
KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
86
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công
nghiệp 4.0, chất lượng nguồn nhân lực (NNL) trở
thành yếu tố then chốt quyết định sự phát triển bền
vững của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà
nước luôn xác định giáo dục - đào tạo là "quốc sách
hàng đầu", trong đó nâng cao chất lượng NNL giáo
dục đại học (GDĐH) là nhiệm vụ trọng tâm. Nghị
quyết số 29-NQ/TW (2013) của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
GD-ĐT nhấn mạnh: "Phát triển đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt", đồng thời
yêu cầu các cơ sở GDĐH phải "đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội". Tiếp đó, chiến lược phát triển GDĐH giai đoạn
2021-2030 (ban hành kèm Quyết định số 69/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ) đặt mục tiêu đến năm
2030, ít nhất 60% cán bộ giảng dạy đại học có trình độ
tiến sĩ, phấn đấu xếp hạng 10 trường đại học Việt Nam
vào top 500 thế giới.
(Nguồn: Phòng QLKH-HTQT-TC)
Tuy nhiên, thực tế công tác nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực tại Học viện Quản lý Giáo dục
(HVQLGD) - đơn vị đầu ngành trong đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ quản lý giáo dục vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Năm 2024, Học viện Quản lý Giáo dục có 57,5% giảng
viên có trình độ tiến sĩ, tuy tỷ lệ này đã gần tiệm cận
mục tiêu về trình độ giảng viên nhưng tỷ lệ công bố
quốc tế thuộc nhóm Scopus/ISI còn thấp (dưới 5
bài/năm)
(Nguồn: Phòng QLKH-HTQT-TC)
. Bên cạnh đó năng
lực ứng dụng công nghệ trong giảng dạy chưa thật sự
đáp ứng yêu cầu đổi mới. Những hạn chế này đặt ra bài
toán cấp bách về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
giảng viên tại Học viện Quản lý giáo dục. Bên cạnh đó,
để khẳng định vị trí và nâng cao khả năng cạnh tranh
trong hệ thống giáo dục đại học, Học viện (HV) cần
phải nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông
qua các giải pháp đồng bộ - từ tuyển chọn, đào tạo, tạo
động lực đến các hoạt động hợp tác với tổ chức giáo
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC GIẢNG VIÊN
TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngày nhận: 22/8/2025
Ngày phản biện: 24/9/2025
Ngày duyệt đăng: 15/10/2025
Tóm tắt: Xu hướng toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 - CMCN Số đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải không
ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực giảng viên, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên bản
đồ giáo dục đại học quốc gia và quốc tế và Học viện Quản lý giáo dục cũng nằm trong xu thế này. Mặc dù đội ngũ nhân lực giảng
viên tại Học viện về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học nhưng nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực là hoạt động quan trọng, đòi hỏi cần thực hiện thường xuyên và hiệu quả. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả phân tích thực
trạng chất lượng và thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giảng viên tại Học viện Quản lý giáo dục, trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bối cảnh số hiện nay.
Từ khóa: Chất lượng, nguồn nhân lực, giảng viên, Học viện Quản lý giáo dục.
JEL Codes: I23, M12, O15
IMPROVING THE QUALITY OF LECTURERS HUMAN RESOURCES AT THE NATIONAL ACADEMY OF EDUCATIONAL
MANAGEMENT: CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS
Abstract: The trends of globalization and the Fourth Industrial Revolution (Industry 4.0) - the Digital Revolution - require higher
education institutions to continuously enhance the quality of their human resources, particularly lecturers, in order to strengthen
their competitiveness in both national and international higher education landscapes. The National Academy of Education
Management is no exception to this trend. Although the Academy’s lecturers generally meet the requirements of teaching and
scientific research activities, improving the quality of human resources remains a critical and ongoing task that must be carried out
effectively. Within the scope of this paper, the author analyzes the current situation of lecturer quality and efforts to enhance human
resource development at the National Academy of Education Management, thereby proposing several solutions to improve the
quality of lecturers in the current digital context.
Keywords: quality, human resources, lecturers, National academy of education management.
