để đi tiếp thì xin anh hãy nhớ ngay rằng, dù sao
cũng còn một nơi, cũng còn một người…Đồi Mơ đây là nơi anh đã lên đường
35
chiến đấu lập nghiệp, mai sau nếu anh muốn cũng sẽ là một nơi, một chốn anh
về” “Em sẽ nhớ anh mãi. Còn anh đừng quên hẳn em nhé” [46, tr. 59]. Kiên
hoàn toàn có thể đến với Lan, về với Đồi Mơ khi chiến tranh kết thúc, khi đã
mất Phương nhưng anh đã không trở lại. Nơi ấy mãi mãi là kí ức anh không thể
quên, là dấu ấn về một thân phận tình yêu. Anh cũng chẳng thể xóa đi “kỉ niệm
bi thảm, thương tâm và hiểm nghèo nhất” về Hòa. Hòa đã hi sinh cả mạng sống
của mình bảo vệ anh. Kiên dằn vặt, đau đớn, hổ thẹn ân hận vì mình đã quá
hèn. Sau này, có dịp trở lại vùng hồ Cá Sấu, Kiên vẫn có cảm giác “lưu giữ một
điều gì đấy thầm lặng, mơ hồ, phảng phất đâu đây.” [46, tr.229].
Có lẽ Hạnh, Lan, Hòa, người đàn bà câm chỉ là những mảnh sắc đẹp,
những mảnh tâm hồn của Phương, người con gái mà suốt đời Kiên dù cố gắng
bao nhiêu cũng không thể nào quên. Chuyện tình giữa Kiên và Phương là chủ
đạo và xuyên suốt tác phẩm, đầy nồng nhiệt nhưng cũng đầy đớn đau. Phải
chăng yêu sâu đậm bao nhiêu thì đớn đau bấy nhiêu? Phương theo chân Kiên
lên chuyến tàu ra chiến trường. Song từ đây, chiến tranh đã đẩy Kiên - Phương
rơi vào tình cảnh hiểu lầm, xa cách, đúng như dự cảm của Phương: “Em nhìn
thấy tương lai. Đấy là sự đổ nát. Sự thiêu hủy.” [46, tr.150] “Anh muốn hiến
đời mình cho sự nghiệp gì đó, còn em thì quyết định sẽ phung phí đời mình, sẽ
hủy diệt nó trong cuộc loạn ly này.” [46, tr.153]. Chuyến tàu định mệnh ấy đã
khiến Kiên và Phương “đi nốt với nhau những cây số cuối cùng của mối tình
đầu”, đồng thời cũng cập bến một cuộc chiến tranh tàn khốc đúng nghĩa nhất.
Chuyến tàu đó như nhát dao chí mạng cắt đôi vầng trăng tình yêu của họ thành
hai nửa không bao giờ hàn gắn lại được và đẩy họ về hai phía xa nhau. Ở cái
tuổi mười bảy, Kiên chưa đủ cảm nhận những đau đớn cả thể xác và tinh thần
mà Phương đang chịu đựng, cũng không đủ tự chủ và càng không đủ minh mẫn
để suy xét những lời châm chọc. Kiên bỏ rơi Phương giữa nơi Phương bị vùi
dập. Phương từ một cô gái trong trắng trở thành một người phụ nữ phóng đãng,
buông thả, bất cần. Kiên từ một chàng trai đầy lí tưởng, khát vọng rơi vào đau
36
đớn, hoang mang trước bão táp chiến tranh. Kiên mất Phương mãi mãi chính
trong lần đầu hai người bị bật ra khỏi nhau trên chuyến tàu ấy chứ không phải
đến tận cuộc chia li sau hòa bình. “Một cái gì đã mất đi, một cái gì đã thay đổi
giữa hai đứa, rõ ràng và trầm trọng mà không thể nói thành lời.” [46, tr.262].
Ngày chiến thắng trở về, những tưởng từ đây hạnh phúc sẽ đến với anh.
Nhưng không, ngay “đêm đầu tiên của cuộc đời mới sau chiến tranh, lòng dạ
anh đau nhói, chua xót, không thể rên lên”. “Cuộc chiến tranh thần thánh rốt
cuộc đã bù đắp những mất mát anh phải chịu bằng một thứ đời sống như ngày
hôm nay đây. Sau cuộc chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa trong đời anh.” [46,
tr.88]. Kiên chỉ có cảm giác “đang bị mắc kẹt lại trên cõi đời này”. Gặp lại
Phương, biết bao cảm xúc dồn nén của mười năm nhớ nhung cứ tưởng vỡ òa
hạnh phúc, vậy mà xót xa, day dứt, dự cảm mong manh đến nhường nào.
“Mười năm ấy một cái hôn dài. Cái hôn bất tuyệt thấu vào tim, mà mãi mãi
mỗi người trong họ phải nhớ bởi chưa bao giờ và sẽ không cả hai còn được
hưởng một cái gì tột đỉnh cuộc đời đến như thế nữa.”,“ngay lúc đó, anh đã
cảm thấy những xung đột rối ren giữa niềm hạnh phúc vô bờ với sự hoang
mang bấn loạn từ tấm thân yêu kiều trong vòng tay mình” [46, tr.87]. Chiến
tranh là một hiện thực quá phũ phàng đối với những người như Kiên và
Phương. Để rồi từ đây, cả Kiên và Phương, mỗi người bị đẩy vào tấn bi kịch
dai dẳng, day dứt, thương tâm, “bị móng vuốt của tình yêu xéo nát”, “làm đổ bể
tâm hồn nhau”. Cả hai đều yêu, vẫn sống cạnh nhau nhưng có một bức tường
vô hình đã ngăn họ đến với nhau. Kiên lạc đắm trong men say, dầm mình trong
rượu, tự cầu xin lòng mình hãy lặng yên đi cho nhưng “trong tâm trí anh vẫn
không ngừng nhói đau những hồi tưởng tan nát về thời gian sống cùng nhau
sau chiến tranh của anh và Phương” [46, tr.89]. Đối với Kiên, “chiến tranh
chẳng những mãi mãi đè nặng, mãi mãi ám ảnh mà về thực chất nó còn là
nguyên nhân của mọi khúc đoạn và nông nổi của đời anh, kể cả hạnh phúc, kể
cả đau khổ, niềm vui và nỗi buồn, tình yêu và oán hờn” [46, tr.80]. “Anh đã
37
gắng quên Phương, đã cố hết sức. Chỉ dở là không tài nào quên nổi và dở nhất
là vẫn cứ âm thầm mong ngóng” [46, tr.75]. “Phương vẫn là toàn bộ cuộc
sống tinh thần” của anh. “Tất cả những nhân vật nữ mà anh mê say trong sáng
tác của mình rút cuộc vẫn chỉ là những giấc mơ về Phương” [46, tr.185]. Yêu
nhau và không thể đến với nhau là bi kịch tình yêu xót xa, tội nghiệp nhất.
Chưa bao giờ chúng ta có thể nghĩ rằng thân phận của tình yêu lại có thể buồn
đến thế. Với Bảo Ninh, nỗi buồn của tình yêu giống như nỗi buồn của chiến
tranh. Nó đau âm ỉ và nếu ta dừng lại ở một trường đoạn nào đấy, nỗi đau sẽ
nhói lên khiến con người thấy mình tan vỡ. Kiên đau đớn nhận ra rằng có lẽ
mình đã đánh mất khả năng yêu. Những thương tổn khiến Kiên không bao giờ
có thể yêu thêm lần nữa.
So với Kiên, sự biến dạng trong tâm hồn Phương còn khủng khiếp hơn,
đáng sợ hơn. Cô nữ sinh trường Bưởi hồn nhiên, ngây thơ, tràn đầy năng lượng
yêu thương, yêu đời ngày ấy giờ trở thành người phụ nữ buông mình trong
hoan lạc, sống trong thân phận ê chề của kĩ nữ, thành thứ đồ chơi mua vui cho
đàn ông và ban phát tình yêu cho họ. Một con người ham sống, sống rất quyết
liệt bây giờ chán nản tất cả “hoàn toàn chẳng còn thiết gì nữa, tuyệt đối buông
thả, tuyệt đối không còn biết sợ là gì nữa” [46, tr.269]. Một con người luôn
sống hết mình cho tình yêu, dám đưa người yêu mình đến cùng trời cuối đất,
đến tận “cửa chiến tranh” mà giờ đây có một cái gì đó đã rã rời, tan nát không
phải chỉ trong bước đường đời của Phương mà còn trong tâm hồn Phương,
trong thế giới tinh thần của Phương. Nàng, đúng như lời cha Kiên nói “Sắc đẹp
của cháu không bình thường. Vẻ đẹp lạc thời và lạc loài” [46, tr.145], đúng
như mẹ nàng than thở: hoàn mĩ nhưng mong manh vô cùng, tâm hồn trong
trắng “sẽ bị trường đời vò nát”, “cái thiên bẩm trong trắng về hoàn thiện tuyệt
mỹ sẽ trở thành tai hại một cách không thể tưởng tượng được” [46, tr.242]. Vẻ
đẹp đầy nhục cảm của nàng khiến người ta liên tưởng tới Kiều - “Tài tình chi
lắm cho trời đất ghen”. Còn gì xót xa hơn khi người con gái mười bảy tuổi bị
38
cướp mất trinh trắng (kẻ cưỡng bức không phải là địch mà là người của mình),
phải phơi bày tất cả sự nhục nhã, tả tơi, rách nát ngay trước mắt người yêu, để
rồi bị chính người mình yêu bỏ rơi ngay tại nơi mình gục ngã. Còn gì đớn đau
hơn khi sau mười năm gặp lại người yêu thời hậu chiến, người phụ nữ ấy phải
thốt lên những lời đau tận cốt tủy, nghẹn ngào: “Anh không biết được tất cả
mọi điều đâu. Những điều mà một người đàn bà như em phải trải qua. Em
đang phải trả giá cho những việc em làm. Em đã hư hỏng. Đôi khi em thấy
mình như con vật”. “Kiên ơi! Rồi đây em sẽ sống ra sao, xử sự thế nào cũng
không tự biết được”. “Em không yêu ai ngoài anh cả… Còn anh, anh còn yêu,
còn yêu nổi em không?” “Chỉ có cách xa nhau. Mãi mãi là cách duy nhất”.
“Kiên ơi. Em đi. Vĩnh biệt. Và điều đó tốt cho anh. Tốt cho em. Chỉ xin anh một
điều là hãy quên” [46, tr.163 - 165]. Phương tự hủy diệt chính mình, hủy diệt
để tồn tại như một thực thể.
Có lẽ Kiên và Phương không thuộc về thời đại mà họ đang sống, bởi vì tư
tưởng và tình yêu của họ vượt quá giới hạn của thời chiến ấy. Tiểu thuyết tình
yêu của Kiên và Phương đọng lại cuối cùng là nỗi đau, là bi kịch cho cả hai
thân phận dở dang và lạc loài. Tuy vậy, tình yêu có sức sống kỳ diệu riêng của
nó, có thể hồi sinh cả những tâm hồn tưởng đã chết. “Càng từng trải chiến
tranh, càng chứng kiến nhiều hơn sức mạnh hủy diệt, sức mạnh biến tất cả
thành tro bụi của nó, Kiên càng tin rằng chiến tranh không tiêu diệt được cái gì
hết. Tất cả vẫn còn lại đó, vẫn y nguyên. Cái xấu xa đã đành, nhưng cái tốt đẹp
cũng vẫn còn. Bản thân anh đã không thay đổi cho dù rõ ràng đã trở nên hoàn
toàn khác. Anh tin rằng Phương của anh cũng vậy.” [46, tr.279]. Tiếng gọi của
Phương “cất lên kêu gọi và lay thức anh” đã kéo anh ở bên này bờ vực của cái
thiện “đã nhập tâm về một cuộc đời hạnh phúc, một tương lai tươi sáng mặc dù
đã bị bỏ lỡ, đã bị buông rơi nhưng không hề mất đi, mãi mãi còn đó, chờ đợi
anh trên đường quá khứ.” [46, tr.280].
Từ điểm nhìn hậu chiến, Bảo Ninh đã ‘rất người” khi dũng cảm chọn nỗi
đau mất mát của tình yêu do hệ lụy chiến tranh để phản ánh. Khi lạc lối, người
39
ta thường hi vọng tình yêu có thể là cứu cánh để kéo họ quay về. Nhưng lối
thoát cuối cùng ấy cũng bị tước đoạt. Con người bị chiến tranh cào xé đến hóa
chai sạn, mất luôn cả khả năng yêu thương. Nhà văn xoáy sâu vào những tình
yêu thánh thiện mà bi kịch, đặc biệt là tình yêu của người phụ nữ, khiến cho
người đọc ám ảnh, day đứt về trò đùa nghiệt ngã của chiến tranh.
2.2.2. Những xót xa, nuối tiếc
Ở mảng truyện ngắn, Bảo Ninh lại thể hiện thân phận tình yêu - chiến
tranh từ cái nhìn đa chiều, đa diện. Mỗi truyện ngắn đưa đến một khám phá,
một góc nhìn riêng về tình yêu.
Truyện ngắn đầu tay Trại “bảy chú lùn” cho người đọc thấy một tình yêu
vô vọng của hai người đàn ông, hai người lính hậu cần Mộc - Huy đối với cô
giao liên trẻ trung tên Nga. Định mệnh trớ trêu khiến Mộc và năm đồng chí của
mình không có cơ hội cầm súng trực tiếp chiến đấu mà trở thành “lính tăng gia
B3” mắc kẹt lại ở trại “Bảy chú lùn”. Mới chớm chân qua biên giới, anh đã bị
sốt rét ác tính, đơn vị gửi anh về lán anh Nua. Mộc và năm đồng chí khác được
anh Nua nuôi dưỡng. Buổi chiều trước hôm Mộc và các đồng chí rời trạm thì
anh Nua chết ngoài nương. “Chôn Nua xong, không ai bảo ai chúng tôi đồng
lòng ở lại cánh rừng này với ý định ban đầu là tiếp tục vụ rẫy mà anh đang làm
dở” [45, tr.123]. Vậy mà, cứ hết mùa rẫy này rồi đến mùa rẫy khác, “cứ thế, cứ
thế mãi...”. Nhưng đối với họ có lẽ “gánh nặng nương rẫy bẻ oằn sống lưng.
Thân thể bị xô lệch. Mặt mày dệch dạc, già sụm đi” [45, tr.125] không đáng sợ
bằng cảnh “cô độc kinh người giữa bốn bề rừng già vây bọc.” [45, tr.124]. Bởi
thế khi Nga “trẻ măng, người cao, cân đối, nước da bánh mật, tóc tết đuôi
sam” [45, tr.128], khuôn mặt thanh tú, giọng hát tuyệt hay, xuất hiện nơi cánh
rừng già ấy đã sưởi ấm trái tim những chàng lính trẻ và cũng là bắt đầu cho bi
kịch tình yêu của họ. Cả Huy và Mộc đều yêu Nga nhưng một người lặng lẽ,
một người âm thầm, không ai thổ lộ tình cảm của mình với Nga. Với Mộc, đó
là tình yêu đơn phương gói gọn trong cuộc đời trai trẻ và chôn vùi xuống mồ
40
sâu còn lại trong thế giới của “trại bảy chú lùn”, kể cả sau khi Huy chết. Tình
cảm của Mộc dành cho Nga dù mỗi ngày mỗi lớn, dù sống chung dưới một mái
nhà nhưng anh vẫn giữ nguyên khoảng cách “trong cô đơn đè nặng, giữa hoang
vắng đêm trường”, tự dối lòng, “như vậy là hạnh phúc, hay như vậy là đau khổ,
tôi chẳng biết”. Tình cảm của Nga với Mộc là nỗi niềm “tự nén mình trong
những đêm dài thao thức”. Mộc nhận ra tâm trạng lầm lũi, u uẩn “khiến chúng
tôi thêm lặng lẽ cách xa nhau”. Cho đến một ngày “giữa hai chúng tôi có người
thứ ba”. Người lính trong tốp trinh sát ấy khiến “người con gái tươi đẹp và sôi
nổi ngày nào như đang dần dần thức tỉnh trong Nga” [45, tr.132], cũng độc
chiếm ở Nga những tình cảm mà lòng Mộc bấy lâu nay mòn mỏi chờ mong
được có. Nga đã yêu người khác, sinh con cho người khác, nhưng tình yêu Mộc
dành cho Nga vẫn không thay đổi. Anh cảm thấy hạnh phúc khi Nga sinh con,
“hạnh phúc tột đỉnh”, thương hai mẹ con và tự thương mình. Họ đùm bọc, cưu
mang nhau nơi ngút ngàn rừng sâu. Nhưng rồi Nga vẫn bỏ đi để lại cho Mộc
nuôi bé Nương và nỗi đau buốt đâm thấu tim. Những tháng ngày Mộc mòn mỏi
chờ Nga trở lại biết lấy gì đong đếm được?
Nhiều truyện ngắn của Bảo Ninh đặt nhân vật vào cơn giông bão của cuộc
đời. Mọi việc cứ như ngẫu nhiên xảy ra nhưng lại là những bi kịch, những nỗi
xót tiếc, oái oăm. Rửa tay gác kiếm là nỗi xót xa của người chồng bị phụ bạc
nhưng bản thân người vợ cũng không có lỗi. Sự thấu hiểu, lời minh oan của
Quang đối với vợ thật ra cũng là một cách tự an ủi chính mình vượt qua nỗi đau
thân phận: “Lấy nhau mới được bảy ngày là tớ lên đường đi B. Như vậy là cô
ấy đã phải vò võ chịu đựng nhưng mười năm trời có lẽ nào ít ỏi gì đâu, thế mà
sức người thì có hạn (…) thêm nữa nhà tớ lại ngay một bến sông nhộn nhịp tứ
xứ thuyền bè qua lại, sự thể như thế tất phải xảy ra trách ai được bây giờ.”
