intTypePromotion=1
ADSENSE

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới

Chia sẻ: AtaruMoroboshi _AtaruMoroboshi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

29
lượt xem
3
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát phát triển kinh tế tư nhân. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của thành phần kinh tế này trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ đổi mới

  1. 78 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI TS. Ngô Thái Hà Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội ThS. Nguyễn Đức Khiêm Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc Tóm tắt: Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã khẳng định yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hơn ba thập kỷ qua, sự đổi mới tư duy của Đảng về phát triển kinh tế thể hiện trong nhiều văn bản, nghị quyết và chiến lược, đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Những thay đổi trong chính sách và tư duy của Đảng đã được hiện thực hóa thông qua các chính sách, luật, quy định và biện pháp khác nhau của Chính phủ nhằm phát triển khu vực tư nhân nói chung và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng ở Việt Nam. Bài viết, trình bày quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát phát triển kinh tế tư nhân. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của thành phần kinh tế này trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay. Từ khóa: Kinh tế tư nhân, phát triển kinh tế tư nhân, động lực của nền kinh tế. VIEWPOINTS OF THE VIETNAMESE PARTY ON PRIVATE ECONOMIC DEVELOPMENT IN THE INNOVATION PERIOD Abtract: The Resolution of the fifth conference of the 12th Party Central Executive Committee affirmed the demand for private economic development to become the driving force of the socialist-oriented market economy. Over the past three decades, the Party's innovative thinking about economic development is embodied in many documents, resolutions and strategies, playing an important role in the development of the private sector. The changes in the Party's policy and thinking have been realized through various policies, laws, regulations and measures of the Government to develop the private sector in general and private enterprises say in Vietnam. The article presents the views and guidelines of the Communist Party of Vietnam on the development of private economic development. Thereby, propose some solutions to further promote the role of this economic component in the process of accelerating industrialization and modernization and proactively integrating into the international economy in our country today. Keywords: Private economy, private economic development, the driving force of the economy.
  2. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 79 1. MỞ ĐẦU Quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân luôn nhất quán, ngày càng được hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng và đóng vai trò quyết định trong việc thúc đNy sự phát triển của thành phần kinh tế này trong cơ cấu các thành phần của nền kinh tế quốc dân. Đặc biệt là trong đại hội XII của Đảng - Đại hội tiến hành vào thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng, là kỳ Đại hội nhìn lại 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, 5 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và 2 năm thực hiện Hiếp pháp 2013, là Đại hội của “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đổi mới”, thể hiện bản lĩnh, ý chí kiên cường và quyết tâm đi tới của cả dân tộc vì một nước Việt N am dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt N am cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện hiện đại vào năm 2020, Đại hội XII đã xác định 6 nhiệm vụ trong tâm, trong đó, tập trung các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế được xem là nguồn động lực quan trong để phát triển đất nước trong điều kiện mới. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn nhằm thống nhất về mặt nhận thức, tạo ra những chuyển biến về hành động để kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1. Quá trình nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế tư nhân và vai trò của kinh tế tư nhân từ Đại hội VI đến Đại hội XII Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12/1986 là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi tư duy của Đảng và N hà nước về kinh tế tư nhân. Với chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế, khu vực tư nhân đã được chính thức công nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế nhiều thành phần. Hiệu quả tức thời của sự công nhận này là sự phát triển mạnh mẽ của các hộ kinh doanh cá thể. Đây là hình thức kinh tế tư nhân phát triển rõ nét nhất trước khi Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty được chính thức thông qua vào năm 1990. Hai luật này đã tạo nền tảng pháp lý cần thiết và quan trọng cho việc thành lập của các doanh nghiệp tư nhân đầu tiên ở nước ta. Khu vực kinh tế tư nhân sau đó được mở rộng với sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân nước ngoài khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt N am được thông qua vào năm 1987. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, các yêu cầu cũng như điều kiện gia nhập thị trường theo quy định của hai luật này còn hết sức ngặt nghèo khiến việc thành lập doanh nghiệp vẫn còn hạn chế và phức tạp. Kinh tế tư nhân được dùng để chỉ các thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Cả hai thành phần kinh tế trên đều dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, tuy nhiên quy mô sở hữu là khác nhau. Thực tế cho thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân trong cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của N hà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng ta kể từ khi
  3. 80 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM thực hiện đường lối đổi mới. Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(1). N hư vậy, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế. Quan điểm của Đảng về sở hữu và các thành phần kinh tế nói chung, về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân nói riêng có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, được bổ sung và hoàn thiện dần qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Các quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân thể hiện tập trung trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước, Văn kiện đại hội Đảng, N ghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương và trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bắt đầu từ Đại hội VI (12/1986), nền kinh tế nhiều thành phần đã được thừa nhận chính thức trong văn kiện Đảng. Đại hội VI chỉ rõ: “Cần sửa đổi, bổ sung và công bố rộng rãi chính sách nhất quán đối với các thành phần kinh tế...Xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau”(2). Trong khi khẳng định cần phải: “Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện”(3), Đảng ta đã nhận ra tính tất yếu và sự cần thiết tồn tại nhiều thành phần kinh tế trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ: “Bằng những biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa”(4). N hư vậy, các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được thừa nhận sự tồn tại và hoạt động dưới sự chỉ đạo, dẫn dắt của thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên lúc này, kinh tế tư nhân nói riêng, các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa nói chung vẫn được coi là đối tượng phải “cải tạo”, bằng những hình thức và bước đi thích hợp, tránh chủ quan nóng vội mà cần có chính sách sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế khác. N gày 5/4/1988, Bộ Chính trị chính ra N ghị quyết 10, Đảng đã nhận thức rõ sai lầm trong mô hình hợp tác xã trước đổi mới: Chủ quan, nóng vội, gò ép nhân dân vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, đưa hợp tác xã lên sản xuất quy mô lớn khi trình độ quản lý, trình độ của lực lượng sản xuất chưa phát triển tương ứng, việc hợp tác hóa triệt để tư liệu sản xuất trong khi không đủ khả năng quản lý là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mô hình hợp tác xã không (1). N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/N ghi-quyet-10-N Q-TW-2017-phat-trien-kinh- te-tu-nhan-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-351478.aspx, truy cập ngày 24/7/2019. (2). Đảng Cộng sản Việt N am, 2005. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), N xb Chính trị quốc gia Hà N ội, tr.63. (3). Sđd, tr. 44. (4). Sđd, tr. 44.
  4. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 81 phát triển và lâm vào khủng hoảng, trước thực tế này, Đảng ta chỉ rõ: “N hà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể, tư nhân trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội; thừa nhận tư cách pháp nhân, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, bảo hộ quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể, tư nhân và quyền thừa kế sử dụng doanh nghiệp của con cái họ; tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các thành phần này phát triển trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, khai thác thuỷ, hải sản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp và mở mang ngành nghề ở nông thôn. Mọi hành vi xâm phạm các quyền nói trên đều phải xử lý theo pháp luật; các định kiến hẹp hòi đối với kinh tế cá thể, tư nhân phải được xoá bỏ”(5). N hư vậy, Đảng đã công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế cá thể tư nhân, đồng thời đưa ra các quy định pháp lý nhằm đảm bảo quyền làm ăn chính đáng và thu nhập hợp pháp của các hộ cá thể tư nhân. N ghị quyết đưa ra 3 quyết định quan trọng trong quản lý nông nghiệp: (1). Coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ. Hộ nông dân là đơn vị nhận khoán với hợp tác