
MÔ HÌNH CỔ ĐIỂN VỀ VĂN HÓA
TRONG QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC TRƯỚC
Nguyễn Huy Hoàng
Không phải ngẫu nhiên mà vào vài thập kỷ gần đây, những vấn đề triết
học của văn hóa càng nhận được sự quan tâm và thu hút đông đảo các nhà
nghiên cứu. Điều đó được lý giải do những đòi hỏi cấp bách của cả lý luận lẫn
thực tiễn cuộc sống hôm nay. Song, thực ra, ngay từ thời cận đại, một truyền
thống nghiên cứu và lý giải hiện tượng văn hoá trên nền tảng của triết học đã
được hình thành. Truyền thống đó đã tạo nên mô hình cổ điển của văn hoá và
sự lý giải nó trong triết học trước Mác
Có thể nói, triết học văn hoá mácxít đã được nảy sinh và phát triển trong lòng
của truyền thống này. Bởi thế, giờ đây, nghiên cứu truyền thống này là một việc
làm cần thiết và hữu ích. Trước tiên, chúng ta cần phải phân biệt lịch sử các quan
niệm về văn hoá với lịch sử của chính văn hoá. Bởi lẽ, dù cho những mầm mống
của văn hoá đã được phát hiện ra ở những giai đoạn đầu tiên nhất của tồn tại người,
nhưng không phải ngay lập tức chúng đã nhận được sự phán ánh trong ý thức con
người. Ý thức con người có khả năng ấy chỉ ở giai đoạn phát triển cao của văn hoá
nhân loại. Phần lớn các nhà ngôn ngữ học đều cho rằng, "văn hoá" chỉ trở thành
một khái niệm độc lập vào thế kỷ XVIII. Đó là lúc sự phát triển của xã hội đã cho
thấy sức mạnh hoạt động con người, cho thấy con người có khả năng cải tạo thế
giới, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản than mình ra sao. Sự thấu hiểu những khả
năng thực sự đó của con người đã dẫn đến sự hình thành một khái niệm mới nhằm

thể hiện những phương thức và kết quả hoạt động của con người - khái niệm văn
hoá. Việc con người ý thức được vai trò tự chủ của mình trong thế giới hiện thực,
ý thức được tính tích cực vốn có ở mình để không chịu nằm trong vòng phong tỏa
của những lực lượng tự nhiên hay thần thánh đã được thể hiện rõ trong khái niệm
"văn hoá". Đặt nền móng cho sụ hình thành một khái niệm "văn hoá" như thế
trước tiên phải kể đến những nhà hoạt động xuất sắc của thời đại Phục hưng.
Bằng sự quan tâm tới di sản của thời Cổ đại, các nhà tư tưởng thời Phục hưng
đã đặt cơ sở cho một nền văn hoá mới - văn hoá nhân văn, một nền văn hoá không
chỉ hướng tới con người, mà còn xuất phát từ chính con người. Nền văn hoá mới
ấy đã đối lập lại với nền văn hoá Trung cổ và hơn nữa, trong đời sống tinh thần, nó
chống lại quyền uy của nhà thờ, giáo hội để đòi quyền được tự do tư tưởng và sáng
tạo của con người. Có thể nói, vào thời Phục hưng, người ta đã ý thức được rằng,
văn hoá không phải là kết quả tác động của những lực lượng thần thánh, văn hóa
là tác phẩm của con người nhờ sự thông thái và hoạt động tích cực của con người.
Có thể định hình nguyên lý cơ bản của một nền văn hoá nhân văn được con người
tạo lập và kiểm soát trong một công thức ngắn gọn: “con người - kẻ sáng tạo văn
hóa”
Quan niệm về con người như một nhân cách độc lập, tự do và có sức mạnh to
lớn vượt ra ngoài giới hạn sinh lý của nó là một khám phá của chủ nghĩa nhân đạo
và được gọi là " khám phá con người". "Khám phá con người" chính là sự ra đời
của một quan điểm mới về con người.
