TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 393
NGHN CỨU CH TẠO NHA ĐƯNG LỎNG TRÊN CƠ S NHA ĐƯỜNG
MAC 60/70 BIN TÍNH BẰNG DẦU DIESEL, ĐỊNH HƯNG NG DỤNG
TRONG CÁC NG TRÌNH GIAO TNG
STUDY ON PRODUCING LIQUID ASPHALT USING MAC 60/70 ASPHALT
MODIFIED WITH DIESEL FOR TRAFFIC PROJECT APPLICATIONS
Trần Đình Hưng Đạt1, Quản Ngọc Khánh1, Nông Văn Tiến1,
Đoàn Duy Thắng1, Nguyễn Minh Khoa1, Đặng Hữu Trung2,*
1Lớp KTTT 02 - K16, Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa Công nghệ Hóa, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
*Email: huutrung@haui.edu.vn
TÓM TẮT
Việc biến tính bitum làm giảm nhiệt độ chảy mềm nhằm thuận tiện trong quá trình thi công, tăng khả năng thấm ướt
kết dính với đá cốt liệu vai trò rất quan trọng. Trong công trình này đã nghiên cứu ảnh hưởng của dung môi (dầu
diesel) đưa vào biến tính bitum ở các hàm lượng 0, 2, 4, 6 và 8% phần khối lượng. Kết quả cho thấy hàm lượng dung môi
càng tăng thì độ nhớt, điểm hóa mềm, điểm bắt cháy càng giảm, điều đó cho thấy bitum sau biến tính có độ linh động tốt
hơn. Đồng thời đã làm tăng khả năng kết dính giữa bitum với đá cốt liệu tốt hơn do đã làm tăng khả năng thấm ướt đều
giữa bitum và đá cốt liệu.
Từ khóa: Bitum, dung môi biến tính, điểm bắt cháy, điểm hóa mềm.
ABSTRACT
The modification of bitumen reduces its softening temperature for convenience in the construction process and
increases its ability to wet and bond with aggregate stone, which plays a very important role. In this work, the effect of
solvent introduced into the modification of bitumen at concentrations of 0%, 2%, 4%, 6%, and 8 wt.% was investigated.
The results show that the higher the solvent content, the lower the viscosity, softening point, and flash point, indicating
that the modified bitumen has better mobility. At the same time, it has increased the adhesion between bitumen and
aggregate stones.
Keywords: Bitumen, solvent modification, flash point, softening point.
1. MỞ ĐẦU
Bitum vật liệu rất quan trọng trong ngành xây dựng,
đặc biệt các công trình giao thông. Trong ngành giao
thông đường bộ, bitum vai trò làm chất kết dính với đá
cốt liệu tạo nên mặt đường giao thông. Chất lượng của mặt
đường giao thông phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chất
lượng của bitum trải thảm mặt đường đóng vai trò hết sức
quan trọng.
Việc nghiên cứu biển tính bitum nhằm tạo ra được một
loại bitum mới có tính ưu việt hơn được nhiều tác giả quan
tâm [1-4]. S. Shajeev cùng nhóm nghiên cứu đã sử dụng dầu
kerosen thay cho dung môi để biến tính bitum các hàm
lượng 0; 1,0; 1,5 2%. Kết quả cho thấy khi đưa một lượng
nhỏ dầu kerosen vào biến tính bitum đã làm cho bitum sau
biến tính có tính linh động hơn [5]. E. N. Wami cùng nhóm
nghiên cứu đã sử dụng c loại dung môi như kerosene,
diesel, lubricating oil biến tính bitum các hàm lượng khác
nhau. Kết quả cho thấy khi mặt các loại dung môi trên
đã làm cho bitum độ kim lún tăng lên, trong khi đó nhiệt
độ bắt cháy và độ nhớt đều giảm [6]. Dầu thải động cơ ô tô
cũng được nghiên cứu sử dụng biến tính bitum, chúng đóng
vai trò như một chất kết dính. Việc kết hợp giữa dầu thải
động 15% và phụ gia nhựa đường nóng các hàm ợng
1, 2, 3% vào biến tính bitum được nhóm tác giả Nurul
Hidayah Mohd Kamaruddin [7] nghiên cứu. Kết quả cho
thấy khi mặt của dầu thải cộng các phụ gia, làm
cho hệ bitum có khả năng đàn hồi tốt hơn, tuy nhiên lại làm
giảm khả năng chống hằn lún vệt bánh xe. Tương tự như
nghiên cứu trên, tác giả Shenghua Wu [8] lại sử dụng 0, 5
10% dầu thải động biến tính bitum cho kết quả
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 394tương tự, làm cho hệ bitum mềm và đàn hồi tốt hơn so với
bitum gốc.
