
TẠ P CHÍ VHDG SỐ 2/2011 21
VỀ MÔÌ OUAN HỆ
GIAO THOA VĂN
HÓA GIỮ A NGƯ Ờ I
THÁI VỚ I NGƯ Ờ I
MƯ Ờ NG Ở MIỀ N NÚI
THANH HÓA
MAI THỊ HỒ NG HẢ I
iề n núi Thanh Hoá chiế m 3/4 diệ n
tích toàn tỉ nh, là mộ t vùng đấ t
giàu tài nguyên thiên nhiên và có tầ m
quan trọ ng về kinh tế , chính trị , quố c
phòng, bao gồ m các huyệ n; Ngọ c Lặ c,
Cẩ m Thuỷ , Thạ ch Thành, Như Xuân,
Như Thanh, Thư ờ ng Xuân, Bá Thư ớ c,
Lang Chánh, Quan Hóa, Quan Sơ n,
Mư ờ ng Lát. Trên khắ p vùng rừ ng núi
Thanh Hóa rộ ng lớ n là nơ i cư trú củ a
nhiề u tộ c ngư òi, chủ yế u là các tộ c ngư òi
thiể u sô": Thái, Mư ờ ng, Thổ , Dao, H’mông,
Khơ Mú,... trong đó, ngư ờ i Mư ờ ng có sô"
dân đông nhấ t, đứ ng thứ hai là ngư òi
Thái. Ngư ờ i Mư ồ ng sinh sông vớ i m ậ t độ
lố n ở các vùng đồ i núi thấ p, tiế p giáp ở
phía Đông là ngư ờ i Kinh và phía Tây là
ngư òi Thái. Đị a bàn cư trú củ a ngư ờ i
Thái tậ p trung ở các vùng đồ i núi cao, đó
là vùng giao lư u và tiế p xúc văn hóa củ a
nhiề u tộ c ngư ờ i như Thái, Mư òng,
H’mông, Dao... ở khu vự c miề n núi Thanh
Hóa, ngư ồ i Mư òng và ngư ờ i Thái là
nhữ ng cư dân có lị ch sử cư trú lâu đòi, có
môì quan hệ chặ t chẽ đư ợ c thể hiệ n trên
nhiề u lĩnh vự c củ a đòi sông xã hộ i. Điề u
này đã đư ợ c các nhà khoa họ c khả o sát.
Chính vì thê" bài viế t không có tham
vọ ng phân tích lí giả i đầ y đủ môĩ quan
hệ giao thoa văn hóa giữ a hai tộ c ngư ờ i
Thái - Mư ờ ng ở m iề n núi Thanh Hóa
trong tiế n trìn h lị ch sử , mà chỉ tiế p tụ c
làm sáng rõ thêm mô"i quan hệ này qua
mộ t sô" cứ liệ u, mong muố n góp phầ n
nghiên cứ u ngư ờ i Mư ờ ng, ngư ờ i Thái và
môì quan hệ giao thoa giữ a các dân tộ c
ở miề n núi T hanh Hóa...
1. Kế t quả nghiên cứ u củ a các nhà
khoa họ c và “các nguồ n tài liệ u khả o cổ
họ c cho thấ y miề n núi Thanh Hóa có con
ngư ờ i sinh sông từ rấ t lâu đờ i... Việ c
khai quậ t các di chỉ khả o cổ đồ đá cũ ỏ
làng Tráng, huyệ n Bá Thư ố c cho thấ y
con ngư ồ i có m ặ t ở vùng đấ t này đã
hàng vạ n năm ” [2, tr. 36]. Mộ t loạ t các
đị a điể m khả o cổ , “nơ i phát hiệ n có
ngư ờ i Việ t thờ i tôì cổ cư trú , các hang
độ ng dọ c theo sông M ã về xuôi trên đị a
phậ n Bá Thư ớ c là: m ái đá Điề u, mái đá
Nư ớ c, hang Anh Rồ (làng Khiêng, xã Hạ
Trung), hang làng Tráng I, II, II, IV (xã
Lâm Sa), hang làng Cô"c (xã T hiế t ố ng),
hang làng Chuông, hang Ma Xá (xã Văn
Nho), hang làng Cộ n (làng T ân Lậ p, xã
Hạ Trung)” [1, tr. 295]; trên đị a bàn
huyệ n Cẩ m Thuỷ là “han g Núi Mộ t (xã
Cẩ m Giang), m ái đá làng Bon (xã cẩ m
Tú), m ái đá Chòm Đồ ng Đông, mái đá
Chòm Đồ ng Tây, mái đá Chòm Bét (xã
Cẩ m Thạ ch)”[l, tr. 305].
