
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
Số: 668-TTg Hà Nội, ngày 22 tháng 8 năm 1997
QUYẾT ĐNNH
VỀ PHƯƠNG HƯỚNG, BIỆN PHÁP GIẢM NHẸ THIÊN TAI VÀ NHỮNG
CHƯƠNG TRÌNH CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC TỈNH VEN
BIỂN MIỀN TRUNG
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Thuỷ sản, Công nghiệp, Giao thông vận tải, Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung
ương và các kiến nghị trong Hội nghị "Phòng chống lụt bão, phát triển kinh tế - xã
hội các tỉnh ven biển miền Trung" tổ chức tại thành phố Huế từ ngày 20-22 tháng 6
năm 1997,
QUYẾT ĐNNH:
Điều 1. Các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hoá đến Bình Thuận cần đánh giá
đúng tiềm năng, lợi thế so sánh và những khó khăn của mình, từ đó có giải pháp khắc
phục, phòng tránh và thích nghi với thiên tai, tận dụng thời cơ, tổ chức chỉ đạo thực
hiện để khai thác cho được tiềm năng, lợi thế tự nhiên và con người nhằm từng bước
ổn định và phát triển cùng với các vùng trong cả nước, đi lên công nghiệp hoá, hiện
đại hoá.
Lợi thế nổi bật của các tỉnh ven biển miền Trung trong thời kỳ công nghiệp hoá là có
địa hình và hệ sinh thái đa dạng; điều kiện địa chất, thổ nhưỡng phù hợp cho việc phát
triển nhiều ngành công nghiệp; là điểm giao lưu giữa các vùng kinh tế trong nước; là
đầu mối giao thông với các nước trong khu vực; có hệ thống cảng biển, đường bộ,
đường sắt, sân bay đã và đang tiếp tục được xây dựng; có nguồn lao động đồi dào.
Bên cạnh những lợi thế đó, nhìn chung các tỉnh ven biển miền Trung có điểm xuất
phát thấp so với một số vùng khác trong cả nước. Điều kiện thời tiết, khí hậu khắc
nghiệt, lụt, bão, hạn hán... xNy ra thường xuyên, diễn biến phức tạp ảnh hưởng tới đời
sống của nhân dân, tới phát triển kinh tế - xã hội trong vùng.
Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh ven biển miền Trung từ nay đến năm
2000 là đạt cho được nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) hàng năm từ 10-12%; chuyển
dịch nhanh cơ cấu kinh tế, đNy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ, chuyển đổi cơ
cấu sản xuất nông nghiệp, đa dạng hoá các sản phNm, bảo đảm môi trường sinh thái
bền vững, xử lý tốt các vấn đề xã hội trên cơ sở phát huy tối đa nguồn lực tại chỗ, thu
hút và sử dụng có hiệu quả nguồn lực ngoài vùng và nước ngoài.

Điều 2. Phương hướng phòng chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai là "Chủ động phòng
tránh, giảm nhẹ và thích nghi", bảo đảm an toàn cho đời sống của nhân dân, bảo vệ tài
sản của Nhà nước và của nhân dân; nhanh chóng khôi phục sản xuất, ổn định đời
sống, từng bước thích nghi với tiên tai để phát triển kinh tế.
Trên cơ sở tổng kết công tác phòng chống lụt bão ở các tỉnh miền Trung, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương cần
hướng dẫn và phối hợp chặt chẽ với các tỉnh để:
- Có các qui định, hướng dẫn cụ thể về các giải pháp trong những tình huống khác
nhau nhằm ngăn chặn và hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
- Tiếp tục hoàn thiện các công trình kết cấu hạ tầng hiện có và xây dựng các công
trình mới sao cho các công trình này tạo thành hệ thống góp phần ngăn chặn, giảm
nhẹ thiệt hại do thiên tai, đồng thời không bị thiên tai lặp đi lặp lại tàn phá gây lãng
phí.
- Bố trí cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ sản xuất để né tránh, thích nghi với bão
lũ, lụt lội.
Điều 3. Một số chương trình phát triển kinh tế chủ yếu, giảm nhẹ và hạn chế dần do
thiên tai gây ra.
1. Chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng:
Rừng ở các tỉnh ven biển miền Trung nhất là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển
có vai trò quyết định ngăn chặn và hạn chế tác hại của lụt bão, giữ nước, chống sói
mòn sa mạc hoá đất đai, bảo vệ đê biển, giảm nhẹ thiên tai và cân bằng môi trường
sinh thái ổn định để phát triển.
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 phải đạt cho được độ che phủ của rừng và các cây
công nghiệp là trên 40% bằng cách phát triển 650.000 ha rừng mới gồm: khoanh nuôi
phục hồi 200.000 ha rừng hiện có, trồng mới trên đất trống đồi núi trọc 450.000 ha
rừng và các cây công nghiệp lâu năm có độ che phủ tốt. Đến năm 2010 độ che phủ
của rừng và cây công nghiệp lâu năm đạt 60-65%, nhằm nâng cao năng lực phòng hộ,
cân bằng môi trường sinh thái, góp phần hạn chế thiên tai.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm túc và thường xuyên
kiểm điểm việc thực hiện Chỉ thị số 286/TTg ngày 02 tháng 5 năm 1997 của Thủ
tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển
rừng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm cùng các Bộ ngành có liên
quan, Uỷ ban nhân dân các tỉnh sớm hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định lâu
dài cho tổ chức cá nhân và hộ gia đình theo Nghị định số 02/CP ngày 05 tháng 01
năm 1994 của Chính phủ và theo đúng tinh thần Chỉ thị 286/TTg ngày 02 tháng 5
năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ. Từng tỉnh phải nắm chắc quỹ đất các loại và tình
hình sử dụng đất trên địa bàn để có quy hoạch, kế hoạch sử dụng và điều chỉnh hợp
lý. Nhất thiết phải đảm bảo các hộ nông dân có đủ đất để trồng cây ngắn ngày đáp
ứng nhu cầu lương thực, có đất để trồng cây ăn quả, làm kinh tế vườn, chăn nuôi gia

2. Chương trình chuyển đổi cơ cấu và chuyển đổi mùa vụ sản xuất nông nghiệp.
Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phải theo hướng sản xuất hàng hoá có
giá trị phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khNu, phát huy cho được tiềm năng, lợi thế
về đất đai, hệ sinh thái, tập quán, kinh nghiệm sản xuất của từng địa phương để phát
triển kinh tế - xã hội của vùng.
Cần tập trung giải quyết thuỷ lợi để tăng quỹ đất canh tác, chọn các giống có năng
suất, chất lương; bố trí mua vụ hợp lý, phấn đấu đến năm 2000 đạt sản lượng lương
thực 4,2 - 4,5 triệu tấn, cùng các vùng sản xuất lúa trọng điểm trong cả nước bảo đảm
an toàn lương thực quốc gia, tăng kim ngạch xuất khNu.
Bên cạnh cây lúa, cần có quy hoạch, kế hoạch và chính sách giải pháp cụ thể huy
động cho được mọi nguồn nhân lực để phát triển cây công nghiệp có giá trị, phù hợp
với điều kiện tự nhiên của vùng;
- Cần gắn nhà máy chế biến đường với phát triển vùng nguyên liệu, nhân nhanh các
giống mía mới có năng suất và hàm lượng đường cao, đảm bảo đến năm 2000 toàn
vùng định hình trồng khoảng 100.000 ha mía và có đủ các cơ sở chế biến đường góp
phần đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khNu.
- Có quy hoạch, kế hoạch phát triển các cây cao su, cà phê, bông, tiêu, ca cao... ở
những nơi có điều kiện; cây nho, thanh long ở Bình Thuận, Ninh Thuận, gắn liền với
việc xây dựng các cơ sở chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả,
đảm bảo cho nông dân yên tâm sản xuất lâu dài.
- Khai thác triệt để tiềm năng và thế mạnh của vùng để phát triển chăn nuôi đàn gia
súc, đặc biệt là bò, cứu, dê. Giải quyết tốt về giống và phòng, chống các dịch bệnh gia
súc, đặc biệt là bệnh lở mồm, long móng. Sớm có quy hoạch đất đồng cỏ cho hộ gia
đình hoặc cho nông dân thuê để chăn nuôi bò theo quy mô trang trại.
