
1
SƠ LƯỢC LÍ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thông Minh
2. Sinh ngày: 10/12/1973
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Ấp Long Khánh 3 – xã Tam Phước - Biên Hòa - Đồng Nai
5. Điện thoại: CQ: 0613.511.420, DĐ: 0918.627.637.
6. Email: ntminhdongnai@yahoo.com.vn
7. Chức vụ: Phó Hiệu trưởng
8. Nhiệm vụ được giao: Phụ trách chuyên môn, giảng dạy môn hóa học ở các lớp
10A7, lớp 10A9.
9. Nơi công tác: Trường THPT Tam Phước - Biên Hòa - Đồng Nai.
II. TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN
1. Học vị: Cử nhân
2. Năm nhận bằng: 1996
3. Chuyên nghành đào tạo: Hóa học
III. KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO
1. Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Hóa
2. Năm vào nghành: 1996
3. Số năm kinh nghiệm: 19
4. Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn electron và định luật bảo
toàn đện tích
Áp dụng định luật bảo toàn khối lượng để giải bài toán hóa học.

2
RÈN LUYỆN NĂNG LỰC ĐỘC LẬP CỦA
HỌC SINH QUA VIỆC SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG NHÓM HALOGEN LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy
học (PPDH) theo triết lí “lấy người học làm trung tâm” được đặt ra một cách cấp thiết. Bản
chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc
lập, sáng tạo của người học.
Xã hội ngày càng phát triển, nguồn tri thức nhân loại ngày càng phong phú và tăng lên
hàng ngày với cấp số nhân. Do vậy, trong giáo dục, học sinh (HS) không những học kiến
thức trong nhà trường mà còn phải liên hệ với thực tế trong từng môn học, tạo mối liên kết
liên môn giữa các môn học nhằm hướng tới hoạt động tích cực trong học tập và phát huy tối
đa khả năng tư duy của bộ não.
Từ thực trạng dạy và học hiện nay, nhiều HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chỉ
là nhớ kiến thức, học bài nào biết bài đó mà chưa rèn luyện và phát triển khả năng tư duy đa
hướng. Nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên (GV) trong công tác giáo dục và giảng dạy là
không những giúp HS khám phá các kiến thức mới mà còn khái quát hoá và hệ thống hoá
kiến thức. Giữa lúc cả xã hội bức xúc với “đọc - chép” và thói quen “học vẹt” của nhiều HS
thì việc ứng dụng sơ đồ tư duy (SĐTD) cùng với các PPDH tích cực khác đã đem lại rất
nhiều lợi ích.
Sơ đồ tư duy là một kĩ thuật dạy học tích cực giúp HS học tập hiệu quả, tiết kiệm
thời gian, giúp tiếp thu bài nhanh hơn, hiểu bài kỹ hơn, nhớ được nhiều chi tiết hơn.
SĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể
hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy đang diễn ra đến
đâu, đang ở nhánh nào của SĐTD và tổng quan toàn bộ kết quả ra sao. Sử dụng SĐTD
giúp tiết kiệm thời gian học tập, tạo được tư duy logic và hệ thống trong từng bài, từng
chương của môn học cũng như tạo tính liên môn trong học tập. SĐTD cũng giúp GV
hoạch định kế hoạch, xây dựng tiến trình bài dạy và lựa chọn PPDH thích hợp nhằm
tích cực hoá hoạt động người học.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Rèn luyện năng lực độc lập của học
sinh qua việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương nhóm halogen lớp 10
trung học phổ thông”.

3
II. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Sử dụng SĐTD trong dạy học đã và đang được áp dụng ở nhiều nước có nền giáo dục
tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam, vài năm trở lại đây, SĐTD đã được nghiên cứu và áp
dụng khá rộng rãi nhằm giúp GV truyền thụ kiến thức một cách sinh động, hệ thống và mô
hình hóa để HS có thể học, tự học tích cực, có một tư duy tổng thể về bài học, giúp dễ hiểu,
dễ nhớ, dễ vận dụng kiến thức. Từ kiến thức được diễn đạt trong nhiều trang sách và cả vận
dụng thực tế, SĐTD giúp tinh lọc lại chỉ còn trong một sơ đồ, và ngược lại, từ sơ đồ này,
HS hình dung, liên tưởng và phát triển kiến thức một cách logic. Sử dụng SĐTD yêu cầu
HS phải tự suy nghĩ để thiết lập nội dung bài học theo cách hiểu của mình nên SĐTD thực
sự là một công cụ chống “đọc - chép”, “học vẹt” rất hiệu quả.
