SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƢỜNG THPT LÊ LỢI
--------
TÊN ĐỀ TÀI
MỐT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ GIỜ DẠY- HỌC TÁC PHẨM NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA
NGUYỄN TUÂN Ở TRƢỜNG THPT LÊ LỢI
Lĩnh vực: Văn học
Người thực hiện: Thái Thị Lộc
Tổ bộ môn: Văn - Anh
Năm thực hiện: 2021-2022
Số điện thoại: 0984366204
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU …………………………………………………………………………... 3
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI …………………………………………..................... 3
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ………………….................. 4
III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. …………………………………………. 4
IV. CẤU TRÚC…………………………………………………………………... 5
V.TÍNH MỚI……………………………………………………………………... 5
B. NỘI DUNG …………………………………………………………....................... 5
I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI ……………………………………………...................... 5
1. Cơ sở lí luận ………………………………………………………............ 5
2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………... 6
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ………………. …………………………… 9
1. Vài nét về nhà văn Nguyễn Tuân và vị trí của tác phẩm Người lái đò sông Đà………………………………………………………………................ 9
2. Yêu cầu khi sử dụng phƣơng pháp tích hợp ……………………………... 10
3. Một số biện pháp dạy học tích hợp………………………………………... 11
3.1. Tích hợp trong hoạt động khởi động……………………………………........... 11
3.2. Tích hợp trong hoạt động hình thành kiến thức………………………............ 11
3.3. Tích hợp trong hoạt động luyện tập, vận dụng………………………………
19
4. Thiết kế kế hoạch bài dạy thực nghiệm……………………………............ 20
III. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN………………………………………………… 37
1. Hình thành ý tƣởng……………………………………………..................... 37
2. Khảo sát thực tiễn………………………………………………................... 38
3. Áp dụng thực nghiệm…………………………………………..................... 38
4. Xử lý thực nghiệm, đúc rút kinh nghiệm……………………...................... 38
5. Đánh giá kết quả………………………………………………..................... 38
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………...................... 39
I. KẾT LUẬN……………………………………………………………………... 39
II. KIẾN NGHỊ…………………………………………………………………… 40
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………….. 42
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN
Giáo viên
GV
Học sinh
HS
Giáo dục và đào tạo
GD&ĐT
Giáo dục
GD
Dạy học tích hợp liên môn
DHTHLM
Dạy học tích hợp
DHTH
Trung học phổ thông
THPT
Sách giáo khoa
SGK
Phương pháp dạy học
PPDH
Giải quyết vấn đề
GQVĐ
Hợp tác
HT
Giao tiếp
GT
Cách Mạng Tháng Tám
CMT8
Công nghệ thông tin
CNTT
Phương pháp/ Kĩ thuật dạy học
PP/KTDH
3
A. MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo các nhà lí luận văn học, người đọc và quá trình tiếp nhận là một khâu quan trọng trong toàn bộ đời sống của một tác phẩm văn chương. Ở khâu này, tác phẩm sẽ thoát li hẳn khỏi người sinh thành - tác giả để tự mình có một cuộc sống riêng. Cuộc sống đó lâu dài hay ngắn ngủi, được tiếp nhận hay bị lãng quên, tất cả đều phụ thuộc vào cảm nhận và đánh giá của người đọc. Đến lượt mình, trình độ tiếp nhận tác phẩm văn chương của độc giả được đo đếm thông qua khả năng “giải mã” những thông điệp thẩm mĩ mà nhà văn đã dụng công gửi gắm. Mà khả năng giải mã những thông điệp thẩm mĩ ấy lại có liên quan chặt chẽ đến điểm nhìn, góc độ phân tích, tiếp cận tác phẩm. Vì thế, đề tài của tôi có ý nghĩa như một đề xuất về cách tiếp cận văn bản nghệ thuật ngôn từ từ nhiều góc độ phục vụ cho công tác giảng dạy trong nhà trường.
Bên cạnh đó, hiện nay đổi mới phương pháp dạy - học đang trở thành nhu cầu tất yếu của ngành giáo dục Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học. Tự đổi mới cũng là con đường đưa giáo dục Việt Nam hòa nhập với nền giáo dục hiện đại toàn cầu, tiến kịp nền giáo dục tiên tiến của các quốc gia trên thế giới. Một trong những phương pháp đổi mới đem lại hiệu quả khá cao trong nhà trường hiện nay đó là phương pháp dạy học tích hợp. Phương pháp tích hợp cho phép GV có thể kết hợp nhiều kỹ năng trong một tiết dạy, vừa dạy kiến thức, vừa dạy kỹ năng sống, vừa dạy cách làm người. Không những thế, tích hợp còn là sự phối hợp nhiều môn khoa học hay các phân môn trong cùng một bộ môn để làm cho tiết học trở nên phong phú đa dạng và thu hút hơn đối với người tiếp nhận.
Hơn nữa Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội nó có tầm quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, quan điểm, tình cảm cho HS. Việc dạy học tích hợp đáp ứng được nhu cầu này. Nó cũng chính là chiếc chìa khoá mở cửa cho tương lai. Chính vì vậy nghành GD cũng đã có những hoạt động thiết thực, bổ ích như tổ chức tập huấn cho GV, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức nhiều cuộc thi trong đó có cuộc thi DHTHLM để đội ngũ GV và xã hội hiểu đúng vấn đề. Mặt khác tích hợp liên môn còn giúp HS tiết kiệm được thời gian, biết kết hợp kiến thức giữa các bộ môn, đồng thời phát triển tư duy, khả năng thông hiểu và vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống. Bởi vậy có thể nói vấn đề tích hợp liên môn không còn là vấn đề xa lạ đối với đội ngũ thầy cô giáo. Tuy nhiên từ hiểu đến vận dụng và vận dụng hiệu quả vào thực tế giảng dạy là cả một vấn đề.
Từ góc độ thực tiễn, tôi chọn tác phẩm Người lái đò sông Đà bởi đây là một tác tiêu biểu cho thể loại tùy bút (một tiểu loại của kí hiện đại). Đó là những trang văn thể hiện sự tài hoa cá tính, độc đáo của văn hào Nguyễn Tuân được dệt nên bằng câu chữ tuyệt diệu với sự kết hợp hài hòa của chất nhạc, chất họa và vốn tri
4
thức đa ngành vô cùng phong phú. Thể loại kí đã có từ lâu nhưng để tiếp nhận một cách sâu sắc thể loại này thì không hề đơn giản. Do vậy, việc “giải mã” tác phẩm cũng chính là đi tìm về vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, đi tìm về với cốt cách tài hoa nghệ sĩ của nhà văn được mệnh danh là “cái định nghĩa hoàn chỉnh về người nghệ sĩ”.
Mặt khác, việc tìm hiểu và đưa ra một cách tiếp nhận đối với một văn phẩm mà thể loại của nó chiếm số lượng không nhiều trong giảng dạy ở nhà trường THPT sẽ có ý nghĩa nhất định đối với người dạy và người học. Bởi vì theo ý kiến của rất nhiều GV và HS thì Người lái đò Sông Đà vừa “khó dạy” vừa “khó học”. GV và HS vốn quen thuộc với thơ hay truyện ngắn nhưng còn khá lạ lẫm với thể kí hiện đại. Do đó việc tìm hiểu và thưởng thức một tác phẩm thuộc thể kí còn vấp phải những “rào cản” nhất định. Nhiều GV và HS khi dạy – học tác phẩm Người lái đò sông Đà đã gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí nhiều em HS không thể cảm nổi vẻ đẹp của dòng sông cũng như không thể nhớ được một dẫn chứng nào về tác phẩm khi làm bài kiểm tra hoặc bài thi liên quan đến tác phẩm. Bởi vậy, để hiểu rõ những tầng ẩn nghĩa sâu xa của tác phẩm, GV không những phải nắm bắt rõ đặc trưng thể loại mà còn phải biết tích hợp với những kiến thức phân môn, liên môn học để giúp HS thẩm thấu sâu sắc giá trị cũng như nét độc đáo của tác phẩm.
Hướng đến việc thực hiện được yêu cầu đó là một động lực khiến tôi nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy – học tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân ở trƣờng THPT Lê Lợi”. Đề tài này là công trình nghiên cứu của tôi, chưa được cá nhân, tập thể và công trình giáo dục nào công bố trên các tài liệu, sách báo và diễn đàn giáo dục hiện nay.
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tƣợng
- Học sinh lớp 12 Trường THPT Lê Lợi.
- Văn bản “ Người lái đò sông Đà” (Ngữ văn 12, cơ bản).
2. Phạm vi
Đề tài này chỉ nghiên cứu ở HS lớp 12 trường THPT Lê Lợi, huyện Tân Kì,
tỉnh Nghệ An.
III. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp quan sát (thông qua dự giờ).
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu. - Phương pháp phân tích- tổng hợp, thống kê toán học, so sánh.... - Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
5
IV. CẤU TRÚC
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài tập trung vào một số vấn đề
như sau:
- Cơ sở của đề tài.
- Một số biện pháp dạy học tích hợp để nâng cao hiệu quả giờ dạy – học tác
phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
- Triển khai thực hiện đề tài.
V. TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Với đề tài “Một số biện pháp dạy – học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy – học tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân ở trường THPT Lê Lợi”, tôi đã tiếp cận, soi rọi tác phẩm từ nhiều góc độ lí luận văn học, âm nhạc, hội họa, địa lý, điện ảnh... để đổi mới cách dạy tác phẩm. Qua đề tài này tôi đã giúp HS có cái nhìn sâu sắc toàn diện về tác phẩm, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc tiếp nhận văn bản.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ quá trình hình thành và phát triển của sự vật, hiện tượng theo quan niệm duy vật biện chứng thì các sự vật, hiện tượng song song tồn tại và có mối quan hệ qua lại, giao thoa với nhau trong thế giới. Dù chúng rất phong phú, đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng ở chúng vẫn có tính thống nhất giữa tư duy và ngôn ngữ như hai mặt của một tờ giấy.
Bộ GD&ĐT đã định hướng chương trình giáo dục sau năm 2015 là “Dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức hoạt động để học sinh huy động nội dung, kiến thức, kỹ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến thức, kỹ năng mới từ đó phát triển những năng lực cần thiết”. Nghĩa là xác định theo hướng dạy học tích hợp trong phạm vi hẹp và tích hợp trong phạm vi rộng. Hay còn gọi là tích hợp đa môn, tích hợp liên môn. Mục đích tích hợp là hợp lại để có tính thống nhất theo một nguyên tắc “đồng tâm”, “đồng quy”, nghĩa là hướng tới một nội dung bao hàm theo chủ đề, chủ điểm, theo đề tài.
Tích hợp là tập hợp trong một đơn vị học tập những mảng kiến thức, kỹ năng khác nhau và phối hợp chúng với nhau để tạo nên hiệu quả cao trong dạy học. Tích hợp được thể hiện trên hai phương diện: tích hợp dọc và tích hợp ngang. Tích hợp dọc là tích hợp các vấn đề gần nhau trong chính từng phân môn khác nhau ở các bài đã, đang, sẽ học ở các lớp dưới và lớp trên. Còn tích hợp ngang là mối liên hệ giữa các phân môn như Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn ở một thời điểm nhất định. Nghĩa là cả ba phân môn trong mỗi bài học đều phải dựa vào một văn bản 6
chung để khai thác và làm rõ cho nhau, xuyên thấm vào nhau. Tích hợp là một phạm trù rất rộng theo chiều ngang – dọc, xa – gần, trong – ngoài được phối hợp nhuần nhuyễn với nhau có tính thống nhất cặp phạm trù nhất định của sự vật, hiện tượng trong thế giới. Tích hợp có rất nhiều hướng như: Tích hợp đa môn, tích hợp liên môn, tích hợp xuyên môn, trong nội bộ môn học, tích hợp kiểu lồng ghép,...