——————
* Học viện Quản lý Giáo dục. Email: tothuydung3112@gmail.com
Tô Thùy DuNg*

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
87
dục trong và ngoài nước, hợp tác với doanh nghiệp
nhằm liên kết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp
cả định tính và định lượng, phân tích tổng hợp thông
tin và thống kê mô tả nhằm phân tích thực trạng hoạt
động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giảng viên
tại Học viện hiện nay và đề xuất giải pháp nhằm góp
phần phát triển nguồn nhân lực giảng viên chất lượng
cao tại Học viện Quản lý giáo dục, đồng thời đáp ứng
nhu cầu thực tiễn trong giai đoạn chuyển đổi số và
hội nhập quốc tế.
2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực giảng
viên tại học viện Quản lý giáo dục
2.1. Thực trạng thể lực
Theo báo cáo y tế định kỳ hằng năm của Phòng Tổ
chức Hành chính sau khi Học viện tổ chức khám định
kỳ cho cán bộ viên chức, hơn 80% cán bộ, giảng viên
của Học viện được đánh giá là có thể trạng tốt hoặc
khá, đủ đáp ứng yêu cầu giảng dạy và trao đổi chuyên
môn. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 15-20% cán bộ có chỉ
số BMI cao, tăng huyết áp hoặc rối loạn chuyển hóa,
chủ yếu tập trung ở nhóm trung và cao tuổi. Sức khỏe
thể chất kém ảnh hưởng đến khả năng làm việc ổn
định và lâu dài, đặc biệt khi áp lực công việc gia tăng
cùng với nhu cầu đổi mới và tự chủ đại học.
Biểu 1. Đánh giá sức khỏe thể chất của viên chức
Học viện
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Kết quả khảo sát về sức khỏe thể chất của viên
chức Học viện tương thích với báo cáo y tế của Phòng
Tổ chức Hành chính. Cụ thể khi được hỏi về mức độ
đồng ý với ý kiến “Viên chức Học viện có sức khỏe thể
chất tốt để đáp ứng yêu cầu công việc” tỷ lệ đồng ý
(35,37%) và hoàn toàn đồng ý (45,58%) chiếm đa số,
cho thấy hơn 80% viên chức được đánh giá có sức
khỏe thể chất tốt, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu công
việc. Đây là nền tảng quan trọng giúp đội ngũ viên
chức duy trì cường độ lao động ổn định, đảm bảo
hiệu quả trong giảng dạy, nghiên cứu cũng như các
hoạt động quản lý. Tuy nhiên, vẫn có 17,01% ở mức
phân vân và một tỷ lệ nhỏ 2,04% không đồng ý, phản
ánh rằng một bộ phận viên chức còn gặp hạn chế
nhất định về sức khỏe, có thể ảnh hưởng đến năng
suất làm việc. Vậy Học viện cần có các giải pháp
nhằm nâng cao sức khỏe thể lực cho nguồn nhân lực
hiện nay.
2.2. Thực trạng trí lực
Nguồn nhân lực của NAEM có trình độ chuyên
môn tương đối cao so với mặt bằng chung các cơ sở
đào tạo. Tính đến năm 2024, gần 60% giảng viên cơ
hữu có học vị tiến sĩ, 30% có bằng thạc sĩ, số còn lại là
nghiên cứu sinh đang theo học trong và ngoài nước.
Sự đa dạng trong nền tảng đào tạo - đặc biệt là các
học vị tiến sĩ từ các quốc gia phát triển - đem lại giá
trị lớn trong việc tiếp cận phương pháp quản lý hiện
đại, công nghệ sư phạm tiên tiến và giảng dạy theo
tiêu chuẩn quốc tế. Điều này tạo nên lợi thế nổi bật
so với nhiều cơ sở đào tạo trong nước và hướng tới
mục tiêu hội nhập khu vực trong chiến lược phát
triển của Học viện.
Bảng 1. Thống kê số lượng giảng viên và nghiên
cứu viên
Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính
Dữ liệu tại Bảng 2 cho thấy đội ngũ giảng viên và
nghiên cứu viên của nhà trường có trình độ học thuật
ở mức cao, đặc biệt ở nhóm giảng viên hợp đồng/
thỉnh giảng và nghiên cứu viên.
