BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN TÁM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO HỌC SINH LỚP 9 TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI QUẬN 2 - TP.HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VĂN TÁM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM CHO HỌC SINH LỚP 9 TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN Ở TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI QUẬN 2 - TP.HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60. 14. 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ THỊ HỒ QUANG
NGHỆ AN - 2013
0
BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
Nxb: Nhà xuất bản
SGK: Sách giáo khoa
SGV: Sách giáo viên
THCS: Trung học cơ sở
PPDH: Phương pháp dạy học
STT: Số thứ tự
CB: Cơ bản
NC: Nâng cao
TN: Thực nghiệm
ĐC: Đối chứng
GD: giáo dục
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số
trang đứng sau. Ví dụ: [57, 14] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài
liệu tham khảo là 57, nhận định trích dẫn nằm ở trang 14 của tài liệu này.
0
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu, khảo sát 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của đề tài 3
7. Cấu trúc của luận văn 3
5
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc Tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường Trung học cơ sở tại Quận 2 - Tp. Hồ Chí Minh
1.1. Giới thuyết khái niệm 5
1.1.1. Khái niệm nhóm và hoạt động nhóm 5
1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động nhóm 6
1.1.3. Các nguyên tắc và đặc điểm hoạt động nhóm 9
1.1.4 Các đặc trưng của việc giao nhiệm vụ 10
1.1.5. Kỹ năng thành lập và quản lí nhóm 11
1.2. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh 14
trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở ngữ văn 9 tại Q.2 Tp.HCM
1
1.2.1. Cơ sở giáo dục học 14
1.2.2. Cơ sở tâm lí học 16
1.2.3. Cơ sở lí luận dạy học 18
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc Tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh 20
lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường Trung học cơ sở tại Q.2
Tp.HCM
1.3.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của Q.2, Tp.HCM 20
1.3.2. Thực trạng dạy đọc – hiểu văn bản trong chương trình Ngữ 21
văn 9 ở các trường THCS tại Quận 2 – Tp Hồ Chí Minh
1.3.3. Việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy 23
học Đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 9 ở các trường THCS tại Q.2
Kết luận chương 1 25
26 Chương 2: Nguyên tắc và quy trình tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh lớp 9 trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS
26 2.1. Tổng quan về chương trình Đọc – hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 9
2.2. Những định hướng tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong 29
giờ Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 9 ở trường THCS tại Q.2
2.2.1. Phải xác định rõ mục tiêu của hoạt động nhóm trong giờ 29 Đọc - hiểu văn bản
2.2.2. Vấn đề thảo luận phải phù hợp đặc trưng của bài Đọc – 33 hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn 9
2.2.3. Cần linh hoạt và sáng tạo khi sử dụng hình thức tổ chức 39 nhóm trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 9
2
2.2.4. Phải kết hợp tổ chức nhóm với nhiều phương pháp, biện 42 pháp dạy học khác để nâng cao hiệu quả dạy Đọc – hiểu văn bản
46 2.3. Một số biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Q.2
2.3.1. Hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản thơ 46
2.3.2. Hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản truyện 51
2.3.3. Hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản kịch 62
2.3.4. Hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản nghị luận 66
2.3.5. Hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản nhật 70
dụng
Kết luận chương 2 74
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 75
3.1. Mục đích, yêu cầu của hoạt động thực nghiệm 75
3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 75
3.3. Nội dung thực nghiệm 75
3.4. Giáo án thực nghiệm 76
3.4.1. Hoạt động nhóm trong bài đọc - hiểu văn bản thơ 76
3.4.2. Hoạt động nhóm trong bài đọc - hiểu văn bản truyện 77
Giáo án 1 78
Giáo án 2 82
Giáo án 3 90
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 97
3
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 107
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Chúng tôi mở đầu luận văn này bằng cách dẫn câu chuyện ngụ
ngôn “Rùa và Thỏ” được phát triển thêm trên trang hieuhoc.com. Câu chuyện
được phát triển thêm phỏng theo truyện ngụ ngôn của LaPhontain. Câu
chuyện được diễn ra với 4 cuộc đua, cuộc đua đầu rùa thắng, cuộc đua thứ 2
thỏ thắng. Nhưng câu chuyện không dừng lại ở đó, cuộc đua thứ 3 diễn ra lần
này đường đua do rùa chọn và dĩ nhiên rùa thắng do đích đến cách một con
sông (thỏ không bơi qua được). Ít lâu sau, rùa và thỏ đã trở thành đôi bạn
thân, một ngày chúng rủ nhau cùng làm thành một đội và đua trên đường đua
cũ. Cuộc đua bắt đầu thỏ cõng rùa chạy đến bờ sông, đến bờ sông rùa cõng
thỏ bơi qua sông. Kết quả cả rùa và thỏ đều nhận ra là lần chạy này cả hai
cùng về đích khi vượt qua được những chướng ngại vật với thời gian nhanh
hơn rất nhiều so với những lần đua trước.
Qua câu chuyện này chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một cá nhân nào
cũng có điểm mạnh và điểm yếu. Mỗi người đều thông minh và đều có ưu
điểm riêng, nhưng chỉ khi họ cùng làm việc với nhau trong một đội và cùng
chia sẻ, cống hiến ưu thế của từng người thì công việc mới trở nên hoàn thiện
mỹ mãn. Nếu làm một mình, con người ta không bao giờ thực hiện công việc
được một cách hoàn hảo bởi vì luôn luôn có những trường hợp người này
không thể làm tốt hơn người kia. Và do đó, tinh thần đồng đội là yếu tố quyết
định thành công trong công việc. Và tinh thần đồng đội đó chỉ đƣợc nuôi
dƣỡng, phát triển khi con ngƣời làm việc trong một nhóm với nhau.
1.2. Ở nhiều nước có nền giáo dục phát triển hiện nay, việc tổ chức dạy
học nhóm là một hình thức hoạt động hết sức quan trọng và mang lại nhiều
hiệu quả thực sự cho nhiều môn học. Tuy nhiên, ở nước ta, từ trước đến nay
việc tổ chức hoạt động nhóm trong giờ học chỉ mới diễn ra ở một mức độ nào
2
đó, chủ yếu để đối phó với việc kiểm tra, thanh tra đổi mới phương pháp dạy
học. Nó chưa được giáo viên xem là một phương pháp dạy học hiệu quả ở
Việt Nam, nhất là trong môn Ngữ văn, mà cụ thể là trong phần Đọc – hiểu
văn bản. Điều này đòi hỏi phải có những công trình nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề này.
1.3. Quận 2 là một quận ven thành phố Hồ Chí Minh, đến nay thực
trạng giáo dục vẫn còn gặp nhiều khó khăn chủ quan cũng như khách quan.
Theo tìm hiểu của chúng tôi thì hiện nay chưa có công trình nào tập trung đi
sâu vào nghiên cứu vấn đề hoạt động nhóm trong giờ dạy Đọc – hiểu văn bản
nhất là cho từng cấp học. Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn Tổ chức hoạt
động nhóm cho học sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường Trung
học cơ sở tại Quận 2 - Tp. Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
Hy vọng luận văn này phần nào đặt nền móng cho các nghiên cứu đầy đủ về
sau cho cả cấp học THCS ở quận nhà.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đọc – hiểu văn bản là một trong những nội dung hoạt động cơ bản nhất
của môn Ngữ văn ở trường phổ thông nói chung và cấp THCS nói riêng.
Về nghiên cứu tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh có rất nhiều tác
giả trong và ngoài nước chuyên tâm tìm hiểu. Song, việc nghiên cứu tổ chức
hoạt động nhóm cho học sinh cấp THCS thì chưa có. Và đặc biệt cho riêng
môn ngữ văn lớp 9 lại càng chưa có. Về vấn đề tổ chức hoạt động nhóm cho
học sinh lớp 9 trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Quận
2 - Tp. Hồ Chí Minh thì chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể, toàn diện,
hệ thống mà chỉ mới có những ý kiến lướt qua trong các công trình nghiên
cứu về tổ chức hoạt động nhóm, tổ chức thảo luận, hay dạy học hợp tác trong
dạy học Ngữ văn nói chung.
3
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Hoạt động nhóm của học sinh
lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Quận 2, Tp.Hồ Chí
Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động
nhóm.
- Xây dựng những nguyên tắc và quy trình, cách thức tổ chức hoạt
động nhóm.
- Thực nghiệm sư phạm.
4. Phạm vi nghiên cứu, khảo sát
Tổ chức hoạt động nhóm trong giờ dạy đọc hiểu văn bản lớp 9 tại các
trường THCS tại Quận 2 – Tp Hồ Chí Minh
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau:
5.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp thống kê – phân loại
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp so sánh – đối chiếu
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra – phỏng vấn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5.3. Các phƣơng pháp khác
6. Đóng góp của đề tài
- Góp phần cụ thể hóa những cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động
nhóm cho học sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản.
4
- Đề xuất những nội dung cụ thể, có tính ứng dụng về nguyên tắc,
phương pháp, quy trình của việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh lớp 9
trong giờ Đọc – hiểu văn bản.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung chính
của luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động nhóm cho học
sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Quận 2 - Tp. Hồ
Chí Minh
Chương 2: Định hướng và biện pháp tổ chức hoạt động nhóm cho học
sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Quận 2 - Tp.Hồ
Chí Minh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM
CHO HỌC SINH LỚP 9 TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN
Ở TRƢỜNG THCS TẠI QUẬN 2 - TP. HỒ CHÍ MINH
1.1. Giới thuyết khái niệm
1.1.1. Khái niệm nhóm, hoạt động nhóm
Nhóm là một số người làm việc cùng nhau vì những mục tiêu cụ thể
trong một lĩnh vực hoạt động xác định. Ông cha ta cũng đã từng khẳng định
lợi ích của tinh thần đoàn kết. Có lẽ trước đây chúng ta chưa có khái niệm làm
việc theo nhóm. Nhưng dù gì đi nữa câu tục ngữ dưới đây cũng phần nào thể
hiện được kinh nghiệm và sức mạnh của việc hợp tác trong công việc:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Làm việc theo nhóm hay là một cách gọi khác của tinh thần đoàn kết. Ở
đấy có sự cộng tác của nhiều cái đầu lại với nhau. Họ làm việc trên tinh thần
xây dựng, đoàn kết, nhất trí cao.
Thực tế là, trong đời sống xã hội thì nhóm vô cùng quan trọng. Xã hội
vốn phải tồn tại và phát triển dựa vào nhóm cộng đồng. Một cá thể không thể
duy trì được sự tồn tại lâu dài mà phải dựa vào mối liên kết giữa các cá thể
trong cộng đồng. Trong đời sống ngày nay thì nhóm lại càng thể hiện được
vai trò của nó. Loài người là một tập thể sống có tổ chức xã hội cao nhất, tuân
theo những quy tắc nhất định và vì mục tiêu, lợi ích chung của cả cộng đồng.
Mà nhóm là tập hợp những người có tổ chức, hoạt động theo những nguyên
tắc nhất định, nhằm đạt tới mục tiêu và lợi ích chung. Do đó, không ngẫu
nhiên mà trong đời sống hiện đại người ta tận dụng triệt để những ưu điểm
6
của liên kết nhóm. Trong hoạt động học tập cũng vậy, tổ chức hoạt động
nhóm là rất cần thiết và quan trọng đối với học sinh.
Như vậy, theo chúng tôi, có thể nêu khái niệm về nhóm một cách ngắn
gọn như sau: Nhóm là tập hợp người được xác định bởi các mối quan hệ
tương tác, cùng chia sẻ mục tiêu chung, cùng tuân theo một hệ thống quy tắc
nhất định và mỗi thành viên đóng những vai trò khác nhau.
Hoạt động nhóm chính là sự tương tác giữa các thành viên dưới sự chỉ
đạo của trưởng nhóm dựa vào những nguyên tắc nhất định, vì mục tiêu của
nhóm và mục đích riêng của mỗi thành viên. Sự tương tác đó phải dựa trên sự
hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm. Đó chính là sự tự nguyện
của các cá nhân cùng nhau làm việc một cách bình đẳng trong một tập thể
nhóm. Các thành viên tiến hành hoạt động nhằm mục đích và lợi ích chung
đồng thời đạt được mục đích và lợi ích riêng của mỗi thành viên trên cơ sở nỗ
lực chung. Hoạt động của từng cá nhân trong quá trình tham gia công việc
phải tuân theo những nguyên tắc nhất định và sự phân công trách nhiệm,
nghĩa vụ cụ thể cho từng thành viên trong nhóm. Trong quá trình giải quyết
nhiệm vụ chung của cá nhân có thể sẽ xảy ra một số mâu thuẫn và sự điều hòa
những mâu thuẫn đó là cần thiết để nhóm tiến đến một tầm cao hơn, các thành
viên hiểu nhau hơn, biết lắng nghe hơn và biết hành động vì người khác, vì
lợi ích chung, tự tin hơn trong môi trường cộng đồng, biết bỏ qua cái tôi và sự
ích kỉ. Hoạt động nhóm là kĩ năng rất cần thiết đối với mỗi con người, đối với
học sinh lại là kĩ năng sống vô cùng quan trọng. Do vậy mà hoạt động nhóm
sẽ đem lại những lợi ích to lớn cho người học nếu trong quá trình dạy học
chúng ta biết vận dụng một cách hợp lí.
1.1.2. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động nhóm
Hoạt động nhóm có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội, với sự
phát triển xã hội. Sự gắn kết nhiều cá thể mang lại sức mạnh tổng hợp cho
nhân loại, đoàn kết đem lại trí tuệ lớn lao và sức mạnh. Bất kì sự kiện lịch sử
7
nào cũng đều được thực hiện bởi một nhóm. Bất cứ vấn đề gì chúng ta đều có
thể cùng nhau giải quyết còn nếu như chỉ có một người thì chỉ có thể giải
quyết được một vài vấn đề mà thôi. Do vậy: làm việc, học tập theo nhóm sẽ là
chìa khóa để tạo ra những thành tựu vĩ đại, rất quan trọng đối với sự phát triển
mỗi cá nhân, với từng nhóm riêng lẻ và với bất kì đất nước, dân tộc nào.
Chúng ta biết nhóm gồm nhiều người vì thế mà nguồn nhân lực, trí lực,
ý tưởng và động lực lớn hơn rất nhiều so với một cá nhân. Trong quá trình
làm việc, học tập, khi tình huống có vấn đề xảy ra cần đến sự chung sức, góp
trí của nhiều người thì hoạt động nhóm có ý nghĩa quan trọng đối với việc
giải quyết vấn đề. Dù là trong làm việc hay học tập, chúng ta thấy rằng, đứng
trước một tình huống khó khăn, mọi người cùng chung tay thì vấn đề đó sẽ
được giải quyết nhanh hơn so với việc để cho một người nát óc suy nghĩ.
Trong khi làm việc nhóm thì ưu điểm của các cá nhân thành viên sẽ
phát huy tối đa và hạn chế các thành viên sẽ giảm đến tối thiểu. Trong một
môi trường làm việc hợp tác, giao lưu lẫn nhau thì sự nhìn nhận, ảnh hưởng
của các thành viên lẫn nhau sẽ tạo ra điều đó. Khi làm việc chung, mọi người
sẽ cố gắng thể hiện ưu điểm của mình, ưu điểm của cá nhân này ảnh hưởng
đến cá nhân khác. Do đó, nghiễm nhiên nhược điểm sẽ khuất đi dành chỗ cho
những ưu điểm tốt nhất của họ. Còn khi đứng độc lập, ưu nhược điểm của cá
nhân sẽ rất rõ ràng, nó bộc lộ nhiều hơn.
Nhiều người làm việc trong một nhóm sẽ tập hợp được nhiều ý tưởng
để đáp ứng yêu cầu hoặc mục tiêu đề ra, do đó mà có nhiều phương án, giải
pháp cho tình huống. Nhóm với số đông nên họ có thể nhìn nhận vấn đề một
cách toàn diện và sâu sắc. Điều này không hề dễ dàng với một cá nhân. Một
cá nhân chỉ đem đến một vài ý tưởng, chỉ nhìn nhận vấn đề ở một số phương
diện nào đó thôi. Như vậy, trí tuệ của cả tập thể sẽ được phát huy tối đa và
hiệu quả hơn nhiều so với việc chúng ta để từng thành viên hoạt động riêng
8
lẻ. Đó là chưa kể đến sự tương trợ giữa các thành viên với nhau, nó đem lại
nguồn sức mạnh tổng hợp.
Hoạt động nhóm sẽ tạo dựng được mối quan hệ giữa các cá nhân với
nhau. Làm việc cùng nhau thì họ có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm thành công và
cả những kinh nghiệm thất bại. Và điều này giúp cho tất cả các thành viên
trưởng thành hơn. Thành công hay thất bại thì mọi người trong nhóm sẽ chia
nhau mỗi người một phần. Nhưng nếu như khi chỉ có một cá nhân thì sao?
Việc giải quyết vấn đề một mình sẽ vất vả và khó hoàn chỉnh mĩ mãn. Cũng
trong tập thể mà mọi người chia sẻ thành công, kinh nghiệm, ý tưởng và thậm
chí là cả thất bại thì mỗi thành viên sẽ xích gần lại với nhau. Điều đó sẽ tạo ra
mối quan hệ hợp tác tốt đẹp hơn là sự đối đầu hay tự mãn.
Trong quá trình hoạt động nhóm, mọi người có thể giao tiếp trực tiếp
với nhau. Đây là quá trình để mọi người hình thành kĩ năng sống thông qua
giao tiếp trong làm việc, học tập. Đồng thời mọi người có thể học được những
điều cần thiết thông qua giao tiếp, bằng giao tiếp. Đó cũng là cách học giao
tiếp hiệu quả khi mà ngày nay kĩ năng giao tiếp là rất cần thiết.
Khi đã đề ra mục tiêu hoạt động cho cả nhóm làm việc, học tập thì cả
nhóm sẽ có trách nhiệm với mục tiêu đã đề ra đó. Trong khi đó cá nhân không
bị ràng buộc do vậy họ có thể dễ dàng thay đổi mục tiêu, ý tưởng, chính kiến.
Điều này khiến cho việc đảm bảo mục tiêu công việc, học tập là rất khó khăn.
Một điều không thể phủ nhận, nhóm hoạt động có nguyên tắc, quy củ,
có mục tiêu cụ thể thì bao giờ cũng làm được nhiều việc hơn là một cá nhân.
Sự không tương xứng giữa lực lượng, trí tuệ tập thể và cá nhân đã tạo ra điều
đó. Do vậy, để đảm bảo thực hiện mục tiêu, thực hiện nhiều việc một lúc thì
hoạt động nhóm là hết sức ý nghĩa.
Dĩ nhiên để hoạt động nhóm có những ý nghĩa tích cực như trên thì
cũng cần có những yêu cầu nhất định. Ví như, hoạt động nhóm thì phải có
thời gian tương đối đồng thời đòi hỏi nhóm trưởng phải có nhiều kĩ năng như
9
kĩ năng tổng hợp thông tin, phân tích vấn đề, hướng dẫn thảo luận, ứng xử,
lãnh đạo nhóm…Vượt lên được những yêu cầu như thế này thì hoạt động
nhóm thực sự có ích rất lớn trong làm việc và học tập. Chỉ cần chúng ta
hướng đến mục tiêu đã đề ra bằng sự đoàn kết, năng lực thực sự, nhiệt huyết,
cống hiến thành thực thì hoạt động nhóm không có gì là trở ngại, khó khăn
mà nó sẽ đem đến những thành quả xứng đáng với công sức mà mỗi thành
viên đổ ra để đạt được mục tiêu của công việc, học tập.
1.1.3. Các nguyên tắc và đặc điểm của hoạt động nhóm
Khi tổ chức hoạt động học tập theo nhóm cần đảm bảo được một số
nguyên tắc quan trọng sau: tôn trọng, bình đẳng, chia sẻ, trợ giúp, chung sức.
Nguyên tắc tôn trọng: các thành viên trong một nhóm tôn trọng lẫn
nhau, lắng nghe ý kiến của các thành viên trong nhóm. Sự tôn trọng lẫn nhau
là cần thiết bởi nó duy trì được không khí đoàn kết của cả nhóm. Việc các
thành viên tôn trọng lẫn nhau cũng là việc mọi người được học tập lẫn nhau,
thu thập thông tin, ý tưởng nhiều chiều.
Nguyên tắc bình đẳng: Các thành viên đều phải góp sức lực, trí tuệ như
nhau để hướng đến mục tiêu chung của cả nhóm. Việc cùng nhau giải quyết
vấn đề sẽ là điều kiện để các thành viên hiểu nhau hơn, hướng đến mục tiêu
chung nhanh hơn, giải quyết vấn đề thấu đáo hơn đồng thời mọi người thể
hiện được sự tôn trọng lẫn nhau.
Nguyên tắc chia sẻ: Việc chia sẻ cùng nhau sẽ giúp cho các thành viên
dần bỏ đi sự ích kỉ cá nhân mà hướng đến mục tiêu chung. Để chia sẻ được
thì mọi người phải hướng đến cái chúng ta và bỏ qua cái ta của mỗi cá nhân.
Mọi người không phải ai cũng hoàn hảo vì vậy sẽ cần đến sự giúp đỡ
của người khác. Sự giúp đỡ rất quan trọng khi học tập và làm việc theo nhóm.
Đó chính là nguyên tắc trợ giúp khi học tập theo nhóm.
10
Các thành viên chung nhau công sức, trí tuệ để thực hiện mục tiêu của
nhóm. Bao giờ cũng vậy, sức mạnh tập thể sẽ mạnh hơn rất nhiều so với một
cá nhân đứng riêng lẻ. Đó chính là nguyên tắc chung sức.
Để cho nhóm hoạt động hiệu quả thì việc tuân thủ các nguyên tắc là
điều nhất thiết phải thực hiện. Và hơn tất cả giá trị của nhóm đó chính là họ
đã học được những điều tốt đẹp từ những người mà họ giao tiếp để làm cho
bản thân hoàn thiện hơn trong quá trình học tập, làm việc.
1.1.4. Các đặc trƣng của việc giao nhiệm vụ
Thứ nhất, sự tự do trong lựa chọn nhiệm vụ của người học sẽ thúc đẩy
động cơ nội tại của họ. Dẫn đến giải phóng họ hoàn toàn và thúc đẩy họ tham
gia vào nhiệm vụ một các sâu sắc hơn. Bản chất và thời điểm lựa chọn cũng
rất đa dạng: lựa chọn một nhiệm vụ riêng trong tổng thể các nhiệm vụ, lựa
chọn các bước tiến hành, các nguồn lực cần huy động,…Cuối cùng tuỳ thuộc
vào mục tiêu sau đó mà người dạy quyết định nhân sự cho nhiệm vụ đã được
lựa chọn.
Thứ hai, thách thức chính là ở mức độ khó khăn của nhiệm vụ. Một
nhiệm vụ có tính phức tạp trung bình sẽ mang tính thúc đẩy hơn bởi lẽ nếu nó
quá dễ thì sẽ dẫn đến sự nhàm chán, ngược lại nếu quá khó thì học sinh dễ
nản lòng. Thách thức đối với người dạy là ở chỗ xác định được đúng mức độ
khó khăn của nhiệm vụ.
Thứ ba, điều quan trọng là người học phải đánh giá được kết quả mong
đợi, khả năng cần huy động và cần phát triển đối với chính bản thân mình.
Việc kiểm soát là rất quan trọng để thiết lập nên mối quan hệ giữa tính tự chủ
của người học và động cơ cho các nhiệm vụ còn lại. Đối với người dạy thì
điều quan trọng là biết đưa ra các chỉ dẫn, các mục tiêu cần đạt được, khuôn
khổ hoạt động cũng như là mức độ đòi hỏi đối với người học.
Thứ tư, nhằm phát triển kỹ năng giao tiếp xã hội. Việc cộng tác sẽ làm
tăng động cơ học tập của người học. Cần chú ý rằng phương pháp học tập
11
theo nhóm được đánh giá cao hay thấp tuỳ theo vào nội dung mà ta muốn
truyền đạt. Theo một vài tác giả, phương pháp này sẽ hiệu quả hơn đối với
việc giải quyết các vấn đề, những nhiệm vụ không quá dễ đòi hỏi sự sáng tạo,
ý tưởng đa dạng. Một nhiệm vụ càng gần với kinh nghiệm cá nhân hoặc với
công việc sau này của người học sẽ có nhiều cơ hội khích lệ người học tham
gia hơn.
Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, tuỳ thuộc vào chủ đề của nhóm,
sự không đồng nhất giữa các HS cũng có thể có những nhược điểm như: quá
nặng đối với một vài thành viên dẫn đến chậm trễ trong công việc, hoặc khó
thực thi.
Trong bất kỳ trường hợp nào, GV luôn phải tổ chức tốt việc chất vấn ý
kiến vì chính việc này sẽ làm thay đổi về nhận thức của HS. Người dạy không
nên can thiệp quá sâu vào nội dung mà chỉ giữ vai trò chỉ dẫn. Chỉ cung cấp
những thông tin cần thiết, theo dõi ý kiến, quan điểm của mỗi một thành viên
và duy trì hướng đi cho các nhóm theo đúng nhiệm vụ được giao.
Như vậy, để đạt được hiệu quả cao nhất, trước hết phải có sự phân công
công việc hợp lý. Điều này phụ thuộc nhiều vào vai trò và khả năng chỉ đạo
của người nhóm trưởng. Khi công việc được phân chia rõ ràng cho từng thành
viên họ sẽ ý thức được vai trò của mình, có trách nhiệm hoàn thành công việc.
1.1.5. Kỹ năng thành lập, quản lí
nhóm
Hoạt động nhóm cũng phải có
một số kĩ năng nhất định thì mới đạt
được hiêu quả cao. Các kĩ năng hoạt
động nhóm bao gồm kĩ năng giải quyết
vấn đề, kĩ năng xử lí mâu thuẫn, kĩ năng lãnh đạo nhóm.
12
Để giải quyết được vấn đề nào đó đầu tiên người ta phải nhận ra vấn đề
cần giải quyết là gì, tức là phải hiểu đúng câu hỏi đã đặt ra cho mình, nắm
được cốt lõi yêu cầu của vấn đề và yêu cầu đạt được. Lúc đó người trưởng
nhóm sẽ phân công công việc cho từng thành viên sao cho phù hợp với năng
lực và thế mạnh của mỗi thành viên. Trong quá trình đó mọi người phải tìm ra
nguyên nhân của vấn đề, thu thập thông tin cần thiết để chắp nối thành môt
câu trả lời hoàn hảo. Để giải quyết vấn đề thấu triệt, đạt được mục tiêu đề ra
thì cả nhóm cần phải tư duy nhiều chiều, xem xét vấn đề ở nhiều mặt, nhiều
bình diện khác nhau. Mọi người tranh luận tích cực, người lãnh đạo cần
khuyến khích mọi người bàn bạc thảo luận, ngay cả những ý kiến trái chiều.
Điều quan trọng là cuối cùng mọi người chắt lọc thông tin để tạo ra một câu
trả lời, phương án, ý tưởng hoàn chỉnh nhất.
Trong quá trình làm việc nhóm, các thành viên không hoàn toàn đồng
nhất về năng lực, thái độ. Điều đó làm cho không khí trong nhóm không thoải
mái và gây ra sự bất bình giữa các thành viên trong nhóm. Do vậy mọi người
phải biết lắng nghe, tương trợ, chia sẻ, chung sức cùng nhau để hoàn thành
nhiệm vụ. Lúc này, điều quan trọng là mọi người phải tôn trọng và lắng nghe
lẫn nhau. Sau đó tổng hợp ý kiến, tập hợp và chọn ra câu trả lời, giải pháp tối
ưu nhất. Trong hoạt động nhóm thì mâu thuẫn là một việc đương nhiên nhưng
cần thấy được mâu thuẫn nào có ích, mâu thuẫn nào có hại. Nếu là mâu thuẫn
có ích thì nó sẽ thúc đẩy ý kiến, tính sáng tạo và sự ham thích của các thành
viên; nó gây ra những yêu cầu cần được giải quyết, buộc mọi người phải làm
rõ quan điểm của họ và tìm ra cách tiếp cận mới cho mọi vấn đề đồng thời tạo
cơ hội cho mọi người kiểm tra năng lực, khả năng của họ. Nếu là mâu thuẫn
có hại thì sẽ giảm hiệu suất làm việc, gây bê bối, gây ra những căng thẳng
không đáng có, mất sự đoàn kết giữa các thành viên, cả nhóm mất thời gian
sắp xếp lại công việc và mối quan hệ giữa các thành viên với nhau. Nhưng
như vậy, chúng ta cũng thấy được rằng không phải mọi mâu thuẫn đều là có
13
hại, điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân để giải quyết mâu thuẫn. Hãy
xem mâu thuẫn như là động lực thúc đẩy cả nhóm tiến bộ và tiến gần đến mục
tiêu hơn. Do vậy, tìm ra căn nguyên cội rễ của mâu thuẫn để cắt đứt sự tồn tại
của mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn thường là do khác biệt về
giá trị; khác biệt về sự mong đợi tức là mỗi người đưa ra ý kiến và sự chấp
nhận lại không như họ mong chờ, tưởng tượng; vai trò của các thành viên xác
định không rõ ràng, công việc phân công không cụ thể dẫn đến ỷ lại, đùn đẩy
công việc và trách nhiệm; lợi ích không công bằng cho nên dẫn đến sự ức chế
giữa các thành viên, điều này lại vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong hoạt
động nhóm. Ngoài ra, còn một số nguyên nhân khác như sự thay đổi về môi
trường và phong cách làm việc, sự ức chế, căng thẳng, việc truyền đạt thông
tin không rõ ràng gây ra hiểu lầm,tinh thần cá nhân, sự tùy thuộc lẫn nhau
giữa các cá nhân, không thỏa mãn vai trò trong nhóm…cũng có thể gây ra
mâu thuẫn trong khi hoạt động nhóm. Điều quan trọng ở đây là các thành viên
phải biết đoàn kết, chung sức, chung lòng vì tập thể, vì mục tiêu chung của cả
nhóm mà phấn đấu, hạn chế xảy ra mâu thuân để hoạt động nhóm được hiệu
quả.
