Kỷ yếu Hội thảo ngày CTXH thế giới 2009 - "Nhân viên hi - Tác nhân của sự thay đổi"
Đại học Đồng Tháp
18
PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
TRONG VIỆC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
ThS. Lê Thị Mỹ Hiền
Phó Trưởng Khoa Xã Hội học
Trung tâm Thực hành CTXH - ĐH Mở TP Hồ Chí Minh
I. VIỆT NAM THỰC HIỆN MỤC TIÊU XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
Mục tiêu đầu tiên trong 8 Mục tiên Thiên niên kỷ là Giảm nghèo đói. Từ sau khi
Tuyên bố Thiên niên kỷ, Việt Nam đã cụ thể hóa bằng c chương trình hành động
quốc gia, các chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm, 10 năm.
Theo đánh giá của quốc tế, Việt Nam là một “câu chuyện thành công” trong việc
thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ (MDGs), một quốc gia xuất sắc trong xóa đói
giảm nghèo.Tỉ lệ hộ nghèo của Việt Nam giảm từ 58,1% (năm 1993) xuống còn 24,1%
(2004) tương đương 20 triệu người. So với Mục tiêu Thiên niên kỷ là “Giảm ½ tỉ lệ dân
mức thu nhập dưới 1USD/ngày; giảm ½ tlệ người dân thiếu đói”, thì Việt Nam
đạt sớm hơn 10 năm so với Liên Hiệp Quốc đề ra1. Tỉ lệ nghèo Việt Nam tiếp tục giảm,
năm 2006 còn 16%, năm 2007 còn 14,7%.
Theo Thứ trưởng Đàm Hữu Đắc, tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng chưa bền
vững, điu kiện sống và sản xuất các ngo, miền i n gặp nhiều k khăn;
khoảng cách chênh lệch vthu nhập, mức sống giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng
bằng và miền núi, giữa nhóm hộ giàu và hộ nghèo xu ớng gia tăng Như vậy, việc
giảm nghèo của Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức ở chặng đường phía trước.
Bên cạnh nỗ lực không ngừng của nhà nước, các tổ chức quốc tế đã góp phần
đáng kể trong công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam.
Năm 2007, ngân hàng Thế giới (WB) đã đã phê duyệt khoản tín dụng chính sách
phát triển 50 triệu USD để hỗ trợ Việt Nam thực hiện giai đoạn 2 Chương trình 135,
giúp xóa đói giảm nghèo các cộng đồng dân tộc ít người vùng sâu, vùng xa, trong
1.644 xã nghèo nhất và 2.500 làng nghèo nhất2.
Kỷ yếu Hội thảo ngày CTXH thế giới 2009 - "Nhân viên hi - Tác nhân của sự thay đổi"
Đại học Đồng Tháp
19
Tương tự đánh giá của các tổ chức quốc tế khác, Bộ Phát triển quốc tế Anh
(DFID) cho rằng Việt Nam một trong những nước thành tựu v xóa đói giảm
nghèo mạnh nhất thế giới. Năm 2009 DFID viện trợ 2 khoản, bao gồm 20 triệu bảng
cho Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo (PRSC) 17 triệu bảng cho chương
trình đảm bảo chất lượng trường học giúp trẻ em đến trường cả ngày (SEQAP)3.
II. PHƯƠNG THỨC PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG
Theo Liên Hiệp Quốc, 1956: “Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó
nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện
kinh tế, xã hội, văn hóa của các cộng đồng giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng
thời đóng góp vào đời sống quốc gia”
Và theo Nguyễn Thị Oanh, cố Thạc sĩ Phát triển cộng đồng, thì “PTCĐ là một
tiến trình m chuyển biến cộng đồng nghèo, thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông
qua việc giáo dục gây nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả
năng tài nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động tự giúp, bồi dưỡng củng cố t
chức, tiến tới tự lực, phát triển”.
Phát triển cộng đồng chính là ứng dụng phương thức công tác xã hội để làm việc
với cộng đồng. Với các giá trị: i/ An sinh cho tất cả mọi người; ii/ Công bằng hội;
và iii/ Tinh thần trách nhiệm, phát triển cộng đồng nhằm đạt được:
- Sự tham gia tối đa, bình đẳng của người dân vào suốt tiến trình thay đổi, phát
triển của cộng đồng.
- Các thiết chế được củng cố cho việc chuyển biến xã hội.