[45, tr.274]. Hình ảnh Quang khoác ba lô rời trại “đi xuôi dòng sông, lẳng lặng
bắt đầu cuộc rong ruổi đường trường đi tìm lại người thân yêu thuở xưa và đi
tìm miền nương thân mới” [45, tr.277] cũng thắp lên trong lòng người đọc bao
41
hi vọng về tương lai tốt đẹp hơn. Rõ ràng tình yêu đã giúp người lính chiến
thắng những gì tầm thường nhất của chính mình. Thời tiết của kí ức là sự khắc
khoải về những năm tháng không được sống cùng nhau của Phúc và Quỳnh,
niềm khắc khoải đeo đẳng theo suốt cuộc đời ông Phúc. Câu chuyện về mối
tình trong chia ly, chia cắt, tù ngục... của ông Phúc và Quỳnh, là một ngẫu
nhiên đau đớn của số phận, của định mệnh. Đối với ông Phúc, đó là tình yêu có
nhiều đau khổ và dằn vặt, “nhuốm màu tội lỗi”. Phúc và Quỳnh lớn lên bên
nhau, yêu nhau nhưng âm thầm không dám thổ lộ, không dám công khai. “Cả
đến khi gia đình họ Trần dạm hỏi Quỳnh cho Bách, Phúc cũng không mạnh
dạn có được một lời nào. Chỉ một mình Quỳnh yếu ớt cưỡng lại ý mẹ. Nhưng cô
chẳng thể thắng nổi sự kiên quyết gả bán của mẹ và lòng si mê kiên trì của
Bách” [45, tr.101]. Thời cuộc rối ren, nhiều biến động, Bách muốn sau lễ ăn
hỏi, cả gia đình sẽ vào Nam ngay. Riêng Phúc quyết định ở lại Hà Nội. Tưởng
Quỳnh sẽ ra đi nhưng tình yêu đã níu chân Quỳnh ở lại. “Phúc lao khỏi phòng,
chạy đâm xuống cầu thang. Quỳnh để rơi chiếc va li trên tay xuống ngưỡng
cửa. Phúc lặng lẽ ôm lấy Quỳnh, lặng lẽ ghì chặt, cảm thấy một trái tim khác
đập cạnh trái tim mình” [45, tr.103]. Nhưng họ chỉ được sống bên nhau vẻn
vẹn một tuần ngắn ngủi. Ông bị bắt trước khi ra tự thú. Tình yêu Phúc và
Quỳnh đứt đoạn từ đó, mỗi người một ngả. Ra tù, Phúc cũng chẳng còn toan
tính gì đến chuyện vợ con (vài ba lần toan chuyện nhưng không thành). Ông
sống trong niềm nhớ thương Quỳnh. Thế rồi nghe người ta khuyên, ông đăng
tin tìm người thân những mong tìm được Quỳnh. Cho đến tận cuối đời ông mới
biết được “một sự thật của cả đời người”: Hạnh là con gái ông - món quà cuối
cùng Quỳnh để lại cho ông. Chiến tranh đã xô đẩy, đã làm đổi thay bao số phận
con người, bao số phận tình yêu. Chiến tranh khiến những người như ông Phúc
cả đời sống với những kí ức giông bão, những niềm đau, nuối tiếc. Những hoài
niệm ấy có lẽ cũng đỏng đảnh như thời tiết hành hạ ông khiến “trái tim già nua
nhức nhối và nước mắt nóng rực đau nhói tròng mắt như kim châm”. Kết thúc
42
truyện dường như ánh lên niềm an ủi cho tâm hồn ông Phúc và cho cả bạn đọc:
“lẽ đời là vậy đấy. Bởi vì là một nỗi đau nên quá khứ còn sống mãi. Và bởi nỗi
đau quá khứ còn sống mãi nên về sau ta mới có được quãng đời êm lặng, một
nếp sống bình yên, một tư duy thư thả, một tấm lòng khoan thứ và một cảm
giác có hậu với cuộc đời cùng số phận” [45, tr.114].
Tình yêu âm thầm, lặng lẽ, đớn đau, nuối tiếc tiếp tục được khắc họa trong
Hà Nội lúc không giờ. Đó là câu chuyện về niềm hạnh phúc chung vui của
những đứa trẻ nhà số 04 đến lúc “tan đàn sẻ nghé” mỗi đứa dấn thân vào chiến
trường. Từ chính nơi đó, bao tình yêu đã nảy nở: tình yêu của anh Trung, của
Pét xồm với chị Giang và “mối tình đầu không có thật” của thằng bé 13 tuổi
đối với chị. Chiến tranh khiến cho tình cảm đang nồng nàn của anh Trung, chị
Giang phải chia cắt khi anh Trung lên đường nhập ngũ. Bao nước mắt đã tuôn
rơi trong giây phút chia tay mà họ muốn kéo dài mãi. “Giang và Trung (…) bấy
lâu chẳng dám lộ mình mãi đến giây lát phải chia lìa mới không còn đừng nổi.
Ngay trước mắt bao người mà Giang liều lĩnh xoắn mình vào Trung. Xoay lưng
lại với thiên hạ, tóc đổ xõa xuống vai. Giang đứng úp người vào Trung, hai
cánh tay vòng lên ôm lấy cổ người yêu. Còn Trung, hai bàn tay to tướng táo
tợn lùa sâu vào trong áo len của Giang, ghì riết lấy Giang từ bên trong.” [45,
tr.553]. Còn tình yêu âm thầm, vô vọng của nhân vật “tôi” dành cho chị Giang
từ lúc 13 tuổi đến thời hậu chiến là khoảng trời riêng lặng lẽ mà ám ảnh. Sau
này, khi ngoái lại quá khứ, “tôi” nhận ra: “Gần trọn quãng đời trai trẻ của tôi
không hề được hưởng tình yêu. Qua hết những năm vị thành niên cho đến ngày
nhập ngũ, trải sáu năm chiến trường chẳng từng được thật sự gần gũi một
người con gái nào [45, tr.565]. Nhưng sau chiến tranh, khi mà cái sức tưởng
tượng tội lỗi ấy không còn trong tôi nữa thì tôi lại hiểu rằng ra những tội lỗi
trong mơ ngày đó chính là hình bóng của mối tình đầu không có thật của tôi.
Và mặc dù rằng dù sao đi nữa thì cũng vẫn là tội lỗi, và mặc dù khốn khổ, mặc
dù nực cười và mặc dù mong manh lúc mờ lúc tỏ nhưng mối tình đầu phải tuyệt
43
đối vùi sâu chôn kỹ ấy cũng đã góp phần ánh sáng soi rọi tâm hồn tôi, giúp tôi
vững tinh thần, và có lẽ một phần nhờ thế mà rốt cuộc tôi đã sống sót trở về.”
[45, tr.566]. Trong sâu thẳm tâm hồn người lính hậu chiến đã thấu hiểu về thân
phận tình yêu trong chiến tranh và chấp nhận cả những đớn đau vô ích.
Truyện Bí ẩn của làn nước lại là nỗi chua chát về một định mệnh oái oăm.
Năm ấy, nhằm trúng đỉnh lũ đêm Rằm tháng Bảy, bom Mỹ phá tan vệt đê canh
giữ đằng trước làng tôi. Cơn đại hồng thủy lúc đê vỡ tràn vào làng, khiến anh mất
cả vợ và đứa con mới sinh. Oái oăm thay đứa con anh cứu được lại không phải
con anh (con anh là con trai). Nỗi khổ đau mất mát ấy chỉ mình anh biết và trở
thành nỗi niềm đeo đẳng cả đời. Anh chỉ còn biết buông nỗi nhớ vợ con theo dòng
nước với nỗi đau khổ không gì khuôi ngoai được. Tình yêu anh dành cho họ quá
đỗi thiêng liêng: “Có ngày nào mà tôi không ra đê ngắm làn nước trôi. Vợ tôi, con
tôi và người đàn bà vô danh nhìn tôi từ đáy nước. Thời gian, năm tháng cứ trôi,
dòng sông và lịch sử, tất cả đều đổi thay nhưng mà niềm đau của đời tôi thì khôn
nguôi bởi ấy là một niềm đau không thể nói nên lời” [45, tr.24].
Chiến tranh và tình yêu là hai dòng trong đục của một dòng sông. Tình
yêu thì tạo sinh, chiến tranh thì hủy diệt. Những nhân vật trong truyện tình yêu
của Bảo Ninh thường là những lữ hành “lỡ làng với chuyến đò hạnh phúc”.
Cách “lỡ đò” của họ cũng mỗi người một kiểu nhưng dường như chẳng có ai có
thể sang nổi bờ bên kia. Bảo Ninh viết về “nỗi buồn chiến tranh”, “nỗi buồn
tình yêu”, về một thời đã qua không bao giờ trở lại. Đọc văn Bảo Ninh chúng ta
hiểu con người đau khổ, trăn trở, nhận thức như thế nào về quá khứ, về chiến
tranh, về những gì được mất trong cuộc đời. Nhà văn đã làm cho bức chân
dung về con người trong văn học đương đại đầy đủ hơn bằng sự diễn tả quá
trình tự ý thức của con người về lịch sử, về số phận, bằng việc thêm vào đó nỗi
đau tinh thần, khát khao đến vô vọng về hạnh phúc và sự day dứt, trăn trở khôn
nguôi về quá khứ. Bản chất của văn chương là là thế, là nỗi đau đời, là sự nuối
tiếc về thời gian, về thân phận, về những gì không lặp lại.
44
2.3. Tình yêu và những khao khát bản năng
2.3.1. Những đòi hỏi bản năng lên tiếng
Bản năng của con người thuộc về bản thể tự nhiên nhất, nằm ngoài vùng
che chắn của ý thức. Một trong những biểu hiện rõ nét của con người bản năng
là yếu tố bản năng tính dục. Đó là sự giao thoa giữa cảm xúc và tình yêu, là
biểu hiện khát vọng hạnh phúc chính đáng mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975, hình ảnh con người bản năng
hầu như vắng bóng, những khát khao thầm kín bị kìm nén đến mức tối đa.
Ngay cả tình yêu đôi lứa cũng phải gắn liền với tình yêu nước thiêng liêng. Từ
sau năm 1975, nhất là từ sau 1986, khi mọi ràng buộc bị bứt phá, cảm xúc vỡ
òa, những ẩn ức dồn nén được giải tỏa, bản thể của con người mới có cơ hội
được đào sâu, khắc họa như một nhu cầu tất yếu cần được thỏa mãn. Bên cạnh
con người xã hội, con người bản năng cũng được các nhà văn tập trung phản
ánh. Tình yêu, tình dục lại trở thành vấn đề muôn thuở của con người. Hàng
loạt những ngòi bút của văn xuôi đương đại như Nguyễn Huy Thiệp, Dương
Hướng, Chu Lai, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Hồ Anh Thái, Y Ban, Nguyễn
Đình Tú, …dùng bản năng như một phương tiện nghệ thuật để chuyển tải nhiều
vấn đề trong đời sống hiện đại, nhất là khi viết về đề tài tình yêu.
Trong tiểu thuyết của Dương Hướng, những người đàn bà chờ chồng và
người yêu ra trận, giày vò điên cuồng bởi ước mơ làm mẹ. Họ sẵn sàng chấp
nhận tất cả - ngoại tình, loạn luân, giả làm gái điếm - để thực hiện được ước mơ
đó, khi những người lính của họ không trở về, hoặc có nhưng thương tật hay vô
sinh. Hai đứa trẻ của Bến không chồng - con của Hạnh và Thắm - đều là kết
quả của những mối tình cấm đoán. Trong truyện ngắn Hai người đàn bà xóm
trại (1992) của Nguyễn Quang Thiều, dưới một mái nhà tranh, hai chinh phụ
trẻ - Ân và Mật - sống với nhau như chị em. Nhiều cuộc chiến qua đi, họ
chờ, "chờ đến phát ốm". Không thể có con, nhưng thiên hướng làm vợ và làm
mẹ day dứt: "Mấy hôm trước em cũng nằm mơ. Em thấy anh ấy về và (…) em
45
có mang. Lúc tỉnh dậy sờ bụng cứ thấy khang khác (…) Giá có đứa con thì họ
đi đến bao giờ cũng được” [63]. Sâu thẳm, quyết liệt, bản năng đó nhiều lần
kéo họ đến bên bờ vực của ngoại tình. Trớ trêu thay hai lần Bấc, chồng Ân, trở
về đều không gặp vợ mà gặp Mật khiến cô có những cảm xúc lạ. Lần đầu, Bấc
về, cô “thấy máu chảy lên dào dạt, thấy mặt nóng rát và nhớ về những giấc
mơ”. Lần thứ hai, "Mật tiễn Bấc lên đến mặt đê. Bỗng Mật ôm lấy Bấc khóc
nấc lên (…) Bấc không nói gì. Anh ghì Mật vào lòng. Cả hai người run lên.
Mật vội vã đẩy Bấc ra..." [63]. Dần dần, ngay trong mộng, người Mật thường
gặp không phải là chồng mình mà là Bấc.
Còn ở Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, các nhân vật chính đều có một
cuộc sống tình dục không hề đơn giản, ngay cả Quảng, người chồng mới của
Thai. Đau khổ vì ghen tuông, cái nhìn của Quảng đặt lên Thai là cái nhìn yêu
thương nhưng dò xét. Ta thấy ở Quảng những thoả mãn đến từ thống khổ.
Quảng hả hê vì bị hành hạ - “Tôi càng âu yếm, chiều chuộng lại càng bị ghét.
Thậm chí đôi khi (Thai) còn có vẻ căm thù tôi” [7], khoan khoái vì được thổ lộ
điều đó với chính tình địch của mình - “Nó là cả một nỗi khổ tâm của riêng tôi,
mà nhục nhã ! Bởi vì tôi cứ suốt đời phải ghen với ông (…) ghen với một người
đã chết” [7].
Khai thác truyện ngắn viết về chiến tranh của Bảo Ninh, ta thấy người cầm
bút nhiều lần xô đổ bức tường thành trong quan niệm, luân lí đạo đức Á đông để
tình yêu và khao khát bản năng của con người có cơ hội bộc bạch, cựa quậy.
Hà Nội lúc không giờ là câu chuyện tình yêu của anh Trung, của Pét xồm
với chị Giang và của thằng bé 13 tuổi đối với chị. Họ đều sống ở căn nhà số 4.
Chiến tranh khiến tất cả mọi người phải lên đường, khiến lũ trẻ nhà số 4 phải
xa nhau. Trong ngày lễ tân binh, lũ trẻ đã ngậm ngùi trước những giọt nước
mắt của chị Giang khi tiễn anh Trung lên đường nhập ngũ. “Chen bừa đi, vấp
dúi dụi, không thấy ai cả, không thấy gì hết, mắt dại đi, tóc xõa tung, thở hổn
hển, cô nhào tới chỗ Trung. Anh chàng chen bật mấy người đang đứng chắn
46
mất lối, rồi gần như hùng hổ, lao xộc tới chộp lấy Giang, ôm choàng lấy, ghì
chặt.” “Khác với các đợt trước, đợt lính nghĩa vụ này phần đa đều như Trung,
tuổi còn rất trẻ, vì vậy ít thấy cảnh vợ tiễn chồng, thế nhưng bù lại người ta
thấy xuất đầu lộ diện khá nhiều cặp chàng nàng như Trung và Giang. Và có lẽ
cũng như Giang và Trung, tất cả những vụ yêu đương đó đều là những mối tình
non dại, đầy rụt rè và sợ sệt, bấy lâu chẳng dám lộ mình mãi đến giây lát phải
chia lìa mới không còn đừng nổi. Ngay trước mắt bao người mà Giang liều lĩnh
xoắn mình vào Trung. Xoay lưng lại với thiên hạ, tóc đổ xõa xuống vai. Giang
đứng úp người vào Trung, hai cánh tay vòng lên ôm lấy cổ người yêu. Còn
Trung, hai bàn tay to tướng táo tợn lùa sâu vào trong áo len của Giang, ghì
riết lấy Giang từ bên trong. Bao nhiêu người thở dài, ngậm ngùi, nhìn tránh đi.
[45, tr.553].
Nếu những khát khao muốn được gần gũi người yêu giữa anh Trung và
chị Giang được coi như một “điều hiển nhiên” của lứa đôi thì những cảm giác
ham muốn của cậu bé 13 tuổi với Giang là khám phá táo bạo của Bảo Ninh.
“Trong ánh lửa, nó thấy anh Trung chị Giang ngồi sát vào nhau, và hơn thế
nữa, còn ôm chặt nhau. Nó cảm thấy cùng lúc cả hơi lửa nóng hừng hực, cả
hơi thở của ban mai lạnh lẽo” [45, tr.549]. Sau này, trong tâm hồn người lính
hậu chiến có điều gì đó chua xót - phải chăng đó là sự thấu hiểu về thân phận
tình yêu trong chiến tranh.
Giang, Khắc dấu mạn thuyền đặt tình yêu dưới mưa bom đạn nổ, ghi dấu
một lần gặp gỡ mà không bao giờ có lần thứ hai, không bao giờ gặp lại nhau
nữa. Nhưng ngay kể cả trong những khoảnh khắc ngắn ngủi nhất thì họ cũng
chẳng thể quên cảm giác được gần gũi nhau đến thế. Chàng lính trẻ 17 tuổi lém
lỉnh, có phần “tinh quái” đã hạnh phúc biết bao khi được Giang đưa vào đơn vị.
Dẫu chỉ một lần thôi cũng đủ để nhớ mãi: “Chiến tranh, đời lính, tuổi trẻ, mọi
sự là như thế, chỉ thế thôi, thoảng nhanh. Thoảng nhanh nhưng không tắt lịm.
Chỉ thế thôi nhưng sau này cứ nhớ mãi. Trở thành nỗi đau. Những nỗi đau mất
47
mát âm thầm.”.”Tôi thì không bao giờ quên cô ấy, mặc dù thực ra là có gì đâu
một tình cờ như thế, một gặp gỡ vẩn vơ, lưu luyến mơ hồ gần như không có thật
mà năm tháng cuộc đời cứ mãi chồng chất lên muốn xóa nhòa.” [45, tr.34].
Anh lính trong Khắc dấu mạn thuyền nhân việc được nhờ chuyển thư về thành
phố nhưng gặp mưa, gặp bom mới gặp được người con gái ấy. Họ đã cùng
nhau trải qua giây phút sinh tử đáng sợ: “Chúng tôi vẫn nằm, ôm riết lấy nhau.
Dường như cả hai đã hoàn toàn tê liệt, không thể nào ý thức được, không thể
nào cảm nhận nổi cái sự sống sót ngoài dự kiến này. Lặng đi như thế khá lâu,
cô gái mới đụng cựa thân mình, duỗi người ra khỏi tôi.” [45, tr.169]. Họ đã
hẹn nhau trở về điểm hẹn. Nhưng chiến tranh, bom đạn “đâu phải trò đùa”, họ
chẳng có lần thứ hai gặp lại. “Lẽ ra thì đấy không thể là lần cuối cùng, bởi vì lẽ
ra thì tôi đã trở về được căn phòng hồi đêm ấy và gặp lại được người con gái
ấy của tôi.” [45, tr.170].
Có thể thấy, tình yêu, tuổi trẻ, ham muốn bản năng là cách thể hiện con
người “người” nhất và sống động nhất. Nó giống như cơn “gió dại” mà không
luân lí nào có thể ngăn cản. Truyện ngắn Gió dại để lại trong lòng độc giả
nhiều trăn trở, xót xa về Diệu Nương, về những góc khuất của người lính nơi
chiến trường. Diệu Nương là ca nữ ngụy, kỹ nữ, bởi chiến tranh mà xô dạt tới
làng Diêm. Nàng hát hay, thân hình thon thả, dáng đi uyển chuyển - vẻ đẹp đầy
nhục cảm, quá đỗi đàn bà. Cô sống buông thả, tự do phóng đãng, tách khỏi
cộng đồng, và ngày nào cũng hát, giọng ca huyễn hoặc quỷ ám. “Người ta đồn
rằng đêm đêm cánh đàn ông vẫn mò mẫm tới túp lều nát của cô ở ven sông”
[45, tr.60]. Cả linh mục cũng vậy. Đến bộ đội ta, dù bị cấm cũng không cầm
lòng được trước đàn bà làng Diêm: “thời gian trôi qua quan hệ vụng trộm giữa
các khẩu đội pháo với những túp lều rách nát trong làng đã thầm lén in lên mặt
cỏ một lối mòn (…) đêm xuống đó là đường ân tình” [45, tr.65]. Phải chăng
Diệu Nương, những người đàn bà làng Diêm kia là những cơn gió nghịch, có
thể khiến người ta bị cảm nhưng dường như chẳng ai muốn tránh nó? Họ muốn
được sống, được bộc lộ phần sâu kín nhất của mình?