Trên đị a bàn miề n núi Thanh Hóa,
ngư di Mư ồ ng là tộ c ngư òi có m ặ t từ rấ t
lâu đờ i. “Trong nhiề u vấ n đề củ a lị ch sử
và văn hóa Mư òng ở Thanh Hóa có vấ n
đề nguồ n gố c củ a ngư òi Mư òng củ a khu
vự c này. Có ý kiế n cho rằ ng họ là nhữ ng
cư dân bả n đị a, có quan điể m lạ i cho rằ ng

22 NGHIÊN CỨ U - TRAO Đổ l
họ là nhữ ng bộ phậ n cư dân thiên di từ
Hoà Bình vào. Đổ ì chiế u vớ i các tên gọ i
củ a ngư ờ i Mư ờ ng T hanh Hóa là Mon,
Mon Ha, Mọ i Bi thì chúng ta thấ y đạ i bộ
phậ n ngư ờ i Mư òng có tên gọ i Mọ i Bi là từ
Mư ờ ng Bi củ a Hoà Bình di cư vào. Riêng
bộ phậ n ngư ờ i Mư ờ ng tự gọ i là Mon, Mon
Ha thì chư a có đư ợ c sự thố ng nhấ t. Mộ t
số nhà nghiên cứ u củ a T hanh Hóa thiên
về quan điể m bả n đị a củ a nhóm cư dân
này. Dẫ u sao thì vố i ngư ờ i Mư ờ ng ỏ
Thanh Hóa, về nguồ n hợ p th ành củ a nó
có các bộ phậ n sau đây: di cư từ hoà Bình
vào, có mộ t bộ phậ n ngư ờ i Kinh bị Mư ờ ng
hóa, mộ t bộ phậ n là dân tạ i chỗ . Như vậ y,
về m ặ t lị ch sử cư trú củ a ngư ờ i Mư òng là
tộ c ngư òi có m ặ t ở khu vự c này từ rấ t lâu
đòi” [4, tr.28].
Khả o sát ỏ vùng miề n núi Thanh
Hóa, tác giả Robequain cũng đã nhậ n xét:
“ở Thanh Hóa vụ ng ngư ờ i Mư òng thư ồ ng
là các cư dân có m ặ t đã lâu đòi. Các chòm
lúng ở đây, tuy có ngư ờ i Mư ờ ng trong nộ i
tỉ nh, hoặ c ỏ Ninh Bình, Hòa Bình di cư
vào mà ỗ xen kẽ vớ i nhau hoặ c có nơ i là
ngư òi Kinh từ đồ ng bằ ng Thanh Hóa
chuyể n lên lâu đồ i rồ i hóa thành ngư òi
Mư ờ ng. Như ng xét kĩ thì các vùng thung
lũng rộ ng và màu mỡ như Sa Lung, Thiế t
Ông, Hồ Điề n, cổ Lũng, vùng có núi thấ p
(Ngọ c Lặ c, Cẩ m Thủ y) thì ngư ờ i Mư òng
đã ở đây từ rấ t xư a” [8, tr. 66].
