Product Placement: đưa sản phẩm vào phim
ảnh
PP th được xem là xuất hiện sau chiến tranh Thế gii thứ 2, khi mà
những công ty hàng đầu về ng tiêu dùng như Proter & Gamble đã đầu
cho những vở kịch truyền hình nhiều kỳ (soap operas) có sxuất hiện sn
phm của mình trong kịch bản. Cho đến những năm 60, cách m như vậy
không được ưa chuộng nữa khi nhà sn xuất tin rằng người tiêu dùng của
mình muốn một ranh gới rõ ng giữa Quảng cáo và Giải trí. Cuối những
năm 60 đầu những năm 70, thời ksóng n blặng của loại hình PP,
ngành Thuốc và Rượu đã tn dụng phát huy hết những li thế có được của
PP bng cách cho các din viên điện nh / truyền hình s dụng những
thương hiệu rượu cũng như thuốc lá trực tiếp trên màn bc. PP thực strở
li vào những năm 80 bằng bộ phim ET với hiện tượng doanh thu của kẹo
Reese’s Pieces (một loại kẹo bơ đậu phộng ca Hershey) tăng 65%.
V trí của PP trong phối thức Tiếp thị dễ dàng được hình dung như sau: Phối
thức tiếp thị bao gồm 4P - Sn phẩm (Product), Kênh phân phi (Place), Giá
(Price) Chiêu th(Promotion) - nghĩa là sản phẩm nào người mua đang
cần, nơi nào n sản phẩm đó, với mức giá ra sao và làm thế nào để người
mua biết tng tin về sản phẩm đó.
Đối vi P cuối cùng trong phi thức tiếp thị, là Promotion (làm thế nào để
người mua biết thông tin vsản phẩm), cũng được chia ra thành những phần
khác nhau được gọi là phi thức chiêu th (Promotion mix). Phối thức
chiêu th được cấu thành t n hàng trực tiếp, Khuyến mãi, Quảng cáo
Quan h cộng đồng. ng cđể thực hiện chức năng Quan hcộng đng có
rất nhiều loại, tuy nhiên có một ng cchưa được đề cập đến, nhưng theo
một số nhà nghiên cứu thì nó ngàyng được phổ biến hơn, đó là PP.
CÁCH THỨC SỬ DỤNG PP
Được xem như một cách chiêu thmới, cho nên ban đầu các ng ty chưa
biết cách liên hnhư thế nào với các nhà m phim hay c nhà làm chương
trình truyền hình để họ sử dụng sản phẩm ca mình. Hu hết, những xưởng
phim (studio) ssử dụng PP vì 3 do sau: thnhất, chương trình hay b
phim của họ s trở nên thật (realism) hơn; th hai, gim chi phí; th ba,
không phải quảng cáo không công cho bất cứ một nhãn hiệu nào cả. Bộ phận
PP ca xưởng phim thể liên hvới các công ty vấn qung cáo để đáp
ứng nhu cầu ca họ, nó có thể là một bộ đồ gỗ, một chiếc xe i thể thao hay
một cái y tính cá nhân…hoặc bộ phận PP thể liên htrực tiếp với các
công ty sn xuất để có thể có được sản phẩm mà họ cần.
Về phía nhà sản xuất (advertiser), họ thường sử dụng cácng ty vấn
quảng cáo và liên hệ trực tiếp với các công ty này. Những công ty tư vấn này
s là sợi liên lạc giữa xưởng phim người quảng cáo (advertiser). Một
công ty th thuê một ng ty vấn để sản phẩm của họ được xuất hiện
trong một phim hay chương trình truyn hình. Thường thì một hợp đồng s
được ký dựa trên mt lượng PP trong một năm. Các ng ty vấn này s
đọc qua c kịch bản phim và chọn những cảnh phim thích hợp thsử
dụng sản phẩm ca khách hàng nh. một vài ng ty t quản PP theo
cách riêng của mình, lúc này các ng ty tư vấn chỉ là trung gian cung cp
những cảnh phim thích hợp cho họ chọn lựa xem xét sau đó các ng ty
này sẽ trực tiếp liên hvới ng phim để sản phẩm của mình được sử dụng
trong những cảnh quay mà họ đã chn.
Tuy nhiên đến thời điểm này, Ngành Qung Cáo và Giải Tvẫn chưa phát
triển thực sphổ biến. Nghĩa là vn còn nhng khoảng trống về cung cầu
của PP giữa 2 ngành. Ngành giải trí hiện đã xác định được là PP rất cần thiết
cho họ, trong khi ngành Quảng cáo cũng hiểu rằng PP rất hữu ích cho khách
hàng ca mình. Thế những vẫn chưa được sự thống nhất tin tức giữa hai
ngành. Một khi PP được chấp nhận như một phần ca Phối thức tiếp thị thì
việc xác định cung cầu ca PP sgiúp người làm tiếp thị những quyết
định chính xác và giá tr hơn