
i
LỜI MỞ ĐẦU
Mười ba năm qua, kể từ khi quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam
và cộng đồng tài trợ quốc tế được nối lại, chúng ta đã nhận được nhiều sự hỗ
trợ quý báu về vốn và kinh nghiệm quản lý của Ngân hàng Thế giới (WB),
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và các tổ chức tài chính đối với mục tiêu phát triển
kinh tế đất nước theo đòi hỏi kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước. Là
một đơn vị thuộc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Sở giao dịch 3
được thành lập với mục đích chính là tiếp nhận nguồn vốn và thực hiện các dự
án được tài trợ bởi Chính phủ các nước và các tổ chức tài chính quốc tế. Hơn
bốn năm hoạt động, đơn vị đã và đang thực hiện hơn 50 dự án lớn nhỏ khác
do Chính phủ Đức, Thụy Sĩ, Hà Lan, Pháp và các tổ chức tài chính quốc tế
như WB, ADB, JBIC, NIB… tài trợ. Mặc dù kết quả là khả quan, nhưng hoạt
động quản lý các nguồn vốn đặc biệt là các nguồn vốn được tài trợ bởi các tổ
chức tài chính quốc tế tại Sở giao dịch 3 còn nhiều hạn chế. Vì vậy, việc
nghiên cứu làm rõ bản chất, nội dung, vai trò của quản lý để đưa ra các giải
pháp nhằm tăng cường quản lý các nguồn vốn này đạt hiệu quả cao có tính
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Đây là lý do tại sao em đã chọn đề tài:
“Tăng cường quản lý các nguồn vốn được tài trợ bởi các tổ chức tài
chính quốc tế tại Sở Giao dịch III - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt
Nam”.
* Mục đích nghiên cứu của luận văn
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về nội dung quản lý các nguồn
vốn được tài trợ bởi các tổ chức tài chính quốc tế tại ngân hàng; luận giải về
thực trạng thực hiện quản lý các nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc tế
tài trợ tại Sở giao dịch 3 – Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam trong thời gian qua
để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý các nguồn vốn này.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

ii
Luận văn tập trung nghiên cứu các nguồn vốn được tài trợ bởi các tổ
chức tài chính quốc tế mà Việt Nam có quan hệ (bao gồm IFM, WB, ADB) và
phân tích hoạt động quản lý các nguồn vốn Dự án Tài chính nông thôn I, II tại
Sở giao dịch 3 trong đó chủ yếu tập trung ở quản lý cấu phần tín dụng còn
việc quản lý cấu phần năng lực thể chế chỉ được khái quát để minh hoạ cho
hoạt động chung.
* Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các quy luật kinh tế, sử dụng các phương pháp
nghiên cứu tổng hợp số liệu, so sánh, phương pháp biểu đồ, phân tích logic,
đánh giá báo cáo tổng kết để đưa ra nhận định và giải pháp.
* Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm ba chương
như sau:
Chương 1: Lý luận chung về quản lý các nguồn vốn do các tổ chức tài chính
quốc tế tài trợ tại ngân hàng.
Chương II: Thực trạng quản lý các nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc
tế tài trợ tại Sở giao dịch 3 - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Chương III: Giải pháp nhằm tăng cường quản lý các nguồn vốn do các tổ
chức tài chính quốc tế tài trợ tại Sở giao dịch 3 – Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam.
Chương I: Lý luận chung về quản lý các nguồn vốn do
các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ tại ngân hàng
1.1. Khái quát về các tổ chức tài chính quốc tế
Việc tổ chức lại trật tự tài chính quốc tế sau chiến tranh thế giới II đã
được khởi động bằng việc thành lập hai tổ chức tài chính toàn cầu: Quỹ tiền tệ
quốc tế và Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển vào tháng 7 năm 1944 tại

iii
Hội nghị Bretton Woods. Tiếp đến, các định chế tài chính khu vực cũng lần
lượt xuất hiện: Ngân hàng Đầu tư Châu Âu (năm 1958), Ngân hàng phát triển
liên Mỹ (năm 1959), Ngân hàng phát triển Châu Phi (năm 1964), Ngân hàng
phát triển Châu Á (năm 1966)…
Có nhiều cách phân loại các tổ chức tài chính quốc tế. Nếu căn cứ vào
hạm vi hoạt động thì có: các tổ chức tài chính toàn cầu, các tổ chức tài chính
quốc tế khu vực. Còn nếu căn cứ vào mục tiêu tài trợ thì có: tổ chức tài chính
quốc tế tài trợ cán cân thanh toán của các nước thành viên, các tổ chức tài
chính quốc tế tài trợ các dự án đầu tư trung và dài hạn.
1.2. Tổng quan về các nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc
tế tài trợ
Có thể hiểu: "Nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ là
nguồn vốn ưu đãi mà các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các quốc gia
thành viên vì sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia nói
riêng và của toàn cầu nói chung.”
Mỗi một nguồn vốn được tài trợ bởi một tổ chức tài chính có những đặc
điểm khác nhau nhưng có thể rút ra một số điểm chung nhất sau: Tính chất ưu
đãi, Tính chất hỗ trợ, Tính chất rủi ro, Tính chất vay nợ.
Xét về phương thức tài trợ các nguồn vốn, Quỹ tiền tệ quốc tế có
phương thức là: Rút vốn dự trữ, Tín dụng thông thường theo đợt, Tài trợ bù
đắp và bất ngờ, Dự trữ điều hoà. Trong khi đó Ngân hàng thế giới lại có các
phương thức như: Cho vay đầu tư đặc biệt, Cho vay lĩnh vực, Cho vay điều
chỉnh lĩnh vực, Cho vay điều chỉnh cơ cấu, Cho vay tái thiết khẩn cấp. Còn
phương thức tài trợ của ADB theo dự án, chương trình, khoản vay theo
ngành, hạn mức tín dụng nhưng phạm vi tài trợ giới hạn nằm trong các nước
Châu Á và Châu Đại Dương.
1.3. Quản lý các nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc tế tài