Truyề n thuyế t và sử thi cũng đã để
lạ i nhiề u dấ u ấ n trong tâm thứ c củ a cộ ng
đồ ng ngư ờ i Mư ờ ng từ bao th ế hệ truyề n
lạ i cho chúng ta nhậ n thấ y đây là mộ t
vùng đấ t có con ngư ờ i cư trú lâu đờ i. Mo
Đẻ đấ t đẻ nư ớ c củ a ngư òi Mư òng có đoạ n
nói đế n việ c sinh ra các mư ờ ng cổ , mư ờ ng
lớ n như mư ờ ng Ông, mư òng Ai, mư ờ ng
Khô (Bá Thư ố c), mư ờ ng Ấ m, mư ờ ng Um,
mư ờ ng Rặ c (Ngọ c Lặ c), mư ờ ng Đẹ (Thạ ch
Thành), mư ờ ng v ẩ m , mư ờ ng Voong (Cẩ m
Thuỷ ), mư ờ ng Chế nh, mư ờ ng Mỏ , mư òng
Nang, mư ờ ng K hạ t (Lang Chánh),... Đế n
trư óc Cách mạ ng tháng Tám, “trên toàn
miề n núi T hanh Hóa, ngư ờ i Mư ờ ng tổ
chứ c các đơ n vị hành chính truyề n thố ng
củ a mình gồ m 40 mư ờ ng do mộ t số dòng
họ lang nố i đờ i thố ng trị : Họ Hà 4 mư ờ ng,
họ Phạ m 15 mư ờ ng, họ Lê Xuân 4
mư ờ ng, họ Trư ơ ng Công 5 mư ờ ng, họ
Nguyễ n Đình 7 mư ồ ng, họ Quách 2
mư òng, họ Cao 1 mư ờ ng” [3].
Ngư ờ i Thái ở Thanh Hóa có nguồ n gố c
lị ch sử gắ n bó lâu đờ i vớ i quê hư ơ ng Thanh
Hoá. Cộ ng đồ ng ngư ờ i Thái ở Thanh Hóa
đư ợ c hình th ành từ các nguồ n có bộ phậ n
ngư ờ i Thái Đen, Thái Trắ ng từ Tây Bắ c
xuố ng, từ Lào sang và sau này có cả
ngư ồ i Mư ờ ng, ngư ờ i Kinh hòa nhậ p vào.
“Đế n trư ố c Cách mạ ng tháng Tám 1945, ồ
miề n núi Thanh Hóa đã hình thành bôn
mư ơ i mư dng củ a ngư ờ i Thái (Quan Hóa 7
mư òng; Mư òng lát 7 mư ồ ng; Quan Sơ n 6
mư ờ ng; Bá Thư ổ c 4 mư ờ ng; Lang Chánh 4
mư ờ ng; Thư ờ ng Xuân 9 mư ờ ng; Như Xuân 3
mư òng). Trong sô" đó, có bố n mư ờ ng lớ n, có
thế lự c cả về kinh tế và chính trị trong
nhữ ng năm trư ớ c Cách mạ ng tháng Tám là
mư ờ ng Ca Da ở Quan Hóa, mư ờ ng Khoòng ở
Bá Thư ớ c, muờ ng Chiề ng Vạ n ỏ Thư ờ ng
Xuân, mư ờ ng Đèng ỏ Lang Chánh”[3].
“Ngư ờ i Thái ở miề n núi Thanh Hoá nổ i
bậ t hai nhóm Tày và Tày Dọ . Nhóm tự
gọ i là Tày phân bô" chủ yế u ỏ các huyệ n
Quan Hoá, Bá Thư ớ c, Lang Chánh.
Nhóm tự gọ i là Tày Dọ tậ p trung chủ yế u
ở các huyệ n Thư ồ ng Xuân, Như Xuân,
Như Thanh”[3]. Ngư ờ i Thái ồ Thanh Hóa
thư ờ ng không quan tâm nhiề u đế n
chuyệ n họ có nguồ n gô"c Thái Đen hay
Thái Trắ ng, m à thư òng gọ i theo đị a danh,

TẠ P CHÍ VHDG s ố 2/2011 2 3
họ ở mư dng nào thì gọ i tên mư ờ ng đó như
ỏ mư ờ ng Khoòng thì gọ i là “Táy Khoòng”,
ở mư ồ ng Đanh thì gọ i là “Táy Đanh”,...