Tích hợp là một thuật ngữ khá mới nhưng đã trở thành một nhu cầu tất yếu của thời đại và cũng là xu hướng chính của nền giáo dục hiện đại. Nó xuất phát từ yêu cầu đưa HS trở thành đối tượng trung tâm trong giờ học cũng như trong quá trình tìm hiểu tác phẩm. Mặt khác, việc dạy học tích hợp cho phép học sinh chủ động sáng tạo trong tiếp nhận, phối kết hợp nhiều yếu tố trong một bài học cũng như vận dụng những hiểu biết của mình để tìm hiểu, khai thác tác phẩm văn học. Nó góp phần xoá bỏ lối dạy học theo kiểu khép kín, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống. Dạy học tích hợp thực sự là một phương pháp mới mẻ, có tính hiệu quả cao trong việc giảng dạy ở trường THPT hiện nay.
2. Cơ sở thực tiễn
2.1. Thực trạng của giáo viên
Trong những năm gần đây trước xu thế vận động đổi mới của thế giới, nền giáo dục Việt Nam cũng đang khoác lên mình một tấm áo mới năng động hơn, nhạy bén hơn với thời cuộc. Tinh thần đổi mới giáo dục được các thầy cô giáo hưởng ứng nhiệt tình, nhiều thầy cô đã không ngừng tìm tòi đổi mới trong từng tiết dạy thắp lên ở các em ngọn lửa của lòng nhiệt huyết, đam mê văn chương. Song không phải ai cũng ý thức được vai trò của sự đổi mới do đó sự thay đổi trong phương pháp dạy và tính hiệu quả chưa cao, ít nhiều còn thiếu tính đồng bộ.
Hơn nữa ở những trường miền núi như trường tôi nguồn tài liệu hướng dẫn đổi mới và các trang thiết bị dạy học trong nhà trường còn hạn chế cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng HS chưa mấy mặn mà với môn ngữ văn. Không chỉ có vậy, nhiều GV chưa thấy được vai trò quan trọng của thể loại kí nên đôi khi còn dạy mang tính chiếu lệ, qua loa chưa thực sự đầu tư tâm huyết và thời gian. Mặt khác, có những thầy cô chỉ chú trọng phần khai thác nội dung mà xem nhẹ tính chất thể loại, chưa có cách dạy thu hút được học sinh. Thiết nghĩ mỗi thầy cô cần thay đổi cách nghĩ, cách dạy để biến mỗi giờ dạy văn học thành một giờ học hứng thú và ý nghĩa.
Để có cơ sở nhận xét về thực trạng dạy - học trong giờ học môn Ngữ Văn ở trường THPT Lê Lợi, đặc bệt là việc dạy - học tác phẩm Người lái đò Sông Đà như đã nêu trên tôi đã tiến hành khảo sát GV trong trường.
Kết quả khảo sát GV:
Đối tượng khảo sát: GV môn Ngữ Văn của trường THPT Lê Lợi
Số lượng khảo sát: 10 GV
7
Số lƣợng STT Nội dung khảo sát Tỉ lệ % trả lời
10 100% Thầy cô có vận dụng phương pháp tích hợp trong dạy học ngữ văn không?
5 50% Thường xuyên
1 3 30% Thỉnh thoảng
2 20% Rất ít
Thầy cô thường tích hợp ở những hoạt động nào? 10 100%
4 40% Hoạt động khởi động 2
2 20% Hoạt động hình thành kiến thức
4 40% Hoạt động luyện tập, mở rộng
10 100% Dạy học có chú trọng đến nội dung và hình thức thể loại không?
3 6 60% Dạy học chú trọng đến cả nội dung và hình thức thể loại
Dạy học ít chú trọng đến hình thức thể loại 4 40%
10 100% Thầy cô có gặp khó khăn khi dạy học văn bản Người lái đò sông Đà không?
4 6 60% Có
4 40% Không
Kết quả khảo sát này cho thấy dù GV có chú ý đến đổi mới hình thức dạy học, nhưng chưa đồng bộ, nhất là áp dụng phương pháp DHTH vào dạy học môn Ngữ văn chưa linh hoạt trong các hoạt động, chủ yếu tập trung ở phần khởi động và luyện tập. Do đó kết quả dạy học chưa cao.
2.2. Thực trạng của học sinh
Người lái đò sông Đà là một tác phẩm kí mang đậm dấu ấn tùy bút hiện đại được mạnh dạn đưa vào nội dung giảng dạy Ngữ văn 12, THPT chương trình mới. Và nó nhanh chóng trở thành một trong những bài học trọng tâm để học sinh thi THPT Quốc gia. Chưa có được chiều dài thời gian tiếp xúc và chiều sâu thẩm thấu cảm nhận như những tác phẩm khác trong chương trình Ngữ văn 12 nên bài kí của Nguyễn Tuân luôn là một thách thức đối với cả người dạy và người học. HS còn lạ lẫm với những sáng tác nghệ thuật theo thể kí. Hầu hết các em chưa có kỹ năng để 8
phân tích một tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại. Các em luôn cảm thấy khô khan, khó hiểu khi tiếp cận với tác phẩm. GV thì phải tự tìm tư liệu để lĩnh hội thấu đáo tác phẩm, lại phải tìm cách diễn đạt sao cho thật dễ hiểu đối với HS. Chính vì vậy, việc tích hợp kiến thức liên môn, phân môn đặc biệt là kiến thức về thể loại là hết sức cần thiết.
Kết quả khảo sát học sinh:
Đối tượng khảo sát: 350 HS trường THPT Lê Lợi, gồm 8 lớp khối 12
Hình thức khảo sát: Dùng phiếu thăm dò ý kiến của HS
STT Nội dung khảo sát Tỉ lệ % Số lƣợng trả lời
350 100% Em có học bài và chuẩn bị bài trước khi đến lớp không?
Thường xuyên 95 27,1% 1
Thỉnh thoảng 106 30%
Không 150 42,9%
350 100% Em có hứng thú với tác phẩm Người lái đò sông Đà không?
Mức độ cao 75 21,4% 2
Mức độ trung bình 95 27,2%
Mức độ thấp 180 51,4%
350 100%
Việc giáo viên sử dụng các biện pháp dạy học truyền thống trong những giờ dạy- học Ngữ văn có giúp em nắm rõ hơn nội dung của bài học không?
3 Nắm rõ nội dung 100 28,6 %
Còn mơ hồ 220 62,8%
Chưa định hướng được 30 8,6%
350 100% Em có thích GV sử dụng PPDHTH trong những giờ dạy học môn ngữ văn không?
4 Có 288 82,2%
Không 52 17,8%
9
Kết quả khảo sát này cho thấy hầu hết HS đều không hứng thú với tác phẩm Người lái dò sông Đà và đều mong muốn GV sử dụng phương pháp dạy học tích hợp trong các giờ dạy học văn. Đây chính là vấn đề mà GV luôn trăn trở trong các giờ lên lớp.
2.3. Thực trạng kiểm tra, đánh giá, thi cử
Nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy lần nào thi hoặc có đề kiểm tra liên quan đến tác phẩm Người lái đò sông Đà thì HS lại gặp khó khăn, thậm chí điểm bài làm sẽ thấp hơn so với các đề bài liên quan đến tác phẩm khác. Khi tôi ra đề bài kiểm tra: Phân tích vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tuỳ bút Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân (SGK 12 tập 1 trang 125), có em viết như sau: “Sông Đà quả là dũng cảm khi dám đương đầu với loài người. Nó không biết rằng con người thật ghê gớm có thể nuốt chửng sông Đà trong phút chốc”. Hay có em lại cho rằng sông Đà là một kiệt tác của con người… Lí do các em có những bài viết như vậy bởi các em không hứng thú với tác phẩm này, không thể nhớ nổi một đặc điểm, dẫn chứng nào liên quan. Do đó khi làm bài các em chủ yếu là “chém gió” không căn cứ.
Từ những thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn đề ra một số biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy – học tác phẩm Người lái đò sông Đà để biến tiết học trở thành một giờ khám phá thú vị cũng như giúp HS hiểu hơn về tài năng độc đáo của Nguyễn Tuân ở thể loại kí.
II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN
1. Vài nét về Nguyễn Tuân và vị trí của tác phẩm Người lái đò sông Đà
1.1. Nguyễn Tuân – người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái Đẹp
Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông là nhà văn có một phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo. Ông tiếp cận với thiên nhiên và con người chủ yếu ở phương diện văn hóa nghệ thuật, phương diện tài hoa nghệ sĩ. Bởi thế, Nguyễn Tuân được mệnh danh là nhà văn “duy mĩ”, người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp. Ông là người có cá tính mạnh mẽ, có lối sống tự do phóng túng và sự ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân đã khiến Nguyễn Tuân tìm đến thể tùy bút như một điều tất yếu với một cá tính “Ngông” độc đáo. Văn nhân còn là một cây bút tài hoa và uyên bác trong việc dựng người, dựng cảnh, trong việc sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật, trong những so sánh, liên tưởng táo bạo, bất ngờ với những hình ảnh đẹp đầy gợi cảm. Ông uyên bác trong việc vận dụng những kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để làm phong phú thêm khả năng diễn tả của nghệ thuật văn chương.
Nguyễn Tuân là một trong những bậc thầy của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại, là “phù thủy ngôn từ”. Ông có một kho từ vựng phong phú, có khả năng tổ chức câu văn xuôi giàu giá trị tạo hình, có nhạc điệu và biết “co duỗi nhịp nhàng”. Nguyễn Tuân là nhà văn có giọng điệu riêng. Giọng văn của Nguyễn Tuân vừa trang nhã, cổ kính, vừa sắc sảo, hiện đại, đầy góc cạnh.
10
Với gần năm mươi năm hoạt động văn học liên tục, bằng ngòi bút đầy tài năng của mình, Nguyễn Tuân đã có những đóng góp to lớn, có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi văn Việt Nam hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo. "Nguyễn Tuân là một định nghĩa về người nghệ sĩ tài hoa" (Nguyễn Minh Châu). Toàn bộ cuộc đời cũng như gần 5000 trang viết của ông đã tạo nên một "huyền sử" - huyền sử của một người ưu lối chơi "độc tấu".
1.2. “Người lái đò sông Đà” – một đỉnh cao nghệ thuật của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám 1945
Người lái đò sông Đà là tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân được in trong tập Tùy bút Sông Đà năm 1960. Đó là thành quả chuyến đi gian khổ và hào hứng của Nguyễn Tuân lên miền đất Tây Bắc xa xôi và rộng lớn những năm 1958 – 1960, chuyến đi không chỉ nhằm thỏa mãn niềm khát khao xê dịch mà chủ yếu để tìm kiếm “chất vàng mười” trong vẻ đẹp hùng vĩ và thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc, phát hiện thứ “vàng mười đã qua thử lửa” của tâm hồn con người Tây Bắc trong cuộc sống hằng ngày của họ. Tác phẩm đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. Đó là một công trình khảo cứu công phu nhưng cũng là một áng văn giàu tính thẩm mĩ.
Viết về Sông Đà nhà văn muốn đề thơ, phổ nhạc vào sông nước quê hương. Cảm hứng sông Đà đã thành nghệ thuật, “thành một gợi cảm mênh mang” về sông quê, về con người Việt Nam. Và ông cũng là một “Đà giang độc bắc lưu” trên bình diện nghệ thuật. Ta thấy đây là sự đồng điệu trong tâm hồn những người nghệ sĩ lớn bởi Maxim Gorky nói "cái bình thường là cõi chết của nghệ thuật". Nam Cao trong "Đời thừa" cũng từng viết: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Và Nguyễn Tuân chính là một cái Tôi riêng không thể lẫn lộn trong “Người lái đò sông Đà”.