48
Khi bản năng lên tiếng và khi ý thức về bản năng đòi hỏi, con người nhiều
khi mặc kệ tất cả. Họ muốn quên đi mọi thứ xung quanh mình. Chỉ còn những
ôm siết, ôm thật chặt, thỏa sức hôn nhau, quấn riết vào nhau…tận hưởng những
giây cuối cùng của tuổi thanh xuân còn vương lại.
2.3.2. Những thèm khát về thể xác
Bảo Ninh nổi lên là một trong những nhà văn dám mạnh dạn mở toang
những ẩn ức bên trong những con người lí tưởng, đi tìm con người bản năng
mà thời chiến lãng quên.
Đọc Nỗi buồn chiến tranh, người đọc không khỏi ngạc nhiên khi có nhiều
trang văn “nóng bỏng” khi viết về tình yêu và những khát khao tình dục nồng
cháy. Trước hết, Bảo Ninh khai thác mối quan hệ ràng buộc tay ba giữa Kiên,
Phương và cha Kiên, trong khung cảnh những ngày đầu chống Mỹ. Với Kiên,
Phương là tất cả: tình bạn, tình yêu tuổi trẻ, tình mẫu tử. Cả đời Kiên không thể
nào xóa nhòa những kí ức nóng hổi, nồng nàn của ngày cuối cùng trước khi lên
đường nhập ngũ. Phương rủ Kiên trốn lao động, trốn mít tinh ra Hồ Tây bơi:
“Kệ chiến tranh, kệ các anh hùng trẻ tuổi và anh hùng lớn tuổi, ta bơi nhé, bơi
thật xa tới thủy cung, tới chết đuối cả hai thì thôi. Kệ!” [46, tr.131]. Vẻ đẹp gợi
cảm của Phương từ màu da trắng lóa, khuôn mặt trắng mịn, mái tóc ướt nặng,
bờ vai, đôi chân dài, bộ áo tắm đen nhánh khiến “Kiên sững người, muốn nhắm
mắt lại trước thân hình mềm mại của người bạn gái.”. Thật đúng là khó mà cầm
lòng được. Họ quay về thì trời đã tối. “Sao sáng thả đầy trời lấp lánh. Kiên bế
Phương trên tay bước lên bờ. Nước trên mình nàng rỏ xuống ấm ấm. Cỏ mát
rượi. Còn anh, khỏe mạnh và cường tráng biết bao, cái tuổi mười bảy ấy.
Phương mệt rũ, nằm lả trên cỏ, bàn tay nhỏ nhắn lọt trong lòng bàn tay Kiên.”
[46, tr.148]. Ngày cuối cùng của tuổi học trò, họ như sống gấp, vội vàng, cuống
quýt, bởi sợ phải xa nhau, vì thế mà dành cho nhau những tình cảm cuồng
nhiệt, say đắm nhất. Kiên cảm thấy một nỗi tiếc nuối cay đắng, cảm thấy cái
việc ra về là nặng nề quá sức mình. Và Phương, như thấu cảm lòng Kiên, ghì
49
riết lấy anh, nuốt chặt anh vào thân hình mềm mại, thơm mát và nóng hổi, chân
thành và mù quáng, đầy cuồng bách của mình. Phương muốn bước qua giới
hạn nhưng Kiên trong khoảnh khắc ấy đã ráng hết sức bình sinh, giằng mình ra
giữ gìn sự trong trắng và trong sạch của đôi bạn. Với Phương, anh hình như
không chỉ có tình yêu mà cả sự tôn thờ quy phục và những cảm giác của tình
mẫu tử. Nằm bên nhau trên bãi cỏ, “Kiên gối đầu lên tay Phương, áp chặt mình
vào cô. Như một cậu bé. Đúng là Phương không điên mà cô như là một người
chị, một người mẹ trẻ”. “Kiên không nhận thấy là mình đã bật mở hết cúc áo
của Phương cho tới khi hai bầu vú trắng phau bật ra.(…) Kiên không nhận
thấy thấy là miệng mình đã ngậm chặt lấy bầu vú của Phương còn thành thạo
hơn một chú bé con. Anh mút nhè nhẹ thoạt tiên là như thế, như thuở mới ra
đời người ta bú. Nhưng rồi kế đó là một nỗi khát khao kì quái thôi thúc, anh
dùng cả sức mạnh của hai bàn tay, cho đến lúc cảm nhận trong miệng cái vị
ươn ướt ngòn ngọt thoáng cả nỗi đau đớn mơ hồ như thể vị ngọt từ giấc mơ
của Phương thấm truyền sang…” [46, tr.154 - 155]. Đến khi ở chiến trường
mỗi khi nhớ Phương, tim Kiên vẫn đau thắt lại khi nhớ lại lời Phương: “Hai
đứa mình có khi chết đi vẫn còn trong trắng…Vậy mà chúng mình yêu nhau
biết là dường nào…” [46, tr.32]. Sau này trở về, khi đã cầm bút viết, nàng
thơ của anh - “tất cả những nhân vật nữ mà anh say mê trong sáng tác của
mình rút cuộc vẫn chỉ là những giấc mơ về Phương”. Nhưng đồng thời, với
Kiên, Phương mãi mãi là người đàn bà xa lạ, cô sẽ bỏ anh ra đi sau khi đã đợi
anh rất lâu. “Giờ đây dù có ra đi mỗi người mỗi rìa của thế giới thì trong tâm
tưởng anh, Phương vẫn là toàn bộ cuộc sống tinh thần. Và nào chỉ là tinh thần.
Hằng đêm, anh miệt mài mê mẩn, chìm trong cái vuốt ve vô tận của mộng mị.
Ngay cả khi bên cạnh có một cô gái đang trở mình áp sát vào anh trong giấc
ngủ thì nhắm mắt lại anh vẫn khắc khoải nhớ tới Phương, nhớ tới tấm thân đẹp
đẽ trắng ngần, nhớ hương thơm ngây ngất quyến rũ của làn da, nhớ cặp môi
mọng ngọt như trái chín, nhớ quầng thâm mệt mỏi quanh đôi mắt mắt nâu
50
những đêm nàng âm thầm bải hoải. Mọi cuộc đan díu đều không thể làm vơi
nàng. Mùi da thịt phụ nữ quyến rũ chỉ làm anh khao khát một mình nàng. Tình
dục vốn đã ngủ say và những nồng cháy của xác thịt tưởng đã bị dập tắt hẳn từ
lâu lại như bắt lửa bừng rực lên với hình bóng nàng nhập vào anh hằng đêm
giữa những giấc mơ.” [46, tr.185].
Có nhiều lí do khiến khoảng trống giữa hai người thêm xa cách, nhưng
điều đầu tiên không thể không kể đến mối quan hệ giữa Phương và cha Kiên.
Giữa họ, ngoài tình gần gũi cha con: “ông cũng rất thương cô bé, một tình
thương trầm mặc, buồn bã và không lời”, còn là tình cảm giữa hai người khác
giới: “mỗi lần Phương lên chơi, cha Kiên vui hẳn (…) Cháu rất đẹp! - Ông
khen, làm cô kinh hãi và bứt rứt”. Chính Phương cũng thú nhận đó là tình
yêu: “Nếu cha anh là người cùng thời, là anh thì em sẽ yêu cha anh chứ không
phải yêu anh (…) Em yêu anh! Như yêu cha anh” [46, tr.149-152]. Còn Kiên,
anh đủ nhạy cảm nhận ra sự bất thường đó. Dường như nó là nguyên nhân dẫn
đến sự hờn giận của anh với cha và Phương: “Không biết từ bao giờ (…) giữa
cô và cha của Kiên đã thầm lặng hình thành một thứ tình cảm khó hiểu, không
hẳn ra tình cha con, bác cháu, cũng không phải là thứ tình bạn vong niên, nó
mập mờ chạng vạng, như ánh chiều, vô hình mà nặng trĩu...” [46, tr.144].
Chính nghệ thuật là điểm nối giữa Phương - "một thiên tài âm nhạc" - và cha
Kiên - một hoạ sĩ: "Phương (…) ngồi lặng ngắm ông vẽ, nghe ông lầm bầm độc
thoại. Cô như thể bị thu mất hồn". Trước khi qua đời, ông muốn Phương, chứ
không phải Kiên là người làm chứng cho vụ "hỏa táng", cuộc "tự hành xác"
những bức tranh của mình, bởi anh không hiểu gì về hội họa của cha. Vì vậy,
con đường đi đến văn học của Kiên có thể được hiểu như hành trình, trong đó
Kiên đi tìm những thiếu vắng, những khao khát, những hàn gắn cho đời anh: dĩ
vãng chiến tranh, người cha, Phương, nghệ thuật.
Bên cạnh những trang văn cháy bỏng dành cho Kiên - Phương, Bảo Ninh
nhiều lần đưa người đọc đi đến tận cùng khám phá những nỗi khát thèm của
51
yêu đương. Đó là “sự giải tỏa” của phân đội trinh sát với ba cô gái Mây, Hbia,
Thơm ở khu trại tăng gia huyện 67, bên kia Truông Gọi Hồn, họ tìm đến nhau
không gì ngoài nhu cầu thỏa mãn những khát thèm đời sống dục vọng. Đó là
cuộc làm tình trong tưởng tượng của Vĩnh:“hắn thường xuyên khoái trá…về
những lần làm tình tưởng tượng vô cùng tham lam, phức tạp rất ngóc ngách,
đầy kì thú”; là những thân thể đàn bà với những cuộc làm tình cuồng dại. Đó là
những rối loạn đầu đời và rung lên niềm tê dại cháy khát “mùi da thịt ngây
ngây của đôi vai, của cặp vú mát rượi mồ hôi dưới lần áo mỏng” giữa Kiên và
Hạnh. Đó là giây phút hạnh phúc “thỏa sức hôn hít nhau, sống gấp lên với
nhau” bất chợt giữa đường với cô thương binh Hiền như thể sự bù đắp, thỏa
mãn cho những gì bị chiến tranh cướp mất. Đó là những khoảnh khắc vô thức
trong những cơn say khổ sở với người đàn bà câm ở tầng trên: chị âm thầm
cam chịu tính cách thất thường, khủng hoảng của Kiên: “chị chồm mình tới,
choàng tay ôm lấy cổ anh, riết miệng vào môi anh một cái hôn xoắn riết, nóng
rực và ươn ướt…. Và đêm ấy, còn im lặng hơn cả chị, anh chiếm đoạt chị một
cách cuồng bạo, khốc liệt, giằng xé, thẳng thừng tàn phá, đâm vào chị nỗi đơn
độc bí ẩn, sắc như dao, đầy hiểm nghèo của anh.” [46, tr.129 - 130].
Trong Đàn sẻ ri bay ngang rừng (1993), Võ Thị Xuân Hà mô tả tình yêu
của Diễm - một thiếu phụ trẻ - với Nẫm - người anh chồng đã chết ngoài chiến
trường mà cô chưa bao giờ gặp mặt. Tình cảm đó gần như độc chiếm tâm can
Diễm. Ngay từ ngày đầu yêu Thản, khi "săm soi" cái vỏ đạn, kỉ vật của Nẫm,
Diễm thấy “bóng dáng người anh chồng lấp ló". Khi yêu Thản, Diễm thường
nghĩ đến Nẫm: “Hai chúng tôi nằm trên đồi lau (…) Ecmơlin của anh! - Thản
thầm thì gọi. Nẫm vẫn biệt vô âm tín, mặc tôi phụ Thản" [63]. Đêm trở dạ sinh
con đầu lòng, Diễm thấy Nẫm trở về: “một người đàn ông (…) ngó tôi từ trên
trần nhà. Hắn nhìn khuôn mặt võ vàng của tôi, rồi nhìn lướt xuống bụng, nơi
cái cuống rau vừa bị cắt còn lòng thòng thò ra chỗ sinh nở (…) Tôi nhận ra
Nẫm (…) Tôi thèm nhìn thấy người đàn ông đã rờ vào cuống rau thò ra ở chỗ
52
sinh nở của tôi. Trong giây phút, tôi quên hết, quên Thản (…) Tôi đắm đuối với
hình ảnh người đàn ông kia đang mân mê cái cuống rau, như thể anh ta đã thò
vào sờ nắm những mạch máu ly ti chảy trong cơ thể tôi mà tình yêu của Thản
chỉ chạm tới chứ không nắm được" [63]. Dường như Nẫm có mặt trong cuộc
sống hàng ngày của Diễm: “Anh ngồi trên cao, mắt cười u buồn ngó mông lung
ra cửa, ra vườn" [63]. Tác phẩm của Võ Thị Xuân Hà đặc biệt mới vì tính phức
tạp của nó: tình yêu của Diễm với Nẫm là sự chồng chéo của hoang tưởng,
hành xác, loạn luân, chứng thích giao cấu với người chết.
Đặt tình yêu, khát khao tình dục bên cạnh chiến tranh mới thấy hiện thực
chiến tranh khốc liệt đến thế nào! Những chàng trai, cô gái đang độ tuổi yêu
đương, họ không thể là gỗ đá. Bản năng thành khát vọng sống nhen nhóm trong
những con người đang tuyệt vọng. Miêu tả dục vọng, bản năng cũng là để tố
cáo chiến tranh với sức tàn phá, hủy diệt ghê gớm, không cho con người có
quyền được sống như chính họ mong muốn và khát khao. Vì thế đó là một biểu
hiện của tư tưởng nhân văn cao đẹp, một tiếng nói cho khát vọng con người.
2.4. Tình yêu và sự hi sinh vô điều kiện
2.4.1. Những hi sinh quên mình
Sự hi sinh trong tình yêu có thể hiểu là cùng nhau đối mặt với mọi thử
thách, mọi thế lực muốn cản trở tình yêu; là đối xử với người mình yêu hơn cả
chính bản thân mình. Điều này làm nên tình yêu muôn đời của con người.
Trong những tác phẩm viết về chiến tranh của Bảo Ninh, bạn đọc có dịp được
chứng kiến nhiều câu chuyện tình yêu và sự hi sinh vô điều kiện xúc động như
vậy, nhất là qua các nhân vật nữ.
Trước hết là tình yêu của nhân vật Phương dành cho Kiên trong Nỗi buồn
chiến tranh. Tình yêu thuở học trò của họ trong sáng, hồn nhiên mà nồng nhiệt
biết bao. Nhưng có lẽ so với Kiên, Phương trưởng thành hơn, chín chắn hơn
trong suy nghĩ và hành động. Ngày cuối cùng của tuổi học trò, biết rằng rồi đây
53
Kiên sẽ lên đường chiến đấu như bao thanh niên thủ đô ngày ấy, Phương đã rủ
Kiên trốn khỏi trường ra bờ Hồ Tây những mong có thể dành cho người mình
yêu những gì tốt đẹp nhất. Ngày Kiên chính thức lên đường đi B, trong những
giây phút khắt khe nhất của định mệnh, Phương sẵn sàng liều lĩnh đem sinh
mệnh mình để đổi trao lấy một vài khắc giây cuồng điên hạnh phúc với người
yêu. Vẫn kệ, vẫn mặc kệ đời, kệ, mặc kệ đạn bom và khói lửa. Có ai ngờ được
Phương dám đưa Kiên cả chặng đường vào tận cửa cuộc chiến như thế. Phương
vì anh mà “đang dấn thân vào một tình thế bất trắc khôn lường. Song, Phương
có vẻ khá bình thản” [46, tr.196]. Phương không nỡ rời xa Kiên, không nỡ để
Kiên độc hành trước khi gặp đồng đội, nên mỗi khi Kiên giục nàng xuống để
quay lại Hà Nội, thì nàng chỉ càng thêm nấn ná: “Em đi với anh một chặng
nữa”, “anh không muốn em đi cùng với anh sao?”. Kiên chỉ biết trào nước
mắt. “Toàn thân anh trĩu xuống bởi tình yêu, lòng biết ơn, bởi nỗi lo âu và bởi
một hạnh phúc lớn quá sức chịu đựng của tâm hồn” [46, tr.201]. Rõ ràng, vì
yêu mà Phương dám bất chấp tất cả những hiểm nguy, dám đặt cược cả mạng
sống để được đồng hành cùng người mình yêu. Phương sau này không là người
phụ nữ "trung hậu đảm đang", không là "người đàn bà đoan trang mẫu mực",
không làm người vợ thuỷ chung của Kiên sau chiến tranh nhưng những gì đẹp
nhất, trọn vẹn nhất của tình yêu cô đã dành cho Kiên.
Ngoài Phương, “những khuôn mặt đàn bà mến thương” trong tác phẩm là
Lan, Hòa, người đàn bà câm, mỗi người yêu Kiên với nỗi niềm riêng nhưng
đều có điểm chung là dám hi sinh vì người mình yêu. Lan vẫn ở Đồi Mơ sống
trong chờ đợi và hi vọng có ngày Kiên trở lại, sẵn lòng làm “một nơi, một chốn
anh về” nếu có ngày không may có chuyện xảy ra. Hòa hi sinh tính mạng của
mình, trước hết vì nhiệm vụ làm giao liên, vì bảo vệ đồng đội, nhưng cao hơn
thế còn vì Kiên, vì người cô yêu. Còn người phụ nữ câm, ít được miêu tả bằng
Phương, nhưng giữ một vai trò không kém phần quan trọng trong tác phẩm.
Phương giống chị ở chỗ cả hai cùng bị cuốn hút bởi nghệ thuật, Phương bởi
54
những bức tranh của cha Kiên - "cô như thể bị thu mất hồn" [46, tr.142], chị
bởi những câu chuyện của Kiên - "tất cả những lời lẽ rối mù ấy của anh đối với
chị mỗi ngày một thêm quyến rũ, như là bùa ngải, như là phép chài ếm" [46,
tr.123]. Phương và người phụ nữ tật nguyền này gặp nhau ở tình yêu đối với
nghệ thuật và lòng can đảm bảo vệ nó. Nhưng nếu Phương là người nhóm lửa
để đốt đi những bức tranh của cha Kiên, thì người đàn bà câm, ngược lại, ngăn
hành động thiêu hủy của Kiên. Chính chị cũng là người duy nhất nghĩ đến việc
cất giữ bản thảo của anh và tìm cách đưa tác phẩm đến với độc giả. Chị biết
“chị chẳng là một cái gì cụ thể đối với Kiên. Anh lẫn chị với hết người này
sang người nọ, cả những người chết với những hồn ma” [46, tr.123] nhưng sự
im lặng của chị lẽ nào là một sự im lặng thực sự, một sự im lặng có ý thức?
Chính Kiên đã từng nói: "Chị hãy giúp tôi nhớ lại (…) nhớ lại từ đầu (…) Bắt
đầu từ cái sân thượng này" [46, tr.121]. Phải chăng im lặng để hiểu nhau hơn.
Hiểu nhau trong sự im lặng.