Ngoài kĩ năng giải quyết vấn đề và kĩ năng xử lí mâu thuẫn thì kĩ năng
lãnh đạo nhóm cũng rất quan trọng. Trong học tập hay làm việc thì nhóm
trưởng sẽ là người hoạch định kế hoạch, xác định yêu cầu của vấn đề, mục
tiêu, giúp cả nhóm tạo ra được không khí hào hứng và giúp cả nhóm duy trì
giá trị chung. Trưởng nhóm phải luôn là người đi tiên phong trong việc hướng
đến mục tiêu chung của cả nhóm, bỏ qua những lợi ích cá nhân vì mọi thành
viên.
Quả thực lãnh đạo được một nhóm người không thể là đơn giản. Nó
khác với việc khi làm việc độc lập. Làm việc hay học tập trong một nhóm
cũng vậy, mọi cá nhân hoạt động trong một nhóm thì phải hướng đến mục
tiêu chung. Nhưng trong nhóm đó mỗi cá nhân cũng muốn được thể hiện
14
những cá tính của mình đồng thời đạt được mục tiêu chung, đảm bảo nguyên
tắc hoạt động nhóm. Để đạt được điều này thì người lãnh đạo nhóm phải vận
dụng hết khả năng của mình để điều phối tạo ra sự hài hòa và cân bằng giữa
quyền lợi và nghĩa vụ của cả nhóm cũng như mỗi thành viên.
Trên đây là những vấn đề cơ bản nhất về khái niệm nhóm, hoạt động
nhóm, ý nghĩa của hoạt động nhóm, các nguyên tắc, đặc điểm, kĩ năng hoạt
động nhóm. Để tổ chức hoạt động nhóm trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn
bản văn học ở lớp 9 đạt hiệu quả cao nhất thì giáo viên phải nắm chắc những
vấn đề cốt lõi này.
1.2. Cơ sở lí luận của việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh lớp
9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trƣờng THCS tại Quận 2 - Tp. Hồ Chí
Minh
1.2.1. Cơ sở giáo dục học
Cùng với thời gian, những cố gắng lớn lao của các nhà giáo dục nhằm
cải thiện chất lượng dạy học, thì việc học đã được tổ chức chặc chẽ hơn. Đặc
biệt với sự ra đời và trưởng thành của tâm lí thực nghiệm đã làm cơ sở cho
việc cải tiến, hoàn thiện các phương pháp trong giáo dục nói chung, trong dạy
học nói riêng.
Chính trong những giai đoạn cải tiến đó đã hình thành phương pháp
dạy học nhóm (hay gọi là phương pháp dạy học hợp tác). Đến thế kỉ XX, các
nhà giáo dục cũng như các giáo viên đã thấy rõ lợi ích ngày càng lớn lao của
phương pháp này mặc dầu đây là phương pháp không lấy gì làm mới so với
bề dày lịch sử quan niệm của nó.
Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm đã được nhiều nhà giáo dục
nghiên cứu từ lâu và được biết đến trong hệ thống các phương pháp “Dạy học
lấy học sinh làm trung tâm”. Phương pháp này được đề cập từ rất sớm thông
qua việc xác định hệ thống các biện pháp hữu hiệu để phát huy tính tích cực
nhận thức của người học.
15
Cô-men-xki - ông tổ nền giáo dục cận đại rất chú trọng đến việc phát
huy óc sáng tạo, cá tính độc lập suy nghĩ của HS. Trong suy nghĩ của ông đã
đề cập đến nhóm học tập. Theo ông “Cần phải hấp dẫn tính tò mò và sự ganh
đua sôi nổi của trẻ em bằng cách nào cho chúng được dựa vào sự sáng tạo ra
những tri thức khác nhau mà người ta luôn trao đổi cho chúng, và bằng cách
giúp cho chúng cũng được chia sẻ cái vinh dự của người phát minh về mỗi tri
thức”.
- Thế kỉ XVIII – XIX có nhiều nhà giáo dục như: Giăng-giắc-rút-xô
(Pháp), Pêxtalozi, Usinxki (Nga),… cũng đề cập giáo dục, giảng dạy hướng
vào động lực tích cực, chủ động của người học và ít nhiều cũng khái quát tới
hình thức học tập nhóm.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu liên quan đến học tập theo
nhóm, trong đó các nhà giáo dục tiên phong tiêu biểu như J. Dewey, Roger
Cousinet, Lewin, Lippit và White…
J. Dewey, ông cho rằng ảnh hưởng của môi trường đến sự đào tạo con
người là quá rõ ràng. Từ đó, phải tạo cho HS một môi trường càng gần gũi
với đời sống càng tốt. Hơn nữa, chỉ có sự làm việc chung mới giúp cho HS có
thói quen trao đổi những kinh nghiệm thực hành, có cơ hội phát triển lý luận
và năng lực trừu tượng hóa.
Roger Cousinet phải tổ chức nhà trường sao cho trở thành một môi
trường mà trẻ em có thể sống. Sự làm việc chung thành từng nhóm tạo nên
một biện pháp phù hợp về mặt tâm lí, cũng như là về mặt giáo dục học.
Hai ông đã cố gắng phổ biến đường lối của “trường hoạt động” cũng
như phương pháp học tập nhóm. Song trong giai đoạn này phương pháp học
tập nhóm chỉ được nhìn nhận ở bình diện tổng quát, đề cập phương pháp này
trong một sinh hoạt chung của một cơ cấu mới là “nhà trường hoạt động”.
Các nhà giáo dục khác như Lewin, Lippit và White đã có những may
mắn hơn, hoàn cảnh thuận lợi để khảo sát nhóm học tập cụ thể hơn như: cách
16
thành lập nhóm, cách phân loại nhóm và với những yếu tố chi phối sinh hoạt
của nhóm,… Sau này, nhóm được khảo sát tỉ mỉ hơn trong mọi hoàn cảnh
sinh hoạt xã hội. Từ đó, nhiều vấn đề khác nhau về nhóm đã được tìm hiểu
nghiên cứu như: khái niệm nhóm, cách phân loại nhóm, vấn dề mục tiêu của
nhóm, vấn đề liên hệ giữa các thành viên trong nhóm với nhau,… Và những
năm 60 của thế kỉ trước, Mỹ đã vận dụng phương pháp học tập theo nhóm
[29, 47].
Ngày nay, với phương pháp học tập mới – lấy người học làm trung tâm
– phát huy tính tích cực chủ động của người học. Nhiều nhà giáo dục trong
nước đã nghiên cứu phương pháp học tập nhóm như là một trong những
phương pháp dạy học tích cực và đưa vào ứng dụng trong nhà trường một
cách rộng rãi [30-31].
1.2.2. Cơ sở tâm lí học
Những nghiên cứu về tâm lí học lứa tuổi cho thấy, học sinh lớp 9
THCS đang ở độ giai đoạn đầu của tuổi thanh niên, lứa tuổi từ 14, 15. Ở tuổi
này học sinh đạt được sự trưởng thành về cơ thể, sự phát triển về mặt tâm sinh
lí. Đây cũng là độ tuổi mà tâm sinh lí chuyển từ trạng thái trẻ em sang người
lớn. Ở lứa tuổi này có sự chuyển biến đặc biệt về tâm lí, thể chất, sự phát dục
và hình thành các phẩm chất mới về nhân cách. Những yếu tố mới của trạng
thái trưởng thành đã xuất hiện là kết quả của các biến đổi về mặt cơ thể, mối
quan hệ với người lớn, với bạn bè, của các hoạt động học tập và hoạt động xã
hội.
Nội dung và tính chất của hoạt động học tập ở học sinh lớp 9 THCS là
đi sâu vào những tri thức cơ bản, những quy luật của những bộ môn khoa học.
Phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng có nhiều thay đổi so với những
học sinh lớp 6,7. Do vậy, hoạt động học tập đòi hỏi phải có tính năng động,
độc lập và sáng tạo ở mức độ cao hơn, đòi hỏi các em phải phát triển tư duy lí
luận. Ở học sinh lớp 9 THCS, sự hình thành và phát triển mạnh mẽ tính tích
17
cực của xã hội sẽ ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển nhân cách của học
sinh. Vì vậy mà học sinh lĩnh hội được các giá trị, các chuẩn mực xã hội, xây
dựng được những quan hệ thỏa đáng với người lớn, bạn bè. Ngoài ra cũng
nhờ vào tính tích cực xã hội đó mà người học tự hướng vào bản thân, thiết lập
nhân cách và tương lai của mình với mục đích, nhiệm vụ, phương hướng một
cách cụ thể và mang tính độc lập.
Học sinh lớp 9 THCS cũng như học sinh mọi lứa tuổi khác đều có khao
khát được giao tiếp với mọi người xung quanh, đặc biệt là với bạn bè, vui
thích được hoạt động cùng nhau, được sống tập thể và có bạn bè thân thiết tin
cậy. Việc tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm trong giờ học Ngữ văn hay
bất kì giờ học nào đều giúp cho học sinh tự nhận thức được bản thân và
những người xung quanh, đồng thời qua đó các em phát triển một số kĩ năng,
thao tác quan trọng như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát. Điều đó giúp
học sinh thu nhận, học tập và làm phong phú những biểu hiện về nhân cách
theo hướng tích cực, các em tự bồi đắp nhân cách cho chính bản thân thông
qua hành động hay cách học tập của bạn bè.
Quan sát kĩ càng đối với lứa tuổi học sinh lớp 9 THCS chúng ta thấy
rằng thái độ và ý thức của thanh niên đối với học tập ngày càng phát triển.
Học sinh lớp 9 đã có ý thức hiểu được rằng vốn tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là
điều kiện hết sức cần thiết để các em bước vào tương lai. Vì vậy mà nhu cầu
học tập của các em tăng lên một cách rõ rệt, nhu cầu đó không chỉ bao gồm
những tri thức trong khuôn khổ trường học mà còn bao gồm những tri thức về
xã hội, về đời sống.
Ở học sinh lớp 9 THCS, tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các
quá trình nhận thức. Tri giác của các em có độ nhạy cảm khá cao, đồng thời
việc quan sát trở nên có hệ thống và toàn diện hơn. Quá trình quan sát cũng
chịu sự chi phối của hệ thống ngôn ngữ và không tách rời khỏi tư duy ngôn
ngữ. Với học sinh lớp 9 THCS việc ghi nhớ luôn có chủ định và giữ vai trò
18
chủ đạo trong hoạt động trí tuệ. Hoạt động tư duy của các em tích cực, độc
lập hơn. Khả năng tư duy lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng
tạo được phát huy. Do đó, các em thích học hỏi, tìm tòi, khám phá thế giới
xung quanh. Bên cạnh đó khả năng tự ý thức cũng phát triển mạnh mẽ, trên
cơ sở đó nhu cầu tự giáo dục của học sinh lớp 9 THCS cũng được phát triển.
Việc tự giáo dục, tự học ở độ tuổi này khá là cao do vậy mà học sinh thích
tham gia các hoạt động nhóm, thích tự mình giải quyết các vấn đề được giao
cho.
Việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong các giờ học nói chung
và giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản nói riêng là điều cần thiết. Bởi nó làm phát
triển toàn diện nhân cách của người học. Đồng thời đáp ứng những nhu cầu
giao lưu, học hỏi, tính tự lập, độc lập, sáng tạo của học sinh lớp 9 THCS. Bên
cạnh đó nó giúp học sinh được học bằng giao tiếp, giúp hoàn chỉnh về khả
năng tư duy bằng ngôn ngữ của người học. Hoạt động nhóm cũng như là một
cộng đồng xã hội thu nhỏ, nó giúp cho người học hình thành và phát triển
những kĩ năng học tập, kĩ năng sống cần thiết để chủ động tích cực, thành
công trong học tập cũng như cuộc sống. Người dạy học cũng phải nắm được
đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 9 THCS, nắm vững bản chất và vận
dụng nó có hiệu quả các nguyên tắc, đặc điểm, phương pháp của tổ chức hoạt
động nhóm cho học sinh trong giờ Đọc – hiểu văn bản.
1.2.3. Cơ sở lí luận dạy học
Các công trình khoa học giáo dục nghiên cứu về tổ chức hoạt động
nhóm trong giờ học ở trong và ngoài nước có số lượng khá lớn. Minh chứng
cho sự tồn tại của phương pháp dạy học đã đem lại những kết quả khả quan.
Về cả mặt lí luận và thực tiễn, giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong quá
trình học tập và sự phát triển, hoàn thiện nhân cách, trí tuệ của người học.
Nhưng chính những hoạt động của cá nhân mới là yếu tố trực tiếp quyết định
sự phát triển nhân cách và trí tuệ người học. Những hoạt động của cá nhân thể
19
hiện rõ nhất trong quá trình tranh luận, thảo luận. Trong quá trình này, người
học phải tự giác, tự nguyện, tự động, tích cực hoàn thành các kế hoạch, mục
tiêu học tập; phải tập tinh thần chịu khó, cố gắng không lùi bước trước khó
khăn hay chướng ngại nào trong học tập.
Chúng ta thấy rằng vai trò tự biểu hiện, tự giải quyết vấn đề là rất quan
trọng đối với người học và người dạy phải hướng dẫn được cho người học
thực hiện những kĩ năng đó. Vì thế mà hoạt động nhóm trong dạy học Ngữ
văn bắt buộc người học phải tham gia các hoạt động, tranh luận tập thể, phải
đưa ra được chính kiến của mình và bảo vệ nó, biết nhận xét ý kiến của các
thành viên trong nhóm và những người khác.
Trong dạy học Đọc – hiểu văn bản, các văn bản hầu hết là những tác
phẩm hay được lựa chọn kĩ càng. Trong những văn bản này có nhiều tình
huống gần gũi, bắt nguồn từ cuộc sống, nó sẽ góp phần giáo dục rất lớn. Nó
giúp đưa người học đến gần thực tiễn hơn, gần gũi với hiện thực đời sống,
giúp người học hình thành những kĩ năng cần thiết cho các tình huống trong
cuộc sống.
Ngoài ra, những công trình nghiên cứu về khoa học giáo dục ngày nay
đều cho thấy rằng việc dạy học theo nhóm sẽ giúp học sinh tự biểu hiện tốt
nhất. Trong quá trình hoạt động nhóm các em vừa được rèn luyện các kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết, trình bày, phân tích, tổng hợp, quan sát, chọn lọc…vừa
được thể hiện tính độc lập, chủ động trong quá trình học. Theo phương châm
và mục tiêu của giáo dục hiện đại thì hoạt động nhóm giúp người học hình
thành nhiều kĩ năng trong thực tế cuộc sống nhất. Nó hướng đến các kĩ năng
sống, giao lưu, tự học hỏi và khả năng chung sống của người học.
Tóm lại, trên đây là những cơ sở về mặt lí luận của việc tổ chức hoạt
động nhóm cho học sinh trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản ở trường trung
học phổ thông. Việc thông qua các vấn đề lí thuyết như trên cho thấy việc Tổ
chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy học Đọc - hiểu văn bản ở
20
trường trung học phổ thông là có cơ sở khoa học. Như vậy, phương pháp này
thực sự có ích cho quá trình dạy học bất kì môn học nào
1.3. Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh
lớp 9 trong giờ Đọc - hiểu văn bản ở trƣờng THCS tại Quận 2 – Tp Hồ
Chí Minh
1.3.1. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của Quận 2 – Tp Hồ Chí
Minh
Quận 2 được thành lập ngày 01 tháng 4 năm 1997 trên cơ sở tách ra từ
05 xã Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi, Cát Lái, An Khánh, An Phú thuộc huyện
Thủ Đức theo Nghị định số 03/NĐ-CP ngày 06/01/1997 của Chính phủ. Quận
2 nằm ở phía Đông của thành phố Hồ Chí Minh, trên tả ngạn sông Sài Gòn.
Phía Bắc giáp quận Thủ Đức, Bình Thạnh (qua sông Sài Gòn và sông Rạch
Chiếc). Phía Nam giáp quận 7, huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai (qua sông
Sài Gòn và sông Đồng Nai). Phía Đông giáp quận 4, quận 1, quận Bình
Thạnh (qua sông Sài Gòn). Từ năm xã thuộc huyện Thủ Đức: An Phú, An
Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng và Thạnh Mỹ Lợi. Quận 2 chia thành 11
phường gồm: An Phú, Thảo Điền, An Khánh, Bình An, Thủ Thiêm, An Lợi
Đông, Bình Trưng Đông, Bình Trưng Tây, Thạnh Mỹ Lợi và Cát Lái.
Quận 2 có vị trí và nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành một đô thị
mới. Là đầu mối giao thông về đường bộ, đường sắt nội đô, đường thủy nối
liền Thành phố với các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu; có
tiềm năng về quỹ đất xây dựng; mật độ dân số còn thưa thớt, được bao quanh
bởi các sông rạch lớn, môi trường còn hoang sơ…Ngày 07/12/1998, Ủy ban
nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 6577/QĐ-UB-QLĐT phê duyệt
quy hoạch chung quận 2 đến năm 2020, theo quy hoạch thì chức năng và
động lực phát triển chủ yếu là “Trung tâm Dịch vụ - Thương mại – Công
nghiệp – Văn hóa – Thể dục thể thao” với quy mô dân số ổn định khoảng
600.000 dân, quy hoạch chung còn xác định các chỉ tiêu kỹ thuật đô thị, các
21
khu chức năng chủ yếu, đó là cơ sở căn bản cho định hướng quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội Quận 2, hiện quận đang hoàn tất đồ án điều chỉnh quy
hoạch chung quận 2 theo nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch đã được thành phố
phê duyệt tại Quyết định số 3165/QĐ-UBND vào năm 2011. Ngày
27/12/2005, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 6565/QĐ-
UBND và Quyết định số 6566/QĐ-UBND về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch
chung xây dựng Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tỷ lệ 1/5000 và phê
duyệt quy hoạch chi tiết Khu trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tỷ lệ 1/2000.
Các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, y tế, giáo dục và đào
tạo, dạy nghề…có bước phát triển tích cực; An ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội được giữ vững. Các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã và
đang được tăng cường, nhất là các công trình giao thông, trường học, các cơ
sở văn hóa được quan tâm đầu tư đưa vào sử dụng.
Về cơ sở giáo dục, hiện quận 2 có 7 trường THCS, 2 trường THPT, 11
trường tiểu học và nhiều cơ sở giáo dục mầm non luôn được quan tâm sâu sắc
của chính quyền địa phương. Tuy vậy với lượng dân nhập cư ngày càng đông
thì số lượng trường học ngày một quá tải.
Số giáo viên đạt chuẩn đào tạo là 100%, đối với giáo viên Ngữ văn cấp
THCS hằng tháng đều có họp chuyên môn, dự giờ, thao giảng để học hỏi kinh
nghiệm
1.3.2. Thực trạng dạy đọc – hiểu văn bản trong chƣơng trình Ngữ
văn 9 ở các trƣờng THCS tại Quận 2 – Tp Hồ Chí Minh
Kết quả thống kê chất lượng bộ môn Ngữ Văn của 3 năm học gần đây
nhất của 7 trường THCS ở quận 2, Tp.HCM cho thấy chất lượng bộ môn ngữ
văn chưa cao. Kết quả thống kê dưới đây là CLBM ngữ văn.
22
THỐNG KÊ CHẤT LƢỢNG BỘ MÔN VĂN CẢ NĂM NĂM HỌC : 2010 - 2011
GIỎI
KHÁ
YẾU
KÉM
TRUNG BÌNH
KHỐI
TS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL TL SL TL
1358
285
655
349
56
6
21.0
48.2
25.7
4.1 13 1.0
1262
259
522
385
85
7
20.5
41.4
30.5
6.7 11 0.9
1392
297
648
395
50
2
8
21.3
46.6
28.4
3.6
0.1
1261
181
586
461
32
1
9
14.4
46.5
36.6
2.5
0.1
TC
5273
1022
1590
30.2
19.4 2411 45.7
223 4.2 27 0.5
NĂM HỌC : 2011 – 2012
GIỎI
KHÁ
YẾU
KÉM
TRUNG BÌNH
KHỐI
TS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL TL SL TL
1450
293
692
393
57
6
20.2
47.7
27.1
3.9 15 1.0
1305
300
567
366
68
4
7
23.0
43.5
28.1
5.2
0.3
1232
214
523
406
68
8
17.4
42.5
33.0
5.5 21 1.7
1325
262
585
450
26
2
9
19.8
44.2
34.0
2.0
0.2
TC
5312
1069
1615
30.4
20.1 2367 44.6
219 4.1 42 0.8
NĂM HỌC : 2012 – 2013
GIỎI
KHÁ
YẾU
KÉM
TRUNG BÌNH
KHỐI
TS
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL TL SL TL
1372
314
618
342
76
6
22.9
45.0
24.9
5.5 22 1.6
1421
282
591
435
7
19.9
41.6
30.6
101 7.1 12 0.8
1291
189
601
418
65
8
14.6
46.6
32.4
5.0 18 1.4
23
1170
214
502
422
32
0
9
18.3
42.9
36.1
2.7
TC
5254
999
19.0 2312 44.0
1617
30.8
274 5.2 52 1.0 (Nguồn số liệu từ Phòng GD&ĐT Quận 2)
Tỉ lệ học sinh yếu, kém ở khối lớp 9 xấp xỉ 3%, trong khi đó tỉ lệ học
sinh giỏi chỉ đạt trung bình 17%. Tuy kết quả là chấp nhận được, song là
người làm giáo dục chúng tôi muốn kết quả đó tốt hơn.
1.3.3. Việc tổ chức nhóm cho học sinh trong giờ dạy đọc – hiểu văn
bản Ngữ văn 9 ở các trƣờng THCS tại Quận 2 – Tp Hồ Chí Minh
Phương pháp học tập theo nhóm là một trong những phương pháp học
tập đã và đang được học sinh lớp 9 sử dụng trong quá trình học tập. Thực tế
phương pháp này đã đạt được một số hiệu quả nhất định đối với việc học tập
của đa số học sinh, nhiều nhóm hoạt động rất hiệu quả. Tuy nhiên, hoạt động
học tập theo nhóm nhìn chung còn ít nhiều mang tính hình thức, hiệu quả
chưa cao.
Khảo sát sự đánh giá của học sinh về mức độ hiệu quả khi học tập theo
nhóm cho kết quả như sau: Có tới 57% ý kiến đánh giá ở mức độ bình
thường, chỉ 32% ý kiến đánh giá ở mức có hiệu quả, 5% rất hiệu quả và 6%
đánh giá hoạt động nhóm không hiệu quả. Những số liệu này cho thấy,
phương pháp học tập theo nhóm chưa phát huy hết ưu thế của nó trong học
sinh lớp 9.
Thông qua điều tra khảo sát chúng tôi nhận thấy thực trạng nhận thức
của học sinh lớp 9 về học tập theo nhóm là hết sức tích cực. Các em đều cho
rằng đây là phương pháp học tập rất cần thiết cho học sinh, nên cần được tăng
cường sử dụng và phát huy trong học tập của học sinh. Điều này cho thấy
phần lớn các bạn học sinh lớp 9 đã có quan niệm khá đúng đắn về hoạt động
học tập theo nhóm và đã nhận thức được vai trò của phương pháp học tập
nhóm đối với việc học tập của học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh
24
(đặc biệt là học sinh yếu, kém) vẫn còn suy nghĩ mơ hồ về phương pháp học
tập theo nhóm.
Bên cạnh đó thực trạng kỹ năng làm việc nhóm cũng đáng được chúng
tôi quan tâm. Kết quả khảo sát mức độ thực hiện các kỹ năng học tập theo
nhóm trong học sinh lớp 9 cho thấy các kỹ năng này là một trong những hạn
chế của các bạn học sinh lớp 9 hiện nay.
Ngoài ra, đối với thực trạng phương pháp tiến hành hoạt động nhóm,
thực tế, hiện nay ở học sinh lớp 9 có rất ít nhóm có phương pháp làm việc
nhóm một cách khoa học, hợp lý. Hầu hết các nhóm chưa có phương pháp
làm việc nhóm đúng đắn nên hiệu quả hoạt động nhóm chưa cao. Cụ thể:
- Một số nhóm học tập không xác định một cách cụ thể, rõ ràng mục
tiêu khi thực hiện một bài tập nhóm hay của một buổi thảo luận...
- Các nhóm không lập kế hoạch hoạt động cụ thể cho nhóm, vì vậy
nhiều khi nhóm không chủ động được thời gian, làm việc không khoa học.
- Theo điều tra có đến 52% ý kiến cho rằng nhóm không xây dựng nội
quy khi hoạt động, có 48% có xây dựng nội quy nhưng thực tế việc thực hiện
nội quy lại chưa được chú trọng. Điều này làm cho hoạt động của nhóm thiếu
quy củ, thiếu nguyên tắc nên chắc chắn hiệu quả hoạt động nhóm sẽ không
cao.
- Việc phân công nhiệm vụ trong nhóm còn chưa phù hợp, các nhóm
chủ yếu phân công theo cách “trải đều cho các thành viên” (chiếm 40%), hay
“mỗi người một việc rồi tập hợp lại” (chiếm 32%), “tập trung vào cá nhân
xuất sắc” (chiếm 16%); chỉ có 12% ý kiến khác là phân chia nhiệm vụ dựa
trên năng lực và điều kiện của từng thành viên.
- Phần lớn các nhóm đều chọn phương pháp thống nhất ý kiến “theo đa
số” chiếm 75%, trong khi chỉ 17% chọn phương pháp “tất cả đồng ý”, 7%
chọn phương pháp “không ai phản đối” và 1% chọn phương pháp “nhóm
trưởng quyết định”. Tất nhiên phương pháp thống nhất ý kiến theo đa số là
25
phổ biến và dễ thực hiện nhưng đó chưa hẳn là đúng trong mọi trường hợp vì
chân lý khoa học đôi khi không thuộc về số đông. (Số liệu trên được thống kê
từ phiếu thống kê theo phụ lục 1 của luận văn này)
Cơ sở vật chất - Phương tiện kỹ thuật: đây là yếu tố rất quan trọng tác
động không nhỏ tới hiệu quả làm việc nhóm. Nhưng thực tế nguồn cơ sở vật
chất – phương tiện kỹ thuật dành cho học tập nhóm hiện nay ở nhà trường còn
rất thiếu thốn: không có bàn học đa năng nên khi thảo luận nhóm học sinh
phải sắp xếp lại bàn ghế rất mất thời gian nhưng cũng không thuận tiện cho
nhóm làm việc; thư viện nhỏ không có đủ không gian cho nhiều nhóm cùng
làm việc, nguồn tài liệu tại thư viện còn hạn chế ...
Kết luận chƣơng 1
Trên đây là những cơ sở nền tảng vững chắc về mặt lí luận và thực tiễn
cho việc Tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong gời dạy học Đọc – hiểu
văn bản ở trường trung học cơ sở. Tổ chức nhóm chính là lấy người học làm
trung tâm, là phương pháp dạy học hợp tác tích cực đã được các nền giáo dục
tiên tiến áp dụng. Hoạt động nhóm giúp người học phát huy tối đa tiềm năng,
khả năng sáng tạo, tự chủ đồng thời thể hiện được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. Đưa người học đến với vị trí là trung tâm của hoạt
động dạy học đúng nghĩa nhất. Hoạt động nhóm trong dạy học Đọc – hiểu
văn bản rất hữu ích cho việc hoàn thiện các kĩ năng ngôn ngữ cho người học,
phát triển trí tưởng tượng, tư duy hình tượng, khả năng đánh giá nghệ thuật,
giúp học sinh hoàn thiện bản thân để sống nhân văn hơn.
