
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 352
NGHIÊN CỨU TÁI CHẾ CHẤT THẢI XỈ NHÔM CỦA LÀNG NGHỀ MẪN XÁ,
TỈNH BẮC NINH ĐỂ SẢN XUẤT GẠCH NUNG LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG
STUDY ON RESEARCH ON RECYCLING ALUMINUM SLAG WASTE OF MAN XA
CRAFT VILLAGE, BAC NINH PROVINCE TO PRODUCE BURNED BRICKS AS
CONSTRUCTION MATERIALS
Doãn Minh Thọ1, Đỗ Đình Dũng1, Đỗ Thị Cẩm Vân2,*
1Lớp DHHMOITO1 - K16, Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Viện Công nghệ HaUI, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: docamvan85@gmail.com
TÓM TẮT
Trong quá trình sản xuất và tái chế nhôm, xỉ nhôm hình thành trên bề mặt kim loại nóng chảy chứa tới 70% nhôm tự
do trong lớp oxit. Thành phần của xỉ nhôm thay đổi tùy theo công nghệ sản xuất. Ba loại phụ phẩm chính được tạo ra là xỉ
trắng, xỉ đen (hay muối nhôm xỉ) và các sản phẩm phi kim loại. Xỉ trắng chứa 40-80% nhôm, được tạo ra trong quá trình
sản xuất nhôm sơ cấp và luyện phôi. Xỉ đen chứa 5-20% nhôm, tạo ra từ sự nóng chảy của xỉ trắng và phế liệu nhôm trong
luyện kim thứ cấp với sự hiện diện của muối như KCl, NaCl, và một lượng nhỏ florua. Trong quá trình sản xuất nhôm,
lượng xỉ tạo ra từ 300 đến 600 kg mỗi tấn nhôm. Ngành công nghiệp nấu nhôm phát thải khói bụi có nhiệt độ cao (500-
700°C), chứa bụi oxit nhôm (Al2O3), khí CO, NO2, SO2, và các kim loại khác như Mg, Pb, Si. Các khí thải gồm hydrogen
và amoniac có khả năng bốc cháy, nước thải và chất thải rắn không thể tái chế cũng phát sinh trong quá trình tái chế xỉ
nhôm.
Từ khóa: Xỉ nhôm, tái chế, gạch nung, cường độ nén, độ hút nước.
ABSTRACT
During the production and recycling of aluminum, the aluminum slag formed on the surface of the molten metal
contains up to 70% free aluminum in the oxide layer. The composition of aluminum slag varies depending on production
technology. The three main types of by-products produced are white slag, black slag (or aluminum salt slag) and non-
metallic products. White slag contains 40-80% aluminum, produced during primary aluminum production and billet
smelting. Black slag contains 5-20% aluminum, produced from the melting of white slag and aluminum scrap in secondary
metallurgy in the presence of salts such as KCl, NaCl, and small amounts of fluoride. During aluminum production, the
amount of slag produced is 300 to 600 kg per ton of aluminum. The aluminum smelting industry emits high temperature
dust (500-700°C), containing aluminum oxide dust (Al2O3), CO, NO2, SO2, and other metals such as Mg, Pb, Si. Emissions
including flammable hydrogen and ammonia, wastewater and non-recyclable solid waste are also generated during the
recycling of aluminum slag.
Keywords: Aluminum slag, recycling, fired bricks, compressive strength, water absorption
1. GIỚI THIỆU
Làng Mẫn Xá (xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc
Ninh) được coi là làng nghề tái chế nhôm có quy mô lớn
nhất miền Bắc. Hiện cả làng có 296 hộ sản xuất với hơn 400
lò cô đúc nhôm.
Xỉ đen hay còn gọi là muối nhôm xỉ, chứa hàm lượng
nhôm thấp hơn, thường là 5–20% được tạo ra từ sự nóng
chảy của xỉ trắng và phế liệu nhôm trong quá trình luyện
kim thứ cấp với sự có mặt dòng muối bao gồm kali clorua
(KCl), natri clorua (NaCl) và một lượng nhỏ lượng florua.
