
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học
Phần thứ nhất
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN GIẢI PHÁP:
Căn cứ khoản 3 điều 58 về nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường trong luật
giáo dục đó nêu: Nhà trường có trách nhiệm tuyển sinh và quản lý người học.
Nhà trường chịu sự lãnh đạo trực tiếp của địa phương ghi tại khoản 3
điều 9 trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp xó - Theo
NĐ số 166/2004/NĐ-CP ngày 16/9/2004 của chinh phủ quy định trách nhiệm
quản lý nhà nước về giáo dục.
Xuất phát từ mục e khoản 5 điều 20 điều lệ trường tiểu học năm 2010:
nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng.
Căn cứ vào chương VII điều lệ trường tiểu học: Quan hệ giữa nhà
trường, gia đình và xã hội.
Căn cứ vào sự chỉ đạo trực tiếp của UBND huyện và Phòng Giáo dục
và Đào tạo huyện Đam Rông tại hội nghị tăng cường các giải pháp huy động
học sinh ra lớp học tập và rèn luyện trong năm học này và các năm tiếp theo.
Căn cứ vào thực tế công tác quản lý của nhà trường về việc duy trì số
lượng học sinh hàng năm và tình hình thực tế việc đi học chuyên cần của học
sinh trong nhà trường .
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Cùng với việc thực hiện các giải pháp nhằm thực hiện nhiệm vụ phổ cập
giáo dục tiểu học ĐĐT hàng năm theo sự chỉ đạo của ngành về phổ cập TH.
giữ vững và duy trì các tiêu chí PCGDTH trên cơ sở tỷ lệ học sinh có độ tuổi
6-14 tốt nghiệp TH từ 70% trở lên (Theo khoản b, mục 2 Điều 5: tiêu chuẩn
Phổ cập giáo dục tiểu học, quy định tại Thông tư 36/2009/TT_BGDĐT). Việc
giữ vững tỷ lệ học sinh đi học là cấp thiết, phải có sự kiểm soát, theo dõi, có
giải pháp khắc phục ngay từ đầu năm học, trong suốt năm học để học sinh học
hết lớp.
Thực hiện theo các cuộc vận động và phong trào lớn của ngành như cuộc vận
động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chớ Minh”, phong trào
Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực trong các nhà trường, đặc
biệt là các hiệu trưởng phải cố gắng gúp sức thực hiện tâm nguyện của Bác
Hồ: Nguyện vọng lớn nhất của Bác Hồ là ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành, hay: mỗi ngày đến trường là một ngày vui.
Với thực tế sự quan tâm đến công tác giáo dục của một số nhân dân
đồng bào vùng sâu – xa trong đó có xã Đạ M’rông chưa cao, chưa quan tâm
một cách sâu sắc đến con em mình, do vậy việc con em đi học hay nghỉ học
nhiều khi chưa được chú ý, nên cỏc em bỏ buổi , bỏ tiết có diễn ra, từ đó đi
đến bỏ học hẳn. Đây là một thực tế. Do vậy nhà trường phải có các giải pháp
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Dự - Hiệu trưởng trường tiểu học Đạ M’rông

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học
kịp thời để khắc phục hiện tượng trên ngay, trách nhiệm này trước tiên phải là
được hiệu trưởng quan tâm và có giải pháp khắc phục.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Toàn thể học sinh cỏc lớp từ lớp 1 đến lớp 5 năm học 2010-2011.
Trẻ ngoài nhà trường mà có độ tuổi từ 6- 14, nhất là trẻ cú độ tuổi từ 6-
11(Học sinh bỏ học từ các năm trước và đầu năm học 2010-2011)
Học sinh thuộc hai diện trên ở các thôn đặc biệt khó khăn của xã(Hai
thôn: Đa La và Tu La)
Tập thể giáo viên chủ nhiệm lớp năm học 2010-2011.
Một số gia đình dự đoán trước sẽ có con em bỏ học, một số gia đình có
khó khăn thường xuyên, đột xuất trong năm học.