Nếu những trang văn viết về chiến tranh nhuốm đầy cảm giác bi kịch,
những lời văn đẹp, đắm say và đau đớn, xót xa dành cho tình yêu thì Bảo Ninh
thực sự đã dành cho phụ nữ một vị trí trang trọng trong tác phẩm của mình.
Đặc biệt ông xoáy sâu khai thác vẻ đẹp tình yêu và sự hi sinh quên mình cho
người mình yêu của họ. Chính điều đó khiến người đọc luôn đau đáu trăn trở về
vấn đề muôn thuở: phụ nữ - tình yêu - hạnh phúc.
2.4.2. Những mối tình lặng câm
Trong các truyện ngắn của Bảo Ninh viết về chiến tranh, tình yêu và sự hi
sinh vô điều kiện, người đọc không khỏi thắt lòng khi đọc Tòa dinh thự, Trại
“bảy chú lùn”. Người ta hiểu thêm về một góc khuất của tình yêu bị chiến
tranh cào xé, vằm nát và cướp đi hạnh phúc con người một cách trắng trợn, tàn
nhẫn nhất. Theo dòng kí ức của người kể chuyện “tôi”, câu chuyện tình yêu,
cuộc đời của dì Út và dượng đưa ta sống lại những ngày chống Mỹ gian khổ
một thời. Tuổi trẻ dì tôi “áo dài, vành nón nghiêng nghiêng, một cô gái Hà
55
Thành là lượt, điều điệu, dạo đạp xe trên khúc đường vắng bên Bờ Hồ” [45,
tr.495], tốt nghiệp trường Y. Ngày cưới “cô dâu bận áo cánh, tóc tết đuôi sam,
bồng bó lay ơn, mủm mỉm cười bẽn lẽn. Chú rể áo đại cán, hàm đại úy, vóc
dáng cứng cỏi (…) quân dung tươi tỉnh nhưng mà nghiêm trang” [45, tr.495].
Thời chiến, những mối tình như thế trở thành lí tưởng của bao cặp đôi. Từ sau
ngày cưới, cuộc sống của dì bắt đầu lăn lộn theo con đường binh nghiệp của
chồng từ Bắc vào Nam. Suốt những năm tháng chiến tranh, chồng đi xa biền
biệt, có lẽ dì chưa có một ngày được hưởng hạnh phúc lứa đôi. Hơn nữa, người
chồng nghiêm trang ấy hi sinh tất cả vì nghĩa lớn mà tình riêng càng trở nên
khô khan. Hòa bình lập lại, khi được chồng đón về thì dì đâu còn là dì nữa. “Dì
tôi chưa già, thế nhưng đã là người già rồi, một bà má chiến khu, gầy tong teo,
xanh mét, tóc hoa râm thưa rụng, khăn rằn, bộ đồ bà ba, dép lốp” [45, tr.502].
Dì có khác nào những nàng chinh phụ thời xưa “quanh năm suốt tháng vò võ
đợi chồng ngóng con”. Đến khi người con trai duy nhất hi sinh ở Gạc Ma thì dì
không sống nổi nữa, mất cùng trong năm ấy. Cả đời dì đi theo tiếng gọi của
tình yêu nhưng cuối cùng chẳng một ngày được sống trong tình yêu đúng
nghĩa. Cái “tòa dinh thự” được phân cho gia đình dì tưởng phần nào giúp hai
vợ chồng có được giây phút hạnh phúc lại hóa thành thứ trớ trêu, bẽ bàng của
số phận. Ông đại tá về hưu sống đơn độc, cửa nhà trống trải hầu như không có
đồ đạc gì, bình thản, lặng lẽ mà “lạc lõng”. Những hi sinh, mất mát ấy chẳng gì
có thể bù đắp nổi.
Những mối tình lặng câm bao giờ cũng đầy ẩn ức, tội nghiệp nhất. Tình
yêu Mộc dành cho Nga trong Trại “bảy chú lùn” cũng vậy. Nơi cánh rừng già
cô độc, lặng lẽ đến kinh người, Mộc yêu Nga bằng một tình yêu âm thầm, vô
vọng, chưa một lần dám thổ lộ (kể cả sau khi Huy chết). Mộc cũng nhận ra đó
là một tình yêu đơn phương gói trọn trong cuộc đời trai trẻ và chôn vùi xuống
mồ sâu. Với anh, được chăm sóc Nga “khi săn được con thú…hay kiếm được
quả bưởi rừng về tặng, thấy Nga vui thích, được ngắm Nga cũng là niềm hạnh
56
phúc. Anh mong mỏi được Nga đáp lại nhưng chưa bao giờ ép buộc Nga. Đến
khi Nga yêu người khác, sinh con cho người khác, anh không những không
thay đổi mà còn cảm thấy “hạnh phúc tột đỉnh” khi đón nhận cháu bé. Thế giới
tình cảm vô cùng phức tạp và đầy bí ẩn, chẳng thể dùng lí trí để giải thích cho
tình cảm Mộc dành cho Nga và ngược lại. Đến khi Nga mang theo cả con bỏ đi
(đi tìm hi vọng với người mình yêu), thì bao cảm xúc dồn nén trong Mộc không
thể giấu được nữa. “Lòng đầy tuyệt vọng, tôi lao mình ra phía bờ sông”. Tiếng
Mộc gọi Nga từ bờ dốc cao, những lời van xin Nga ở lại, khi thì “miệng rên rỉ”,
khi đau đớn kêu gọi, khi đau đớn gào lên, khi kêu lên đấm ngực: “Hãy quay về
ngay. Làm khổ người ta như vậy là đủ rồi nghe chưa.” [45, tr.137] diễn tả bao
nỗi thống khổ trong anh. Anh yêu Nga, sẵn sàng hi sinh vì mẹ con Nga mà
không một lần được Nga đáp lại. Tình yêu không phải là thứ cho đi và nhận lại
một cách dễ dàng. Nga chỉ có thể nói “em không thể. Hãy tha lỗi cho em”, chỉ
có thể để lại con cho Mộc nuôi. Mộc sẽ lại tiếp tục sống với “một niềm hi vọng
đau buốt thọc vào tim”: “Có thể Nga sẽ lại về với mình, với Nương…”.
Chiến tranh tàn phá nhân tính trong cuộc chiến, bịt chặt cả con đường trở
lại với bản thể sáng trong của tâm hồn con người. Những mối tình trong chiến
tranh, cái sợi chỉ mỏng manh níu kéo con người bền bỉ vượt qua chiến tranh ác
liệt, cái ngọn lửa nuôi nấng khát vọng được sống trong hạnh phúc thời bình
nhiều lúc tưởng đã phụt đứt trong lửa đạn. Tình yêu muôn đời vẫn thế, gắn liền
với cái đẹp, với nhân tính, là cái đối lập với bạo lực hủy diệt nhân tính.
57
Tiểu kết chương 2
Chiến tranh đã lùi xa nhưng nó để lại biết bao nhiêu bi kịch cuộc đời, mà
trên hết là con người. Thân phận con người, thân phận tình yêu trong sáng tác
Bảo Ninh được nhìn, được thể hiện theo quan niệm mới, bị chi phối bởi cuộc
chiến tàn khốc. Chiến tranh đã chia cắt tình yêu, làm cho con người sống trong
cô đơn, dằn vặt, trong nỗi đau suốt đời không dứt. Chiến tranh làm cho những
con tim suốt đời vẫn đập nhịp yêu thương nhưng mãi mãi không bao giờ đến
được với nhau. Bi kịch cuộc đời, bi kịch tình yêu của các nhân vật như một sự
lên án gay gắt đối với chiến tranh, đối với sự hủy diệt.
Khi viết về tình yêu và những khao khát bản năng con người, Bảo Ninh
không gợi ở người đọc sự dung tục về xác thịt mà đem đến một cảm xúc mới.
Niềm trăn trở với những góc khuất của con người cá nhân với nỗi đau thầm kín
và nỗi niềm riêng tư không dễ gì bộc bạch. Tất cả đều nhằm thể hiện hoài bão
khám phá đến tận cùng con người đời tư, khám phá đến tận cùng số phận của
con người sau chiến tranh trong cái nhìn đa diện về con người của nhà văn.
Ở bất cứ hoàn cảnh nào khi yêu thì cuộc đời cũng đẹp, cuộc sống có ý
nghĩa và cũng vì thế mà khi tình yêu sụp đổ thì đau thương, nỗi buồn cũng đi
vào tim, vò xé tâm hồn con người. Nhưng tình yêu là thế, hạnh phúc hay đau
khổ, mất mát, chính là điều kiện để tình yêu còn đập mãi trong trái tim con
người, là nguồn sống của con người
Nhận thức về số phận con người, thân phận tình yêu gắn liền với hạnh
phúc và đau khổ, dường như đó là tất cả những gì thực sự ý nghĩa trong cuộc
đời con người. Văn học quan tâm đến hạnh phúc cũng như nỗi buồn của cá
nhân con người là góp phần nâng cao giá trị của con người, bồi dưỡng nhân
cách và hoàn thiện con người hơn.
58
Chương 3
MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CHỦ ĐỀ
TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH
CỦA BẢO NINH
3.1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
3.1.1. Xây dựng nhân vật qua ngoại hình và ngôn ngữ cơ thể
Khi xây dựng nhân vật thể hiện chủ đề tình yêu đôi lứa, người đọc dễ nhận
thấy Bảo Ninh nhiều lần chú trọng miêu tả ngoại hình và ngôn ngữ cơ thể, nhất
là các nhân vật nữ trẻ trung, quyến rũ.
Miêu tả ngoại hình nhân vật là một thủ pháp nghệ thuật được rất nhiều nhà
văn quan tâm và thể hiện thành công. Ngoại hình là một khái niệm nhằm chỉ
toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bề ngoài của nhân vật (diện mạo, hình
dáng, trang phục, tác phong…) được biểu hiện trong tác phẩm. Qua ngoại hình,
người đọc có thể dự đoán hay hình dung được tính cách, phẩm chất, tâm hồn
của nhân vật. Còn ngôn ngữ cơ thể như cử chỉ, điệu bộ, thân thể,…đều trở
thành kí hiệu chuyển tải ý nghĩa nhằm mục đích giao tiếp. Đôi khi ngôn ngữ cơ
thể (phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ) có thể còn thông báo được nhiều hơn
những gì nói ra bằng lời.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, nhân vật được nhà văn dành nhiều bút lực
miêu tả là Phương, từ khi là một nữ sinh mới lớn đến sau này là người đàn bà
phóng túng. Ấn tượng trong tình yêu thường đi liền với xúc cảm ban đầu của
thân thể khi nhìn, đụng chạm với một thân thể giới khác. Phương hiện lên đầy
sức cuốn hút khó cưỡng lại: “thân hình mềm mại của người bạn gái… Và
khuôn mặt trắng mịn… mái tóc ướt nặng, bờ vai, đôi chân dài, thân thiết, tuyệt
mĩ” [46, tr.131]. Và “Kiên không nhận thấy mình đã bật mở hết cúc áo của
Phương cho tới khi hai bầu vú trắng phau bật ra… Kiên không nhận thấy là miệng
mình đã ngậm chặt lấy đầu vú của Phương… Anh mút nhè nhẹ” [46, tr.154].
“Phương thì đẹp lồ lộ, hừng hực, đẹp một cách liều lĩnh, nổi trội” [46, tr.147].
59
Đó là thân thể của một nữ sinh mới lớn với những khao khát rất bản năng có
phần phóng khoáng. Thân thể ấy lại được khắc họa trong không gian hồ Tây,
gắn với thiên nhiên, chính là phần tự nhiên tuyệt mĩ nhất. Thân thể ấy đầy sức
quyến rũ, lôi cuốn, mê hoặc đối với giới khác. Những hành động được thực
hiện như bị mê hoặc của Kiên chính là cách để nhà văn nhấn mạnh sự hấp dẫn
của thân thể nữ. Đó là thân thể báo hiệu sự nổi loạn của một cá nhân trong thời
chiến, “vì sợ mà chẳng sợ gì nữa”.
Trên chuyến tàu đêm Phương tiễn Kiên vào tuyến lửa, sự sợ hãi lo âu xen
lẫn lòng biết ơn Phương, hai người đã sống vội, sống gấp như ngày mai không
còn được sống: “quấn chặt lấy nhau cả hai đều mê mẩn mù mịt trong mộng mị
êm đềm ngây dại… Phương mềm mại, cựa quậy, ngoan ngoãn duỗi mình ra
hay cuộn mình lại, thoải mái, buông lơi, dại dột… hai đứa lúc thì nằm áp mà
vào nhau, lúc thì nằm úp thìa, thanh thản, hài hòa và kỳ quặc” [46, tr.210].
Thân thể tuyệt đẹp, lõa lồ, phô phang của Phương khi tắm: “Phương đứng
thẳng. Tuyệt mĩ, ướt át đưa tay lên sửa tóc… rồi nhẹ nhàng như múa xoay lưng
lại, uyển chuyển bước lên bờ. Không buồn nhìn ngó xung quanh… Hai cánh
tay đẹp đẽ, hai bờ vai tròn lẳn, hai bầu vú nây rắn rung lên nhè nhẹ; cái eo mịn
màng phẳng phiu, hơi thót vào một chút đến nỗi đám lông đen dày mịn giữa
cặp đùi tròn trĩnh trông như một miếng đệm nhung; đôi chân đẹp như tạc, dài
và chắc mềm mại với làn da như sữa đặc” [46, tr.274]. Chính giây phút này đã
thay đổi tâm lí, chuyển hướng hành động của Kiên, bằng sự hẹp hòi u muội,
anh đã gạt Phương ra khỏi cuộc đời mình, bỏ rơi nàng mà trước đó anh từng
muốn bỏ tất cả chỉ cần bên Phương. Bằng việc miêu tả vẻ đẹp cơ thể Phương,
Bảo Ninh đã dự cảm về tấn bi kịch tình yêu đớn đau của họ.
Mười năm sau trở về, điều đầu tiên Kiên cảm nhận ở Phương vẫn là “thân
hình dong dỏng, bận chiếc áo ngủ sáng màu bước nhẹ ra hành lang”, vẫn là
cánh tay mềm mại, tuyệt trần, choàng quấn lấy cổ anh. “Nàng khẽ cọ má vào
môi anh, rồi lặng lẽ áp mặt vào ngực áo bộ đội thô ráp của anh” [46, tr.87].
60
Họ vẫn dành cho nhau “cả một trời nhớ thương”, không cần cất thành lời
nhưng trái tim nhạy cảm của họ đều cảm nhận được vực sâu khoảng cách
không thể khỏa lấp.
Gắn với tuổi thanh niên của Kiên trước khi nhập ngũ còn là thân thể đầy
khơi gợi của chị Hạnh trong khu chung cư. Thân thể căng tròn đầy sức sống đã
cho Kiên những rối loạn đầu đời và rung lên niềm tê dại cháy khát: “Kiên thở
hực lên… một tấm thân phụ nữ, mùi da thịt ngây ngây của đôi vai, của cặp vú
mát rượi mồ hôi dưới làn áo mỏng” [46, tr.70]. Hay thân thể đầy bản năng giữa
Kiên và người đàn bà câm, “chị chồm mình tới, choàng tay ôm lấy cổ anh, riết
miệng vào môi anh một cái hôn xoắn riết, nóng rực và ươn ướt…. Và đêm ấy,
còn im lặng hơn cả chị, anh chiếm đoạt chị một cách cuồng bạo, khốc liệt,
giằng xé, thẳng thừng tàn phá, đâm vào chị nỗi đơn độc bí ẩn, sắc như dao,
đầy hiểm nghèo của anh” [46, tr.126 - 127] cho thấy chị âm thầm cam chịu tính
cách thất thường, khủng hoảng của Kiên.
Trong truyện ngắn Bảo Ninh, ta cũng bắt gặp nhiều bức chân dung gợi
cảm, khao khát yêu và được yêu của các nhân vật. Trong Trại “bảy chú lùn”,
Nga xuất hiện nơi cánh rừng già đã trở thành điểm thu hút đối với các chàng
lính cô độc: “Một cô gái trẻ măng, người cao, cân đối, nước da bánh mật, tóc
tết đuôi sam”, khuôn mặt thanh tú hết sức ưa nhìn, “giọng hát thì tuyệt hay, khi
vút cao, khi bất ngờ tắt lặng” [45, tr.128]. Rõ ràng Nga căng tràn sức trẻ, sức
sống nhưng có chăng đó cũng là nguyên nhân khiến cả Huy và Mộc đều thầm
yêu cô mà không dám thổ lộ. Sau này, những ngày tháng cô đơn, chờ đợi trong
vô vọng có ngày người mình yêu trở lại, mọi dấu ấn lại in hằn trên khuôn mặt
cô: “Cô già đi, trên vừng trán đẹp đẽ bắt đầu thoáng những nếp nhăn, má tái
lại và hõm xuống” [45, tr.135]. Còn Mộc hiện lên với vóc người lùn, “to
ngang, bè ra. Vai rộng lạ lùng, lưng gấu, hơi cong cong. Da dẻ dường như dày
cộp, màu rỉ sắt nom thô và ráp. Tay chân ngắn nhưng rất khoẻ, không cuồn
cuộn thịt mà xù xù (…) còn khuôn mặt, ít khi thấy một bộ mặt nom thô đến như
61
thế” [45, tr.118]. Ngoại hình ấy hé lộ tính cách trầm tính, chủ yếu sống nội tâm
của anh. Bởi thế Mộc chẳng bao giờ dám thổ lộ tình cảm với Nga, chỉ có những
quan tâm, chăm sóc ấm áp và tình yêu thương với hai mẹ con Nga vô bờ bến.
Diệu Nương trong Gió dại lại mang một vẻ đẹp hư ảo, huyền bí: "một
thân hình thon thả, một dáng đi uyển chuyển. Suối tóc xõa trên lưng, … Một
bóng ma. Một bóng ma tha thướt và quyến rũ mềm mại và sống động, nhưng có
thể bỗng chốc tan biến đi” [45, tr.55]. “Tấm thân óng ả…đượm một vẻ gì quá
đỗi đàn bà, đàn bà hơn tất cả những người đàn bà khác nhập lại” [45, tr.77].
Cô là ca sĩ ngụy Sài Gòn “bị chiến sự thình lình cầm giữ trong vùng giải
phóng”. Diệu Nương thích hát nhạc vàng, “nguỵ ca” những lời bài hát là “nỗi
niềm của thảo nguyên. Thảo nguyên tự do, mênh mông vô tận chạy hút về
phương trời xa xăm, không biết đến các tuyến tiền duyên, không màng gì tới
chết chóc, trận mạc, bom pháo, giết chóc…” [45, tr.56]. Miêu tả nhân vật với
vẻ đẹp huyền bí, thoắt ẩn, thoắt hiện với những lời ca mang “nỗi niềm của thảo
nguyên” ấy, phải chăng Bảo Ninh muốn gửi gắm khát vọng tự do mãnh liệt,
khát khao được yêu của con người thời chiến? Còn Tuấn trong truyện lại được
khắc họa với hình ảnh “vóc người anh cao, ốm yếu, võ vàng, cổ lộ hầu, một vết
sẹo dữ dội do đạn bắn thẳng cày chéo từ mang tai xuống cằm. Miệng anh vì thế
méo đi, cho anh cái biệt danh Tuấn “mếu” ” [45, tr.70]. Tuấn là người “lầm lì,
ít nói lạ lùng và nói miễn cưỡng”, “tuyệt đối thờ ơ lãnh đạm”. Nhưng cái tính
khí lạnh nhạt, bàng quan với tất thảy ấy lại cho thấy anh ung dung tự tại, điềm
nhiên bình thản làm nhiệm vụ, không nề hà gian khổ, chẳng bao giờ kêu ca.