- Cả điều kiện vật chất lẫn tinh thần của người dân, của cộng đồng được cải thiện.
III. PHƯƠNG PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG VIỆC A
ĐÓI GIẢM NGHÈO
3.1. MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG ĐỒNG NGHÈO
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém.
- Kinh tế không phát triển.
- Nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ.
Kỷ yếu Hội thảo ngày CTXH thế giới 2009 - "Nhân viên hi - Tác nhân của sự thay đổi"
Đại học Đồng Tháp
20
- Người dân thiếu hội tiếp cận khoa học, kỹ thuật, những tài nguyên, những
nguồn dịch vụ chính thống.
- Tâm lý thiếu tự tin, ỷ lại.
- Người dân không tham gia ra quyết định.
3.2. NHẬN DIỆN CỘNG ĐỒNG BẰNG ĐÁNH GIÁ NGHÈO S
THAM GIA
Để được bức tranh tổng thể về tình trạng nghèo đói của cả nước, những cuộc
đánh giá nghèo đói có sự tham gia của người dân đã được tiến hành.
Năm 2003, Nhóm hành động chống đói nghèo hỗ trợ cho các đánh giá nghèo
có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Poverty Assessment -PPAs) 43 thuộc
12 tỉnh của Việt Nam. Các đánh giá nghèo sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp
nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói các số liệu định lượng đã
không mô tả được hết.
c đánh g ngo n được xem n nhũng công cụy dựng ng lực cho các
quy tnh lp kế hoạch với định hướng vì người nghèo các cp chính quyền địa phương.
Các nhóm hộ dân được thành lập như những nhóm cung cấp thông tin, c
nhóm đã thảo luận để phân loại mức sống, đưa ra các tiêu chí hộ nghèo :
Trong đánh giá ngo của tỉnho Cai, nhóm cán bộ xã Phong Niên cho biếtnăm
1999, nghèo có nghĩa là ơng thực không đủ ăn, nhà không mà ờ, quần áo, chăn màn
thiếu, đẻ nhiều con. n nay, năm 2003, người nghèo cũng nhà, lương thực tạm đủ
ăn, chthiếu vốn, số con giảm, biết khoa học kỹ thuật,…”. Về giáo dục, y tế, nhóm thảo
luận của ngườin cho thấy nhận thức đã cải thiện nhiu, tình trạng nghèo cố lo chi phí
cho con ăn học”, kc những năm trước “không cho con ăn học vì nghèo”.
Phương pháp đánh giá có sự tham gia tỏ ra rất hữu ích cả nông thôn và thành
thị, cả quy mô lớn và nhỏ. Nhiều dự án đã bắt đầu bằng các đánh giá nhanh sự tham
gia của người dân (Participatoty Rapid Appraisal-PRA). Chẳng hạn, dự án 415 – Nâng cp
đô thị và làm sạch kênh Tân Hóa-Lò Gốm tại TP Hồ C Minh, nhóm tác vn đã cùng với
người dân chính quyền địa phương thực hiện khảo sát “Xác định vấn đề đánh giá
tiềm năng, nhu cầu của cộng đồng dân cư Phường 11- Quận 6 theo phương pp đánh
Kỷ yếu Hội thảo ngày CTXH thế giới 2009 - "Nhân viên hi - Tác nhân của sự thay đổi"
Đại học Đồng Tháp
21
gnhanh sự tham gia - PRA. Để thu thập được nhiều ý kiến kc nhau của tất cả các
tầng lớp dân cư, đồng thời c ý nhiều vào c những người nghèo nhất trong cộng đồng,
14 nhóm dân được phân bổ như sau: 4 nhóm rất ngo, 2 nhóm nghèo, 2 nhóm trungnh,
2 nhóm k, 2 nhóm thanh nn, 2 nhóm trem.
Qua kết quả khảo sát, đánh g cng đồng, người dân nhận ra nhng mt mnh, yếu,
những vấn đ gì bức xúc trong cộng đng, những vn đ cần ưu tn giải quyết trước.