Các sản phẩm phi kim loại được tạo ra từ các lò luyện cấp
ba trong quá trình quá trình lọc nước của xỉ đen/xỉ muối
nhôm. Tùy thuộc vào loại lò sử dụng và kỹ thuật sản xuất,
từ 300 đến 600 kg xỉ nhôm được tạo ra để sản xuất một tấn
nhôm [10]. Hiện nay ở Việt Nam, các sản phẩm được làm
từ xỉ nhôm trên thị trường trong nước còn hạn chế chủ yếu
đem đi vứt bỏ và chôn lấp.
Do vậy, Nghiên cứu tái chế phế thải xỉ nhôm làng nghề
Mãn Xá, tỉnh Bắc Ninh để sản xuất gạch nung làm vật liệu

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 353xây dựng nhằm góp phần nâng cao bảo vệ môi trường sống
của người dân xung quanh làng nghề nói riêng và môi
trường Việt Nam nói chung.
2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nguyên liệu
Xỉ thải ta lựa chọn trong nghiên cứu này được lấy từ
làng nghề tái chế nhôm Mẫn Xá, Tỉnh Bắc Ninh.
Nguyên liệu khác: Đất thịt (sét), tro bay, cát, than hoạt
tính
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát công thức phối trộn
Tổng khối lượng nguyên liệu cho mỗi lần phối trộn là
1000g. Các thành phần bao gồm cát đen, tro bay, than, đất
sét và xỉ thải nhôm từ hộ tái chế. Sau khi cân đúng theo
công thức, thêm nước và phối trộn đều, chúng được nung
trong lò với thang nhiệt độ từ 500 độ lên đến 1000 độ. Sản
phẩm gạch viên sau nung được đánh giá cảm quan so sánh
với mẫu đối chứng gạch nung từ cơ sở sản xuất thương mại.
Độ lặp mỗi mẫu thí nghiệm là 2 lần, và mẫu gạch sau ép tạo
hình viên sẽ được phơi khô tự nhiên trong 8-10 ngày trước
khi đưa vào lò nung.
- Phương pháp khảo sát thời gian và nhiệt độ nung
thích hợp để tạo viên gạch nung đạt yêu cầu
Tiến hành khảo sát thời gian và nhiệt độ nung thích hợp
để tạo được gạch viên có chỉ tiêu đánh giá ngoại quan và
tính chất cơ lý tốt nhất. Thiết lập 4 chế độ nhiệt độ và thời
gian nung mẫu sau:
Chế độ nung 1: Nung trong vòng 2 giờ (120 phút) với
4 mốc nhiệt độ từ thấp đến cao (500, 900, 1000 và 1100°C)
cho các công thức phối trộn khảo sát CT0, CT1-CT5.
Chế độ nung 2: Rút ngắn thời gian nung xuống còn 1
giờ (60 phút) với cùng 4 mốc nhiệt độ cho các mẫu gạch
như chế độ 1.
Chế độ nung 3: Nung với 3 mốc nhiệt độ (500°C trong
60 phút, 900°C trong 60 phút và 1100°C trong 180 phút)
cho các mẫu gạch lựa chọn CT2 và CT3.
Chế độ nung 4: Nung với 2 mốc nhiệt độ (900°C duy
trì trong 30 phút, sau đó nâng lên 1100°C duy trì trong 180
phút) cho mẫu gạch lựa chọn CT2.
- Phương pháp phân tích đặc tính cơ lý của gạch đặc
đất sét nung
Bảng 1. Dụng cụ và thiết bị thí nghiệm
Tên thiết bị Model Xuất xứ
Máy đo độ bề
n
nén
Việt Nam
Máy phân tích
ICP-MS
Model: iCAP RQ Thermo
scientific, Mỹ
Máy phân tích
huỳ
nh quang tia
X (XRF)
TBCL-
51, ARL
PERFORM’X
Thermo
Scientific, Mỹ
- Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm excel 2016 để nhập và xử lý số liệu.
