TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 369
NGHIÊN CỨU CHTẠO MÀNG TỔ HỢP POLYCAPROLACTONE/XANTHAN
GUM MANG DƯỢC CHT CHRYSOPHANOL BẰNG PHƯƠNG PHÁP IN 3D
RESEARCH ON FABRICATION OF POLYCAPROLACTONE/XANTHAN GUM
COMPOSITE MEMBRANES CARRYING CHRYSOPHANOL USING 3D PRINTING
METHOD
Nguyễn Nhật An1, Nguyễn Thị Hương2,*
1Lớp HHOD 01- K17, Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: huongnt1@haui.edu.vn
TÓM TẮT
Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu chế tạo màng tổ hợp polycaprolactone/xathan gum mang dược chất
chrysophanol bằng phương pháp in 3D. Được tạo ra với tỷ lệ 85/15 hàm lượng chiếm 5% khối lượng
polycaprolactone/ xathan gum. Tổng khối lượng tổ hợp polymer polycaprolactone/ xathan gum (chất mang) là 5 gam với
tỷ lệ polycaprolactone/ xathan gum là 85/15. Dược chất chrysophanol được đưa vào với tỷ lệ 5% khối lượng so với khối
lượng tổng polycaprolactone/xathan gum. Tương tự, chất nhũ hóa polyethylen oxide polysorbate 80 được đưa vào trong
tổ hợp với tỷ lệ khối lượng lần lượt là 15% 5% so với tổng khối lượng polycaprolactone/xathan gum. Sau đó được đem
in 3D với các điều kiện khác nhau như tốc độ in, độ dày lớp in, số lớp in, nhiệt độ bàn in. Khi khảo sát một điều kiện sẽ c
định ba điều kiện còn lại. Kết quả bao gồm độ ẩm mẫu và độ dày mẫu, quét phổ hồng ngoại biến đổi (FT-IR), chụp SEM
và nghiên cứu mức độ giải phóng chrysophanol tại dung dịch pH 2 và dung dịch đệm pH 7,4 (mô phỏng lại độ pH trong
dịch dạ dày và dịch ruột ở người).
Từ khóa: polymer polycaprolactone, xathan gum, chrysophanol, 3D printing method.
ABSTRACT
This paper presents the results of the research on the fabrication of polycaprolactone/xanthan gum composite films
carrying the drug chrysophanol by 3D printing method. It was created with a ratio of 85/15 and the content accounted for
5% of the mass of polycaprolactone/xanthan gum. The total mass of the polycaprolactone/ xanthan gum polymer composite
(carrier) was 5 grams with a polycaprolactone/ xanthan gum ratio of 85/15. The drug chrysophanol was added at a mass
ratio of 5% compared to the total mass of polycaprolactone/xanthan gum. Similarly, the emulsifiers polyethylene oxide
and polysorbate 80 were added to the composite at mass ratios of 15% and 5% respectively compared to the total mass of
polycaprolactone/ xanthan gum. It was then 3D printed under different conditions such as printing speed, printing layer
thickness, number of printing layers, and printing bed temperature. When examining one condition, the remaining three
conditions were fixed. The results included sample moisture and sample thickness, Fourier transform infrared spectroscopy
(FT-IR), stereomicroscopy, SEM, and chrysophanol release studies at pH 2 and pH 7.4 buffer solutions (simulating the pH
of human gastric and intestinal fluids).
Keywords: polymer polycaprolactone, xathan gum, chrysophanol, 3D printing method.
