

-1-
Lối bốn giờ chiều, nhờ mấy cây cồng lớn của làng trồng chung quanh nhà việc Tiển Cần che áng
mặt trời, nên cái sân rộng trước nhà việc kêu là sân chợ cũ, có chỗ còn nắng, mà có chỗ đã mát. Một
chú bán mì thánh, để gánh trên lề đường, đứng gõ sanh lắc cắc cụp. Một chị bán chè thưng đi dọc theo
trước phố rao hàng tiếng nghe ngọt xớt. Sắp con nít tựu mấy chỗ có bóng mát mà trửng giỡn, đứa chạy
rần rật, đứa la om sòm.
Thình lình có cái xe đò, chở đầy hành khách, ầm ầm chạy vô cái sân ấy, bóp kèn te te, bụi bay mù
mịt. Sắp con nít la om: "Xe Trà Vinh qua, xe Trà Vinh qua" rồi lật đật đứng nép vô lề đường mà coi
xe tới.
Xe hơi chạy chậm chậm rồi ngừng tại giữa sân. Hành khách chộn rộn leo xuống, người xách gói, kẻ
bồng con, lại có nhiều người xúm chung quanh xe, chờ mà lấy hành lý. Trong đám hành khách lấy đồ
đây, có một người trai, nước da trắng, gương mặt tròn, sơn đình cao, chơn mày rậm, mình mặc một bộ
đồ âu phục bằng bố xám, đầu đội nón trắng, chơn mang giầy đen, đứng ngó dáo dác, bộ coi ngại ngùng
lắm.
Trên xe hơi bỏ xuống một cái gương lớn. Người trai nhắc để dựa bên lề đường rồi nhắm mấy đứa
con nít đứng gần đó, mà hỏi rằng: ''Mấy em biết nhà ông Đốc học ở chỗ nào, xin làm ơn chỉ giùm cho
qua chút?" Có hai đứa nhỏ giành nhau mà đáp rằng: "Đây, nhà ông Đốc ở phía sau nhà việc đây".
Người ấy hỏi: "Hai em dắt giùm qua lại đó được hay không?" Hai đứa nhỏ đáp: "Được".
Người ấy ngó cái rương rồi nói rằng: "Còn cái rương đây làm sao? Hai em biết ai làm cu ly, kêu
giùm cho qua một người đặng qua mướn vác cái rương rồi đi mới được chớ".
Một đứa nhỏ liền kêu một người đương đứng gần đó mà nói rằng: "Ê! Anh Tao, thầy mướn vác cái
rương đây nè, vác lại nhà ông Đốc rồi thầy cho tiền xài". Người trai ấy trạc chừng mười bảy, mười
tám tuổi, trên đầu tóc chôm bôm, ở trần đưa lưng đen chạy, mặc một cái quần vắn mốc thít, thủng thẳng
bước lại hỏi vác đi đâu nhớm thử cái rương, rồi ngồi xuống kê vai mà vác.
Hai đứa nhỏ đi trước, người mặc đồ Tây với người vác rương đi theo sau. Mấy người đứng chơi
tại sân, họ ngó theo mà nói với nhau rằng: "Thầy nào đó lạ mà hỏi thăm ông Đốc học vậy kìa? Chắc là
thầy giáo mới đổi lại đây chớ gì".
Phía sau nhà việc Tiểu Cần, có một dãy phố trệt mười căn, lợp ngói, vách ván, lót gạch, tuy phố cũ
mà sạch sẽ. Đi tới hai căn chót, hai đứa nhỏ đứng lại mà chỉ rằng: "Đây, ông Đốc ở hai căn đầu đây".
Người lạ, mặc đồ Tây đó, ngó vô thì thấy nhà dọn bàn ghế hực hỡ, trước cửa có rào hàng rào tre,
làm thành một cái sân nhỏ nhỏ. Trong sân có để chín mười chậu, cái thì trồng cau đỏ, cái thì trồng cau
vàng, cái thì trồng kiểng bằng cây sộp, cây ngâu. Dựa theo hàng rào lại có trồng chuối nước với móng
tay, trổ bông chỗ đỏ, chỗ trắng, chỗ tím, chỗ vàng, coi rất đẹp mắt. Người ấy day lại tạ ơn hai đứa nhỏ,
rồi xăm xăm bước vô sân với người vác rương.
Trong nhà có cô thiếu nữ trạc chừng mười chín hoặc hai mươi tuổi, mặc quần lụa trắng, mặc áo bà
ba cũng bằng lụa trắng, tóc gỡ láng nhuốt, gương mặt sáng rỡ, đương ngồi trên mà thêu. Cô thấy khách
lạ bước vô, cô cúi đầu thi lễ, rồi bước xuống đất đứng hỏi rằng: "Chào thầy, chẳng biết thầy ở đâu
lại?"
Người khách lột nón, đáp lễ và trả lời rằng:
- Thưa, tôi là thầy giáo mới đổi lại. Không biết phải nhà ông Đốc ở đây chăng?
Cô thiếu nữ chúm chím cười rồi đáp rằng:
- Thưa phải, nhà này là nhà ông Đốc. Em xin mời thầy vào.

- Thưa, không biết có ông ở nhà chăng?
- Ba tôi ở đằng trường học, đi lại đẳng với mấy thầy giáo từ hồi hai giờ rưỡi tới giờ... Mời thầy
ngồi... Ba tôi có nói khai trường này sẽ có thêm một thầy giáo mới, té ra thầy đây hay sao?
