
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
29
1. Đặt vấn đề
Cùng với năng lực giảng dạy, năng lực nghiên
cứu khoa học là hai thành tố cơ bản cấu thành
năng lực của giảng viên, quyết định đến chất
lượng giảng viên và đội ngũ giảng dạy, là yếu tố
bảo đảm chất lượng đào tạo, chuẩn đầu ra và sự
cam kết của Nhà trường đối với xã hội. Thực tiễn
cho thấy khi nói đến giảng viên, cơ bản vẫn
đồng nhất việc giảng dạy là nhiệm vụ chính, còn
nghiên cứu khoa học chỉ là phụ trợ, dẫn đến hoạt
động nghiên cứu khoa học vẫn chưa tương xứng
với tiềm năng các Trường. Vì vậy, để bảo đảm
thực hiện có hiệu quả hoạt động nghiên cứu
khoa học tại các trường đại học, đòi hỏi cần xây
dựng khung năng lực nghiên cứu khoa học như
một thang đo nhằm chuẩn hóa năng lực của
người giảng viên và là công cụ thực hiện quản trị
hiện đại của Nhà trường. Đặc biệt, trong bối
cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia được coi là khâu đột phá
để đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc, thì việc nghiên cứu khoa
học tại các trường đại học được thực hiện bởi đội
ngũ giảng viên cũng cần có những bước đột phá
và việc xây dựng khung năng lực nghiên cứu
khoa học cho giảng viên chính là điểm mở đầu
cho sự đột phá đó trong nghiên cứu khoa học
của các trường đại học.
2. Cơ sở lý luận về giảng viên, năng lực,
khung năng lực và khung năng lực nghiên cứu
khoa học của giảng viên
Người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong
nhà trường được gọi chung là nhà giáo, căn cứ
vào các bậc của hệ thống giáo dục quốc dân mà
phân chia thành giáo viên hoặc giảng viên, điều
này được thể hiện rõ trong Luật Giáo dục, cụ thể
tại khoản 1 Điều 66 Luật Giáo dục năm 2019 “Nhà
giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ
sở giáo dục... Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục
mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục
khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là
giáo viên; nhà giáo giảng dạy từ trình độ cao
XÂY DỰNG KHUNG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CHO GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Ngày nhận: 26/02/2025
Ngày phản biện: 10/3/2025
Ngày duyệt đăng: 24/3/2025
Tóm tắt: Nghiên cứu khoa học không những là nhiệm vụ của giảng viên mà còn là chức năng của trường đại học. Để thực hiện hiệu
quả nội dung này, đòi hỏi trường đại học cần tiến hành xây dựng khung năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, sử dụng nó
như một công cụ quản trị để phát triển toàn diện năng lực đội ngũ này và định hướng sự phát triển của Nhà trường. Bài viết trên cơ
sở luận giải tính cấp thiết, làm rõ các cơ sở xây dựng khung năng lực, từ đó đề xuất mô hình khung năng lực nghiên cứu khoa học của
giảng viên nói chung ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: giảng viên; nghiên cứu khoa học; khung năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên.
BUILDING A SCIENTIFIC RESEARCH CAPACITY FRAMEWORK FOR LECTURERS OF UNIVERSITIES IN VIETNAM
Abstract: Scientific research is not only the task of lecturers but also the function of universities. To effectively implement this content,
the university needs to build a framework for scientific research capacity of lecturers, use it as a management tool to comprehensively
develop the capacity of this team and orient the development of the University. The article, based on the discussion of the urgency,
clarifies the basis for building a competency framework, thereby proposing a model of a scientific research competency framework
for lecturers in general in Vietnam in the current context.
Keywords: lecturers; scientific research; research competency framework for lecturers.
—————
* Trường Đại học Công đoàn
nguyễn hải hoàng*

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
30
đẳng trở lên gọi là giảng viên”. “Chức danh giảng
viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên
chính, phó giáo sư, giáo sư”1và thực hiện các
nhiệm vụ chủ yếu là: i) Giảng dạy, phát triển
chương trình đào tạo, thực hiện đầy đủ, bảo đảm
chất lượng chương trình đào tạo; ii). Nghiên cứu,
phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao
công nghệ, bảo đảm chất lượng đào tạo; iii). Học
tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị,
chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp giảng
dạy; tham gia hoạt động thực tiễn để nâng cao
chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học...
