BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Thanh Huyền

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

THƠ Ý NHI

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Thanh Huyền

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

THƠ Ý NHI

Chuyên ngành

: Văn học Việt Nam

Mã số

: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS. LÊ THỊ THANH TÂM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2012

KÝ HỌA NHÀ THƠ Ý NHI

LỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:

TS. Lê Thị Thanh Tâm tận tình hướng dẫn, truyền đạt kinh nghiệm và luôn

động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập, làm luận văn.

Nhà thơ Ý Nhi đã hết lòng giúp đỡ và cung cấp nhiều tư liệu quý báu cho

luận văn của em.

Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Ngữ văn đã tạo điều

kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian học tập và làm luận văn ở trường.

Các Thầy, Cô trong hội đồng đã dành thời gian đọc và đóng góp nhiều ý

kiến cho luận văn của em.

Lê Thị Thanh Huyền

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Mục lục

DẪN LUẬN ............................................................................................................... 1

Chương 1: CƠ SỞ NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ CÁC

YẾU TỐ ĐỊNH HÌNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI ............. 11

1.1. Cơ sở nghiên cứu phong cách nghệ thuật ....................................................... 11

1.2. Các yếu tố định hình phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi ................................ 14

1.2.1. Hoàn cảnh xã hội – thời đại ..................................................................... 14

1.1.2. Nền tảng quê hương, gia đình và đặc điểm con người nhà thơ ............... 18

1.3. Khái lược về các chặng đường sáng tác thơ Ý Nhi ........................................ 21

Chương 2: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ

NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI, KẾT CẤU ................................................................... 34

2.1. Phong cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật ......................................................... 34

2.1.1. Ngôn từ giản dị mà chân thành ................................................................ 35

2.1.2. Ngôn từ mang tính khái quát, triết luận ................................................... 41

2.1.3. Một số biện pháp tu từ tiêu biểu .............................................................. 46

2.2. Phong cách thể loại ......................................................................................... 57

2.2.1. Thơ tự do – thể nghiệm và thành tựu ....................................................... 58

2.2.2. Bản lĩnh cách tân trong thể thơ năm chữ ................................................. 62

2.3. Phong cách kết cấu ......................................................................................... 67

2.3.1. Kết cấu theo mô hình triết luận................................................................ 67

2.3.2. Cách tạo khoảng lặng trong kết cấu thơ .................................................. 71

Chương 3: PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ

TRIẾT LUẬN VỀ CÁI ĐẸP VÀ ĐỜI SỐNG ...................................................... 77

3.1. Cơ sở nghiên cứu ............................................................................................ 77

3.1.1. Về khái niệm triết luận ............................................................................ 77

3.1.2. Xung quanh vấn đề cái đẹp và đời sống trong thơ Ý Nhi ....................... 78

3.2. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ triết luận về cái đẹp ................ 80

3.2.1. Triết luận về cái đẹp khách quan ............................................................. 80

3.2.2. Triết luận về vẻ đẹp của thiên chức nghệ sĩ ............................................. 86

3.2.3. Triết luận về vẻ đẹp của tâm hồn tri ân ................................................... 94

3.3. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi từ góc độ triết luận về đời sống ............. 102

3.3.1. Triết luận về đời sống qua các biểu tượng thơ ...................................... 102

3.3.2. Triết luận về đời sống qua các phạm trù đối lập .................................... 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 115

PHỤ LỤC ............................................................................................................... 123

DẪN LUẬN

1. Lý do chọn đề tài

Trên một đất nước thi ca như ở Việt Nam ta thì việc sáng tác thơ có thể ví

như một mạch nước ngầm không bao giờ cạn kiệt. Mạch ngầm đó chứa đựng

một lượng không nhỏ những khoáng chất giá trị làm nên sự giàu có của văn hóa

– văn học dân tộc. Một trong những khoáng chất quý báu của nền văn học Việt

Nam ta là lực lượng nữ thi sĩ.

Theo thời gian, những nữ thi sĩ đã khẳng định một vị trí nhất định trên thi

đàn dân tộc. Giở lại những trang viết của phụ nữ Việt Nam trong quá khứ, chúng

ta tự hào không chỉ có một Hồ Xuân Hương ngổn ngang bao nỗi dở dang, một bà

huyện Thanh Quan trang nghiêm, trăn trở trong nỗi u hoài thế sự mà còn tỏa

sáng những cái tên của giới nữ lưu những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

như: Sương Nguyệt Anh, Đạm Phương, Tương Phố… Rồi đến phong trào Thơ

Mới thi đàn xuất hiện những Nguyễn Thị Kiêm, Anh Thơ, Thu Hồng, Vân Đài,

Ngân Giang, Hằng Phương, Mộng Tuyết… Trong kháng chiến và thời kì hòa

bình thơ nữ vẫn để lại những thi âm “dịu dàng mà sâu lắng lạ” của Xuân Quỳnh,

Lâm Thị Mỹ Dạ…

Cho đến hôm nay thơ nữ vẫn mang trong nó những vẻ đẹp rất riêng nhưng

rất hiển nhiên và cố hữu của văn chương. Và việc tìm hiểu về một nhà thơ nữ

cùng phong cách thơ của họ là việc làm hữu ích để kết luận thuyết phục sức sống

mạnh mẽ của thi ca Việt Nam nói chung và thơ nữ nói riêng.

Ý Nhi - một nhà thơ nữ khá nổi bật của thơ ca cuối giai đoạn chống Mỹ -

một gương mặt ấn tượng của thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới. Vượt qua những

dòng thơ dễ dãi, “ngòn ngọt” của một thời, Ý Nhi tìm được một chất thơ mới lạ

với một bút pháp rất riêng. Với giải thưởng của Hội nhà văn năm 1986 cho tập

thơ Người đàn bàn ngồi đan thì Ý Nhi đã khẳng được độ chín của một tài thơ.

Người đàn bà ngồi đan trở thành “hiện tượng” của văn học một thời gian dài

sau đó vì rất nhiều vấn đề mang tính thơ ca đương đại được đặt ra và đòi hỏi tìm

hiểu. Cho đến nay nhà thơ đã có được một khối lượng sáng tác phong phú gồm

gần chục tập thơ. Ngoài ra còn có những tập sách chân dung, bút kí khá ấn

tượng. Tất cả làm nên vị trí văn học sử của nhà thơ Ý Nhi.

Cùng với sự thay đổi của đời sống, ta có thể thấy thơ Ý Nhi đã và đang

định hình một phong cách viết mới lạ buộc người đọc phải thay đổi chính mình,

trước hết là về cách đọc và cảm nhận thơ.

Ý Nhi và phong cách thơ Ý Nhi gây hứng thú cho nhiều bạn đọc yêu thơ

và các nhà nghiên cứu thơ. Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ

những bài phê bình ngắn về một phương diện, hay những cảm nhận chung chung

về một tập thơ hoặc một bài thơ trên các trang báo và mạng xã hội chứ chưa

thành một hệ thống mang tính chất tổng hợp những vấn đề thi pháp hình thành

phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi. Vì vậy việc thực hiện đề tài “Phong cách

nghệ thuật thơ Ý Nhi” là thử thách thú vị.

Tìm hiểu “Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi”, chúng tôi nhằm mục đích

tìm hiểu một cách đầy đủ và toàn diện sự đóng góp của Ý Nhi cho thơ ca và cố

gắng chỉ ra những thuộc tính riêng trong nội dung và nghệ thuật của nhà thơ,

nhằm khẳng định những phương diện cơ bản nhất trong phong cách sáng tác của

nhà thơ Ý Nhi.

2. Lịch sử vấn đề

Theo thống kê của chúng tôi, đến thời điểm này đã có trên dưới bốn mươi

bài viết về thơ Ý Nhi trên các báo và tạp chí đồng thời cũng đã có một luận văn

thạc sĩ nghiên cứu về quan niệm nghệ thuật của bà. Đó là những nghiên cứu có

giá trị của Mã Giang Lân, Chu Văn Sơn, Lưu Khánh Thơ, Trần Trung, Nguyễn

Hoàng Sơn, Hoàng Hưng, Nguyễn Thị Minh Thái, Ngô Thị Kim Cúc, Ngô Thị

Hoa… Nhìn chung các tác giả đều đánh giá cao thơ Ý Nhi, khẳng định giọng thơ

và vị trí thơ rất riêng của bà. Thơ của Ý Nhi có nét giản dị của cuộc sống đời

thường mà lại đậm chất suy nghĩ, chất trí tuệ. Để thấy rõ hơn quá trình phát triển

và đánh giá thơ Ý Nhi, ở phần này chúng tôi lược khảo vấn đề theo tiêu chí,

phạm vi nghiên cứu.

2.1. Những tuyển tập in thơ Ý Nhi

Theo quan điểm của chúng tôi, không phải ngẫu nhiên mà tên tuổi và sáng

tác của một nhà thơ được chọn in trong các tuyển tập. Khi làm công tác tuyển

thơ, phần nào đó các nhà biên soạn đã có sự cân nhắc về vai trò và vị trí của một

nhà thơ, một tác phẩm thơ đối với đời sống văn học. Vì vậy sự chọn lọc đó, ở

một phương diện nhất định có thể được xem là một sự “định giá”. Và những bài

thơ của Ý Nhi được chọn in trong các tuyển tập thơ trong nước và thế giới phần

nào cho thấy sức hút mạnh mẽ và tính vấn đề trong thơ Ý Nhi. Có thể kể đến

những tuyển tập sau:

Cuốn 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỉ XX (từ cuộc bình chọn do

Trung tâm Văn hóa Doanh Nhân và Nhà xuất bản Giáo dục phối hợp tổ chức

năm 2005) đã in tác phẩm Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi. Lời giới thiệu sau

đây của người soạn sách đã phần nào khái quát được đặt trưng phong cách thơ Ý

Nhi: “Sau một vài lần thử sức, Ý Nhi thờ ơ với thơ cho đến tận năm 1978, khi chị

lao động thật sự nghiêm túc để cho ra đời tập thơ Đến với dòng sông. Thơ của Ý

Nhi đầy nữ tính lại có chất trí tuệ, mang nỗi khắc khoải khôn nguôi của chị

trước những gì trông thấy và cảm nhận”.

Với 2 bài thơ Lời bài hát và Buổi sáng được (Nguyễn Đỗ?) tuyển in trong

tập Black dog, black night, Ý Nhi trở thành một trong số 15 nhà thơ Việt Nam

được vinh dự ghi tên mình vào tổng tập LitFinder (Người tìm ánh sáng).

Thơ Ý Nhi cũng có mặt trong cuốn Thơ nữ Việt Nam từ xưa đến nay của

NXB Phụ nữ phối hợp với NXB Feminist thuộc đại học thành phố New York

vừa ra mắt bạn đọc tại Mỹ.

Ngoài ra thơ Ý Nhi còn được chọn đăng trong các tập thơ dành riêng cho

nữ thi sĩ như: Tuyển thơ tác giả nữ Việt Nam, Các nhà thơ nữ Việt Nam – sáng

tác và phê bình, Thơ nữ Việt Nam, Tuyển chọn 1945 – 1995, Tinh hoa thơ

Việt (cuốn 2)…

2.2. Những bài bình luận, nhận định, đánh giá về các tập thơ của Ý Nhi

Sau khi tập thơ Người đàn bà ngồi đan ra đời và đoạt giải A của Hội nhà

văn Việt Nam năm 1985, thơ Ý Nhi trở thành tâm điểm của những người yêu

thơ, của các nhà phê bình, nghiên cứu… Thơ Ý Nhi thành công ở một chặng

đường mới mẻ, phù hợp với tâm thế của một đất nước vừa hùng dũng bước ra

khỏi chiến tranh vừa ngập ngừng trong cuộc sống hòa bình đầy bất trắc.

2.2.1. Về tập thơ Người đàn bà ngồi đan và bài thơ cùng tên

Ngay khi tập thơ ra đời, Mã Giang Lân viết bài Người đàn bà ngồi đan và

khẳng định hướng tìm tòi và phẩm chất thơ Ý Nhi là hướng vào nội tâm. Ông

cho rằng Ý Nhi có những mạnh bạo trong tư duy sáng tạo, câu thơ có độ khái

quát, độ sâu, bút pháp chính là hồi tưởng. Thơ Ý Nhi tuy không dễ cảm nhận

nhưng lại là một giọng thơ khiến người đọc yêu mến vì sự chân thành tột bậc.

Với Người đàn ngồi đan, Ý Nhi thật sự đã thể hiện một bản lĩnh nghệ thuật khá

cứng cỏi và sắc sảo.

Trong bài viết Trò chuyện về thơ với “Người đàn bà ngồi đan”, Nguyễn

Thị Minh Thái nhận định đây là đỉnh cao nhất trong sự nghiệp thơ Ý Nhi; là tập

thơ đánh dấu một phong cách, giọng điệu thơ rất riêng của Ý Nhi. Từ đó, tác giả

khái quát thơ Ý Nhi là bút pháp của một con người bên ngoài thì lạnh lùng

nhưng trong lòng thì hôi hổi cảm xúc: “đằng sau cái vẻ ngoài gần như lạnh lùng

khép kín ấy, là trái tim ấm nóng, cái tình chín muộn của người đàn bà làm thơ”.

Nguyễn Hoàng Sơn trong Ý Nhi qua tuyển thơ phát hiện thơ Ý Nhi là

“một giọng thơ mới lạ, đương vào độ chín” ngay khi tập Người đàn bà ngồi đan

xuất hiện.

Ý Nhi có nhiều bài thơ gây ấn tượng với bạn đọc nhưng được biết đến

nhiều nhất có lẽ vẫn là bài Người đàn bà ngồi đan. Bài thơ được xem là một

trong số những bài thơ hay nhất của thế kỉ XX và nhận được khá nhiều ý kiến

bình luận, phân tích khác nhau trên các blog cá nhân và phương tiện thông tin.

Trong số đó, có thể kể đến sự chú ý của Nguyễn Hoàng Sơn về sự “ngắn gọn,

không vần, lập tứ rất vững” và biểu tượng đẹp, kiêu sa, bí ẩn của cuộc đời thông

qua hình tượng người đàn bà ngồi đan. Hay như Khánh Phương đã thấy được ý

nghĩa dự báo của bài thơ: “Ngoài ý nghĩa về sự nước đôi của sự sống, cái gì

cũng có thể vừa là nó vừa là điều ngược lại, bài thơ còn mang ý nghĩa dự báo”.

Hà Ánh Minh lại khai thác “cánh cửa nhiều chiều” của cuộc sống qua nghệ thuật

ẩn dụ và suy tưởng của nhà thơ. Từ đó thấy được ý nghĩa nhân sinh sâu sắc và

quan niệm sáng tạo nghệ thuật của nữ thi nhân. Còn tác giả Trần Trung trong

một bài bình về tác phẩm cũng đã khẳng định vẻ đẹp giản dị về nội dung, hình

thức và sức gợi của bài thơ.

Tập thơ Người đàn bà ngồi đan và bài thơ cùng tên đã đánh dấu một mốc

quan trọng trong sự nghiệp thơ Ý Nhi. Từ sau khi tập thơ và bài thơ này ra đời

tên tuổi nhà thơ trở thành niềm tự hào của thế hệ các nhà thơ đương đại Việt

Nam. Cùng với tuổi đời và tuổi nghề, những tập thơ: Ngày thường, Mưa tuyết,

Gương mặt, Vườn đã khẳng định những đóng góp tích cực đáng quí của phong

cách thơ Ý Nhi trong nền thơ ca Việt Nam.

2.2.2. Về những tập thơ khác

Sau Người đàn bà ngồi đan, tập Ngày thường của Ý Nhi cũng nhận

được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một số bình luận của Chu Văn Sơn

theo chúng tôi là rất xác đáng. Trong bài Sự giải tỏa bằng thơ Chu Văn Sơn cho

rằng tập Ngày thường “một lần nữa làm sáng danh cho định nghĩa “thơ trước hết

là sự giải tỏa của tâm trạng”. Ở đó Ý Nhi đang “gắng hình dung ra khuôn mặt

tinh thần” của những người mà bà yêu mến cả tài năng và phẩm hạnh. Theo ông,

những chân dung đó thực ra đều là những “bức tự họa” của chính cái Tôi tác giả.

Trong bài viết này Chu Văn Sơn nhận ra một cách sắc sảo một lối thơ khác của

Ý Nhi. Đó là việc nhà thơ “phổ cái Tôi của mình vào nhân vật, ngay cả những

nhân vật vốn có, những số phận xác định” bằng “kỹ thuật ký họa nhanh”, “chớp

lấy những khoảnh khắc xuất thần trong hình thể nhân vật”. Điều này giúp Ý Nhi

phác họa được tâm trạng nhân vật đồng thời bộc lộ được nỗi niềm của mình:

“dùng triết luận như hỏa lực mạnh đột phá vào tâm trạng rồi phổ vào đó nỗi

niềm của chính mình”. Khi tập Mưa tuyết và Gương mặt xuất bản, Chu Văn

Sơn lại có bài Đến với từng bông tuyết. Trong bài này, tác giả đã thấy được sự

nhất quán giữa thơ và đời của Ý Nhi. Từ hình tượng “những bông tuyết nhẹ

nhàng, tinh trong, buốt giá”, tác giả đã nghĩ đến “sự trầm tĩnh và chất thơ của sự

trầm tĩnh” trong con người Ý Nhi. Khi so sánh hai tập thơ, Chu Văn Sơn cũng đã

chỉ ra đặc trưng riêng của từng tập, giúp người đọc thấy được sự khổ công, tận

tụy của người làm nghệ thuật. Ông cho rằng: “Mưa tuyết nghiêng về Thiên tính

phụ nữ, Gương mặt lại nghiêng về Thiên tính nghệ sĩ, nhưng tựu trung đều là

chuyện chân ngã”.

Tập thơ Vườn của Ý Nhi cũng nhận được sự quan tâm của bạn đọc qua

các bài viết như: Nỗi khắc khoải từ miền kí ức của Lưu Khánh Thơ, Thơ tình

của một đời người của Thúy Nga…Mỗi tác giả đều có những phát hiện rất riêng

trên các bình diện khác nhau của tập thơ. Nhà nghiên cứu văn học Lưu Khánh

thơ thì nhận ra nhiều khoảnh khắc tâm trạng, loại tâm trạng được dồn nén bởi

suy tư và cảm xúc của nhà thơ trong một khuôn khổ “luôn bị phá vỡ”, một “ngôn

ngữ thơ văn xuôi chắt lọc, giàu suy tưởng và hết sức kiệm lời” và nhịp điệu là

“nhịp điệu của tâm trạng”. Còn tác giả Thúy Nga thì phát hiện sự đan xen giữa

tình yêu và nỗi buồn trong tập thơ, một “tình yêu lại đậm đặc, đậm đặc hơn

nhiều tập thơ của những ngày trẻ hơn” và “nỗi buồn không đau đớn vật vã,

không gọi tên được, nhưng cứ âm ỉ trong lòng, cứ trong ngần như những giọt

nước mắt lặng lẽ”.

2.3. Những nhận định, phân tích, đánh giá chung về thơ Ý Nhi

Trong bài viết Thơ Ý Nhi, nhà thơ Hoàng Hưng đã khẳng định bút pháp

thơ Ý Nhi là bút pháp “trữ tình gián cách” và cảm xúc thơ Ý Nhi là “cảm xúc

được kiềm nén hoặc để nguội”. Lời nhận định này được Ý Nhi rất tâm đắc vì nó

đúng với tâm hồn và quan niệm về thơ của bà. Ngoài ra Hoàng Hưng còn nhắc

đến thể thơ “không vần, lắm lúc văn xuôi một cách triệt để”. Cũng như các nhà

nghiên cứu khác, ông cũng thấy được tính nghịch lí hai mặt trong thơ Ý Nhi và

cho rằng: “đây là lối thơ hiếm thấy trong đời sống thơ ca quen thuộc lâu nay ở

Việt Nam”.

Trong bài Ý Nhi – một nghiệp thơ không bao giờ hết dây dưa, Khánh

Phương chủ ý nêu lên phạm vi phản ánh trong thơ Ý Nhi. Thơ Ý Nhi phản ánh

cuộc sống trên phạm vi rộng với rất nhiều cảnh vật và con người, nhưng ở đó Ý

Nhi thường “soi mình vào nhiều kiểu người khác nhau trong xã hội để phần nào

vẽ nên chân dung của bản thân”. Và cuối cùng Khánh Phương đã rút ra một nét

cá biệt trong thơ Ý Nhi, đó là: “nhà thơ luôn mong muốn là người khám phá sắc

sảo đối với tất cả các góc cạnh cuộc sống”.

Tác giả Hà Ánh Minh cũng là người có sự quan tâm khá sâu sắc đối với

thơ Ý Nhi. Trong bài Mạch đập thơ Ý Nhi – dòng ưu tư chảy xiết, Hà Ánh

Minh đã rất tinh tế khi phát hiện và phân tích tính cảm xúc và trí tuệ trong thơ Ý

Nhi. Với một lối thơ “không thể ngâm, chỉ có thể đọc, không thể trở thành lời

của bài hát” nhưng “sức trào dâng vẫn dào dạt” đã khẳng định một nét phong

cách rất riêng của thơ Ý Nhi. Trong một bài viết khác, bài Lửa từ trái tim trần

run rẩy, Hà Ánh Minh lại thấy được sức ảnh hưởng của tinh thần nghệ sĩ đã

bùng lên ngọn lửa yêu thơ trong lòng người đọc: “Một giọng thơ buồn nhưng

không lụy, một trái tim trần run rẩy trước nỗi đau và hạnh phúc nhưng đầy kiêu

hãnh về phẩm giá con người, những bài thơ không dễ trình bày trước đám đông

nhưng sẽ để lại nỗi nhớ sâu đậm trong lòng người đọc...”

Trong bài Thơ tình Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thị Minh Thái

viết: “Ý Nhi có một lối thơ tình kín đáo, dịu dàng và đắm đuối như hoa quỳnh

hiếm hoi, nở muộn, chỉ nở một lần, thơm một lần và dâng hiến một lần vào thời

khắc ngắn ngủi vào giữa đêm”. Cách cảm nhận này giàu thi cảm và sức gợi,

dường như đã “điểm” trúng một huyệt đạo thơ quan trọng của Ý Nhi. Đó là một

hồn thơ của đêm, trong đêm và tạo ra những đắm đuối, yên lặng của đêm. Một

đề xuất rất có giá trị.

Ở mảng này một lần nữa phải nhắc đến Chu Văn Sơn. Những nhận định,

bình giải về thơ Ý Nhi luôn được ông nghiên cứu sâu và đầy đủ. Lời nguyện cho

nỗi yên hàn là một bài viết rất tinh tế và sâu sắc về thơ Ý Nhi cả về nội dung lẫn

nghệ thuật.

Cũng cần phải kể đến bài viết khá xuất sắc về thơ Ý Nhi của một tác giả

nữ đầy cá tính – Lê Hồ Quang - bài Thơ Ý Nhi hành trình trong lặng lẽ. Bài

viết đã đánh giá rất đúng mực những nét đẹp tâm hồn cũng như yếu tố trí tuệ

thông qua những triết luận về cuộc sống và con người rất riêng của Ý Nhi.

Những bài viết trên là nguồn tư liệu phong phú giúp khơi mở những luận

điểm cho đề tài Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính của luận văn là đặc điểm phong cách thơ Ý Nhi thông

qua những biểu hiện mang tính hình thức như ngôn ngữ, thể loại, kết cấu; đồng

thời cũng cố gắng tìm hiểu những nét triết luận đặc trưng của Ý Nhi như là một

điểm nhấn của phong cách về mặt nội dung.

Về phạm vi khảo sát, luận văn nghiên cứu thơ Ý Nhi qua các tập thơ đã

được xuất bản:

- Trái tim nỗi nhớ (1974)

- Đến với dòng sông (1978)

- Cây trong phố - chờ trăng (1981)

- Người đàn bà ngồi đan (1985)

- Ngày thường (1987)

- Mưa tuyết (1991)

- Gương mặt (1991)

- Vườn (1999)

- Thơ Ý Nhi (2000)

- Thơ với tuổi thơ (2002)

4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, hệ thống

Qua việc phân tích tác phẩm thơ cụ thể, phân tích những biểu hiện nghệ

thuật cụ thể chúng tôi tìm ra những nét đẹp đặc biệt, thường xuyên xuất hiện, có

tính tương đối bền vững của thơ Ý Nhi. Từ đó, chúng tôi cố gắng gọi tên những

nét riêng đó và đưa chúng vào một chỉnh thể có thứ tự, lớp lang.

- Phương pháp so sánh

Việc so sánh thơ Ý Nhi và các nhà thơ khác chắc chắn sẽ cho chúng ta cái

nhìn khách quan về tính độc đáo, riêng biệt của thơ bà.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Đặt thơ ý Nhi trên nhiều bình diện khác nhau để nghiên cứu, chúng tôi

mong nhìn thấy vẻ đẹp trọn vẹn của phong cách thơ Ý Nhi. Cụ thể, ở luận văn

này chúng tôi đặt thơ Ý Nhi trong cái nhìn mang tính mỹ học (chủ yếu ở quan

niệm về cái đẹp), và cái nhìn của văn hóa học (chủ yếu ở phương diện đời sống

xã hội) để làm nổi bật tính triết lý trong thơ Ý Nhi.

Ngoài ba phương pháp chính trên, chúng tôi còn sử dụng bổ sung thêm

thao tác thống kê, phân loại và áp dụng cách phân tích thi pháp học.

5. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn được phân

thành ba chương, triển khai các luận điểm như sau:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương này khái lược những vấn đề cơ bản về nghiên cứu phong cách nghệ

thuật, giới thiệu cuộc đời sự nghiệp thơ Ý Nhi và lý giải sự hình thành phong

cách thơ Ý Nhi, bao gồm các tiểu mục như sau:

1.1. Cơ sở nghiên cứu phong cách nghệ thuật

1.2. Các yếu tố định hình phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi

1.3. Khái lược về các chặng đường sáng tác thơ Ý Nhi

Chương 2: Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ ngôn ngữ,

thể loại, kết cấu

Chương 2 cụ thể hóa những vấn đề đặt ra từ chương 1, phân tích, đánh giá

những đặc điểm nổi bật của thơ Ý Nhi trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại,

kết cấu, gồm các tiểu mục:

2.1. Phong cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật

2.2. Phong cách nghệ thuật

2.3. Phong cách kết cấu

Chương 3: Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ triết luận về

cái đẹp và đời sống

Chương 3 khai thác chất triết luận trong thơ Ý Nhi qua cách nhìn về cái đẹp

và đời sống, gồm các tiểu mục:

3.1. Cơ sở nghiên cứu

3.2. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ triết luận về cái đẹp

3.3. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ triêt luận về đời sống

Chương 1

CƠ SỞ NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT VÀ CÁC

YẾU TỐ ĐỊNH HÌNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI

1.1. Cơ sở nghiên cứu phong cách nghệ thuật

Do tiếp cận đề tài trên bình diện phong cách của một tác giả chứ không

phải phong cách nghệ thuật nói chung hay phong cách của các trào lưu, phong

cách dân tộc, phong cách thời đại nên luận văn không đi sâu trình bày lịch sử

những vấn đề lý luận về phong cách học và những mối quan hệ đa dạng, phức

tạp của nó với các phạm trù khác của lý luận văn học. Ở phần này, chúng tôi chỉ

dừng lại ở việc lược thuật những quan niệm về phong cách. Trên cơ sở đó chúng

tôi tiến hành khảo sát, đối chiếu cụ thể vào văn bản nghệ thuật của Ý Nhi nhằm

hệ thống hóa những nét độc đáo, tiêu biểu, nhất quán, có ý nghĩa thẩm mỹ cao

trong sáng tác thơ ca của bà.

Trên thế giới quan niệm về phong cách lâu nay vẫn tồn tại dưới rất nhiều

định nghĩa khác nhau. Theo Khrapchencô trong Cá tính sáng tạo của nhà văn

và sự phát triển của văn học, có thể có trên dưới mười quan niệm khác nhau về

phong cách. Tác giả đưa ra các quan niệm tiêu biểu của D.Likhachev,

A.Grogorian, V.Turbin, V.Jirrmunxki, V.Kôvalép, L.Nôvichencô, V.Đnéprov,

R.Yakobxưn…Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu: phong cách chủ yếu và trước hết

biểu hiện qua ý thức nghệ thuật, qua cách nhìn, qua cách cảm nhận thế giới độc

đáo của nhà văn…Với cách quan niệm này, ta thấy theo Khrapchencô phong

cách nghệ thuật liên quan rất sâu đậm với nội dung tư tưởng tác phẩm.

Ở Việt Nam, khái niệm phong cách được đề cập qua các tài liệu lý luận

thường dùng trong nhà trường như: Nhà văn – Tư tưởng – Phong cách của

Nguyễn Đăng Mạnh, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của

Phan Ngọc, Một số vấn đề thi pháp học của Trần Đình Sử, Con mắt thơ của Đỗ

Lai Thúy, Từ ký hiệu học đến ngôn ngữ học của Hoàng Trinh, Phong cách học

tiếng Việt của Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa, Văn học và học văn của

Hoàng Ngọc Hiến… Tất nhiên khi đề cập tới khái niệm này các tác giả thể hiện

những cách hiểu khác nhau về phong cách nghệ thuật. Chẳng hạn Lê Bá Hán,

Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi quan niệm phong cách chỉ thuần túy được biểu

hiện ở hình thức, qua hình thức tác phẩm [35]; hay Phan Ngọc thì cho rằng

phong cách được biểu hiện cả ở nội dung lẫn hình thức: phong cách là một chỉnh

thể nghệ thuật thống nhất các yếu tố nội dung và hình thức [73]; hay Từ điển

văn học tập 2 thì cho rằng phong cách biểu hiện thành những đặc điểm hình thức

nhưng những đặc điểm này có nguồn gốc từ trong ý thức nghệ thuật của nhà văn

nghĩa là hình thức phải mang tính nội dung [81]. Tuy mỗi người có các cách

quan niệm khác nhau về phong cách nhưng nhìn chung đều thống nhất ở một

điểm: Phong cách là thước đo tài năng và bản lĩnh của nhà văn trong sáng tạo

nghệ thuật [109].

Từ việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật của

một tác giả, chúng tôi thấy: các nhà nghiên cứu dựa trên cơ sở các định nghĩa đã

có để từ đó thể hiện quan niệm về phong cách của mình tùy thuộc vào đặc trưng

riêng của nhà văn, nhà thơ mà mình nghiên cứu. Bằng cách này, chúng tôi đã

tổng hợp thành hệ thống những hiểu biết của mình về phong cách nhằm dùng nó

để tiếp cận các tác phẩm thơ Ý Nhi với tư cách là một chỉnh thể toàn vẹn làm nổi

bật phong cách nghệ thuật của bà.

Một số quan điểm nghiên cứu chúng tôi nhấn mạnh như cơ sở của đề tài,

bao gồm:

a) Khái niệm phong cách hay phong cách văn học, phong cách nghệ thuật

đã xuất hiện từ lâu trong sáng tác cũng như nghiên cứu khoa học ngữ văn. Phong

cách được viết theo tiếng Pháp là “Style”, tiếng Hy Lạp cổ đại là “Stylos”, tiếng

La Tinh là “Stylus”. Ban đầu phong cách dùng để chỉ dụng cụ để viết, về sau

dùng để chỉ “nét bút” rồi sau cùng mang nghĩa là “cách viết”.

b) Ngày nay phong cách không chỉ được dùng trong lĩnh vực văn học

nghệ thuật mà còn được dùng phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời

sống xã hội. Nhưng dù ở lĩnh vực nào, phong cách bao giờ cũng là hệ thống

những đặc điểm tạo nên tính độc đáo của một hiện tượng, khu biệt hiện tượng

này với hiện tượng khác.[40]. Chính vì vậy chúng ta dễ dàng nhận thấy không

phải ai cũng có phong cách, không phải nhà thơ nào cũng tạo dựng được một

phong cách, một “khuôn mặt tinh thần” của riêng mình. Chỉ những nhà văn, nhà

thơ có tài năng, có bản lĩnh nghệ thuật, biết sử dụng các phương tiện hình thức

theo một cách nào đó rất riêng mà vẫn tạo được thể thống nhất mang sức hấp

dẫn, khơi gợi mỹ cảm nơi người khác mới được xem là có phong cách.

c) Tuy phong cách có thể được xét ở nhiều cấp độ, trên nhiều bình diện,

nhưng trong nghiên cứu văn học, nghiên cứu về phong cách của một nhà văn,

một tác giả là quan trọng nhất. Bởi vì suy cho cùng, phong cách của nhà văn góp

phần làm nên đặc điểm phong cách của thời đại và phong cách của nhà văn luôn

luôn được thể hiện thông qua tác phẩm, làm nên phong cách của tác phẩm…

Chúng tôi xem phong cách của nhà văn chính là phẩm chất sáng tạo cao nhất

trong quá trình hiện thực hóa đời sống bằng phương tiện ngôn từ nghệ thuật. Nói

như M. Gorki rằng: người nghệ sĩ cần lấy cái gì là của riêng mình …(bởi vì) một

người không có cái gì của riêng mình thì người đó chẳng có cái gì hết. Người

nghiên cứu phải đặc biệt chú ý những yếu tố được lặp đi lặp lại, những yếu tố nổi

trội, những điểm-nhấn-sáng thường xuyên xuất hiện trong hệ thống tác phẩm với

sự bền vững, nhất quán ở tất cả các yếu tố cấu thành nên nó khiến cho những

sáng tác của nhà văn đó có diện mạo, cốt cách riêng biệt, độc đáo không thể trộn

lẫn với bất kì ai khác.

d) Luận văn quan niệm phong cách nghệ thuật là một chỉnh thể không tách

rời giữa nghệ thuật và tư tưởng, giữa hình thức và nội dung. Phong cách có vẻ

được nhìn thấy rõ hơn trên phương diện hình thức nhưng cái nền tảng triết học

của hình thức ấy vẫn là một nội dung rộng rãi, sâu xa. Vì vậy, cái cuối cùng của

phong cách vẫn là cái đẹp được thể hiện một cách độc đáo, làm nên “cốt cách”,

“khí chất”, “phong vị” của tác phẩm.