Để hoạt động nhóm trong dạy học Đọc – hiểu văn bản phát huy hết khả
năng của nó trước tiên cần sự đồng thuận nhất trí cao của đội ngũ giáo viên bộ
môn. Cần tiếp cận, tiếp thu phương pháp dạy học tích cực này, có cái nhìn
khách quan, thay đổi trong suy nghĩ, trong cách dạy để chúng ta có những tiết
dạy đọc hiểu văn bản hứng thú cho cả HS và GV.
26
Chƣơng 2
ĐỊNH HƢỚNG VÀ BIỆN PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHÓM
CHO HỌC SINH TRONG GIỜ ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN NGỮ VĂN 9
Ở TRƢỜNG THCS TẠI QUẬN 2 - TP. HỒ CHÍ MINH
2.1. Tổng quan về chƣơng trình Đọc – hiểu văn bản trong chƣơng
trình Ngữ văn lớp 9
Nhìn toàn diện vào chương trình Đọc – hiểu văn bản ở lớp 9 chúng ta
có thể quan sát qua phân phối chương trình Ngữ văn và sách giáo khoa Ngữ
văn. Chúng ta thấy chương trình Đọc – hiểu chiếm phần lớn chương trình
Ngữ văn ở lớp 9 phần Đọc – hiểu chiếm gần 50% chương trình học môn Ngữ
văn.
Bảng 3: Thống kê các văn bản đọc – hiểu trong chương trình Ngữ văn
lớp 9
Học Đọc STT Tên bài học Tác giả chính thêm thức
X Phong cách Hồ Chí Minh Lê Anh Trà 1
Đấu tranh cho một thế giới X G.G Mác-Két 2 hoà bình
Tuyên bố thế giới về sự còn,
X 3 quyền được bảo vệ và phát Hội nghị 1990
triển của trẻ em
Chuyện người con gái Nam X 4 Nguyễn Dữ Xương
Chuyện cũ trong phủ Chúa 5 Phạm Đình Hồ X Trịnh
27
Hoàng Lê Nhất thống chí Ngô Gia Văn Phái X 6 (hồi 14)
Truyện Kiều của Nguyễn Du SGK X 7
Chị em Thuý Kiều Nguyễn Du X 8
Cảnh ngày xuân Nguyễn Du X 9
Kiều ở Lầu Ngưng Bích Nguyễn Du X 10
Thúy Kiều báo ân báo oán Nguyễn Du X
Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyễn Đình Chiểu X 11 Nguyệt Nga
Lục Vân Tiên gặp nạn Nguyễn Đình Chiểu X
Đồng chí Chính Hữu X 12
Bài thơ về tiểu đội xe không Phạm Tiến Duật X 13 kính
Đoàn thuyền đánh cá Huy Cận X 14
Bếp lửa. Bằng Việt X 15
Khúc hát ru những em bé lớn Nguyễn Khoa Điềm X 16 trên lưng mẹ
Ánh trăng Nguyễn Duy X 17
Làng Kim Lân X 18
Lặng lẽ Sapa Nguyễn Thành Long X 19
Chiếc lược ngà Nguyễn Quang Sáng X 20
Cố hương (phần viết chữ nhỏ Lỗ Tấn X 21 không dạy)
Những đứa trẻ M.Gorki X 22
Bàn về đọc sách Chu Quang Tiềm X 23
Tiếng nói của văn nghệ Nguyễn Đình Thi X 24
25 Chuẩn bị hành trang vào thế Vũ Khoan X
28
kỷ mới
Chó Sói và Cừu trong thơ Hi-Pô-Lít-ten 26 X ngụ ngôn của La phông ten
Chó Sói và Cừu trong thơ
27 ngụ ngôn của La phông ten X
(tiếp)
Con Cò Chế Lan Viên X 28
Mùa xuân nho nhỏ Thanh Hải 29
Viếng lăng Bác Viễn Phương 30
Sang thu Hữu Thỉnh 31
Nói với con Y Phương 32
Mây và sóng R.Tagor 33
Những ngôi sao xa xôi Lê Minh Khuê 34
35 Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang D.Đi-phô
Bố của Ximông Mô-pa-xăng 36
Con chó Bấc Gi-lân-đơn 37
Bắc Sơn Nguyễn Huy Tưởng 38
Từ các bảng thống kê, có thể thấy văn bản đọc – hiểu ở lớp 9 đầy đủ
các thể loại: thơ, truyện, kịch, kí, nghị luận. Loại hình văn học cũng đa dạng
gồm loại hình văn học dân gian, văn học trung đại (phần văn học nước ngoài),
văn học trung đại, văn học hiện đại. Loại hình văn học trung đại với các loại
thể như thơ, nghị luận, truyện, kí, sử kí, tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ
Nôm…Loại hình văn học hiện đại gồm các loại thể như thơ, truyện ngắn, tiểu
thuyết, kịch, kí, nghị luận…Đặc biệt có sự góp mặt của cả văn chương Nga.
Phần văn học nước ngoài được lựa chọn cũng phong phú về thể loại: thơ,
truyện, kịch, nghị luận…
29
Như vậy có thể thấy hệ thống văn bản đọc – hiểu hướng đến nguyên tắc
tích hợp và tích cực, cho nên nó lựa chọn văn bản theo thể loại và tổ chức dạy
học theo đặc trưng thể loại. Mặc dù vậy chương trình vẫn dựa vào tiến trình
lịch sử văn học dân tộc và thế giới, mỗi giai đoạn lựa chọn các tác phẩm tiêu
biểu thuộc nhiều thể loại khác nhau đem vào giảng dạy.
Văn bản đọc – hiểu được lựa chọn theo thể loại do đó việc tổ chức dạy
học phải tuân theo đặc trưng thi pháp thể loại của văn bản. Khi tổ chức dạy
học Đọc – hiểu văn bản, người dạy ngoài việc tổ chức cho người học tiếp cận
với thể loại văn học, chú ý đến việc hướng dẫn học sinh phân tích hình tượng,
ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm; chú ý đến cấu trúc chỉnh thể và đặc
trưng ngôn ngữ của các thể loại…Việc tổ chức hoạt động nhóm cũng không
nằm ngoài những câu hỏi vấn đề về thể loại, nội dung văn bản và đặc trưng
của nó. Như vậy là khi dạy học người dạy không chỉ tổ chức cho học sinh
nắm được đặc trưng, nội dung cụ thể của từng văn bản mà còn phải giúp họ
nắm được đặc trưng về thi pháp của các thể loại văn bản văn học đã học một
cách hệ thống.
2.2. Những định hƣớng tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong
giờ Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn 9 ở trƣờng THCS tại quận 2 – Tp Hồ Chí
Minh
2.2.1. Phải xác định rõ mục tiêu của hoạt động nhóm trong giờ Đọc -
hiểu văn bản
Mục tiêu cơ bản của hoạt động nhóm trong giờ Đọc - hiểu văn bản là
nhằm phát huy tính chủ thể của học sinh. Điều này rất phù hợp với những
mục tiêu chung của môn Ngữ văn
Ở cấp độ vĩ mô, mục tiêu dạy học Ngữ văn hiện nay là sự cụ thể hóa
mục tiêu giáo dục nói chung, chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp.
Đi vào cụ thể, môn học Ngữ văn nhấn mạnh ba mục tiêu chính sau:
30
Thứ nhất, trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính
hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt
Nam – phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân
lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng
Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc
biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc
sống.
Thứ ba, bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa,
tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự
cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho
học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn
trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại.
Mục tiêu dạy học Ngữ văn cũng được cụ thể hóa ở từng cấp học, lớp
học, phân môn…. Phân môn Văn học có chức năng cung cấp một hệ thống tri
thức phổ thông, cơ bản, hiện đại về văn học Việt Nam và thế giới, thông qua
việc phân tích tác phẩm văn chương mà bồi dưỡng cho học sinh những giá trị
Chân – Thiện – Mỹ. Học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực phân tích,
cảm thụ tác phẩm nghệ thuật, mà còn biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc
sống. Phân môn Làm văn có chức năng rèn luyện kỹ năng viết văn bản. Ban
đầu các đề thi chỉ yêu cầu làm nghị luận văn học, càng về sau, nghị luận xã
hội càng được chú trọng. Nghĩa là việc dạy học Ngữ văn ngày càng xích lại
gần đời sống.
Ở cấp độ vi mô, mục tiêu dạy học được cụ thể hóa đến từng bài học,
tiết học. Phần đầu mỗi bài học trong sách giáo khoa đều có ghi mục tiêu cần
đạt. Đây là mục tiêu cần đạt của bài Bến quê trong giáo án của giáo viên:
31
Thứ nhất, Qua cảnh ngộ và tâm trạng của Nhĩ, học sinh cảm nhận được
ý nghĩa triết lý mang tính trải nghiệm về cuộc đời con người, biết nhận ra
những vẻ đẹp bình dị và quý giá trong những gì gần gũi của quê hương, gia
đình
Thứ hai, Thấy và phân tích được đặc sắc nghệ thuật của truyện như tạo
tình huống nghịch lý, trần thuật qua dòng nội tâm nhân vật, ngôn ngữ và
giọng điệu đầy chất suy tư, hình ảnh giàu tính biểu tượng
Thứ ba, Rèn luyện kĩ năng phân tích truyện có sự kết hợp các kiểu loại
tự sự, trữ tình, triết lý.
Xét về phương diện nội dung, có thể chia môn học Ngữ văn trong nhà
trường trung học thành ba cụm kiến thức lớn: Ngôn ngữ, Văn chương và Văn
hóa nghệ thuật. Nhiệm vụ của ngôn ngữ là cung cấp cho học sinh những kiến
thức về văn phạm, khả năng giao tiếp và biết viết các loại văn bản. Đây là
môn học có tính thực dụng cao, được ứng dụng nhiều trong cuộc sống nên
cần phải coi trọng hàng đầu. Tuy nhiên, lâu nay chúng ta chỉ dạy ngôn ngữ
theo kiểu lý thuyết hàn lâm chứ ít chú trọng thực hành. Nên nhiều học sinh
Việt Nam thiếu hụt kỹ năng giao tiếp và rất rụt rè trong việc bày tỏ các ý kiến
của mình. Nhiệm vụ của môn Văn chương là cung cấp những kiến thức cơ
bản về lịch sử văn học, lý luận văn học nhưng quan trọng nhất là kỹ năng
phân tích, đánh giá và sáng tạo tác phẩm. Thời phong kiến, Văn chương
chiếm vị trí số một trong chương trình giáo dục lẫn trong làng nghệ thuật giải
trí nhưng trong thời đại ngày nay, mọi thứ đã thay đổi. Người ta có nhiều môn
để học, có nhiều loại hình nghệ thuật để giải trí nên việc dành ít thời gian cho
môn Văn là chuyện bình thường. Giáo viên cần hiểu điều này để khỏi than
phiền học sinh thời nay ít đọc sách văn chương hơn thời xưa. Mục tiêu dạy
học Văn phải thích ứng với thời đại, dạy môn Văn là để rèn năng lực cảm thụ,
32
đánh giá và sáng tạo nghệ thuật nói chung. Ở nhiều nước trên thế giới, học
sinh không chỉ biết phân tích thơ văn mà còn biết phân tích một vở kịch, bộ
phim, một bức tranh, bản nhạc… Trong khi học sinh Việt Nam rất mù mờ
trong việc cảm nhận và thẩm bình tác phẩm nghệ thuật. Ở nước ngoài, có hai
cách để dạy cảm thụ tác phẩm văn chương: một là tác phẩm văn chương được
đặt vào trong bộ môn Nghệ thuật để dạy chung với mỹ thuật, âm nhạc, sân
khấu, điện ảnh… Hai là, văn bản thơ văn sẽ đặt nằm chung với các loại văn
bản khác trong bộ môn tiếng mẹ đẻ. Dù nằm trong môn nào, tác phẩm văn
chương vẫn không xa rời các chức năng quan trọng của mình là bồi dưỡng
các giá trị Chân – Thiện – Mỹ và hình thành các kiến thức, kỹ năng văn hóa
nghệ thuật cho học sinh.
Mục tiêu dạy học cũng phản chiếu trong phương pháp dạy học. Phương
pháp nêu vấn đề, đối thoại và trực quan sinh động… được đề cao, ý kiến của
học sinh được coi trọng khiến cho giờ học sinh động, đầy hứng thú, tránh
được tình trạng học sinh ngủ gật khi nghe thầy “tụng kinh”. Những kiến thức
hàn lâm xa rời thực tế và lạc hậu sẽ bị gỡ bỏ dần, thay vào những bài học hấp
dẫn, gắn bó tới lợi ích thiết thực của học sinh. Hiện nay, nhiều giáo viên luôn
miệng than phiền học sinh ít đọc sách văn học. Nhưng không biết rằng nhiều
học sinh tuy chán học các tác phẩm trong nhà trường nhưng lại thích sưu tầm
thơ, đọc nghiến ngấu các tiểu thuyết và rất quan tâm theo dõi thời sự văn nghệ
trên báo chí và mạng internet… Nghĩa là việc dạy học Văn trong nhà trường
hiện nay chưa đáp ứng nhu cầu yêu văn chương của học sinh. Bởi vậy, trong
nhà trường, bên cạnh sách giáo khoa Ngữ văn chính thức, còn phải có các
chuyên đề tự chọn để học sinh chọn học theo nhu cầu của mình. Quá trình
giáo dục phải hướng tới phục vụ các mục đích học tập đa dạng của học sinh.
Trong sản xuất, khâu cuối cùng quyết định sự tồn tại của một doanh
nghiệp là chất lượng đầu ra của sản phẩm. Cái quan trọng của quá trình giáo
33
dục là đầu ra của học sinh. Tùy vào từng cấp học mà mục tiêu phấn đấu khác
nhau. Có nhiều loại mục tiêu: cá nhân – xã hội, giáo viên – học sinh, học để
có điểm số cao… . . Tuy nhiên, từ phía nhà giáo dục, mục tiêu cuối cùng của
việc dạy học Ngữ văn trong suốt bậc học phổ thông là giúp cho học sinh ra
đời có những kiến thức cơ bản về văn hóa, văn học, có khả năng cảm thụ và
đánh giá các tác phẩm nghệ thuật. Có khả năng hiểu mình, hiểu người, yêu
thương, tôn trọng lẫn nhau để chung sống, chung làm trong cộng đồng. Học
sinh được hoàn thiện các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đúng đến hay, biết
mạnh dạn giao tiếp có hiệu quả trước công chúng, biết soạn thảo các loại văn
bản cần thiết trong cuộc sống và trong công việc. Nói chung, việc dạy học
môn Ngữ văn phải hướng tới mục tiêu chung của giáo dục thế giới mà tổ chức
UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự
khẳng định mình".
2.2.2. Vấn đề thảo luận phải phù hợp đặc trƣng của bài Đọc – hiểu
văn bản trong chƣơng trình Ngữ văn 9
Người dạy phải luôn nhận thức được rằng không phải mọi bài học đều
có thể sử dụng phương thức tổ chức hoạt động nhóm. Mà chỉ ở những bài học
có những tình huống có tính vấn đề và yêu cầu cần thảo luận. Và vấn đề phải
phù hợp nội dung bài học, phải phù hợp với yêu cầu cần đạt của bài học về tri
thức và kĩ năng. Đồng thời nó là vấn đề kích thích được tư duy sáng tạo, óc
cảm thụ văn chương của người học chứ không phải là một câu hỏi chỉ để
kiểm tra trí nhớ hay khả năng học thuộc lòng của người học.
Văn bản đọc – hiểu là các tác phẩm văn chương do đó cần chú ý đến
đặc trưng tính đa nghĩa và đặc trưng về thể loại của mỗi văn bản. Môn học
Ngữ văn, nhất là phần Đọc – hiểu nó không như những môn học khác, câu trả
lời là một đáp án chính xác được mặc định cho mỗi bài. Chính tính đa nghĩa
giúp cho người dạy đặt ra được vấn đề cho người học thảo luận theo nhóm.
34
Bởi rằng với văn học, mỗi người có cảm nhận riêng, cách đánh giá hình
tượng, chi tiết theo cảm xúc và suy nghĩ của họ. Mỗi người khi đọc một tác
phẩm sẽ liên hệ với những kinh nghiệm của họ, liên tưởng đến những nếm
trải hoặc những cảm xúc, rung động từ tâm hồn, mà điều này ở mỗi người là
không giống nhau. Do đó nó sẽ đem đến nhiều đáp án thú vị mà nhiều khi
người dạy học không ngờ tới. Bài học đọc – hiểu là dạng bài vừa đem lại tri
thức đọc – hiểu cho người đọc vừa củng cố, hỗ trợ cho các bài học Tiếng Việt
và Làm văn. Phần học Đọc – hiểu còn có ý nghĩa khá đặc biệt, nó rèn luyện
mĩ cảm cho người học, tức là phần dạy học bồi đắp cho xúc cảm, tinh thần
nhân văn trong mỗi người học. Với các môn học khác, người dạy chỉ cần nắm
chắc chắn kiến thức, có phương pháp phù hợp thì có thể dạy tốt môn học đó.
Nhưng với dạy học Ngữ văn, nhất là dạy học Đọc – hiểu không đơn thuần ở
chỗ kiến thức và phương pháp. Mà trong quá trình tổ chức dạy học, người dạy
còn phải khơi dậy được cảm xúc của người học để người học cảm nhận được
tính nghệ thuật từ mỗi hình tượng, chi tiết nghệ thuật của văn bản. Làm cho
người học có được những rung động nhất định để dùng cảm xúc, những cảm
nhận của họ về hình tượng, chi tiết nghệ thuật mà đánh giá chúng. Để khơi
dậy cảm xúc của người học thì không có nghĩa là người dạy phải giảng, bình
một cách say sưa, mê đắm... Mà dạy học hiện đại là quá trình người dạy học
tổ chức, hướng dẫn cho người học đi tìm, tự kiến tạo, tự học hỏi về những tri
thức đọc – hiểu trong mỗi bài học. Chính trong quá trình đó họ sẽ học được tri
thức, giải mã lớp ngôn từ để tìm ra ý nghĩa của các hình tượng và chi tiết
nghệ thuật, đồng thời rèn luyện được các kĩ năng sống, kĩ năng xã hội cần
thiết qua mỗi bài học. Bởi vậy mà khi dạy học Đọc – hiểu, hướng dẫn cho
người học thảo luận, đưa ra vấn đề thảo luận phải chú ý đến đặc trưng của bài
học Đọc – hiểu.
Đồng thời cần chú ý đến đặc trưng thể loại của mỗi văn bản văn học.
Đặc trưng về thể loại sẽ là con đường dẫn để cho người dạy cũng như người
35
học có phương hướng khám phá văn bản. Đặc trưng của văn bản thơ khác với
truyện, khác kịch. Dạy tác phẩm văn học dân gian khác với dạy học những tác
phẩm văn học viết. Đặc điểm của những tác phẩm cổ đại khác với tác phẩm
trung đại, hiện đại. Do vậy, người dạy và người học phải nắm vững đặc trưng
thi pháp thể loại, tính lịch sử, xã hội, nghệ thuật về mỗi tác phẩm, mỗi hình
tượng, mỗi chi tiết để khám phá ý nghĩa của những ngôn từ nghệ thuật. Hiện
nay, dạy học các văn bản đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại được vận dụng
phổ biến. Sách giáo khoa Ngữ văn biên soạn theo tinh thần tích hợp trong đó
lấy trục thể loại làm trục chính, do đó, dạy học các văn bản đọc – hiểu theo
đặc trưng thể loại cũng là một điều tất yếu. Đồng thời với những lí thuyết về
dạy học cũng như lí luận văn học ra đời sau này đã chứng minh dạy học tác
phẩm văn học theo đặc trưng thể loại là đúng đắn. Mỗi thể loại mang trong nó
đặc điểm riêng về ngôn ngữ, cách xây dựng hình tượng nghệ thuật, phong
cách, cách biểu hiện…Vì vậy mà đặc trưng thể loại là đường dẫn để người
dạy hướng dẫn người học khám phá văn bản. Đặc trưng về thể loại sẽ chỉ dạy
cho người dạy và người học biết được đâu là điểm cần khám phá của văn bản.
Ví dụ, tác phẩm thơ thì thường nổi lên với chất trữ tình và ngôn ngữ thơ, do
đó người dạy và người học đi sâu phân tích chất trữ tình trong thơ, ngôn ngữ
thơ - cái ngôn từ làm cho tâm hồn người ta rung động.
Căn cứ vào yêu cầu cần đạt của người dạy và người học đi khám phá
bài thơ dựa trên đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của bài thơ đó. Người
dạy dựa vào từng câu chữ, nhất là những từ ngữ gợi hình, có sức liên tưởng
cao, những từ ngữ mang tính sáng tạo của nhà thơ trong bài để hướng dẫn cho
người học tìm hiểu về cảm hứng lãng mạn và chất bi tráng của bài thơ. Âm
hưởng của bài thơ do thể thơ, ngôn từ, vần chữ, tạo nên như thế nào. Từng
câu, chữ, hình ảnh của bài thơ đều tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc, do vậy
hướng cho người học đi sâu phân tích vào ngôn ngữ bài thơ để nhận ra vẻ đẹp
36
của bài thơ toát ra từ chính ngôn từ và hình ảnh được xây dựng bằng những
ngôn từ ấy.
Hoặc khi dạy học một tác phẩm là truyện thì cả người dạy và người học
thường chú ý phân tích cốt truyện, kết cấu, tình huống truyện, nhân vật và
nghệ thuật tự sự. Những hình tượng nghệ thuật được xây dựng từ những lời
kể chuyện hấp dẫn của nhà văn. Nhà văn xây dựng hình tượng thông qua việc
miêu tả tính cách, hành động, ngôn ngữ của nhận vật. Do đó khi dạy một tác
phẩm là truyện thì người dạy hướng dẫn cho người học hướng đến những
điểm cơ bản đó để khai thác ý nghĩa của tác phẩm. Với nội dung, yêu cầu về
tri thức và kĩ năng của mỗi bài học đọc – hiểu, người dạy sẽ đề ra những vấn
đề cần thảo luận cho các nhóm học sinh. Điều căn bản là vấn đề đó xứng đáng
để cho người học thảo luận, nó kích thích được học sinh tìm hiểu vấn đề, trao
đổi một cách sôi nổi chứ không phải là thao tác một cách chiếu lệ.
Để đưa ra được vấn đề thảo luận phù hợp với đặc trưng bài học thì dĩ
nhiên người dạy học luôn luôn phải căn cứ vào yêu cầu về nội dung bài học,
mục tiêu của việc tổ chức hoạt động nhóm cho người học. Do đặc điểm về
tính tích hợp trong dạy học Ngữ văn mà người dạy còn phải căn cứ nội dung
bài học Tiếng Việt và Làm văn kế cận để giúp người học rèn luyện những kĩ
năng cần thiết. Vì kiến thức cũng như kĩ năng của cả ba phần trong môn Ngữ
văn đều có liên quan và bổ trợ cho nhau. Do vậy, phần rèn luyện kĩ năng
trong quá trình hoạt động nhóm phải tạo được sự liên quan để người học rèn
luyện các kĩ năng trau dồi tiếng Việt của mình đồng thời có thể luyện tập
được kĩ năng viết văn, sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn, thành thạo. Việc dạy
học Đọc – hiểu sẽ đem đến cho người học kĩ năng viết mẫu mực của nhà văn,
đó chính là những mẫu văn bản để người học quan sát và học tập phong cách
viết, vốn từ, ngữ pháp…Dĩ nhiên, mẫu mực của các văn bản đó nghiêng về
tính nghệ thuật nhiều hơn là nguyên tắc ngữ pháp nhưng nó lại tạo ra những
cấu trúc đặc biệt về câu, ngữ pháp giúp cho người học học tập một cách sáng
37
tạo khi sử dụng tiếng Việt của mình. Dù với người học tiếng Việt là tiếng mẹ
đẻ thì vẫn phải học cách sử dụng và sử dụng hợp lí thì mới đem lại hiệu quả
nhất định.
Mỗi văn bản đọc – hiểu đều có những yêu cầu cần đạt nhất định trong
quá trình dạy học. Vấn đề người dạy đưa ra cho người học phải phù hợp với
nội dung bài học đó và giúp cho người học đạt được yêu cầu, mục tiêu của bài
học. Với yêu cầu về nội dung tri thức như vậy, thì người dạy học phải hướng
cho người học khai thác đặc điểm về tính cách và ý nghĩa hình tượng, đồng
thời tìm hiểu một số nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của văn
bản.
Đồng thời, trong quá trình học sinh thảo luận các vấn đề đã nêu trên,
người dạy hướng cho học sinh cách lập luận về những kết quả trả lời của họ.
Vừa rèn luyện kĩ năng lập luận, vừa rèn luyện cách nói, viết và phát huy kĩ
năng hợp tác, khả năng độc lập, phát huy tính tích cực chủ động của người
học, nhằm giúp học sinh được thực hành thao tác lập luận, hình thành cách
nói năng thuyết phục, lập luận, tranh luận trong bài học Tiếng Việt kế tiếp với
bài Đọc – hiểu .
Vấn đề thảo luận trong mỗi bài học được đưa ra phải phù hợp với dạng
nội dung bài học đó là đương nhiên, không thể học bài này lại đi thảo luận
nhóm về vấn đề bài khác, trừ trường hợp cần có liên hệ so sánh đối chiếu.
Trong quá trình dạy học, thường khi đến tình huống có vấn đề thì người dạy
sẽ tổ chức cho người học hoạt động nhóm. Mục đích là thu thập cách hiểu của
người học xem họ đã hiểu đến đâu về vấn đề đang tìm hiểu, khả năng giải
quyết vấn đề và còn giúp người học có cơ hội tranh luận, đưa ra những hiểu
biết của mình, rèn luyện những kĩ năng học tập cần thiết. Sau khi cho học
sinh tìm hiểu về tác giả và tác phẩm một cách khái quát. Đến phần phân tích
về quan niệm sống của nhà thơ thể hiện trong bài thơ người dạy có thể đặt ra
vấn đề này cho học sinh thảo luận.
38
Với vấn đề thảo luận như trên thì người học vừa tìm hiểu được quan
niệm sống được đặt ra trong bài thơ vừa rèn luyện được kĩ năng lập luận của
mình. Không chỉ vậy, trong quá trình hoạt động nhóm người học sẽ học tập từ
các thành viên khác cách lập luận thuyết phục. Giúp cho người học cách suy
luận, tư duy logic, cách biện luận và cách bảo vệ ý kiến của bản thân. Điều
này rèn luyện cho người học cách lập luận khi bảo vệ ý tưởng mình đưa ra
đồng thời giúp người học huy động tri thức một cách tổng hợp và nhiều kĩ
năng trong quá trình lập luận như phân tích, so sánh đối chiếu, đánh giá,
thuyết phục bằng ngôn ngữ lời nói, cử chỉ, hành động, tri thức…
Như vậy, khi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trong giờ dạy học
Đọc – hiểu văn bản, người dạy cần phải lựa chọn được vấn đề phù hợp với
đặc trưng bài học nhằm giúp học sinh thu được kết quả học tập cao nhất, rèn
luyện được tri thức và những kĩ năng sống, kĩ năng xã hội cần thiết.
Tóm lại, khi đặt ra vấn đề cho học sinh thảo luận người dạy phải chú
đến tính phù hợp với đặc trưng của mỗi bài học đọc – hiểu. Tức là phù hợp
với nội dung mục tiêu cần đạt và thể loại văn bản đọc – hiểu. Các vấn đề đặt
ra cho học sinh thảo luận cũng cần có tính hệ thống, có mối quan hệ chỉnh thể
để học sinh thu nhận tri thức được một cách toàn diện. Vấn đề thảo luận phải
kích thích tư duy sáng tạo của người học, giúp cho trí liên tưởng, tưởng tượng
trong tâm lí người học phát triển một cách tự nhiên. Có như vậy người học
vừa nắm được tri thức đọc – hiểu vừa rèn luyện được những kĩ năng cần thiết.
Đó cũng chính là yêu cầu mà giáo dục hiện đại đặt vào vai của người dạy và
người học hiện nay.
2.2.3. Cần linh hoạt và sáng tạo khi sử dụng hình thức tổ chức nhóm
trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản Ngữ văn 9
2.2.3.1. Về phía GV
Muốn đổi mới cách học trước hết phải đổi mới cách dạy. Cách dạy
quyết định cách học. Tất nhiên thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh
39
hưởng đến cách dạy của thầy. Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn
được thảo luận, học hợp tác với các bạn nhưng GV lại chưa đáp ứng được. Do
đó, GV cần phải kiên trì cách dạy theo PP tích cực, đặc biệt là với DH hợp
tác, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến
cao, hình thành thói quen cho HS. Trong đổi mới PP phải có sự hợp tác của
thầy và trò, sự phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học thì mới có hiệu
quả.
Khi cho HS học hợp tác, GV cần lựa chọn đúng vấn đề thảo luận.