Trong tình yêu, Tuấn là chàng trai thuỷ chung. Trong anh ẩn chứa một tình yêu
cháy bỏng, âm ỉ dành cho Diệu Nương. Anh làm được điều mà các chàng lính
ngọt mồm khác không làm được: cùng Diệu Nương bỏ trốn để thực hiện ước
nguyện của cô, ước nguyện tự do. Nhưng cuối cùng mối tình của họ không
được chấp nhận và rơi vào tình trạng bi thương, kết thúc đau khổ.
Nhân vật Giang trong Hà Nội lúc không giờ là cô gái mười bảy tuổi có
“gương mặt trái xoan, trẻ măng, trắng hồng của chị mới xinh làm sao. Cặp
62
môi mòng mọng hơi bậm lại, cái cổ cao trắng ngần… đôi lông mày thanh tú,
hai hàng mi rợp và như hơi ươn ướt. Vẻ mặt đượm buồn” [45, tr.564]. Chị
không chỉ đẹp mà còn đảm đang, thông minh tháo vát. Chị “xoay xở khắp các
chợ gần chợ xa, chầu chực xếp hàng từ tinh mơ đến tối mịt ở suốt lượt các quầy
hợp tác, quầy mậu dịch. Nhưng dù cố hết sức thì cũng phải tuần giáp Tết mới
mua đủ các tiêu chuẩn đồ khô như gạo nếp, gạo dự, bột mì, đậu xanh, măng,
miến, bóng, chè, thuốc, mứt kẹo cả năm gia đình, rồi sau đó dồn toàn lực bình
sinh mà xếp hàng nước mắm, xếp hàng giò chả và nhất là hàng thịt, hàng lá
dong để chuẩn bị cho cái phần tối quan trọng của Tết là nồi bánh chưng. Chiều
ngày 27 phải chạy xong mọi thứ. Lại là Giang quán xuyến việc ngâm nếp, đãi
đậu, rửa lá, ướp thịt” [45, tr.539]. Bảo Ninh miêu tả nhân vật này với một tình
cảm đặc biệt: yêu mến lẫn cảm phục. Anh Trung là nhân vật có vóc dáng và
dung mạo được “ánh lửa trong bức tranh đặc tả nhiều nhất”: “Xưa nay tôi hiếm
thấy ai cường tráng như Trung. Anh không cao, thậm chí hơi lùn, nhưng vai
rộng lạ lùng, ngực nở căng, bụng thon chắc. Những bắp thịt cuồn cuộn nổi hằn
lên dưới chiếc cáo dệt kim sọc xanh của học sinh trường hàng hải. Cái cổ anh
ngắn và to bạnh đỡ lấy cái đầu to quá cỡ, xưa vẫn bị chị Giang trêu là như cái
thùng nấu phở, trán dô, mũi tày và tẹt, gò má rộng, cằm vuông chằn chặn, tóc
rễ tre, húi rất ngắn. Đấy là dung mạo của một chàng trai đầy sức mạnh và lòng
can đảm, tuy nhiên đang trầm tư và rất buồn, cặp mắt to, mơ mộng, long lanh
như nước và vô cùng buồn bã của anh như muốn thốt lên một điều gì mà tiếng
nói thông thường không đủ sức diễn đạt... Anh là liệt sĩ Kháng chiến chống Mĩ
đầu tiên của cả ngôi nhà số bốn, và có lẽ của cả phố, không chừng cả thành
phố” [45, tr.562 - 563]. Chân dung của Pét cũng đầy cuốn hút: “Anh diện một
cái áo da Tiệp, quần nhung kẻ, giầy mõm ngóe, tóc hớt đẹp, chải rất mượt. Pét
đẹp giai nhất phố. Vai rộng, đô con lại cao người, một vóc dáng rất chuẩn, lại
mũi thanh, miệng rộng, lại râu quai nón.”. “Tính tình cởi mở, nói năng dễ
mến”, “một chàng trai hạng ưu” [45, tr.541 - 542]. Họ đều là những con người
63
trẻ tuổi, đang sống những ngày đẹp nhất của tuổi trẻ, tình yêu, tràn đầy niềm tin
và hi vọng.
Miêu tả những con người trẻ tuổi, đang sống giữa tuổi xuân và tình yêu,
dường như Bảo Ninh luôn dành những tình cảm yêu mến đặc biệt cho họ, nhất
là nhân vật nữ. Ông thường miêu tả họ bằng ngôn từ “có cánh”. Họ đều là
những người phụ nữ đẹp cả về ngoại hình lẫn tính cách. Tuy vậy Bảo Ninh
không tô vẽ, lí tưởng hoá nhân vật của mình mà để họ hiện lên một cách chân
thực, đời thường nhất. Do vậy, nhân vật mang khát vọng tình yêu của Bảo Ninh
dễ gây ấn tượng với độc giả theo một cách riêng.
3.1.2. Xây dựng nhân vật qua hồi ức
Những câu chuyện tình yêu trong văn xuôi viết về chiến tranh của Bảo
Ninh hầu như đều có số phận riêng - thân phận tình yêu. Các nhân vật dễ bị
“mắc cạn” với cuộc sống thực tại nên đa số đều ngoái lại về quá khứ với tuổi
trẻ, tình yêu và chiến tranh. Vì thế tác giả thường lựa chọn phát huy tối đa vai
trò của hồi ức. Điều này tỏ ra rất phù hợp khi Bảo Ninh và các tác giả đương
đại sử dụng để viết về chiến tranh và tình yêu.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, thời gian tuyến tính trở nên vô nghĩa trước
dòng kí ức cuồn cuộn, thay đổi liên tục của nhân vật Kiên khi sống vật lộn giữa
quá khứ - hiện tại, chiến tranh - hòa bình. Tác giả không hề nêu ra chi tiết mở
đầu tác phẩm mà tất cả chỉ là sự tái hiện những đoạn hồi ức ngẫu nhiên của
Kiên. Điều này khiến người đọc như rơi vào “mê cung” mà ở đó chỉ cần dòng
suy tưởng của nhân vật chạm vào điểm nào đó của kí ức thì hình ảnh quá khứ
hiện ra ngay, làm cho người đọc không thể biết được kết quả. Trong dòng chảy
của kí ức là không gian bên trong của nhân vật, không gian tâm tưởng. Ở Kiên,
song song với dòng chảy kí ức chiến tranh là kí ức tình yêu. Nỗi buồn chiến
tranh, nỗi buồn tình yêu thấm vào nhau, hòa lẫn nhau, da diết, xót xa, hủy diệt.
Những người lính như Kiên hồi ở chiến trường đã nướng nỗi buồn chiến tranh
vào những cuộc chơi và sự hoài nhớ sâu đậm về mối tình với Phương. “Nỗi
64
buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa như nỗi buồn của tình yêu,
như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều buông trên bến sông bát
ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có thể làm cho người ta bay
bổng lên trong thời gian quá khứ, (…) khi dừng mắt lại thì không còn là nỗi
buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và nhất là đừng có nhớ chạm tới những
cái chết.” [46, tr.101]. Cả một đời Kiên đã cố gắng quên Phương nhưng càng
cố gắng càng bất lực: “Anh đã gắng quên Phương, đã cố hết sức. Chỉ dở là
không tài nào quên nổi và dở nhất là vẫn cứ âm thầm mong ngóng” [46, tr.75].
“Tất cả những nhân vật nữ mà anh mê say trong sáng tác của mình rút cuộc
vẫn chỉ là những giấc mơ về Phương.” [46, tr.185]. Mối tình đã trở thành một
cái gì đó vô phương cứu vãn trong đời. Bảo Ninh để cho nhân vật tự do vẫy
vùng trong hồi ức cả bản thân với nhiều cung bậc cảm xúc, gây cho người đọc
những cảm giác mơ hồ về kí ức vừa căng người sử dụng hết tất cả giác quan để
cảm nhận mùi vị của chiến tranh, tình yêu cùng nhân vật, mà không theo trình
tự nhất định nào. Thông qua đó, tác phẩm như đang lật từng ô cửa tâm hồn của
Kiên và đến lúc mở xong những ô cửa đó ta mới thấm thía hơn nỗi đau mà
Kiên chịu đựng.
Hầu hết các nhân vật truyện ngắn Bảo Ninh đều được xây dựng theo dòng
tâm tưởng hồi ức, sự đan xen quá khứ - hiện tại. Bùi Việt Thắng khẳng định:
“Kí ức chính là dòng hồi tưởng “đi tìm thời gian đã mất” trong tâm lí nhân
vật, nối quá khứ với hiện tại, sự “móc nối” này do một hoặc hai nhân vật đảm
nhiệm”. Trong quá trình “đi tìm thời gian đã mất” ấy, con người tìm lại được
chính mình. Thời tiết của kí ức - nhan đề của truyện đã phản ánh tâm trạng hoài
niệm, là nỗi nhớ về một thời đã xa. Truyện đưa ta theo dòng hồi tưởng của ông
Phúc về việc làm lầm lỗi thời trẻ và cả tình yêu thầm lặng với Quỳnh, mối tình
xa lắc xa lơ mà đến nay đã gần bốn mươi năm trời. Phúc đã sống trong day dứt
sám hối cả khi ở trại cải tạo và khi đã được tự do. Sau bao năm kiếm tìm
Quỳnh, Phúc đã sống cuộc sống vô nghĩa. Ông “chẳng đi đâu cả, ủ rũ, suy
65
nhược, tuyệt đối âm thầm, tuyệt đối chẳng trò chuyện, chẳng giao du, dường
như chẳng quen biết một ai trên đời” [45, tr.108]. Thậm chí việc ông tồn tại
trên đời cũng không biết để làm gì, không có ý niệm về thời gian, đầu óc buồn
ngủ, trái tim uể oải. Và rời rã, buông xuôi trong buồn nản. Chỉ đến khi gặp lại
Định, người bạn mà cũng là người từng tra vấn mình, ông mới biết Quỳnh
không hề vào Nam như dự định mà ở lại đợi chờ ông cho đến khi mất. Cũng
từ đây ông khám phá ra bí mật đời mình: “Những dòng của quá khứ xa vời
vợi, đêm nay mới trở về từ đáy sâu quên lãng. Nhờ vậy mà giờ đây dù có phải
xa lìa, dù có phải mất anh mãi mãi em vẫn sẽ mãi mãi còn anh”…” [45,
tr.114]. Khám phá những ẩn chứa sâu thẳm tâm tư nhân vật chính là nét mới
nhân văn trong sáng tác của Bảo Ninh, thể hiện cái nhìn đa diện về con người
của nhà văn.
Theo hồi ức của nhân vật “tôi” trong truyện ngắn Hà Nội lúc không giờ,
bên cạnh những kỷ niệm ấu thơ về ngôi nhà số 04 với những đứa trẻ nghèo
chung vui đón Tết còn cả nỗi đau trong sâu thẳm con tim khi nhận ra tình yêu
thầm lặng - mối tình đầu không có thật dành cho chị Giang. “Người bộ hành
đang dạo bước dọc canh khuya, lẳng lặng rẽ khỏi đời thực, âm thầm đi lẫn vào
sự vật của những ngày xưa kia. Chỉ là từ bên đường này sang bên kia đường
thôi mà đã đi lùi về tận những năm nảo năm nào” [45, tr.533]. Tất cả đã trở
thành kí ức không thể phai mờ trong tâm trí nhân vật khi những gì của “năm
ấy” cứ lần lượt sống dậy.
Trong truyện ngắn Rửa tay gác kiếm, kí ức, quá khứ ám ảnh và đeo đẳng
người lính không chỉ trong thực tại mà đi cả vào giấc mơ. Nếu như trong thế
giới hiện thực Quang che giấu nỗi đau của mình thì trong giấc mơ anh đã bộc
lộ nỗi đau đớn tột cùng. Thế giới của những giấc mơ đưa Quang trở về với
những buồn đau, day dứt. Đó mới là lúc anh được sống thật với bản chất con
người mình, cho anh nhận diện nhân tình thế thái. Bảo Ninh đã xây dựng nên
một người lính “rất người”, có lòng tự trọng, có sự tổn thương và nỗi đau bị bội
66
bạc không thể nào xoa dịu được. “Miệng anh nói vậy nhưng bụng anh nói
khác. Đêm đêm, giữa canh khuya, Quang chỉ toàn nằm mộng thấy kẻ bội bạc,
anh nấc lên tên cô ta và vừa rên ư ử vừa nói lảm nhảm. Có đêm tôi nghe thấy
trong màn anh vẳng ra tiếng khóc thút thít sụt sịt” [45, tr.274].
Thông qua sự hồi tưởng của nhân vật, nhà văn đã gián tiếp cho người đọc
thấy được khuôn mặt thật của chiến tranh và số phận tình yêu bị quăng quật
cùng cuộc chiến. Đó là sự tàn phá khủng khiếp của bom đạn kẻ thù, là những
vết thương của đất trời, sông núi,... nhưng cứ khứa sâu vào lòng người. Trở về
sau chiến tranh, nhiều nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh “đã phải chịu hết
hồi ức này đến hồi ức khác, ngày này qua ngày khác, đêm thâu này qua đêm
thâu kia”. Vì thế chiến tranh được hồi tưởng lại, quá khứ được nhớ lại trong các
giấc mơ của người lính hiện lên chân thực với biết bao mất mát, đớn đau và
gian khổ. Mượn kí ức để soi chiếu lại quá khứ, đó là cách để Bảo Ninh xây
dựng khuôn mặt chiến tranh trong những trang viết của mình với tất cả sự sinh
động và chân thực nhất.
Hầu hết các nhân vật trong sáng tác của Bảo Ninh đều nhận thức quá khứ
đã xa vời và trong quá khứ ấy in dấu kỉ niệm của một thời trai trẻ, một thời yêu
đương đẹp đẽ nhất trong đời người. Trong các trang viết của mình, dường như
Bảo Ninh đang “cố gắng bổ khuyết phần thiếu hụt, phần phiến diện trong quan
niệm con người bằng cách đào sâu vào thế giới tâm linh (...) Việc xem xét con
người ở phần tâm linh sẽ đem đến các giá trị nhân văn mới (…) giàu ý nghĩa
triết học nhân sinh” [5].
3.2. Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Chiến tranh và tình yêu là hai hiện tượng đối nghịch. Bảo Ninh đã thành
công khi xây dựng được các kiểu cốt truyện khác nhau để thể hiện tình yêu thời
chiến, có khi gắn với những sự kiện, biến cố, có khi truyện đi theo dòng tâm
trạng và đôi khi theo kiểu liên văn bản.
67
3.2.1. Xây dựng cốt truyện theo motip sự kiện: gặp gỡ - chia biệt
Những biến cố, sự kiện trong văn xuôi Bảo Ninh được viết ở thời hậu
chiến nên không nhấn mạnh nhiều đến những yếu tố lịch sử, cộng đồng mà chủ
yếu quan tâm đến vấn đề đời tư, cá nhân của những người đi ra từ cuộc chiến.
Khắc dấu mạn thuyền kể về một tình yêu thầm lặng của một người lính trong
chiến tranh. Tình yêu đó nảy sinh qua hành động anh hùng của một cô gái. Câu
chuyện được xây dựng theo kiểu gặp gỡ tình cờ mang nhiều duyên nợ và chia li
là số phận. Chàng trai trẻ tuổi được giao nhiệm vụ làm lính quân bưu “xin được
rảo vào thành phố để rải non chục lá thư anh em đồng đội người Hà Nội gửi
gắm”. Nhưng lúc ấy thành phố đang ngất trời bom đạn, giặc tàn phá dữ dội con
người và phố phường Hà Nội. Thành phố tan hoang, cơn mưa mùa đông buồn
bã, sau khi trao thư tận tay cho những người nhà của đồng đội, nhân vật “tôi”
vội đi để kịp xe đơn vị trước 12 giờ đêm. Cơn mưa lạnh khiến anh bị cảm, lên
cơn sốt. Trong cơn mê, anh tình cờ được một cô gái tận tình giúp đỡ. Cô gái
không quản mưa gió, bom đạn chăm sóc anh. Khi cơn cảm lạnh qua đi, anh
chợt nhớ đến giờ đã hẹn nhưng bom B52 lại tiếp tục dội xuống Hà Nội. Cả hai
cùng tránh bom. Cô gái nằm bên cạnh anh, lăn sát vào người anh tìm sự che
chở, “cả hai ôm riết lấy nhau”, “hoàn toàn tê liệt, không thể nào ý thức được,
không thể nào cảm nhận nổi cái sự sống sót ngoài dự kiến này” [45, tr.169].
Họ đã bên nhau trong khoảnh khắc đối mặt với sinh tử của chiến tranh. Thế
nhưng, “tôi” và cô gái ấy không có cơ hội gặp nhau thêm một lần nào nữa, một
lần để mãi “khắc dấu mạn thuyền”. Rõ ràng cảm xúc của tình yêu đã khiến con
người xích lại gần nhau nhưng chiến tranh lại đẩy họ dạt về hai phía đối nhau.
Dư vị của một lần gặp gỡ đã theo người lính suốt cuộc đời, một tình yêu thầm
lặng có cả lòng biết ơn với người con gái Hà Thành, đủ để khiến anh sau này
mỗi lần ghé Hà Nội lại không khỏi xao xuyến, bồi hồi tìm về với kỉ niệm.
Cuộc gặp gỡ trong Giang cũng vậy. Một lần gặp gỡ đủ để trong tim chàng
lính 17 tuổi và cô nữ sinh Nhật Giang rung lên những nhịp đập trong trẻo,
68
thuần khiết để rồi chia biệt không có ngày gặp lại. Kiểu cốt truyện này dễ khơi
gợi được sự đồng cảm nơi người đọc, đồng thời gieo vào lòng người những
nuối tiếc và cả những hi vọng mơ hồ, mong manh.
3.2.2. Xây dựng cốt truyện theo dòng tâm trạng
Kiểu cốt truyện xuất hiện dày đặc nhất trong tác phẩm Bảo Ninh là theo
dòng tâm trạng. Có người gọi đây là truyện kể tâm tư hoặc truyện độc thoại nội
tâm hay lời kể gián tiếp, tự do. Cốt truyện thường lỏng lẻo, chất truyện khá mờ
nhạt, chủ yếu là tâm trạng nên khó tóm tắt, khó kể lại. Truyện có sự kiện nhưng
thường là những sự kiện tâm lí, hồi ức của nhân vật. Từ Nỗi buồn chiến tranh
đến hàng loạt các truyện ngắn, ta thấy Bảo Ninh sử dụng rất thành công kiểu
cốt truyện này. Có phải chăng nhà văn cũng tự thấy mình như một kẻ “ăn mày
dĩ vãng” nên viết về quá khứ cũng là cách ông được sống lại với chính mình?