2. Yêu cầu khi tích hợp trong giờ dạy – học môn Ngữ văn
Để tích hợp tốt, GV cần xác định mục đích tích hợp là hướng tới việc rèn luyện các kỹ năng nghe – nói – đọc – viết cho học sinh tốt hơn. Khi đưa việc tích hợp vào bài giảng, đòi hỏi GV phải bao quát về các tiết dạy học trong chương trình dạy học Ngữ văn trung phổ thông . Tiếp đến, tiến hành xác định nội dung tích hợp cho phù hợp nghĩa là không gò bó, gượng ép cứng nhắc. Lúc này lựa chọn các nội dung tích hợp phù hợp, không cầu kỳ ôm đồm dẫn đến lan man, làm mất đi đặc thù phân môn là điều rất quan trọng. Mức độ tích hợp vừa phải, chọn bài học có nội dung tích hợp và chọn thời điểm tích hợp đúng chỗ, đúng mức và đúng lúc. Chọn
11
cách thức tích hợp là con đường, biện pháp, phương pháp tích hợp. Điều này phụ thuộc năng lực sư phạm của GV dạy Ngữ văn.
GV phải biết lồng ghép kiến thức phân môn, nhiều môn để tạo sự phong phú cho bài dạy. Ở bộ môn Ngữ văn chủ yếu vận dụng hai hình thức là tích hợp phân môn (trong nội bộ môn học) và tích hợp liên môn (các môn học có liên quan) để giảng dạy và nâng cao hiệu quả của giờ dạy học.
3. Một số biện pháp tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy- học tác phẩm Người lái đò sông Đà
3.1. Tích hợp trong hoạt động khởi động
* Tích hợp với kiến thức âm nhạc
Trong quá trình giảng dạy, hoạt động khởi động tuy chỉ chiếm một thời gian ngắn khoảng 2 – 5 phút nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng trong việc giúp GV vào bài giảng một cách chủ động, tích cực hơn; tạo tâm thế, sự hứng khởi và thích thú cho các em HS. Đối với tác phẩm Người lái đò sông Đà, khi khởi động tôi cho HS nghe bài hát Tiếng gọi sông Đà của nhạc sĩ Trần Chung. Sau khi HS phát hiện được vấn đề tôi trình chiếu các hình ảnh về sông Đà để vào bài mới.
3.2. Tích hợp trong hoạt động hình thành kiến thức
Để giúp HS có một hành trình khám phá văn bản đầy thú vị, tôi đã áp dụng một
số biện pháp cụ thể như sau:
3.2.1. Biện pháp thứ nhất: Tích hợp với kiến thức phân môn
* Tích hợp với Lý luận văn học để cung cấp cho học sinh những kiến thức lý
luận cơ bản về thể loại kí. (Tích hợp trong phần tìm hiểu chung)
Hành trình tiếp nhận “đứa con tinh thần” của mỗi nhà văn là một hành trình khám phá thú vị nhưng cũng đòi hỏi người đọc có những định hướng tiếp nhận phù hợp dựa vào đặc trưng thể loại của tác phẩm. Để giúp HS dễ hiểu hơn và hứng thú hơn trong quá trình khám phá tác phẩm Người lái đò sông Đà, tôi sẽ vận dụng các kiến thức từ phân môn lý luận văn học để cung cấp cho các em những kiến thức lý luận chung nhất nhằm tạo “bước đệm” trước khi tìm hiểu tác phẩm.
- Khái niệm: Kí là tên gọi cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại), chủ yếu là văn xuôi tự sự. Do nội dung và cách ghi chép mà các nhà lý luận chia ra ba loại kí: Kí tự sự, kí trữ tình, kí chính luận. Các yếu tố của các thể loại khác nhau luôn đan xen trong một tác phẩm.
- Phân loại: Trong thể kí lại bao gồm nhiều tiểu loại:
12
Tiêu chí Ký tự sự Ký trữ tình Ký chính luận
Nhật kí, bút kí, tùy bút.
Tiểu phẩm văn học, tạp văn, tạp kỹ… Tiểu loại Kí sự, phóng sự, truyện kí, hồi kí, du kí, tản văn.
Đặc điểm
Ở thể kí chính luận, có sự kết hợp chặt chẽ giữa tư duy hình tượng của người nghệ sĩ với tư duy chính luận. Qua kí chính luận nhà văn đặt ra nhiều vấn đề để giới thiệu, bình luận, chứng minh.
Kí tự sự chủ yếu ghi lại những diễn biến khách quan của cuộc sống và con người thông qua những sự kiện. Người viết kí có quyền bình luận, phân tích nhưng chủ yếu vẫn là tiếng nói của sự sống đang vận động, phát triển. Đối với loại kí trữ tình nghiêng về phần ghi nhận những cảm xúc và suy nghĩ của nhà văn trước hiện thực khách quan, hoặc xen kẽ kết hợp giữa bình luận, suy tưởng, miêu tả và kể chuyện. Chất cảm xúc trữ tình chiếm một vị trí quan trọng.
- GV cũng cần chỉ ra cho HS thấy sự khác biệt giữa truyện và kí để các em
không bị nhầm lẫn về thể loại.
Tiêu chí Truyện Kí
Đề tài
Thường phản ánh vấn đề sự hình thành tính cách của cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh. Kí thường hướng đến các vấn đề như kinh tế, xã hội, chính trị, và văn hóa, đạo đức của chính môi trường xã hội hoặc vẻ đẹp thiên nhiên.
Cốt truyện Truyện có cốt truyện rõ ràng. Kí thường không có cốt truyện.
- Kí tự sự Thể loại Truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, tiểu thuyết… - Kí trữ tình; kí chính luận
Nghệ thuật
Tác phẩm truyện có một xung đột thống nhất và phát triển lôgic với các phần: mở đầu- thắt nút- mở nút. Tác phẩm kí không có một xung đột thống nhất, phần khai triển của tác phẩm chủ yếu mang tính miêu tả, tường thuật.
- Để giúp HS hiểu thêm về tùy bút, GV phải giúp HS phân biệt giữa tùy bút, bút ký và kí sự để tránh những cách hiểu chung chung mơ màng về tiểu loại bút kí.
13
Tùy bút Bút kí Kí sự Tiêu chí
Kí trữ tình Kí trữ tình Kí tự sự Tiểu loại
Ghi lại những người và việc có thật của đời sống, không thêm một chút gì thuộc chủ quan người viết. Nội dung
Tùy bút ghi lại những suy nghĩ, cảm xúc, hồi tưởng của nhà văn về bất cứ vấn đề gì không theo một khuôn khổ nhất định hay một hệ thống chặt chẽ mà tuỳ theo dòng cảm xúc, dòng suy nghĩ nhất thời, để ngòi bút đưa đi từ liên tưởng này sang liên tưởng khác. Bút kí thiên về ghi lại một cảnh vật nhà văn mắt thấy tai nghe trong các chuyến đi. Nó tái hiện con người và sự việc một cách sinh động qua đó biểu hiện trực tiếp khuynh hướng cảm thụ của tác giả và mang màu sắc trữ tình.
Nghệ thuật
Hình ảnh chân thực, khách quan. Ngôn từ mang tính kể, tả nhiều hơn là bộc lộ cảm xúc.
Ngôn ngữ giàu tính chất trữ tình, nặng về những ý nghĩ riêng tư sâu sắc, thâm trầm và lôi cuốn người đọc. Lời văn cũng phóng khoáng, thoải mái. Kết hợp linh hoạt các phương thức nghị luận, tự sự, trữ tình. Thể loại văn học này là thể loại trung gian giữa tùy bút và kí sự.
3.2.2. Biện pháp thứ hai: Tích hợp kiến thức liên môn để thấy được vẻ đẹp phong phú, đa dạng của dòng Đà giang và vẻ đẹp của ông lái đò.
* Tích hợp với kiến thức địa lí để hiểu thêm về đặc điểm tự nhiên của dòng
sông Đà. (Tích hợp khi tìm hiểu về vẻ đẹp của sông Đà)
Khi giảng dạy tác phẩm, để giúp HS hình dung rõ nét hơn về thủy trình của sông Đà, GV nên sử dụng bản đồ sông Đà từ nhiều góc độ và hình ảnh của một số địa danh được nhắc đến trong tác phẩm.
Bản đồ sông Đà dưới dạng vẽ đồ họa Bản đồ sông Đà từ vệ tinh
14
Tình yêu cuộc sống, lòng ham hiểu biết về con sông, cây cầu của non sông đất nước cũng như ý thích đi lại hoạt động…đã tạo cho mỗi trang viết của Nguyễn Tuân ngồn ngộn kiến thức, thể hiện một sự hiểu biết tường tận từng chi tiết được nói tới trong văn mình. Dòng sông Đà có thể được tái hiện rất trữ tình, thơ mộng nhưng cũng có lúc khúc Đà giang vĩ đại hiện lên chính xác trong từng con số. Nguyễn Tuân thoắt trở thành nhà địa lí khi đưa ta về với thượng nguồn sông Đà ở Cảnh Đông tỉnh Vân Nam sau đó chan hòa vào sông Hồng, chảy trên đất Việt hơn 500 cây số trong tổng chiều dài hơn 800 nghìn thước mét, khi kể ra rất chính xác, cụ thể về “những cái thác, những cái ga nước trên sông Đà từ Vạn Yên về xuôi”.
Ông cũng cho thấy sự am hiểu về sông ngòi Việt Nam khi khám phá những dòng nước dữ dội cuộn xoáy tít đáy hay những thạch trận đá khắp sông Đà là thách thức lớn với những người qua sông. Việc vận dụng kiến thức Địa lí còn giúp HS hiểu địa hình Việt Nam, các dòng sông hầu hết ở thượng nguồn đều là vùng núi cao, nhiều vực thẳm, rừng già khiến cho nước chảy xiết dữ dội. Cảnh đá bờ sông dựng vách thành “Mặt sông quãng ấy lúc đúng ngọ mới thấy mặt trời”, “vách đá chẹt lòng sông như một cái yết hầu” thật chính xác. Ông quan sát hình dung: khoảng cách nhẹ nhàng tưởng như đứng từ bờ này ném nhẹ hòn đá sang bờ bên kia. Đó là “thác nước” với âm thanh dữ dội, đầy những tiếng réo gào. Tiếng thác được ví như tiếng rống của “một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu tre nứa nổ lửa”. Con sông luôn hung hăng, ưa gây sự luôn chờ đợi người lái đò sông Đà để giáng tai họa vào cho họ. Hình ảnh “Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió… Những động từ mạnh, lặp lại nói đến sự tiếp diễn của hành động “xô” được diễn ra trên một không gian dài như con sông và hành động đó dữ dội không chỉ ở trong lòng mà cả trên mặt sông: “Cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như đòi nợ xuýt…”.
* Tích hợp với kiến thức lịch sử để hiểu thêm về vẻ đẹp và lịch sử của dòng
sông Đà. (Tích hợp khi tìm hiểu về vẻ đẹp trữ tình của sông Đà)
Quả thật, khi miêu tả dòng sông Đà, Nguyễn Tuân đã đứng trong vai trò của nhiều nhà khoa học: một người chuyên nghiên cứu lịch sử biết dòng sông dưới thời Pháp thuộc có một “cái tên Tây lếu láo” do chúng tự đặt là “sông Đen”; một nhà chính trị khi biết “châu Quỳnh Nhai được giải phóng trước tiên ở Tây Bắc”, trở thành “cơ sở bàn đạp ở Tây Bắc” xuyên vào lòng địch...