Không thể lấy một vấn đề mang tính chất tái hiện cho HS thảo luận vì vấn đề
thảo luận phải là vấn đề chứa đựng nhiều mâu thuẫn trong nhận thức, kích
thích hứng thú tìm tòi và khám phá của HS.
VD: Khi dạy văn bản Sang Thu của Hữu Thỉnh, GV có thể đặt ra vấn đề thảo
luận như sau: “Trong khổ thơ đầu, sự biến đổi của đất trời sang thu được Hữu
Thỉnh cảm nhận bắt đầu từ đâu và gợi tả qua những hình ảnh và hiện tượng
nào?” (HS làm việc theo nhóm thảo luận từ 5-7 phút).
Kết quả:
- Nhóm 1 (tìm hình ảnh): phả, chùng chình, bỗng, hình như.
- Nhóm 2 (tâm trạng, tâm thế của tác giả): gió se, hương ổi,
Các nhóm khác cùng làm việc tương tự, sau đó GV đối chiếu, so sánh kết quả
với nhau và đi đến tổng kết đưa ra nhận định cuối cùng.
Hoặc có thể cho HS thảo luận vấn đề: “Từ “bỗng” ở câu đầu và từ hình như
ở câu cuối gợi ra suy nghĩ gì về tâm thế của tác giả?
Kết quả: HS sau khi thảo luận sẽ phát hiện được:
- Tâm trạng ngỡ ngàng, cảm xúc bâng khuâng
- Cảm nhận của tác giả: bằng nhiều giác quan; ngửi, nhìn, cảm nhận tấc
cả chuyển động chầm chậm, vấn vương nơi đường thôn xóm cũ.
- GV tổng kết và chỉ ra sự vận hành của tứ thơ cũng như tâm tư tình cảm
của tác giả.
40
+ Cách đặt vấn đề, câu hỏi thảo luận của GV cần tích cực, chủ động, mang
tính chất gợi để HS phát hiện vấn đề.
HS có thảo luận được hay không và phát hiện được vấn đề đến đâu là tuỳ
thuộc vào vấn đề mà giáo viên đưa ra. Không thể ôm đồm một vấn đề quá
khó cho các em thảo luận, cũng không thể đưa ra một vấn đề tái hiện để đòi
hỏi các em tư duy tập thể. Do vậy cách đặt câu hỏi và đưa ra vấn đề có ý
nghĩa quan trọng trong dạy học tổ chức hoạt động nhóm.
VD: Khi đọc hiểu văn bản Phong cách Hồ Chí Minh.
GV đưa ra vấn đề: Vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh để học sinh thảo luận
nhóm.
Vẫn biết đây là một trong những nội dung chủ yếu khi học văn bản này, thế
nhưng, vấn đề này quá lớn và biên độ rộng, do đó HS thảo luận sẽ thiếu sự tập
trung, bám sát vào văn bản, cho nên cần gợi cho HS bằng những câu hỏi
nhỏ.Ví dụ như:
- Tác giả cảm nhận thiên nhiên bằng nhiều giác quan hết sức tinh tế.
Điều đó giúp các em hiểu gì về tình cảm của tác giả với thiên nhiên?
- Cảnh vật giàu sức sống cho thấy con người đang ở trạng thái tâm lí thế
nào?
- Câu 6 chữ kết thúc bài thơ thể hiện nội dung gì và có vị trí như thế nào
trong cả bài thơ?
Kết quả: HS qua thảo luận có thể rút ra vẻ đẹp tâm hồn của Hồ Chí Minh thể
hiện ở 3 điểm: Yêu thiên nhiên; Yêu đời; Yêu cuộc sống; Tấm lòng ưu ái với
dân, với nước.
GV cần giúp đỡ nhau ứng dụng các PPDH tích cực trong đó có DH tổ
chức nhóm, sử dụng các phương tiện, thiết bị hiện đại vào dạy học đáp ứng
nhu cầu đổi mới giáo dục toàn diện.
Như vậy, quá trình sử dụng PPDH hợp tác không chỉ phụ thuộc vào HS
mà yếu tố đầu tiên phải kể đến đó là từ phía GV. Dạy và học là hai quá trình
41
diễn ra song song đồng thời, trong đó người GV có vai trò tổ chức, điều
khiển, hướng dẫn, cho nên cần phải định hướng thay đổi trước khi áp dụng
cho HS.
2.2.3.2. Về phía HS
Cũng như GV, HS cần hiểu đúng bản chất của hoạt động DH hợp tác
và hình thức tổ chức của nó. Để làm được điều này dĩ nhiên cần phải có GV
vì HS không thể tự khám phá ra bản chất và hình thức tổ chức hoạt động
nhóm. Cho nên, GV có thể qua hoạt động ngoài giờ, qua những tiết trả bài
kiểm tra, thực hành dành khoảng thời gian nhất định để giảng thêm cho HS
hiểu.
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của các
thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là PP cùng tham gia, nó
như một PP trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng HS với sự làm việc
chung của cả lớp.
Học sinh cần nhiệt tình, chủ động trong quá trình tìm hiểu tri thức mới.
Không thể có sự thành công trong giờ ĐH Vb Ngữ văn nhất là khi sử dụng
PPDH hợp tác khi HS không có sự chủ động nhiệt tình tham gia. Thành công
chỉ thực sự đến khi nào HS chủ động tích cực theo, đó mới có thể huy động
được tri thức tập thể vào quá trình tìm hiểu, khám phá các đơn vị kiến thức
của bài học.
Cần rèn luyện kĩ năng Đọc- hiểu văn bản. Điều quan trọng nhất của
một giờ Đọc hiểu văn bản là HS phải có khả năng cảm thụ, có xúc cảm với
tác phẩm văn chương. Từ kĩ năng “Đọc” đến kĩ năng “Hiểu” đó là cả một quá
trình cần rèn luyện và HS không thể học xong một giờ đọc hiểu văn bản,
không thể nói là ứng dụng PPDH hợp tác một cách tích cực khi không có khả
năng rung cảm. Nếu chỉ có sử dụng PPDH tích cực mà không có sự rung cảm
thẩm mĩ trong Đh vb Ngữ văn thì đó là PP rỗng tuếch. Cho nên, đọc hiểu là kĩ
năng quan trọng mà HS cần củng cố kịp thời.
42
VD: Khi đọc hiểu văn bản “Trao duyên” ;“Nỗi thƣơng mình” trong Truyện
Kiều của Nguyễn Du, nếu thiếu sự cảm thụ tinh tế thì:
- Không hiểu được nỗi niềm tâm sự của Kiều khi trao duyên cho em ( Vì
sao lại là cậy mà không là nhờ, chịu; là lạy, thưa mà không là nói, bảo ;
Vì sao lại là người thác oan, hồn còn mang nặng lời thề……… ).
- Không hiểu được tâm trạng của Kiều với nỗi niềm âm ỉ đêm ngày trước
cảnh: Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Trường Khanh……
Bởi vậy, HS cần tích cực đọc hiểu, tham khảo, rèn luyện khả năng cảm thụ
của mình cho ngày càng tinh tế để phát hiện được nhiều vấn đề trong quá
trình thảo luận, hợp tác với bạn bè.
2.2.4. Phải kết hợp tổ chức nhóm với nhiều phƣơng pháp, biện pháp
dạy học khác để nâng cao hiệu quả dạy Đọc – hiểu văn bản
Trong dạy học, người giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp chính là
một điều thất bại. Không có phương pháp nào là tối ưu nhất. Để phát huy hiệu
quả tối đa của dạy học đó là người dạy cần kết hợp nhiều phương pháp, biện
pháp dạy học khác nhau để nâng cao hiệu quả dạy và học môn học cụ thể.
Các tác giả Sử Khiết Doanh và Trâu Tú Mẫn trong cuốn Kĩ năng tổ
chức lớp, kĩ năng biến hóa trong giảng dạy có viết: “Trong dạy học cần
không ngừng thay đổi tín hiệu kích thích, không chỉ có được sự chú ý của học
sinh, dẫn đến và duy trì hứng thú học tập của học sinh, mà còn có thể tăng
cường tính sinh động của việc dạy học, nâng cao chất lượng dạy học”
[25;94].
Hoạt động nhóm được vận dụng phổ biến trong dạy học hiện đại, trong
đó nó có vai trò quan trọng với cả dạy học Đọc – hiểu văn bản ở lớp 9 .
Nhưng cũng cần thấy rằng khi một mình nó được sử dụng thì không thể kích
thích thái độ học tập cũng như khả năng tư duy của người học một cách tối
đa, do đó hiệu quả học tập cũng không đạt đến mức cao nhất có thể. Vì vậy
cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp biện pháp dạy học trong
43
một giờ Đọc – hiểu văn bản để học sinh nắm vững tri thức và thực hành thành
thạo các kĩ năng cần thiết. Trong quá trình dạy học Đọc – hiểu người dạy có
thể kết hợp hoạt động nhóm với các biện pháp như sử dụng phương tiện trực
quan, bình giảng, gợi mở, đọc diễn cảm kết hợp với cử chỉ hành động của
người dạy…Việc kết hợp các phương pháp, biện pháp dạy học trong giờ Đọc
– hiểu văn bản phải linh hoạt và biến hóa để vừa thu hút, kích thích và giúp
cho học sinh học tập một cách sáng tạo.
Trong thực tế dạy học Đọc – hiểu, có thể thấy người dạy không sử
dụng chỉ một phương pháp trong quá trình tổ chức dạy học mà vận dụng tổng
hợp, linh hoạt nhiều phương pháp cùng trong quá trình dạy học đó. Các biện
pháp cũng được kết hợp linh hoạt chứ không có sự phân tách rời rạc trong quá
trình dạy học Đọc – hiểu. Trong quá trình dạy học Đọc – hiểu, người dạy có
thể vừa tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh nhưng cũng có thể kết hợp với
việc trình chiếu hình ảnh có liên quan đến vấn đề thảo luận của học sinh, có
thể sử dụng các phương tiện trực quan khác như bảng phụ, tranh ảnh, phim tư
liệu, sử dụng bản đồ tư duy …Trong số các văn bản đọc – hiểu có nhiều tác
phẩm kinh điển đã được dựng thành tác phẩm sân khấu, điện ảnh…người dạy
có thể cho học sinh xem để giúp các em thu nhận thông tin đa chiều. Cách đó
cũng khiến cho các em hứng thú hơn với việc học Đọc – hiểu văn bản. Trong
quá trình học sinh hoạt động nhóm người dạy cũng có thể bình giảng những
chi tiết quan trọng, ấn tượng để khơi gợi tư duy, liên tưởng, tưởng tượng cho
học sinh…Người dạy cũng có thể sử dụng những cách thể hiện phi ngôn ngữ,
lập mục tiêu, đưa ra thông tin phản hồi, gợi ý, nêu và giải quyết vấn đề…để
kết hợp cùng nhau tạo ra hiệu quả cao nhất cho hoạt động nhóm trong giờ
Đọc – hiểu văn bản.
Trong thực tế, không hạn chế các phương pháp dạy học kết hợp với
hoạt động nhóm và cũng không có nhận định nào nêu ra đâu là sự kết hợp
hoàn hảo. Mà yêu cầu căn bản đó là người dạy phải có phông kiến thức phong
44
phú, kĩ năng kĩ xảo thành thạo để có thể tạo ra được sức hút đối với người
học. Kĩ năng biến hóa, kết hợp của người dạy phải làm sao để người học
không có thời gian rỗi để chú ý đến vấn đề khác nữa. Vậy thì người dạy học
phải nắm được tâm lí người học, biết vận dụng một cách linh hoạt và tổng
hợp các phương pháp, kĩ xảo dạy học để sắp xếp nội dung bài học, nội dung
và chương trình hoạt động nhóm một cách hợp lí, thuận lợi. Để được như vậy
thì giáo viên phải chuẩn bị bài giảng thật kĩ lưỡng, nghiên cứu các tài liệu liên
quan đến các bài học đọc – hiểu văn bản kĩ càng, tìm ra những cái mới mà
kích thích người học say mê theo dõi, vận dụng linh hoạt các biện pháp. Và
người dạy cũng phải biết khơi mở để giúp người học đưa ra được những phản
biện của chính bản thân họ, giải quyết những thắc mắc, vấn đề thảo luận phải
làm nổi bật trọng tâm bài học, bứt phá những điểm khó trong quá trình dạy
học đó. Người giáo viên cũng phải phản ứng nhanh với những tình huống xảy
ra trong quá trình tiến hành dạy học Đọc – hiểu và giải quyết kịp thời những
vấn đề của người học, khuyến khích, biểu lộ đồng tình hay không với người
học, giáo dục người học một cách có chủ đích…đều thể hiện được ý nghĩa
linh hoạt của người dạy trong việc vận dụng hợp lí các phương pháp, biện
pháp dạy học Đọc – hiểu. Phải tâm niệm rằng, dạy học Đọc – hiểu không chỉ
cần cung cấp cho người học hệ thống tri thức đọc – hiểu là đủ, mà còn cần
thấy người học cần học nhiều hơn thế. Kĩ năng học tập, kĩ năng xã hội, kĩ
năng sống, tư tưởng - tình cảm…họ cũng học tập từ phần học đó. Thực sự mà
nói, trong thực tế dạy học, hầu hết mọi giáo viên đều vận dụng tổng hợp nhiều
phương pháp, biện pháp kết hợp với hoạt động nhóm nhưng không phải bao
giờ cũng phát huy sự linh hoạt đến mức hoàn thiện, hoàn mĩ.
Dù người dạy tiến hành tổng hợp các biện pháp, cách thức dạy học ở
hình thức nào thì cũng phải đảm bảo không làm gián đoạn, ảnh hưởng đến
chất lượng hoạt động nhóm của học sinh. Sự kết hợp phải có trình tự hợp lí và
đảm bảo phát huy tích cực vai trò của người học và các phương pháp dạy học
45
đã lựa chọn. Một khi sự kết hợp phi lí sẽ làm phản tác dụng hoạt động nhóm.
Sự kết hợp phải linh hoạt, người giáo viên phải ứng biến trước các tình huống
trong quá trình dạy học. Sự linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp
dạy học khác với hoạt động nhóm phải làm thành kĩ xảo ở người dạy để tránh
tình trạng gián đoạn giờ học hoặc không đạt được mục đích, nhiệm vụ dạy
học các đơn vị bài học đọc – hiểu văn bản.
Ngoài ra, để kết hợp được hoạt động nhóm với các phương pháp dạy
học khác thì người dạy học cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung, yêu cầu cần
đạt của bài học, căn cứ vào yêu cầu về kĩ năng cần rèn luyện…để lựa chọn
phương pháp một cách hợp lí nhất. Sự tương thích giữa các phương pháp,
biện pháp dạy học đã lựa chọn sẽ giúp người giáo viên vận dụng linh hoạt.
Khi không có sự tương thích nhất định khiến cho việc phối hợp các phương
pháp với hoạt động nhóm diễn ra rời rạc, thiếu hợp lí và đánh mất ý nghĩa của
sự đa dạng các phương pháp dạy học.
Như vậy sự vận dụng đơn lẻ phương pháp hoạt động nhóm trong giờ
dạy học Đọc – hiểu văn bản chưa hẳn đã đem lại hiệu quả tối ưu cho người
học và người dạy trong quá trình dạy học. Mà luôn cần có sự kết hợp linh
hoạt, biến hóa, hợp lí giữa các phương pháp, biện pháp dạy học khác với hoạt
động nhóm để phát huy tối đa hiệu quả của các phương pháp dạy học của giáo
viên cũng như kết quả học tập của học sinh.
Tóm lại, để có thể sử dụng PPDH hợp tác trong giờ đọc hiểu văn bản
Ngữ văn lớp 9 đạt thành công là điều tương đối khó. Khó bởi tính chất đặc
thù của môn học. Mặt khác, cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng
lạm dụng cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi
mới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì PP càng đổi mới. Thế những khó
không có nghĩa là không thực hiện được. Điều quan trọng là cần nắm bắt
được vị trí vai trò của nó trong nhóm PPTC và áp dụng với các PP truyền
thống để có hiệu quả cao nhất trong dạy học.
46
2.3. Một số biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động nhóm cho học
sinh trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản ở trƣờng THCS tại Quận 2 -
Tp.HCM
2.3.1. Tổ chức nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản thơ
Một mảng lớn trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 9 đó là mảng thơ, cụ
thể là gồm 11 văn bản đọc - hiểu thuộc thể loại này. Thơ là một hiện tượng
văn học rất phức tạp, có thể nói là kì diệu như nhà thơ Sóng Hồng đã nói:
“Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp”. Không giống
như văn xuôi, nhà thơ trực tiếp bộc lộ tình cảm, tư tưởng qua nhân vật trữ
tình.
Khi dạy mảng này, giáo viên cần nắm được trặc trưng thể loại của nó.
Đặc trưng cơ bản nhất của thơ trữ tình đó chính là sự thể hiện trực tiếp của
chủ thể trữ tình (nhân vật trữ tình) – chủ thể phát ngôn trong thơ. Nếu lời văn
trong truyện hay kí đều có chung một đặc tính là lấy việc mô tả, kể lại những
câu chuyện, những sự việc diễn ra trong một xã hội làm chính. Và cảm nghĩ,
thái độ cách đánh giá của nhà văn thường giấu kín trong bản thân câu chuyện
chứ không được làm nổi bật lên chiếm vị trí chủ đạo thành đối tượng thưởng
thức trực tiếp của người đọc. Còn lời thơ là sự bộc lộ trực tiếp tâm tư, tình
cảm, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn, tiếng gọi nồng nhiệt của trái tim của
nhân vật trữ tình. Nội dung tác phẩm thơ trữ tình gắn liền với hình tượng nhân
vật trữ tình. Nhân vật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tâm
sự, cảm xúc, suy nghĩ... của mình, là nguyên nhân trực tiếp khêu gợi nguồn
cảm hứng cho tác giả. Nhân vật trữ tình không phải là đối tượng để nhà thơ
miêu tả mà chính là những cảm xúc, ý nghĩ, tình cảm, tâm trạng, suy tư... về
lẽ sống và con người được thể hiện trong tác phẩm. Khi đọc một bài thơ,
trước mắt chúng ta không chỉ xuất hiện những cảnh thiên nhiên, sinh hoạt,
những con người mà còn hình tượng một ai đó đang ngắm nhìn, đang rung
47
động, suy tư về cuộc sống nói chung. Hình tượng ấy chính là nhân vật trữ
tình. Đó là tâm hồn, nỗi niềm, tấm lòng... mà người đọc cảm nhận được qua
tác phẩm thơ ca. Phần lớn nhân vật trữ tình xuất hiện với tư cách là những
tình cảm, tâm trạng., suy tư... của chính bản thân nhà thơ. Tuy nhiên có nhiều
trường hợp nhân vật trữ tình không phải là hiện thân của tác giả. Do tính chất
tiêu biểu, khái quát của nhân vật trữ tình nên nhà thơ có thể tưởng tượng, hoá
thân vào đối tượng để xây dựng nhân vật theo quy luật điển hình hoá trong
sáng tạo. Có thể coi đây là những nhân vật trữ tình nhập vai.
Trữ tình là phương thức sáng tạo văn học tiêu biểu nhất cho thơ. Để là
thơ, ngoài yếu tố trực tiếp bộ lộ cảm xúc của cái tôi trữ tình còn cần thêm một
yếu tố nữa là sự diễn đạt nội dung trữ tình bằng kiểu lời nói đặc biệt – những
câu văn vần giàu nhạc tính, giàu hình ảnh, mang tính chất gợi cảm cao độ.
Âm thanh, nhịp điệu thêm hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ
ngữ không thể nói hết. Nhạc tính thể hiện chỗ khuôn nhịp – tức là số chữ
trong một dòng, nhịp điệu – là nói về cách phối hợp âm thanh và cách ngắt
nhịp, vần là cách hiệp âm cuối dòng hay giữa dòng. Những điều đó làm cho
ngôn ngữ thơ giàu nhạc tính. Do chỗ trữ tình là sự thổ lộ những cảm nghĩ,
rung động của con người trước thế giới nên lời thơ phải hết sức gợi cảm. Tính
chất gợi cảm như là đặc điểm chung của ngôn từ văn chương bộc lộ tập trung
nhất trong thơ. Chúng ta có thể hình dung ngôn từ hằng ngày như là bước đi,
thì ngôn từ trong thơ như những điệu múa – biểu hiện tâm hồn, cảm xúc, giàu
khả năng tác động thẩm mĩ. Từ cách dùng từ đến cách đặt câu, dựng khổ,
đoạn... Tất cả đều được cân nhắc làm sao có thể truyền tải mạnh mẽ, tác động
sâu sắc đến người đọc. Tính chất gợi cảm ở lời thơ bộc lộ hai đặc điểm: giàu
nhạc tính và tính hình tượng.
Đọc thơ trữ tình dù là ở thời kì nào, trung đại hay hiện đại, bao giờ ta
cũng thấy tác giả chú tâm đến tính chu kì của luân phiên bằng trắc, cách gieo
vần để tính nhạc nổi khoái cảm thẩm mĩ xuất hiện. Tính nhạc tạo nên phong
48
cách độc đáo của tác giả, đó là nhạc lòng, là nhịp điệu, cảm xúc bên trong, là
nội lực, tâm trạng đầy ngân vang của cõi lòng nhà thơ trước hiện thực của
cuộc sống và nỗi niềm nhân thế.
Thơ trữ tình trực tiếp thể hiện mạch cảm xúc, tâm tư tình cảm của chủ
thể trữ tình, làm sống dậy thế giới nội tâm của con người. Nói cách khác,
những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng được trình bày trực tiếp làm thành nội
dung chính của tác phẩm trữ tình. Tuy nhiên khác với cảm xúc, suy nghĩ hằng
ngày, cảm xúc trữ tình được chưng cất từ những gì tinh hoa, cao quý, thanh
sạch nhất của tâm hồn người nghệ sĩ. Cảm xúc muốn thành thơ phải ở dạng
cao trào hết sức mãnh liệt đã trở thành nỗi day dứt khôn nguôi không viết ra
không được. Cảm xúc trữ tình được trực tiếp bày tỏ qua ngôn ngữ, phản ánh
thế giới tâm tình trong tác phẩm. Những cảm xúc trong tác phẩm đã được tác
giả nâng lên, mang tính quảng đại, phổ quát vì luôn đi tìm sự đồng điệu, đồng
cảm từ phía người tiếp nhận. Điều này cho phép thơ trữ tình thâm nhập vào
những chân lí phổ biến nhất của con người như sống, chết, tình yêu, lí tưởng,
ước mơ, hi vọng. Đây là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm trữ tình.
Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta phần nào nắm được các đặc
trưng cơ bản của thơ trữ tình và có một cách nhìn tổng quát về nó. Vậy
nên, khi dạy đọc - hiểu tác phẩm trữ tình chúng ta cần phải nắm vững lí
thuyết về thơ trữ tình. Đó là phương tiện quan trọng để tiến hành đọc –
hiểu thơ trữ tình.
Thơ trữ tình nói riêng, thơ nói chung ra đời từ cảm xúc cụ thể của tác giả
về một hiện tượng, sự kiện…bởi vậy trong bài thơ có cái “thần” chớp nhoáng,
khác hẳn tác phẩm văn xuôi nhà văn có sự thai nghén lâu dài. Bởi thế người ta
nói, tiếng thơ là tiếng lòng. Vậy làm thế nào làm thế nào để khai thác tiếng
lòng ấy thật đầy đủ, sâu sắc, lột tả ược cảm xúc chớp nhoáng ấy của tác giả ?
Đó là cả một vấn đề lớn trong dạy thơ trữ tình.
49
Số lượng văn bản thơ trong sách giáo khoa Ngữ văn 9 là khá lớn. Song
việc dạy thơ theo chúng tôi chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên còn lệ
thuộc nhiều vào sách hướng dẫn, đôi khi lười suy nghĩ, lười cảm thụ mới chỉ
khai thác tác phẩm thơ một cách hời hợt, thiếu hẳn chiều sâu, quên hẳn một
điều “thơ là cảm xúc là tiếng lòng của tác giả”.
Hơn nữa hiện nay sách hướng dẫn, tham khảo quá nhiều dẫn đến hiện
tượng định hướng bị “loãng”, nhiều thông tin. Thậm trí có sách viết bị sai
kiến thức, hoặc không hoàn toàn chính xác, đi lệch hướng của bài thơ bài văn.
Cho nên giáo viên dạy văn chúng tôi cảm thấy còn khó khăn trong việc giảng
dạy, nhất là đối với những tác phẩm thơ trữ tình.
Vì vậy để có một tiết dạy tác phẩm thơ thành công, hiệu quả chúng tôi đề
xuất các bước tiến hành sau :
Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà. Đây là khâu cơ bản, hết sức
quan trọng trong công tác dạy - học. Vậy với một bài thơ trữ tình, giáo viên
cần hướng dẫn cho học sinh những gì? Giáo viên cần để thời gian từ 3 - 5
phút cuối giờ dặn dò nhắc nhở các em. Cần phải hướng dẫn cụ thể:
- Cần đọc kĩ nhiều lần bài thơ, tìm những từ hay, câu hay
- Tìm hiểu rõ hoàn cảnh thời gian ra đời của bài thơ.
- Bài thơ được làm theo thể nào?
- Bài thơ được bắt nguồn từ cảm xúc như thế nào?
- Ngoài ra định hướng trả lời một số câu hỏi (SGK) và đọc bài thơ.
Với sự chuẩn bị chu đáo của các em giờ học hôm sau sẽ sôi nổi hơn, kiến
thức sâu hơn các em đặt được nhiều tình huống hơn trong bài học
Phần đọc và tìm hiểu chú thích giáo viên đặt câu hỏi tái hiện, gợi mở
bình thường, học sinh không làm việc theo nhóm (phần này khoảng 5 phút).
Phần tìm hiểu nội dung văn bản (phần quan trọng nhất - giáo viên cho câu hỏi
trên bảng yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm khoảng 15 phút) giáo viên
đưa ra số câu hỏi phù hợp theo bài học và phân nhóm phải đảm bảo mỗi
50
nhóm một câu hỏi. Khi nhóm nào trình bày xong giáo viên mời các nhóm
khác góp ý bổ sung sau đó giáo viên kết lại và ghi bảng, học sinh ghi tập.
(phần trả lời, góp ý, giáo viên kết lại trung bình mỗi câu hỏi là 5 phút)
Yêu cầu đối với câu hỏi thảo luận nhóm phải là dạng câu hỏi đặt vấn
đề, phải đạt được mục đích kích thích sự cảm thụ của học sinh với tác phẩm,
phải gây được những phản ứng bên trong của HS. Không nên đưa những dạng
câu hỏi mà chỉ yêu cầu HS trả lời có hoặc không.
Câu hỏi phải tác động đến cảm xúc và rung động thẩm mỹ, đặc biệt là
tác động đến trực giác của HS. Ở dạng câu hỏi này GV phải biết chọn lựa
những chi tiết nghệ thuật đặc sắc, có tác dụng thẫm mỹ cao.
Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát.
Cần có những câu hỏi nhỏ gợi ý, tạo điều kiện để HS nhận ra yêu cầu và trả
lời được. Câu hỏi càng gây tranh cãi qua lại giữa các nhóm càng tốt.
Hệ thống câu hỏi phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp với
đối tượng và phân loại đối tượng. Tóm lại, yêu cầu của câu hỏi trong giờ
giảng văn phải vừa tạo ra sự kích thích, vừa tác động đến nhận thức, tư duy
của HS. Việc đưa ra câu hỏi phải căn cứ vào nội dung bài học, vào đối tượng
HS, vào điều kiện khách quan… để có cách đặt câu hỏi, cách lựa chọn hình
thức câu hỏi và sử dụng lượng câu hỏi thích hợp.
Dưới đây là một số câu hỏi có thể thiết kế thành những tình huống thảo
luận nhóm cho học sinh trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản Bài thơ về tiểu đội
xe không kính:
Câu 1: Tựa đề bài thơ có ý nghĩa gì? có gì độc đáo? Có thể đặt tựa đề (những
chiếc xe không kính” mà bỏ đi từ bài thơ được không? vì sao?
Câu 2: Hình ảnh nào của chiếc xe không có kính làm em thích nhất? Vì sao?
Câu 3:Theo em điều gì đã làm nên sức mạnh & ý chí quyết tâm giải phóng
Miền Nam của người lính? Hãy đọc & phân tích hai câu thơ cuối cùng của
bài thơ?
51
Câu 4: Bài thơ đã thể hiện 1 phong cách sáng tác riêng rất độc đáo của
Phạm Tiến Duật. Em có đồng ý với nhận xét đó không? Vì sao?
Câu 5: Hãy so sánh hình ảnh người lính trong bài Đồng Chí và hình ảnh
người lính lái xe Trường Sơn, hãy nêu cảm nghĩ của em về thế hệ trẻ thời
chống Pháp, Mỹ?
