Phát hành trái phiếu Chính phủ trên th
trường quốc tế và vấn đề liên quan
Phát hành trái phiếu Chính Phủ (TPCP) ra thtrường quốc tế là một kênh
huy động vốn hữu hiệu với nền kinh tế các nước đang phát triển. Nguồn vn
huy động được sẽ đáp ng nhu cầu phát triển, đầu của Chính Phủ tuy
nhiên, nếu không quản và sdụng hiệu quả sẽ gây ra những tác động đảo
ngược, tiêu cực và nh hưởng tới an ninh tài cnh quốc gia cả theo thuyết
lẫn thực tế Việt Nam hiện nay.
Ngày 26/
01/2010, Vi
t Nam đ
ã phát hành thành ng 1 t
USD trái phiếu Chính
Phthời hạn 10 năm trên thtrường quốc tế với li tức 6,95%. Số tiền thu đư
ợc t
đợt phát hành 1 tUSD trái phiếu quốc tế này được tập trung vào c mục ti
êu: (i)
hoàn trvốn ngân ch Nhà Nước, (ii) giao Bộ Kế hoạch&Đầu tư phối hợp Bộ T
ài
chính lựa chọn dự án phù hợp (dự kiến cho các Tập đoàn D
Hàng hi Việt Nam, Tổng ng ty ng Đà T
ng ng ty lắp máy Việt Nam
đầu tư bổ sung các dán lọc hóa dầu Dung Quất, dự án xây dng thủy điện X
ê Ca
Mản 3, nhà y thủy điện Hủa Na và mua tàu vn tải biển). Trước đó, v
ào tng
10/2005, Việt Nam cũng đã hoàn thành đợt chào bán trái phiếu quốc tế đầu tiên v
i
giá trphát hành 750 triệu USD, thi hn 10 năm và lợi suất 7,1
25% sau đó cho
Tập đoàn ng nghiệp Tàu th
ủy Việt Nam vay lại. Chúng i đánh giá vhiệu quả
của đợt phát hành này trong bi cảnh kinh tế hiện nay của Việt Nam tr
ên hai khía
cạnh tích cực và tiêu cực.
Tác động tích cực trong ngắn hạn
Phát hành trái phiếu Chính phtrên thtrường quốc tế là m
t trong ba cách vay nợ
nước ngoài để bù đắp thâm hụt Nn ch Nnước. Việc phát h
ành thành ng
trong 2 ln đầu
ớc đầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiếp cn th
trư
ng vốn quốc tế v
à tham gia tr
ực tiếp
vào th
tr
ư
ng n
ày trong tương lai. 1 t
USD thu vsẽ là m
t nguồn thu ngoại tệ bổ sung khi nguồn cung ngoại tệ trong
nước đang tương đối ng thẳng do khủng hoảng kinh tế trong ngoài
ớc c
động đến xuất khẩu, kiều hối cũng như thu ngoại tệ từ du lịch.
Việc sdụng nguồn vốn huy động được vào các dán đầu tư từ sở hạ tầng l
à
hợp , đặc biệt khi các dự án này sgóp phần đảm bảo an ninh năng
ng quốc
gia, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhập khẩu dầu đáp ứng nhu cầu điện ng
ày ng
tăng. Việc đầu mua u vận tải biển cũng là một khoản đầu tư đúng ch
khi đội
tàu trong ớc (có tuổi tàu trung bình già trng tải thấp) chỉ mới đáp ng đư
ợc
hơn 20% nhu cu, tuy nhiên, chúng tôi không bình lun nhiều vkhía cạnh n
ày do
kế hoạch giải ngân cụ thể chưa được công bố.
Nguyên nhân c
ủa phát hành trái phi
ếu quốc tế: Ti phiếu quốc tế do Việt Nam
phát hành thành công nhưng TPCP bằng ngoại tệ phát hành trong nh
ững đợt gần
đây, đặc biệt trong năm 2009 đều không thu được kết quả như mong muốn, nguy
ên
nhân chính do vn đề lãi suất không hấp dẫn. Đợt phát hành thnhất v
ào tháng
3/2009, 3 lần đấu thầu chỉ huy động đư
ợc 230,11 triệu USD trong tổng số 300 triệu
USD được đưa ra mời thầu. Đợt 2 vào tháng 8/2009, ti phiếu ngoại tệ khạn d
ài
số lượng bỏ thầu rất ít. Trong đó, cả 3 phiên chhuy động đư
ợc 100 triệu USD/100
triệu USD trái phiếu chào n k
hạn 1 m; 47 triệu USD/100 triệu USD trái
phiếu khạn 2 năm; và 10 tri
u USD/50 triệu USD ti phiếu khn 3 m. Đợt
phát hành thứ 3, và thứ 4 vào ngày 29/12/2009, kết quả chỉ huy động đư
ợc 73 triệu
USD trong t
ng số 200 triệu USD giá trị trái phiếu gọi thầu, đạt 36,5%. Tỷ lệ huy
động thành ng xu hướng giảm dần theo từng đợt phát hành k
ể từ đầu 2009 tới
nay.
