intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh phân phì đại tuyến tiền liệt

Chia sẻ: ĐInh ĐInh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

27
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Phì đại tuyến tiền liệt là một bệnh phổ biến ở các nước phát triển có tuổi thọ cao, thường gặp ở những người 50 tuổi trở lên. Sự chèn ép tổ chức khối tăng sinh vào đường niệu là nguyên nhân gây cản trở đường niệu và là điều kiện thuận lợi gây ra các biến chứng như nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Mục tiêu của nghiên cứu này là nghiên cứu mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng ở 71 bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh phân phì đại tuyến tiền liệt

  1. nghiên cứu khoa học NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU VÀ MỘT SỐ BIỂU HIỆN LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH PHÂN PHÌ ĐẠI TUYẾN TIỀN LIỆT Ngô Tuấn Minh*, Lê Việt Thắng* *Bệnh viện Quân Y 103 TÓM TẮT Nghiên cứu mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng ở 71 bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt. Kết quả cho thấy: Nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan với tuổi, nhóm tuổi trên 75 có tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu cao hơn nhóm tuổi dưới 75, p
  2. nghiên cứu khoa học Bệnh nhân được khai thác các tuổi, điểm chất lượng cuộc sống sử dụng bảng khuyến cáo IPSS, điểm Qol, xét nghiệm sinh hóa máu, phân của Hội nghị tiết niệu quốc tế - 1991 QoL (Quality tích nước tiểu, siêu âm hệ tiết niệu. of life). Chẩn đoán PĐTTL theo Hội tiết niệu thận học Phân độ thể tích nước tiểu tồn dư (PVR) theo Việt Nam năm 2013) [1]: đồng thuận quốc tế lần thứ 5 về tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt [4]. Đánh giá và phân chia mức độ tình trạng tắc nghẽn bằng bảng điểm đánh giá IPSS III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (International Prostatic Symptomatic Score). Tuổi trung bình 71,44 ± 8,06 tuổi, thời gian Đánh giá mức độ ảnh hưởng của PĐTTL đến phát hiện bệnh trung bình 4,5 ± 3,1 năm. 1. Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số biểu hiện lâm sàng ở bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt Bảng 1. Liên quan giữa tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu và tuổi NKTN (n=11) Không NKTN (n=60) Đặc điểm p OR Số BN % Số BN % Tuổi ≥ 75 (n=23) 7 30,4 16 69,6 < 0,05 4,81 Tuổi < 75 (n=48) 4 8,3 60 91,7 Nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu tăng theo tuổi, do tuổi càng cao, bàng quang giảm khả năng tống nước tiểu khi nằm lâu hoặc do các bệnh thần kinh, giảm tiết protein Tamm Horfall, tuyến tiền liệt phì đại và giảm các yếu tố diệt khuẩn. Nhóm bệnh nhân từ 75 tuổi trở lên có khả năng bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu cao hơn 4,81 lần so với nhóm tuổi nhỏ hơn 75 tuổi, với p < 0,05. Kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Hồng cũng cho thấy, các bệnh nhân có nhóm tuổi càng cao thì càng tăng nguy cơ nhiễm khuẩn đường tiết niệu [3]. Tác giả Rowe T.A., Juthani-Mehta M. nghiên cứu về NKĐTN ở người già nhận định tuổi cao là yếu tố nguy cơ của NKĐTN (2014) [9], nghiên cứu của các tác giả Deville W, Yzermans J và cộng sự [7], Teresa Raposo, Antonio Rodrigues, Adelaide Almeida [8] cũng cho kết quả tương tự. Biểu đồ 1. So sánh mức độ rối loạn tiểu tiện theo thang điểm IPSS giữa hai nhóm có NKĐTN và không NKĐTN Điểm IPSS trung bình của nhóm có NKTN là 22,1 ± 6,8 cao hơn nhóm không có NKTN 12,4 ± 5,5, có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Các bệnh nhân có NKTN có triệu chứng đường tiểu dưới nặng hơn, thường xuyên hơn nhóm BN không có NKTN, tình trạng tắc nghẽn đường niệu nặng nề hơn. Tạp chí Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX Nội khoa Việt Nam 197
  3. nghiên cứu khoa học Biểu đồ 2. So sánh diểm chất lượng cuộc sống QoL giữa hai nhóm có NKĐTN và không NKĐTN Điểm chất lượng cuộc sống QoL ở nhóm có nhiễm khuẩn đường tiết niệu (5,1± 0,9) cao hơn so với nhóm không có nhiễm khuẩn đường tiết niệu (2,9 ± 0,9), có ý nghĩa với p < 0,001. Do phải trải qua tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu tái diễn, các triệu chứng rối loạn tiểu tiện nặng nề nên điểm QoL trung bình ở nhóm có NKTN rất cao. 2. Mối liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và một số đặc điểm cận lâm sàng ở bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt Bảng 2. Liên quan giữa tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu và tình trạng giảm albumin máu Nhóm NKTN (n=11) Không NKTN (n=60) OR, p Albumin máu Số BN % Số BN % Giảm (n=19) 6 31,6 13 68,4 OR=4,34 Bình thường (n=52) 5 9,6 47 90,4 p< 0,05 Nhóm bệnh nhân giảm albumin máu có tỷ nhiễm NKTN là 31,6%, cao hơn nhóm có albumin máu bình thường (9,6%), khác biệt có ý nghĩa với p