Khi học sinh thảo luận xong, nhóm trưởng trình bày, các nhóm khác bổ
sung ý kiến, giáo viên vừa kết vừa ghi bảng - học sinh chép, câu nào giải
quyết xong câu đó cho đến hết giờ.
2.3.2. Tổ chức nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản truyện
Ở lớp 9, phần truyện được cấu trúc thành ba mảng: truyện trung đại,
truyện hiện đại Việt Nam sau 1945 và truyện nước ngoài. HS sẽ được tiếp xúc
với nhiều mảng truyện và sẽ được mở rộng kiến thức trên nhiều phương diện
nội dung và nghệ thuật truyện, từ đó mà nâng cao tâm hồn, tình cảm và tư
tưởng. Chúng ta phải xem xét đặc điểm từng mảng truyện để có hướng dạy
cho phù hợp.
Về truyện trung đại Việt Nam, SGK chọn học bốn tác phẩm tiêu biểu
của thời trung đại : một truyện ngắn - Chuyện người con gái Nam Xương -
trong Truyền Kì mạn lục của Nguyễn Dữ; một tiểu thuyết lịch sử - hồi thứ 14
Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái; hai truyện thơ Truyện Kiều và
các trích đoạn, Truyện lục Vân Tiên và các trích đoạn.
Các tác phẩm này đều có đặc điểm chung của văn học trung đại : viết
bằng chữ Hán, mang tư duy và cách viết của văn học thời phong kiến như
câu văn đối xứng, nhịp nhàng, dùng hình ảnh ước lệ, tượng trưng, viết theo lối
chương hồi… Tuy vậy, ở những ngòi bút tiêu biểu này, tính nghệ thuật của
tác phẩm đã đạt đến một trình độ đáng kể về cac mặt cốt truyện, kịch tính,
cách chọn lọc chi tiết có ý nghĩa và đặc biệt là việc khắc hoạ tính cách nhân
vật.
52
Mảng truyện hiện đại Việt Nam sau 1945, số lượng tác phẩm được học
nhiều hơn có thể đem đến cho HS những nét cơ bản nhất của hiện thực đất
nước từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945: cuộc kháng chiến chống Pháp qua
Làng của Kim Lân và chống Mỹ qua Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh
Khuê, Chiếc Lược Ngà của Nguyễn Quang Sáng ; công cuộc xây dựng đất
nước qua Lặng Lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long ; tâm sự của con người
trong thời kỳ đổi mới qua Bến quê của Nguyễn Minh Châu. Tất cả đều là
truyện ngắn của những cây bút có phong cách riêng với những sáng tạo nghệ
thuật đa đạng và phong phú, có thể cung cấp cho HS nhiều tri thức về thể loại
truyện ngắn hiện đại.
Mảng truyện nước ngoài, chương trình và SGK đã chọn được năm tác
phẩm tiêu biểu của nhân loại mà tác giả là những nhà văn nổi tiếng được loài
người biết đến : Cố hương của Lỗ Tấn (Trung Quốc), Những đứa trẻ trong
thời thơ ấu của M.Gorơki (Nga), Rôbinxơn ngoài đảo hoang trong Rôbinxơn
Cruxô cuả Điphô (Anh), Bố của Ximông của Môpa xăng (Pháp), Con chó Bấc
trong Tiếng gọi nơi hoang dã của Lânđơn (Mĩ) Cố hương và Bố của Ximông
là truyện ngắn, ba tác phẩm còn lại là tiểu thuyết, trong đó Thời thơ ấu là tiểu
thuyết tự thuật. Với 5 tác phẩm này, HS sẽ thu nhận được nhiều tinh hoa của
văn học thế giới về cả hai phương diện nội dung và nghệ thụât .
Về phương pháp chung khi dạy thể loại truyện, chúng tôi có những
định hướng như sau:
Trước hết, cần cho HS chia nhóm chuẩn bị trước ở nhà một số nội dung
như: tóm tắt tác phẩm để nắm được cốt truyện trước khi đi vào tìm hiểu, phân
tích đồng thời đây cũng là yêu cầu tích hợp của Tập làm văn
Chú ý đến các yếu tố nghệ thuật đặc trưng của truyện để định hướng
cho HS khai thác tác phẩm. Đối với truyện, cần lưu ý đến mâu thuẩn và kịch
tính : giữa bản chất tốt đẹp của Vũ Nương với sự nghi ngờ và hành động nhẫn
tâm, thô bạo của Trương Sinh (Chuyện người con gái Nam Xương) ; giữa cái
53
tin thất thiệt về làng chợ Dầu với lòng yêu nước tự hào về quê hương của ông
Hai (Làng); giữa ước muốn được gọi một tiếng “ba”của người cha với “sự
ương ngạnh cứng đầu” của đứa con gái (Chiếc lược ngà),….
Chi tiết hàm chứa ý nghĩa : cái bóng và lời nói của bé Đản (Chuyện
người con gái Nam Xương), cái thẹo trên mặt ngưòi cha (Chiếc lược ngà) việc
bác Philíp hứa tìm cho bé Ximông)….
Chân dung và tính cách nhân vật : Quang Trung , Ông Hai, Anh Sáu,
bé Thu, Nhuận Thổ,….
Cuối cùng, cần lưu ý hướng dẫn HS tích hợp giữa phần truyện với phần
văn bản tự sự trong tập làm văn, lấy các chất liệu trong tác phẩm truyện – kí
để dạy văn bản tự sự : tóm tắt tác phẩm tự sự, miêu tả trong văn bản tự sự, đối
thoại và độc thoại trong văn bản tự sự, người kể, ngôi kể tromg văn bản tự sự.
Ngoài việc cho HS nắm được những đặc điểm của truyện trung đại như đã nói
trên đây, khi dạy, cần dựng lại không khí của truyện, đưa HS về một thời xa
xưa để các em cảm nhận được câu chuyện . Cũng cần lưu ý HS đến cách nhìn
của các tác giả. Tuy đều xuất thân từ tầng lớp nho sĩ phong kiến, nhưng cách
nhìn nhận, đánh giá của các tác giả ở đây đã vượt qua được định kiến chính trị
của mình để miêu tả đúng hiện thực con người và lịch sử: Nguyễn Dữ đã
minh oan cho Vũ Nương bằng một đoạn kết có hậu, và đặc biệt, Ngô gia văn
phái đã miêu tả người anh hùng dân tộc Quang Trung thực và đẹp như vốn có
trong lịch sử .
Ở mảng truyện hiện đại sau 1945, năm truyện ngắn hay của năm nhà
văn tiêu biểu, nhưng mỗi truyện đều mang một phong cách riêng , đem đến
cho người đọc một vẽ đẹp riêng . Khi dạy cần cho học sinh cảm nhận từng vẽ
đẹp riêng đó để hiểu rõ và tự hào về gương mặt của đất nước và con người
Việt Nam trong chế độ mới. Nếu cái hay của Làng và Chiếc lược ngà là ở
mâu thuẩn và kịch tính thì sự hấp dẫn của Lặng Lẽ Sa Pa và Bến quê là do tác
giả đã tạo ra một tình huống truyện có ý nghĩa, gợi nhiều cảm xúc và nghĩ suy
54
trong người đọc, còn Những ngôi sao xa xôi thì lại mang vẽ đẹp trẻ trung, đầy
sức sống của những con người đánh Mỹ…Truyện của Nguyễn Thành Long
vào chất thơ bay bổng trên đỉnh Sa Pa đầy nắng gió, còn truyện của Nguyễn
Minh Châu lại mang màu sắc triết lý thâm trầm ở các Bến quê mà đến khi sắp
từ giã cõi đời con người mới kịp nhận ra. Ở Chiếc lược ngà là vẽ đẹp thên
thiên của tình cha con sâu nặng, còn Làng lại ngời sáng lên một vẽ đẹp mới
của người nông dân khi họ đã từ tình yêu làng truyền thống yêu nước vươn
lên thành tình yêu cách mạng.
Mảng truyện nước ngoài, để HS có thể tiếp cận với những tinh hoa của
truyện thế giới vốn còn xa lạ, khi dạy cần dựng lại khung cảnh (không gian,
thời gian) của các truyện đó đồng thời lưu ý các em đến những điều khác biệt
giữa con người, cuộc sống ….trong các truyện đó với các truyện nước ta để so
sánh, đối chiếu. Cũng cần cho HS nắm được đặc sắc nghệ thuật của từng tác
phẩm với cách viết riêng của từng tác giả.
Khi dạy mảng truyện chúng ta cần bám sát những đặc trưng thể loại. Mỗi
thể loại đều mang trong mình những phương thức, quy luật tiếp cận đời sống
riêng. Nhưng đồng thời, mỗi thể loại nó cũng không phải tồn tại độc lập trăm
phần trăm mà còn có sự giao thoa giữa các thể loại, mang tính chất trung gian
như: truyện thơ, thơ văn xuôi, kịch thơ, truyện kí (truyện nặng về kí - 1945-
1954; kí nặng về truyện - sau 1975).
Đã là tác phẩm văn học thì loại nào cũng vươn tới tầm khái quát hiện
thực. Nhà văn trình bày những hiểu biết, khám phá của mình về đời sống.
Trước khi bắt tay vào viết, nhà văn bao giờ cũng phải đào sâu, nghiền ngẫm
những vấn đề mà chưa ai tìm thấy để mình trình bày ra cho độc giả. Vì thế
việc phân tích tác phẩm trước hết là nhằm tìm hiểu ý nghĩa khái quát đời sống
của một tác phẩm, tìm hiểu bức thông điệp đời sống mà nhà văn muốn gửi tới
độc giả.
55
Ví dụ, đọc hiểu tác phẩm Làng của nhà văn Kim Lân, HS phải thấy
được ý nghĩa khái quát: tâm trạng phức tạp thay đổi qua từng chi tiết trước,
trong và sau khi ông Hai nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, diễn biến tâm trạng
đó chính là nét độc đáo của truyện Làng. Mâu thuẩn và kịch tính : giữa bản
chất tốt đẹp của Vũ Nương với sự nghi ngờ và hành động nhẫn tâm, thô bạo
của Trương Sinh (Chuyện người con gái Nam Xương); giữa cái tin thất thiệt
về làng chợ Dầu với lòng yêu nước tự hào về quê hương của ông Hai (Làng);
giữa ước muốn được gọi một tiếng “ba” của người cha với “sự ương ngạnh
cứng đầu” của đứa con gái (Chiếc lược ngà),….
Khi dạy học truyện cần chú trọng tới ba nội dung. Thứ nhất là sự kiện,
biến cố (cốt truyện). Thứ hai là nhân vật. Thứ ba là nghệ thuật trần thuật.
Thứ nhất cần chú ý phân tích diễn biến cốt truyện
Tự sự là một phương thức tái hiện đời sống thông qua các sự kiện, biến
cố và hành vi con người trong toàn bộ tính khách quan của nó. Ở đây, tư
tưởng tình cảm của nhà văn thâm nhập sâu sắc vào sự kiện và hành động của
con người, nhà văn kể lại, tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình khiến cho
người đọc có cảm giác rằng hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là một
thế giới đang tự tồn tại, phát triển, không phụ thuộc vào tư tưởng, tình cảm
của người viết.
Phân tích truyện mà không nắm được cốt truyện thì xem như mọi cảm
nhận, đánh giá của người đọc chỉ là nói suông. Đây là nguyên tắc hàng đầu
khi tiếp nhận các tác phẩm thuộc loại thể tự sự.
GV có nhiều cách giúp HS nắm được diễn biến câu chuyện. Có thể
bằng cách kể lại hoặc có thể bằng quá trình tìm hiểu các chặng đường phát
triển của nó. Tức là phân tích một cách đại cương trong quá trình đọc văn.
Thông thường, cốt truyện phải trải qua một tiến trình vận động có hình thành,
phát triển và kết thúc. Có điều, không phải truyện nào học sinh cũng có thể tái
hiện lại một cách đầy đủ sự kiện biến cố theo ba thành phần trên. Trình tự ấy
56
cũng biến hóa sinh động như cuộc sống muôn màu, tùy theo ý đồ nghệ thuật
của nhà văn và cũng không phải khi nào sự kiện cũng là tất cả của tác phẩm.
Cũng không phải truyện nào sự kiện, bước ngoặt cuộc đời nhân vật đều được
bố cục theo thời gian mà điều này còn phụ thuộc vào cách tổ chức nghệ thuật
của nhà văn. Ở một số sáng tác, tác giả có cách kết cấu không giống ai.
Như vậy, dạy đọc hiểu truyện là dạy cho HS nắm được sự phát triển
của truyện: các sự kiện các biến cố hay tâm lí. Từ đó mà nắm được cấu tạo
hình tượng tác phẩm. Đặc biệt với một số thể loại của kí thì cấu trúc không bị
ràng buộc bởi một cốt truyện mà nét chủ đạo của chúng là một tư tưởng, một
cảm xúc định hình từ việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể có
thực. Do đó HS chỉ có thể hệ thống tác phẩm bằng việc khai thác nhân vật.
Thứ hai phân tích các nhân vật trong dòng chảy của cốt truyện
Suy cho cùng nhà văn kể lại hay tả lại những gì xảy ra bên ngoài mình đều
cốt hướng đến con người. Bởi thế mà trong truyện không thể không có nhân vật,
hệ thống nhân vật. Mục đích của việc phân tích nhân vật là phải thấy được khát
vọng, mơ ước của nhà văn đối với con người; khám phá được tính cách tiêu biểu
điển hình của thời đại. Văn học dựng lại rất cụ thể sinh động những con người
trong mọi thời đai; việc phân tích nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật giúp ta có
thể tái hiện lại hoàn cảnh đời sống nhất là việc phân tích nhân vật ấy lại kết hợp
với việc phân tích các sự kiện càng giúp ta hiểu hơn hoàn cảnh đời sống.
Dạy học loại truyện này không thể không phân tích sự vận hành của tình
huống truyện, quá trình tâm lí nhân vật…
Từ đó, đòi hỏi thứ hai đối với việc dạy học truyện là giúp học HS nắm
được biện pháp phân tích nhân vật.
Có thể thấy trung tâm của biến cố, sự kiện là nhân vật. Chính vì nhân
vật không đứng im nên quá trình phân tích nhân vật phải đan xen với phân
tích sự kiện và biến cố bởi nhân vật bao giờ cũng gắn với hành động, ngôn
ngữ, chiều sâu suy tư của nhân vật. Vì vậy khi phân tích nhân vật phải kết hợp
57
chặt chẽ với sự kiện, biến cố để thấy được tính cách điển hình của nhân vật.
Vấn đề tình huống truyện sẽ là một mắt xích không thể thiếu ở một số truyện.
Nhà văn sáng tạo nên những tình huống - những hoàn cảnh bất thường, hoàn
cảnh “có vấn đề” đòi hỏi nhân vật phải xử lí, phải vượt qua. Khi được hoặc bị
đặt trong tình huống, nhân vật mới bộc lộ tính cách, bản chất một cách đầy
đủ, chân thật nhất. Nếu ví cuộc sống như một dòng sông thì tình huống như là
một xoáy nước. Với truyện ngắn, tình huống càng quan trọng. GV cần đặt câu
hỏi yêu cầu HS xác định, khái quát được tình huống và ý nghĩa của tình
huống.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nhân vật trên năm phương diện: ngoại
hình, ngôn ngữ, hành động, diễn biến tâm trạng, môi trường. Phải chỉ ra được
mối quan hệ của nhân vật. Qua đó xác định được vai trò, vị trí của từng nhân
vật trong tác phẩm. Ở mỗi nhân vật, các em phải thấy được một vấn đề, một ý
nghĩa. Có như vậy việc phân tích nhân vật mới bổ ích, sâu sắc.
Cho HS tìm những chi tiết tiêu biểu về ngoại hình nhân vật. Nhà văn có
thể trực tiếp mô tả nhân vật, có thể cho nhân vật hiện ra qua cái nhìn của nhân
vật khác, cũng có thể nhân vật được hình dung qua ngôn ngữ của người kể
chuyện. Dĩ nhiên, cần phải hiểu rằng ngoại hình của nhân vật được miêu tả
bao giờ cũng có ý nghĩa nội dung chứ không phải nhân vật được miêu tả một
cách ngẫu nhiên. Chính vì thế, ngoại hình nhân vật là một yếu tố qua trọng.
Thứ hai, GV hướng dẫn HS đi vào tìm hiểu cử chỉ, hành động của nhân
vật để HS thấy được tính cách nhân vật. Và quan trọng hơn, phải cho các em
nhận ra hành động của nhân vật trong truyện kí hiện đại được xem như kết
quả của quá trình, quá trình tâm lí, quá trình tình cảm. Phải nói rằng, trong
văn học hiện đại, việc miêu tả tâm lí của nhân vật, quá trình bên trong của
nhân vật đó cũng là một cách để cắt nghĩa nhân vật, một cách để lí giải hành
động của nhân vật.
58
Miêu tả hành động của nhân vật là đặt nhân vật vào trong các biến cố,
các sự kiện, vì thế mà việc miêu tả hành động của nhân vật nó đồng nghĩa với
việc triển khai cốt truyện, triển khai xung đột, mâu thuẫn trong tác phẩm. Dĩ
nhiên, các em phải biết chọn lọc những hành động tiêu biểu, gạt đi những
hành động ít có ý nghĩa. Trong hành động, hẳn nhiên nhân vật phải nói; tiếng
nói của nhân vật cũng cần đặc biệt lưu tâm. Bởi từ ngôn ngữ nhân vật, các em
có thể có nhiều hiểu biết về nhân vật. Đây cũng là biện pháp cá thể hóa nhân
vật của nhà văn.
Tuy thế, trong văn học hiện đại, một trong những biện pháp miêu tả
nhân vật quan trọng nhất là miêu tả diễn biến tâm trạng. Dĩ nhiên nói như vậy
không có nghĩa là truyện kí trung đại nhân vật không có tâm trạng. Truyện
Kiều của thiên tài Nguyễn Du được xem là một kiệt tác bởi nội dung và còn
bởi nghệ thuật phân tích tâm lí nhân vật. Tuy nhiên truyện kí trung đại thiên
về hành động. Còn với truyện kí hiện đại ngày càng trung thực hơn trong việc
tái hiện lại đời sống nội tâm của con người. Bởi vì bản chất đời sống của con
người là một vũ trụ nhỏ và thế giới con người phong phú hơn những cái con
người thể hiện ra ngoài.
Hướng dẫn HS khám phá việc miêu tả nội tâm của nhà văn bằng ngôn
ngữ kể nhưng có khi tác giả không đi sâu vào nội tâm nhân vật mà để cho
nhân vật tự bộc lộ, hoặc mô tả nội tâm qua bức tranh ngoại cảnh. Nhà văn chỉ
cần để cho nhân vật nhìn ngoại cảnh như thế nào thì độc giả đã có thể hiểu
được nội tâm nhân vật. Từ đó GV chỉ ra cho các em thấy được biện pháp
miêu tả nội tâm nhân vật rất đa dạng chứ không chỉ riêng ngôn từ. Chính vì
vậy, tác giả Phan Ngọc đã dùng một thuật ngữ rất mới là “ngôn ngữ thiên
nhiên”. Qua bức tranh thiên nhiên, ta vẫn hiểu thế giới bên trong nhân vật.
Thiên nhiên như một ngôn ngữ, nó có tiếng nói nghệ thuật riêng của nó. Lòng
người trải ra ngoài thiên nhiên. Nhờ vậy nên văn học như là một hình thức
59
nghệ thuật được đánh giá rất cao thậm chí được đánh giá cao hơn cả khoa học
duy lí trong việc tiếp cận, lí giải đời sống của con người.
Cuối cùng, nhân vật được thể hiện qua môi trường, qua ngoại cảnh. GV
cho HS tìm hiểu môi trường sống, hoàn cảnh sống của nhân vật bởi vì tính
cách con người một mặt là hoàn cảnh nhưng mặt khác con người để lại dấu ấn
của mình trong hoàn cảnh. Vì thế HS có thể thông qua hoàn cảnh để biết được
một phần tính cách nhân vật. Sự cảm nhận môi trường, cảm nhận cảnh vật
xung quanh cũng là một cách để nhà văn mô tả nhân vật.
Khi phân tích nhân vật ít nhất chúng ta cũng phải soi chiếu nhân vật ở
năm khía cạnh trên. Dĩ nhiên nhân vật không phải duy nhất là những con
người, mà hình tượng nhân vật có thể là thần thánh, loài vật, thiên nhiên. Khi
nhân vật là thần thánh, loài vật, cỏ cây, chúng đều mang trong mình những
đặc điểm của con người. Hay nói cách khác, nhà văn đã nhân cách hóa chúng,
con người hóa chúng nhằm bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của
nhà văn về con người và cuộc sống hiện tại.
Thứ ba, nghệ thuật trần thuật
Trần thuật là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, các sự kiện,
các quan hệ và các biến đổi về các sự kiện và các nhân vật theo một cách
nhìn, một cảm quan nhất định. Nói về trần thuật, Từ điển thuật ngữ văn học,
do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên có viết: “Trần
thuật là phương diện cơ bản của thể loại tự sự, là việc giới thiệu khái quát,
thuyết minh, miêu tả đối với nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh sự vật theo cách
nhìn của trần thuật nhất định”. Rõ ràng vai trò của trần thuật rất lớn. Bởi nhà
văn can dự rất sâu vào việc tổ chức kết cấu tác phẩm. Và do đó dạy học
truyện kí hiện đại không thể không nói đến nghệ thuật trần thuật. Trong trần
thuật truyện kí có nhiều phương diện: Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần
thuật, nhịp điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật. Trong truyện kí trung đại, sự
kiện được trần thuật theo trình tự thời gian. Dạy đọc hiểu Chuyện người con
60
gái Nam xương (Nguyễn Dữ) theo trình tự: từ lúc Trương Sinh đi lính, ở nhà
vợ chàng sinh con, bà mẹ nhớ con trai sinh ốm rồi mất, Trương Sinh trở về,
nghi oan cho vợ, Vũ Nương trầm mình, được minh oan, hồn trở về.
Nhà văn trung đại cũng như hiện đại dùng thời gian trần thuật để nối
kết các sự kiện xảy ra trong các thời điểm khác nhau để bộc lộ điều mà tác giả
mong muốn. Song ở truyện kí trung đại, trần thuật cuộc đời nhân vật theo thời
gian thông thường. Còn, ở truyện kí hiện đại, sự kiện có thể không tuân thủ
theo thời gian thông thường (Làng, …). Nét độc đáo trong nghệ thuật trần
thuật thể hiện rõ ở các văn bản truyện kí hiện đại. Do đó dạy đọc hiểu văn bản
truyện kí hiện đại, GV phải chú ý đến đặc điểm này.
Sự đổi mới nghệ thuật trần thuật của truyện kí hiện đại tạo nên sức hấp
dẫn cho người đọc nhìn về một thời đại văn học mới.
Dạng câu hỏi và tiến trình khi tổ chức nhóm cho một văn bản chúng tôi
đã trình bày ở mục 1.3.1 ở chương này. Tuy nhiên chúng ta cần nắm thêm về
dạng câu hỏi đặc thù cho văn bản truyện:
Việc sử dụng câu hỏi như thế nào trong giờ tổ chức nhóm đem lại hiệu
quả cao đó là điều mà giáo viên dạy văn cần trăn trở và suy nghĩ. Câu hỏi đặt
ra cho học sinh phải gây hứng thú chứ không phải đánh đố. Câu hỏi phải gây
tính tranh luận, chứ không không phải không có điểm kết. Các loại câu hỏi
này có thể là: Cho biết tác dụng từ việc đọc tác phẩm đến tình cảm thái độ
nhận thức của em? Theo em, tác phẩm này có tác dụng như thế nào đối với
đời sống? Tác phẩm có đóng góp gì đối với nền văn học?
Đó chính là câu hỏi nêu vấn đề: Câu hỏi nêu vấn đề có liên quan chặt
chẽ đến vấn đề và tình huống có vấn đề. Loại câu hỏi này phải làm rõ được
vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho học sinh và
phải động viên, khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu. Trong nhiều
trường hợp khi đã xác định được vấn đề, nhờ câu hỏi (tuỳ thuộc vấn đề đơn
61
giản hay phức tạp) mà GV tạo được tình huống có vấn đề, tức là xác định
được cái chưa biết, cuốn hút sự quan tâm của HS và tiên lượng trước khả
năng giải quyết vấn đề của các em. Ở loại câu hỏi này có thể có nhiều tình
huống khác nhau: tình huống lựa chọn, tình huống mâu thuẫn, tình huống bất
ngờ, tình huống phản bác, tình huống giả định.
Dưới dây là những câu hỏi có thể thiết kế thành những tình huống thảo
luận nhóm áp dụng trong dạy học văn bản Chuyện người con gái Nam Xương
chúng tôi đưa ra làm ví dụ:
1/ Hãy làm sáng tỏ thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến thông
qua nhân vật Vũ Nương với mối quan hệ gia đình?
2/ Hành động trầm mình của Vũ Nương trong truyện này có gì khác so với
truyện cổ tích Vợ chàng Trương?
3/ Theo em những nguyên nhân nào gây nên nỗi oan khuất cho Vũ Nương?
Từ đó em cảm nhận được điều gì về thân phận người phụ nữ trong xã hội
phong kiến? ý nghĩa về cái chết của Vũ Nương?
4/ Theo em truyện có thể kết thúc ở đâu? So với truyện cổ tích vợ chàng
Trương, phần kết trong truyện này có gì khác?
5/ Tại sao kết thúc truyện Nguyễn Dữ không để cho Vũ Nương trở về trần
gian mà chỉ hiện về trong chốc lát?
6/ Qua hai câu thơ cuối của bài thơ của Lê Thánh Tông - người xưa trách
chàng Trương, theo em, chàng Trương đáng trách hay đáng thương?
2.3.3. Tổ chức nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu văn bản kịch
Kịch được dạy học trong nhà trường thực chất là kịch bản văn học, tức
là một thể loại tác phẩm văn học. Về thể loại này, khi dạy đọc – hiểu, cần có
một số lưu ý chung như sau:
- Phải phân tích nội dung văn bản kịch trong mối quan hệ với vở diễn
62
được dựng trên sân khấu
Dạy học tác phẩm kịch, cần thấy được rằng nội dung văn bản kịch gắn
liền chặt chẽ với vở diễn trên sân khấu. Nội dung, ý nghĩa của một trích đoạn
kịch phải được phân tích gắn liền với kết cấu các hồi, các cảnh,với không
gian và thời gian đặc thù,với tính chất và lời thoại của nhân vật, với hành
động và xung đột kịch, với các chỉ dẫn sân khấu,… Bài giảng chủ yếu dựa
trên văn bản kịch, nhưng đồng thời cũng phải giúp cho học sinh hình dung
được phần nào dưới ánh đèn sân khấu. Do đó, cần chú ý đến các lời chỉ dẫn
sân khấu. Các chỉ dẫn sân khấu là những lời chỉ dẫn của tác giả kịch bản,
thường được thể hiện bằng các kiểu chữ in nghiêng hoặc đặt trong các ngoặc
đơn giới thiệu không gian, thời gian, cách bài trí sân khấu, và chỉ đạo trang
phục cũng như cách diễn xuất của diễn viên trong quá trình nhập vai. Các chỉ
dẫn sân khấu nằm trong thành phần của kịch bản văn học, nhưng khi giảng
cho học sinh, có một số giáo viên thường bỏ qua yếu tố này, khiến cho tính
sinh động cụ thể của một bài giảng kịch bị giảm sút.
- Cần chú ý tới hành động kịch trước và sau đoạn trích được học -
hoạt động tóm tắt cốt truyện kịch
Việc xác định hành động kịch trong quá trình phân tích giá trị tác phẩm
là hết sức cần thiết. Do các vở kịch thường dài, SGK chỉ yêu cầu học các
đoạn ngắn, thường là một hồi, một cảnh nhưng thường là các cảnh tiêu biểu,
chứa đựng tình huống căng thẳng của xung đột kịch, với những diễn biến dồn
dập của hành động kịch. Các hành động liên tiếp xảy ra, hành động trước thúc
đẩy hành động sau, kết thành một mối liên hệ có tính nhân quả, tất yếu. Do
vậy, giáo viên cần làm cho học sinh nắm được nội dung, ý nghĩa của đoạn
trích gắn liền với kết cấu các hồi, các cảnh với không gian và thời gian đặc
thù, với tính chất lời thoại của các nhân vật, với hành động và xung đột kịch.
Trong dạy học tác phẩm tự sự, học sinh nắm được cốt truyện qua việc tóm tắt
những tình tiết chính, thì trong dạy học kịch bản văn học, cốt truyện kịch lại
63
được xác định qua các hành động kịch. Bởi vậy, xác định hành động kịch
chính là đi tìm cách mạch liên kết tác phẩm, đồng thời, cũng là nhằm để xác
định cốt truyện của kịch bản.