Bảng 2. Cơ cấu giảng viên theo trình độ
Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính
Cụ thể, trong tổng số 102 giảng viên cơ hữu/toàn
thời gian, có 02 Giáo sư, 05 Phó giáo sư, 52 tiến sĩ,

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
88
người đạt học vị tiến sĩ chiếm 57,84% - đây là tỷ lệ
đáng ghi nhận, phản ánh sự quan tâm của nhà trường
đối với việc xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ
chuyên môn sâu. Đáng chú ý, ở nhóm 17 giảng viên
hợp đồng/thỉnh giảng, số lượng tiến sĩ đạt 10 người
(58,8%), nhỉnh hơn so với nhóm cơ hữu, cho thấy
chiến lược mời giảng viên ngoài trường với học vị cao
nhằm bổ sung tri thức mới và kinh nghiệm thực tiễn là
khá hiệu quả. Đặc biệt, 100% nghiên cứu viên cơ hữu
của trường đạt trình độ tiến sĩ, khẳng định chất lượng
chuyên môn trong hoạt động nghiên cứu khoa học.
Tính chung, tỷ lệ giảng viên và nghiên cứu viên cơ
hữu có trình độ tiến sĩ đạt 58,25% - mức khá cao so với
mặt bằng chung của nhiều cơ sở giáo dục đại học
trong nước, đồng thời là nền tảng quan trọng để nâng
cao chất lượng đào tạo và tiến tới đạt chuẩn kiểm
định quốc tế.
Về trình độ tin học 100% giảng viên đạt tiêu chuẩn
và đều có chứng chỉ Tin học theo Thông tư
03/2014/TT-BTTTT về chuẩn kỹ năng sử dụng công
nghệ thông tin.
Về trình độ ngoại ngữ, 100% giảng viên đạt tiêu
chuẩn theo Thông tư 03/2023/TT-BNV.
Về năng lực nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng
viên và cán bộ nghiên cứu của Học viện có năng lực
tốt trong triển khai các đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ,
cấp cơ sở. Nhiều giảng viên là chủ nhiệm các đề tài
trọng điểm về quản lý giáo dục, xây dựng chính sách
giáo dục phổ thông, kiểm định chất lượng, đổi mới
quản trị trường học và chuyển đổi số.
Biểu 2. Năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học
của giảng viên
Nguồn: Khảo sát của tác giả
Biểu đồ phản ánh hai khía cạnh năng lực then chốt
của giảng viên Học viện Quản lý Giáo dục: năng lực
giảng dạy và năng lực nghiên cứu khoa học. Về năng
lực giảng dạy, gắn lý thuyết với thực tiễn: Có tới 60,6%
số người được hỏi (35,35% đồng ý và 25,25% hoàn
toàn đồng ý) khẳng định giảng viên có năng lực giảng
dạy tốt, gắn kết được lý thuyết với thực tiễn. Đây là chỉ
dấu quan trọng cho thấy phần lớn giảng viên đã đáp
ứng yêu cầu sư phạm cơ bản. Tuy nhiên, tỷ lệ 26,26%
phân vân và 11,11% không đồng ý lại phản ánh
những khoảng trống trong phương pháp giảng dạy,
cụ thể là khả năng vận dụng linh hoạt tri thức vào tình
huống thực tiễn còn chưa đồng đều. Điều này cho
thấy bên cạnh nhóm giảng viên mạnh về chuyên
môn, vẫn tồn tại nhóm cần được bồi dưỡng thêm kỹ
năng sư phạm, phương pháp giảng dạy tích cực và
năng lực gắn lý luận với bối cảnh nghề nghiệp thực tế.
Hiện nay sự chuyển đổi phương pháp chưa đồng đều
giữa các khoa và thế hệ giảng viên. Giảng viên trẻ
thường nhạy với chuyển đổi số, tích hợp công nghệ
vào giảng dạy hơn so với thế hệ trưởng thành - vẫn
dựa nhiều vào phương pháp truyền thống. Đây là
thách thức cần được khắc phục để đảm bảo chất
lượng đào tạo đồng bộ, hiệu quả.
