
TIU LUN
TÀI: “Nghiên cu s dng hp lý t i núi cho
phát trin cây hng không ht và cây hi ca huyn Vn
Lãng, tnh Lng Sơn”

1
Nghiên cứu sử dụng hợp lý đất đồi núi cho phát triển
cây hồng không hạt và cây hồi của huyện Văn Lãng,
tỉnh Lạng Sơn :Luận văn ThS Khoa học môi trường và
bảo vệ môi trường / Nguyễn Thành
A. Đặt vấn đề
Văn Lãng là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lạng Sơn có diện tích tự nhiên khá lớn với
56.092 ha, trong đó diện tích đất đồi núi chiếm tới 98% diện tích tự nhiên. Mặc dù trong những
năm qua, sản xuất nông lâm nghiệp của huyện đã đạt được những thành tựu nổi bật. Nhiều tiến bộ
kỹ thuật như đổi mới giống, bón phân cân đối... được áp dụng. Do vậy, năng suất và sản lượng cây
trồng đều tăng. Nhưng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích đất còn thấp, chưa tương xứng với
tiềm năng của huyện miền núi. Điều này do nhiều nguyên nhân mà trước hết là chưa xác định được
các hệ thống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái. Mặt khác, tỷ trọng cây ngắn ngày trên đất
đồi núi chiếm tỷ lệ khá lớn với hơn 87% diện tích đất nông nghiệp. Điều đó cho thấy sự phát triển
cây hàng năm quá lớn; trong khi những cây này có độ che phủ thấp cùng với điều kiện lượng mưa
lớn dẫn đến đất sẽ bị xói mòn mạnh và suy giảm nguồn dinh dưỡng trong đất. Hậu quả là đất trên
địa bàn huyện bị suy thoái và mất khả năng sản xuất. Thực trạng này cho thấy việc sử dụng đất nói
chung và đất đồi núi nói riêng ở đây chưa hợp lý. Trong khi đây là vùng có điều kiện sinh thái hợp
với cây hồng không hạt và cây hồi – các loại cây được coi là cây đặc sản trong vùng. Do đó, trong
định hướng phát triển cây ăn quả và các loại cây lâu năm khác của tỉnh Lạng Sơn, phát triển cây
hồng không hạt và cây hồi ở huyện Văn Lãng là một trong những nhiệm vụ ưu tiên và cũng là một
trong những định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên đất. Song phát triển các loại cây này như thế
nào, ở đâu và diện tích là bao nhiêu thì đòi hỏi phải có những nghiên cứu toàn diện trên cơ sở đánh
giá tổng hợp điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của huyện.
Do những vấn đề bức xúc nêu trên nên việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu sử dụng hợp lý đất
đồi núi cho phát triển cây hồng không hạt và cây hồi của huyện Văn Lãng tỉnh Lạng Sơn” đã và
đang trở thành nhu cầu cấp thiết.
B. Mục tiêu nghiên cứu

2
1. Mục tiêu
- Xác định căn cứ khoa học và thực tiễn sử dụng hợp lý đất đồi núi cho phát triển cây hồng
không hạt và cây hồi.
- Đề xuất quy mô phát triển cây hồng không hạt và cây hồi gắn với giải pháp phát triển bền
vững.
2. Ý nghĩa
a. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần bổ sung vào lý luận sử dụng hợp lý tài nguyên và làm sáng tỏ hơn nội dung
phương pháp đánh giá phân hạng đất đai ( phân hạng thích nghi cây trồng theo đặc điểm
sinh thái) trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000.
- Cung cấp cơ sở khoa học cho cho việc định hướng sử dụng bền vững tài nguyên đất.
b. Ý nghĩa thực tiễn
- Nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích, cải thiện đời sống của người dân
trong vùng và góp phần xoá đói, giảm nghèo.