Hành động kịch có nhiều dạng. Có hành động bên ngoài và hành động
bên trong. Có thể tiến hành theo một số cách để cho học sinh nắm được cốt
truyện kịch, chẳng hạn giáo viên có thể kể lại các hành động chính diễn ra
trong mỗi hồi mỗi cảnh của kịch bản; hoặc học sinh tự đọc và tóm tắt lại cốt
truyện và trình bày trước tập thể lớp, trước khi phân tích cụ thể tác phẩm.
- Chú ý đến các nhân vật kịch
Nhân vật kịch đựơc xây dựng theo nguyên tắc “kịch hóa” Tính chất
kịch tính gay gắt, căng thẳng được khai thác triệt để từ hành động đến lời
thoại, nội tâm các nhân vật… Khi phân tích , cần chú ý làm nổi rõ đặc tính
quan trọng này. Tất nhiên, để làm nổi rõ tính cách nhân vật kịch, không thể
không bắt đầu từ việc phân tích các chi tiết cụ thể như trang phục, cử chỉ, thái
độ… nhưng do hạn chế về không gian và thời gian của sân khấu, nhân vật
kịch thường không được khắc hoạ tỉ mỉ và nhiều góc độ như trong tự sự. Vì
vậy, khi phân tích, cần phải tập trung vào hành động, lời thoại và những xung
đột nội tâm của nhân vật . Từ đó, chỉ ra được cái cốt lõi nổi bật nhất trong tính
cách nhân vật.
- Chú ý phân tích tính chất lời thoại trong kịch bản
Việc tổ chức các lời thoại chiếm vị trí quan trọng trong nghệ thuật xây
dựng kịch bản, vì khác với tiểu thuyết, trong kịch thường chỉ có lời thoại của
các nhân vật mà thôi. Trong các vở kịch đã dẫn trên của Shakespeare,
Schiller…không có các vai ca sĩ như ở kịch cổ đại hoặc vai người bình luận
như ta thấy ở một số vở kịch hiện đại, các vai đó tương đương với nhân vật
người kể chuyện ở tiểu thuyết. Xung đột kịch cũng như diễn biến của hành
động kịch chủ yếu bộc lộ qua các lời thoại, mà trước hết là đối thoại.Có thể
chia ra hai kiểu lời đối thoại: lời thoại đơn giản (lời một nhân vật chỉ nói với
64
một nhân vật khác)và lời thoại phức tạp (lời thoại khi thì hướng về người này,
khi thì hướng về người khác). Kiểu lời thoại thứ hai này làm cho sân khấu trở
nên linh hoạt hơn, đồng thời biện pháp ấy cũng góp phần thể hiện tình huống
xung đột căng thẳng của lớp kịch. Bên cạnh ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ
độc thoại. Độc thoại là lời nhân vật nói một mình. Chỉ trên cơ sở đọc kĩ văn
bản, và theo dõi các lời chỉ dẫn sân khấu, kể cả hình dung kịch giữa sàn diễn,
học sinh mới nắm chắc được đâu là độc thoại, xen giữa những đối thoại. Độc
thoại thường xảy ra khi trên sân khấu chỉ có một nhân vật. Nhưng độc thoại
có thể xảy ra khi trên sân khấu không chỉ có một nhân vật. Tất cả những
trường hợp độc thoại vừa nêu thực chất đều là độc thoại nội tâm, tức là ngôn
từ trực tiếp không thốt lên thành tiếng của nhân vật, hay nói một cách đơn
giản, là những suy tư không nói ra của nhân vật. Tuy nhiên, do đặc thù của
thể loại kịch, những suy tư ấy vẫn cứ phải thốt lên thành tiếng để khán giả
“nghe”, còn các nhân vật khác thì “không nghe”.Vì vậy, khi giảng về những
lời độc thoại này, cần phải cho học sinh nhận ra có hiện tượng có tính quy
ước đặc thù này.
- Sử dụng hình thức đọc diễn cảm - phân vai và một số hình thức ngoại
khóa . Đây là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh đọc lời thoại của
nhân vật theo từng vai diễn. Phương pháp này vừa giúp “cá biệt hoá” ngôn
ngữ, tính cách nhân vật, vừa đem lại cảm giác “nhập thân” mới mẻ đầy hứng
thú cho học sinh, khiến việc cảm thụ hình tượng nhân vật, tác phẩm ở các em
tích cực và hiệu quả hơn. Đọc phân vai chính là một cách để “lạ hoá”giờ học
kịch bản văn học, đem lại sự khác biệt cần có giữa giờ học kịch bản với giờ
học thơ hay thiểu thuyết trong chương trình. Giáo viên cần hướng dẫn cho
học sinh đọc đúng tính cách nhân vật, biết kết hợp giọng đọc với cử chỉ, điệu
bộ nhân vật... Ngoài ra, để tăng thêm hiệu quả của việc dạy đọc hiểu văn bản
kịch, giáo viên có thể tổ chức một hoặc vài buổi ngoại khóa với nội dung có
thể là bàn luận về một vấn đề, một nhân vật nào đó trong đoạn trích mà các
65
em tâm đắc; hoặc cho học sinh diễn tập những kịch bản trong chương trình
học...
Về văn bản kịch, chương trình ngữ văn 9 chỉ có hai tác phẩm: Bắc Sơn
- Nguyễn Huy Tưởng, Tôi và chúng ta - Lưu Quang Vũ. Người dạy có thể cho
học sinh xem các các vở kịch này. Khi dạy học Đọc – hiểu văn bản cũng có
thể chiếu các bộ phim tài liệu liên quan đến tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh lịch
sử thời đại…để giúp cho học sinh có được những cái nhìn toàn diện hơn về
các văn bản và các vấn đề đã đặt ra để thảo luận. Và cũng có thể thấy rằng
học sinh có thể thu nhận thông tin từ nhiều kênh khác nhau (nghe, nhìn), có
cái nhìn nhiều chiều, độc lập, khách quan về các vấn đề văn học mà các em
đang tìm hiểu.
Bắc Sơn là vở kịch phản ánh hiện thực cách mạng những năm 1940-
1941. Người dạy cần chú trọng đến xung đột kịch, như trong vở kịch này
xung đột kịch diễn ra ở lớp II và lớp III. Tôi và chúng ta - Lưu Quang Vũ đã
khắc họa được thực trạng của giai đoạn kinh tế hợp tác xã của đất nước những
năm sau khi đất nước thống nhất. Cần cho học sinh tìm hiểu những tình
huống kịch, tính cách nhân vật. Đó là cuộc đấu tranh không khoan nhượng
giữa những người có trí tuệ, dám nghĩ dám làm và những con người bảo thủ.
Tuy nhiên hiện trong chương trình ngữ văn 9, hai văn bản kịch một
được giảm tải và một là đọc thêm nên giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh cách
cảm thụ 1 văn bản kịch là như thế nào nên chúng tôi không đi vào chi tiết
cách nêu câu hỏi thảo luận nhóm ở đây.
2.3.4. Tổ chức nhóm trong giờ dạy đọc – hiểu các văn bản nghị luận
Trong chương trình ngữ văn lớp 9 hiện hành số lượng văn bản nghị
luận chiếm một tỉ lệ không nhiều so với các loại văn bản khác (chỉ 10 tiết với
5 văn bản: Bàn về đọc sách - Chu Quang Tiềm, Chuẩn bị hành trang vào thế
kỉ mới - Vũ Khoan, Tiếng nói văn nghệ - Nguyễn Đình Thi, Chó sói và cừu
trong thơ ngụ ngôn Laphông-ten - Hi-pô-lít-te là bốn văn bản nghị luận được
66
dạy trong chương trình ngữ văn 9) nhưng nội dung mà các văn bản nghị luận
trong chương trình lớp 9 đề cập đến rất phong phú bao gồm các lĩnh vực trong
đời sống xã hội như: văn hoá, triết học, đạo đức, lịch sử, chính trị, văn học
nghệ thuật... và được chia làm hai loại: Nghị luận trung đại và nghị luận hiện
đại; nghị luận Việt Nam, nghị luận nước ngoài. Việc tiếp cận, giảng dạy và
học các văn bản nghị luận trong chương trình hiện nay theo đúng đặc trưng
của văn nghị luận còn gặp rất nhiều khó khăn đối với cả giáo viên và học
sinh. Dường như chưa có một chuyên đề nào bàn về phương pháp dạy văn
bản nghị luận để định hướng cho giáo viên. Thực tế khi đi dự giờ giáo viên
chúng tôi nhận thấy khi dạy các văn bản nghị luận, giáo viên đang còn nhiều
lúng túng trong việc định hướng tiếp cận văn bản cũng như phương pháp
giảng dạy. Nhiều giáo viên chưa nắm rõ đặc trưng của văn nghị luận, chưa
phân biệt được luận đề, luận điểm, luận cứ, nhiều giáo viên cứ dạy như dạy
các tác phẩm văn chương. Chính vì vậy hiệu quả giảng dạy chưa cao. Học
sinh chưa nắm được kiến thức để vận dụng vào quá trình học tập. Vậy làm thế
nào để giúp giáo viên có cách tiếp cận , giảng dạy các văn bản nghị luận.
Muốn tiếp cận và giảng dạy tốt các văn bản nghị luận thì yêu cầu đối
với giáo viên là phải nắm được các đặc trưng cơ bản của văn nghị luận, đó là:
Văn nghị luận là loại văn nhằm bàn bạc thảo luận với người khác về thực tại
đời sống, bao gồm những vấn đề về văn hoá, triết học, đạo đức, lịch sử, chính
trị, văn học nghệ thuật... Vì vậy khi tiếp cận văn bản nghị luận cần xác định
đúng vấn đề mà tác giả đưa ra bàn luận để có định hướng khai thác hợp lí.
Nội dung của văn bản nghị luận bao giờ cũng là vấn đề có tính chất lí
luận. Chính vì tính chất lí luận ấy mà bài văn nghị luận rất xem trọng năng
lực lập luận .Vì vậy cần bám sát lập luận của tác giả để phân tích. Có rất
nhiều cách lập luận: So sánh, đối chiếu, chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn
dịch, bình luận ...
67
Tính lập luận trong văn nghị luận bao giờ cũng dựa trên quy tắc lô-gíc
và đặc điểm tư duy nhưng nó vẫn không loại trừ hình thức mĩ cảm của tư
tưởng. Vì thế văn nghị luận không phải chỉ là sự sắp xếp tổ chức câu văn theo
quy luật tư duy trong hệ thống lí luận mà còn là nghệ thuật hoạt động ngôn
ngữ có chủ định của người viết nhằm tác động đến tư tưởng, trí tuệ, tình cảm
của người đọc. Cho nên khi tiếp cận các văn bản nghị luận cần phải chú ý đến
cách thức người viết sử dụng ngôn ngữ .
Nét nổi bật trong văn bản nghị luận là hệ thống lí lẽ và dẫn chứng đầy
đủ, tiêu biểu để làm sáng tỏ vấn đề nào đó nhằm khêu gợi thuyết phục người
đọc người nghe hiểu rõ và tin vào tính chất minh xác của sự lập luận và tán
thành với quan điểm tư tưởng của người viết nên khi tiếp cận văn bản chúng
ta phải xác định được hệ thống luận điểm mà người viết triển khai để làm rõ
luận đề và khi phân tích phải xem xét mạch lập luận của văn bản, xác định
được hệ thống luận điểm và cách thức lập luận của tác giả trong việc trình
bày các luận điểm đó.
Trên cơ sở đó người giáo viên biết sơ đồ hoá hệ thống luận điểm, luận
cứ trong văn bản.
Từ luận điểm, cách thức lập luận trong văn bản, giáo viên xây dựng hệ
thống câu hỏi phù hợp và định hướng tổ chức các hoạt động dạy và học.
Ví dụ: tiếp cận Văn bản “Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La
phôngten” của tác giả Hi pô lít Ten (Ngữ văn lớp 9 tập 2) thì người giáo viên
cần xác định những kiến thức bổ trợ:
- Nắm được tác phẩm “ Chó sói và cừu non” của La Phông ten và đặc điểm
thơ ngụ ngôn của ông.
- Nắm được những kiến thức cơ bản về tác giả Hi pô lít Ten và công trình
nghiên cứu văn học “thơ ngụ ngôn của La phông ten” và đoạn trích “Chó sói
và cừu trong thơ ngụ ngôn của La phông ten” như:
68
- Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, nội dung của văn bản, mục đích của tác giả
khi đưa ra vấn đề để bàn luận, cách lập luận của tác giả.
Giáo viên cần xác định trọng tâm kiến thức:
- Văn bản “ Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La phông ten” thuộc kiểu
nghị luận văn chương: đối tượng đưa ra nghị luận ở đây là tác phẩm văn
chương (khác với các văn bản nghị luận chính trị xã hội.)
- Vấn đề Hi-pô-lít Ten đưa ra bàn luận (Luận đề): Cách nhìn về chó sói và
cừu của La phông ten .Từ đó Hi-pô-lít Ten muốn nói đến đặc trưng của sáng
tác nghệ thuật là yếu tố tưởng tượng và dấu ấn cá nhân tác giả ( khác với các
bộ môn khoa học khác).
=> Mục đích nghị luận của Hi-pô-lít Ten: Bàn về đặc trưng của sáng tác
nghệ thuật.
- Bố cục của đoạn trích: gồm 2 phần:
+ Phần 1: Hình tượng con cừu dưới cái nhìn của La phông ten và Buy phông
+ Phần 2: Hình tượng chó sói dưới cái nhìn của La phông ten và Buy phông
- Mạch nghị luận của văn bản ở cả hai phần theo trình tự ba bước:
Chó sói và cừu dưới cái nhìn của La phông ten-> dưới cái nhìn của Buy
phông-> dưới cái nhìn của La phông ten.
- Cách lập luận của Hi-pô-lít Ten: So sánh đối chiếu kết hợp bình luận :So
sánh đối chiếu hình tượng chó sói và cừu dưới cái nhìn của La phông ten (nhà
văn) với Chó sói và cừu dưới cái nhìn của Buy phông (nhà khoa học) để chỉ
ra sự khác biệt trong cách nhìn, cách nghĩ, cách biểu hiện sự vật, hiện tượng
(chó sói và cừu) giữa nhà văn và nhà khoa học. Làm rõ sự khác biệt đó để Hi-
pô-lít Ten khẳng định: Đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là yếu tố tưởng
tượng và dấu ấn cá nhân tác giả. Nhà nghệ thuật nhìn hiện thực với đầu óc
phóng khoáng hơn, và thường bộc lộ thái độ qua cảm xúc.
- Từ mạch lập luận xác định hệ thống luận điểm:
69
Để làm nổi bật hình tượng Chó sói và cừu trong thơ ngụ ngôn của La
phông ten, Hi-pô-lít Ten xây dựng hệ thống luận điểm:
+ Hình tượng con cừu dưới cái nhìn của La phông ten và Buy phông.
+ Hình tượng chó sói dưới cái nhìn của La phông ten và Buy phông.
+ Sự khác nhau trong cách nhìn nhận thế giới hiện thực, mô tả hiện thực của
nhà thơ và nhà khoa học.
3. Hướng tổ chức các hoạt động dạy và học:
Hoạt động 1: Khởi động
- Mục tiêu cần đạt:
+ Học sinh nhớ lại các văn bản nghị luận đã học .
+ Biết liên hệ , hệ thống kiến thức về văn bản nghị luận.
+ Tạo được tâm thế cho học sinh hứng thú học.
Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu chung về văn bản
- Mục tiêu cần đạt:
+ Học sinh nắm được những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm.
+ Hiểu được nghĩa của một số từ ngữ khó.
+ Nắm được vấn đề tác giả đưa ra bàn luận, mạch lập luận của tác giả.
+ Biết cách đọc , hiểu 1 văn bản nghị luận.
Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chi tiết văn bản.
- Mục tiêu cần đạt: Giúp HS hiểu:
+ Qua việc so sánh cách nhìn của La phông ten với Buy phông về chó sói và
cừu. Hi-pô-lít Ten muốn nói đến đặc trưng của sáng tác nghệ thuật là yếu tố
tưởng tượng và dấu ấn cá nhân tác giả.
+ Cách lập luận của tác giả: So sánh đối chiếu kết hợp bình luận.
+ Nhận ra và phân tích được các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ ,
luận chứng và các thao tác lập luận của tác giả)
Thảo luận nhóm: Yêu cầu học sinh tổng kết nội dung, nghệ thuật của văn bản
và rút ra bài học về cách viết văn nghị luận.
70
Hoạt động 5: Hướng dẫn học sinh luyện tập và học bài ở nhà.
Khi dạy loạt văn bản này người dạy thường nên đưa ra những câu hỏi
thảo luận dạng: Văn bản bàn về vấn đề gì? Luận điểm chung của văn bản là
gì? Luận điểm được phát triển qua các luận điểm nào? Hãy tìm hiểu các luận
điểm tác giả đã sử dụng? Hãy nhận xét về trình tự lập luận?
Câu hỏi tổng kết phải mang tính sáng tạo, gợi cho học sinh một cái
nhìn tổng thể. Ví dụ đối với văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ
Khoan, Gv có thể hỏi: Trong các mặt mạnh, mặt yếu mà tác giả nêu lên, em
thấm thía nhất điều nào? Vì sao? (trình bày bằng một đoạn văn 10 câu)
2.3.5. Tổ chức nhóm trong dạy đọc – hiểu các văn bản nhật dụng
Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà, Đấu tranh cho một thế giới
hòa bình - Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két, Tuyên bố thế giới về sự sống còn,
quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em là những văn bản nhật dụng trong
CT ngữ văn 9.
Như chúng ta đã biết, văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm
chỉ thể loại hay là một kiểu văn bản mà nó chỉ đề cập tới chức năng, đề tài và
tính cập nhật của nội dung văn bản mà thôi. Đấy là những văn bản có nội
dung gần gũi, mang tính thời sự kịp thời đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của cuộc
sống trước mắt con người và cộng đồng xã hội ngày nay như: Vấn đề về môi
trường, dân số, quyền trẻ em,... Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể
loại cũng như các kiểu văn bản.
Mục tiêu của việc học văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn ở
khối 9, thứ nhất là góp phần giúp các em học sinh có trình học vấn cấp Trung
học cơ sở và cũng để chuẩn bị nền tảng cho các em tiếp tục nâng cao trình độ
học vấn bước vào cấp THPT. Thứ hai là giúp các em tự rèn luyện ý thức,
nhân cách để trở thành người có ích cho xã hội. Đó là những con người biết
hướng tới những tư tưởng tốt đẹp, có tinh thần tự lập, có tấm lòng yêu
thương, biết quý trọng tình cảm gia đình, bạn bè, tôn trọng sự công bằng, lẽ
71
phải, biết đem tài trí của mình cống hiến, phục vụ lợi ích chung cho xã hội,
cho đất nước.
Hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn lớp 9 tồn tại dưới nhiều
kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là văn bản nghị luận (Phong cách Hồ Chí
Minh; Đấu tranh cho một thế giới hoà bình; Tuyên bố thế giới về quyền sống
còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em) Từ các hình thức đó, những
vấn đề thời sự cập nhật của cá nhân và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ
đánh thức và làm giàu tình cảm trong mỗi con người giúp các em học sinh dễ
hoà nhập hơn với cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sinh sống.
về mặt ý nghĩa , nội dung của các văn bản nhật dụng đều đề cập đến những
vấn đề quen thuộc, gần gũi, bức thiết đối với đời sống xã hội ngày nay. Đồng
thời cùng với sự phát triển về tâm lí và nhận thức của học sinh, các vấn đề
được đề cập trong văn bản nhật dụng ngày càng một phức tạp hơn.
Do văn bản nhật dụng mới được đưa vào học ở chương trình cải cách 5
năm nay, nhưng việc thi cử ít đề cập đến, kết quả là cho học sinh học để biết
mà thôi. Căn cứ vào tình hình hiện tại, khi học sinh học các văn bản nhật
dụng trong chương trình thì học sinh thường có thái độ chủ quan, lơ là, không
ham học. Song song đó, chủ yếu phương thức biểu đạt của các văn bản nhật
dụng thường là nghị luận xã hội, nên tính lí luận nhiều, khô khan giờ học
thường căng thẳng, nặng nề mang tính áp đặt, vì thế học sinh khó tiếp thu nội
dung bài học, giáo viên dạy văn bản này cũng không kém phần nặng nề.
Học văn bản nhật dụng không chỉ để mở rộng sự hiểu biết toàn diện mà
còn rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường với xã hội. Đặc biệt đối với người
giáo viên giảng dạy văn bản nhật dụng, có trình độ, có năng lực, có nghiên
cứu sách giáo viên, sách thiết kế bài dạy, tài liệu có liên quan đến văn bản
nhật dụng vẫn chưa đủ mà cần phải luôn tìm tòi qua các phương pháp, qua
thực tế, qua tin tức thời sự trong và ngoài nước, các thông tin được cập nhật
từng năm, từng ngày. Để từ đó áp dụng vào từng bài dạy cụ thể sẽ kích thích
72
được tính tò mò, tạo hứng thú cho học sinh vui vẻ, thoải mái khi học tiết văn
bản này.
Ví dụ: Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” có kết hợp
phương thức lập luận với biểu cảm thì người dạy sẽ chú ý phân tích lí lẽ và
chứng cứ, từ đó tìm hiểu thái độ của tác giả. Ví dụ khi phân tích phần cuối
của văn bản. Phần cuối của văn bản có hai đoạn. Đoạn nào nói về “chúng ta”
chống vũ khí hạt nhân? Đoạn nào là thái độ của tác giả về việc này? Em hiểu
thế nào về “bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ
khí và một cuộc sống hòa bình, công bằng”? Ý tưởng của tác giả về việc mở
“một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại được sau thảm họa hạt nhân” bao
gồm những thông điệp gì? Em hiểu gì về thông điệp đó của tác giả? Như thế
với việc căn cứ vào phương thức biểu đạt của mỗi văn bản, giáo viên và học
sinh sẽ dễ dàng tiếp cận nội dung, từ đó hiểu được mục đích giao tiếp trong
các văn bản ấy.
Khi dạy học văn bản nhật dụng giáo viên có thể đặt hệ thống câu hỏi
dẫn dắt học sinh theo mức độ từ dễ đến khó, rồi liên hệ với thực tế đời sống.
VD: Khi dạy bài: “Phong cách Hồ Chí Minh”, giáo viên có thể đặt câu hỏi
sau:
- Văn bản cho ta thấy những vẻ đẹp nào của Bác ?
-Vì sao có thể nói phong cách của Bác là sự nhào nặn của 2 nguồn văn
hóa ?
-Trong tình hình hội nhập và giao thoa nền văn hóa ngày nay, em học tập
được điều gì từ Bác?
Sau khi cho học sinh đọc hiểu văn bản, giải quyết xong phần đọc và tìm
hiểu chú thích, giáo viên viết 3 câu hỏi lên bảng, yêu cầu học sinh thảo luận
10 phút. Khi HS thảo luận xong, GV yêu cầu trình bày, các nhóm khác lắng
73
ngh, góp ý, giáo viên chốt lại, ghi lên bảng - học sinh ghi bài (Giáo viên dứt
điểm từng câu hỏi một cho đến hết giờ)
Khi dạy văn bản nhật dụng, giáo viên cần chú ý tránh sa vào tình trạng
khai thác kĩ lưỡng văn bản mà giảm đi tính chất thực tiễn, gần gũi và cập nhật
của văn bản nhật dụng. Giáo viên cần hướng học sinh biết liên hệ những kiến
thức đã học vào cuộc sống thực tế hằng ngày.
Như vậy ta thấy mục đích của việc học văn bản nhật dụng chủ yếu là
giúp cho học sinh dễ dàng hoà nhập với đời sống thực tế xã hội ngày nay.
Chính vì thế giáo viên khi dạy lớp cần phải tạo ra giờ học thoải mái, sinh
động, không gây cảm giác gò ép hay ức chế học sinh. Có như thế thì tiết học
mới thu hút, kích thích sự hào hứng, gây hứng thú cho học sinh thêm yêu
thích học giờ văn.
Loạt văn bản nhật dụng này cơ bản cũng được xây dựng một cách rõ
ràng, mạch lạc xoay quanh một luận điểm khái quát bằng những luận điểm
nhỏ. Người dạy cũng sẽ đưa ra những câu hỏi thảo luận dạng: Văn bản bàn về
vấn đề gì? Luận điểm chung của văn bản là gì? Luận điểm được phát triển
qua các luận điểm nào? Hãy tìm hiểu các luận điểm tác giả đã sử dụng? Hãy
nhận xét về trình tự lập luận? Cách lập luận của đoạn vì sao gây ấn tượng
mạnh? Nghệ thuật lập luận như thế nào?
Từ những câu hỏi thảo luận như thế sẽ gợi được sự tìm tòi, hứng thú
trong học tập của học sinh. Tạo được kỹ năng xây dựng một văn bản nhật
dụng về một vấn đề xã hội.
Kết luận chƣơng 2
Trong chương 2 của đề tài Tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong
giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản ở lớp 9 chúng tôi tập trung nghiên cứu các
vấn đề chính là các yêu cầu đặt ra đối với việc tổ chức nhóm và quy trình của
việc tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn
bản. Các nguyên tắc, yêu cầu là định hướng giúp người dạy và người học xác
74
định các yêu cầu để thu được kết quả hoạt động nhóm cao nhất. Chúng duy trì
cho việc tổ chức hoạt động nhóm trong giờ Đọc – hiểu văn bản thành công.
Và nguyên tắc cho việc sử dụng các nguyên tắc, yêu cầu này là kỹ năng ứng
biến linh hoạt của giáo viên. Tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ
dạy học Đọc – hiểu thành công và mang lại hiệu quả thì người dạy và người
học phải nắm vững nguyên tắc, quy trình và phương pháp tổ chức hoạt động
nhóm, đồng thời phải biết kết hợp với các phương pháp dạy học khác và vận
dụng nguyên tắc một cách linh hoạt.
75
Chƣơng 3
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
Ở chương này chúng tôi tiến hành thiết kế một số bài soạn Đọc – hiểu
về thơ, truyện, kịch, tác phẩm nghị luận. Trong bài soạn chúng tôi thiết kế
hoạt động nhóm cho người học. Đồng thời các bài thiết kế được đưa vào dạy
thử nghiệm để thăm dò về tính khả thi cũng như hiệu quả thực sự của việc Tổ
chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản ở
lớp 9 tại trường THCS Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Tp.HCM
3.1. Mục đích, yêu cầu của hoạt động thực nghiệm
Thực nghiệm dạy học nhằm:
- Kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của việc tổ chức hoạt động
nhóm trong giờ đọc - hiểu văn bản ở học sinh lớp 9
- Rút kinh nghiệm và hoàn chỉnh những nghiên cứu lí thuyết về tổ chức
hoạt động nhóm trong giờ đọc - hiểu văn bản ở học sinh lớp 9
3.2. Đối tƣợng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
Chúng tôi chọn thực nghiệm tại trường THCS Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2,
Tp.HCM. Đây là trường tôi trực tiếp tham gia giảng dạy nên hiểu được tình
hình, mặt bằng chung của học sinh và có điều kiện để tiến hành thực nghiệm.
Hơn nữa, đây còn là một trường có phong trào đổi mới về phương pháp
dạy học diễn ra khá mạnh. Mặt bằng chung của học sinh trong trường tương
đối đồng đều. Đội ngũ giáo viên văn nhiệt tình, sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ.
Tất cả những điều đó là điều kiện thuận lợi để chúng tôi tiến hành thực
nghiệm hiệu quả của đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
3.3. Nội dung thực nghiệm
Sau khi xin ý kiến của lãnh đạo trường và tổ chuyên môn về kế hoạch tiến
hành thực nghiệm, chúng tôi triển khai kế hoạch như dự kiến. Chọn ra hai
76
lớp, trong đó lớp thực nghiệm dạy theo phương pháp mới, còn lớp đối chứng
dạy theo phương pháp truyền thống.
Chúng tôi chọn bốn lớp thuộc khối lớp 9, có trình độ chênh lệch chút ít
là lớp 9/1, 9/2, 9/3, 9/4. Lớp 9/1 và 9/2 là lớp chọn nên học sinh có tư duy tốt
và nắm bắt kiến thức sẽ rất nhanh. Lớp 9/3, 9/4 có tỉ lệ học sinh khá giỏi ít
hơn nên việc tiếp thu và nắm kiến thức sẽ chậm hơn lớp 9/1, 9/2. Vì thế
chúng tôi chọn lớp 9/3, 9/4 là lớp thực nghiệm sử dụng phương pháp mới – tổ
chức nhóm trong giờ đọc hiểu văn bản. Lớp 9/1, 9/2 là lớp đối chứng.
Bài dạy thực nghiệm, chúng tôi chọn ba văn bản thuộc ba thể loại khác
nhau, mảng truyện chúng tôi chúng tôi chọn văn bản Chuyện người người con
gái Nam Xương và Làng, văn bản thơ chúng tôi chọn Bài thơ về Tiểu đội xe
không kính để tiến hành thực nghiệm.