Jiqing Zhu cộng sự [9] đã nghiên cứu biến tính bitum
bằng các loại nhựa nhiệt dẻo như polyetylen (PE),
polypropylen (PP), etylen-vinyl axetat (EVA)…. Kết quả
cho thấy đã cải thiện được các tính chất hóa của bitum,
đặc biệt là độ bám dính với cốt liệu. Mushtaq Ahmad [10],
Taher Baghaee Moghaddam [11] cộng sự đã sử dụng
nhựa thải nhiệt dẻo Polyethylen-Terephthalate (PET) từ các
loại chai nước uống tái chế để biến tính bitum các m
lượng 3%, 6%, 9% 12% phần khối lượng (PKL), nhằm
cải thiện các tính chất của tông bitum. Kết quả nghiên
cứu cho thấy ở hàm lượng 9% PKL cho kết quả tốt nhất.
Mehmet Dogan [12] đã sử dụng nhựa PE các hàm
lượng 5%, 10%, 20% phân tán vào bitum để nghiên cứu tính
ổn định thông qua chỉ số chảy của tổ hợp ở nhiệt độ 150oC
và 180oC. Kết quả cho thấy hàm lượng PE càng tăng thì chỉ
số chảy càng giảm, điều đó cho thấy khi có mặt của PE đã
làm tăng tính ổn định của tổ hợp bitum polyme. Charudatta
P. Thosar và cộng sự [13] đã sử dụng nhựa thải ở các tỷ lệ
20%, 40% và 60% thay thế cát đưa vào bê tông bitum. Kết
quả cho thấy khi sử dụng nhựa thải đã cải thiện đáng kể các
tính chất học như độ bền nén, độ bền uốn của bêtông
bitum. G. Paul Pandi và cộng sự [14] đã sử dụng nhựa thải
từ chai, túi đựng thực phẩm cắt nhỏ trộn với bitum ở nhiệt
độ 165oC, sau đó đem hỗn hợp này kết hợp với đá dăm để
rải đường nhựa giao thông, với tỷ lệ là 9 tấn bitum kết hợp
với 1 tấn nhựa thải. Đặng Hữu Trung các cộng sự [15]
sử dụng nhựa thải y tế đưa vào biến tính bitum, kết quả cho
thấy đã tạo ra được một loại bitum polyme mới có các tính
chất hóa vượt trội so với bitum thông thường. Nguyễn
Ngọc Lâm [16] cộng sự đã chế tạo mastic bitum dùng
chèn khe co giãn cho kết cấu áo đường bêtông xi măng. Kết
quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng bitum loại 60/70
(71,4%), bột cao su (10,7%), phụ gia EVA (3,6%), bột
khoáng cacbonat (14,3%) cho hiệu quả tốt nhất.
Trong công trình này đã sử dụng dầu hỏa, chúng đóng
vai trò như một dung môi biến tính bitum, làm cho bitum
có tính linh động hơn và từ đó làm tăng khả năng thấm ướt
và kết dính với đá cốt liệu.
2. THỰC NGHIỆM
2.1. Hóa chất và thiết bị nghiên cứu
Bitum loại 60/70 được cấp bởi công ty Nhựa đường
Transmeco
Dầu diesel được cấp từ Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn
Thanh Hóa
Đá viên xây dựng
Tủ sấy MEMMERT (Đức)
Bếp điện gia nhiệt (Trung Quốc)
Máy khuấy cơ học VELP (Ý)
Thiết bị xác định nhiệt độ chớp cháy của bitum
KOEHLER (Mỹ)
Thiết bị xác định nhiệt độ hóa mềm của bitum (Trung
Quốc)
2.2. Biến tính bitum
Bitum được sử dụng đây loại bitum mác 60-70
của Công ty TNHH ADCo (Hải Phòng). Mẫu bitum được
gia nhiệt đến nhiệt độ ổn định 120oC rồi đưa dầu diesel vào
bitum lần lượt ở các hàm lượng 0, 2, 4, 6 và 8% (PKL) cho
mỗi mẫu. Hỗn hợp được khuấy đều đến khi đồng nhất thì
kết thúc.