Các tỉnh ven biển miền Trung có lợi thế, tiềm năng lớn về đất đai, nước biển, thời tiết
và lao động để sản xuất muối đáp ứng đủ nhu cầu dân sinh, nhu cầu công nghiệp, tiến
tới xuất khNu. Tổng cục Địa chính cùng Uỷ ban nhân dân các tỉnh cần đánh giá và quy
hoạch vùng có điều kiện đất đai để chuyển sang sản xuất muối công nghiệp có hiệu
quả nhất. Riêng hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, trong năm 1997 phải hoàn thành
các thủ tục khảo sát, xây dựng và phê duyệt dự án khả thi các đồng muối Phương
Cựu, Quán Thẻ; mở rộng đồng muối Cà Ná để khởi công xây dựng trong năm 1998.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cân đối, bảo đảm vốn cho các dự án phát triển
muối công nghiệp này.
3. Xây dựng các công trình thuỷ lợi và đê điều.
Việc xây dựng các công trình thuỷ lợi và đề điều ở các tỉnh ven biển miền Trung có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc phòng tránh thiên tai, ngăn mặn, chống hạn, cung
cấp nước cho sinh hoạt và nước cho sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với các vùng

- Về đê điều:
+ Các đê sông ở các tỉnh ven biển miền Trung phải bảo đảm phòng lũ chính vụ, lũ lớn
và cho thu hoạch an toàn lúa đông xuất và hè thu ở các tỉnh phía Nam ven biển miền
Trung.
+ Phải quy định cao trình cần thiết cho các tuyến đê biển để ngăn triều cường, hạn chế
nước mặn vào đồng, có kế hoạch phát triển trồng cây chắn sóng ở những vùng đê biển
xung yếu.
+ Các tuyến đê ven đầm phá phải chống đỡ được mức triều cao nhất trong vụ hè thu
và có biện pháp gia cố mặt mái, không để lũ tàn phá khi đê bị ngập.
+ Phải có chương trình nghiên cứu, để ra biện pháp và có kế hoạch cụ thể để xử lý
những đoạn sông, vùng cửa sông, vùng bờ biển đang có diễn biến phức tạp (bồi, xói,
không ổn định) gây ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân.
- Về hồ chứa nước và kênh mương:
+ Tiếp tục xây dựng mới hồ chứa kể cả các hồ chứa ở thượng nguồn, nâng cấp và
hoàn thiện các hồ chứa hiện có để giảm lũ và giữ nước chống hạn, phục vụ sản xuất
và đời sống của nhân dân và cải thiện môi trường sinh thái cho toàn vùng.
+ Từng bước kiên cố hoá hệ thống kênh mương dẫn nước và các công trình đầu mối
thuỷ lợi nhỏ, nhằm tiết kiện đất đai, giảm tổn thất nước, phát huy hiệu quả những
công trình đã được đầu tư.
+ Cần tổ chức nghiên cứu và có kế hoạch thực hiện chương trình chỉnh trị dòng sông,
cửa sông bảo vệ bờ sông, như cửa Tư Hiền, Thuận An, (Thừa Thiên Huế), cửa Đại,
cửa An Hoà (Quảng Nam), cửa Đà Rằng, cửa Đà Nông (Phú Yên), cửa sông Cái
(Ninh Thuận), cửa Phan Rí (Bình Thuận); xử lý một số đoạn sông, cửa sông đang bị
sạt lở; ngăn chặn lấn đất bãi sông để làm nhà, xây dựng công trình làm ảnh hưởng đến
việc thoát lũ các dòng sông.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư
và Uỷ ban nhân dân các tỉnh xây dựng đề án cụ thể thực hiện các nội dung nêu trên,
xác định các công trình cấp bách đang xây dựng dở dang để tập trung đầu tư hoàn
chỉnh ngay trong năm 1998. Trong quý IV năm 1997 phải xác định các công trình cần
xây dựng mới trong giai đoạn từ 1998-2000 và những công trình trọng điểm cần được
khởi công xây dựng sau năm 2000 trình Thủ tướng Chính phủ. Trên cơ sở danh mục
các dự án được duyệt, các Bộ chức năng và Uỷ ban nhân dân các tỉnh lập dự án cụ
thể, huy động các nguồn vốn đầu tư từ Trung ương, địa phương và huy động nguồn
tại chỗ của dân để thực hiện.