Nghiên cứu các lý thuyết về phong cách và soi chiếu vào các văn bản nghệ

thuật cụ thể, chúng tôi hiểu rằng phong cách được thể hiện trong suốt quá trình

hoạt động sáng tạo của nhà văn. Phong cách có thể được hình thành ngay từ lúc

nhà văn mới cầm bút và từ đây bắt đầu vận động, phát triển và chịu ảnh hưởng

của thế giới quan, của môi trường sống, của bối cảnh thời đại, của các nhà văn

mà họ yêu thích. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà văn, nhà thơ khi bắt đầu cầm bút

mới là lúc họ may mò, lựa chọn và dần định hình phong cách. Phong cách từ thế

tiềm năng được khơi dậy mạnh mẽ và phát tiết thành tài năng. Vì thế nên có rất

nhiều ý kiến thống nhất rằng: phong cách một mặt do tài năng bẩm sinh của

người nghệ sĩ, nhưng mặt khác quan trọng hơn là kết quả của quá trình đào luyện

lâu dài, quá trình lăn lộn trải nghiệm đời sống, quá trình tổng hợp và phát triển

không ngừng nghỉ của tâm hồn, trí tuệ, công học hỏi và rèn luyện của nhà văn.

Phong cách được hình thành trên cơ sở tài năng nhưng nếu nhà văn không khổ

công lao động nghệ thuật thì tài năng ấy cũng dừng lại ở dạng tiềm năng và đôi

khi không được nhận ra hoặc đôi khi nhận ra nhưng lại không tránh khỏi sự mai

một. Để khẳng định được phong cách đòi hỏi nhà văn phải lao động nghệ thuật

một cách nghiêm túc, bền bỉ và say mê.

Trên cơ sở nhận thức về phong cách như vậy, cùng với sự trợ giúp của các

phương pháp nghiên cứu, chúng tôi cố gắng vận dụng để tìm hiểu phong cách

nghệ thuật thơ Ý Nhi.

1.2. Các yếu tố định hình phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi

1.2.1. Hoàn cảnh xã hội – thời đại

Mối quan hệ giữa nhà văn và thời đại là mối quan hệ khăng khít, khó tách

rời. Điều này cũng giống như con người sống và hít thở bầu không khí ở miền

đất nào, ăn hạt gạo, uống ngụm nước của vùng quê nào thì nói được cái giọng

của vùng quê ấy mà thôi. Đối với Ý Nhi thì sự ảnh hưởng của thời đại đến sự

hình thành và phát triển phong cách nghệ thuật của bà là vô cùng lớn lao. Có lần

tôi đã được nghe nhà thơ nói về sự may mắn của mình khi cảm hứng sáng tạo

của người nghệ sĩ đồng điệu với những vận động, đổi thay của thời đại. Theo Ý

Nhi, nhờ sự đồng điệu đó mà thơ bà được chú ý.

Quả vậy, Ý Nhi trưởng thành và bắt đầu sự nghiệp thơ trong giai đoạn

kháng chiến chống Mỹ - khi cả dân tộc cùng dốc lòng thực hiện nhiệm vụ cứu

nước vẻ vang của lịch sử. Thời đại ấy là cơ sở để hình thành một chặng đường

mới của văn học dân tộc mà chủ nghĩa anh hùng cách mạng là xu thế chủ đạo.

Cũng từ cuộc sống hào hùng ấy đã tạo dựng một lớp người có tư tưởng và hành

động lớn, xứng tầm dân tộc. Họ bước vào cuộc chiến một cách tình nguyện, đầy

trách nhiệm và tràn say mê. Không khí xã hội khi ấy đã là điểm tựa cho cô gái

trẻ Ý Nhi tin tưởng một cách mãnh liệt và tôn trọng tuyệt đối những giá trị lớn

lao về cái gọi là tâm hồn dân tộc mà chủ nghĩa anh hùng cách mạng ở Việt Nam

đem lại.

Năm 1964, giặc Mỹ ném bom miền Bắc, Trường Đại học Tổng hợp đã sơ

tán về Đại Từ, Thái Nguyên. Năm đó Ý Nhi vừa học hết học kì I năm thứ nhất

khoa Ngữ văn của trường cũng cùng bao bạn bè tham gia khám phá những tháng

ngày cực khổ nhưng vô cùng sôi nổi và đẹp đẽ của đời mình ở vùng sơ tán. Nhà

thơ kể rằng: “những người thầy của chúng tôi, giáo sư Hoàng Xuân Nhị, giáo sư

Hoàng Như Mai, giáo sư Lê Đình Kỵ, giáo sư Kim Đính… đứng giữa lớp học

bằng tre nứa, say sưa nói về V.Hugô, Banzac, Molie, Gôgôn, Lỗ Tấn, Quách

Mạc Nhược, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Huy Cận, Nguyễn Bính, Quang

Dũng…” [43]. Quả thật đây là những năm tháng người sinh viên học trong say

mê vì cả thầy và trò được dẫn dắt bởi lí tưởng thay đổi vận mệnh dân tộc. Đồng

thời họ cũng khao khát tham gia vào đời sống văn học, chính trị của một thế giới

mới đang có những vận động lớn lao và sâu sắc.

Thời nào cũng vậy, giới trẻ luôn có những đam mê cuồng nhiệt. Ngày nay

người trẻ nói chung và sinh viên nói riêng phần nhiều yêu thích âm nhạc, điện

ảnh và thần tượng những người làm nên nó. Có lẽ vì tính phổ quát và sức hút

phù phiếm của nó khiến họ tìm thấy niềm vui. Cùng tính chất tâm lý nhưng khác

hoàn cảnh xã hội, thanh niên ngày ấy lại đam mê vô cùng thơ và những người

làm nên thơ. Lý giải điều này không khó. Một mặt thơ ca đã là sản phẩm tinh

thần phát nguyên từ cội nguồn dân tộc với ca dao, dân ca dễ thuộc, dễ nhớ. Mặt

khác thơ đã có sẵn trong trái tim đang cuộn trào xúc cảm thời đại, chỉ cần “xuất

khẩu” là “thành thơ”; đã vậy không cần dụng công mà thơ đã có sẵn nơi đầu lưỡi

vì tâm hồn họ tràn trề thơ mà cả một lớp người, thậm chí toàn dân tộc khi ấy

đang có chung một hồn thơ. Thành ra họ mê mẩn, thần tượng Xuân Quỳnh, Bằng

Việt, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn, Đỗ Chu… Họ thuộc Về Nghệ An

thăm con, Trở lại trái tim mình của Bằng Việt; Vườn trong phố, Thôn Chu

Hưng của Lưu Quang Vũ; Tiếng gà trưa, Hoa dọc chiến hào của Xuân

Quỳnh…Ý Nhi từng công nhận ngày ấy “quả là thời của thơ” mà! Đây chính là

không gian văn hóa giúp hình thành cảm thức sáng tạo thi ca ở Ý Nhi, nhất là

những sáng tác trước ngày giải phóng như Trái tim nỗi nhớ (in năm 1974 cùng

với thơ Lâm Thị Mỹ Dạ). Đó là những trang thơ giàu cảm xúc, ghi hình tư thế

xung trận của tầng lớp thanh niên lúc bấy giờ. Đó còn là tinh thần của dân tộc

mà những cô thanh niên như Ý Nhi vô cùng ngưỡng mộ và theo đuổi. Những

người bạn – đồng chí Ý Nhi từng gặp hoặc nghe kể, những vùng đất thời chiến Ý

Nhi đã từng sống, chiến đấu, lao động và học tập là những kí ức tuổi trẻ đã trở đi

trở lại trong hành trình sáng tạo của thơ Ý Nhi làm nên những hình tượng thơ vô

cùng độc đáo.

Kể từ chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc đã mở sang một

trang mới, đồng thời nền văn học nước nhà cũng bước vào một chặng đường

mới. Ngay sau niềm vui chiến thắng đất nước ta rơi vào khó khăn và khủng

hoảng kinh tế trầm trọng. Nền văn học như dòng nước đang cuộn chảy bỗng bị

ngăn đập nên chững lại và dồn đẩy phần lớn văn nghệ sĩ vào tình cảnh bối rối,

mất phương hướng sáng tác. Nhưng càng bị dồn đẩy dòng nước càng nhanh tự

tìm hoặc tự tạo lối thoát. Đó là quy luật tự nhiên. Và quy luật ấy cũng ứng với

đời sống văn học giai đoạn sau chiến tranh. Ngay khi ấy xuất hiện một đội ngũ

văn nghệ sĩ đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Vì vậy ta dễ dàng

nhận thấy, mặc dù vẫn tiếp nối nền văn học Cách mạng trước đó với khuynh

hướng sử thi và cảm hứng ngợi ca, văn học thời này cũng đã có những bước

chuyển mình đáng khích lệ với “người mở đường tinh anh và tài năng” Nguyễn

Minh Châu. Kể từ sự mở đường này, người làm văn nghệ đã bắt đầu tiếp cận

“hiện thực” với một cự li rất gần khi hướng sự quan tâm của mình vào các vấn

đề thế sự và đời tư. Bức tranh đời sống lúc này không chỉ đơn điệu một màu

hồng của sự ngợi ca, con người cũng không phải là “cây đàn độc điệu” thuần

nhất một âm vực cao hay thấp, sáng hay tối, trong hay đục, mà hiện thực được

nhìn ở nhiều mặt, nhiều chiều.

Cần phải nhắc đến những sự kiện tác động lớn lao đến đời sống văn học.

Trước hết đó là năm 1986, cột mốc quan trọng đánh dấu giai đoạn đổi mới toàn

diện trên đất nước Việt Nam ta với Đại hội Đảng lần thứ VI do Bí thư Nguyễn

Văn Linh khởi xướng. Từ đây, đất nước dần vượt qua thời kì khủng hoảng để

bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc. Kế tiếp phải

nhắc đến một sự kiện tác động trực tiếp đến đời sống văn học. Đó là cuộc gặp

của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm

1987 để triển khai nghị quyết 05 của Bộ chính trị. Tất cả cho ta thấy một cuộc lột

xác lớn lao trong đời sống dân tộc ta. Mọi phương diện xã hội từ chính trị, kinh

tế, văn hóa… đều phải tuân theo nhịp vận động mới của thời cuộc. Người nghệ

sĩ vì vậy cũng cần thay đổi cách thức sáng tạo cũng như mở rộng biên độ tư duy

nghệ thuật nhằm chuyển tải thành công những biến chuyển mới mẻ của đời sống

xã hội.

Trong hoàn cảnh đó có thể thấy Ý Nhi là một trong số rất ít nữ thi sĩ bước

được cả hai chân qua bên kia miệng vực để nhanh chóng thoát khỏi“khoảng

chân không trong văn học” (Nguyên Ngọc), nắm bắt được những vận động còn

rất nhỏ nhẽ mà tinh vi của đời sống văn học, hòa mình vào dòng chảy sôi nổi, táo

bạo, lạ lùng của một thời thơ mới. Đặc biệt với tập thơ Người đàn bà ngồi đan,

Ý Nhi đã khẳng định được phong cách, giọng thơ riêng của mình, góp phần cùng

những nhà thơ khác tạo nên một diện mạo mới cho thơ ca Việt Nam giai đoạn

sau 1975.

1.1.2. Nền tảng quê hương, gia đình và đặc điểm con người nhà thơ

Nền tảng quê hương, gia đình là cội nguồn hình thành cá tính và là mầm

mống của sự phát triển tài năng. Đó là lớp văn hóa nền xác lập nơi nhà văn

những cảm thức đầu tiên và lâu bền về thế giới nghệ thuật, góp phần khơi dậy

thiên hướng nghệ thuật cho nhà văn đồng thời cũng giúp nhà văn rèn giũa, tôi

luyện, bổ sung xúc cảm và trí tuệ. Nhờ vậy phong cách nghệ thuật của họ được

định hình và phát triển.

Từ Hội An ra Hà Nội, qua Hải Phòng là quãng đời lưu dấu nhiều kỉ niệm

tuổi thơ của Ý Nhi. Vùng đất Hội An ban cho bà vẻ đẹp của sự thâm trầm, huyền

bí trong nét văn hóa Chămpa. Cả thời học sinh trải dài trên những con đường đi

về phía biển ở vùng đất Hải Phòng làm nên một Ý Nhi cởi mở và tràn trề sức

sống. Gần ba mươi năm sống trên đất thủ đô ngàn năm văn hiến làm nên nét

quyến rũ, kiêu kì, lịch thiệp nơi con người bà. Tổng hòa tất cả là một Ý Nhi đời

và thơ rất riêng. Trong thơ Ý Nhi ta thường bắt gặp những cảnh vật, con người,

sự việc diễn ra ở những vùng đất thân quen đó. Nó vừa là kí ức, vừa là tiềm thức

làm nên những hình tượng nghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà thơ.

Sinh ra trong một gia đình nghệ thuật, Ý Nhi hiển nhiên hoặc may mắn

mang trong mình tâm hồn của một nghệ sĩ. Dù chưa phát tiết nhưng vẫn có

phong vị của kẻ lãng du. Ông nội nhà thơ là một nhà Nho hay chữ vừa làm thơ

vừa bốc thuốc cứu người. Cha là nhà nghiên cứu nghệ thuật dân gian tài năng –

Nhà nghiên cứu tuồng Hoàng Châu Ký. Được biết ông là người học chữ Nho,

đọc nhiều thơ chữ Hán và làm thơ từ rất sớm. Những câu thơ của ông được Ý

Nhi đánh giá là “tinh tế và trau chuốt”. Về sau ông đọc nhiều thơ hiện đại bằng

tiếng Pháp và cũng thay đổi cách viết văn, viết nghiên cứu, phê bình và cả làm

thơ. Ý Nhi may mắn thừa hưởng từ cha và ông lối tư duy khúc chiết, mạch lạc.

Phải chăng điều này làm nên tính triết luận trong tư duy thơ của bà. Mẹ là người

yêu thơ Mới (thơ 30-45), bà thuộc nhiều bài thơ của các nhà thơ Mới tên tuổi

như Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh… Nền tảng xuất thân như thế khiến Ý Nhi

tự nhận thấy mình yêu thơ và thích làm thơ cũng là lẽ tự nhiên, dễ hiểu. Thêm

một lần nữa, hoặc hiển nhiên hoặc may mắn nữa, khi đến tuổi “theo chồng” Ý

Nhi được yêu và sống cùng người chồng là một nhà nghiên cứu và giảng dạy văn

học đáng kính - giáo sư Nguyễn Lộc. Tất cả tạo cho Ý Nhi những điều kiện

thuận lợi để đến với thơ, suy nghĩ về thơ và tạo dựng phong cách thơ cho riêng

mình.

Điểm lại bước đường làm thơ của Ý Nhi, ta thấy được con-người-thơ của

bà. Từ rất nhỏ Ý Nhi đã làm thơ nhưng chỉ là những câu thơ “non” của tuổi học

trò. Phải đến khi đạt giải khuyến khích trong một cuộc thi thơ ở trại viết dành

cho các nhà văn trẻ vào năm 1969, Ý Nhi mới ý thức được khả năng thơ ca của

mình. Có niềm tin, bà mạnh dạn tuyển chọn, tập hợp những bài thơ lẻ để in

chung với nhà thơ đã có tên tuổi lúc bấy giờ - Lâm Thị Mỹ Dạ trong tập Trái tim

– Nỗi nhớ. Tiếp cận được với công chúng, thơ Ý Nhi nhận được phản hồi và nhà

thơ nhanh chóng thấy được “nghề thơ còn lắm gian nan” khi ngòi bút của mình

còn thiếu thiếu một cái gì vô cùng quan trọng. Bà hiểu rằng, thơ không phải là

sản phẩm của sự hời hợt, làm thơ là một nghề đỏi hỏi sự suy tư nghiêm túc, thơ

là tấm gương phản chiếu trí tuệ và tâm hồn … Và đừng đùa giỡn với thơ.

Từ đây bà suy nghĩ thật sự nghiêm túc về thơ và dần lựa chọn cho mình

một lối đi. Con đường thơ bắt đầu in dấu những bước chân còn nhiều lúng túng

của kẻ dò đường. Đi sao cho thỏa đam mê, đi sao để đam mê đến được cái nơi

mà nó ngự trị, đi sao để đam mê đến được vinh quang. Sự trăn trở này bộc lộ khá

rõ trong tập Đến với dòng sông (1978).

Đến với thơ không chỉ là một cuộc gặp gỡ mà còn là duyên phận. Mà đã

là duyên phận thì thường gắn với hên-xui, may-rủi. Điều này đòi hỏi thi nhân

phải là người sẵn sàng dấn thân và chấp nhận thất bại nếu nó xảy ra. Sau nhiều

rủi ro, may thay Ý Nhi đã có một cuộc gặp gỡ với nhà thơ Việt Phương để sau

đó bà nhận ra rằng: thơ ngày nay phải khác, không nhất thiết thơ phải là những

lời ca du dương, êm ái, không nhất thiết thơ phải sử dụng những mỹ từ dạt dào

xúc cảm mà trên hết thơ phải là con người, là kí thác, là bộc bạch của thi nhân.

Chỉ cần đến được cái đích của tâm hồn thì ngôn ngữ sẽ thành thơ. Và con đường

đến đó mỗi thời mỗi khác. Ý Nhi xác định mình phải đi con đường khác để đến

với thơ.

Nặng nợ với thơ, xấp ngửa với chữ nghĩa. May mắn đã mỉm cười với Ý

Nhi khi Người đàn bà ngồi đan xuất hiện đúng cái lúc cuộc đời cần có nó. Làng

văn xôn xao. Ý Nhi mỉm cười với thành quả của sự dày công mài giũa, trau

chuốt “cái nghề lắm công phu”. Với tập thơ này Ý Nhi đã khẳng định được bản

thân và hình thành cho mình một phong cách. Nét nữ tính cùng với chất trí tuệ

đã làm nên một cái gì rất riêng của Ý Nhi. Ta thấy có điều gì nhẹ nhàng, giản dị

mà sao cũng quá đỗi ưu tư, khắc khoải ở tập thơ. Cái nét băn khoăn, lưỡng lự

trong sự dồn đẩy, hối hả; cái sự phân vân, hoài nghi trong niềm nhiệt huyết đã

làm nên chất thơ của bà. Quả là một làn gió mới thổi vào thi đàn. Đáng yêu,

đáng trọng biết bao! Sau tập Người đàn bà ngồi đan, các tập Ngày thường,

Mưa tuyết, Gương mặt, Vườn tiếp tục khẳng định tên tuổi và phong cách của nữ

thi sĩ. Ý Nhi đã trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ Việt

Nam đương đại.

Tính cách làm nên số phận! Tính cách cũng góp phần hình thành phong

cách. Con người Ý Nhi có những nét tính cách đặc biệt giúp làn nên phong cách

thơ của bà. Là người thích phiêu lưu và có cá tính, bà đam mê sáng tạo. Là người

điềm tĩnh và thông minh, Ý Nhi nhận ra mình đang đứng ở đâu trong cuộc đời

cũng như trên thi đàn. Là người chỉnh chu và tinh tế, Ý Nhi khéo léo thay đổi

cách nghĩ và cách làm thơ. Là người giản dị và nhân hậu, Ý Nhi biết tạo ra vẻ

đẹp thuần khiết nhưng sâu sắc cho thơ. Là người nặng sâu tình cảm, Ý Nhi trở

thành nhà thơ chân chính. Con người Ý Nhi đã làm nên khuôn mặt thơ Ý Nhi, và

ta nhận ra khuôn mặt tỏa sáng đó.

1.3. Khái lược về các chặng đường sáng tác thơ Ý Nhi

Ở phần này chúng tôi sẽ khảo lược quá trình sáng tác thơ của Ý Nhi thông

qua các tập thơ. Đây là cái nhìn bước đầu để nhận diện sự phát triển phong cách

thơ Ý Nhi.

Trái tim nỗi nhớ, Đến với dòng sông, Cây trong phố chờ trăng là những

tập thơ đầu tiên của Ý Nhi. Nét chung của những tập thơ này là sự trong sáng,

ngây thơ của người nữ thanh niên vừa bước vào đời với bao nhiêu nhiệt huyết và

say mê; là tinh thần khảng khái, quả cảm; là tình yêu và sự ngợi ca đối với Tổ

quốc, nhân dân.

Trái tim nỗi nhớ in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ năm 1974 là tập thơ đánh

dấu sự góp mặt của một nhà thơ mang tên Ý Nhi trên thi đàn. Được in thơ chung

với người đàn chị trong nghề là một vinh dự cũng là động lực đối với Ý Nhi.

Vốn rụt rè nên dù viết được nhiều thơ nhưng Ý Nhi không dám gửi in. Đây

chính là cơ hội, là bước đệm để thơ bà đến được với công chúng. Từ tập thơ này

trở đi, Ý Nhi mới nhận được những phản hồi từ phía độc giả và dần nhận ra chân

dung một cô thiếu nữ mộng mơ, “còn lẫn lộn trong một kiểu trang điểm và y

phục chung của lớp thiếu nữ đem trái tim được nuôi bằng văn Pautopxki và thơ

Bergon đi vào cái thực tế lạ lùng – gian lao và đầy lãng mạn – của đất Bắc thời

chiến tranh” (Hoàng Hưng – Thơ Ý Nhi). Ý Nhi tự hào về điều đó.

Đến với dòng sông (in năm 1978) – thơ Ý Nhi bắt đầu có sự trăn trở. Hình

tượng người đàn bà với những “day dưa”, với những “xao xác” manh nha xuất

hiện trong thơ. Đó là sự trở mình của một con người không chấp nhận những gì

khuôn mẫu, của người khao khát tìm đường “ra tới biển”. Ý Nhi bỏ lại sau lưng

cánh rừng trẻ trung của mình, bà biết “dẫu cho đêm yên lặng’ thì “phía trước”

vẫn “là dòng sông”. Tập thơ có những câu hỏi day dứt vừa như là sự chia tay,

vừa như là sự nuối tiếc. Dẫu nhiều yêu thương cũng đành phải rời xa “cánh rừng

muôn năm cũ” để đến với những dòng sông ào ạt tìm về phía biển. Đây là những

câu thơ rất mới của Ý Nhi:

Đốm lửa rừng giờ cháy nơi đâu

con chim rừng giờ hót nơi đâu

đóa hoa rừng giờ thơm nơi đâu.

Mà bầu trời trước tôi xanh nôn nao

mà cánh đồng trước tôi vàng chói mắt

phút hân hoan lòng chợt niềm se thắt

những cánh rừng đã ở lại phía sau.

(Cửa rừng)

Những bài thơ trong tập thơ này thể hiện quyết tâm chia tay với lối thơ

“dễ dãi, ngòn ngọt” của một thời yêu dấu để tìm đến một bầu trời “xanh”, một

cánh đồng “vàng” mới, dẫu biết rằng đó là nơi của màu “xanh nôn nao”, nơi của

màu “vàng chói mắt”. Đó là nơi đẹp đẽ nhưng “khắc nghiệt”. Đó là nơi hấp dẫn

nhưng chẳng thể bình yên. Cho nên thơ Ý Nhi có những hân hoan và bối rối, có

“tiếng hát chao lòng như tiếng gió”, có “điều gì thao thức ở trong em”. Có lẽ từ

đây, Ý Nhi bắt đầu mất ngủ với những câu thơ và thơ bà vì vậy bắt đầu thức

trong lòng độc giả.

Cây trong phố chờ trăng là tập thơ dành cho thiếu nhi in chung với Xuân

Quỳnh năm 1984. Ở đây là khuôn mặt khác của Ý Nhi. Tâm thế nhà thơ dường

như nhường chỗ chỗ cho tâm thế một người mẹ, người chị, người bạn của trẻ

thơ. Vì vậy lời thơ vô cùng dễ hiểu, giọng thơ dịu dàng, tha thiết. Đây là cái

“chất” vốn có của phụ nữ nên Ý Nhi không khó thể hiện. Về bút pháp, những bài

thơ của Ý Nhi trong tập thơ này không có gì đặc biệt. Những bài thơ năm chữ

chuẩn mực, những bài thơ tự do đơn giản là món quà cho tuổi thơ dễ đọc, dễ

nhớ. Đó là sự yêu thương, là sự quan tâm, là kỉ niệm và kinh nghiệm thời bé thơ

Ý Nhi gửi đến các em khi đã là mẹ hiền của các con thơ.

Xuất hiện khá muộn trước công chúng, nhưng thơ Ý Nhi đã có những

điểm sáng nhất định. Ba tập thơ đầu tiên có thể còn mờ nhạt về phong cách,

nhưng đối với Ý Nhi nó là một phần đời đáng yêu của bà. Người ta khó lòng đi

đến tương lai khi không có quá khứ. Quá khứ của Ý Nhi tròn trịa và đẹp đẽ. Nó

ghi nhận sự nỗ lực hết mình để đến với thơ. Về mặt tình cảm, đó có lẽ là những

kỉ niệm đẹp và trong trẻo nhất trong cuộc đời làm thơ của bà. Về mặt sự nghiệp,

đây là những bệ đỡ để thơ Ý Nhi tiếp cận với công chúng, đồng thời cũng chính

là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành phong cách nghệ

thuật thơ Ý Nhi.

Người đàn bà ngồi đan (1985) là một viên ngọc quý trong nền thơ ca Việt

Nam thời hiện đại. Cụ thể là thơ ca Việt Nam thời kì đổi mới. Tuy nhiên, sức

ảnh hưởng của nó sâu, rộng cho đến tận hôm nay. Sự thật là cho đến ngày nay sự

lan tỏa, ảnh hưởng của Người đàn bà ngồi đan vẫn còn sâu sắc. Có thêm thời

gian để nhận định, có thêm thời gian để so sánh và đối chiếu, ta càng nhận thấy

tính vấn đề, tính hiện thực và thời đại trong tập thơ. Chẳng những tập thơ chưa

cũ mà còn dường như là mới bắt đầu.

Từ Kính gửi mẹ cho đến Cát là một sự cách tân hoàn toàn về nhận thức,

tư tưởng và thi pháp. Không còn sự nhận đường hay dò đường mà là sự khẳng

định. Khẳng định một con đường mới, một lối đi riêng để vào thế giới thơ giàu

màu sắc và lắm chông gai. Đặt trong hệ thống thơ của giới nữ, Người đàn bà

ngồi đan vượt lên bởi sự chững chạc, điềm đạm mà tinh tế. Không đa ngôn mà

“kiệm lời”, không ào ạt mà “tiết chế”, không “duy cảm” mà “duy lý”…, Ý Nhi

tạo ra một khuôn thước mới để nhìn nhận cái đẹp của thơ nữ. Lý thuyết về cách

đọc thơ dần thay đổi. Biên độ nhận thức về thơ được nới rộng hơn. Nó tạo ra

những dư chấn mạnh mẽ và mới lạ trên thi đàn đang đòi “Đổi mới”. Nó giành

giải A của Hội nhà văn. Tầm vóc của nhà thơ bây giờ thật sự thay đổi.

“Tầm đón đợi” của độc giả ngày ấy dường như chưa theo kịp tư duy thơ

của nữ thi sĩ, nên có người hét lên rằng: thơ thiếu thực tế. Nhà thơ giàu cảm xúc

và nữ tính nhất lúc bấy giờ là Xuân Quỳnh đã phải “cãi” lại rằng: Thơ Đường có

thực tế đâu mà tồn tại mấy ngàn năm. Cuộc tranh luận bắt đầu. Người đàn bà

ngồi đan thêm nổi tiếng. Phong cách thơ Ý Nhi càng lan tỏa và sức ảnh hưởng

càng sâu rộng, nhất là trong địa hạt thơ nữ. Hãy đọc và nghiệm sau hai mấy năm:

1. Những cây sồi bên hồ Thuyền Quang

Không có gì của đời tôi đã xảy ra nơi ấy

chỉ có những ý nghĩ như lửa dưới vòm xanh trầm mặc

và niềm mong mỏi khôn nguôi bên tán cây xào xạc gió

Năm tháng qua đi

tôi đã cùng nơi kia gắn bó

những cây sồi mọc bên lối nhỏ

chứng kiến những gì được che giữ trong tôi

(ý nghĩ về hạnh phúc bền vững hơn hạnh phúc giữa đời

ý nghĩ về niềm vui lớn hơn niềm vui có thực

và nỗi đau trong ta ghê gớm hơn những gì ta có thể giải bày).

Giờ đây mỗi khi tôi qua dưới bóng cây sồi

tôi tưởng như phố phường xa vắng hết

và tất cả mọi điều cách biệt

chỉ màu xanh trầm tĩnh cùng tôi.

2. Người đàn bà ngồi đan

Giữa chiều lạnh

một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã

nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời

vội vã như thể đó là lần sau chót.

Không thở dài

không mỉm cười

chị đang giữ kín đau thương

hay là niềm hạnh phúc

lòng chị đang tràn đầy niềm tin

hay là ngờ vực.

Không một lần chị ngẩng nhìn lên

chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt

hay sau buổi chia ly

Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu

trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng.

Giữa chiều lạnh

một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

dưới chân chị

cuộn len như quả cầu xanh

đang lăn những vòng chậm rãi.

Sau thành công của Người đàn bà ngồi đan, Ý Nhi hăng hái tiếp tục phát

huy nét đẹp trong phong cách nghệ thuật của mình. Ngày thường (1987), Mưa

tuyết (1991), Gương mặt (1991), Vườn (1999) lần lượt ra đời. Mỗi tập thơ đều

được chờ đón và hoan nghênh. Người đọc dần dần tiếp nhận và đồng điệu hơn

với thơ của bà. Xã hội phát triển càng nhanh, thơ Ý Nhi càng mau chóng tìm

được sự đồng cảm. Không còn xa lạ, thơ Ý Nhi được đăng trên báo, được bình

luận, phân tích, được khen ngợi nhiều hơn. Cổng thông tin điện tử mở ra, từ

khóa “Thơ Ý Nhi” được truy cập từng giờ. Chỉ cần một cái nhấp chuột, cả trăm

trang mạng xã hội và blog cá nhân chép và bình thơ Ý Nhi hiện ra trên màn hình

máy tính. Theo quan sát của chúng tôi, hầu hết là những lời khen tặng dành cho

thơ Ý Nhi. Một phần có lẽ vì phong cách mới lạ và độc đáo của bà; phần khác là

nhờ sự đồng cảm với những trúc trắc, khúc khuỷu nhưng toàn diện, nhiều mặt,

nhiều bề trong cách cảm nhận con người và cuộc đời của Ý Nhi.

Ngày thường là tập thơ của những ngày bình thường, của những con

người bình thường, cũng là của những điều bình thường trong cuộc sống. Đó là

một ngày về với đất liền của vị thuyền trưởng, ngày thi đấu khát khao của một

vận động viên, ngày dạo chơi của một họa sĩ, ngày ra đi của một nhà thơ, ngày

công cán của nhà văn Nguyên Hồng, ngày của “chùa” và “vườn trong phố”,

ngày của biển chiều, của phố nắng, ngày của khát vọng, của lẽ phải, của tự do…

Những người, những việc thường ngày, giản dị đó được Ý Nhi soi chiếu dưới

lăng kính của sự đối nghịch để người đọc nhận ra rằng: chúng bình thường

nhưng cao quý. Cảm giác về sự trầm tĩnh, lý trí, chiêm nghiệm dày đặc ở các

trang thơ. Tất cả những cái ngày thường đơn giản là thế nhưng để có được nó

nhiều khi con người ta phải đánh đổi thật nhiều, phải nỗ lực thật lớn, phải khát

khao thật mãnh liệt. Đến tập thơ này, yếu tố triết luận trong thơ Ý Nhi dường

như đậm đặc hơn cả. Bài thơ nào cũng đòi hỏi sự tập trung cao độ của người đọc

để nhận ra khuôn mặt thật, giấu kín tận sâu bên trong của cái hằng thường.

Đến với Ngày thường chúng ta cũng nhận diện rõ ràng hơn sự “tiết chế”

trong câu chữ của Ý Nhi. Từ là vỏ ngôn ngữ để Ý Nhi khéo léo tạo nên cái đẹp

của sự kiệm lời. Và vui mừng vì đã đem lại niềm hạnh phúc cho người thưởng

lãm:

như một nhà thơ biết tiết chế

tôi vừa đun nấu trên ngọn lửa dầu chút thức ăn ít ỏi

vừa nghĩ đến vẻ đẹp thực chất của những bữa ăn

niềm hạnh phúc tôi có thể đem lại cho mọi người.

(Ngày thường)

Tập thơ cho chúng ta hiểu hơn quan niệm của Ý Nhi về cái đẹp thực sự

của những ngày bình thường bằng cách “nhìn thấu cuộc đời này bằng con mắt

thứ ba”, bằng sự “điềm tĩnh bước ra khỏi bản thể, đi qua chiếc cầu vòng cheo

leo mà quyến rũ để viết”.[13]

Sau sự day dứt, khắc khoải của Ngày thường, Ý Nhi viết Mưa tuyết. Vẫn

cái chất thơ của sự trầm tĩnh, điềm đạm vốn có, Mưa tuyết dẫn người đọc vào

cảm thức của cái lạnh tê tái nhưng thanh cao. Mở đầu tập thơ là giấc mơ về

những cơn mưa tuyết “nhẹ nhàng/ tinh trong/ buốt giá”. Nổi bật trong tập thơ là

những gì như là nỗi nhớ. Chúng trải dài suốt cả tập thơ. Và nổi bật hơn cả là nỗi

nhớ nước Nga. Chợt nhớ một câu chuyện đọc vội ở đâu đó về việc Ý Nhi mời

(rủ) bạn đồng nghiệp đi thăm nước Nga và hẹn “Gặp nhau ở Nga nhé!”, ta mới

hiểu một phần cuộc đời của Ý Nhi đã để lại trong những bông tuyết Nga để rồi

khi có tuổi nhà thơ không khỏi nhớ thương, ngưỡng vọng. Bà làm thơ về hai nữ

thi sĩ Nga: Marina Xvetaeva, Akhmatova; về nhà thơ, nhà tiểu thuyết lớn

Pasternak; về nàng Êlêna; về Matxcơva… Nỗi nhớ ấy có khi miên man đến

nghẹn ngào: “Vẫn là bông tuyết/…/Sao xa vời/ Xa như thể chưa bao giờ gặp/ Xa

đến nỗi muốn trào nước mắt” (Thấy tuyết trong phim).

