intTypePromotion=3

Một số quan điểm Xã hội học nghiên cứu về hôn nhân

Chia sẻ: ViVatican2711 ViVatican2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
4
lượt xem
0
download

Một số quan điểm Xã hội học nghiên cứu về hôn nhân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết đề cập đến một số công trình nghiên cứu về hôn nhân dựa trên các quan điểm Xã hội học. Từ thực tế nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục có những nghiên cứu mang tính chuyên sâu về đời sống hôn nhân gia đình của người dân, nghiên cứu những quan niệm riêng về hôn nhân và phong tục hôn nhân.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Một số quan điểm Xã hội học nghiên cứu về hôn nhân

  1. TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 33 (58) - Thaùng 10/2017 Một số quan điểm Xã hội học nghiên cứu về hôn nhân Some of Sociological perspectives on marriage studies ThS.NCS. Nguyễn Thị Thu Thoa, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP.HCM Nguyen Thi Thu Thoa, M.A., Ph.D. student, Ho Chi Minh University of Food Industry ThS. Nguyễn Thị Hà, Học viện Khoa học Xã hội Nguyen Thi Ha, M.A., Academy of Social Sciences Tóm tắt Bài viết đề cập đến một số công trình nghiên cứu về hôn nhân dựa trên các quan điểm Xã hội học. Từ thực tế nghiên cứu cho thấy cần tiếp tục có những nghiên cứu mang tính chuyên sâu về đời sống hôn nhân gia đình của người dân, nghiên cứu những quan niệm riêng về hôn nhân và phong tục hôn nhân. Việc hiểu biết sâu sắc về đời sống hôn nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ hạnh phúc. Từ khóa: hôn nhân, gia đình. Abstract The article mentions some studies on marriage based on the views of the sociological perspectives. It can be seen from the studies that it’s necessary to do deeply researches into the marriage and family, especially personal view on marriage and marriage customs. It’s necessary to deeply understand the marriage life that is meaningful to build prosperous, progressive and happy Vietnamese families. Keywords: marriage, family. 1. Đặt vấn đề gian dưới 50 năm, cùng với sự thay đổi về Nghiên cứu về hôn nhân được bắt đầu nghề nghiệp trong quá trình CNH và ĐTH từ nửa sau của thế kỷ XIX, đồng thời với đường bán kính kết hôn xét trên phạm vi sự ra đời của bộ môn Xã hội học gia đình. toàn thế giới đã tăng lên gấp đôi. Trong Thời gian này học thuyết Darwin xã hội một nghiên cứu tại Ba Lan, đường bán kính đang chiếm phần ưu thắng trên toàn thế kết hôn trung bình đối với nông dân là 6 giới. Dựa vào những ý tưởng được gợi mở km, công nhân là 70 km và cán bộ là 150 từ học thuyết Darwin, các nhà nghiên cứu km (G. Olivier, 2002: 86). Việc mở rộng đã xem xét các hình thái của hôn nhân và phạm vi không gian cũng được phản ánh ở gia đình như là quá trình thích ứng với các điểm gặp gỡ của các cặp vợ chồng tương giai đoạn tiến hóa của xã hội loài người. lai. Cuộc điều tra của Viện Dân số Pháp 2. Một số quan điểm nghiên cứu về (INEO) cho biết, nếu hồi đầu thế kỷ cho hôn nhân đến những năm 60 của thế kỷ XX, thanh 2.1. Quan điểm nghiên cứu về hôn niên Pháp thường tìm gặp ý trung nhân của nhân truyền thống mình trong các cuộc viếng thăm, vũ hội Theo dòng lịch sử, với khoảng thời hay nơi làm việc, thì sang thập kỷ 70-80, 152
  2. NGUYỄN THỊ THU THOA – NGUYỄN THỊ HÀ lớp trẻ lại hay gặp nhau ở những nơi công Sự biến đổi của mô hình hôn nhân như cộng, ở câu lạc bộ, nhà hát, sàn nhảy, hộp vừa nêu, cố nhiên, là có sự gắn bó trực tiếp đêm, v.v… G. Olivier cho rằng “khi các hoặc gián tiếp với sự thay đổi trong đời phương tiện giao thông còn chưa phát sống kinh tế - xã hội nói chung. Chẳng hạn, triển, người ta lấy nhau trong địa phương nếu tuổi kết hôn được nâng lên thì điều đó mình vì cần thiết, sự giới hạn ấy là do địa cũng có ý nghĩa một khi “con cái bước vào lý áp đặt. Sau những tiến bộ khoa học - kỹ hôn nhân là đã thành một người trưởng thuật, ngày càng có nhiều khả năng đi lại thành, làm ra được tiền, thì bố mẹ không và kết hôn ngoài nhóm của mình; điều đó còn duy trì được cách điều khiển hôn nhân khiến cho các vòng tròn hôn nhân được mở của con cái như trước kia khi mà con cái rộng, cũng như quy mô trung bình của thành hôn còn trẻ và vẫn phụ thuộc về kinh những tộc người biệt lập bộ phận” (G. tế cho đến tuổi trung niên” (C. W. Olivier, 2002: 85). Sorensen, 2001: 189). Cũng như vậy, một Gắn liền với việc mở rộng không gian khi