TIỂU LUẬN:
Nâng cao công tác quản chất lượng
dịch vvận chuyn hành kch ca
công ty cổ phần Hng tại Thành
phThái nh
LỜI MĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế tri thức n hiện nay, ngành dịch vụ
vai trò ngày ng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới các nền kinh tế quốc gia.
Bốn mươi hai năm trước, Victor R. Fuchs (1968) đãi vsự xuất hiện của nền kinh tế
dịch vở Mỹ. Ngày nay, cả thế giới đang bước sang một nền kinh tế mới: nền kinh tế
dịch vụ. Sau nhiều năm đàm phán, năm 1995 Hiệp định v thương mại dịch vụ
(GATS) đã được ký kết và trở tnh một trong những hiệp định quan trọng nhất của T
chức thương mại thế giới (WTO). Phát triển tự do hóa ngành dịch vi chung,
phát triển và tự do a thương mại dịch vụ i riêng đang trthành chính sách ưu tiên
của các Quốc.
Ngành dịch v hiện đóng góp 60% GDP của thế giới (Lovelock Wirtz,
2007). Ởc nước OECD, tỷ trọngy lên đến 70% (OECD, 2008). GDP của lĩnh vực
dịch vụ chiếm tới 90% GDP của Hồng Kông, 80% GDP của Mỹ, 74% GDP của Nhật
Bản, 73% GDP của Pp, 73% GDP của Anh và 71% GDP của Canada. Dịch vđóng
góp trên 50% GDP của các nền kinh tế Mỹ La Tinh như Braxin và Áchentina, trên
60% GDP của các nước ng nghiệp hóa mới châu Á như Xingapo, Đài Loan và
Malaixia. Dịch vụ cũng chiếm tới 48% GDP của Ấn Độ và 40% GDP của Trung Quốc
(Lovelock và Wirtz, 2007, trích từ World FactBook, 2007 và EIU Country Data).
Trong giai đoạn 1988 – 2003, đóng góp của ngành dịch vụ cho g trgia tăng của toàn
nền kinh tế OECD tăng từ 60% lên 68%,n đóng góp của ngành công nghiệp lại giảm
từ 34% xuống còn 29%. Sthay đổi này thhiện việc gccủa các sản phẩm công
nghiệp giảm ơng đối so với gcả của các sản phẩm dịch vụ và người tu dùng ngày
ng chi tiêu thêm cho dịch vụ nhiều n cho hànga (FORFAS, 2006:29).
Dịch vụ cũng trở thành ngành kinh tế thu hút chủ yếu lực lượng lao động hiện
nay. Lao động trong ngành dịch vụ ở bảy ớc công nghiệp phát triển (G7) năm 2000
ng 60% so với năm 1960 và tăng 6% trong giai đoạn 2000-2004 (FORFAS, 2006:
31). Trong giai đoạn 1970 2001, lao động trong ngành dịch vụ của Mỹ tăng từ mức
67% n 79% trong khi lao động trong ngành ng nghiệp giảm từ mức 29% xuống
n 19%, còn mức thay đổi y của các nước y Âu (EU 15 hin nay) ơng ng là
từ 47% lên 70% và từ 40% xuống còn 26% (D’Agostino, Serafini và Ward-
Warmedinger, 2006:27).
Nền kinh tế dịch vụ hiện nay dựa trên hai nền tảng chính là toàn cầu hóa và kinh
tế tri thức và được thúc đẩy bởi những thành tựu của tiến bộ khoa học kỹ thuật. Toàn
cầu hóa và kinh tế tri thức làm thay đổi thói quen sinh hoạt tu dùng trong đời sống
kinh tế-xã hội, xu ớng kinh doanh và chính sách của chính phủ đối với ngành kinh tế
dịch vụ. Khi nền kinh tế một trình độ phát triển cao, xu hướng tiêu ng cận biên
(MPC) đối với dịch vlớn n nhiều xu ớng tiêu dùng cận biên đối với sản phẩm
ng a. Con người nhu cầu nhiều hơn đối với các sản phẩm phi vật chất của dịch
vnhư thẩm mỹ, giáo dục giải trí thuộc những thang bậc nhu cầu cao hơn mà nhà
tâm học Abraham Maslow (1943) đã liệt kê là nhu cầu về quan hệ hội, nhu cầu
được tôn trọng nhu cầu hoàn thiện. Xu hướng kinh doanh ng thay đổi để đáp ng
c nhu cầu nói trên. Các công ty ngày nay tập trung nhiều n vào việc cung ng các
sản phẩm dịch vụ và c trọng tính độc đáo, sáng tạo và chất lượng của dịch vụ thay vì
dựa trên yếu tố đầu o hay vốn đầu tư.
Xuất phát từ những nguyên lý trên, đề tài tập trung nghiên cứu việc ng cao
ng tác quản lý chất lượng và dịch vụ vận chuyển hành khách của công ty cổ phần
Hoàng Hà tại Thành phThái Bình”.
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH
1.1. Tổng quan về dịch vụ vận chuyển hành khách
1.1.1. Khái niêm về dịch vụ vận chuyển hành khách
Dịch vụ vận tải mt ngành dịch vtruyền thống, theo quan điểm phục vụ
hành khách là một ki niệm đa diện, một phạm trù rộng và phức tạp, phản ánh tổng
hợp nhiều thuộc tính của sản phẩm về kỹ thuật, kinh tế, hội tuỳ thuộc vào c
góc độ khác nhau.
Trong lĩnh vực vận tải hành khách, hành khách vừa đối tượng chuyên chở
vừa khách hàng tiêu dùng sản phẩm. Bởi vậy, chất lượng vận tải hành khách
chính sự đánh giá của khách hàng về những yếu tố nh hưởng đến trực tiếp đến
bản thân hành khách trong suốt quá trình chuyên chở. Việc quản chất lượng tổng
hợp - TQM trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực để đảm bảo và nâng cao chất lượng vận
tải hướng tới tiêu chuẩn hoá chất lượng vận tải hành khách ngành đường bộ trong
môi trường sản xuất, kinh doanh biến động đầy cạnh tranh. Để thực hiện TQM
trong quản chất lượng vận tải nh khách, chuyên đề tập trung nghiên cứu hệ
thống các chỉ tiêu đánh gchất lượng theo quan điểm phục vkhách hàng từ đó
xây dựng chỉ tiêu chất lượng công tác phục vụ cho từng nhóm công việc, gắn liền
với trách nhiệm của nhân viên thực hiện; cải tiến hệ thống tổ chức và xây dựng quy
chế, chế độ công tác hợp lý nhằm xác định trách nhiệm với sự cam kết đảm bảo chất
lượng và quyền lợi của các thành viên toàn ngành; đổi mi cơ chế gm sát kiểm
tra chất lượng từ khâu đầu tiên và khâu cuối cùng của quá trình vận tải bằng các giải
pháp đầu tư hợp lý hệ thống thông tin, hệ thống giám sát, đo lường và đánh giá chất
lượng vận tải; tổ chức công tác đào tạo nhằm làm rõ nhận thức về chất lượng vận tải
lợi ích của TQM trong quản chất lượng, từ đó tạo niềm tin động lực cho
mọi thành viên trong ngành hướng tới mục tiêu thoả mãn mọi nhu cầu, yêu cầu của
khách hàng; liên tục cải tiến chất lượng nhằm đảm bảo không ngừng nâng cao
chất lượng dịch vụ vận tải.