Từ đó, ta có thể thấy rằng nội hàm căn bản của
khái niệm “giảng viên là nhà giáo đang tham gia
trực tiếp vào quá trình giảng dạy và nghiên cứu
khoa học trong các trường cao đẳng, đại học”; là
lực lượng quan trọng đóng vai trò quyết định chất
lượng, bảo đảm chuẩn đầu ra cũng như cam kết
của Nhà trường đối với người học và xã hội. Vì
vậy, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên là
nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài với lộ trình rõ
ràng, kế hoạch chi tiết, cụ thể, nhằm không
ngừng nâng cao năng lực của họ.
Theo tiếng La-tinh, năng lực là “competentia”
có nghĩa là gặp gỡ, nó được sử dụng với nhiều
nghĩa cụ thể gắn với các lĩnh vực khác nhau, trong
những tình huống và ngữ cảnh riêng; có nhiều
thuật ngữ khác nhau để diễn đạt những nội dung
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề
năng lực như các từ Competence, Ability,
Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality,
Aptitude... Trong đó, thuật ngữ Competence
(hoặc Competency) được sử dụng phổ biến nhất.
Từ điển Tiếng Việt thì năng lực là (1) “khả
năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để
thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Phẩm chất
tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng
hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất
lượng cao”2. Theo sách “Gốc và nghĩa từ Việt
thông dụng”, thì năng lực là một từ Hán-Việt,
trong đó “năng là làm nổi việc; lực là sức mạnh;
năng lực là sức mạnh làm nổi việc nào đó”3. Trong
tiếng Việt có một số từ khác có nghĩa gần với từ
năng lực như: tiềm năng, kỹ năng, khả năng, tài
năng, năng khiếu.
Năng lực của con người cũng được xét ở nhiều
bình diện khác nhau, với những góc độ khác
nhau, nó có thể được xem xét, nghiên cứu từ bình
diện Triết học, Xã hội học, Tâm lý học, Giáo dục
học hay Lý luận dạy học hiện đại, hoặc lĩnh vực
kinh tế. Mặc dù tiếp cận ở bình diện, góc độ khác
nhau, chúng ta có thể thấy điểm chung nhất
trong quan niệm về năng lực như sau: “Năng lực là
khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc
chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp. Năng
lực là những kiến thức, kĩ năng và các giá trị được
phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động
của mỗi cá nhân”4. Nó là thuộc tính cá nhân được
hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá
trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy
động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc
tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,...
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất
định, đạt kết quả mong muốn trong những điều
kiện cụ thể. Năng lực có 5 thuộc tính cơ bản: động
cơ, đặc điểm cá nhân, vai trò xã hội, thái độ hay
giá trị, kiến thức và kĩ năng.
Hiểu một cách đầy đủ và phù hợp nhất, sự
tổng hoà giữa kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành
vi mà mỗi người cần phải có để thực hiện hiệu
quả một nhiệm vụ cụ thể, đó chính là năng lực,
nhờ vậy mà một cá nhân khi làm việc đã đạt được
hiệu quả, tạo nên sự khác biệt về hiệu quả công
việc giữa người có thành tích tốt và người có
thành tích trung bình cũng như người không có
thành tích nổi bật. Như vậy, người có năng lực
được xem là người có khả năng thực hiện được
những thành quả nhất định trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ. Do đó, “năng lực là tập hợp các
tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành vi
để cá nhân thực hiện nhiệm vụ phù hợp với chức
danh nghề nghiệp cụ thể”5.
—————
1Khoản 2 Điều 55 Luật Giáo dục đại học sửa đổi 2018.
2Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.639.
3Vũ Xuân Thái (1999), Gốc và nghĩa từ Việt thông dụng, Nxb Văn hóa Thông tin,
tr.576.
4Bùi Minh Đức (2013), Năng lực và vấn đề phân loại năng lực trong các nghiên
cứu hiện nay, Tạp chí Giáo dục, số 306, tr.29.
5Bùi Hà Phương (2024), Xây dựng khung năng lực nghiên cứu của giảng viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, Đề tài
cấp cơ sở, tr.50.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
31
Nghiên cứu khoa học là một trong những
nhiệm vụ chủ đạo của giảng viên, thông qua
nghiên cứu khoa học, giảng viên không những
thúc đẩy và phát triển năng lực tư duy của mình
mà còn góp phần nâng cao chất lượng bài giảng,
chuyên môn và phục vụ cộng đồng. Vì vậy, xác
định và bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học
là nhiệm vụ tự thân của mỗi giảng viên, đồng thời
cũng là nhiệm vụ chung của mỗi cơ sở giáo dục
đại học trong quá trình phát triển của mình.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá,
phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật,
hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo
giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên
cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng; trong đó, nghiên cứu cơ
bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản
chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã
hội và tư duy; nghiên cứu ứng dụng là hoạt động
nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa
học nhằm tạo ra công nghệ mới, đổi mới công
nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội.
“Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, năng lực nghiên
cứu khoa học cho giảng viên được đánh giá bởi 2
tiêu chuẩn: i) Thực hiện năng lực nghiên cứu khoa
học ứng dụng và chuyển giao kết quả nghiên cứu
(gồm 7 tiêu chí: phát hiện các vấn đề nghiên cứu
từ thực tiễn; thực hiện các chương trình, đề án, đề
tài nghiên cứu khoa học ứng dụng; nghiên cứu
khoa học và công nghệ; viết bài báo xuất bản trên
tạp chí, chuyên đề, tham luận; chủ trì hoặc phối
hợp tổ chức các seminar, hội thảo chuyên đề;
tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế trong
năng lực nghiên cứu khoa học và công nghệ; nắm
vững các quy định về sở hữu trí tuệ và thương mại
hóa kết quả nghiên cứu)”; ii) Hướng dẫn sinh viên
thực hiện năng lực nghiên cứu khoa học (gồm 2
tiêu chí: hướng dẫn sinh viên thực hiện năng lực
nghiên cứu khoa học; thực hiện đánh giá kết quả
năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên)”6.
Năng lực nghiên cứu khoa học được thể hiện
qua chất lượng và số lượng công bố khoa học của
giảng viên và sự tác động của những nghiên cứu
đó đến cộng đồng và xã hội. Về cấu trúc năng lực
nghiên cứu khoa học, giống như mọi năng lực
khác, bao gồm: kiến thức, kỹ năng và thái độ,
trong đó: Kiến thức (gồm kiến thức khoa học
chuyên ngành và kiến thức về phương pháp
nghiên cứu khoa học); Kĩ năng (gồm kĩ năng xây
dựng đề tài nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, thu
thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và sử dụng công cụ
phân tích, phê phán, lập luận và viết bài báo);
Thái độ (gồm sáng tạo ra ý tưởng mới hay phương
pháp mới, mở rộng kiến thức và địa hạt nghiên
cứu, kiên trì theo đuổi ý tưởng, chọn đề tài mà xã
hội quan tâm và có tác động đến thực tiễn, độc
lập và lãnh đạo chuyên ngành...). Như vậy, năng
lực nghiên cứu khoa học của giảng viên “là tổng
thể các khả năng về kiến thức, kỹ năng và thái độ
của người giảng viên được vận dụng vào quá
trình thực hiện một vấn đề nghiên cứu khoa học”7.
Tổng hợp toàn bộ năng lực (kiến thức, kỹ năng,
thái độ) của cá nhân cần có để đảm nhiệm một vị
trí chức danh công việc nhất định sẽ tạo thành
khung năng lực của cá nhân về lĩnh vực; trong đó
mỗi năng lực sẽ được định nghĩa rõ ràng và được
mô tả theo nhiều cấp độ khác nhau, được sắp xếp
lũy tiến để thể hiện các khả năng mà cá nhân có
thể kiểm soát, làm chủ được năng lực đó. Để thực
hiện hiệu quả nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của
mình, đòi hỏi cần phải xác định tổng hợp các kiến
thức, kỹ năng, thái độ mà giảng viên cần có để
triển khai, nghĩa là phải xác định được khung năng
lực nghiên cứu khoa học của giảng viên. Từ những
phân tích trên cho thấy, “khung năng lực nghiên
cứu của giảng viên được hiểu là bản mô tả các
năng lực cần thiết bao gồm kiến thức, kỹ năng,
nhận thức, hành vi theo các cấp độ từ cơ bản đến
chuyên gia nhằm thực hiện nhiệm vụ, vai trò của
giảng viên tại cơ sở giáo dục đại học”8.
—————
6Bùi Hà Phương (2024), Xây dựng khung năng lực nghiên cứu của giảng viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, Đề tài
cấp cơ sở, tr. 54.
7Bùi Hà Phương (2024), Xây dựng khung năng lực nghiên cứu của giảng viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, Đề tài
cấp cơ sở, tr. 55.
8Bùi Hà Phương (2024), Xây dựng khung năng lực nghiên cứu của giảng viên
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. HCM, Đề tài
cấp cơ sở, tr. 62.