phạm vi không gian kết hôn được mở kết hôn là những thay đổi về tiêu chuẩn lựa rộng, việc lựa chọn bạn đời không còn là chọn bạn đời và quyền quyết định hôn tham chiếu duy nhất vào tiêu chuẩn “môn nhân. Các cuộc điều tra của Alain Girard ở đăng hộ đối” mà còn cả vào “giá trị gia Pháp vào những năm 60 và 70 của thế kỷ tăng” của chính bản thân đôi trẻ, thì “sự trước đã đưa đến kết luận rằng “tần xuất kiểm soát của xã hội không còn được thực hôn nhân tương đồng về xã hội cao gấp hai hiện qua đường vòng là cha mẹ nữa, mà lần so với các cuộc hôn nhân được quyết qua sự đánh dấu về xã hội học những nơi định mà không kể đến các nguồn gốc xã có tính hợp quần (…). Và như vậy, sự lựa hội của đối tác”. Ở Mỹ, nhiều tác giả (như chọn của cá nhân dựa trên những tiêu Holling Shead, 1950; Kerchoff và K. E. chuẩn riêng đã thay thế chiến lược kiên Daviss, 1962) cũng nhấn mạnh đến các yếu nhẫn của cha mẹ trước đây” (M. Segalen, tố xã hội có sự chi phối mạnh mẽ đến việc 2014: 148). lựa chọn hôn nhân - như chủng tộc, tộc Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra, người, tôn giáo, trình độ học vấn, tầng lớp trong xã hội hiện đại phần lớn các cặp kết xã hội, v.v… Kết quả các cuộc điều tra chỉ hôn đều là tự do, tự nguyện, ít chịu ràng ra đa số các cặp vợ chồng có trình độ học buộc hoặc ảnh hưởng từ cha mẹ hoặc một vấn tương đương nhau (65%), sự tương thế lực nào khác. Thornton, Chang và Sun đồng về tôn giáo còn cao hơn nữa (92%). (1984) cho biết, ở Đài Loan tỷ lệ phụ nữ Người ta cũng nhận thấy tần xuất hôn nhân nói rằng bố mẹ quyết định hôn nhân của họ tương đồng về nghề nghiệp cho đến những giảm từ 75% đối với thế hệ sinh vào những năm 1970 cũng không hề giảm, đúng như năm 1930 xuống chỉ còn 15% đối với thế A. Girard đã viết: “Những người trong hệ sinh gần đây, trong khi những người nói cùng môi trường người ta có nhiều cơ may họ quyết định hoàn toàn tăng từ 5% lên hơn và thích hợp hơn để lựa chọn bạn đời” 33% (Arland Thornton và Thomas E. (Martine Segalen, 2014: 145-147). Nói gọn Fricke, 1994: 390) lại, trong việc lựa chọn đối tượng hôn nhân Nhà nghiên cứu M. Segalen, trong thì tiêu chuẩn tương đồng về xã hội vẫn công trình nghiên cứu của mình cũng đã chiếm vị trí nổi bật nhất. phản ánh những thay đổi như vậy. Có thể 153
  3. M T SỐ QUAN ĐIỂM XÃ H I HỌC NGHIÊN CỨU VỀ HÔN NHÂN tóm lược sự chuyển biến đó như sau: Vào chung và đời sống hôn nhân gia đình của những năm 1960 ở Pháp, cũng như ở châu người dân theo đạo Công giáo nói riêng. Vì Âu nói chung, việc các cặp tân hôn thực thi vậy, việc tìm hiểu một số quan điểm nghiên nghi thức phong tục là nhằm công khai cho cứu về hôn nhân của người dân theo đạo cuộc hôn nhân của mình, đồng thời qua đó Công giáo là hết sức cần thiết cả về mặt lý nhận được sự chấp thuận của cộng đồng. luận và thực tiễn.Việc nghiên cứu hôn nhân Vì vậy, trong buổi lễ thành hôn họ thường ở Việt Nam được nở rộ vào nửa đầu thế kỷ chọn mời những người họ hàng và bè bạn XX, không chỉ với các nhà nghiên cứu mà họ muốn thấy ở bên cạnh để chung vui. trong nước như Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Như thế, đám cưới đã gắn kết các thành Huyên, Đào Duy Anh, Toan Ánh, Lương viên cộng đồng lại với nhau, đồng thời Đức Thiệp, Vũ Như Lâm, mà còn cả các cũng là nơi mà các nghi thức truyền thống tác giả nước ngoài như M. Durant, P. được bảo lưu và tôn trọng, như là sự khẳng Huard, E. Coutois… Đặc điểm của các định cho tính lâu bền và tính chuẩn mực nghiên cứu ở giai đoạn này là các tác giả của đời sống xã hội. tập trung mô tả về hôn nhân như một phong Nhưng trong đám cưới ngày nay, khi tục với tất cả những gì đã được định hình nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI – cũng của chúng, chứ ít chú ý đến sự biến đổi chính Segalen đã viết – các nghi thức cũng như sự khác biệt giữa các vùng, miền không còn thể hiện những ý nghĩa như hay giữa các nhóm xã hội khác nhau. trước nữa. Đám cưới ngày nay, do phát Tiếp sau đó, do sự chi phối của hai triển và lạm phát các khía cạnh hội hè, nên cuộc kháng chiến chống Pháp và chống ngày càng tương đồng với một buổi biểu Mỹ, việc nghiên cứu hôn nhân ít được chú diễn cần phải “thành công”. Những người ý, hay chính xác hơn là bị quên bẵng đi một kết hôn thường phải chuẩn bị hàng tháng, thời gian dài. Cho đến cuối thập niên 70, thậm chí hàng năm cho buổi lễ được hình đầu thập niên 80 của thế kỷ XX công việc dung theo