xã, được giao đất ổn định để sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp là 15 năm, mức khoán ổn định 5 năm, được tự chủ hoàn toàn về vốn, khoa học công nghệ,..trong quá trình sản xuất, được làm chủ hoàn toàn các sản phNm làm ra sau khi nộp thuế nông nghiệp cho nhà nước; (2). Tạo điều kiện cho người nông dân tự do cả đầu vào như vật tư, phân bón và đầu ra là sản phNm nông nghiệp trên thị trường theo cơ chế “thuận mua vừa bán”; (3).Chuyển hợp tác xã sang làm công tác dịch vụ cho nông dân. Có thể nói, các quy định trên là bước khởi đầu quan trọng mở đường cho kinh tế tư nhân phát triển. Tiếp tục tư tưởng của Đại hội VI và N ghị quyết 10-N Q/TW, ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) của Đảng đã đưa ra quan điểm rõ ràng hơn về việc khuyến khích và tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển: “Kinh tế tư nhân được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của N hà nước”(6). Đồng thời, Tại kỳ Đại hội này, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà luật pháp không cấm”(7). N hư vậy, từ chỗ coi kinh tế tư bản tư nhân là một thành phần kinh tế “tàn dư” của chế độ xã hội cũ, có thể sử dụng nhưng cần “cải tạo” bằng những bước đi thích hợp, Đại hội VII đã thực sự coi kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế độc lập, có tiềm năng phát triển và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Từ đánh giá: “Chính sách kinh tế nhiều thành phần đã góp phần to lớn giải phóng và phát triển sức sản xuất, đưa đến những thành tựu kinh tế - xã hội quan trọng qua 10 năm đổi mới”, Đại hội VIII (6/1996) tiếp tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách này, khuyến khích mọi doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước khai thác các tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật, không phân biệt sở hữu (5). N guồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/N ghi-quyet-10-N Q-TW-1988-doi-moi-quan-ly-kinh- te-nong-nghiep-202545.aspx. (6). Đảng Cộng sản Việt N am , 2005, Sđd, tr. 275. (7). Đảng Cộng sản Việt N am , 2005, Sđd, tr.344.
  5. 82 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM và hình thức tổ chức kinh doanh”(8). Văn kiện Đại hội VIII khẳng định việc đối xử bình đẳng với mọi thành phần kinh tế, đồng thời cần tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà đầu tư, doanh nghiệp tư nhân yên tâm làm ăn lâu dài. Bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân thể hiện trong Văn kiện Đại hội IX (1/2001), khi Đảng ta khẳng định: kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chỉ rõ: “Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm”(9). Từ chỗ cho rằng: “Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập”(10) được nêu ra trong Đại hội VII (1991) đến Đại hội IX (2001) qua thực tiễn 10 năm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh mới, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mới: “Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của N hà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động, liên doanh, liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước”(11) và khẳng định: “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”(12). Để thực hiện N ghị quyết Đại hội IX của Đảng, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, không ngừng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, tạo thêm nhiều việc làm, có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao, đầu tư nhiều hơn vào khu vực sản xuất, tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động công ích, hợp tác liên doanh với nhau, với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế,..tại Hội nghị trung ương năm Ban Chấp hành trung ương khóa IX đã ra N ghị quyết số 14-N Q/TW ngày 18/3/2002, về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. N ghị quyết xác định: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa”(13). Đây là lần đầu tiên kể từ khi đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương có một N ghị (8). N guồn: http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu- viii/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vii-ve-cac-van-kien-trinh-dai-hoi-viii-cua-dang- 1551, truy cập ngày 24/7/2019. (9). Đảng Cộng sản Việt N am (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.98. (10). Đảng Cộng sản Việt N am (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII,IX), N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.319. (11). Cộng sản Việt N am (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX , N xb Chính trị quốc gia Hà N ội, tr.98 - 99. (12). Cộng sản Việt N am (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX , N xb Chính trị quốc gia Hà N ội, tr.95 - 96. (13).N guồn:http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa- ix/nghi-quyet-so-14-nqtw-ngay-1832002-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-ix-ve- tiep-tuc-doi-moi-co-650, truy cập ngày 24/7/2019.
