Đề tài
Phiên dịch đối sánh 10 hồi đầu của
"Ngọc Kiều Lê" và "Ngọc Kiều Lê
tân truyện"
1.2. Tiểu thuyết Ngọc Kiều Lê
Tác phẩm Ngọc Kiều Lê mà chúng tôi gii thiệu và tuyển dch do Di
Thu Tn Nhân biên soạn, Phùng Vĩ Dân hiệu điểm, Nhà xuất bản Văn học
nhân dân, Bắc Kinh, năm 1999. Tiểu thuyết gồm 232 trang, viết từ trái sang
phải, lối chữ giản thể và được trình bày như sau: trang bìa; mc lc (2 trang)
ghi rõ tựa đề các hồi và s trang tương ứng; nội dung chính gồm 20 hồi kvề
chuyện tình giữa các cô gái Hồng Ngọc, Mộng Lê với chàng thư sinh Hữu
Bạch. Tuy người vẫn chưa biết mặt nhau nhưng cảm vì tài năng mà đem
lòng yêu mến, trải bao sóng gió nào nhận lầm nhau, lưu lạc, lừa đảo rồi ép
duyên nhưng cui cùng họ vẫn đoàn viên hnh phúc.
Ngọc Kiều Lê còn có tên là Song mĩ kì duyên, tuy vy vấn đề tác giả và
thi điểm ra đi tác phẩm vẫn chưa được xác định rõ, ángchừng được sáng
tác vào khoảng thời Minh Thanh. Trong cun Trung Quốc tiu thuyết s
lược, LTấn xếp tác phẩm này vào phn tiểu thuyết nhân tình đi Minh.
Trong khi đó, trong Trung Quốc tiểu thuyết sử cảo xuất bản năm 1960 của
Trường đại học Bắc Kinh, lại xem Ngọc Kiều Lê như một thứ văn chương rẻ
tiền nhân khi bàn về loại tiểu thuyết tài tử giai nhân thời Minh – Thanh.
Trong cái kho tàng quá ư đồ sộ của văn học Trung Quốc, giống n
Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Ngọc Kiu Lê chẳng có giá
trị gì mấy và có thxem rằng gần như bị lãng quên ngay trên chính mảnh đất
đã sinh ra nó. Tuy nhiên, ngay từ rất sớm, vào năm 1862, Ngọc Kiều Lê đã
được dịchng tiếng Pháp rồi sau đó là Anh, Đức, Hà Lan. Kho sách loin
của nội các Nhật Bảnng tàng trữ một bản đề là Trùng đính phê bình tú
tượng Ngc Kiều Lê tiểu truyện. Chính Lỗ Tấn trong cuốn Trung Quốc tiểu
thuyết sử lưc cũng thừa nhận rằng tác phẩm nàyđặc biệt ni tiếng ở nước
ngoài, vượt xa hơn là giá trị củaở Trung Quốc”.
Về mặt tư tưởng, tác phẩm xoay quanh mối quan hệ giữa chữ tình và
tài trong phẩm chất nhân vật nhưng tình vẫn là sợi dây xuyên suốt toàn b
câu chuyện. Vì trọng tình nghĩa mà người viết tra xem thường những kẻ giả
dối, hèn mạt, chịu luồn cúi mà chỉ đề cao cái tài hoa và tài tình như một ước
vọng cao cả để tìm kiếm. Các nhân vật trong truyện có những tư tưởng hết
sức tiến bộ về tình yêu hôn nhân, hsẵn sàng thôn kẻ quyền quí nếu
cảm thấy không tương tình, tương ý. Họ muốn tự quyết định số phận hôn
nhân như nhân vật Tô Hữu Bạch nếu thấy đó là người không tương xứng thì
dù cho người ta giàu sang đến đâu cũng kiên quyết chối từ. Như nhng câu
chuyện diễm tình khác, niềm tin về nhân quả thiện ác, ước mun hạnh phúc
sum vầy, đề cao cái tài hoa, tình người trong cuộc sống là nhng thành công
nhất định về mặt tư tưởng của tác phẩm.
Xét về nghệ thuật, Ngọc Kiều Lê có một lối dẫn chuyện cun hút,
những đoạn cao trào được nẩy lên bt ngờ và được diễn đạt bằng một thứ
ngôn ngdiễm lệ nhưng không sáo mòn, ý tứ lại rất chân phương, t nhiên.