ý họ, trong đó bạn bè tham dự này mới lại được tiếp tục dưới nhiều góc đương nhiên phải góp vào những sáng tác nhìn khác nhau, kể cả về biến đổi và sự âm nhạc hoặc màn trình diễn nào đó. Trong khác biệt của hôn nhân giữa các vùng miền hai mươi năm qua, rất nhiều thủ tục, nghi khác nhau. Chẳng hạn, đó là các nghiên cứu thức mới đã được sáng tạo ra như: tiệc về hôn nhân, gia đình và địa vị người phụ rượu mừng, việc tập hợp được tối đa số nữ của F.Houtart (1978), về quyền quyết khách mời, lễ tiễn đưa đời thiếu nữ, rồi định hôn nhân và tiêu chuẩn lựa chọn bạn chụp ảnh, quay video và hiện nay là làm đời của Mai Kim Châu (1984), Hoàng Đốp đĩa DVD về buổi lễ mà người ta cần lưu (1984), Nguyễn Phương Anh (1984). Việc giữ, v.v… (Martine Segalen, 2014: 160- hôn nhân của các dân tộc ít người như Tày, 161). Tất cả những phát sinh mới đó đã Nùng, Thái, Malayo-Poolynêxia cũng được làm cho chi phí trở nên quá cao, kể cả đối nhiều tác giả đề cập, chẳng hạn, Đỗ Thúy với cô dâu chú rể lẫn số khách mời, do đó Bình (1994), Vũ Đình Lợi (1994), v.v… Bổ đám cưới nhiều khi đã bị thương mại hóa sung cho các nghiên cứu thực nghiệm xã và trở thành một lĩnh vực kinh doanh. hội học và dân tộc học còn có các nghiên Trong những năm qua, còn ít có các cứu của Trần Đình Hượu, Đặng Đức Siêu nghiên cứu về các gia đình Công giáo nói về ảnh hưởng của Nho giáo đến hôn nhân 154
  4. NGUYỄN THỊ THU THOA – NGUYỄN THỊ HÀ và gia đình Việt Nam trong lịch sử, cũng Bình, Nam Sách, Hải Dương) vào năm như khả năng thích ứng của các thiết chế 2000. Tại đây, tác giả đã phỏng vấn trực này trong tiến trình CNH, HĐH đất nước từ tiếp 136 cặp vợ chồng đang sống cùng góc nhìn sử học và văn hóa học. nhau dưới một mái nhà, trong đó, cặp kết Như vậy, phổ nghiên cứu hôn nhân và hôn lần đầu sớm nhất là năm 1941, cặp biến đổi hôn nhân ở nước ta trong thời gian muộn nhất là năm 2000. Tác giả chia qua là khá rộng, trong đó đề cập đến nhiều khoảng thời gian gần 60 năm đó thành ba vấn đề khác nhau. Tuy nhiên, như ở phần giai đoạn: giai đoạn từ 1941 đến 1959 có trên đã nói, ở bài nghiên cứu này chúng tôi 24 cặp kết hôn, được gọi là mô hình I; giai cũng chỉ tập trung vào 5 yếu tố cơ bản đoạn 1960–1985 có 64 cặp, là mô hình II thuộc nội dung hôn nhân và xu hướng biến và giai đoạn 1986–2000 có 51 cặp, là mô đổi của chúng mà thôi. hình III. Kết quả khảo sát đã chỉ ra xu Về phạm vi không gian kết hôn, hay hướng nội hôn trong làng, trong xã ngày nói theo nhà sinh thái học nhân văn người càng giảm, trong khi việc kết hôn bên Pháp George Olivier (2002), là “đường bán ngoài làng xã, mà cụ thể là ở phạm vi kính kết hôn”. Đây là việc đo lường huyện, tỉnh hoặc ngoài tỉnh ngày càng tăng khoảng cách trung bình giữa nơi sinh của lên. Việc mở rộng phạm vi không gian kết hai người kết hôn để xác định các chế độ hôn ở Việt Nam trong khoảng 2/3 thế kỷ nội hôn và ngoại hôn. Có hai cách để đo qua không chỉ cho thấy phong tục hôn lường hiện tượng này: theo không gian địa nhân nơi làng xã đang thay đổi, mà còn lý, hoặc theo địa giới hành chính. Ở Việt phản ánh tính năng động và cơ động xã hội Nam, các nhà nghiên cứu thường lựa chọn của người dân cũng được nâng cao trong cách đo lường thứ hai. Chẳng hạn, ở bối cảnh của nền kinh tế thị trường, của Chương trình hợp tác nghiên cứu Việt Nam tiến trình CNH, HĐH đất nước. – Thụy Điển về “Gia đình nông thôn Việt Trong khi đó, ở nội dung tiêu chuẩn Nam trong chuyển đổi”, các tác giả đã chọn bạn đời, các nhà nghiên cứu lại phân chọn cách đo lường này. Kết quả khảo sát chia thành một số mô hình, trong đó mỗi chung của Chương trình về nơi sinh của mô hình tương ứng với một giai đoạn lịch vợ/chồng người trả lời ở 4 xã (thuộc các sử của đất nước, chẳng hạn, mô hình cổ tỉnh Yên Bái, Thừa Thiên - Huế, Tiền truyền, mô hình bao cấp, mô hình thời đổi Giang và Hà Nam) cho thấy, có 66,0% kết mới, v.v... hôn cùng xã; 16,3% cùng huyện; 8,2% Gắn liền với việc chọn bạn đời là cùng tỉnh; 9,3% khác tỉnh và 0,3% không quyền quyết định hôn nhân. Nếu chấp nhận xác định được sinh quán của mình (Dẫn theo khẩu ngữ dân gian là xưa kia “cha mẹ theo Lê Ngọc Văn, 2011: 314). đặt đâu con ngồi đấy”, còn ngày nay “con Không dừng lại ở mặt đồng đại, nhiều cái đặt đâu bố mẹ ngồi đấy”, chúng ta dễ tác giả còn đi sâu khảo sát và đo lường dàng thấy được hơn nửa thế kỷ qua quyền phạm vi không gian kết hôn về mặt lịch quyết định trong hôn nhân đã chuyển từ bố đại, từ đó chỉ ra sự biến đổi của mô hình từ mẹ sang con cái. Tuy nhiên, không giống nửa cuối thế kỷ XX đến nay. Tiêu biểu cho như ở việc lựa chọn người bạn đời, sự thay xu hướng này là Mai Văn Hai (2004) với đổi ở đây còn xuất hiện thêm một số mô cuộc nghiên cứu ở làng Đào Xá (xã An hình trung gian. Có thể tóm tắt sự chuyển 155
