TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 361
NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH QUẶNG CAO LANH CHẾ TẠO CHẤT KẾT DÍNH
GEOPOLYMER
STUDY ON DENATURATION OF KAOLIN MINERRAL IN ODER TO
GEOPOLYMER MANUFACTURING
Nguyễn Hoàng Anh1, Lê Mai Anh1, Lê Bá Hoàng Anh1,
Nguyễn Đại Phong1, Vũ Trần Ngọc Minh1, Phan Thị Quyên2,*
1Lớp KTHH 01 - K16, Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: ptquyen18@gmail.com
TÓM TẮT
Nghiên cứu biến tính quặng cao lanh thành metacaolanh, hoạt hóa meta caolanh bằng kiềm để tạo thành chất kết dính
geopolymer. Các kết quả khảo sát được đánh giá thông qua cường độ nén của mẫu trụ chế tạo từ cao lanh biến tính theo
TCVN 3118 – 1993, chỉ tiêu cơ lý của chất kết dính chế tạo được đánh giá theo TCVN 6017 – 2015. Từ đó lựa chọn điều
kiện thích hợp biến tính, hoạt hóa quặng cao lanh: nhiệt độ nung 600oC, thời gian nung 2 giờ, lượng NaOH sử dụng hoạt
hóa 5% so với lượng cao lanh sau nung. Chất kết dính geopolymer chế tạo được có cường độ nén 150,772 MPa.
Từ khóa: cao lanh, geopolymer, metacaolanh.
ABSTRACT
Research on denaturation kaolin mineral into meta kaolin, and activated meta kaolin by alkaline. The results of research
through the strength compressive of the calcined kaolin cylinder samples according to TCVN 3118 - 1993, the physical
properties of geopolymer according to TCVN 6017 – 2015. Conditions for denaturation and thermal activation of kaolin:
temperature 600oC, 2 hours, amount of alkaline used to activate 5% compared to the amount of kaolin after calcination.
The resulting quality geopolymer has strength compressibility of 150.772 MPa.
Keywords: Kaolin, geopolymer, metacaolanh.
1. MỞ ĐẦU
Việc nghiên cứu và phát triển quá trình biến tính quặng
cao lanh thành meta cao lanh để sử dụng trong Geopolymer
một đề tài cực kỳ cấp thiết hứa hẹn trong ngành vật
liệu và xây dựng. Đầu tiên, việc áp dụng Geopolymer thay
cho Cao lanh Portland không chỉ giảm lượng khí thải CO2,
còn giúp bảo vệ môi trường thông qua giảm thiểu tác
động của ngành xây dựng lên biến đổi khí hậu. Thứ hai, tính
chất học khả năng chịu lửa của Geopolymer vượt trội,
làm cho chúng trở thành lựa chọn tưởng cho các công
trình chịu lực hoặc hoạt động nhiệt độ cao. Đồng thời,
tính ổn định hóa học của chúng cũng giúp chống chịu tốt
trong môi trường ăn mòn. Thêm vào đó, việc sử dụng quặng
cao lanh và các nguyên liệu tái chế khác thay vì tài nguyên
tự nhiên giúp giảm nhu cầu về khai thác tài nguyên và tăng
tính bền vững của ngành xây dựng. Sự ứng dụng của
Geopolymer cũng không chỉ giới hạn trong ngành xây dựng
mà còn mở ra nhiều cơ hội mới trong các lĩnh vực như chế
tạo y học. Việc nghiên cứu phát triển quá trình biến
tính quặng cao lanh thành meta cao lanh để sử dụng trong
Geopolymer không chỉ mang lại lợi ích lớn cho ngành công
nghiệp, mà còn đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững
bảo vệ môi trường toàn cầu. vậy nhóm tác giả tiến
hành nghiên cứu biến tính quặng cao lanh chế tạo chất kết
dính geopolymer.