Bằng chính sự tồn tại của mình ở trong thế giới, con người dường như đã
thiết lập một biên giới nhằm tách biệt và phân cách mình với các hình thức sống
còn lại. Vào thời Phục hưng, ý thức về ranh giới này vẫn còn chưa được xác định,
nhưng vào những thế kỷ sau nó đã được định hình. Vào thế kỷ XVIII, sự ra đời
của khái niệm "văn hoá" là một minh chứng trực tiếp cho sự giải phóng con người
khỏi thế giới thần thánh và thế giới tự nhiên - sự giải phóng diễn ra một cách triệt

để trong ý thức con người. Một lĩnh vực của hiện thực được chế định không phải
bởi tính tất yếu tự nhiên, không phải bởi sự tiền định thần thánh, mà bởi chính
hoạt động của con người như một thực thể tự do và sáng tạo đã được ghi nhận
trong khái niệm "văn hoá". Thế giới văn hoá - đó là thế giới của con người, một
thế giới mà từ khởi đầu cho tận cùng, luôn thể hiện sự sáng tạo của con người.
Trong văn hoá, con người được hình dung không phải như một thực thể được sáng
tạo ra, mà như một thực thể đang sáng tạo, không phải như một khách thể thụ
động, cam chịu sự tác động của hoàn cảnh bên ngoài, mà như một chủ thể đang
thực hiện quá trình biến đổi và cải tạo hoàn cảnh.
Tuy nhiên, việc hướng đến hoạt động của con người vẫn còn chưa thật sự đầy
đủ để lựa ra văn hoá như một lĩnh vực đặc thù. Con người có thể hành động do sức
mạnh của tất yếu tự nhiên. Vậy thì hoạt động của con người khác biệt với những
tác động của các lực lượng tự nhiên bởi cái gì? Hoạt động của con người khác với
những tác động của các lực lượng tự nhiên chỉ khi sáng tạo ra thế giới riêng của
mình chính là lý tính ở con người. Đó là lý tưởng nhân văn của con người với tư
cách một thực thể mang lý tính để được suy tư một cách tự do. Ở đây chúng ta có
thể thấy mối liên hệ trực tiếp giữa chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa duy lý của thời
Cận đại.
Sự tồn tại của lý tính đã cho phép con người hành động không phải như một
vật thể tự nhiên, không phải như con rối trong bàn tay của Chúa, mà như một thực
thể độc lập có ý thức và ý chí của mình. Con người là một phần của tự nhiên,
thuộc về tự nhiên cũng giống như những bộ phận còn lại của nó - các vật thể hữu
cơ, thực vật và động vật. Tuy nhiên, khác hẳn với những vật thể và cơ thể của tự
nhiên, con người có lý tính mà nhờ nó, con người được xem như không phải một
bộ phận của tự nhiên mà là toàn bộ tự nhiên nói chung và nhờ nó, con người trở
thành mắt khâu cao nhất của tự nhiên. Con người chiếm vị trí trung tâm trong tự
nhiên không phải vì Chúa đã làm ra nó, mà nhờ hoạt động có lý trí của mình, nhờ

hoạt động có mục đích. Chính con người làm cho bản thân minh trở thành mục
đích của tự nhiên, còn tự nhiên thì trở thành phương tiện để con người quan hệ với
bản thân mình như một mục đích. Lý tính là khả năng con người hành động không
phụ thuộc vào tất yếu tự nhiên, mà hành động trong sự tương ứng với những mục
đích đã được nhận thức hợp lý hành động tự do.
Cá nhà tư tưởng ở thời đại Phục hưng cũng đã đưa ra lời cảnh tỉnh rằng, sự
tồn tại của con người như một cá thể biết hành động và tư duy mộtcách hợp lý
cũng khó có thể phù hợp với hiện thực. Và, trong tiến trình phát triển của lịch sử
nhân loại, người ta còn phát hiện ra sự không tương hợp giữa hình ảnh con người
được tạo ra trong thời đại Phục hưng với con người hiện thực của thời đại mình.
Cái được gọi là con người hiện thời ấy chỉ là sự bóp méo bản chất chân thực của
con người đã từng tồn tại trong quá khứ. Lý tưởng hoá quá khứ được phản ánh
trong sự tôn thờ "con người tự nhiên" đã làm tăng thêm sự quan tâm tới lịch sử.