  5. M T SỐ QUAN ĐIỂM XÃ H I HỌC NGHIÊN CỨU VỀ HÔN NHÂN đổi này như sau: theo phong tục cổ truyền Vậy là, với mô hình quyền quyết định là “bố mẹ quyết định, con cái vâng theo”, hôn nhân, bên cạnh cái chung, vẫn còn có tiếp đó là “cha mẹ quyết định, có hỏi ý kiến những cái riêng, cái khác biệt ở các tầng con”, rồi “con quyết định, có tham khảo ý lớp, các nhóm người khác nhau. Đấy là kiến của bố mẹ” và cuối cùng là “con cái chưa kể, trong thời bao cấp (khoảng từ quyết định hoàn toàn”. 1960-1985) còn xuất hiện một mô hình rất Nhưng đấy mới chỉ là cái nhìn chung đặc thù, trong đó quyền quyết định không nhất, trong thực tế vấn đề còn phức tạp hơn thuộc cha mẹ, cũng không thuộc con cái, nhiều. Bởi vì, ngay ở mô hình đầu, trong mà thuộc về chính quyền và đoàn thể. Điều khi một số tác giả như Phan Kế Bính, Toan này được nhà văn Lê Lựu mô tả rất sinh Ánh, Lương Đức Thiệp, Hà Văn Cầu cho động qua số phận Giang Minh Sài, một rằng đấy là mô hình “cha mẹ đặt đâu con nhân vật trong tiểu thuyết Thời xa vắng. ngồi đấy”, thì nhiều tác giả khác lại không Đó là khi còn nhỏ, sống ở nông thôn, Sài bị cho là như vậy. Nhà nghiên cứu Yu Insun, bố mẹ và họ hàng ép duyên; lớn lên đi bộ qua khảo cứu lịch sử, đã đi đến kết luận: đội, dưới sức ép của lãnh đạo là cần giữ gìn trong xã hội Việt Nam truyền thống cha mẹ “lý lịch trong sạch”, Sài đành chấp nhận ít tham gia trực tiếp vào chuyện của con cái chung sống với người phụ nữ mà bố mẹ đã và con cái nghiêng về phía được độc lập cưới hỏi khi xưa. Đến khi đủ sức dứt bỏ với cha mẹ (Yu Insun, 1944: 149). cuộc hôn nhân qua “hai lần sắp đặt này, Sài Nhà nhân học Abbe Richard cũng đề lại rơi vào một mối tình oan nghiệt với một cập đến quyền tự do của thiếu nữ thôn quê thiếu nữ ở đô thị, do sự khác nhau về lối trong việc lựa chọn bạn đời. Ông viết rằng sống (Lê Lựu, 1986). “Bọn họ luôn luôn lựa chọn người chồng Cố nhiên, Giang Minh Sài chỉ là nhân theo ý thích của mình, điều mà người vật hư cấu, phản ánh hiện thực qua phương Trung Quốc không được phép làm” (Dẫn pháp điển hình hóa của nghệ thuật viết tiểu theo Khuất Thu Hồng, 1996). thuyết, cho nên tính đại diện và mức độ Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Huyên khi phổ biến của hiện tượng này vẫn là một câu nghiên cứu về hát đối của nam nữ thanh hỏi chưa được giải đáp. Nhưng, theo chúng niên, cũng đưa ra nhận xét: “Trái với điều tôi, hiện tượng Giang Minh Sài dẫu sao diễn ra trong giới quyền quý Việt Nam, cũng gợi ra như một giả thuyết, mà trong những người tiểu nông và người thuộc giai nghiên cứu này, chúng tôi sẽ kiểm nghiệm cấp trung lưu tự mình chọn lấy vợ. Nhưng để biết được tính xác thực và mức độ phổ sự lựa chọn của họ bao giờ cũng được cha biến của nó. mẹ chuẩn y. Họ quen biết nhau trước khi Đến thời kỳ Đổi mới, trong bối cảnh cưới hỏi, họ quý trọng và yêu nhau trước của nền KTTT, của CNH, HĐH, TCH và khi trở thành vợ chồng. Mặc dù những lời HNQT, hiện tượng “ép duyên” hay “áp tỏ tình công khai này, mặc dù quyền tự do đặt” đôi khi vẫn được báo chí nêu lên, hoàn toàn này đã được phong tục làng xã nhưng nhìn chung việc hôn nhân đã được chấp nhận, được lý dịch và kỳ mục ủng hộ, tự do hơn rất nhiều. Kết quả điều tra của song trai gái bao giờ cũng cố gắng theo Vũ Tuấn Huy và cộng sự ở một xã thuộc truyền thống, hỏi ý kiến cha mẹ” (Nguyễn đồng bằng sông Hồng năm 2003 chỉ ra Văn Huyên, 1995). rằng, dù bố mẹ vẫn có những ảnh hưởng 156