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Taåp chñ Nghiïn cûáu khoa hoåc cöng àoaân
Söë 37 thaáng 3/2025
32
3. Xây dựng khung năng lực nghiên cứu
khoa học của giảng viên là tất yếu trong hoạt
động của các trường đại học ở Việt nam
Thứ nhất, khung năng lực nghiên cứu khoa
học là cẩm nang để trường đại học thực hiện hiệu
quả công tác quản trị. Xây khung năng lực nói
chung và khung năng lực nghiên cứu khoa học
nói riêng của giảng viên rất quan trọng trong
công tác quản trị Nhà trường vì:
Một là, khung năng lực nghiên cứu là một tiêu
chí đánh giá quan trọng trong công tác tuyển
dụng giảng viên. Trên cơ sở khung năng lực đã
xác định về hoạt động nghiên cứu khoa học mà
công tác tuyển dụng được tường minh, tuyển lựa
được những giảng viên đáp ứng đủ điều kiện,
thực hiện được các nhiệm vụ của Nhà trường
trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Hai là, khung năng lực nghiên cứu là cơ sở
quan trọng để đào tạo, bồi dưỡng và phát triển
giảng viên xây dựng đội ngũ giảng viên đủ mạnh
góp phần nâng tầm vị thế của Nhà trường. Thực
tiễn năng lực của từng giảng viên đối sánh với
khung năng lực gồm những tiêu chuẩn cụ thể và
kỳ vọng theo yêu cầu của chức danh giảng viên,
Nhà trường sẽ phát hiện những khoảng trống, sự
thiếu hụt để từ đó xác định được nhu cầu đào tạo,
bồi dưỡng, nội dung chương trình đào tạo, bồi
dưỡng để phát triển đội ngũ giảng viên.
Ba là, khung năng lực nghiên cứu là cơ sở quan
trọng và hiệu quả trong công tác đánh giá giảng
viên, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và tạo
động lực đối với giảng viên. Đánh giá, phân loại
giảng viên là nhiệm vụ bắt buộc, được thực hiện
thường xuyên của Nhà trường. Để đánh giá đúng
và trúng, qua đó một mặt phân loại được giảng
viên, thấy được thực chất thực trạng chất lượng
giảng viên của Nhà trường, mặt khác tạo động lực
đối với giảng viên, đòi hỏi trong quá trình đánh
giá, phải thiết kế được “thang đo” với những tiêu
chuẩn, tiêu chí cụ thể, rõ ràng, dễ đo lường. Trên
cơ sở khung năng lực đã xác định thì các nhà
quản trị bám vào đó để thiết kế “thang đo” chuẩn
để làm công cụ đánh giá. Bản thân khung năng
lực cũng chính là một công cụ, thang đo của nhà
quản trị trong quá trình đánh giá.
Bốn là, khung năng lực nghiên cứu là cơ sở để
Nhà trường xây dựng chế độ ưu đãi, chính sách
khen thưởng, khuyến khích, động viên giảng
viên. Kết quả của sự đánh giá là cơ sở để Nhà
trường thực hiện chế độ khen thưởng. Các giảng
viên có năng lực nghiên cứu tốt đáp ứng vượt
mức yêu cầu khung năng lực nghiên cứu sẽ được
Nhà trường khen thưởng, khuyến khích, động
viên kịp thời cả về vật chất lẫn tinh thần, qua đó
tiếp thêm động lực để họ tiếp tục phấn đấu, bồi
dưỡng phát triển năng lực bản thân vượt mức
yêu cầu của Nhà trường, họ trở thành tấm gương
thực tế kích thích, tạo động lực cho các giảng
viên khác đáp ứng, hoặc còn khoảng trống năng
lực nghiên cứu so với khung năng lực nghiên cứu
của Nhà trường để từ đó xây dựng động cơ và kế
hoạch phấn đấu, tự bồi dưỡng năng lực nghiên
cứu của bản thân.
Năm là, khung năng lực nghiên cứu là cơ sở
để Nhà trường xây dựng chiến lược phát triển
toàn diện đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu
phát triển của Nhà trường hiện tại và trong
tương lai. Người giảng viên không chỉ có sứ
mệnh giảng dạy mà còn phải thực hiện nghiên
cứu khoa học, cộng hưởng hai việc này chính là
người giảng viên đã phục vụ tốt cộng đồng.
Việc cân bằng những nhiệm vụ này là một trong
những nội dung quản trị của Nhà trường, tuy
nhiên trong thực tiễn, căn cứ vào các điều kiện
cụ thể mà những hoạt động này được phát triển
trong mối tương quan khác nhau, thông
thường nhiệm vụ giảng dạy được khai thác và
thực hiện sâu, dẫn đến tỉ trọng thời gian vật
chất và công sức của giảng viên đầu tư cho
nghiên cứu khoa học còn thấp. Do đó, cần tạo
lập khung năng lực nói chung trong đó có
khung năng lực nghiên cứu khoa học để Nhà
trường và giảng viên căn cứ vào đó điều chỉnh
các hoạt động của mình sao cho phù hợp với
định hướng phát triển của Nhà trường, đồng
thời phát triển toàn diện năng lực của đội ngũ

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
tapchinckhcd@dhcd.edu.vn
33
giảng viên theo đúng định hướng Nhà trường
mong muốn phát triển.