3
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Quan điểm về sử dụng hợp lý tài nguyên đất
1.1.1 Các khái niệm có quan hệ đến bền vững
a.Phát triển bền vững
Theo Tổ chức ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (WCED)[69] “
Phát triển bền vững là phát triển để đáp ứng được nhu cầu của đời này nhưng không làm tổn hại
đến khả năng đáp ứng được nhu cầu của đời sau”. Như vậy, phát triển bền vững được đặt ra như là
một đòi hỏi cấp bách của chính sự tồn vong con người hôm nay và của các thế hệ con cháu chúng
ta trong tương lai. Hiện nay phát triển bền vững được sử dụng như là điểm xuất phát để xem xét
một cách sâu rộng hơn, toàn diện hơn các vấn đề kinh tế học, môi trường và xã hội. Cách tiếp cận
bền vững ngày càng được phát triển và được mở rộng cho nhiều ngành trong đó có vấn đề về phát
triển nông nghiệp bền vững.
b. Phát triển nông nghiệp bền vững
Theo Julian Dumasky, “ Nền tảng của một nền nông nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng
sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và tính đa dạng gen” và “nền nông
nghiệp bền vững” phải đảm bảo được 3 yêu cầu:”(1) Quản lý đất bền vững;(2) Công nghệ được cải
tiến;(3) Hiệu quả kinh tế phải được nâng cao, trong đó quản lý đất bền vững được đặt ra hàng đầu”.
Các tác giả cũng cho biết “ Cộng đồng khoa học thế giới, đứng đầu là Hội Khoa học đất Quốc tế,
Uỷ ban về nghiên cứu đất, FAO, WB, Trung tâm phát triển phân bón quốc tế, Tổ chức Rockefeler
và nhiều cơ quan khác đang phối hợp với nhau để xây dựng một khung quốc tế cho việc đánh giá
quản lý đất bền vững.
c. Khung đánh giá sử dụng đất bền vững
Khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững đã được đề xuất từ năm 1991, trong đó 5 thuộc
tính của khái niệm bền vững được xem xét là : tính sản xuất hiệu quả , tính an toàn, tính bảo vệ,
tính lâu bền và tính chấp nhận. Nhóm công tác về khung đánh giá quản lý đất dốc bền
vững(Narobi, 1991) đã đưa ra định nghĩa” Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công
nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế, xã hội với các quan tâm về

4
môi trường để đồng thời duy trì hoặc nâng cao sản lượng( hiệu quả sản xuất), giảm rủi ro trong sản
xuất( an toàn), bảo vệ tiềm năng và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ) và được xã hội chấp
nhận(tính chấp nhận)”. Tính bền vững và tính thích hợp có quan hệ với nhau, tính bền vững có thể
được coi là tính thích hợp.
1.1.2 Những tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tính bền vững của hệ thống sử dụng đất ở
nước ta
Ở Việt Nam, một loại sử đất được coi là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu: (1) Bền vững về
mặt môi trường nghĩa là loại sử dụng đó phải bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất,
không làm tổn hại đến môi trường tự nhiên.(2) Bền vững về mặt kinh tế : cây trồng cho hiệu quả
kinh tế cao, được thị trường chấp nhận và cuối cùng(3) Bền vững về mặt xã hội : thu hút được lao
động, bảo đảm đời sống, xã hội được phát triển.
1.2 Kết quả nghiên cứu về sử dụng đất đồi núi
1.2.1 Thế giới
Ở nước ngoài, các nghiên cứu về sử dụng đất bền vững ở những vùng đồi núi, đất dốc, cần
phải bảo vệ đất, chống xói mòn cùng với việc đa dạng hoá cây trồng, áp dụng kỹ thuật trồng cây
theo băng cùng biện pháp làm đất tối thiểu, phát triển hệ thống cây trồng lâu năm với cây lâm
nghiệp nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
1.2.2 Việt Nam
Các nghiên cứu về sử dụng đất bền vững ở các vùng đồi núi Việt Nam cho thấy: việc bố trí
cây trồng theo kiểu nông-lâm kết hợp vừa tiết kiệm diện tích đất, tận dụng tối đa năng lượng
mặt trời (do trồng xen theo tầng), đem lại hiệu quả kinh tế, lại vừa có tác dụng chống xói mòn,
bảo vệ đất.
Trên đất dốc, để hạn chế quá trình rửa trôi, thường trồng cây theo đường đồng mức
kết hợp các băng đai xanh chống xói mòn, xây dựng ruộng bậc thang để trồng cây lương thực,
thực phẩm và cây lâu năm. Ở các vùng đất bạc màu, cây họ đậu đã được bố trí trồng xen để
vừa cải tạo đất, vừa tăng thêm thu nhập.
Phát triển cây ăn quả đã tạo ra một hệ thống cây trồng bền vững, có hiệu quả kinh tế
cao và là một hướng góp phần chuyển dịch cơ cấu nông thôn.