2.2. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung
ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996), được thể chế hóa
trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào
tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp
học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS". Có thể nói
cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói
quen học tập thụ động.
Cụ thể hóa những định hướng trên, việc đổi mới PPDH hóa học hiện nay là:
- Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp tác 2
chiều.
- Chuyển từ quan điểm PPDH “lấy GV làm trung tâm” sang quan điểm PPDH “lấy HS
làm trung tâm”.
- Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học và tự đánh giá.
- Học không chỉ nắm kiến thức mà cả PP để đi đến kiến thức.
- Học lấy việc áp dụng kiến thức và bồi dưỡng thái độ làm trung tâm.
- Sử dụng các PPDH tích cực.
- Sử dụng các phương tiện kĩ thuật hiện đại.
2.2.1. Đổi mới mục tiêu dạy học
Hiện nay, ở nước ta đang tiến hành đổi mới giáo dục, mục tiêu của các cấp học, bậc học
có sự đổi mới tập trung vào việc hình thành năng lực nhận thức, năng lực hành động, năng
lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng cho HS.
Mục tiêu của việc dạy và học hóa học tập trung nhiều hơn tới việc hình thành năng lực
hành động cho HS. Năng lực hành động là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách
nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội

4
hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, có kĩ năng, kĩ xảo và có kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng
hành động. Về cấu trúc năng lực hành động là sự gặp nhau giữa các năng lực chuyên môn,
năng lực PP, năng lực xã hội, năng lực cá thể mà tạo thành.
Ngoài những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà HS cần đạt được ta cần chú ý nhiều hơn tới
việc hình thành các kĩ năng vận dụng kiến thức, tiến hành nghiên cứu khoa học như:
- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận, kiểm tra kết quả và mô tả.
- Phân loại, ghi chép thông tin, đề ra các giả thuyết khoa học, giải quyết vấn đề, hoàn
thành nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu khoa học.
- Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học từ đơn giản tới phức tạp theo hướng độc lập
và hoạt động theo nhóm.
- Vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống có liên quan
tới hóa học.
Trong các hoạt động, chú trọng tới việc động viên HS phát hiện và giải quyết một cách
chủ động, sáng tạo các vấn đề thực tế có liên quan tới hóa học.
2.2.2. Đổi mới hoạt động dạy và hoạt động học
2.2.2.1. Đổi mới hoạt động dạy
Trong hoạt động dạy của người GV cần chú trọng đến vai trò thiết kế, tổ chức, điều
khiển các hoạt động của HS để đạt mục tiêu nhằm kích thích nhận thức tích cực của HS, dạy
HS làm việc độc lập, hình thành năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề. Các hoạt
động của GV bao gồm:
- Thiết kế kế hoạch giờ học bao gồm các hoạt động của HS theo các mục tiêu cụ thể của
mỗi bài học hóa học mà HS cần đạt được.
- Tổ chức các hoạt động trên lớp để HS hoạt động cá thể hay hoạt động theo nhóm như:
+ Nêu ra các vấn đề cần tìm hiểu, giúp HS hiểu rõ vấn đề.
+ Tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện tri thức và hình thành kĩ năng hóa học.
+ Vận dụng kiến thức giải quyết các vấn đề thực tế đặt ra.
- Thiết kế và tổ chức thực hiện việc sử dụng các phương tiện trực quan, hiện tượng thực
tế, thí nghiệm hóa học, mô hình mẫu vật, phương tiện kĩ thuật, công nghệ thông tin... như là
nguồn kiến thức, tư liệu thông tin để HS khai thác, tìm tòi, phát hiện những kiến thức, kĩ
năng hóa học mới.