  4. nghiên cứu khoa học 6,63 lần (OR=6,63). Nghiên cứu của Caron F, Alexandre K, Pestel-Caron M và cs (2015) cũng chỉ ra mối liên quan giữa thể tích nước tiểu tồn dư và tình trạng NKĐTN [6]. Bảng 4. Liên quan giữa tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu với kích thước tuyến tiền liệt trên siêu âm KT TTL trên siêu âm NKTN (n=7) Không NKTN (n=59) p (gram) Số BN % Số BN % 25 - < 30 (n= 10) 2 20 8 80 30 - 39 (n=24) 4 16,7 20 83,3 40 - 49 (n=14) 1 7,1 13 92,3 > 0,05 50 - 59 (n=10) 1 10 9 90 > 60 (n=13) 3 23,1 10 76,9 Không có sự liên quan giữa nhiễm khuẩn đường tiết niệu và kích thước tuyến tiền liệt trên, p > 0,05. Như vậy ta thấy kích thước tuyến tiền liệt không đóng vai trò quan trọng trong bệnh sinh NKTN ở bệnh nhân phì đại tuyến tiền liệt, tuyến to nhưng không phát triển về phía đường niệu, không gây hẹp đường niệu thì không phải là yếu tố thuận lợi cho NKTN, một tuyến tiền liệt có kích thước nhỏ tuy nhiên sự phì đại của nó lại phát triển vào trong lòng đường niệu sẽ gây bít tắc dòng nước tiểu, tạo nước tiểu tồn dư trong bàng quang,gây ra các triệu chứng đường tiểu dưới và đó là điều kiện thuận lợi cho NKTN. IV. KẾT LUẬN nhiễm khuẩn đường tiết niệu, p < 0,001. Qua nghiên cứu mối liên quan giữa nhiễm + Bệnh nhân có albumin máu giảm có tỷ khuẩn đường tiết niệu và một số đặc điểm lâm lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu cao hơn nhóm sàng, cận lâm sàng ở 71 BN phì đại tuyến tiền liệt, albumin máu bình thường, p < 0,05. OR=4,34. chúng tôi rút ra một vài nhận xét sau: Tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu ở nhóm bệnh + Nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan với nhân có thể tích nước tiểu tồn dư trên 50ml cao tuổi, tuổi càng cao tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết hơn nhóm có thể tích nước tiểu tồn dư dưới 50ml niệu càng cao, p < 0,05. OR=4,81. Nhóm có nhiễm , OR=6,63, p < 0,05. Không thấy liên quan giữa khuẩn đường tiết niệu có điểm IPSS và điểm QoL nhiễm khuẩn đường tiết niệu và kích thước tuyến trung bình cao hơn nhóm bệnh nhân không có tiền liệt, p > 0,05. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Vũ Lê Chuyên (2013), “Hướng dẫn xử trí “The Urodynamic assessment of lower urinary tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt”, Hội Tiết niệu tract symptom", Benign Prostatic Hyperplasia, thận học Việt Nam. 5th International Consultation on Benign Prostatic 2. Trần Đức Hòe (1996), “Kết quả điều tra Hyperplasia, pp.227-82. dịch tễ học u xơ tuyến tiền liệt”, Tạp chí Y học 5. Allon M., Radeva M., Bailey J., et al. (2005), Quân sự, 2, tr.69-74. “The spectrum of infection-related morbidity in 3. Hồ Thị Hồng (2013), “Đặc điểm lâm sàng, hospitalized haemodialysis patients”, Nephrol Dial cận lâm sàng, yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhiễm Transplant, 20(6), pp.1180-6. khuẩn tiết niệu cấp tính”, Học viện Quân Y, Thành 6. Caron F., Alexandre K., Pestel-Caron M., phố Hồ Chí Minh. et al. (2015), “High bacterial titers in urine are 4. Abrams P., Griffiths D., Hofner K. (2000), predictive of abnormal postvoid residual urine Tạp chí Tài liệu Hội nghị Khoa học Nội khoa Toàn quốc lần IX Nội khoa Việt Nam 199
  5. nghiên cứu khoa học in patients with urinary tract infection”, Diagn 9. Rowe T. A., Juthani-Mehta M. (2014), Microbiol Infect Dis, 83(1), pp.63-7. “Diagnosis and management of urinary tract infection in older adults”, Infect Dis Clin North Am, 7. Deville W. L., Yzermans J. C., van Duijn 28(1), pp.75-89. N. P., et al. (2004), “The urine dipstick test useful 10. Ruud Bosch J. L. (1995), “Postvoid residual to rule out infections. A meta-analysis of the urine in the evaluation of men with benign prostatic accuracy”, BMC Urol, 4, pp.4. hyperplasia”, World J Urol, 13(1), pp.17-20. 8. Linhares I., Raposo T., Rodrigues A., et al. 11. Toba K., Sudoh N., Ouchi Y., et al. (1993), (2013), “Frequency and antimicrobial resistance “The importance of the host nutritional and immune patterns of bacteria implicated in community status on the prognosis of urinary tract infection in urinary tract infections: a ten-year surveillance the elderly”, Nihon Ronen Igakkai Zasshi, 30(6), study (2000-2009)”, BMC Infect Dis, 13, pp.19. pp.487-96. ABSTRACT STUDY ON RELATION BETWEEN URINARY TRACT INFECTION AND SOME CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS IN PROSTATE HYPERPLASIVE PATIENTS Study on relation between urinary tract infection and some clinical and laboratory characteristics in 71 patients with prostate hypertrophy. The results showed that:ratio of urinary tract infections of patients with over 75 ages is higher significantly thanthat of under 75 patients, p
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2