2.3. Các phương pháp xác định định chất hóa của
bitum
Điểm hóa mềm của bitum được xác định theo tiêu
chuẩn TCVN 7497:2005. Gia nhiệt mẫu cẩn thận và khuấy
đều để tránh quá nhiệt cục bộ cho đến khi chảy lỏng. Đặt 2
vòng bi lên mặt kính đã bôi mỡ, sau đó rót mẫu vào từng
vòng bi để nguội 30 phút. Khi mẫu đã nguội, dùng dao hoặc
thìa đã nóng cắt phần bitum thừa, sao cho mặt mẫu phẳng
bằng với mặt trên của vòng chứa mẫu. Tiến hành bật thiết
bị điều chỉnh nhiệt độ sao cho tăng 5°C/phút. Ghi lại số đọc
trên nhiệt kế cho từng vòng bi tại thời điểm viên bi được
bọc kín bitum và chạm tấm đáy.
Điểm chớp cháy cốc hở của bitum được xác định theo
tiêu chuẩn TCVN 7498:2005 (ASTM D 92 - 02b). Đổ mẫu
vào cốc thử cho đến ngấn mức quy định khoảng 70 ml. Đầu
tiên cho tăng nhanh nhiệt độ của mẫu thử, khi gần đến tiệm
cận nhiệt độ chớp cháy thì giảm tốc độ gia nhiệt. Ngọn lửa
thử được đưa ngang qua cốc tại các khoảng thời gian xác
định. Điểm chớp cháy là nhiệt độ thấp nhất của nhiên liệu,
tại đó khi đưa ngọn lửa thử vào làm cho pha hơi của mẫu
bùng cháy và cháy trong thời gian 5 giây.
Độ bám dính với đá của bitum được xác định theo tiêu
chuẩn TCVN 7504-05. Rửa sạch 4 đến 10 viên đá kích
thước t30 mm đến 40 mm, sau đó sấy ở nhiệt độ từ 105oC
đến 110oC đến khối lượng không đổi. Buộc chỉ o từng
viên đá, sau đó đun bitum đến nhiệt độ làm việc 130oC, rồi
nhúng từng viên đá vào bitum trong vòng 15 phút. Lấy đá
ra và treo lên giá, để nguội 15 phút ở nhiệt độ phòng sau đó
thả các viên đá đó vào trong cốc nước cất đang sôi trong
khoảng 10 phút (trong khi thử tránh viên đá va chạm vào
cốc làm ảnh hưởng đến kết quả) rồi vớt lên và quan sát mức
độ bám dính của bitum phủ lên cốt liệu theo 5 cấp khác
nhau.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Chế tạo các mẫu nhựa đường lỏng trên cơ sơ nhựa
đường mac 60/70 và dầu diesel
Chế tạo 500 g mẫu nhựa đường lỏng tỷ lệ dung môi
diesel/nhựa đường là 2/98 phần trăm khối lượng (% PKL),
tức 2% dung môi diesel đưa vào biến tính được thực hiện
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 395theo các bước sau đây: Cân 490 g nhựa đường mac 60/70
cho vào cốc nhôm thể tích 1 lít, gia nhiệt hỗn hợp nhựa
đường đến nhiệt độ làm việc 120oC cho đến khi ổn định
trong khoảng thời gian từ 5 đến 7 phút. Tiếp đến là bậty
khuấy với tốc độ 500 vòng/phút, rồi cho từ từ đến hết 10g
dung môi là dầu diesel vào hỗn hợp bitum và theo dõi hỗn
hợp bitum cho đến khi hỗn hợp đồng nhất 6 phút thì dừng
khuấy. Các tỷ lệ còn lại 4%, 6% và 8% dung môi diesel
vào biến tính bitum được thực hiện như các bước trên. Kết
quả nhận được trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Đơn phối liệu thời gian phân tán dầu diesl vào nhựa
đường
Hàm
lượng
diesel
(%)
Hàm
lượng
diesel
(g)
Nhựa
đường
mac
60/70 (g)
Nhựa
đường
lỏng (g)
Thời
gian
phân tán
(phút)
0 0 500 500 0
2 10 490 500 6
4 20 480 500 9
6 30 470 500 13
8 40 460 500 16
Kết quả trong bảng 1 cho thấy thời gian chế tạo mẫu
nhựa đường lỏng phụ thuộc vào lượng dung môi diesel đưa
vào biến tính, hàm lượng dung môi diesel càngng thì thời
gian phân tán càng dài. mẫu biến tính 2% dung môi diesel
thời gian phân tán 5 phút, tương tcác mẫu hàm
lượng dung môi diesel 4, 6 và 8% thời gian phân tán cần
tương ứng lần lượt là 9, 13 và 16 phút.