4. GIỚI HẠN PHẠM VI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Phạm vi về số lượng học sinh năm học 2010-2011 được cấp trên giao
theo kế hoạch năm học.
Phạm vi khoảng cách học sinh đến trường học hàng ngày.
Đời sống tinh thần, đời sống vật chất của một số gia đình, hoàn cảnh cụ
thể của học sinh thuộc các gia đỡnh đó.
Khoanh vùng có tín hiệu, khả năng có học sinh bỏ học.
Lập sổ theo dõi thường xuyên việc đến trường của học sinh các lớp.
Nghiên cứu, có chỉ dẫn cho giáo viên chủ nhiệm cách thức phối kết hợp
chặt chẽ với các thành viên khác trong và ngoài nhà trường để làm tốt việc
duy trỡ sĩ số hàng ngày.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Căn cứ vào chỉ thị nhiệm vụ năm học và sự chỉ đạo của cấp trên thông
qua việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010-2011 duy trì, giữ vững
tỷ lệ học sinh đến trường, đến lớp theo kế hoạch và thực tế học sinh đầu năm
học. Tỷ lệ chuyên cần phải đạt từ trên 98 %.
Tìm ra các nguyên nhân chính, sát thực về tình trạng học sinh bỏ học từ
những năm trước. Lập số liệu so sánh, xác định nơi nào có tỷ lệ học sinh bỏ
nhiều để có các giải pháp thích hợp để khắc phục.
Nếu có thể sẽ có kế hoạch báo cáo cấp trên tổ chức cho học sinh tập
trung thành bán trú theo chương trình SEQAP toàn trường trong năm học
2011-2012.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Ngay từ đầu năm tiến hành thống kê những học học sinh lưu ban năm
học trước mà vẫn đến học (Và sẽ có khả năng bỏ giữa chừng), những học sinh
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, những học sinh nhà ở cách xa trường …
Cập nhật thông tin về tình hình đi học của học sinh, tỷ lệ chuyên cần
tuần - tháng - kỳ… để có các giải pháp một cách kịp thời.
Thông qua các tổ chức thôn buôn, đoàn thể tại thôn buôn, chính quyền
địa phương để phối hợp vận động học sinh bỏ học ra lớp.
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Dự - Hiệu trưởng trường tiểu học Đạ M’rông

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học
Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, công tác chủ nhiệm nắm bắt
kịp thời các thông tin có liên quan đến việc đến trường, đến lớp của các em
học sinh.
Huy động mọi lực lượng tham gia khi có vấn đề nổi cộm về học sinh
không đi học một cách đầy đủ.
7. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Để đạt được kết quả tốt, đảm bảo tỷ lệ cao theo đúng sự chỉ đạo chung
thì cần được tiến hành dài hơi, liên tục trong nhiều năm. Tuy nhiên do thực tế
thời gian không cho phép, ên chỉ áp dụng được trong thời gian một năm học:
Năm học 2010 - 2011. Bắt đầu từ tháng 8 năm 2010 đến hết tháng 4 năm
2011.
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIẢI PHÁP:
Xuất phát từ nhiệm vụ và quyền hạn của trường Tiểu học trong điều lệ
nhà trường có yêu cầu: Nhà trường có trách nhiệm tuyển sinh, tiếp nhận học
sinh, vận động học sinh đến trường, quản lý học sinh theo quy định của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
Cơ sở cốt lõi của nhà trường là có trường thì phải có học sinh, có thầy cô
theo một tiêu chuẩn nhất định mà nhà nước quy định. Tồn tại cả hai yếu tố
thầy và trò, đồng thời kèm theo bộ máy quản lý đặc trưng theo cấp học, bậc
học thì mới mới có điều kiện để hoạt động, duy trì sự hình thành và phát triển,
từ đó đi đến có kết quả theo mong đợi.
Thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch nhà nước giao trên cơ sở số liệu thực tế việc
huy động học sinh đến trường, đến lớp. Đó là một nhiệm vụ trọng tâm của
việc thực hiện mục tiêu của cấp học.