  6. NGUYỄN THỊ THU THOA – NGUYỄN THỊ HÀ nhất định, song vai trò của đôi trẻ nổi lên tuổi kết hôn lần đầu ở Việt Nam qua các như là người quyết định chính trong hôn điểm mốc thời gian là các năm 1989, 1999 nhân (Vũ Tuấn Huy, 2004). Liên quan đến và 2009 (Lê Ngọc Văn, 2011: 307). Ưu vai trò của con cái còn có thêm những yếu điểm của khuynh hướng này là các tác giả tố mới nữa. Cuộc nghiên cứu của Khuất đã căn cứ vào các điểm mốc thời gian để Thu Hồng vào đầu thập niên 90 của thế kỷ chỉ ra trạng thái và xu hướng biến đổi của trước đã ghi nhận: với mô hình quyền hôn nhân. Tuy nhiên, do phụ thuộc vào các quyết định chuyển từ cha mẹ sang con cái, nguồn số liệu và các điểm mốc thời gian bạn bè đã trở thành nhân vật khá quan của các chủ đề nghiên cứu khác, nên các trọng, bởi trong nhiều trường hợp, họ thành tựu thu được thường tản mạn và không chỉ là người giới thiệu đối tượng, mà thiếu đồng bộ. còn đưa ra những lời khuyên có ý nghĩa Trong khi đó, các nhà nghiên cứu quyết định (Khuất Thu Hồng, 1996). thuộc khuynh hướng thứ hai lại tự xác định Cùng với việc phân tích về nội dung các điểm mốc thời gian theo quan điểm và và các trạng thái khác nhau trong sự biến mục tiêu nghiên cứu của mình. Chẳng hạn, đổi hôn nhân ở Việt Nam trong mấy thập ở luận án tiến sĩ Các mô hình hôn nhân ở niên vừa qua, một vấn đề có ý nghĩa lý đồng bằng sông Hồng từ truyền thống đến luận và phương pháp luận cũng đã được hiện đại, Khuất Thu Hồng (1996) phân nhiều tác giả đặt ra – đó là việc phân kỳ sự chia sự biến đổi hôn nhân trên địa bàn biến đổi hôn nhân. Có thể chia sự phân kỳ nghiên cứu thành ba giai đoạn: giai đoạn I này thành hai khuynh hướng cơ bản sau được gọi là hôn nhân truyền thống (tính từ đây: đầu thế kỷ đến năm 1954); giai đoạn II là Khuynh hướng thứ nhất, là khuynh hôn nhân trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa hướng mà theo đó các nhà nghiên cứu xã hội theo kiểu cũ (từ 1954 đến 1985); và thường dựa vào nguồn số liệu của một giai đoạn cuối cùng là hôn nhân của thời cuộc điều tra kinh tế - xã hội hoặc một kỳ Đổi mới (từ 1986 về sau). Cần lưu ý là, cuộc nghiên cứu tổng thể nào đó để chỉ ra mặc dù đã đặt ra mục tiêu và nhiệm vụ các khía cạnh có liên quan đến chủ đề hôn “mô tả và phân tích một số biến đổi trong nhân. Chẳng hạn, Nelly Krowoski – một hôn nhân ở đồng bằng sông Hồng trong thế tác giả người Pháp – với tư cách là thành kỷ XX”, song tác giả không nói rõ lý do tại viên trong nhóm nghiên cứu làng Mông sao đã lựa chọn ba điểm mốc thời gian đó. Phụ (một làng ở đồng bằng sông Hồng) đã Như vậy, tùy theo mục tiêu nghiên dựa trên nguồn số liệu của cuộc điều tra cứu, mỗi tác giả hay nhóm tác giả đã đưa chung để phân chia ra các mốc thời gian là ra những điểm mốc thời gian khác nhau trước năm 1945, 1945-1954, 1954-1975 và trong việc phân kỳ sự biến đổi hôn nhân. sau 1975, qua đó đưa ra nhận định về tỷ lệ Có điều, dù cho mục tiêu có khác nhau thế nội hôn trong làng ngày càng giảm đi, nào, song khi bàn về sự biến đổi xã hội nói trong khi ngoại hôn lại tăng lên (Nelly chung, cũng như sự biến đổi của hôn nhân Krowoski, 2003). Cũng như vậy, Lê Ngọc nói riêng, người ta không thể không xác Văn dựa vào nguồn số liệu từ các cuộc định và so sánh sự thay đổi trạng thái của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở theo chu kỳ hiện tượng ở các điểm mốc thời gian, dưới 10 năm để đưa ra nhận định về sự biến đổi tác động của các điều kiện chính trị - xã 157
  7. M T SỐ QUAN ĐIỂM XÃ H I HỌC NGHIÊN CỨU VỀ HÔN NHÂN hội riêng của chúng. Với cơ sở phương giáo trong hôn nhân với mục đích giúp con pháp luận này, nhà nghiên cứu không chỉ cái mình xây dựng một cuộc sống hôn nhân biết được sự biến đổi đã diễn ra như thế gia đình bền vững, hạnh phúc và thánh nào, mà còn trả lời được câu hỏi tại sao thiện, thể hiện lòng biết ơn gọi hôn nhân và chúng đã biến đổi. gia đình như ý muốn của Thiên Chúa. Từ góc nhìn xã hội học, hôn nhân cũng Theo Giáo hội, hôn nhân được gọi là là một thiết chế xã hội. Đó là “một phần Bí tích Hôn phối, đây là sự tác hợp vợ của văn hóa, một đoạn đã được khuôn mẫu chồng giữa một người nam và một người hóa trong nếp sống của một dân tộc” nữ thông qua giáo quyền.Về bản chất, sự (Joseph Fichter, 1973: 146). Như thế, cho tác hợp này là duy nhất (được gọi đơn hôn) dù là một thiết chế phụ của gia đình, song, và vĩnh viễn (được gọi là vĩnh hôn) trong với tư cách là những khuôn mẫu của nếp suốt cuộc đời người nam và người nữ. Vì sống, hai lĩnh vực hôn nhân và gia đình vậy, khi nói về hôn nhân Công giáo trong đều có sự độc lập tương đối với nhau. Theo Giáo luật Công giáo năm 1917 đã có chúng tôi, “Sự khu biệt này có ý nghĩa lý những quy định cụ thể về Bí tích Hôn phối luận và phương pháp luận rất to lớn – bởi được ghi từ điều 1055 đến điều 1072. chỉ có như vậy chúng ta mới có thể xây Chẳng hạn như trong điều 1055 khoản 1 và dựng được một hệ thống tri thức độc lập về khoản 2 đã quy định: “Do giao ước hôn hôn nhân, đồng thời tạo ra một quan niệm phối, người nam và người nữ tạo nên với hoàn chỉnh về