Nhữ ng câu chuyệ n về sự hình thành bả n
mư ờ ng củ a ngư ờ i Thái trong kí ứ c củ a
bao đdi lư u truyề n lạ i để u gắ n vớ i quê
hư ơ ng sở tạ i, vổ i đị a danh vùng đấ t xứ
Thanh như “Ả i Lậ c Cậ c củ a Mư òng Ca
Da, Lung Quan Khà củ a Mư ờ ng Ký, ả i Pú
Té củ a Mư òng Khoòng. Ả i Lậ c Cậ c bừ a
thành sông Mã, Lung Quan Khà đánh
nhau vớ i Mi quan xó. Ông đạ p chân lún
đá, đánh rắ m bạ t đồ i th àn h đèo Co
Phúng, ném chày cố i thàn h bả n Chộ c,
bả n Xác ỏ Lang Chánh, Ầ i Pú Té ở bả n
Hin (Lũng Cao) nhổ hế t cây ở núi Phu
Luông đánh đuổ i Ái Lậ c Cậ c, ném côì
chày sang tậ n Hoà Bình thành bả n Côn
Cáo, đắ p ngang sông Mã đư a nư ổ c về
đồ ng thành núi Pha Kháu (gọ i chệ ch là
Pha Hán bây giờ )” [6, tr. 323]. Nhữ ng
truyề n thuyế t đó đã phả n ánh cuộ c chinh
phụ c to lớ n củ a ngư ờ i Thố i ở vùng miề n
núi xứ Thanh..
Hiệ n nay, trong thàn h phầ n các dân
tộ c thiể u sô' ở T hanh Hóa, ngư òi Mư ờ ng
có sô' lư ợ ng dân cư đông n hấ t, đứ ng thứ
hai là ngư ờ i Thái. H ai tộ c ngư ờ i này có
lị ch sử cư trú lâu đờ i ở miề n núi xứ
Thanh và cùng có vai trò quan trọ ng
trong sự nghiệ p p hát triể n kinh tê' - văn
hóa và phòng thủ đấ t nư ớ c. Ngư ồ i Mư ồ ng
tậ p trung ở các vùng đồ i núi thấ p, có m ậ t
độ dân cư lớ n tạ i các huyệ n Ngọ c Lặ c,
Thạ ch Thành, cẩ m Thuỷ , Bá Thư ố c,...
Ngư ờ i Thái tậ p trung chủ yế u ở các vùng
đồ i núi cao dọ c theo hành lang phía Tây,
từ giáp Nghệ An và biên giớ i Việ t - Lào, có
m ậ t độ dân cư đông tạ i các huyệ n Thư ồ ng
Xuân, Quan Hóa, Quan Sơ n, Bá Thư ố c,
Lang Chánh,... Đặ c điể m phân bô' dân cư
củ a các tộ c ngư ờ i ồ miề n núi T hanh Hóa
là “sự cư trú xen kẽ , sự cư trú như vậ y đã
tạ o hình th ành các khu vự c hỗ n hợ p, các
khu vự c tiế p giáp Mư ờ ng - Thái, Mư ồ ng -
Việ t, Thái - Việ t, Thái - Mư ờ ng, Thái -
Mông,... Theo đó, văn hóa củ a các tộ c
ngư ờ i khu vự c này cũng thể hiệ n các đặ c
trư ng củ a sự đan xen, sự giao thoa như ng
đồ ng thòi vẫ n giữ đư ợ c nhữ ng nét đăc thù
mang tính tộ c ngư ờ i h ế t sứ c độ c đáo ”[3].