Giá trị đo được biểu diễn dựa trên giá trị trung bình và độ
lệch chuẩn.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả khảo sát công thức phối trộn tạo viên gạch
đặc sét nung
- Khảo sát tỉ lệ bổ sung xỉ nhôm tái chế vào công thức
phối trộn
Bảng 2. Đánh giá ngoại quan các mẫu gạch khảo sát
Công
thức
khảo sát
Mẫu gạch
sau nung Ngoại quan
ĐC
Về hình dáng: viên gạch vuông
vắn
Màu sắc: màu sắc nâu đỏ đồng
nhất
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: có 1-2 vết nứt
CT0
Về hình dáng: vuông vắn
Màu sắc: màu sắc nâu đỏ đồng
nhất
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt
CT1
Về hình dáng: viên gạch ko bị
vỡ hay nứt
Màu sắc: màu sắc nâu đỏ, có ít
hạt trắng
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt
CT2
Về hình dáng: vuông vắn
Màu sắc: màu sắc nâu đỏ có
chút trắng
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt
CT3
Về hình dáng: vuông vắn
Màu sắc: màu sắc hồng nhạt, có
hạt trắng
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt
CT4
Về hình dáng : vuông vắn
Màu sắc: màu sắc hồng nhạt
hơn, có nhiều hạt trắng bên
trong gạch
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 354CT5
Về hình dáng : vuông vắn
Màu sắc: màu sắc chủ yếu
trắng, có nhiều hạt trắng bên
trong gạch
Trạng thái: không bị khuyết tật
hay lồi lõm
Vết nứt: ko có vết nứt
Hình 1. Kết quả khảo sát tỉ lệ bổ sung thành phần xỉ nhôm tái chế
ảnh hưởng đến độ hút nước của các mẫu gạch nung
Hình 2. Kết quả khảo sát tỉ lệ bổ sung thành phần xỉ nhôm tái chế
ảnh hưởng đến cường độ nén của các mẫu gạch nung
Cho thấy, cường độ nén của gạch khảo sát có xu hướng
ngược lại so với độ hút nước, độ chịu lực nén giảm dần tỉ lệ
nghịch với tỉ lệ xỉ tái chế thêm vào công thức phối trộn Kết
quả khảo sát lượng nước bố sung phối trộn tạo viên gạch.
Bảng 3. Đánh giá ngoại quan các mẫu gạch khảo sát tỉ lệ nước
phối trộn
Công thức
và tỉ lệ nước
khảo sát
Mẫu gạch sau
nung Ngoại quan
CT2 190ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông
vắn so với mẫu trước
Màu sắc có một số ít
hạt chấm trắng trong
viên gạch
Trạng thái ko có vết
nứt nào
CT2 195ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông
vắn so với mẫu trước
Màu sắc có hạt chấm
trắng trong viên gạch
Trạng thái ko có vết
nứt nào
CT2 200ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông
vắn so với mẫu trước
Màu sắc còn nhiều
những nốt
trắng do phối trộn ko
đồng đều
Trạng thái ko có vết
nứt nào
CT3 190ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông vắn so với
mẫu trước TN1.1
Màu sắc có nhiều
những hạt chấm trắng
hơn CT2, do phối trộn
ko đồng đều
Trạng thái ko có vết
nứt nào
CT3 195ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông vắn so với
mẫu trước TN1.1
Màu sắc có nhiều
những hạt chấm trắng
hơn CT2, bề mặt trắng
do phối trộn không
đồng đều
Trạng thái ko có vết
nứt nào
CT3 200ml
Về hình dáng viên gạch
khá vuông vắn so với
mẫu trước TN1.1
Màu sắc có nhiều
những hạt chấm trắng
hơn CT2, do phối trộn
ko đồng đều
Trạng thái ko có vết
nứt nào
Từ hình 3 cho thấy, cường độ nén giữa các mẫu CT2 và
CT3 nghiên cứu khi tăng thể tích nước bổ sung phối trộn
vào mỗi mẻ 1 kg nguyên liệu để tạo viên thì làm gia tăng độ
hút nước, đồng thời làm giảm cường độ nén của các mẫu
gạch đặc nung.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 355
Hình 3. Kết quả khảo sát tỉ lệ nước bổ sung để phối trộn tạo viên
gạch sét nung
3.2. Kết quả khảo sát thời gian và nhiệt độ nung thích
hợp để tạo viên gạch nung đạt yêu cầu
Từ hình 4 cho thấy, gạch ở chế độ CĐ1 và 4 đạt chất
lượng gạch tốt so với viên gạch số theo CĐ2 và 3 do gạch
đã nung đạt đủ thời gian, gạch già đồng nhất mà sắc hơn ở
bên trong, còn mẫu gạch CĐ2 và 3 thì vẫn còn màu đen bến
trong gạch do gạch chưa nung tới. Viên gạch CĐ1 vẫn còn
chút đen không như mẫu gạch CĐ4 màu đỏ đồng nhất từ
trong ra ngoài. Cả 4 viên gạch đều vuông vắn và không bị
khuyết tật hay lồi lõm, vết nứt. Thời gian nung của viên
gạch nung CĐ4 thời gian cũng ngắn hơn tiết kiệm hơn so
với 3 chế độ nung khảo sát còn lại.