Tác động tiêu cực có thể xảy ra trong ngắn hạn và dài hạn
M
ức l
ãi su
ất trúng thầu b
ình quân 6,95%: Theo thông cáo c
ủa Bộ T
ài chính v
hệ
số tín nhiệm quốc gia (thường được các tổ chức tài chính quốc tế xem như m
t căn
cứ để đánh giá khả năng trả nợ), m 2009, tổ chức xếp hạng Moody’s đã x
ếp hạng
tín nhim Việt Nam mức Ba3 như hai m trước đó. Mức xếp hạng n
ày tương
đương với Philippines và thấp n 1 bậc so với Indonesia, nhưng thấp hơn 3 b
ậc so
với mức chuẩn của đầu trái phiếu. Theo tandard&Poors, Việt Nam đư
ợc xếp
hạng BB, cao hơn mức BB- của Indonesia Philippines. Tuy nhiên, mức lãi su
t
trúng thu ca Việt Nam lại cao hơn so với 2 quốc gia này. Trước đó, Indonesia v
à
Philippines đều phát hành thành công với lãi suất dưới 6%.
Mặc dù thời điểm phát hành của Việt Nam một syếu tố bất li như: th
nhất,
ngun cung trái phiếu các quốc gia mới nổi trong thời gian gần đây rất lớn (tr
ên
ch
ục tUSD từ Indonesia, Phillippines, Hy Lạp, Mehico, Ba Lan, Thổ NKỳ,
Slovakia...) do nhu cu kích thích kinh tế sau khủng hoảng của các quốc gia n
ày;
th hai, Tng thống M Obama đề xuất đưa ra m
ột số quy định hạn chế c định
chế tài chính nm giữ c khoản đầu rủi ro c động không nhỏ tới thị trường t
ài
chính nước này. Ngoài ra thị trường tài chính qu
ốc tế cũng đang lo ngại về các biện
pháp thắt chặt kinh tế ca Trung Quốc. Sự bất lợi còn th
hiện mức độ đăng ký,
ngay trong tng 1 này, Indonesia phát nh 2 tUSD trái phiếu 10 m lư
ng
đăng ký lên ti 5 tUSD; Phillippines phát hành 1,5 t
USD ti phiếu 10 năm có
lượng đăng ký lên ti 9 tUSD. Nhưng đến khi Việt Nam phát hành v
i khối
lượng thấp hơn (1 tUSD) thì khi
ng đăng ký chỉ khoảng 2,4 tỷ USD. Mức độ
đăng ký thấp cũng đồng nghĩa với lợi tức phát hành cao.
Vẫn phải nói rằng, trong khi xếp hạng tín dụng của Việt Nam cao n nhưng l
ãi
suất trúng thầu li cao n 2 quốc gia bạn cho thấy slo ngại của các nhà đầu t
ư
quốc tế vsự n định kinh tế trong tương lai c
ủa Việt Nam. Xếp hạng về
năng lực cnh tranh của c quốc gia được công btại diễn đàn kinh t
ế thế giới
năm 2009 c
ũng
ghi nh
n sự tụt hạng sâu về môi tr
ư
ng kinh tế ca Việt
Nam. Vi
ệt Nam tụt 5 bậc từ 70/134 xuống 75/133 nền kinh tế so với năm trư
ớc
trong b
ng xếp hạng chung, trong đó đóng góp quan trọng của sự thay đổi trong
chỉ tiêu về ổn định kinh tế mô, tụt hạng sâu 42 bậc, từ 70 xuống 112.
Ngoài ra môi t
ng kinh doanh năm 2009 của
ớc ta cũng tiếp tục suy gim,
bảng xếp hạng về môi trường kinh doanh do Ngân hàng Th
ế giới ng bố, Việt
Nam b
tụt 2 bậc, trong 10 chỉ tiêu đánh giá, Việt Nam bị tụt hạng về 9 chỉ tiêu, ch
lên hng về chỉ tiêu thực hiện hợp đồng.
Căng thẳng trên thị trường ngoại hối, tình trạng nhập siêu và kh
ng mở rng sản
xuất ca doanh nghiệp: Căng thẳng cung - c
ầu ngoại tệ năm 2009 xuất phát tviệc
mất n đối cán n thanh toán. Nguồn thu ngoại tệ bao gồm xuất khẩu, đầu t
ư
nước ngoài (ctrực tiếp và gián tiếp), các khoản vay và vin trợ nước ngoài, ki
u
hối lượng khách du lịch quốc tế đều giảm. Nhập siêu mặc dù gi
m xuống đang
k
trong năm 2009 (từ 17 tỷ USD trong m 2008 xuống 12,2 tỷ USD trong năm
2009) nhưng vẫn mức rất cao không đđể bù đắp
ng ngoại tệ thiếu hụt.
Bên cnh đó, do Chính phủ sử dụng chính ch tài khóa ti
n tệ nới lỏng để kích
thích kinh tế khiến áp lực lạm phát gia tăng, người n và doanh nghi
ệp ng
cường tích trvàng USD như là chtẩn an toàn, tđó càng làm cho c
u
ngoại tệ tăng cao.
Cầu ngoại tệ ng trong khi nguồn cung lại gim đáng kể. Tng thư
ng khi thị
trường ngoại hối ng thẳng, Nn ng Nhà nước (NHNN) thực hiện việc b
ơm
ngoại tệ ra để cân đối cung - cu trên thtrường. Tuy nhiên, do d
trữ ngoại hối b
thu hẹp (dự trữ ngoại tệ cuối tháng 10/2009 là 16 t
USD so với 20 tUSD thời
điểm đầu năm 2008), cộng thêm vi lực cầu qln nên N nước b
ơm ra bao
nhiêu, thtrường hút về bấy nhiêu tình trng căng th
ng vẫn không giải quyết