18Số 3/2024TẠP CHÍ ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNGTóm tắt: Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, “Nghiên cứu bài học” được xem như một cách tiếp cận mới để phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên tiểu học. Phương pháp này đã chứng minh được tính khả thi của khi thực hiện việc bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học. Để thực hiện Nghiên cứu bài học giáo viên cần tìm hiểu chi tiêt về thể loại bài học, nội dung bài học, cac phương pháp, phương tiện dạy học đat hiêu qua cao, cách tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực của học sinh, cách rèn kỹ năng, hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học để giải quyết tình huống thực tiễn. Dự kiến những thuận lợi, khó khăn của học sinh khi tham gia các hoạt động học tập các tình huống xảy ra cách xử (nếu có).Từ khoá: Năng lực dạy học, Đổi mới phương pháp, Nghiên cứu bài học, Giáo viên (GV), Học sinh (HS).tiểu học đều đã ý thức rất về điều này, cũng như nguyên nhân tại sao phải những thay đổi đó.Trong tưởng đổi mới về giáo dục, việc học của học sinh diễn ra như thế nào luôn mối quan tâm hàng đầu. Vai trò của giáo viên không chỉ dạy học cho học sinh, còn phải hỗ trợ hướng dẫn cho các em cách thức học để nâng cao việc học tập hiệu quả. Những điểm đó hoàn toàn khác biệt với giáo dục truyền thống đòi hỏi người giáo viên phải duy theo cách nghĩ mới, tự trang bị cho mình những kiến thức năng mới để tiến hành bài học có hiệu quả. Theo cách này, trong quá trình dạy học ở tiểu học, giáo viên nhất thiết phải chú ý đến 3 yếu tố sau: - Sự quan tâm hứng thú của học sinh; - Kinh nghiệm trong cuộc sống hàng ngày của học sinh; - Bức tranh toàn cảnh của vấn đề. Đổi mới phương pháp dạy học khuyến khích giờ học nên bắt nguồn từ sự hứng thú, mối quan tâm của học sinh tới bài học, các hoạt động dạy học cụ thể cũng cần được thiết kế dựa trên những nguyên tắc này. Nếu không có hứng thú và động lực, học sinh sẽ không thể học thực sự. Những điểm này phải được xem xét khi xây dựng kế hoạch dạy học tiến hành các bài học.n cạnh đó, thay đổi quan điểm thái độ của giáo viên đối với học sinh cũng điều cùng quan trọng. Ý tưởng này đặt học sinh vào vị trí trung tâm của dạy học cý vào việc học sinh học như thế o hơn giáo viên dạy như thế nào. Trong dạy học, giáo viên cần chú trọng vào sự say hứng thú của học sinh và kinh nghiệm hàng ngày của các em, khuyến khích các em nắm vững kiến thức sâu hơn thông qua các hoạt động học tập khác nhau như: nghiên cứu nội dung bài học trong sách giáo khoa, suy nghĩ, thảo luận nhóm, trình bày quan điểm, hiểu biết của nh về những vấn đề giáo viên đưa ra trong giờ học, học sinh cũng cần biết trình bày ý kiến của mình một ch thuyết phục biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của
Phát triển năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học qua “nghiên cứu bài học”
1ThS. Đặng Thị Hồng Doan 1Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hải DươngEmail: Danghongdoan@gmail.com1. Đặt vấn đềKhi triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới trong thời gian qua, những quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục từ chương trình giáo dục phổ thông mới đã tác động mạnh mẽ tới sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo của cả nước nói chung giáo dục tiểu học nói riêng, đặc biệt giáo dục tiểu học đã những chuyển biến quan trọng cả về nội dung, phương pháp hình