Về năng lực nghiên cứu khoa học: Kết quả nổi bật
khi có tới 71,7% (35,35% đồng ý và 36,36% hoàn toàn
đồng ý) đánh giá giảng viên có năng lực nghiên cứu
khoa học và công bố kết quả. Tỷ lệ này cao hơn so với
năng lực giảng dạy, đồng thời tỷ lệ “phân vân” chỉ ở
mức 17,17%, cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa
học được nhìn nhận là điểm mạnh nổi trội của đội ngũ
giảng viên. Đây cũng là cơ sở khẳng định Học viện đã
xây dựng được đội ngũ có nền tảng nghiên cứu tốt,
góp phần nâng cao uy tín học thuật và gắn kết với yêu
cầu đổi mới giáo dục đại học.
Kết quả khảo sát tương đồng với kết quả nghiên
cứu khoa học tại Học viện. Giảng viên Học viện cũng
có số lượng bài báo khoa học ngày càng tăng, từng
bước tiếp cận với yêu cầu hội nhập và nâng cao uy tín
học thuật trên phạm vi khu vực. Hoạt động nghiên
cứu khoa học cũng phản ánh trình độ chuyên môn
của đội ngũ nhân sự. Nghiên cứu khoa học là một
trong những nhiệm vụ quan trọng mà nhà trường đề
ra đối với mỗi cán bộ giảng viên. Nghiên cứu khoa học
phải tạo ra những sản phẩm mang tính ứng dụng chứ
không phải chỉ tạo ra trên lý thuyết. Trong những năm
qua, công trình khoa học của Học viện có sự tăng lên
cả về lượng và về chất, cụ thể:
Có thể thấy, mặc dù bài đăng tạp chí khoa học
ngày càng tăng nhưng số bài đăng trên tạp chí khoa
học quốc tế vẫn còn khiêm tốn, số bài đăng trên tạp
chí thuộc danh mục uy tín ISI/SCOPUS chưa đáng kể,
đây là một nội dung cần quan tâm để nâng cao năng
lực đội ngũ viên chức, người lao động, đặc biệt là
giảng viên của Học viện.

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
tapchikinhtelaodong@dhcd.edu.vn
89
2.3. Thực trạng tâm lực
Một trong những điểm sáng nổi bật của đội ngũ
cán bộ, giảng viên tại Học viện là tinh thần trách
nhiệm và lòng yêu nghề cao. Nhiều giảng viên sẵn
sàng đảm nhận nhiều vai trò cùng lúc như giảng dạy,
nghiên cứu, biên soạn tài liệu, tham gia hội đồng
thẩm định, tổ chức hội thảo khoa học... Tinh thần tận
tụy còn thể hiện qua việc nhiều giảng viên ngoài giờ
hành chính vẫn tích cực tham gia các hoạt động học
thuật, chấm luận văn, hướng dẫn nghiên cứu sinh và
viết báo khoa học. Những đóng góp này không chỉ
bắt nguồn từ trách nhiệm cá nhân, mà còn từ ý thức
nghề nghiệp và sự tự hào về vị trí, vai trò của Học viện
trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm
vụ của viên chức Học viện cũng được thể hiện qua
kết quả khảo sát. Cụ thể, 0,00% số người tham gia
khảo sát lựa chọn “hoàn toàn không đồng ý”, cho
thấy không có viên chức nào phủ nhận trách nhiệm
trong công việc - đây là tín hiệu khả quan phản ánh
chuẩn mực tối thiểu đã được đảm bảo. Nhóm “đồng
ý” chiếm tỷ lệ cao nhất với 39,46%, kết hợp cùng
27,89% “hoàn toàn đồng ý”, tạo thành tổng cộng
67,35% số viên chức thể hiện tinh thần trách nhiệm
cao và rất cao. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy
phần lớn đội ngũ viên chức đã có ý thức trách nhiệm
nghề nghiệp vững chắc, góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động và uy tín của Học viện. Tuy nhiên, vẫn
có 8,16% ý kiến “không đồng ý”, phản ánh sự tồn tại
của một nhóm nhỏ viên chức chưa phát huy tinh
thần trách nhiệm, có thể do ảnh hưởng từ áp lực
công việc, thiếu động lực hoặc cơ chế khuyến khích
chưa phù hợp. Đáng chú ý, 24,49% lựa chọn “phân
vân”, cho thấy gần một phần tư đội ngũ chưa có sự
khẳng định rõ ràng về mức độ trách nhiệm, phản ánh
sự chưa đồng đều trong nhận thức và thái độ đối với
nhiệm vụ được giao.
