MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của nghiên cứu
Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều
bước chuyển mình đáng kể. Trong đó, nông nghiệp vẫn đóng tỷ trọng lớn
trong nền kinh tế nước ta hiện nay và phát triển hệ thống thủy lợi đóng một
vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, theo báo cáo của Tổng cục Thủy lợi
trong những năm vừa qua, công tác thủy lợi tiếp tục đối mặt với những
thách thức, yêu cầu mới cao hơn để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội một
cách bền vững. Biến đổi khí hậu ngày càng tác động lớn đến cuộc sống
con người, môi trường sống thay đổi tạo điều kiện cho các tác nhân xấu,
bệnh dịch nguy hiểm sinh sôi và lan rộng, đặc biệt là tại các tỉnh phía Bắc
nước ta với khi hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình đa dạng.
Các dự án thủy lợi được thực hiện chiếm một tỷ trọng lớn là các dự
án phục vụ đời sống nhân dân, công trình công cộng, kiểm soát thiên tai,
biến đổi khí hậu….nên nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất
lớn, thời gian thực hiện dài, thời gian thu hồi vốn dài, nhanh xuống cấp, độ
rủi ro cao. Nguồn vốn được sử dụng cho những dự án này phần lớn là
nguồn vốn ngân sách nhà nước và hiện nay đang có xu hướng giảm đi. Tỷ
lệ giải ngân vốn ngân sách cho các dự án đầu tư thủy lợi trong những năm
gần đây cũng giảm dần.
Quá trình đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng thủy lợi ở khu vực miền
Bắc nước ta còn nhiều bất cập. Ví dụ là có nhiều vấn đề liên quan đến
chính sách. Phần lớn các dự án đầu tư phát triển thủy lợi đều có vướng
mắc ở khâu giải phóng mặt bằng do phải thu hồi diện tích đất lớn. Các cơ
chế liên quan đến việc đền bù đất đai và hỗ trợ tái định cư vấn chưa thỏa
đáng dẫn tới một số bộ phận người dân nằm trong diện bị thu hồi đất
không hợp tác. Công tác tuyên truyền luật pháp, chính sách chưa sâu rộng
dẫn tới xuất hiện nhiều ý kiến sai lệch, trái chiều lan truyền trong cộng
đồng dân cư gây hoang mang dư luận. Các chính sách về kinh tế, bình ổn
giá cả thị trường kém hiệu quả, giá vật liệu leo thang dẫn tới nhiều nhà
thầu phải chấp nhận đơn phương chấm dứt hợp đồng vì nếu tiếp tục làm
thì thiệt hại về tài chính sẽ rất lớn. Nguy cơ tiến độ dự án bị kéo dài là rất
lớn. Đôi khi, các chính sách liên quan đến thủy lợi không được đồng bộ và
liên kết chặt chẽ. Việc thiếu sự đồng nhất và tương thích giữa các chính
sách về tài nguyên nước, nông nghiệp và môi trường có thể gây ra sự phân
tán và không hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên thủy lợi.
Các vấn đề chính trị ở thời điểm hiện tại gây nên tâm lý sợ sai, không dám
quyết định của địa phương, từ đó xảy ra tình trạng đơn vị thực hiện hỏi địa
phương, địa phương hỏi Chính phủ, Chính phủ hỏi Quốc hội. Nếu tiếp tục
để tình trạng này xảy ra, hoạt động đầu tư có nguy cơ sẽ bị đình trệ. Năng
lực của nhiều chủ đầu tư các dự án đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi cũng
chưa thực sự tốt. Công tác khảo sát yếu kém dẫn đến hàng loại các phát
sinh ngoài dự kiến có thể làm đội vốn tổng mức đầu tư lên rất nhiều. Vì
vậy, những dự án này có thể sẽ bị cắt vốn trong khi đang đầu tư dang dở.
Một số chủ đầu tư còn không được đào tạo, thiếu cập nhật các công nghệ
thủy lợi tiên tiến dẫn đến sự lúng túng trong công tác quản lý, giảm hiệu
quả trong việc đánh giá, lập kế hoạch và quản lý dự án. Nhà thầu năng lực
yếu kém quản lý điều phối nguồn lực không hợp lý gây chậm tiến độ. Chất
lượng nguồn lực kém, năng lực quản lý thi công yếu kéo tụt chất lượng
công trình thủy lợi xuống rất nhiều. Công tác lập hồ sơ quản lý chất lượng,
hồ sơ thành quyết toán kém, chậm trễ dẫn tới chậm nghiệm thu bàn giao,
ảnh hưởng rất nhiều đến kế hoạch khai thác vận hành và kế hoạch bảo hành
bảo trì. Công tác quản lý rủi ro thường được ít nhà thầu quan tâm. Hậu quả
là trong giai đoạn nền kinh tế thế giới gặp khó khăn, dịch bệnh bùng phát,
năng lượng khan hiếm, giá cả leo thang, rất nhiều nhà thầu đã phải đơn
phương chấm giứt hợp đồng khi gói thầu gặp tình trạng lỗ. Điều này gây
ảnh hưởng rất lớn tới kết quả dự án đầu tư phát triển hạ tầng thủy lợi.
Có thể thấy, các nhân tố như điều kiện tự nhiên, thể chế chính sách,
chính trị, văn hóa xã hội, chủ đầu tư, nhà thầu có tác động lớn tới hoạt
động đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà
nước trong giai đoạn thực hiện. Vì vậy để phát triển ngành thủy lợi nói