Nguyễn Tuân hiểu rõ các thời kì lịch sử khác nhau gắn với Sông Đà từ thời tiền sử, thời Hùng Vương, thời vua chúa phong kiến, thời kháng chiến, thời xây dựng chủ nghĩa xã hội… Sông Đà từ đời Lí, đời Trần đến đời Lê vẫn cứ lặng tờ như thế hai bên bờ sông. “Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi”; rồi cũng lại từ cái tĩnh lặng của hiện tại mà hướng đến tương lai với “tiếng còi xúp–lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ – Yên Bái – Lai Châu”.
15
* Tích hợp với kiến thức văn hóa để giúp học sinh hiểu rõ vẻ đẹp tâm hồn và đời sống sinh hoạt của con người bên dòng sông Đà. (Tích hợp khi hướng dẫn HS tìm hiểu về hình tượng ông đò sau cuộc vượt thác)
Đó là những cảnh sinh hoạt của ông lái đò sau khi vượt qua thác đá sông Đà. Đó là hình ảnh ông đò đốt lửa trong hang đá sưởi ấm, nướng ống cơm lam – một loại cơm được nướng trong ống nứa thơm ngon của đồng bào Tây Bắc. Ông thư thái ngồi thưởng ngoạn vẻ đẹp của sông Đà và bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh – những loài cá quý hiếm trên sông Đà. Đó là đời sống tinh thần phong phú, tự do tự tại của người lao động vùng Tây Bắc. Những khó khăn hiểm nguy của cuộc mưu sinh không khiến họ trở nên chai sạn đi mà ngược lại họ vẫn mang một tâm hồn “tao nhân mặc khách”, tâm hồn tinh tế của một thi sĩ. Vẻ đẹp của ông lái đò – vừa dũng cảm phi thường, vừa tài hoa nghệ sĩ chính là vẻ đẹp của con người nơi đây – “chất vàng mười Tây Bắc” đã qua thử lửa được Nguyễn Tuân khám phá và tái hiện trên trang viết.
* Tích hợp với kiến thức âm nhạc để thấy được chất nhạc của sông Đà. (tích hợp trong phần khởi động; phần tìm hiểu về nước và vẻ đẹp trữ tình của sông Đà )
Nguyễn Tuân đã vận dụng các kỹ thuật thanh nhạc để hòa tấu nên bản nhạc mang tên “sông Đà”. Đó là bản hợp âm dữ dội của thác đá: “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”, “tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”… Những cách ví von mới lạ, độc đáo cùng ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, giàu sức gợi và nhịp điệu câu văn nhanh, gấp, đã tác động mạnh vào tâm trí người đọc, liên tục đẩy âm thanh thác dữ đến hồi cao trào, quyết liệt nhất, để rồi, khi tất cả đã qua đi, người ta có cảm giác đầu óc mình đã căng quá độ, bây giờ thừ ra nghe “Sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ”. “Sông nước lại thanh bình”. Nếu như vẽ một cái biểu đồ tần số âm thanh sông Đà thì ta đã có một đường lên rất cao rồi đột ngột trở về với thanh ngang ghi âm của biểu đồ. Sau đó, ngòi bút tinh tế của Nguyễn Tuân lại giúp ta vẽ tiếp một đường đi xuống để diễn tả cái “lặng tờ” của cảnh vật ven sông Đà ở hạ lưu. Nguyễn Tuân, bằng tài nghệ và cá tính của mình đã lôi kéo tâm thức người đọc miên man theo rồi bất ngờ đánh thức họ bằng tiếng cá đập nước, âm thanh không phải dễ nghe thấy trong cuộc sống thường ngày. Chỉ có trong không gian tĩnh lặng này, nó mới có thể “đuổi mất đàn hươu vụt biến” và làm chúng ta choàng tỉnh. Tiếng động ấy đã khiến đường ghi âm nhích lên một chút, tạo một điểm nhấn thanh nhẹ rồi lại trả con sông ở hạ lưu về với vẻ “lặng tờ” vốn dĩ.
* Tích hợp với hội họa để thấy được chất họa đậm nét qua ngôn từ của tác
phẩm. (Tích hợp trong phần hướng dẫn HS tìm hiểu về vẻ đẹp của sông Đà )
16
Đối với Nguyễn Tuân những trang kí của ông không chỉ thấm đẫm chất thơ mà còn giàu chất hội họa. Qua ngòi bút tinh tế, sông Đà hiện hữu với những đường nét, màu sắc hài hòa đa dạng tạo nên một hình ảnh trọn vẹn về dòng sông đặc trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc. Để giúp HS hiểu thêm giá trị ấy, GV cần cung cấp các kiến thức hội họa cho HS. Đường nét và màu sắc là hai yếu tố chủ đạo trong hội họa. Hiểu được điều đó, nhà văn tái hiện vẻ đẹp sông Đà qua những đường nét khá phong phú. Nguyễn Tuân bằng những hiểu biết về những môn nghệ thuật gần gũi với văn chương như hội họa đã tạo hình sông Đà “tuôn dài như một áng tóc trữ tình”, hay “ngoằn ngoèo như một cái dây thừng”; sử dụng nghệ thuật điêu khắc khi miêu tả “có chỗ vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu”... Vài nét vẽ mà thật giàu sức gợi!
Nước đã dữ, đá thác còn khó ưa hơn. Sức tưởng tượng đã được Nguyễn Tuân phát huy để tạo dáng hình cho từng khuôn mặt đá: đá to đá nhỏ “Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này”, lại có “những hòn đá bệ vệ oai phong lẫm liệt” hay “tiu nghỉu cái mặt xanh lè”. Khắc xong lại tô vẽ. Nhà văn lôi hộp màu ngôn từ ra, mong truyền tải lại được một cách chân thực, sống động nhất vẻ đẹp con sông mà ông đã để tâm quan sát rất kĩ lưỡng. Nếu cái dữ dằn của đá khiến nó trở nên xấu xí, khó ưa thì cái dữ dằn của nước sông lại vô tình phát huy tác dụng của nắng khiến nó mang vẻ đẹp sang trọng, lấp lánh huyền ảo của một “Mặt sông trắng xóa”, “lòa sáng lên như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà châm lửa vào đầu sóng”, lại “loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt mình rồi bỏ chạy”, hay “sáng lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi”. Chẳng hiểu sao đọc những dòng mô tả của Nguyễn Tuân, ta lại liên tưởng đến chiếc váy lộng lẫy của Nữ thần mặt trời trong sử thi “Đam Săn”. Và có lẽ lúc này, dòng sông cũng đẹp như thế! Một vẻ đẹp khiến ta trầm trồ ngưỡng mộ. Rồi, nó lại khiến ta thương thầm trong những sắc màu bình dị nhưng mặn mà, mỗi mùa mỗi khác: “Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước sông Đà không xanh màu xanh canh hến của sông Gâm, sông Lô. Mùa thu nước sông Đà từ từ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa”. Thảo nào Nguyễn Tuân không xót xa và phẫn nộ cho được khi “thực dân Pháp đã đè ngửa con sông ta ra đổ mực Tây vào mà gọi bằng một cái tên Tây láo lếu, rồi cứ thế mà phiết vào bản đồ lai chữ”. Cách tạo hình của Nguyễn Tuân thật tài hoa với tuyệt phẩm sông Đà.
Tác giả tinh tế phát hiện những cảnh sắc tươi non, thơ mộng ven sông Đà khi đã về đến hạ lưu: “nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”, “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bụng trắng như bạc rơi thoi”. Còn cái so sánh này thì thật táo bạo, bất ngờ: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa”. Một bức tranh có hồn và đầy sức sống được dựng bởi ngòi bút văn chương tài hoa bậc thầy của Nguyễn Tuân.
17
* Tích hợp với kiến thức của ngành sân khấu điện ảnh để thấy vẻ đẹp đa
chiều của sông Đà. (Tích hợp trong phần tìm hiểu về nước trên sông Đà)
Cái chúng ta đang chiêm ngưỡng không chỉ là tác phẩm âm nhạc, hội họa, điêu khắc mà còn là một tác phẩm điện ảnh. Nhà văn khi thì “Ngồi trong khoang đò” quay cảnh đá bờ sông, chẹt lòng sông, khi thì “ngồi tàu bay” chiếu ống kính xuống để bao quát toàn cảnh. Còn với những cảnh quá nguy hiểm, không thể quay trực tiếp được, nhà văn lại huy động đến trí tưởng tượng để “ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy hút sông Đà” mà lia ngược ống kính lên để quay cận cảnh “một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp cả máy cả người quay phim cả người đang xem”. Ấy vậy mà đã truyền được cái hồn cốt của nó đến với độc giả. Điều này thật chỉ có “nhà quay phim” tài ba như Nguyễn Tuân mới làm nổi.
* Tích hợp kiến thức của ngành quân sự, thể thao, võ thuật để thấy vốn hiểu biết phong phú và kỹ năng miêu tả bậc thầy của Nguyễn Tuân. (Tích hợp trong phần hướng dẫn HS tìm hiểu về thạch trận trên sông Đà và cuộc vượt thác của ông đò)
Tác giả đã sử dụng đến tri thức về khoa học quân sự và võ thuật để miêu tả thạch trận và cuộc vượt thác đầy cam go của ông lái. Người đọc tưởng thấy trước mắt một “trùng vi thạch trận” được bày bố công phu bởi những “chiến binh đá” hung ác và lão luyện. Chúng biết dàn trận với “hàng tiền vệ” rồi “tuyến giữa”, “tuyến hai”…; thông thạo những chiến thuật đánh trận như “mai phục”, “dụ”, “đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm”…; đánh trận cũng rất xông xáo, dũng mãnh: “nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền”; lại còn ngạo mạn “hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi”, thách thức cái thuyền “có giỏi thì tiến gần vào”… Đó là chưa kể chúng còn có sự hợp sức của nước thác cũng hiếu chiến, hung dữ và ma mãnh không kém: “Mặt nước hò la vang dậy… ùa vào mà bẻ gãy cán chèo võ khí trên cánh tay mình… liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền… đội cả thuyền lên… bám lấy thuyền như đô vật túm lấy thắt lưng ông lão… nước thanh la não bạt”… Thế này thì ông lái nguy mất! Người đọc không khỏi băn khoăn lo lắng. Nhưng chứng kiến trọn vẹn cảnh vượt thác mới thấy ông không phải dễ bị “bắt nạt”. Sức dẻo dai của cơ thể cùng cái đầu cứng cỏi, bình tĩnh, “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”, “thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở” đã giúp ông lái “xung trận” như một võ sĩ “trí dũng song toàn” lần lượt bẻ gãy các cuộc vây ráp, các đòn tấn công. Từng động tác của ông mới nhanh gọn, dứt khoát làm sao: “tránh”, “đè sấn”, “lái miết một đường chéo”, “phóng thẳng”… Ngôn ngữ miêu tả đầy cá tính, giàu chất tạo hình, nhiều từ dùng mới mẻ cùng những ví von bất ngờ mà vô cùng chính xác đã được sử dụng để miêu tả thạch trận, đá thác, sóng thác, nước thác, bây giờ lại tiếp tục được vận dụng để tả những vận động không kém phần dữ dội, quyết liệt của ông lái “nắm chặt lấy được cái bờm sóng… ông đò ghì cương lái”, “thuyền như
18
một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước”… Có thể nói, với vốn hiểu biết phong phú về quân sự và võ thuật, thể thao, Nguyễn Tuân đã tái hiện trận chiến có một không hai giữa con sông tự nhiên với con người nhỏ bé từ đó khẳng định sự xảo quyệt hung bạo của sông Đà và ngợi ca vẻ đẹp trí dũng của người lái đò sông Đà.
* Tích hợp với công nghệ thông tin để làm phong phú bài dạy. (trình
chiếu các video, hình ảnh, giáo án điện tử)
Trong quá trình giảng dạy việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ giúp giáo viên giảng dạy một cách chủ động tích cực hơn và cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo hứng thú cho học sinh. Đối với tác phẩm Người lái đò sông Đà, khi giảng dạy ta có thể đưa các loại hình ảnh, video sau:
- Hình ảnh: Đưa hình ảnh Nguyễn Tuân, bản đồ Sông Đà và Tây Bắc, hình
ảnh bìa các tác phẩm của Nguyễn Tuân, các hình ảnh được nhắc đến trong tác phẩm.