Biểu 3. Tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện
nhiệm vụ của viên chức Học viện
Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả
Tâm lực của đội ngũ giảng viên cũng thể hiện qua
kết quả thi đua hằng năm, cụ thể:
Bảng 4. Thống kê xếp loại thi đua giai đoạn
2022 - 2024
Nguồn: Phòng Tổ chức Hành chính
Đội ngũ giảng viên qua các năm đều hoàn thành
tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, điều này thể
hiện ý thức kỷ luật và trách nhiệm cao trong công việc
của đội ngũ giảng viên Học viện.
3. Thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực giảng viên tại học viện Quản lý giáo dục
3.1. Quy hoạch nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng đầy đủ nhu
cầu hoạt động là một trong những chiến lược quan
trọng của Học viện Quản lý giáo dục. Học viện đã
ban hành Chính sách phát triển nguồn nhân lực của
Học viện giai đoạn 2019-2021 và Kế hoạch phát triển
đội ngũ của Học viện giai đoạn 2019 - 2021, trong
các chiến lược đều đánh giá thực trạng đội ngũ,
phân tích bối cảnh và nhu cầu trong tương lai để xác
định nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu phát
triển cho Học viện. Chỉ tiêu chiến lược phát triển
nguồn nhân lực được Học viện xác định trong chiến
lược phát triển là: Tổ chức tuyển dụng giảng viên
theo hướng 2 năm/1 đợt (trừ tuyển dụng theo hình
thức tiếp nhận chuyển công tác cán bộ, công chức,
viên chức từ nơi khác tới).
Bảng 3. Kết quả nghiên cứu khoa học
Nguồn: Phòng QLKH - HTQT -TC

KINH NGHIỆM - THỰC TIỄN
Taåp chñ
Kinh tế & Lao động
Söë 1 thaáng 10/2025
90
Bảng 5. Chỉ tiêu chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của Học viện
Nguồn: Chiến lược phát triển Học viện Quản lý
Giáo dục, giai đoạn 2020 - 2030, tầm nhìn 2035
Trên cơ sở chiến lược phát triển, hàng năm Học
viện đã yêu cầu các đơn vị đánh giá nhu cầu nguồn
nhân lực của đơn vị mình để đề xuất nhu cầu công tác
nhân sự năm tiếp theo, trên cơ sở đó xây dựng kế
hoạch công tác nhân sự của đơn vị/Học viện. Học viện
đã xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và đề
án vị trí việc làm; theo đó tiêu chí quy hoạch nguồn
nhân lực được xác định cụ thể cho từng vị trí từ Ban
Giám đốc Học viện, Trưởng/phó đơn vị, Trưởng/phó
bộ môn, giảng viên, chuyên viên và nhân viên phục
vụ; trong đó cũng xác định rất rõ về nhu cầu nguồn
nhân lực của các đơn vị trong Học viện để đáp ứng
hoạt động đào tạo (ĐT), nghiên cứu khoa học (NCKH)
và phục vụ đào tạo (PVCĐ).
Học viện cũng đã thực hiện một số giải pháp
nhằm thu hút, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, giảng
viên như: Đối với các GV có chức danh GS, PGS và
có trình độ TS thì được xem xét kéo dài thời gian
công tác theo Nghị định số 141/2013/NĐ-CP, ngày
24/10/2013 và Nghị định số 50/2022/NĐ-CP; Đối với
cán bộ lãnh đạo quản lí thì được giảm định mức số giờ
giảng dạy, NCKH. Bên cạnh đội ngũ giảng viên cơ hữu,
Học viện còn xây dựng đội ngũ giảng viên thỉnh giảng
là các giảng viên có học hàm, học vị cao có nhiều kinh
nghiệm giảng dạy, kinh nghiệm thực tế từ các cơ sở
giáo dục, Bộ GDĐT, sở, ban ngành khác, các tổ chức,
doanh nghiệp trong và ngoài nước.