  6. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 83 quyết chuyên đề về kinh tế tư nhân. Thực hiện N ghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, toàn bộ hệ thống chính trị trong cả nước quán triệt, xây dựng chương trình hành động, nhiều văn bản quy phạm pháp luật: Luật Đất đai (2003), Luật Doanh nghiệp (2005), Luật Đầu tư (2007),..đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung khá đồng bộ, tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi, tạo tâm lý xã hội tốt cho kinh tế tư nhân phát triển. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chủ động, tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp của tư nhân. Chính sự hỗ trợ đó, đã thu hút mạnh mẽ các nguồn lực vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu ngân sách N hà nước, góp phần tích cực vào tăng trưởng nhanh nền kinh tế, không ngừng cải thiện đời sống nhân dân, qua đó tăng thêm lòng tin của nhân dân vào chủ trương của Đảng và chính sách của N hà nước về phát triển kinh tế tư nhân. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế, thành phần kinh tế tư nhân vẫn tăng trưởng tốt. Cùng với các thành phần kinh tế khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất. Bên cạnh, việc ghi nhận những đóng góp quan trọng của kinh tế tư nhân trong sự phát triển của đất nước, N ghị quyết cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém của kinh tế tư nhân nước ta là: Phần lớn có quy mô nhỏ, vốn ít, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu, ít đầu tư vào lĩnh vực sản xuất; còn có nhiều khó khăn, vướng mắc về vốn, về mặt bằng sản xuất, kinh doanh, về môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội. Trên cơ sở đó, N ghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa IX đã thống nhất chủ trương và đề ra các giải pháp cụ thể nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý và tâm lý xã hội để các doanh nghiệp tư nhân phát triển rộng rãi trong những ngành, nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm, không hạn chế về quy mô, nhất là trên những định hướng ưu tiên của nhà nước. Đại hội X (4/2006) của Đảng tiếp tục xác định vị trí và định hướng phát triển các thành phần kinh tế chủ yếu. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để N hà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế đất nước, tạo môi trường và điều kiện thúc đNy các thành phần kinh tế cùng phát triển. N gày 28/8/2006, tại Hội nghị Trung ương ba khóa X lần đầu tiên, vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân được Đảng ta chính thức nêu ra và có quy định cụ thể: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải trực tiếp tham gia lao động (lao động quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh; lao động kỹ thuật hoặc lao động chân tay); có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; phải gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng”(14). Quy định này cho thấy, Đảng ta rất thận trọng nhưng cũng đã mở đường cho đảng viên được kinh doanh hợp pháp. Cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân chính là huy động, phát huy tiềm năng của mọi công dân, trong đó có đội ngũ đảng viên, tạo động lực để thúc đNy phát triển kinh tế - xã hội. Đảng có những khẳng định mới về vai trò của kinh tế tư nhân khi coi kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành không thể thiếu, có vị trí quan trọng đặc biệt và ý nghĩa chiến lược trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong (14). N guồn: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quy-dinh-15-QD-TW-dang-vien-lam-kinh-te-tu- nhan-69011.aspx, truy cập ngày 24/7/2019.
  7. 84 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM những năm tiếp theo của công cuộc đổi mới đất nước. Đại hội XI (1/2011) của Đảng tiếp tục xác định phải hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế và chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”(15). Có thể thấy, quan niệm coi kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế trong hai kỳ Đại hội X và XI, đặc biệt là quy định số 15/QĐ-TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành trung ương phản ánh bước tiến mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta. Phát triển kinh tế tư nhân là một trong những nội dung lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay. Quan điểm Đại hội XII của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay thể hiện ở các điểm sau đây: Một là, tiếp tục khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân không phải là sản phNm của xã hội cũ mà là sản phNm của công cuộc đổi mới, ra đời gắn liền với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, với hiện thực hoá quá trình đổi mới tư duy lý luận kinh tế của Đảng và sự nhận thức rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta: “N ền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt N am có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,..các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật”(16). Quan điểm này, được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh trong N ghị quyết số 10-N Q/TW ngày 3/6/2017, khẳng định tính tất yếu và vai trò động lực quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta: “Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh theo cơ chế thị trường là một yêu cầu khách quan, vừa cấp thiết, vừa lâu dài trong quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta; là một phương sách quan trọng để giải phóng sức sản xuất; huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỉ trọng đóng góp trong GDP”(17). Điều này cho thấy, phát triển kinh tế tư nhân là chủ trương nhất quán, là vấn đề chiến lược lâu dài trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Hai là, khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. N hững đóng góp tích cực của kinh tế tư nhân đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm qua là góp phần giải quyết công (15). Đảng Cộng sản Việt N am (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội, tr.101. (16). Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.102 - 103. (17).N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-10-NQ-TW-2017-phat-trien- kinh-te-tu-nhan-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-351478.aspx. Cập nhật ngày 24/7/2019.
