Nhím biển: Giống
nuôi mới
Nhím biển hay còn gọi là cầu gai thuộc ngành động vật da
gai, lớp cầu gai. Nhím biển có mặt ở hầu hết các vùng
biển trên thế giới và thường phân bố theo chiều thẳng
đứng từ vùng giữa triều đến vùng sâu 5.000m.
Chi phí nuôi tương đối thấp vì nhím bin sinh trưởng
nhanh, t lệ sống cao, ít mắc bệnh rất phù hợp cho những
hộ nghèo ven biển. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới có
thể chủ động kiểm soát được các giai đoạn nuôi nhím biển
điển hình như bắt đầu phát triển việc nuôi nhím biển.
Nhím biển có dạng hình cu và bán cầu, vỏ ngoài cứng do
chất đá vôi tạo thành. Bmt vỏ có rất nhiều gai cứng và
các chân ống xếp thành 5 hàng đôi.
Miệng của nhím biển nằm ở mặt dưới do một lớp màng
mng (gi là màng bc miệng) tạo thành và phng lên
thành hình cung. Đa số nhím biển sống ở đáy biển ấm,
chỗ có đá và dưới san hô, thềm lục địa, từ vùng giữa triều
trở lại. Ban ngày chúng vùi trong cát bùn, ban đêm ra hoạt
động nhờ vào chân ống và gai vận động, bắt mồi nhờ bộ
phận nhai nuốt. Nhím biển tờng sống ở vùng biển có độ
mặn tương đối cao, dòng triều lưu thông và điều kiện
tránh gió tốt, nước biển trong sạch. Mựcớc sâu trên
10m, độ mặn khoảng 28%o, nhiệt độ bảo đảm 12 độ C trở
lên. Nhit độ sinh trưởng thích hợp của nhím biển là 18
22 độ C, do đó vào khoảng tháng 10 trở đi, khi nhiệt độ
nước biển ổn định khoảng 20 độ C thì bắt đầu thả nuôi,
nếu nhiệt độ nước xuống dưới 0 độ C thì nhím biển sẽ
ngừng sinh trưởng.
Vùng nuôi phải có rong biển sinh trưởng và phát trin tự
nhiên để dễ dàng cho việc bố trí các điều kiện nuôi. Tất cả
các điều kiện trên rất phù hợp với vùng bin duyên hải.
Trong điều kiện nuôi thương phẩm ta chọn những con
giống cỡ nhỏ (cỡ 2 - 3cm), trên mi lồng nuôi hoặc bể
nuôi nên thả 50 - 80 con. Sau khi nuôi từ 1-2 tháng, ta
phải theo dõi sinh trưởng của nhím biển và tiến hành san
thưa, mt độ thả không nên vượt quá 50 con trong một
lồng hoặc bể nuôi.
Nhím biển là loài ăn thực vật, chủ yếu là các loài rong tảo
biển như rong bẹ, rong đuôi ngựa. Trong quá trình nuôi,
dựa vào các điều kin của vùng nuôi để lựa chọn thức ăn
phù hợp. Khi thả thức ăn phải dựa vào lượng thức ăn còn
sót lại cũng như điều kiện khí hậu để quyết định lượng
thức ăn định thả và số lần cho ăn. Khi nhiệt độ nước
mức 20 độ C, có thể 2-3 ngày cho ăn 1 lần.
Mỗi lồng hoặc bè nuôi chỉ thả khoảng 0,5kg rong bẹ, hệ
số thức ăn của nhím biển là 10-15 : 1. Nhím biển khi đói
cũng ăn các loại rong tảo tạp khác, thậm chí ăn cả vẹm,
động vật dạng rêu. Có thlợi dụng đặc điểm này của
nhím bin để triển khai nuôi ghép nhím biển và bào ngư.
Cách nuôi này có thể làm sạch nước và loại trừ các sinh
vật có hại bám trên bmặt cơ thể bào ngư và trên các
dụng cụ, thiết bị nuôi. Cho đến nay ở Việt Nam người
nuôi vẫn mua giống ngoài tnhiên và ging nhập từ
Trung Quốc về nuôi do chưa tìm ra phương pháp sinh sản
nhân tạo giống nhím biển này.
Nhưng hy vọng trong một tương lai không xa các nhà
khoa học có thể chủ động kiểm soát được các giai đoạn
nuôi nhím biển. Để tạo ra một giống nuôi mới cho ngành
thuỷ sản, góp phần đa dạng hoá các đối tượng nuôi cho
người dân, tạo ra nhiều sản phẩm và hàng hoá thuỷ sản
xuất khu.