Vì dung lượng của một cuốn tiểu thuyếtn đôi chỗ vẫn còn din đạt dài
dòng, rườm rà nhưng chung quy vẫn tạo dng nên được một thiên tình mng
mơ khó phai. Các nhân vật được khắc họa với thủ pháp ước lệ của n
chương cổ điển nhưng lại rất sống đng, thần thái ca kẻ xấu người tốt hiện
lên rõ ràng, rạch ròi, tiêu biểu cho thủ pháp miêu ttâm lí tài hoa tuyệt thế và
xấu xa tột cùng của tiểu thuyết cổ điển.
1.3. Truyện thơ Nôm Ngọc Kiều Lê tân truyện
Văn bản Nôm Ngọc Kiều Lê tân truyn đã được Trần Văn Giáp phiên
âm từ bản Ngc Kiều Lê tân truyện được tìm hiệu sách Thịnh Văn phố
Hàng Gai, Hà Ni, khắc in năm Mậu Tý, niên hiệu Đồng Khánh (1888). Theo
Kiều Thu Hoạch trong khi chnh lí, giới thiệu Ngọc Kiu Lê tân truyện có viết
tác phẩm này được diễn ca vào đầu thế kỷ XIX bởi Lí Văn Phức (1785-
1849), mt tác giả người Việt gốc Hoa, giữ chức quan cao đng thời là mt
nhà văn sáng tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Truyện được hoàn thành vào
những năm cuối đời, khoảng từ chuyến đi sứ sang Trung Quốc 1841 đến khi
ông mất năm 1849. Văn bản chúng tôi hiện về tác phẩm này là một văn
bản đã được Trần Văn Giáp phiên âm, khảo dị, chú thích rất rõ ràng, do nhà
xuất bản Khoa học xã hi Hà Nội ấn hành năm 1976.
Về nội dung, tác giả diễn ca đã khá trung thành vi cốt truyện ca tiểu
thuyết gốc và lược bđi những chi tiết rườm rà. Như tên gọi ca thiên truyện,
chung qui đây là một câu chuyện tình với những phân đoạn, tình huống, tình
tiết và kết thúc đặc trưng quen thuộc của loại tiểu thuyết tài tử giai nhân. Tuy
nhiên, mi câu chuyện vẫn có hoàn cảnh và lí lẽ của riêng nó, Ngọc Kiều Lê
tân truyn như vậy. Chính sách ràng buộc văn sĩ khắc khe của triu Thanh
hiện diện trong Ngọc Kiều Lê thì nay lại thấy thấp thng trong Ngọc Kiều Lê
tân truyn. Hơn ai hết, văn nhân họ Lí hiểu rõ chốn hoạn lộ phức tạp ba chìm
bảy nổi dưới nền chính ch kht khe triu Nguyễn và việc diễn ca Ngọc Kiều
như một hình thức giãi bày kín đáo ca tác giả. Dường như bóng dáng của
ông hiện lên qua nhân vật thư sinh hvà ở đó, cái hin thực xã hội như
bày ra ngổn ngang trước mặt, có cả tài hoa và sbịp bợm, tình yêu và tính đố
kị, tâm hồn thanh tao và thói dung tục tầm thường,...Đấy là những ưu điểm
nổi bật của truyện thơ. Song, giống Nhị độ mai, ý thức tôn quân trong hoàn
cảnh lch sử cụ thể cũng th hiện khá rõ ở nhà Nho Lí Văn Phức.
Về nghệ thuật, tác phẩm không phải là ngôi bảo tháp tráng lệ, đồ s
mà chỉ là một ngôi nhà nh để những tâm hồn biết thưởng thức ghé qua. Tình
người chân thành nên mi câu chữ cũng tự nhiên, dung d, văn chương lưu
loát và thỉnh thoảng điểm vào những câu thơ tao nhã, thi vị. Tác giả lại chu
ảnh hưởng rất nhiều từ phong cách của Nguyễn Tiên Điền trong Truyện Kiều
tuy vậy, mọi sự cố gắng chỉ dừng lại biên giới của sự học tập vừa phải chứ
không thể kế thừa và sáng to. Nhưng vẫn không thể phủ nhận việc Lín
Phức đã c gắng Việt hóa các thành ng Hán và sử dụng sao cho đúng ch
nên văn phong khá hàm súc, tránh được cái đơn điu, dễ dãi, nhàm tẻ như
thường thấy ở các truyện Nôm khuyết danh. Tuy khiêm nhường và giản dị
nhưng Ngọc Kiều Lê tân truyện vẫn đóng góp giá trị nhất định vào mảng
truyện thơ dàii thế kỷ XIX.
MỤC LỤC
DẪN
NHP............................................................................................................2