Trong tập thơ ta cũng nhận thấy khuôn mặt “tuyết” của Ý Nhi. Sự quyết

liệt với những ồn ào, giả trá đã thể hiện cái tâm trắng tinh như “tuyết” của nữ thi

nhân:

Tôi không thích người ta bắn lén

khi cần, tôi sẽ bắn chính diện

Tôi không ưa những kết cục được bày đặt sẵn

cũng chẳng thích chi những cái nửa vời.

Tôi chẳng ưa những thói trơ tráo, lạnh lùng

và căm ghét sự đặt điều, ngờ vực

Tôi không thích bạo lực

và không ưa sự bất lực, yếu hèn

Từ những đỉnh cao đã chinh phục một lần

tôi hạ xuống

trong khi trái tim mình ở lại.

(Matxcơva)

Mỗi lần đả kích những cái xấu xa, dối trá, mục ruỗng Ý Nhi thường viết

bằng lối thơ “rắn’ như thế. Đó là cách Ý Nhi thể hiện thái độ không khoan

nhượng, không lùi bước trước mặt trái của cuộc đời nhằm gạn lọc để tìm đến

những “tinh trong”. Khảng khái, chính trực, kiêu hãnh là những từ có thể nói về

Ý Nhi.

Tập thơ cũng thể hiện “thiên tính nữ” (chữ dùng của Chu Văn Sơn) của Ý

Nhi. Rất dịu dàng, rất phụ nữ, làm mát lòng người nghe:

Tuyết vừa mới tan

cỏ vừa mới lên

ngày vừa mới nắng

người vừa thân quen.

Tuyết rồi sẽ chảy thành sông

cỏ rồi sẽ nảy hoa vàng

nắng rồi thành bóng râm qua tán lá.

Bạn thân yêu ơi

bạn rồi nên nỗi buồn dịu dàng.

(Thơ tặng Êlêna)

Ở tập thơ này, yếu tố triết luận trong thơ tuy có phần mềm mỏng, nhẹ

nhàng hơn hai tập thơ trước, nhưng ta vẫn cảm nhận sâu sắc tính thường trực của

“chất nghĩ” trong thơ bà. Nói như Chu Văn Sơn là: “ngẫm nghĩ, suy tư đã được

tâm trạng hóa, biểu tượng hóa để trở thành một biểu tượng nào của cảnh quan

nội tâm”[91]. Mưa tuyết đã là biểu tượng của nội tâm phụ nữ giàu yêu, thương,

mến, nhớ; nội tâm chiến sĩ nhân văn mạnh mẽ, quyết liệt, tiên phong.

Có thể gọi Gương mặt là tập thơ của sự tri ân. Đây có thể là lời cảm ơn

của Ý Nhi dành cho những người quen và không quen khi phác họa, kí họa thật

nhanh những nét đặc sắc trên khuôn mặt tinh thần của họ. Đó có thể là tinh thần

của người bay đêm, gã khờ Đônkisốt, bác sĩ Zivago là những nhân vật trong các

tác phẩm văn học; hay cuộc đời, sự nghiệp của Bùi Xuân Phái, Dương Bích

Liên, Nguyễn Sáng, Nguyễn Minh Châu là những nghệ sĩ lớn; hay tính cách của

một cô Khánh, của cháu Lâm Ngọc Quỳnh Anh là những người quen biết của

nhà thơ; và thậm chí như một người điên, một em bé, một nhà thơ trẻ vô danh

nào đấy cũng được đưa vào thơ với sự trân trọng, yêu thương. Với Ý Nhi đó là

những người “tử vì đạo”, là bậc hiền nhân, nghệ sĩ đích thực, là người đã tìm ra

chân ngã, đã “đắc đạo”.

Quan niệm về cái đẹp thực sự của con người theo Ý Nhi là sự tận hiến

một cách vô tư không suy tính; là sự chân chất, nhân hậu, thuần khiết nhưng quả

cảm và kiên quyết khi bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chân lý.

Đó là những con người:

Đã vượt qua mối vướng bận đời thường

đã vượt qua mối vướng bận vinh quang

đã vượt qua nỗi lo sợ âm thầm

khi phải đứng riêng về một phía.

(Đắc đạo)

Là những người:

Lặng lẽ

thơ ngây

yêu thích cái đẹp

…sống thật nhọc nhằn

giữa giả trá, ồn ào, ác hiểm.

(Hà Nội, tháng 5.1987)

Và dù không biết điều gì đang chờ đợi ở phía trước, những con người đó

vẫn luôn quyết tâm vượt qua mọi trở ngại để đi đến cái đích cuối cùng của sự lựa

chọn “đứng về một phía” kia:

Làm sao biết được

phía trước kia là biển, là rừng, là lũng sâu hay đầm lầy

nhưng dù sao

phải đi đến cùng con đường ta đã chọn

dù phải đi

như người nghệ sĩ trên chiếc dây căng qua khoảng trống.

(Gửi con nhân sinh nhật lần thứ 20)

Ý Nhi ngưỡng mộ họ, cố sống như họ đã sống. Phải chăng đó là cái đích

suốt đời nhà thơ theo đuổi.

Gương mặt giữ trong nó những cung bậc đẹp của cảm xúc. Đồng thời vẫn

tiếp tục phát huy và làm mới những nét phong cách rất riêng của Ý Nhi từ giọng

điệu, ngôn ngữ, thể thức, kết cấu đến hình tượng, tư tưởng, quan niệm nghệ

thuật.

Thơ tình yêu là tên gọi khái quát nhất cho tập Vườn của Ý Nhi. Tập thơ là

khu vườn tình yêu vẫn còn xanh mướt nhưng thâm trầm và tĩnh lặng. Chủ nhân

của khu vườn là người đã trải qua nhiều cung đường bất trắc và vinh quang từ

quê hương vào đến Nha Trang, Đà Lạt, rồi trở về tuổi trẻ ở Hải Phòng, Thái

Nguyên, Hà Nội. Cuối khu vườn là những dự cảm và nguyện ước. Lối nhỏ đi vào

vườn rắc đầy những gam màu của yêu thương, hối lỗi, tiếc nhớ, trân trọng.

Tập thơ vương vít nỗi buồn của con người đã đi qua và quay đầu nhìn lại

quãng đường đời khá dài của mình. Nhiều lời cũng không nói được nhiều hơn

những gì muốn nói. Nhà thơ tiết kiệm tối đa ngôn ngữ. Chỉ để sự khắc khoải dặt

dìu, day dứt trên mỗi trang thơ được viết bằng “ngôn ngữ thơ văn xuôi chắt lọc,

giàu suy tưởng”[108]. Những câu thơ đứt quãng, ngắt dòng liên tục vừa là sự

cách tân vừa giúp diễn tả nhịp điệu tâm hồn đầy trắc ẩn của người đã đi đến kết

cục của tình yêu nhưng vẫn còn nhiều khát khao trong lặng lẽ.

Vườn có vẻ là nơi bình yên và tĩnh lặng nhất trong số những tập thơ của Ý

Nhi. Nơi đó chỉ có nhà thơ với những nỗi niềm của mình, giảm hẳn những khắc

nghiệt và giả trá thường nhật mà bà đã thể hiện ở những tập thơ trước. Vườn là

chốn nương náu cuối cùng, là mơ tưởng, là ước vọng của nhà thơ khi muốn trốn

thật sâu trong tình yêu của người yêu dấu:

Em tìm đến góc xa nhất của khu vườn

em muốn trốn vào sự bình yên

em muốn trốn sâu mãi, sâu mãi vào tình yêu của anh.

(Vườn 1)

Vườn là đêm trung thu anh cầm tay em đi trên “phố dài heo may”, cầm

tay em “ước chim về/ dưới bóng cây”, cùng em “thắp nén hương trong trời đất/

mong tìm ra phút sum vầy”. (Trung thu)

Vườn là ngày mồng một “gặp gỡ”, “sum vầy”, “ngậm ngùi”, “hân hoan”,

“sững lặng”, “ngày đưa tay mở cửa/ về một miền biếc trong/ lòng run/ nguyện

khấn âm thầm”. (Ngày mồng một)

Vườn còn là lúc nhà thơ sống lại sau những buồn đau:

Và ta

cùng kiệt đã tràn đầy

và ta

bền vững đã chơi vơi

và ta

câm nín đã thốt lời.

Và ta

âm thầm soi lối vui tìm đến.

(Dự cảm)

Tập thơ cho người đọc cảm nhận về sự yên lành muộn màng nhưng quý

giá. Tập thơ như là lời tạm biệt đầy lưu luyến một đời “day dưa”, khắc khoải với

thế giới sáng tạo mà tâm hồn luôn “xao xác” bất an, luôn mang “nỗi lòng không

xác thực” như căn bệnh cố hữu của một “tạng” thơ. Đến đây, những nỗi niềm đó

phần nào đã giãn ra nhưng cũng vẫn còn phảng phất đâu đó kiểu như “dẫu lìa

ngó ý còn vương tơ lòng”. Vì vậy cho nên nhà thơ vẫn luôn đứng trong trời đất

để khấn nguyền “lời nguyện cho nỗi yên hàn”.

Cuộc sống sau chiến tranh hết cấm vận rồi mở cửa khiến những người

nhạy cảm như Ý Nhi cảm thấy bất an, nhưng không thể thu mình co rút lại nên

những đối cực trong tâm hồn càng thêm chất chứa, Ý Nhi để “bùng nổ” trong

thơ. Chần chừ, do dự sẽ lỗi thời, lạc hậu. Vì vậy nhà thơ xác định con đường tự

đổi mới. Ý Nhi lặng lẽ làm nên những giá trị tinh thần đóng góp cho thi đàn

những tập thơ giá trị, những bài thơ sâu sắc, giàu triết lí, giàu trí tuệ và yêu

thương. Đó là sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, đường hoàng nên đã gặt hái

nhiều thành công và sự trân trọng.

Điểm qua các tập thơ, chúng ta có cái nhìn ban đầu và sơ lược nhất về con

đường hình thành, phát triển phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi. Ở chương II và

chương III, chúng tôi sẽ cố gắng đi thật cụ thể vào những nét phong cách đó. Hy

vọng sẽ góp thêm tiếng nói để nhận định hoàn chỉnh và sâu sắc hơn về đời thơ

của nữ thi sĩ Ý Nhi nói riêng và sự chuyển biến nghệ thuật của thơ ca Việt Nam

đương đại nói chung.

Tiểu kết: Sơ lược qua thời đại, quê hương, gia đình, con người và đường

thơ của Ý Nhi ta bước đầu nhận ra những yếu tố góp phần hình thành phong

cách của nhà thơ. Cùng với những quan điểm để tìm hiểu phong cách nghệ thuật

của một nghệ sĩ chúng ta đã có những nền tảng khoa học và thực tế tiêu biểu để

đi đến việc đào sâu, tìm hiểu, nhận định về phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi.

Đến đây chúng ta đã phần nào nhận thấy những nét cá tính nghệ thuật tiêu biểu

của nhà thơ. Ý Nhi là một người phụ nữ đặc biệt, một nhà thơ tâm huyết với

nghề, một người luôn tìm tòi để thay đổi và khẳng định bản thân. Nhà thơ đã đi

trọn vẹn hai chân trên con đường đổi mới nghệ thuật giai đoạn sau chiến tranh để

cho ta thấy nét đẹp của “sự vạm vỡ của tiết tấu hiện đại, sự đa thanh ngồn ngộn

sức sống, độ rậm rạp, phức hợp của hình tượng, những thúc bách, đòi hỏi bản

lĩnh của người nghệ sĩ trước sự đổi thay lớn lao của thời đại”[66].

Chương 2:

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI NHÌN TỪ

GÓC ĐỘ NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI, KẾT CẤU

2.1. Phong cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật

Mọi ngành nghệ thuật đều sở hữu một ngôn ngữ riêng để tỏa sáng. Chẳng

hạn giai điệu, tiết tấu là ngôn ngữ của âm nhạc; đường nét, màu sắc là ngôn ngữ

của hội họa; mảng, khối là ngôn ngữ của kiến trúc,… Với cách hiểu này ngôn

ngữ mang nghĩa rộng, nó là phương tiện có tính chất tín hiệu giúp nhận diện đối

tượng. Nhưng trước hết cần phải hiểu ngôn ngữ là kênh tín hiệu bằng lời nói

nhằm truyền đạt và tiếp nhận thông tin. Đây là kênh trao đổi thông tin quan trọng

nhất giữa người với người trong cùng một cộng đồng. Nhờ kênh lời nói này mà

chúng ta có ngôn từ làm chất liệu đặc trưng để sáng tạo văn chương. Vậy ngôn

ngữ trong tất cả tính chất thẩm mĩ của nó là chất liệu, là phương tiện biểu hiện

mang tính đặc trưng của văn học.

Đối với thơ ngôn ngữ có một vị trí đặc biệt quan trọng. Nói như Jakobson:

“Thơ là ngôn ngữ trong chức năng thẩm mỹ của nó” hay “Thơ là ngôn ngữ tự lấy

mình làm cứu cánh”. Vậy có thể thấy thơ là một tổ hợp ngôn ngữ hết sức tinh vi.

Ở đó, ngôn ngữ không chỉ là “vỏ bọc” mà đích thực là kết tinh của trí tuệ và tâm

hồn người nghệ sĩ.

Trong sáng tạo văn chương nói chung, nhà thơ có tài là những người biết

sử dụng và sử dụng thành thục ngôn ngữ của dân tộc để tạo nên một cách nói

riêng, một giọng điệu riêng không thể nhầm lẫn với ai. Chất giọng riêng ấy chính

là sự sáng tạo của thi nhân làm phong phú thêm kho tàng ngôn ngữ của dân tộc.

Vậy nên khi khảo sát phong cách ngôn ngữ của một nhà thơ chính là khảo sát

chất giọng riêng của họ, tìm ra qui luật riêng trong việc sử dụng ngôn ngữ và sự

đóng góp của họ trên phương diện ngôn ngữ.

Thơ Ý Nhi rõ ràng nặng về ý hơn là trau chuốt ngôn từ. Lê Đạt cho rằng

“chữ bầu lên nhà thơ”, rằng nhà thơ là một “phu chữ” suốt hành trình sáng tạo.

Dẫu là nhà thơ nữ có những nét mới, nét cách tân, nhưng về cơ bản Ý Nhi vẫn là

tác giả của những bài thơ mạnh về ý, tứ, thơ của nội dung bên trong chứ không

phải người miệt mài tìm cái mới của chữ. Song, vẫn không thể phủ nhận sức

mạnh ngôn từ đầy ám ảnh trong thơ Ý Nhi là một nét phong cách nổi bật. Sức

mạnh đó bắt nguồn từ phong thái làm thơ tự nhiên, chân thành, giản dị.

2.1.1. Ngôn từ giản dị mà chân thành

Đọc thơ Ý Nhi, chúng ta cảm nhận được cách bà chiêm nghiệm cuộc sống

nhẹ nhàng, chân phương, không hề tô vẽ. Đó là con-người-thơ của bà. Nó được

biểu hiện ở một số đặc điểm sau:

a) Lời thơ là lời tự tình về bản thân, là lời tâm sự với mọi người rất thành

thật, chân tình

Ý Nhi từng nói: làm thơ là một nhu cầu. Thật vậy, nó là nhu cầu bộc bạch,

nhu cầu trao đổi, thể hiện tình cảm của con người đối với vạn vật. Không có nhu

cầu này thì không thể làm thơ. Đối với Ý Nhi đó là nhu cầu tự thân. Vì vậy bà

chuộng cách làm thơ mộc mạc, đem chất giọng và ngôn từ hằng ngày của chính

mình vào trong thơ một cách hồn nhiên, bình dị. Bà kể về thời hồn nhiên của

mình bằng ngôn từ rất đời thường:

Thuở ấy tôi mặc áo rộng thùng thình

và tóc tết đuôi sam

thuở ấy tôi đi lang thang giữa thành phố của mình

chưa biết đến niềm vui làm ta rơi nước mắt

chưa có nụ cười nào xa xót nở trên môi.

(Nhớ Hải Phòng)

Hình ảnh cô bé mặc áo rộng, tết tóc đuôi sam với khuôn mặt vô tư lự đi

khắp phố phường dần rõ nét qua mỗi câu thơ. Cách Ý Nhi vẽ khuôn mặt tuổi thơ

của mình nhanh và nhẹ nhàng bằng từ ngữ khiến người đọc phần nào cảm nhận

được một nét đẹp mộc mạc trong từng lời thơ.

Khi đã có tuổi, Ý Nhi nói về bản thân mình khác hơn. Chúng ta dễ dàng

nhận thấy dấu thời gian trong mỗi ý thơ nhưng vốn từ ngữ của bà vẫn có gì đó

rất đỗi Ý Nhi, vẫn chân tình và nhẹ nhàng như thở:

Tôi không ưa đồ trang sức

kể cả nhẫn vòng, và các chức danh”.

Tôi thường mua đắt mọi thứ

với vốn liếng ít ỏi của mình

hay làm vỡ các đồ dùng bằng sành, sứ, thủy tinh

tôi làm mất xe đạp

mất ví tiền, tem phiếu và chứng minh thư

(Tiểu dẫn)

Đoạn thơ như thước phim quay chậm về những việc nhỏ nhặt trong cuộc

sống của bà. Ngôn ngữ trong thơ chính là lời nói thường nhật, không trau chuốt

từ cách dùng động từ “ưa” thay cho “thích”, “cần” cho đến các danh từ chỉ sự vật

“nhẫn”, “vòng”, “chức danh”; rồi đến việc bà chọn cách hành xử trong cuộc

sống (mua đắt mọi thứ với vốn liếng ít ỏi) cũng như những sơ sẩy thường tình

(làm vỡ đồ dùng gia đình, làm mất vật dụng cá nhân). Bài thơ đơn giản đến kinh

ngạc. Nhưng nó có thể dễ động lòng người ghê lắm. Một con người nhà thơ

được cách điệu hóa rồi, đã thành hình tượng rồi mà vẫn sống như đang phập

phồng đi lại trong đời. Đó là cái tài của Ý Nhi.

Tác giả kể lại: có một lần đưa con ra ngoại ô, tôi chăm chú nhìn vào cảnh

vật, cố tìm ra nét đặc trưng của chúng rồi lại cố gắng sử dụng ngôn từ sao cho dễ

hiểu và sinh động nhất để diễn đạt cùng các con. Bởi vậy nhà thơ mới viết những

câu thơ hồn nhiên đến thế này:

Đồng đang vào mùa gặt

lúa uốn cong thân vàng

cánh buồm nhỏ sang ngang

gió theo về mát rượi.

Mới xanh tròn trái bưởi

đã tím chùm dâu da

mắt còn khép quả na

dưa đã vàng đất bãi

bàn tay con cầm trái

mở xòe như cánh hoa.

(Đưa con ra ngoại ô)

Ý Nhi ăn nói mực thước, không ồn ào, sáo rỗng, không hoa mỹ, cầu kì

nhưng cũng không quá dân dã, tầm thường. Ngôn từ trong thơ bà cũng vậy. Nó

có nét quyến rũ của sự chân phương, giản dị nhưng lịch thiệp kín đáo.

b) Lời thơ là lời kể chuyện, cả bài thơ là một câu chuyện thân quen

Ý Nhi thích kể chuyện và kể chuyện bằng thơ rất hay. Bà kể về quá khứ

và hiện tại, kể về người quen và người không quen, kể về tất cả những gì mà bà

trăn trở, ấp ủ. Mỗi trang thơ của Ý Nhi giống như một trang nhật kí kể lại những

gì bà nhìn thấy hoặc trải qua. Ta thường bắt gặp ở cuối mỗi bài thơ tháng và năm

của nó và ở đâu đó chúng ta bắt gặp những tiêu đề có cả tháng năm như: Hải

Phòng, tháng 11 năm 1979; Nguyễn Du. 1813; Dương Bích Liên – mùa đông

1988; Hà Nội, tháng 5.2987; Mùa khô 1992… Đó là cách Ý Nhi lưu giữ kí ức

thời gian, lưu giữ những câu chuyện của đời mình. Những câu chuyện, những

cuộc đời được tái hiện bằng thơ hết sức giản dị, đôi khi sơ lược nhưng vẫn hiện

ra trọn vẹn con người của họ. Để làm được điều này Ý Nhi dùng lối làm thơ điệu

nói kết hợp với ngôn ngữ kể. Chúng ta thử đọc một phần bài Hai người

(3.1984):

Giữa dòng người xuôi ngược

giữa những hàng quán

giữa những ánh nhìn căng thẳng

những bước đi vội vã

những áo choàng đúng mốt

tôi nhìn thấy một người đàn bà mặc áo đen

và bên chị, là người đàn ông mù

tay trong tay

họ đi rất chậm như vừa đi vừa dò tìm

Bằng cách mở đầu như thế, Ý Nhi kể về cuộc đời thăng trầm của họ. Người

đàn ông mù lòa là anh lính bước ra sau cuộc chiến. Người phụ nữ là người đã

từng lạc lối, mất mát trong quá khứ. Cả hai đã từng trải qua khoảng thời gian đau

thương nhất đời họ. Họ đi bên nhau, chở che cho nhau, cảm thông cùng nhau và

điều quan trọng là cả hai đều mãn nguyện với hạnh phúc mà họ đang có:

Tay trong tay

họ bước đi rất chậm

Chị nói điều chi với nụ cười dịu dàng

và trên gương mặt anh

lan tỏa niềm vui.

Câu chuyện đầu cuối chỉ có thế nhưng Ý Nhi đã đưa được nó vào thơ bằng

ngôn từ nhẹ nhàng, giản dị, yêu thương. Người viết không cố tạo ra một biến cố

nào, nhưng dường như một người đọc bình thường vẫn có thể cảm nhận một

“biến cố” nào đó trong tâm hồn trước một lát hiện thực hiện ra bằng thơ như vậy.

Việc nhà thơ sử dụng ngôn ngữ kể vẫn thường xuất hiện ở nhiều nhà giai

đoạn sau 1975. Theo Phạm Quốc Ca, khi sử dụng ngôn ngữ kể “Nhà thơ không

mấy quan tâm tới vẻ đẹp ngôn từ, không để lộ cảm xúc, thái độ chủ quan mà

thường ẩn mình đi. Chất thơ ở đây chỉ là trạng huống đời sống mà ngôn ngữ thơ

này đã dựng lên.” [10;tr.158]. Ở Ý Nhi, việc sử dụng dạng ngôn ngữ này có

phần tự nhiên hơn và nó mang tính thường xuyên hơn. Đôi lúc chúng ta thấy Ý

Nhi làm thơ mà như đang nói chuyện với một người thật nào đó. Khi đọc những

bài thơ như: Khóc Bác Bùi Xuân Phái, Gửi con nhân sinh nhật lần thứ 20,

Gửi cháu Lâm Ngọc Quỳnh Anh, Tặng một người làm thơ trẻ…, chúng ta có

cảm giác như đang đối thoại rất gần với nhà thơ bởi cái dư vị của sự chân thành,

gần gũi trong mỗi lời thơ.

c) Các đại từ giúp việc xưng hô gần gũi, thân mật

Ý Nhi thường gọi: anh, chị, em, họ, cô, bác, cháu… và xưng: ta, chúng ta;

nhiều nhất là tôi với một thái độ rất gần gũi, trân trọng. Đó là cách khẳng định

cái cá nhân thuần hậu nhưng thẳng thắn của bà. Khi họa sĩ Bùi Xuân Phái qua

đời, Ý Nhi dành tặng ông niềm tiếc nhớ cùng lòng tôn kính sâu sắc qua cách hô

gọi “Bác” – “Cháu”. Chúng ta thấy có điều gì đó rất tự nhiên khi xúc cảm dâng

tràn trong lồng ngực. Phải chăng là nhờ cách hô gọi đó.

Thưa bác

cháu thắp nén hương này

xa Hà Nội hàng nghìn cây số

và xa Bác biết chừng nào.

(Khóc bác Bùi Xuân Phái)

Ta cũng bắt gặp cách Ý Nhi gọi “Bác” – “Cháu” với cô bé Lâm Ngọc Quỳnh

Anh:

Một ngày nào trời đất thương tình

cho bác cháu ta sum họp

chắc rằng bác sẽ nhận biết cháu ngay

giữa bao khuôn mặt khác

(Gửi cháu Lâm Ngọc Quỳnh Anh)

Và nhiều những cách xưng hô tương tự như thế như: mẹ - con, chị - em,

anh – em,… trong thơ Ý Nhi đã khiến người đọc cảm động và ngạc nhiên. Kèm

thêm đó là những từ, ngữ (gạch chân) có nét gì đó rất thiệt tình của thi nhân làm

cho mối quan hệ giữa người với người gần gũi, đằm thắm hơn. Ý Nhi sử dụng

nhiều nhất là đại từ “Tôi” – đại từ bản ngã – theo ý của Trần Đình Sử thì “thiếu

đại từ này, nhà thơ dường như chỉ trữ tình bằng mắt, bằng ý, bằng tâm, mà

miệng thì câm lặng. Thiếu đại từ này thì nhà thơ hòa tan vào thế giới xung

quanh làm lu mờ bản ngã” [93;tr.128]. Ý Nhi thường xưng gọi tôi – anh, tôi –

chị,… và tôi – với mọi người. Đại từ “tôi” trong thơ Ý Nhi là cái tôi tâm sự, đôi

khi là tâm sự với bản thân mình: tôi – bạn ( là tôi):

Bạn biết đấy

tôi chẳng chơi xổ số

cũng không biết đi buôn

không thân thích chi với các vị đương quyền

cũng chẳng gần gũi gì đồng nghiệp

tôi sống trong cuộc đối thoại thầm cùng bạn

chấp nhận cái nghèo

chấp nhận sự đơn độc

như người ta chấp nhận khuôn mặt vốn có của mình.

(Gửi bạn)

Cái “tôi” này sao thầm lặng quá đỗi, nhưng là cái tôi của người hiểu mình,

cái tôi tự vẽ lên “khuôn mặt tinh thần” của mình; Cái tôi không cầu may, cái tôi

không xô bồ, cái tôi không nịnh hót, cái tôi nghèo, cái tôi cô đơn nhưng cái tôi

biết hài lòng với những gì mình có. Và người bạn (của tôi) phải là người thật gần

gũi, thương thích lắm mới được nghe “tôi” tâm sự thật lòng đến vậy. Lời thơ là

lời nói rút ruột, sự trải lòng hiếm hoi trong một “cuộc đối thoại thầm”.

Có thể thấy đại từ “Tôi” trong thơ Ý Nhi mang nhiều sắc điệu nhưng sự

chân thành, mộc mạc vẫn luôn là điều mấu chốt của sự trao đổi tâm tư.

Cùng với các đại từ, thán từ và hư từ trong thơ Ý Nhi cũng góp phần làm

nên diện mạo ngôn ngữ của bà.

Ý Nhi đã chọn cho mình một hệ thống ngôn từ mang âm hưởng của sự

giản dị nhưng chân thành. Đó là cách Ý Nhi giao cảm với cuộc đời và với bản

thân. Không màu mè, tô vẻ, Ý Nhi trải lòng qua thơ bằng vốn từ của riêng mình.

Ngôn từ đã giúp vẽ nên tâm tính và tâm tình của nhà thơ.

2.1.2. Ngôn từ mang tính khái quát, triết luận

Ý Nhi sinh ra trong một gia đình có nền học vấn cao, bản thân nhà thơ

cũng tốt nghiệp Đại học ngành Ngữ văn. Những yếu tố này góp phần tạo nên

một phong cách thích đặt vấn đề, khái quát vấn đề và luận giải. Càng về sau, thơ

Ý Nhi càng nặng suy tư, nặng « chất nghĩ ». Chu Văn Sơn cũng đã nhận ra việc

Ý Nhi « từ bỏ sự giải bày nặng chất duy cảm ban đầu, chị bước nhanh đến

những lời thơ tiết chế nặng chất suy tư » [89]. Một mặt đây là dụng ý nghệ thuật

của nhà thơ để tạo sự mới lạ cho thơ. Nhưng mặt khác và trên hết đó cũng là nhu

cầu nội tại của chính nhà thơ. Có ý thức sáng tạo, lại được thôi thúc bởi cảm

hứng thi ca, thơ Ý Nhi càng đậm màu sắc của thơ ca triết luận. Nhưng triết luận

trong thơ Ý Nhi không mang tính triết học cao vời, cũng không phải là sự biện

giải thâm sâu theo kiểu lập thuyết, càng không phải là sự nỗ lực lý sự, biện lý

trong thơ. Tính triết luận trong thơ Ý Nhi đơn giản chỉ là tiết chế cảm xúc, thêm

vào thơ một chút hương vị của trí tuệ khiến dòng thơ, ý thơ khơi gợi sự ngẫm

nghĩ, suy tư. Đặc biệt là từ tập thơ Người đàn bà ngồi đan trở đi, yếu tố triết

luận trong thơ Ý Nhi xuất hiện thường xuyên hơn đã tạo nên một hệ ngôn ngữ có

tính khái quát, triết luận rõ nét trong thơ Ý Nhi.

Thơ Ý Nhi thường xuất hiện những từ ngữ có tính khái quát cao nhờ hình

thức ghép từ. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những từ kiểu như : miền chờ đợi, trái

tim hình cầu, những phán đoán khốc liệt, lời ly biệt đắng cay, năm tháng nặng

nề, niềm vui se giá, miền cổ xưa, vạt rừng mới lớn, nỗi lòng không xác thực…

Biên độ về nghĩa của từ được nới rộng đến mức có thể.

Thơ Ý Nhi thường có những từ ngữ và cấu trúc ngôn ngữ mang tính định

nghĩa, giải thích, suy luận.

- Một số từ thông thường có thể được liệt kê là : như, như thể là, là, đó là,

nhưng, có thể, nếu có thể, sao, sao lại, dù, dẫu, hay, nào đâu, đâu, nào hay đâu,

Chúng tôi có làm một thống kê nhỏ và nhận thấy tần số xuất hiện qua các tập thơ

khá cao đã khẳng định tính thường xuyên, lặp lại, góp phần giúp ta nhận thấy tư

duy triết luận trong thơ Ý Nhi.

Những biểu hiện Từ dùng để Từ dùng để Từ dùng để của ngôn từ định nghĩa giải thích suy luận mang tính triết luận

đâu, Những từ có lẽ, sao, nào như là nhưng thường dùng nhất có thể sao lại đâu

Tần số xuất hiện 50 27 40 12 40 20 qua các tập thơ

Có thể đưa ra một số ví dụ :

- Như : tôi thường đợi mùa thu với nỗi lòng không xác thực/vừa hân hoan, vừa

ưu phiền/vừa mong ngóng, vừa ngại ngùng/như tôi đang đứng trước cuộc hẹn hò

(Mùa thu) ; Chưa một lần gặp gỡ/bà khước từ mọi mối tình khác/như một người

tuyệt vời hạnh phúc/như một kẻ hoàn toàn vô vọng (Thơ về Marina Xvetaeva) ;

phải đi đến cùng con đường ta đã chọn/dù phải đi/như người nghệ sĩ trên chiếc

dây căng qua khoảng trống. (Gửi con nhân sinh nhật lần thứ 20)…

- Có lẽ/có thể: Thượng đế/có lẽ cũng chỉ nhìn thấy/một hạnh phúc thương

đau/một hân hoan buồn bã như thế (Không đề) ; Có lẽ/bàn làm việc của người

ấy/có một chiếc đèn bàn đã cũ/và một chiếc đĩa con/đựng những cây bút đã hoàn

toàn hết mực (218.97.13) ; Có thể rất nhiều người trong số họ/không còn tuổi tên

trên sử sách/có thể họ đã chết bình thường, không chiến công hiển hách/có thể

mai sau người ta dần quên…(Cát)….

Một số cấu trúc thường gặp :

- Cấu trúc lặp :

Hiện tượng lặp trong thơ Ý Nhi khá phong phú và mang nhiều sắc diện.

Ngoài hiện tượng lặp từ rất phổ biến, cấu trúc câu thơ của Ý Nhi cũng thường

được lặp lại trong các bài thơ. Việc lặp cấu trúc câu giúp nhà thơ truyền tải trọn

vẹn nỗi hoài nghi cũng như sự suy luận về thế giới, con người, sự vật, sự việc

xung quanh. Cấu trúc lặp thường gặp nhất là: A và B….A và B, A như B….A

như B, A là B…A là B để khẳng định hay hoài nghi.

Trong bài Tưởng niệm họa sĩ Nguyễn Sáng, cấu trúc này đã thể hiện thật

rõ sự khẳng định :

Rắn rỏi và mềm mại

Chói lọi và hiền hòa

Cổ xưa và hiện đại

Xác thực và siêu nhiên

Ôi vẻ đẹp

Được tạo ra từ Nguyễn Sáng.

Hay khi Ý Nhi muốn khẳng định niềm say mê của một cô gái 17 tuổi dành

cho danh thủ Platini, chúng ta cũng thấy hiện tượng lặp như sự truy vấn đến tận

cùng để đào xới hết mọi ngóc ngách tình cảm của cô bé :

Đối với cô

Paris là Platini

nước Pháp là Platini

thế giới là Platini

Đối với cô

tài năng là Platini

vẻ đẹp là Platini

khát vọng là Platini

Dường như đó cũng là một cách Ý Nhi lí luận trong thơ.