Theo hành trình tâm trạng của Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, ta nhận ra
thời gian trong tác phẩm bị đảo lộn quá khứ - hiện tại, chiến tranh - hòa bình.
Tất cả là những đoạn hồi ức ngẫu nhiên của Kiên cuồn cuộn hiện về, thay đổi
liên tục, khiến người đọc như rơi vào mê cung hồn trận, khó xác định được đâu
là câu chuyện mở đầu và không thể biết khi nào kết thúc.
Thời tiết của kí ức, bản thân tên gọi truyện ngắn này đã phản ánh loại
truyện theo dòng tâm trạng hồi ức. Thiên truyện là dòng kí ức của ông Phúc về
“những nỗi niềm đã yên nghỉ từ lâu âu sầu thức dậy, lần lượt hiện hình, lần
lượt trôi qua, dằng dặc và chậm rãi, theo nhịp đếm của chiếc đồng hồ để bàn”.
“Hà Nội, tiết tàn thu, buổi đầu đông, gió thổi, mưa rơi, lá rụng. Ấy là hơi thở
của thời xa xưa, là thời tiết của kí ức.” [45, tr. 89] Để rồi từ đây nỗi hoài niệm
về một tình yêu, mối tình đầu cách đây gần bốn mươi năm như một thước phim
quay chậm làm sống lại tất cả quá khứ của ông Phúc. Người đọc có cảm giác câu
chuyện có vẻ rời rạc nhưng thực ra các sự kiện đều trở thành cái cớ để nhân vật
phô bày cảm xúc, ý nghĩ một cách tự nhiên nhất. Dòng tâm trạng của ông Phúc cứ
ào ạt chảy từ quá khứ đến thực tại với bao biến cố cuộc đời. Người đọc chúng ta
69
thả mình theo dòng tâm tưởng ấy cũng đủ để trải qua những đau khổ, dằn vặt, day
dứt, sám hối, tự thú, ân hận cùng ông Phúc khi ông không thể đem hạnh phúc đến
cho Quỳnh. Câu chuyện khép lại với một sự thật bất ngờ: Quỳnh để lại cho ông
người con gái tên Hạnh. Hạnh phúc, niềm an ủi cuối cùng đến với ông muộn
màng nhưng đủ cho ông “một cảm giác có hậu với cuộc đời cùng số phận”.
Bên canh đó, Bí ẩn của làn nước, Hà Nội lúc không giờ cũng được xây
dựng cốt truyện theo dòng tâm trạng như vậy. Có thể nói, đây là kiểu cốt truyện
đặc sắc, hiện đại, giúp nhà văn mở dần cho người đọc thấy nét riêng của ông
khi dựng truyện.
3.3. Ngôn ngữ trần thuật
3.3.1. Ngôn ngữ trần thuật giàu chất triết lí, chất trữ tình
Hầu hết tác phẩm Bảo Ninh được kể lại, nhìn nhận lại quá khứ từ hiện tại.
Kí ức chiến tranh còn hằn sâu trong tâm trí và trong các trang văn của ông. Do
vậy, những suy nghĩ triền miên của dòng hồi tưởng là đặc điểm nổi bật, là một
trong những thế mạnh trong nghệ thuật trần thuật của Bảo Ninh. Điều này đã
làm cho ngôn ngữ trong sáng tác của ông đậm chất triết lí và chất trữ tình.
Với khát vọng về “cuộc chiến của riêng anh”, nhân vật của Bảo Ninh đã tự
phơi bày thế giới bên trong phức tạp của mình với vị trí của người kể chuyện
xưng “tôi”, cũng có lúc tác giả nhập thân vào nhân vật để cất lên tiếng nói giãi
bày, bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình. Các tác phẩm như là những thế giới bên
trong của con người được hé mở với những điều riêng tư thầm kín nhất. Đặc
biệt, các nhân vật không ngần ngại bộc lộ quan điểm của mình về những mặt trái
của chiến tranh và những mặt khuất lấp ẩn sâu trong tâm hồn con người.
Ngôn ngữ trần thuật trong Nỗi buồn chiến tranh được người kể chuyện
gửi gắm qua những dòng suy nghĩ của nhân vật Kiên, lúc nghĩ về Phương, lúc
nghĩ về chiến tranh: “Ôi cái ngày tháng tư nóng hổi, nồng nàn. Những lần ôm
xiết ngắn ngủi chuyếnh choáng trong làn nước màu lục nhạt. Những sợi rong
lập lờ. Tiếng cá quẫy đuôi. Và khuôn mặt trắng mịn của Phương hòa trong
70
nước, những chùm bong bóng thở, mái tóc ướt nặng, bờ vai, đôi chân dài, thân
thiết, tuyệt mĩ đều đau nhói trong lòng…” [46, tr.131]. Đôi lúc Kiên ngẫm tâm
trạng của người lính: “Nỗi buồn chiến tranh trong lòng người lính có cái gì tựa
như nỗi buồn của tình yêu, như nỗi nhớ nhung quê nhà, như biển sầu lúc chiều
buông trên bến sông bát ngát. Nghĩa là buồn, là nhớ, là niềm đau êm dịu, có
thể làm cho người ta bay bổng lên trong thời gian quá khứ, (…) khi dừng mắt
lại thì không còn là nỗi buồn nữa mà là sự xé đau trong lòng, và nhất là đừng
có nhớ chạm tới những cái chết” [46, tr.101]. Những ám ảnh khủng khiếp về
chiến tranh từng ngày huỷ diệt tâm hồn Kiên khiến anh phải thốt lên: “Chao
ôi! Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt
vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt
tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” [46, tr.33]. Chính điều này
giúp ta đi sâu hơn vào thế giới nội tâm của Kiên, khám phá những bí mật mà
anh muốn che giấu, thậm chí muốn phủ nhận. Ngoài ra, những cuộc đối thoại
giữa Kiên và Phương, giữa Kiên và đồng đội, những người thân,… giúp người
đọc rõ hơn về tính cách nhân vật. Cũng nhờ thủ pháp này nhân vật đã bộc lộ
được tất cả những tâm tư, suy nghĩ của mình về cuộc đời.
Bởi đề cập đến đề tài chiến tranh và tình yêu nên những chiêm nghiệm,
triết lí cũng tràn ngập trong truyện của ông. Đó là “một thời đại lớn lao và
nghiệt ngã chưa từng có. Thời của chiến tranh và của cách mạng lay trời, thời
của những đau thương vô hạn” [45, tr.556] “Giữa thời loạn lạc, phúc họa khôn
lường, bình yên như treo đầu sợi tóc”. Những mất mát do chiến tranh gây ra là
vô kể, người lính đã cống hiến trọn tuổi trẻ, niềm vui, tình yêu, hạnh phúc của
mình và rất nhiều người đã phải sống cuộc sống cô độc đến rợn người giữa rừng
già hoang vắng. “Đời lính buồn hắt hiu, như tiếng thở dài” [45]. Người lính đã ý
thức được trách nhiệm của bản thân với vận mệnh đất nước: “Làm trai sinh ra
gặp thời loạn lạc không thể dửng dưng với vận nước. Nước mất thì nhà tan, ấy
là châm ngôn truyền đời” [45]… Hạnh phúc của người lính thật lớn lao khi được
71
cống hiến cho Tổ quốc nhưng đôi khi hạnh phúc của họ đôi khi thật giản đơn.
Đó là niềm vui vô bờ của Mộc (Trại “Bảy chú lùn”) khi được ngắm nhìn Nga,
mặc dù chỉ là “ngắm nhìn lén lút”, là hạnh phúc “tột đỉnh” khi anh được chăm
sóc con gái Nga dù đó không phải là con mình… Niềm vui, hạnh phúc của Mộc
có cái gì đó chua xót, ám ảnh chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Bảo Ninh cắt
nghĩa tình yêu và hạnh phúc của người lính trong và sau chiến tranh: “Trong
cuộc sống này, đau khổ và chia lìa có biết bao ngả đường và cách thức để đến
với số phận người ta. Hạnh phúc cũng vậy, có biết bao ngả để có thể gặp được.
Lắm khi ngẫu nhiên, bất chợt và đơn giản đến lặng người” [45].
Mặc dù vậy, ước nguyện của người lính thật cảm động: “Hết được chiến
tranh rồi sẽ sung sướng biết bao. Không còn bọn Mĩ, không còn bọn ngụy,
không bom không pháo, đất nước thống nhất, hòa bình, dẫu chỉ được sống một
ngày như vậy thôi rồi chết, cũng đáng” [46]. Khi triết lí về hoà bình, có lúc
nhân vật của Bảo Ninh cắt nghĩa thật đơn giản: “Hòa bình là hòa và bình, chớ
gì nữa”, nhưng cũng có khi nhà văn đưa ra khái niệm thật chua xót: “Hừ, hòa
bình! Mẹ kiếp, hòa bình chẳng qua là thứ cây mọc lên từ máu của bao anh em
mình, để chừa lại chút xương” [46],… Họ đương đầu với chiến tranh để trở về
hòa nhập với cuộc sống hòa bình, tìm lại được hạnh phúc. Họ được sống với
tình yêu, tình bạn, tình đồng đội, những yếu tố tiên quyết giúp họ vượt qua
muôn vàn những năm tháng đau thương của thời chiến. Bảo Ninh bày tỏ trong
truyện ngắn Rửa tay gác kiếm: “Chúng tôi đã từng đông đảo biết bao và hùng
mạnh biết bao. Và chúng tôi không chỉ là một đạo quân, chúng tôi còn là cả
một sự nghiệp lớn lao, một sự đồng lòng vĩ đại. Giờ đây, mỗi người mỗi ngả,
bèo dạt mây trôi, song lòng dạ không đổi thay, lí tưởng chiến đấu cháy bỏng
suốt thời trai trẻ sẽ còn sáng mãi đến trọn đời anh em chúng tôi” [45].
Chính vì thể hiện những suy tư, chiêm nghiệm về hiện thực, về chiến
tranh, về con người và cuộc sống trong và sau chiến tranh qua hồi ức của nhân
vật nên ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh không chỉ mang tính
72
triết lí mà còn đậm chất trữ tình. Bao giờ Bảo Ninh cũng có những đoạn văn
như thơ, nhưng rất tự nhiên. Đó là tiếng nói nội tâm, là tiếng lòng giàu cảm xúc
của nhân vật.
Ngoài ra, góp phần tạo nên ngôn ngữ đậm chất trữ tình trong truyện ngắn
Bảo Ninh còn là yếu tố trữ tình ngoại đề. Nhà văn thường trực tiếp bình luận,
đánh giá về nhân vật, về sự việc, câu chuyện được kể, dù có lúc nhà văn đứng ở
điểm nhìn trần thuật khách quan. Nó nâng văn xuôi trong câu chuyện lên, phả
vào nó một vùng cảm xúc ấm áp, xao lòng... Giang là truyện ngắn ghi dấu một
lần gặp gỡ thoảng qua giữa chàng lính trẻ “tôi” với Nhật Giang. Không ngờ
cuộc gặp gỡ ấy đã khiến họ nảy sinh tình cảm nhưng không bao giờ họ đến
được với nhau, không bao giờ có cơ hội gặp lại. Lòng bồi hồi xúc động và nuối
tiếc cho mối tình thoảng qua mà sâu nặng ân tình khiến nhân vật không thể kìm
lòng: “Chiến tranh, đời lính, tuổi trẻ, mọi sự là như thế, chỉ thế thôi, thoảng
nhanh. Thoảng nhanh nhưng không tắt lịm. Chỉ thế thôi nhưng để rồi sau này
cứ nhớ mãi. Trở thành nỗi đau. Những nỗi đau mất mát âm thầm”. (…). “Tôi
thì không bao giờ quên cô ấy, mặc dù thực ra là có gì đâu một tình cờ như thế,
một gặp gỡ vẩn vơ, lưu luyến mơ hồ gần như không có thật mà năm tháng cuộc
đời cứ mãi chồng chất lên muốn xóa nhòa” [45, tr.34]. Chính những bộc bạch
chân thành đầy cảm xúc ấy khiến người đọc cảm nhận sâu sắc nỗi đau đôi khi
chỉ bắt nguồn từ những cái không ngờ đến, cảm nhận được tình cảm sâu thẳm
trong tâm hồn nhân vật. Hoặc đôi khi nghe thật xót xa khi đọc lời kết của Gió
dại: “Chúng tôi chỉ không ngờ rằng chúng tôi đang tiến vào mùa khô cuối
cùng của cuộc chiến. Chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa bình,
vậy mà hòa bình vẫn đến” [45, tr.87]. Hoặc có khi được an ủi bởi những tia hi
vọng về tương lai trong Thời tiết của kí ức: “lẽ đời là vậy đấy. Bởi vì là một nỗi
đau nên quá khứ còn sống mãi. Và bởi nỗi đau quá khứ còn sống mãi nên về
sau ta mới có được quãng đời êm lặng, một nếp sống bình yên, một tư duy thư
thả, một tấm lòng khoan thứ và một cảm giác có hậu với cuộc đời cùng số
73
phận.” [45, tr.114]. Hà Nội lúc không giờ nhờ một thứ ngôn ngữ thơ mộng và
buồn, u uất như đêm trừ tịch mà sâu lắng lạ kì.
Để thể hiện chủ đề chiến tranh, tình yêu và cuộc sống người lính trong
sáng tác của mình, Bảo Ninh thường đi sâu phân tích, khám phá đời sống nội
tâm để tìm ra những bài học có ý nghĩa triết học, nhân sinh sâu sắc. Đó chính là
một trong những hình thức thể hiện đặc sắc của Bảo Ninh. Chính vì nhân vật
trở về quá khứ qua hồi ức, bộc lộ nỗi lòng thầm kín nên ngôn ngữ trần thuật
không chỉ đậm chất triết lí mà còn thấm đẫm chất trữ tình. Chất triết lí và chất
trữ tình trên những trang văn của Bảo Ninh hoà quyện đã đem đến cho người
đọc những cảm xúc mới lạ về những điều tưởng chừng đã cũ.
3.3.2. Từ ngữ gắn với hồi ức nhân vật
Một phương thức trần thuật của văn xuôi hiện đại là tái hiện quá khứ qua
hồi ức nhân vật. Bảo Ninh đã dành rất nhiều trang viết để phản ánh hồi ức của
nhân vật. Những câu chuyện về cuộc đời những người lính, về chiến tranh, về
tình yêu và những nỗi đau được tái hiện bằng kí ức về những năm tháng mà họ
đã trải qua. Vì vậy, từ ngữ gắn với hồi ức, gắn với quá khứ được sử dụng đậm
đặc trong tác phẩm Bảo Ninh.
Các tác phẩm của Bảo Ninh hầu hết là những câu chuyện quá khứ được kể
lại nên từ ngữ chỉ thời gian quá khứ xuất hiện rất nhiều: Hồi ấy, thời ấy, thời
đó, hồi đó, ngày trước, xưa kia, chiều hôm ấy, mùa xuân năm ấy, mùa thu năm
ấy, cuối năm 197X, mùa mưa 196X, 197X (1969, 1972…), mùa khô 197X…
Từ ngữ chỉ thời gian quá khứ: kí ức, dĩ vãng, quá khứ thường xuyên được
sử dụng trong các truyện ngắn của Bảo Ninh. Những từ ngữ này trực tiếp thể
hiện cái đã qua, đã xảy ra trong quá khứ - cái tưởng như đã qua lâu rồi, nào ngờ
vẫn để lại những ám ảnh và ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn người lính hậu
chiến. Rõ ràng họ vẫn là những kẻ “ăn mày dĩ vãng” không thể khác được.
Trong sáng tác của Bảo Ninh, những từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí hồi tưởng
về quá khứ như ngẫm lại, nhớ lại cũng xuất hiện khá nhiều. Việc sử dụng các
74
từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí hồi tưởng về quá khứ như thế rất hiệu quả trong gợi
kí ức buồn, gợi những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật qua cái nhìn hồi
cố. Các nhân vật nhận ra cuộc chiến tranh ấy đã lấy đi của họ tuổi trẻ, tình yêu,
đồng đội, người thân, bạn bè, thậm chí cả những giấc ngủ bình yên. Cái để lại
cho họ nhiều nhất là sự mất mát, thương đau, là những ám ảnh về quá khứ. Rất
nhiều lần, nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh khẳng định cuộc sống thời
chiến là cuộc sống có ý nghĩa nhất, đáng sống nhất: “như tôi, tuổi đã chừng này
còn thời nào nữa ngoài thời đã qua”; “đối với tôi, thời thơ ấu êm ả và tươi đẹp
thế là đã vĩnh viễn và dữ dội ra đi vào chính cái buổi chiều mùa xuân êm ả và
tươi đẹp đầu năm Giáp Thìn ấy”; “những năm xa vời trước thời lửa đạn đã trôi
theo gió thời gian” [45, tr.134]; “đối với chúng tôi phần đời đáng sống nhất đã
sống rồi” [45, tr.212]… Nhưng có nỗi khổ nào của ngày hôm nay sánh bằng
những đau khổ đã trải qua trong chiến tranh? Đúng như Kiên (Nỗi buồn chiến
tranh) bày tỏ: “Đối với tôi, tương lai đã nằm lại phía sau xa kia rồi. Và không
phải là cuộc sống mới, thời đại mới, không phải là những hi vọng về tương lai
tốt đẹp đã cứu giúp tôi mà trái lại những tấn thảm kịch của quá khứ đã nâng đỡ
tâm hòn tôi, tạo sức mạnh cho tinh thần cho tôi thoát khỏi vô tận những tấn trò
đời hôm nay. Chút lòng tin và lòng ham sống còn lại trong tôi không phải do
những ảo tưởng mà là nhờ sức mạnh của những hồi tưởng” [46, tr.51].
Như vậy, việc sử dụng đậm đặc từ ngữ gắn với hồi ức nhân vật đã góp
phần thể hiện nỗi lòng, tâm trạng nhân vật. Đó là cách đi sâu vào thế giới nội
tâm nhân vật để miêu tả một cách chân thực những tình cảm và suy nghĩ của
nhân vật, để lí giải cuộc sống hiện tại và nhìn nhận lại quá khứ. Nói cách khác,
nhân vật quay về quá khứ chính là sự tự ý thức về mình.
Nhà văn chỉ có một thứ vũ khí duy nhất là dùng ngôn ngữ để kết nối với
cuộc đời. Người chiến sĩ - nhà văn Bảo Ninh đã làm tốt điều đó. Nhờ ngôn ngữ
mà Bảo Ninh trở nên giàu có, tinh tế, nhạy cảm và luôn hướng tới sự mới mẻ,
độc đáo trong cách sử dụng. Điều này góp phần không nhỏ tạo nên dấu ấn riêng
của nhà văn.
75
3.4. Giọng điệu trần thuật
Văn học là tiếng nói của con người về cuộc đời. Trong nghệ thuật kể
chuyện, giọng điệu là “âm thanh được xét ở tấm lòng, biểu hiện thái độ: buồn,
vui, giận, hờ hững” [3]. “Giọng điệu là thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng,
đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn
quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa
gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm…” [20, tr.112].