các qui luật và mối liên hệ nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc của chúng với đời sống hiện thực, từ đó sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối tránh được việc hòa tan hôn nhân vào trong hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh các nghiên cứu về gia đình mà lâu nay sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã chúng ta vẫn gặp” (Ngô Thị Thanh Quý, nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu 2013: 61). phép rửa tội lên hàng bí tích”; “Bởi vậy, Từ cách nhìn nhận như trên, bài viết giữa những người đã chịu phép Rửa tội, của chúng tôi với tư cách là một nghiên không thể có khế ước hôn phối hữu hiệu cứu trường hợp, sẽ cố gắng đi sâu phân tích nếu đồng thời không phải là Bí tích”. và tổng hợp nhằm góp phần xây dựng một Như vậy, Giáo hội Công giáo xác định quan niệm, một hướng tiếp cận, cũng như hôn nhân là một “bí tích” . Vì vậy, nó có một hệ thống tri thức tương đối độc lập về tính chất thánh thiêng, việc cử hành “bí hôn nhân và biến đổi hôn nhân như chúng tích hôn nhân” một cách chính thức trước cần phải có. mặt Cộng đoàn giáo dân do một linh mục Hôn nhân Công giáo không chỉ liên cử hành khiến nó trở thành một giao ước quan đến hai vợ chồng mà còn liên quan vĩnh cửu giữa người nam và người nữ. đến một phạm vi rộng lớn hơn, từ họ hàng Người Công giáo tin rằng khi được lãnh hai bên đến xã hội, bởi vì gia đình là tế bào nhận bí tích hôn nhân một cách chính thức, căn bản của xã hội. Về mặt tôn giáo, trong thì đôi nam nữ sẽ được chúc phúc yêu bộ luật của Hội thánh, được gọi là Giáo thương, chung thủy với nhau suốt cả đời, luật, ban hành ngày 25/01/1983 có 111 trong một giao ước do chính Chúa Giêsu khoản về hôn nhân. Trong đó, Giáo luật chỉ đã lập. Điều này đã được nhấn mạnh trong ra những ràng buộc đối với người Công khoản 2 điều 1055 của Giáo luật: “Với tính 158
  8. NGUYỄN THỊ THU THOA – NGUYỄN THỊ HÀ chất Bí tích của hôn nhân Công giáo: Giáo nào, hoặc không còn bị ràng buộc bởi một lý Công giáo luôn nhìn nhận và nhấn mạnh bí tích hôn phối trước đó (Khi chồng/ vợ tới chiều kích siêu nhiên của định chế hôn mình qua đời tự nhiên), học qua lớp giáo lý nhân”. của Giáo hội Công giáo thông qua giáo xứ Theo Giáo luật, Giáo hội sẽ không hay giáo phận và không bị vướng vào một công nhận hôn nhân khi chỉ có kết hôn dân hay nhiều “ngăn trở” theo quy định của sự (đăng ký giá thú ngoài đời) mà không Giáo Luật về hôn nhân và gia đình. qua lãnh nhận bí tích từ Giáo hội (tổ chức Tuy nhiên, hôn nhân không phải chỉ lễ cưới trong nhà thờ). Điều này đã được được thiết lập để mưu sự truyền sinh mà Giáo luật ghi rõ trong điều 1055 và điều thôi. Hôn nhân là một giao ước không thể 1165 với tuyên bố, giá thú như thế là vô phá vỡ được. Điều này có nghĩa rằng, ngay hiệu qua câu: “Giữa những người đã chịu cả trong trường hợp không có con như phép rửa tội, không thể có khế ước hôn mong muốn thì hôn nhân vẫn tồn tại như phối hữu hiệu nếu đồng thời không phải là một quy chế và một sự chia sẻ trọn vẹn đời bí tích” [6], hay “ Những người Công giáo sống, và vẫn giữ được giá trị và tính bất chưa chịu Bí Tích Thêm Sức, thì phải lãnh khả phân ly của nó. Như vậy, Văn kiện Bí Tích ấy trước khi được nhận kết hôn, cũng đã khẳng định hai đặc tính cơ bản của nếu có thể được và không có khó khăn hôn nhân Công giáo là tính đơn hôn và tính trầm trọng”[6]. vĩnh hôn. Ngoài ra, Giáo luật còn nêu lên các 2.2. Quan điểm của các học giả Công điều kiện của một cuộc hôn nhân Công giáo và ngoài công giáo nghiên cứu về giáo. Theo đó, người nam và người nữ hôn nhân muốn kết hôn với nhau thì phải đảm bảo Nguồn tài liệu của các giáo sĩ và được tự do về tinh thần: Tức là họ được tự những học giả Công giáo viết về hôn nhân do kết hôn, không phải chịu sức ép nào từ cũng khá nhiều, đầu tiên có thể kể đến một bên ngoài (Gia đình, người thân, các khoản số công trình tiêu biểu như: Hôn nhân khế ước, vay nợ…). Bên cạnh đó, còn phải Công giáo của Toà giám mục Xuân Lộc, được tự do về dân sự: có nghĩa là không bị Hôn nhân và gia đình của Tòa Giám mục ràng buộc về mặt pháp lý hôn nhân dân sự Long Xuyên, Giảng trong lễ hôn phối của (như đang có hôn thú với người khác); Về Linh mục Nguyễn Hữu Triết; Tin mừng tuổi kết hôn điều 1083 quy định tại khoản 1 cho đôi tân hôn, Hôn nhân Kitô giáo và khoản 2 về tuổi để kết hôn: §1 “Người (1998) của Phao-lô Nguyễn Bình Tĩnh và nam chưa