2. THỰC NGHIỆM
2.1. Hóa chất, nguyên liệu
Nguyên liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu
Cao lanh được lấy tCông ty cổ phần sHoàng Liên Sơn
trữ ợng lớn thành phần hóa học đặc trưng, có hàm
lượng khoáng cao và ít tạp chất.
Hóa chất: NaOH 98%, nước tinh khiết
2.2. Thực nghiệm
- Nghiên cứu khảo sát ảnh ởng của nhiệt độ và thời
gian nung
Khảo sát nhiệt độ nung: Mỗi mẫu thí nghiệm khối
lượng 500 gam quặng cao lanh đựng vào bát sứ chịu nhiệt,
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 362tiến hành nung mẫu 400, 500, 600, 700, 800 oC trong 2
giờ. Lấy 120 gam cao lanh sau khi nung, trộn với 82,5 ml
nước (lượng nước tiêu chuẩn để tạo độ dẻo tiêu chuẩn), tạo
mẫu trụ đường kính 2,9 cm; chiều cao 2,8 cm. Mẫu trụ
được bảo quản nhiệt độ phòng, nơi thoáng khí. Sau 28
ngày, tiến hành đo cường độ chịu nén của mẫu trụ trêny
ép thủy lực.
Khảo sát thời gian nung: Mỗi mẫu thí nghiệm có khối
lượng 500 gam quặng cao lanh đựng vào bát sứ chịu nhiệt,
tiến hành nung mẫu ở 600, thời gian nung khảo sát 1 giờ, 2
giờ, 3 giờ, 4 giờ, 5 giờ. Lấy 120 gam cao lanh sau khi nung,
trộn với 82,5 ml nước (lượng nước tiêu chuẩn để tạo độ dẻo
tiêu chuẩn), tạo mẫu trụ đường kính 2,9 cm; chiều cao
2,8 cm. Mẫu trụ được bảo quản nhiệt độ phòng, nơi
thoáng khí. Sau 28 ngày, tiến hành đo cường độ chịu nén
của mẫu trụ trên máy ép thủy lực.
- Nghiên cứu hoạt hóa kiềm tạo chất kết dinh
geopolymer
Lấy 120 gam cao lanh sau khi nung 600oC trong 2h
hoạt hóa kiềm NaOH. Khối lượng NaOH so với lượng cao
lanh 3%, 5%, 10%, 15%, 20%, 25%. Hòa tan lượng NaOH
khảo sát trong 82,5 ml nước (lượng nước tiêu chuẩn để tạo
độ dẻo tiêu chuẩn), sau đó trộn với 120 gam cao lanh sau
khi nung, sau khi đảo trộn đều tiến hành tạo mẫu trụ
đường kính 2,9 cm; cao 2,8 cm. Sau 28 ngày, tiến hành đo
cường độ chịu nén của mẫu trụ trên máy ép thủy lực.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ nung
Kết quả nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của nhiệt độ
nung được tổng hợp trong bảng 1.