Trong điều 42 điều lệ trường tiểu học có nêu: Học sinh được học ở một
trường, lớp hoặc cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
tại nơi cư trú, … học sinh dượng bảo vệ, chăm sóc, tôn trọng và đối sử bình
đẳng, được đảm bảo những điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, vệ sinh, an
toàn để học tập và rèn luyện. Được tham gia các hoạt động nhằm phát triển
năng khiếu, được chăm sóc và giáo dục hòa nhập (Đối với học sinh khuyết tật
theo quy định). Được hưởng các quyền khác theo quy định. Do đó, việc các
em chưa hoặc có khó khăn trong việc đến trường, đến lớp cần được huy động,
giúp đỡ thì cỏc em mới có cơ hội để tiếp thu, học tập bằng bạn bè …
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Dự - Hiệu trưởng trường tiểu học Đạ M’rông

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học
Nhà trường phải chủ động phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với gia
đình và xã hội để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhằm thực hiện
mục tiêu, nguyên lý giáo dục.
Trong thời đại hiện nay, thời đại hội nhập và phát triển. Mỗi đất nước,
mỗi một con người cần phải mạnh khoẻ, cú trí tuệ để xây dựng và bảo vệ chủ
quyền dân tộc. Mỗi con người khoẻ mạnh thì đất nước khoẻ mạnh. Mỗi con
người có trí tuệ thì đất nước có trớ tuệ và phồn thịnh. Do vậy mới có chương
trình giáo dục phổ thông, nhằm tạo cơ hội tốt nhất cho mọi người được học
tập và tu dưỡng, rèn luyện trở thành con người cú ích cho gia đình, cho xã hội,
làm chu bản thân, làm chủ xã hội. Đại bộ phận trẻ em trong độ tuổi đều có hội
đến trường học tập, tu dưỡng, rèn luyện. Tuy nhiên vẫn có một số ít: vừa ít cơ
hội vừa không làm chủ được vận mệnh chính bản thân mình nên mới không
cơ hội đến trường hoặc có đến nhưng không được trọn vẹn, bỏ học giữa
chừng…Vì lẽ đó, nhà trường, những người làm công tác giáo dục phải có
trách nhiệm lôi cuốn, vận động, khích lệ học sinh trở lại mái trường để có dịp
học tập và trau dồi kiến thức cho bản thân, tích luỹ kinh nghiệm, mới có cơ
hội làm chủ một cách chính đáng, làm chủ thực sự cuộc sống của mình; góp
phần xây dựng kinh tế gia đình và xây dựng cho quê hương, đất nước ngày
mai tươi đẹp hơn.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CỦA GIẢI PHÁP:
1/ Tình hình chung :
Trường tiểu học Đạ M’rông thuộc xã Đạ M’rông, huyện Đam Rông được
thành lập từ năm 1981. Đến năm học 2004-2005 trường chính thức mang tên
Trường tiểu học Đạ M’rông theo Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 13/09/2005
của UBND huyện Đam Rông với tổng diện tích là 7065 m2 cho đến ngày nay. Nhà
trường đang từng bước phát triển bền vững và ngày càng trưởng thành, đã và sẽ trở
thành một ngôi trường có chất lượng giáo dục tốt, một địa chỉ tin cậy của cha mẹ
học sinh và học sinh trên địa bàn toàn xã.
2/ Thuận lợi :
Trường chỉ có một điểm trường chính đóng trên địa bàn 4 thôn, thuận lợi
cho công tác huy động học sinh ra lớp.
Hội cha mẹ học sinh hoạt động tích cực, khuyến khích tinh thần dạy và học
của giáo viên và học sinh trong trường.
3/ Khó khăn :
Cơ sở vật chất nhà trường tuy được nhà nước đầu tư xây dựng mới tuy
nhiên còn thiếu (đường, sân, hàng rào, …).
Đời sống của nhân dân địa phương còn gặp nhiều khó khăn, công tác
giáo dục cho con em chưa được chú trọng thường xuyên. Số học sinh theo cha
mẹ đi làm ăn xa và chuyển trường đột xuất gây khó khăn cho công tác duy trì
sĩ số nhà trường.