1. GIỚI THIỆU
Chrysophanol (CSP) thành phần hoạt chất chính của
Rheum palmatum L (Đại hoàng). Danh pháp IUPAC là 1,8-
dihydroxy-3-metyl-anthraquinone [1]. một dẫn xuất của
anthraquinone (dẫn xuất của anthracene với 2 nhóm keton
đính vị trí số 9 10 của anthracene) gồm 2 nhóm
hydroxy đính vị trí số 1 và 8, 1 nhóm metyl đính vị trí
số 3 của anthraquinone. Chất này còn được gọi acid
chrysophanic. Công thức phân tử của chrysophanol
C15H10O4 [2]. CSP được biết đến với các tác dụng dược
rộng rãi như chống viêm, chống ung thư, bảo vệ hệ thần
kinh [1], giảm tình trạng hóa thận [3]. Polycaprolacton
(PCL) một polyme kỵ nước bán tinh thể điểm nóng
chảy thấp khả năng ơng thích sinh học tốt, sản phẩm
phân hủy không độc hại. Ngoài ra, PCL còn thể hiện khả
năng bám dính tốt với nhiều loại chất nền khác nhau [4].
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 370Nhờ độ thấm cao, tương hợp tốt với các polyme, các hợp
chất hữu cơ khác nhau nên PCL đang được sử dụng để phát
triển các hệ mang thuốc/dược chất [5]. Một số ứng dụng của
PCL thể kể đến bao gồm làm chất phân phối thuốc
kiểm soát, làm chỉ phẫu thuật tự tiêu [6]. Xathan gum (XG)
một loại polyme ngoại bào được sản xuất từ vi khuẩn
Xanthomonas campestris thông qua quá trình lên men hiếm
khí chìm. Ngoài ra, XG còn có các dặc tính lý hóa nổi bật,
có độ ổn định trong phạm vi cao về nhiệt độ và pH, độ nhớt
cao ở nồng dộ thấp. Được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh
vực như thực phẩm, dược phẩm, phân phối thuốc,… [7]. Vật
liệu tổ hợp trên sở polycaprolacton, XG các polyme
khác mang chrysophanol được chế tạo bằng các phương
pháp như trộn chrysophanol với các chất tạo gel, trộn
chrysophanol với chất mang polyme được khâu mạch,
trùng hợp liên bề mặt (interfacial polymerization). Gel chứa
chrysophanol được chế tạo bằng cách sử dụng carbopol-940
như chất tạo gel. Chrysophanol dạng rắn được nghiền
bằng phương pháp đồng nghiền mới (Novel cogrinding)
polyethylene glycol (PEG) 6000 cùng với hợp chất tên
thương mại HPMC là các chất mang. Cụ thể, 100 mg thuốc
được trộn với hỗn hợp bao gồm 100 mg PEG 6000 50
mg HPMC (tỷ lệ 2:1) hỗn hợp này được gia nhiệt trong
thiết bị điều nhiệt nước nóng cho đến khi PEG 6000 nóng
chảy, sau đó được làm nguội xuống nhiệt độ phòng. Tiếp
theo, hỗn hợp dung môi (3 ml) với methanol và
dichloromethane (tỷ lệ 1:2) được trộn đều với hỗn hợp nói
trên. Sau khi bốc hơi kiểm soát hệ dung môi,
chrysophanol trong hỗn hợp hàm lượng 15% (thể
tích/khối lượng, v/w). Dung dịch này được đưa vào
carbopol (đã trung hòa bằng triethanolamine) được
khuấy với tốc độ cao bằng máy khuấy cơ. Sau đó, glycerin
và nước tin khiết được đưa vào gel [8].
2. THỰC NGHIỆM
2.1. Vật liệu
Polycaprolactone (PCL) (C6H10O2)n (độ tinh khiết 99%,
màu trắng đục) xuất xứ Sigma Aldrich, Mỹ. Xanthan gum
(XG) E415 C35H49O29 (độ tinh khiết 99%, kích thước 200
mesh) xuất xứ Ziboxan, Trung Quốc. Chrysophanol (CSP)
C15H10O4 (độ tinh khiết 98%, dạng bột cam) xuất xứ Trung
Quốc. Polyethylen oxide (PEO) (tinh khiết 99%) xuất xứ
Sigma Aldrich, Mỹ. Tween 80 (Polysorbate 80, chất lỏng
dạng dầu màu vàng) xuất xứ Xilong, Trung Quốc. Các hóa
chất khác gồm dicloromethan (DCM) (99,5%), etanol
(99,7%), HCl (36~38%), KCl (99,5%), NaOH (96%),
Na2HPO4.12H2O (99%), KH2PO4 (99%) xuất xứ Trung
Quốc.