- Cấu trúc liệt kê:

Ý Nhi hay liệt kê những biểu hiện kết lại một suy nghĩ đã được chiêm

nghiệm nhằm đưa ra một kết luận mang tính khẳng định :

Trong những phán đoán khốc liệt

những câu hỏi không lời đáp

trong nỗi chua chát của tuyệt vọng

trong kiêu hãnh của sự khước từ

anh đơn độc

(Bay đêm)

Để đi đến sự khẳng định : « anh đơn độc » Ý Nhi đã liệt kê những biểu

hiện mà ta cảm nhận đó dường như là sự giải thích kiệm lời nhất cho sự đơn độc

của người « bay vào đêm ».

Ý Nhi còn dùng cấu trúc liệt kê và tận dụng triệt để sự trùng điệp giữa các vế để

luận giải một vấn đề. Bà dành cho một người làm thơ trẻ một tình cảm đặc biệt

trong sự chiêm nghiệm về đời sống thi ca: «Một người làm thơ trẻ/ da tái xanh vì

thiếu ăn/ đang viết những câu thơ đầy dự cảm/ thi đàn hôm nay/ chật ních những

kẻ bất tài, những kẻ lỗi thời/ họ giống như người đàn bà không biết mình đã qua

thì xuân sắc/ cứ tô vẽ nói cười, dở mọi trò ngạo ngược » (Hà Nội, tháng

5.1987). Không trực tiếp thể hiện thái độ nhưng qua việc liệt kê đã nổi bật thái

độ trọng – khinh của bà.

Cấu trúc văn xuôi hóa : ví dụ như bài thơ « 218.97.13 », toàn bài là -

một văn bản được biểu đạt theo phương thức tự sự :

Tôi nhặt được trên đường phố Matxcơva

số điện thoại

của một người nào đó

218.97.13

Có lẽ...

Có lẽ…

Có lẽ…

Có lẽ…

Có lẽ…

Có lẽ…

Có lẽ…

hãy tha thứ cho tôi

nếu tôi đã đoán sai

những điều có trong mã số

218.97.13

Ý Nhi dường như muốn văn xuôi hóa để diễn giải những phán đoán, suy

diễn của bà. Đây là một bước của tư duy triết luận trong thơ.

Ngoài ra Ý Nhi còn dùng các nhóm từ đậm chất văn xuôi khác như : Như

thể là, có thể nào, nào hay đâu, nào còn đâu, mấy ai…, đột nhiên anh…,hầu như

bao giờ…, cố nhiên là…, không thể…cũng không thể, có thể là…mà còn là, mấy

nỗi, bạn biết đấy, tôi quả quyết, như thế kia ư, biết chừng nào, giá mà…, báo văn

hóa thể thao đưa tin…,nhưng…ấy mà, anh không thể…nhưng anh có thể, hãy

lưu tâm đến…Những nhóm từ này được Ý Nhi sử dụng vô cùng tự nhiên thoải

mái. Điều đó chứng tỏ nó nằm trong chủ đích sáng tạo của nhà thơ góp phần làm

nên một nét đẹp trí tuệ trong thơ của bà. Qua đây bà chứng tỏ tính hiệu quả khi

thể nghiệm một cách làm thơ khác đi cùng chiều với sự thay đổi của thời cuộc.

Thơ Ý Nhi còn có những cụm từ đối lập, tương phản để khái quát và luận

giải. Con người, sự vật, hiện tượng xét về bản tính tự nhiên đều là những thực

thể luôn tồn tại trong những trạng thái phức tạp với những xung động đa chiều.

Điều này tạo nên tính không trọn vẹn cũng như tính hai mặt trong mỗi con

người, sự vật, hiện tượng. Là người luôn trăn trở và nhạy cảm, Ý Nhi muốn đưa

vào thơ tất cả những trạng huống đó để bàn luận tạo nên những triết lý khá sâu.

Triết lý về đạo đức con người : « họ đã nói bao điều họ không hề nghĩ/ ta đã

nghĩ bao điều mà không nói », triết lý về lẽ sống còn : « anh đã nghĩ đến cái

chết/ như bao lần anh nghĩ về cách sống », triết lý về tự do : « Lúc no người ta

không nhớ đến cái ăn/ lúc khỏe người ta quên thuốc/ người ta cũng sẽ thôi nghĩ

về may mắn trong hạnh phúc », triết lý về đời thơ : « Giọt nước mắt ràn rụa qua

gương mặt hạnh phúc/ nụ cười cay đắng trước trò đùa nghiệt ngã của số phận »,

triết lý về trò đời : « tôi biết có những trò đùa cay nghiệt/ và những việc nghiêm

trang lại là một trò đùa »… Những triết lý này có sức khái quát cao. Nó chính là

sự thật ở đời mà đôi khi người thường chúng ta dễ dàng bỏ qua hoặc nhận ra

nhưng không nói được thành lời và chẳng để ý mấy. Bằng trải nghiệm và suy tư,

Ý Nhi đã diễn đạt đầy trí tuệ qua việc sử dụng thành công phương thức đối lập.

Ngôn ngữ trong thơ Ý Nhi nặng tính khái quát, triết luận được thể hiện rõ

nét qua việc dùng từ, đặt câu. Cách diễn đạt theo xu hướng này khiến thơ của bà

giàu chất trí tuệ. Qua đây ta cũng thấy nhà thơ có ý thức vô cùng sâu sắc về việc

sử dụng ngôn từ thơ một cách cá tính để thể hiện sự bức phá và vượt thoát bản

thân trong lao động nghệ thuật.

2.1.3. Một số biện pháp tu từ tiêu biểu

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là “phương tiện giao tiếp

quan trọng nhất của con người” (V.I Lênin). Xét về bản chất, ngôn ngữ là một

hệ thống kí hiệu, mỗi kí hiệu ngôn ngữ bao giờ cũng gồm hai mặt: âm và nghĩa.

Nói như F. de Sausure, đó là mặt “cái biểu đạt” (hình ảnh âm thanh) và mặt “cái

được biểu đạt” (ý niệm). Hiểu một cách nôm na ngôn ngữ phải bao gồm 2 mặt:

từ và nghĩa của từ hay hình thức từ và nội dung mà từ biểu đạt. Mối quan hệ giữa

từ và nghĩa vì vậy là mối quan hệ biện chứng, là mối quan hệ tự nhiên, có tính võ

đoán và không có nguyên do.

Tuy nhiên từ ngữ không bao giờ đứng yên một chỗ mà luôn luôn thay đổi,

phát triển. Con đường thay đổi cơ bản của từ là chuyển nghĩa thông qua các

phương thức khác nhau. Những cách thức chuyển nghĩa này khiến cho vỏ ngôn

ngữ tuy không thay đổi nhưng lại mở ra nhiều biểu hiện thế giới khách quan một

cách hữu hiệu và tinh tế. Từ đây từ ngữ trở nên có tính đa nghĩa. Và “quan hệ

giữa âm và nghĩa, tức giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt không còn là quan

hệ tương ứng một đối một nữa”[49;tr.1]. Các biện pháp nghệ thuật đóng vai trò

to lớn trong sự thay đổi và phát triển của từ ngữ. Theo Lại Nguyên Ân thì:

“trong thực tiễn nghiên cứu văn học, người ta thường nói đến các biện pháp

nghệ thuật khi xác nhận những hình thức phát ngôn mới, hoặc khi nói đến việc

sử dụng những biện pháp nghệ thuật đã ổn định vào mục đích mới.” [82]. Vì vậy

việc sử dụng thành thạo và có hiệu quả các biện pháp nghệ thuật sẽ làm nên cá

tính, phong cách của một nhà văn, nhà thơ. Đồng thời cũng khẳng định được

những đóng góp của nhà văn, nhà thơ trên bình diện ngôn ngữ.

Thơ Ý Nhi xuất hiện các biện pháp tu từ sau:

2.1.3.1. Phép so sánh

So sánh là biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến trong đời sống cũng như

trong sáng tác văn học của người Việt. So sánh được hiểu là “đối chiếu hai hiện

tượng có dấu hiệu tương đồng nhằm làm nổi bật đặc điểm, thuộc tính của hiện

tượng này qua đặc điểm, thuộc tính của hiện tương kia” [35;tr.282]. Mô hình

truyền thống của nghệ thuật so sánh là:

Cái được so sánh Phương diện so Từ so sánh Cái dùng để so sánh

(vế A) sánh (Vế B)

Trong thơ ca truyền thống, so sánh được dùng như một phương tiện tạo

hình. Trong thơ hiện đại, biện pháp so sánh lại được vận dụng với nhiều sắc diện

mới. Các nhà thơ hiện đại có ý thức mở rộng biên độ so sánh bằng cách mở ra

nhiều trường ngữ nghĩa. Từ việc so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng, thi sĩ có

thể so sánh hai cái trừu tượng với nhau. Chế Lan Viên là một ví dụ. Đặt hai cái

trừu tượng cạnh nhau, nhà thơ đã làm cho câu thơ của ông được nhận thức trong

chiều sâu suy tưởng. Chế Lan Viên viết về nỗi nhớ: “Anh nhớ em như đông về

nhớ rét”. Nhớ là trạng thái cảm xúc, nó không có hình vị; rét cũng vậy, là xúc

giác. Cả hai đều khó miêu tả được bằng quan sát. Nhưng trong sự sáng tạo mới

mẻ của Chế Lan Viên chúng ta đã cảm nhận sự xa cách trong tình yêu khiến lòng

người trống trải, vô duyên giống như đông về mà không có cảm giác rét buốt.

Cách so sánh trừu tượng mới mẻ đó đã mang lại cho cảm xúc “nhớ” dư vị đặc

sắc mà chỉ có thể cảm chứ khó mà diễn đạt thành lời. Có thể thấy thi sĩ hiện đại

đã đẩy phép so sánh lên thành một phương tiện đắc lực cho nhận thức và tư duy.

Ý Nhi cũng là một trường hợp như thế. Là người luôn muốn cảm nhận tận

tường mọi biểu hiện giản dị nhất trong đời sống, Ý Nhi đã có gần 100 lần sử

dụng biện pháp so sánh. Chúng ta dễ dàng tìm thấy hiện tượng so sánh trong thơ

Ý Nhi như một biện pháp nghệ thuật đặc sắc và chủ đạo.

Trong thơ Ý Nhi, cấu trúc so sánh được xây dựng từ nhiều mối quan hệ

ngữ nghĩa, nhưng Ý Nhi chuộng sử dụng nhiều nhất là mối quan hệ giữa cái cụ

thể và cái cụ thể: Tôi sững sờ trước một sắc nước xanh/ như trời thẳm như vô

cùng cây lá (Biển Miền Trung), Mưa đọng đầy nhị hoa/ cho ong ngờ là mật

(Mưa dạo tháng 10), Em bắt gặp mắt nhìn anh bổi hổi/ như có cả mùa thu chờ

đợi (Cánh cửa), Chùa như thể bóng cây (Chùa trong phố)… Điều đặc biệt là

những nét nghĩa mang thuộc tính cơ bản của hai đối tượng cụ thể đã bổ sung cho

nhau giúp nâng tầm khái quát hình tượng trong thơ Ý Nhi.

Thơ Ý Nhi có những hình ảnh mang tính ám gợi, tượng trưng cũng được

tạo nên bởi hai vế so sánh cụ thể này:

Con thuyền mỏng như mảnh trăng nằm đợi

(Ngã ba sông)

Con thuyền (cái được so sánh) và mảnh trăng (cái dùng để so sánh) là

những vật rất cụ thể. Cả hai đều gợi đến những số phận nhỏ bé mỏng manh, gợi

đến nỗi đơn côi và tội nghiệp. Đó có thể là bóng dáng một người ngơ ngác giữa

ngã ba sông, không biết phải lựa chọn con đường nào để đến được bến bờ mong

muốn. Có điều lạ là: thông thường ta sẽ so sánh “mảnh trăng như con thuyền”,

nhưng ở đây “con thuyền” lại được so sánh với “mảnh trăng”. Sự đổi vị trí hai vế

so sánh đã đẩy sự chờ đợi của con người đơn côi đến đỉnh vô vọng.

Qua việc sử dụng phép so sánh, ta thấy Ý Nhi có biệt tài mở rộng trường

liên tưởng nhất là khi bà sử dụng những hình ảnh so sánh trùng điệp:

Em đã đợi chờ anh suốt cuộc đời mình

như đá xám chờ tay người tạc tượng

sông khô cạn chờ mùa mưa lớn

cây giữa rừng đợi ánh mặt trời lên.

Suốt đời mình em đã đợi chờ anh

như vạt cỏ đợi chờ ngọn gió

giấy trong lành đón đợi những câu thơ.

(Về Chiêm Hóa)

Vế được so sánh: Em đã đợi chờ anh. Vế dùng để so sánh: đá xám…, sông

khô cạn…, cây…, vạt cỏ…, giấy…. Chỉ một hiện tượng thôi mà được đối chiếu

với quá nhiều hiện tượng khác. Nhiều vế so sánh xuất hiện khiến trường liên

tưởng dần mở rộng và tạo cảm giác sự chờ mong của “em” trải qua nhiều sắc độ:

có khi là đau đáu, có khi là hân hoan, khi khác lại như là sự tự nguyện đến ngây

thơ… tiếp nối nhau tạo hiệu ứng tăng cấp cho sắc thái tu từ. Những vế so sánh

trùng điệp trong đoạn thơ tạo nên chuỗi liên tưởng bất ngờ và thú vị dẫn dắt và

khơi mở xúc cảm nơi người đọc. Vì thế sự chờ đợi của em càng trở nên ám ảnh

hơn.

Có thể nói trong thơ Ý Nhi tràn ngập những hình ảnh so sánh mới lạ,

những hình ảnh tưởng chừng như rất khác xa nhau khi được bà đặt gần nhau

bỗng tạo nên sự liên tưởng đặt biệt, nó vừa nữ tính, lại vừa uyên sâu:

Giữa bao nhiêu năm tháng ngược xuôi

đã có lúc lòng con đơn bạc

quên cả những điều tưởng không sao quên được

như người no quên cơn đói của mình.

(Kính gửi mẹ)

Cuộc đời xô ta ngày càng đi xa ngôi nhà của mẹ, ngày càng xa nỗi nhớ

thương của mẹ. Hình ảnh “người no quên cơn đói” tạo nên một tứ thơ lạ. Trường

liên tưởng đi từ một tâm hồn người con lãng quên lòng mẹ, một tâm hồn “đơn

bạc” thành sự no sự đói của một con người làm nên một ấn tượng rất sâu. No gì,

đói gì? No cảm giác bề bộn và đói những tình cảm sâu nặng.

Ý Nhi còn có những so sánh nặng ý vị Thiền:

Lòng chợt buồn ngơ ngác

như người không quê hương

(Tháng mười)

Cảm giác mong manh mà tê tái. Hình ảnh “lòng buồn ngơ ngác” được ví

với “người không quê hương” có gì đó thật mông lung, trống trải. Chợt nhớ đến

bài ca “Bên đời hiu quạnh” của Trịnh Công Sơn mà nghiệm ra triết lí “vô sinh,

vô diệt”, “sắc sắc, không không” trong đời. “Rồi một lần kia khăn gói đi xa.

Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà. Lòng thật bình yên mà sao buồn

thế. Giật mình nhìn tôi ngôi khóc bao giờ…”

Chính những cách tư duy so sánh mới lạ này đã đem lại nhiều nét nghĩa

mới cho sự vật đồng thời thể hiện một cách mạnh mẽ, trọn vẹn xúc cảm của chủ

thể trữ tình. Biện pháp tu từ so sánh trong thế giới thơ Ý Nhi đã góp phần không

nhỏ trong sự thành công về mặt nghệ thuật cũng như tạo nên dấu ấn rất riêng

của Ý Nhi trong nền thơ Việt Nam hiện đại.

2.1.3.2. Phép tương phản - đối lập

Dường như Ý Nhi có ý thức chọn biện pháp tương phản - đối lập để khách

quan hóa thế giới đặc biệt là thế giới nội tâm. Đối lập - tương phản gần như đã

trở thành tiêu chuẩn thẩm mỹ trong sáng tạo ngôn từ của Ý Nhi.

Cùng với tuổi đời và tuổi nghề, Ý Nhi dần nhận ra mình là “người đàn bà

tìm về kết cục”, “không còn nhiều thời gian cho do dự/ không còn nhiều thời

gian cho sai lầm”. Do đó càng cần phải thâu tóm trọn vẹn thế giới nội cảm đa

chiều và tinh vi một cách trọn vẹn nhất. Chấp nhận quy luật hai chiều của cuộc

sống như “chấp nhận khuôn mặt vốn có của mình” Ý Nhi nuôi dưỡng xúc cảm

nồng nhiệt nhưng luôn ý thức tiết chế nó, nắm giữ ngọn lửa đam mê trong tay

nhưng Ý Nhi luôn tỉnh táo và rạch ròi khi nhận thức. Điều này giúp Ý Nhi có

một độ lùi vừa phải để nhìn thấu suốt cái “giản đơn và rối ren”, cái “lớn lao và

cạn hẹp” của chính mình và của đời sống. Phép tương phản, đối lập ở nhiều cấp

độ đã giúp Ý Nhi chuyển tải được tâm thức đó.

- Đối lập - tương phản trong câu chữ: “Mưa ồn ào mùa hạ/ mưa dịu

mềm mùa xuân”; “bao miền đất đi qua, bao cánh đồng trở lại”,

“bước thành rồi bước bại/ ngày nắng theo ngày mưa”; “rau muống

đầu mùa lên cao/ hoa cuối xuân giá hạ”; “và gương mặt thân quen/

vừa gần gụi/ vừa xa vời/ trong giấc mơ hạnh phúc”; “Có lẽ/ người ấy

mạnh mẽ và dịu dàng/ sâu sắc và hồn nhiên”; “tôi đang đứng kề bên

cái vạch nhỏ xíu/ của thủy chung và phản trắc, của tan vỡ, và hy vọng,

của hằn thù và tha thứ”; “và mắt người lo âu/ và mắt người hân

hoan”; “rượu mới ngọt làm sao/ đắng làm sao/ chua chát làm sao”…

- Đối lập - tương phản trong hình ảnh: “Là vòm trời xanh dịu kia/ hay là

cơn bão lớn, mùa thu”; “tàu điện lanh canh giữa lòng phố vắng”;

“nào đâu hay có một miền cát nóng/ như hạt mầm trong sỏi đá/ như

đốm lửa dưới tàn tro”; “chị mệt mỏi mỉm cười/ đáp lại niềm hân hoan

của hàng vạn người xem”; “Giọt nước mắt ràn rụa qua gương mặt

hạnh phúc/ nụ cười cay đắng trước trò đùa nghiệt ngã của số phận”;

“Trên đôi mi khô bỏng/ lại lăn chảy giọt nước mắt mặn ấm/ Và cỏ

mùa xuân lại mềm mại dường bao/ dưới lòng chân chai sạn”…

- Đối lập - tương phản trong cấu tứ, tư tưởng: “đồi đã ngủ cây cọ rồi

cũng ngủ/ có điều gì thao thức ở trong em”; “ông là vầng mặt trời

phương Nam khi người ta còn ngủ vùi trong đêm phương Bắc”;

“nhiều khi tôi khóc vì chính cái khiến những người quanh tôi vui

sướng”; “Thôi chào nhé/ số phận đã gắn bó ta cùng tất cả/ số phận

cũng đã buộc ta cùng lúc phải xa rời tất cả”; “Rồi, bác cháu ta chắc

sẽ lặng im/ giữa bao lời cười nói”; “không ai có thể làm cho anh chói

sáng/ không ai khiến anh lu mờ/anh tự mình/ rực rỡ hay tàn lụi”; “tôi

biết có những trò đùa cay nghiệt/ và những việc nghiêm trang lại là

một trò đùa”; “Đôi lần, em nhìn tán cây mà ứa nước mắt/ vì màu

xanh” …

Phép tương phản - đối lập trong thơ Ý Nhi xuất phát từ nhu cầu nhận thức

đời sống trong chiều sâu bản chất của nó. Vậy nên sự đối lập, tương phản của từ

ngữ, hình ảnh, cấu tứ, tư tưởng là sự đối lập mang tính phổ quát. Cuộc đời được

nhà thơ cảm nhận trong sự đa chiều, phức tạp của nó, không dễ dàng nắm bắt,

không dễ dàng cầm giữ để từ đây nhà thơ đẩy lên thành triết lí. Điều này càng

nhấn mạnh hơn yếu tố “duy lí”, “nội cảm”, “trí tuệ” trong thơ Ý Nhi. Phép tương

phản - đối lập đã làm nên một phong cách thơ độc đáo cho Ý Nhi đồng thời nó

giúp mở rộng khả năng thẩm thấu, cảm nhận thế giới trong tính khái quát, đa

chiều từ phía người đọc.

2.1.3.3. Phép điệp

Phép điệp là một trong những biện pháp tu từ nghệ thuật được sử dụng

phổ biến và đắc địa trong thơ Ý Nhi. Không những thế, nó trở thành một trong

những nhân tố quan trọng trong sự cách tân ngôn ngữ của bà. Việc lặp lại cùng

một từ, một cụm từ trong cùng một dòng thơ hay trong nhiều khổ thơ để đẩy

mạnh cảm xúc, để thể hiện sự “giày vò”, “sự xao xác” không yên trong tâm hồn

nhà thơ đa cảm mà nặng tư duy phân tích này. Xét trong 203 bài thơ, dường như

bài nào cũng có sử dụng hình thức điệp (lặp): điệp âm, điệp ngữ, điệp đầu, điệp

cuối, điệp phụ âm đầu, điệp thanh, điệp vần… Phép điệp góp phần rất lớn trong

việc tạo nên tính nhạc trong thơ, làm cho bài thơ giàu cảm xúc. Hơn nữa, việc sử

dụng phép điệp cùng với việc mở rộng biên độ thơ góp phần thể hiện những tình

cảm phong phú, đa dạng nhưng cũng rất phức tạp của đời sống con người.

Một số cách điệp Ý Nhi thường sử dụng và đã tạo ra những hiệu ứng nghệ

thuật đặc sắc:

- Điệp từ ở đầu mỗi câu thơ: “Những người đàn bà gánh trên vai hàng

chục cái tang/ những trẻ sơ sinh chỉ một mình sống sót/ những người

yêu cách xa biền biệt/ những cụ già trơ trọi chẳng cháu con” (Cát. 4.

Bài ca); “Ai còn đi trên đường đời bốn mươi năm sau ông/ còn có thể

tuyệt vọng/ còn có thể hạnh phúc/ còn có thể kiếm tìm/ còn có thể xuất

hiện với một khuôn mặt mới” (Viếng mộ Hàn Mặc Tử)

- Điệp từ ở đầu mỗi khổ thơ: “Có phải…” (Thành phố tràn đầy hoa

cúc); “Đã nhiều lần…Nhiều lần….Rồi một lần” (Chuyện kể), “Thôi ta

hãy…” (Viết nhân một câu thơ)

- Điệp đầu câu bằng từ nối: “Chỉ còn lại trước ta một con đường/ và

hoa phượng đỏ tràn về/ và lá xoài non/ và nước êm đềm kênh rạch/ và

lúa/ và dừa/ và ánh vô tư nơi đáy mắt” (Ra khỏi thành phố); “Và bậc

thềm/ Và ô cửa/ Và sương mù/ Và lá/ Và bờ dốc im lìm/ Và mặt hồ

vắng lặng/ Và tường vi lung linh bờ dậu/ Và nắng ngập lòng phố nhỏ”

(Đà lạt)

- Điệp cấu trúc câu:

+ Hai câu hoặc nhiều câu gần nhau trong cùng một khổ: “sông tự biết

thu mình hẹp lại/ sông tự biết qua đá ngầm bóng tối” (Sông); “Không

ai trói buộc/ không ai gông cùm/ không ai đánh đập/ không ai chửi

mắng/ sao ta sống như trong lồng cũi” (Nguyễn Du, 1813)

+ Một câu ở đầu hoặc ở cuối các khổ liên tiếp: “một lần nữa” (Qua

Huế); “khi dịu dàng tay nắm lấy bàn tay” (Và vườn trong phố); “phải

chăng đó là cuộc đời ông” (Nhà thơ và cái hồ nhỏ)

+ Một câu ở khổ đầu và khổ cuối: “Có những gì chờ đợi phía xa kia”

(Mùa thu chưa tới), “Giữa chiều lạnh/ một người đàn bà ngồi đan

bên cửa sổ” (Người đàn bà ngồi đan)

- Điệp cả đoạn hoặc khổ thơ: “Dương Bích Liên uống rượu/ lặng im/ và

vẽ” (Đắc đạo), “Nhặt lá/ bao thuốc rỗng/ những vé số đã hết hạn/ gom

góp lại/ và đốt” (Người điên ở phố Bà Triệu)

- Điệp kèm theo cấu trúc so sánh: “ Phố như thể cuộc đời…Chùa như

thể bóng cây” (Chùa trong phố); “Đôi khi/ ta như chiếc gàu thả sâu

trong lòng giếng… Đôi khi/ ta như đứa trẻ bán hủ tiếu rong… Đôi khi/

ta như người leo núi rủi ro…” (Đôi khi)

- Điệp mở rộng: “Lòng bồn chồn giữa Praha bình yên/ tôi như người

đánh mất/ lại như người vừa tìm thấy được/ như người đã trải qua/

như người đang đón gặp/ như người sắp đi xa/ như người sắp trở về/

Ôi Praha! Praha.” (Một buổi chiều ở Praha); “Bừng sáng/ giữa bao

nhiêu ràng buộc, tối tăm./ Bừng sáng/ giữa bao nhiêu hiềm khích./

Bừng sáng/ Gương – Mặt – Người – Kêu – Gọi.” (Nhà văn Nguyễn

Minh Châu)

Hiện tượng điệp trong thơ Ý Nhi cực kì phong phú. Mỗi hình thức điệp là

một dụng ý nghệ thuật. Có khi đó là những xôn xao không thể chỉ nói một lần;

khi khác lại là sự bâng khuâng cơ hồ là vô tận; khi khác nữa lại là sự rối ren, chật

hẹp không gì gỡ ra được ngoài những câu thơ… Và cũng có lần quá rung động

vì những tinh khôi:

Đôi lần

em nhìn tán cây mà ứa nước mắt

vì màu xanh.

Đôi lần

em nghe tiếng chim khuyên mà ứa nước mắt

vì sự trong trẻo.

(Vườn (1))

Xúc động trước cái đẹp là biểu hiện cơ bản của tâm hồn thi nhân. Ý Nhi

dùng phép điệp thật thành công và đắc địa để diễn tả sự rung động đôi khi xuất

hiện như sự ngẫu nhiên may mắn (“Đôi lần”) nhưng lại là cảm xúc vô cùng vững

bền trong tâm hồn nhà thơ. Để có được cái may mắn đó trước hết phải có một

tâm hồn đẹp, biết yêu và biết xúc động, biết nâng niu và nuôi dưỡng những giọt

nước mắt quý giá của mình (“ứa nước mắt”) - vì những gì đẹp đẽ nhất - màu

xanh giản dị của tán cây hay tiếng ca trong trẻo, giàu sức sống của tiếng chim

khuyên. Hiện tượng lặp trong đoạn thơ khá đặc biệt, vừa có lặp từ ở đầu câu/

khổ: đôi lần, vừa lặp cụm từ ở cuối câu: mà ứa nước mắt, vừa lặp từ chỉ nguyên

do: vì ; nên khó để xếp đoạn thơ này vào một hình thức điệp nào. Nhưng đôi khi

cũng không cần quan tâm lắm việc xếp nó vào đâu, chỉ cần biết đó là một cảm

xúc đẹp, quý mà Ý Nhi đã gửi gắm bằng thơ.

Hình thức điệp trong thơ Ý Nhi không chỉ có tác dụng khơi gợi và bộc lộ

cảm xúc mà còn có tác dụng tạo ra nhiều kiểu nhịp ứng với những cung cảm xúc

đó. Vì vậy tính nhạc trong thơ Ý Nhi thực ra rất giàu có nhưng cũng khó phát

hiện. Có thể kể một số kiểu nhịp cơ bản:

nhịp tương phản: Tôi đã bị lừa dối, phản trắc/ đã được tin cậy, yêu -

thương/ đã lội qua bùn/ đã đi trên cát/ tôi đã tới những ngõ cụt/ và

cũng đã tới biển. (Tiểu dẫn)

nhịp bàn luận: Không ai dẫn bóng thay anh/ không ai cắt bóng thay -

anh/ không ai ghi bàn thay anh/ tự anh thành công hay thất bại.

(Bóng đá.1.Cầu thủ)

nhịp liệt kê: Bấy giờ/ em băng qua ngã tư đèn đỏ/ để kịp đến anh./ Bấy -

giờ/ cây cối/ nhà cửa/ xe cộ/ cuồn cuộn chảy một dòng ngũ sắc./ Bấy

giờ/ những khuôn mặt/ thảy đều thơ dại./ Bấy giờ/ cỏ xanh/ trời xanh/

áo người rực rỡ./ Bấy giờ/ em hao gầy, đầy đặn/ hân hoan, buồn khổ/

dưới một ánh nhìn. (Kí ức)

nhịp liên tục: Nhiều khi tôi muốn được nghe tiếng nói của bạn/ giữa -

hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn lần trò chuyện/ với các nhà thơ/ với

các nhà phê bình/ với các vị thủ trưởng đương quyền và những vị

nguyên là thủ trưởng/với hàng xóm láng giềng/ với các bà các cô bán

hàng ngoài chợ/ rồi tôi lại muốn được nói những lời/ như chỉ riêng

cùng bạn/ muốn được cười như chỉ có bọn ta/ muốn ca cẩm, than

phiền/ muốn reo vang/ và đôi khi còn hát nữa chứ. (Gửi bạn)

nhịp ngắt quãng: Đã đến hồi lìa bỏ…/ Đã đến hồi từ giã…/ Đã đến hồi -

vỡ nát…/ Đã đến hồi lịm tắt…/ Lìa bỏ/ từ giã/ vỡ nát/ lịm tắt/ …(Về

cái chết của bác sĩ Zivago)

Phép điệp đã trở thành một phần không thể thiếu trong cách thức sáng tạo

của Ý Nhi. Thông thường, hiện tượng điệp sử dụng với tần số cao và không khéo

léo sẽ dễ tạo nên sự đơn điệu, nhàm chán về mặt cảm xúc. Ở thơ Ý Nhi, phép

điệp được sử dụng khá dày đặc nhưng cảm giác đơn điệu lại không hề có. Dường

như mỗi phép điệp của Ý Nhi đều mang một nét gì đặc biệt vì được nhà thơ biến

đổi tinh vi nhất là khi kết hợp với các biện pháp nghệ thuật khác như so sánh, ẩn

dụ, tương phản…

Phép điệp trong thơ Ý Nhi được sử dụng rất kỹ, không hề tạo ra cảm giác

dông dài đơn điệu; Nó khiến số lượng từ ngữ ít đi nhưng dung lượng hình ảnh,

cảm xúc, nhịp điệu và tư duy tăng lên gấp bội. Người đọc có cảm giác nhà thơ

đang đánh đố tri giác của mình, đòi hỏi mình phải kiếm tìm gì đó sau những câu

chữ giống nhau mà lại bất cân bằng trong nhận thức. Đôi khi phép điệp khiến thơ

Ý Nhi day dứt đến khó hiểu như một người-đẹp-bí-ẩn, ngắm nhìn thì thích đấy

nhưng ngại gần gũi. Vì vậy, nói như Lê Hồ Quang: “Thơ Ý Nhi thường nghiêng

về những nỗi ưu tư nghiêm trang, đôi khi trĩu nặng nỗi niềm” [87]. Đó có lẽ là

cái tạng thơ riêng của Ý Nhi.

2.2. Phong cách thể loại

Bảng thống kê số bài ứng với mỗi thể thơ:

Thể thơ 4 chữ 5 chữ 6 chữ Tự do Lục bát

Số bài 6 42 2 146 7

Qua thống kê và tìm hiểu, chúng tôi thấy Ý Nhi sử dụng nhiều thể thơ

khác nhau nhưng đặc biệt thành công ở thể thơ tự do. Thơ tự do của Ý Nhi vừa

phong phú về số lượng vừa đặc sắc về chất lượng. Nó tạo nên một giọng thơ

riêng, một phong cách riêng không thể nhầm lẫn được cho thơ Ý Nhi.

Bên cạnh đó ta cũng thấy sự dụng công cách tân của Ý Nhi ở thể thơ 5

chữ. Đây là thể thơ chiếm tỉ lệ thứ hai sau thơ tự do và nó cũng góp phần vẽ nên

diện mạo đầy đặn cho phong cách Ý Nhi.

Thể thơ 4 chữ và 6 chữ không nói được nhiều cho con-người-thơ Ý Nhi.

Những bài lục bát cũng còn đơn điệu và phần nào không tương xứng với

sự nghiệp thơ của bà. Tuy nhiên, nó cũng là một phần đẹp đẽ trong con người bà.

Đó là dáng dấp của người phụ nữ, người vợ, người mẹ dịu dàng, nhân hậu, yêu

chồng thương con.

Bà viết cho con trên đường đi công tác với nỗi nhớ thương vô bờ:

Suối trong thấy hạt cuội tròn

Rừng sâu nút võng mài mòn thân cây

Con đường đất đỏ như say

Lòng thung hoa dại dâng đầy mùi hương

Mẹ đi xa mấy dặm đường

Trong bao cảnh lạ vẫn thường có con.

(Viết cho con trên đường công tác)

Thể lục bát không có gì đặc sắc nhưng tình cảm của Ý Nhi dành cho con

bao giờ cũng “bao la như biển Thái Bình”. Lẽ chăng thể thơ này là một hình thức

hữu hiệu để diễn tả tình yêu dạt dào và dịu dàng ấy.

Hát ru chồng với tình yêu dịu ngọt:

Ngủ đi anh, ngủ đi anh

em ru cho giấc ngọt lành đêm nay

em ru vầng trán đắng cay

ru đôi mắt đã tháng ngày chờ trông

em ru mái tóc phiêu bồng

ru đôi môi đã mặn nồng tình em.

(Tập làm lục bát)

Thể lục bát ở đây có hiện đại hơn và lời ru cũng hiện đại hơn. Tình yêu

tha thiết dành cho chồng được đặt trong sự gần gũi thân quen của khuôn mặt.