Do đó, giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng để khu biệt phong cách
tác giả, là “một yếu tố đặc trưng của hình tượng tác giả trong tác phẩm”. Mỗi
nhà văn có phong cách đều tạo cho mình một kiểu giọng điệu riêng. Nếu như
trong đời sống, giọng nói giúp ta nhận ra con người thì trong văn học, giọng
điệu giúp ta nhận ra tác giả.
Bảo Ninh viết về chiến tranh như viết về tình yêu, đã tạo được một hệ
thống giọng điệu phù hợp với cảm hứng chủ đạo, tư tưởng, nhân vật,…
3.4.1. Giọng điệu ngậm ngùi, day dứt
Đứng trước sự xô bồ của cuộc sống hậu chiến, Bảo Ninh rất ít khi phản
ánh cuộc sống hiện đại mà chủ yếu miêu tả cuộc sống và con người quá khứ từ
cái nhìn hiện tại. Nhân vật Bảo Ninh lưu giữ những kỉ niệm của quá khứ để rồi
khi gặp lại không khỏi xúc động nghẹn ngào xen lẫn sự nuối tiếc, xót xa.
Trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh thường đặt nhân vật
vào những suy tư, day dứt, dằn vặt, lí giải về những vấn đề mang tính nhân
sinh. Đây cũng là gam giọng chủ yếu của tác phẩm này thông qua nhân vật
Kiên. Chiến tranh và những mất mát trong chiến tranh là cơn chấn động tâm lí
nặng nề với Bảo Ninh, có lẽ thế mà nhân vật của ông đều bàng bạc một nỗi
buồn thương, day dứt. Ở đó có nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu, nỗi
buồn sáng tạo nghệ thuật, nỗi buồn nhân thế, tất cả đều cất lên từ một tiếng
lòng sâu nặng với quá khứ, bởi thế mà thêm ngậm ngùi, nuối tiếc. Nỗi buồn ấy
mơ hồ, khó gọi thành tên nhưng da diết, không thôi day dứt lòng người. Còn gì
76
buồn hơn khi đọc những dòng tâm trạng của Kiên nghĩ về chiến tranh: “Chao
ôi! Chiến tranh là cõi không nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt
vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt
tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người” [46, tr.33], chua chát khi định
nghĩa về hòa bình: “hòa bình chẳng qua là thứ cây dại mọc lên từ máu thịt bao
anh em, để chừa lại chút xương” [46, tr.45]. Đọc những câu chữ này, ta biết
Kiên đau hay chính Bảo Ninh đang đớn đau: “chẳng biết đến bao giờ thì lòng
mình mới có thể nguôi nổi, trái tim mình mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết chặt
của những kỉ niệm chiến tranh. Những kỉ niệm có thể là êm đềm, có thể là ác
hại nhưng đều để lại những vết thương mà tới bây giờ, một năm đã qua, hay
mười năm, hay hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi” [46, tr.47].
Giọng điệu ngậm ngùi, day dứt được thể hiện rất rõ qua những dòng kí ức,
những giằng xé nội tâm của Kiên hoài niệm về tình yêu với Phương, dù lúc nào
cũng là “niềm tiếc nuối và là một nỗi đau mất mát lớn”: “dù đã dầm mình
trong rượu (…) trong tâm trí anh vẫn không ngừng nhói đau những hồi tưởng
tan nát về thời gian sống cùng nhau sau chiến tranh của anh và Phương” [46,
tr.89], “đôi khi giữa đêm, lòng tràn tuyệt vọng, anh nấc lên, nước mắt giàn
giụa, phải thúc mặt vào gối cho kì ngạt thở. Anh biết chỉ có biện pháp duy nhất
để thoát khỏi tình trạng yếm thế thê thảm này là Phương trở về, là anh lại được
nhìn thấy nàng, để lại cùng nhau lặp lại nỗi thống khổ…” [46, tr.90].
“Tôi” trong truyện ngắn Hà Nội lúc không giờ nghẹn ngào, xúc động
không thốt nên lời khi gặp lại chị Giang - “mối tình đầu không có thật của
thằng bé mười ba tuổi” ngây thơ trong sáng ngày nào - nơi căn nhà số 04 thân
yêu. Giờ gặp lại có cái gì đó “đau thắt”, nghẹn ngào: “Cuộc đời tôi. Cuộc đời
chị. Thì cũng như cuộc đời của bao người thôi trên đất nước này những chục
năm qua, mà sao nhắc lại trái tim cứ đau thắt lại thế này” [45, tr.558]. Hồi
tưởng về những kỷ niệm xưa, giọng “tôi” như có cái gì đó tiếc nuối, xót xa bởi
“gần trọn quãng đời trai trẻ của (…) không hề được hưởng tình yêu” [45,
77
tr.565]. Mãi tận sau này, “tôi mới nhận ra rằng những tội lỗi trong mơ ngày đó
chính là hình bóng của mối tình đầu không có thật của tôi” [45, tr.566]. Chính
nó đã “góp phần soi rọi tâm hồn tôi, giúp tôi vững tinh thần, và có lẽ một phần
nhờ thế mà rốt cuộc tôi đã sống sót trở về” [45, tr.566]. Chính thứ tình cảm
thiêng liêng ấy đã làm cho “tôi” cảm thấy ấm áp khi được ở bên Giang. Anh
như được sống lại với những kỷ niệm đẹp nhất đời mình, với bạn bè, với cảm
xúc trong trẻo tình yêu của tuổi thơ.
Bảo Ninh đã tạo ra một thứ giọng điệu đầy xúc cảm viết về những câu
chuyện tình yêu. Câu chuyện trong Thời tiết của kí ức là quá khứ trớ trêu gây
xúc động lòng người. Nuối tiếc về một tình yêu thầm lặng, hối hận khi chọn
nhầm đường đã khiến Phúc day dứt khôn nguôi. Phúc hồi tưởng về tình yêu dành
cho Quỳnh và cuộc đời mình bằng giọng kể buồn man mác với tâm trạng day
dứt ân hận. Ở tù, với Phúc là quãng thời gian vô nghĩa bởi tình yêu đã mất, dù
phải sống trong trại cải tạo là quãng thời gian ngồi bóc lịch nhưng Phúc chẳng
đếm ngày tính tháng. Phúc hầu như vô cảm trước tự do, trước sự chảy trôi của
cuộc đời. Sự hồi tưởng chậm buồn miên man của ông Phúc tạo nên giọng điệu
ngậm ngùi, nuối tiếc, xót xa. Những nỗi niềm tưởng như đã được chôn giấu kỹ
nhưng lại lần lượt hiện hình. Non bốn chục năm qua, con người ấy đã sống
không yên với những lỗi lầm thời trẻ. Với ông, tất cả trở nên vô nghĩa.
Bảo Ninh đã rất thành công khi khắc họa những bi kịch tinh thần người
lính sau chiến tranh: người đau đớn với những di chứng chiến tranh, người day
dứt khôn nguôi với quá khứ, người nuối tiếc với tình yêu không thành… Tất cả
tạo nên giọng điệu ngậm ngùi, nuối tiếc, xót xa, day dứt. Nó khiến cho người
đọc ám ảnh khôn nguôi.
Chọn giọng điệu ngậm ngùi, nuối tiếc, xót xa để miêu tả những số phận,
những bi kịch của người lính, những thân phận tình yêu đã giúp Bảo Ninh dễ
dàng thể hiện tình cảm của mình. Ông viết bằng cả sự thôi thúc mãnh liệt trong
tâm hồn, như lộn gan ruột mình ra để đau, dằn vặt, day dứt, vò xé tâm can cùng
nhân vật.
78
3.4.2. Giọng điệu khách quan, lạnh lùng
Các nhà văn sau 1975 nói chung và Bảo Ninh nói riêng không có ý định
né tránh hiện thực mà nhìn thẳng vào sự thật, tái hiện chân xác hiện thực mà
mình đã từng trải nghiệm và chứng kiến. Ông miêu tả những cái chết, những
mất mát hi sinh, những bi kịch tâm hồn bằng giọng văn lạnh lùng, khách quan
trong cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết. Giọng kể thâm trầm, chậm rãi, nhẹ nhàng
mà đầy ám ảnh. Qua đó, nhà văn bộc lộ thái độ của mình.
Đã có thời gian Nỗi buồn chiến tranh bị cấm xuất bản, bị người ta e dè
nhắc tới, bị đánh trượt giải thưởng trong nước, một phần vì nhà văn viết quá
chân thực, đến mức “sống sít” về chiến tranh và thân phận tình yêu. Trong
trường hợp này, Bảo Ninh giống như người chiến sĩ “trung thực vô ngần” làm
công việc của người thư kí ghi lại những trải nghiệm máu xương của mình mà
thôi. Người đọc không dễ quen với những hiện thực ngồn ngộn như lời tâm sự
não nề của Can: “Mình vào đây để làm gì khi để mẹ già ở nhà cơ cực không nơi
nương tựa, ngày đêm than khóc nhớ con…Hồi tôi vào lính, làng đang lụt, vất
vả lắm tôi mới dìu được mẹ tôi lên đê. Mẹ tôi cứ van tôi tìm cách mà trốn đừng
để người ta triệu tập. Nhưng lủi sao nổi cơ chứ. Anh tôi đã đi rồi, đáng lẽ tôi
được miễn coi như con độc, mà ở xã họ không chịu. Bao thằng khốn nạn ung
dung hưởng lộc chiến tranh, chỉ con cái nông dân là phải dứt lòng ra đi, bỏ lại
đằng sau cảnh mẹ già màn trời chiếu đất…” [46, tr.23]. Nơi truông Gọi Hồn
kinh dị, ma quái, thần chết sờ soạng mất cứ khi nào; nơi những người lính cần
khói hồng ma để quên mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ, chết chóc, quên
béng ngày mai. Những dòng kí ức chập chờn, lộn xộn của Kiên khi nghĩ về
những mối tình của mình và đồng đội mình cứ tự nhiên hiện về như không có
bất cứ sự sắp xếp nào của tác giả. Đoạn văn kể lại việc HơBia, Mây, Thơm bị
sát hại: “Trên nền sỏi ướt, Kiên thấy, nằm rớt đấy từ bao giờ một manh áo lót
phụ nữ trắng muốt rợn lên trong vũng sáng lờ mờ như một bông hoa lạ, to, hai
cánh mỏng tang duỗi ra mềm mại, nõn nà y như một lượt da người. Trên một
79
cánh của bông hoa ấy in nguyên một vết bùn máu hằn rõ những khấc hình răng
khế của gót giày cao su giẫm lên. Kiên rùng mình, choáng rợn như bất thần bị
làn roi vút thẳng vào tim. Và trong giây lát, trước mắt anh hiện hình những
bóng ma màu lục, lướt đi không tiếng động, di chuyển êm ru dưới tán rừng,
lẳng lặng vượt qua suối, xuất kỳ bất ý ập vào khu trại…Cả ba cô gái, người
trên nhà, người dưới bếp, người đang tắm, chẳng ai kịp trở tay. Không một
tiếng kêu, có lẽ thế, và không một phát súng” [46, tr.36], tưởng như chỉ là tả, kể
mà gợi cho người đọc cảm giác vừa đớn đau, vừa uất hận. Lựa chọn cách viết
nương theo kí ức (thứ vô định không thể điều khiển được), Bảo Ninh cho thấy
sự táo bạo, chắc tay trong lối viết của mình. Nhà văn dường như chỉ đóng vai
trò người chứng kiến trước tấn bi kịch tình yêu dang dở của Kiên và Phương,
vẫn thản nhiên miêu tả cảnh Phương bị cưỡng bức trên tàu, thản nhiên tả cảnh
Phương tắm phô phang giữa thiên nhiên, thản nhiên kể những giằng xé nội tâm
của Kiên mỗi khi cố gắng quên Phương,… Nhưng người đọc dễ nhận ra đằng
sau sự lạnh lùng ấy, trái tim nhà văn cũng đang rớm máu, rỉ những giọt châu
đau nỗi đau nhân tình.
Bảo Ninh sử dụng giọng điệu lạnh lùng tưởng chừng như vô cảm khi miêu
tả hậu quả chiến tranh tàn phá làng mạc và con người trong Gió dại. Làng
Diêm trở thành “một cái làng cô hồn”, “xiêu vắng”, đổ nát khiến nó “buồn
ngắt, chơ vơ, nổi lên chìm lịm giữa bốn bề mênh mông thảo nguyên bao la
quạnh vắng”. Con người nơi đây “sau cả giờ chết chìm trong pháo bầy cấp tập,
lại tiếp tục những lượt người tan xương nát thịt dưới trận mưa bom rền rền tới
sáng”. Vì vậy, đàn ông thì “què cụt, đui mù, bẹp dí”, đàn bà thì “rách rưới, rạc
rài”, trẻ con thì “trần truồng, bụng ỏng, gầy giơ xương”. Điển hình cho con
người bị tàn phá bởi chiến tranh ở làng Diêm là Diệu Nương. Chiến tranh đã
biến một cô gái yêu đời, trẻ trung xinh đẹp thành “thân tàn ma dại”. “Đêm đến,
trong hỏa ngục rùng rợn, Diệu Nương bị vùi dưới núi xác chết. Hơn một ngày
thở bằng hơi thở của các tử thi rồi cô mới được moi ra, trần truồng, bê bết máu
80
đặc”. Từ đó, cô trở thành một kẻ điên dại, thành “đồ đĩ rạc”, “lúc điên ngấm
ngầm, lúc lấp lửng điên, lang thang, vật vờ, nửa mộng du, lúc bột phát quay
cuồng, mất trí” [45, tr.75]. Đằng sau sự sống không bằng chết của Diệu Nương
là một tâm hồn khao khát yêu thương, khao khát tự do đến cháy bỏng. Cô đã
được sống trong tình yêu thầm lặng của Tuấn “mếu”. Cả hai đã dũng cảm bỏ đi
để được đàn, được hát, được tự do. Tuy nhiên, cuộc chạy trốn của đôi tình nhân
đã không thoát khỏi sự truy lùng của mọi người. Bảo Ninh đã thuật lại cuộc săn
lùng ấy bằng giọng điệu tỉnh táo, lạnh lùng. Kết thúc bi kịch tình yêu là cái chết
của đôi bạn trẻ thật xót xa: “Sau bụi cây bị đạn băm, hai con người ấy quấn lấy
nhau. Những vết đạn như càng vặn xiết hai cơ thể vào nhau. Vào chớp mắt cuối
cùng, người đàn ông dường như đã cố gắng dùng thân mình đỡ đạn cho người
đàn bà. Nhưng đạn khoan qua người họ. Ánh lửa từ bếp lấp loáng trên hai
mảnh lưng trần” [45, tr.86]. Bảo Ninh không ngần ngại gọi Diệu Nương là “đĩ
rạc”, “vi trùng cái”, “giống đàn bà gốc ngụy”… Nhưng đằng sau cái vẻ lạnh
lùng ấy là sự thương cảm cho thân phận một con người. Cũng bằng lối viết lạnh
lùng sắc sảo, Nguyễn Huy Thiệp trong truyện ngắn Tướng về hưu đã cho thấy
sự hoang mang, bất lực và bi kịch không thể hòa nhập cuộc sống đời thường
của một anh hùng trong chiến tranh trước thực trạng hỗn loạn, trước những đổi
thay chóng mặt của xã hội sau chiến tranh.
Miêu tả bằng giọng văn lạnh lùng, khách quan, dù truyện được kể ở ngôi
thứ ba, Bảo Ninh đã miêu tả cuộc sống hậu chiến một cách sinh động, chân
thực. Khi sử dụng giọng điệu này, nhà văn đã lựa chọn cách trần thuật ở ngôi
thứ ba, song người dẫn chuyện không xuất hiện mà cứ để cho sự việc tự nói
nên lời. Chính vì vậy, hiện thực được miêu tả trong tác phẩm của Bảo Ninh
mang màu sắc khách quan hơn, ngôn ngữ trần thuật mang tính đa thanh hơn,
nhà văn trở thành người đồng sáng tạo với độc giả. Tuy vậy, đằng sau vẻ lạnh
lùng ấy là một tấm lòng, một tình cảm, một sự trăn trở day dứt trước thân phận
con người trong và sau chiến tranh.
81
Tiểu kết chương 3
Mỗi nhà văn khi sáng tác đều lựa chọn cho mình lối trần thuật riêng thể
hiện trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách kể chuyện, giọng điệu, điểm
nhìn, cách xây dựng không gian - thời gian,… Bảo Ninh cũng chọn cho mình
một cách thể hiện riêng. Với chủ đề tình yêu đôi lứa, ông đã mang đến cho
người đọc những bức chân dung nhân vật đa dạng mang khát vọng tình yêu. Họ
là những con người đang sống giữa tuổi trẻ và tình yêu, sống trong hiện thực
tàn khốc của chiến tranh nhưng họ luôn khao khát yêu và được yêu. Vẻ đẹp
ngoại hình và tâm hồn của họ hiện lên một cách chân thực, đời thường nhưng
mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Nghệ thuật xây dựng cốt truyện của Bảo Ninh thể hiện sự tìm tòi đổi mới
theo dòng chảy của văn học thời kỳ đương đại. Tất cả nhằm khai thác, lí giải
những vấn đề phức tạp và bí ẩn của con người.
Bảo Ninh có nhiều sự sáng tạo về ngôn ngữ. Ngôn ngữ giàu chất triết lí,
chất trữ tình, lớp từ ngữ gắn với hồi ức nhân vật được sử dụng hiểu quả phản
ánh hiện thực và bộc lộ tư tưởng của tác giả. Bảo Ninh không làm thơ, nhưng
văn ông ẩn chứa một chất thơ đích thực, một chất thơ được gạn lọc từ những
thân phận người.
Bên cạnh đó, Bảo Ninh tạo được giọng điệu đa sắc thái: ngậm ngùi, nuối
tiếc, day dứt, xót xa khi nhà văn hồi tưởng lại những kỷ niệm về tình yêu người
lính thời chiến; giọng điệu khách quan, lạnh lùng khi tái hiện, miêu tả hiện thực
chiến tranh và cuộc sống con người. Trong đó, giọng điệu ngậm ngùi, nuối tiếc,
xót xa là giọng điệu chủ đạo.
82
PHẦN KẾT LUẬN
1. Sau năm 1975, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn, “một kho chất liệu không
thể nào vơi cạn trong nghĩ suy và cảm xúc của con người” (Phong Lê). Thời hậu
chiến, văn học chủ yếu khoét sâu vào mảng hiện thực màu xám của những mất
mát, đau thương, những vấn đề đời tư, thế sự gắn với thân phận cá nhân, số phận
con người. Bởi thế tình yêu đôi lứa cũng được khai thác với tất cả sự đa dạng của
nó. Đó là chấn thương tâm hồn, những vết cứa không có máu chảy nhưng âm
thầm bòn rút tinh thần và thể xác của những người đi ra từ cuộc chiến.