3.2. Nghiên cứu nh hưởng dung môi diesel đến nhiệt đ
chớp cháy của nhựa đường lỏng
Đã nghiên cứu ảnh ởng của hàm lượng dung môi diesel
đưa vào biến nh nhựa đường đến nhiệt độ chớp cháy của
nhựa đường lỏng. Kết qunhận được trình bày trên hình 1.
Hình 1. Ảnh hưởng của hàm lượng diesel đến nhiệt độ chớp cháy
của nhựa đường lỏng
Kết quả trên hình 1 cho thấy, hàm lượng dung môi diesel
ảnh ởng đến nhiệt độ chớp cháy của hỗn hợp nhựa
đường lỏng sau khi biến tính. Hàm lượng diesel càng tăng
thì nhiệt độ bắt cháy của hỗn hợp nhựa đường lỏng càng
giảm. Cthể khi ta tăng hàm lượng diesel từ 0 đến 8% thì
nhiệt độ bắt cháy của nhựa đường lỏng giảm t340 xuống
còn 206oC. Xảy ra điều này là do bản thân diesel là một loại
dung môi dễ bắt lửa nên khi hàm lượng biến tính càng tăng
thì hỗn hợp nhựa đường lỏng càng dễ bay hơi nên nhiệt độ
chớp cháy càng giảm.
Đối chiếu với TCVN 7493 cho vật liệu nhựa đường
trong ngành xây dựng giao thông thì các yêu cầu về chỉ tiêu
kỹ thuật trong một khoảng khá rộng, cụ thể vnhiệt độ chớp
cháy không được thấp hơn 232oC. Trong khi đó theo tiêu
chuẩn TCVN 8818-1:2011 về nhựa đường lỏng, yêu cầu kỹ
thuật đến độ chớp cháy ≥ 27oC. Như vậy, đối chiếu với tiêu
chuẩn về nhựa đường lỏng tiêu chuẩn trong ngành xây
dựng giao thông thì dung môi diesel đưa vào biến tính
khoảng 6% là hợp lý và đạt nhiệt độ chớp cháy 236oC.
3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng dung môi diesel đến độ bám
dính với đá của nhựa đường lỏng
Đã nghiên cứu xác định độ bám dính với đá của nhựa
đường lỏng các hàm ợng diesel biến tính khác nhau. Kết
quả nhận được trình bày trong hình 2.
Hình 2. Ảnh hưởng của hàm lượng diesel đến khả năng bám dính
với đá của nhựa đường lỏng
Kết quả trên hình 2 cho thấy hàm lượng diesel đưa vào
nhựa đường không ảnh hưởng nhiều đến mức độ bám dính
với đá của bitum. Cụ thể mẫu trống (0%) các mẫu khác
có chứa hàm lượng diesel lần lượt là 2%, 4%, 6% 8% t
toàn bộ viên đá đều được bao bọc bởi nhựa đường một cách
đều đặn, không có điểm bong tróc của nhựa đường trên bề
mặt viên đá. Từ kết quả trên hình 2 đối chiếu với tiêu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 396chuẩn 5 cấp độ xác định độ bám dính với đá cho thấy kết
quả xác định độ bám dính với đá của vật liệu nhựa đường
lỏng chế tạo được đều từ cấp 4 trở lên.
Theo TCVN 7493 cho vật liệu nhựa đường trong ngành
xây dựng, yêu cầu sản phẩm nhựa đường tối thiểu phải đạt
ở mức cấp 3. Trong khi đó sản phẩm bitum biến tính của đề
tài chế tạo được có độ bám dính với đá đều ở cấp 4 trở lên.
Do đó, sản phẩm nhựa đường lỏng tạo thành đạt yêu cầu
trong ngành xây dựng giao thông theo tiêu chuẩn TCVN
7493 quy định.
3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng dung môi diesel đến độ kim
lún của nhựa đường lỏng
Đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng dung môi
diesel đến độ kim lún của nhựa đường lỏng. Kết quả nhận
được trình bày trên hình 3.