  8. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 85 ăn việc làm cho người lao động; huy động các nguồn vốn trong nhân dân, trong xã hội vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thúc đNy tăng trưởng kinh tế và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước; tạo môi trường kinh doanh, thúc đNy phát triển thể chế kinh tế thị trường định hướng chủ nghĩa xã hội và góp phần đNy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt N am. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2016, khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng 500 nghìn doanh nghiệp, chiếm gần 90% số doanh nghiệp của cả nước. Trong giai đoạn 2006 - 2015, so với khu vực kinh tế nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sản lượng hàng hóa vận chuyển. Trong thời gian tới, khu vực kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục đóng góp khoảng 30% ngân sách và khoảng 40% GDP của cả nước. Đặc biệt, khu vực kinh tế tư nhân thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm, góp phần quan trọng vào quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt tạo việc làm mới cho những đối tượng bị giảm biên chế hoặc mất việc làm do quá trình tinh giản bộ máy hành chính, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hay dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn(18). Số liệu thống kê về kinh tế tư nhân cho thấy vai trò quan trọng, không thể thiếu của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Đại hội XII khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” và “Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.”(19). N hư vậy, đánh giá về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong Đại hội XII có bước phát triển mới, nhấn mạnh rõ hơn, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Đây là bước tiến quan trọng trong tư duy, quan điểm của Đảng về vai trò của các khu vực kinh tế nhìn từ phương diện sở hữu. Khu vực kinh tế nhà nước thông qua cổ phần hóa sẽ dần nhường chỗ cho khu vực kinh tế tư nhân thực hiện vai trò động lực tăng trưởng, bởi khu vực kinh tế tư nhân có sự năng động, thích ứng nhanh với biến động đa chiều của nền kinh tế thị trường nói riêng, nền kinh tế số hiện nay nói chung . Ba là, tiếp tục cải thiện môi trường, điều kiện kinh doanh, thúc đNy kinh tế tư nhân phát triển trong điều kiện hội nhập quốc tế. Chủ trương hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trong đó chú trọng hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp, đồng thời khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước: “Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp. Khuyến (18). Minh N guyễn (2017), Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, truy cập ngày 24/7/2019, từ: http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-te-tu-nhan-la-dong-luc-quan-trong-cua-nen-kinh-te- 436696.html. (19). Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.103 - 108.