Thứ hai, khung năng lực nghiên cứu khoa
học là cơ sở định hướng và phát triển năng lực
nghiên cứu khoa học của giảng viên đáp ứng
yêu cầu quản trị của Nhà trường. Các Mác cho
rằng “bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được
giáo dục”. Người thầy giáo nếu ngừng hoạt
động “tự giáo dục”, “được giáo dục” thì không
thể khơi nguồn sáng tạo cho chính bản thân và
người học. Để có năng lực nghiên cứu khoa học
tốt, đòi hỏi giảng viên phải luôn luôn cố gắng
học thêm, để bổ sung kiến thức và kỹ năng phù
hợp. Khung năng lực nghiên cứu khoa học mà
Nhà trường đề ra chính là cơ sở để mỗi giảng
viên không ngừng nỗ lực hoàn thiện các kiến
thức, kỹ năng, phẩm chất của mình nhằm đáp
ứng và vượt mức các tiêu chuẩn, tiêu chí của
khung năng lực nghiên cứu.
Thứ ba, xây dựng khung năng lực nghiên cứu
khoa học của giảng viên nhằm phát triển nguồn
nhân lực khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầu
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Phát triển
khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số là con đường tất yếu của các quốc gia
muốn bứt phá để trở thành nước phát triển. Vì
vậy, ngày 22/12/2024 Bộ Chính trị đã ban hành
Nghị quyết số 57/NQ-TW về Đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia, như một đột phá để tạo động lực,
xung lực mới, mạnh mẽ phát triển đất nước trong
kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó coi
“phát triển các viện nghiên cứu, trường đại học
trở thành các chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp
chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo...
Phát triển đội ngũ giảng viên, các nhà khoa học
đủ năng lực, trình độ” là những giải pháp then
chốt. Vì vậy, các cơ sở giáo dục đại học cần phải
nhanh chóng xây dựng, bổ sung các tiêu chuẩn,
tiêu chí trong khung năng lực nghiên cứu khoa
học để định hướng sự phát triển của Nhà trường
cũng như đội ngũ giảng viên góp phần thực hiện
được mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới -
kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
4. Đề xuất mô hình khung năng lực nghiên
cứu khoa học của giảng viên trong các trường
đại học ở Việt nam hiện nay
4.1. Cơ sở xây dựng khung năng lực nghiên
cứu khoa học của giảng viên trong các trường
đại học ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý, khung năng lực
nghiên cứu khoa học được xây dựng dựa trên cơ
sở các văn bản, quy định pháp lý của Nhà nước về
vai trò, chức năng, nhiệm vụ của giảng viên về
nghiên cứu khoa học và các văn bản, quy định về
tiêu chuẩn năng lực nghiên cứu khoa học của
giảng viên trong các trường đại học. Hệ thống các
quy định pháp lý về nghiên cứu khoa học của Nhà
nước bao gồm: “Luật khoa học và công nghệ” số
29/2013/QH13 do Quốc hội ban hành; Nghị định
số: 99/2014/NĐ-CP của Chính phủ về “Quy định
việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích
hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở
giáo dục đại học”; Thông tư số 20/2020/TT-
BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về “Quy định
chế độ làm việc của giảng viên cơ sở giáo dục đại
học”; Thông tư số 45/2020/TT-BGDĐT của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về “Ban hành Quy chế xét tặng
Giải thưởng khoa học và công nghệ dành cho
giảng viên trẻ và sinh viên trong cơ sở giáo dục
đại học”. Hệ thống các văn bản, quy định nội bộ
về tiêu chuẩn năng lực nghiên cứu khoa học của
giảng viên do các Trường tự ban hành trên cơ sở
hệ thống văn bản, quy định pháp lý của Nhà nước
và thực tiễn, định hướng phát triển của Nhà
trường, được điều chỉnh, bổ sung hàng năm.
Thứ hai, về cơ sở lý luận khi xây dựng khung
năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên,
được căn cứ từ các mô hình năng lực, các yếu tố
cấu thành năng lực nghiên cứu khoa học của
giảng viên từ các quốc gia khác nhau trên thế
giới. Do đó, để hoàn thiện cơ sở lý luận về khung
năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, đòi
hỏi tiến hành nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu về