Tất cả các giờ học ở lớp thực nghiệm đều được quan sát, ghi chép về
tiến trình dạy học. Sau các tiết học, chúng tôi tổ chức cho lớp đối chứng và
lớp thực nghiệm làm cùng một bài tập vận dụng. Ngoài ra, sau các tiết học
với sự hỗ trợ của tổ chuyên môn, chúng tôi trao đổi và rút kinh nghiệm từ các
đồng nghiệp về các vấn đề như: Phương pháp giảng dạy, phương pháp tổ
chức các hoạt động học tập, hệ thống câu hỏi tổ chức nhóm…
Kết quả thực nghiệm được rút ra từ sự so sánh giữa nhóm đối chứng và
nhóm thực nghiệm về kết quả bài làm của các học sinh. Bên cạnh đó là các ý
kiến phản hồi từ đồng nghiệp, ý kiến thăm dò từ việc trao đổi, phỏng vấn một
số học sinh.
3.4. Thiết kế Giáo án thực nghiệm
3.4.1. Hoạt động nhóm trong bài đọc – hiểu về văn bản thơ
Chương trình ngữ văn 9, với số lượng 11 tác phẩm trong nước, 1 tác
phẩm nước ngoài cả học và đọc thêm. Đối với các em học sinh việc tiếp cận
và cảm nhận một tác phẩm thơ là hoạt động rất khó khăn bởi vì việc tiếp cận
thơ không đơn giản là bài học thuộc lòng mà các em phải tìm thấy được vẻ
77
đẹp của ngôn từ và ý nghĩa văn chương lấp lánh sau mỗi tác phẩm. Việc khai
thác kiến thức, việc hướng dẫn các em học bài ở trên lớp là cả một nghệ thuật
dạy học của người thầy. Trong phần này chúng tôi chọn văn bản Tiểu đội xe
không kính của Phạm Tiến Duật làm giáo án thực nghiệm
3.4.2. Hoạt động nhóm trong bài đọc – hiểu văn bản truyện
Chương trình Ngữ văn lớp 9 truyện được chia thành ba mảng: truyện
trung đại, truyện hiện đại sau 1945 và truyện nước ngoài. Chúng tôi soạn ba
giáo án để dạy thực nghiệm cho ba mảng trên.
Văn học trung đại với những đặc điểm của nó (Lấy văn học dân gian
làm nền tảng; Tiếp thu có chọn lọc và sáng tạo tinh hoa từ nền văn học Trung
Hoa, Ấn độ và các nước lân cận...) Các tác phẩm này đều có đặc điểm chung
của văn học trung đại : viết bằng chữ Hán, mang tư duy và cách viết của văn
học thời phong kiến như câu văn đối xứng, nhịp nhàng, dùng hình ảnh ước
lệ, tượng trưng, viết theo lối chương hồi… Tuy vậy, ở những ngòi bút tiêu
biểu này, tính nghệ thuật của tác phẩm đã đạt đến một trình độ đáng kể về các
mặt cốt truyện, kịch tính, cách chọn lọc chi tiết có ý nghĩa và đặc biệt là việc
khắc hoạ tính cách nhân vật.
Trong phần này, chúng tôi xin trình bày một giáo án thực nghiệm về
văn bản Chuyện người con gái Nam Xương. Với những hoạt động tổ chức
nhóm xen lẫn trong tiết học, phần nào giúp học sinh học tập và tiếp thu các
kiến thức hứng thú và sâu sắc hơn. Truyện ngắn hiện đại trong CT Ngữ văn 9
đều là truyện ngắn của những cây bút có phong cách riêng với những sáng tạo
nghệ thuật đa đạng và phong phú, có thể cung cấp cho (HS) nhiều tri thức về
thể loại truyện ngắn hiện đại. Chúng tôi chọn văn bản Làng - Kim Lân làm
giáo án thực nghiệm.
78
Giáo án 1
BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
PHẠM TIẾN DUẬT
I/ MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp học sinh cảm nhận được nét độc đáo của hình tượng những chiếc xe
không kính cùng người lái xe Truờng Sơn hiên ngang, dũng cảm, sôi nổi
trong bài thơ.
-Thấy được nét riêng của giọng điệu, ngôn ngữ, của bài thơ.
-Rèn luyện kỹ năng phân tích hình ảnh, ngôn ngữ thơ.
II. CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
1. GV: Thiết kế bài giảng,tình huống thảo luận nhóm
2.HS: Soạn bài
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1.Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ:
Đọc 1 khổ thơ đầu hoặc 02 khổ cuối bài “Đồng chí”
Tình đồng chí của người lính trong thời kỳ chống Pháp được hình
thành như thế nào?
3. Bài mới: Viết về Trường Sơn và những người lính Trường Sơn là những đề
tài trong dòng văn học thời chống Mỹ cứu nước. Cùng đồng hành với nhà thơ
TỐ HỮU trong suốt chặng đường “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” còn có
biết bao nhà văn, nhà thơ … Đặc biệt là PHẠM TIẾN DUẬT. Nhà thơ trẻ
nổi tiếng với những bài thơ viết về Trường Sơn, tiêu biểu là bài “Bài Thơ Về
tiểu Đội Xe Không Kính”
IV/ TIẾN HÀNH GIẢNG DẠY:
79
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
HOẠT ĐỘNG 1: Đọc & tìm hiểu chú thích.
- Đọc đọc tự nhiên sôi I . Đọc & tìm hiểu chú
nổi tự hào thích:
?Nêu những hiểu biết - HS đọc theo hướng 1.Tác giả:
của em về tác giả Phạm dẫn GV - Nhà thơ tiêu biểu thời
Tiến Duật? - HS đọc chú dẫn & bổ chống Mỹ.
1/ Tựa đề bài thơ có ý sung ý - Giọng thơ sôi nổi, tinh
nghĩa gì? có gì độc nghịch.
đáo? Có thể đặt tựa đề - HS nhận xét từ ngữ +
(những chiếc xe không đề tài - “Những chiếc xe
kính” mà bỏ đi từ bài - HS nhận xét lần lượt không kính” hiện
thơ được không? vì từng nội dung thực chiến tranh.
sao? - “Bài thơ “chất thơ
của hiện thực
HOẠT ĐỘNG 2: Tìm hiểu chung
-Mục tiêu: - Giúp HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, bố cục
-Phương pháp: Vấn đáp,thuyết trình
-Thời gian: 15 phút
Chia lớp thành 5 nhóm giao nhiệm vụ cho mỗi nhóm là một câu hỏi (thảo
luận 10 phút)
2/ Hình ảnh nào của - Như câu văn xuôi với II. Đọc - hiểu bài thơ
chiếc xe không có kính điệp tư ”không” 1. Hình ảnh những
làm em thích nhất? Vì chiếc xe không kính
sao? - HS lần lượt phát hiện
chi tiết trong bài thơ - “không có kính…” * Chuyển Ý:
? Theo em vì sao tác - Bom giật, bom rung
80
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
kính vỡ đi rồi giả có thể miêu tả chân
nguyên nhân thật những chiếc xe
- “không có kính” không kính?
- Tác giả đã từng người - HS nhận xét dựa theo - “không có mui xe”
lính lái xe ỏ Trường chú dẫn tác giả sự tàn phá khồc liệt
của chiến tranh Sơn từng trực tiếp
đương đầu với bom đạn
chiến tranh từ hình ảnh
những chiếc xe không -HS đọc câu thơ khái
kính trong bom đạn quát tư thế lính
khốc liệt, tác giả đã -HS trả lời theo bài thơ
khắc hoạ hình ảnh
người chiến sĩ lái xe
như thế nào?
* HĐ 3: Hình ảnh - HS nhận xét từ ngữ ”ừ 2.Hình ảnh những
người chiến sĩ lái xe thì …” trước những chiến sĩ lái xe
- Tuy lái những chiếc gian khổ - “ung dung…”
xe biến dạng vì bom -HS nêu được chi tiết - nhìn đất, nhìn trời,
đạn giặc Mỹ nhưng tư “chung bát đũa…” nhìn thẳng
ung dung đương đầu thế của người lính được
vơí gian khổ miêu tả như thế nào?
- Không phải chỉ đương
- “Bụi phun tóc trắng” đầu với bom đạn, mà
- “Mưa tuôn mưa xối người lính còn phải đối
như ngoài trời” mặt với những chiếc xe
81
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
không kính bị tàn phá thiên nhiên khắc
nhiệt ở Trường Sơn. nặng nề.
- “ừ thì … ừ thì …” ?Thái độ của họ như thế
ngang tàng, bất chấp nào trước những gian
gian khổ khổ ấy.
- “…cười ha ha …” ?Tuy nhà thơ không đề
- “… bắt tay qua …” cập đến tình đồng đội
đồng chí nhưng người - HS lần lượt phát biểu, tình đồng chí ruột
đọc vẫn cảm nhận được bổ sung thịt
-“chỉ cần … một trái rất cụ thể tình cảm
tim thiêng liêng ấy.
“ ý chí quyết tâm giải 3/ Theo em điều gì đã
phóng Miền Nam làm nên sức mạnh & ý
- Hình ảnh thật chí quyết tâm giải
-Giọng thơ ngang tàng, phóng Miền Nam của
nghịch ngợm người lính? Hãy đọc &
- Điệu thơ gần như với phân tích hai câu thơ
lời nói cuối cùng của bài thơ?
* Câu hỏi thảo luận: phong cách thơ
4/ Bài thơ đã thể hiện 1 - HS nêu suy nghĩ để hệ phong cách người
phong cách sáng tác thống phần ghi nhớ lính trẻ.
riêng rất độc đáo của
Phạm Tiến Duật. Em
có đồng ý với nhận xét
đó không? Vì sao?
82
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
III.Ghi Nhớ: SGK/133 HĐ 4: Củng cố
5/ Hãy so sánh hình ảnh người lính trong bài
Đồng Chí và hình ảnh người lính lái xe Trường
Sơn, hãy nêu cảm nghĩ của em về thế hệ trẻ thời IV.Luyện Tập:
chống Pháp, Mỹ?
Cho HS đọc và ghi nhớ
HĐ 5: Luyện Tập: Đọc diễn cảm bài thơ
- Làm bài tập 2 trang 140 (về nhà)
Giáo án 2
CHUYỆN NGƢỜI CON GÁI NAM XƢƠNG
NGUYỄN DỮ
I.MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1.Kiến thức
- Cốt truyện, nhân vật, sự kiện trong một tác phẩm truyện truyền kì
- Hiện thực về số phận của người phụ nữ VN dưới chế độ cũ và vẻ đẹp truyền
thống của họ.
-Sự thành công của tác giả về nghệ thuật kể chuyện
-Mối liên hệ giữa tác phẩm và truyện Vợ chàng Trương
2.Kĩ năng
-Vận dụng kiến thức đã học để đọc-hiểu tác phẩm viết theo thể loại truyền kì.
-Cảm nhận được những chi tiết nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm tự sự có
nguồn gốc dân gian.
-Kể lại được truyện.
3/ Thái độ
83
- Trân trọng người phụ nữ trong xã hội
II. CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
1. GV: Thiết kế bài giảng, truyện dân gian Vợ chàng Trương, thể loại
truyền kì
2. HS: Soạn bài, tóm tắt được truyện
III. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
1.Ổn định lớp
2. Kiểm tra bài cũ:
3. Bài mới
HOẠT ĐỘNG CỦA GV HOẠT ĐỘNG CỦA HS Nội dung cần đạt
HOẠT ĐỘNG 1: GIỚI THIỆU BÀI MỚI
Theo quan niệm thông thường, con người có nhan sắc, phẩm hạnh thì dễ dàng
đạt được hạnh phúc, nhưng thực ra trong đời có những con người “tư dung tốt
đẹp”, phẩm hạnh tuyệt vời lại gặp những đau khổ, oan khuất, trái ngang. Ta sẽ
thấy điều này qua Chuyện người con gái Nam Xương sẽ học hôm nay.
-Mục tiêu: Tạo tâm thế và định hướng, chú ý cho học sinh
-Phương pháp: Thuyết trình
-Thời gian: 2 phút
HOẠT ĐỘNG 2: Tìm hiểu chung
-Mục tiêu: - Giúp HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, bố cục
-Phương pháp: Vấn đáp, thuyết trình
-Thời gian: 5 phút
Em hãy nêu những nét HS dựa vào chú thích để -Chuyện NCGNX là
chính về tác giả và tác nêu. thiên thứ XVI trong
phẩm? 20 truyện của “
Em hiểu thế nào về thể HS trả lời dựa theo chú TKML” được tái tạo
truyền kì? thích SGK tren cơ sở truyện cổ
84
GV chốt: Truyền kì là loại HS nghe tích “Vợ chàng
Trương”. văn xuôi tự sự được viết
bằng chữ Hán có nguồn
gốc từ TQ. Các nhà văn
VN tiếp nhận thể loại này
để viết những tác phẩm
phản ánh cuộc sống con
người của đất nước mình.
Truyện xây dựng trên cốt
truyện dân gian hoặc giả sử
nhưng mạch chính là
truyện trần thế.
Gọi HS trình bày các chú
thích còn lại.
HOẠT ĐỘNG 3: HĐ ®äc - hiÓu v¨n b¶n.
+Mục tiêu:HS nắm đƣợc nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản
+Phƣơng pháp: Nêu vấn đề, thảo luận nhóm
+Thời gian: 30 phút
Giáo viên chia 4 nhóm nhỏ cho mỗi nhóm thảo luận 1 câu hỏi (Hết tiết 1
thảo luận 4 câu hỏi đầu, sang tiết 2 tiếp tục giải quết 4 câu hỏi còn lại)
GVHD cách đọc. HS nghe II/ Đọc-hiểu văn bản
Gọi HS đọc văn bản. HS đọc 1/ Tính cách của Vũ
GV nhận xét cách đọc. HS tóm tắt ngắn gọn Nương:
Gọi HS tóm tắt truyện. nhưng đầy đủ nhân vật
và sự việc chính
- số phận oan nghiệt của
người phụ nữ có nhan
85
sắc,đức hạnh sống dưới
chế độ pk chịu nhiều oan -Trong cuộc sống vợ
khốc. - ước mơ của nhân chồng: luôn giữ gìn
dân là người tốt bao giờ khuôn phép, không
cũng được đền bù dù chỉ để bất hòa xảy ra.
1/ Theo em, truyện có thể là một thế giới huyền bí. -Khi tiễn chồng: lời
chia làm mấy phần? Xác -Chia làm 3 phần: nói ân tình, đằm thắm
định và nêu ý chính mỗi +Từ đầu…được mình: làm xúc động lòng
phần? Hãy khái quát ý Cuộc hôn nhân giữa VN người.
nghĩa truyện? và TS, sự xa cách vì
chiến tranh và phẩm
hạnh của VNương.
+Tiếp…qua rồi: Nỗi oan
khốc và cái chết của
VNương. -Khi chồng đi lính:
+Còn lại: Cuộc gặp gỡ thủy chung, nuôi dạy
giữa PL và VN. VNương con thơ, chăm sóc mẹ
được giải oan. chồng hết mực, lo ma
-Nhân vật Vũ Nương. chay tử tế.
2/ Theo em nhân vật chính
của truyện là ai? Nhân vật Là người phụ nữ nết na,
VN được giới thiệu như thế tư dung tốt đẹp
nào ở phần đầu của
truyện?
GV chuyển ý: Tcách của
VN được tác giả xây dựng -HS thảo luận nhóm trả
trong những tình huống lời. -Khi bị chồng nghi
86
oan: khác nhau.
+Tìm cách hàn gắn
hạnh phúc gia đình. 3/ Hãy làm sáng tỏ thân
+Đau đớn, thất vọng. phận người phụ nữ trong
+Tuyệt vọng, buông xã hội phong kiến thông
xuôi, tìm đến cái chết qua nhân vật Vũ Nương với
để giải oan. mối quan hệ gia đình?
VNương là một phụ
nữ hiền thục, nết na,
chung thủy, hết lòng
vun đắp hạnh phúc
1 HS đọc gia đình.
-Sau này, trời xét lòng
thành, ban cho phúc đức
GV bình về mối quan hệ ….chẳng phụ mẹ
mẹ chồng- nàng dâu trong
xã hội phong kiến. HS tìm và ghi vào bảng
Khi bị nghi oan, VN đã phụ
thanh minh với chồng ntn? 3 lời thoại.
HS thảo luận nhóm và
trả lời.
Lời 1: hết lòng tìm cách
hàn gắn cái hạnh phúc
gia đình đang có nguy cơ
tan vỡ.
Lời 2: thể hiện nỗi đau
87
đớn, thất vọng khi không
thể minh oan.
Lời 3:thất vọng, buông
xuôi, tìm đến cái chết để
giải tỏ tấm lòng trong
sạch.
-Trong truyền kì nhân 2/ Oan khuất và cái
vật có sự chỉ đạo của lí chết của Vũ Nƣơng:
4/ Hành động trầm mình trí (tắm gội chay sạch lời a/ Nguyên nhân:
của VN trong truyện này có nguyền cầu) -XH bất bình đẳng
gì khác so với truyện cổ -Truyện cổ tích: nhân vật giữa nam và nữ, giữa
tích? hành động bộc phát giàu và nghèo.
(chạy một mạch đến bến -Tính cách đa nghi và
Gv chốt lại: Tác giả đã Hoàng Giang đâm đầu cách xử sự hồ đồ, độc
có sự sáng tạo trong nghệ xuống nước). đoán của Tsinh
thuật đặt nhân vật trong -Lời nói ngây thơ của
hoàn cảnh khác nhau để thể con như đổ thêm dầu
hiện tính cách rõ rệt. Còn vào lửa trong cái tính
truyện cổ tích thiên về cốt đa nghi của Tsinh.
truyện và những diễn biến b/ ý nghĩa:
hành động của nhân vật. HS thảo luận và trả lời: -Là lời tố cáo xã hội
Có thể có rất nhiều pk đương thời.
nguyên nhân: -Là nỗi niềm thương
+XH không bình đẳng: xót đối với số phận
5/ Theo em những nguyên trọng nam khinh nữ. oan nghiệt của người
nhân nào gây nên nỗi oan +Tsinh đa nghi, hay phụ nữ.
khuất cho VN? Từ đó em ghen. 3/ Cuộc gặp gỡ giữa
88
cảm nhận được điều gì về +Tình huống bất ngờ: lời VN và
thân phận người phụ nữ con trẻ. Plang.VNƣơng đƣợc
trong xhpk? ý nghĩa về cái +Cách cư xử hồ đồ và giải oan:
chết của Vũ Nương? độc đoán của Tsinh. -Có nhiều chi tiết kì
ảo lung linh.
HS thảo luận nhóm và -Các yếu tố kì ảo đan
xen với yếu tố thực trả lời
Kết thúc ở đoạn: trót đã -Các chi tiết kì ảo làm
rõ tính chất của thể qua rồi
6/ Theo em truyện có thể So với truyện cổ thì truyền kì, hoàn chỉnh
kết thúc ở đâu? So với truyện có nhiều yếu tố kì tính cách cao đẹp của
truyện cổ tích vợ chàng ảo. VN và tạo nên kết
Trương, phần kết trong -Phan Lang nằm mộng thúc có hậu.
truyện này có gì khác? rồi thả rùa, Plang lạc vào 4/ Nghệ thuật xây
động rùa rồi gặp VN. dựng truyện:
VN không chết mà được -Khai thác vốn văn
linh phi cứu sống. VN học dân gian
hiện ra sau khi Tsinh lập -Sáng tạo về nhân
đàn giải oan. vật, sáng tạo trong
7/ Tại sao kết thúc truyện -Thể hiện rõ tính chất cách kể chuyện, sử
Nguyễn Dữ không để cho của thể truyền kì. Làm dụng yếu tố truyền kì
Vũ Nương trở về trần gian hoàn chỉnh thêm tính - Sáng tạo nên một
mà chỉ hiện về trong chốc cách của VN, tạo nên kết kết thúc không sáo
lát? thúc có hậu. mòn
-Các yếu tố kì ảo dược
đưa xen kẻ với những
8/ Qua hai câu thơ cuối yếu tố thực về địa danh
89
của bài thơ của Lê Thánh với thời điểm lịch sử, với
Tông - người xưa trách những chi tiết về trang
chàng Trương, theo em phục của mỹ nhân, về
Chàng Trương đáng trách tình cảnh nhà VN.
hay đáng thương? -Làm cho thế giới kì ảo
lung linh, trở nên gần gũi
với cuộc đời thực, làm
tăng độ tin cậy khiến
người đọc không cảm
thấy ngỡ ngàng.
HS thảo luận nhóm trả
lời.
HS suy nghĩ, bàn luận và
đưa ra nhận xét.
HOẠT ĐỘNG 4: Tổng kết
+Mục tiêu:Tổng kết lại kiến thức nội dung và nghệ thuật
+Phƣơng pháp: Vấn đáp
+Thời gian: 5 phút
HS dựa vào ghi chú trả III/Tổng kết:
lời 1/ Nội dung:
Em cảm nhận được điều gì về giá trị nội dung và nghệ thuật của truyện? Qua câu chuyện 2/ Nghệ thuật:Ghi nhớ
Nguyễn Dữ muốn nói SGK
lên điều gì? 3/ Ý nghĩa văn bản:
Truyện phê phán thói
ghen tuông mù quáng
và ngợi ca vẻ đẹp truyền
thống của người phụ nữ
90
VN
HOẠT ĐỘNG 5: CỦNG CỐ
+Mục tiêu:Khắc sâu lại kiến thức
+Thời gian:2 phút
Gọi HS đọc lại ghi nhớ SGK HS đọc
HOẠT ĐỘNG 6: HOẠT ĐỘNG TIẾP NỐI
+Mục tiêu: Dặn dò HS những điều cần làm ở nhà
+Phƣơng pháp: Thuyết trình
+Thời gian:1 phút
-Tìm hiểu thêm về tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục
-Nhớ được một số từ Hán Việt được sử dụng trong văn bản
-Làm phần luyện tập
-Soạn bài mới: Chuyện cũ trong phủ Chúa Trịnh
Giáo án 3
LÀNG
KIM LÂN
I . MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
- Cảm nhận được tình yêu làng quê thống nhất với lòng yêu nước và tinh thần
kháng chiến của ông Hai. Đây cũng là biểu hiện cụ thể sinh động về tinh thần
yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp.
- Thấy được những đặc sắc trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Kim Lân.
- Rèn luyện năng lực phân tích nhân vật, đặc biệt là phân tích tâm lý nhân vật.
II . CHUẨN BỊ CỦA GV VÀ HS
1. GV
- Giáo án
- Anh, tư liệu về Kim lân
91
- Sách giáo khoa, sách tham khảo
2. HS
- Soạn bài
III . TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
Hoạt động 1: Khởi động và giới thiệu bài
Tình yêu quê hương đất nước là đề tài quen thuộc của các nhà thơ, nhà văn.
Kim Lân cũng có một tác phẩm hay thuộc đề tài này. Đó là truyện ngắn
“Làng”
VD1: Anh đi anh nhớ VD2: Làng tôi ở vốn Hãy đọc những câu thơ, quê nhà làm nghề chài lưới ca dao ca ngợi tình yêu Nhớ canh rau muống Nước bao vây cách biển quê hương đất nước? nhớ cà dầm tương nữa ngày sông
(ca dao) (Tế Hanh)
Hoạt động 2: HOẠT ĐỘNG 2: Tìm hiểu chung
-Mục tiêu: - Giúp HS tìm hiểu về tác giả, tác phẩm, bố cục
-Phương pháp: Vấn đáp, thuyết trình
-Thời gian: 5 phút
- Gọi hs đọc chú thích I / Đọc –tìm hiểu chú
- Dựa vào chú thích hãy thích (Sgk / 171,172)
tóm tắt những nét chính - Đọc chú thích (Sgk - Đọc – Tìm hiểu chú
về Kim Lân /171,172) thích
Nhấn mạnh 2 đặc điểm - Tóm tắt ý chính - Tìm hiểu tác giả tác –
trong con người và sáng tác phẩm
tác của Kim Lân Là nhà văn am hiểu
+ Sở trường truyện ngắn nông thôn và người
92
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
+ Am hiểu gắn bó với nông dân.
nông thôn và nông dân “Làng”được viết thời kì
- Làng, Vợ nhặt được đầu của cuộc kháng
coi là xuất sắc nhất. chiến chống Pháp năm
1948
Làng chợ Dầu là hình
ảnh làng Phù Lưu của
t/g.
HOẠT ĐỘNG 3: HD Đọc - hiểu văn bản.
+Mục tiêu:HS nắm được nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa văn bản
+Phương pháp: Nêu vấn đề, thảo luận
+Thời gian:30 phút
- Đọc mẫu-hướng dẫn Đọc văn bản II / Đọc - tìm hiểu văn
đọc bản
- Có thể chia văn bản - Bố cục truyện ngắn
làm mấy phần? Nêu nội Đoạn trích nêu lên diễn
dung? biến tâm trạng của ông
+ Từ đầu …này chưa: Thảo luận Hai khi nghe tin làng
Diễn biến tâm trạng ông Phát hiện bố cục theo giặc. Qua đó bộc lộ
Hai khi nghe tin làng tình yêu làng gắn với
theo giặc làm Việt gian tinh thần yêu nước.
+ Phần còn lại:Tình yêu Ông Hai có thói quen - Phân tích truyện ngắn
làng gắn với tinh thần thường lên phòng thông 1. Diễn biến tâm trạng
yêu nước tin để nghe lóm người ta của ông Hai khi nghe
1/ Em hãy nêu ý nghĩa đọc báo, khi nghe tin tức tin làng theo giặc
nhan đề truyện ngắn? kháng chiến - Cổ nghẹn ắng hẳn lại,
93
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
“Ruột gan ông lão cứ da mặt tê rân rân, lặng
2/ Tình huống nào đã múa lên vui quá” đi, tưởng như không thở
làm bộc lộ sâu sắc tình Đến khi nghe tin làng được.
yêu làng, yêu nước của chợ Dầu theo Tây - cúi gằm mặt đi.
ông hai? “Cổ ông lão nghẹn - Nằm vật ra gường.
+ Từ những người tản ắng… hẳn đi” - Nước mắt tràn ra.
cư dưới xuôi lên Ông chửi cái bọn Việt - Suốt mấy ngày liền
- Diễn biến tâm trạng gian bán nước không dám đi đâu.
của Ông Hai “ Cha mẹ…một nhát” -> Diễn tả nỗi ám ảnh
+ Hụt hẫng, cúi gằm Nỗi ám ảnh nặng nề nặng nề.
mặt, sợ lời bàn tán, tủi “Trằn trọc… bên ngoài”
thân vật vã, chửi bọn Ông nói như để giãi bày
Việt gian. nỗi lòng mình, như để
3/ Thuật lại tâm trạng, cụ Hồ hiểu cho nỗi lòng
hành động của ông Hai của bố con ông
khi nghe tin làng theo “Anh em đồng chí biết - Hành động:
giặc? cho bố con ông. Cụ Hồ Vờ đứng lãng ra chổ
- Nhận xét về cách trên đầu trên cổ xét soi khác
miêu tả của tác giả? cho bố con ông” Cúi gằm mặt xuống mà
+ Miêu tả cụ thể sự dằn Ông Hai còn khẳng định đi, nằm vật ra gường,
vặt trong tâm trạng “làng thì yêu thật nhưng trằn trọc không sao ngủ
4/ Vì sao ông Hai lại trò làng theo Tây thì phải được…
chuyện với đứa con thù” - Độc thoại nội tâm:
nhỏ? Việc đó có ý nghĩa Tình cảm sâu nặng bền Nhưng sao lại nẩy ra cái
gì? vững và thiêng liêng. tin…ấy!
+ Tâm sự giãi bày nỗi “chết thì chết có bao giờ - Đối thoại:
94
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
lòng: Đó là tình yêu sâu dám đơn sai” Chúng bây…nhục nhã
nặng với làng chợ Dầu thế này
và tấm lòng thủy chung Ừ đúng rồi, ủng hộ cụ
với kháng chiến với Hồ con nhỉ.
cách mạng mà biểu - Ngôn ngữ mang đậm
tượng là cụ Hồ tính khẩu ngữ:
->Đây là đoạn văn diễn Khiếp thật, tinh những
tả rất cảm động và sinh người tài giỏi cả
động nỗi lòng sâu xa và Ra láo!Láo hết, chẳng
bền chặt, chân thành của Tác giả đã đặt nhân vật có gì sất. Toàn là sai sự
ông Hai- một người vào tình huống làng chợ mục đích cả!
nông dân-với quê hương Dầu làm Việt gian để
đất nước với cách mạng thử thách tình yêu làng 2. Tình yêu làng và
và kháng chiến. của ông Hai.Đồng thời tinh thần yêu nƣớc.
bộc lộ chiều sâu tâm - Trút nỗi lòng vào lời
6/ Qua những tình trạng. tâm sự với con trai.
huống, tâm lý, ngôn ngữ -> Tình yêu sâu nặng
của nhân vật hãy làm với làng, tấm lòng thủy
sáng tỏ nghệ thuật viết chung với cách mạng.
truyện ngắn của Kim
Lân
+ Để thử thách tình yêu
làng của ông Hai
+ Hành động, ngôn ngữ 3. Nghệ thuật.