- Video: Video giới thiệu về sông Đà.
- Giáo án điện tử: Thiết kế giáo án điện tử ở dạng dễ hiểu nhất cho học sinh nhưng vẫn đầy đủ ý. Từ việc được nghe giảng, được xem các hình ảnh sẽ giúp học sinh hứng thú hơn trong tiếp nhận nhằm khắc phục trạng thái “ngại học” ở các em.
Nguyễn Tuân và tuyển tập
Thạch trận trên sông Đà Hút nước trên sông Đà
19
Sông Đà ngắm nhìn trên cao Sông Đà ngắm nhìn từ trên thuyền
Ông đò trong cuộc vượt thác
3.3. Tích hợp trong hoạt động luyện tập, vận dụng
3.3.1. Tích hợp với môn Giáo dục công dân
Tích hợp với môn giáo dục công dân để giáo dục cho HS những bài học đạo đức, nhân cách và ý thức trách nhiệm đối với đất nước. Từ tác phẩm Người lái đò sông Đà, GV phải lồng vào phần liên hệ mang tính giáo dục, nhắc nhở các em lòng yêu quê hương, đất nước, trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Từ chỗ giúp HS thấy được vẻ đẹp của sông Đà, của thiên nhiên Tây Bắc để giúp học trò nhận thức được cần phải trân trọng, gìn giữ những vẻ đẹp của non sông gấm vóc. Mặt khác, qua bài học ta cũng cần giáo dục các em ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường, đặc biệt là giữ gìn những dòng sông xanh – sạch – đẹp. Vì đó là vẻ đẹp của thiên nhiên
20
đất nước cũng là dòng sông văn hóa – dòng sông lịch sử. Ý thức giữ gìn và bảo vệ sông Đà cũng như những dòng sông khác giúp cho việc tô điểm thiên nhiên đất nước tươi đẹp và giúp mỗi chúng ta có một môi trường sống trong sạch, lành mạnh hơn.
3.3.2. Tích hợp với văn học sử để đối sánh tác phẩm kí của Nguyễn Tuân với các nhà văn khác nhằm tìm ra “tạng chất” riêng ở văn nhân
Để hiểu rõ hơn tạng văn Nguyễn Tuân, chúng ta cần thấy được sự khác biệt giữa văn phong Nguyễn Tuân và các nhà văn khác trong đó tiêu biểu phải kể đến Hoàng Phủ Ngọc Tường với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Việc GV so sánh giữa văn phong của Nguyễn Tuân trong “Người lái đò sông Đà” với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông” sẽ giúp các em thấy được nét độc đáo, tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân và phong cách viết kí sắc bén, với lối tư duy đa chiều, lập luận chặt chẽ, logic nhưng đầy mê đắm tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đây cũng là cách để các em HS hiểu sâu sắc hơn về thể loại kí sau tiết học.
4. Kế hoạch bài dạy thực nghiệm
NGƢỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ
Nguyễn Tuân
(Thời lượng 3 tiết)
I. MỤC TIÊU
1. Kiến thức:
- HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm.
- HS hiểu và lí giải được hoàn cảnh sáng tác có tác động và chi phối như thế
nào tới nội dung tư tưởng của tác phẩm.
- HS hiểu và cảm nhận được vẻ đẹp đa dạng của con sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy.Từ đó thấy được tình yêu say đắm của Nguyễn Tuân trước con người lao động và thiên nhiên Tây Bắc Tổ quốc.
- Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của Nguyễn Tuân ở thể loại tuỳ bút.
2. Bảng mô tả các năng lực, phẩm chất cần phát triển cho HS: MỤC TIÊU MÃ HÓA
STT NĂNG LỰC ĐẶC THÙ: Đọc( Đ) – nói(N1) – nghe (N)–viết(V)
Đ1 1 Năng lực thu thập thông tin liên quan đến tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Người lái đò sông Đà.
Đ2 2 Phân tích được vẻ đẹp hình tượng sông Đà và người lái đò sông Đà.
21
Đ3 3 Nhận xét được những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu trong việc thể hiện hình tượng ở văn bản.
Đ4 4
Phân tích và đánh giá được chủ đề tư tưởng, thông điệp mà văn bản gửi gắm: Ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động miền Tây Bắc.
Đ5 5 Nhận biết và phân tích được một số yếu tố liên quan đến nghệ thuật và tài năng viết kí của Nguyễn Tuân.
N1 6 Biết cảm nhân, trình bày ý kiến của mình về các vấn đề thuộc giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
V1 7
Có khả năng tạo lập một văn bản nghị luận văn học: trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về đặc trưng của thể loại tùy bút.
NĂNG LỰC CHUNG: GIAO TIẾP VÀ HỢP TÁC, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ (GT – HT, GQVĐ)
GT-HT 8
Phân tích được các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ nhóm được GV phân công. Hợp tác khi trao đổi, thảo luận về những vấn đề thuộc giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
GQVĐ 9
Biết thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề (thu thập những kiến thức của các môn học địa lý, lịch sử, giáo dục công dân, công nghệ thông tin…); biết đề xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề.
PHẨM CHẤT CHỦ YẾU: TRÁCH NHIỆM, YÊU NƢỚC( TN, YN)
TN, YN 10 Có thái độ trân trọng tài năng của tác giả và biết yêu quý, gìn giữ vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, con người.
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU 1. Thiết bị dạy học: Máy chiếu, Tivi, giấy A0, A4,… 2. Chuẩn bị của giáo viên: - Giáo án điện tử - Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi - Tranh ảnh về nhà văn; hình ảnh, phim về sông Đà - Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp - Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà 3. Chuẩn bị của học sinh:
- Đọc trước ngữ liệu trong SGK để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài
22
- Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (GV giao từ tiết 1) - Đồ dùng học tập
III. TIẾN TRÌNH DẠY - HỌC A. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
Hoạt động học Mục tiêu Nội dung dạy học trọng tâm PP/KTDH chủ đạo Phƣơng án đánh giá
(Thời gian)
- Nêu vấn đề
Đánh giá qua câu trả lời của cá nhân HS HĐ 1: Khởi động Kết nối, Đ1
(5 phút) Huy động, kích hoạt kiến thức trải nghiệm nền của HS có liên quan đến tác giả, tác phẩm Người lái đò sông Đà. - Đàm thoại, gợi mở Do GV đánh giá.
I. Tìm hiểu chung. 1. Tác giả 2. Tác phẩm
II. Đọc hiểu văn bản. Đánh giá qua sản phẩm của các nhóm, qua trình bày do GV và HS đánh giá 1. Hình tượng sông Đà
2. Hình tượng người
HĐ 2: Hình thành kiến thức (115 phút) lái đò
Đ1, Đ2, Đ3,Đ4, Đ5, N1, GT – HT, GQVĐ Đàm thoại gợi mở, dạy học hợp tác (thảo luận nhóm, thảo luận cặp đôi); thuyết trình; trực quan. Đánh giá qua quan sát thái độ của HS khi thảo luận do GV đánh giá.
III. Tiểu kết: Rút ra những thành công đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
- Vấn đáp.
- Kỹ thuật: động não. Thực hành bài tập luyện kiến thức, kĩ năng qua hệ thống câu hỏi trắc nghiệm. N1, GQVĐ, Đánh giá qua hỏi đáp; qua trình bày do GV và HS đánh giá.
HĐ 3: Luyện tập
(3 phút) GT – HT
Đánh giá qua quan sát thái độ của HS do GV đánh giá.
N1,
GQVĐ, Đàm thoại gợi mở, thuyết trình HĐ 4: Vận dụng (3 phút) GT – Liên hệ thực tế đời sống để làm rõ thêm thông điệp tác giả gửi gắm trong tác phẩm. Đánh giá qua hỏi đáp, trình bày do GV và HS đánh giá.
23
HT
Đánh giá qua quan sát thái độ. của HS khi thảo luận do GV đánh giá.
Tìm tòi, mở rộng kiến thức.
HĐ 5: Mở rộng Đàm thoại gợi mở; thuyết trình Đánh giá qua sản phẩm theo yêu cầu đã giao. Đ5
(5 phút)
GV và HS đánh giá.
B. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
I. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG (5 phút)
a) Mục tiêu: Tạo hứng thú cho HS, thu hút HS sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ
học tập của mình. HS khắc sâu kiến thức từ đó kết nối với nội dung bài học.
b) Nội dung: GV cho HS nghe bài hát, trình chiếu một số hình ảnh về sông
Đà. HS lắng nghe, quan sát.
c) Sản phẩm: Nhận thức và thái độ học tập của HS.
d) Tổ chức thực hiện:
GV tích hợp với kiến thức âm nhạc
- GV cho HS nghe bài hát Tiếng gọi sông Đà của nhạc sĩ Trần Chung trên
nền một số hình ảnh về sông Đà.
- HS thực hiện nhiệm vụ.
- Từ đó, GV giới thiệu vào bài: Các em vừa được thưởng thức nhạc phẩm Tiếng gọi Sông Đà của nhạc sỹ Trần Chung. Bài hát đã ngợi ca Sông Đà – con sông của miền Tây Bắc, của nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca và âm nhạc. Đó cũng là đối tượng gây thương nhớ, cảm mến cho bạn đọc nhiều thế hệ qua trang văn độc đáo, tài hoa của Nguyễn Tuân trong tác phẩm Người lái đò Sông Đà. Bài học này cô trò chúng ta cùng khám phá vẻ đẹp của sông Đà cùng vẻ đẹp của con người lao động trên dòng sông.
II. HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC (115 phút)
Hoạt động 1: Hƣớng dẫn HS tìm hiểu chung về tác giả và tác phẩm
a) Mục tiêu: Nắm được các thông tin về tác giả, tác phẩm và nhiệm vụ sẽ
thực hiện trong tiết 2 và tiết 3: Đ1, HT – GT.
b) Nội dung:
- GV yêu cầu HS vận dụng SGK, kiến thức để thực hiện hoạt động cá nhân.
- HS trả lời câu hỏi để chiếm lĩnh kiễn thức.
24
c) Sản phẩm: Câu trả lời của HS.
d) Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV - HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM
I/ Tìm hiểu chung
Nội dung 1:Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm 1. Tác giả Nguyễn Tuân
a. Cuộc đời
- Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là người trí thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Bƣớc 1: GV trình chiếu một số hình ảnh về nhà văn Nguyễn Tuân và chuyển giao nhiệm vụ
- Là người có cá tính mạnh mẽ và phóng khoáng. * GV yêu cầu HS theo dõi SGK và trả lời:
b. Sự nghiệp
- Những nét chính về tác giả Nguyễn Tuân?
- Nguyễn Tuân là một nhà văn, nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.
- Cho biết thể loại và xuất xứ tác phẩm?
- Ông có đóng góp cho thể loại kí, bút kí và sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc.
- Người lái đò sông Đà được sáng tác trong hoàn cảnh nào? - Chia làm hai giai đoạn:
Trƣớc CMT8 Sau CMT8 - Em hãy trình bày những hiểu biết về thể loại tuỳ bút?
Đường vui, Tình chiến dịch, Sông Đà… Tác phẩm Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hương… Bƣớc 2: HS trao đổi thảo luận cặp đôi, thực hiện nhiệm vụ.
Bƣớc 3: Báo cáo kết quả hoạt động
Đề tài Chủ nghĩa xê dịch, vang bóng một thời, đời sống trụy lạc. + HS lần lượt trả lời từng câu hỏi
Phục vụ cho Cách mạng, bám sát nhiệm vụ chính trị, ca ngợi cuộc sống và con người lao động.