Hình 3. Ảnh hưởng của hàm lượng dung môi diesel đến độ kim
lún của nhựa đường lỏng
Kết quả trên hình 3 cho thấy, hàm lượng dung môi diesel
ảnh hưởng lớn đến độ kim lún, hàm lượng dung môi diesel
đưa vào biến tính càng cao thì độ kim lún càng tăng. Điều
này cho thấy khi đưa dung môi diesel vào nhựa đường đã
làm cho nhựa đường trở nên linh động mềm hơn, giảm
tính quánh, tính cứng của chúng đây chính mục đích
mong muốn của đề tài để chế tạo nhựa đường lỏng, làm cho
chúng trnên linh động ở nhiệt độ thường. Theo tiêu chuẩn
TCVN 8818-1:2011 về nhựa đường lỏng, yêu cầu kỹ thuật
đến độ kim lún phải đạt trong khoảng 80-120 (0,1 mm).
Như vậy, đối chiếu với tiêu chuẩn về nhựa đường lỏng,
dung môi diesel đưa vào biến tính khoảng 6% tương ứng
với độ kim lún là 112 (0,1 mm).
3.5. Nghiên cứu xác định nhiệt độ hóa mềm của các mẫu
nhựa đường lỏng chế tạo được
Tính chất nhiệt thông qua việc xác định nhiệt độ hóa
mềm của vật liệu nhựa đường rất quan trọng, việc xác định
nhiệt độ hóa mềm của nhựa đường nhằm mục đích phân
loại, tồn trữ và vận chuyển. Đây là một trong các yếu tố để
thiết lập tính đồng nhất trong nguồn cung cấp cũng như vận
chuyển, đồng thời cũng để cảnh báo khả năng chảy của vật
liệu khi nhiệt độ tăng.
Đã xác định nhiệt độ hóa mềm của nhựa đường lỏng khi
biến tính bằng dung môi diesel ở các hàmợng khác nhau.
Kết quả nhận được trình bày trong hình 4.
Hình 4. Ảnh hưởng của dung môi diesel đến nhiệt độ hóa mềm
của nhựa đường lỏng
Kết quả trên hình 4 cho thấy lượng dung môi diesel biến
tính càng tăng thì nhiệt độ hóa mềm càng giảm. Khi tăng
hàm lượng dung môi biến tính từ 0 đến 6% diesel thì nhiệt
độ hóa mềm giảm từ 50,5 xuồng còn 32oC nếu tiếp tục
tăng lên 8% diesel thì nhiệt độ hóa mềm xuống còn 23,6oC.
Qua việc xác định nhiệt độ hóa mềm cho thấy đã chế tạo
thành ng nhựa đường lỏng bằng dung môi diesel từ nhựa
đường truyền thống. nhiệt độ t23,6oC đến 32oC nhựa
đường lỏng vừa chế tạo ở trạng thái chảy mềm dạng lỏng, rất
dễ cho việc thing mà không cần gia nhiệt nhiều cho nhựa
đường khi thi ng. Sau khi thi công xong, lượng dung môi
biến nh sẽ bay hơi làm cho hnhựa đường lỏng trở thành
nhựa đường bình thường. Đây chính ưu điểm của nhựa
đường lỏng ng là ưu điểm của đề i cần hướng đến.
4. KẾT LUẬN
Đã sử dụng dung môi lỏng là dầu diesel cấp từ nhà máy
lọc dầu Nghi Sơn Thanh Hóa để biến nh nhựa đường nhằm
tạo ra loại nhựa đường lỏng tính linh động hơn nhiệt
độ thường. Kết quả nghiên cứu đã giải quyết được một số
nội dung chính sau đây:
Đã chế tạo được nhựa đường lỏng từ dung môi diesel
kết hợp với nhựa đường các hàm lượng khác nhau
nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng dung môi diesel đến
nhiệt độ chớp cháy của bitum trước sau biến tính. Kết
quả cho thấy, hàm lượng diesel càng tăng thì nhiệt độ chớp
cháy của hỗn hợp nhựa đường lỏng càng giảm.
Đã xác định độ bám dính với đá của nhựa đường lỏng
các hàm lượng diesel khác nhau. Kết quả cho thấy m
lượng diesel đưa vào nhựa đường không ảnh hưởng nhiều
đến mức độ bám dính với đá của nhựa đường và chúng đều
đạt từ mức 4 trở lên.
Đã nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng diesel đến
độ kim lún của nhựa đường. Kết quả cho thấy, hàm lượng
diesel đưa vào biến tính càng cao thì độ kim lún của nhựa
đường lỏng càng tăng.