Theo nguồ n sô' liệ u điề u tra dân sô'
năm 1999 củ a Ban dân tộ c Thanh Hoá,
dân sô' các tộ c ngư ờ i thiể u sô' ỏ miề n núi
Thanh Hóa như sau:
TT Huyệ n Dân tộ c
Mư ờ ng
Dân tộ c
Thái
Dân tộ c
Thổ
Dân tộ c
l ĩ mông
Dân tộ c
Dao
Dân tộ c
Khơ Mú
1Ngọ c Lặ c 83.927 246 1.246
2Thạ ch Thành 68.342 25 2 14 17
3Cẩ m Thuỷ 56.306 3.213
4 Bá Thư ớ c 49.958 31.444 7 9 8
5Như Thanh 17.259 12.204
6Lang Chánh 13.087 22.578 189
7Quan Hóa 9.618 26.719 1.444
8Như Xuân 3.568 22.505 9.251
9Thư òng Xuân 3.075 47.496 10 2 1
10 Quan Sơ n 1.046 27.321 832
11 Mư ờ ng Lát 681 13.621 11.562 546 642

2 4 NGHIÊN CỨ U - TRAO Đổ l
2. Trả i qua quá trình lị ch sử có nhiề u
thăng trầ m , ngư ờ i Thái và ngư ờ i Mư ờ ng ỏ
Thanh Hóa đã có sự hoà hợ p từ rấ t lâu
đồ i. Là nhữ ng chủ nhân sớ m nhấ t củ a
vùng đấ t này, ngư ờ i Thái và ngư òi
Mư ờ ng cùng có vai trò quan trọ ng trong
lị ch sử đấ u tranh chố ng ngoạ i xâm. Thế
kỉ XV, cuộ c chiế n chông quầ n Minh đư ợ c
khỏ i phát từ vùng núi xứ Thanh. Đị a bàn
củ a khỏ i nghĩa Lam Sơ n nhữ ng năm đầ u
ở miề n núi Thanh Hoá nằ m trong đị a bàn
cư trú củ a mộ t bộ phậ n ngư ờ i Thái và
ngư ờ i Mư ờ ng, trong đó căn cứ Chí Linh
và các vùng phụ cậ n là nơ i có nhiề u ngư ồ i
Thái, ngư òi Mư ờ ng sinh tụ lâu đờ i. Môì
quan hệ đoàn kế t, thuỷ chung giữ a các
tộ c ngư ờ i cùng chung mộ t mụ c đích chố ng
xâm lăng đã đư ợ c phả n ánh trong nhiề u
câu chuyệ n cả m độ ng đang đư ợ c ‘lư u
truyề n trong dân gian. D ẫ u đã trả i qua
nhiề u th ế hệ , các vùng ngư ồ i Thái và
ngư òi Mư ờ ng trên đị a bàn miề n núi xứ
Thanh vẫ n đang còn lư u giữ nhiề u truyề n
thuyế t và di tích lị ch sử về Lê Lợ i và
cuộ c khồ i nghĩa Lam Sơ n.
Càng về sau, trong các cuộ c kháng
chiế n chố ng ngoạ i xâm kéo dài củ a dân
tộ c, vai trò củ a đị a bàn miề n núi ở nư ố c
ta nói chung và củ a xứ Thanh nói riêng
lạ i càng quan trọ ng, ồ Thanh Hoá, mố ỉ
quan hệ giao lư u nhiề u mặ t, trong đó hạ t
nhân thiế t yế u là môì quan hệ văn hóa
giữ a các tộ c ngư ờ i đ? đặ t cơ sở cho sự liên
kế t giữ a các thủ lĩnh như Hà Văn Mao và
Cầ m Bá Thư ớ c vớ i nhân dân các dân tộ c ỗ
khu vự c miề n núi xứ Thanh trong lị ch sử
đấ u tranh giả i phóng dân tộ c. H ai thủ
lĩnh tiêu biể u cho phong trào đấ u tranh
chố ng ngoạ i xâm ỏ miề n núi Thanh Hóa
là Hà Văn Mao và Cầ m Bá Thư ớ c đã có
vai trò quan trọ ng trong việ c lãnh đạ o
phong trào chông Pháp ở xứ Thanh cuố i
th ế kỉ XIX. Trong bài Ngoạ i mậ u kiế n liệ t
truyệ n có thơ vị nh về hai ngư ờ i anh hùng
củ a hai dân tộ c Thái và Mư ờ ng ở miề n
núi xứ Thanh, chẳ ng hạ n có đoạ n sau:
Hà Văn... Cầ m Bá... mộ t đoàn
Cùng nhau gánh vác giang san nư ớ c nhà
Man dân như lôĩ Thanh Hoa (Hoá)
Trung châu ít kẻ vư ợ t ra bự c ngoài... [ 9]
3. Từ vị trí lị ch sử quan trọ ng củ a
mình, văn hóa củ a ngư ờ i Thái và ngư ờ i
Mư ờ ng ỏ miề n núi Thanh Hoá đã có mộ t
quá trình giao thoa, ả nh hư ỏ ng lẫ n nhau
khá sâu sắ c, đồ ng thòi lạ i có tác độ ng lan
toả m ạ nh mẽ đế n văn hóa củ a cộ ng đồ ng
các dân tộ c cùng cộ ng cư . Cho nên, có thể
nói rằ ng, trong bứ c tran h văn hóa đa tộ c
ngư di, đa sắ c thái trên toàn vùng miề n
núi Thanh Hóa, sắ c th ái văn hoá Thái -
Mư ờ ng là nhữ ng mả ng màu đậ m, có
nhiề u nét độ c đáo và trên mộ t sô" lĩnh vự c,
có thể xem các sắ c thái văn hóa đó tiêu
biể u cho khu vự c miề n núi xứ Thanh.