thức dạy học, thu được những thành tích đáng ghi nhận, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng được sự phát triển của giáo dục tiểu học trong thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần củng cố, nâng cao hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với thực tiễn giáo dục Việt Nam, từng bước tiếp cận nền giáo dục các nước phát triển trong khu vực các nước tiên tiến trên thế giới.Do chương trình giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học được xây dựng theo theo định hướng vừa hình thành kiến thức vừa phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh, dạy học không chỉ cung cấp kiến thức phải phát triển hài hòa cả phẩm chất năng lực, 3 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau trong một đứa trẻ và vững như ‘kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay coi nhẹ 1 yếu tố thì quá trình phát triển nhân cách, duy của học sinh tiểu học chưa đạt mục tiêu xác định.2. Nội dung2.1. Tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nghiên cứu bài học khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mớiĐể đạt được những mục tiêu đã xây dựng, giáo dục tiểu học phải không ngừng đổi mới cả về nội dung phương pháp dạy học, trong đó nhấn mạnh việc thay đổi phương thức dạy học sao cho vừa đảm bảo được chuẩn kiến thức, vừa tạo điều kiện để phát triển năng lực, duy của mỗi nhân học sinh, khuyến khích các em tăng cường hoạt động trong giờ học, động học tập mạnh mẽ hơn, v.v... Hầu hết giáo viên
19Số 3/2024TẠP CHÍ ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNGbạn... Những điều này đặt ra một vấn đề: Đó là cần phải xây dựng phương pháp tiếp cận nội dung các bài học chú ý sâu sắc đến quá trình học tập của học sinh.2.2. Xu hướng áp dụng “Nghiên cứu bài học” trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Để tiến hành dạy học theo xu hướng trên, từ rất lâu trên thế giới một cách tiếp cận việc học tập, bồi dưỡng chuyên môn nhấn mạnh việc cùng nhau dự giờ, suy ngẫm, lập kế hoạch dạy học (kenkyu jugyo - Nghiên cứu bài học) được xuất phát từ Nhật Bản (1868-1912). Cách tiếp cận này đã thu hút sự chú ý của các nhà giáo dục từ nhiều nơi trên thế giới, cho đến năm 1999 Nghiên cứu bài học đã được triển khai áp dụng nhiều trường học của nước Mĩ. Nghiên cứu bài học được xem như một phương pháp nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên trong quá trình dạy học nói chung dạy học trường tiểu học nói riêng.Việt Nam, từ tháng 6/2006 đến nay, Dự án JICA đã hỗ trợ Sở GD-ĐT Bắc Giang tiến hành thí điểm việc tổ chức cho giáo viên phát triển chuyên môn qua nghiên cứu bài học một số trường tiểu học trong phạm vi tỉnh Bắc Giang (Saito et al. 2007; Saito and Tsukui 2008) và sau đó triển khai nhiều tỉnh khác.Đặc biệt từ khi thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới, việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đang được khuyến khích triển khai ở nhiều địa phương trong cả nước. 2.3. Nguyên tắc của việc phát triển năng lực dạy học qua nghiên cứu bài học Nguyên tắc của việc phát triển năng lực dạy học (phát triển chuyên môn), qua Nghiên cứu bài học trong nhà trường tiểu học bao gồm: 2.3.1. Trường học phải được phát triển thành một cộng đồng học tập, nơi tất cả mọi em học sinh thể học tập phát triển, giáo viên có thể tham gia o việc học tập lẫn nhau như những người chun nghiệp, phụ huynh học sinh và các công n thể học thông qua việc tham gia vào các bài học; 2.3.2. Mỗi giáo viên cần phải mời đồng nghiệp dự giờ suy ngẫm ít nhất một lần trong năm nhằm chia sẻ bài học của mình với các đồng nghiệp và tham gia vào việc học tập lẫn nhau bằng cách phân tích các bài học đó; 2.3.3. Mối quan hệ lắng nghe đối thoại phải được thiết lập giữa các thành viên trong trường nhằm xây dựng các mối quan hệ học tập trong lớp học và tình đồng nghiệp giữa các giáo viên như những người chuyên nghiệp; 2.3.4. Sự tham gia, hợp tác của phụ huynh học sinh tất cả mọi người điều kiện cần thiết cho việc duy trì cộng đồng học tập.2.4. Các bước thực hiện nghiên cứu bài họcBước 1: Chuẩn bị nội dung dạy học theo hướng Nghiên cứu bài học minh hoạTrong bước này tiến hành thành lập nhóm gồm những giáo viên có trình độ năng lực ở các mức độ khác nhau (theo khối hoặc theo môn học); tổ chức nhóm giáo viên làm việc hợp tác, cùng đưa ra các ý tưởng, đồng thực hiện việc lập kế hoạch một bài học cụ thể.Bước 2: Tổ chức buổi dự giờ minh hoạ phương pháp dạy học theo hướng Nghiên cứu bài họcCử một giáo viên tiến hành dạy học minh họa, các giáo viên kc dự giờ, quan sát ghi cp tất cả những diễn biến của tiết học về mặt nội dung, kĩ thuật dạy học, sự thành công hay thất bại của tiết học, sự thể hiện của giáo viên, đặc biệt quan t từng học sinh trong giờ học. Đọc suy nghĩ cảm nhận bên trong của học sinh qua những biểu hiện bên ngoài thể của các em về thái độ, hành vi...Bước 3: Thảo luận về tiết dạy theo hướng nghiên cứu bài học vừa tổ chức rút kinh nghiệm Sau giờ học, tất cả các giáo viên ngồi lại với nhau để suy ngẫm về tiết học, mọi người cùng đưa ra ý kiến thảo luận, đánh giá hoạt động của cả go viên và học sinh trong giờ học qua các tiêu chí cụ thể; Kết hợp phỏng vấn, nêu câu hỏi về các vấn đề quan sát được trong lớp đối với cả giáo viên học sinh. Bước 4: Đánh giá mức độ thành công của giờ học qua việc: - Xem xét xem mục tiêu bài học đã phù hợp hay chưa;- Cấu trúc bài học như thế nào; - Sự thể hiện các mối quan hệ giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh trong giờ học(Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởng đến mọi hoạt động của học sinh trong giờ học, giáo viên phải biết kết hợp cả 3 yếu tố thì mới tạo ra được một bài học tốt).Bước 5: Xây dựng kế hoạch bài học mới dựa trên những kết quả thu được về sự đánh giá, phân tích các hoạt động và mức độ thành công của bài học trước.Bước 6: Áp dụng cho các lớp khác.Vấn đề nghiên cứu bài học không quan trọng việc đánh giá kết quả giờ học qua bài kiểm tra khảo sát mà đánh giá cả quá trình học sinh học như thế nào. Mấu chốt đó đánh giá nhận biết những làm cho các em hứng thú hay chán nản qua giờ học.Tóm lại: Đối với loại hình Nghiên cứu bài học, tâm điểm thực tế học tập của học sinh, tức tạo ra môi trường trong đó học sinh học theo xu hướng nào để đạt hiệu quả cao nhất.
20Số 3/2024TẠP CHÍ ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNGSở dĩ như vậy vì mục tiêu của loại hình Nghiên cứu bài học này là nhằm đảm bảo quyền của mọi em học sinh được học tập từ bài học được tiến hành, chứ không chỉ đơn thuần thể hiện việc tiến hành bài học trôi chảy kỹ năng. Việc làm này đã nhanh chóng trở nên phổ biến không chỉ dừng lại các trường tiểu học mà còn ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. Theo cách tiếp cận này đòi hỏi giáo viên phải tiến hành Nghiên cứu bài học thường xuyên để nâng cao năng lực dạy học cho mình nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. 3. dụ về kế hoạch bài dạy thực hiện theo Nghiên cứu bài họcBài “Vật dẫn nhiệt tốt và vật dẫn nhiệt kém”- Khoa học lớp 4 - Bộ Cánh Diều (trang 48) 3.1. Về yêu cầu cần đạt: GV cần xác định được những mục sau3.1.1. Năng lực đặc thù- Nhận thức khoa học tự nhiên: Xác định được một số vật dẫn nhiệt tốt (kim loại: đồng, nhôm,...) một số vật dẫn nhiệt kém (gỗ, nhựa, len, bông,...).- Đề xuất được cách làm thí nghiệm để tìm hiểu tính dẫn nhiệt của vật.- Vận dụng kiến thức năng đã học:+ Giải thích được một số hiện tượng đơn giản liên quan đến tính dẫn nhiệt tốt dẫn nhiệt kém của vật liệu.+ Biết cách giải việc sử dụng các chất dẫn nhiệt tốt, dẫn nhiệt kém sử dụng hợp trong những trường hợp đơn giản, gần gũi. 3.3.2. Phát triển các năng lực chung phẩm chất- Năng lực chung+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: Tích cực thảo luận trong nhóm, tự tin trình bày ý kiến nhân. + Năng lực tự chủ và tự học: Biết tự nghiên cứu, tìm tòi các chất dẫn nhiệt tốt, dẫn nhiệt kém. + Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thiết kế, thực hành làm được sản phẩm phục vụ trong cuộc sống từ các vật liệu vật dẫn nhiệt kém.- Phm cht: Chăm học, yêu thích m hiu khoa học.3.2. Về đồ dùng dạy học cần chuẩn bị3.2.1. Đồ dùng giáo viên- Các Video cho các hot đng; Bài ging Power Point.- Bộ đồ dùng thí nghiệm, ấm đun, phích nước nóng, giỏ đựng ấm; giấy khổ lớn; giá treo tranh; bảng cài; tranh ảnh; , phiếu học tập…- Bộ đồ dùng cho hoạt động vận dụng: Bình nước thủy tinh, lót tay bắc xoong, khăn quàng cổ, ,...3.2.2. Đồ dùng học sinh- Bút, bộ đồ dùng thuật, vải, bông, keo dán, kéo,...3.3. Về phương pháp hình thức tổ chức dạy học3.3.1. Phương pháp, thuật dạy học- Phương pháp: Nghiên cứu bài học, hỏi đáp, quan sát, thảo luận nhóm, bàn tay nặn bột, thí nghiệm, STEAM.- thuật: Trình bày 1 phút, phòng tranh, chúng em biết 3, đồ duy… 3.3.2. Hình thức: Làm việc độc lập, hoạt động nhóm, hoạt động cả lớp.3.4. Về các hoạt động dạy học chủ yếu3.4.1. Khởi động (2 phút)* Mục tiêu: Tạo tâm thế vui vẻ, dẫn vào bài học mới.- Cho HS xem video (theo hình 1) trả lời câu hỏi:+ Tại sao trong ấm nước nước vừa đun sôi mẹ cầm vào không bị nóng?- GV dẫn dắt vào bài học: Vật dẫn nhiệt tốt vật dẫn nhiệt kém. (GV ghi bảng, HS ghi vở và nhắc lại tên bài học, mở SGK bài 12, trang 48).* GV nêu nhiệm vụ tiết học3.4.2. Khám phá (25 phút)* Mục tiêu: Xác định được những vật dẫn nhiệt tốt (kim loại: đồng, nhôm, ...) những vật dẫn nhiệt kém (gỗ, nhựa, ...); đưa ra được ví dụ; Giải thích được hiện tượng đơn giản liên quan đến tính dẫn nhiệt của vật liệu. 1: Tìm hiểu vật dẫn nhiệt tốt, vật dẫn nhiệt kém* Mục tiêu: Xác định được những vật dẫn nhiệt tốt (vật dẫn nhiệt) vật dẫn nhiệt kém (vật cách nhiệt).- GV chia lớp thành các nhóm 6, đặt tên cho từng nhóm, cho HS phân nhóm trưởng thư nhóm- GV giao đồ dùng thí nghiệm cho các nhóm trưởng giao phiếu thảo luận cho thư - GV yêu cầu HS quan sát các vật dụng trong khay thí nghiệm, giới thiệu: Trong khay thí nghiệm 1 bình nước nóng, 1 chiếc cốc sứ, 3 chiếc thìa giống 3 chiếc thìa được đặt khay các nhóm. Hãy cho biết mỗi chiếc thìa được làm bằng vật liệu gì?- GV nêu thực hiện: Đặt 3 chiếc thìa vào trong cốc, đổ nước nóng từ phích vào cốc sau khoảng 1 phút, cán thìa nào sẽ nóng hơn? Yêu cầu HS dự đoán kết quả.- Tổ chức cho HS làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán.- Kết thúc thí nghiệm, đại diện một số nhóm báo cáo.- GV ghi lại kết quả sau thí nghiệm của HS lên bảng.
21Số 3/2024TẠP CHÍ ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNG- Yêu cầu HS nhận xét, so sánh kết quả sau khi làm thí nghiệm với phần dự đoán ban đầu. - GV hỏi để dẫn dắt, rút ra kết luận:+ Thìa làm bằng vật liệu nào dẫn nhiệt tốt hơn?+ Thìa làm bằng vật liệu nào dẫn nhiệt kém hơn?+ Các chất khác nhau thì khả năng dẫn nhiệt của chúng như thế nào?- GV đưa ra kết luận:+ Các vật làm bằng kim loại (nhôm, sắt, đồng, inox,...) dẫn nhiệt tốt hơn, được gọi vật dẫn nhiệt; Các vật làm bằng nhựa, bông, len, gỗ,... dẫn nhiệt kém hơn được gọi vật cách nhiệt.+ Các chất khác nhau thì khả năng dẫn nhiệt khác nhau.- Cho HS quan sát, kể tên đồ vật được làm từ vật dẫn nhiệt, vật cách nhiệt trong lớp học, trong gia đình.* GV giới thiệu cái ấm (vật thật) như cái ấm trong video khởi động. - Yêu cầu HS dựa vào những điều vừa tìm hiểu để trả lời câu hỏi: Tại sao trong ấm nước có nước vừa đun sôi mà mẹ cầm vào không bị nóng?- GV chốt câu trả lời đúng kết luận: ấm được làm từ chất dẫn nhiệt tốt, giúp việc đun nước tiết kiệm và tránh thất thoát nhiệt năng, phần quai ấm bọc nhựa cách nhiệt để đảm bảo an toàn, nếu ấm không được bọc nhựa quai thì phải dùng đồ lót tay để tránh bị bỏng.- GV dẫn dắt vào hoạt động sử dụng thuật phòng tranh: Giao nhiệm vụ cho các nhóm thảo luận, giới thiệu rồi sắp xếp các đồ vật có trong mỗi bức ảnh thành 2 nhóm vào bảng cài: nhóm các đồ vật dẫn nhiệt tốt và nhóm các đồ vật dẫn nhiệt kém. Sau đó mỗi thành viên trong nhóm giới thiệu cho các bạn trong nhóm mình nghe về một đồ vật, giới thiệu cho các bạn nhóm khác về sản phẩm của nhóm mình. * GV tiểu kết dẫn dắt vào hoạt động tiếp theo2: Tính cách nhiệt của không khí* Mục tiêu: Biết không khí vật dẫn nhiệt kém; nêu được dụ về vận dụng tính cách nhiệt của không khí.- GV cho HS xem cái giỏ ấm, trong ấm bình nước (kết hợp trình chiếu hình ảnh). - GV gọi HS lên sờ tay vào vỏ bình ấm đặt trong giỏ, nói về ấm trong bình nóng hay nguội- Đặt các câu hỏi có liên quan dẫn dắt HS tìm hiểu để đi đến kết luận: Những vật bên trong khoảng trống chứa không khí như bông xốp sẽ dẫn nhiệt kém (SGK/49)- Cho HS trả lời câu hỏi mở rộng:+ sao vào mùa đông loài chim thường lông?- GV dẫn dắt: Biết được không khí dẫn nhiệt kém nên con người đã tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ đời sống (giới thiệu phích, bình giữ nhiệt, chăn bông,...) để phục vụ cuộc sống của chính mình.* GV tiểu kết, chốt lại kiến thức 3.4.3. Luyện tập (3 phút) * Mục tiêu: Kể tên nói về công dụng của một số vật cách nhiệt, dẫn nhiệt.Tổ chức trò chơi: Tôi ai?- GV dùng bộ thẻ, rút ngẫu nhiên để lựa chọn ra một số HS được tham gia “lật mặt nạ”. HS chọn mặt nạ nào, mặt nạ đó sẽ hiện ra câu hỏi hoặc câu đố. HS đọc câu hỏi, câu đố trả lời. Học sinh giải đố đúng sẽ nhận được những phần quà hấp dẫn.VD về các câu hỏi:- Tôi giúp mẹ không bị bỏng khi nhấc xoong từ bếp xuống. Đố bạn tôi ?- Tôi giúp mọi người được ấm trong khi ngủ. Đố bạn tôi được làm bằng gì?+ Liên hệ giáo dục: Không nhảy lên chăn bông sẽ làm xẹp lớp bông, không khí thoát ra ngoài, đắp chăn sẽ không ấm, đôi khi còn làm bẩn chăn. - Tôi giúp mọi ngưỡi giữ ấm đôi chân. Đố bạn tôi ai?+ Liên hệ: sao mùa đông đi tất chân ta lại ấm?3.4.4. Vận dụng (5 phút)* Mục tiêu: Cắt, khâu, vẽ, dán, gấp ... tạo ra sản phẩm phục vụ cuộc sống từ các vật liệu vật cách nhiệt.- GV sử dụng phương pháp STEM, STEAM tổ chức cho HS thiết kế làm một sản phẩm phục vụ đời sống hàng ngày: chiếc lót tay, khăn quàng cổ, mũ,...- Yêu cầu HS thảo luận nhóm, nêu ý tưởng, tả thiết kế về sản phẩm nhóm sẽ làm sau đó cho HS thực hành làm sản phẩm, thuyết trình giới thiệu sản phẩm.- Liên hệ trong cuộc sống hàng ngày* Củng cố - dặn - GV sử dụng kĩ thuật “Chúng em biết 3” và “Trình bày một phút” để khắc sâu kiến thức cho HS;- GV dùng đồ duy để chốt kiến thức toàn bài- Nhận xét giờ học, dặn học sinh. 4. Kết luậnQua thực tiễn đã cho thấy: Dạy học theo hướng Nghiên cứu bài học là pơng pháp giúp khơi dy s, ham học hỏi, mong muốn khám phá kiến thc ở học sinh, từ đó kích thích hc sinh chủ đng m hiểu i học và cũng tạo điu kiện để go viên trao đổi kinh nghim về phương pháp truyền đạt, tổ chức tiết học, gp học sinh giải quyết c vấn đmột ch chủ động, sáng tạo; Nghiên cứu i học giúp cải tiến chất lượng dy và học ở tng bài học và đm
22Số 3/2024TẠP CHÍ ĐẠI HỌC HẢI DƯƠNGbảo hiệu quả go dục nhiều mặt; Cách tiếp cận phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua nghiên cứu cải tiến dạy học c bài học cụ thể tại các trưng đã được sdụng thành ng nhiu i trên thế giới và một số trường hc Việt Nam. Nghiên cứu bài học rất phù hợp với bi cảnh nền giáo dục Việt Nam hiện nay; nó c động ch cực không chỉ đối với việc học tập của học sinh mà đặc biệt tác động đến ng lực chuyên môn, nghiệp vụ thái đđối vi nghề nghiệp của người giáo viên tiu hc trong quá trình dy học./.TÀI LIỆU THAM KHẢO[1] Manabu Sato , Atsushi Tsukui, Eisuke Saito. Đổi mới nhà trường thông qua nghiên cứu bài học vì cộng đồng học tập. Viện giáo dục quốc gia Singapore & Trung tâm phát triển quốc tế Nhật Bản.[2] Manabu Sato. Challenge by schools (Thế giới bài học) (Trích “Initiation of the Lesson Study”).[3] Manabu Sato. Thách thức của trường học. Tài liệu dự án JICA dịch. [4] Dự án JICA. Chủ trương ca chương trình mới (Sách bồi dưỡng dành cho cán bộ quản giáo dục).[5] Tài liệu Hội thảo khoa học Quốc tế “Phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên thông qua Nghiên cứu bài học" từ 17 đến 19 tháng 12/2009 ĐHSP Nội.[6] Phó Đức Hoà (tái bản 2022). Dạy học tích cực cách tiếp cận trong dạy học tiểu học. NXB Đại học phạm Nội.[7] Nguyễn Lăng Bình, ĐHương T(2022). Dạy học tích cực. Một số phương pháp kĩ thuật dạy học. NXB Đại học phạm Nội.[8] Nhiều tác giả (2006) Đổi mới phương pháp dạy học tiểu học. (Sách dự án phát triển giáo viên tiểu học) NXB Giáo dục Nội.[9] Đặng Thành Hưng. thuật thiết kế phương pháp dạy học theo ớng tích cực hoá. Tạp chí giáo dục số 102 (chuyên đề), quý IV/2004, trang 10. [10] Mai Tuấn (Tổng chủ biên), Bùi Phương Nga (Chủ biên), Phan Thị Thanh Hội, Bùi Thanh Huyền, Lương Việt Thái (2022) Khoa học 4 (Cánh Diều). NXB Đại học phạm Nội.