CĐ1 CĐ2
CĐ3 CĐ4
Hình 4. Khảo sát chế độ nung để tạo hình viên gạch đặc sét nung.
CĐ1-CĐ4: tương ứng chế độ nung 1-4.
3.3. Kết quả khảo sát khả năng thôi nhiễm của kim loại
nặng trong gạch vào môi trường nước
Từ kết quả bảng 4 và hình 5 cho thấy, thành phần kim
loại nặng có trong xỉ nhôm và nguyên liệu có mặt trong môi
trường nước vòi ngâm sau 10 và 20 ngày. Thành phần kim
loại nặng nguy hại trong mẫu nước phân tích có nồng độ tại
thời điểm 10 và 20 ngày ngâm không có sự khác biệt đáng
kể. Thành phần chính kim loại nặng thôi nhiễm vào nước
chủ yếu là Al, Mo, V và Ba, một phần nhỏ các kim loại nặng
khác với nồng độ dao động trong khoảng từ vài ppb tới 500
ppb. Nồng độ các kim loại nặng vô cơ nguy hại này khi đối
chiếu so sánh với ngưỡng ngâm chiết theo QCVN
07:2009/BTNMT quy định ngưỡng an toàn của các thành
phần nguy hại tác động đến môi trường đều rất nhỏ so với
ngưỡng này.
3.4. Kết quả đánh giá đặc tính cơ lý, thành phần của xỉ
nhôm tái chế và sản phẩm gạch đặc đất sét nung
Hình 5. Sự biến thiên pH theo thời gian của nước ngâm gạch thôi
nhiễm theo thời gian khảo sát
Bảng 4. Kết quả khảo sát nồng độ kim loại nặng thôi nhiễm vào
môi trường nước
TT
Thành
phần
nguy h
ại
vô cơ
C ngâm
sau 10
ngày
(ppb)
C ngâm
sau 20
ngày
(ppb)
QCVN
07:2009/BTN
MT
Đánh
giá
Ngư
ỡng
ngâm
chiết
Ctc
(ppb)
Hàm
lượng
tuyệt
đối cơ
sở, H
(ppb)
1 Cr 4,9 0,97 5000 105 Đạt
2 Co 3,1 0,67 80000
1,6x106
Đạt
3 Ni 13,9 5,02 70000
1,4x106
Đạt
4 As 44,3 36,39 2000 4x104
Đạt
5 Mo 468,8 517,49 350000
7x106
Đạt
6 Cd 2,9 0,84 500 103 Đạt
7 Ba 33,4 37,75 100000
2x106
Đạt
8 Pb 2,8 0,74 15000
3x105
Đạt
9 Bi 2,1 0,10 - - -
10
V 487,549 488,703 25000
5x105
Đạt
Từ hình 6 và kết quả bảng 5 cho thấy, chất lượng gạch
sét đặc nung bổ sung 20% thành phần xỉ nhôm tái chế so
với mẫu gạch đối chứng sản xuất bán trên thị trường thì tỉ
trọng viên gạch nghiên cứu do nén tạo hình thủ công nên có
độ xốp hơn chút, tỉ trọng nhỏ hơn đạt 1508 kg/m3. Độ hút
nước của mẫu gạch tái chế đạt yêu cầu < 16% và cường độ
nén của gạch tái chế là 9,45 Mpa thậm chí còn lớn hơn đáng
kể so với mẫu gạch đối chứng là 7,56 MPa. Ngoài ra, so

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 ● 2024 356sánh ngoại quan của mẫu gạch đối chứng nếu áp dụng cùng
chế độ nhiệt nung CĐ4 ở nhiệt độ nâng cao 900-1100oC
trong 240 phút mẫu gạch đối chứng thậm chí còn bị cong
vênh, xuất hiện vết nứt không đạt ngoại quan tốt như mẫu
gạch CT2. Điều này là do thành phần trong mẫu gạch bổ
sung xỉ nhôm tái chế với tỉ lệ 20% bổ sung thêm thành phần
giàu Al và Si có vai trò tăng độ kết dính cho mẫu gạch khi
nung ở nhiệt độ cao.