Về lĩnh vự c sáng tạ o văn họ c dân
gian, ngư òi Thái và ngư ờ i Mư ờ ng là hai
tộ c ngư ờ i đã sáng tạ o và bả o lư u đư ợ c kho
tàng văn hóa dân gian phong phú. Trong
đó, văn họ c dân gian đã góp phầ n quan
trọ ng tạ o nên diệ n mạ o, sắ c thái độ c đáo
về văn hóa củ a các dân tộ c ở miề n núi xứ
Thanh. Kế t quả sư u tầ m , giớ i thiệ u văn
họ c dân gian các dân tộ c thiể u số ồ miề n
núi Thanh Hóa trong 50 năm qua (nế u
lấ y năm 1960 là thờ i điể m đánh dấ u công
tác sư u tầ m , giớ i thiệ u văn họ c dân gian ở
Thanh Hóa b ắ t đầ u khở i sắ c m ạ nh mẽ )
cho thấ y chủ n hân củ a các tác phẩ m văn
họ c dân gian miề n núi chủ yế u là ngư ờ i
Mư ờ ng, ngư ờ i Thái. Trong quá trình phát
triể n củ a lị ch sử , ngư ờ i Thái và ngư ờ i
Mư ờ ng ồ đây đã sáng tạ o nên nhữ ng nét

TẠ P CHÍ VHDG s ố 2/2011 2 5
đặ c sắ c trong kho tàng văn hóa củ a tộ c
ngư ờ i mình. Dân tộ c Mư ờ ng đã sinh
thành và nuôi dư õng nhữ ng làn điệ u
xư ờ ng sâu lắ ng, nhữ ng truyệ n thơ cháy
bỏ ng khát vọ ng tình yêu như Nàng Nga -
Hai Môĩ, Nàng Ờ m - chàng Bồ ng Bư ơ ng,...
và áng sử thi thiên cổ Đẻ đấ t đẻ nư ớ c,...