Tin yêu, gắn bó với Đất nước, cuộc đời. Thái độ Phản đối, bất hoà với xã hội “Tây- Tàu nhố nhăng”.
Tài hoa, độc đáo. Phong cách
25
2. Tuỳ bút “ Ngƣời lái đò Sông Đà”
* GV Tích hợp kiến thức Lịch sử Việt Nam những năm 60, hướng dẫn học sinh tìm hiểu hoàn cảnh ra đời tuỳ bút của Nguyễn Tuân
a. Hoàn cảnh sáng tác: ra đời năm 1960, là kết quả chuyến đi thực tế của tác giả năm 1958 ở vùng Tây Bắc để tìm kiếm chất vàng mười của thiên nhiên và chất vàng mười đã qua thử lửa của con người.
b. Xuất xứ: Bài tùy bút được in trong tập Sông Đà (1960). - Năm 1960 là thời kì miền Bắc xây dựng CNXH. Vì thế, nhà văn rất quan tâm đến vẻ đẹp của người lao động trong thời kì đổi mới.
c. Thể loại: Tuỳ bút:
- Tuỳ bút thuộc thể kí
- Giàu tư liệu thực tế
GV tích hợp kiến thức Lí luận văn học: GV đặt ra vấn đề để HS phát hiện và phân loại được thể kí, phân biệt được giữa tuỳ bút, bút kí và kí sự để từ đó hiểu rõ hơn về thể loại tuỳ bút. - Thể hiện tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm. Nhân vật chính là cái tôi của nhà văn
+ GV gọi hs nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn. - Ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ, nhiều so sánh liên tưởng.
II.Tiểu kết Bƣớc 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
+ GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức và ghi lên bảng.
Tuỳ bút Người lái đò sông Đà là tác phẩm xuất sắc trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân sau CMT8. Tác phẩm đã đánh dấu thành công của Nguyễn Tuân ở thể loại tuỳ bút.
Nội dung 2: GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS chuẩn bị ở nhà
Để có một bài giảng hoàn chỉnh và hấp dẫn lôi cuốn, HS tiếp nhận tác phẩm một cách chủ động sáng tạo thì khâu chuẩn bị được xem như một phần quan trọng không thể thiếu. Vì vậy, trước khi dạy văn bản “Người lái đò sông Đà” tôi đưa ra một số cách để học sinh chuẩn bị bài như sau:
Giao cho học sinh trả lời một hệ thống câu hỏi bám sát SGK đồng thời
lồng vào các câu hỏi mở
Đi vào cụ thể, hệ thống câu hỏi mà tôi sử dụng để hướng dẫn học sinh khai
thác đoạn trích như sau:
Phần 1: Vẻ đẹp hình tƣợng con sông Đà
+ Cảm nhận ý nghĩa câu đề từ để thấy được nét độc đáo của con sông Đà so với các dòng sông khác trên đất nước ta và mối duyên văn chương giữa sông Đà và Nguyễn Tuân?
26
+ Diện mạo của sông Đà có gì đặc biệt?
+ Tính cách hung bạo của sông Đà được bộc lộ qua những đặc điểm nào?
Hãy làm sáng tỏ qua các đoạn văn cụ thể.
+ Tại sao nói con sông Đà tuy có hung bạo nhưng đôi khi lại rất thơ mộng,
trữ tình, dịu dàng? Hình ảnh ấy được tác giả so sánh với vẻ đẹp của ai ?
+ Để làm nổi bật vẻ đẹp của sông Đà, Nguyễn Tuân đã vận dụng kiến thức
của những nghành nghề nào?
Phần 2: Vẻ đẹp hình tƣợng ông lái đò
+ Tại sao nói ông lái đò là một “nghệ sĩ” trong nghệ thuật chèo đò vượt
thác?
+ Vẻ đẹp tâm hồn của ông lái đò sau cuộc chiến sinh tử với thác đá sau Đà
được Nguyễn Tuân khắc họa như thế nào?
+ Hãy chỉ ra điểm mới mẻ trong quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân sau 1945 qua hình tượng ông lái đò trong sự đối sánh với hình tượng Huấn Cao trong Chữ người tử tù (trích Vang bóng một thời)
Phần 3: Nét đặc sắc trong tùy bút Nguyễn Tuân
+ Một tùy bút đặc sắc như vậy chỉ có thể là kết quả, là tổng hoà của những
tình cảm và phẩm chất nào ở Nguyễn Tuân?
+ Hãy chỉ ra những nét độc đáo trong cách viết kí của Nguyễn Tuân so với
Hoàng Phủ Ngọc Tường?
HS ghi chép và nắm nội dung được chuyển giao. (Nhiệm vụ này sẽ bổ trợ
cho HS trong hai tiết học sau)
Tiết 2
Hoạt động 1: Hƣớng dẫn HS đọc hiểu văn bản/ Tìm hiểu hình tƣợng
sông Đà
a) Mục tiêu: Nắm được vẻ đẹp của sông Đà vừa hung bạo vừa trữ tình và ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân khi miêu tả sông Đà: Đ1, Đ2, Đ3, Đ4, Đ5, N1, GT – HT, GQVĐ
b) Nội dung: GV yêu cầu HS vận dụng kĩ năng đọc, kiến thức SGK để thực
hiện hoạt động tìm hiểu về vẻ đẹp sông Đà.
- HS đọc, tìm tòi và làm việc theo nhóm, trình bày sản phẩm.
c) Sản phẩm: Câu trả lời của HS, sản phẩm của các nhóm.
d) Tổ chức thực hiện:
27
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM
II/ Đọc – hiểu văn bản:
A. Nội dung:
1. Hình tƣợng con sông Đà:
*GV Tích hợp kiến thức địa lí: GV trình chiếu sơ đồ về thuỷ trình của sông Đà và video về sông Đà để HS có những ấn tƣợng ban đầu về sông Đà a. Lai lịch con sông:
- GV: Hướng dẫn HS phân tích hai câu thơ đề từ để thấy được sự độc lạ của dòng sông - “Chúng thuỷ giai Đông tẩu; Đà giang độc Bắc lưu” (mọi con sông đều chảy theo hướng Đông, chỉ có sông Đà theo hướng Bắc)
Bƣớc 1: GV chuyển giao nhiệm vụ học tập - Thơ Ba Lan: Đẹp vậy thay tiếng hát dòng sông
GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm:
→Ý nghĩa: Sông Đà như một nhân vật có diện mạo, có cá tính độc đáo.
Nhóm 1: Tìm hiểu về đá trên sông Đà:
Đá trên sông Đà Nghệ thuật Chi tiết, hình ảnh tiêu biểu
Đá ở vách thành
Thạch trận
Nhóm 2: Tìm hiểu về nước trên sông Đà:
Nghệ thuật
Chi tiết, hình ảnh tiêu biểu
Nƣớc trên sông Đà
Mặt ghềnh
Hút nước
Thác nước
28
b. Sông Đà ở thƣợng nguồn Nhóm 3: Sông Đà ở hạ lưu được tác giả miêu tả ở những điểm nhìn nào? Đặc điểm của sông Đà ở những điểm nhìn đó? * Đá trên sông Đà
Đá Nghệ thuật Chi tiết, hình ảnh tiêu biểu
- Dựng vách thành Nhóm 4: Nhận xét chung về Sông Đà? Qua hình tượng sông Đà Nguyễn Tuân đã thể hiện tình cảm gì với quê hương đất nước?
- Quan sát, so sánh, tưởng tượng độc đáo. - Mặt nước chỗ ấy đúng ngọ mới thấy mặt trời. Bƣớc 2: HS thảo luận, thực hiện nhiệm vụ học tập (thời gian 5 phút)
+ HS tiếp nhận, thảo luận nhóm và suy nghĩ câu trả lời. - Vách đá cao chẹt lấy lòng sông như cái yết hầu. Đá ở vách thành - Cảm nhận ở nhiều góc nhìn khác nhau
+ GV quan sát, hướng dẫn, hỗ trợ khi HS cần.
- Có quãng con nai, con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia. Bƣớc 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận
=> Dòng sông lạnh lẽo, âm u. + Các nhóm lần lượt trình bày và bổ sung cho nhau - Nhân hoá Kết quả mong đợi:
- Đá nghìn năm mai phục… nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền… * Nhóm 1: trình bày kết quả thảo luận
- Vận dụng kiến thức quân sự, thể thao
- Mặt ngố ngược, nhăn nhúm, méo mó.
GV tích hợp với kiến thức quân sự, kiến thức thể thao để giúp HS hiểu rõ hơn về đặc điểm của đá trên sông Đà.
Thạch trận
- Đá chia làm ba hàng: Tiền vệ, tuyến hai và tuyến ba là những boong ke chìm
- Bày thạch trận, đòi ăn chết con thuyền, tiêu diệt bất cứ người lái đò nào đi qua…
=> Tâm địa độc ác
29
*Nƣớc sông Đà
* Nhóm 2: trình bày kết quả thảo luận
Nghệ thuật Chi tiết, hình ảnh tiêu biểu Nƣớc sông Đà
- Điệp. GV tích hợp kiến thức điện ảnh, âm nhạc để giúp HS hiểu đƣợc rõ hơn sự độc dữ của nƣớc trên sông Đà.
Mặt ghềnh - Âm hưởng dữ dội dồn dập. - Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió… gùn ghè. Suốt năm muốn đòi nợ suýt bất cứ người lái đò nào qua đấy
=> Cuồng nộ, dữ dằn
- Miêu tả tỉ mỉ. - Như cái giếng bê tông… xoáy tít
- Thở và kêu như cửa cống bị sặc.
- Trí tưởng tượng phong phú.
- Ặc ặc như vừa mới rót dầu sôi vào. Hút nƣớc
- Vận dụng kiến thức nghành điện ảnh… - Lôi tuột bè gỗ, chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác
=> Như một loài thuỷ quái.
- Quan sát công phu, kĩ càng.
- Từ xa: Nghe như oán trách, van xin, khiêu khích, giọng gằn, chế nhạo
- Liên tưởng độc đáo.
Thác nƣớc
- Lại gần: Rống lên như tiếng một nghàn con trâu mộng lồng lộn …rừng tre nổ lửa, gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…
=> Sức tàn phá khủng khiếp, rùng rợn. - Sử dụng kiến thức của nhiều nghành nghề, lĩnh vực.
=> Sông Đà ở thượng nguồn như một loài thuỷ quái, độc ác dữ dằn, đầy hiểm trở.
30
c. Sông Đà ở hạ lƣu
* Nhóm 3: trình bày kết quả thảo luận * Từ trên tàu bay
- Hình dáng: tuôn dài, tuôn dài
- Màu nước:
GV tích hợp kiến thức của nghành hội hoạ, lịch sử để thấy đƣợc vẻ đẹp trữ tình của dòng sông.
Mùa thu: lừ lừ chín đỏ như da người bầm đi vì rượu bữa.
Mùa xuân: nước xanh màu ngọc bích.
→ Sông Đà như một giai nhân kiêu sa,
kiều diễm, gợi cảm.
* Từ trong rừng đi ra:
- Mặt nước loang loáng
- Mang vẻ đẹp đường thi
- Đem đến niềm vui, đằm đằm ấm ấm
→Sông Đà như một cố nhân.
* Từ trên thuyền:
- Cảnh lặng tờ không bóng người
- Bờ sông hoang dại, mang màu sắc cổ xưa
- Vẻ đẹp trù phú tràn đầy nhựa sống
→ Sông Đà như một bài thơ nhuốm
màu cổ tích.
=> Tạo dựng nên cả một không gian trữ tình, thơ mộng đủ sức khiến người đọc say đắm, ngất ngây.