2.2. Chuẩn bị màng in 3D
2.2.1. Chuẩn bị dịch in 3D
Tổng khối lượng tổ hợp polymer PCL/XG (chất mang)
5 gam với tỷ lệ PCL/XG 85/15. Dược chất CSP được
đưa vào với tỷ lệ 5% khối lượng so với khối lượng tổng
PCL/XG. Tương tự, chất nhũ hóa PEO Tween 80 được
đưa vào trong tổ hợp với tỷ lệ khối lượng lần lượt 15%
và 5% so với tổng khối lượng PCL/XG.
2.2.2. Quy trình chế tạo màng in 3D
Bước 1: Cho o cốc A gồm 0,75g XG 80ml H2O,
khuấy đều hỗn hợp bằng máy khuấy từ trong 30 phút cho
XG tan hoàn toàn trong H2O.
Bước 2: Cho vào cốc B gồm 4,25g PCL vào 8ml DCM
khuấy hỗn hợp trên máy khuấy từ trong 30 phút cho PCL
tan hoàn toàn trong DCM. Thêm 0,25g chrysophanol từ từ
vào và khuấy tiếp đến khi hỗn hợp có màu cam vàng.
Bước 3: Cho vào cốc A 0,25g Tween 80, sau đó khuấy
từ tiếp 30 phút.
Bước 4: Cân 0,75g PEO, đem hòa tan vào 15ml H2O,
sau đó nhỏ từ từ vào cốc A đang được khuấy trên máy khuấy
từ.
Bước 5: Nhỏ từ từ dung dịch từ cốc B sang cốc A đang
được khuấy trên máy khuấy từ. Sau đó đồng hóa mẫu 3 lần
bằng thiết bị IKA Ultra T25, mỗi lần đồng hóa trong vòng
5 phút.
Bước 6: Nhũ tương thu được khuấy trên máy khuấy từ
trong vòng 2 giờ, sau đó để tủ lạnh qua đêm cho ổn định hệ
nhũ.
Bước 7: Trước khi tiến hành in 3D, nhũ tương được
khuấy trên máy khuấy từ trong 2 giờ để hỗn hợp đạt được
độ đồng nhất cao nhất.
Bước 8: Hút hỗn hợp thu được bằng bơm rồi nạp vào
máy in 3D in theo chương trình sẵn với đầu in kích
thước ID = 0,91mm; OD = 0,6mm (in theo kích thước
1,8x4,8mm; in chéo từng lớp đan xen với nhau).
2.2.3. Các điều kiện khảo sát in 3D đối với các mẫu
Đối với khảo sát số lớp: dao động từ 2 đến 4 lớp, cố định
các thông số còn lại (độ dày lớp: 0,2 mm; tốc độ in: 10
mm/s; nhiệt độ bàn in: 29°C).
Đối với khảo sát độ dày lớp: dao động từ 0,1 đến 0,3
mm, cố định các thông số còn lại (số lớp: 2 lớp; tốc độ in:
10 mm/s; nhiệt độ bàn in: 29°C).
Đối với khảo sát tốc độ in: dao động từ 5 đến 15 mm/s,
cố định các thông số còn lại (số lớp: 2 lớp; độ dày lớp: 0,2
mm; nhiệt độ bàn in: 29°C).
Đối với khảo sát nhiệt độ bàn in: dao động từ 29 đến
80°C, cố định các thông số còn lại (số lớp: 2 lớp ; độ dày
lớp: 0,2 mm; tốc độ in: 10 mm/s).