3.2. Tuyển dụng, sử dụng và đánh giá nguồn
nhân lực
Tuyển dụng nhân sự là quá trình tìm kiếm và lựa
chọn nhân sự để thỏa mãn nhu cầu sử dụng, bổ sung
lực lượng lao động cần thiết của Học viện. Công tác
tuyển dụng là yếu tố đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Học
viện thực hiện việc tuyển dụng đội ngũ cán bộ dựa
trên quy định về tuyển dụng, kí kết hợp đồng làm
việc, tập sự và bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp viên
chức ban hành theo Quy chế tuyển dụng, thử việc, bổ
nhiệm vào chức danh nghề nghiệp viên chức của Học
viện. Ngoài tuyển dụng theo hình thức thi tuyển, Học
viện còn thực hiện tuyển dụng qua xét tuyển đặc cách
các trường hợp có học hàm, học vị cao hoặc người tốt
nghiệp ở nước ngoài về.
Công tác tuyển dụng của Học viện được tiến hành
theo quy trình chặt chẽ: xác định nhu cầu, xây dựng
tiêu chuẩn, thông báo rộng rãi, tiếp nhận hồ sơ, thực
hiện các bước sơ tuyển, phân loại, trình các cấp lãnh
đạo xem xét và quyết định lao động hợp đồng ngắn
hạn, sau đó thi tuyển viên chức để bổ sung vào biên
chế theo chỉ tiêu hàng năm. Việc tuyển dụng diễn ra
công khai, công bằng, đúng quy trình. Tuy nhiên, quy
trình tuyển dụng chưa thật hợp lý ở chỗ dựa vào kết
quả sơ tuyển chủ yếu thông qua hồ sơ Học viện quyết
định ký hợp đồng 3 tháng. Mặt khác, Học viện chưa có
những biện pháp cụ thể trong việc giải quyết thôi việc
đối với cán bộ không đáp ứng được yêu cầu do trình
độ chuyên môn thấp, không đủ điều kiện học tập, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Học viện đang ngày càng nâng cao hiệu quả công
tác sử dụng nguồn nhân lực. Học viện đã ban hành
Nghị quyết 10/NQ-HĐHV ngày 08/4/2021 về việc Ban
hành danh mục vị trí việc làm; Tiêu chuẩn và điều kiện
làm việc của từng vị trí làm việc của Học viện Quản lý
giáo dục. Nghị quyết nêu rõ các vị trí và tiêu chuẩn
việc làm cụ thể đối với từng vị trí việc làm. Vị trí việc
làm được phân nhóm như sau:
- Nhóm vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý: bao gồm
Chủ tịch Hội đồng Trường; Giám đốc HV, Phó Giám
đốc HV, Trưởng đơn vị, Phó trưởng đơn vị;
- Nhóm vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp
chuyên ngành: Giảng viên và nghiên cứu viên;
- Nhóm vị trí việc làm chức danh nghề nhiệp
chuyên môn dùng chung: Chuyên viên, Kế toán viên
các đơn vị chuyên môn quản lý đào tạo, đảm bảo chất
lượng, thanh tra - pháp chế, quản lý khoa học, hợp tác
quốc tế...
- Nhóm vị trí việc làm hỗ trợ, phục vụ: chuyên viên,
thư viện viên, văn thư, lưu trữ viên, nhân viên các đơn
vị hỗ trợ.
Mỗi vị trí đều có yêu cầu cụ thể, chi tiết năng lực,
kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc trên cơ sở tiêu
chuẩn chung.
Học viện đã ban hành Đề án vị trí việc làm theo
Nghị quyết số 24/NQ-HĐHV ngày 04/11/2024 và thực
hiện Nghị quyết phù hợp với điều kiện thực tiễn của
Học viện và đảm bảo các quy định Nhà nước hiện
hành. Đề án vị trí việc làm là một công cụ quản lý
nhân sự quan trọng, giúp các tổ chức, doanh nghiệp
và cơ quan Nhà nước xác định rõ cơ cấu, số lượng và
yêu cầu cụ thể của từng vị trí công việc.
Học viện đã ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại
viên chức năm 2019 và được sửa đổi năm 2022. Việc
sửa đổi theo hướng chấm điểm và đánh giá theo
tháng, mỗi đối tượng có tiêu chí đánh giá riêng, các
mẫu biểu đều được mã hóa. Qua đó, công tác bình xét
thi đua khen thưởng mang tính thiết thực, có tác
dụng tốt trong việc khuyến khích cá nhân và đơn vị