  9. 86 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước”(20). Để hiện thực hoá chủ trương tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho phát triển các thành phần kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân, Đại hội XII của Đảng xác định tiếp tục thống nhất nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Trong đó, mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật, doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Hội nghị Trung ương năm khóa XII đã ban hành N ghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, với mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong tổng sản phNm nội địa. N ghị quyết là một bước tiến mới, tạo động lực thúc đNy phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân và toàn bộ nền kinh tế. Đồng thời, thể hiện đường lối, quan điểm nhất quán của Đảng, N hà nước ta về kinh tế tư nhân. N ghị quyết đã khơi nguồn cho quá trình đổi mới nhận thức, là cơ sở để các lực lượng kinh tế tư nhân trước đây bị kìm hãm hoặc bị hạn chế được bung ra, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức sáng tạo và phát huy toàn diện vai trò của kinh tế tư nhân trong mọi công đoạn của chuỗi giá trị sản xuất, để kinh tế tư nhân phát triển nhanh hơn, mạnh mẽ hơn và lành mạnh, đúng đắn hơn ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, tạo thêm sức mạnh và động lực để hội nhập sâu hơn, khai thác các thành phần kinh tế có nhiều tiềm năng một cách tốt hơn, là điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ cao để tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. 2.2. Một số giải giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế tư nhân hiện nay Việt N am đặt mục tiêu phấn đấu có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp (năm 2020), hơn 1,5 triệu doanh nghiệp (năm 2025) và có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp (năm 2030). Tốc độ tăng trưởng của kinh tế tư nhân cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế. Phấn đấu tăng tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP để đạt khoảng 50% GDP (năm 2020), khoảng 55% GDP (năm 2025) và 60 - 65% GDP (năm 2030). Thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ, chất lượng nhân lực và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân so với nhóm dẫn đầu ASEAN -4; nhiều doanh nghiệp tư nhân tham gia mạng sản xuất, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu(21). Để đạt được mục tiêu đặt ra cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: (20). Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.108. (21).N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-10-NQ-TW-2017-phat-trien- kinh-te-tu-nhan-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-351478.aspx. Cập nhật ngày 24/7/2019.
  10. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 87 Một là, tiếp tục đổi mới nhận thức về kinh tế tư nhân. Cần có sự thống nhất nhận thức trong xã hội về khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân. Xây dựng cơ chế, chính sách định hướng sự phát triển của kinh tế tư nhân; hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật về kinh tế tư nhân. Đảng ta chỉ rõ: “Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội về khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân. Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân”(22). Bên cạnh đó, cần sửa đổi một số cơ chế, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân: chính sách đầu tư, tín dụng, chính sách về mặt bằng sản xuất, chính sách thuế, chính sách đào tạo, tiền lương, thu nhập và bảo hiểm xã hội... Phát huy thế mạnh và tiềm năng to lớn của kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với khắc phục có hiệu quả những mặt trái, những tiêu cực phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế tư nhân. Hai là, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. N hà nước cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đNy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư tư nhân vào hoạt động kinh tế tư nhân theo cơ chế thị trường. Không biến các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân thành chính sách bao cấp, phục vụ “lợi ích nhóm” dưới mọi hình thức. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia. ĐNy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công, tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Hỗ trợ kinh tế tư nhân tiếp cận, khai thác các cơ hội trong hội nhập quốc tế, mở rộng thị trường, đNy mạnh đầu tư và thương mại quốc tế. Tạo điều kiện để kinh tế tư nhân phát triển, nâng cao năng lực từng bước tham gia sâu, vững chắc vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Ba là, hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động. Khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Chuyển giao công nghệ tiên tiến. Bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về sở hữu trí tuệ. Phát triển các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Áp dụng chính sách thuế, hỗ trợ tài chính, tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi phù hợp với hoạt động nghiên cứu, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ. ĐNy mạnh thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển nguồn nhân lực. N âng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, đặc biệt là đào tạo nghề, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng đủ nhu cầu số lượng và chất lượng nhân lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát triển đào tạo theo nhu cầu sử dụng của doanh nghiệp và thị trường. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và phát triển đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý hiện đại, đạo đức kinh doanh, tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. (22).N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-10-NQ-TW-2017-phat-trien-kinh-te-tu- nhan-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-351478.aspx. Cập nhật ngày 24/7/2019.