Bảng 1. Kết quả khảo sát nhiệt độ nung
Nhiệt độ
nung (oC)
Thời gian
nung (giờ) P (tấn) Cường độ nén
(MPa)
400 2 0,9 115,786
500 2 0,94 120,932
600 2 0,89 123,107
700 2 0,93 119,646
800 2 0,91 117,073
Từ kết quả bảng 1 ta nhận thấy: Khi tăng nhiệt độ nung
mẫu cao lanh từ 400oC – 600oC thì cường độ nén của mẫu
trụ chế tạo được tăng, nhưng nếu tiếp tục tăng nhiệt độ nung
từ 600oC - 800oC thì thông số này giảm. Điều này thể
giải thích do khi nung cao lanh sẽ xảy ra hiện tượng mất
nước, bay hơi một số chất hữu cơ và chuyển pha. Quá trình
mất nước và chuyển pha của cao lanh khi nung diễn ra theo
trình tự: Ban đầu mất nước vật trên bề mặt, trong thể tích
tự do, tiếp theo xảy ra quá trình mất nước liên kết, hình
thành cấu trúc mới. Từ 400oC - 600oC thể xảy ra quá
trình chuyển pha trong cao lanh thành metacaolanh, nhiệt
độ càng tăng thì sự chuyển pha này càng mạnh mẽ, nhưng
khi nhiệt đô tăng quá cao thì cấu trúc metacaolanh lại bị
đánh gẫy thành cấu trúc mới. Điều này hoàn toàn phù hợp
với nghiên cứu " Nghiên cứu quá trình hòa tách cao lanh
bằng axit HCl ứng dụng chế tạo chất keo tụ Poly
Aluminium Chloride (PAC)”, trong nghiên cứu này bằng
phương pháp phân tích nhiệt trọng lượng nhiệt vi sai
DTA tác giả đã chỉ ra rằng 110,27oC xuất hiện pic thu
nhiệt ứng với quá trình trình mất nước vật lý của cao lanh,
trong khoảng nhiệt độ từ 400oC đến 600oC đã sự giảm
mạnh về khối lượng đồng thời pic thu nhiệt 530,857oC,
đó là quá trình chuyển pha của caolinit, khi nung đến nhiệt
độ 500oC 600oC xảy ra quá trình mất nước liên kết, đốt
cháy các tạp chất hữu chuyển pha thành metacaolanh.
Từ sau 600oC cường độ nén của các mẫu trụ tạo được giảm.
3.2. Kết quả khảo sát ảnh hưởng của thời gian nung
Bảng 2. Kết quả khảo sát thời gian nung
Nhiệt độ
nung (oC)
Thời gian
nung (giờ) P(tấn) Cường độ nén
(MPa)
600 1 0,86 118,985
600 2 0,89 123,107
600 3 0,88 121,724
600 4 0,89 114,500
600 5 0,86 110,640
Từ kết quả bảng 2 ta nhận thấy: Khi tăng thời gian nung
mẫu cao lanh từ 1 giờ - 3 giờ thì cường độ nén của mẫu tr
chế tạo được tăng, nhưng nếu tiếp tục tăng thời gian nung
từ 4 giờ - 5 giờ thì cường độ nén của mẫu trụ chế tạo được
giảm. Điều này thể do, khi tăng thời gian nung sự chuyển
hóa cấu trúc kaolinit trong cao lanh thành metacaolanh tăng,
nhưng khi thời gian nung kéo dài thì cấu trúc metacaolanh
lại bị đánh gẫy thành cấu trúc mới. Ở 2 giờ và 3 giờ cường
độ nén của mẫu trụ chế tạo được từ cao lanh sau khi nung
tăng, nhưng không đáng kể, đồng thời nếu nung ở 3 giờ thì
chi phí năng lượng lớn hơn.
3.3. Kết quả khảo sát hoạt hóa cao lanh bằng NaOH
Kết quả khảo sát hoạt hóa cao lanh bằng NaOH được
tổng hợp trong bảng 3.
Bảng 3. Kết quả khảo sát hoạt hóa cao lanh bằng NaOH
Nhiệt độ
nung
(oC)
Thời gian
nung (giờ)
NaOH
(%) P(tấn)
Cường độ
nén
(MPa)
600 2 3 1,06 146,622
600 2 5 1,09 150,772
600 2 10 1,096 151,602
600 2 15
Mẫu trụ xuất
hiện nhiều vết
sùi trên bề
mặt
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 363600 2 20
Mẫu trụ bị
phá hủy
không đo
được
600 2 25
Mẫu trụ bị
phá hủy
không đo
được
Từ kết quả bảng 3 ta nhận thấy: Khi nồng độ NaOH tăng
dần từ 3-10% thì cường độ nén của mẫu trụ chế tạo được
tăng, nhưng khi tiếp tục tăng nồng độ NaOH lên cao hơn thì
các mẫu trụ chế tạo được xuất hiện hiện tượng sùi bề mặt,
dẫn đến không hiệu quả.