Lùi sâu vào lịch sử, người ta khẳng định rằng, trong quá khứ, bản tính người vẫn
chưa bị những cái được coi là văn minh làm cho đồi bại. Từ đó, bắt đầu nảy sinh
sự đối lập “con người tự nhiên" với "con người văn minh", một sự đối lập đã trở
thành đề tài chủ yếu của các nhà triết học thế kỷ XVIII.
Sự phê phán trạng thái văn minh của các nhà Khai sáng thế kỷ XVIII đã đem
lại một hình dạng mới cho vấn đề bản chất con người. Các nhà Khai sáng đã tìm
kiếm câu trả lời không phải bằng con đường suy lý trừu tượng hay lý luận tư biện,
mà ở lịch sử hiện thực, trong quá trình hình thành và phát triển loài người. Việc
hướng tới lịch sử với mục đích phát hiện xem con người đã, đang và sẽ trở thành
người như thế nào không có nghĩa là từ đây, siêu hình học và triết học tư biện bị
gạt bỏ, mà chỉ hàm chứa lời kêu gọi hãy cải tạo và biến đổi chúng trên cơ sở của
tư duy lịch sử. Cùng với chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa duy lý, quan điểm lịch
sử trở thành một đặc trưng quan trọng của tư duy cổ điển mà thiếu nó, chúng ta
không thể nào hiểu được mô hình cổ điển về văn hoá tương ứng với nó. Như vậy,

cái ranh giới tách biệt con người với thế giới còn lại ranh giới văn hoá không phải
là vực thẳm, không phải là bức tường ngăn cách hoàn toàn con người với hiện
thực, mà là khoảng cách lịch sử mà con người cần phải vượt qua để trở thành một
thực thể như nó cần phải trở thành theo bản chất của mình. Cái ranh giới ấy chính
là toàn bộ lịch sử nhân loại được hiểu như lịch sử của sự hình thành và phát triển
của chính con người. Vậy, văn hoá vừa là con đường mà nhân loại cần phải đi qua
từ lúc nó xuất hiện, vừa là kết quả, là mục đích của chính con đường này.
Chừng nào cái ranh giới tách biệt con người với thế giới còn lại không được
hình thành nhờ tự nhiên bên ngoài hay nhờ một thực thể siêu nhiên nào đó, chừng
ấy cần phải tìm kiếm nguyên nhân tồn tại của con người trong chính con người.
Nhờ lý tính của mình, con người đã thiết lập cho mình một ranh giới như thế,
nghĩa là con người trở thành một thực thể tự quyết. Vì thế, cái ranh giới này vận
động một cách lịch sử. Con người có thể ý thức về mình với tư cách con người ở
mức độ này hay khác nhờ trình độ phát triển lý tính của mình. Theo nghĩa này, con
người là một thực thể tự biến đổi, tự phát triển, con người vừa là chủ thể, vừa là
nguyên nhân, là cội nguồn cho sự phát triển của mình. Và, văn hoá là lĩnh vực tồn
tại của con người với tư cách một chủ thể như thế.
Như vậy, trong mô hình cổ điển, khái niệm "văn hoá" không tách rời khái
niệm "con người" và khái niệm "phát triển". "Văn hoá" không chỉ là cái ranh giới
nhằm khu biệt con người với tự nhiên xung quanh, mà còn là cái phản ánh sự biến
đổi một cách lịch sử của ranh giới này để đem lại cho con người một hình mẫu
mới, một cá tính lịch sử không lặp lại. Không phải là bản chất con người được giải
thích một cách tư biện, mà chính là văn hoá với tư cách cái bao trùm toàn bộ sự đa
dạng lịch sử của các hình thức tồn tại và phát triển của con người đã tạo nên sự
khác biệt về chất giữa thế giới con người với thế giới tự nhiên. Theo đó, có thể nói,
trong triết học cận đại, nhận thức cổ điển về văn hoá đã được thể hiện trong mệnh
đề: văn hoá là sự phát triển của con người như một thực thể có lý trí. Rằng, chủ