độc thoại, đối thoại - Xây dựng tâm lí nhân
7/ Diễn biến tâm lí nhân vật một cách bình dị mà
95
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
vật có phù hợp không? Thảo luận nhóm – Trình sâu sắc, ngôn ngữ dân
+ Phù hợp gây ấn tượng bày ý kiến dã, nghệ thuật tạo tình
huống độc đáo. mạnh mẽ về sự ám ảnh
day dứt. Điều đó chứng
tỏ Kim Lân am hiểu sâu
sắc người nông dân và
thế giới tinh thần của họ
- Điểm nổi bật trong
ngôn ngữ của tác phẩm?
+ tính chất khẩu ngữ, Thảo luận nhóm
+ dân dã của người nông Hs trả lời – Tìm dẩn
cá tính của nhân vật chứng minh họa.
nên rất sinh động.
HOẠT ĐỘNG 4: Tổng kết
+Mục tiêu:T.kết lại kiến thứcND và NT
+Phƣơng pháp: Vấn đáp
+Thời gian:5 phút
- Nêu chủ đề của truyện Học sinh trả lời
ngắn? Kể tóm tắt lại truyện
+ Tình yêu làng quê ngắn. Từ đó rút ra giá
thống nhất với lòng yêu trị nghệ thuật nội dung
nước và tinh thần kháng đặc sắc tạo nên thành
chiến. Học sinh suy nghĩ khái công cho truyện ngắn.
- Giá trị nghệ thuật, nội quát ý
dung đặc sắc của truyện
ngắn? III / Ghi nhớ
96
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
+ Thông qua nhân vật ( Sgk / 174)
ông Hai- một nông dân
phải rời làng đi tản cư.
Truyện ngắn thể hiện
chân thật sinh động tình
yêu làng quê thống nhất
với lòng yêu nước và
tinh thần kháng chiến.
Chọn phân tích một + Kết hợp nhiều yếu tố
đoạn miêu tả tâm lí nghệ thuật tạo nên nét
nhân vật ông Hai đặc sắc cho truyện ngắn.
- Hướng dẫn làm bài tập Chú ý đến các biện IV / Luyện tập
1,2 /174 gợi ý: - Chia nhóm thảo luận pháp nghệ nghệ thuật
+ Đoạn tả ông Hai vừa - Đại diện nhóm trình mà tác giả sử dụng
nghe tin làng theo giặc. bày ý kiến Tình yêu làng đối với
+ Đoạn ông Hai ở lì - Các nhóm khác nhận ông Hai đã trở thành
trong nhà. xét niềm say mê hãnh diện,
Thơ : “Nhớ con sông - Học sinh đọc những thói quen khoe làng đã
quê hương” của Tế câu thơ về quê hương trở thành cái tật nhưng
- Suy nghĩ nêu nhận xét ẩn đằng sau cái tật đó là Hanh
tấm lòng yêu nước và Hồi kí: “Tuổi thơ im
tinh thần kháng chiến. lặng”
Của Duy Khán
8/ Nêu nét riêng của
truyện ngắn Làng so với
các tác phẩm khác?
97
Hoạt động của GV Hoạt động của HS Nội dung cần đạt
+ Tình yêu quê hương
đất nước, tự hào về đất
nước con người.
Hoạt động 5: Củng cố
+ Mục tiêu: Khắc sâu lại kiến thức
+ Thời gian: 2 phút
- Đọc cho học sinh nghe Sưu tầm thơ, truyện, ca một số bài thơ về chủ đề dao về tình yêu quê quê hương hương đất nước
Hoạt động 6: Dặn dò (1phút)
- Học bài, hoàn tất bài tập
- Xem bài “Chương trình địa phương (phần tiếng việt)”
3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.5.1. Tiêu chuẩn đánh giá
* Kết quả đánh giá dựa trên các chỉ tiêu sau:
- Dựa vào bài viết của học sinh: kết quả này được đánh giá theo thang
điểm 10 được chia làm 4 bậc:
+ Loại giỏi: 8, 9, 10 điểm.
+ Loại khá: 7 điểm.
+ Loại trung bình: 5, 6 điểm.
+ Loại yếu: 0 – 4 điểm.
- Dựa vào mức độ hứng thú HS trong giờ học.
* Phương tiện đánh giá kết quả:
- Giáo án thể nghiệm
98
- Hướng dẫn chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn 9.
* Kết quả học tập của HS.
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm và quan sát quá trình học của học
sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, chúng tôi thu được kết quả cụ thể
như sau:
3.5.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm về phía học sinh
Sau giờ học ba văn bản Chuyện người con gái Nam Xương, bài thơ về
tiểu đội xe không kính và Làng ở 4 lớp chúng tôi thu được kết quả như sau:
* Kết quả học tập của HS.
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm và quan sát quá trình học của học
sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, chúng tôi thu được kết quả cụ thể
như sau:
Bảng 1: Kết quả học tập của HS lớp thực nghiệm và đối chứng
Điểm số Số Lớp Đơn vị tính HS 10 9 7 6 8 5 4 3
TN 9/3 45 0 2 20 14 5 4 0 0 HS
ĐC 9/1 45 0 0 18 15 4 6 2 0 HS
Ở lớp thực nghiệm thứ nhất (9/3), kết quả học tập của học sinh cao hơn
lớp đối chứng. Qua thực tế kiểm tra sau khi tổ chức dạy học, chúng tôi ghi
nhận kết quả học tập của lớp thực nghiệm có số học sinh đạt điểm giỏi, điểm
khá cao hơn lớp đối chứng; số học sinh điểm trung bình ở lớp thực nghiệm
thấp hơn lớp đối chứng; lớp đối chứng còn có học sinh bị điểm yếu. Việc
kiểm tra được tiến hành với cả hai bài học đọc – hiểu Bài thơ về tiểu đội xe
không kính và Làng
Bảng 2: Mức độ thực nghiệm của HS ở lớp thực nghiệm và lớp đối
chứng dạy bài Chuyện người con gái nam Xương
99
Điểm số Số Đơn vị Lớp HS tính 10 9 8 7 6 5 4 3
TN 9/4 45 0 4.4 11.1 44.5 33.1 8.9 0 0 %
ĐC 9/2 45 0 0 8.9 40.0 33.3 13.3 4.5 0 %
Như vậy mức độ thực nghiệm cho thấy: tỉ lệ học sinh đạt điểm giỏi ở
lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng là 6.6%, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá ở
lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng là 4.5%, tỉ lệ điểm trung bình lớp thực
nghiệm thấp hơn lớp đối chứng là 4.6%, học sinh bị điểm yếu chiếm 4.5% ở
lớp đối chứng.
Qua kết quả thu được ở 4 lớp như trên ta có thể thấy mức độ hiểu
bài của HS ở lớp thực nghiệm tốt hơn ở lớp đối chứng. Kết quả thực nghiệm
là căn cứ quan trọng để đánh giá khả năng ứng dụng của đề tài. Do vậy việc
thực nghiệm và đánh giá kết quả thực nghiệm là rất quan trọng. Để đánh giá
tính khả thi của đề tài, chúng tôi dựa vào nhận xét đánh giá kết quả bài kiểm
tra của HS và việc nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm qua giờ dạy thực
nghiệm. Vì thực nghiệm chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, với số tiết, số
lượng HS và bài học có hạn nên kết quả thực nghiệm chưa thể phản ánh hết
những đặc điểm, tính chất của phương pháp tổ chức nhóm. Vì thế chúng tôi
không xem kết quả thực nghiệm là cơ sở duy nhất để khẳng định tính ưu việt
khả thi của giáo án thực nghiệm. Mức độ khả thi của giáo án thực nghiệm sẽ
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực sư phạm của GV, trình độ của
HS cũng như phương tiện dạy học.
Nhìn chung do giáo viên chọn dạy tiết thực nghiệm ở những đối tượng
HS có kiến thức tương đối về văn học, có khả năng cảm nhận khá và có ý
thức học tốt nên giờ học không nặng nề khô khan, ngược lại rất tích cực, sôi
nổi. Các em tỏ ra yêu thích giờ học khi vừa chiếm lĩnh được văn bản vừa nắm
được cách thức tiếp cận văn bản.
100
Với những nhận xét, đánh giá ở trên, chúng tôi có thể khẳng định được
khả năng ứng dụng và vai trò của cách thức dạy học văn theo đặc trưng thể
loại nói chung trong nhà trường phổ thông.
Kết luận chƣơng 3
Chúng tôi đã tiến hành soạn một số bài học đọc – hiểu văn bản trong đó
có thiết kế tổ chức hoạt động nhóm. Việc dạy đối chứng được ghi lại cụ thể
và tiến hành có quy tắc nhất định và đã thu một số kết quả.
Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm chúng tôi nhận thấy việc tổ chức
hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ dạy học Đọc – hiểu là đúng với yêu
cầu và nhiệm vụ của dạy học hiện đại. Việc tổ chức hoạt động nhóm giúp học
sinh học tập một cách hòa đồng, hợp tác, đem đến kết học tập quả cao hơn.
Trong quá trình dạy học Đọc – hiểu không nên sử dụng chỉ một phương pháp
dạy học mà nên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp để có hiệu quả cao nhất.
Dạy học nhóm nên được tiến hành thường xuyên trong dạy học Đọc –
hiểu văn bản để giúp người học rèn luyện các kĩ năng về giao tiếp và kĩ năng
đọc hiểu.
KẾT LUẬN
101
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu về việc Tổ chức hoạt động nhóm
cho học sinh lớp 9 trong giờ Đọc – hiểu văn bản ở trường THCS tại Quận 2 -
Tp. Hồ Chí Minh chúng tôi đi đến một vài kết luận như sau:
Thứ nhất: Hoạt động nhóm hay phương pháp dạy học hợp tác là một
trong những phương pháp mà giáo dục hiện đại rất coi trọng. Đặt bên cạnh
các phương pháp khác thì ngày nay các nhà giáo dục đã chú trọng vào nó
nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho người học khi mà
dạy học hiện đại xem người học là chủ thể, trung tâm của hoạt động học tập.
Ở môn Ngữ văn nói chung và phần Đọc – hiểu văn bản nói riêng, hoạt động
nhóm đã được phát huy tích cực để nâng cao kết quả học tập cho người học
cả về tri thức lẫn kĩ năng. Hoạt động nhóm không chỉ được vận dụng ở một
cấp học mà được vận dụng ở tất cả các cấp học, điều đó nói lên vai trò và giá
trị của bản thân phương pháp, hình thức tổ chức dạy học này trong hệ thống
các phương pháp dạy học.
Thứ hai: Hoạt động nhóm có cơ sở khoa học và thực tiễn rõ ràng. Dựa
vào các lí thuyết về giáo dục học, tâm lí học, lí luận dạy học…tất cả đều cho
thấy khi tổ chức hoạt động nhóm người học phát huy được tiềm năng của bản
thân một cách tối đa. Không chỉ có như vậy mà việc hình thành và rèn luyện
các kĩ năng cần thiết cho cuộc sống, nhất là các kĩ năng về xã hội được hoàn
thiện một cách tốt nhất cho người học trong quá trình hoạt động nhóm này.
Nó giúp người học biết cách chung sống, hoàn thiện các kĩ năng sống –
những vấn đề mà giáo dục hiện đại rất xem trọng.
Việc vận dụng hoạt động nhóm vào dạy học là đúng đắn và thực sự
đem lại hiệu quả cho việc học tập. Hơn bao giờ hết, hoạt động nhóm giúp
người học hình thành và rèn luyện các kĩ năng về nghe, nói, đọc, viết, các kĩ
năng đọc hiểu…Và hơn tất cả, hoạt động nhóm trong giờ dạy học đọc hiểu
giúp cho người học độc lập khám phá, giải mã các văn bản đọc – hiểu dưới sự
102
hướng dẫn của người dạy. Chính trong hoàn cảnh dạy học Đọc – hiểu có tổ
chức hoạt động nhóm, người dạy cũng thể hiện cao nhất vai trò là người
hướng dẫn, chỉ đạo, tham dự - chia sẻ với người học ở mức độ cao nhất.
Thứ ba: Hoạt động nhóm muốn thành công trong các giờ dạy học đều
phải tuân theo những quy tắc và phương pháp nhất định. Đó là phải xác định
rõ ràng mục tiêu của hoạt động nhóm trong giờ dạy học Đọc – hiểu văn bản
dựa vào mục tiêu, yêu cầu, nội dung của các bài học đọc – hiểu và các bài học
Tiếng Việt và Làm văn kế cận; đảm bảo tính liên kết rộng rãi và bình đẳng
khi tổ chức các nhóm thảo luận, tức là tổ chức hoạt động nhóm trong giờ dạy
học Đọc – hiểu phải thể hiện được tinh thần học tập hợp tác và đoàn kết giữa
các thành viên trong nhóm và các nhóm, đồng thời rất cần thiết đến sự công
bằng khi thực hiện nhiệm vụ của người học và đánh giá của người dạy; vấn đề
thảo luận phải được người dạy chuẩn bị kĩ lưỡng trong bài soạn, chú ý đến
đặc trưng thể loại, tính đa nghĩa, tính liên tưởng – tưởng tượng của các văn
bản đọc – hiểu; vấn đề phải phù hợp, xứng đáng và vừa sức người học.
Muốn hoạt động nhóm trong giờ dạy học Đọc – hiểu thành công thì
ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc cần thiết còn phải có phương pháp tổ chức
hoạt động đúng quy trình sư phạm thì mới thực sự đem lại hiệu quả cao nhất.
Từ các khâu thành lập nhóm, nêu vấn đề, quản lí nhóm thảo luận cho đến báo
cáo kết quả đều phải được chuẩn bị chu đáo trong bài soạn từ các khâu tỉ mỉ
nhất.
Thứ tư: Trong quá trình tổ chức hoạt động nhóm cho học sinh trong giờ
dạy học Đọc – hiểu văn bản ở trường trung học phổ thông, cần chú ý kết hợp
nhiều phương pháp để đem lại hiệu quả cao nhất cho phương pháp này.
Người dạy cũng cần tự học, tự tìm hiểu để tiếp cận với những hệ thống lí
thuyết hiện đại về tổ chức hoạt động nhóm để giúp họ có được cơ sở khoa học
vững chắc và tin tưởng vào giá trị của hình thức tổ chức dạy học này.
103
Cuối cùng, bản thân mỗi người học cũng được làm quen với các
phương pháp hiện đại, nâng cao kĩ năng hoạt động nhóm qua mỗi giờ học để
tiến đến một kết quả học tập cao nhất đó là một nhân cách hoàn thiện.
Trong khi thực hiện đề tài này bản thân chúng tôi còn gặp phải một số
khó khăn nên đề tài chưa được thỏa mãn. Nếu có dịp trở lại, chúng tôi sẽ
nghiên cứu sâu sắc hơn, hoàn chỉnh hơn.
104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Robert J. Marzano - Debra J. Pickering - Jane E. Pollock, Nguyễn
Hồng Vân dịch (2011), Các phương pháp dạy học hiệu quả, Nxb Giáo
dục Việt Nam.
2. Phan Trọng Luận (Chủ biên, 1998), Các phương pháp dạy học văn,
Nxb ĐH QG Hà Nội.
3. Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện,
Nghiên cứu giáo dục.
4. Kỷ yếu hội thảo khoa học (2007), Dạy học Ngữ văn ở trường phổ
thông theo chương trình và SGK mới Nxb Nghệ An.
5. Nguyễn Lăng Bình (chủ biên, 2010), Dạy và học tích cực, một số
phương pháp và kĩ thuật dạy học, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội.
6. Thomas Armstrong (2011), Lê Quang Long dịch, Đa trí tuệ trong lớp
học,Nxb Giáo dục, Hà Nội.
7. Nguyễn Thanh Hùng (2002), Đọc và tiếp nhận văn chương, Nxb Giáo
dục.
8. Nguyễn Thanh Hùng (2008), Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong
nhà trường, Nxb Giáo dục.
9. James W.Stigler & James Hiebert (2012), Phan Minh Toàn Thư dịch,
Lỗ hổng giảng dạy, Nxb Trẻ.
10. Ngô Thị Thu Dung (2002), Một số vấn đề lý luận về kĩ năng học theo
nhóm của học sinh, Nxb Giáo dục.
11. Nguyễn Thúy Hồng - Nguyễn Quang Minh (2008), Một số vấn đề đổi
mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục.
12. Nguyễn Trí - Nguyễn Trọng Hoàng - Đinh Thái Hương (2001), Một số
vấn đề đổi mới phương pháp dạy Văn và Tiếng Việt, Nxb Giáo dục.
105
13. Nguyễn Thành Ký (Chủ biên, 2011), Nâng cao và phát triển Ngữ văn
9, Nxb Giáo dục Việt Nam.
14. Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Ngữ văn 9, tập 1, Nxb Giáo dục Việt
Nam.
15. Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Ngữ văn 9, tập2, Nxb Giáo dục Việt
Nam.
16. Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Ngữ văn 9, Sách giáo viên, tập 1, Nxb
Giáo dục Việt Nam.
17. Bộ giáo dục và Đào tạo (2011), Ngữ văn 9, Sách giáo viên, tập 2, Nxb
Giáo dục Việt Nam.
18. Linda Darling (2012), Lê Thị Cẩm dịch, Người thầy giỏi ở mọi lớp
học, Nxn Trẻ.
19. Nguyễn Hữu Châu (2005), Những vấn đề cơ bản về chương trình và
quá trình dạy học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
20. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
(theo thể loại), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
21. Nguyễn Viết Chữ (2010), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương
trong nhà trường, Nxb Giáo dục Việt Nam.
22. Trịnh Xuân Vũ (2002), Phương pháp dạy học văn ở bậc Trung học,
Nxb Đại học Quốc gia Tp.HCM.
23. Sử Khiết Doanh – Trâu Tú Mẫn (2009), Đỗ Huy Lân dịch, Kĩ năng tổ
chức lớp, kĩ năng biến hóa trong giảng dạy, Nxb Giáo dục Việt Nam.
24. Lưu Kim Tinh (2009), Kĩ năng ngôn ngữ kĩ năng nâng cao hiệu quả
học tập, Nxb Giáo dục Việt Nam.
25. Phan Thanh Hùng (2011), Kĩ năng đọc - hiểu văn bản, Nxb ĐH SP.
26. Phan Huy Dũng (viết chung, 2009), Giảng văn học Việt Nam trung
học phổ thông, Nxb Giáo dục Việt Nam.
106
27. Lê Sử (2012), Quan niệm dạy học tác phẩm văn chương qua chương
trình và sách giáo khoa, Nxb Hồng Đức.
28. Lê Văn Hồng , Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2001), Tâm lí học
lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
29. Guy Palmade (1996), người dịch Song Kha (1999), Các phương pháp
sư phạm, Nxb Thế giới, Hà Nội.
30. http://giaoduchoconline.com
31. Trần Đình Sử, “Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn”,
http://trandinhsu.wordpress.com/
107
PHỤ LỤC 1
PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN HỌC SINH VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NHÓM TRONG GIỜ DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (ĐHVB)
Câu 1: Xếp loại Trung bình bộ môn Ngữ Văn cuối năm lớp 8 của em là:
A.Giỏi
B. Khá
C. Trung bình
D.Yếu
Câu 2: Mức độ yêu thích bộ môn Ngữ văn của bản thân em?
A.Rất yêu thích
B. yêu thích
C. bình thường
D.chán
Câu 3: Theo em, một giờ học ĐHVB học sinh nên:
A- Chăm chú nghe giảng- ghi chép để nhớ bài.
B- Trao đổi- thảo luận để tìm kiến thức- trình bày ý kiến.
C- Giáo viên giảng bình và đọc cho học sinh chép.
Câu 4: Em thích không khí lớp học nhƣ thế nào?
A- Sôi động vì có sự tham gia trao đổi ý kiến tích cực của học sinh.
B- Yên lặng lắng nghe giáo viên giảng bài và ghi chép.
C. Đôi lúc trầm lắng, đôi lúc sôi động
Câu 5: Ngoài giờ học chính thức em có những hoạt động sau đây với bạn học không?
A. Trao đổi với bạn học về một câu hỏi của giáo viên
B. Cùng bạn soạn những câu hỏi ở sách giáo khoa hoặc câu hỏi của giáo viên
C. Cùng bạn tìm tư liệu để làm rõ một số vấn đề mà giáo viên yêu cầu
Câu 6: Em có biết gì về tổ chức hoạt động theo nhóm trong giờ học không?
A. Học tập theo nhóm là sự đóng góp ý kiến của từng thành viên để giải quyết yêu cầu của
giáo viên giao.
B. Học tập theo nhóm là một phương pháp học tập hay, mang lại nhiều lợi ích cho các
thành viên; về kiến thức, về kỹ năng sống, vui tươi, năng động...
C. Học tập theo nhóm là chia bài tập giáo viên giao thành những phần nhỏ rồi chia cho
mỗi thành viên một phần để làm, kết quả là sự chắp nối các phần đó lại với nhau.
D. Học tập theo nhóm là giao bài tập nhóm cho một vài thành viên xuất sắc trong nhóm
thực hiện và coi là sản phẩm của tập thể.
Câu 7: Khi giáo viên cho tổ chức nhóm thảo luận nhóm của bạn có làm các bƣớc sau
đây không?
A. Cử ra nhóm trưởng, thư kí,
Có
Không
Thỉnh thoảng
108
B. Có thay đổi nhóm trưởng, thư kí trong nhóm bạn hay không?
Có
Không
Thỉnh thoảng
C. Nhóm của bạn có được đánh giá, nhận xét của giáo viên sau mỗi tiết học không?
Có
Không
Thỉnh thoảng
D. Bạn có thường tích cực góp ý cho nội dung thảo luận không?
Không
Có
Thỉnh thoảng
Câu 8: Trong giờ dạy đọc hiểu văn bản giáo viên Ngữ văn của bạn thƣờng có những
hoạt động nào sau đây?
A. Tổ chức thảo luận nhóm trong cả tiết học, chia thành nhóm nhỏ, sau khi thảo luận nhóm
thuyết trình cho cả lớp nghe, cuối cùng giáo viên góp ý và cho điểm.
B. Cho thảo luận và trả lời những câu hỏi ngắn khoản 3-5 phút từ 1 đến 2 lần trong tiết học
C. GV giảng bài, ghi bảng - học sinh lắng nghe, chép nội dung bài học
Câu 9: Khi giáo viên yêu cầu tổ chức lớp học tập, thảo luận theo nhóm, nhóm của em
thƣờng:
A.
Tự phân công hoạt động cho mỗi thành viên
Có
Không
Thỉnh thoảng
B.
Xây dựng nội quy hoạt động nhóm
Có
Không
Thỉnh thoảng
Có
Không
Thỉnh thoảng
C.
Có phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý
Có
Không
Thỉnh thoảng
D.
Có tìm kiếm tài liệu trong thư viện, ở nhà,
trên internet
Câu 10: Khi hoạt động nhóm các bạn trong nhóm của em thƣờng:
A. Chia sẻ trách nhiệm, nhiệm vụ, kiến thức với nhau
Có
Không
Thỉnh thoảng
B. Lắng nghe nhau một cách chủ động, tích cực
Có
Không
Thỉnh thoảng
C. Góp ý tích cực, luôn đưa ra những ý kiến
Có
Không
Thỉnh thoảng
D. Mặc kệ cho các bạn khác làm việc
Có
Không
Thỉnh thoảng
E. Thường xem việc nhóm là việc của mình
Có
Không
Thỉnh thoảng
Câu 11: Em hãy cho biết sau mỗi tiết học giáo viên cho tổ chức thảo luận theo nhóm
mức độ hiệu quả về nắm đƣợc nội dung bài học là:
A. Rất hiệu quả
B. Hiệu quả
C. Bình thường
D. Không hiệu quả
Câu 12: Theo em giáo viên nên có thêm những hoạt động nào trong giờ học Đọc hiểu
văn bản để tạo hứng thú học tập cho bản thân em:
...............................................................................................................................................
Xin chân thành cảm ơn các em!
109
PHỤ LỤC 2
PHIẾU THAM KHẢO Ý KIẾN GIÁO VIÊN
Kính gởi thầy, cô Nhóm bộ môn Ngữ Văn Trƣờng THCS Thạnh Mỹ Lợi
Để có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng giảng dạy môn Ngữ văn trong nhà
trường, chúng tôi mong nhận được sự giúp đỡ tận tình của quý thầy, cô qua phiếu tham
khảo ý kiến này. Mong thầy, cô vui lòng trả lời một số câu hỏi mà chúng tôi gởi kèm sau:
Câu 1: Trong một giờ dạy đọc - hiểu văn bản (ĐHVB), thầy, cô thƣờng sử dụng bao
nhiêu phƣơng pháp:
A- Một phương pháp
B- Hai phương pháp. C- Nhiều hơn ba phương pháp.
Câu 2: Thầy cô đã từng sử dụng những phƣơng pháp dạy học sau đây :
A. Tổ chức thảo luận nhóm trong cả tiết học
Có
Không
Thỉnh thoảng
B. Cho thảo luận và trả lời những câu hỏi ngắn
Có
Không
Thỉnh thoảng
khoảng 3-5 phút từ 1 đến 2 lần trong tiết học
Thường xuyên Không
Thỉnh thoảng
C. GV giảng bài, ghi bảng - học sinh lắng nghe,
chép nội dung bài học
Câu 3: Theo thầy, cô, khi vận dụng phƣơng pháp hợp tác vào giờ dạy ĐHVB sẽ:
A- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tư duy độc lập của học sinh.
B- Làm lu mờ vai trò của người giáo viên trên lớp.
C- Làm tổn hại đến những rung động thẩm mỹ của một giờ học văn.
Câu 4: Quan niệm của thầy, cô khi dạy học là:
A- Học sinh luôn là trung tâm.
B- Giáo viên phải là trung tâm.
C- Học sinh có quyền nêu ý kiến
Câu 5: Giáo viên nên ra đề kiểm tra, thi với yêu cầu:
A- Đòi hỏi sự sáng tạo, hiểu biết và cảm nhận của học sinh về những vấn đề trong cuộc
sống.
B-Yêu cầu học sinh tái hiện những điều đã được học
Câu 6: Giáo án dạy học theo thầy, cô phần nào là quan trọng nhất:
A- Hoạt động của giáo viên.
B- Hoạt động của học sinh.
110
C- Nội dung bài học.
Câu 7: Khi thầy cô tổ chức nhóm thảo luận nhóm thầy cô có hƣớng dẫn học sinh thực
hiện các bƣớc sau đây không?
Có Không
Thỉnh thoảng
A. Cử ra nhóm trưởng, thư kí,
Có Không
Thỉnh thoảng
B. Có thay đổi nhóm trưởng, thư kí hay không?
Thỉnh thoảng
Có Không
C. Thầy cô có đánh giá, nhận xét sau mỗi tiết học không?
Có Không
Thỉnh thoảng
D. Các nhóm có trao đổi ý kiến qua lại không?
Câu 8: Trong giờ học ĐHVB thầy, cô thƣờng xuyên tạo điều kiện cho học sinh tự
phát hiện kiến thức bằng những cách nào:
A-Hỏi câu hỏi gợi mở để học sinh trả lời.
Thường xuyên Không Thỉnh thoảng
Thường xuyên Không Thỉnh thoảng
B- Thảo luận, trình bày, tự tìm ra kiến thức đúng.
Thường xuyên Không Thỉnh thoảng
C- Treo bảng phụ để học sinh phát hiện.
Câu 9: Khi giáo viên yêu cầu tổ chức lớp học tập, thảo luận theo nhóm, thầy cô
thƣờng dặn dò học sinh của các nhóm:
A. Tự phân công hoạt động cho mỗi thành viên
Thỉnh thoảng
Có Không
B. Xây dựng nội quy hoạt động nhóm
Có
Không
Thỉnh thoảng
C. Có phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý
Có
Không
Thỉnh thoảng
D. Có dặn dò HS tìm kiếm tài liệu
Thỉnh thoảng
Có
Không
trong thư viện, ở nhà, trên internet
Câu 10: Thầy, cô hãy cho biết sau mỗi tiết học có tổ chức thảo luận theo nhóm, mức
độ hiệu quả về nắm đƣợc nội dung bài học là:
A. Rất hiệu quả
B. Hiệu quả
C. Bình thường
D. Không hiệu quả
Câu 11: Theo Thầy cô nên có thêm những hoạt động nào trong giờ học Đọc hiểu văn
bản để tạo hứng thú học tập cho học sinh:
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
Câu 12: Xin thầy cô nêu một vài khó khăn khi tổ chức lớp học tập theo nhóm
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
CHÂN THÀNH CẢM ƠN THẦY CÔ.
Họ và tên GV:……………………… Trường:……………………………..