2. Bảo Ninh xứng đáng là một trong những cây bút viết cảm động nhất về
chiến tranh và tình yêu. Khai thác chủ đề này, Bảo Ninh có nhiều trang xúc
động, sâu sắc về số phận con người thời hiện đại. Trong sáng tác của ông,
người đọc nhận thấy có đầy đủ các cung bậc cảm xúc của tình yêu: Tình yêu
đầu đời trong sáng, chân thành; Tình yêu và những nỗi đau đớn, mất mát, xót
xa, nuối tiếc; Tình yêu với những khao khát bản năng đầy nhân văn và cả
những hi sinh vô điều kiện cho tình yêu. Đặc biệt, khi viết về tình yêu và những
khao khát bản năng con người, Bảo Ninh không gợi ở người đọc sự dung tục về
xác thịt mà đem đến một cảm xúc mới. Niềm trăn trở với những góc khuất của
con người cá nhân với nỗi đau thầm kín và nỗi niềm riêng tư không dễ gì bộc
bạch. Tất cả đều nhằm thể hiện hoài bão khám phá đến tận cùng con người đời
tư, khám phá đến tận cùng số phận của con người sau chiến tranh trong cái nhìn
đa diện về con người của nhà văn. Có thể nói, ám ảnh chiến tranh và nỗi đau
thân phận tình yêu đã làm nên “thương hiệu Bảo Ninh”.
3. So với “một lứa bên trời”, điều làm nên sức hấp dẫn riêng của Bảo Ninh
là nhà văn luôn nỗ lực không ngừng để khác người và làm mới chính mình.
Bảo Ninh không làm thơ, nhưng văn ông ẩn chứa một chất thơ được gạn lọc từ
những thân phận người. Ở phương diện nghệ thuật thể hiện chủ đề tình yêu đôi
lứa, ông đã mang đến cho người đọc những bức chân dung nhân vật đa dạng,
được xây dựng kĩ lưỡng từ ngoại hình, ngôn ngữ cơ thể đến thế giới nội tâm
83
phức tạp, bí ẩn nhất. Cốt truyện tình yêu không quá cầu kì, sự kiện, biến cố ít,
thường theo kiểu gặp gỡ - chia biệt, dày đặc nhất là kiểu cốt truyện theo dòng
tâm trạng, vừa thể hiện sự tìm tòi đổi mới theo dòng chảy của văn học thời kỳ
đương đại vừa cho thấy “sự cao tay”, sự già dặn của nhà văn. Bảo Ninh là
người luôn nghiêm túc trong lao động nghệ thuật, đặc biệt là sự sáng tạo về
ngôn ngữ, vừa giàu chất triết lí vừa giàu chất trữ tình, thể hiện chân thực cảm
xúc của nhân vật. Giọng điệu trần thuật trong văn Bảo Ninh đa dạng, phong
phú. Chọn giọng điệu vừa ngậm ngùi, day dứt, vừa khách quan, lạnh lùng để
miêu tả những số phận, những bi kịch của người lính, những thân phận tình yêu
đã giúp Bảo Ninh dễ dàng thể hiện tình cảm của mình. Ông viết bằng cả sự thôi
thúc mãnh liệt trong tâm hồn, như lộn gan ruột mình ra để đau, dằn vặt, day
dứt, vò xé tâm can cùng nhân vật.
4. Nghiên cứu chủ đề tình yêu đôi lứa trong văn xuôi viết về chiến tranh
của Bảo Ninh, chúng tôi nhận thấy rất rõ cá tính riêng, độc đáo của tác giả. Ở bất
cứ hoàn cảnh nào khi yêu thì cuộc đời cũng đẹp, cuộc sống có ý nghĩa và cũng vì
thế mất mát trong tình yêu bao giờ cũng giày vò tâm hồn con người. Nhưng tình
yêu là thế, hạnh phúc hay đau khổ chính là điều kiện để tình yêu còn đập mãi
trong trái tim, là nguồn sống của con người. Hơn hai chục năm qua, Bảo Ninh có
lẽ là nhà văn Việt Nam có dấu ấn nhất trong việc mang được văn học Việt ra
ngoài biên giới một cách hệ thống và được thế giới đón chào trọng thị bằng cuốn
tiểu thuyết duy nhất Nỗi buồn chiến tranh. Người đọc có quyền hi vọng ông sẽ
tiếp tục là người “làm nên chuyện” cho văn học đương đại.
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Vân Anh (2010), Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh,
Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh.
2. Lại Nguyên Ân (2000), 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội.
3. Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn học nghệ thuật hiện
đại, Văn học số 9.
4. Nguyễn Thị Bình (2015), Văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Sư phạm.
5. Nguyễn Thị Bình (1995), “Một phương diện đổi mới trong quan niệm
nghệ thuật về con người”, Tạp chí Khoa học, số 3.
6. Trần Duy Châu (1994), “Từ đâu đến Nỗi buồn chiến tranh”, Tạp chí Cộng
sản, số 10.
7. Nguyễn Minh Châu (1999), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học.
8. Nguyễn Minh Châu (1987), Người lính chiến tranh và nhà văn, Văn nghệ số 4.
9. Nguyễn Thị Chiến (2011), Truyện ngắn Bảo Ninh, Luận văn thạc sĩ,
ĐHSP Thái Nguyên.
10. Nguyễn Công Danh (2010), Bảo Ninh: Con người của thời quá vãng,
my.opera.com.
11. Đinh Xuân Dũng (1995), Văn học Việt Nam về chiến tranh, hai giai đoạn
của sự phát triển, Văn nghệ Quân đội số 7.
12. GS.TS Vũ Dũng chủ biên (2008), Từ điển tâm lí học, Nxb Từ điển Bách
khoa, Hà Nội.
13. Đoàn Ánh Dương (2009), Bảo Ninh - nhìn từ thân phận của truyện ngắn,
Vn Express.
14. Hà Thị Lệ Hà (2015), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh) và “một nửa của
sự thật,…”.
15. Phan Cự Đệ (Chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục.
16. Nguyễn Hương Giang (2001), “Người lính hòa bình trong tiểu thuyết
chiến tranh thời kì đổi mới”, Văn nghệ Quân đội, số 4.
17. Nhiều tác giả (2004), Văn học 1975 - 1985: Tác phẩm và dư luận,
Nxb Hội Nhà văn.
85
18. Ngô Thị Hoàng Giang (2012), Nghiên cứu tình yêu của người trưởng
thành, Luận văn thạc sĩ tâm lí, ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà Nội.
19. Trần Thanh Hà (2005), Từ phân tâm học tìm hiểu tính hiện đại thể hiện
qua tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh, Sông Hương, số
195, tháng 5/2005.
20. Nguyễn Thị Yên Hà (2016), Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dưới góc
nhìn tự sự học, Luận văn thạc sĩ, ĐHKHXH&NV Hà Nội.
21. Nguyễn Phan Hách (1991), Thảo luận về tiểu thuyết Thân phận của tình
yêu, Báo Văn nghệ, số 37.
22. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên (2007), Từ
điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội.
23. Võ Thị Hảo (1995), Truyện ngắn chọn lọc, Nxb Hội Nhà văn.
24. Đỗ Đức Hiểu (2006), Thi pháp hiện đại, Nxb Hội nhà văn.
25. Nguyễn Hòa (1989), Suy nghĩ về vấn đề con người trong văn học viết về
chiến tranh, Văn nghệ số 51.
26. Trần Quốc Hội (2007), “Trình tự” trong thời gian nghệ thuật của Ăn mày
dĩ vãng và Nỗi buồn chiến tranh - tiếp cận từ lí thuyết thời gian của
Genette, Sông Hương, số 225, tháng 11/2007.
27. Đinh Thị Huyền (2008), “Nhân vật của tiểu thuyết “Hậu chiến”, Văn học số 10.
28. Dương Hướng (1998), Bến không chồng, tái bản, Nxb Hội Nhà văn,
29. Đỗ Văn Khang (1991), Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu,
Báo Văn nghệ số 43.
30. Thụy Khuê (1992), Sóng từ trường, Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh.
31. Cao Kim Lan (2014), Người kể chuyện ý thức trong Nỗi buồn chiến tranh
của Bảo Ninh, Tạp chí Sông Hương.
32. Tôn Phương Lan (2014), Tiểu thuyết về chiến tranh sau năm 1975, Phê
bình văn học.
33. Tôn Phương Lan (1994), Chiến tranh trong những tác phẩm văn chương
được giải, (của Hội nhà văn và Bộ quốc phòng), Văn học số 12.
34. Mai Quốc Liên (2012), Đọc truyện ngắn Bảo Ninh, Hồn Việt.
86
35. Nguyễn Văn Long (2002), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục.
36. Phong Lê (1997), Văn học trên hành trình thế kỷ XX, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội.
37. Nguyễn Văn Long - Lã Nhâm Thìn (Chủ biên, 2009), Văn học Việt Nam
sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục.
38. Phương Lựu (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục.
39. Nguyễn Văn Lý (2016), Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết “Nỗi buồn
chiến tranh” của Bảo Ninh, Kỉ yếu Hội thảo Kí hiệu học, Đại học Sư phạm
Hà Nội.
40. Vương Trí Nhàn (2007), “Con người khám phá và con người thích ứng
trong Nỗi buồn chiến tranh”, Tạp chí Nhà văn, số tháng 11-2007.
41. Trần Thị Mai Nhân (2007), “Quan niệm về tiểu thuyết trong văn học Việt
Nam giai đoạn 1986 - 2000”, Nghiên cứu Văn học, số 7.
42. Nguyên Ngọc (1991), “Thảo luận về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh”,
Báo Văn nghệ, số 37.
43. Hiên Ngọc (2018), “Nhà văn Bảo Ninh đoạt giải thưởng văn học châu Á”,
Báo Văn nghệ quân đội Thứ Bảy.
44. Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 1985,
Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Thái Nguyên.
45. Bảo Ninh (2013), Bảo Ninh - những truyện ngắn, Nxb Trẻ.
46. Bảo Ninh (2006), Nỗi buồn chiến tranh - Nxb Văn học.
47. Bảo Ninh (2006), “Nói hay viết dở”, Văn nghệ trẻ.
48. Bảo Ninh (2006), “Văn học đổi mới đến từ cuộc chiến”, Văn nghệ, số 6.
49. Đỗ Hải Ninh (2017), Chiến tranh và những vấn đề hậu chiến trong tiểu
thuyết Việt Nam đương đại, Văn nghệ Quân đội.
50. Chiễm Phong (2016), “Nỗi buồn chiến tranh” - Viết về chiến tranh như
viết về tình yêu, Reading Cafe Staff.
51. Trần Đình Sử (Chủ biên, 1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
52. Phạm Xuân Thạch (2013), Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời
hậu chiến, từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp, Phê bình
văn học
87
53. Phạm Xuân Thạch (2013), Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - suy nghĩ từ
những tác phẩm về chủ đề lịch sử, Phê bình văn học
54. Phạm Xuân Thạch (2013), Về tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo
Ninh, Phê bình văn học
55. Nguyễn Thị Thanh (2012), Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt
Nam sau 1975 - Những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật, Luận án
Tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội.
56. Bùi Việt Thắng (1999) - Bình luận truyện ngắn, Nxb Văn học.
57. Bùi Việt Thắng (2000) - Truyện ngắn, Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn,
Nxb ĐHQG Hà Nội.
58. Nguyễn Thắng (2007), Nhà văn Bảo Ninh bật mí về tiểu thuyết cuối cùng,
GIADINH.NET.VN.
59. Bùi Việt Thắng (2005), Tiểu thuyết đương đại, Nxb Quân đội nhân dân.
60. Bùi Việt Thắng (2000), Bàn về tiểu thuyết, Nxb VHTT.
61. Bùi Việt Thắng (2016), Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới 1986 - 2016
những bước thăng trầm, Văn nghệ, số 24.
62. Đoàn Cầm Thi (2004), Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt
Nam đương đại, Vn Express.
63. Đoàn Cầm Thi (1994), Về nhân vật Phương, người phụ nữ Hà Nội
trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Hợp Lưu, số 15.
64. Bích Thu (1989), “Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975”, Văn học,
số 9.
65. Bích Thu (1995), “Những dấu hiệu đổi mới của văn xuôi từ sau 1975 qua
hệ thống mô típ chủ đề”, Văn học số 4.
66. Bùi Đỗ Kim Thuần (2013), Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bảo Ninh,
luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP HCM.
67. Nguyễn Đình Tiến (1996), “Viết về chiến tranh sau chiến tranh”, Tạp chí
Văn nghệ Quân đội, số 9.
68. Nguyễn Thị Kim Tiến (2010), “Con người trong tiểu thuyết thời hậu chiến
viết về chiến tranh”, Tạp chí khoa học ĐHSP TPHCM, số 23.
88
69. Phạm Ngọc Tiến (2017), Bảo Ninh - Nhà văn ít người hiểu nổi, Báo Tiền phong.
70. Phạm Văn Tình (2008), Nỗi buồn chiến tranh trong tiến trình đổi mới tiểu
thuyết Việt Nam đương đại, Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh.
71. Nguyễn Đình Tú (2007), “Đề tài chiến tranh với người viết trẻ”, Tạp chí
Văn nghệ Quân đội, số 606.
72. Lưu Thị Thanh Trà (2006), Đề tài chiến tranh chống Mỹ trong truyện
ngắn Bảo Ninh, luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh.
73. Văn Thị Phương Trang (2014), Hình tượng con người bản năng trong văn
xuôi Việt Nam hiện đại, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, ĐHKH Huế tập
1, số 2.
74. Hoàng Minh Vy (2017), Hình tượng người lính trong truyện ngắn Việt
Nam sau 1975, Văn nghệ Quân đội.
75. Nguyễn Thị Thanh Xuân (2006), Ngôn ngữ nghệ thuật trong Nỗi buồn
chiến tranh của Bảo Ninh, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội.
89
BẢNG KHẢO SÁT VỀ SỐ NHÂN VẬT LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ TÌNH YÊU TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
STT Tên tác phẩm Nhân vật
1 Ba cô gái ở Truông Gọi Hồn - các chàng Nỗi buồn chiến tranh
lính trinh sát
Kiên - Lan
Kiên - Hạnh
Kiên - Hòa
Kiên - người đàn bà câm
Kiên - Phương
“Tôi” - Nhật Giang 2 Giang
Diệu Nương - Tuấn 3 Gió dại
Phúc - Quỳnh 4 Thời tiết của ký ức
Mộc - Nga - Huy 5 Trại “bảy chú lùn”
“Tôi” - Thủy 6 Sách cấm
Dì Út 7 Tòa dinh thự
Trung, Giang, Pét xồm, “tôi” 8 Hà Nội lúc không giờ
Quang, “tôi” - Loan 9 Rửa tay gác kiếm
“Tôi” - cô gái Hà Nội 10 Khắc dấu mạn thuyền
“Tôi” 11 Bí ẩn của làn nước
“Tôi” - Duyên - Hưởng 12 Thách đấu
Tư Lâm - Liễu 13 Kỳ ngộ
Vinh - Hạnh 14 Quay lưng
Vũ - Hiền 15 Tình thư
Tổng số 40 nhân vật
90
BẢNG KHẢO SÁT BIỂU HIỆN TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG VĂN
XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
STT Tên tác phẩm Biểu hiện tình yêu đôi lứa
1 - Tình yêu và những rung cảm đầu đời trong Nỗi buồn
sáng: Mối tình Kiên và Phương trước chiến tranh, chiến tranh
tình yêu tuổi học trò của họ sáng trong, mãnh liệt.
- Tình yêu và nỗi đau thân phận: Sau chiến tranh,
Phương trở thành một ca kĩ, sống buông thả, đi ban
phát tình yêu cho những người đàn ông khác. Kiên
may mắn sống sót trở về, họ vẫn yêu nhau nhưng
không bao giờ có thể quay lại như trước nữa. Họ
mất khả năng yêu đương, khả năng hòa nhập.
- Tình yêu và những khao khát bản năng:
+ Mối tình “qua đường” của ba cô gái liên lạc trong
rừng với các đội viên trinh sát. Họ tìm đến nhau
không gì ngoài nhu cầu thỏa mãn những khát thèm
đời sống dục vọng.
+ Những khao khát gần gũi của Kiên - Phương.
- Những mối tình thầm lặng: Mối tình giữa chàng
bộ đội với Lan ở đồi Mơ, Kiên và Hòa, Kiên và
người đàn bà câm sống trên gác mái.
2 Những rung động đầu đời trong veo, tinh khiết của Giang
chàng lính binh nhì 17 tuổi và cô nữ sinh Nhật Giang.
3 - Những cuộc tình vụng trộm liên quan đến Diệu Gió dại
Nương và những người đàn bà ở làng Diêm.
- Mối tình bi kịch của Tuấn và Diệu Nương cho
thấy niềm khao khát tự do và hạnh phúc.
4 Thời tiết của kí ức Sự khắc khoải về những năm tháng không được sống
cùng nhau của Phúc và Quỳnh, niềm khắc khoải đeo
đẳng theo suốt cuộc đời ông Phúc.
91
STT Tên tác phẩm Biểu hiện tình yêu đôi lứa
5
Trại “bảy chú lùn”
Tình yêu đơn phương, vô vọng của Mộc đối với Nga. Nga đã yêu người khác, sinh con cho người khác, nhưng tình yêu Mộc dành cho Nga vẫn không thay đổi. Cuối cùng, Nga bỏ đi, để lại con gái cho Mộc nuôi và vẫn lặng lẽ chờ đợi nơi rừng già với hi vọng có ngày Nga quay trở lại.
6 Tòa dinh thự
Câu chuyện tình yêu của dì Út và dượng bị chiến tranh cào xé, vằm nát và cướp đi hạnh phúc con người một cách trắng trợn, tàn nhẫn nhất. Cả đời dì đi theo tiếng gọi của tình yêu nhưng cuối cùng chẳng một ngày được sống trong tình yêu đúng nghĩa.
7
Hà Nội lúc không giờ
Từ chính sinh hoạt chung ở khu chung cư, bao tình yêu đã nảy nở: tình yêu của Trung, của Pét xồm với Giang. Còn tình yêu âm thầm, vô vọng của nhân vật “tôi” dành cho chị Giang từ lúc 13 tuổi đến thời hậu chiến là khoảng trời riêng lặng lẽ mà ám ảnh.
8
Rửa tay gác kiếm Nỗi xót xa của người chồng bị phụ bạc nhưng bản thân người vợ cũng không có lỗi. Sự thấu hiểu, lời minh oan của Quang đối với vợ thật ra cũng là một cách tự an ủi chính mình vượt qua nỗi đau thân phận. Cuối cùng, Quang “đi tìm lại người thân yêu thuở xưa và đi tìm miền nương thân mới”.
9
Bí ẩn của làn nước
Nỗi chua chát về một định mệnh oái oăm. Nỗi khổ đau mất mát vợ con chỉ mình “tôi” biết và trở thành nỗi niềm đeo đẳng cả đời. Anh chỉ còn biết buông nỗi nhớ vợ con theo dòng nước với nỗi đau khổ không gì khuôi ngoai được.
10
Khắc dấu mạn thuyền
Đặt tình yêu dưới mưa bom đạn nổ, ghi dấu một lần gặp gỡ mà không bao giờ có lần thứ hai, không bao giờ gặp lại nhau nữa.