3.3. TĂNG NĂNG LỰC CỘNG ĐỒNG
Tài sản, nội lực của cộng đồng
Theo lối tiếp cận nội lực cộng đồng, bất kỳ cộng đồng nào cũng tài sản, hoặc
“vốn” của cộng đồng, gồm 5 loại “vốn” chính sau:
- Con người
- Tài nguyên thiên nhiên
- Vật chất, hạ tầng kỹ thuật
- Tài chính
- Mối quan hệ xã hội
i. Con người nguồn vốn đặc biệt, quan trọng của cộng đồng. Con người với sức
khỏe, trí tuệ, tính ng động, sáng tạo, kiến thức truyền thng, bản địa, sẽ giúp cho vấn đề
của cộng đồng được giải quyết nếu được tchức thành những cấu phù hợp.
ii. Tài nguyên thiên nhiên như đất đai, hoặc không gian sinh sống, nước, các loại
động, thực vật, rừng, biển, ... nếu được sử dụng đúng cách sẽ đảm bảo môi trường, đảm
bảo cho sự phát triển bền vững của cộng đồng. Hiện nay, không ít người dân ở các nông
thôn xa xôi đã được tổ chức thành nhóm, được hướng dẫn, huấn luyện về kỹ thuật để
thể khai thác nguồn nhiên liệu thiên nhiên tận như sức nước, sức gió, năng lượng
mặt trời để giảm đi chi phí cho gia đình.
iii.sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội như đường xá, cầu cống, các công trình công
cộng nếu được bảo quản, sử dụng một cách trách nhiệm, phát huy hết tác dụng thì s
tiết kiệm được tiền của người dân nhà ớc. Một số cộng đồng, với sự hỗ trợ kỹ
thuật, kinh phí, vật chất của các tổ chức phát triển, đã tự cải thiện được tình trạng xuống
cấp, thiếu thốn về sở hạ tầng. Chẳng hạn, tại Tp Đà Nẵng, dự án phát triển cộng
Kỷ yếu Hội thảo ngày CTXH thế giới 2009 - "Nhân viên hi - Tác nhân của sự thay đổi"
Đại học Đồng Tháp
22
đồng, đã hỗ trợ vốn vay để người dân cùng nhau sửa chữa, xây dựng mới 590 công
trình vệ sinh, 523 giếng nước, 39 bếp Biogas,14 đường kiệt, 95 hộ xây dựng nhà mới,
500 hộ dân khu chung m ống nước thải, lưới chắn rác, nâng cấp cống thoát nước,
xây bể chứa nước tập thể 4.
iv. Nhiu người vẫn lầm tưởng rằng người nghèo kng tiền để dành. Nếu biết t
chức, biết khơi dy thì sẽ nguồn vn i chính đáng ktừ người n trong cộng đồng.
Đã những nhóm tiết kiệm-tín dụng, hoặc ngânng khu phố” do chính người dân hình
thành, tự tổ chức, điu hành và gp nhau đng vốn đ tránh tình trạng vay nặng lãi bên
ngi. Ngân hàng khu phố khi lên tới vài trăm triệu, thậm chí cả tỉ đồng.
v. Ngoài gtrvề mặt kinh tế từ các hoạt động ng nhau phát sinh trong cộng
đồng thì mặt hội thể hiện rt rõ khi thành viên trong các nhóm quan tâm lẫn nhau, giúp
nhau khi ốm đau, hoạn nạn; chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, nuôi dạy con cái, ng với nhau
y dựng, sử dụng, bảo quản những công trình của cộng đồngQua đó, vốn hội càng
đượcngờng, củng cố, mối quan hệ cộng đồngng ngày càng chặt chẽ.
Tăng năng lực cộng đồng
Để thể phát huy hết nội lực quản tốt tài sản sẵn trong cộng đồng thì
cộng đồng cần được củng cố năng lực thường xuyên. Hình thức tăng năng lực cho cộng
đồng hữu hiệu nhất các tập huấn chính thức, không chính thức, cùng với những hình
thức khác như hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm. Hiện nay, việc học hỏi, chia sẻ kinh
nghiệm vcông tác xóa nghèo không chỉ hẹp trong khuôn khổ một làng, xã, hoặc
khu phố, phường, mà n vươn ra các cộng đồng lân cận, xa hơn nữa các khu vực
trong cả nước đến tận các nước khác trong khu vực. Chính thế, các nguồn lực
cộng đồng được vận dụng tối đa để phục vụ cho chính cộng đồng của mình và cộng
đồng bè bạn khắp nơi.
Kỹ năng, năng lực của lãnh đạo cộng đồng, của người dân vì thế tăng lên, c
nhóm, các tổ chức trong cộng đồng thể tham gia lập kế hoạch hành động cộng đồng
để giải quyết những vấn đề tồn tại cũng như phát sinh trong cộng đồng.