Đã nghiên cứu ảnh ởng của hàm lượng dung môi
diesel đến nhiệt độ hóa mềm của nhựa đường lỏng. Kết quả
cho thấy, hàm lượng diesel đưa vào biến tính càng cao thì
nhiệt độ chảy mềm của nhựa đường lỏng càng giảm.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Số 14 2024 397TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ilya Binti Joohari & Filippo Giustozzi, 2020. Chemical and High-Temperature Rheological Properties of Recycled
Plastics-Polymer Modified Hybrid Bitumen. Journal of pre-proof, pp. 1-32.
[2]. Habib, N.Z., Kamaruddin, I., Napiah, M., Mohd Tan, I., 2010. Rheological properties of polyethylene and
polypropylene modified bitumen. World Acad. Sci. Eng. Technol. 72, 293–297.
[3]. Ahmedzade, P., Demirelli, K., Günay, T., Biryan, F., Alqudah, O., 2015. Effects of Waste Polypropylene Additive
on the Properties of Bituminous Binder. Procedia Manuf. https://doi.org/10.1016/j.promfg.2015.07.029.
[4]. Deepti Yellanki, P. Gopi, 2016. A Study on Plastic-Bitumen Roads, International Journal of Innovative Research
in Science, Engineering and Technology, pp.17269-17273.
[5]. S. Shajeev, K. I. Bino I. 2020. Effect of Kerosene on Bituminous Mix, International Journal of Innovative
Technology and Exploring Engineering (IJITEE). ISSN: 2278-3075 (Online), Volume-9 Issue-9, July 2020.
[6]. E. N. Wami, Y. T. Puyate, S. N. Chigeru. 2006. Characterization of penetration-grade bitumen blended with lighter
petroleum products. Global journal of engineering research Vol.7, No.1, 2006: 1-6.
[7]. Nurul Hidayah Mohd Kamaruddin, Mohd Rosli Hainin, Norhidayah Abdul Hassan, Mohd Ezree Abdullah, Mohd
Khairul Idham, Noor Azah Abdul Raman. 2018. Effect of Chemical Warm Asphalt Additive on the Rutting Characteristic
of Aged Binder Containing Waste Engine Oil, Journal of Physics: Conf. Series 1049 (2018) 012030; doi :10.1088/1742-
6596/1049/1/012030.
[8]. Shenghua Wu, Balasingam Muhunthan, 2018. Evaluation of the Effects of Waste Engine Oil on the Rheological
Properties of Asphalt Binders. J. Mater. Civ. Eng., Vol. 30(3): 06017020; DOI: 10.1061/(ASCE)MT.1943-5533.0002189.
[9]. Jiqing Zhu, Bjorn Birgisson, Niki Kringos, 2014. Polymer modification of bitumen: Advances and challenges,
European Polymer journal 54, pp. 18-38.
[10]. Mushtaq Ahmad, Mohamad Bin Ayob, 2015. Improvement of Asphaltic Concrete by Using Waste Polyethylen
Terephthalate (PET). pp.6744- 6753, Vol. 4, Issue 8, A. International Journal of Innovative Research in Science,
Engineering and Technology.
[11]. Taher Baghaee Moghaddam, Mohamed Rehan Karim and Mehrtash Soltani, 2013. Utilization of Waste Plastic
Bottles in Asphalt Mixture, Journal of Engineering Science and Technology, Vol.8, No.3, pp.264-271.
[12]. Mehmet Dogan, 2006. Effect of Polymer additives on the Physical Properties of Bitumen based Composites,
Middle East Technical University.
[13]. Charudatta P. Thosar and Dr.M.Husain, 2017. Reuse of Plastic Waste as Replacement of Sand in
Concrete,International Journal of Innovative Research in Science, Engineering and Technology, Volume 6, pp.789-794.
[14]. G. Paul Pandi, 2017. Utilization of Plastic Waste in Construction of Roads, International Journal of Engineering
Science and Computing, Volume 7 Issue No.3, pp.5804-5806.
[15]. Đặng Hữu Trung, Nguyễn Quang Tùng, Nguyễn Thế Hữu, Trịnh Thị Hải, Nguyễn Minh Việt, 2018. Ảnh hưởng
của nhựa thải y tế đến đặc tính kỹ thuật của bitum. Tạp chí Khoa học Công nghệ (ĐHCN-HN) Số 49.2018, tr 107-110.
[16]. Nguyễn Ngọc Lâm, 2016. Nghiên cứu chế tạo Mastic bitum dùng chèn khe co giãn cho kết cấu áo đường bê tông
xi măng. Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng (KHCNXD-ĐHXDHN), 10(2), 95-103.