II. Tiểu kết
* Nhóm 4: trình bày kết quả thảo luận
- Sông Đà hiện lên như một thực thể sinh động, có tâm trạng, có nhân cách.Vẻ đẹp của con sông là vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc.
- Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến thiết tha đối với thiên nhiên Đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Đó là chất vàng mà Nguyễn Tuân tìm kiếm.
31
- Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà làm phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.
Bƣớc 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập
+ GV nhận xét, bổ sung, chốt kiến thức => Ghi kiến thức then chốt lên bảng.
Tiết 3
Nội dung 3: Hƣớng dẫn HS tìm hiểu hình tƣợng ông lái đò
a) Mục tiêu: Nắm được vẻ đẹp của người lao động qua hình tượng ông lái đò và sự điêu luyện trong ngòi bút Nguyễn Tuân: Đ2, Đ3, Đ4, Đ5, N1, GT-HT, GQVĐ, YN-TN
b) Nội dung:
- GV yêu cầu HS vận dụng SGK, kiến thức để tìm hiểu nội dung
- HS làm việc nhóm, trình bày kết quả của nhóm
c) Sản phẩm: Câu trả lời của HS, sản phẩm các nhóm
d) Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM
Bƣớc 1: chuyển giao nhiệm vụ 2. Hình tượng người lái đò
a. Lai lịch:
- Ông đò 70 tuổi, lớn lên bên bờ Sông Đà - GV yêu cầu HS theo dõi SGK hướng dẫn HS tìm hiểu về lai lịch, nghề nghiệp của ông đò
- Cuộc đời gắn liền với nghề lái đò, nhiều lần vượt thác sông Đà
=> Gắn bó với Sông Đà. Ông đò được Nguyễn Tuân giới thiệu như thế nào về lai lịch và ngoại hình?
b. Ngoại hình - HS trả lời câu hỏi
- Chân tay dài lêu nghêu, chân lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh…kẹp lấy cuống lái
- Giọng ào ào như tiếng nước, nhỡn giới vời vợi
- Cái đầu quắc thước; thân hình cao to, gọn quánh
=> In hằn dấu ấn nghề nghiệp.
32
- GV chia lớp thành 4 nhóm :
c. Ông đò trong cuộc vƣợt thác
Nhóm 1–2: Hình ảnh ông đò trong cuộc chiến với sông Đà hiện lên qua những chi tiết nào? Nhận xét? Ông đò Trùng vi Thạch trận sông Đà
Nhóm 3: Ông đò được miêu tả như thế nào sau cuộc vượt thác?
Nhóm 4: Ý nghĩa hình tượng ông lái đò? Bốn của tử, một của sinh, lệch về tả ngạn; liên tiếp ra đòn. - HS tiếp nhận nhiệm vụ
- Bị thương vẫn cố nén, kẹp chặt cuống lái và chỉ huy bạn thuyền ngắn gọn, tỉnh táo Vòng 1
Bƣớc 2: HS trao đổi thảo luận, thực hiện nhiệm vụ (thảo luận trong 5 phút)
+ HS thực hiện nhiệm vụ →Là chiến binh gan dạ, ngoan cường
+ GV quan sát, hỗ trợ khi cần thiết.
Bƣớc 3: Báo cáo kết quả hoạt động và thảo luận
Tăng cửa tử, một cửa sinh lệch về hữu ngạn.
- Nắm chặt bờm sóng, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một đường chéo. + HS trình bày sản phẩm thảo luận của nhóm, các nhóm bổ sung
Vòng 2 Đại diện nhóm 1–2 trả lời
- Lúc rảo tránh đá, lúc đè sấn lên.
→Là một dũng tướng dày dặn kinh nghiệm. - GV tích hợp với kiến thức quân sự: GV dùng sơ đồ về cuộc vượt thác của ông đò để làm nổi bật sự quyết liệt của cuộc chiến
Bên trái, bên phải đều là luồng chết; luồng sống ở giữa, sau bọn đá. - Thuyền vút qua cổng đá, như một mũi tên tre xuyên nhanh, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được. Vòng 3
→Một nghệ sĩ điêu luyện, tài hoa, tay lái ra hoa.
33
Đại diện nhóm 3 trả lời d. Ông đò sau cuộc vƣợt thác
- Đốt lửa trong hang đá, đốt ống cơm lam, bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh.
GV tích hợp với kiến thức văn hóa để thấy rõ vẻ đẹp của con ngƣời Tây Bắc. - Không ai bàn đến chiến thắng vừa qua.
=> Ông đò bình dị, ung dung, khiêm tốn.
e. Ý nghĩa hình tƣợng ông lái đò
Đại diện nhóm 4 trả lời
- Thiên nhiên quý giá như vàng, nhưng con người lao động mới là thứ vàng mười.
+ GV gọi hs nhận xét, bổ sung câu trả lời của bạn.
- Thể hiện quan niệm mới của Nguyễn Tuân sau CMT8: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cả lao động bình dị. Bƣớc 4: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
III. Tổng kết
- GV: 1. Nghệ thuật
- Ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị.
- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao. Nêu thành công nghệ thuật và ý nghĩa văn bản của đoạn trích tuỳ bút? Tác phẩm Người lái đò sông Đà ngợi ca điều gì?
- HS trả lời
- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình…
- GV nhận xét, bổ sung, chốt lại kiến thức => Ghi lên bảng 2. Ý nghĩa văn bản
- Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc.
- Thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với Đất nước và con người Việt Nam.
III. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP (3 phút)
a) Mục tiêu: Củng cố kiến thức, thực hành áp dụng kiến thức vừa học: N1,
GQVĐ, HT
b) Nội dung: HS hoạt động cá nhân, trả lời câu hỏi trắc nghiệm
c) Sản phẩm: Kết quả của HS
d) Tổ chức thực hiện:
- GV giao nhiệm vụ
- HS trả lời câu hỏi trắc nghiệm
34
Câu hỏi 1. Nét nào sau đây là phong cách nghệ thuật tiêu biểu của Nguyễn Tuân?
a. Chất thơ, chất trữ tình.
b. Tính triết lí.
c. Tính chất tài hoa, uyên bác.
d. Năng lực phân tích tâm lí sắc sảo.
Câu hỏi 2. Tập tùy bút “Sông Đà” được khơi gợi chủ yếu từ hiện thực nào ? a. Hiện thực cuộc kháng chiến hào hùng ở Tây Bắc. b. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở Tây Bắc. c. Hình ảnh con Sông Đà. d. Hình ảnh thiên nhiên Tây Bắc.
Câu hỏi 3. Cảm hứng chủ yếu của Nguyễn Tuân qua tùy bút “Người lái đò Sông Đà”? a. Tô đậm vẻ hung bạo dữ dội của thiên nhiên như một đe dọa nguy hiểm mà con người phải vượt qua. b. Thể hiện tình yêu thiên nhiên đất nước và sự tôn vinh người lao động. c. Thể hiện niềm cảm thông đối với người lao động bởi phải đối diện với thiên nhiên hung bạo. d. Khẳng định một tương lai tươi sáng của cuộc sống người lao dộng Tây Bắc.
Câu hỏi 4. Trong tùy bút Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân khẳng định tài nguyên quý nhất của Tây Bắc là gì? a. Các mỏ quặng dưới lòng đất. b. Dòng nước Sông Đà. c. Các cánh rừng hai bên bờ sông. d. Con người lao động Tây Bắc.
Câu hỏi 5. Khi phản ánh con người, Nguyễn Tuân thường khám phá ở phương diện:
a. Đạo đức.
b. Lối sống.
c. Quan điểm, lập trường. ,
d. Tài hoa nghệ sĩ.
Câu hỏi 6. Con sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân là một sinh thể có tính cách:
a. Hung bạo.
b. Trữ tình.
c. Hung bạo và trữ tình.
35
Câu hỏi 7. Trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân hình dung sông Đà:
a. Có diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một.
b. Là cố nhân.
c. Như một thiếu nữ kiều diễm (tuôn dài như một áng tóc trữ tình).
d. Cả ba hình dung trên.
Câu hỏi 8. Sông Đà – “cái trùng vi thạch trận” biến hóa xảo quyệt nhưng người lái đò vẫn vượt qua được. Yếu tố nào giúp cho ông đò chiến thắng con sông hung bạo đó?
a. Sự bình tĩnh chủ động của người “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá”.
b. Vượt thác sông Đà là niềm đam mê nghề nghiệp.
c. Tinh thần dũng cảm.
d. Tất cả các yếu tố trên.
Câu hỏi 9. Nét đặc sắc trong nghệ thuật của tùy bút “Người lái đò sông Đà” là:
a. Trí tưởng tượng phong phú.
b. Vốn từ ngữ dồi dào, tri thức uyên bác.
c. Câu văn đa dạng, cách nói tu từ độc đáo.
d. Cả ba điểm trên.
Câu hỏi 10. Giá trị của tùy bút “Người lái đò sông Đà” đối với người đọc:
a. Đem đến những hiểu biết lí thú, bổ ích về nhiều lĩnh vực.
b. Thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ.
c. Bồi đắp tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động, tôn vinh người lao động.
d. Cả ba giá trị trên.
- HS tiếp nhận nhiệm vụ, tiến hành suy nghĩ, thảo luận và trả lời
- GV nhận xét, đánh giá kết quả.
IV. HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG (3 phút)
a) Mục tiêu: Đạt những yêu cầu về kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế:
N1, GQVĐ, YN-TN
b) Nội dung: HS làm việc cá nhân, trả lời câu hỏi
c) Sản phẩm: Câu trả lời của HS
36
d) Tổ chức thực hiện:
HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS DỰ KIẾN SẢN PHẨM
GV tích hợp với môn giáo dục công dân GV
HS trình bày quan niệm về tình yêu quên hương Đất nước:
Từ vẻ đẹp của dòng sông Đà và tình yêu Tây Bắc của Nguyễn Tuân, anh (chị) hãy phát biểu quan niệm của mình về tình yêu quê hương, Đất nước? - Ý thức gìn giữ và bảo vệ sông Đà cũng như mọi dòng sông khác giúp chúng ta có một môi trường xanh – sạch – đẹp.
HS thực hiện nhiệm vụ
- Trân trọng, gìn giữ thiên nhiên góp phần tô diểm cho non sông Đất nước...
V. HOẠT ĐỘNG MỞ RỘNG (5 phút)
a) Mục tiêu: Đạt những yêu cầu về kĩ năng đọc hiểu văn bản, nắm được nội
dung của bài, có sự vận dụng và mở rộng kiến thức: Đ5
b) Nội dung: HS làm việc theo cặp.
c) Sản phẩm: Kết quả của HS
d) Tổ chức thực hiện:
DỰ KIẾN SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG CỦA GV – HS
GV tích hợp phân môn
Nguyễn Tuân Hoàng Phủ Ngọc Tƣờng
- Đều có sở trường về thể kí và tác phẩm đều thấm đẫm chất trữ tình.
- Đi tìm cái đẹp và thể hiện cái đẹp bằng ngòi bút tài hoa, độc đáo tạo được nét riêng, mới lạ qua hình ảnh dòng sông.
GV: Từ việc đọc- hiểu văn bản Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường), em có nhận xét gì về phong cách viết kí của hai nhà văn? - Hai cây bút đều tài hoa, uyên bác am hiểu kiến thức của nhiều ngành và khả năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú. Giống
- Họ đều là những nhà văn tài năng, tâm huyết với nghề.
- Có tình yêu quê hương đất nước thiết tha.