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Dự - Hiệu trưởng trường tiểu học Đạ M’rông

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học
Lãnh đạo nhà trường chưa có kinh nghiệm nhiều trong công tác quản
lý, công việc còn chồng chéo nên việc kiểm tra chưa thường xuyên, kịp thời…
Quản lý hướng trọng tâm về phần lý thuyết, chưa tạo sự công bằng
trong việc cùng quản lý nhà trường.
Các yếu tố về tuổi đời, tuổi nghề, hệ đào tạo, hoàn cảnh gia đình cũng
tác động trực tiếp đến trình độ chuyên môn của giáo viên.
Việc phấn đấu vươn lên của một số giáo viên còn chậm chạp, dẫn đến
chất lượng giờ dạy thấp, tỷ lệ học sinh đạt khá giỏi chưa cao.
Công tác luân chuyển hàng năm›: Một số giáo viên có tay nghề đạt khá
– tốt chuyển ra vùng thuận lợi, một số giáo viên trái ngành chuyển về trường...
*/ Với cương vị là cán bộ quản lý nhà trường, bản thân tôi cũng đã nhận
thức được rất sâu sắc về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tìm ra một số
giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh nghỉ - bỏ học giữa chừng.
Tại trường tiểu học Đạ M’rông, nhiều năm qua tỷ lệ học sinh bỏ học
thường chiếm từ 1- 2% ( năm học 2009 - 2010: Học sinh bỏ học chiếm 0,9%
(4/424 HS) hoặc đầu năm học 2010-2011 học sinh bỏ học trong tháng 3/2011
là 2/428 chiếm 0,5%).
Các giải pháp nhằm giảm học sinh bỏ học đó được thể hiện bằng nhiều
hình thức, trong nhiều giai đoạn cụ thể: giai đoạn chiêu sinh đầu năm, giai
đoạn sau khi nghỉ tết nguyên đán. Tỷ lệ bỏ học có tỷ lệ cao nhất các năm học
là ở khối IV.
Mối quan hệ qua lại: Có thầy thì phải có trò và ngược lại. Đồng thời
phải đảm bảo tính cân bằng đầu vào và đầu ra; nếu không sẽ là đầu voi đuôi
chuột- Đây không phải là điều chúng ta mong muốn.
Bác Hồ, vị lãnh tụ vô vàn kính yêu của chúng ta rất mong muốn: “…Ai
cũng được học hành…” Do vậy vắng đi một (hai) em học sinh ở một lớp nào
đó là điều không mong muốn. Buộc chúng ta phải hành động, do đó chúng ta
phải tỏ rõ tinh thần trách nhiệm và tinh cảm nghề nghiệp.
Tôi, cũng như những ai được giao nhiệm quản lý một đơn vị đều phải
vạch rõ những nhiệm vụ cụ thể để duy trì tỷ lệ chuyên cần, tỷ lệ học sinh bỏ
học ở mức thấp nhất:
Một là tìm hiểu cặn kẽ nguyên nhân việc học sinh bỏ học hàng năm và
cụ thể là ở năm học 2010-2011 này để làm căn cứ cho việc thể hiện cụ thể của
các giải pháp.
Hai là phân loại các khả năng bỏ học, và nguy cơ bỏ học thành các mức
độ 0,1,2,3 (0 là đó bỏ từ sau nghỉ hè, 1 dễ bỏ bất kỳ lúc nào, 2 có thể bỏ sau
tết, 3 nếu có sự cố bất thường có thể bỏ học).
Lập phương án cụ thể để thực thi nhiệm vụ: chiêu sinh, có các giải pháp
hỗ trợ sách vở, bút mực, thậm trí cả quần áo; thường xuyên động viên, nắm
bắt tâm tư nguyện vọng của các em qua lớp, qua cá nhân học sinh, nhăm đoán
trước những khả năng học sinh bỏ học có thể xẩy ra.
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Dự - Hiệu trưởng trường tiểu học Đạ M’rông