- Thưa, phải.
- Thầy lại tới hồi nào?
- Tôi đi xe mới qua tới đây.
- Mời thầy ngồi chớ.
Thầy giáo đứng bợ ngợ, ngó mấy cái ghế, ngó người vác rương, rồi nói rằng: "Thưa cô, để tôi đi
thẳng lại trường trình diện với ông Đốc. Cô làm ơn cho tôi gởi cái rương đây được hay không?"
Cô thiếu nữ đáp rằng: "Thầy muốn lại trường kiếm ba tôi cũng được. Thầy để rương lại đây".
Người vác rương nghe nói liền để rương ngoài hàng ba. Cô thiếu nữ đưa tay ngoắt biểu đem rương
vô để dựa cái bàn viết. Thầy giáo móc túi lấy một cắc bạc mà cho người vác rương rồi cậy dắt giùm
qua trường. Thầy cúi đầu từ giã cô thiếu nữ rồi bước ra đi.
Thầy giáo mới đổi lại Tiểu Cần đây tên là Hà Tấn Phát, năm nay thầy được hai mươi hai tuổi.
Thầy góc ở Vĩnh Long, khi mới nên mười tuổi thì mẹ đã mất. Ông thân thầy làm đội mã tà, vì có một
mình thầy, nên ráng cho thầy ăn học. Hồi nhỏ thầy học tại trường tỉnh Vĩnh Long. Thầy thi đậu vào
trường sư phạm sài Gòn học mới được hai năm kế ông thân thầy mất nữa. Thầy bơ vơ, tưởng là phải
bỏ trường đi làm kiếm tiền nuôi thân. May nhờ có một người anh nhà bác, tên là Hà Tấn Tài, giúp việc
cho một hãng tàu đò lớn ở Sài Gòn, thấy thầy coi cút mà lại học giỏi thì thương, nên lãnh nuôi thầy, lúc
học mỗi tháng cho thầy một vài đồng bạc ăn bánh mua giấy, lúc bãi trường đem thầy về nhà nuôi cơm,
hễ áo quần rách thì may cho thầy bận.
Thầy Hà Tấn Tài tuy giúp việc hãng buôn, mà thầy khá lắm. Thầy ăn lương lớn mà lại có tánh tiện
tặn, nên tháng nào thầy cũng có dư tiền. Hồi trước thầy lại lãnh gia tài bên vợ được mười mấy mẫu
ruộng và mấy ngàn đồng bạc. Thầy nhập số bạc này với số tiền dư mà cho vay. Thầy làm trong mấy
năm thì đã có bạc muôn. Thầy mua đất cất nhà ở bên Khánh Hội. Thầy lại có mua thêm ba mẫu ruộng ở
phía sau nhà của thầy nữa. Thầy mua miếng ruộng này được vài ba năm, kế nhà nước đào cái kinh
Xóm Chiếu vô Chợ Lớn đi ngang qua ruộng thầy. Nhà nước trả tiền thiệt hại cho thầy tính mỗi thước
tới bốn đồng rưỡi. Thầy lãnh số tiền này được tới gần bốn mươi ngàn đồng. Thầy cũng còn đất dư; có
một hãng buôn hỏi mua đặng cất nhà máy, thầy chấn bán bớt một miếng năm mươi sào, được hai mươi
lăm ngàn đồng nữa, thành ra thầy là một người giàu lớn. Thầy có tiền nhiều, mà vợ lại hiền đức. Vợ
chồng không có con, nên tuy giàu mà không được vui, vợ cứ đi chùa khẩn vái cầu con. Thầy nuôi Hà
Tấn Phát làm nghĩa, chẳng phải Phật Trời muốn thưởng cái lòng tốt của thầy đó hay không mà cách ít
tháng vợ thầy có nghén rồi sanh một đứa con trai mạnh mẽ ngộ nghiõnh hết sức. Vợ chồng thầy mừng
rồi lại tưởng cái phước ấy là tại nuôi Hà Tấn Phát, nên càng đem lòng thương em. Nhớ cái vận hội như
vậy đó, nên Hà Tấn Phát no cơm ấm áo mà học, khỏi lo đói rách nữa.
Hà Tấn Phát xét phận coi cút nghèo nàn, nên thầy chủ tâm lo học, quyết thi cho đậu đặng lập thân.
Thiệt trong lớp thầy học giỏi hơn chúng bạn hết thảy, đến chừng thi ra trường, thầy cũng đậu đầu. Thầy
thi đậu năm trước mà vì không có khuyết thầy giáo, nên qua năm sau nhà nước mới cấp bằng và bổ
thầy đi dạy trường Tiểu Cần đây.
Trường học Tiểu Cần là trường tiểu học mới lập thành trường sơ học, năm này mới có lớp nhứt.
Thầy giáo cai quản trường này tên là Thiện Tâm vốn là một vị giáo sư chánh ngạch; thầy đã được
bốn mươi tám tuổi, coi trường này đã trên mười năm, tổng làng dân sự trước kính tuổi tác, sau nghĩ
công lao, nên kêu tưng thầy là "ông Đốc học".
Ông Đốc Lê Thiện Tâm có ba người con:
1) con trai tên là Lê Thiện Tánh, vốn ở trường cao đẳng sư phạm Hà Nội xuất thân, hiện nay đang