iv
trợ tại ngân hàng
Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý nguồn vốn do các tổ chức
tài chính quốc tế tài trợ vì thực chất giá trị thực tế của nguồn vốn được tài trợ
thấp hơn giá trị danh nghĩa của nó. Điều này có nghĩa tính ưu đãi của vốn
ODA giảm, chi phí để có vốn này sẽ tiến dần đến vốn thương mại trên thị
trường tài chính nếu không có sự quản lý chặt thì chi phí này ngày càng cao.
Ngoài ra nước tiếp nhận dễ rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả nguồn
vốn được tài trợ bởi các tổ chức tài chính quốc tế.
Chính vì nhận thức được ý nghĩa quan trọng của quản lý các nguồn vốn
được tài trợ nên ngân hàng được giao nhiệm vụ phải thực hiện việc quản lý có
trình tự, chặt chẽ và hiệu quả ở các khâu
* Thiết kế dự án và vận động nguồn vốn
Quản lý phải được coi trọng ngay từ khâu thiết kế dự án và vận động
nguồn vốn vì đây là bước xác định địa điểm, đối tượng đầu tư. Quản lý thực
hiện ngay từ đầu sẽ đảm bảo được cả hiệu quả quản lý được thông suốt ở các
khâu tiếp sau.
* Đàm phán và ký kết
Quản lý ở bước này chủ yếu là việc trao đổi và thống nhất với các tổ
chức tài chính quốc tế việc được tài trợ hay không, về số tiền, thời hạn vay, lãi
suất cùng các điều kiện đi kèm để triển khai dự án.
* Tiếp nhận các nguồn vốn
Khi thống nhất các điều kiện tài trợ, hai bên đã xác định được kênh dẫn
vốn tài trợ như thế nào cho nên nguồn vốn được tiếp nhận phải đưa đến đầu
mối: đúng về lượng lẫn thời gian để từ đó chúng được chuyển tài đến những
nơi đầu tư và triển khai các dự án.
* Thực hiện cho vay các nguồn vốn

v
Ngân hàng phải đảm bảo được nguồn vốn tiếp nhận từ nhà tài trợ đến
được với những người cần vốn, do vậy phải quản lý rất chặt chẽ, cẩn trọng
song cũng hết sức linh hoạt ở việc thực hiện cho vay đảm bảo đáp ứng được
nhu cầu của người cần vốn, cũng như nhà tài trợ.
* Giám sát việc sử dụng vốn của người vay
Nguồn vốn sau khi được giải ngân đến người vay cuối cùng thì phải
được giám sát để xem chúng có được sử dụng đúng mục đích, đáp ứng nhu
cầu người vay, đem lại lợi ích cho những người sử dụng chúng hay không.
* Thu nợ vốn cho vay
Hết thời hạn cho vay, vốn phải được ngân hàng thương mại thu về.
Quản lý phải đảm bảo xử lý kịp thời cả với tình huống không thể thu hồi đủ
các khoản cho vay
* Hoàn trả nguồn vốn
Hết thời hạn vay nguồn vốn được Chính phủ hoàn trả lại cho các tổ
chức tài trợ. Do đó ngân hàng phải chuyển toàn bộ số tiền đã thu hồi được cho
Chính phủ. Đến khâu này quá trình quản lý nguồn vốn dự án mới thực sự kết
thúc.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý các nguồn vốn do
các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ tại ngân hàng
Quản lý các nguồn vốn do các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố cả chủ quan lẫn khách quan. Yếu tố chủ quan là
những yếu tố từ phía ngân hàng như:
* Cơ chế chính sách quản lý các nguồn vốn được tài trợ
Một cơ chế chính sách linh hoạt không chỉ mang lại thuận lợi cho ngân
hàng vận động, tiếp nhận vốn, giải ngân và giám sát của ngân hàng mà còn