Khi sử dụng NaOH hoạt hóa cao lanh sau khi nung, làm
tăng cường độ nén của mẫu trụ chế tạo được đáng kể. Nếu
không sử dụng NaOH thì cường độ nén của mẫu trụ
120,932 MPa, khi lượng NaOH sử dụng để họa hóa chiếm
5% so với cao lanh thì chỉ số này là 150,772 MPa.
Điều này thể giải thích do khi tăng hàm lượng NaOH,
phản ứng hoạt hóa giữa NaOH metacaolanh trong cao
lanh sau nung tăng, tạo nhiều liên kết geopolymer, dẫn đến
cường độ nén của mẫu trụ chế tạo được tăng, nhưng khi tăng
nồng độ NaOH lên quá cao, thể NaOH trong mẫu,
mặt khác NaOH là chất hút ẩm, khi đặt trong không khí thì
lượng NaOH dư tiếp xúc với ẩm trong không, ẩm bị hút đi
sau vào cấu trúcn trong mẫu trụ, ngăn cản quá trình phản
ứng của NaOH metacaolanh để hình thành liên kết
geopolymer, làm cho cấu trúc bị xốp, giãn nở thể tích sau
một thời gian mẫu bị phá hủy. Bên cạnh đó mẫu hoạt hóa
bằng 10% NaOH, tuy cường độ nén cao, nhưng cũng
xuất hiện các vết sùi li ti trên bề mặt.
3.4. Tính chất của chất kết dính cao lanh kiềm hoạt
hóa
Từ kết quả trên ta có thể thấy thời gian bắt đầu đông kết
thời gian kết thúc đông kết của chất kết dính chế tạo được
từ quá trình biến tính cao lanh dài. Theo TCVN 5439 -2004
(Xi măng - phân loại) [30], đối với xi măng có thời gian bắt
đầu đông kết nhỏ hơn 45 phút xi măng đông kết nhanh,
nếu thời gian này lớn hơn 2 giờ thì được xếp vào loại đông
kết chậm. Dựa vào tiêu chí này có thể xếp chất kết dính chế
tạo từ cao lanh sau nung hoạt hóa kiềm chất kết dính đông
kết chậm. Điều này có thể giải thích: khi hoạt hóa cao lanh
sau khi nung bằng NaOH, c liên kết geopolymer được tạo
ra nhanh chóng, khi đó một lượng nước được tách ra do quá
trình tạo liên kết giữa các cấu trúc aluminate silicate,
lượng ẩm này di chuyển lên bề mặt phía trên của khâu hồ
tạo thành một lớp lỏng, việc làm khô ợng lỏng này để thực
hiện quá trình đông kết trên bề mặt nếu không có tác động
thêm sẽ diễn ra rất chậm làm tăng thời gian đông kết. Kết
quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngay sau khi đưa hồ cao
lanh đã hoạt hóa vào khâu, đã xuất hiện một lớp nước trên
bề mặt khâu hồ.
Thông số Giá trị đo
Lượng nước tiêu chuẩn cho 500g cao
lanh sau khi nung 600oC trong 2 giờ 130ml nước
Thời gian bắt đầu đông kết 4,5 giờ
Thời gian kết thúc đông kết 15,5 giờ
Độ ổn định 0 mm
4. KẾT LUẬN
Nghiên cứu đã khảo sát điều kiện nung quặng cao lanh
thích hợp để tạo metacaolanh, đồng thời khảo sát hàm lượng
NaOH hoạt hoạt metacaolanh để tạo chất kết dính
geopolymer. Kết quả khảo sát cho thấy nung cao lanh
600oC trong 2 giờ, sau đó hoạt hóa với NaOH khối lượng
% so với lượng cao lanh sau nung, chất kết dính có cường
độ nén 150,772 MPa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Tống Duy Thanh, Mai Trọng Nhuận, Trần Nghi, 2016. Bách khoa thư địa chất. Đại học Quốc Gia Nội,
Hoàng Thị Minh Thảo, Khoáng vật sét, Tr 1026 – 1029.