- Tạo điều kiện để HS được thể hiện sự hiểu biết của mình và được vận dụng nhiều hơn
những kiến thức thu được để giải quyết một số vấn đề có liên quan tới hóa học trong đời
sống sản xuất.
2.2.2.2. Đổi mới hoạt động học
Trong hoạt động học tập của HS cần chú trọng tới việc phát huy tính tích cực nhận
thức, sự nỗ lực trong hoạt động trí tuệ, trong nhận thức có ý chí. Quá trình học tập trở
thành quá trình HS tự học, tự nhận thức, tự khám phá, tự tìm tòi tri thức một cách chủ
động tích cực. Như vậy, đã có quá trình chuyển hóa từ quá trình tiếp thu kiến thức một

5
cách thụ động thành quá trình tự học, tự phát hiện và giải quyết vấn đề dưới sự chỉ đạo
của GV. Trong quá trình học tập HS cần tiến hành các hoạt động như:
- Nghiên cứu nội dung tư liệu học tập, tự phát hiện vấn đề hoặc nắm bắt vấn đề do GV
đưa ra (các nhiệm vụ học tập do GV thiết kế đề ra):
+ Phân tích tư liệu, đưa ra các dự đoán lý thuyết.
+ Đề xuất các phương hướng giải quyết theo các giả thuyết.
+ Suy luận, tiến hành thí nghiệm,quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng và đưa ra các
kết luận.
+ Báo cáo kết quả hoạt động của cá nhân, của nhóm.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã thu nhận được để giải thích một số hiện tượng hóa học
xảy ra trong thực tế đời sống, sản xuất.
- Tự đánh giá và đánh giá sự nắm vững kiến thức, kĩ năng của bản thân và của bạn học.
Như vậy, trong hoạt động học tập, HS không chỉ nắm vững được những kiến thức, kĩ
năng cần lĩnh hội mà quan trọng hơn là kĩ năng hoạt động tư duy, hoạt động thực tiễn để tìm
tòi, phát hiện ra vấn đề cần nghiên cứu, lĩnh hội. Từ đó, HS có được những kĩ năng hoạt
động học tập, đề xuất và thực hiện việc giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo, có
kĩ năng đánh giá và tự đánh giá, rút ra bài học và vận dụng vào thực tế đời sống.
2.2.3. Chuyển từ mô hình dạy học truyền thụ một chiều sang mô hình dạy học hợp
tác hai chiều
Có 2 cách dạy học hay 2 mô hình dạy học.
- Dạy học theo cách truyền thụ một chiều từ GV đến HS. Việc đánh giá chủ yếu
nhằm xem HS nắm được thông tin bao nhiêu và chính xác ở mức độ nào, hơn là xem
HS hiểu thế nào.
- Dạy học theo cách hợp tác 2 chiều giữa GV và HS. GV huy động vốn kiến thức đã có
ở HS để giúp HS xây dựng kiến thức mới. Việc đánh giá chủ yếu là xem xét sự hứng thú, lợi
ích của HS tức là phát huy tính tích cực của HS, cần xác định xem HS hiểu đến đâu, hiểu
như thế nào, hơn là xem HS biết và nhớ đến đâu.
- Đổi mới PPDH theo hướng “dạy cách học” là thực hiện việc chuyển dịch mô hình dạy
học từ “truyền thụ một chiều” sang “hợp tác hai chiều”.
- GV sử dụng sự thông hiểu và kiến thức đã có ở HS làm điểm xuất phát của việc dạy.
GV trình bày nội dung môn học theo cách giới thiệu những quan niệm và những quá trình,
chú trọng làm cho lớp học được định hướng vào sự tương tác và hoạt động nhóm, nhằm dẫn
dắt HS tự kiến tạo kiến thức cho mình, hiểu thực tiễn theo cách của mình.
- Mục đích của việc dạy là làm cho HS biết học đúng cách, tức là hiểu. Người dạy phải
tự hỏi về những tác động của mình đối với người học, trước hết là có làm cho người học
hiểu đúng không? Có biết cách học không?