2.3. Dung dịch khảo sát
2.3.1. Dung dịch pH 2
Dung dịch pH 2 được pha theo công thức sau: n chính
xác 5,193g KCL cho vào cốc thủy tinh 500ml đã được rửa
sạch sấy khô. Dùng ống đong đong 300ml nước cất thêm
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 371vào cốc. Sau đó thêm 1,722 ml dung dịch HCL đặc, khuấy
đến khi lượng chất trong cốc tan hết. Chuyển dung dịch vào
bình định mức 500ml, thêm nước cất đến 500ml.
2.3.2. Dung dịch đệm pH 7,4
Dung dịch đệm pH 7,4 được pha theo công thức sau:
Cân chính xác 17,011g KH2PO4 pha vào 100 ml nước cất.
Cân chính c 69,39 Na2HPO4.12H2O pha vào 100 ml nước
cất. Đổ 2 dung dịch trên vào 2 bình định mức 500 ml sau
đó định mức lên 500 ml, tiếp theo trộn 2 dung dịch thu được
dung dịch đệm pH 7,4.
3 . KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1. Tương quan vmẫu trong, sau khi in sau khi khô
Các mẫu in dưới tác dụng của nhiệt độ trong suốt quá
trình in khiến cho mẫu khi vừa in xong đã độ khô nhất
định, riêng mẫu nhiệt độ 80°C khô ngay sau khi in xong.
Phần lớn các mẫu có tốc độ khô nhanh (từ 15 ~ 30 phút sau
khi in) trừ các mẫu 1002294 và 1003293 do độ dày quá lớp
khiến nước khó bay hơi hơn. Thời gian in trung bình một
mẫu vào khoảng 13 phút/mẫu. Trong đó mẫu 502293 tốc
độ in chậm nhất, mất 20 phút để in xong 1 mẫu trong khi đó
mẫu 1502293 chỉ mất 7 phút.
3.2. Độ ẩm mẫu và độ dày mẫu
Kết quả khảo sát được trình bày trong hình 1.
Hình 1. Biểu đồ tả % ẩm trong mẫu độ dày mẫu (dự kiến
và thực tế)
Từ các kết quả hàm ẩm độ dày mẫu được trình bày
trong hình 1, ta thấy độ ẩm trong tất cả các mẫu rất thấp
(chiếm từ 6% ~ 1% tổng khối lượng mẫu sau khi khô), điều
này chứng ttất cả các mẫu in 3D đều đạt điều kiện khô ráo
sau khi để khô tự nhiên. Ngoài ra, độ dày dự kiến cao hơn
khoảng 2 lần so với thực tế cho thấy lượng nước trong mẫu
chiếm khá nhiều khi còn ở dạng dịch.
3.3. Phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FT-IR)
Hình 2 trình bày phổ FT-IR của các mẫu khảo sát.
Hình 2. Phổ FT-IR của màng PCL/XG/CSP theo từng điều kiện in
(số lớp, tốc độ in, độ dày lớp in, nhiệt độ bàn in)
Quan sát phổ FT-IR của các mẫu màng tổ hợp
PCL/XG/CSP trên hình 2, ta thấy xuất hiện các vân phổ đặc
trưng cho các nhóm chức của PCL, XG CSP. Ngoài ra,
dao động đặc trưng của chất tương trợ (PEO) chất hoạt
động bề mặt (Tween 80) cũng xuất hiện ở trong mẫu màng
tổ hợp PCL/XG/CSP cho thấy tất cả các thành phần trong
mẫu đã kết hợp với nhau. Các chất tương trợ chất hoạt
động bề mặt ảnh hưởng nhẹ chuyển dịch số sóng
không đáng kể đối với các vân phổ đặc trưng của PCL, XG
và CSP.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 3723.4. Phân tích hình thái cấu trúc bằng hiển vi điện tử
quét (SEM)
Hình 3 trình bày ảnh SEM của màng PCL/XG/CSP (mẫu
1002293) với 1000 lần 10.000 lần. thể thấy sự trộn
lẫn các pha với nhau trong màng tổ hợp, trong đó PCL
pha nền, XG pha phân tán dạng hình cầu với kích thước
từ 2-3 μm. Không quan sát thấy sự xuất hiện của CSP trên
bề mặt mẫu chứng tỏ CSP đã phân tán và tương hợp tốt với
PCL và XG nhờ sự có mặt của PEO và Tween 80.
Hình 3. Ảnh SEM của mẫu PCL/XG/CSP 1002293
Các hình 4 và 5 lần lượt là ảnh SEM của mẫu 1002294
mẫu 1002292. Tương tự trên, CSP cũng phân tán tốt
trong nền PCL và XG khi có mặt các chất tương hợp PEO
và chất hoạt động bề mặt Tween 80.
Hình 4. Ảnh SEM của mẫu PCL/XG/CSP 1002294
Hình 5. Ảnh SEM của mẫu PCL/XG/CSP 1002292
3.5. Nghiên cứu mức độ giải phóng CSP từ vật liệu t
hợp bằng phương pháp quang phổ hấp thụ tử ngoại
khả kiến (UV-VIS)
Hình 6 trình bày hàm lượng CSP giải phóng từ màng
PCL/XG/CSP theo từng điều kiện in cụ thể, khảo sát sau 2
giờ giải phóng trong dung dịch pH 2 2 giờ giải phóng
trong dung dịch đệm pH 7,4.
Từ kết quả trong hình 6, ta thấy trong 4 giờ thử nghiệm,
hàm lượng CSP của mẫu CSP tinh thể giải phóng thấp nhất,
chỉ đạt 1,3%. Đối với các mẫu màng còn lại, hàm lượng
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 373CSP giải phóng vào dung dịch đệm pH 7,4 lớn hơn so với
dung dịch pH 2. Điều này cho thấy thể do môi trường
acid nên CSP khó khuếch tản khỏi màng trong môi trường
acid giảm đáng kể so với trong môi trường trung tính. Ngoài
ra, thể môi trường acid thúc đẩy quá trình proton hóa các
polymer trong màng dẫn đến tình trạng tạo lớp proton
bao quanh mẫu làm giảm khả năng giải phóng CSP trong
màng. So sánh về lượng CSP giải phóng, mẫu 1002294 và
mẫu 1002503 giải phóng thấp trong dung dịch pH 2
tương đối cao trong dung dịch đệm pH 7,4 so với các mẫu
còn lại. Các mẫu 1002292 mẫu 502293 giải phóng lượng
CSP nhiều nhất. vậy, điều kiện in 1002503 được chọn
làm điều kiện in thích hợp nhất để tạo màng tổ hợp PCL/XG
mang CSP và kiểm soát giải phóng CSP trong các dung dịch
đệm pH khác nhau.
Hình 6. Đồ thị phản ánh hàm lượng CSP giải phóng từ màng
PCL/XG/CSP theo từng điều kiện cụ thể (Số lớp, độ dày lớp in, tốc độ
in, nhiệt độ bàn in)
4. KẾT LUẬN
Hỗn hợp lỏng PCL/XG/CSP thích hợp làm mực in để in
3D tạo màng tổ hợp PCL/XG/CSP. Điều kiện in: tốc độ 10
mm/giây, 03 lớp, 25oC (1002503) là thích hợp nhất để chế
tạo màng PCL/XG/CSP chứa 5% CSP. Sthay đổi điều kiện
in có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc, tính chất của màng cũng
như hàm lương CSP giải phóng trong các dung dịch pH 2
pH 7,4. CSP xu hướng kết tụ (tạo vùng đậm màu)
trong nền PCL/XG do lượngớc bốc hơi khi màng tổ hợp
PCL/XG/CSP khô. ng tổ hợp PCL/XG đã cải thiện đáng
kể khả năng giải phóng CSP trong các dung dịch pH 2
pH 7,4 so với CSP tinh thể giải phóng các dung dịch đệm
nói trên.