Hình 6. Đánh giá hàm lượng các thành phần nguy hại vô cơ đến
môi trường
Bảng 1. Đặc tính cơ lý của mẫu gạch đặc sét nung bổ sung xỉ
nhôm tái chế
Chỉ tiêu
Mẫu
gạch đối
chứng
Mẫu gạch
nghiên cứu
Mức cho
phép theo
TCVN
1451:1998
gạch đặc
đất sét
S (mm2) 7538,0 5565,5±173,20 -
V (mm3) 430497,1
196891,6±7783,45
-
m (g) 724,3 313,5±14,94 -
Cường độ
nén
(N/mm2
hoặc MPa)
7,56 9,45±0,69
7,5-10
(gạch Mac
100)
Tỉ trọng
(kg/m3)
1682,38 1508,0±111,06 -
Độ hút
nước (%)
13,4% 13,6±1,0 < 16%
Độ cong
vênh b
ề mặt
đáy, mặt
cạnh (mm)
1-2 2 4
Số vết nứt
xuyên suốt
chiều dày
kéo sang
chiều rộng
< 20mm
(mm)
3 0 2
Số vết sứt
cạnh góc
sâu 5-10
mm (mm)
1 1 2
4. KẾT LUẬN
Xỉ nhôm từ quá trình tái chế nhôm phù hợp để tái chế và
sản xuất gạch đất sét nung. Tỉ lệ phối trộn của xỉ nhôm nên
dừng ở khoảng 20% (CT2) để đạt được chất lượng gạch tối
ưu nhất, khi dùng tỉ lệ cao hơn có thể ảnh hưởng tới ngoại
quan, cường độ nén và độ hút nước của gạch đặc nung. Chế
độ nung gạch tái chế xác định là CĐ4 với thời gian kéo dài
240 phút với hai mốc nhiệt 900oC duy trì trong thời gian
ngắn tầm 30 phút, sau đó nâng lên 1100oC duy trì trong 180
phút. Chất lượng của mẫu gạch nung theo công thức CT2
có độ hút nước < 16%, cường độ nén đạt 9,45 MPa tương
đương gạch Mac 100 đạt tiêu chuẩn TCVN 1451:1998 cho
gạch đất sét nung. Ngoài ra, gạch đặc nung bổ sung 20% xỉ
nhôm tái chế hoàn toàn có thể sử dụng trong xây dựng mà
không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. News, Theo VTC. 2023. Làng tái chế nhôm ngày đêm mịt mờ khói bụi, mỗi người dân cõng 33 tấn xỉ thải. Quản
lý Môi trường, Chuyên trang của TC điện tử Môi trường và Đô thị Việt Nam (ngày 2/11/2023).
[2]. Hoàng, Phạm Đinh Huy, Nguyễn Thanh Sang and Vũ Bá Đức. 2020. Ảnh hưởng của hàm lượng cốt liệu tái chế từ
gạch đất sét nung và bê tông phế thải đến tính chất cơ học của bê tông cường độ cao. Transport and Communications
Science Journal. 71(8): 944-955. DOI: 10.47869/tcsj.71.8.6.
[3]. Gencel, Osman, Muhammad Junaid Munir, Syed Minhaj Saleem Kazmi, Mucahit Sutcu, Ertugrul Erdogmus, Pedro
Muñoz Velasco and Dolores Eliche Quesada. 2021. Recycling industrial slags in production of fired clay bricks for
sustainable manufacturing. Ceramics International. 47(21): 30425-30438. DOI: 10.1016/j.ceramint.2021.07.222.
[4]. Trung, Nguyễn Văn, Nguyễn Trọng Tĩnh, Nguyễn Thị Lệ Quyên and Dương Thanh Qui. 2024. Nghiên cứu sử
dụng bùn thải làm nguyên liệu sản xuất gạch đất sét nung. Tạp chí Vật liệu và Xây dựng-Bộ Xây dựng. 14(01): 36-Trang
43.