4. Chương trình phát triển thuỷ sản

Khai thác hải sản là nghề truyền thống, tiền năng và thế mạnh của các tỉnh ven biển
miền Trung, Bộ Thuỷ sản phối hợp chặt chẽ với Uỷ ban nhân dân các tỉnh tổ chức chỉ
đạo thực hiện chương trình này một cách bền vững để tăng sản lượng, kim ngạch xuất
khNu.
- Phấn đấu đến năm 2000 đạt sản lượng thuỷ sản 450.000-500.000 tấn, giá trị kim
ngạch xuất khNu khoảng 250 triệu USD.
- ĐNy mạnh việc khai thác hải sản gắn với đầu tư chiều sâu tăng cường năng lực đánh
bắt - nhất là đánh bắt xa bờ, nâng cấp và xây dựng mới các cơ sở chế biến, xác định
và tổ chức khai thác hiệu quả các ngư trường mới.
- Cùng với khai thác hải sản, cần tổ chức tốt việc nuôi trồng thuỷ sản (nước ngọt,
nước lợ đặc biệt là ở các đầm phá).
- ĐNy mạnh khâu chế biến để nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các mặt hàng thuỷ sản
phục vụ tiêu dùng trong nước, chú trọng các mặt hàng chế niến cao cấp cho xuất khNu
và phục vụ các trung tâm đô thị lớn và các khu công nghiệp.
- Từng địa phương cần tổ chức các đội tàu gồm các tàu có công suất lớn, có trang
thiết bị phục vụ cứu nạn làm nòng cốt cho các tàu thuyền có công suất vừa, nhỏ cùng
ra khơi đánh bắt hải sản. Có biện pháp đảm bảo tất cả các thuyền ra khơi đều có phao
và các phương tiện phòng hộ cần thiết. Trong mùa bão lụt phải làm tốt việc dự báo,
cảnh báo bão, áp thấp nhiệt đới, trang bị phao cứu sinh, phương tiện thông tin, bến bãi
neo đậu an toàn cho tầu thuyền và ngư dân và thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị số
39/TTg ngày 18 tháng 01 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ để bảo đản an toàn cho
người và phương tiện nghề cá hoạt động trên biển.
- Tổ chức lại đời sống nhân dân ở các làng chài, trên các vùng đầm phá, vùng dân cư
ven biển chuyên về đánh bắt hải sản. Cần có kế hoạch, tạo điều kiện để tất cả các hộ
ngư dân định cư trên bờ, chấm dứt tình trạng "du cư" trên đầm, phá... và có kế hoạch
đầu tư cải tạo, xây dựng nâng cấp các cảng cá, dịch vụ nghề cá nhằm tạo điều kiện
cho tầu thuyền của ngư dân hoạt động đánh bắt và tiêu thụ sản phNm.
5- Chương trình phát triển giao thông
- Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu xây dựng quy định tổng thể, chiến lược phát triển
giao thông vận tải các tỉnh ven biển miền Trung theo từng giai đoạn từ nay đến năm
2000, 2005 và những năm tiếp theo, trong đó xác định các công trình trọng điểm chủ
yếu và có các bước đi cụ thể, cơ chế, chính sách đầu tư, huy động vốn, trách nhiệm
của Trung ương, địa phương đối với từng công trình theo từng giai đoạn trình Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt. Trên cơ sở đó lập các dự án đầu tư để triển khai dứt điểm
từng công trình, tránh tình trạng đầu tư tràn lan, không đủ vốn, công trình dở dang kéo
dài, kém hiệu quả.
- Trước mặt, Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn và các địa phương đánh giá hết ảnh hưởng của lụt bão đối với tuyến đường
bộ, đường sắt và ngược lại ảnh hưởng của các tuyền giao thông đến việc thoát lũ,
chống úng. Cần mở thêm các tuyền đường tránh ở các đoạn thường xuyên bị ngập làm
ùn tắc giao thông, các giải pháp gia cố mặt đường, mái đường để chống lũ tàn phá khi