37
Văn phong Nguyễn Tuân thể hiện sự uyên bác, tài hoa. Ông khai thác kho cảm giác và liên tưởng phong phú nhằm tìm cho ra những chữ nghĩa có khả năng làm lay động người đọc nhiều nhất. Ông luôn nhìn sự vật, hiện tượng ở nhiều góc độ để khám phá, phát hiện; vận dụng kiến thức của nhiều lĩnh vực, tổng hợp cảm nhận của các giác quan để khám phá đối tượng. Tất cả làm nên phong cách Nguyễn Tuân vừa độc đáo vừa phong phú. Khác
Ẩn trong câu chữ biến hóa là vẻ đẹp lấp lánh ánh sáng trí tuệ, tri thức và cả chất phong tình, tài hoa, lãng mạn từ tâm hồn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hóa, lịch sử, địa lí.... Tất cả được thể hiện qua lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa.
Nguyễn Tuân với Người lái đò sông Đà: Nghiêng về phát hiện và diễn tả những hiện tượng đập mạnh vào giác quan người đọc. Hoàng Phủ Ngọc Tường với Ai đã đặt tên cho dòng sông: Thiên về chất thơ trữ tình, dịu ngọt.
* Củng cố và dặn dò: nắm chắc nội dung bài học và soạn bài mới.
III. TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
1. Hình thành ý tƣởng
Đề tài này được hình thành ý tưởng từ nhiều năm học trước đây. Ngay từ những năm 2013 – 2014, khi Bộ GD&ĐT có chủ trương đổi mới phương pháp dạy học bằng hình thức DHTH, bản thân tôi đã trăn trở về vấn đề này.
38
2. Khảo sát thực tiễn
Sau khi hình thành ý tưởng, tôi tiến hành khảo sát vấn đề dạy – học của cả GV và HS khối 12 ở trường THPT Lê Lợi. Tôi nhận thấy được nhiều thực trạng đáng bàn trong dạy – học Ngữ văn ở trường. Đây cũng là động lực thúc đẩy tôi viết sáng kiến. Khảo sát được tiến hành trong năm học 2016 – 2017.
3. Áp dụng thực nghiệm
Sau quá trình đúc rút kinh nghiệm, tôi đã áp dụng thực tế giảng dạy tại một số lớp 12 mà tôi trực tiếp giảng dạy. Đây là bước chủ yếu quyết định kết quả của thực nghiệm.
Tôi tiến hành dạy học theo giáo án đã thiết kế, thời gian trong các năm học
2018 – 2019 đến nay.
4. Xử lý thực nghiệm, đúc rút kinh nghiệm
Đây là bước cuối cùng nhằm rút ra kết quả thực nghiệm. Các công việc
chính trong bước này bao gồm:
- Chấm các bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS.
- Thống kê, so sánh và rút ra kết luận về kết quả của việc áp dụng quy trình
dạy học của sáng kiến.
5. Đánh giá hiệu quả
Đề tài được trình bày rõ ràng, dễ áp dụng. Ba năm qua tôi và các đồng nghiệp đã thể nghiệm phương pháp giáo dục này và hiệu quả được nâng lên rõ rệt. Những lợi ích của việc giáo dục theo hình thức này là rất lớn đối với cả người học và người dạy và nhà trường.
` Về phía người học: Việc GV sử dụng phương pháp tích hợp đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với nội dung bài dạy sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập của học sinh. Các em sẽ tích cực hơn, thích phát biểu bài, theo dõi bài chăm chú hơn, ghi chép cẩn thận hơn vì có những mẫu quan sát trực quan, sinh động. Đồng thời tăng sự chuyên cần, tự tin tạo cơ hội cho học sinh thể hiện những điểm mạnh của bản thân và phát triển những kĩ năng tư duy bậc cao, những kĩ năng thế kỉ XXI quan trọng và cần thiết cho công việc và cuộc sống ngoài đời của học sinh. Cụ thể kết quả như sau:
Qua một thời gian nghiên cứu, ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học văn bản Người lái đò sông Đà để thử nghiệm kết quả tôi đã tiến hành khảo sát thái độ và cho HS làm bài kiểm tra tại lớp 12A2, 12A4, 12A5, 12A9 với đề bài như sau: Cảm nhận của anh (chị) về vẻ đẹp của hình tƣợng sông Đà trong tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, từ đó tìm ra thông điệp thẩm mĩ của tác phẩm.
Kết quả thu được ở các lớp như sau:
39
Bảng khảo sát thái độ học tập của học sinh sau bài học
Sử dụng biện pháp của đề tài Không sử dụng biện pháp của đề tài Lớp Lớp
Thích Thích Không thích Dễ hiểu Khó hiểu Không thích Dễ hiểu Khó hiểu
19/43 24/43 20/43 23/43 28/34 6/34 29/34 5/34 12A5 12A2 44,2% 55,8% 46,5% 53,5% 82,4% 17,6% 85,3% 14,7%
33/43 10/43 13/43 30/43 36/39 3/39 36/39 3/39 12A9 12A4 76,7% 23,3% 30,2% 69,8% 92,3% 7,7% 92,3% 7,7%
Bảng khảo sát kết quả học tập qua bài kiểm tra
Lớp dạy thực nghiệm Lớp đối chứng
Lớp Lớp Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm Điểm
9- 10 7- 8 5 - 6 < 5 9 – 10 7 – 8 5 – 6 < 5
5/34 25/34 4/34 0/34 0/43 10/43 30/43 3/43 12A2 12A5 14,7% 73,5% 11,8% 0,0% 0,0% 23,2% 69,8% 7,0%
4/39 26/39 9/39 0/39 0/43 8/43 31/43 4/43 12A4 12A9 10,3% 66,7% 23,0% 0,0% 0,0% 18,6% 72,1% 9,3%
Về phía người dạy: Có thể coi việc sử dụng phương pháp dạy học tích hợp là một trong những biện pháp hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy giờ học Ngữ văn. GV hoàn toàn có khả năng tự tìm hiểu kiến thức liên quan đến bài học để tích hợp, tạo điều kiện cho GV nâng cao tính chuyên nghiệp và hợp tác giữa GV với HS trong quá trình giảng dạy. GV cảm thấy yêu nghề hơn khi xây dựng một phương pháp mang tính hiệu quả cao và làm cho HS của mình thích thú, đam mê hơn với môn học và các nội dung giáo dục trong nhà trường; thúc đẩy phong trào mỗi GV là tấm gương tự học học, tự sáng tạo trong hội đồng sư phạm nhà trường.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Có thể nói đề tài Một số biện pháp dạy học tích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy – học tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguễn Tuân ở trường THPT Lê Lợi là sản phẩm lao động thực tiễn hàng ngày bằng kinh nghiệp giảng dạy trên lớp, là kết quả tìm tòi nghiên cứa của bản thân tôi trong nhiều năm qua.
40
Thiết nghĩ rằng, nếu ở mỗi bản thân từng GV, mỗi bộ môn trong nhà trường luôn chú tâm trăn trở, suy nghĩ về chất lượng giáo dục cho mình, cho ngành giáo dục nói riêng và cho đất nước nói chung thì vấn đề dạy học theo hướng tích hợp có tính khả thi rất cao về chất lượng đạt trà, bồi dưỡng học sinh giỏi, công tác ôn thi THPT. Bởi vì, dạy học theo quan điểm tích hợp hướng các em hình thành các kỹ năng tư duy như: Tư duy bằng kinh nghiệm học tập, tư duy bằng lôgíc, tư duy độc lập sáng tạo, tư duy đột phá để làm chủ kiến thức, kỹ năng thông qua lĩnh hội nội dung cần đạt. Mặt khác với biện pháp này giúp HS hiểu sâu sắc, thấu đáo tác phẩm cũng như tránh được cảm giác ngại học. Hơn nữa, với cách học này các em tỏ ra năng động và tích cực hơn, mạnh dạn hơn. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm nằm ở tính khả thi của nó trong thực tế giảng dạy. Với một bài kí vừa “khó dạy” vừa “khó học” như Người lái đò sông Đà những kinh nghiệm này theo tôi là khá hữu ích. Nó giúp người dạy dễ dàng thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của bài kí, thẩm thấu được cái tài hoa, uyên bác trong tùy bút Nguyễn Tuân. Từ những thành công bước đầu sẽ là nguồn cổ vũ động viên không nhỏ để tôi tiếp tục ứng dụng cho HS trong những năm tiếp theo nhằm góp một phần nhỏ bé vào “hành trình” nâng cao chất lượng giáo dục nói chung, chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ văn nói riêng hướng tới xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
II. KIẾN NGHỊ
Dựa trên thực tiễn nghiên cứu tại địa bàn huyện tôi công tác, để có điều kiện thực hiện tốt các biện pháp đã đề xuất ở trên một cách có hiệu quả tối ưu tôi xin mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị như sau:
1. Với các cấp quản lí giáo dục
Sở Giáo dục và Đào tạo nên định kỳ tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng về đổi mới PPDH dưới hình thức các chuyên đề cụ thể cho GV của các trường THPT trên địa bàn tỉnh.
2. Đối với các trƣờng trung học phổ thông
Đầu tư trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS ứng
dụng các mô hình đổi mới PPDH một cách hiệu quả.
3. Đối với giáo viên
Mỗi thầy, cô giáo cần tăng cường công tác tự học, tự bồi dưỡng để có kiến thức sâu rộng về bộ môn. Người dạy cần quan sát thật kĩ để phát hiện ra ưu điểm cũng như hạn chế của học sinh, trên cơ sở đó, kịp thời điều chỉnh để tăng thêm sự thú vị cho bài học. Mặt khác, người dạy cũng cần cập nhật thường xuyên những yêu cầu đổi mới của Bộ GD&ĐT trong việc đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá bộ môn qua các phương tiện thông tin đại chúng để giờ học trở nên thiết thực hơn, các GV cần xây dựng nền tảng CNTT và triển khai bồi dưỡng, nâng cao trình độ.
41
4. Đối với học sinh
Học sinh cần có niềm say mê đối với văn chương; tích cực, chủ động đọc và soạn bài, tìm hiểu tất cả những vấn đề liên quan tới bài học đã được thầy cô giao nhiệm vụ từ cuối tiết học trước. HS cần có thói quen tìm hiểu về văn học qua các phương tiện thông tin đại chúng và Internet. Người học cũng cần cập nhật thường xuyên những yêu cầu đổi mới của Bộ GD&ĐT trong việc ra đề và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn.
Trên đây là nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm được bản thân đúc rút trong quá trình dạy học. Những gì tôi trình bày trong đề tài là sự nghiên cứu tìm tòi và vận dụng vào thực tiễn trong một thời gian dài và thực sự đã mang lại những hiệu quả rất thiết thực góp phần vào việc đổi mới phương pháp, hình thức dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT. Tuy nhiên, đề tài sẽ còn những chỗ chưa thật sự thỏa đáng, rất mong nhận được những góp ý từ Hội đồng khoa học các cấp và các đồng nghiệp để bổ sung hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tân Kỳ, ngày 20 tháng 04 năm 2022
Người viết
Thái Thị Lộc
42
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Sách giáo khao Ngữ văn 12, tập 1.
[2]. Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1. [3]. Dạy học tích hợp, phát triển năng lực cho học sinh, NXB Đại học sư phạm Hà Nội. [4]. https://tailieutuoi.com.phuong-phap-day-hoc-tich-hop [5]. http://edulive.net>tin-tuc>phuong-phap-day-hoc-tich-hop [6]. https://timvanban.vn>giao-trinh-day-hoc-tich-hop
43
PHỤ LỤC Một số hình ảnh trong các tiết dạy thực nghiệm của tác giả tại trường THPT Lê Lợi
Hoạt động khởi động trong tiết 2
Học sinh trình bày về thủy trình của Sông Đà bằng sơ đồ
GV giao nhiệm vụ cho các nhóm
44
Thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm
HS trình bày kết quả của nhóm
45
HS trình bày kết quả của nhóm
GV tổng kết hoạt động nhóm
Sơ đồ về cuộc vượt thác của ông đò
46
Một số bài kiểm tra tiêu biểu