đủ 16 tuổi, người nữ chưa đủ 14 linh mục Xuân Bích…Nhìn chung tác giả tuổi không thể kết hôn hữu hiệu”; §2 “Hội của các công trình trên đều cho rằng, với đồng Giám mục có quyền ấn định tuổi lớn người Công giáo, hôn nhân chính là một bí hơn để kết hôn hợp pháp”. Hội đồng Giám tích. Chính Thiên Chúa đã dùng quyền mục Việt Nam ấn định: Nam từ 20 tuổi trở năng liên kết họ với nhau bởi thế họ không lên, nữ từ 18 tuổi trở lên; có tôn giáo và đức được bỏ nhau vì bất cứ lý do gì. Quan niệm tin, người nam và người nữ phải được rửa này xuất phát từ đặc tính và mục đích của tội theo nghi thức Công giáo (đồng đạo), hôn nhân Công giáo. đặc biệt trong cả hai người nam và nữ đều Linh mục Nguyễn Công Vinh trong phải chưa lãnh nhận bí tích hôn phối lần cuốn Tìm hiểu giáo luật về hôn nhân và gia 159
  9. M T SỐ QUAN ĐIỂM XÃ H I HỌC NGHIÊN CỨU VỀ HÔN NHÂN đình(năm 2009), cũng đã xem xét mọi góc nhận định về giá trị cũng như những hạn cạnh của hôn nhân công giáo trong mối chế của từng vấn đề được nêu ra [12]. tương quan với giáo luật như: Sống chung Nhìn chung, các nghiên cứu kể trên trước hôn nhân, không thể làm giấy kết giúp chúng ta hiểu được một cách căn bản hôn dân sự, kết hôn theo giáo luật nhưng về quan niệm hôn nhân của người Công không đăng ký kết hôn dân luật, khám sức giáo, làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận quan khỏe trước khi kết hôn, hay quy định về trọng về hôn nhân, gia đình Công giáo. Các giáo lý chuẩn bị hôn nhân…Cũng giống tác giả bước đầu cũng đã chỉ ra những giá như cuốn Giáo lý về hôn nhân Công giáo trị văn hoá, đạo đức của Công giáo nói thì cuốn sách này giúp cho mọi người tiếp chung và giá trị của hôn nhân, gia đình cận với hôn nhân Công giáo trên cả hai Công giáo nói riêng trong quá trình hội phương diện Giáo luật và Dân luật. nhập với văn hóa dân tộc Việt Nam hiện Ngoài ra, trong một tác phẩm khác nay. Từ đó, giúp chúng ta hiểu rằng theo Tình yêu hôn nhân, Nxb Phương Đông năm Giáo luật quy định thì Hôn nhân chính là 2014, Linh mục Nguyễn Công Vinh cũng một bí tích đối với người Công giáo. Trong đã viết về hôn nhân trong chương trình của đó, bí tích được hiểu là: “Những dấu hiệu Thiên Chúa giáo từ việc nêu lên ý nghĩa và hữu hình được Chúa Ki tô dùng để ban ân mục đích của hôn nhân Công giáo tác giả sủng cho loài người” [8, tr6]. Khi kết hôn, đã khái quát rằng: “ hôn nhân Công giáo vợ chồng không còn là hai mà nên một. phải theo tinh thần và lề luật của Hội thánh Chính Thiên Chúa đã dùng quyền năng để thể hiện ở các yếu tố quan trọng như: Sự tự liên kết họ với nhau bởi thế mà họ không do, khả năng tính dục, tình yêu chung thủy, được bỏ nhau vì bất cứ lý do gì. đức tin, một số quy định có tính cách pháp Năm 2010, kỷ yếu hội thảo “Nếp sống luật để bảo vệ hôn nhân”, trong đó tác giả đạo của người Công giáo Việt Nam” do cũng có nói đến tuổi kết hôn theo Giáo luật Viện nghiên cứu Tôn giáo tổ chức đã được đối với người nam từ 16 tuổi trở lên và xuất bản thành sách do tác giả Nguyễn người nữ từ 14 tuổi trở lên, tuy nhiên tác Hồng Dương chủ biên. Công trình là tuyển giả cũng cho rằng: “Dù đã đủ tuổi Giáo luật tập của 27 báo cáo của các nhà nghiên cứu nhưng chưa đủ tuổi Dân luật thì Hội thánh về đạo Công giáo ở Việt Nam, trong đó có khuyên nên theo Dân luật” - GL 1083. bài viết của tác giả Lê Đức Hạnh về đề tài: Chủ đề hôn nhân của người Công giáo “Hôn nhân Công giáo: quá trình hình thành còn được nêu ra trong bản tin chuyên đề một bí tích”. Trong bài viết này, tác giả đi Hiệp thông. Trong các nghiên cứu này, vào tìm hiểu hôn nhân với tư cách là một bí dưới nhãn quan của người Công giáo, các tích và quá trình hình thành của nó. Tuy tác giả đã đề cập đến những vấn đề của hôn nhiên, như chính tác giả tự nhận xét, đây nhân Công giáo như bí tích hôn nhân, tính mới chỉ là những tìm hiểu “ban đầu vè sự dục, hôn nhân đồng tính, ly hôn đã bước ra đời của hôn nhân Công giáo và quá trình đầu được nêu ra và phân tích. Mặc dù vậy, nó trở thành một trong 7 bí tích như thế những bản tin này chỉ dừng ở việc nêu lên nào”[5,tr274]. đặc điểm của hôn nhân Công giáo và những Đặc biệt, cuốn sách Hôn nhân trong xã sự kiện chỉ mang tính chất cung cấp thông hội Việt Nam đương đại (năm 20116) của tin chứ chưa có những phân tích, đánh giá, Nguyễn Hữu Minh. Đây là một công trình 160