  11. 88 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM Bốn là, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Cần xây dựng khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi hơn, bình đẳng hơn cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển. N âng cao năng lực xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật, chính sách, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, an toàn cho kinh tế tư nhân phát triển lành mạnh, đúng định hướng. Tăng cường hiệu quả công tác giám sát, kiểm tra, trách nhiệm giải trình của chính quyền các cấp đối với việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của N hà nước về phát triển kinh tế tư nhân. Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh, cấp phép, thuế, giải quyết tranh chấp,…Tăng cường cơ chế đối thoại có hiệu quả giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp nhằm nắm bắt, xử lý kịp thời các vướng mắc liên quan đến phát triển kinh tế tư nhân. Năm là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội. N hà nước tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp tư nhân, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Mạnh dạn giao cho các doanh nghiệp tư nhân có đầy đủ điều kiện đảm nhiệm các lĩnh vực quan trọng của N hà nước. Với những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế, vào nguồn ngân sách N hà nước, giải quyết việc làm, tham gia đóng góp ngày càng sâu, rộng trong việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội trong suốt thời gian qua, kinh tế tư nhân không chỉ là thành phần kinh tế quan trọng thời kỳ đNy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mà còn là đầu kéo quan trọng để phát triển kinh tế. Do đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tích cực phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước để cung cấp thông tin, hỗ trợ liên kết, hợp tác kinh doanh, đào tạo kỹ thuật và tư vấn cho doanh nghiệp tư nhân. Để hiện thực hóa mục tiêu: Phát triển kinh tế tư nhân lành mạnh, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong bối cảnh tình hình khu vực và quốc tế có nhiều biến động khó lượng hiện nay, cần tập trung vào ba nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, về thể chế chính sách do còn nhiều định kiến về kinh tế tư nhân, nhất là ở cấp cơ sở. Bởi vậy, các cơ quan N hà nước các cấp tùy theo thNm quyền cần khNn trương xây dựng, ban hành khung pháp lý, cơ chế, chính sách nhằm cụ thể hóa và củng cố định hướng chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần N ghị quyết Số: 10-N Q/TW ngày 3/6/2017 của Ban Chấp hành Trung ương và Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa mới được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt N am thông qua 12/06/2017. Trong đó, phải tập trung vào việc thực hiện đồng bộ các giải pháp để đảm bảo chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân một cách thực chất thông qua các chính sách hỗ trợ về lãi suất, ưu đãi về thuế, đất đai, giải phóng mặt bằng...;Tăng cường năng lực nghiên cứu và
  12. PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở HẢI PHÒNG - VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 89 phát triển, đổi mới công nghệ và các giải pháp tài chính, tín dụng; Thực hiện công khai minh bạch các quy hoạch, kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đNy liên kết tích cực giữa các ngành kinh tế, các chủ thể kinh tế và các không gian kinh tế; Khắc phục triệt để tình trạng các doanh nghiệp lớn chi phối, lấn át các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận các nguồn lực và cơ hội kinh tế. Các cơ chế, chính sách phải tích hợp được với nhau và về tổng thể khung pháp lý phải hình thành nên một trật tự sản xuất kinh doanh “mới và có độ mở cao” với các quan hệ đa dạng, nhiều chiều hơn giữa các chủ thể khác nhau, tôn trọng nguyên tắc thị trường, tôn trọng pháp luật và để cạnh tranh lành mạnh thực sự trở thành động lực chính yếu giữa các doanh nghiệp. Thứ hai, thực hiện triệt để cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, bộ, ngành và chính quyền địa phương theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Thông qua việc xây dựng cơ chế “một cửa điện tử” thống nhất đầu mối tiếp nhận và xử lý hồ sơ; Hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính. Trong đó, tập trung vào cải thiện việc tiếp cận các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh; Giảm thời gian, chi phí tuân thủ các thủ tục về thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, xây dựng; Rút ngắn thời gian đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản; Hoàn thiện pháp luật về chế độ sở hữu rõ ràng kể cả đối với bất động sản, ruộng đất...Thực hiện có hiệu quả vấn đề này, không chỉ góp phần ngăn ngừa xung đột trong xã hội mà còn góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả. Mặt khác, khi pháp luật về sở hữu rõ ràng, minh bạch, một mặt tạo hành lang pháp lý an toàn, mặt khác là cơ sở khoa học đảm bảo sự hợp tác, gắn kết giữa các doanh nghiệp. Đồng thời, tình trạng các nhà đầu tư tư nhân và các doanh nghiệp phải “bôi trơn” để các dự án nhanh được ký kết sẽ giảm và đi đến chấm dứt triệt để, làm tăng sự cạnh tranh lành mạnh và thực sự trở thành nguồn nội lực của các doanh nghiệp - thành tố quan trọng tạo môi trường kinh doanh bền vững. Thứ ba, đNy mạnh hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực quản trị. Trong đó, chú trọng chất lượng, hiệu quả đào tạo; Đào tạo có trọng tâm, trọng điểm và ưu tiên đào tạo nhân lực cho khu vực kinh tế tư nhân trong một số ngành, lĩnh vực theo đặt hàng của doanh nghiệp. Các chương trình hướng nghiệp, giáo dục kinh doanh phải được giới thiệu và phổ biến rộng rãi trên phạm vi cả nước ngay từ bậc học trung học cơ sở, trung học phổ thông và các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề; Giải quyết kịp thời các vướng mắc, khiếu nại, kiến nghị của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Tăng cường coi trọng việc tổ chức hội nghị tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, công bố số điện thoại đường dây nóng, hộp thư điện tử để tiếp nhận và trả lời, giải đáp những vướng mắc kịp thời của doanh nghiệp ở các cấp, ngành. 3. KẾT LUẬN Đại hội XII của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân để tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng mọi cơ hội, các nguồn lực, nhất là về vốn, đất đai, tài nguyên. Thúc đNy xã hội hóa sở hữu và sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển các hình thức doanh nghiệp cổ phần. Tăng
  13. 90 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM cường trợ giúp để phát triển mạnh doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ gia đình, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp”(23). Vấn đề đặt ra hiện nay là phải tạo sự nhất trí trong Đảng, sự thông suốt trong đảng viên và sự đồng thuận trong nhân dân và toàn xã hội về phát triển kinh tế tư nhân, nhằm tạo niềm tin và sự yên tâm thực sự đối với các nhà đầu tư tư nhân và các doanh nhân có tiềm lực bỏ vốn ra kinh doanh nhằm mục tiêu ích nước, lợi nhà, phục vụ mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đó chính là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang ra sức xây dựng. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đảng Cộng sản Việt N am (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội. 2. Đảng Cộng sản Việt N am (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội. 3. Đảng Cộng sản Việt N am (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội. 4. Đảng Cộng sản Việt N am (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, N xb Chính trị quốc gia, Hà N ội. 5. Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội. 6. Minh N guyễn (2017), Kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, truy cập ngày 24/7/2019, từ: http://www.dangcongsan.vn/kinh-te/kinh-te-tu-nhan-la-dong-luc-quan-trong- cua-nen-kinh-te-436696.html. 1. 7.N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Nghi-quyet-10-NQ-TW-2017-phat- trien-kinh-te-tu-nhan-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-351478.aspx, truy cập ngày 24/7/2019, truy cập ngày 24/7/2019. 2. 8.N guồn:http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi- dang/lan-thu-viii/bao-cao-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-vii-ve-cac-van-kien- trinh-dai-hoi-viii-cua-dang-1551, truy cập ngày 24/7/2019, truy cập ngày 24/7/2019. 3. 9.N guồn:http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung- uong/khoa-ix/nghi-quyet-so-14-nqtw-ngay-1832002-hoi-nghi-lan-thu-nam-ban-chap-hanh- trung-uong-dang-khoa-ix-ve-tiep-tuc-doi-moi-co-650, truy cập ngày 24/7/2019. 4. 10.N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Quy-dinh-15-QD-TW-dang-vien- lam-kinh-te-tu-nhan-69011.aspx, truy cập ngày 24/7/2019. 5. 11.N guồn:https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/N ghi-quyet-10-N Q-TW-1988-doi- moi-quan-ly-kinh-te-nong-nghiep-202545.aspx. Cập nhật ngày 9/9/2019. (23). Đảng Cộng sản Việt N am (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà N ội, tr.292.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2