[2]. Trần Văn Trị, Vũ Khúc, 2009. Địa chất và tài nguyên Việt Nam, NXB Khoa học Tự nhiên và Công nghệ.
[3]. Muray H.H, 2007. Developments in Clay Science”, Volume 2: Elseier, “Applied clay mineralogy”, 180 pgs.
[4]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Kho%C3%A1ng_v%E1%BA%ADt_s%C3%A9t
[5]. Lê Quang Phục và Thân Văn Duy/Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Mỏ - Địa chất 62(5a), 94 – 102
[6]. Tống Duy Thanh, Mai Trọng Nhuận, Trần Nghi, 2016. Bách khoa thư địa chất, Đh Quốc Gia Nội, Chí
Hiếu, Trần Bình Chư, “Khoáng sản không kim loại”
[7]. Lê Đỗ Trí, 2016. Đánh giá tiềm năng khoáng sản Kaolin vùng Bắc Bộ Việt Nam và định hướng sử dụng. Luận án
tiến sĩ – Đại học Mỏ địa chất.
[8]. https://vi.wikipedia.org/wiki/Cao_lanh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 364[9]. Nguyễn Khắc Giảng, 2014. Giáo trình Khoáng vật sét, Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.
[10]. Vũ Minh Khôi, 2016. Nghiên cứu quá trình chế biến cao lanh Phú Thọ để sản xuất các hợp chất của nhôm, luận
án tiến sĩ, Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2016
[11]. Doãn Huy Cẩm, Nguyễn Phương, 2005. Các loại hình nguồn gốc thành tạo và phân chia nhóm mỏ thăm dò các
mỏ kaolin miền Đông Bắc Bộ Việt Nam. TC KHKT Mỏ - Địa chất, 10 : 15-19, Hà Nội.
[12]. https://botdahanam.com.vn/ung-dung-kaolin-kaolinit-caolanh-trong-cong-nghiep
[13]. John L. Provis and Jannie S. J. van Deventer, Geopolymers: Structure, processing, properties and industrial
applications, 2009.
[14]. Tạp chí Vật liệu Xây dựng, Công nghệ & Thiết bị thế kỷ XXI (Nga) tháng 1/2018
[15]. Duxson P., et al. 2007. Geopolymer technology: the current state of the art. Journal Materials Science
Vol.42:2917–2933.
[16]. Nguyễn Văn Dũng, 2015. Nghiên cứu cường độ và vi cấu trúc của vật liệu geopolymer từ hỗn hợp bùn đỏ - tro
bay. Tạp chí khoa học và công nghệ đại học đà nẵng, số 7(92).
[17].https://www.academia.edu/28028990/Bê_Tông_Geopolymer_Những_Thành_Tựu_Tính_Chất_Và_Ứng_Dụng.
[18]. Glukhovsky Vd, Rostovskaja Gs& Rumyna Gv. 1980. High strength slag alkaline cements.Proceedings of the
seventh international congress on the chemistry of cement, pp 164-168.
[19]. Davidovit J, 2005. Geopolymer chemistry and sustainble development, The poly(sialate) terminology: a very
useful and simple model for the promotion andunderstanding of green-chemistry In: Proceedings of geopolymer
conference, pp. 9-15.
[20]. Boutterin C, & Davidovits J, 1998, Geopolymeric Cross-Lingk (LTGS) and Building materials, Geopolymer,
88(1), pp.79-88.
[21]. J. DAVIDOVITS, 1997, Geopolymers: inorganic polymeric new materials, Journal of thermal analysis, vol.37,
pp. 1633 – 1656 (1991).
[22]. Lloyd N. A.& Rangan B. V. 2010. Geopolymer Concrete with Fly Ash. in2nd Int. Conf. on Sustainable
Construction Materials and Technologies, ed J Zachar P Claisse, T R Naik, E Ganjian (Università Politecnica delle Marche,
Ancona,Italy).