MẠCH XUNG
1- ĐẶC TÍNH
•+ Bin của 12 kinh (‘Hải Luận’ - LKhu.33).
•+ Bin của Ngũ Tạng, Lục Phủ (‘Nghịch Thuận Phì Sấu’ - LKhu.38).
+ Bin của Kinh Mạch (‘Nuy Luận- TVn.44).
+ Chủ về phần k - là con đường xuất khí ca khí (Y Kinh Tinh Nghĩa).
+ Kiểm st khí Huyết toàn thân (Trung Quốc Châm Cứu Học KháiYếu).
+ Liên lạc với mạch Nhâm + Đốc rót kù vào các kinh Thiếu Âm, hội với kinh
Dương Minh và Thái Dương (Nội Kinh Giảng Nghĩa).
+ Quan hệ với kinh túc Thiếu Âm và túc Dương Minh. Cùng với Mạch Nhâm +
Đốc đều Khởi lên ở bào trung và được gọi chung là “Nhất Nguyên Tam Kỳ”
(Châm Cứu Học Thượng Hải).
+ Qun lý khí huyết của tạng Phủ và liên quan trực tiếp đến việc sinh đẻ (Châm
Cứu Học Việt Nam).
Là 1 kinh pa sâu bên trong xuất phát từ kinh Thận.
. Có 3 nhánh ở ngực,bụng và chi dưới.
. Có tác dụng chuyển tông khí của Thận. Khí này không vận hành đơn độc mà luôn
luôn đi vi Doanh Khí và VKhí.
. Tông ktác dụng điu hòa nhiệt độ và chuyển vận tân dịch đến các cơ khớp
(‘Pathogéni Et Pathologie En Ergetiqués En Médecine Chinoise).
2- ĐƯỜNG VẬN HÀNH
- Khởi từ bào trung (ở bụng dưới), nhập vào hội âm, từ đó tách thành 2 nhánh:
+ 1 nhánh phía sau đi đến mặt trong của cột sống.
+ Nhánh kia ở phía trước, theo mạch Nhâm đến huyệt Quan Nguyên, qua đường
kinh Chính Thnhuyệt Hoành Cốt (Th.11), qua bụng đến tận huyệt U Môn
(Th.21). Đường mạch ở bụng này có nhiu nhánh nhập vào kinh cân của trường vị.
- Lên ngực ở huyệt Du Phủ (Th 27) nhánh ngực này có nhiu nhánh toả ra ở liên
sườn (TVấn 62).
- Lên hng, hợp với mạch Nhâmhuyt Liêm Tuyn (Nh 21).
Lên mặt và vòng quanh môi.
- Từ huyệt Hoành Cốt (Th.11), có 1 nhánh thứ hai chạy xuống mặt trong đùi và
dính vào kinh Chính Thn (TVấn 62).
- Xuống bắp chân, mắt cá chân trong và btrong bàn chân. Mạch này có nhiu
nhánh lan ra nhiều vùng khác nhau của chi dưới.
- Từ huyệt Hoành Cốt (Th 11) có một nhánh khác đi qua Khí Xung (Vi 30), xuống
bắp chân, mt chân trong, đến ngón chân cái (TVấn.62), trở lại đến mắt cá chân
trong.
- Liên hệ vớic huyệt: Hoành Cốt (Th.11), Đại Hách (Th.12), K huyệt (Th.13),
Tứ Mãn (Th.14), Trung Chú (Th.15), Hoang Du (Th.16), Thương Kc (Th.17),
Thạch Quan (Th.18), Âm Đô (Th.19), Thông Cốc (Th.20) và U Môn (Th. 21).
3- BIỂU HIỆN BỆNH LÝ
+ Ho, suyễn, động ứng ở tay (‘Cử Thống Luận - TVn.39).
+ Lưng đau, sốt. Nhiệt nhiều thì buồn phiền, dưới thắt lưng như có thêm cây nằm
ngang bên trong. Bnh nng thì sinh ra tiểu dầm (‘Thích Yêu Thng’ - TVn 41).
+ K nghịch mà cấp (Nan 29).
+ Đái dầm,n khí, tâm thống, tiểu không thông, họng khô (Châm Cứu Học Giảng
Nghĩa).
+• Ngực và thượng vị đau, ngực đầy, phiền, ngực có kết khi, ăn vào thì ói ra, tích
thức ăn và rượu, ruột sôi, đại tin lỏng, ngăn nghẹn, hông sườn đầy trướng, vùng
bụng và rn đau, trường phong hạ huyết, sốt rét, nhau thai không ra, sinh xong b
hôn mê (Cm Cứu Học Thượng Hải).
4- ĐIỀU TR
-• Khi mạch Xung bị rối loạn, châm huyệt Quan Nguyên (Nh 3) (‘Nghch Điều
Luận’ - TV 34).
-• Thích tán mạch tại khe thịt trước ơng gối, tức là thúc mạch, thích 3 nốt (huyệt
Địa cơ - T 8) (‘Thích Yêu Thng’ - TVn.40).
-• Cách chung có thể dùng huyệt Công Tôn (Tỳ 4) vì đây là một trong Bát Hội
huyệt giao với mạch Xung.
Sách ‘Pathogéni Et Pathologie En Ergetiqués En Médecine Chinoise’ diễn gii như
sau:
1-Tà Khí Nhập Vào Nhánh Ngc và Mặt Qua Đường Kinh Cân Của Vùng Này.
+ Triu chứng: miệng và mũi khô, đôi khi đau vùng chn thủy và khó thở, có cảm
giác khí nghịch, mất tiếng và nghn.
+ Điu trị: dùng thủ pháp châm Lạc mạch: châm huyệt U Môn (Th.21), Thiên Đột
(Th.22), và các A ThHuyệt ở ngực. Có th thêm huyệt ca mạch Xung ở ngực là
huyệt Đại Bao (Ty.21) và Uyên Dch (Đ.22).
2-Tà Khí Xâm Nhập Trực Tiếp Vào Nhánh Lên Của Xung Mạch Ở Mặt Trong
Chân.
+ Triu chứng: bàn chân lnh lên đến gối, đôi khi đau và bị vọp bẻ mt trước đùi
và bắp chân, háng đau.
+ Điu trị: dùng thủ pháp châm Lạc mạch theo Linh Khu: châm huyệt Khí Xung
(Vi.30) nếu đau ở háng. Chân lạnh, chân đau, chuột rút: châm huyt Nhiên Cốc
(Th.2), Thái Khê (Th.3), Đại Đô (Ty.2), Hành Gian (C.2), Tam Âm Giao (Ty.6).
Các huyệt này là nơi hội của mạch Xung.
3-Tà Khí Xâm Nhập Vào Mạch Xung Qua Ngõ Kinh Thái Dương
Nói cách khác: tà khí xâm nhập vào mạch Xung qua huyệt Thận Du (Bq.23).
Theo thiên ‘Phong Luận’ Tố Vấn 42 thì:
*Tà khí nhập vào mt, thường là vào kinh Dương Minh trước rồi tà khí chuyển đến
huyệt Tinh Minh (Bq.1), sau đó đi xuống đến huyệt Thận Du (Bq.23).