Đây là vầng trán anh, đây là đôi mắt anh, đây là mái tóc, là đôi môi. Hiện tượng

điệp cùng biện pháp liệt kê không xa lạ trong ca dao đã được Ý Nhi hiện đại hóa

trong hình ảnh. Hay nhất là câu cuối: “ru đôi môi đã mặn nồng tình em”. Câu thơ

này có thoang thoáng phong thái Ý Nhi khi có chút táo bạo và suy tưởng . Đoạn

thơ tuy còn nhợt nhạt về nghệ thuật nhưng về mặt xúc cảm lại rất tràn đầy.

Dưới đây chúng tôi sẽ đi tìm phong cách thơ Ý Nhi qua thành tựu của thơ

tự do và thơ năm chữ.

2.2.1. Thơ tự do – thể nghiệm và thành tựu

Thơ tự do thường được hiểu là tự do hóa hình thức trong thơ. Xu hướng

này phát triển mạnh ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám. Sau 1975, thơ tự

do phát triển mạnh và gặt hái được nhiều thành tựu. Nó phản ánh sự biến chuyển

không ngừng nghỉ và nhiều phức điệu của cuộc sống hiện đại mà những thể thơ

khác còn hạn chế.

Thơ tự do là một khái niệm không được định nghĩa rõ ràng. Nó có thể

được miêu tả như nhà thơ Ngô Quân Miện như sau:

Đó là loại thơ có cấu trúc không đều đặn, nghĩa là về cơ bản (chứ

không phải hoàn toàn) không theo luật vần, không theo luật bằng trắc,

không có số âm tiết đều nhau trong một câu. Còn nhịp thơ, những chỗ

ngắt hơi, những tiết tấu cũng không theo một quy định có sẵn. Nhưng

tất cả những cái không đều đặn ấy đều tùy theo cái hơi thở nóng hổi,

cái sức mạnh của cảm xúc, của ý, của trí, của sức mạnh bên trong của

thơ quyết định chỗ này có vần, chỗ kia không, chỗ này câu dài, chỗ

kia câu ngắn, chỗ này nhịp khoan, chỗ kia nhịp gấp, chỗ này bằng,

chỗ kia trắc… để cho tất cả những cái xô lệch, những cái vênh, những

cái nhấp nhô, có dụng ý ấy tập trung vào thành một cấu trúc nhất

quán, một nhạc điệu tâm hồn riêng tùy theo tâm trạng của nhà thơ”

[62;tr.154-155]

Thơ tự do trong ý nghĩa có thể hiểu là một loại thơ “có khả năng bao quát

lớn, mang tính hiện đại và dân chủ… gần với sự phát triển của thơ phương Tây

hơn là thơ phương Đông”[101;tr.66].

Ý Nhi là nhà thơ hiện đại có những thể nghiệm đặc sắc trong thể thơ tự

do. Đó là những câu thơ không vần, “lắm lúc văn xuôi một cách triệt để. Vì đó là

thứ trữ tình của cái ngày thường, rũ bỏ ảo tưởng lãng mạn”…[45]. Ý Nhi lo âu

trước một mùa thu xanh dịu:

Tôi không sao tránh được lo âu trước mỗi độ thu

trước chiếc lá chợt ánh vàng

trước ngọn gió may

và đường chân trời xám bạc

nỗi lo âu vốn có trong mỗi niềm hạnh phúc

mỗi khi chúng ta đối diện với những gì trong sạch

những gì như mùa thu.

(Mùa thu)

Đó là nỗi lo âu đặc biệt, nỗi lo âu trong sự hân hoan chào đón, trong niềm

hạnh phúc thảnh thơi, nỗi lo âu “bày đặt” của một tâm hồn nhiều sầu cảm. Đó là

tâm thế của một người sợ tan chảy những gì mong manh. Tâm trạng đó được

biểu đạt bằng sự xô đẩy của từ ngữ. Đoạn thơ thực chất là một câu văn xuôi dài,

giàu chất gợi hình và lung linh ánh sáng. Đoạn thơ còn là một chuỗi tư duy liền

mạch khó làm cho đứt đoạn, bởi chỉ cần dừng lại ở một nhịp nào thôi là phá

hỏng tính mạch lạc vốn có của một câu văn giàu cảm xúc.

Không chỉ thể nghiệm yếu tố văn xuôi trong thể thơ tự do, Ý Nhi còn tinh

giản tối đa yếu tố tả và kể để chuyển tải được nhịp sống nhanh và yêu cầu về tính

hiệu quả tức thời của lối sống hiện đại:

Giữa đám đông ồn ào, xuôi ngược, vội vã này

có ai vừa gọi tôi

Có ai vừa cất lời

giữa đám đông ồn ào, xuôi ngược, vội vã này

Không ngoảnh lại

Lòng chợt vỡ òa

Nỗi buồn thương thăm thẳm.

(Tiếng gọi)

Bài thơ kiệm lời đến mức có thể để diễn tả niềm mong ước đến cạn vơi

được ai đó gọi tên mình trong cái xô bồ của cuộc sống. Rồi hình như cũng có

người gọi tên mình nhưng thực lòng không dám quay lại. Vì sao thế? Có lẽ sợ

rằng đó chỉ là ảo giác. Con người thời hiện đại mới thực sự là người cô đơn nhất

trong lịch sử loài người. Họ xa lạ với con người khi đang ở rất gần người, thậm

chí họ còn xa lạ ngay với chính bản thân mình. Bài thơ ngắn đã nói được tất cả

nỗi cô đơn đó. Việc thử nghiệm ở đây xem như là đã thành công khi đã đáp ứng

được cơn khát của thời đại “Khát bài thơ ít chữ/ Hồn vía cả kiếp người”(Khát -

Nguyễn Hoa).

Ý Nhi còn thử nghiệm một bài thơ ngắn hơn như vậy nữa. Bài thơ có hai

dòng nhưng thực sự chỉ là một câu ngắt dòng.

Con – Sự thăng bằng

trên sợi dây hạnh phúc cheo leo.

(Con)

Bài thơ “cực ngắn” nhưng là chân lí. Là sự chiêm nghiệm và đút rút từ

cuộc sống của chính bản thân và của mọi người.

Câu thơ tự do của Ý Nhi có sự biến hóa khôn lường. Có những câu thơ dài

được ngắt làm nhiều dòng với số chữ nhiều ít khác nhau tạo nên nhiều loại nhịp

điệu theo ý muốn. Khi diễn tả sự thật đời sống với những điều hằng ngày thô

tháp, Ý Nhi ngắt dòng thơ như sau:

Giá gạo cao chóng mặt

người ta đánh số đề và chơi xổ số

đường phố la liệt hàng ăn

la liệt hàng mỹ phẩm

các anh chàng mới phất, phóng cúp đỏ ào ào qua phố

tại hàng Buồm

một họa sĩ lão thành chết vì bệnh đau tim

tay còn giữ

bản tham luận “Thẩm mỹ môi trường Hà Nội”.

(Hà Nội, tháng 5.1987)

Khi ngợi ca cô Khánh hiền lành, chân thành giữa những người giả trá, vụ

lợi, Ý Nhi ngắt dòng kiểu khác:

Giữa những tâm hồn tối tăm ham muốn

Khánh

hồn nhiên

thủy chung

trong trắng.

(Khánh)

Ta nhận thấy thơ tự do của Ý Nhi có những nét cơ bản về hình thức như

sau:

- Hầu hết mỗi khổ thơ của Ý Nhi đều là một câu thơ được ngắt dòng. Cho

nên đầu mỗi dòng các tiếng không được viết hoa, ở cuối mỗi dòng không có dấu

chấm câu mà phải đợi đến hết khổ mới có.

- Có những câu thơ kéo dài nhưng cũng có những câu “cực ngắn” chỉ là

một động từ, một danh từ hoặc một quan hệ từ đứng riêng thành một dòng.

- Câu thơ có sự trùng điệp, xô đẩy trong các từ, cụm từ, các vế, các câu đẩy

cảm xúc đến độ sâu nhất định.

Sau những thể nghiệm táo bạo, ta có thể nhận thấy những thành tựu tiêu

biểu trong thơ tự do của Ý Nhi là:

- Không cần vần mà nhịp điệu vẫn tinh tế, truyền tải tốt tâm hồn, cảm xúc

của nhà thơ.

- Tứ thơ được triển khai nhất quán và luôn tạo được điểm nhấn.

- Hình tượng mang ý nghĩa khái quát và không bị phân tán do xu hướng tự

do hóa của thơ.

- Ý nghĩa triết lí khá cao.

- Đa dạng trong thể thức thơ tự do.

Đó là những nét độc đáo trong thơ tự do của Ý Nhi.

2.2.2. Bản lĩnh cách tân trong thể thơ năm chữ

Những bài thơ năm chữ của Ý Nhi nằm rải rác ở các tập thơ. Ý Nhi cố

tình đặt những bài này xen giữa những bài thơ tự do vốn không dễ đọc để cân

bằng tri giác và níu kéo xúc cảm của người đọc. Chúng tôi quan sát thấy, ở

những tập thơ đầu tiên thể thơ này được nhà thơ sử dụng nhiều hơn so với những

tập thơ sau. Có lẽ thể thơ năm chữ phù hợp để diễn tả những gì ngô nghê và đơn

giản, những cảm xúc nhẹ nhàng và thơ ngây nên đọc những bài năm chữ trong

tập Cây trong phố - Chờ trăng - tập thơ dành cho thiếu nhi - ta thấy một sự ngắn

gọn, giản dị, dễ hiểu rất phù hợp với trình độ tiếp nhận của các em.

Điều khác biệt lớn là: càng về sau, ý thức sáng tạo của Ý Nhi vận động

càng mạnh mẽ, nhu cầu cách tân của bà vì vậy cũng cao hơn. Cho nên ở những

tập thơ sau thể thơ năm chữ được Ý Nhi khoác cho những chiếc áo mới và tạo

nên một sự vừa vặn mới mẻ cho thể thơ này. Đó là bản lĩnh của Ý Nhi.

Đọc những bài thơ năm chữ trong các tập Nỗi nhớ và con đường hay Đến

với dòng sông, ta thấy thơ năm chữ của Ý Nhi rất nhịp nhàng, tuân thủ cách ngắt

nhịp và gieo vần truyền thống. Đây là một bài thơ năm chữ mẫu mực:

Những cơn mưa báo rét

bay mờ cả dốc dài

ruộng bèo như thảm dệt

mưa long lanh ngọc trai.

Mùa thu vừa đi rồi

Đông hãy còn chưa đến

Mua trổ lưng chừng đồi

Cỏ may dày lối hẹn.

Đi suốt triền núi xa

hái đôi nhành “mảnh bát”

mưa đọng đầy nhị hoa

cho ong ngờ là mật.

Cây bàng vừa nhuốm lửa

khóm trúc mới đổ vàng

lòng suối Đôi rộng quá

chúng mình đưa nhau sang.

Những lối mòn màu đỏ

mưa êm đềm mặt đường

mưa tháng mười dạo đó

là mùa mưa yêu thương.

(Mưa dạo tháng Mười)

Sau đó không lâu thơ năm chữ của Ý Nhi bắt đầu thay đổi. Trước hết là

thay đổi số câu trong một khổ. Khổ thơ không còn đều đặn 4 câu nữa mà có khổ

dài, khổ ngắn:

Sau lưng là thành phố

trước mặt là dòng sông

đêm vừa buông xuống hết

trăng mỏng như là không.

Chúng tôi cứ lắng yên

như sợ rằng lời nói

sẽ đánh thức tình yêu

của bao ngày chờ đợi

sẽ đánh thức hàng cây

với màu xanh bối rối

sẽ đánh thức con tàu

với tiếng còi lay gọi

sẽ đánh thức dòng sông

sắc nước hồng đỏ chói.

(Phía trước là dòng sông)

Số câu trong khổ không thể bó buộc được sự dâng tràn của ý thơ nữa.

Khổ thơ nhiều dòng hơn, chuyên chở nhiều hơn sức nặng của hình ảnh và cảm

xúc.

Nhưng dường như chưa đủ, Ý Nhi còn muốn làm mới nhiều hơn thế. Ý

Nhi triết lí trong thơ năm chữ vốn rất trong sáng của bà:

Lòng tưởng vừa đi qua

nỗi đau ghê gớm nhất

nào biết đâu buồn thương

còn chờ ta trước mặt

biết đâu niềm hạnh phúc

từng có thật trong đời

chợt ngoảnh đầu nhìn lại

đã nên điều xa xôi.

(Thơ tặng cháu)

Ý Nhi từng bước thể nghiệm sự cách tân ở thể thơ năm chữ. Đến Ngày

thường, thơ năm chữ của Ý Nhi mang khuôn mặt mới:

Loay hoay trang sách cũ

lời bình từ năm xưa

thơ cộng tác viên dày cộp

đọc từ mùa nắng sang mùa mưa

quần của con cần xuống gấu

gạo hết, lo xếp hàng

cành lá trên rèm cửa sổ

xanh từ ngày sang đêm.

(Ngày thường)

Những câu năm chữ (vẫn là chủ yếu) xen lẫn với những câu thơ sáu, bảy

chữ thể đã hiện nhu cầu thúc bách tự bên trong không thể kiềm giữ được, cần

phải “vượt biên” từ ngữ. Nếu tuân thủ giới hạn từ ngữ sẽ hạn chế nhịp điệu tâm

hồn. Ngày thường với bao việc bận rộn, dường như làm hoài không hết, vậy mà

sao vẫn thấy cũ kĩ, đơn điệu. Bà ao ước “một tiếng gõ bất thường sau cánh cửa”.

Và đây chính là “tiếng gõ bất thường” mà bà mong muốn trong thơ.

Thơ năm chữ của Ý Nhi từ đó tiến gần hơn với thơ tự do để biểu đạt được

nhiều hơn những gì bà muốn. Dần dà một bài thơ của Ý Nhi được viết bằng

nhiều loại thể. Chẳng hạn, bài Không đề, phân đoạn một là những dòng thơ hai,

ba chữ; phân đoạn hai là thơ tự do, đến phân đoạn thứ ba là một bài thơ năm chữ

cách tân:

Đã muộn rồi ban mai

đã muộn rồi con đường

đã muộn rồi chuyến xe.

Đã muộn rồi nụ cười

đã muộn rồi nỗi đau

đã muộn rồi thương nhớ

đã muộn rồi giọt lệ khôn cầm.

Ai còn gọi.

Đã muộn rồi tán lá

đã muộn rồi tiếng chim

đã muộn rồi bờ cát.

Đã muộn rồi ánh nhìn

đã muộn rồi lời yêu

đã muộn rồi bước chân

đã muộn rồi vết hằn nơi vầng trán.

Ai còn gọi chi lạc giọng giữa chiều.

(Không đề)

Đây là buổi chiều muộn của một tâm hồn còn nhiều trăn trở, của

một tâm hồn luôn luôn “xao xác trước ngày yên”, của một con người

mang một “nỗi lòng không xác thực”. Diện mạo bài thơ năm chữ thay đổi

nhiều qua bàn tay “nhào nặn” của Ý Nhi. Những khổ thơ bốn câu năm chữ

đã biến dạng thành nhiều hình thức khác: khổ ba câu, khổ bốn câu, khổ

một câu xen lẫn nhau. Câu thơ cuối cùng của khổ không còn năm chữ nữa

mà là bảy, tám chữ. Khổ thơ một câu, ba chữ “Ai còn gọi.” làm nên

khoảng lặng lắng sâu, im lìm như giọt nước mắt rơi, như giọt mưa trong

bể. Âm thầm mà khẩn thiết, đớn đau. Cách gieo vần thường thấy của thể

loại mà Ý Nhi hằng tuân thủ, nay đã không còn nữa. Chẳng còn vần, chỉ

còn nhịp nức nở, cam chịu, hư không.

Cách tân bằng cách xóa nhòa ranh giới thể loại, Ý Nhi liều lĩnh và

thành công!

2.3. Phong cách kết cấu

2.3.1. Kết cấu theo mô hình triết luận

Thơ nữ thường thiên về “duy cảm”. Ý Nhi không lựa chọn con đường đó,

bà chọn thơ “duy lí” mang tính biện giải, đút rút, chiêm nghiệm. Vì vậy nét nổi

bật làm nên phong cách thơ bà là tính triết luận. Những triết lí, luận giải trong

thơ Ý Nhi như đã đề cập thường không cao xa, khó hiểu mà gắn bó mật thiết với

đời sống, với những cái hằng thường mỗi ngày bà trải qua. Triết lí khi bắt gặp

màu xanh của chùm rau me đất; triết lí khi làm một bài thơ cho con, cho cháu,

cho bạn bè; triết lí khi xem đá bóng; triết lí khi xem xiếc rắn ở hồ Thuyền

Quang… Bất kì cảnh tượng, sự việc gì cũng được Ý Nhi soi chiếu ở một chiều

kích khác - chiều kích của trí tuệ - nó đòi hỏi người nghệ sĩ ngoài vốn sống còn

cần có chiều sâu của tri thức và liên tưởng.

Để tổ chức một bài thơ, Ý Nhi có một mô hình triết luận đặc biệt thường

xuyên xuất hiện và mang lại hiệu quả trong việc sắp xếp, tổ chức các yếu tố nghệ

thuật thành một chỉnh thể. Con đường như sau:

- Nhân vật, sự việc, hiện tượng được đặt trong hoàn cảnh, thời gian, không

gian.

- Lựa chọn hoặc kết hợp các bước nhận thức sau: tự vấn (hỏi), phán đoán,

khẳng định.

- Quá trình nhận thức được biểu đạt qua các phương tiện nghệ thuật (phép

tu từ): so sánh, phép điệp, đối lập-tương phản…

- Hiện hình thông điệp mang tính triết lí về con người và cuộc đời (trực tiếp

hoặc gián tiếp)

Đây là mô hình:

Người đàn bà ngồi đan là một ví dụ tiêu biểu:

Giữa chiều lạnh

một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã

nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời

vội vã như thể đó là lần sau chót.

Không thở dài

không mỉm cười

chị đang giữ kín đau thương

hay là niềm hạnh phúc

lòng chị đang tràn đầy niềm tin

hay là ngờ vực.

Không một lần chị ngẩng nhìn lên

chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt

hay sau buổi chia ly

Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu

trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng.

Giữa chiều lạnh

một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

dưới chân chị

cuộn len như quả cầu xanh

đang lăn những vòng chậm rãi.

Bài thơ Người đàn bà ngồi đan có một kết cấu độc đáo tiêu biểu cho mô

hình triết luận trong thơ Ý Nhi. Thông điệp triết lí mà Người đàn bà ngồi đan

gửi đến không được thể hiện trực tiếp trên văn bản mà được thể hiện gián tiếp

qua hình tượng.

Hình tượng người phụ nữ ngồi đan trong một buổi chiều lạnh đã làm chao

đảo thi đàn trong hai mấy năm qua. Người đàn bà đó bí ẩn có kém gì nụ cười của

nàng MonaLisa của Leonardo da Vinci. Khuôn mặt của chị là một bí ẩn, tâm hồn

của chị còn bí ẩn hơn. Chị được giới thiệu là “một người đàn bà” – có lẽ khoảng

hai mấy hay ba mấy tuổi. Công việc của chị là “đan” – dùng hai mũi kim dài để

kết nối các sợi len theo một quy tắc nhằm tạo ra những vật dụng giữ ấm cơ thể.

Người đàn bà đó được đặt trong thời gian là buổi chiều, trong không gian lạnh

lẽo (có lẽ của mùa đông) và cứ thế ngồi đan không biết đến bao giờ với nhịp đan

khi nhanh, khi chậm như “nhẫn nại”, như “vội vã”. Chị đang giữ điều gì cho

riêng chị?! Chị “không một lần ngẩng nhìn lên” cũng không có một hành động gì

kể cả “thở dài” hay “mỉm cười” để người khác có thể đoán biết được suy nghĩ.

Chị là ai?

Bắt đầu từ đây là một chuỗi những câu hỏi (tự vấn) và những phán đoán :

- Tâm trạng chị như thế nào?

- Cuộc đời chị có biến cố gì?

- Lòng chị đang chất chứa tâm sự gì?

Dường như có muôn vàn câu hỏi tác giả tự đặt cho mình và cho người đọc

về tâm trạng và cuộc đời của chị. Không thể nhận ra điều gì từ dáng vẻ “vừa

nhẫn nại vừa vội vã” kia, nhà thơ buộc phải suy đoán:

- đau thương >< hạnh phúc

- tin yêu >< ngờ vực

- những phút giây trước lần gặp gỡ >< những phút giây sau buổi chia ly

- hân hoan >< lo âu

- chán chường >< hy vọng

Những phán đoán của nhà thơ là những cực đối chiều nhau được thể hiện

bằng những từ ngữ mang tính đối lập-tương phản. Những phán đoán đối lập và

cực đoan này dường như làm người đàn bà kia thêm phần bí ẩn. Vì càng hỏi,

càng phán đoán lại càng vô vọng trong nhận thức. Hình ảnh “người đàn bà ngồi

đan” vì vậy càng có cơ hội tồn tại một cách day dứt và ám ảnh.

Hai câu đầu của khổ cuối nhắc lại hình ảnh “người đàn bà ngồi đan” với

không gian, thời gian giống y như lúc chị vừa xuất hiện (Giữa chiều lạnh/ một

người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ). Đó là cái kết của một ánh nhìn. Dường như

đến đây, các giác quan của chúng ta bắt đầu mệt mỏi, chúng bỏ cuộc trong hành

trình đi sâu vào trí não để tìm hiểu về khuôn mặt chị, tâm trạng chị, cuộc đời chị;

chúng chuyển hướng quan sát và nhanh chóng bắt gặp chiếc chìa khóa mở ra tất

cả. Chiếc chìa khóa là vật đang nằm ngay dưới chân chị - cuộn len xanh.

Thông điệp mang tính triết lý được thể hiện ngay ở hình ảnh so sánh này:

“Cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi”. Quả cầu tròn xoe,

nhỏ bé chuyên chở trong nó bao trắng đen của cuộc đời, bao may rủi của số

phận, bao điều yêu thương, bao nỗi tị hiềm, bao lần tin yêu, bao lần phản trắc…

Quả cầu chính là sự thu nhỏ của đời sống. Quả cầu chính là cuộc đời. Cái cuộc

đời đó quay chậm rãi, đều đặn trong sự điều khiển dịu dàng mà tinh tế của người

đàn bà ngồi đan trong một buổi chiều lạnh. Quả cầu chứa đựng muôn mặt của

cuộc sống, mỗi sợi tơ làm nên quả cầu chính là những sợi len làm nên chiếc áo

ấm, chiếc khăn ấm. Hai mũi đan có khác gì chiếc đũa thần làm nên điều kì diệu.

Và đôi bàn tay “nhẫn nại” và “vội vã” kia làm thay đổi tất cả, thay đổi cuộc đời.

Hình tượng kép: “Người đàn bà” – “Quả cầu xanh” vì thế vừa là tứ thơ

vừa là triết lý nhân sinh mà nhà thơ Ý Nhi đã dụng công sắp đặt làm nên cấu trúc

tuyệt vời của một văn bản ngữ văn. Tài hoa là ở đây - ở kết cấu văn bản theo mô

hình triết luận mà Ý Nhi đã nhiều lần thể nghiệm trước và sau đó.

Có thể đọc rất nhiều bài thơ của Ý Nhi theo mô hình kết cấu này. Chẳng

hạn như: Mùa thu chưa tới, Về Thái Nguyên, Cái chết của một nhà thơ, Người

bán rắn bên hồ Thuyền Quang, Một buổi chiều ở Praha, Thơ vui dưới hàng

cây cơm nguội, Theo dõi một trận đấu cờ vua, Lẽ phải, Trận đấu giã từ của

Olek Blokhin, Hà Nội, tháng 5.1987, Quán cũ…

2.3.2. Cách tạo khoảng lặng trong kết cấu thơ

Chủ nghĩa hình thức của Jakobson cho rằng: thơ là “sự quay trở lại”

(vertere, versus) và "câu thơ là sự trở về" (le "vers est "vers")[113;tr.197], nghĩa

là câu thơ luôn quay trở lại với nó bằng hiện tượng lặp lại một cách trùng điệp

các mặt ngữ âm, từ vựng, cú pháp, nhịp điệu… Các nhà thơ thường vận dụng

điều này để gây hiệu ứng âm thanh và nhạc điệu cho thơ của mình. Nó giúp tạo

sự rung động dìu dặt hoặc mạnh mẽ trong sự cảm nhận của người đọc, khiến họ

tò mò hoặc phấn khởi tham gia vào cuộc truy tìm“dòng chảy ngầm”. Tận dụng

điều này, nhà thơ “nội cảm” Ý Nhi đã tạo những khoảng trắng trên không gian in

thơ, khoảng lặng ngôn từ trong kết cấu bài thơ để biểu đạt ý niệm và nhạc tính

của thơ.

Ý Nhi có nhiều kiểu tạo khoảng lặng trong kết cấu tùy vào sự triền miên

hay dồn nén, dàn trải hay đứt đoạn, nhảy cấp hay liên tục của ý thơ. Sau đây là

những kiểu tạo khoảng lặng cơ bản trong kết cấu thơ của bà:

- Khoảng lặng của không gian văn bản: là biện pháp cơ bản và hữu

hiệu để tạo những không gian trống vô ngôn trong văn bản. Điều đó giống như

nhạc sĩ hạ một nốt lặng nhả hơi trong âm nhạc. Ở đây nhà thơ xuống hàng, bỏ

trống một không gian in thơ. Nói một cách dễ hiểu thì đây là việc phân chia khổ

thơ rất phổ biến trong thi ca xưa nay.

Ý Nhi cũng làm như vậy, nhưng đó không chỉ là cách bà phân khổ cho

bài thơ mà việc tạo một khoảng trống còn thể hiện dụng ý nghệ thuật. Như đã

phát hiện ở phần II.2.1 thì hầu hết mỗi khổ thơ của Ý Nhi đều là một câu thơ

được ngắt dòng nên đầu mỗi dòng các tiếng không được viết hoa, cuối mỗi dòng

không có dấu chấm câu mà phải đợi đến hết khổ mới có. Như vậy, việc tạo

khoảng lặng ở mỗi khổ chắc chắn mang trong nó một lượng thông tin nhất định.

Ta thử quan sát một bài thơ, bài Nhà văn Nguyễn Minh Châu chẳng

hạn:

Tự mình thức tỉnh

điều chỉ có nơi một lương tâm trong sạch.

Tự lìa bỏ

những giá trị đã một đời xây đắp

điều chỉ có nơi một người hoàn toàn mạnh mẽ.

Tự bước khỏi lối mòn

(cái lối mòn từng dẫn tới vinh quang)

Điều chỉ xảy ra với một tài năng.

Bừng sáng

giữa bao nhiêu ràng buộc, tối tăm.

Bừng sáng

giữa bao nhiêu hiềm khích.

Bừng sáng

Gương – Mặt – Người – Kêu – Gọi.

Bài thơ được chúng tôi chép nguyên văn bản in. Bài thơ có tất cả 6 khổ

thơ ứng với 6 câu thơ. Khổ 1 có 2 dòng, khổ 2-3 có 3 dòng, khổ 4-5-6 trở lại 2

dòng. Giữa các khổ là những khoảng trống. Vị chi toàn bài thơ chiếm hết 19

dòng trên không gian văn bản. Không gian đó có vẻ rộng hơn những gì cần nói.

Nhận xét về sự phân chia các khổ chúng ta thấy một sự bất cân bằng, theo

chữ dùng của Jakobson là “lệch đối xứng”. Điều này tạo nhiều liên tưởng:

+ bài thơ giống như một chiếc cân mà hai bàn cân không bằng nhau,

trục đỡ cũng có cảm giác khập khiêng;

+ hoặc bài thơ giống như một cái bập bênh mà một bên chịu sức nặng

hơn nên lúc nào cũng nghiêng hẳn về một phía;

+ hoặc bài thơ là một cái đòn bẩy mà một đầu hợp lực cùng giá đỡ để

nâng đầu kia có sức nặng hơn lên cao hơn chỗ mà nó đang đứng.

Liên tưởng cuối cùng có vẻ phù hợp với vị thế của “Gương – Mặt – Người

– Kêu – Gọi” Nguyễn Minh Châu nhất. Có được hiệu quả của sự liên tưởng

phong phú đó là nhờ những khoảng trống giữa các khổ thơ. Nó giúp tạo nên một

không gian rộng lớn để người đọc có thể để cho trí não của mình xoay chuyển

trong đó.

Giả sử nhà thơ ghép khổ 2 lại với khổ 3; các khổ 4-5-6 lại với nhau; bỏ đi

ba khoảng trống thì ý nghĩa thơ không thay đổi nhưng độ giãn nở của nó không

có, tính tăng cấp của hình tượng và yếu tố phân tích – khẳng định không còn

nữa. Và như vậy thì bài thơ đã mất đi quá nhiều cái mà nó đáng (cần) có.

Với những khoảng lặng vô ngôn đó, Ý Nhi đã nói được nhiều hơn những

gì cần nói, nghĩa là, nhà thơ không cần diễn giải gì cả mà các khoảng lặng ấy tự

nó sẽ cộng hưởng, tương tác với ý nghĩa của câu chữ để tạo nên một chỉnh thể

trọn vẹn, hoàn thiện bất ngờ. Đây chính là cách Ý Nhi thường dùng để xây dựng

kết cấu văn bản thơ sao cho thơ nói được nhiều nhất mà ngôn từ lại giản dị, ít gọt

giũa nhất, tiết kiệm nhất.

- Khoảng lặng ở đầu và cuối bài thơ: Ý Nhi có rất nhiều bài thơ được

kết cấu theo kiểu tạo khoảng lặng ở đầu bài thơ hoặc ở cuối bài thơ hoặc đôi khi

kết hợp cả hai (rất ít và không tiêu biểu). Điều đó tạo nên dấu ấn cho bài thơ

đồng thời cũng tạo nên một kiểu kết cấu mang tính cá biệt của Ý Nhi.

Những bài thơ được kết cấu theo kiểu tạo khoảng lặng ở đầu bài thơ như:

Về trung du tháng rét; Người lính; Sông Trà; Hải Phòng, tháng 11 năm 1979;

Vận động viên; Tiểu dẫn; Biển chiều… Đó thường là một khổ thơ ngắn khoảng

chừng hai, ba dòng. Về hình thức: chúng thường ít về số chữ, số dòng hơn so với

các khổ còn lại; về nội dung: chúng thường làm nhiệm vụ giới thiệu và khơi gợi

cảm xúc; về nhịp điệu: chúng thường nhanh, gấp, gãy gọn hơn so với nhịp điệu

toàn bài. Chúng thường nằm tách biệt khỏi hệ thống bài thơ. Có khi người đọc sẽ

quên nó ngay sau khi đọc và cảm nhận được nét đặc sắc trong nội dung, tư tưởng

của toàn bài. Nhưng giá trị nổi bật và đặc biệt của chúng chính là sự lập ý và gợi

tứ cho toàn bài thơ. Nói một cách ví von, chúng giống như những ngọn hải đăng

để đảm bảo sự vững vàng của ý và tứ thơ giúp nhà thơ định hướng được điều

mình sẽ giải bày nhằm tránh sự sa đà, điều rất hiếm gặp trong thơ Ý Nhi.

Những bài thơ được kết cấu bằng cách tạo khoảng lặng ở cuối bài thơ xuất

hiện dày đặc hơn hết, có thể kể như: Tìm về Chiêm Hóa, Mùa thu chưa tới, Về

Thái Nguyên, Mùa thu, Ngày thường, Cái chết của nhà thơ, Phố nắng, Theo

dõi một trận đấu cờ vua, Nhà thơ và cái hồ nhỏ, Tháng Chạp, Thơ tặng Êlêna,

Alma Ata, Trong mùa thu, Nguyện ước…Đó cũng thường là những khổ ngắn, ít

dòng nhất trong toàn bài nhưng hầu hết đều là những khổ thơ mang sức nặng về

tư tưởng, tình cảm.

Có khi là khổ thơ tổng kết bằng khẳng định, nhấn mạnh tình cảm cho bài

thơ: “Cánh cửa mở rồi anh đang đứng trước em/ như chẳng có một thời cách

biệt.” (Cánh cửa); “Bài ca về hạnh phúc/ Biết bé còn hát chăng.” (Gặp lại bé);

“Sau bao chặng đường, sau bao nắng mưa/ em đã tới một cánh rừng Chiêm

Hóa” (Tìm về Chiêm Hóa); “Con muốn có lời gì đằm thắm/ ru tuổi già của mẹ

tháng năm nay” (Kính gửi mẹ); “Cuộc hành trình đã đến hồi kết thúc/ ôi chặng

đường dài sao.” (Tưởng niệm họa sĩ Nguyễn Sáng)…

Có khi lại là triết lý, chiêm nghiệm: “Dẫu cho đêm yên lặng/ phía trước là

dòng sông.” (Phía trước là dòng sông); “Lòng chợt ước ao/ một tiếng gõ bất

thường sau cánh cửa” (Ngày thường); “Trên đường dài ta cùng đặt bàn chân/ ở

phía cuối con đường này là biển” (Trong mùa thu); “Nhưng đó là sự lựa chọn

của chính anh/ đó là số phận/ của người mở đường.” (Bay đêm); “Ra đi/ như

người đàn bà đi khỏi mối tình của mình.” (Nguyện ước)…

Khi khác thì tạo bất ngờ của sự trái chiều so với toàn bài, mở ra hướng

mới cho suy nghĩ và tình cảm: “Có những gì ở phía xa kia/ bao mùa thu đã đi

mãi còn một mùa thu chưa tới” (Mùa thu chưa tới); “Là vòm trời xanh dịu kia/

hay là cơn bão lớn, mùa thu.” (Mùa thu); “Trên cầu tàu/ anh ngoái nhìn biển

đang thẫm lại.” (Thuyền trưởng); “Chỉ còn giữa hai ta/ một lòng đường đầy

nắng” (Phố nắng); “Đôi khi/ chợt ứa tràn nước mắt” (Đôi khi)….

Ta nhận thấy rằng những bài thơ được kết cấu có những khoảng lặng

trong thơ Ý Nhi có ý nghĩa vô cùng lớn lao: vừa tạo được một thứ nhạc điệu

riêng hiếm có và mới lạ; vừa hỗ trợ đắc lực cho sự cất cánh của ý thơ. Bài thơ

nhờ những nét khai bút hoặc hạ bút ấy đã làm chấn động lý trí con người; làm

ngân rung, lan tỏa tình cảm trong tâm hồn con người.

Tiểu kết: Ý Nhi đã góp phần làm mới bộ mặt thi ca Việt Nam những năm

cuối thế kỉ XX bằng việc luôn tìm tòi và đổi mới. Để làm được điều đó, nhà thơ

cần phải có tài năng. Nhưng tài năng không phải là tất cả mà trên hết tài năng đó

phải có từ bên trong những con người đầy bản lĩnh. Ý Nhi nhận ra mình “đã qua

thời thanh xuân” và “dẫu chưa quên nhưng không thể hát bài hát cũ”; Ý Nhi đã

tự nguyện chọn thơ là sự nghiệp và chấp nhận mất trắng: “Thơ là một cuộc chơi

cần sự cá cược cả đời, đôi khi nhà thơ là người mất trắng… Tôi cứ cả nghĩ rằng

làm thơ rất cần đến kĩ thuật cao về sử dụng ngôn từ, nhưng cần hơn lại là một

bản lĩnh, là nội lực” [102]. Đặt trong không khí văn học Việt Nam những năm

sau chiến tranh và thời kì đổi mới, thơ Ý Nhi đã tạo được những dấu ấn rất riêng,

rất cá biệt trước hết ở bình diện ngôn ngữ, thể loại và kết cấu bằng bản lĩnh và

nội lực của mình. Ở chương 2 này, chúng tôi đã cố gắng chỉ ra và gọi tên những

nét độc đáo của Ý Nhi trên các bình diện đó.

Chương 3:

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT THƠ Ý NHI NHÌN TỪ

GÓC ĐỘ TRIẾT LUẬN VỀ CÁI ĐẸP VÀ ĐỜI SỐNG

3.1. Cơ sở nghiên cứu

3.1.1. Về khái niệm triết luận

Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói

chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm. Trước hết nó được hiểu khi

gắn với khái niệm "thơ trữ tình triết học" của Block, Schiller, Bretch, Rilke,

Baudelaire, Valéry, Claudel… Hay khái niệm "trữ tình trí tuệ" của các nhà thơ

Đức. Sau đó Arnauđốp bổ sung: "Vào thời cận đại, chúng ta ngày càng bắt gặp

nhiều hơn trong trữ tình những mô tip dắt dẫn ta vào vương quốc của các tư

tưởng. Như Ghugô nói, ở những chỗ lý tính thường không được thỏa mãn thì

cảm xúc ngày càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn, để tìm ra

được khoái cảm trong một điều gì đó chúng ta nhất thiết phải suy nghĩ tạo ra

một trong những nguyên nhân của tiến bộ đạo đức và thẩm mỹ" [2; tr.514]. Đến

đây chúng ta có thể hiểu, tính triết luận sẽ có được khi: cảm xúc của nhà thơ

thăng hoa trong lúc suy nghĩ, phân tích, giải thích, biện luận những vấn đề hiện

thực cụ thể mà nhà thơ trải qua. Như vậy triết luận là một yếu tố để cấu thành

nên văn bản văn học chứ không phải là toàn bộ nội dung của văn học.

“Triết” là triết lí, “luận” là bàn luận; “triết luận” có thể hiểu chung lại là

triết lí và bàn luận. Thông thường nhà thơ triết lí và bàn luận về những vấn đề

con người và xã hội. Chúng tôi hiểu thuật ngữ ở góc độ đơn giản này và cho

rằng: Cảm hứng triết luận là hứng thú được tranh luận, biện giải khi bắt gặp

những chất liệu cuộc sống, những vấn đề nhân sinh và xã hội gần gũi với những

chiêm nghiệm, suy tư lâu dài của nhà thơ, được nhà thơ sáng tạo thành các tứ

thơ.

Khi cảm hứng triết luận trở thành cảm hứng chủ đạo thì tác phẩm sẽ mang

hơi hướng của sự phân tích, biện giải và tính triết lí sẽ xuất hiện thường xuyên ở

các tác phẩm làm nên nét riêng của nhà thơ. Đến đây, nhà thơ nào có vốn sống,

vốn văn hóa, vốn triết học cao và biết vận dụng những vốn đó sáng tạo thì cảm

hứng triết luận sẽ định hình tư duy triết luận độc đáo làm nên phong cách riêng

của nhà thơ. Những nhà thơ như vậy thường được gọi trân trọng là “nhà thơ trí

tuệ” hay “nhà thơ triết lý”.

Với cách hiểu này, Ý Nhi là một nhà thơ như thế. Có thể nói, Ý Nhi là

một nữ nhà thơ đặc biệt và hiếm hoi của thơ đương đại Việt Nam theo đuổi con

đường thơ “duy lí” có phần gian nan, trúc trắc này. Các nhà thơ nữ Việt Nam

vốn trực tiếp và dai dẳng tiếp xúc với nền văn hóa thi ca bình dân giàu cảm xúc

và nặng yếu tố “duy cảm”. Vượt thoát khỏi điều này quả là một sự bức phá lớn

lao của nữ giới.

Ý Nhi đã làm được điều đó. Bà đã biết kết hợp tình cảm và lý trí để xây

dựng những nhân vật, tâm trạng, hình ảnh, … (có nguyên mẫu từ cuộc sống hằng

ngày) bằng ngôn ngữ, giọng điệu có tính triết lý nhưng vẫn đằm thắm, sâu sắc

yếu tố trữ tình, lãng mạn. Tính triết luận đã trở thành một trong những yếu tố

mang tính thi pháp trong sáng tạo nghệ thuật của Ý Nhi. Ở đó bà chú trọng đến

chất thơ và hình thức thích hợp để truyền tải thông điệp mang những tư tưởng,

triết lý. Từ đây bà lôi kéo người đọc vừa phải rung động tâm hồn vừa phải vận

động trí tuệ để cảm thụ và suy nghĩ một cách tự nguyện, say mê.

Tính triết luận vì thế đã trở thành “đặc sản” trong thơ Ý Nhi. Nó là một

phần phong cách thơ của bà. Ở chương này, chúng tôi sẽ tìm hiểu yếu tố triết

luận của Ý Nhi như một nét đẹp trong phong cách của bà thông qua những suy

nghĩ của bà về những vấn đề liên quan đến cái đẹp và đời sống.

3.1.2. Xung quanh vấn đề cái đẹp và đời sống trong thơ Ý Nhi

Cái đẹp là phạm trù thẩm mỹ có vị trí cơ bản và trung tâm trong hệ thống

các phạm trù thể hiện đối tượng thẩm mỹ gồm cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, cái

thấp hèn, cái bi, cái hài, cái hùng, v.v…Vị trí đó được bộc lộ trước hết ở chỗ:

người ta có thể dùng các thuộc tính cơ bản của cái đẹp để xác định bản chất các

phạm trù thẩm mỹ khác. Bên cạnh đó, nó còn đặc biệt được bộc lộ trong hình

thái biểu hiện cao nhất của mối quan hệ thẩm mỹ là nghệ thuật. Cái đẹp bao giờ

cũng là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật, của những nghệ sĩ chân chính. Cái

đẹp khách quan và tư tưởng, tình cảm đẹp bao giờ cũng là khát vọng biểu hiện

của nghệ thuật chân chính xưa nay. Tác phẩm nghệ thuật luôn luôn đòi hỏi một

vẻ đẹp hoàn thiện từ hình thức đến nội dung. Nói tóm lại, nghệ thuật là nơi cao

nhất tập trung mối quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực và nghệ

thuật sẽ “chết yểu” nếu xa rời hoặc bỏ rơi cái đẹp.

Người nghệ sĩ là chủ thể sáng tạo cái đẹp trong nghệ thuật nên họ là

những người đầu tiên quan tâm và thể hiện cái đẹp theo tiêu chí, quan niệm thẩm

mỹ của họ. Cho nên từ xưa đến nay có không biết bao nhiêu người phát ngôn về

cái đẹp. Và hầu như những ai là nghệ sĩ đều trang bị cho mình một hành trang

nặng trĩu những suy tư, trăn trở về cái đẹp trong đời sống cũng như trong nghệ

thuật. Cái đẹp vì thế trở thành một yếu tố không thể thiếu mà còn trở đi, trở lại

đều đặn, dày đặc trong cảm thức, cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ.

Trong cảm quan về cái đẹp và nghệ thuật như vậy, Ý Nhi đã không ít lần

thể hiện quan niệm của mình về cái đẹp thông qua việc triết lý ở các trang thơ.

Từ đây chúng ta nhận ra được quan niệm thẩm mỹ nhân văn và sâu sắc của bà.

Chúng ta dễ dàng nhất trí với nhau rằng, dù có nhiều điều thay đổi nhưng

cũng có những thứ tồn tại gần như là bất biến trong dòng chảy liên tục, bất ngờ

của đời sống (trong đó có đời sống văn học). Một trong những cái bất biến thuộc

về nguyên lý ấy là mối quan hệ không thể tách rời giữa văn chương và đời sống

của nhân dân và thời đại mình. Đơn giản vì con người (trong mối quan hệ với xã

hội) sinh ra văn chương là để thỏa mãn nhu cầu tinh thần của chính mình nên

văn chương không thể ngoảnh mặt lại với con người và đời sống xã hội loài

người. Đó là con đường duy nhất để dẫn văn chương đến với đời sống và ngược

lại, đời sống đi vào trong văn chương.

Sự hoàn thiện phong cách của Ý Nhi qua mỗi tập thơ một phần là nhờ

những “cú hích” khách quan của thời đại, của đời sống con người và xã hội Việt

Nam những năm sau giải phóng. Đồng thời, đời sống xã hội đi vào thơ Ý Nhi

nhẹ nhàng như hơi thở với sắc diện thâm trầm nhưng đa chiều, đa diện. Ý Nhi

làm mới mình bằng cách sử dụng yếu tố triết luận như một phương tiện nghệ

thuật hữu hiệu để thể hiện những suy nghĩ, những trải nghiệm của bản thân về

đời sống với muôn mặt thường ngày của nó. Qua những thể hiện ấy, chúng ta

nhận ra Ý Nhi là một “nhà thơ luôn mong muốn … khám phá sắc sảo đối với tất

cả các góc cạnh của cuộc sống” [86] với cái nhìn nhìn sâu sắc và nhân văn.

3.2. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi nhìn từ góc độ triết luận về cái đẹp

3.2.1. Triết luận về cái đẹp khách quan

Thế giới tự nhiên (với nghĩa khái quát nhất) dù thể hiện dưới hình thức, sự

vật, hiện tượng, hệ thống vật chất cụ thể khác nhau thì nó luôn ở trong trạng thái

vận động, biến đổi không ngừng; đồng thời nó tồn tại khách quan độc lập với ý

thức của con người. Chẳng hạn như: một bông hoa nở rực rỡ trong buổi ban mai

tinh khiết, hay một giọng nói dịu dàng cất lên giữa những tạp âm, hay một câu

Kiều: “Cỏ non xanh tận chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.”… tự

bản thân nó trước hết đã là cái đẹp. Còn đẹp như thế nào, đẹp đến mức độ nào,

tại sao đẹp lại là những vấn đề khác. Ở đây chúng tôi muốn nói đến thuộc tính

tồn tại khách quan, không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con

người mà cái đẹp tự nhiên nói chung và cái đẹp nghệ thuật nói riêng sở hữu. Nói

như nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà trong Văn chương, thẩm mĩ và văn hóa thì:

“Chúng ta không hề khuếch đại mặt bản năng của nghệ thuật, …Thừa nhận nó ở

một mức độ nào đó chính là khẳng định vai trò của nhân tố khách quan trong sự

đánh giá thẩm mĩ. Cái đẹp không chỉ là sản phẩm của ý thức, chỉ tồn tại trong

phán đoán thẩm mĩ của con người. Cái đẹp có cơ sở khách quan trong những

thuộc tính tự nhiên nào đó của bản thân sự vật.”[110; tr.256-267]

Ý Nhi triết luận về cái đẹp khách quan với các hình thức tồn tại sau:

3.2.1.1. Cái đẹp là cái đơn giản, tự nhiên, thuần khiết

Tự nhiên, đơn giản, thuần khiết tuy là ba từ nhưng cùng thể hiện một ý

niệm chung về cái đẹp của sự vật. Người Nhật dùng từ ghép Wabi Sabi để chỉ ý

thức, cảm nhận về cái đẹp tự nhiên, thuần khiết, đơn giản. Đó là cái đẹp không

phô trương mà cần sự quan sát, chú ý mới cảm nhận được. Ba từ của tiếng Việt

và từ ghép trong tiếng Nhật cùng chỉ những sự vật, những trạng thái đơn giản,

hoang sơ, truyền thống nhưng không vĩnh viễn. Nó cũng nhằm thể hiện cuộc

sống trong tính chân thực như nó vốn có nhưng không ngừng phát triển và hoàn

thiện hơn nữa. Đó là cái đẹp Ý Nhi hướng tới.

Ý Nhi thường dùng khả năng quan sát tinh tế của mình để nhận ra những

cái đẹp như thế. Bà miêu tả nhị hoa trong vẻ đẹp chỉ có “ong” mới thấy để mà

nhầm lẫn hân hoan:

Đi suốt triền núi xa

hái đôi nhành “mảnh bát”

mưa đọng đầy nhị hoa

cho ong ngờ là mật.

(Mưa dạo tháng Mười)

Không dừng ở việc phát hiện cái đẹp tự nhiên, đơn sơ, thuần khiết trong

thiên nhiên, Ý Nhi cũng thường ngẫm nghĩ đến cái đẹp ấy trên đường đời:

Nắng trên đường, mây gió tháng năm qua

bước thành bại giữa đường nhiều xoay trở

như đã xa, như chưa bao giờ có

chỉ còn màu nước biếc đến muôn khơi.

(Biển)

Những hình ảnh thiên nhiên truyền thống: “nắng”, “mây”, “gió” được nhà

thơ đưa vào thơ để thể hiện sự đổi thay, “xoay trở” của “thành bại” trên con

đường đời nhiều chông gai, trắc trở. Nhưng rồi mọi thứ cũng sẽ qua, rồi cũng

đến lúc người ta biết quên những gì không cần nhớ (“như đã xa, như chưa bao

giờ có”). Bởi vì, có một cái gì lớn lao, khoáng đạt hơn đang chờ chúng ta ở

trước. Hình ảnh cuối cùng nhà thơ thấy được sau chuyến đi dài nhiều vất vả là

màu nước xanh biếc trải đến muôn khơi. Đó là hình ảnh thiên nhiên mang vẻ đẹp

“Wabi Sabi” – điểm dừng cuối cùng mà nhà thơ hằng ao ước. Cái đẹp đơn giản,

tự nhiên, thuần khiết mở ra để khép lại một suy nghiệm, một bài học đi đường

mà nhà thơ dành cho mọi người.

3.2.1.2. Cái đẹp là cái gắn với những giá trị tinh thần cao quý trong

cuộc sống

Giá trị tinh thần là phạm trù ý thức hệ rộng lớn của cộng đồng người mang

tính tích lũy và truyền thống. Giá trị tinh thần là nội dung cơ bản của văn hóa,

tạo nên các giá trị văn hóa cũng như tầm vóc văn hóa cho cộng đồng. Ở đây

chúng ta hiểu giá trị tinh thần ở mức độ đơn giản nhất là những gì tốt đẹp trong

phẩm chất cá nhân và cộng đồng.

Yêu quê hương, đất nước là một giá trị tinh thần được bồi đắp trong suốt

tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Tình yêu đất nước được Ý Nhi thể hiện

vô cùng giản dị trong thơ. Đó có thể là một lần nhà thơ“chỉ nghe ào ào tiếng gió/

biết mình đang ở Tuy Hòa ” (Qua Tuy Hòa), hay lần khác nhà thơ thấy “lòng

cảm động nghẹn ngào trước đất/ đất khổ nghèo cay cực miền Trung” (Biển miền

Trung). Nhà thơ thường hay cảm động trước sắc trời quê hương, yêu tha thiết

những vùng đất đã đi qua và chưa bao giờ tới. Nơi nào trên dải đất hình chữ “S”

cũng là nơi gắn bó thân thiết với bà nên bà hay làm thơ về các địa danh như là để

lưu dấu một kỉ niệm, một cái tên (Biển miền Trung, Qua Tuy Hòa, Tìm về

Chiêm Hóa, Nhớ Hải Phòng, Cà Mau, Sông Trà, Quảng Bình…)

Là người trải qua những thời khắc khốc liệt của chiến tranh, Ý Nhi suy

nghĩ và trân trọng vô cùng hai tiếng tự do. Bà hân hoan trong ngày giải phóng:

Đêm bình yên gió thổi xanh hàng cây

Hà Nội vào hè vị chua trái sấu

ôi Đất nước niềm vui không thể giấu

nước mắt, nụ cười, tiếng hát chúng ta đây.

(Mặt trời tháng Tư)

Càng thiết tha yêu quê hương đất nước bao nhiêu bà càng cố lý giải ý

nghĩa của tự do bấy nhiêu. Ý Nhi đã nhiều lần suy nghĩ về giá trị của hai chữ “tự

do” :

Đó không phải là cách một người đói hiểu giá trị của bữa cơm

một người ốm quý trọng thuốc

cũng không giống như kẻ bất hạnh luyến tiếc tình yêu.

(Tự do)

Bằng ngòi bút triết luận như là một cố tật Ý Nhi thể hiện sự trăn trở về ý

nghĩa của từ “tự do”, và như vậy Ý Nhi càng trân trọng những người đã hy sinh

vì hai tiếng đó :

Có thể rất nhiều người trong số họ

không còn tuổi tên trên sử sách

có thể họ đã chết bình thường, không chiến công hiển hách

có thể mai sau người ta dần quên

nhưng họ đã thành hạt cát dưới bàn chân

thành miền đất chói ngời bên biển sóng.

(Cát 2)

Đối với Ý Nhi, họ đã trở thành hạt cát bất tử, sống mãi cùng đất trời. Đó

là những hạt cát lưu giữ những giá trị tinh thần lớn lao của toàn dân tộc. “Hạt cát

dưới bàn chân” đã được bà nâng thành biểu tượng của cái đẹp tinh thần quý giá.

Nhớ về những gì đã qua, những người đã khuất dường như là thói quen

của Ý Nhi. Với người Việt đó là một biểu hiện của giá trị tinh thần, một nét đẹp

văn hóa. Ý Nhi thương nhớ cô bạn tên Nguyệt Lệ đã “ra đi không về nữa” bằng

một sự chờ mong, ngóng đợi vô vọng mà thiết tha: “Chiều nay mình trở về/ căn

nhà xưa của Lệ/ tưởng chỉ sau ô cửa/ là chúng mình có nhau” (Với Lệ). Hay ở

Sài Gòn mà hằng năm vẫn thắp nén nhang tưởng niệm họa sĩ Bùi Xuân Phái xa

tận thủ đô (Khóc bác Bùi Xuân Phái). Khi lớn tuổi, Ý Nhi rất thích tìm về

những nét đẹp của tín ngưỡng dân gian: thờ thần, tin tưởng vào sự linh thiêng

của trời đất nên bà khấn nguyện trời đất sự sum vầy, bình an (Trung thu, Ngày

mồng một..).

Ý Nhi hay tìm cái đẹp trong những mối tình đích thực. Đó là mối tình mà

người đến với người bằng sự đồng cảm, sẻ chia như mối duyên muộn của anh

lính mù và cô gái truân chuyên ở bài Hai người. Hay mối tình dịu dàng, say

đắm, vị tha của một người đàn ông gửi cho người tình đơn phương tên Lili trong

bài Đọc một bài thơ tình. Tình yêu là cái đẹp mang giá trị tinh thần to lớn, nó

đòi hỏi người trong cuộc phải có những phẩm chất cơ bản để biết nhận diện và

nuôi dưỡng nó. Ý Nhi chỉ dạy con trai những bài học đầu tiên để có được tình

yêu thật sự của mình:

Tình yêu sẽ chờ con sau tháng năm kia

khi đón gặp xin con đừng hờ hững

chỉ một chút yếu hèn toan tính

con có thể lạc đi hạnh phúc suốt đời mình.

(Trò chuyện)

Những giá trị tinh thần làm nên cái đẹp cho người và cho đời vốn đã rất

đáng quý. Khi được Ý Nhi đưa vào thơ với một chút suy tư, triết lý chúng càng

trở nên sâu sắc hơn, giá trị của chúng trở nên lớn lao hơn. Chúng ta nhận thấy đó

không chỉ là cái đẹp thông thường nữa mà dường như được nhà thơ đưa lên tầm

« tín ngưỡng »: tín ngưỡng văn văn hóa, tín ngưỡng tình thương…

3.2.1.3. Nhân cách nghệ sĩ là một phạm trù của cái đẹp khách quan

Nói đến nhân cách nghệ sĩ là nói đến đạo đức, lối sống của người nghệ sĩ.

Nghệ sĩ có nhân cách là nghệ sĩ có đạo đức, có lối sống đúng chất nghệ sĩ, theo

kiểu “Anh là họa sĩ, anh hãy vẽ đi!”. Chính điều đó làm nên vẻ đẹp của người

nghệ sĩ mà không cần ai phải bình phẩm hay đánh giá.

Với Ý Nhi, nhân cách nghệ sĩ trước hết là ở lương tâm của họ đối với

nghệ thuật, đối với cây cọ, ngòi bút của mình:

Là nhà văn thì phải:

Dù chỉ một lần bước đi trên cát nóng

chỉ một lần thấu hiểu khúc ca kia

suốt đời tôi chẳng thể bao giờ

đặt bút viết những điều dối trá.

(Bài ca)

Ý Nhi viết về Hàn Mặc Tử:

Những câu thơ Hàn Mặc Tử

không có gì để tô vẽ

không biết đến ghẻ lạnh hay vồ vập

bốn mươi năm còn xanh ngời màu lá trúc

qua khuôn mặt thời gian.

(Viếng mộ Hàn Mặc Tử)

Là họa sĩ thì phải:

Đến gần cái đẹp

đến gần các nguyên mẫu

không ràng buộc, không tô vẽ.

(Họa sĩ)

Nghệ sĩ chân chính không bao biện, không giấu giếm, không đánh lừa

công chúng. Nghệ sĩ cũng không để bản thân bị ràng buộc bởi những bận tâm,

những ham muốn đời thường. Cái đẹp của người nghệ sĩ là làm đúng lương tâm

nghề nghiệp của mình.

Nhân cách nghệ sĩ còn gắn với việc dốc lòng phụng sự nghệ thuật. Nghĩa

là người nghệ sĩ phải luôn tâm niệm mình là người lữ hành đơn độc trên hành

trình tìm tòi và sáng tạo. Sáng tạo là bản chất của nghệ thuật. Apôline khẳng

định: “Thơ và sáng tạo chỉ là một”. Biêlinxki thì nói: “Tính nghệ thuật là sự sáng

tạo”. Chỉ có sáng tạo mới làm nghệ sĩ tỏa sáng. Vậy nên Ý Nhi ngưỡng mộ

Nguyễn Minh Châu:

Tự bước khỏi lối mòn

(cái lối mòn từng dẫn đến vinh quang)

Điều chỉ xảy ra với một tài năng.

(Nhà văn Nguyễn Minh Châu)

Chị rất trân trọng những người tự “bước khỏi lối mòn”, tự “biết đứng về

một phía” vì ở họ đã hội tụ cái đẹp của cả tài năng và nhân cách. Học từ họ, Ý

Nhi tự răn mình: “Tôi đã qua thời thanh xuân/ dẫu chưa quên không thể hát bài

hát cũ” để có thể đến với cái đẹp đó.

Những người nghệ sĩ biết dồn tâm sức cho công việc sáng tạo chính là

những người có nhân cách. Chỉ cần điều đó thôi đã khiến họ trở nên thật cao cả

trong mắt mọi người. Ý Nhi ngưỡng mộ điều đó và đối với bà đó là cái đẹp hiển

nhiên và cao quý.

3.2.2. Triết luận về vẻ đẹp của thiên chức nghệ sĩ

Bên cạnh việc phát hiện những nét đẹp có tính khách quan trong nhân

cách nghệ sĩ. Ý Nhi cũng thường nhận ra và bàn luận về những thiên chức của

người nghệ sĩ. Đó là những cái thuộc về bản năng trời phú riêng cho giới làm

nghệ thuật. Ý Nhi luận về nó khá sắc sảo.

3.2.2.1. Nghệ sĩ là người luôn có nhu cầu tạo ra những rung động cảm

xúc (cho bản thân và độc giả)

Cảm xúc là: “Trạng thái tình cảm mãnh liệt xảy ra đột ngột trong một

thời gian ngắn và gây xáo trộn trong sinh hoạt sinh lý cũng như trong sinh hoạt

tâm lý.” [24;tr.96]. Vậy chúng ta hiểu cảm xúc là những rung động tình cảm, hay

những xúc động tình cảm mạnh mẽ gây xáo trộn và chế ngự toàn bộ hoạt động

của cơ thể và tâm lý con người. Đây là cơ chế hoạt động thần kinh tất yếu của bộ

não người. Mọi người ai cũng có cảm xúc, nhất là khi các giác quan của họ bị tác

động bởi những rung động cảm xúc từ phía người khác. Như vậy, cảm xúc có

tính lây lan.

Với người nghệ sĩ, cảm xúc là một cấu tạo tâm lý xuất hiện với tần số cao,

có tính chất thường xuyên trong cuộc sống họ. Cùng với việc tiếp nhận thế giới

hiện thực thông qua quá trình nhận thức (tri giác) thì cảm xúc của người nghệ sỹ

cũng được trải nghiệm. Chính vì có sự trải nghiệm (cùng lúc) này mà người nghệ

sỹ luôn luôn có đam mê, có những khát vọng cháy bỏng tạo nên động lực bên

trong, thôi thúc họ thể hiện vào trong tác phẩm của mình. Vậy nên cảm xúc đối

với người nghệ sĩ một mặt là sự xúc động tự nhiên đối với thế giới, một mặt là

nhu cầu tự bên trong thôi thúc họ.

Ý Nhi là nghệ sĩ và bà thường xuyên đón nhận mọi cung bậc cảm xúc bất

ngờ, tự nhiên xuất hiện. Có khi ngạc nhiên và vui sướng được nhìn thấy “ruộng

bèo như thảm dệt/ mưa long lanh ngọc trai” (Mưa dạo tháng Mười); có khi lại

lo âu “trước chiếc lá chợt ánh vàng/ trước ngọn gió may/ và đường chân trời

xám bạc” (Mùa thu); khi khác lại để cho “lòng se lại trước mùa đông”; và đôi

khi không hiểu vì sao mình lại khóc: “đôi khi/ chợt ứa tràn nước mắt” (Đôi

khi)…

Ý Nhi luôn để cho những rung động “làm phiền” và vui mừng vì điều đó.

Cho nên bà không bao giờ tìm cách ngừng rung động cả, lúc nào Ý Nhi cũng

mong tâm hồn mình được như dòng sông kia, luôn luôn xào xạc, luôn luôn cuộn

chảy: “tôi mong sao trong cuộc đời mình/ dòng sông mãi xạc xào, cuộn chảy”

(Sông)

Với nhà thơ những cảm xúc như đã có sẵn từ lâu rồi trong kí ức, trong

tiềm thức, chỉ cần đợi đúng lúc thì sẽ tràn ra:

Cho đến buổi chiều đầy hoa cúc và gió may

khi chờ anh

giữa phố phường Hà Nội

em mới hiểu rằng em đã chờ anh tự thuở xa nào.

(Ký ức)

Và ta biết dường như chừng nào trái tim còn rung động thì người nghệ sĩ

vẫn còn là chính mình, vẫn còn làm đúng thiên chức của mình. Đó là nhận về

những rung động, xúc cảm từ cuộc sống và đem tặng đời những rung động, xúc

cảm từ trang thơ. Điều đó vừa là tự nhiên, vừa là nhu cầu của nghệ sĩ. Đó là

thiên chức của nghề, nó giống như một người yêu đem cho một người yêu những

gì mình có thể có trong đời:

Anh đã đem cho, tâm hồn anh

anh đã đem cho cuộc đời anh

nhưng mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây

anh còn muốn cho cô, những gì anh có thể có trong đời.

(Quà tặng)

Chính nhu cầu lớn lao và vĩnh viễn đó của người nghệ sĩ đã làm nên nghệ

thuật, giúp nghệ thuật lay động con người. Giả sử nhà thơ làm một bài thơ vô

cảm, họa sĩ vẻ một bức tranh vô hồn thì làm sao người đọc có thể bị lay động

được, làm sao gợi lên được những xúc cảm nghệ thuật được. Nếu như vậy thì

nghệ thuật sẽ đóng băng mất. Vậy nên Tônxtôi nói: “Sự hoạt động của nghệ

thuật chính là dựa trên cái khả năng những người này bị lây cảm xúc của những

người khác...Những cảm xúc hết sức đa dạng, rất mạnh mẽ và yếu ớt, rất có ý

nghĩa và rất nhỏ nhặt, rất xấu xa và rất tốt đẹp, chỉ cần chúng lây lan sang được

độc giả, khán giả, thính giả sẽ làm nên đối tượng của nghệ thuật”[100].

Vậy thì, bạn là nhà thơ, hãy làm nên những bài thơ có sức quẫy cựa để tạo

ra sóng :

Rồi một ngày kia, có một câu thơ

lan tỏa như sóng

quẫy cựa như sóng

trắng xóa

và xanh biếc.

(Tặng một người làm thơ trẻ)

3.2.2.2. Nghệ sĩ là người luôn trắc ẩn với những vẻ đẹp ở đời

Nghệ sĩ là người luôn để tâm hồn mình bị lay động. Nhưng hơn nữa nghệ

sĩ còn tự thôi thúc mình hãy đi tìm những rung động, nhất là trước những gì

mong manh, bé nhỏ, khó nhận biết trong đời. Ở đây chúng tôi muốn nói đến tính

chủ động đi tìm cái đẹp của người nghệ sĩ. Vì chủ động tìm kiếm những rung

động nên tâm hồn nghệ sĩ vốn không yên lại thêm nhiều lần không yên, thêm

nhiều lần trắc ẩn.

Dường như rất lâu rồi ta không thấy lòng mình rung động. Tâm hồn đã

chai sạn rồi sao ? Tâm hồn đã chết. Nhưng ta vẫn tồn tại. Nghệ sĩ không như thế,

khi tâm hồn chết, họ không còn lý do để tồn tại. Họ không còn là nghệ sĩ. Ý Nhi

là nghệ sĩ, bà sợ nhất là những cái chết của tâm hồn. Vậy nên có lần thấy mình

vẫn có thể khóc trước một chiều xuân, bà hổ hởi khóc cho thỏa thích :

Đã từ lâu lắm

tôi mới lại khóc

như đứa trẻ dại khờ

trước bông hoa vàng trên cỏ

Đã từ lâu lắm

tôi mới lại khóc

như một người từng trải

trước sự chia lìa không sao cưỡng nổi.

(Chiều xuân)

Khóc được như “đứa trẻ dại khờ” nhìn thấy “hoa vàng trên cỏ”, như

“người từng trải/ trước sự chia lìa” là niềm ước ao của Ý Nhi. Chỉ khi đó bà biết

rằng mình vẫn còn là mình, chưa là ai khác. Vốn sống khép kín, Ý Nhi tự nhận

mình ít bạn vì ít giao du :

Tôi rất ít bạn

đôi khi tôi mất họ vì một lẽ nào đó

ngoài 30 tuổi tôi không tìm thêm bạn mới

và không thường giao du với các đồng nghiệp.

(Tiểu dẫn)

Vậy nên có lẽ niềm vui lớn nhất của bà là cảm nhận được lòng mình rung

động. Ý Nhi hay trốn vào một góc của riêng mình :

Tôi làm ra bài ca

tự mình tôi hát

tự mình khổ đau

tự mình hạnh phúc

tôi một mình lặng lẽ bước tới trùng khơi.

(Gửi một người bạn đọc)

Ở nơi riêng tư đó bà được sống như mình muốn, được hát, được đau khổ

được hạnh phúc, được tự mình đi tới trùng khơi, được hòa nhập với những điều

lớn lao và mạnh mẽ. Trốn vào trái tim mình chính là cách người nghệ sĩ nuôi

dưỡng tâm hồn. Nhờ vậy mà họ dễ dàng rung động trước những cái đẹp mong

manh ở đời và thường nảy sinh những cảm xúc trái chiều thể hiện những trắc ẩn

thường trực, cố hữu mà người thường không dễ dầu có được. Điều đó Ý Nhi tự

gọi là : “nỗi lòng không xác thực”

Tôi thường đợi mùa thu với nỗi lòng không xác thực

vừa hân hoan vừa ưu phiền

vừa mong ngóng vừa ngại ngùng

như tôi đang đứng trước cuộc hẹn hò

với linh cảm, điều lớn lao sẽ xảy ra trong thời khắc ấy.

(Mùa thu)

Tính thiếu rõ ràng trong tâm trạng là biểu hiện của sự rung động mới lạ

và tinh vi. Mùa thu vì thế càng trở nên mong manh và khó nắm bắt. Đó không

còn là “thu quyến rũ ”, “thu vàng”, không còn là “buồn chiều thu” hay “thu vui

trở lại” mà là “mùa thu không xác thực”, mùa thu của nỗi lòng Ý Nhi.

Ý Nhi có rất nhiều những rung động mong manh và tinh tế như thế.

Những rung động đó không bao giờ là của riêng cảnh vật mà còn là những biểu

hiện tinh thần trắc ẩn của nhà thơ. Chẳng hạn: “Mây không yên, vòm trời áy

náy”, “Chuông khắc khoải đồi cao/ chuông kêu bạt gió”, “mưa mong manh như

tơ nhện trong chiều”… Hay những rung động tinh vi và giàu nội cảm trước

những hạt mưa:

Rồi một lần

em thấy cơn mưa rắc hạt xuống khoảng sân

nếu hạt nảy mầm

sẽ có lá trong suốt

nếu mầm thành cây

sẽ có nhánh cành trong suốt

nếu cây đơm hoa

sẽ có cánh mềm trong suốt

nếu hoa tụ quả

ta sẽ có những hạt trong ngần như nước mắt.

(Chuyện kể)

Đó là quá trình hình thành những giọt nước mắt. Những giọt nước mắt có

nguồn gốc từ trong trời đất, được kết tinh từ những tinh hoa. Giọt nước mắt

mong manh được chưng cất từ những gì trong suốt, tinh khiết nhất trong đời. Đó

là lý lẽ, là nguyên do để nó tồn tại. Nước mắt là tâm hồn, là cảm xúc và nó tồn

tại đơn giản vì mang trong mình mầm mống của sự tinh khôi, của tự nhiên thanh

cao mà vĩ đại.

Sự rung động, lòng trắc ẩn là một vẻ đẹp của tâm hồn nghệ sĩ. Vậy nên

người nghệ sĩ đừng bao giờ để cảm xúc lụi tàn, hãy trân trọng tâm hồn như trân

trọng những giọt nước mắt tinh khôi, cao quý.

3.2.2.3. Nghệ sĩ là người mãi dấn thân trên con đường sáng tạo

Người nghệ sỹ khác với người bình thường ở khả năng thiên bẩm trong

quan sát, tái hiện và sáng tạo. Trong đó, sự cảm thụ, rung động, nắm bắt để đi

đến sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sỹ là một sự thai nghén, cất giấu âm

thầm để đến một lúc nào đó bừng tỉnh. Nghĩa là ở mọi lúc, mọi nơi nghệ sĩ luôn

mang trong mình sự “day dưa” thầm kín với thế giới xung quanh. Sự “day dưa”

đạt đến một mức độ nào đó sẽ tạo ra một nhận thức bất chợt giúp nghệ sĩ cảm

thụ hoàn hảo thế giới dựa trên việc khám phá chiều sâu bản thể của nó. Điều đó

giống như một phép màu trong hành trình chiếm lĩnh thế giới một cách trọn vẹn,

có chiều sâu và đầy cá tính của người nghệ sĩ. Đó là con đường sáng tạo nghệ

thuật.

Ý Nhi hay nói về con đường này. Đó có thể là con đường có“nguồn sáng

mặt trời chảy như xối”, con đường dẫn đến “cát bạt ngàn” hay con đường mọi

dòng sông đều “đi tới biển”, … mà Ý Nhi thường nhắc trong thơ.

Con đường đó thường dài. Họa sĩ Nguyễn Sáng tính “từng ngày/ từng

tháng/ từng mùa/ từng năm trôi qua”. Và khi đến hồi kết thúc mới nhận ra “ôi

chặng đường dài sao.” (Tưởng niệm họa sĩ Nguyễn Sáng)

Đó là con đường có nhiều bất trắc mà người làm thơ trẻ bước vào và nhận

ra mình đang bắt đầu một trận đấu:

Anh đã bị dẫn trước

Đã bị đá vào kheo chân

Đã bị xô ngã từ phía sau

Từ khi bắt đầu trận đấu

Giữa anh với cuộc đời.

(Tặng một người làm thơ trẻ)

Đến nỗi tài năng như Nguyễn Du, trải đời như Nguyễn Du mà khi tiếp tục

bước đi trên con đường đó cũng còn thấy mới mẻ như bước vào mê cung khiến

lòng kinh sợ:

Ta bước giữa những con đường mới

những đền đài mới

lòng kinh sợ

như đứa trẻ đi trong mưa lạc lối.

(Nguyễn Du,1813)

Thế nhưng không ai bỏ cuộc! Dù đường dài nhiều bất trắc, dù phải đối

đầu hay kinh sợ thì người nghệ sĩ vẫn tiếp tục đi cho đến cuối cùng sự lựa chọn

của mình.

Nguyễn Du không bỏ cuộc, khi đường đã quá dài, trời đã về chiều, “bạn

bè cũ đã cáo quan/ ăn măng trúc măng mai ngồi câu bên sông vắng”, “bạn gái

ngày xưa nay tay dắt, tay bồng” thì người nghệ sĩ chân tài ấy vẫn “chờ đợi”, vẫn

“mong mỏi” một điều gì chưa đến được. Để rồi hai trăm năm qua, nhân loại vẫn

nghiêng mình ngưỡng mộ ông.

Nhà thơ trẻ cũng không bỏ cuộc, anh:

mặc kệ cho người ta chen chúc

mặc kệ cho người ta quay theo vũ điệu tân thời

mặc kệ giấc mơ danh vọng của bọn háo danh

mặc kệ giấc mơ vàng của đám nhà giàu

anh đã gạn lại giọt nước từ trong bùn bẩn, từ đau thương cùng quẫn”

để một ngày kia “có một câu thơ”.

Nguyễn Sáng cũng đã đi hết con đường dài với “Bông sen/ Người thiếu

nữ”.

Và Ý Nhi cũng đã: “Qua núi đá/ cỏ gai/ qua bùn lầy/ gió cát/ tôi đi trên

con đường của mình” (Gửi một người bạn đọc), và Ý Nhi “cũng đã tới biển”

sau nhiều khúc ngoặt của con đường:

Tôi đã bị lừa dối, phản trắc

đã được tin cậy yêu thương

đã lội qua bùn

đã đi trên cát

tôi đã tới những ngõ cụt

và cũng đã tới biển.

(Tiểu dẫn)

Ý Nhi rút tỉa kinh nghiệm từ bản thân và đồng nghiệp (cả xưa và sau) để

hiểu được rằng con đường sáng tạo dù chông gai nhưng là con đường dẫn tới

vinh quang. Một khi đã lựa chọn thì phải đi đến cùng vì tác phẩm nghệ thuật chỉ

có thể ra đời từ những quan sát lâu ngày, những tích tụ ký ức, cùng với trí tưởng

tượng phong phú và sự lao động miệt mài không mệt mỏi. Để một ngày như là

“thiên duyên tiền định”, nghệ thuật tuyệt đối và huyền nhiệm sẽ khởi sinh. Cái

mà Bergson cho là được sinh ra bởi trực giác có lẽ là đích cuối của con đường

sáng tạo mà Ý Nhi thường khát khao, theo đuổi: “Một tâm thế hoàn toàn khách

quan, không vụ lợi bởi công cuộc mưu sinh, lại không vướng bởi tính chất rập

khuôn của ngôn từ” [57;tr.132]. Như vậy ta thấy và hiểu rằng: bản thân trực quan

cũng nảy sinh từ nơi thẳm sâu của linh hồn con người, nơi đó ta bắt gặp con

người đang khát khao tìm ra ý nghĩa cho cuộc đời mình, đồng thời thấy được vẻ

đẹp cũng như sự thống nhất diệu kỳ của thế giới. Người nghệ sỹ thực thụ là

người biết nắm bắt khoảnh khắc ấy và lặn sâu được vào đáy vạn vật, biến cảm

xúc thăng hoa thành động lực sáng tạo sau nhiều trăn trở, “day dưa”.

3.2.3. Triết luận về vẻ đẹp của tâm hồn tri ân

Tâm hồn tri ân là một biểu hiện của cái đẹp mà Ý Nhi nhắc nhiều ở trong

thơ. Bà tri ân người yêu, tri ân người làm nghệ thuật, tri ân với cả bản thân và

cuộc đời. Những dòng thơ là lời cảm ơn chân thành và sâu sắc với những gì đã

qua và chưa tới. Tri ân là lẽ sống của Ý Nhi.

3.2.3.1. Tình yêu là sự tri ân với người yêu

Kể ra thì Ý Nhi viết thơ tình cũng khá nhiều. Những bài thơ tình của bà có

phong vị rất riêng. Không có những cảm xúc mãnh liệt và dồn đẩy như “Dữ dội

và dịu êm/ ồn ào và lặng lẽ” rất nổi tiếng của Xuân Quỳnh, cũng không có sự vồ

vập, cuồng nhiệt thường thấy của giới trẻ “Anh yêu của em ơi/ Em yêu anh vô

cùng/ Yêu đến tan cả em”(Vi Thùy Linh), thơ tình Ý Nhi vô cùng hiền lành, hiền

đến dễ thương và đôi khi tội nghiệp. Tình yêu trong thơ Ý Nhi không thể nói là

không mãnh liệt nhưng nó mãnh liệt theo lối tích tụ âm thầm, rồi lắng đọng như

vỉa quặng, để tỏa sức nóng bằng chính sự tích tụ và lắng đọng đó. Có thể nói Ý

Nhi yêu ngọt ngào, tình yêu của Ý Nhi là tình yêu dồn nén, tình yêu cảm nhận

bằng mắt, bằng trí chứ không phải bằng tai. Hơn thế nữa tình yêu trong thơ Ý

Nhi chính là sự tri ân của tâm hồn với tâm hồn.

Từ ngày còn rất trẻ, Ý Nhi đã lựa chọn cho mình cách ứng xử điềm đạm

và tinh tế trong tình yêu. Khi cánh cửa mở ra sau nhiều cách biệt, Ý Nhi ngay lập

tức nhận ra tình yêu mãnh liệt của Anh qua “ánh nhìn anh bổi hổi/ như có nhiều

mùa thu chờ đợi/ mùa thu nắng vàng màu da cam” (Cánh cửa). Trong giây phút

ấy niềm vui và nỗi xúc động cuộn trào ở trong lòng cô. Nhưng chỉ ở trong lòng

thôi. Có lẽ chàng trai kia không thể nào nhận biết được. Tôi cố hình dung ra

gương mặt và cử chỉ cô nàng Ý Nhi khi ấy. Tuyệt nhiên tôi không thấy trên

khuôn mặt cô thể hiện một nỗi vui mừng mãnh liệt, chắc cũng không có một

tiếng “ô” hay “a” ngạc nhiên nào. Có lẽ cô đã đón anh bằng nụ cười tươi, với ánh

mắt tin yêu, sau đó lịch thiệp cất tiếng chào, rồi cùng anh đi vào nhà và dịu dàng

ngồi vào chiếc ghế đối diện để nhìn anh thật lâu. Có thể họ sẽ im lặng như thế.

Rồi Ý Nhi nghĩ ngợi về anh trong yêu thương, và cảm giác bình yên ùa về bên

cô ấy. Cuối cùng Ý Nhi trẻ trung cảm ơn anh đã trở về. Đến đây chàng trai mới

dần cảm nhận được tình yêu của cô gái trẻ. Nhưng anh phải về và thấy lòng vui

vui: “Cánh cửa mở ra, anh đang ở trước em/ như chẳng có một thời cách biệt.”

Tình yêu của Ý Nhi là tình yêu chờ đợi và nhắc nhớ.

Ý Nhi thường phải chờ đợi người yêu. Bà vượt qua mọi khó khăn để chờ

đợi và mong mỏi. Nỗi chờ của Ý Nhi dường như có từ trong kí ức:

Cho đến buổi chiều đầy hoa cúc và gió may

khi chờ anh giữa phố phường Hà Nội

em mới hiểu rằng em đã chờ anh tự thuở xa nào.

(Kí ức)

Nỗi chờ đợi có trong mỗi giấc chiêm bao:

Giấc chiêm bao không tiếng nói cười

sâu trong mắt

ánh nhìn

như nỗi đợi.

(Giáp Tết)

Nỗi chờ đó dài dằng dặc, có khi gần như tuyệt vọng:

Và mắt người lo âu

Và mắt người hân hoan

mắt người im nói

và ta

dần tan

dần tan trong ngóng đợi.

(Đà Lạt)

Nỗi chờ ấy chính là sự tri ân. Trong thơ Ý Nhi, “chờ mong”, “chờ đợi”

dường như là biểu hiện cụ thể nhất của tình yêu. Không nói được thành lời, tình

yêu của Ý Nhi nói trong sự chờ đợi. Chờ đợi để người yêu hiểu được lòng mình,

Ý Nhi không ngại vì điều đó. Ý Nhi lấy sự chờ đợi để đáp lại tình cảm của người

yêu và đối với bà, đó là “ một hạnh phúc thương đau”, “một hân hoan buồn bã”.

Vì thế nên chờ đợi không còn là hành vi mà đã trở thành nỗi niềm,Ý Nhi hay gọi

là “nỗi đợi”, “nỗi chờ mong” là vậy.

Trong chờ đợi, Ý Nhi hiểu được ý nghĩa của tình yêu, giá trị của tình yêu,

nên bà hay nhắc nhớ. Bà nhắc nhớ mình, nhắc nhớ người yêu về những kỉ niệm

hai người đã có. Nhắc nhớ là mật ngọt để Ý Nhi nuôi dưỡng và củng cố tình yêu.

Đó là cách Ý Nhi lấy lòng người yêu:

Anh có còn luôn nhớ

cái mùa mưa đầu tiên

Anh có còn luôn nhớ

mùa đông mưa trắng đồi.

(Dẫu chỉ là cơn mưa)

Kỉ niệm luôn có sức mạnh của nó. Ý Nhi nhớ và nhắc nhớ về nó thật

nhiều, nào là: “nhớ buổi chiều đứng chờ anh” mà “tim thắt lại”, “nhớ căn phòng

đầy tranh” của anh “vẫn còn chỗ cho chúng ta/ cho hạnh phúc/ cho đớn đau”;

“nhớ buổi trưa làng gốm Bát Tràng” bên anh, tình yêu “chợt sáng xanh màu

ngọc”; “nhớ những đêm Hồ Gươm” hơi thu “len trong nỗi ngậm ngùi hai

ta”…(Kí ức). Nỗi nhớ của Ý Nhi dài dằng dặc theo dòng kí ức cứ tràn về, chất

chứa. Những vui buồn đã qua nối nhau tìm về, gọi mời yêu thương. Chúng là sợi

dây kết nối hai trái tim yêu, chúng là gạch vữa trám lành những vết thương tình

yêu. Chúng cầm tay bà, đặt vào bàn tay ấm nóng của người yêu. Đối với bà, đó

là “thời khắc huy hoàng”, là giọt nước mắt, là niềm vui không sao cưỡng được:

Sáng mai này đều đã trở về em

khi em bước qua con đường cỏ lạ

giọt nước mắt trên môi cười và niềm vui se giá

sáng mai này em đến cuộc đời anh.

(Trong mùa thu)

Ý Nhi thầm cảm ơn người yêu dấu đã đến bên đời bà, rồi tự hỏi mình sẽ ra

sao nếu không có Anh ấy:

Đã bao lần em tự hỏi

em sẽ ra sao nếu chẳng có anh

sau nhọc nhằn, chua xót, tai ương

giọt nước mắt âm thầm như máu chảy

giữa bao nhiêu nắng mưa, ngược xuôi, dầu dãi

giữa mất còn, sống chết, giữa lo toan.

(Thư)

Giữa bộn bề cuộc sống, giữa lo toan xuôi ngược, giữa nhiều bất trắc tai

ương, người phụ nữ nào cũng cần một bờ vai tựa đỡ. Ý Nhi luận về điều này khá

sắc sảo. Bà nhận ra rằng chỉ trong “ánh chớp của số phận”, “trong vòng xoay

của định mệnh” người ta mới nhận ra tất cả, kể cả điều khó nắm bắt, khó kiếm

tìm như tình yêu. Ý Nhi đã tìm được người ấy và tin cẩn gắn kết đời mình với

Anh:

Em tìm thấy nơi anh tất cả

Để đem mình gắn với cuộc đời anh.

(Trong mùa thu)

Trải qua nhiều khoảnh khắc buồn vui, sướng khổ trong đời, tình yêu trong

thơ Ý Nhi lớn hơn thật nhiều, và lòng biết ơn tình yêu, người yêu cũng thật sâu

sắc. Tình yêu đã trở thành sự sẻ chia, an ủi, động viên:

Một vệt nắng ửng vàng bên lối cỏ

Thôi đừng buồn

anh nhé

đã ban mai.

(Ban mai)

Và:

Thôi ta hãy chờ nắng

nắng sẽ hong khô phố xá

sẽ hong khô mái đầu, hong khô ánh nhìn, hong khô nụ cười

nắng sẽ hong khô nước mắt

Anh nhé.

(Viết nhân một câu thơ)

Càng về sau, tình yêu trong thơ Ý Nhi càng đằm thắm, mặn mà bởi vì nó

đã trở thành niềm mong mỏi thiết tha nhất. Tình yêu đã là cầu ước, nguyện xin.

Có lúc là cầu ước sum vầy: “Thắp nén nhang trong trời đất/ mong tìm ra/ phút

sum vầy” (Trung thu), có lúc nguyện khấn tình yêu mãi là “một miền biếc

trong”: “Ngày đưa tay mở cửa/ về một miền biết trong/ lòng run/ nguyện khấn

âm thầm”(Ngày mồng một), có khi nguyện ước một tình yêu bình yên: “Để em/

có thể nghe nơi vòm dẻ nhuốm vàng kia/ lời nguyện cho nỗi yên hàn”(Vườn II).

Tình yêu là vật báu thiêng liêng ở đời nên cầu ước, nguyện xin bền lâu,

thâm chặt cũng là một cách Ý Nhi tri ân với tình yêu mình đang có.

3.2.3.2. Ưu tư và “nguyện cầu yên hàn” là sự tri ân với bản thân và

cuộc đời

Ý Nhi là người hay ưu tư, hay nghĩ nên thơ Ý Nhi cũng giàu chất nghĩ,

giàu ưu tư. Bà chẳng mấy khi để cho tâm trí được rảnh rang, dù có những lúc ta

thấy Ý Nhi vui, nhưng cũng là niềm vui của sự ưu tư, trắc ẩn.

Ý Nhi viết về một bông hoa, một cơn mưa, một mùa thu, một thành phố,

một người thân quen,… tất cả đều mang dấu ấn của sự nghĩ suy, chiêm nghiệm.

Đọc thơ Ý Nhi không dễ dàng gì nhưng đã đọc được rồi thì thường thấy thấm

thía. Hà Ánh Minh nói rất đúng về điều này : “Một giọng thơ buồn nhưng không

lụy, một trái tim trần run rẩy trước nỗi đau và hạnh phúc nhưng đầy kiêu hãnh

về phẩm giá con người, những bài thơ không dễ trình bày trước đám đông

nhưng sẽ để lại nỗi nhớ sâu đậm trong lòng người đọc…”[63].

Là thế hệ trưởng thành trong chiến tranh, Ý Nhi hiểu và thấm thía những

đau thương, mất mát không gì có thể bù đắp được. Bà bị ám ảnh bởi những cảnh

ngộ đau lòng:

Những người đàn bà gánh trên vai hàng chục cái tang

những trẻ sơ sinh chỉ một mình sống sót

những người yêu cách xa biền biệt

những cụ già trơ trọi chẳng cháu con

(Cát 4. Bài ca)

Những con người đó, những cuộc đời đó khiến Ý Nhi cứ mãi suy tư, trăn

trở. Nỗi đau của họ nhắc nhở Ý Nhi hiểu hơn về lẽ sống còn, trân trọng hơn

những niềm hạnh phúc đang có để rồi chọn lựa cách sống sao cho xứng với

những gì thế hệ trước đã hy sinh: “Suốt đời tôi chẳng thể bao giờ/ đặt bút viết

những điều dối trá”.

Sự ưu tư của Ý Nhi còn xoay xung quanh những vấn đề rất đời thường,

gắn với những sinh hoạt hằng ngày của người dân:

Giá gạo cao chóng mặt

người ta đánh số đề và chơi xổ số

đường phố la liệt hàng ăn

la liệt hàng mỹ phẩm

các anh chàng mới phất, phóng cúp đỏ ào ào qua phố

tại hàng Buồm

một họa sĩ lão thành chết vì bện đau tim

tay còn giữ

bản tham luận “Thẩm mỹ môi trường Hà Nội”.

(Hà Nội, tháng 5.1987)

Ý Nhi đặc biệt để những cảnh tượng xô bồ, hào nhoáng xuất hiện nhang

nhãng trên đường phố Hà Nội bên cạnh cái chết đột ngột của một họa sĩ yêu vẻ

thâm trầm, thanh lịch của thủ đô để người đọc nhận ra những trớ trêu, ngược

ngạo không thể nào tránh được ở trong đời. Chỉ kể ra vậy thôi, nhưng chúng ta

hiểu sự day dứt, xót lòng của một người thường trực gắn bó với đời.

Ý Nhi có cả một chùm thơ suy tư về chuyện bóng đá, đá bóng. Ngẫm nghĩ

về chuyện này, thấy Ý Nhi thật thú vị. Hiếm có nhà thơ nữ nào như bà, có tình

yêu lạ lùng đối với quả bóng. Ý Nhi viết về bóng đá bằng những suy nghĩ hoàn

hảo về cuộc đời. Đọc chuyện của quả bóng mà nghiệm ra nhiều đạo lý, quy luật

hiển nhiên của đời sống:

Anh không lừa dối ai

không ai có thể lừa dối anh

sự thật nằm trong đường bóng

Không ai dẫn bóng thay anh

không ai cắt bóng thay anh

không ai ghi bàn thay anh

tự anh thành công hay thất bại.

Không ai có thể làm cho anh chói sáng

không ai khiến anh lu mờ

anh tự mình

rực rỡ hay tàn lụi.

(Bóng đá)

Bóng đá là vậy, nó đòi hỏi cầu thủ tài năng và kĩ thuật. Đời sống cũng thế,

không có gì của riêng mình, anh cũng chỉ là quả bóng tròn, lăn lông lốc dưới

chân người thôi.

Càng nghĩ về sự ưu tư của Ý Nhi, tôi càng thấy bà sao đa mang thế. Nghĩ

gì mà lắm vậy. Nhưng âu đó là mối bận tâm thường trực, cái nết của một đời

người, khó mà sống cho khác được. Huống chi đó là những ưu tư nặng nợ và

hữu ích với đời.

Vì quá ưu tư, vì ưa suy nghĩ nên Ý Nhi thường nhận ra những bất trắc,

những mặt xấu xa, những điều hệ lụy trong đời. Cho nên Ý Nhi cần thật nhiều

những bình yên để che chở tâm hồn mình, vực dậy niềm tin và nghị lực để bà

vững chãi bước đi.

Ý Nhi nhờ chùm rau me đất giữ giùm mình sự yên tĩnh hiếm hoi:

Một chùm rau me đất

giữa độ đường không cây

giữ lòng yên tĩnh lại

đã bao nhiêu tháng ngày

(Rau me đất)

Ý Nhi còn dùng cả câu thơ để che mưa nắng nữa:

Chẳng thể đến được cùng

nẻo đường kia mới lạ

cô xin tặng câu thơ

để cháu làm chiếc lá

để cháu làm bóng mây

một mai khi đời cháu

gặp độ đường không cây.

(Thơ tặng cháu)

Ý Nhi thích trốn vào tình yêu để được chở che:

Em tìm đến góc xa nhất của khu vườn

em muốn trốn vào sự bình yên

em muốn trốn sâu mãi, sâu mãi vào tình yêu của anh.

(Vườn 1)

Kể ra thì Ý Nhi cũng thật yếu đuối. Sự yếu đuối đáng yêu và đáng ngợi ca.

Chu Văn Sơn bảo Ý Nhi “khát bình yên”. Đúng vậy, ai chẳng khao khát bình

yên, người ưu tư như Ý Nhi càng khát bình yên để ưu tư tiếp tục.

Thơ Ý Nhi không hoa mỹ, không gây hấn, không ồn ào, đặt biệt không

chảy tràn xúc cảm mà thường là những ưu tư. Nhưng sau những ưu tư là niềm

mong mỏi được bình yên, được thấy đời nhẹ nhàng và thanh thỏa. Đó là ước mơ

không riêng của bà. Ưu tư là bản tính, “nguyện cầu yên hàn” là ước mơ. Làm sao

có thể lìa bỏ bản tính, làm sao có thể ngừng ước mơ. Vậy nên cả hai đồng hiện

trong thơ Ý Nhi là một điều tất yếu. Điều đó khiến ta thêm trân trọng và yêu

thương những vần thơ đa mang, nặng nợ với đời mà không bao giờ bi lụy hay

chán nản vì nó. Nói ưu tư và nguyện cầu yên hàn là những điều Ý Nhi muốn tri

ân với bản thân và cuộc đời là vì vậy.

3.3. Phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi từ góc độ triết luận về đời sống

3.3.1. Triết luận về đời sống qua các biểu tượng thơ

Nhờ thói quen ưa triết luận nên thơ Ý Nhi hay sử dụng những biểu tượng

để thể hiện tính khái quát về sự tồn tại cũng như bản chất của các sự vật hiện

tượng trong đời sống. Những biểu tượng giúp nhà thơ vừa miêu tả được bức

tranh đời sống vừa biểu hiện được tâm trạng, suy nghĩ của mình trước đời sống

hiện thực đó. Qua hệ thống hình ảnh quen thuộc, nhà thơ bộc lộ cách cảm, cách

nghĩ của mình hay nói cách khác là bộc lộ kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của

mình.

3.3.1.1. Những biểu tượng về số phận và nhân cách con người

Ý Nhi dùng số phận và nhân cách của các bậc nghệ sĩ lừng danh để làm

biểu tượng cho số phận và nhân cách của con người. Chúng ta thấy bà thương

xót cho số phận của Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Marina Xvetaeva,

Akhmatova…và kính trọng ngưỡng mộ nhân cách của Nguyên Hồng, Bùi Xuân

Phái, Dương Bích Liên, Pasternak… Họ là những bậc nghệ sĩ tài danh để lại cho

đời những tác phẩm lớn. Nhưng dường như thuyết “tài mệnh tương đố” khéo

ứng với nhiều số phận nên họ thường lắm truân chuyên.

Nguyễn Du cả đời lận đận ở chốn quan trường, chứng kiến sự hưng phế,

mất còn của ba triều đại, khóc đến cạn nước mắt vì cảnh bể dâu của người đời,

lòng không lúc nào ngừng buồn lo, day dứt. Để có Truyện Kiều là kiệt tác của

nhân gian.

Akhmatova, Marina Xvetaeva, Pasternak đều là những nghệ sĩ Nga nổi

tiếng, họ là những nhà thơ, nhà văn có nhân cách độc lập và bất khuất. Nét đẹp

của họ toát ra từ ý thức nghệ thuật sâu sắc và tinh thần bức phá, mong muốn

thoát khỏi những lối mòn trong văn học. Họ từng bị đả kích, lên án, họ từng chịu

nhiều oan khiên. Nhưng họ là đã vượt lên tất cả để tiếp tục sống và bảo vệ nghệ

thuật của mình.

Thường thì bi kịch không rời bỏ họ:

Màn đã buông

kiếm đã tra vào vỏ

rượu đã cạn ly

sẽ bắt đầu thiên bi kịch khác.

(Bên thềm nhà Pasternak)

Những bi kịch cứ luân phiên nhau bủa vây cuộc đời họ dường như không

khi nào dứt. Nguyên nhân vì đâu? Có thể đó là chọn lựa của họ, có thể đó là “sự

sắp đặt của số phận” để tìm kiếm các vĩ nhân.

3.3.1.2. Những biểu tượng của nỗi niềm, tâm trạng con người

Ý Nhi dùng nhiều biểu tượng khác nhau để biểu thị những cung bậc khác

nhau của tâm trạng con người. Chúng ta chọn lựa những biểu tượng cơ bản có

tính lặp đi lặp lại, hoặc vô cùng đặc sắc và nổi bật để biểu đạt những nỗi niềm,

tâm trạng thường trực trong thơ Ý Nhi.

• Biển : Số lần xuất hiện của biểu tượng biển khá nhiều. Trong

thơ Ý Nhi biển là tượng trưng cho khát vọng đi đến vùng khoáng đạt, miền tự

do, thiên đường sáng tạo. Đứng trước biển bao giờ nhà thơ cũng thấy mình nhỏ

bé, nhưng bao giờ cũng thấy tự hào vì chí ít mình cũng là người đi tới biển,

nghĩa là đi hết con đường mình đã lựa chọn dù nó lắm chông gai (Trên đường

dài ta cùng đặt bàn chân/ phía cuối con đường này là biển ; Có lúc sướng vui,

lúc mòn mỏi, kiệt quệ/ nhưng chưa bao giờ như trước biển chiều nay; Chỉ còn lại

bài ca/ cùng anh tôi xin tặng/anh có nghe thấy chăng tiếng sóng/ miền biển kia

tôi khao khát suốt đời…)

• Cát: Biểu tượng của tâm trạng nóng bỏng, cồn cào. Cát tuôn

chảy trong lòng bàn tay, dưới lòng bàn chân là những gì cao quý nhưng khó nắm

bắt. Cát cũng là nơi lưu giữ những kí ức kinh hoàng của một thời. Cát ôm trong

nó sự bất khuất và những mất mát hy sinh. Trước cát, tâm trạng Ý Nhi vừa ray

rứt, thương cảm, vừa ngưỡng mộ, tôn vinh. (nào hay đâu có một miền cát nóng/

như hạt mầm trong sỏi đá/ như đốm lửa dưới tàn tro; Và lòng chợt bình yên, nhẹ

nhàng, khoáng đạt/ trước trền cát bỏng khô, chói lọi, vô bờ; hạt cát nào trong

đáy mắt bỏng sôi/ đang lặng lẽ lăn đi trên gò má…)

• Mùa thu: là biểu tượng của những cảm xúc thanh cao,

nhưng đặc biệt trong thơ Ý Nhi, mùa thu còn là biểu tượng của những nỗi lòng

khó diễn tả, bộc lộ. Với mùa thu, Ý Nhi luôn trông đợi và chào đón hân hoan.

Mùa thu luôn mang đến cho nhà thơ những điều bình yên và dịu nhẹ nhất.

Nhưng kèm theo đó luôn là những lo âu, những ngập ngừng khó hiểu. Có lẽ đó

là tâm trạng sợ những gì trong trẻo như mùa thu sẽ mau chóng phai tàn. Đây

chính là tâm trạng điển hình của một con người đa cảm, giàu trắc ẩn, thích suy

tư. (Tôi thường đợi mùa thu với nỗi lòng không xác thực; em đi qua những

khoảng trời mùa thu trong vắt; Trời xanh lắm/ sau những cơn mưa rừng/ ai cũng

biết là mùa thu đã về tới cung đường; Chiếu lá vàng lắc lay trong gió/ là đốm

lửa dịu dàng mùa thu; Bất chợt mùi hương lạ/ ngẩng đầu lên vòm cao/ trắng

ngần màu hoa sữa/ thu đến tự khi nào…)

• Chùa: Biểu tượng của “lòng yên tĩnh lại”. Đây là nơi Ý Nhi

tìm về để thấy lòng thanh tịnh, nhẹ nhàng. Đây là mái nhà trú ngụ sau những

nhọc nhằn, đổi thay. “Chùa trong phố” để đối lập sự yên tĩnh vĩnh hằng với

những xô bồ, bất trắc. Chùa là chốn linh thiêng là nơi Ý Nhi tìm về để được che

chở, được tĩnh tâm, bồi dưỡng tinh thần. (Chùa tĩnh lặng chùm hoa ngâu đã nở;

ong say đến cánh hoa ngâu sân chùa; Chùa như thể bóng cây/ giữa tháng ngày

vất vả/ Người mệt mỏi dừng chân/ dưới màu xanh che chở…)

• Em bé/ đứa trẻ: là biểu tượng cho niềm ao ước được bé dại

để làm những điều mà người lớn phải đắn đo, cân nhắc. Hình tượng em bé, đứa

trẻ hay được Ý Nhi dùng để so sánh với những gì (thường là những hành động

mang tính bản năng) trong sáng, hồn nhiên. Đứa trẻ sống bản năng và làm những

điều nó muốn một cách hồn nhiên không hề tô vẽ, sửa soạn hay cân nhắc. Ý Nhi

viết: Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy lời mình trong biển; Đột nhiên

anh muốn có thể khóc được/ như một đứa trẻ; ước chi/được như đứa trẻ kia/ đến

biển mà không sợ bị vùi lấp/ lên núi mà không sợ bị gãy đổ; họ yêu anh với tình

yêu vô tư của đứa trẻ; Là biển/ biển xanh ngút ngàn/ xanh khiến lòng se thắt/ ta

ngồi lại bên bờ như đứa trẻ/ nghẹn ngào mơ/ một miền xa…

• Người đàn bà ngồi đan: là biểu tượng lớn trong thơ Ý Nhi.

Cái bình tĩnh dường như bất biến trước những biến động và quay cuồng của cuộc

đời đã nâng tầm người đàn bà ngồi đan lên tầm biểu tượng không chỉ ở trong thơ

Ý Nhi mà còn là biểu tượng của một giai đoạn phát triển của xã hội, biểu tượng

cho cả một thế hệ người Việt Nam. Đó là người đàn bà bí ẩn, vừa làm chủ, vừa

uốn theo dòng chảy cuộc đời. Đó là người bình yên, khéo léo đan dệt muôn mặt

của cuộc đời để làm nên hạnh phúc. Đó là người đàn bà của những khát khao.

(Giữa chiều lạnh/ một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ….)

3.3.1.3. Những biểu tượng của tình yêu

Tình yêu trong thơ Ý Nhi có cái nét dịu dàng nữ tính, có sự cam chịu, hy

sinh và lòng mang ơn. Đó là những cảm nhận tình yêu rất khác so với lớp nữ thi

sĩ trước và sau bà. Nói tình yêu của Ý Nhi cũ kĩ cũng không phải. Tình yêu của

Ý Nhi là thứ tình yêu được chưng cất và chín muộn ; đó là nước rượu cuối cùng :

ít, « hơi đục », ngòn ngọt, nhàn nhạt, cay cay, càng nhắm càng say. Nó không thể

có cái nóng bỏng, bổi hổi của tuổi hoa niên, nhưng nó đằm thắm, sâu sắc và ở

mức độ nào đó (đối với người trong cuộc) nó rất thiêng liêng. Tình yêu đó được

thể hiện qua một số biểu tượng sau :

• Ban mai : là biểu tượng của tình yêu hồi sinh sau những

giận hờn, vụng dại. Ban mai của trời đất trong trẻo, thanh thoát. Ngày đã ban

mai là đã bắt đầu ngày mới với những niềm vui mới. Gạt bỏ lại những ưu phiền

để hòa nhập vào ban mai. Buổi ban mai tinh khôi làm lòng người nhẹ hẫng, mọi

buồn vương đã ngủ yên, lòng tràn tình yêu tươi mới (Đã nhiều lần/ thường là

vào các buổi sáng/ em tìm đến nơi anh; Thôi dừng buồn nữa anh/ ngày đã ban

mai ; Buổi ban mai mát trong ; buổi ban mai rực rỡ ; Trời se lạnh hoa mọc đầy

triền dốc/ những ô màu trôi đi trong ban mai…)

• Vườn : là nơi trú ngụ của tình yêu, là nơi tình yêu nghỉ ngơi

và được che chở, bảo vệ. Vườn là nơi hạnh phúc, yêu thương tìm về trú ngụ. Có

nhiều điều đã mất được tìm thấy ở khu vườn tình yêu này. Nhặt lại những gì đã

mất, chủ nhân nâng niu, gìn giữ và hồ hởi yêu thương. Vườn trong thơ Ý Nhi có

nét sang trọng, lại kiều diễm. Dường như đối với bà đây là chỗ trú ngụ yên lành

và thanh khiết nhất của tình yêu. Có khi đây chính là vườn địa đàng nơi tình yêu

vĩnh cửu được thăng hoa. (Ôi khu vườn- khoảnh khắc đời ta/ khi ta được bên

người yêu dấu ; Vườn I ; Vườn II…)

• Sự yên lặng : là biểu tượng cho tình yêu không lời, tình yêu

bằng mắt, bằng tim. Ý Nhi yêu nhưng thường không nói ra lời. Tuyệt nhiên ta

thấy trong thơ bà không hề có từ “yêu” . Đối với bà, tình yêu không cần nói.

Tình yêu chỉ cần những rung động từ mỗi con tim. Tình yêu là sự cảm nhận qua

ánh mắt, nụ cười, sự yêu thương, trân trọng, sự sẻ chia, chăm sóc nhau mỗi ngày.

Đây là cách biểu hiện âm thầm nhưng sâu sắc của tình yêu mang tên Ý Nhi (Giờ

tôi ở bên người, những điều ấy cần chi, người nghe cả trong lời tôi yên lặng ; mà

tình yêu vẫn nói/ bao lời trong lắng yên ; Ta chẳng nói lời chi/ nghe trong im

vắng/tiếng âm thầm gạch lát dưới bàn chân; Ngày sững lặng/ hằng tiếng nói… )

• Giấc mơ : Là biểu tượng thầm kín của sự hòa nhập hai tâm

hồn. Tình yêu không nói được thành lời trong lúc thức sẽ nói được trong giấc.

Giấc mơ còn là nơi Ý Nhi gửi gắm những ước mơ, những khát vọng, những

niềm tin, những hy vọng về một tình yêu tròn đầy, đúng nghĩa. Giấc mơ là nơi Ý

Nhi thổ lộ được nhiều nhất về tình yêu (Em chẳng kể cùng ai giấc mơ của mình/

bởi có ai mà hiểu thấu, ngoài anh/ người cùng hòa nhập với cuộc đời này bằng

một giấc mơ ; Ôi tự thuở nào, tự thuở nào/ em đã mơ thấy buổi chiều nay/ mơ

thấy anh về ; Giữa tuần trăng/ giữa giấc chiêm bao/ mắt hạnh phúc/ giữa chừng

ngấn lệ…)

3.3.2. Triết luận về đời sống qua các phạm trù đối lập

Một nét phong cách nữa của Ý Nhi là dùng những phạm trù đối lập để

triết luận về đời sống xã hội và đời sống con người. Nhờ những phạm trù đối lập

này mà đời sống được Ý Nhi thâu tóm khá trọn vẹn, nhiều bề, nhiều mặt và tính

triết lý được thể hiện sâu sắc hơn. Những phạm trù này cũng giúp thơ Ý Nhi

mang dấu ấn « dự cảm » rất lớn, tạo nên sự thỏa mãn cao trong lòng người đọc.

Thêm vào đó, hiện tượng cuộc sống hai chiều với những khúc quanh bất ngờ khó

đỡ được Ý Nhi nói bằng sự đối lập nên hạn chế rất nhiều sự dài dòng không cần

thiết. Đó là sự « kiệm lời» tinh tế và hiệu quả của Ý Nhi. Ý Nhi đã làm được

điều mà Hồ Thế Hà từng nói : Nhà thơ "tiết kiệm ngôn từ tối đa đến chừng nào

đủ chấp nhận được, khi ấy, nghĩa hàm ngôn, nghĩa khái niệm sẽ hiện lên một

cách thâm thuý và đa dạng, tuỳ vốn văn hoá nghệ thuật, tuỳ trạng thái, thị hiếu

của người tiếp nhận" [34;tr 24].

3.3.2.1. Cuộc đời với những phức tạp, những nghịch lí và không dễ

dàng nắm bắt

Sống trong lòng cuộc sống mới với những lo âu bởi biến động khôn

lường, Ý Nhi cũng như hầu hết người dân nước ta sau chiến tranh đều vô cùng

bỡ ngỡ. Vị tướng của Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu) vững vàng trong

chiến đấu là thế mà sống trong đời thường lúc nào cũng bị chao đảo, rối ren. Ông

thấy mình xa lạ với cuộc sống thường ngày. Ông không hiểu được tại sao nó lại

như vậy mà không như ông đã sống. Ý Nhi trẻ hơn, chấp nhận cuộc sống dễ

dàng hơn. Bà còn háo hức bước vào cuộc sống mới với niềm tin và nghị lực nữa.

Vậy mà cũng thấy nhiều bất an, đôi lúc cũng sợ mình bị guồng quay cuộc đời xô

đẩy nên phải nhắc nhở con cũng là nhắc nhở mình : “Cân bằng/ cân bằng/ hãy

lưu tâm đến sự cân bằng” (Gửi con nhân ngày sinh nhật thứ 20)

Ý Nhi suy nghĩ về cuộc đời với nhiều nghịch lý tréo ngoe. Mình cứ ngỡ

nó sẽ như vậy nhưng nó thường chuyển biến theo hướng khác. Có khi chúng ta

tưởng mình đã đi qua buồn thương, nhưng thật sự buồn thương đang ở phía

trước, đôi khi ta bỏ rơi niềm hạnh phúc mà ta lại nghĩ đã thoát khỏi bất hạnh :

Lòng tưởng vừa đi qua

nỗi đau ghê gớm nhất

nào biết đâu buồn thương

còn chờ ta trước mặt

biết đâu niềm hạnh phúc

từng có thật trong đời

chợt ngoảnh đầu nhìn lại

đã nên điều xa xôi.

(Thơ tặng cháu)

Ý Nhi phát hiện ra những nghích lý thường thấy giữa hai thế hệ (mẹ và

con). Bà trò chuyện để con cùng nhận ra và hiểu thấu :

Có thể giữa mẹ và con chẳng gì trùng lặp

một nẻo đường khác biệt dưới chân con

những gì mẹ sướng vui, lo lắng, khổ buồn

khi con lớn đã thành lạ lẫm

(Trò chuyện)

Đó là nghịch lý nhưng là chuyện hiển nhiên. Nếu biết trước được chúng ta

có thể làm chủ nó, tránh nảy sinh những bất đồng không đáng có để mỗi ngày là

một niềm vui.

Ý Nhi luận về cuộc sống với những trò đùa khắc nghiệt thật hay :

Tôi biết có những trò đùa cay nghiệt

và những việc nghiêm trang lại là một trò đùa.

(Tiểu dẫn)

Điều đó ta thường xuyên thấy. Đôi khi chướng ta gai mắt nhưng cũng xuề

xòa cho qua vì nghĩ đó là chuyện người ta, chuyện xã hội chứ có phải chuyện

của riêng mình. Ý Nhi lên tiếng trong thơ và nó trở thành châm ngôn, triết lý về

đời sống. Càng ngẫm càng thấy ghê người, khiến cười ra nước mắt.

Cuộc đời với những đảo điên, xoay trở. Chỉ những người có bản lĩnh mới

có thể vượt qua những cám dỗ vật chất tầm thường, đi đến được vùng trời bình

yên và hạnh phúc.

3.3.2.2. Con người giữa cuộc đời là thực thể tồn tại với hai mặt đối lập

Con người trong cuộc đời là thực thể tồn tại với hai mặt đối lâp. Con

người luôn có tốt xấu, đúng sai, thiện ác… Đặt biệt trong suốt cuộc đời con

người có lúc thăng lúc trầm, lúc sương vui hạnh phục nhưng cũng có khi gặp

những thật bai, vấp ngã. Không ai tự tin nói rằng tôi hoàn toàn hài lòng với cuộc

sống của tôi, hay đời tôi chẳng khi nào buồn khổ. Ý Nhi hiểu rất rõ về điều này

luận giải về nó khá sắc sảo qua việc phát hiện những mặt đối lập trong đời sống

con người.

Ý Nhi phát hiện ra tính hai mặt của con người :

Có lẽ

người ấy mạnh mẽ và dịu dàng

sâu sắc và hồn nhiên

người ấy sống hết mình

mong muốn được yêu thương.

(218.97.13)

Cũng nhận ra đời sống con người là những cung bậc tình cảm hòa lẫn với

nhau :

Dưới bóng cây này

tôi đã hát

vì yêu thương, chờ đợi

Dưới bóng cây này

tôi đã khóc

vì lo âu, cay đắng.

(Alma Ata)

Hay :

Trên đôi mi khô bỏng

lại lăn chảy giọt nước mắt mặn ấm

Và cỏ mùa xuân lại mềm mại dường bao

dưới lòng chân chai sạn

Và niềm vui của tôi

nỗi phiền muộn của tôi

sự tràn đầy, sự thiếu vắng của đời tôi

chỉ còn lại trong cái tên duy nhất.

(Không đề)

Những bài thơ hay nhất của Ý Nhi là những bài thơ phát hiện ra những

điều trái ngược như vậy trong đời sống và thân phận con người. Ý Nhi hiểu rõ

mình và hiểu rõ đời nên rất thường soi chiếu một cách sâu sắc như thế. Dường

như bà rất ít khi khoan nhượng với lý trí. Khi đã khơi mở được nó rồi, bà thường

tận dụng bản năng khám phá trí tuệ tuyệt vời của mình để đào sâu cùng kiệt vào

nó nhằm thỏa mãn bản thân đồng thời kích thích suy tưởng người đọc. Chính

điều này làm nên sự sắc sảo trong thơ Ý Nhi mà không cần đến lời lẽ thơ ca cầu

kì, hoa mỹ.

Trong những cung bậc cảm xúc cũng như những khúc ngoặc đời của

mình, nếu phải lựa chọn, Ý Nhi sẵn sàng đem cho hoặc trao tặng những niềm

hạnh phúc, những nỗi vui mừng và giữ lại những lo âu, những bất trắc. Đó là sự

lựa chọn, là phong cách sống của Ý Nhi. Đối với bà, khi hạnh phúc đến ta vui

sướng đón nhận nhưng không bao giờ ngủ quên trong nó. Và khi bất hạnh đột

ngột ập đổ xuống thì bình tĩnh chấp nhận và vượt qua nó. Ý Nhi còn dùng cả

những buồn thương, vấp vấp để làm hành trang đi tiếp con đường đời còn lại.

Đọc một bài thơ vui của Ý Nhi để thấy cách bà thanh thản chấp nhận và yêu

thương cuộc sống:

Thơ vui dưới hàng cây cơm nguội

Còn lại niềm mong mỏi cuối cùng

đem tặng hàng cây cơm nguội

phố dài, mây trắng, trời xa

đem gửi cho mùa lá mới.

Niềm vui cuối cùng đem tặng

vòm lá giữa ngày non tươi

ai về, ai qua lối ấy

thoáng gặp sau cây nụ cười.

Tôi xin giữ lại nỗi buồn

giữ lại ưu phiền cay đắng

một mai đường thưa bóng cây

đem buồn thương che mưa nắng.

Tiểu kết : Văn hào Nga Chekhov đã khẳng định “Nếu tác giả nào không

có lối nói riêng của mình thì người đó không bao giờ là nhà văn cả”. Ý Nhi đã là

nhà văn đúng nghĩa như thế. Bà không chỉ tạo cho mình những phong cách riêng

trong sáng tạo nghệ thuật mà còn có lối sống lối hành xử rất riêng và rất đáng

yêu. Trở lên chúng tôi đã cố gắng đọc những khoảng trống Ý Nhi còn bỏ ngỏ

trong mỗi văn bản, trong các văn bản khác nhau để hình dung ra cách bà suy

nghĩ, chiêm nghiệm, triết lý về cuộc đời.

KẾT LUẬN

1. Ý Nhi là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ và tiếp tục

khẳng định sự nghiệp của mình trong thời kì đổi mới và phát triển của dân tộc. Ý

Nhi vừa mang trong mình những cảm hứng nghệ thuật có tính truyền thống của

thơ kháng chiến, vừa mang những cảm hứng mới của đời sống hiện thực sau

chiến tranh với nhiều thay da đổi thịt nhưng cũng nhiều đòi hỏi và thách thức

mới. Điều này khiến người nghệ sĩ (nói chung) phải tìm tòi, suy nghĩ để mở một

hướng đi mới cho việc sáng tạo nghệ thuật của bản thân cũng là của nền văn học

mới.

Ngay khi nghệ thuật lên tiếng đòi “cởi trói” thì Ý Nhi đã kịp hối thúc

mình đáp ứng được những đòi hỏi, thúc bách đó. Người đàn bà ngồi đan vì thế

trở thành tiêu điểm của sự bủa vây (theo nhiều nghĩa) và nhanh chóng có một vị

trí đặc biệt trên thi đàn. Đó là thành quả có được nhờ việc không ngừng trăn trở

và suy nghĩ về đời sống xã hội cũng như đời sống văn học. Những suy tư, chiêm

nghiệm không lúc nào thiếu vắng trong ngày thường đó đã tạo ra những nét

phong cách đặc biệt, vô cùng sâu sắc của Ý Nhi.

Tuy nhiên con đường để hình thành, phát triển và khẳng định phong cách

của Ý Nhi không đơn giản, dễ dàng. Bà đã phải lao động nghệ thuật thật sự

nghiêm túc bên cạnh tài năng và bản lĩnh cá nhân.

2. Cho đến nay, giới nghiên cứu lý luận văn học vẫn chưa có một định

nghĩa thống nhất về phong cách nghệ thuật của nhà văn. Chỉ biết rằng phong

cách chỉ dùng cho những nhà văn từng trải cách viết đã định hình, đã khẳng định

trên văn đàn chứ không nói phong cách cho những nhà văn ít ai biết đến. Nhưng

chúng ta có thể hiểu phong cách là tính độc đáo thống nhất đa dạng của sự sáng

tạo nghệ thuật đã đến độ chín muồi của người nghệ sĩ. Phong cách gắn liền sáng

tạo của nhà văn. Với cách hiểu này, Ý Nhi thực sự là nhà thơ có phong cách.

3. Phong cách Ý Nhi được thể hiện trên hai phương diện : Thứ nhất là

phong cách ngôn ngữ, thể loại, kết cấu với những dấu ấn rất riêng trong việc sử

dụng các biểu hiện nghệ thuật để chuyển tải nội dung ; Thứ hai là trên phương

diện suy nghĩ, cách nhìn về cái đẹp và đời sống thông qua việc triết luận về

chúng. Ở phương diện này Ý Nhi cũng cho ta thấy tính độc đáo, sâu sắc trong

suy nghiệm của nhà thơ. Yếu tố triết luận vì vậy là một phần không thể thiếu

trong phong cách nghệ thuật thơ Ý Nhi.

4. Ý Nhi là một nữ thi sĩ trong nền thơ ca Việt nam hiện đại có phong

cách, lối sống và nhân cách đáng quý. Ý Nhi được bạn đọc nhiều thế hệ yêu

mến, được đồng nghiệp và đàn em tin tưởng, nể trọng. Ý Nhi dịu dàng và lịch

thiệp với mọi người nhưng với bản thân lại có phần khe khắt. Ý Nhi sống giản

di, lặng lẽ nhưng khi tiếp xúc với mọi người lại rất linh hoạt tự tin. Con người Ý

Nhi có nét quyến rũ rất riêng, không nằm ở nhan sắc mà ở dung mạo, phong thái

con người. Thơ Ý Nhi cũng giống y như vậy. Nhìn bề ngoài thì có vẻ cứng, thô

tháp nhưng bên trong ngữ nghĩa lại mềm mại, nữ tính vô cùng ; bề ngoài thì có

vẻ chỉ là những bài thơ luận lý, tỉnh táo nhưng thật sự triết luận chỉ là một phần

phát sinh từ gốc cảm xúc sâu sắc, dạt dào yêu thương, thấu hiểu và tôn trong

cuộc sống và con người. Con người Ý Nhi và thơ Ý Nhi là một. Chúng ta yêu

quý một nhà thơ và trân trọng một tài thơ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Aritxtốt (1964), Nghệ thuật thơ ca, NXB Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội. 1.

Arnauđốp.M (1978), Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Văn hóa, Hà 2.

Nội.

Thục Anh (2001), Ở Mỹ, độc giả của thơ cũng không nhiều, Báo Phụ nữ 3.

Thủ đô (Ngày 15 – 8).

Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thể kỉ thơ Việt Nam 1945-1995, NXB KHXH, 4.

Hà Nội.

Vũ Tuấn Anh (1996), Quá trình văn học đương đại – nhìn từ phương diện 5.

thể loại, Tạp chí Văn học, (9), Hà Nội.

Nguyễn Nhã Bản – Ngô Thu Hiền (1994), Quan hệ giữa vần và nhịp 6.

trong thơ hiện đại, Tạp chí Văn học, (1), Hà Nội.

Văn Bảy (2005), Nhà thơ Ý Nhi: “Bóng đá hấp dẫn tôi bởi sự tỏa sáng 7.

của tài năng…”, Báo Thể thao (số 183).

Phạm Quốc Ca (2002), Ý thức cá nhân trong thơ trữ tình Việt Nam sau 8.

1975, Tạp chí Văn học, (12), Hà Nội.

Phạm Quốc Ca (2003), Mấyvấn đề về thơ Việt Nam 1975-2000 (chuyên 9.

luận), NXB Hội nhà văn.

10. Phạm Quốc Ca, Những đặc điểm cơ bản của thơ Việt Nam sau 1975, Luận

án Tiến sĩ Khoa học, Trường ĐH KHXH&NV-TP.HCM.

11. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, NXB Đại học và Giáo dục

chuyên nghiệp, Hà Nội.

12. Ngô Thị Kim Cúc (2002), Nhà thơ Ý Nhi: Sự run rủi của số phận, Báo

Thanh niên (số 54).

13. Nguyễn Bảo Chân (2005), Thơ Ý Nhi: Nơi nỗi buồn nương náu, Báo Phụ

nữ TP.HCM (Ngày 8/3).

14. Nguyễn Huệ Chi (1993), Mấy vẻ đẹp thi ca Việt Nam, NXB Tác phẩm

mới, Hà Nội.

15. Trường Chinh 1985 (T1), 1986 (T2), Về văn hóa và văn nghệ, NXB Văn

học.

16. Đoàn Văn Chúc (2004), Văn hóa học, NXB Lao động.

17. Nguyễn Văn Dân (1998), Nghiên cứu văn học, lý luận và ứng dụng, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

18. Nguyễn Văn Dân (1998), Lý luận và so sánh, NXB KHXH, Hà Nội.

19. Lê Tiến Dũng (2003), Giáo trình Lí luận văn học, NXB ĐHQG Tp.HCM.

20. Lê Tiến Dũng (1994), Loại hình câu thơ của thơ mới, Tạp chí Văn học,

(1), Hà Nội.

21. Hoàng Đạt (2004), Nhà thơ Ý Nhi và câu chuyện Nàng Bân mùa hạ, Báo

An Ninh (số 39).

22. Hữu Đạt (2000), Ngôn ngữ thơ Việt Nam (tái bản lần 1), NXB Khoa hoc

xã hội Hà Nội.

23. Trần Bá Đệ (1982), Lịch sử Việt nam từ 1975 đến nay, NXB Sự thật, Hà

Nội.

24. Vĩnh Đễ (1969), Tâm lý học, Hiện đại.

25. Hà Minh Đức (1974), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại,

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

26. Hà Minh Đức (chủ biên) (1991), Trao đổi ý kiến: Mấy vấn đề lý luận văn

nghệ trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự thật, Hà Nội.

27. Hà Minh Đức (chủ biên) (1993), Lý luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội.

28. Hà Minh Đức (2000), Đi tìm chân lí thơ, NXB Văn học.

29. Hà Minh Đức (1971), Các thể thơ và hình thức thơ, NXB Khoa học

xã hội.

30. Trinh Đường (biên soạn) (1991), Ngày hội thơ, NXB Văn học, Hà Nội.

31. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, NXB Văn học.

32. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu thơ trữ tình, NXB Văn học.

33. Hồ Thế Hà – Mã Giang Lân (1993), Sức bền của thơ, NXB Hội nhà văn,

Hà Nội.

34. Hồ Thế Hà (2007), Những khoảnh khắc đồng hiện, NXB Văn học,

Hà Nội.

35. Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - NGuyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ

văn học, NXB Đh Quốc gia Hà Nội.

36. Nguyễn Phan Hách (biên soạn) (2007), Tinh hoa thơ Việt(T1,2,3), NXB

Hội nhà văn.

37. Nguyễn Văn Hạnh (1998), Suy nghĩ về thơ Việt Nam từ sau 1975, Tạp chí

Văn học, (9), Hà Nội.

38. Nguyễn Văn Hạnh (1998), Về quá trình hiện đại hóa của văn học Việt

Nam, Tạp chí Văn nghệ, (51), Hà Nội.

39. Nguyễn Văn Hạnh (1998), Về thi pháp học – Mấy vấn đề về ngôn ngữ và

văn học, NXB KHXH, Hà Nội.

40. Nguyễn Văn Hạnh – Huỳnh Như Phương (1998), Lý luận văn học, vấn đề

và suy nghĩ, NXB Giáo dục, Hà Nội.

41. Trần Mạnh Hảo (1995), Thơ phản thơ, NXB Văn học, Hà Nội.

42. Trần Mạnh Hảo (1994), Thơ hiện đại và hiện đại thơ, Tạp chí Văn nghệ,

(9), Hà Nội.

43. Khánh Hội (2001), Nhà thơ Ý Nhi: Chung thủy với thơ và một lòng với gia

đình, Báo Phụ nữ (số 45/25-11).

44. Bùi Công Hùng (1985), Những đặc trưng cơ bản của thơ Việt Nam hiện

đại1945-1985, Tạp chí Văn học số 1.

45. Hoàng Hưng (1993), Thơ mới và thơ hôm nay, TCVH, (2), Hà Nội.

46. Mai Hương (1981), Nghĩ về đóng góp của đội ngũ trẻ trong thơ chống

Mỹ. Tạp chí Văn học số 1.

47. Phạm Khiêm Ích (chủ biên) (2001), Văn hóa học và văn hóa thế kỉ XX

(T1,2), NXB Thông tin KHXH, Hà Nội.

48. R. Jakovson, Trần Huy Châu biên khảo (2008), Thi học và ngữ học lý luận

văn học phương Tây hiện đạị, NXB Văn học.

49. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (chủ biên) (1995), Kho tàng ca dao

Việt Nam, tập 1,2,3,4, Nxb. Văn hóa, Hà Nội.

50. Khrápchenkô.M.B (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển

của văn học, (Lê Sơn dịch), NXB Tác phẩm mới, Hà Nội.

51. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) (1997), Phong cách học Tiếng Việt, NXB

Giáo dục.

52. Đinh Trọng Lạc (1998), 99 phương tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt,

NXB Giáo dục.

53. Mã Giang Lân (1997), Tìm hiểu thơ, NXB Thanh niên, Hà Nội.

54. Mã Giang Lân (1989), Thơ hôm nay, TCVH, (1), Hà Nội.

55. Mã Giang Lân (1995), Đi tìm một định nghĩa cho thơ,TCVH, (12),

Hà Nội.

56. Mã Giang Lân (2000), Tiến trình thơ hiện đại Việt Nam, NXB Giáo dục,

Hà Nội.

57. Phương Lựu (2005), Lý luận văn học hiện đại phương Tây, NXB

Giáo dục.

58. Hoàng Như Mai (1961), Văn học Việt Nam hiện đại (1945 – 1960), NXB

Giáo dục, Hà Nội.

59. Thiếu Mai (1983), Thơ Xuân Quỳnh, TCVH, (1), Hà Nội.

60. Ngô Quân Miện (1994), Chuyển biến các thể thơ trong tiến triển của thơ

hôm nay, TC Văn nghệ, (31), Hà Nội.

61. Nguyễn Đăng Mạnh (1995), Nhà văn, tư tưởng và phong c5ách, NXB

Văn học, Hà Nội.

62. Ngô Quân Miện (1994), Chuyển biến các thể thơ trong tiến triển của thơ

hôm nay, Văn nghệ, (31), Hà Nội.

63. Hà Ánh Minh (2001), Mạch đập thơ Ý Nhi dòng ưu tư chảy xiết, Tạp chí

Nha Trang số 72/tháng 9.

64. Hà Ánh Minh (2001), Mạch thơ Ý Nhi: Lửa từ trái tim trần run rẩy…,Báo

văn hóa (số 126/21-10).

65. Lê Minh (chủ biên) (1995), Chân dung nữ văn nghệ sĩ Việt Nam, NXB

Văn hóa thông tin.

66. Nguyễn Hữu Hồng Minh, Thế hệ các nhà thơ Việt Nam sau 1975 - Một

hành trình thơ Việt, Nguồn hnv.vn.

67. Nguyễn Xuân Nam (1979), Tăng cường tính nghệ thuật trong câu thơ tự

do, TCVH (6),Hà Nội.

68. Nguyễn Xuân Nam (1985), Thơ, tìm hiểu và thưởng thức, NXB Tác phẩm

mới, Hà Nội.

69. Ý Nhi (2000), Thơ Ý Nhi, NXB Hội nhà văn.

70. Ý Nhi (2001), Đọc thơ ở Mỹ, Báo Tuổi trẻ (ngày 10/7).

71. Ý Nhi (2002), Thơ với tuổi thơ, NXB Kim Đồng.

72. Ý Nhi (2008), Về tiền “đầu tư chiều sâu”, nhà thơ Ý Nhi: Tôi không nhận

số tiền này!, Báo Thanh niên (ngày 7/1).

73. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du qua truyện Kiều,

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

74. Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt nam – hình thức và

thể loại, NXB KHXH, Hà Nội.

75. Nguyễn Tri Nguyên (1994), Nội sinh như là động lực của hiện đại hóa

thơ ca Việt Nam, TCVH, (11), Hà Nội.

76. Nhiều tác giả (1999), Một số vấn đề văn học Việt Nam, NXB Văn học,

Hà Nội.

Nhiều tác giả (2002), Tuyển tập thơ Việt Nam 1975- 2000, NXB Hội nhà 77.

văn, Hà Nội.

78. Nhiều tác giả (1999), Văn học Việt Nam 1975-1985: tác phẩm và dư luận,

NXB Hội nhà văn, Hà Nội.

79. Nhiều tác giả (1995), Một thời đại trong văn học, NXB văn học, Hà Nội.

80. Nhiều tác giả (1984), Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội.

81. Nhiều tác giả (1983), Từ điển văn học, Tập 1, 2, NXB KHXH, Hà Nội.

82. Nhiều tác giả (2004), Từ điển văn học (Bộ mới), NXB Thế Giới.

83. Nhiều tác giả (1991), Sự thức tỉnh những nhu cầu xã hội và cá nhân của

cái tôi trữ tình trong thơ hôm nay, TCVH, (4), Hà Nội.

84. Lê Lưu Oanh (1998), Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990, NXB ĐH QG,

Hà Nội.

85. Huỳnh Như Phương (1994), Những tín hiệu mới, NXB Hội nhà văn,

Hà Nội.

86. Khánh Phương (2003), Ý Nhi, một sự nghiệp thơ không bao giờ “hết day

dưa”,Báo thể thao &Văn hóa (số 6/21-1).

87. Lê Hồ Quang (2010), Thơ Ý Nhi - Hành trình trong lặng lẽ,Tạp chí thơ,

số 3, NXB Hội nhà văn.

88. Nguyễn Hoàng Sơn (2002), Ý Nhi qua tuyển thơ, Báo Tiền phong

(Ngày 28-7).

89. Chu Văn Sơn (1992), Sự giải tỏa bằng thơ, Tạp chí Tác phẩm mới.

90. Chu Văn Sơn (1992), Đến với từng bông tuyết, Tạp chí Tác phẩm mới.

91. Chu Văn Sơn (1995), Thơ của tâm hồn “xao xác giữa ngày yên”, Tạp chí

Tác phẩm mới.

92. Chu Văn Sơn (2005), Lời nguyện cho nỗi yên hàn, Tạp chí nhà văn.

93. Trần Đinh Sử (1995), Thi pháp thơ Tố Hữu, NXB Giáo dục.

94. Trần Đình Sử (1996), Lý luận và phê bình văn học, NXB Hội nhà văn,

Hà Nội.

95. Trần Đình Sử (1993), Giáo trình thi pháp học, Trường ĐH SP, TP. HCM.

96. Trần Đình Sử (1997), Những thế giới nghệ thuật thơ, NXB Giáo dục,

Hà Nội.

97. Trần Đình Sử (1994), Hành trình thơ Việt Nam hiện đại, TC Văn nghệ,

Hà Nội.

98. Trần Đình Sử (1999), Ngôn ngữ và việc lĩnh hội tác phẩm thơ, TCVH,

(10), Hà Nội.

99. Vũ Văn Sỹ (1999), Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1975,

NXB KHXH, Hà Nội.

100. Tônxtôi L.N (1953), Thư gửi N.N. Xtrakhốp ngày 23 tháng 4, 1876, Toàn

tập tác phẩm, t62.

101. Lê Thị Thanh Tâm (2000), Trí tuệ và cảm xúc trong thơ Chế Lan Viên,

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn.

102. Nguyễn Thị Minh Thái (1999), Đối thoại với văn chương, NXB

Ngôn ngữ.

103. Nguyễn Bá Thành (1996), Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại,

NXB Văn học, Hà Nội.

104. Thanh Thảo (2001), Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Báo Phụ nữ

(ngày 11-8).

105. Trần Ngọc Thêm, Phạm Hồng Quang (2004), Văn hóa học và văn hóa

Việt Nam (giáo trình CĐSP), NXB ĐHSP, Hà Nội

106. Lưu Khánh Thơ (1999), Diện mạo thơ năm 1998, TCVH, (1), Hà Nội.

107. Lưu Khánh Thơ (1990), Nhà thơ Xuân Quỳnh, TCVH, (3), Hà Nội.

108. Lưu Khánh Thơ (2000), Nỗi khắc khoải từ miền kí ức, Báo Văn nghệ

(19-8).

109. Lê Ngọc Trà (1990), Lý luận và văn học, NXB Trẻ, TP.HCM.

110. Lê Ngọc Trà(2007) , Văn chương, thẩm mĩ và văn hóa, NXB Giáo dục.

111. Lê Quang Trang (1986), Người đàn bà ngồi đan, Báo Nhân dân

(Ngày 8-3).

112. Thuận Thiên (2001), Đọc thơ Việt Nam trên đất Mỹ, Báo Lao động

(Ngày 13-7).

113. Đỗ Lai Thuý biên soạn (2001), Nghệ thuật như là thủ pháp, NXB Hội

nhà văn.

114. Trần Nhã Thụy (2003), Thơ Ý Nhi: dự cảm và nguyện ước, Báo Tài hoa

trẻ (Ngày 14-5).

115. Viện văn học (Hoàng Trung Thông chủ biên) (1979), Văn học Việt Nam

chống mỹ cứu nước, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

116. Viện văn học (Phong Lê chủ biên) (1990), Văn học và hiện thực, NXB

KHXH, Hà Nội.

117. Viện văn học (1987), Nhà thơ Việt Nam hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội.

PHỤ LỤC

NHÀ THƠ Ý NHI VÀ HỌC VIÊN LÊ THỊ THANH HUYỀN

NHÀ THƠ Ý NHI VÀ HỌC VIÊN LÊ THỊ THANH HUYỀN, TRONG MỘT

LẦN NHÀ THƠ CHÉP TẶNG THƠ

NHÀ THƠ Ý NHI TẠI QUÊ HƯƠNG NHÀ THƠ TRANG THẾ HY

NHÀ THƠ Ý NHI VÀ CHA CỦA MÌNH, GS. HOÀNG CHÂU KÝ, BỆNH VIỆN C ĐÀ NẴNG THÁNG 3.2005 (Ảnh chụp từ báo)

PHÚT SUY TƯ CỦA Ý NHI

NHÀ THƠ Ý NHI VÀ TS. LÊ HỒ QUANG (ĐH VINH)

HÌNH DÙNG LÀM ẢNH BÌA CUỐN TUYỂN THƠ Ý NHI

Ý NHI CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ NGỒI ĐAN

THỜI TRẺ CỦA Ý NHI

BÌA TẬP THƠ “TÌNH MUỘN” VƯỜN

MỘT LẦN LỠ HẸN! …

BẢN VIẾT TAY BÀI PHÊ BÌNH CỦA CHU VĂN SƠN VỀ TẬP MƯA TUYẾT VÀ GƯƠNG MẶT (Nhà phê bình gửi tặng Ý Nhi)