Trong tiề m thứ c củ a mình, ngư ờ i Thái ở
Thanh Hóa lư u giữ nhữ ng kí ứ c về văn
hóa Champa, Lào. Biể u hiệ n rõ nét là
trong mộ t số truyệ n thơ đặ c sắ c như ú
Thêm, Tư Mã Hai Đào, Tén Tằ n... đư ợ c
lư u truyề n phổ biế n trên các vùng ngư ờ i
Thái ở Thanh Hóa, n h ấ t là ở các vùng
ngư ờ i Thái tiế p giáp vớ i Lào như Lang
Chánh, Quan Sơ n, Mư ờ ng Lát,... Có thể
đây là điề u mò n h ạ t đố i vớ i ngư ồ i Thái ở
Tây Bắ c. Ngư òi Thái ở Thanh Hóa còn tự
hào có Toi ặ m oóc nặ m đin, có sách ghi
chép tụ c ngữ th ành nhữ ng bài ca có vầ n
điệ u liề n mộ t mạ ch như nhữ ng bài luân lí
truyề n dạ y đạ o đứ c, dạ y lẽ ứ ng xử ỗ đòi gọ i
là “Xư xon”; có nhữ ng bả n truyệ n thơ nồ ng
nàn tình nhân ái, đoàn kế t và yêu chuộ ng
hoà bình như Khăm Panh và cả nhữ ng làn
điệ u khặ p ngọ t ngào. Đó là nhữ ng lờ i khặ p
trữ tình phả n ánh quan niệ m về lẽ sông, về
cách ứ ng xử , về tình cả m quê hư ơ ng xứ sở ,
về nhữ ng đứ c tính cơ bả n củ a con ngư ờ i
như lòng nhân ái, sự vị tha, đứ c kính già,
yêu trẻ đã đư ợ c thể hiệ n trong cách ứ ng xử ,
trong quan hệ giữ a các thành viên trong
bả n, trong mư ờ ng và trở thành nhữ ng giá
trị truyề n thố ng đư ợ c ngư òi Thái, ngư ờ i
Mư ờ ng và tấ t cả mọ i ngư ờ i dân, dù ỏ tộ c
ngư ờ i nào cũng thừ a nhậ n xem đó là
nhữ ng giá trị chuẩ n mự c trong quan hệ
giữ a ngư ờ i vớ i ngư ờ i và vớ i cộ ng đồ ng. Sau
đây là mộ t đoạ n khặ p thả củ a ngư ờ i Thái ở
Thư òng Xuân:
- Dư ớ i gầ m trờ i, mắ t ai soi, coi thứ gì
đẹ p nhấ t'?
Đẹ p nắ ng tia vàng choàng ngang
vách núi
Đẹ p đồ ng xanh quanh mư ờ ng bả n
bao la
Đẹ p gái thanh xuân, tay dệ t vả i
thêu hoa
Ba thứ ấ y, mắ t ta ư ng: đẹ p nhấ t!
- Dư ớ i gầ m trờ i, vẻ non tơ nào
đáng yêu bậ c nhấ t?
Lúa tháng ba mơ n mở n, yêu sao
Mũm mĩm hồ ng hào, bé trên sàn tậ p
bư ớ c đi chậ p chữ ng
Ngư ờ i ta yêu đợ i tháng đón dâu về
Bả n mư ờ ng đồ ng quê ông bà xư a
để lạ i
Yêu nhấ t và mãi mãi ta yêu.
■ Dư ớ i gầ m trờ i, mọ i con ngư ờ i
thấ y gì ghét nhấ t?
Căm ghét nhấ t: giặ c cậ y lớ n cư ớ p đấ t
tranh mư ờ ng
Bọ n lọ c lừ a, trộ m cư ớ p, tráo trâng
Bọ n quanh co rẽ chồ ng chiế m vợ
Ba lũ đó ghét nhấ t trên đờ i...
[5, tr 115 - 116]
4. Xét trên các phư ơ ng diệ n lị ch sử -
văn hóa, đị a lí họ c tộ c ngư òi, sự cố kế t
giao lư u nhiề u m ặ t giữ a ngư ờ i Thái vớ i
ngư ờ i Mư òng đã diễ n ra sâu sắ c. Trong
bôĩ cả nh đó, hầ u h ế t các lĩnh vự c sinh
hoạ t văn hóa v ậ t chấ t và tinh thầ n củ a
ngư òi Thái và ngư ờ i Mư ờ ng ở Thanh Hóa,
mà trự c tiế p là nhóm Mư ờ ng Trong
(ngư òi Mư ồ ng ỗ Thanh Hóa gọ i bộ phậ n
nhữ ng ngư ờ i Mư ồ ng di cư ở Hoà Bình vào
là ngư ờ i Mư ờ ng Ngoài), có sự hoà nhậ p,
có nhiề u nét tư ơ ng tự nhau, không phân
biệ t đư ợ c nguồ n gố c từ Mư ờ ng hay từ
Thái. Ví dụ như : tậ p quán canh tậ c ruộ ng
nư ớ c, nư ơ ng rẫ y, ẩ m thự c, nhà ở , thuố c
Nam, y phụ c, tín ngư ỡ ng, lễ tụ c, thiế t chế