  10. NGUYỄN THỊ THU THOA – NGUYỄN THỊ HÀ chuyên khảo của tác giả nhằm đóng góp phụ nữ theo đạo Công giáo phải chịu nhiều thêm những tri thức mới, làm rõ nét hơn áp lực từ phía gia đình hơn để lấy chồng bức tranh toàn cảnh về những thay đổi cùng tôn giáo. Bởi vì, theo phong tục trong đời sống hôn nhân ở Việt Nam trong truyền thống ở vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn vừa qua. Trong đó, ở phần Lựa cô dâu thường về nhà chồng sau khi kết chọn bạn đời và kết hôn: truyền thống và hôn. Vì thế, các bậc cha mẹ e ngại rằng nếu biến đổi, tác giả tập trung đi tìm hiểu về con gái họ cưới một người chồng không khuôn mẫu lựa chọn bạn đời trong xã hội theo Công giáo thì sẽ không còn gắn bó với Việt Nam truyền thống và trong xã hội tôn giáo của họ nữa” [9, Tr111]. đương đại dựa trên các kết quả nghiên cứu 3. Kết luận từ số liệu điều tra trong cuộc Điều tra gia Như vậy, có thể nói nguồn tư liệu đình Việt Nam năm 2006. Các kết quả nghiên cứu về hôn nhân nói chung và nghiên cứu cũng gợi ra rằng: “Việc theo phong tục hôn nhân nói riêng là rất phong đạo Thiên chúa giáo làm giảm khả năng tự phú, đa dạng. Sự vận hành và biến đổi của do lựa chọn bạn đời trong hôn nhân so với các mô hình hôn nhân không phải ngẫu những người còn lại” (Nguyễn Hữu Minh, nhiên, mà đều có những nguyên nhân trực 1999; Lê Ngọc Văn, 2007). Ngoài ra, yếu tiếp hoặc sâu xa của nó. Chúng ta biết, tố tôn giáo cũng có tác động đáng kể đến trong xã hội con người không chỉ sống với quyền quyết định trong hôn nhân của các những phong tục, tập quán mà các thế hệ cá nhân. Những thành viên trong các gia cha ông để lại, họ còn chịu sự chi phối bởi đình theo Công giáo thường có hôn nhân các giá trị và chuẩn mực của thời đại mà do cha mẹ sắp xếp hơn là những người mình đang sống.Do vậy, cần có nhiều không theo Công giáo. Lý do, là những bậc nghiên cứu chuyên sâu về hôn nhân bằng cha mẹ trong các gia đình theo đạo có xu việc vận dụng các lý thuyết, hay các phương hướng muốn kiểm soát con chặt chẽ hơn để pháp tiếp cận định lượng nhằm giúp cho đảm bảo con mình sẽ lấy vợ lấy chồng người đọc nhận thức được mức độ phổ biến cùng tôn giáo, do đó sẽ không bị mất đạo. hay không phổ biến của hiện tượng cũng Bởi vì đã từ rất lâu nhiều tôn giáo coi hôn như sự khác biệt giữa các nhóm xã hội về nhân trong cùng tôn giáo là một phương hiện tượng được nghiên cứu. thức duy trì và phát triển tôn giáo mình. TÀI LIỆU THAM KHẢO (dẫn theo Nguyễn Hữu Minh, 2016). 1. Đỗ Thị Ngọc Anh (2015), Giá trị của hôn Hơn nữa, dựa vào kết quả nghiên cứu nhân và gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện từ số liệu điều tra gia đình Việt Nam năm nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Đại học Quốc 2006 tác giả Nguyễn Hữu Minh đã nhận gia Hà Nội. xét rằng: “Yếu tố tôn giáo có tác động nhất 2. Cộng đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ về định đến tuổi kết hôn. Cụ thể, kết quả Hội thánh trong thế giới ngày nay. nghiên cứu ở khu vực đồng bằng Sông 3. Nguyễn Văn Dụ (2006), Hội nhập văn hóa Hồng cho thấy những người theo đạo Công trong hôn nhân và gia đình Việt Nam theo giáo thường kết hôn sớm hơn so với những Tông huấn Familiaris Con sortio, Trung tâm người không theo đạo Công giáo. Trong mục vụ Việt Nam – Italia. đó, tác động của việc theo đạo Công giáo 4. Nguyễn Hồng Dương (2001), Nghi lễ và lối đối với nữ mạnh hơn so với nam có lẽ vì sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb 161
  11. M T SỐ QUAN ĐIỂM XÃ H I HỌC NGHIÊN CỨU VỀ HÔN NHÂN KHXH, Hà Nội. hội việt nam đương đại, Nxb Khoa học xã hội. 5. Nguyễn Hồng Dương (2010), Nếp sống đạo 10. Luật hôn nhân và Gia đình, 2014. của người Công giáo Việt Nam, Nxb Khoa 11. Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh (1995), Hôn nhân học xã hội. Kitô giáo, Tòa giám mục Đà Nẵng. 6. Giáo luật năm 1983. Nxb.Trái tim Đức Mẹ 12. Viện thông tin khoa học – trung tâm khoa học 7. Gioan PhaolôII (2003), Tông huấn đời sống về tín ngưỡng và tôn giáo (1997), Những đặc gia đình. điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt 8. Hội đồng Giám mục Việt Nam (1992), Giáo lý Nam (Thông tin chuyên đề), Hà Nội. tr.223. Hội thánh Công giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 13. Từ điển Công giáo phổ thông, Tủ sách đại kết. 9. Nguyễn Hữu Minh (2016), Hôn nhân trong xã 14. Từ điển Xã hội học Oxford, 2010. Ngày nhận bài: 28/9/2017 Biên tập xong: 15/10/2017 Duyệt đăng: 20/10/2017 162

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản