
Phê bình văn học
Phương Tây ởViệt Nam –
Tiếp nhận và ứng dụng
Hoài Thanh (1909-1982) vẫnđược nhiều người nhắc tới bấy lâu nay như
một nhà phê bình “ấn tượng chủnghĩa”, nhưng gầnđây, Trịnh Bá Đĩnh trong
bài Các hình thái tưduy phê bình văn họcđầu thếkỉXX(16); sau đó, TrầnĐình
Sửtrong bài Hoài Thanh trước 1945 -từnhà lí luậnđến nhà phê bình văn
học(17), đã thấycách gọiđó chưa thỏađáng. TrầnĐình Sửcho rằng “phê bình
ấn tượng” đã có từphương Đông, còn: “Phê bình ấn tượng hiệnđại phương
Tây xuất hiện vào cuối thếkỉXIX đầu thếkỉXX trong bối cảnh khác. Nó phản
ứng lại lối phê bình quy phạm của chủnghĩa tân cổ điển (Neoclassical
Criticism) và phê bình khoa học chủnghĩa (Contextual Criticism)”. Nhưng
không thấy ông cho biết cụthểcó trào lưu, trường phái của quốc gia nào gọi là
“phê bình ấn tượng” hay không, những ai là đại diện cho loại phê bình này và
đã có công trình nào chưa ngoài mấy từnói thoáng qua mà cũng không phải là
đầyđủ của A. France mà tôi in đậm sau đây: “Cơsởcủa phê bình văn học là
ấn tượng chủquan, chứkhông phải là suy lí, phán đoán”. Nhậnđịnh này ngày

càng tỏra thiếu cơsởkhoa học. Hơn nữa, phê bình theo “phương pháp khoa
học” đã bịA.France hiểu sai, vì phê bình khoa học không bắt mọi người phải
cùng cảm thụnhưnhau vềmột câu thơcủa Virgile; cũng nhưsau khi đọc R.
Jacobson và Levi-Strauss phân tích vềNhững con mèo của Baudelaire không
ai lại cùng cảmthụgiống nhau vềbài thơnày trong khi đây lại là phê bình khoa
học có “suy lí, phán đoán”. A.France là một nhà văn lớn của Pháp nối giữa hai
thếkỉ; nhưng, nhưnhiều nhà sáng tác khác, khi bước sang lĩnh vực phê bình,
lí luận, chưa hẳn ông đã giữ được vịtrí đó.
Trởlại, phân biệt nhưTrầnĐình Sửvềhai loại văn phê bình của Hoài
Thanh là tiểu luận và phê bình, tôi nghĩlà đúng. Sau đó, ông còn tiếp tục nhấn
mạnh: “Thểloại phê bình thứhai của Hoài Thanh cầnđượcđịnh danh chính
xác là “bình thơ”, bởi ông quan niệm sự“phê” là không có mấy ý nghĩa. Phải
nói rằng đó là một quan niệm lí thú”.
Tuy nhiên, có lẽnhiệm vụcủa phê bình là phải vượt qua sựdu dương để
chỉra cơchếthao tác nghệthuật của riêng nhà thơ; qua đó mà thấy cái hay,
cái đẹp, chiều sâu của tác phẩm. Người sáng tác đọc cách phê bình đó sẽgiúp
anh ta được phần nào trong sáng tạo. Ngườiđọc bình thường cũng thấyđược
chiều sâu hấp dẫn của sáng tác qua lối phê bình khách quan đó. Trong
Thờihoàng kim của tiểu thuyết, Guy Scarpetta, một nhà phê bình có tiếng của
Pháp, cũng nhắc thoáng qua nhân liên hệvới “thờiđược ban phước lành của
phê bình” vào những năm 60-70 của thếkỉXX: “Tình thếcó chút ít vui vẻnhư
sau: từmột phía, đa sốcác giáo sư đại học thờ ơ với những gì được viết ra
vào chính thờiđại của họ; từphía kia, các nhà báo thường xuyên thu mình vào
lối “phê bình tính khí” (critique d’humeur), hoặc vào cái mà người ta gọiởthời
của Brunetière hay của Lemaợtre là “phê bình ấn tượng” (critique
impressioniste) (lối phê bình cho biết vềnhà phê bình hơn là vềtác phẩm), và
cũng không gặp phải chính cái nhu cầu sửdụng hoặcđặt ra những khái
niệm”(18).

Tôi nghĩ, ngày nay từsinh viên đến các nhà phê bình không còn ai dám
viết phê bình thơnhưkiểu Hoài Thanh nữa.
VũNgọc Phan (1904-1987): không hẹn mà nên, cùng trong năm 1942 cả
hai cuốn Thi nhân Việt Nam và Nhà vănhiệnđạiđều ra mắt bạnđọc: một
thuần vềthơ, một chủyếu vềvăn xuôi. Ngay trong Lời nói đầu, VũNgọc Phan
đã rất hiệnđại (theo nghĩa lối hành văn gần với chúng ta): trong thời buổi mà
người ta tựxưng là “bỉnhân”, gọi thanh niên là “công tử” hay “thiếu niên”, gọi
các nhà thơ, nhà văn là “tiên sinh”, là “người” cảmđộng, thành kính, ông gọi
bằng tên không: “Theo ý tôi, đó là một sựtôn trọng đệ nhất; vì viết vềcác nhà
văn, tôi muốnđối với thiên thu mà viết, tôi hi vọng tên các ông sẽtồn tại với
văn phẩm của các ông”(19). Văn của ông từtốn, điềmđạm, khô khan chứ
không bay bổng, thiết tha. Ví dụkhi nhận xét vềvăn Phạm Quỳnh, VũNgọc
Phan trích ra một câu dài vềcác thứ“tình” mà Phạm Quỳnh kê ra, rồi nhận xét:
“Thật là một câu dài dằng dặc chẳng khác nào những câu của Marcel Proust,
nhưng lại khác Marcel Proust là không hết ý, ở đoạn trên, dù ông đã kểbấy
nhiêu thứtình mà vẫn còn nhiều thứtình nữa; và đoạn dưới, dù ông đã kểra
mấy muôn mụcđích của tình dục, nhưng vẫn còn nhiều mụcđích nữa của thứ
tình này”(20). Khi viết vềNguyễn Tuân, vào đoạn kết, VũNgọc Phan lại một
lần nữa nhắcđến Proust: “Người ta hay nói đến những cái lôi thôi, những cái
dài dòng trong văn của Nguyễn Tuân, nhưng người ta quên không nhớrằng
Marcel Proust, Tourguenief còn dài dòng hơn nhiều, mà đó chỉlà những sự
diễn tảthành thực của tâm hồn”(21).
Đây là những nhậnđịnh chính xác, chứng tỏVũNgọc Phan đã đọc kĩ,
nắmđược cái thần và nội dung trong sáng tác của Proust. VũNgọc Phan còn
so sánh rấtđúng giữa TốTâm của Hoàng Ngọc Phách với VềTình yêu của
Stendhal, khi ông cho rằng TốTâm không phải là tiểu thuyết tâm lí: “Đọc
chương IV trong quyển De l’Amour của Stendhal (édition Flammarion), người
ta còn thấy thú vịhơn nhiều”(22). Với Trần Thanh Mại, ông sắc sảo, đáođể:
“Trần Thanh Mại thật không phải là một nhà phê bình dè dặt. Shakespeare và
Lord Byron là hai nhà đại thi hào của Anh và của cảthếgiới nữa, vậy mà “cũng

không ănđứtđược” Hàn Mạc Tử. Tôi dám chắc nếu nhà thi sĩnày còn sống,
cũng sẽphảiđỏ mặt vềnhững lời quá to tát của họTrần. Tôi không được cái
hân hạnh đọc toàn tập Cẩm châu duyên vì một lẽgiản dịlà nó chưa ra đời,
nhưng đọc những câu do Trần Thanh Mại trích và cho là hay tuyệt, tôi thấy cái
câu này của người Tàu bình phẩm người Việt Nam ta thậtđúng quá chừng
Người thì bé nhỏmà lại hay đại ngôn”(23). Nhịp hai câu đầu ngắn, chậm rãi,
“dè dặt”, nghe rất hiền lành chưa có gì bất ngờ,đến tận “cho là hay tuyệt” vẫn
bình yên, nhưng đến hai chữ “đại ngôn” hạcuối câu ba thì không còn “dè dặt”
nữa, khiến ta phải bật cười. Ta chỉcòn thấy giọng của người trích dẫn hơn là
giọng của ngườiđược trích dẫn.
Tất nhiên, nhà phê bình họVũchỉmớiđọc qua những câu trích Cẩm
châu duyên từTrần Thanh Mại, nếu ông đọc hết Hàn Mạc Tử, chắc sẽkhông
bi quan đến thế. Cũng nhưkhi viết vềVũTrọng Phụng, ông đã liên hệvới các
học thuyết của Freud, Janet, Piéron và cảvới Gustave Flaubert, Molière. Tuy
nhiên, với nhà văn cùng họVũ, ông đã phê bình có chỗchưa thật chính xác,
công bằng. Có lẽvì khi đó ông còn khá trẻ: Nhà văn hiệnđạiđược viết khi Vũ
Ngọc Phan mới ngoài 30 tuổi. Ngày nay đọc lại Nhà vănhiệnđại, cảmnhận về
sự đơn giản, vẫn còn sơsài là rất rõ. Đúng ra nó mới dừng ở “điểm danh” 78
nhà văn có tính chất văn học sửvềtrước tác của họ, sau đó khen chê một chút,
nhưng đó cũng đã là một cốgắng rất lớn rồi.
Trong chuyên luận Hàn Mạc Tử(24) (1942), Trần Thanh Mại (1911-1965)
đã dẫn tên một sốtác giảphương Tây, chủyếu là các nhà văn, nhà triết học,
chứkhông thấy nhà phê bình. (Nếu có một người dẫn nhiều nhà văn, nhà thơ
nhất thời bấy giờ, có lẽphải là Hoài Thanh qua hai cuốn Bình luận văn chương
và Thi nhân Việt Nam. Nhưng cảHoài Thanh cũng không thấy dẫn các nhà
phê bình Pháp nhưmấy người trước ông (Thiếu Sơn, Trương Tửu). Điềuđó
cũng cho thấy phần nào Hoài Thanh không bị ảnh hưởng gì mấy từphê bình
Pháp, mà nguồnảnh hưởng của ông vẫn theo lối phê bình mĩhọc cổ điển
phương Đông theo kiểu bình tán).

Nhìn chung Trần Thanh Mại vẫnđi theo con đường bám sát đời nhà thơ
theo phương pháp tiểu sử để lí giải thơ: ông đã nhắcđến Marcel Proust khi liên
hệbệnh hen suyễn với bệnh tật của thi sĩhọHàn: “Nhờcái bệnh nó đóng đinh
nhà văn suốtđời trên giường, Proust mới phát kiến ra thuyết “thời gian” nó là
một trong những tòa tưtưởng lộng lẫy cao siêu của nhân loại.
Lấy riêng vềcái trường hợp của thi sĩHàn Mạc Tử, thì ta phải nhận rằng
thuyếtấy là đúng”(25).
Tóm lại, con đường phê bình phương Tây vào Việt Nam ởnửađầu thếkỉ
XX không đượcđồng đều, mà tựphát, đúng ra là chưa có phong trào thực sự.
Mộtđiềuđáng lưu ý: ởgiai đoạn này, các nhà văn Pháp được trích dẫn
nhiều hơn so với dẫn các nhà phê bình. (Tôi sẽtrởlại ý này ởphần sau).
2. Phê bình văn họcởViệt Nam nửa sau thếkỉXX
Nửa sau thếkỉXX, phê bình Việt Nam đã có những bước tiến rất to lớn.
Ngay từnăm 1943, Đặng Thai Mai trong phần mở đầu Vănhọc khái luận(26)
trên Thanh Nghịvới bút danh Thanh Tuyềnđã xác định nghĩa chữ“văn học” và
ý nghĩa của “Văn học”: “Cũng nhưchữ“Littérature” trong tiếng Pháp, danh từ
“văn học” có hai nghĩa. Văn học là một bộmôn văn hóa và gồm tất cảnhững
công trình sáng tác vềvận văn hay tản văn. Văn học cũng có nghĩa là khoa
nghiên cứu vềcác ứng vănđó. Hiểu theo nghĩa thứhai này, văn học cũng là
một khoa học, nhưlà sửhọc, triết học, toán học, vật lý học, v.v...”. Sau đó ông
đề ra những nguyên tắc của “sáng tác văn nghệ”, mối “quan hệgiữa sinh hoạt
và văn hóa”, giữa “nội dung và hình thức” cùng những vấnđề vềphương pháp
sáng tác… Đặng Thai Mai đã dẫn rất nhiều những ý kiến phát biểu của các nhà
văn Pháp xung quanh vấnđề này. Có thểnói, Văn học khái luậnđã đánh dấu
một bước phát triển của phê bình Việt Nam trên con đường hiệnđại hóa, định
hướng cho sáng tác trong một thời kì dài những phương pháp luận quan trọng.

